You are on page 1of 8

TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP.

HCM

KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ

Trong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến
những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho
từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự…, tuy
nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:


Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng
thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp
xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.
Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm
tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở
trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:
- Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can
- Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn
- Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng
- Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng
- Tài liệu về nhân thân bị can
- Tài liệu về nhân thân người bị hại
- Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra
- Tài liệu kết thúc điều tra
- Tài liệu về truy tố
- Tài liệu trong giai đoạn xét xử
- Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)
Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và
trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ
tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ
quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp
tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà

2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:

__________________________________________________________________________________ 1
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc,
phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật
khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất
với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa
hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ
Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là
quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể
nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài
liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ,
ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch
bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.

3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:


Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo
trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên
cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên
cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo
trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo
phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ
của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ
vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật
chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý,
người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp
nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.

4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:


4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:
Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội
của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án
của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành
vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn
để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người
__________________________________________________________________________________ 2
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt
hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được
những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.
Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để
tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý
thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một
phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can
đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can
không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai.
Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các
chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.
4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết lụân điều tra:
Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng
cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ
quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án
của Cơ quan điều tra.
Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại
những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận
điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến
đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà
mình bào chữa, bảo vệ.
4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:
Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những
hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng,
động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế
nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan
cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân
của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung
bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.
Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các
hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu
nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình
không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa
nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).
__________________________________________________________________________________ 3
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên
bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên
bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ
ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử
chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can
không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều
trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị
can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.
4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:
Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm
tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của
sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng
để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng
trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị
can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội
phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông
tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian,
thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời
khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút
lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các
lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải
tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với
các lời khai, chứng cứ khác.
4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại
Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội
phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải
quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của
người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác
nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với
lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại
với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho
người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội
của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.
__________________________________________________________________________________ 4
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất


Trong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau;
biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần
nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời
khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử
dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.
4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập
chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …
Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên
bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện
theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong
thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm
phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật
chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của
vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ
khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.
4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:
Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám
định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi
giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện
giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các
chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết
quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn
khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định
lại.
4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu
khác.
Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của
họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào
chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những
tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt.
trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi
cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…

__________________________________________________________________________________ 5
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản
giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận
xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người
tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ
có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị
Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.

5 Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáo


Dù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề
cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích
cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các
tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.
Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho
người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ
sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt
bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận
không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình
tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm
gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có
trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và
thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm
chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến
vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm
chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân
sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.
Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có
sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá
luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của
cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá,
quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng
cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức,
cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.

__________________________________________________________________________________ 6
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và
phần kết luận.
- Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch
thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố,
thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự
giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho
thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là
Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp
pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp
pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.
Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để
Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý
do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự
chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên
tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì
vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.
- Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá,
luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy
đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc
của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ,
phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo
hướng có lợi cho thân chủ để từ đóchứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong
trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử
dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm
nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm
nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn
đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều
trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình
phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách
nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng
gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.
- Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan
điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa
ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để
__________________________________________________________________________________ 7
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009
TRUNG TÂM TƯ VẤN PHÁP LUẬT – ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải
quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công
minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:


1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể
bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá
trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần
lưu ý.
2. Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó
được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu
thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình
tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những
chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi
Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những
nhười tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra
luận cứ gỡ tội phù hợp;
3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa
mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự
nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bàao chữa. Đương
nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.
4. Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chũa, bài bảo vệ
bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu,
chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chũa phải được sắp
xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bắng cách tài liệu nào cần sử dụng
trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện
dẫn thì tìm mãi không thấy.

(Trích từ Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý)

__________________________________________________________________________________ 8
Tài liệu phục vụ “Chuỗi chuyên đề thực hành kỹ năng pháp luật cho sinh viên” – năm 2009