You are on page 1of 91

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM










KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP





TÌM HIỂU CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ PHỤ PHẾ
PHẨM GIÀU XƠ




Ngành : CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ SINH HỌC



Sinh viên thực hiện : TRẦN NGỌC PHÚ QUÍ
MSSV: 0811080034 Lớp: 08CSH2




TP. Hồ Chí Minh, 2011
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí
Lớp: 08CSH2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khoá luận tốt nghiệp “Tìm hiểu các phương pháp xử lý
phụ phế phẩm giàu xơ” được thực hiện một cách trung thực. Không sao chép các đề tài
khoá luận khác.











TP.HCM, ngày 3 tháng 7 năm 2011
Sinh viên thể hiện


Trần Ngọc Phú Quí

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí
Lớp: 08CSH2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và dìu dắt tận tình của giảng viên hướng
dẫn trong suốt quá trình em thực hiện khoá luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giảng viên khoa Môi trường và công
nghệ sinh học của Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM, đã truyền dạy cho em những
kiến thức hữu ích và quý báu trong những năm học vừa qua.
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện và động viên giúp
em hoàn thành tốt bài khoá luận này.
Do thời gian làm khoá luận có hạn cho nên còn nhiều thiếu sót về nhiều mặt. Em
rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giảng viên.





TP.HCM, ngày 3 tháng 7 năm 2011
Sinh viên thể hiện


Trần Ngọc Phú Quí
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí i
Lớp: 08CSH2
 
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ, hình ảnh
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU...................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề:..........................................................................................................1
1.2. Mục tiêu:.............................................................................................................2
1.3. Nội dung nghiên cứu: .........................................................................................2
1.4. Phương pháp thực hiện khóa luận: ..............................................................2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHỤ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP...........................3
2.1. Định nghĩa phụ phế phẩm nông nghiệp:.............................................................3
2.2. Nguồn gốc, thành phần và tính chất phụ phế phẩm nông nghiệp: .....................3
2.2.1.Nguồn gốc: ...................................................................................................... 3
2.1.1.Thành phần và tính chất: ................................................................................ 4
2. 3.1. Cấu trúc của lignocelluloses: .........................................................................6
2.3.2. Enzyme thủy phân lignocelluloses:...............................................................19
2.4. Ứng dụng của enzyme lignocellulolytic:..........................................................25
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ PHỤ PHẾ PHẨM GIÀU XƠ...27
3.1. Phương pháp vật lý:..........................................................................................28
3.2. Phương pháp hoá học: ......................................................................................29
3.3. Phương pháp sinh học: .....................................................................................37
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí ii
Lớp: 08CSH2
 
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC.......38
4.1. Vai trò của đại gia súc đối với việc phát triển nông thôn: ..................................38
4.1.1.Cung cấp sức kéo: 38
4.1.2.Cung cấp thực phẩm: 39
4.1.3.Cung cấp phân bón và chất đốt: 39
4.1.4.Cung cấp nguyên liệu chế biến: 40
4.2. Tìm hiểu về khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ của GSNL: ............................40
4.2.1.Khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ: 40
4.2.2.Hệ vi sinh vật có trong dạ cỏ: 43
4.3. Các qui trình chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn GSNL:.................49
4.3.1.Quy trình chế biến rơm lúa bằng phương pháp xử lý ure – vôi: .................. 49
4.3.2.Quy trình chế biến và sử dụng tảng ure-rỉ mật:............................................ 51
4.3.3.Quy trình chế biến thân lá cây lạc bằng phương pháp ủ chua làm thức ăn cho
lợn và trâu bò: ........................................................................................................ 53
CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG Ủ COMPOST TỪ NGUỒN PHỤ PHẨM GIÀU XƠ.......57
5.1. Định nghĩa compost:.........................................................................................57
5.2. Các phản ứng sinh hoá xảy ra trong quá trình ủ:..............................................57
5.2.1.Các phản ứng sinh hoá: ................................................................................ 57
5.2.2.Các phản ứng sinh học:................................................................................. 59
5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ compost: ..............................................60
5.3.1.Các yếu tố vật lý:........................................................................................... 60
5.3.2.Các yếu tố hoá sinh:...................................................................................... 63
5.4. Ủ compost bằng nguồn phụ phế phẩm giàu xơ: ...............................................68
5.5. Chất lượng compost: dựa trên bốn yếu tố: .......................................................69
5.6. Tính cần thiết của compost:..............................................................................69
CHƯƠNG 6: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ TRONG VIỆC TẠO NGUỒN
NHIÊN LIỆU SẠCH (BIO-ETHANOL).......................................................................72
6.1. Giới thiệu: .........................................................................................................72
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí iii
Lớp: 08CSH2
 
6.2. Cách thực hiện: .................................................................................................72
6.2.1.Bước 1: Quá trình tiền xử lý nguyên liệu:..................................................... 72
6.2.2.Bước 2: Thuỷ phân nguồn nguyên liệu bằng tổ hợp enzyme: ....................... 73
6.2.3.Bước 3: Lên men cồn từ hỗn hợp đường hoà tan: ........................................ 74
6.2.4.Bước 4: Chưng cất – khử nước:.................................................................... 75
6.3. Kết luận: ...........................................................................................................75

Kết luận
Tài liệu tham khảo












WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí iv
Lớp: 08CSH2
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VSV: Vi sinh vật.
GSNL: Gia súc nhai lại.
FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations): Tổ chức Lương thực
và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc.
NXB: Nhà xuất bản.
TDN (Total digestible nutrients): Tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa được.
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam.
EM (Effective microorganisms): Là chế phẩm sinh học tập hợp các loài vi sinh vật có
ích như: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn, nấm mốc,… sống
cộng sinh trong cùng môi trường.








WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí v
Lớp: 08CSH2
 
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam
Bảng 2.3: Thành phần lignocellulose trong rác thải và phế phẩm phổ biến
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của NaOH và Ca(OH)
2
đến tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô của bã mía
(Martin,1979)
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của xử lý rơm bằng dung dịch urê 4% đến thành phần dinh
dưỡng của rơm.
Bảng 5.1: Giới hạn chịu nhiệt tốt nhất của VSV
Bảng 5.2: Tỷ lệ C/N của chất thải.
Bảng 5.3: Các thông số quan trọng trong quá trình ủ compost hiếu khí
Bảng 5.4: Tiêu chuẩn ngành 10 TCVN 525 – 2002 phân hữu cơ VSV từ bã mía của Bộ
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.







WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí vi
Lớp: 08CSH2
 
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Cấu trúc thành tế bào thực vật
Hình 2.2: Thành phần chủ yếu của lignocelluloses
Hình 2.3: Tỉ lệ % các thành phần có trong lignocelluloses
Hình 2.4: Công thức hóa học của cellulose
Hình 2.5: Mô hình Fringed fibrillar và mô hình chuỗi gập
Hình 2.6: Các đơn vị cơ bản của lignin
Hình 2.7: Cấu trúc lignin trong gỗ mềm với các nhóm chức chính
Hình 2.8: O-acetyl-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ cứng
Hình 2.9: Arabino-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ mềm
Hình 2.10: Sự phân hủy vật liệu lignocelluloses trong tự nhiên nhờ các vi sinh vật phân
hủy lignin, hemicelluloses (xylan) và cellulose tạo ta đườn cung cấp dinh dưỡng cho
những vi sinh vật khác dẫn đến sự phân hủy hoàn tòan chất hữu cơ thành CO2 và CH4
(phân hủy kị khí).
Hình 2.11: Tác dụng của từng enzyme trong cellulose
Hình 2.12: (A) Enzyme xylanolytic liên quan đến quá trình phân giải xylan. Ac: nhóm
acetyl; α-Araf: α-arabinofuranose; α-4-O-Me-GlcA: α-4-O-methylglucuronic acid. (B)
Thủy phân các xylooligosaccharide bởi enzyme β-xylosidase.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011
 
SVTH: Trần Ngọc Phú Quí vii
Lớp: 08CSH2
 

Sơ đồ 3.1: Các phương pháp xử lý phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ
Sơ đồ 3.2: Nguyên lý xử lý thức ăn giàu xơ ( Chesson, 1986)
Hình 4.1: Những loài gia súc ăn cỏ chính
Hình 4.2: Cấu tạo đường tiêu hoá của GSNL
Sơ đồ 6.1: Qui trình sản xuất ethanol từ nguồn phế liệu lignocellulose


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………



Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 1
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Nước ta là một nước nông nghiệp và hàng năm thải ra một lượng lớn đến hàng
triệu tấn các chất phế thải như trấu, bã mía, vỏ hạt điều, vỏ lạc, rơm, vỏ cafe,… Cụ thể,
mỗi năm nguồn sinh khối trấu của nước ta khoảng 100 triệu tấn, mùn cưa 250 triệu tấn,
vỏ lạc 4,5 triệu tấn, vỏ hạt điều, bã mía, gỗ vụn khoảng 400 triệu tấn. Trong đó, phụ
phẩm trấu tập trung chủ yếu tại Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Bắc Bộ và
duyên hải Nam trung bộ. Phụ phẩm mùn cưa tập trung nhiều ở Miền Trung, Tây
Nguyên, Tây Bắc. Vỏ cà phê có nhiều ở các tỉnh Tây Nguyên.
Mặt hạn chế của phụ phẩn nông nghiệp là một số loại có hàm lượng chất xơ rất
cao, thí dụ rơm lúa chứa 34% chất xơ, còn lá mía chứa 43% tính trong chất khô, nên rất
khó tiêu hóa. Mặt khác một số loại phụ phẩm lại khó chế biến và dự trữ khi thu hoạch
đồng loạt như cây lạc, dây lang, ngọn lá sắn, lá mía...
Một số nơi người nông dân sử dụng các phế thải nông nghiệp để làm chất đốt
nhưng không hiệu quả, hoặc đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường sống nghiêm trọng, thậm
chí ở một số nơi chúng không được sử dụng rất lãng phí. Cùng với sự phát triển của nề
nông nghiệp, qui mô sản xuất ngày càng lớn và tập trung, các chế phẩm nông nghiệp
ngày càng nhiều, việc nghiên cứu sử dụng chúng phục vụ cho đời sống và công nghiệp
càng trở nên cần thiết. Những hướng ứng dụng để xử lý nguồn phụ phẩm nông nghiệp
có thể tìm hiểu được thông qua đề tài này là:
 Sử dụng làm thức ăn cho gia súc.
 Làm phân compost.
 Làm bio-ethanol.
 Nhiều ứng dụng khác:làm chất đốt, sản xuất biogas,…

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 2
Lớp: 08CSH2
Việc chọn đề tài: “Tìm hiểu các phương pháp xử lý phụ phế phẩm giàu xơ”
cũng là mục đích nhằm tìm hiểu rõ hơn việc làm thế nào để xử lý một cách có hiệu quả
nhất nguồn phụ phế phẩm giàu xơ trong nước.
1.2. Mục tiêu:
Tìm hiểu thành phần cấu tạo các phụ phế phẩm giàu xơ ở Việt Nam và các
phương pháp xử lý thích hợp để ứng dụng làm thức ăn đại gia súc, ủ compost làm phân
bón và sản xuất bio-ethanol.
1.3. Nội dung nghiên cứu:
 Tổng quan về phụ phế phẩm giàu xơ:
 Thành phần cấu tạo phụ phế phẩm giàu xơ.
 Các enzyme phân hủy phụ phế phẩm giàu xơ.
 Tổng quan về các phương pháp xử lý phụ phế phẩm giàu xơ: hóa lý
và sinh học.
 Tổng quan về thức ăn gia súc nhai lại và các qui trình xử lý phụ phế
phẩm giàu xơ làm thức ăn gia súc nhai lại.
 Tổng quan về các phương pháp ủ compost phụ phế phẩm giàu xơ làm
phân bón hữu cơ.
 Tổng quan về phụ phế phẩm giàu xơ để sản xuất bio-ethanol.
1.4. Phương pháp thực hiện khóa luận:
Tổng hợp tài liệu
Tham khảo ý kiến chuyên gia.





WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 3
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHỤ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP
2.1. Định nghĩa phụ phế phẩm nông nghiệp:
Là những sản phẩm nông nghiệp không đạt tiêu chuẩn về kích thước, phẩm chất,
giá trị sử dụng... đã quy định, phải loại bỏ nhằm đảm bảo yêu cầu sử dụng hoặc chế
biến.
Phụ phẩm nông nghiệp đều là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; có thể đã
xơ cứng vì silic hoá như trấu hay lignin hoá như gỗ. Chúng còn có thể được xem như là
một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang tổng hợp và các quá trình
sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp.
2.2. Nguồn gốc, thành phần và tính chất phụ phế phẩm nông nghiệp:
2.2.1. Nguồn gốc:
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnh những sản
phẩm chính, dù muốn hay không chúng ta cũng còn có những phần sản phẩm phụ
khác. Chẳng hạn khi trồng lúa, ngoài hạt lúa thu hoạch được, ta còn có rơm, gốc rạ; khi
xay lúa, ngoài gạo, ta còn có tấm, cám, trấu, bụi,…Khi chăn nuôi gia súc, ngoài sản
phẩm chính là thịt, trứng hay sữa, sức kéo, ta còn có phân…
Khối lượng phụ phẩm này rất lớn, riêng đối với các loại cây ngũ cốc, phần ăn
được chỉ chiếm phân nửa hay một phần ba khối lượng. Những phụ phẩm này thực sự
là nguồn tài nguyên phong phú và có giá trị; chúng còn có thể được sử dụng cho nhiều
mục đích khác nhau và có thể tạo thêm giá trị, thu nhập cho nông dân, nếu không,
chúng có thể gây nên ô nhiễm môi trường.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 4
Lớp: 08CSH2
2.1.1. Thành phần và tính chất:
Ở nước ta nguồn phụ phẩm nông nghiệp được ước tính dựa trên khảo sát khối
lượng thực tế của từng loại phụ phẩm tính trên một đơn vị diện tích, sau đó ước tính
tổng khối lượng cho toàn quốc, dựa vào số liệu thống kê về diện tích gieo trồng hàng
năm. Khối lượng này được quy đổi ra chất khô để tiện cho việc so sánh, đánh giá (bảng
2.1).
Bảng 2.1: Ước tính khối lượng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam
Tên phụ phẩm Diện tích gieo trồng (triệu
ha/ năm)
Khối lượng phụ phẩm
(Tr. tấn chất khô/ năm)
Rơm lúa 7,5 25,0
Cây ngô (đã thu bắp) 0,65 2,0
Dây lạc 0,27 0,48
Dây lang 0,26 0,24
Ngọn, lá sắn 0,23 0,29
Lá mía 0,28 0,42
Tổng cộng - 28,4
(Nguồn: Số liệu thống kê 2001 – NXB Thống kê, 2002; Bùi Văn Chính, lê Viết Ly,
1996,2001)
Mặt hạn chế của phụ phẩn nông nghiệp là một số loại có hàm lượng chất xơ rất
cao, thí dụ rơm lúa chứa 34% chất xơ, còn lá mía chứa 43% tính trong chất khô, nên rất
khó tiêu hóa. Mặt khác một số loại phụ phẩm lại khó chế biến và dự trữ khi thu hoạch
đồng loạt như cây lạc, dây lang, ngọn lá sắn, lá mía...
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 5
Lớp: 08CSH2
Đó cũng là một lý do làm cho người nông dân chỉ sử dụng được một phần các
loại phụ phẩm này ở dạng tươi làm thức ăn cho gia súc.
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của một số phụ phẩm nông nghiệp ở Việt Nam

% tính trong chất khô

Tên phụ phẩm Chất
khô (%)
Chất xơ Protein Tổng các chất
dinh dưỡng
tiêu hóa -
TDN
Năng lượng trao
đổi - ME, (Kcal/
kg chất khô)
Rơm lúa 90,8 34,3 5,1 45,9 1662
Cây ngô già 61,6 31,5 7,6 54,1 1958
Lá mía 28,8 42,9 8,2 49,3 1778
Dây lang 20,0 24,5 11,0 59,5 2160
Dây lạc 22,5 27,7 14,1 63,5 2289
Ngọn, lá sắn 25,5 22,7 16,9 67,5 2549
Các số liệu ở (bảng 2.2) cho thấy hàm lượng xơ của rơm lúa, cây ngô già và lá
mía khá cao; nên rất cần được chế biến bằng các tác nhân hóa học hay sinh học để
nâng cao tỷ lệ tiêu hóa chất xơ và các chất hữu cơ khác.
Nhìn chung các loại phụ phẩm đều chứa một nguồn các chất dinh dưỡng tiềm
tàng khá cao, nhưng tổng các chất dinh dưỡng tiêu hóa được (TDN) còn khá thấp. Do
đó còn nhiều khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn các chất dinh dưỡng tiềm tàng
này trong các phụ phẩm nông nghiệp nếu chúng ta tác động bằng khâu chế biến và phối
hợp khẩu phần một cách hợp lý để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của chúng.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 6
Lớp: 08CSH2
Về nguyên tắt chất xơ trong rơm rạ và các loại thức ăn thô tương tự chủ yếu là
cellulose, hemicelluloses, và lignin, gọi chung là lignocellulose. Gi ữa chúng
có các liên kết hoá học tạo nên từ sự bền vững của màng tế bào thực vật.
2.3. Thành phần cấu tạo phụ phế phẩm giàu xơ
2. 3.1. Cấu trúc của lignocelluloses:
2.3.1.1. Cấu trúc thành tế bào thực vật :
Trong tự nhiên, các lớp của thành tế bào thực vật được minh họa bằng mô hình
của gỗ (Hình 3.1). Ở giữa các tế bào, có một hợp chất đóng vai trò như keo dán gắn kết
các tế bào lại với nhau, đó là lớp gian bào (middle lamella). Lớp này cấu tạo từ các
chất keo, có bản chất pectin và không có tác động về quang học. Bên trong là thành tế
bào sơ cấp (primary wall).

Hình 2.1: Cấu trúc thành tế bào thực vật
Thành tế bào sơ cấp có thể được chia thành mặt bên trong và mặt bên ngoài. Sự
sắp xếp của các vi sợi trong thành tế bào sơ cấp phân tán tăng dần từ mặt trong ra mặt
ngoài. Tiếp đến là thành tế bào thứ cấp gồm 3 lớp: lớp ngoài (S1), lớp giữa (S2) và lớp
trong (S3).
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 7
Lớp: 08CSH2
Sự phân chia thành tế bào thứ cấp thành ba lớp S chủ yếu là do sự định hướng
khác nhau của các vi sợi trong ba lớp đó. Điển hình các vi sợi định hướng xoắn trong
vách tế bào. Lớp ngoài của thành tế bào thứ cấp, các vi sợi được định hướng trong cấu
trúc xoắn chéo có độ nghiêng tạo thành một góc lớn với trục dọc của tế bào. Lớp giữa
là lớp dày nhất và ở lớp giữa có góc nhỏ và độ nghiêng của sợi xoắn ốc trong khi vi sợi
trong lớp 3 được sắp xếp như ở lớp ngoài, với một góc rộng với trục dọc của tế bào.
Ngoài ra trong một số trường hợp, trên mặt trong của thành tế bào có lớp sần sùi (W).
Chức năng của thành tế bào là chống đỡ cho các cơ quan của cây đặc biệt là các vách
dày và cứng. Thành tế bào còn giữ các chức năng quan trọng chính như hấp thụ, thoát
hơi nước hay vận chuyển và bài tiết.
Lignocellulose là thành phần cấu trúc chính của thực vật thân gỗ và các thực vật
khác như cỏ, lúa, ngô…Trong tự nhiên, chúng ta có thể tìm thấy lignocellulose ở thực
vật hay các chất thải nông nghiệp, lâm nghiệp và các chất thải rắn trong thành phố.
Thành phần chủ yếu của lignocellulose là cellulose, hemicellulose và lignin (Hình 3.2).
Cellulose và hemicellulose là các đại phân tử cấu tạo từ các gốc đường khác nhau,
trong khi lignin là một polymer dạng vòng được tổng hợp từ tiền phenylpropanoid.
Thành phần cấu tạo và phần trăm của các polymer này là khác nhau giữa các loài. Hơn
nữa, thành phần cấu tạo trong cùng một cây hay các cây khác nhau là khác nhau dựa
vào độ tuổi, giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và các điều kiện khác. Thành
phần của lignocellulose được trình bày ở (Bảng 3.1).





WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 8
Lớp: 08CSH2

Hình 2.2: Thành phần chủ yếu của lignocelluloses

Hình 2.3: Tỉ lệ % các thành phần có trong lignocelluloses
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 9
Lớp: 08CSH2
Bảng 2.3: Thành phần lignocellulose trong rác thải và phế phẩm phổ biến
Nguồn lignocellulose Cellulose (%) Hemicellulose (%) Lignin (%)
Thân gỗ cứng 40-55 24-40 18-25
Thân gỗ mềm 45-50 25-35 25-35
Vỏ lạc 25-30 25-30 30-40
Lõi ngô 45 35 15
Giấy 85-99 0 0-15
Vỏ trấu 32.1 24 18
Vỏ trấu của lúa mì 30 50 15
Rác đã phân loại 60 20 20
Lá cây 15-20 80-85 0
Hạt bong 80-95 5-20 0
Giấy báo 40-55 25-40 18-30
Giấy thải từ bột giấy hóa học 60-70 10-20 5-10
Chất rắn nước thải ban đầu 8-15 - 24-29
Chất thải của lợn 6 28 -
Phân bón gia súc 1.6-4.7 1.4-3.3 2.7-5.7
Cỏ ở bờ biển Bermuda 25 35.7 6.4
Cỏ mềm

45 31.4 12.0
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 10
Lớp: 08CSH2
Các loại cỏ (trị số trung bình
cho các loại)
25-40 25-50 10-30
Bã thô 33.4 30 18.9
Lượng lớn lignocellulose được thải ra từ các ngành lâm nghiệp, nông nghiệp,
công nghiệp giấy và gây ra ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, lượng lớn các sinh khối
thực vật dư thừa được coi là rác thải có thể được biến đổi thành nhiều sản phẩm có giá
trị khác nhau như nhiên liệu sinh học, hóa chất, các nguồn năng lượng rẻ cho quá trình
lên men, bổ sung chất dinh dưỡng cho con người và thức ăn cho động vật.
2.3.1.2. Cellulose :
Cellulose là hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo (C
6
H
10
O
5
)
n,
và là thành phần
chủ yếu của thành tế bào thực vật, gồm nhiều cellobiose liên kết với nhau, 4-O- (β-D-
Glucopyranosyl)-D-glucopyranose (Hình 3.4). Cellulose cũng là hợp chất hữu cơ nhiều
nhất trong sinh quyển, hàng năm thực vật tổng hợp được khoảng 10
11
tấn cellulose
(trong gỗ, cellulose chiếm khoảng 50% và trong bông chiếm khoảng 90%).

Hình 2.4: Công thức hóa học của cellulose
Các mạch cellulose được liên kết với nhau nhờ liên kết hydro và liên kết van Der
Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là tinh thể và vô định hình. Trong vùng tinh
thể, các phân tử cellulose liên kết chặt chẽ với nhau, vùng này khó bị tấn công bởi
enzyme cũng như hóa chất.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 11
Lớp: 08CSH2
Ngược lại, trong vùng vô định hình, cellulose liên kết không chặt với nhau nên dễ
bị tấn công. Có hai mô hình cấu trúc của cellulose đã được đưa ra nhằm mô tả vùng
tinh thể và vô định hình như (Hình 3.5).

Hình 2.5: Mô hình Fringed fibrillar và mô hình chuỗi gập
Trong mô hình Fringed Fibrillar: phân tử cellulose được kéo thẳng và định hướng
theo chiều sợi. Vùng tinh thể có chiều dài 500 Å và xếp xen kẽ với vùng vô định hình.
Trong mô hình chuỗi gập: phân tử cellulose gấp khúc theo chiều sợi. Mỗi đơn vị
lặp lại có độ trùng hợp khoảng 1000, giới hạn bởi hai điểm a và b như trên hình vẽ. Các
đơn vị đó được sắp xếp thành chuỗi nhờ vào các mạch glucose nhỏ, các vị trí này rất dễ
bị thủy phân. Đối với các đơn vị lặp lại, hai đầu là vùng vô định hình, càng vào giữa,
tính chất kết tinh càng cao. Trong vùng vô định hình, các liên kết β - glycoside giữa
các monomer bị thay đổi góc liên kết, ngay tại cuối các đoạn gấp, 3 phân tử monomer
sắp xếp tạo sự thay đổi 180
o
cho toàn mạch.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 12
Lớp: 08CSH2
Vùng vô định hình dễ bị tấn công bởi các tác nhân thủy phân hơn vùng tinh thể vì
sự thay đổi góc liên kết của các liên kết cộng hóa trị (β - glycoside) sẽ làm giảm độ bền
của liên kết, đồng thời vị trí này không tạo được liên kết hydro.
Cellulose có cấu tạo tương tự carbohydrate phức tạp như tinh bột và glycogen.
Các polysaccharide này đều được cấu tạo từ các đơn phân là glucose. Cellulose là
glucan không phân nhánh, trong đó các gốc glucose kết hợp với nhau qua liên kết β-
1 4- glycoside, đó chính là sự khác biệt giữa cellulose và các phân tử carbohydrate
phức tạp khác. Giống như tinh bột, cellulose được cấu tạo thành chuỗi dài gồm ít nhất
500 phân tử glucose. Các chuỗi cellulose này xếp đối song song tạo thành các vi sợi
cellulose có đường kính khoảng 3,5 nm. Mỗi chuỗi có nhiều nhóm OH tự do, vì vậy
giữa các sợi ở cạnh nhau kết hợp với nhau nhờ các liên kết hidro được tạo thành giữa
các nhóm OH của chúng. Các vi sợi lại liên kết với nhau tạo thành vi sợi lớn hay còn
gọi là bó mixen có đường kính 20 nm, giữa các sợi trong mixen có những khoảng trống
lớn. Khi tế bào còn non, những khoảng này chứa đầy nước, ở tế bào già thì chứa đầy
lignin và hemicellulose.
Cellulose có cấu trúc rất bền và khó bị thủy phân. Người và động vật không có
enzyme phân giải cellulose (cellulase) nên không tiêu hóa được cellulose, vì vậy
cellulose không có giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy cellulose
có thể có vai trò điều hòa hoạt động của hệ thống tiêu hóa. Vi khuẩn trong dạ cỏ của
gia súc, các động vật nhai lại và động vật nguyên sinh trong ruột của mối sản xuất
enzyme phân giải cellulose. Nấm đất cũng có thể phân hủy cellulose. Vì vậy chúng có
thể sử dụng cellulose làm thức ăn.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 13
Lớp: 08CSH2
2.3.1.3. Lignin :
Lignin là một phức hợp chất hóa học phổ biến được tìm thấy trong hệ mạch thực
vật, chủ yếu là giữa các tế bào, trong thành tế bào thực vật. Lignin là một trong các
polymer hữu cơ phổ biến nhất trên trái đất. Lignin có cấu trúc không gian 3 chiều, phức
tạp, vô định hình, chiếm 17% đến 33% thành phần của gỗ. Lignin không phải là
carbohydrate nhưng có liên kết chặt chẽ với nhóm này để tạo nên màng tế bào giúp
thực vật cứng chắc và giòn, có chức năng vận chuyển nước trong cơ thể thực vật (một
phần là để làm bền thành tế bào và giữ cho cây không bị đổ, một phần là điều chỉnh
dòng chảy của nước), giúp cây phát triển và chống lại sự tấn công của côn trùng và
mầm bệnh. Thực vật càng già, lượng lignin tích tụ càng lớn. Hơn nữa, lignin đóng vai
trò quan trọng trong chu trình carbon, tích lũy carbon khí quyển trong mô của thực vật
thân gỗ lâu năm, là một trong các thành phần bị phân hủy lâu nhất của thực vật sau khi
chết, để rồi đóng góp một phần lớn chất mùn giúp tăng khả năng quang hợp của thực
vật.
Lignin là một polyphenol có cấu trúc mở. Trong tự nhiên, lignin chủ yếu đóng vai
trò chất liên kết trong thành tế bào thực vật, liên kết chặt chẽ với mạng cellulose và
hemicellulose. Rất khó để có thể tách lignin ra hoàn toàn.
Lignin là polymer, được cấu thành từ các đơn vị phenylpropene, vài đơn vị cấu
trúc điển hình là: guaiacyl (G), trans-coniferyl alcohol; syringyl (S), trans-sinapyl
alcohol; p-hydroxylphenyl (H), trans-p-courmary alcohol (Hình 3.6).
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 14
Lớp: 08CSH2

Hình 2.6: Các đơn vị cơ bản của lignin
Cấu trúc của lignin đa dạng, tùy thuộc vào loại gỗ, tuổi của cây hoặc cấu trúc của
nó trong gỗ. Ngoài việc được phân loại theo lignin của gỗ cứng, gỗ mềm và cỏ, lignin
có thể được phân thành hai loại chính: guaicyl lignin và guaicyl-syringyl lignin.
Gỗ mềm chứa chủ yếu là guaiacyl, gỗ cứng chứa chủ yếu syringyl. Các nghiên
cứu đã chỉ ra rằng guaiacyl lignin hạn chế sự trương nở của xơ sợi và vì vậy loại
nguyên liệu đó sẽ khó bị tấn công bởi enzyme hơn syringyl lignin.
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng lignin hoàn toàn không đồng nhất trong
cấu trúc. Lignin dường như bao gồm vùng vô định hình và các vùng có cấu trúc hình
thuôn hoặc hình cầu. Lignin trong tế bào thực vật bậc cao không có vùng vô định hình.
Các vòng phenyl trong lignin của gỗ mềm được sắp xếp trật tự trên mặt phẳng thành tế
bào. Ngoài ra, cả cấu trúc hóa học và cấu trúc không gian của lignin đều bị ảnh hưởng
bởi mạng polysaccharide. Việc mô hình hóa động học phân tử cho thấy rằng nhóm
hydroxyl và nhóm methoxyl trong các oligomer tiền lignin sẽ tương tác với vi sợi
cellulose cho dù bản chất của lignin là kỵ nước.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 15
Lớp: 08CSH2

Hình 2.7: Cấu trúc lignin trong gỗ mềm với các nhóm chức chính
Các nhóm chức ảnh hưởng đến hoạt tính của lignin bao gồm nhóm phenolic
hydroxyl tự do, methoxyl, benzylic hydroxyl, ether của benzylic với các rượu mạch
thẳng và nhóm carbonyl (Hình 3.7). Guaicyl lignin chứa nhiều nhóm phenolic
hydroxyl hơn syringyl.
Lignin tạo liên kết hóa học với hemicellulose và ngay cả với cellulose (nhưng
không nhiều). Độ bền hóa học của những liên kết này phụ thuộc vào bản chất liên kết,
cấu trúc hóa học của lignin và các gốc đường tham gia liên kết. Carbon alpha (Cα)
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 16
Lớp: 08CSH2
trong cấu trúc phenyl propane là nơi có khả năng tạo liên kết cao nhất với khối
hemicellulose. Ngược lại, các đường nằm ở mạch nhánh như arabinose, galactose, và
acid 4-O-methylglucuronic là các nhóm thường liên kết với lignin. Các liên kết có thể
là ether, ester (liên kết với xylan qua acid 4-O-methyl-D-glucuronic), hay glycoside
(phản ứng giữa nhóm khử của hemicellulose và nhóm OH phenolic của lignin)
Cấu trúc hóa học của lignin rất dễ bị thay đổi trong điều kiện nhiệt độ cao và pH
thấp như điều kiện trong quá trình tiền xử lý bằng hơi nước. Ở nhiệt độ phản ứng cao
hơn 200
o
C, lignin bị kết khối thành những phần riêng biệt và tách ra khỏi cellulose.
Những nghiên cứu trước đây cho thấy đối với gỗ cứng, nhóm ether β-O-4 aryl bị phá
hủy trong quá trình nổ hơi. Đồng thời, đối với gỗ mềm, quá trình nổ hơi làm bất hoạt
các nhóm hoạt động của lignin ở vị trí α như nhóm hydroxyl hay ether, các nhóm này
bị oxy hóa thành carbonyl hoặc tạo cation benzylic, cation này sẽ tiếp tục tạo liên kết
C-C.
Trong dinh dưỡng động vật, lignin rất đáng quan tâm vì nó không bị tiêu hóa
bởi enzyme của cơ thể vật chủ. Lignin còn liên kết với nhiều polysaccharide và protein
màng tế bào ngăn trở quá trình tiêu hóa các hợp chất gỗ. Gỗ, cỏ khô và rơm rất giàu
lignin nên tỷ lệ tiêu hóa thấp trừ khi được xử lý hóa học làm cho các liên kết giữa
lignin với các carbohydrate khác bị bẻ gãy.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 17
Lớp: 08CSH2
2.3.1.4. Hemicellulose :
Hemicellulose là một loại polymer phức tạp và phân nhánh, độ trùng hợp khoảng
70 đến 200 đơn phân. Hemicellulose chứa cả đường 6 carbon gồm glucose, mannose
và galactose và đường 5 gồm xylose và arabinose. Thành phần cơ bản của
hemicellulose là β – D xylopyranose, liên kết với nhau bằng liên kết β -(14).
Cấu tạo của hemicellulose khá phức tạp và đa dạng tùy vào nguyên liệu, tuy
nhiên có một vài điểm chung gồm:
 Mạch chính của hemicellulose được cấu tạo từ liên kết β -(14).
 Xylose là thành phần quan trọng nhất.
 Nhóm thế phổ biến nhất là nhóm acetyl O – liên kết với vị trí 2 hoặc 3.
 Mạch nhánh cấu tạo từ các nhóm đơn giản, thông thường là disaccharide
hoặc trisaccharide. Sự liên kết của hemicellulose với các polysaccharide khác và với
lignin là nhờ các mạch nhánh này. Cũng vì hemicellulose có mạch nhánh nên tồn tại ở
dạng vô định hình và vì thế dễ bị thủy phân.
Hemicellulose là polysaccharide trong màng tế bào tan trong dung dịch kiềm và
có liên kết chặt chẽ với cellulose, là một trong ba sinh khối tự nhiên chính. Cùng với
cellulose và lignin, hemicellulose tạo nên thành tế bào vững chắc ở thực vật. Về cấu
trúc, hemicellulose có thành phần chính là D-glucose, D-galactose, D-mannose, D-
xylose và L-arabinose liên kết với các thành phần khác và nằm trong liên kết glycoside.
Hemicellulose còn chứa cả axit 4-O-methylglucuronic, axit D-galacturonic và axit
glucuronic. Trong đó, đường D-xylose, L-arabinose, D-glucose và D-galactose là phổ
biến ở thực vật thân cỏ và ngũ cốc. Tuy nhiên, khác với hemicellulose thân gỗ,
hemicellulose ở thực vật thân cỏ lại có lượng lớn các dạng liên kết và phân nhánh phụ
thuộc vào các loài và từng loại mô trong cùng một loài cũng như phụ thuộc vào độ tuổi
của mô đó.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 18
Lớp: 08CSH2
Tùy theo trong thành phần của hemicellulose có chứa monosaccharide nào mà nó
sẽ có những tên tương ứng như manan, galactan, glucan và xylan. Các polysaccharide
như manan, galactan, glucan hay xylan đều là các chất phổ biến trong thực vật, chủ yếu
ở các thành phần của màng tế bào của các cơ quan khác nhau như gỗ, rơm rạ, v.v…
Trong các loại hemicellulose, xylan là một polymer chính của thành tế bào thực
vật trong đó các gốc D-xylopyranose kết hợp với nhau qua liên kết β-1,4-D-
xylopyranose, là nguồn năng lượng dồi dào thứ hai trên trái đất. Đa số phân tử xylan
chứa nhiều nhóm ở trục chính và chuỗi bên. Các gốc thay thế chủ yếu trên khung chính
của xylan là các gốc acetyl, arabinosyl và glucuronosyl. Các nhóm này có đặc tính liên
kết tương tác cộng hóa trị và không hóa trị với lignin, cellulose và các polymer khác.
Cấu tạo, số lượng và vị trí của xylan ở các loài thực vật khác nhau là khác nhau.
Xylan tồn tại ở dạng O-acetyl-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ cứng (Hình 3.8),
hay arabino-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ mềm (Hình 3.9), hay thành phần cấu
tạo xylan là axit D-glucuronic, có hoặc không có ete 4-O-methyl và arabinose ở các
loài ngũ cốc.

Hình 2.8: O-acetyl-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ cứng
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 19
Lớp: 08CSH2

Hình 2.9: Arabino-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ mềm
2.3.2. Enzyme thủy phân lignocelluloses:
Phần lớn quá trình phân hủy phụ phế phẩm giàu xơ trong thiên nhiên xảy ra là
nhờ enzyme.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 20
Lớp: 08CSH2

Hình 2.10: Sự phân hủy vật liệu lignocelluloses trong tự nhiên nhờ các vi sinh vật
phân hủy lignin, hemicelluloses (xylan) và cellulose tạo ta đườn cung cấp dinh
dưỡng cho những vi sinh vật khác dẫn đến sự phân hủy hoàn tòan chất hữu cơ
thành CO2 và CH4 (phân hủy kị khí).
Các hệ enzyme phân hủy lignin, hemicelluloses và cellulose không phần lớn do vi
sinh vật sinh tổng hợp. Chúng không hoạt động riêng rẽ mà hoạt động hiệp lực giữa
các enzyme trong cùng một phức hợp enzyme, cũng như trong một hệ sinh thái vi sinh
vật, có sự phối hợp giữa các quần thể vi sinh vật tiết các phức hợp ligninase,
hemicellulase và cellulase.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 21
Lớp: 08CSH2
3.3.2.1. Enzyme cellulolytic :
Enzyme thủy phân cellulose có khả năng thủy phân chất thải chứa cellulose,
chuyển hóa các hợp chất kiểu lignocellulose và cellulose trong rác thải tạo nên nguồn
năng lượng thông qua các sản phẩm, ethanol, khí sinh học hay các sản phẩm giàu năng
lượng khác. Thí dụ như từ các chất thải nhà máy giấy như các sản phẩm từ bột giấy và
giấy có thể thu nguồn năng lượng như ethanol.
Liên kết chủ yếu trong cấu trúc của cellulose là β-(14) glucoside. Nói chung, để
phá hủy hoàn toàn cấu trúc của polysaccharide này cần có các enzyme cellulase với
những tác động đặc trưng riêng biệt. Dựa theo nghiên cứu về hệ enzyme cellulase của
nấm Trichoderma reesei, hệ enzyme thủy phân gồm 3 loại hoạt tính enzyme (Hình
3.10):
 Endoglycanase hoặc 1,4-β-D-glucan glucanohydrolase (EC 3.2.1.4):
Enzyme nội bào endoglycanase hoặc 1,4-β-D-glucan glucanohydrolase là enzyme
thủy phân nội bào liên kết 1,4-β-D-glucosidic trong phân tử cellulose bởi tác dụng
ngẫu nhiên trong chuỗi polymer hình thành các đầu chuỗi khử tự do và các chuỗi
oligosaccharide ngắn. Các endoglucanase không thể thủy phân cellulose tinh thể hiệu
quả nhưng nó sẽ phá vỡ các liên kết tại khu vực vô định hình tương đối dễ tiếp cận.
 Exoglucanase:
Enzyme ngoại bào exoglucanase gồm cả 1,4-beta-D-glucan glucanohydrolase
(EC 3.2.1.74), giải phóng D-glucose từ β-glucan và cellodextrin và 1,4-beta-D-glucan
cellobiohydrolase (EC 3.2.1.91) mà giải phóng D-cellobiose. Tỷ lệ thủy phân của
enzyme cellobiohydrolase ngoại bào bị hạn chế bởi sự sẵn có các đầu chuỗi cellulose.
 β-glucosidase hay β-D-glucoside glucohydrolase (EC 3.2.1.21):
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 22
Lớp: 08CSH2
β-glucosidase hay β-D-glucoside glucohydrolase giải phóng phân tử D-glucose
từ đường cellodextrin hòa tan và một loạt các glucoside khác.

Hình 2.11: Tác dụng của từng enzyme trong cellulose
3.3.2.2. Enzyme xylanolytic :
Do tính không đồng nhất của xylan, sự thủy phân của nó đòi hỏi các ảnh hưởng
của một hệ thống enzyme phức tạp. Enzyme này thường bao gồm hai loại: enzyme
không phân nhánh (β-1,4-endoxylanse, β-xylosidase) và enzyme phân nhánh (α-
arabinofuranosidase, α-glucuronidase, esterase xylan acetyl và esterase axit phenolic)
(Hình 3.11). Tất cả các enzyme này tác động tương hỗ để chuyển đổi xylan thành cấu
tử đường của nó. Hệ thống enzyme xylanolytic đa chức năng như vậy khá phổ biến ở
những vi khuẩn và nấm. Các xylan khác loại chứa nhóm thể khác nhau trong mạch
chuỗi chính và chuỗi bên.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 23
Lớp: 08CSH2
Như vậy, sự phân giải polysaccharide phức tạp như vậy có thể gồm hoạt động hỗ
trợ giữa các thành phần khác nhau của hệ thống enzyme xylanolytic.

Hình 2.12: (A) Enzyme xylanolytic liên quan đến quá trình phân giải xylan. Ac:
nhóm acetyl; α-Araf: α-arabinofuranose; α-4-O-Me-GlcA: α-4-O-methylglucuronic
acid. (B) Thủy phân các xylooligosaccharide bởi enzyme β-xylosidase.
 β-Xylosidase:
β-D-xylosidase (β-D-xyloside xylohydrolase; EC 3.2.1.37) là enzyme ngoại bào
exoglyosidase thủy phân các oligosaccharide ngắn và xylobiose thành đường xylose. β-
xylobiose thật có thể phân tách chất nhân tạo như p-nitrophenyl β-D-xyloside [11].
Trong số các xylooligomer, xylobiose thường là cơ chất tốt nhất. Ái lực của enzyme
đối với xylooligosaccharide giảm theo mức độ tăng của phản ứng polymer hóa.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 24
Lớp: 08CSH2
Hầu hết các β-xylosidase được nghiên cứu cho đến nay đều bị ức chế bởi xylose
sản phẩm thủy phân của chúng. Nhiều β-xylosidase có hoạt tính transferase, đặc biệt là
ở các nồng độ cơ chất cao, tạo ra sản phẩm phân tử lượng cao.
 α-L-Arabinofuranosidase:
Mặc dù enzyme arabinosidase đóng vai trò quan trọng trong quá trình thủy phân
xylan, chỉ có một vài enxyme đã được cô lập và mô tả. Có hai loại enzyme arabinase,
các enzyme α-L-arabinofuranosidase ngoại bào (EC 3.2.1.55) hoạt hóa ngược lại với p-
nitrophenly-α-L-arabinofuranoside và trên các arabinan phân nhánh, và các enzyme
1,5-alpha-L-arabinase nội bào (EC3.2.1.99), chỉ hoạt hóa các arabinan dạng thẳng.
α-L-Arabinofuranosidase có khả năng thủy phân cả hai liên kết 1,3- và 1,5-α-L-
arabinofuranosyl trong arabinoxylolan đã được báo cáo trong A. ninger và B. subtilis.
Enzyme này đặc hiệu cao đối với arabinoxylan và có thể giải phóng mỗi arabinose từ
arabinoxylan. Khi giải phóng arabinose, mạch chính xylan không bị thủy phân và
không tạo ra xylooligosaccharide. Enzyme này không tác động đối với α-L-1,3 hoặc α-
1,5 liên kết arabinose từ arabinan, arabinogalactan, hoặc p-nitrophenyl-alpha-L-
arabinofuranoside.
 α-Glucuronidase:
α-D-Glucuronidase phân giải liên kết α-1,2 giữa axit glucuronic và gốc xylose
trong phân tử glucuronoxylan. Tính đặc hiệu của α-glucuronidase là khác nhau phụ
thuộc vào nguồn gốc của enzyme.
 Esterase acetylxylan:
Enzyme esterase acetylxylan là enzyme có thể cắt đứt giữa các nhóm acetyl với
2 hoặc 3 vị trí của gốc xylose và góp phần đóng vai trò thủy phân xylan trong tự nhiên.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 25
Lớp: 08CSH2
Trong các nghiên cứu trước đó đã chứng minh được enzyme này được chứng minh là
sinh ra từ một số loài vi khuẩn và nấm.
3.3.2.3. Enzyme phân hủy lignin (ligninase):
Lignin peroxidase (LiP) được trích ly từ nấm mục trắng Phanerochaete
chrysosporium và Manganese peroxidase (MnP) được trích ly từ Lentinula edodes. Các
enzyme này phân hủy các hợp chất có vòng thơm, trong đó có lignin. Cho đến nay
chúng chưa được nghiên cứu nhiều, nhiều vi sinh vật có khả năng tiết enzyme này
trong đất vẫn chưa được khám phá.
Như vậy trong 3 thành phần chính của lignocelluloses, lignin là khó phân hủy
nhất. Đây cũng chính là rào cảm sự tấn công của các enzyme khác vào thủy phân hiệu
quả hemicelluloses và cellulose.
2.4. Ứng dụng của enzyme lignocellulolytic:
Thế hệ nhiên liệu sinh học đầu tiên dựa trên đường, tinh bột và dầu thực vật,
không có được những ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, vì các nguyên vật liệu này
cũng được sử dụng làm thức ăn. Lignocellulose được xem là thế hệ nhiên liệu sinh học
thứ hai. Trong thập kỷ qua, enzyme thủy phân lignocellulose ngày càng được quan
tâm. Cellulose và xylan rất phổ biến trong tự nhiên. Hàng năm, lượng lignocellulose do
thực vật tổng hợp nên là 10
11
tấn. Sự phân hủy lignocellulose chủ yếu là do vi sinh vật.
Do đó mà quá trình phân hủy lignocellulose bằng các enzyme từ vi sinh vật có một ý
nghĩa lớn về lý thuyết cũng như về thực tế. Bởi lẽ do vi sinh vật phân hủy cellulose mà
hàng năm bầu khí quyển của trái đất được bổ sung đầy đủ lượng CO
2
cần thiết cho sự
sống.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 26
Lớp: 08CSH2
Một số ứng dụng chính của cellulase và xylanase như:
 Ứng dụng trong quá trình thủy phân gỗ và phế liệu gỗ rẻ tiền thành các
đường đơn giản rồi có thể chế biến thành thức ăn cho gia súc.
 Các nguyên liệu thực phẩm có nguồn gốc thực vật nếu được gia công
bằng chế phẩm enzyme cellulase và xylanase sẽ được mềm ra, tăng hệ số đồng hóa và
chất lượng. Do đó sẽ rất bổ ích làm thức ăn đặc hiệu cho trẻ em, người ăn kiêng cũng
như chế biến thức ăn gia súc.
Ứng dụng trong quá trình thủy phân chất thải chứa cellulose, chuyển hóa các
hợp chất kiểu lignocellulose và cellulose trong rác thải tạo nên nguồn năng lượng
thông qua các sản phẩm đường, ethanol, khí sinh học hay các sản phẩm giàu năng
lượng khác. Thí dụ: từ các chất thải nhà máy giấy như các sản phẩm từ bột giấy và giấy
có thể thu nguồn năng lượng như ethanol.
Người ta có thể thủy phân lignocelluloses bằng phương pháp sinh học theo hai
cách: cách 1 là sử dụng trực tiếp vi sinh vật phân hủy lignocellulose trong tự nhiên hay
phân lập chúng tạo chế phẩm EM tăng cường phân hủy như các quy trình ủ compost và
phân hủy rác thải giàu xơ. Cách hai đắt tiền hơn là sản xuất enzyme vi sinh vật bằng
công nghệ di truyền và lên men vi sinh vật, rồi sử dụng chế phẩm enzyme vào thủy
phân như phần hớn công nghệ sản xuất bioethanol hiện nay.







WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 27
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ PHỤ PHẾ PHẨM GIÀU XƠ
Như đã trình bày ở trên, phụ phế phẩm giàu xơ gồm 3 thành phần chủ
yếu là cellulose, hemicelluloses và lignin. Cellulose gồm nhiều chuỗi thẳng
ghép nhau thành bó dài nhờ mạch nối hydrogen tạo thành các mixen bền
vững. Hemicellulose là những heteropolysacarit cùng với cellulose có ở
màng tế bào thực vật. Hemicellulose không hoà tan được trong nước nhưng
hoà tan được trong dung dịch kiềm và bị thuỷ phân bởi acid dễ dàng hơn so
với cellulose. Khi bị thuỷ phân từ hemicelluloses sẽ tạo ra glucose, fructose,
mantose, galactose, cuabinose và xilose. Thành phần thứ ba đáng chú ý
trong chất xơ là lignin. Lignin luôn đi kèm với cellulose và hemicelluloses
trong thành phần tế bào. Lignin không hoà tan trong nước, trong các dung
môi hữu cơ bình thường và rất bền vững bởi enzyme của hệ VSV dạ cỏ.
Nhưng dưới tác dụng của kiềm thì lignin một phần bị phân giải và chuyển
vào dung dịch.
Trong dạ cỏ loài nhai lại có những vi khuẩn đặc biệt chứa enzyme
cellulose phân gi ải được cellulose. Cellulose và hemicelluloses là những
chất có thể tiêu hoá được. Nhưng phần lớn cellulose tham gia cấu tạo lớp
trong của màng tế bào rơm nên enzyme của hệ VSV không dễ dàng tác động
được. Lớp ngoài thành tế bào được tạo thành chủ yếu từ các phức chất lingo
– hemicelluloses mà các enzyme VSV dạ cỏ phân giải vô cùng chậm. Điều
đó cản trở những lớp trong giàu cellulose trước tác động của enzyme VSV,
cũng như cản trờ sự phân giải chất chứa tế bào.


Như vậy, phần lớn các trường hợp muốn sự dụng hiệu quả phụ phế
phẩm giàu xơ cần thực hiện các quá trình xử lý hay tiền xử lý bằng phương
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 28
Lớp: 08CSH2
pháp hóa lý để tạo tiền đề cho phương pháp sinh học là sử dụng enzyme chế
phẩm hay sử dụng trực tiếp tế bào tiết ra các enzyme đó.


Sơ đồ 3.1: Các phương pháp xử lý phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ
3.1. Phương pháp vật lý:
 Xử lý cơ học:
Xử lý cơ học là phương pháp cơ giới để băm chặt, nghiền nhỏ thức ăn,
nhằm thunhỏ kích thước của thức ăn, vì kích thước của thức ăn có ảnh
hưởng tới quá trình thu nhận và quá trình tiêu hoá thức ăn của gia súc nhai lại.
Phương pháp này giúp phá vở cấu trúc vách tế bào nên thành phần cacbohydrate
không hoà tan sẽ có giá trị hơn với VSV dạ cỏ. Ưu điểm của phương pháp
này là giúp gia súc đở tốn năng lượng thu nhận và tạo kích thước của thức
ăn thích hợp cho VSV dạ cỏ.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nguy cơ làm giảm tiết nước bọt và tăng
tốc độ chuyển dời qua dạ cỏ làm giảm tỷ lệ tiêu hoá. Phương pháp này áp dụng
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 29
Lớp: 08CSH2
chủ yếu với phế phụ phẩm trồng trọt ở mức độ trang trại. Nên kết hợp phương
pháp này với phương pháp xử lý hoá học hoặc kết hợp với xử lý sinh học.
 Xử lý bằng nhiệt hơi nước:
Xử lý các loại thức ăn thô chất lượng thấp bằng nhiệt với áp suất hơi nước cao
đểlàm tăng tỷ lệ tiêu hoá. Cơ sở của phương pháp này là quá trình thuỷ phân
xơ bằng hơi nước ở áp suất cao để phá vỡ mối li ên kết hoá học giữa các
thành phần của chất xơ và tạo ra sự tách chuỗi. Theo các tác giả Sundstol và
Owen (1984) thì có thể dùng hơi nước ở áp suất 7 - 28 kg/cm
2
để xử lý rơm trong
5 phút. Rangnekar và cộng sự (1982) đã xử lý rơm và bã mía bằng hơi nước ở áp suất 5
-9 kg/ cm
2
trong 30 - 60 phút. Kết quả tương tự như xử lý ở áp suất cao trong thời
gian ngắn. Phương pháp này chủ yếu lợi dụng các nguồn nhiệt thừa ở các nhà
máy.
 Xử lý bằng bức xạ:
Khi chất xơ được chiếu xạ, chiều dài của chuổi cellulose sẽ giảm và thành phần của
cacbohydrat không hoà tan sẽ trở nên dễ dàng tác động bởi VSV dạ cỏ.
Năm1951, Lawton và cộng sự đã sử dụng bức xạ làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của
thức ăn thô. Có một số phương pháp bức xạ khác nhau như bức xạ cực tím,
tia gamma có thể dùng để tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn thô. Tuy nhiên, các
phương pháp này phần lớn đòi hỏitrang thiết bị đắt tiền, cao cấp và không an toàn.
Do vậy, các phương pháp xử lý bằng bức xạ không đem lại hiệu quả kinh tế.
3.2. Phương pháp hoá học:
Xử lý hóa học để cải thiện giá trị dinh dưỡng của rơm được bắt đầu từ thế kỷ
XIX. Hiện nay, việc dùng các chất hoá học để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp làm
thức ăn giasúc đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Mục đích của xử
lý hóa học làphá vỡ các mối l i ên kết gi ữa l i gni n và hemi cel l ul ose để
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 30
Lớp: 08CSH2
l àm cho hemi cel l ul ose vàcellulose vốn bị bao bọc bỡi phức hợp lignin-
hemicellulose dễ dàng được phân giải bởi visinh vật dạ cỏ.
Trong phương pháp xử lý hóa học, dùng tác nhân oxy hoá, axit/kiềm.

Sơ đồ 3.2: Nguyên lý xử lý thức ăn giàu xơ ( Chesson, 1986)
 Các chất oxyhoá (như acid peroxyaxetic, clorit natri được acid
hoá, ôzôn..) có tác dụng phân giải lignin khá hiệu quả.
 Các acid mạnh như những axit được dùng trong công nghiệp giấy.
 Các chất kiềm (vôi, kali, xút, amoniac...) có khả năng thuỷ phân
các mối liênkết hoá học giữa lignin và các polysacarit của vách tế bào thực vật.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 31
Lớp: 08CSH2
Trong tất cả các phương pháp hoá học thì xử lý kiềm được nghiên cứu sâu nhất
và có nhiều triển vọng trong thực tiễn.
Các mối liên kết hoá học giữa lignin và cacbohydrat bền trong môi trường của
dạ cỏ nhưng lại kém bền trong môi trường kiềm (pH> 8), lợi dụng các đặt
tính này các nhà khoa học đã sử dụng các chất kiềm như: NaOH, NH
3
, ure,
Ca(OH)
2
để xử lý các phụ phẩm nông nghiệp nhiều xơ với mục đích phá vỡ
mối liên kết giữa lignin với hemicellulose/cellulose trước khi chúng được sử dụng
làm thức ăn cho gia súc nhai lại, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lên men của vi
sinh vật dạ cỏ. Kiềm hoá có thể phá vỡ liên kết este giữa lignin với
hemicellulose/cellulose đồng thời làm cho cấu trúc xơ phồng lên về mặt vật lý. Những
ảnh hưởng đó tạo điều kiện cho vi sinh vật dạ cỏ tấn công vào cấu trúc cacbohydrat
như cellulose, hemicellulose được dễ dàng, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá, tăng tính ngon
miệng của rơm đã xử lý.Sau đây là một số phương pháp kiềm hoá chính đã được
nghiên cứu và áp dụng ở các nước khác nhau trên thế giới.
 Xử lý bằng xút (NaOH):
Một số phương pháp xử lý rơm và các loại thức ăn thô khác nhau bằng
NaOH đãđược nghiên cứu và ứng dụng.
 Xử lý ướt:
Đun sôi với NaOH: Lehman (1895) xử lý rơm bằng NaOH ở áp suất và nhiệt
độcao (100 kg rơm trong 200 lit nước đun sôi với 4 kg NaOH, sau đó rữa và
phơi khô) đã thu được kết quả tốt tăng tỷ lệ tiêu hoá. J ackson (1977) xử lý các loại
thức ăn thô và rơm bằng NaOH. Tuy nhiên, phương pháp này làm mất nhiều
vật chất hữu cơ và thức ăn thuđược không ngon miệng. Một hạn chế nữa là
phương pháp này tốn nhiều năng lượng và lao động.
Phương pháp Beckmann: Beckmann (1921) đã cải tiến bằng cách ngâm
rơmtrong dung dịch NaOH pha loãng (8 lít NaOH 1,5 % cho 10 kg rơm) với
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 32
Lớp: 08CSH2
thời gian 2 – 3ngày, sau đó r ữa s ạch phần NaOH dư đến khi không
còn mùi ki ềm và cho gi a s úc ăn. Phương pháp này cho thấy sự mất mát vật
chất khô thấp hơn so với phương pháp đun sôi,làm tăng giá trị năng lượng của
rơm tương đương với cỏ cắt sớm (Sundstol, 1984). Tuynhiên, phương pháp này
cũng có một số nhược điểm: Nước rữa rơm sau khi chế biến gâyô nhiễm môi trường
và làm mất nhiều chất dinh dưỡng hoà tan trong quá trình chế biếnvà rửa
trước khi cho ăn.
Phương pháp nhúng (deep treament): Phương pháp này được tiến hành như
sau:Rơm được nhúng trong bể chứa NaOH 1,5% trong khoảng 1 - 2h, sau đó
vớt lên và đểcho nước chứa kiềm dư chảy trở lại bể ngâm. Tiếp theo, rơm
được ủ trong 3 - 6 ngàytrước khi cho ăn. Phương pháp này rất hiệu quả,
nhưng do rơm sau xử lý có hàm lượngNa cao nên không nên cho ăn như là nguồn
thức ăn thô duy nhất trong khẩu phần.
Phương pháp tuần hoàn: Rơm đóng bánh được phun dung dịch NaOH +
Ca(OH)
2
(15 – 25g NaOH và 10 – 15g Ca/kg VCK) và để trong phòng kín sau đó phun
chất trung hoà như acid photphoric (H
3
PO
4
) lên bánh rơm. Khi lượng nước thừa
rút hếtnhững bánh rơm này có thể ăn được. Phương pháp này đã được đưa ra
thực tế để xử lý rơm cho khả năng tiêu hoá cao, chứa ít NaOH dư, nhưng đòi
hỏi qui trình và điều kiện tiến hành phức tạp.
 Xử lý khô:
Người ta chế biến khô rơm bằng cách băm hoặc nghiền nhỏ rồi trộn với
NaOH theo tỷ l ệ 100 – 400 l í t dung dị ch NaOH 20 - 40% cho 1 tấn
r ơm. Rơm sau khi xử l ý không được rửa. Phương pháp này làm tăng tỷ lệ tiêu
hoá chất hữu cơ thấp hơn so với xửlý ướt nhưng tránh được sự ô nhiễm môi
trường do nước rửa rơm gây ra. Phương pháp này còn tránh được sự mất mát
những chất dinh dưỡng hoà tan trong quá trình chế biến và rửa.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 33
Lớp: 08CSH2
Nhìn chung, các phương pháp xử lý rơm bằng NaOH có hiệu quả làm
tăng tỷ lệ tiêu hoá. Tuy vậy, do những bất lợi như: chi phí cao, ô nhi ễm môi
trường do thải Natri dư và nguy hiểm cho người cũng như gia súc nên ở các nước
đang phát triển ít sử dụng.
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của NaOH và Ca(OH)
2
đến tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô
của bã mía (Martin,1979)

Một số phương pháp thay cho xử lý bằng NaOH là xử lý bằng Ca(OH)
2
,
đặc biệt là xử lý bằng NH3 (bảng 1). Ưu điểm của NH
3
là ở chỗ: một phần
của nó bám chặt vào rơm, thức ăn thô và có thể sử dụng như nguồn nitơ phi protein
(Orskov, 1984).
 Xử lý bằng amoniac:
Amoniac được chấp nhận hơn bất kì loại hoá chất nào khác trong xử lý
rơm rạ. Amoniac là một nguồn nitơ phi protein được VSV dạ cỏ sử dụng nên
việc xử lý bằngamoniac còn góp phần làm tăng hàm lượng protein thô. Hơn nữa, xử
lý bằng amoniac còncó tác dụng bảo quản chống mốc thối. Các phương pháp xử lý
amoniac như sau:
 Xử lý bằng khí ammoniac:
Rơm được chất đống và dùng vải ni l on đen che l ại . Thùng đựng
khí amoni ac được nối với ống kim loại dài có đục lỗ (đường kính 4 cm)
xuyên vào đống rơm. Thông thường, dùng 3kg amoniac/100kg rơm. Thời
gian xử lý có thể lên tới 8 tuần. Ngoài ra,người ta còn dùng phương pháp ủ
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 34
Lớp: 08CSH2
rơm với khí NH
3
ở trong phòng kín ở nhiệt độ 95
o
C. Khí NH
3
được tuần hoàn
trong rơm ủ. Phương pháp này có thể làm giảm thời gian xử lýxuống khoảng 24 giờ kể
cả 3-4 giờ thoát khí sau xử lý.
 Xử lý bằng amoniac lỏng:
Amoniac lỏng có thể sử dụng để xử lý rơm theo một số cách khác nhau.
Thông thường nó được bơm vào đóng rơm phủ kín qua một ống dẫn. Nước amoniac
cũng có thể cho chảy từ phía trên đống rơm xuống và amoniac sẽ bốc hơi từ từ và thấm
vào rơm.
Xử lý bằng amoniac khí hay lỏng đều tỏ ra có hiệu lực tốt: làm tăng tỷ lệ tiêu hoá,
tăng NPN và lượng thu nhận. Tuy nhiên nó đòi hỏi phải có các bình chứa
chịu áp lực vàcàc trang thiết bị hạ tầng tốt. Xử lý amoniac cũng gây ô nhiễm
môi trường do NH
3
thảivào không khí. Trong một số trường hợp có thể sinh độc tố
(4-metyl imidazol) nếu xử lý amoniac ở nhiệt độ cao và nguyên liệu có nhiều đường.
 Xử lý bằng urê:
Thực chất xử l ý bằng ur ê cũng l à xử l ý bằng NH
3
một cách gián
tiếp vì khi cónước và ureaza của vi sinh vật thì urê sẽ phân giải thành amoniac.

CO(NH
2
)
2
+ H
2
O urease 2NH
3
+CO
2


Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong thực tế sản xuất hiện nay thì lấy
NH
3
từ urê bằng quá trình ủ ướt rơm hay các thức ăn thô khác là phương pháp đơn
giản và thuận tiện hơn cả. NaOH và NH
3
làm cắt mạch liên kết giữa lignin
với các thành phần khác của màng tế bào như cellulose, hemicellulose và
protein. Một phần hemicellulose trở thành hòa tan trong nước và các cấu trúc
vốn không thể tác động tới trở thành dễ dàng chịu tác động của enzyme vi sinh vật.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 35
Lớp: 08CSH2
Urê có thể sử dụng để xử lý rơm chủ yếu theo hai cách sau:
 Trên quy mô công nghiệp, rơm trộn với urê kết hợp với việc
nghiền và đóng thành bánh.
 Trên quy mô nông hộ rơm được trộn với urê rồi ủ trong các hào, hố hay
các bao bì được nén chặt và giữ kín khí.
Khi xử lý rơm bằng urê cần đảm bảo các điều kiện sau:
 Liều lượng urê sử dụng bằng 4-5% so với VCK của rơm.
 Lượng nước sử dụng cần đảm bảo cho độ ẩm của rơm sau khi
trộn nằm trong khoảng 30-70%. Nếu quá ít nước thì sẽ khó trộn đều và nén
chặt. Nếu thêm quá nhiều nước sẽ làm mất urê do nước không ngấm hết vào rơm
mà trôi mất và dễ gây mốc. Trong thực tế có thể dùng 6-10 lít nước/10kg rơm khô.
 Các túi hay hố ủ phải được nén chặt và đảm bảo kín khí để
không cho amoniac sinh ra bị lọt ra ngoài làm mất hiệu lực xử lý và rơm sẽ bị mốc.
 Thời gian ủ tuỳ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Nếu nhiệt độ
không khí cao thì quá trình amoniac hoá sẽ nhanh, lạnh thì chậm lại. Nếu nhiệt độ
trên 30
0
C thì thời gian ủ ít nhất là 7-10 ngày, 15-30
0
C phải ủ 10-25 ngày, 5-15
0
C thì
phải ủ 25-30 ngày.
Phương pháp xử lý bằng urê an toàn hơn phương pháp xử lý bằng
amoniac lỏng hoặc khí. Hơn nữa, urê rẻ hơn NaOH và NH
3
và rất sẵn vì nó là
phân bón cho cây trồng. Mặt khác, urê là chất rắn nên dễ vận chuyển và sử dụng.
Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có những khó khăn như: NH
3
chỉ được giải
phóng khi có enzyme urease và enzyme này chỉ hoạt động trong điều kiện nhiệt
độ và độ ẩm nhất định. Nhiệt độ và độ ẩm cao là điều kiện thuận lơi cho enzyme
này hoạt động. Do đó, xử lý urê chỉ thích hợp cho các nước nhiệt đới. Bên
cạnh đó, mặc dù xử lý urê bổ sung NH
3
cho vi sinh vật dạ cỏ, nhưng đây vẫn
là cách bổ sung đắt tiền bởi vì lượng urê cần dùng để đảm bảo xử lý có hiệu
lực ít nhất cao gấp 2 lần so với nhu cầu của vi sinh vật dạ cỏ. Thêm vào đó,
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 36
Lớp: 08CSH2
ở các nước đang phát triển do trợ cấp nông nghiệp ngày càng giảm nên gía urê có xu
hướng tăng lên. Việc áp dụng phương pháp này có thể sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
không cao nếu giá urê cao. Do đó, việc dùng thêm một chất kiềm khác rẻ hơn
(như vôi chẳng hạn) kết hợp với một mức urê thấp có thể mang lại hiệu lực tốt
hơn và bền vững hơn về mặt kinh tế.
 Phương pháp xử lý rơm bằng urê:
Hòa tan lượng urê theo các tỷ lệ thích hợp, thường 4-5%. Ví dụ: xử lý bằng dung
dịch urê 4% thì hòa tan 4 kg urê trong 100 lít nước, trộn đều với rơm đã cắt ngắn 4-5
cmsau đó cho rơm đã xử lý urê vào túi nilon, hàn kín và ủ trong 21 ngày là
có thể cho gia súc ăn.
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của xử lý rơm bằng dung dịch urê 4% đến thành phần
dinh dưỡng của rơm.

 Xử lý bằng vôi:
Trong số các chát khác có thể dùng để kiềm hoá rơm thì vôi (Ca (OH)
2
) hay CaO
đang được quan tâm nhiều nhất. Có hai hình thức xử lý bằng vôi:
 Ngâm rơm trong nước vôi: tương tự như xử lý với NaOH.
 Ủ rơm với vôi: rơm đựơc trộn đều với 4-6% vôi (Ca(OH)2ha
hhoặc CaO),nước (40-80kg/100kg rơm) và ủ trong 2-3 tuần.
Việc dùng vôi xử lý rơm có các ưu điểm là vôi rẻ tiền và sẵn có, bổ sung thêm Ca
cho rơm, an toàn và không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, vì vôi là
kiềm yếu nên tác dụng xử lý không cao nếu ngâm nhanh. Hơn nữa , vôi khó
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 37
Lớp: 08CSH2
hoà tan và không bốc hơi nên khó trộn đều trong nguyên liệu xử lý và khi xử
lý vôi rơm dễ bị mốc, do vậy lượng thu nhận không ổn định.
 Xử lý kết hợp urê với vôi:
Theo Van Soest (1994) việc kết hợp dùng urê và vôi sẽ đem lại hiệu
quả tốt hơn dùng riêng vôi hoặc urê. Khi dùng CaO kết hợp với urê thì urê
có thể được phân giải nhanh hơn và tăng sự phản ứng giữa NH
3
với rơm. Việc kết
hợp này sẽ còn cho phép bổ sung cả NPN và Ca cùng một lúc, cũng như chống được
mốc, trong khi giảm được lượng N va Ca dư so với xử lý bằng urê hay bằng vôi riêng
lẽ.
Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, các đánh giá in-sacco, in-vivo và các
thí nghiệm nuôi bò sinh trưởng bằng rơm xử l ý bằng ur ê kết hợp với vôi
đã được t i ến hành ở Vi ệt Nam và cho kết quả r ất t ốt (Nguyễn Xuân
Trạch, 2000).
3.3. Phương pháp sinh học:
Cơ sở của phương pháp này là dùng nấm hay phế phẩm enzyme của
chúng cấy vào thức ăn để phân giải lignin hay các mối liên kết hoá học giữa
lignin và cacbohydrattrong vách tế bào thực vật. Lĩnh vực này có chiều hướng triển
vọng khi một số loài nấm như White Rot (nấm mục trắng) đã được phát hiện có khả
năng phá vỡ các phức hợp lignin-hydrat cacboncủa vách tế bào. Tuy nhiên, các
nấm háo khí này làm tiêu hao năng lượng trong thức ăn vì khó tìm được những
loại nấm chỉ phân giải lignin mà không phân giải cellulose/ hemicenlulose. Phương
pháp này có những hạn chế lớn khác như nuôi cấy vi khuẩn gặp khó khăn,
phương tiện thiết bị và qui trình phức tạp nên cho tới nay vẫn chưa được áp
dụng rộng rãi trong thực tiễn. Trong tương lai nếu như công nghệ di truyền
có thể nhân đượccác loại vi sinh vật dạ cỏ có khả năng phân giải lignin thì có thể có
nhiều ứng dụng trong tương lai vào mục đích này.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 38
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC
4.1. Vai trò của đại gia súc đối với việc phát triển nông thôn:
Gia súc nhai lại (GSNL) đã có mối quan hệ cộng sinh với con người kể từ thời
tiền sử. Mối quan hệ này đã làm thay đổi nhiều đặc tính vốn có của chúng. Những
giống GSNL chuyên dụng ngày nay có lẽ phải phụ thuộc sự sống còn vào con người,
trước hết là thức ăn, vì chúng đã mất đi những đặc tính ban đầu cần thiết để tồn tại
trong tự nhiên. Trái lại, nhiều cộng đồng con người cũng có lẽ không thể tồn tại nếu
không có GSNL mặc dù không phải mọi cộng đồng cư dân đều phải nuôi chúng. Đối
với các nước nhiệt đới thì chăn nuôi GSNL đã từng và chắc chắn sẽ tiếp tục là một
trong những hoạt động kinh tế và xã hội quan trọng nhất vì những lý do chính dưới
đây.
4.1.1. Cung cấp sức kéo:
Từ ngàn xưa chăn nuôi trâu bò đã gắn liền với trồng trọt trong các hệ thống canh
tác hỗn để cung cấp sức kéo cho việc làm đất. Trên thế giới, nhất là ở các nước đang
phát triển, trâu bò vẫn đang được sử dụng nhiều để phục vụ cho việc cung cấp sức kéo.
Năm 1990 có 52% số bò và 34% số trâu ở các nước đang phát triển được dùng vào
mục đích lao tác. Đặc biệt, khi các nguồn nguyên liệu hoá thạch đã được khai thác gần
như cạn dần và giá dầu ngày càng tăng cao như hiện nay thì sức kéo của trâu bò lại trở
nên có nhiều ưu thế hơn. Ở nước ta hiện nay mặc dù có cơ khí hoá nông nghiệp, nhưng
công việc làm đất vẫn thu hút gần 70% trâu và 40% bò trong toàn quốc, đáp ứng trên
70% sức kéo trong nông nghiệp. Ngoài việc làm đất, trâu bò còn được sử dụng để kéo
xe, vận chuyển hàng hoá. Lợi thế của sức kéo trâu bò là có thể hoạt động ở bất kì địa
bàn nào và sử dụng tối đa nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ và các phụ phẩm nông nghiệp
để cung cấp năng lượng mà không cần đến nhiên liệu hoá thạch.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 39
Lớp: 08CSH2
4.1.2. Cung cấp thực phẩm:
GSNL cung cấp hai loại thực phẩm có giá trị cao đối với con người là thịt và sữa.
Thịt trâu, bò, dê và cừu được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao. Sữa được
xếp vào thực phẩm cao cấp vì nó hoàn chỉnh về dinh dưỡng và rất dễ tiêu hoá. Từ năm
2000 đến 2006, sản lượng thịt trâu bò tăng hàng năm 1,2% ( 64 triệu tấn năm 2006 so
với 60 triệu tấn năm 2000), trong khi đó, ở các nước phát triển tăng 3,3% năm, trong
khi đó ở các nước phát triển tăng 3,3%/năm. Tương tự đó, sản lượng sữa trâu, bò tăng
2,2%/năm (630 triệu tấn năm 2006 so với 557 triệu tấn năm 2000) trên thế giới và các
nước đang phát triển tăng 5,6% (FAOSTAT, 2007). Gia súc nhai lại có khả năng biến
thức ăn như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt và sữa. Mức
sống càng tăng thì nhu cầu của con người về thịt và sữa càng tăng. Do đó, vai trò cung
cấp thực phẩm của GSNL ở các nước càng phát triển thì càng trở nên quan trọng.
4.1.3. Cung cấp phân bón và chất đốt:
Phân của GSNL là loại phân hữu cơ có giá trị và khối lượng đáng kể. hàng ngày
mỗi trâu trưởng thành thải ra từ 15-20 kg phân, bò trưởng thành 10-14 kg. Phân trâu bò
được dùng làm phân bón cho cây trồng rất phổ biến. Phân trâu chứa 78% nước, 5,4%
khoáng, 1,06% acid photphoric, 0,1% Kali, 0,2% Canxi. Mặc dù chất lượng phân
không cao như phân lợn, nhưng nhờ khối lượng lớn phân trâu bò đã đáp ứng tới 50%
như cầu phân hữu cơ cho nông nghiệp nước ta. Trên thế giới, phân trâu bò còn được
dùng làm chất đốt. Tại một số nước như Ấn Độ, Pakistan, phân được trộn với rơm
bằm, nắm thành bánh và phơi nắng khô, dự trữ và sử dụng làm chất đốt quanh năm.



WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 40
Lớp: 08CSH2

4.1.4. Cung cấp nguyên liệu chế biến:
Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho con người, sức kéo và phân bón cho nông
nghiệp, các loài GSNL còn sản xuất ra một số sản phẩm khác mà con người có thể sử
dụng để chế biến ra nhiều sản phẩm khác nhau. Da của GSNL là nguồn nguyên liệu
chủ yếu cho các nhà máy thuộc da. Da trâu bò có thể dùng làm áo da, găng tay, bao
sung, dây lưng, giày, dép, cặp… Ở nhiều cùng nông thông người ta còn dùng da trâu
bò làm thực phẩm. Lông cừu và long dê là nguyên liệu để sản xuất len. Nhờ độ dày,
sức bền và khả năng uốn mềm của nó mà long trâu còn thích hợp cho việc sản xuất bàn
chải mỹ nghệ và lau chùi một số loại máy móc quang học. Sừng và xương trâu nếu
được gia công chế biến cẩn thận có thể trở thành nhiều mặt hàng mỹ nghệ khác nhau.
4.2. Tìm hiểu về khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ của GSNL:
Để khai thác tốt nhất GSNL phục vụ con người đòi hỏi phải hiểu được những ưu
thế dinh dưỡng của loại gia súc này để khai thác có hiệu quả nhiều nguồn tài nguyên
thiên nhiên có sẵn nhưng ít bị cạnh tranh làm thức ăn cho chúng. Đồng thời cũng phải
biết được những hạn chế sinh thái của chúng để tránh phát triển chăn nuôi gia súc nhai
lại một cách “ duy ý chí”, gây ra nhiều tổn thất nặng nề về kinh tế-xã hội và sinh thái.
4.2.1. Khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ:
Người xưa có câu”lợn thì ăn cám ăn bèo, trâu bò ăn cỏ, người nghèo ăn khoai”.
Như vậy, người xưa đã nhận ra được tầm quan trọng của cỏ đối với trâu bò nói riêng và
gia súc ăn cỏ nói chung (Hình 5.1). Câu nói trên cũng chỉ ra được vị trí của GSNL
trong hệ sinh thái dinh dưỡng, tức là chúng cần ăn và sử dụng được thức ăn thô giàu
xơ. Thức ăn thô xanh là yếu tố quan trọng bậc nhất trong nuôi dưỡng GSNL nói chung
và con bò nói riêng. Đó là kinh nghiệm mà người nông dân qua hàng nghìn đời đã tích
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 41
Lớp: 08CSH2
luỹ được và thực tế họ đã nuôi dưỡng GSNL bằng các nguồn thức ăn giàu xơ rất có
hiệu quả.

Hình 4.1: Những loài gia súc ăn cỏ chính
GSNL có khả năng sử dụng nhiều thức ăn thô nhiều xơ là nhờ có cấu tạo đặc biệt
của đường tiêu hoá để tạo cơ hội cho quá trình lên men VSV diễn ra trước và sau quá
trình tiêu hoá lên men của đường ruột. Đó là kết quả của quá trình tiến hoá với sự hình
thành hệ VSV cộng sinh trong dạ cỏ (và cả ruột già) có khả năng phân giải liên kết β-
1,4-glucozit trong các đại phân tử cellulose và hemicelluloses của vách tế bào thực vật.
Đồng thời cũng nhờ VSV cộng sinh này mà GSNL ít phụ thuộc vào nguồn vitamin B
và các acid amin từ thức ăn. Khả năng này không có được ở người và động vật dạ dày
đơn. Trước hết nhờ khả năng tiêu hoá xơ mà GSNL có khả năng sử dụng được các loại
thức ăn mà con người và các loài gai súc dạ dày đơn không tiêu hoá được. Điều này có

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 42
Lớp: 08CSH2
ý nghĩa rất lớn , cho phép chăn nuôi bò cũng như các loài gia súc nhai lại khác nhau
dựa trên nguồn thức ăn ít cạnh tranh.
Một khẩu phần hoàn toàn bằng thức ăn thô xanh có thể đảm bảo “đủ” cho sự phát
triển bình thường của GSNL. Ngoài việc cung cấp năng lượng, protein, khoáng thì thức
ăn thô xanh còn cung cấp thêm vitamin và các hoạt chất sinh học khác. Thức ăn thô
còn là yếu tố “cần” không chỉ đơn thuần là nguồn dinh dưỡng mà còn có ảnh hưởng cơ
giới trực tiếp đến vách đường tiêu hoá, cần thiết để duy trì hoạt động tiêu hoá được
bình thường. Do vậy, một khẩu phần ăn giàu thức ăn thô xanh là khẩu phần “an toàn”
cho bò, tránh được nhiều rối loạn về tiêu hoá và trao đổi chất thường gặp trong chăn
nuôi.
Mặc dù VSV cộng sinh trong dạ cỏ cho phép GSNL sử dụng được thức ăn xơ,
nhưng quá trình tiêu hoá này cũng có những tiêu cực của nó. Quá trình tiêu hoá thức ăn
xơ đòi hỏi gia súc phải nhai, nhai lại và nhu động dạ cỏ nhiều lần làm tiêu tốn năng
lượng đã được hấp thụ (năng lượng gia nhiệt của thức ăn cao hơn). Hơn nữa, quá trình
lên men dạ cỏ sinh ra nhiệt và khí metan. Ngoài việc tiêu tốn năng lượng để mang dạ
cỏ, tiêu hoá cơ học và nhiệt lên men, chỉ việc thải khí metan này đã làm lãng phí năng
lượng của thức ăn lên tới 6-12%. Bởi thế GSNL không thể chuyển hoá hết thức ăn
thành năng lượng của cơ thế có hiệu quả như động vật dạ dày đơn. Như vậy, quá trình
lên men thức ăn ở dạ dày trước đối với các loại thức ăn không cần lên men như tinh bột
trong các loại ngũ cốc đã làm tiêu tốn năng lượng không cần thiết.




WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 43
Lớp: 08CSH2


4.2.2. Hệ vi sinh vật có trong dạ cỏ:


Hình 4.2: Cấu tạo đường tiêu hoá của GSNL
Hệ VSV cộng sinh trong dạ cỏ và dạ tổ ong rát phức tạp và thường gọi chung và
VSV dạ cỏ. Hệ VSV dạ cỏ gồm có ba nhóm chính là vi khuẩn (Bacteria), động vật
nguyên sinh (Protozoa) và năm (Fungi); ngoài ra còn có mycoplasma, các loại virus và
các thể thực khuẩn. Mycoplasma, virus và thể thực khuẩn không đóng vai trò quan
trọng trong tiêu hoá thức ăn. Quần thể VSV dạ cỏ có sự biến đổi theo thời gian và phụ
thuộc vào tính chất của khẩu phần ăn. Hệ VSV dạ cỏ đều là VSV yếm khí và sống chủ
yếu bằng năng lượng sinh ra từ quá trình lên men các chất dinh dưỡng.

Thực quản
Dạ cỏ
Dạ múi khế
Dạ tổ ong
Ruột non
Ruột già
Manh tràng
Hậu môn
Dạ lá lách
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 44
Lớp: 08CSH2


 Vi khuẩn (Bacteria):

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 45
Lớp: 08CSH2



WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 46
Lớp: 08CSH2


 Động vật nguyên sinh (Protozoa):
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 47
Lớp: 08CSH2

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 48
Lớp: 08CSH2

 Nấm (Fungi):

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 49
Lớp: 08CSH2
4.3. Các qui trình chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn GSNL:
4.3.1. Quy trình chế biến rơm lúa bằng phương pháp xử lý ure – vôi:
4.3.1.1. Giới thiệu vấn đề:
Rơm lúa vốn nghèo dinh dưỡng (2-3% protein) thành phần chủ yếu là xơ (31-
33%) tỉ lệ tiêu hóa thấp. Tuy nhiên rơm lúa chứa một lượng năng lượng tiềm tàng.
Khối lượng rơm lúa hàng năm ở nước ta vào khoảng 25 triệu tấn (xấp xỉ 1 lúa : 0,8
rơm).
Để nâng cao hiệu quả sử dụng rơm người ta sử dụng phương pháp xử lý nhiệt độ,
áp suất cao hay dùng hóa chất như xút, ammoniac... Nhưng phương pháp này đòi hỏi
thiết bị nên khó áp dụng vào sản xuất. Ở nước ngoài người ta thường sử dụng phương
pháp chế biến rơm bằng ure theo tỉ lệ 5kg ure hòa trong 100 lít nước để chế biến 100kg
rơm khô. Do giá ure ở nước ta đắt, (vì phải nhập khẩu) nên Viện Chăn Nuôi đã nghiên
cứu cải tiến phương pháp và chỉ dùng 2,5kg ure cho 100kg rơm và sử dụng thêm 0,5kg
vôi tôi. Kết quả thí nghiệm trên gia súc khá tốt. Phương pháp này đơn giản dễ áp dụng
và đã làm tăng tỉ lệ tiêu hóa thêm 10-15%, tăng gần gấp đôi hàm lượng nitơ trong rơm,
gia súc thích ăn và đã ăn được lượng chất khô tăng thêm 50% so với rơm không chế
biến, cho tăng trọng hàng ngày cao hơn 30%, tiêu tốn thức ăn lại giảm 6% so với rơm
chưa chế biến.
4.3.1.2. Phương pháp chế biến:
 Tỷ lệ nguyên liệu:
Rơm khô (ẩm độ 12-14%) 100kg
Ure 2,5kg
Vôi (Ca(OH)
2
) 0,5kg
Muối ăn 0,5kg
Nước lã sạch 70-80 lít

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 50
Lớp: 08CSH2
 Phương tiện cần cho quá trình ủ:
Về mặt nguyên lý quá trình ủ rơm khác hoàn toàn quá trình ủ chua thức ăn xanh.
ủ rơm không nhất thiết đòi hỏi yếm khí như ủ chua. Để giảm chi phí, dễ ứng dụng mà
vẫn đạt yêu cầu chế biến thì nên lợi dụng những điều kiện có sãn của gia đình. Như lợi
dụng các góc tường, bể xây, ô chuồng trống không nuôi gia súc, hoặc ủ ngay trong bao
phân đạm, bao tải xác rắn, hay túi nylon loại lớn...
Vật liệu đệm lót, che phủ: ta có thể dùng các mảnh nylon, vải mưa rách, lá
chuối... ghép kín lại để đảm bảo thức ăn không nhiễm đất, cát bẩn và hạn chế thất thoát
ure.
 Các bước tiến hành:
Hòa tan ure, vôi, muối vào nước theo công thức đã ghi ở mục trên.
Khối lượng rơm ủ mỗi lần tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của gia súc và dụng cụ
chứa đựng.
Lần lượt rải rơm theo từng lớp (20cm) vào hố ủ, khuấy đều dung dịch ure - vôi -
muối và dùng ôzoa tưới đều vào rơm; lần lượt tiến hành như vậy cho tới khi hết lượng
rơm cần ủ.
Dùng vật liệu đệm lót phủ kín lại, có thể dùng gạch, ngói, củi khô chặn lên để
đống rơm ủ luôn kín trong suốt thời gian ủ.
 Lưu ý: Nơi ủ phải chọn nơi khô ráo, tránh nước mưa và nước từ nơi khác thấm
vào.
4.3.1.3. Cách sử dụng:
Rơm ủ kín trong thời gian 10-20 ngày bắt đầu lấy ra cho gia súc ăn.
Rơm ủ đạt chất lượng chế biến tốt sẽ có màu vàng đậm, mùi ure, không có mùi
nấm mốc, rơm ẩm và mềm .
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 51
Lớp: 08CSH2
Khi lấy rơm ủ cho gia súc ăn chỉ nên lấy ra ở một góc (không lật toàn bộ lớp đệm
lót che phủ) lấy rơm xong lại lấp lớp đệm lót che phủ lên cho kín.
Cho gia súc ăn tự do tùy khả năng của chúng. (Một vài trâu bò biếng ăn, nên phơi
rơm đã chế biến trong bóng mát 30-45 phút để bay bớt mùi ure, trước khi ăn hoặc rắc
lên một chút cỏ xanh để chúng rễ quen với mùi ure trong rơm ủ).
4.3.2. Quy trình chế biến và sử dụng tảng ure-rỉ mật:
4.3.2.1. Vai trò của tàng ure-rỉ mật:
Tảng ure-rỉ mật với thành phần quan trọng là ure và rỉ mật là loại thức ăn bổ sung
có giá trị cao cho đàn gia súc có sừng như trâu, bò, dê, cừu,... bao gồm nguồn đạm phi
protein và nguồn năng lượng dễ tiêu hóa. Khi được bổ sung tảng ure-rỉ mật đã làm tăng
khả năng ăn được của gia súc đối với những thức ăn khó tiêu như rơm, cỏ khô, cây ngô
già,... Từ đó làm cho chúng lớn nhanh, nhiều sữa, cày kéo khỏe hơn.
4.3.2.2. Phương pháp sản xuất:
 Chuẩn bị nguyên liệu:
Nguyên liệu để sản xuất bao gồm rỉ mật (hoặc mật), đạm ure, muối ăn, vôi bột, xi
măng, cám gạo hoặc bột sắn khô, dây lang khô hay vỏ lạc khô,... (ở những vùng không
có rỉ mật có thể dùng bột sắn nấu chín thay cho rỉ mật). Các chất độn nhiều xơ như dây
lang khô, dây lạc khô phải được băm ngắn từ 1-2cm, vỏ lạc được nghiền nhỏ. Chú ý
chỉ được dùng đạm ure (không dùng các loại phân đạm khác vì dễ làm cho gia súc ngộ
độc).





WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 52
Lớp: 08CSH2

 Công thức của tảng ure-rỉ mật: Tảng ure-rỉ mật có thể được chế biến theo một
trong các công thức theo bảng sau:
Nguyên liệu Tỷ lệ %
Công thức I Công thức II
Rỉ mật 40-45 40-45
Ure 10 10
Vôi bột 3 -
Xi măng 5 8
Muối ăn 5 5
Cám gạo hoặc bột sắn 10 10
Chất độn nhiều xơ (vỏ
lạc, dây lang, dây lạc
khô,...)
27-30 27-30
 Tiến hành sản xuất:
 Trộn nguyên liệu: Hỗn hợp các nguyên liệu theo các công thức trên theo
3 bước sau:
+Bước một: Trộn ure muối ăn vào rỉ mật tạo ra hỗn hợp I (cần trộn thật đều).
+Bước hai: Các nguyên liệu còn lại như cám gạo (bột sắn), vôi bột, xi măng và các
chất độn nhiều xơ được trộn với nhau thành hỗn hợp II.
+Bước ba: Trộn đều hỗn hợp I và II ta được hỗn hợp hoàn chỉnh.
Sau khi trộn xong phủ ủ thành đống trong thời gian 30-45 phút, sau đó mới đóng
thành những bánh nhỏ.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 53
Lớp: 08CSH2
 Đóng bánh: Hỗn hợp trên được đóng thành các bánh bằng khuôn đóng
gạch thủ công hay khuôn gạch xỉ. Sau đó để cho tảng tự khô trong 5-7 ngày, lúc đó
mới dùng ho trâu bò ăn.
2.3.2.3. Cách sử dụng:
Tảng ure-rỉ mật chỉ được dùng cho gia súc có sừng cho trâu, bò, dê, cừu. (Không
dùng cho lợn và gia cầm vì ure gây độc cho chúng). Đặt tảng thức ăn nơi cao ráo, sạch
sẽ trong chuồng (tránh mưa nắng, không để phân và nước tiểu lẫn vào). Tốt nhất là đặt
vào máng gỗ buộc chắc trên tường dễ cho gia súc tự liếm hàng ngày.
Lượng đạm phi-protein chứa trong 1kg tảng ure-rỉ mật kể trên tương đương với
lượng protein (chất đạm) của 1kg khô đầu lạc ép cả vỏ (28,8%), nhưng giá thành rẻ
hơn một nửa.
Khi ăn thêm tảng ure-rỉ mật bò sữa tăng thêm 10-15% sản lượng sữa, bò thịt tăng
trọng hàng tháng: 12-15kg.
4.3.3. Quy trình chế biến thân lá cây lạc bằng phương pháp ủ chua làm thức
ăn cho lợn và trâu bò:
4.3.3.1. Giới thiệu vấn đề:
Lạc là cây họ đậu khi thu hoạch củ thân lá vẫn còn xanh và giàu các chất dinh
dưỡng. Năng suất chất xanh có thể tận dụng để chế biến làm thức ăn cho lợn đạt 5-6
tấn/ ha và cho trâu bò đạt 8-10 tấn/ ha. Như vậy ước tính hàng năm sản lượng thân lá
lạc có thể dùng để chế biến làm thức ăn cho gia súc ở nước ta là gần 1,5 triệu tấn. Thân
lá lạc lúc thu hoạch củ khá giàu chất dinh dưỡng; hàm lượng protein đạt 15-16% (xấp
xỉ hàm lượng protein của bột cỏ Alfalfa). Những thân lá lạc còn chưa được sử dụng
hợp lý, thường chỉ dùng làm phân xanh hoặc chất đốt. Những năm gần đây Viện chăn
nuôi đã nghiên cứu thành công phương pháp ủ chua thân lá lạc dự trữ làm thức ăn cho
lợn và trâu bò.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 54
Lớp: 08CSH2
Chất lượng thức ăn ủ tốt, đồng thời có thể dự trữ được 9-10 tháng góp phần tăng
nguồn thức ăn cho gia súc trong mùa đông và mùa khô.
4.3.3.2. Phương pháp ủ:
 Chuẩn bị thân lá lạc để ủ:
Thân lá lạc sau khi thu hoạch củ được cắt bỏ phần gốc già (10-15cm) dùng dao băm
nhỏ, kích thước từ 3-4cm (nếu ủ làm thức ăn cho trâu bò có thể băm từ 5-6cm). Băm
xong không nên tấp thành đống mà nên tải ra trong bóng mát; nên tập trung nhân lực
dể thực hiện việc chế biến hoàn chỉnh trong 1-2 ngày sau thu hoạch củ. Ngoài việc
chuẩn bị thân lá cây lạc ra còn chuẩn bị thêm muối ăn và cám gạo hoặc bột sắn, bột
khoai lang... (cứ 100kg thân lá lạc cần thêm 6-7kg cám gạo hoặc bột sắn, bột khoai và
0,5kg muối ăn).
 Chuẩn bị hố ủ:
Có nhiều cách tạo một hố ủ, việc ứng dụng loại hố ủ nào tùy thuộc vào điều kiện
cụ thể từng gia đình. Tốt nhất là hố ủ nửa nổi nửa chìm ở nơi cao ráo không có nước
thấm vào. Hố ủ cần đạt các điều kiện sau:
 Kích cỡ hố ủ tính toán sao cho vừa đủ lượng thân lá lạc cần ủ (trung bình
dung tích hố ủ là một mét khối sẽ ủ được 400-500kg thân lá lạc).
 Độ chắc thành hố ủ: thân lá lạc ủ chua trong điều kiện lên men yếu khí vì
vậy thành hố ủ càng kín chất lượng càng tốt. Tuyệt đối không được để nước bê ngoài
ngấm vào hố ủ trong suốt thời gian chế biến và sử dụng.
 Vật liệu dùng đệm lót: tốt nhất dùng tấm nylon hoặc tận dụng vải mua
cũ, bao đựng phân đạm, lá chuối... mục đích chủ yếu tăng độ kín cho nguyên liệu ủ
đồng thời tránh thức ăn bị nhiễm bẩn.



WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 55
Lớp: 08CSH2
 Một số loại hố ủ:
Hố ủ xây bằng gạch, xi măng, cát: rất tố xong giá thành khá cao, loại hình này có
thể áp dụng cho các hộ nông dân có điều kiện.

Hố ủ đào đắp bằng đất nửa nổi nửa chìm: là loại hố ủ có thể áp dụng rộng rãi
trong các hộ nông dân. Tạo hố ủ kiểu này nên lưu ý đến các vật liệu dùng làm đệm lót
(tốt nhất nên dùng nylon, vải mưa cũ, bao đựng phân đạm, lá chuối...) nếu không dễ bị
nước ngấm vào nguyên liệu gây thối, mốc. Hố ủ nên làm ở nơi khô ráo sạch sẽ, không
có nước thấm vào.
4.3.3.3. Tiến hành ủ:
Hỗn hợp các nguyên liệu theo tỷ lệ: 100kg thân lá lạc đã băm cho thêm 6-7kg bột
sắn khô, hoặc cám gạo và 0,5kg muối ăn, trộn đều ở ngoài hố ủ rồi bốc vào hố ủ theo
từng lớp (mỗi lớp có độ dày 15-20cm dùng chân nén nguyên liệu cho chặt (càng chặt
càng tốt). Cũng có thể cân lá lạc rồi trải vào hố ủ thành từng lớp có độ dày cũng từ 15-
20cm rồi rắc đều cám và muối theo tỷ lệ nêu trên, sau đó cũng nén lá lạc thật chặt. Cứ
ủ lần lượt theo từng lớp như vậy cho tới khi hết thân lá lạc thì tiến hành lấp hố ủ.
4.3.3.4. Che phủ và lấp hố ủ:
Sau khi nén hết thân lá lạc, ta dùng nylon, vải mưa cũ, bao tải dứa, lá chuối, phủ
kín lên rồi dùng xẻng xúc đất tơi lấp lên (lớp đất dày cần thiết là 30-40cm), đầm nén
chặt lớp đất và tạo thành hình mui rùa, sau khi ủ xong 3-5 ngày để cho đống ủ ngót
xuống, ta lại đầm nén lớp đã phủ và cho thêm một chút đất lên mặt và nén chặt lại,
dùng tranh, lá mía, lá cọ, hoặc rơm, rạ phủ lên đóng ủ một lớp dày để tránh nước mưa
thấm xuống. Sau 50-60 ngày mới bắt đầu lấy dần cho gia súc ăn, thân lá lạc ủ đúng kỹ
thuật hướng dẫn sẽ có chất lượng tốt, độ pH = 4,2-4,5; thơm mùi dưa muối, có màu
vàng nhạt, gia súc rất thích ăn.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 56
Lớp: 08CSH2
Khi lấy thân lá lạc ra để cho gia súc ăn nên lấy gọn gàng, theo trình tự, tránh lãng
phí, nên lật lớp đất lên trên vừa đủ rộng, không được cùng một lúc bóc hết toàn bộ lớp
đất phủ phía trên hố ủ. Hàng ngày lấy thức ăn ủ cho giá súc ăn, sau đó cần dùng vải
mưa hoặc bao tải che kín lại và tiếp tục không cho nước mưa thấm vào thức ăn ủ chua.
Loại thức ăn này có thể dùng cho gia sú ăn dần trong 4-5 tháng mà chất lượng vẫn tốt,
cho ăn sống, không nấu chín. Cho gia súc ăn tự do (theo khả năng mà chúng có thể ăn
được). Có thể trộn lẫn cám và thức ăn khác vào lá lạc ủ chua, nhưng nên cho ăn khô,
gia súc sẽ ăn được nhiều hơn. Thân lá lạc ủ chua giàu protein và vitamin, nên gia súc
ăn vào sẽ lớn nhanh, khỏe mạnh.











WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 57
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG Ủ COMPOST TỪ NGUỒN PHỤ PHẨM GIÀU XƠ
5.1. Định nghĩa compost:
Theo Haug, 1993 thì quá trình chế biến compost và compost được định nghĩa như
sau:
“Quá trình chế biến compost là quá trình phân hủy sinh học và ổn định của chất
hữu cơ dưới điều kiện nhiệt độ thermorpholic. Kết quả của quá trình phân
hủy sinh học tạo ra nhiệt, sản phẩm cuối cùng ổ định, không mang mầm bệnh và có ích
trong việc ứng dụng cho cây trồng”.
“Compost l à sản phẩm của quá trì nh chế bi ến compost, đã được
ổ đị nh như humus, không chứa các mầm bệnh, không lôi kéo các côn trùng, có thể
được lưu trữan toàn và có lợi cho sự phát triển của cây trồng”.
Cũng có thể hiểu phân hữu cơ sinh học là sản phẩm phân bón được tạo thành
thông qua quá trình lên men VSV các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế
thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải
sinh hoạt…), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác động của VSV hoặc các
hoạt chất sinh học được chuyển hoá thành mùn.
5.2. Các phản ứng sinh hoá xảy ra trong quá trình ủ:
5.2.1. Các phản ứng sinh hoá:
Quá trình phân huỷ các chất có trong compost xảy ra khá phức tạp, theo nhiều
giai đoạn và các sản phẩm trung gian.
Ví dụ: Quá trình phân huỷ protein bao gồm các bước:
Protein protides amino acids hợp chất ammonium nguyên
dinh chất của vi khuẩn và N hoặc NH
3
.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 58
Lớp: 08CSH2
Đối với carbonhydrates, quá trình phân huỷ xảy ra theo các bước sau:
Carbonhydrate đường đơn acids hữu cơ CO
2
và nguyên sinh chất
của vi khuẩn.
Chính xác là những chuyển hoá hoá sinh xảy ra trong quá trinh compost vẫn chưa
được nghiên cứu chi tiết. Các giai đoạn khác nhau trong quá trình compost có thể phân
biệt theo sự biến thiên nhiệt độ sau:
 Pha thích nghi (Latent phase): là giai đoạn cần thiết để cho VSV thích
nghi với môi trường mới.
 Pha tăng trưởng (Growth phase): thể hiện sự gia tăng nhiệt độ trong quá
trình phân huỷ sinh học và làm cho nhiệt độ trong đống ủ tăng đến ngưỡng nhiệt độ
mesophilic.
 Pha ưa nhiệt (Thermophilic phase): là giai đoạn nhiệt độ tăng cao nhất.
Trong phase này chất thải được ổn định và tiêu diệt VSV gây bệnh hiệu quả nhất. Phản
ứng hoá sinh này được đặc trung bằng các phương trình (3.1) và (3.2) trong trường hợp
làm phân compost hiếu khí và kị khí:
CONHS +O
2
+VSV hiếu khí CO
2
+NH
3
+sản phẩm khác + năng lượng (3.1)
CONHS +O
2
+VSV kị khí CO
2
+NH
3
+sản phẩm khác + năng lượng (3.2)
 Pha trưởng thành (Maturation phase): giai đoạn nhiệt độ đến mức
mesophilic và cuối cùng bằng nhiệt độ môi trường. Quá trình lên men lần
thứ hai xảy ra chậm và thích hợp cho sự hình thành chất keo mùn (là quá
trình chuyển hóa các phức chất hữu cơ thành mùn) và các chất khoáng (sắt,
canxi, nitơ …) và cuối cùng thành mùn. Các phản ứng nitrate hóa, trong đó amoni
(sản phẩm phụ của quá trình ổn định hóa chất thải như trình bày ở hai phương trên) bị
oxy hóa sinh học tạo thành nitrit (NO
2
-
) và cuối cùng thành nitrate (NO
3
-
) cũng xảy ra
như sau:
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 59
Lớp: 08CSH2
NH
4
+
+

NO
2
-
+2H
+
+H
2
O
NO
2
-
+

NO
3
-


Kết hợp hai phương trình trên, quá trình nitrate hoá diễn ra như sau:
NH
4
+
+2O
2
NO
3
-
+2H
+
+H
2
O (3.3)
Vì NH
4
+
cũng được tổng hợp trong mô tế bào, phản ứng đặc trưng cho quá trình
tổng hợp trong mô tế bào là:
NH
4
+
+4CO
2
+HCO
3
-
+H
2
O C
5
H
7
O
2
N +5O
2
(3.4)
Kết hợp ( 3.3) và (3.4) ta có phương trình phản ứng nitrate hoá tổng cộng:
22NH
4
+
+37O
2
+ 4CO
2
+HCO
3
-
21NO
3
-
+C
5
H
7
O
2
N +20H
2
O +42H
+

5.2.2. Các phản ứng sinh học:
Ủ compost là một quá trình sinh học mà các chất hữu cơ có trong phụ phế phẩm
giàu xơ bị biến đổi thành hcaats mùn ổn định cho hoạt động của các tổ chức cơ thể
sống trong điều kiện tự nhiên hiện. Các tổ chức này bao gồm các loại VSV như: vi
khuẩn, nấm, động vật nguyên sinh (protozoa).
Các loại vi khuẩn thermophilic, hầu hết là các loài Bacillus đóng vai trò quan
trọng trong việc phân huỷ protein và hợp chất carbonhydrate. Mặc dù chỉ hoạt động
bên lớp ngoài của đống ủ và chỉ hoạt động vào giai đoạn cuối nhưng nhóm
Actinomycetes đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ cellulose , lignin và các
chất bền vững khác. Sau giai đoạn tiêu thụ bậc 1 hay sơ cấp thực hiện xong, các chất
này sẽ là thức ăn cho VSV tiêu thụ thứ cấp như ve, bọ cánh cứng, giun tròn, động vật
nguyên sinh và phiêu sinh.




Nitrosomonas bacteria
Nitrosomonas bacteria
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 60
Lớp: 08CSH2
5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ compost:
5.3.1. Các yếu tố vật lý:
 Nhiệt độ:
Nhiệt trong khối ủ là sản phẩm phụ của sự phân hủy các hợp chất hữu cơ bởi
VSV, phụ thuộc vào kích thước của đống ủ, độ ẩm, không khí và tỷ lệ C/N, mức độ xáo trộn và
nhiệt độ môi trường xung quanh.
.Nhiệt độ trong hệ thống ủ không hoàn toàn đồng nhất trong suốt quá
trình ủ, phụ thuộc vào lượng nhiệt tạo ra bởi các VSV và thiết kế của hệ thống.
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính của VSV trong quá trình
chế biến phân hữu cơ và cũng là một trong các thông số giám sát và điều
khiển quá trình ủ compost. Trong luống ủ, nhiệt độ cần duy trì là 55 – 65
0
C, vì ở nhiệt
độ này, quá trình chế biến phân vẫn hiệu quả và mầm bệnh bị tiêu diệt. Nhiệt
độ tăng trên ngưỡng này, sẽ ức chế hoạt động của VSV. Ở nhiệt độ thấp hơn, phân
hữu cơ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh.
Nhiệt độ trong luống ủ có thể điều chỉnh bằng nhiều cách khác nhau
như hiệu chỉnh tốc độ thổi khí và độ ẩm, cô lập khối ủ với môi trường bên
ngoài bằng cách che phủ hợp lý.
Bảng 5.1: Giới hạn chịu nhiệt tốt nhất của VSV
Vi sinh vật Nhiệt độ giới hạn(
0
C) Nhiệt độ tốt nhất (
0
C)
Psychrophilic 0 – 30 15
Mesopilic 20 – 40 32
Thermophilic 40 – 70 55
(Nguồn: van Lierop et al)



WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 61
Lớp: 08CSH2
 Độ ẩm:
Độ ẩm (nước) là một yếu tố cần thiết cho hoạt động của VSV trong quá
trình chế biến phân hữu cơ. Vì nước cần thiết cho quá trình hoà tan dinh dưỡng vào
nguyên sinh chất của tế bào.
Độ ẩm tối ưu cho quá trình ủ compost nằm trong khoảng 50-60%. Các vi sinhvật
đóng vai trò quyết định trong quá trình phân hủy CTR thường tập trung tại
lớp nước mỏng trên bề mặt của phân tử CTR. Nếu độ ẩm quá nhỏ (< 30%) sẽ
hạn chế hoạt động của vi sinh vật, còn khi độ ẩm quá lớn (> 65%) thì quá
trình phân hủy sẽ chậm lại, sẽ chuyển sang chế độ phân hủy kỵ khí vì quá
trình thổi khí bị cản trở do hiện tượng bít kín các khe rỗng không cho không khí đi
qua, gây mùi hôi, rò rỉ chất dinh dưỡng và lan truyền vi sinh vật gây bệnh.
Độ ẩm ảnh hưởng đến sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ vì nước có
nhiệtdung riêng cao hơn tất cả các vật liệu khác.
Độ ẩm thấp có thể điều chỉnh bằng cách thêm nước vào. Độ ẩm cao có thể điều
chỉnh bằng cách trộn với vật liệu độn có độ ẩm thấp hơn như: mạt cưa, rơm rạ…
Thông thường độ ẩm của phân bắc, bùn và phân động vật thường cao hơn giá
trịtối ưu, do đó cần bổ sung các chất phụ gia để giảm độ ẩm đến giá trị cần
thiết.
 Kích thước hạt:
Kích thước hạt ảnh hưởng lớn đến tốc độ phân hủy và khả năng giữ ẩm. Quá trình
phân hủy hiếu khí xảy ra trên bề mặt hat, hạt có kích thước nhỏ sẽ có tổng
diện tích bề mặt lớn nên sẽ tăng sự tiếp xúc với oxy, gia tăng vận tốc phân
hủy. Tuy nhiên, nếu kích thước hạt quá nhỏ và chặt làm hạn chế sự lưu thông khí
trong đống ủ, điều này sẽ làm giảm oxy cần thiết cho các vi sinh vật trong đống ủ
và giảm mức độ hoạt tính của vi sinh vật. Ngược lại, hạt có kích thước quá lớn sẽ
có độ xốp cao và tạo ra các rãnh khí làm cho sự phân bố khí không đều, không có
lợi cho quá trình chế biến phân hữu cơ.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 62
Lớp: 08CSH2
Đường kính hạt tối ưu cho quá trình chế biến khoảng 3 – 50mm. Kích thước hạt
tối ưu có thể đạt được bằng nhiều cách như cắt, nghiền và sàng vật liệu thô ban đầu.
 Độ xốp:
Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình chế biến compost. Độ xốp tối ưu sẽ
thay đổi tuỳ theo loại vật liệu chế biến compost. Thông thường, độ xốp cho quá trình
chế biến diễn ra tốt khoảng 35 – 60%, tối ưu là 32 – 36%. Độ xốp thấp sẽ hạn chế
sự vận chuyển oxy, nên hạnchế sự giải phóng nhiệt và làm tăng nhiệt độ trong khối
ủ. Ngược lại, độ xốp cao có thể dẫn tới nhiệt độ trong khối ủ thấp, mầm bệnh không bị
tiêu diệt. Độ xốp có thể được điều chỉnh bằng cách sử dụng vật liệu tạo cấu trúc với tỉ
lệ trộn hợp lý.
 Thổi khí:
Khối ủ được cung cấp không khí từ môi trường xung quanh để VSV sử
dụng cho sự phân hủy chất hữu cơ, cũng như làm bay hơi nước và giải phóng nhiệt.
Nếu khí không được cung cấp đầy đủ thì trong khối ủ có thể có những vùng
kị khí,gây mùi hôi.
Lượng không khí cung cấp cho khối phân hữu cơ có thể thực hiện bằng cách:
 Đảo trộn.
 Cắm ống tre.
 Thải chất thải từ tầng lưu chứ trên cao xuống thấp.
 Thổi khí.
Quá trình đảo trộn cung cấp khí không đủ theo cân bằng tỉ lượng. Điều
kiện hiếu khí chỉ thỏa mãn đối với lớp trên cùng, các lớp bên trong hoạt
động trong môi trường tuỳ tiện hoặc kị khí. Do đó, tốc độ phân hủy giảm và
thời gian cần thiết để quá trình ủ phân hoàn tất bị kéo dài.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 63
Lớp: 08CSH2
Cấp khí bằng phương pháp thổi khí đạt hiệu quả phân hủy cao nhất. Tuy
nhiên,lưu lượng khí phải được khống chế thích hợp. Nếu cấp quá nhiều khí sẽ dẫn đến
chi phí cao và gây mất nhiệt của khối phân, kéo theo sản phẩm không đảm bảo an toàn
vì có thể chứa vi sinh vật gây bệnh. Khi pH của môi trường trong khối phân lớn hơn 7,
cùng với quá trình thổi khí sẽ làm thất thoát nitơ dưới dạng NH
3
. Trái lại,
nếu thổi khí quá ít, môi trường bên trong khối phân trở thành kị khí. Vận tốc thổi khí
cho quá trình ủ phân thường trong khoảng 5 –10m
3
khí/tấn nguyên liệu/h.
5.3.2. Các yếu tố hoá sinh:
 Tỷ lệ C/N:
Có rất nhiều nguyên tố ảnh hưởng đến quá trình phân hủy do vi sinh vật: trong đó
carbon và nitơ là cần thiết nhất, tỉ lệ C/N là thông số dinh dưỡng quan trọng trong cân
bằng dinh dưỡng cho VSV; Photpho (P) l à nguyên tố quan t r ọng kế t i ếp;
Lưu huỳnh ( S) , canxi ( Ca) và các nguyên tố vi l ượng khác cũng
đóng vai t r ò quan trọng t r ong t r ao đổi chất .
Carbon cung cấp năng lượng và sinh khối cơ bản để tạo ra khoảng 50%
khối lượng tế bào VSV. Nitơ là thành phần chủ yếu của protein, acid
nucleic, acid amin, enzyme, co-enzyme cần thiết cho sự phát triển và hoạt động của
tế bào. Tỷ lệ C/N tối ưu cho quá trình ủ phân rác khoảng 25 – 30. Ở mức tỷ
lệ thấp hơn, nitơ sẽ thừa và sinh ra khí NH
3
, nguyên nhân gây ra mùi khai. Ở
mức tỷ lệ cao hơn, sự phân hủy xảy ra chậm. Tỷ lệ C/N ở sản phẩm compost thông
thường thu được từ 15 – 20 là tốt nhất.






WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 64
Lớp: 08CSH2
Tỷ lệ C/N của các chất thải khác nhau được trình bày trong bảng sau:
Bảng 5.2: Tỷ lệ C/N của chất thải.

 Oxy:
Oxy cũng là một trong những thành phần cần thiết cho quá trình ủ
compost. Không khí ở môi trường xung quanh cung cấp tới khối ủ compost
để VSV phân huỷ chất hữu cơ cũng như làm bay hơi nước và giải phóng
nhiệt độ. Nếu không khí không được cung cấp đầy đủ có thể hình thành
những vùng kị khí bên trong khối ủ compost có thể gây mùi hôi.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 65
Lớp: 08CSH2
Lượng khí cung cấp vào khối ủ có thể thực hiện bằng phương pháp thủ
công nhưu đảo trộn theo chu kỳ thời gian, đặt các ống tre thông khí hoặc
thổi khsi bằng máy cấp khí.
Quá trình đảo trộn nhằm cung cấp không khí chỉ thoả mãn điều kiện
hiếu khí đối với mặt trên khố ủ còn ở bên trong có thể là môi trường tuỳ
nghi hoặc kị khí. Do đó tốc độ phân huỷ và thời gian cần thiết để sản xuất
compost có thể kéo dài và gây mùi hôi khó chịu.
Các vi sinh vật hiếu khí có thể sống được ở nồng độ oxy bằng 5%. Nồng độ
oxylớn hơn 10% được coi là tối ưu cho quá trình ủ phân rác hiếu khí.
 Dinh dưỡng:
Cung cấp đủ photpho, kali và các chất vô cơ khác như Ca, Fe, Bo, Cu,... là cần
thiết cho sự chuyển hóa của vi sinh vật. Thông thường, các chất dinh dưỡng
này không có gi ới hạn bởi chúng hi ện di ện phong phú t r ong các vật
l i ệu l àm nguồnnguyên liệu cho quá trình ủ compost.
 pH:
Giá trị pH trong khoảng 5,5 – 8,5 là tối ưu cho các VSV trong quá trình ủ
compost. Các VSV, nấm tiêu thụ các hợp chất hữu cơ và thải ra các acid hữu
cơ. Trong giai đầu của quá trình ủ compost, các acid này bị tích tụ và kết
quả là làm giảm pH, kìm hãm sự phát triển của nấm và VSV, kìm hãm sự phân hủy
lignin và cellulose. Các acid hữu cơ sẽ tiếp tục bị phân hủy trong quá trình ủ compost.
Nếu hệ thống trở nên yếm khí, việc tích tụ các acid có thể làm pH giảm xuống đến 4,5
và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của VSV.




WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 66
Lớp: 08CSH2
 Vi sinh vật:
Chế biến compost là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều loại VSV khác nhau.
Vì sinh vật trong quá trình chế biến phân hữu cơ bao gồm: actinomycetes và vi
khuẩn. Những loại VSV này có sẵn trong chất hữu cơ, có thể bổ sung thêm
VSV từ các nguồn khác để giúp quá trình phân hủy xảy ra nhanh và hiệu quả hơn.
 Vi khuẩn: có mặt hầu hết trong các giai đoạn sản xuất compost. Hoạt
động của VSV trong quá trình ủ compost có đến 80 – 90% là do vi khuẩn, bao gồm
Streptococus sp, Bacillus sp, Vibro sp.
 Actinomycetes: thường xuất hiện vào khoảng tuần thứ 5 – 7 trong quá
trình ủ bao gồm: Micromonospora, Streptomyces, Actinomycetes.
 Nấm: giới hạn nhiệt độ của nấm là khoảng 60
0
C gồm các loại:
Aspergillus, Penicillin, Fusarium, Trichoderma và Chaetomonium.
 VSV gây bệnh: một trong những yêu cầu của sản xuất compost là phải
hạn chế đến mức tối đa các loài VSV gây hại có trong sản phẩm. Theo lý thuyết nếu
nguyên liệu để sản xuất compost không có chứa phân, chất thải sinh học thì sản phẩm
đầu ra sẽ ít các loài gây bệnh. Tuy nhiên trên thực tế nguyên liệu đầu vào cho quá trình
chế biến compost không phải lúc nào cũng đáp ứng các yêu cầu đó. Do đó, để đảm bảo
tiêu chuẩn tiêu diệt mầm bệnh cho cây trồng, trong lúc vận hành chế biến compost
chúng ta phải đảm bảo nhiệt độ để có thể tiêu diệt được hết mầm bệnh.
 Chất hữu cơ:
Vận tốc phân hủy dao động tuỳ theo thành phần, kích thước, tính chất của
chấthữu cơ. Chất hữu cơ hoà tan thì dễ phân hủy hơn chất hữu cơ không hoà tan.
Lignin và ligno – cellulosics là những chất phân hủy rất chậm.




WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 67
Lớp: 08CSH2
Bảng 5.3: Các thông số quan trọng trong quá trình ủ compost hiếu khí

(Nguồn: Tchobanoglous và cộng sự, 1993).
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 68
Lớp: 08CSH2
5.4. Ủ compost bằng nguồn phụ phế phẩm giàu xơ:
Sử dụng VSV trong xử lý môi trường là một hướng đi đúng đã và đang được thế
giới cũng như trong nước quan tâm với những lợi ích: thân thiện, không tạo ra các sản
phẩm độc hại cho môi trường, chi phí xử lý thấp,…Trong đó, chuyển hóa nguồn phế
thải sau thu hoạch giàu cellulose nhờ VSV là một giải pháp hữu ích vừa tạo nguồn
phân bón lớn cung cấp cho cây trồng vừa là giải pháp phát triển nông nghiệp bền
vững.
Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học Compost Maker bao gồm các chủng VSV:
VSV phân giải cellulose; VSV phân giải lân; VSV cố định đạm và VSV hỗ trợ trên nền
than bùn có mật độ các chủng vi sinh vật từ 10
8
-10
9
CFU/g.
Việc sản xuất vi sinh vật từ phụ phẩm khá đơn giản và dễ thự hiện:
 Xử lý thô nguồn nguyên liệu phụ phế phẩm nông nghiệp và các nhà máy
chế biến.
 Phối trộn với chế phẩm Compost Maker và một vài phụ liệu khác như
đạm, kali, rỉ mật…
 Độ ẩm cuối cùng của hỗn hợp cần đạt từ 45-50%.
Ủ hỗn hợp với chiều cao tối đa của đống ủ 0,5 mét (nơi ủ có mái che để tránh
mưa). Sản phẩm phân bón hữu cơ thu được tơi xốp, đạt mật độ các chủng VSV đưa vào
xử lý lớn hơn hoặc bằng 10
6
CFU/g, không chứa các chủng VSV gây hại (như các loại
nấm Fusarium, Aspergillus niger và vi khuẩn gây bệnh héo xanh trên cây họ cà…),
hàm lượng nitơ, kali, photpho hữu hiệu đạt tiêu chuẩn về phân bón.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 69
Lớp: 08CSH2
Chế phẩm Compost Maker và phân bón hữu cơ vi sinh đã rút ngắn thời gian xử lý
các hợp chất hữu cơ các chủng vi sinh vật phân giải nhanh; rút ngắn thời gian xử lý phụ
phế phẩm; nhiệt độ sinh khối ủ tăng sau 1-2 ngày và đạt cực đại 45 - 70
0
C sau 7-15
ngày.
Sau 30 ngày ủ, nguyên liệu được phân huỷ 100%, bón cho cây chè năng suất tăng
25% so với khi chưa sử dụng nguồn phân hữu cơ vi sinh.
Sản phẩm tạo ra các chất giàu carbon chuyển hóa màu và dễ bị mùn, khử được
mùi hôi, an toàn đối với cây trồng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
5.5. Chất lượng compost: dựa trên bốn yếu tố:
Mức độ lẫn tạp chất: thuỷ tinh, plastic, đá, kim loại nặng, chất thải hoá học, thuốc
trừ sâu.
Nồng độ các chất dinh dưỡng: dinh dưỡng đa lượng như N, P, K; dinh dưỡng
trung lượng Ca, Mg, S; dinh dưỡng vi lượng Fe, Zn, Cu, Mo, Co, Bo,…
Mật độ VSV gây bệnh: thấp ở mức không ảnh hưởng đến cây trồng.
Độ ổn định: độ chín hoại của phân và hàm lượng chất hữu cơ.
5.6. Tính cần thiết của compost:
Cải thiện cơ cấu đất: phân hữu cơ vi sinh khi bón vào đất sẽ làm cho nơi đó có
đất sét, đất bạc màu, đất quánh được rã ra và khi gặp lại đất cát lại làm cho đất cát rời
dính lại với nhau, giúp đất thông khí dễ dàng.
Quân bình độ pH trong đất: phân hữu cớ vi sinh cũng ứng đầy đủ các chất hữu cớ
để chống lại sự thay đổi pH.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 70
Lớp: 08CSH2
Tạo ra sự màu mỡ trong đất: phân hữu cơ vi sinh chưa Nito, photpho, lân, magie,
lưu huỳnh nhưng đặc biệt là các chất được hấp thụ vào đất những gì đã mất đi.
Duy trì độ ẩm cho đất: các chất hữu cơ trong phân khi hoà tan vào đất sẽ trở
thành một miếng xốp hút nước rồi luân chuyển nước vào trong đất nuôi cây. Nếu đất
thiếu chất hữu cơ sẽ khó thẩm thấu nước từ đó đất sẽ bị đóng màng làm nước bị ứ đọng
trên mặt sẽ gây lụt lội, xối mòn đất.
Tạo môi trường tốt cho các vi khuẩn có lợi trong đất sinh sống: phân hữu cơ vi
sinh có khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng làm cho đất tơi xốp, từ đó tạo ra môi
trường sống cho các loại côn trùng và những loài vi sinh chống lại tuyến trùng làm hư
rễ cây cũng như tiêu diệt các loại côn trùng phá hoại đất, gây bệnh cho cây trồng.
Trung hòa độc tố trong đất trồng: Những nghiên cứu quan trọng gần đây chỉ ra
rằng cây phát triển trong đất trồng có bón phân hữu cơ vi sinh, hấp thụ ít chì, kim loại
nặng và chất ô nhiễm của đô thị.
Dự trữ Nitơ: Phân hữu cơ vi sinh là nhà kho nitơ, vì nó bị ràng buộc trong quá
trình phân hủy, nitơ có thể hòa tan trong nước không bị thấm đi hay oxy hóa
vàokhông khí trong khoảng thời gian từ 3 – 6 tháng và phụ thuộc vào nhiều đống phân
được đổ có duy trì như thế nào.
Thông khí: Cây có thể đạt được 95% chất dinh dưỡng cần thiết từ
không khí,ánh sáng và nước. Đất trồng không chặt khít, khỏe mạnh giúp cho
sự khuếch tán không khi vào đất trồng trọt vào tro đổi chất dinh dưỡng và độ ẩm oxit
carbon được thoáng ra do chất hữu cơ, phân hủy khuếch ra ngoài đất trồng và
được hấp thụ bởi các vòm lá bên trên, được tạo ra bởi các cây cách đều nhau, gần
nhau.
Tân tiến nhất trong quá trình tái sinh: Đất cung cấp cho ta thực phẩm,quần áo và
nơi sinh sống chúng ta, khép kín chu trình cung cấp độ phì nhiêu, sức khỏe cộng đồng
thông qua chế biến các vật liệu.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 71
Lớp: 08CSH2


Bảng 5.4: Tiêu chuẩn ngành 10 TCVN 525 – 2002 phân hữu cơ VSV từ bã mía
của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.
Tên chỉ tiêu Đơn vị tính Mức
1. Hiệu quả đối với cây trồng Tốt
2. Độ chín (hoai) cần thiết Tốt
3. Đường kính hạt không lớn hơn mm 4-5
4. Độ ẩm không lớn hơn % 35
5. pH 6,0-8,0
6. Mật độ vi sinh vật hữu hiệu (đã được tuyển
chọn) không nhỏ hơn
CFU/ g mẫu 10
6


7. Hàm lượng cacbon tổng số không nhỏ hơn % 13
8. Hàm lượng nitơ tổng số không nhỏ hơn % 2,5
9. Hàm lượng lân hữu hiệu không nhỏ hơn % 2,5
10. Hàm lượng kali hữu hiệu không nhỏ hơn % 1,5
11. Thời hạn bảo quản không ít hơn tháng 6
( Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2002)


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 72
Lớp: 08CSH2
CHƯƠNG 6: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ TRONG VIỆC TẠO NGUỒN
NHIÊN LIỆU SẠCH (BIO-ETHANOL)
6.1. Giới thiệu:
Nguồn phế liệu nông nghiệp và lâm nghiệp có bản chất là lignocelluloses đang
được thực nghiên cứu sản xuất làm cồn sinh học. Đó là một nguồn nguyên liệu dồi dào,
không những giúp hạn chế được sự cạnh tranh nguồn đất dùng cho sản xuất thực phẩm
mà còn giúp cho việc tái sử dụng các nguồn phế liệu một cách hiệu quả nhất. Việc sản
xuất ethanol từ nguồn này đem lại nhiều nguồn lợi nhưng sự phát triển của nó đang bị
hạn chế bởi những khó khăn về mặt kinh tế và kỹ thuật một cách tối ưu.

6.2. Cách thực hiện:
6.2.1. Bước 1: Quá trình tiền xử lý nguyên liệu:
Nhằm tạo ra một dạng cellulose đơn giản hơn để cho quá trình thuỷ phân dễ dàng
hơn, các enzyme có thể tiếp xúc tối đa với cơ chất tương thích. Phương thức và hiệu
quả của quá trình tiền xử lý thay đổi tuỳ thuộc vào đặc tính cấu trúc của nguồn nguyên
liệu được lựa chọn.


Sơ đồ 6.1: Qui trình sản xuất ethanol từ nguồn phế liệu lignocellulose
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 73
Lớp: 08CSH2
Giai đoạn này bao gồm:
 Sử dụng cơ học làm giảm kích thước nguyên liệu.
 Một số phương pháp hoá sinh để loại bỏ lignin (lignin là thành phần
không thế chuyển đổi thành ethanol). Rất nhiều phương pháp được sử dụng bao gồm
các phương pháp hoá học trong đó phương pháp xử lý bằng hơi nước kết hợp với xử lý
bằng acid/alkali đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên xử lý bằng phương pháp hoá
học gây nhiều tốn kém và ảnh hưởng đến môi trường, do đó hiện nay phương pháp
sinh học đang dần được hoàn thiện hơn để thay thế toàn phần hay sử dụng kết hợp với
các phương pháp hoá học. Bằng cách sử dụng các loại nấm như Cyathus sp,
Streptomyces viridosporus, Phelebia tremellosus, Pleurotus florida và Pleurotus
cornucopiae có khả năng phân huỷ lignin và hỗ trợ một phần thuỷ phân nguồn nguyên
liêuh cellulose. Tuy nhiên, thời gian xử lý sẽ kéo dài cũng là một hạn chế lớn của
phương pháp này.
6.2.2. Bước 2: Thuỷ phân nguồn nguyên liệu bằng tổ hợp enzyme:
Quá trình gây tiêu tốn nhiều chi phí trong gai đoạn sản xuất cồn. Bằng kỹ thuật di
truyền, các nhà nghiên cứu đang hướng đến việc tạo ra một tổ hợp enzyme có thể thuỷ
phân nguồn nguyên liệu lignocelluloses hiệu quả nhất. Thuỷ phân hoàn toàn nguồn
lignocelluloses cần có những sự chuyển đổi các nhóm polysaccharide sau:
 Glucosidase tạo ra sản phẩm cuối cùng là glucose (β – 1,4 – glycoside).
Quá trình thuỷ phân bằng tổ hợp enzuyme cellulose bao gồm cellobiohydrolase
(exoglucanase), endoglucose và β – D – glucose thông qua liên kết β chuyển đổi
cellulose: Cellulose là loại polysaccharide đồng hình được cấu thành từ các đơn phân.
 L- arabinofuranosidase, α – glucuronidase và α – xylosidase, β – xylanse
chuyển đổi hermicellulose: hermicellulose là thành phần dồi dào nhất thứ hai trong
nguồn nguyên liệu lignocelluloses (25 – 30%). Hermicellulose là một loại polymer dị
hình được tạo thành từ các đơn phân pentose (D-xylose, D-arabinose), đơn phân hexose
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 74
Lớp: 08CSH2
(D-mannose, D- glucose, D-galactose) và các acid đường. Xylan là thành phần thường
thấy trong cây thân gỗ cứng, tuy nhiên glucomanan lại là thành phần chính trong các
loại thực vật thân mềm. tổ hợp enzyme để thuỷ phân hermicellulose cũng rất phức tạp.
Chuyển hoá pectin: pectin là thành phần chiếm thứ ba trong nhóm polysaccharide cấu
thành nên vách tế bào thực vật. Tương tự pectin cũng có thể được chuyển hoá thành
các dạng đường hoà tan, ethanol hay biogas. Một số enzyme liên quan đến thuỷ phân
pectin như: polymethylgalacturanosidase, exopolygalacturanosidase, exopolygalactu-
ronase hydrolase.
Nguồn ezyme được sử dụng phố biến hiện nay là Trichoderma reesei và
Aspergillus niger. Hiện nay, người ta đang thay thế dần các hệ enzyme chịu nhiệt, chịu
các điều kiện hoá học quá hạn. Hơn hết là các nghiên cứu về phức hợp cellulosone của
các vi khuẩn kỵ khí đang dần mở ra một con đường mới nhằm tăng hiệu quả thuỷ phân
của tổ hợp trên các loại nguyên liệu lignocelluloses.
6.2.3. Bước 3: Lên men cồn từ hỗn hợp đường hoà tan:
Để sản xuất một lượng cồn lớn thì việc lựa chọn một chủng nấm men thích hợp là
rất cần thiết. Những giống nấm men thường được sử dụng trong sản xuất công nghiệp
cồn như: Saccharomyces spp mà hiện tại một số loài như S.cerevisiea hay S. uvarum là
giống có khả năng tạo độ cồn cao (12-13%), hay đặc biệt S. oviformis có khả năng tạo
độ cồn 18% đặc biệt các loài nấm men này có khả năng lên men được rất nhiều đường
khác nhau như: glucose, manose, saccharose, maltose và rafinose, tuy nhiên không có
khả năng lên men galactose. Ngoài ra còn có Zymononas mobilis cũng thường được sử
dụng trong quá trình rượu hoá. Tuy nhiên cả Saccharomyces và Zymononas sp đều
thiếu hoàn toàn khả năng chuyển hoá các loại đường pentose. Khuynh hướng biến đổi
gen của hai giống này nhằm giúp biểu hiện khả năng chuyển hoá 2 loại đường pentose
phổ biến nhất là D-xylose, và L – arabinose cũng đã được phát triển nhiều.

WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 75
Lớp: 08CSH2
Gần đây, người ta phát hiện thấy có một số loài nấm men như: Pichia stipitis,
Candida shehatae, Pachyhysolen tannophillus là những chủng có khả năng chuyển hoá
xylose mạnh và đã được dùng trong sản xuất ethanol. Trong đó P. stipilis lại nổi bật bởi
khả năng sản xuất hàm lượng cồn cao và nhu cầu dinh dưỡng của chúng không quá
phức tạp so với các giống nấm men khác.
Ngoài ra, các chủng chịu nhiệt độ cao như: G. thermoglucosidasius, T. mathranii,
T. saccharolyticum cũng đang được sử dụng. Quá trình lên men cồn của chúng có nhiều
lợi ích hơn quá trình chuyển hoá xảy ra ở nhiệt độ trung bình. Chúng có khả năng lên
men không chỉ đường pentose, hexose mà còn có khả năng lên men cellubiose, thậm chí
trong một số trường hợp những cơ chất polycarbonhydrate phức tạp như cellolose. Quá
trình lên men ở nhiệt độ cao giúp quá trình thu hồi sản phẩm dễ dàng hơn bởi vì ethanol
có chứa nước ( aqueous ethanol) sẽ bốc hơi ở nhiệt độ 55
0
C, đồng thời làm giảm nồng
độ cồn trong bồn lên men nhằm giảm thiểu ảnh hưởng ngược lại của nồng độ cồn đến
sự phát triển của tế bào, từ đó giảm được chi phí sản xuất.
6.2.4. Bước 4: Chưng cất – khử nước:
Quá trình tách nước và tinh sạch ethanol để đáp ứng đặc điểm kỹ thuật nhiên liệu.
6.3. Kết luận:
Sự biến đổi phế liệu nông nghiệp thành các nguồn nguyên liệu cụ thể là ethanol
còn là thách thức lớn cho các nhà nghiên cứu và nhà sản xuất. Các chủng cần được cải
tiến để tăng cường tổng hợp tổ hợp enzyme thuỷ phân hiệu quả hay tăng cường khả
năng chuyển hoá nhiều dạng đường thành ethanol bằng kỹ thuật biến đổi gen, biến đổi
quá trao đổi chất nên cần được phát triển để tạo ra nguồn năng lượng chi phí thấp mà
không ảnh hưởng đến môi trường trong tương lai.


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 76
Lớp: 08CSH2
KẾT LUẬN

Trong quá trình sản xuất nông nghiệp hay chế biến nông sản, bên cạnh những sản
phẩm chính, dù muốn hay không chúng ta cũng còn có những phần sản phẩm phụ
khác. Khối lượng phụ phẩm này rất lớn, thực sự là nguồn tài nguyên phong phú và có
giá trị nếu biết cách xử lý, nếu không, chúng có thể gây nên ô nhiễm môi trường.
Việc sử dụng tốt hơn các nguồn phụ phẩm này sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho
nông dân và tăng thu nhập/ha đất nông nghiệp như mục tiêu 50 triệu đồng/ha.
Phụ phẩm nông nghiệp đều là những chất hữu cơ, có thể còn non, xanh; có thể đã
xơ cứng vì silic hoá như trấu hay lignin hoá như gỗ. Chúng còn có thể được xem như là
một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá trình quang tổng hợp và các quá trình
sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp.
Thành phần xơ của phụ phế phẩm chủ yếu là cellulose, hemicelluloses và lignin,
chúng liện kết với nhau chặt chẽ làm nên vách tế bào thực vật gọi chung là
lignocellulose. Trong tự nhiên các vi sinh vật tổng hợp được các phức hợp enzyme
thủy phân lignin, hemicelluloses và cellulose do hoạt động hiệp lực của nhiều phức hợp
enzyme của cả một quần thể vi sinh vật.




WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 77
Lớp: 08CSH2

Sử dụng enzyme để xử lý phụ phế phẩm giàu xơ là một phương pháp tiên tiến
làm tăng gia 1trị phụ phế phẩm nhưng trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn vì người ta
chỉ phân lập được một số giới hạn vi sinh vật phâ hủy xơ và sản xuất được một số giới
hạn phức hợp enzyme cần thiết. Để tạo điều kiện cho các enzyme này hoạt động trong
tự nhiên (thức ăn giá súc nhai lại) hay ngoài tự nhiên (thủy phân xơ thành đường sản
xuất bioethanol). Các phụ phế phẩm giàu xơ cần được tiền xử lý loại bỏ lignin, phá vỡ
mạng lưới liên kết chằng chịt lignin-hemicellulose – cellulose, phá vỡ cấu trúc tinh thể
cellulose để tạo điều kiện cho các cellulase và xylanase hoạt động dễ dàng hơn.
Ủ compost từ phụ phế phẩm giàu xơ cũng là biện pháp giúp xơ được phân hủy
nhanh hơn, kết hợp với các phụ phẩm khác tạo thành phân bón có giá trị. Quá trình này
được tăng cường sinh học bởi các chế phẩm EM chứa vi sinh vật phân hủy xơ đã được
phân lập và tuyển chọn.








WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 78
Lớp: 08CSH2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Duy Giảng, Nguyễn Xuân Bá, Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Trạch, Vũ Chí
Cương, Nguyễn Hữu Văn (2008). Dinh dưỡng và thức ăn cho bò, Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội.
2. Nguyễn Xuân Trạch (2003). Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại, Nhà xuất
bản Nông nghiệp, Hà Nội.
3. Phước Toàn, Thanh Mai, Công nghệ sản xuất cồn sinh học từ nguồn nguyên liệu
lignocelluloses, 6/2011, http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/cong-nghe-san-xuat-con-sinh-
hoc-tu-nguon-nguyen-lieu-lignocellulose.364084.html .
4. VHM Nguyễn, Tổng quan tài liệu, 6/2011,
http://tainguyenso.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/2522/2/Nguyen%20vm%20h
anh-chuong1.doc .
5. Võ Thị Tường Vi (2007). Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của biện pháp tăng
cường sinh học trong sản xuất compost từ rác thải sinh hoạt, Trường Đại học Kỹ thuật
công nghệ TP.HCM, Hồ Chí Minh.
6. PGS, TS Bùi Văn Chính, Chế biến và sử dụng có hiệu quả Nguồn phụ phẩm
nông nghiệp, chứa nhiều chất xơ cho gia súc, 6/2011,
http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=3960 .
7. ThS. Huỳnh Ngọc Điền, Sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm để tăng thu nhập,
6/2011, http://www.nguyencuong.com.vn/VNews.aspx?IDPar=16&IDChild=103.
8. Nguồn: Số liệu thống kê (2001) – NXB Thống kê, 2002; Bùi Văn Chính, Lê
Viết Ly, 1996,2001.
9. Nguồn: Tchobanoglous và cộng sự, 1993.
10. Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2002.
11. Nguồn: Renjie Dong, Energy supply and environment protection in coutryside
development, 2007.
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 79
Lớp: 08CSH2
Table of Contents
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề: ...................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu: ......................................................................................................... 2
1.3. Nội dung nghiên cứu: ...................................................................................... 2
1.4. Phương pháp thực hiện khóa luận: ............................................................ 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHỤ PHẾ PHẨM NÔNG NGHIỆP .......................... 3
2.1. Định nghĩa phụ phế phẩm nông nghiệp: .......................................................... 3
2.2. Nguồn gốc, thành phần và tính chất phụ phế phẩm nông nghiệp: ..................... 3
2.2.1. Nguồn gốc: ............................................................................................... 3
2.1.1. Thành phần và tính chất: .......................................................................... 4
2. 3.1. Cấu trúc của lignocelluloses: ...................................................................... 6
2.3.2. Enzyme thủy phân lignocelluloses: ............................................................ 19
2.4. Ứng dụng của enzyme lignocellulolytic: ........................................................ 25
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ PHỤ PHẾ PHẨM GIÀU XƠ .. 27
3.1. Phương pháp vật lý:....................................................................................... 28
3.2. Phương pháp hoá học: ................................................................................... 29
3.3. Phương pháp sinh học: .................................................................................. 37
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ LÀM THỨC ĂN GIA SÚC ...... 38
4.1. Vai trò của đại gia súc đối với việc phát triển nông thôn: ................................. 38
4.1.1. Cung cấp sức kéo: .................................................................................. 38
4.1.2. Cung cấp thực phẩm: .............................................................................. 39
4.1.3. Cung cấp phân bón và chất đốt: ............................................................. 39
4.1.4. Cung cấp nguyên liệu chế biến: .............................................................. 40
4.2. Tìm hiểu về khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ của GSNL: ........................... 40
4.2.1. Khả năng sử dụng thức ăn giàu xơ: ........................................................ 40
4.2.2. Hệ vi sinh vật có trong dạ cỏ: ................................................................. 43
WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com
Khoá luận tốt nghiệp 2011

SVTH: Trần Ngọc Phú Quí 80
Lớp: 08CSH2
4.3. Các qui trình chế biến phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn GSNL: ................ 49
4.3.1. Quy trình chế biến rơm lúa bằng phương pháp xử lý ure – vôi: .............. 49
4.3.2. Quy trình chế biến và sử dụng tảng ure-rỉ mật: ....................................... 51
4.3.3. Quy trình chế biến thân lá cây lạc bằng phương pháp ủ chua làm thức ăn
cho lợn và trâu bò: ............................................................................................... 53
CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG Ủ COMPOST TỪ NGUỒN PHỤ PHẨM GIÀU XƠ ...... 57
5.1. Định nghĩa compost: ..................................................................................... 57
5.2. Các phản ứng sinh hoá xảy ra trong quá trình ủ: ............................................ 57
5.2.1. Các phản ứng sinh hoá: .......................................................................... 57
5.2.2. Các phản ứng sinh học: .......................................................................... 59
5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ compost: ............................................ 60
5.3.1. Các yếu tố vật lý: .................................................................................... 60
5.3.2. Các yếu tố hoá sinh: ............................................................................... 63
5.4. Ủ compost bằng nguồn phụ phế phẩm giàu xơ: ............................................. 68
5.5. Chất lượng compost: dựa trên bốn yếu tố: ..................................................... 69
5.6. Tính cần thiết của compost: ........................................................................... 69
CHƯƠNG 6: ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM GIÀU XƠ TRONG VIỆC TẠO NGUỒN
NHIÊN LIỆU SẠCH (BIO-ETHANOL) .................................................................... 72
6.1. Giới thiệu: ..................................................................................................... 72
6.2. Cách thực hiện: ............................................................................................. 72
6.2.1. Bước 1: Quá trình tiền xử lý nguyên liệu: ............................................... 72
6.2.2. Bước 2: Thuỷ phân nguồn nguyên liệu bằng tổ hợp enzyme: ................... 73
6.2.3. Bước 3: Lên men cồn từ hỗn hợp đường hoà tan: ................................... 74
6.2.4. Bước 4: Chưng cất – khử nước: .............................................................. 75
6.3. Kết luận: ........................................................................................................ 75


WWW.DAYKEMQUYNHON.UCOZ.COM
WWW.FACEBOOK.COM/DAYKEM.QUYNHON Email:daykemquynhon@gmail.com