I . Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 KTT định hướng XHCN:
- Nền kinh tế vừa tuân theo các quy luật của KTTT, vừa chi phối các
yếu tố của XHCN nhằm đảm bảo tính định hướng XHCN.
- Là thể chế kinh tế thị trường trong đó các thiết chế, công cụ và
nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng để phát triển
lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Nói cách khác: công cụ hướng cho các chủ thể kinh tế vận động
theo đuổi mục tiêu kinh tế - xã hội tối đa, chứ không đơn thuần là
mục tiêu lợi nhuận tối đa.
 Kinh tế thị trường: người mua và người bán đều tác động với nhau theo
quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hóa và dịch
vụ trên thị trường.
 Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN: là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của
Nhà nước pháp quyền XHCN hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
I I . Những đặc điểm giống và khác nhau căn bản giữa 2 hình thức kinh tế
thị trường TBCN và XHCN.
- Điểm giống: Những vấn đề cơ bản của nền kinh tế do thị trường quyết
định. Nói cách khác đó là nền kinh tế hàng hóa chịu sự điều khiển của
cơ chế thị trường.
- Điểm khác: khác nhau về bản chất và đối lập nhau cả về chế độ sở
hữu, quản lý, phân phối và mục đích phát triển
1. Chế độ sở hữu:
• Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế ( bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,
kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và
kinh tế có vốn đầu từ nước ngoài) trong đó kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc.
• Kinh tế thị trường TBCN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa, không chỉ chịu tác động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động
của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản và tồn tại trong hệ
thống các quy luật kinh tế khác của TBCN.
Xem quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là thiêng liêng được
xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải thông qua giao
dịch dân sự được. Trong hình thái kinh tế TBCN các cá nhân dùng sở hữu tư
nhân để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi
nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự
phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham
gia vào quá trình kinh tế.
Thành phần kinh tế tư nhấn đóng vai trò năng động, lực đẩy quyết
định tính hiệu quả của nền kinh tế tư bản, còn thành phần kinh tế nhà nước
chủ yếu để giải quyết các vấn đề xã hội đảm bảo công ăn việc làm cho lực
lượng lao động tránh gây xáo trộn lớn trong xã hội và để kinh doanh trong
các ngành cần thiết nhưng khó sinh lời. Nhưng cùng sự phát triển của lực
lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn trong bản chất chủ nghĩa tư bản càng
bộc lộ sâu sắc, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột
và phân hóa giàu nghèo quá đáng dẫn đến Nhà nước TBCN không thể làm
tốt công tác điều tiết xã hội do nó luôn có xu hướng bảo vệ giai cấp tư sản,
bóc lột các tần lớp lao động làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc
hơn. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc
các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ
“trung tâm – ngoại vi”. Có thể nói, nền kinh tế thị trường TBCN toàn cầu
ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên
quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các
nước giàu và nghèo.
2. Chế độ quản lý:
• Có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng CSVN và sự quản lý Nhà nước
XHCN: Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng CS có vai trò rất quan trọng.
Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường bằng những chính sách kinh tế
vĩ mô và luật pháp, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch cân
đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đưa những tiến bộ khoa học – kỹ thuật
hiện đại vào sản xiaát, không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra
nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trường
quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
• Được điều hành bởi cá nhân và các doanh nghiệp tư nhân định
hướng đến quyền lợi cá nhân nên kinh doanh trong kinh tế TBCN về cơ bản
là tự định hướng, tự điều hành, tự phát theo quy luật của thị trường tự do và
quy luật cạnh tranh hay đó là nền kinh tế thị trường.
3. Về phân phối thu nhập:
• Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện phân phối chủ yếu
theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế đồng thời phân phối theo mức
đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua
phúc lợi xã hội.
+ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ công bằng ngay
trong từng bước phát triển ( phân phối hợp lý tư liệu sản xuất và kết quả sản
xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt
năng lực của mình. Không ngăn cấm mọi sự làm giàu mà trái lại khuyến
khích mọi người làm giàu bằng chính đáng theo đúng pháp luật, đồng thời
thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cực quá đáng hai đầu).
+ Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây
dựng nền vắn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nần cao dân trí,
giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của
đất nước.
_ Nhà nước chủ động giải quyết ngay từ đầu mối quan hệ giữa tăng
trưởng với bảo đảm an sinh và công bằng xã hội.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kết hợp hài hòa ba vấn đề
sau:
Một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận và vấn đề xã hội, đảm bảo cho cá
chủ thể kinh tế có được lợi nhuận cao, tạo điều kiện kinh tế chính trị - xã
hội bình thường cho sự phát triển kinh tế.
Hai là, kết hợp chặt chẽ nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội
và nguyên tắc kinh tế hàng hóa: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài
năng…trong đó nguyên tắc phân phối theo lao động là chính.
Ba là, điều tiết phân phối thu nhập: nhà nước cần có chính sách giảm
khoảng cách chênh lệch.
• Có thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh
doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ
chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong
phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế TBCN.
_ Nhà nước TBCN tuy đã có ý thức tự điều chỉnh, dung hòa lợi ích
của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau để giảm bớt mâu thuẫn, ổn định
chính trị, ổn định xã hội, vì mục tiêu phát triển kinh tế. Song do nhiều
nguyên nhân khác nhau, nhất là do sự chi phối điều tiết của các quy luật
kinh tế của CNTB, của lợi ích giai cấp nên sự điều tiết vẫn còn nhiều bất
cập.
4. Cơ chế thị trường:
• Cơ chế thị trường XHCN là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho
sự vận hành của nó phù hợp với quy luật kinh tế cơ bản và các quy luật kinh
tế khác của CNXH – kinh tế thị trường XHCN tuy vẫn chịu tác động của
quy luật giá trị (quy luật chung của kinh tế thị trường), nhưng đồng thời
cũng chịu tác động của quy luật kinh tế cơ bản ( quy luật quy định mục đích
khách quan của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng phát triển sản
xuất và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội), và các quy luật
kinh doanh khác của XHCN.
• Cơ chế thị trường TBCN là việc tổ chức guồng máy kinh tế sao cho
sự vận hnhf của nó phù hợp với các quy luật kinh tế của CHTB, trong đó
quy luật sản xuất ra giá trị thặng dư giữ vai trò quyết định, nhằm đem lại lợi
nhuận ngày càng nhiều cho các nhà tư bản, các tập đoàn, công ty đa quốc
gia.
5. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng XHCN: là phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên
tiến; thúc đẩy phát triển sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật –
công nghệ, nần cao chất lượng sản phẩm, tạo nhiều của cải, làm giàu xã
hội và cải thiện đời sống nhân dân, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại
đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước, phát triển kinh tế
để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH.
I I I . Kinh tế thị trường là tất yếu.
1. Định hướng XHCN của kinh tế thị trường ở VN:
- CNXH mà Đảng , Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất; có nền văn
hóa tiên tiến, đậm đa bản sác dân tộc, con người được giải phóng khỏi
áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do , hạnh phúc, phát triển
toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết giúp
nhau cùng tiến bộ.
- Hiện nay KTTT được hiện thực hóa ở các nước TBCN, nhưng không
phải là thuộc tính riêng của chế độ chính trị xã hội này, mà là thuộc
tính phổ biến mang tính quy luật của tất cả chế độ chính trị - xã hội
dựa trên cơ sở kinh tế của nó là nền sản xuất hàng hóa. Mặc dù CNXH
và CNTB là hai chế độ chính trị xã hội khác nhau nhưng cùng đứng
trước sự giới hạn về tài nguyên, hàng hóa và dịch vụ so với nhu cầu
của con người, nên nền sản xuất tất yếu là sản xuất hàng hóa. Do đó,
sự cần thiết phải quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường có điều tiết
hay cơ chế kinh tế hỗn hợp cũng là lẽ đương nhiên.
- Trong hầu hết các hình thước tổ chức nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà
nước phong kiến, nhà nước TBCN, nhà nước nào cũng thừa nhận sự
cùng tồn tại của hai hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước và sở hữu tư
nhân. Lịch sử phát triển hinh tế của các nước TBCN cũng chứng tỏ
rằng sự cùng tồn tại của hai hình thức này không hề ngăn cản quá trình
lưu thông hàng hóa. Ngược lại chính nhờ có bộ phận sở hữu nhà nước
này mà một mặt các chính phủ có thể hạn chế bớt được một phần
khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, tạo ra môi trường cạnh
tranh lành mạnh giữa các hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh
tế.
( tạp chí cộng sản – xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở VN)
2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là tất yếu ở VN:
 Trước 1986: kinh tế bao cấp:
 Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các
doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước, tất
cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn…đều do các cấp thẩm
quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư,
doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước, lỗ nhà nước bù, lãi nhà nước
thu.
 Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về
vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật
chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách phải gánh chịu.
 Quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện
vật là chủ yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát –
giao nộp”. Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động, phát
minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về
mặt pháp lý.
 Bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng
động, vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền,
quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.
Hình thức thể hiện:
- Bao cấp qua giá: nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, thấp hơn
nhiều lần so với giá trị thực của chúng trên thị trường, do đó hạch toán
kinh tế chỉ là hình thức.
- Bao cấp qua chế độ tem phiếu: nhà nước quy định chế độ phân phối
vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua
hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với mức giá khác so với giá thị
trường đã biến tiền lương thành hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích
người lao động.
- Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế
tài ràng buộc trách nhiệm đối với đơn vị được cấp. điều đó vừa làm
tăng gánh nặng đối với ngân sách và làm việc sử dụng vốn kém hiệu
quả.
- Kết quả: không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế
XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác,
kìm hãm sản xuất, rối loạn phân phối lưu thông, tiêu cực xã hội.
 cần đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành cấp thiết.
 Sau 1986: nhận thức về kinh tế thị trường có sự thay đổi căn bản.
 là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị
trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. các quy luật khách quan của nền
kinh tế thị trường được tôn trọng và các ngành trọng yếu được nhà nước quản
lý. Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng
một cách hợp lý.
là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. đất đai thuộc sở hữu toàn
dân.
là nền kinh tế phát triển mạnh, hiệu quả bền vững và chủ động hội
nhập kinh tế thành công.
việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo
hiệu quả kinh tế, động thời theo cả mức đống góp vốn. Việc phân bố các
nguồn lực vừ được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng
giúp thu hẹp khoảng cách giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn liền với
phát triển xã hội công bằng, được chú ý trong từng bước, từng chính sách
phát triển.
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân
dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.
Tư duy của Đảng về KTTT trong thời kỳ đổi mới
 KTTT là thành tựu phát triển chung của nhân loại: là thành tựu văn minh
nhân loại, không có thuộc tính xã hội, KTTT có thể sử dụng ở các chế độ
xã hội khác nhau. Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất
và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của
KTTT. Trong quá trình sản xuất và trao đổi, các yếu tố thị trường như
cung cầu, giá cả có tác động điều tiết quá trình sản xuất hàng hóa, phân bố
các nguồn lực kinh tế và tài nguyên thiên nhiên nư vốn, tư liệu sản xuất,
sức lao động….phục vụ cho sản xuất và lưu thông. Thị trường giữ vai trò
là một công cụ phân bổ bằng nguyên tắc thị trường.
 KTTT không phải là cái riêng của CNTB. KTTT đã có mầm mống từ
trong XH nô lệ, hình thành trong XH phong kiến, phát triển cao trong
CNTB, KTTT và hàng hóa có cùng bản chất là đều nhằm sản xuất ra để
bán, đều nhằm mục đích giá trị và đều trao đổi thông qua quan hệ hàng
hóa – tiền tệ.
 Xây dựng và phát triển KTTT không phải là phát triển TBCN hoặc đi theo
con đường TBCN và tất nhiên, xây dựng kinh tế XHCN cũng không dẫn
đến phủ định KTTT.
 Có thể và sử dụng KTTT để xây dựng CNXH ở nước ta:
- Đại hội VII của Đảng (6/1991) trong khi khẳng định chủ trường tiếp
tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát huy thế
mạnh của các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung
cho nhau trong nền kinh tế quốc dân. KTTT không đối lập với CNXH,
nó còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
- Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là
bước chuyển quan trọng từ nhận thức KTTT như một công cụ, một cơ
chế quản lý sang coi KTTT như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự
phát triển theo định hướng XHCN.
- Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ KTTT, nếu biết vận
dụng đúng thì có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Kết quả:
- Sau 20 năm, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế tập
trung quan liêu, bao cấp sang thể chế KTTT định hướng XHCN.
Đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo
hành lang pháp lý cho KTTT định hướng XHCN hình thành và phát
triển.
- Chế độ sở hữu với nhiều hình thức và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
được hình thành: từ sở hữu toàn dân và tập thể, từ kinh tế quốc doanh
và hợp tác xã là chủ yếu đã chuyển sang nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế đan xen, hỗn hợp, trong đó sở hữu toàn dân những
tư liệu sản xuất chủ yếu và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Điều
đó tạo ra động lực và điều kiện thuận lợi giải phóng sức sản xuất khai
thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế - xã hội.
- Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất
trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước đang đi vào cuộc sống thay cho cơ
chế kế hoạch hóa tập trung. Các doanh nghiệp, doanh nhân được tự
chủ sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh.
- Việc phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm
nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.
Hạn chế:
- Quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN còn
chậm, chưa theo kịp yêu cầu công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc
tế. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ, thống
nhất.
- Vấn đề sở hữu, quản lý phân phối trong doanh nghiệp nhà nước chưa
giải quyết tốt. Doanh nghiệp thuộc khối thành phần kinh tế khác còn
bị phân biệt đối xử. Cơ chế xin – cho chưa khắc phục triệt để.
- Cơ cấu tổ chức, vận hành của nhà nước còn nhiều bất cập, hiệu quả,
hiệu lực còn thấp. Cải cách hành chính còn chậm, chưa đạt yêu cầu
mục tiêu đề ra. Tệ tham nhũng, quan liêu vẫn còn nghiêm trọng.
- Cơ chế chính sách các lĩnh vực văn hóa xã hội đổi mới còn rất chậm,
chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo còn thấp. Khoảng cách giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cư và các vùng ngày càng lớn. Hệ thống
an ninh xã hội còn sơ khai
Nguyên nhân:
- Việc xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN là vấn đề hoàn toàn
mới chưa có tiên lệ trong lịch sử. Nhận thức định hướng XHCN còn
nhiều hạn chế do công tác lý luân chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn.
- Năng lực thể chế hóa và quản lý tổ chức thực hiện nhà nước còn chậm,
nhất là trong việc giải quyết các vấn đề xã hội còn bức xúc.
- Vài trò tham gia hoạch định chính sách, thực hiện giám sát của các cơ
quan, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội, nghề nghiệp còn yếu.





Nhóm:
1. Lê Nhật Minh
2. Dương Thế Hoàng
3. Phạm Tú Linh
4. Nguyễn Xuân Đông Anh
5. Cao Xuân Thành