You are on page 1of 8

CABLE INTERNET - CMTS (Cable Modem Terminal

System)

1. GIỚI THIỆU DỊCH VỤ CABLE INTERNET


1.1. GIỚI THIỆU
- Đây là một loại hình dịch vụ tương đối mới ở Việt Nam chúng
ta, và hiện chỉ được cung cấp bởi số ít các ISP và nhà cung cấp
dịch vụ truyền hình cáp. Trước đây, đã có 1 số nhà cung cấp đi
tiên phong thử nghiệm trong lĩnh vực này. Và hiện nay tại Việt
Nam đang phát triển mạnh loại hình dịch vụ này là
EVNTelecom, MediaNet, VTC (Đang thử nghiệm).
- Về ý tưởng, loại hình dịch vụ này sẽ cho phép thuê bao thuộc
mạng truyền hình cáp có thể đồng thời truy cập được mạng
Internet thông qua tuyến cáp đồng trục đã được triển khai với
tốc độ truy cập khá cao. Khi ấy, thuê bao sẽ phải đầu tư một
modem chuyên dụng cho việc chuyển đổi tương ứng từ đường
cáp truyền hình mà mình đã đăng ký thuê bao (RG6) thì mới có
thể truy cập được Internet.
- Cần lưu ý là tín hiệu truy cập mạng Internet sẽ được chuyển
giao trực tiếp từ hạ tầng cung cấp dịch vụ của các nhà cung cấp
dịch vụ trực tiếp sang tuyến cáp đồng trục của nhà cung cấp
dịch vụ truyền hình cáp trước khi đến máy tính đầu cuối, hoặc
hệ thống mạng LAN nội bộ của thuê bao. Đây là điểm khác biệt
của loại hình dịch vụ này so với các loại hình dịch vụ đòi hỏi sự
tồn tại của 1 tuyến cáp đồng mà chúng ta hiện đang cung cấp
như đã giới thiệu bên trên.
1.2. ƯU ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ
- Có thể kết nối lnternet và khai thác dịch vụ truyền hình cáp
đồng thời trên cùng tuyến cáp đồng trục thuê bao đã có sẵn.
- Cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ cao .
- Dịch vụ được cung cấp trên một phần độc lập so của hạ tầng
cung cấp dịch vụ Internet hiện nay nên tình trạng nghẽn sẽ ít
xảy ra trong khi thời gian đáp ứng sẽ được cải thiện đáng kể.
- Tối ưu hóa cho truy nhập Internet : Với điều chế QUAM 64
(chiều Downstream) hệ thống cable internet có thể đạt tốc độ
download tới 36 Mbps. Và QPSK (chiều Upstream) sẽ cho tốc độ
upload lên đến 8Mbps
- Luôn sẵn sàng (Always on) : không tín hiệu bận, không thời
gian chờ.
-Tính cước theo lưu lượng dữ liệu gửi/nhận với giá cước rẻ. Không
soát cước qua phương thức PPPoE mà sử dụng giao thức IPDR
(Internet Protocol Detail Record) để tính cước.
- Thuê bao có thể kết hợp khai thác thêm nhiều loại hình dịch vụ
giá trị gia tăng khác như Thoại, Video, VoIP. …
2. MÔ HÌNH HỆ THỐNG.

Hệ thống Internet qua truyền hình cáp (Internet Cable)

CMTS

Đài truyền hinh

Thiết bị chuyển
ang
mạch (Switch Sợ i q u
Internet quang)

Sợ i q ua
ng
CMTS

Terminal Box Khuếch đạiNode quang


Bộ

PC Cable Modem
chia
Ring quang
(Gateway)

Tivi
Terminal Box Khuếch đại
Khách hàng

CMTS: Bộ tập trung thuê bao khách hàng Internet qua


truyền hình cáp

1 8
- Để đưa được tín hiệu internet vào trong mạng HFC người ta sử dụng một thiết bị
đặc biệt được gọi là CMTS (Cable Modem Terminal System). Hệ thống máy chủ
Provision cung cấp các dịch vụ như DHCP, TOD, TFTP cho các modem và các CPE ...
2.1 Các thành phần của 1 CMTS PoP
- Thiết bị giao tiếp với mạng truyền hình cáp (HFC), được gọi là CMTS – Cable
Modem Terminator System.
- Bộ chuyển mạch cục bộ dùng cho PoP.
- Thiết bị bảo mật phục vụ cho PoP.
- Hệ thống máy chủ thực hiện việc quản lý thiết bị CMTS, thiết bị đầu cuối, chứng
thực và phối hợp tính cước cho thuê bao.
- Thiết bị giao tiếp mạng trục kết nối PoP vào hạ tầng truyền dẫn của các ISP.
2.2 Các chức năng của 1 CMTS PoP
- Là nơi cung cấp các giao tiếp RF cho Cable Modem của khách hàng thuê bao dịch
vụ kết nối về hệ thống trung tâm.
- Là nơi cung cấp các thông số về dịch vụ cho thuê bao đầu cuối.
- Là nơi chứng thực tính hợp lệ của thuê bao đầu cuối.
- Là nơi tiếp nhận các yêu cầu kết nối Internet của thuê bao đầu cuối
- Là nơi phát khởi việc tính cước theo từng gói dịch vụ của thuê bao đầu cuối.
2.3. Các thành phần chính của PoP cung cấp dịch vụ
- Trong mô hình PoP CMTS cung cấp dịch vụ Internet trên nền mạng HFC, có rất
nhiều các phần tử thành viên. Mỗi 1 thành phần sẽ đảm nhận 1 chức năng khác
nhau, và tất cả sẽ họat động phối hợp với nhau trong tác vụ để chuyển giao dịch vụ.
Ở đây, chúng tôi xin phép được giới thiệu về vai trò của từng thành phần như sau:
2.3.1 Thiết bi CMTS – Cisco uBR7246VXR
- Vai trò của thiết bị này là làm trung gian chuyển tiếp tín hiệu từ mạng truyền hình
cáp HFC sang hạ tầng mạng IP. Để giao tiếp với HFC, CMTS dùng đến Modem line
card. Khi ấy, về lý thuyết các modem cáp kết cuối của chúng ta sẽ kết nối đến các
trạm tiếp nhận, gọi là Fiber Node(FN). Mỗi một FN đều sẽ được đấu nối bằng cáp RF
về các Upstream interface trên CMTS.
2.3.2. Thiết bị máy chủ cài đặt phần mềm CNR – Cisco Network Registrar
- Trong vận hànhcủa hạ tầng Cable Internet thì vai trò của phần mềm CNR là vô
cùng quan trọng. Nó sẽ chi phối đến gần như toàn bộ quá trình đăng nhập và khai
thác dịch vụ của modem cáp kết cuối. CNR có thể được cài trên máy chủ chạy hệ
điều hành Windows hoặc Sun Solaris. Máy chủ được cài đặt CNR tạm gọi là máy chủ
CNR. Các chức năng chính của máy chủ CNR là :
- Phối hợp chứng thực các modem cáp kết cuối.
- Cấp phát file chứa thông số kiểm soát cho phép modem cáp kết cuối được phép
khai thác dịch vụ qua giao thức TFTP. Những file này được gọi là DOCSIS
Cofiguration File.
- Cấp phát địa chỉ IP cho modem cáp và thiết bị CPE gắn phía sau modem.
- Đồng bộ về thời gian cho toàn hệ thống. Thông thường ngưòi ta thường hay chọn
cài đặt phần mềm CNR lên các máy chủ Sun để nhằm khai thác tính năng Time of
Day (ToD) có sẵn trên những server của hãng Sun Microsystems.
- Thực thi chức năng cấp phát tên miền theo từng khu vực.
- Phối hợp với hệ thống máy chủ Billing để thực hiện việc tính cước.
2.3.3. Máy chủ LDAP và máy chủ Billing
- Đây là nhóm thiết bị cũng khá quan trọng mà hầu hết các hạ tầng cung cấp dịch vụ
đều cần phải có. Công ty có thể tự xây dựng máy chủ LDAP trên nền Opensource,
cũng như tự thiết kế phần mềm tính cước phù hợp đặc thù riêng cho nhóm máy chủ
Billing.
2.3.4. Thiết bị Internet gateway
- Về lý thuyết, Internet gateway là thiết bị dùng để đấu nối PoP CMTS, trong trường
hợp nó được đặt ở xa, thông qua mạng trục truyền dẫn EVNT, về cửa ngõ đi ra
Internet. Trong trường hợp này của chúng ta, WAN gateway có thể đơn thuần là 1 bộ
chuyển mạch hoặc router trong mạng cục bộ tại PoP CMTS được triển khai nói trên.
2.3.5 Thiết bị modem cáp kết cuối – Cable Modem
- Đây là nhóm thiết bị gắn trực tiếp với thuê bao đầu cuối. Mỗi 1 Cable Modem đều
có sẵn cổng giao tiếp RF với mạng HFC và cổng RJ-45 để giao tiếp với thiết bị máy
tính kết cuối cục bộ, gọi là CPE
2.4 Qui trình kết nối và đăng nhập khai thác dịch vụ Internet của modem
cáp trên mạng HFC
Bước 1: Cable Modem của thuê bao đầu cuối gửi yêu cầu được xác thực và đăng ký
đến cho CMTS tại PoP cục bộ.
Bước 2: CMTS tại mỗi PoP cục bộ sẽ chuyển tiếp yêu cầu này đến hệ thống máy chủ
chứng thức đặt tại PoP, thông qua giao tiếp mạng cục bộ của PoP.
Bước 3: Việc xác thực sẽ được tiến hành. Nếu xác thực thành công, các thông số
vận hành sẽ được chuyển ngược về lại cho Cable Modem dưới dạng DOCSIS File
thông qua giao thức TFTP.
Bước 4: Cable Modem tiếp nhận đượ

c các thông tin hồi đáp, và đi vào trạng thái kết nối để khai thác dịch vụ, gọi là
“online”.
Bước 5: Máy chủ CNR sẽ phối hợp với CMTS cùng thực thi việc kiểm soát các thông
số dịch vụ được cho phép tương ứng với gói dịch vụ mà thuê bao đầu cuối đã đăng
ký.
Bước 6: Máy chủ tính cước tại PoP sẽ bắt đầu thực hiện việc tính cước khi nhận được
thông tin cho các yêu cầu kết nối với Internet của CPE tại thuê bao.
3. HAI PHƯƠNG ÁN TÍNH CƯỚC CHO THUÊ BAO
3.1 Tính cước theo phương thức PPPoE
- PPPoE, hay còn gọi là PPP over Ethernet, là 1 giao thức chứng thực, và cũng là 1
phương thức tính cước khá phổ biến trên các hạ tầng cung cấp dịch vụ băng rộng
hiện nay. Với PPPoE, các thuê bao đầu cuối cần xác lập thông số tài khoản
username, password đúng với thông tin được cấp từ ISP. Khi ấy, nếu quá trình chứng
thực diễn ra thành công, thuê bao sẽ có thể bắt đầu được phép khai thác dịch vụ.
Tuy nhiên, hạn mức khai thác dịch vụ của từng thuê bao sẽ được kiểm soát theo
đúng hồ sơ đã được xác lập sẵn từ trước trên máy chủ quản lý dịch vụ PPPoE của
ISP. Và họ cũng chỉ trả tiền theo đúng mức cước qui định cho nhóm thuê bao mà họ
đang thuộc về. Về góc độ triển khai, phương thứ c tính cước theo PPPoE tương đối
đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, nó lại có 1 vài khuyết điểm khi chỉ hỗ trợ tối đa
1 số lượng thuê bao hạn chế, trong khi yêu cầu cable modem đầu cuối phải hỗ trợ
chức năng PPPoE Client.
3.2 Tính cước theo phương thức IPDR
- Trước đây, phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ Cable Internet đều sử dụng PPPoE để
tính cước. Nhưng với ưu điểm vốn có, về sau các Cable ISP đều đã dần chuyển
hướng sang áp dụng IPDR. IPDR, hay còn gọi là IP Detail Record, là 1 phương thức
tính cước khá chính xác và hiệu quả cho 1 hạ tầng cung cấp dịch vụ có qui mô vừa
đến lớn. Với IPDR, tất cả các thông tin khai thác dịch vụ của thuê bao đều được ghi
nhận 1 cách chính xác bởi CMTS. Sau đó, chúng sẽ được xuất ra cho 1 máy chủ
Billing, để thực hiện quá trình tính cước. Khi áp dụng IPDR, nhà cung cấp dịch vụ có
thể quản lý thuê bao 1 cách chặt chẽ hơn, và ép họ vào đúng nhóm dịch vụ đăng ký
cực kỳ hiệu quả, gọi là CoS (Class of Service). Đối tượng mà hệ thống quản lý bây
giờ sẽ không phải là những tài khoản với username, password cung cấp từ trước nữa,
mà sẽ chính là địa chỉ MAC của cable modem, 1 thông số mang tính duy nhất toàn
cầu, và không thể thay đổi được. Rõ ràng, bài toán quản lý và tính cước của chúng ta
lúc này đã trở nên linh hoạt và chính xác hơn, bởi lẽ, IPDR cho phép Cable ISP tính
cước theo cả lưu lượng khai thác của thuê bao, cũng như hoàn toàn không giới hạn
số lượng thuê bao đầu cuối. Cứ mỗi 1 thuê bao mới xuất hiện, địa chỉ MAC của cable
modem tương ứng tại nhà họ sẽ được nạp vào cơ sở dữ liệu của 1 máy chủ LDAP.
Trên LDAP này, chúng ta sẽ phân định sẵn nhiều nhóm dịch vụ thuê bao khác nhau
(Class of Services). Mỗi nhóm sẽ có đặc thù về tốc độ upstream/downstream/số
lượng CPE tương ứng được phép kết nối vào,…
- Trong suốt quá trình vận hành, hệ thống máy chủ tính cước và LDAP chứng thực sẽ
phải phối hợp mật thiết với nhau, vì thế chúng ta sẽ có 2 phương án tương ứng để
chọn lựa như sau

Phương án 1: Tính cước tập trung


Mô tả
- Trong phương án này, hệ thống máy chủ tính cước và chứng thực sẽ được đặt tập
trung tại 1 trung tâm quản lý nào đó của nhà cung cấp dịch vụ. Lộ trình xử lý các
yêu cầu kết nối Internet và cách tính cước tương ứng cho phương thức này sẽ đi theo
những bước sau:
Bước 1: Cable Modem của thuê bao đầu cuối gửi yêu cầu được xác thực và đăng ký
đến cho CMTS tại PoP cục bộ.
Bước 2: CMTS tại mỗi PoP sẽ chuyển tiếp yêu cầu này đến hệ thống máy chủ chứng
thức đặt tại PoP quản lý cấp vùng, thông qua tuyến mạng trục truyền dẫn của các
ISP.
Bước 3: Việc xác thực sẽ được tiến hành. Nếu xác thực thành công, các thông số vận
hành sẽ được chuyển ngược về lại cho Cable Modem.
Bước 4: Cable Modem tiếp nhận được các thông tin hồi đáp, và đi vào trạng thái kết
nối, gọi là “online”
Bước 5: Máy chủ tính cước tại PoP sẽ bắt đầu thực hiện việc tính cước khi nhận được
thông tin cho các yêu cầu kết nối với Internet của thuê bao.
Ưu điểm
- Việc tính cước mang tính tập trung giúp dễ quản lý.
- Thống máy chủ tính cước và chứng thực được triển khai tập trung giúp giảm thiểu
được số số lượng thiết bị phần cứng cần đầu tư phục vụ cho công việc tính cước.
- Giảm thiểu nhân lực cần để vận hành hệ thống.
Khuyết điểm
- Do việc chứng thực và tính cước được thực hiện tập trung tại 1 khu vực nào đó, nên
băng thông mạng đường trục sẽ bị chiếm dụng rất nhiều.
- Tình trạng quá tải có thể xảy ra trên hệ thống máy chủ chạy chương trình tính
cước.
- Thông thường các Cable Modem sẽ chỉ “online” nếu nhận được thông tin trả lời
trong 1 khoảng thời gian chờ không quá lớn nào đó. Vì thế, tình trạng “timeout” hoàn
toàn có thể xảy ra do chất lượng của mạng truyền dẫn đường trục. Khi ấy thuê bao
đầu cuối sẽ không thể khai thác được dịch vụ đã đăng ký. Điều này sẽ làm ảnh
hưởng đến chất lượng dịch vụ được cung cấp, cũng như việc tính cước.
- Khả năng bị mất cước là rất lớn do các gói tin phải được truyền đi trên hạ tầng qua
nhiều chặng trước khi đến được hệ thống tính cước và chứng thực tại trung tâm.
- Toàn bộ hoạt động của hệ thống sẽ phụ thuộc sự ổn định của PoP quản lý và đường
truyền dẫn nội bộ mạng Việt Thành. Trong truờng hợp các thành phần này gặp sự cố
thì toàn bộ hạ tầng cung cấp dịch vụ Cable Internet sẽ gần như bị tê liệt.
Phương án 2: Tính cước phân tán
Trong phương án này, hệ thống máy chủ chứng thực và tính cước sẽ được đặt cục bộ
tại mỗi PoP
Ưu điểm
- Khả năng quá tải hầu như không xảy ra.
- Việc tính cước đạt độ chính xác cao hơn và gần như không bị mất cước.
- Hệ thống cung cấp dịch vụ có độ sẵn sàng cao hơn. Trong trường hợp 1 kết nối
mạng trục từ 1 PoP nào đó bị sự cố, thì các phần tử còn lại vẫn sẽ hoạt động bình
thường.
- Băng thông tuyến truyền dẫn đường trục sẽ không bị chiếm dụng bởi các gói tin
hỏi-đáp từ Cable Modem của thuê bao đầu cuối. Điều này giúp việc khai thác hạ tầng
mạng trục của các ISP có hiệu quả hơn.
- Cho phép triển khai thêm các dịch vụ giá trị gia tăng như Voice, Video hay Video
Conferencing mà vẫn đảm bảo đưọc tính ổn định và chính xác của hệ thống tính
cước.
Khuyết điểm
- Việc tính cước phân tán nên đòi hỏi nguồn lực quản lý.
- Chi phí đầu tư cho thiết bị sẽ cao hơn.
- Đòi hỏi các đợt đào tạo, tập huấn tập trung dành cho chuyên viên phụ trách ở các
POP khu vực.

Dịch vụ Cable Internet – Hướng đi mới của ISP

Đối với các nhà cung cấp giải pháp mạng và tích hợp hệ thống như công ty ISP, sự “thai nghén”

của loại hình dịch vụ Cable Internet chính là cơ hội...


Đối với các nhà cung cấp giải pháp mạng và tích hợp hệ
thống như công ty ISP, sự “thai nghén” của loại hình dịch vụ Cable Internet chính là cơ hội rất tốt
để thể hiện giá trị dịch vụ và quảng bá hình ảnh của mình, thông qua những mô hình giải pháp
chuyển giao đến cho ISP.
Ngoài những tín hiệu này, đường cáp đồng trục dùng trong mạng truyền hình cáp (HFC – Hybrid
Fiber Coaxial) còn có thể chuyển tải dữ liệu tới con số hàng trăm MHz cho tất cả các kênh TV.
Nếu như trước đây, khách hàng thuê bao các kênh truyền hình qua cáp chỉ có được một dịch vụ
duy nhất là xem TV thì nay mọi chuyện đã khác. Người sử dụng Cable TV cũng có thể kết nối
Internet với tốc độ cao thông qua 1 mô hình liên kết giữa các Service Provider. Họ có thể lướt
web và sử dụng nhiều dịch vụ khác trên nền Internet với tốc độ khá cao Công nghệ Cable
Modem, nói chung là hoàn toàn có thể cạnh tranh được với công nghệ ADSL hiện đang chiếm
lĩnh thị trường Internet (Cable Modem tối đa đạt 10Mbps, trong khi đó ADSL chỉ đạt 2Mbps).

Khi sử dụng đường CATV để truy cập Internet, các thông tin từ Internet sẽ truyền chung trên một
đường cáp với tín hiệu TV.

Hệ thống Cable Modem sẽ truyền các dữ liệu từ Internet tải xuống PC (Downstream data) với tần
số 6 MHz. Do vậy trên đường truyền các dữ liệu này giống hệt các tín hiệu TV, nó được xem như
một kênh riêng biệt. Các dữ liệu được gửi từ PC lên Internet (Upstream data) đòi hỏi băng thông
hẹp hơn chỉ 2 MHz, điều này giải thích cho việc tốc độ tải xuống (Download) luôn nhanh hơn tải
lên (Upload). Để truyền tải cả các dữ liệu Downstream và Upstream trên cùng đường cáp TV đòi
hỏi hai thiết bị riêng biệt: Cable Modem cho phía người sử dụng và Cable Modem Termination
System (CMTS) phía nhà cung cấp. Cable Modem gồm loại lắp trong và lắp ngoài PC. Trong một
vài trường hợp Cable Modem có thể được tích hợp trong hộp thu Set-top Cable.

Thiết bị đầu cuối phía nhà cung cấp CMTS có các tính năng giống như DSLAM trong hệ thống
xDSL. CMTS nhận các luồng dữ liệu từ phía người sử dụng trên những kênh riêng lẻ và định
hướng chúng tới một ISP để nối vào Internet. Ở phía các thiết bị đầu cuối của nhà cung cấp
CATV có các hệ thống máy chủ của ISP. Các Server này phục vụ cho việc đăng nhập Internet
bao gồm Accounting, Logging, DHCP cung cấp các địa chỉ dạng IP cho các thuê bao Cable TV.
Một CMTS có khả năng hỗ tr tối đa lên đến 10.000 kết nối vào Internet qua tần số 6 MHz. Từ đó
mỗi kênh riêng lẻ có khả năng truyền dữ liệu dến 30-40 Mbps.

Sức quyến rũ của Internet sẽ càng lớn hơn khi nó có khả năng thay thế được các kênh truyền
hình truyền thống. Khi ấy, khán giả sẽ được thưởng thức những kỹ xảo điện ảnh, truyền hình với
âm thanh, màu sắc và hình ảnh hoành tráng sống động. Theo giới chuyên môn, dịch vụ cable
modem cho phép người truy cập Internet cho người sử dụng lên đến hàng chục megabit mỗi
giây, nó trở thành hạ tầng lý tưởng để cung cấp dịch vụ VoD trên nền Internet, hay mô hình đa
dịch vụ “triple-play” sau này. Và đó chính là ưu điểm mà các ISP ở Việt Nam đang nhắm đến
nhằm cạnh tranh và phát triển mạnh số lượng thuê bao Internet của mình. Rõ ràng có thể xem
đây là một hướng đi đúng và chiến lược của các ISP khi biết rằng ngay tại Mỹ, quốc gia đi đầu
thế giới về công nghệ thông tin, trong tổng số 90 triệu thuê bao truyền hình cáp thì đã có đến
hơn 30 triệu thuê bao truy cập Internet qua mạng truyền hình cáp, mặc dù loại hình dịch vụ này
ra đời sau.

Đối với các nhà cung cấp giải pháp mạng và tích hợp hệ thống như công ty ISP, sự “thai nghén”
của loại hình dịch vụ Cable Internet chính là cơ hội rất tốt để thể hiện giá trị dịch vụ và quảng bá
hình ảnh của mình, thông qua những mô hình giải pháp chuyển giao đến cho ISP. Khi mà lần
đầu tiên ở Việt Nam, công nghệ truyền dẫn Internet băng thông rộng, tốc độ cao qua mạng
truyền hình cáp được liên minh SCTV-EVN triển khai cung cấp thực tế, thì đó chính là lúc ISP
bước đầu khẳng định được vị thế tiên phong của mình trong lĩnh vực tích hợp hệ thống và
chuyển giao công nghệ. Cho đến hiện nay, ISP đã hoàn toàn có thể mạnh dạn khẳng định năng
lực hàng đầu của mình trong việc tư vấn, thiết kế và triển khai hệ thống cung cấp dịch vụ Cable
Internet trên thực tế cho các ISP. Mong rằng các dự án triển khai hạ tầng Cable Internet cho liên
minh ISP như: VDC2-HTVC, PC2-EVNTelecom-SCTV, VTC,…sẽ chính là những điểm sáng cho
sinh nhật lần thứ 10 của ISP.