Chương 1

TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VÀ CÁC MÔ HÌNH THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

1.1.

1.2.

TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2

1.2.

TỔNG QUAN VỀ CÁC MÔ HÌNH THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI

RẮN CÔNG NGHIỆP VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1.2.1. Các mô hình thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại công nghiệp trên thế giới Vấn đề thu gom, phân loại, quản lý, xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại đã được quan tâm giải quyết ở hầu hết các Quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển. (1). Mô hình thu gom, xử lý Chất thải nguy hại của Tập đoàn Holcim Tập đoàn Holcim đã thực hiện công nghệ đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng dựa trên cơ sở sử dụng chất thải làm nguyên nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng phù hợp với loại lò nung hiện đại, đó là kiểu lò quay có lắp đặt hệ thống thiết bị thiêu đốt chất thải. Các Nhà máy xi măng của tập đoàn Holcim tại nhiều quốc gia tiến hành thu gom CTNH của các công ty khác và xử lý trong lò nung xi măng của Công ty. Lò nung xi măng yêu cầu phải đảm bảo an toàn và việc tiêu hủy chất thải nguy hại đúng cách, nhiệt độ cao và thời gian lưu cháy phải được duy trì. Quá trình thiêu đốt ở nhiệt độ cao thực chất là để phân hủy các phân tử hữu cơ thành nước và CO2. và các chất khác. Để đạt được tình trạng phân hủy hoàn toàn cần có nhiệt độ đủ cao, đủ oxy, thời gian lưu cháy và điều kiện trộn tốt. Cả lò chuyên dụng và lò nung xi măng đều có thể đáp ứng yêu cầu này. Tuy nhiên, lò nung xi măng có thời gian lưu cháy lâu hơn (6 – 10 giây) và nhiệt độ cao hơn (1.400 – 2.000oC) so với lò đốt chất thải chuyên dụng. Và ở lò nung xi măng, tính kiềm của xi măng sẽ trung hòa axit clohydric và các axit dạng khí khác sinh ra trong quá trình đốt cháy chất thải. Do vậy, lò nung xi măng là một loại lò đạt hiệu suất phá hủy rất cao cũng như hiệu quả làm sạch khí thải ưu việt. Đó cũng là lý do vì sao lò nung xi măng là lý tưởng trong việc thiêu đốt chất thải.

3

Theo báo cáo của Công ty Holcim Việt Nam thì trong năm 2005, tập đoàn đã xử lý được hơn 4 triệu tấn CTNH trên toàn cầu. (2). Mô hình xử lý Chất thải nguy hại tại Na Uy Na Uy là một nước Bắc Âu có hệ thống thu gom và xử lý chất thải, đặc biệt là CTNH rất hiệu quả, không chỉ cho Na Uy, mà còn cho một số quốc gia Tây Âu khác. Chính phủ Na Uy đã ban hành hệ thống quy định và chính sách rất rõ ràng, đặc biệt đã vận hành hiệu quả hệ thống chứng từ về CTNH. Thông qua một đơn vị tư vấn SINTEF, chứng từ được cấp cho các chủ nguồn thải, trên mỗi chứng từ có chữ ký xác nhận của 04 đơn vị liên quan, gồm: chủ nguồn thải, chủ thu gom vận chuyển, chủ phân loại tái chế, và chủ tiêu hủy xử lý. Các chứng từ này định kỳ được báo cáo về SINTEF, và đơn vị tư vấn này có nhiệm vụ báo cáo cho chính quyền địa phương. Hầu hết các khâu trong hệ thống thu gom, xử lý CTNH đều do tư nhân thực hiện. Trên toàn lãnh thổ Na Uy có một số Công ty chịu trách nhiệm thu gom, tồn trữ, xử lý, và chuyển đến nơi tiêu hủy. Các địa địa điểm trung chuyển làm nhiệm vụ sơ chế trước khi chuyển đến nơi xử lý tiêu hủy quy định. Tại các địa điểm trung chuyển, các CTNH được phân loại và sơ chế, sau đó chuyển đến đúng nơi quy định. Ví dụ: đối với CTNH là axít như H2SO4, được thu gom và chuyển đến một hầm đá sau khai thác ở trên một hòn đảo cách bờ không xa. Tại đây axít này được trộn với bột đá và đổ xuống hầm đá, tạo thành bùn CaSO4. Hoặc CTNH là các bao bì sơn hay dung môi, chúng được băm nghiền (shredding) trong môi trường nitơ lỏng tránh cháy nổ, sau đó được ép thành các bánh, dung môi hay sơn ép chảy được thu gom và chuyển đến lò xi măng để đốt, vật liệu bao bì được ép thành bánh được chuyển đến các cơ sở luyện kim. Ngoài CTNH trong công nghiệp, Na Uy còn thu gom xử lý các sản phẩm gia dụng có chứa chất thải nguy hại, như tivi, tủ lạnh, máy vi tính, các loại ăcqui, pin, v.v...

4

1.2.2. Các mô hình thu gom, xử lý Chất thải rắn công nghiệp và Chất thải nguy hại công nghiệp tại Việt Nam Hiện nay có một số mô hình dịch vụ môi trường về thu gom và xử lý CTRCN và CTNH: Mô hình doanh nghiệp nhà nước : Hiện nay có một số doanh nghiệp nhà nước được thành lập có chức năng thu gom và xử lý chất thải nguy hại. VD: Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà (URENCO Biên Hoà); Công ty SONADEZI tại tỉnh Đồng Nai đã xây dựng hệ thống kho chứa chất thải nguy hại, bãi chôn lấp chất thải nguy hại, hệ thống xử lý chất thải nguy hại bằng phương pháp hoá lý; Bệnh viện lao Đồng Nai đã đầu tư lò đốt rác y tế và tiến hành dịch vụ thu gom và thiêu huỷ chất thải y tế từ các bệnh viện khác trên địa bàn tỉnh; Công ty Môi trường Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đã nhập lò đốt rác y tế từ Áo với công suất 7 tấn/ngày để thực hiện dịch vụ thu gom và thiêu hủy toàn bộ chất thải rắn y tế sinh ra từ các bệnh viện của thành phố. Một số công ty điển hình gồm: Công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị Biên Hoà (URENCO Biên Hoà) (1). (2). (3). (4). Tình trạng công ty : Doanh nghiệp nhà nước Ngày thành lập : 26/12/1994 (Quyết định số 3262/QD-UBT của UBND tỉnh Số lượng nhân viên : 543 Chức năng và nhiệm vụ: Theo giấy phép kinh doanh số 100253 ngày 29/12/1994 (sửa đổi, bổ sung ngày 29/10/2003) của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, URENCO Biên Hoà có các chức năng và nhiệm vụ sau đây: – cộng) – – Chế biến gỗ, làm quan tài và mộc xây dựng Sản xuất, kinh doanh một số vật liệu xây dựng thông thường Dịch vụ công cộng đô thị (quản lý, khai thác, sử dụng hệ thống thoát nước, hè đường; vệ sinh môi trường; mai táng; công viên, cây xanh, chiếu sáng công

Đồng Nai)

5

– – – – xuống –

Thi công xây dựng và duy tu, bảo dưỡng các công trình, công viên, hệ thống Sản xuất cá giống và chăn nuôi Xây lắp các công trình điện hạ thế phục vụ công nghiệp và dân dụng Khảo sát, thiết kế công trình điện trung, hạ thế có hiệu điện thế từ 35 KV trở Duy tu, sữa chữa các hệ thống thoát nước, vỉa hè, cầu đường. Thi công công

chiếu sáng, trồng cây xanh

trình giao thông khu phố, giao thông nông thôn. Thi công hệ thống điện trung thế có hiệu điện thế từ 35 KV trở xuống. (5). Trang thiết bị: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh tại Tp. Biên Hoà được thu gom, vận chuyển và xử lý tại bãi rác Trảng Dài nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km. Đến năm 2005, có 25/26 phường, xã hợp đồng với Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà (URENCO Biên Hoà) thu gom, vận chuyển rác công cộng, với số lượng rác thu gom được 75% so với số lượng rác thực tế (Ngoại trừ P. Long Bình Tân do HTX TM-DV Long Biên thu gom). Phần rác còn lại do khu phố tại một số phường, xã tự tổ chức thu gom và hợp đồng với Công Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà để vận chuyển, một phần do dân bỏ rác tại các điểm tập trung, nhưng chưa đăng ký với Công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị Biên Hòa, nên tạo nên các ụ rác tự phát trên các khu phố hoặc người dân tự xử lý rác tại đất của gia đình. Trong năm 2006, Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà thực hiện thu gom với tỷ lệ đạt trên 85,84% so với tổng lượng rác thải, khối lượng thu gom đạt 282 tấn/ngày (năm 2005 thu gom đạt 270 tấn/ngày), tỉ lệ thu gom rác tại các phường nội ô đạt 95% và các phường ngoại ô thu gom đạt 75%, đồng thời tiến hành đặt 210 thùng rác công cộng dọc một số tuyến đường chính, khu vực công cộng, khu vui chơi giải trí để thu gom rác, tránh việc vứt rác trên đường phố gây mất mỹ quan đô thị. Ngoài ra, để thuận tiện việc thu gom rác và tạo vẻ đẹp môi trường vào ban ngày, Công ty đã thực hiện thu gom rác đêm tại 08 phường nội ô Tp. Biên Hòa, đồng thời

6

triển khai mô hình thu gom phân loại rác thải tại nguồn và được thành phố ủng hộ triển khai đại trà. Với tổng số 2 xe ben 8 tấn; 1 xe ben 4 tấn; 17 xe chuyên dùng ép rác có trọng lượng từ 2 đến 13 tấn; 2 xe cẩu thùng rác; 20 xe Daihatsu và 105 xe đẩy tay, Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà thu gom bình quân khoảng 400 – 500 m3 rác/ngày tại 15 địa điểm trung chuyển trên địa bàn thành phố về bãi rác Trảng Dài. Tuy nhiên, do bãi rác Trảng Dài thuộc đối tượng xử lý theo Quyết định số 64 của Thủ tướng Chính phủ, nên Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hoà đã đầu tư xây dựng các công trình xử lý ô nhiễm CTRSH, chất thải rắn không nguy hại (CTRKNH) và nước rò rỉ. Theo kế hoạch đến tháng 12/2006 Công ty đã đầu tư xây dựng hoàn thành các công trình xử lý ô nhiễm và lập thủ tục xác nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm. Công ty đã triển khai dự án xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh CTRSH và CTRKNH tại bãi rác Trảng Dài trên khu đất quy hoạch rộng 15 ha, với tổng số 07 gói thầu cho 09 hố chôn lấp rác thải sinh hoạt và 05 hố chôn lấp CTKNH. Hiện nay, Công ty đã thực hiện và hoàn tất 06 hố chôn gồm SH 7, SH 6, SH 5, CN 1, CN 2, CN 3 và đưa vào vận hành thử trạm xử lý nước rỉ rác với công suất 80 m3/ngày.đêm. Dự kiến, Công ty sẽ tiếp tục đầu tư Nhà máy chế biến rác thành phân compost với công suất 500 tấn/ngày nhằm xử lý triệt để ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại bãi rác này. Theo quy hoạch các bãi rác thải sinh hoạt của tỉnh đến năm 2020, thì vào năm 2010 bãi rác Trảng Dài sẽ bị đóng cửa hoàn toàn, nên thành phố Biên Hoà sẽ tổ chức nghiên cứu lựa chọn và quy hoạch địa điểm xây dựng bãi rác sinh hoạt mới để đưa vào sử dụng kịp thời sau năm 2010. Khối lượng trung bình chất thải công nghiệp thu gom, xử lý tại bãi rác Trảng Dài bởi Công ty URENCO Biên Hoà từ 4 KCN ở TP.Biên Hoà (Biên Hoà I, Biên Hoà 2, Loteco, Amata) trong năm 2006 là 144 tấn/ngày, tương ứng tỷ lệ thu gom CTRCN không nguy hại là khoảng 70 – 80%. Tổng lượng CTNHCN trên địa bàn thành phố Biên Hoà do Công ty URENCO Biên Hoà thu gom, xử lý ước tính bằng

7

khoảng 38,4 tấn/ngày, tương ứng tỷ lệ thu gom xử lý CTNH công nghiệp đạt 40 60%. Ngoài ra, theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh Đồng Nai, trong giai đoạn 2001 – 2005 tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải y tế đạt khoảng 65,2% với lượng rác thải y tế thu gom và xử lý được ở các bệnh viện và các cơ sở y tế công lập trên địa bàn Tp. Biên Hoà là khoảng 103,5 tấn/năm. Trong năm 2006, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải y tế đạt khoảng 70%, tương ứng khoảng 111,1 tấn/năm. Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa đã kết hợp với Sở Y tế tỉnh Đồng Nai tổ chức thực hiện Đề án : thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại Tp. Biên Hòa làm mô hình điểm và nhân rộng trên địa bàn tỉnh trên cơ sở xã hội hoá dịch vụ và phí xử lý chất thải y tế. Thành phố đã làm việc cùng các ngành liên quan của tỉnh, thành phố về việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ thu gom, vận chuyển xử lý chất thải y tế tư nhân trên địa bàn Tp. Biên Hòa. Qua đó, các ngành và thành phố đã thống nhất báo cáo xin ý kiến UBND tỉnh Đồng Nai và được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương cho Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế công lập và tư nhân trên địa bàn thành phố. Hiện nay, Công ty Dịch vụ Môi trường đô thị Biên Hòa đang xây dựng phương án trình các cấp để triển khai thực hiện. Công ty Phát triển KCN Biên Hoà (SONADEZI) (và Xí nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI) (1). (2). (3). (4). Tình trạng công ty : Doanh nghiệp nhà nước Ngày thành lập : 15 tháng 12 năm 1990 (Đã sửa đổi bổ sung ngày 29 tháng 2 Số lượng nhân viên của Xí nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI : 17 người Chức năng và nhiệm vụ SONADEZI (Tóm tắt chức năng nhiệm vụ của Xí Theo Quyết định số 2335/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Nai ngày 29 tháng 02 năm 2005, SONADEZI có chức năng và nhiệm vụ như sau: a). SONADEZI

năm 2005)

nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI)

8

Khôi phục, nâng cấp, phát triển và kinh doanh các công trình kỹ thuật hạ

tầng, công trình tiện ích công cộng Khu Công nghiệp Biên Hoà I. Đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà ở An Bình. – Xây dựng, quản lý, và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN Biên Hoà II, KCN Gò Dầu, KCN Long Thành, và liên doanh với công ty Bangpakong Industrial Park II Co., Thái Lan để xây dựng Khu công nghiệp Long Bình hiện đại (AMATA). – Dịch vụ tư vấn một cửa và triển khai thực hiện dự án sau khi nhận được giấy phép Đầu tư cho các nhà Đầu tư trong Khu Công nghiệp Biên Hoà I, KCN Biên Hoà II, KCN AMATA. – – – thải. – b). Phát triển nguồn nhân lực: đào tạo và cung cấp các lập trình viên quốc tế, Xí nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI Theo giấy phép số 19/GP-TNMT ngày 17/01/2006 về quản lý chất thải nguy hại của Sở Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai, Xí nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI có chức năng và nhiệm vụ sau đây : – – – (5). a).
– –

Khảo sát, lập bản đồ hiện trạng, thiết kế và thi công các công trình xây dựng Liên danh với công ty Namfatt (VN) SND BHD – Malaysia để chế tạo và lắp Cung cấp dịch vụ quản lý môi trường: thu gom, vận chuyển và xử lý chất

công nghiệp và dân dụng, cho thuê nhà xưởng xây sẵn. dựng các cấu kiện thép dùng trong xây dựng.

chuyên viên kỹ thuật cấp cao cho các khu công nghiệp.

Bảo vệ, kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Thực thi Quy định về quản lý chất thải nguy hại. Thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại phù hợp với chứng từ kê khai chất Trang thiết bị của Xí nghiệp Dịch vụ KCN SONADEZI KCN Biên Hoà II Kho bãi lưu giữ chất thải : 1.000 m3 Trạm xử lý hóa lý chất thải lỏng : 1.875 m3

thải nguy hại.

9

– b).

Lò đốt chất thãi : 200 tấn/năm Khu liên hợp chôn lấp chất thải Giang Điền Kho lưu giữ chất thải : 3.000 m3 Khu xử lý hóa rắn chất thải : 200 tấn/năm Khu chôn lấp chất thải vô cơ và hữu cơ : 25.800 m3 Khả năng thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại Xe cẩu thùng 3.0 tấn Xe cẩu thùng 3.5 tấn Xe tải cẩu 3.4 tấn Xe bồn 13.6 tấn Xe tải 11 tấn Xe tải 0.75 tấn Mô hình doanh nghiệp tư nhân : Hiện nay tại khu vực phía Nam đã hình


c). – – – – – –

thành rất nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân với chức năng thu gom, tái chế, xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại (Ví dụ : Công ty TNHH Sao Mai Xanh, Tân Đức Thảo, Việt Úc, Môi Trường Xanh, Sông Xanh, Tân Phát Tài ...) Mô hình doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Tân Phát Tài (1). (2). (3). (4). Tình trạng công ty : Tư nhân Ngày thành lập : Ngày 15 tháng 1 năm 2003 Số lượng nhân viên : 175 Chức năng và nhiệm vụ : Theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 028374 được cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư ngày 15 tháng 1 năm 2003 và giấy phép số 02/GP-TNMT về quản lý chất thải nguy hại được cấp bởi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai ngày 07 tháng 01 năm 2004, DNTN Tân Phát Tài hoạt động với chức năng và nhiệm vụ sau đây: – hại. Thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải công nghiệp nguy hại và không nguy

10

– (5). a).

Xử lý và tiêu huỷ chất thải công nghiệp nguy hại và không nguy hại, bao Trang thiết bị : Kho chứa B752 tại phường Long Bình, TP Biên Hoà Có khả năng tái chế làm chất hữu cơ : 10 m3/tháng Thiêu huỷ chất thải công nghiệp :53.6 tấn/tháng Làm sạch và tái sử thùng chứa đã sử dụng :500 kg/tháng Cơ sở tại xã Thạnh Phú , huyện Vĩnh Cửu. Trung tâm Phát triển và tái chế phế liệu giày da: 200 tấn/tháng Nhà máy thiêu huỷ phế liệu giày da: 500 kg/h Mô hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài : Công ty Liên doanh Xi

gồm chất thải tái sinh, tái chế và tái sử dụng.

– – b). – –

măng Holcim Việt Nam (Kiên Giang) được Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép tiến hành dịch vụ. Công nghệ đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng (1). Xuất xứ công nghệ (trong nước/nước ngoài) : Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực nghiệm của công ty Xi măng Holcim (Thụy Sĩ) đã có mặt trên 70 quốc gia như Mỹ, Tây Ban Nha, Thái Lan, Pháp, Đức, Hàn Quốc.. (2). Nội dung công nghệ (tóm tắt): Công nghệ đồng xử lý chất thải trong lò nung xi măng dựa trên cơ sở sử dụng chất thải làm nguyên nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng phù hợp với loại lò nung hiện đại, đó là kiểu lò quay có lắp đặt hệ thống thiết bị thiêu đốt chất thải. Với thời gian lưu cháy lâu hơn (6 - 10 giây) và nhiệt độ cao hơn (1.400 2.000oC) so với lò đốt chất thải chuyên dụng, đồng thời tính kiềm của xi măng trong lò nung xi măng sẽ trung hòa axit clohydric và các axit dạng khí khác sinh ra trong quá trình đốt cháy chất thải, lò nung xi măng là một loại lò đạt hiệu suất phá hủy rất cao cũng như hiệu quả làm sạch khí thải ưu việt và lý tưởng trong việc thiêu đốt chất thải. (4). Nơi triển khai công nghệ: Nhà máy xi măng Holcim Hòn Chông. Địa chỉ cơ sở: Quốc lộ 80, Xã Bình An, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang.

11

(5). − − − −

Thiết bị chính: Lò xi măng: Lò quay xi măng hệ khô 4.500 tấn/ngày Máy cắt: Máy cắt loại có băng tải quay dành cho việc cắt nhỏ chất thải theo Hệ thống nạp chất thải dạng lỏng : Hệ thống thùng chứa và nạp liệu 5 tấn/giờ. Phễu bột sống : Là hệ thống dạng phễu nhận lấy một lượng chất thải cho vào Bộ phận máng nạp liệu (Apron Feeder): Hệ thống phễu và lấy chất thải, cung Thang máy vận chuyển: Loại thang máy ngành xây dựng dành cho việc vận Kho lưu giữ tạm thời, tiền xử lý CTNH: Diện tích 700m2. Mô hình tự quản : Hiện nay, tại vùng nghiên cứu có một số công ty với lọai

kích thước phù hợp 10 tấn/giờ.

máy nghiền bột sống. cấp số lượng chất thải tự động 5 tấn/giờ. −

chuyển chất thải vào nơi nạp liệu 15 tấn/giờ.

hình tự quản (đối với CTRCN và CTNH), các công ty này tự đăng ký chủ nguồn thải và tự đầu tư xây dựng lò đốt để xử lý. Ví dụ, các Công ty Syngenta (KCN Biên Hòa 2) và Bayer (KCN Amata) trước kia có hệ thống xử lý CTNH từ quá trình sản xuất thuốc BVTV theo phương pháp lò đốt nhiệt độ cao để xử lý các bao bì thải, dung môi hữu cơ và các sản phẩm quá hạn. Tuy nhiên, hiện nay lò đốt rác của Công ty Bayer đã ngưng hoạt động. Mô hình liên kết : Hiện nay, tại vùng nghiên cứu có lọai hình này. Các công ty liên kết với nhau theo hình thức: Chất thải của Công ty A là nguyên liệu sản xuất của Công ty B (Ví dụ : chất thải của các nhà máy bao bì là nguyên liệu của nhà máy sản xuất giấy …). Các ví dụ điển hình của mô hình liên kết là mô hình doanh nghiệp, KCN, CCN thân thiện môi trường (FEIP) và sinh thái (EIP) trên cơ sở thiết lập hệ thống trao đổi chất thải hai chiều giữa các nhà máy, doanh nghiệp, KCN, CCN hoặc trên thị trường trao đổi chất thải, sẽ góp phần giảm thiểu chất thải rắn công nghiệp và nguy hại, tìm kiếm các lợi ích cao hơn về kinh tế và môi trường, tiến tới việc thiết lập hệ thống sinh thái công nghiệp (IEs) trên cơ sở các mối quan hệ cộng sinh nội lực giữa các nhà máy, doanh nghiệp, KCN, CCN. Các mô hình

12

khu công nghiệp sinh thái điển hình trên thế giới như : KCN sinh thái Kalundborg (Đan Mạch); Dự án xây dựng KCN sinh thái Burnside, Nova Scotia, Canađa; Dự án KCN sinh thái Fairfield, Baltimore, Maryland, USA; Dự án cảng công nghiệp phát triển bền vững Cape Charles, Eastville, Northampton County, Virginia, USA; Dự án KCN sinh thái Brownsville, Brownsville, Texas, USA,... Ở nước ta các mô hình sinh thái công nghiệp đang từng bước được ứng dụng và triển khai tại KCN Bắc Thăng Long (Hà Nội), KCN Khai Quang (Vĩnh phúc), KCN Biên Hoà 2 (Đồng Nai), KCN Đức Hoà I - Hạnh Phúc (Long An),... Ngoài ra, trên địa bàn phía Nam còn có hàng trăm tổ hợp, hợp tác xã và hộ tư nhân tiến hành dịch vụ tái sinh, tái sử dụng chất thải (Ví dụ ở TP.HCM có khoảng 500 đơn vị, Đồng Nai có khoảng 50 đơn vị …). 1.2.3. Khả năng áp dụng kinh nghiệm của thế giới vào điều kiện thực tế của Việt Nam và vùng nghiên cứu Như vậy, trên đây đã tổng kết các kinh nghiệm khá đa dạng và phong phú trên thế giới cũng như tại Vùng nghiên cứu về quản lý và xử lý chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại trong nhiều lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh tế và thành phần kinh tế. Với điều kiện của Việt Nam hiện tại, việc học tập kinh nghiệm của các nước phát triển là điều rất cần thiết. Ở Việt Nam, việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTRCN, CTNH không đồng bộ, hiện tại số lượng các doanh nghiệp tiến hành khép kín từ khâu thu gom, vận chuyển, lưu giữ đến khâu xử lý cuối cùng là không nhiều. Các doanh nghiệp hiện nay hầu hết chỉ thực hiện công đoạn vận chuyển và xử lý, nhất là xử lý CTNH, việc thu gom thường do các chủ nhà máy, cơ sở sản xuất tự thu gom, lưu giữ trong phạm vi nhà máy rồi mới chuyển giao cho các đơn vị đem đi xử lý. Việt Nam cần phải kết hợp, chuyển giao các mô hình khép kín toàn diện của các nước tiên tiến. Khuyến khích các doanh nghiệp hiện hữu cải tiến, đầu tư thêm các trang thiết bị để có thể tiến hành tất cả các công đoạn trong quy trình dịch vụ,

13

từng bước hoàn thiện mô hình dịch vụ thu gom và xử lý CTRCN và CTNH sao cho phù hợp nhất với điều kiện của nước ta hiện nay. Đối với vùng nghiên cứu, bao gồm các tỉnh TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, là các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam, công nghiệp đang rất phát triển, nhiều khu công nghiệp đang hoạt động và nhiều KCN mới đầy tiềm năng đang hình thành trong khu vực. Cùng với việc công nghiệp phát triển gia tăng kéo theo các dịch vụ hỗ trợ cũng tăng, số lượng các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thu gom, xử lý các CTRCN tăng nhanh chóng và nhu cầu về một mô hình thu gom và xử lý CTRCN hoàn thiện là một nhu cầu cấp bách. Chính quyền địa phương của các tỉnh cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoàn thiện quy trình dịch vụ của mình, đó cũng là cách tốt nhất để bảo vệ môi trường, giảm thiểu lượng CTR, đặc biệt là CTNH thải ra gây ô nhiễm môi trường.

14

Chương 2

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1.

2.2.

2.3.

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU. KHẢO SÁT, ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU. PHÂN LOẠI CÁC MÔ HÌNH, ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA TỪNG LOẠI MÔ HÌNH.

15

2.2.

KHẢO SÁT, ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH

DỊCH VỤ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.2.1. Thực trạng tình hình dịch vụ thu gom, xử lý CTRCN và CTNH tại vùng nghiên cứu (1). Hiện trạng quản lý CTRCN và CTNH tại vùng nghiên cứu
• Thu gom :

Hiện nay CTRCN và CTNH tại khu vực được thu gom bằng đủ các loại phương tiện hiện có khác nhau (xe ô tô, xe ba gác …), rác hầu như chưa được phân loại tại nguồn, được chứa trong các bô rác tự tạo (sô, chậu …), sau đó được lưu trữ tạm thời tại các bãi trung chuyển. Chưa có một quy định nào về thủ tục đăng ký hoạt động thu gom, ban hành quy phạm kỹ thuật đối với phương tiện thu gom và phương tiện lưu trữ tạm thời. • Vận chuyển : Hiện nay CTRCN và CTNH được chuyên chở từ nơi phát sinh tới nơi lưu giữ, xử lý, tiêu huỷ bằng các xe thô sơ gây mùi hôi thối và rơi vãi dọc đường. Chưa có một quy định nào về thủ tục đăng ký vận chuyển, ban hành quy phạm kỹ thuật đối với phương tiện vận chuyển và phương tiện bốc xếp lên xuống, các trang bị tối thiểu khi xảy ra sự cố trong quá trình vận chuyển. • Quá cảnh : Hiện nay Nhà nước, cũng như các địa phương chưa quy định về thủ tục xin phép quá cảnh, ban hành quy phạm kỹ thuật đối với phương tiện quá cảnh và các trang bị an toàn phòng chống sự cố khi vận chuyển CTRCN và CTNH qua biên giới 1 địa phương hay 1 quốc gia. • Lưu giữ : Hiện nay Nhà nước, cũng như các điạ phương chưa ban hành Hướng dẫn lưu giữ và bảo quản an toàn CTRCN và CTNH trong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi vận chuyển đến nơi xử lý, tiêu huỷ bao gồm các yêu cầu khi đóng gói chất thải (loại chất thải, loại thùng chứa phù hợp, vật liệu chế tạo thùng, ghi nhãn

16

hiệu …), yêu cầu kỹ thuật đối với khu vực lưu giữ, các quy định về an toàn khi lưu giữ (thiết bị, biển báo). • Xử lý: Xử lý CTRCN và CTNH là quá trình sử dụng công nghệ hoặc biện pháp kỹ thuật làm thay đổi các tính chất và thành phần chất thải nhằm làm mất hoặc làm giảm mức độ gây nguy hại. Thời gian qua, tại các điạ phương đã hình thành một số cơ sở tư nhân xử lý chất thải nhằm thu hồi, tái chế, tái sử dụng chất thải. Tuy nhiên, các điạ phương chưa ban hành về quy phạm và thủ tục đăng ký đối với 1 cơ sở xử lý chất thải. • Tiêu huỷ : Tiêu huỷ CTRCN và CTNH là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập chất thải, làm mất khả năng gây nguy hại. Thời gian qua, tại các điạ phương đã quy hoạch và đưa vào sử dụng một số bãi chôn lấp chất thải. Hiện nay, một phần CTRCN và CTNH được thu gom và xử lý bằng biện pháp đổ đống. Theo phương án này rác từ các xe ép rác, xe ben được đổ xuống thành đống và được máy ủi san gạt, định kỳ phun thuốc diệt ruồi và chế phẩm EM để hạn chế mùi hôi. Các bãi rác trong khu vực các đô thị chủ yếu do Công ty Xử lý chất thải quản lý. Các bãi rác này đã được đầu tư từng bước để cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường. (2). Các tổ chức, đơn vị thu gom và xử lý CTRCN, CTNH tại vùng nghiên cứu Danh sách các công ty, đơn vị, tổ chức thực hiện thu gom và xử lý CTRCN, CTNH tại khu vực nghiên cứu được đưa ra trong bảng 2.1. Bảng 2.1. Một số công ty, tổ chức thu gom và xử lý CTRCN, CTNH tại khu vực nghiên cứu Stt Đơn vị thu gom Địa chỉ 01 Công ty Dịch vụ Môi Đồng Nai trường Đô thị Biên 02 Hoà - URENCO Công ty Phát triển Đồng Nai Hình thức xử lý - Thu gom CTRCN Công suất 1.990 tấn/tháng - Đốt dung môi hữu 63 tấn/năm

17

KCN

Biên

Hoà

cơ, hoá chất, dầu mỡ - Chôn lấp bùn thải nước có nguồn gốc phòng thí nghiệm 4.122 tấn/năm - Xử lý chất thải gốc 139 tấn/năm

(SONADEZI)

03

Bệnh viện Lao tỉnh Đồng Nai Đồng Nai

04

DNTN Tân Phát Đồng Nai Tài

- Tái chế chất thải 10 m3/tháng làm chất hữu cơ - Thiêu hủy chất thải 53.6 tấn/tháng công nghiệp/phế - 500 kg/h kg/tháng liệu giày da - Tái sử dụng thùng 500 chứa/ tái chế phế 200 tấn/tháng

05

Công ty TNHH Sao Tiền Giang Mai Xanh

liệu giày da - Thu gom, vận 113.000 chuyển CTNH - Tái chế dung môi tấn/năm 1,5 tấn/ ngày

06

Công ty cổ phần KCN (Vinausen)

- Thiêu hủy CTNH 2,5 tấn /ngày Minh - Tái chế dầu hoặc 1.500 tấn/năm dung môi hữu cơ - Thiêu đốt chất thải 3.000 tấn/năm

Môi trường Việt Úc Xuân – TP.HCM

07

Công

ty

TNHH KCN

công nghiệp Minh - Tái chế

chất 2 tấn/8h ca

Môi trường xanh

Xuân – TP.HCM

thải/dung môi HC - Thiêu đốt chất thải 210 kg/h

08

công nghiệp Công ty TNHH Tân Xã Phạm Văn Hai - Tái chế dung môi Đức Thảo , H. Bình Chánh, hữu cơ TP.HCM - Thiêu đốt chất thải 100 kg/h

18

09 10

Công

ty

công nghiệp TNHH Xã Binh Y, huyện Tái sinh/tái chế/tái 2 tấn/ngày

Thảo Thuận Củ Chi, TP.HCM sử và xử lý chất thải Công ty Lê Hoàng Phường Linh Tái sinh/tái chế/tái 5 tấn/tháng Tuấn Trung, Quận Thủ sử dụng chất thải

Đức, TP.HCM 2.2.2. Hiện trạng thu gom, xử lý CTRCN, CTNH tại tỉnh Đồng Nai (1). Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại Đối với chất thải rắn công nghiệp có khả năng tái sinh (tạm gọi là phế liệu công nghiệp): được giao cho các đơn vị tư nhân phân loại, tái chế và giao cho các đầu mối tại TP. HCM. Hiện nay với chủ trương xã hội hóa công tác thu gom và xử lý chất thải rắn, theo số liệu thống kê, có khoảng 50 đơn vị kinh doanh phế liệu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh và trên dưới 06 doanh nghiệp khác thuộc thành phố Hồ Chí Minh có chức danh kinh doanh và xử lý chất thải công nghiệp, chưa kể hàng trăm điểm thu gom phế liệu công nghiệp không đăng ký với các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương sở tại nằm rãi rác khắp địa bàn Tỉnh. Các công ty, tổ chức chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải rắn công nghiệp ở Đồng Nai bao gồm : Công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị Biên Hoà, Công ty Phát triển KCN Biên Hoà (SONADEZI), Bệnh viện Lao tỉnh Đồng Nai, DNTN Tân Phát Tài, Công ty TNHH Sao Mai Xanh (Tiền Giang), Công ty cổ phần Môi trường Việt Úc, Công ty TNHH Môi trường xanh, Công ty TNHH Tân Đức Thảo, Công ty TNHH Thảo Thuận và Công ty Lê Hoàng Tuấn. Theo báo cáo quy hoạch của Sở TN&MT Đồng Nai, năm 2005, khối lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại ước tính là 140.000 tấn/năm, với thành phần chủ yếu là bùn thải công nghiệp, sản phẩm điện trở bằng sứ, bảng mạch in, phế phẩm giày da, … Đối với chất thải công nghiệp không nguy hại có khả năng tái chế bao gồm: gỗ, nilon, nhôm, đồng, sắt, thép phế liệu, vải vụn, … Chỉ tính riêng 153/1.000 chủ nguồn thải đã đăng ký đạt 4661,76 tấn/ tháng trong năm 2005.

19

(2). Chất thải nguy hại Khối lượng chất thải rắn công nghiệp nguy hại ước tính trong năm 2005 là. 20.000 tấn/năm. Chất thải nguy hại phát sinh từ các đơn vị công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai rất đa dạng, chủ yếu từ các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, giày da, điện-điện tử, ắc quy, thuốc bảo vệ thực vật, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng ...Trong đó ngành cơ khí, giày da, điện-điện tử, vật liệu xây dựng chiếm tỉ lệ rất lớn 90%. Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 03 đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại. Ngoài ra, còn có sự tham gia của 05 đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại đăng ký tại Tp. Hồ Chí Minh:
a) Về hoạt động thu gom vận chuyển chất thải nguy hại trên địa bàn Tỉnh,

có 05 đơn vị: Công ty TNHH Môi trường Xanh, Công ty TNHH Tân Đức Thảo, Công ty TNHH Thảo Thuận và Công ty cổ phần Môi trường Việt Úc. Các đơn vị này với chức năng thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại trên địa bàn Đồng Nai và đưa về Tp. Hồ Chí Minh phân loại, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại. Định kỳ hàng năm được Sở TN&MT Tp.HCM xác nhận và nghiệm thu về môi trường đối với hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy CTNH. Theo báo cáo định kỳ hàng năm, tổng khối lượng chất thải nguy hại do các đơn vị này thu gom, lưu giữ, xử lý và tiêu hủy tại Đồng Nai ước khoảng 1.500 tấn/năm.
b) Về hoạt động lưu giữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại trên địa bàn

Tỉnh, có 03 doanh nghiệp gồm: Xí nghiệp dịch vụ Khu công nghiệp Sonadezi, DNTN Tân Phát Tài và Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Đồng Nai. Theo báo cáo hàng năm, tổng khối lượng chất thải nguy hại do các đơn vị này lưu giữ, xử lý và tiêu hủy tại Đồng Nai vào khoảng 1.500 tấn/năm. Về cơ bản, các đơn vị này đều đã thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, chương trình giám sát chất lượng môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại bất cập như công đoạn phân loại, thu gom, vận chuyển, chất thải nguy hại chưa được xử lý triệt để,

20

quá trình hoạt động xử lý, tiêu hủy không hoàn toàn đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định. 2.2.3. Hệ thống thu gom, xử lý CTRCN & CTNH ở TP.HCM Hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 20 đơn vị thu gomvận chuyển-xử lý CTRCN-CTNH. Đây là các đơn vị hoạt động trên tiêu chí bảo vệ môi trường và được Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cấp phép. Trong đó, có một số đơn vị như Công ty Môi Trường Xanh, Công ty Việt Úc, Công ty Tân Đức Thảo, Công ty Lê Hoàng Tuấn, Công ty Thảo Thuận,… có công đoạn xử lý CTNH cuối cùng bằng phương pháp hóa rắn. Đây là khâu tiền xử lý rất quan trọng trước khi đưa đi chôn lấp. (1). Hệ thống thu gom Hiện nay chưa có một hệ thống thu gom CTRCN&CTNH chính thức cho TP.HCM, vì vậy hoạt động này còn nhiều bất cập. Xuất phát từ thực tế, việc thu gom CTRCN-CTNH là một nhu cầu cấp bách, không thể thiếu. Những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế ở TP.HCM phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 7- 8%. Điều này cho chúng ta thấy rằng môi trường ở TP.HCM cũng đang bị tác động mạnh mẽ theo hướng chất lượng môi trường ngày càng giảm. Công nghiệp phát triển tất yếu luợng chất thải công nghiệp phát sinh ngày càng nhiều. Theo thống kê và ước tính hiện nay, hàng ngày TP.HCM phát sinh từ 1.0002.000 tấn CTRCN. Nhưng do chưa có hệ thống thu gom chính thức được Nhà nước quản lý, nên hiện nay hình thành một thị trường thu gom CTCN-CTNH mang tính tự phát. Từ đó hình thành nên một đội ngũ thu gom mà thường được gọi là những người thu mua ve che. Nhưng hoạt động này chỉ thu gom những loại phế thải có thể tái sinh tái chế tập trung về các vựa ve chai phân loại, sau đó được chuyển đến các cơ sở tái sinh tái chế. Một số đơn vị có thể tái sinh tái chế ngay tại nơi sản xuất, những chất thải không thể tái tái chế họ tập trung theo rác sinh hoạt hoặc tự giải quyết vấn đề phát thải tại đơn vị của mình là không thể chấp nhận được.

21

Hiện nay tại các KCN, KCX, việc thu gom CTRCN hầu hết do Công ty Môi trường Đô thị Thành Phố đảm trách, còn lại do Đội Vệ sinh Công cộng (VSCC) quận huyện và một số đơn vị thu gom tư nhân đảm trách. Đối với các đơn vị sản xuất ngoài KCN, KCX, việc thu gom chất thải hiện nay do một số đơn vị thu gom tư nhân thực hiện, nhưng số lượng còn quá ít so với nhu cầu thực tế trên địa bàn TP.HCM. Một số đơn vị sản xuất tự vận chuyển chất thải của mình đến các cơ sở tái sinh tái chế hoặc đến các đơn vị xử lý tiêu huỷ, nhưng cũng chỉ là số lượng rất nhỏ. Vì vậy, để phục vụ cho việc quản lý CTRCN&CTNH của các cơ quan chức năng và đáp ứng nhu cầu cấp bách cho vấn đế phát thải công nghiệp trên địa bàn TP.HCM, nhất thiết phải nhanh chóng quy hoạch hệ thống thu gom CTRCN&CTNH. (2). Hệ thống vận chuyển Hiện nay việc vận chuyển CTRCN&CTNH chưa hình thành hệ thống rõ ràng và cũng chưa có quy hoạch cụ thể trên địa bàn TP.HCM. Do đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay, việc vận chuyển cũng hình thành một thị trường tự phát. Vận chuyển CTRCN&CTNH tại các KCN, KCX do Công ty Môi trường Đô thị TP.HCM và Đội VSCC đảm trách, ngoài KCN, KCX hầu như do các đơn vị tư nhân đảm trách. Hệ thống vận chuyển chưa hình thành độc lập mà thường gắn liền với việc thu gom, xử lý và tiêu huỷ. (3). Hệ thống phân loại, thu mua, thu gom, tái sử dụng, tái sinh và tái chế (3.1). Phân loại: Phân loại CTRCN&CTNH hiện nay chủ yếu là tách các loại phế phẩm mà có thể tái sinh tái chế được để cung cấp cho các cơ sở tái sinh tái chế nhằm tiết kiệm nguyên liệu tối đa cho sản xuất công nghiệp trên địa bàn Tp.HCM. Tham gia hoạt động này gồm các đối tượng sau:

Chủ nguồn thải: phân loại chất thải phát sinh tại đơn vị. Một số đơn vị tái

sinh được phế liệu của mình như ngành nhựa, tái sinh nhớt, ngành giấy… Còn những đơn vị không thể tái sinh tại chổ được thì phân loại chủ yếu là để bán phế liệu nhằm thu lại một khoảng tiền tiết kiệm cho đơn vị.

22

Cơ sở thu mua ve chai: trên địa bàn Tp.HCM có rất nhiều cơ sở thu mua ve

chai. Các cơ sở này hoạt động rất rầm rộ, tự phát, đôi khi không kiểm soát được. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến đến vệ sinh môi trường đô thị trong Thành phố. Hoạt động của các cơ sở thu mua ve chai chủ yếu là phân loại lại một lần nữa các phế liệu, sau đó bán cho các đơn vị sản xuất, hoặc các cơ sở tái sinh tái chế.

Đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ CTRCN&CTNH: hiện nay các

đơn vị này hoạt động dưới sự cấp phép và giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường Tp.HCM. Các hoạt động của các đơn vị này có tính chuyên môn cao hơn, bảo đảm an toàn về mặt bảo vệ môi trường. Các đơn vị này thu gom tất cả các loại CTRCN&CTNH, sau đó phân loại: phần chất thải có thể tái sinh tái chế bán cho các đơn vị tái sinh tái chế. Phần chất thải được xem là nguy hại hoặc có tính nguy hại thì được xử lý, tiêu huỷ theo đúng kỹ thuật bảo vệ môi trường; phần chất thải không nguy hại, dễ phân huỷ thì chôn lấp tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh. (3.2). Thu mua: việc thu mua CTRCN&CTNH hiện nay trên địa bàn Tp.HCM chủ yếu là các đơn vị tái sinh tái chế, các cơ sở thu mua ve chai. Tuy nhiên việc mua bán này chưa thể hiện về mặt số lượng cũng như mặt quản lý trên các chứng từ hợp lệ. (3.3). Thu gom: Hoạt động thu gom thường kết hợp với các hoạt động như vận chuyển, lưu giữ, phân loại, xử lý, tiêu huỷ. Khác với việc thu mua, các chủ nguồn thải phải trả chi phí cho các đơn vị thu gom. (3.4). Tái sử dụng, tái sinh và tái chế: việc tái sử dụng CTRCN&CTNH được thực hiện chủ yếu tại đơn vị sản xuất. Thường là các trang thiết bị, các công cụ, dụng cụ sử dụng trong quá trình sản xuất, không sử dụng được trong công đoạn này nhưng có thể tái sử dụng được trong công đoạn khác. Tái sinh tái chế phế liệu công nghiệp (bao gồm cả phế liệu công nghiệp nguy hại và không nguy hại) là hoạt động sản xuất phát sinh sau sản xuất công nghiệp, do nhu cầu tiết kiệm chi phí cho nguyên liệu sản xuất nhằm giảm giá thành. Ở

23

Tp.HCM, hoạt động tái sinh tái chế hiện nay là thị trường tự phát, không có quy hoạch và quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Do đó về qui mô công nghệ còn lạc hậu, thành phần và số lượng chưa được kiểm soát, gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước. (4). Hệ thống xử lý chất thải Hiện nay, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp cũng như hệ thống xử lý CTNH còn rất ít, và chỉ có tư nhân đầu tư, về phía nhà nước chưa có xây dựng khu xử lý chất thải công nghiệp, CTNH. Trên địa bàn Thành phố có khoảng 20 đơn vị tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ chất thải công nghiệp, CTNH. Trong đó chỉ có 2 công ty đuợc xem như là đạt yêu cầu về mặt bảo vệ môi trường, cũng như về quy mô kỹ thuật công nghệ, tuy nhiên công suất xử lý còn rất thấp, không đáp ứng được nhu cầu cho thành phố hiện nay. Còn lại những công ty khác hoạt động chủ yếu là phân loại, kinh doanh phế liệu, kỹ thuật công nghệ còn rất thô sơ, không đảm bảo an toàn về bảo vệ môi trường. (5). Bãi chôn lấp an toàn Do chưa có quy hoạch hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ CTRCN&CTNH nên hiện nay chưa có bãi chôn lấp an toàn. Các chất thải nguy hại chủ yếu được xử lý bằng phương pháp đốt, đóng rắn hoặc cố định sau đó chôn lấp theo rác sinh hoạt. Tuy nhiên hoạt động này là lén lút bất hợp pháp. 2.2.4. Hiện trạng rác thải công nghiệp tỉnh Bình Dương Hiện nay tỉnh Bình Dương có tổng cộng 17 khu công nghiệp đã quy hoạch và một số khu công nghiệp đã bắt đầu đi vào hoạt động. Chất thải rắn từ các KCN bao gồm chất thải rắn sản xuất và rác thải sinh hoạt của cán bộ, công nhân viên làm việc trong các khu công nghiệp. Có thể ước tính tải lượng các chất thải rắn dựa vào hệ số thực nghiệm như sau : –

Tốc độ thải chất thải rắn sản xuất tại các khu công nghiệp tập trung là 40 Tốc độ thải rác sinh hoạt của cán bộ, công nhân viên trong các nhà máy của

kg/ha/ngày, trong đó có 20% là chất thải độc hại. KCN là 150 kg/người/năm.

24

Như vậy, khối lượng rác thải công nghiệp của các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương tới năm 2010 sẽ là 213,67 tấn/ngày. Nếu giả thiết lượng rác thải công nghiệp tăng lên hàng năm trong các giai đoạn là đều thì tổng lượng rác thải từ các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương giai đoạn từ năm 1998 - 2010 sẽ là 569.401,5 tấn, trong đó rác thải độc hại là 113.880,3 tấn. Lượng CTRCN thường được các công ty thu gom và chuyển đến một số đơn vị có chức năng trong khu vực xử lý (như một số đơn vị ở TP.HCM là công ty Tân Đức Thảo, Công ty Thành Lập, …). Đối với việc quản lý chất thải rắn, Bình Dương cũng đã quy hoạch 75 ha và đầu tư xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Bình Dương tại xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. 2.3. PHÂN LOẠI CÁC MÔ HÌNH, ĐÁNH GIÁ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA Kết quả phân loại các mô hình xử lý tại Vùng nghiên cứu cũng như những đánh giá về ưu nhược điểm của từng loại mô hình được đưa ra trong bảng 2.2. Bảng 2.2. Phân loại các mô hình xử lý tại Vùng nghiên cứu cũng như những đánh giá về ưu nhược điểm của từng loại mô hình Stt 01 Tên mô hình Mô hình doanh nghiệp nhà nước (Urenco Biên Hòa, Bệnh viện Lao tỉnh Đồng Nai, …) Mô hình doanh nghiệp tư nhân (Tân Phát Tài, Sao Mai Xanh, Môi Trường Xanh, …) Ưu điểm Quy mô và năng lực hoạt động rộng, hiệu quả kỹ thuật và kinh tế chấp nhận được Kỹ thuật và hiệu quả xử lý chấp nhận được, năng động thích ứng với thị trường, cho phép phát huy tốt nguồn vốn kinh tế tư nhân cho công tác quản lý chất thải Nhược điểm Phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn đầu tư của nhà nước, tính tự chủ thích ứng chưa cao Có khó khăn về vốn và kỹ thuật để mở rộng quy mô hoạt động, khó kiểm soát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, nhất là kiểm soát về việc đáp ứng tiêu chuẩn môi trường Tính liên ngành thấp, khó nhân rộng, nhất là liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài TỪNG LOẠI MÔ HÌNH

02

03

Mô hình liên doanh Kỹ thuật xử lý tiên tiến, (Công ty Holcim Việt hiệu quả xử lý cao, bảo Nam) đảm tốt tiêu chuẩn môi trường quy định

04

Mô hình tự chủ (Công Cho phép phát huy tốt Quy mô hoạt động hẹp,

25

ty Syngenta, Bayer)

nội lực tại chỗ và tính chủ động trong phòng chống và xử lý ô nhiễm, hệ thống quản lý gọn nhẹ, khép kín Năng lực thu gom, xử lý chất thải cao và triệt để, có hiệu quả kinh tế - kỹ thuật - môi trường và xã hội cao nhất, giảm thiểu chất thải và ô nhiễm môi trường

khó nhân rộng, nhất là đối với các doanh nghiệp có khó khăn về vốn - kỹ thuật xử lý chất thải Cần nhiều vốn đầu tư để đổi mới, hoàn thiện, hệ thống quản lý môi trường và hệ thống cơ sở hạ tầng - kỹ thuật theo yêu cầu sinh thái công nghiệp

05

Mô hình liên kết

Theo bảng phân loại các mô hình xử lý và phân tích các ưu nhược điểm của từng loại mơ hình thì Mô hình liên kết là loại mô hình có hiệu quả kinh tế - kỹ thuật môi trường và xã hội cao nhất, giảm thiểu chất thải và ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên mô hình thông dụng hiện nay là mô hình Doanh nghiệp tư nhân, mô hình này thường có khó khăn về vốn, kỹ thuật và khó kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Để phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực nghiên cứu cũng như tại Việt Nam thì mô hình tối ưu là mô hình tư nhân có sự hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp khác trong nước cũng như nước ngoài để hoàn thiện quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nhất là CTRCN và CTNH.

26

Chương 3

ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ PHÙ HỢP NHẰM THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH TỔ CHỨC NHẰM THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP PHÙ HỢP VỚI VÙNG NGHIÊN CỨU. 3.2. ĐỀ XUẤT CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH NHẰM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM XỬ LÝ CTRCN, CTNHCN

27

3.1.

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH TỔ CHỨC NHẰM THU GOM VÀ XỬ LÝ

CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI CÔNG NGHIỆP PHÙ HỢP VỚI VÙNG NGHIÊN CỨU Mô hình tổ chức thu gom, xử lý CTRCN, CTNH phù hợp với điều kiện hiện tại của khu vực nghiên cứu là mô hình DNTN có hợp tác với các doanh nghiệp khác. Để mô hình được duy trì, phát triển tốt và có thể nhân rộng cần có sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật, địa phương cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp và việc đảm bảo về tiêu chuẩn môi trường. Quy trình thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý CTRCN, CTNH phải tuân theo các hướng dẫn của Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT về việc Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH.

§ QUY TRÌNH THỰC HIỆN DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN
CTRCN, CTNH Mô hình quy trình thu gom, vận chuyển chất thải rắn công nghiệp được đưa ra trong hình 3.1.

28

CTRCN tại các cơ sở kinh doanh

Thu gom bằng xe chuyên dụng

Các tổ chức, đơn vị có chức năng xử lý chất thải

CTRCN tại các nhà máy, xí nghiệp Phân loại CTRCN tại nguồn CTRCN tại các khu công nghiệp

Chất thải rắn không nguy hại Chất thải rắn nguy hại Thu gom bằng xe chuyên dụng

CTRCN tại các bệnh viện

Chất thải rắn Có thể tái sinh,tái chế, tái sử dụng

Lưu giữ và bán lại cho các cơ sở tái chế

Hình 3.1. Sơ đồ quy trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn công nghiệp

29

D. XỬ LÝ VÀ TIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI (1). Xử lý Xử lý CTRCN và CTNH là quá trình sử dụng công nghệ hoặc biện pháp kỹ thuật làm thay đổi các tính chất và thành phần chất thải nhằm làm mất hoặc làm giảm mức độ gây nguy hại. Thời gian qua, tại các điạ phương đã hình thành một số cơ sở tư nhân xử lý chất thải nhằm thu hồi, tái chế, tái sử dụng chất thải. Tuy nhiên, các điạ phương chưa ban hành về quy phạm và thủ tục đăng ký đối với 1 cơ sở xử lý chất thải. (2). Tiêu huỷ Tiêu huỷ CTRCN và CTNH là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập chất thải, làm mất khả năng gây nguy hại. Thời gian qua, tại các điạ phương đã quy hoạch và đưa vào sử dụng một số bãi chôn lấp chất thải. Hiện nay, một phần CTRCN và CTNH được thu gom và xử lý bằng biện pháp đổ đống. Theo phương án này rác từ các xe ép rác, xe ben được đổ xuống thành đống và được máy ủi san gạt, định kỳ phun thuốc diệt ruồi và chế phẩm EM để hạn chế mùi hôi. Việc xử lý và tiêu hủy chất thải hiện nay chủ yếu là thực hiện cho chất thải nguy hại, CTRCN thường được thu gom và xử lý chung với CTRSH. Sơ đồ hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại đề nghị được đưa ra trong hình 3.2.

30

THU HỒI

XỬ LÝ

TIÊU HỦY

Hữu cơ

Vô cơ

Acquy chì Lý/hóa Dầu thải Thiêu đốt Lò xi măng Chất thải kim loại lỏng (mạ điện) Lò đốt ghi tĩnh điện Kết tủa hóa học Ôxy hóa (CN) Khử (Cr(6)) Trung hòa

Bãi chôn lấp an toàn

Hóa rắn

Bãi tiêu hủy amiăng

Hình 3.2. Sơ đồ hệ thống xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại được đề nghị

31

3.2. ĐỀ XUẤT CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ THU GOM XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP, CHẤT THẢI NGUY HẠI 3.2.1. Các cơ chế, chính sách và giải pháp chung (1). Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường : Tổ chức phổ biến rộng rãi Luật bảo vệ môi trường năm 2005, Nghị quyết số 41-NQ-TW của Bộ Chính trị, các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật khác của Nhà nước về bảo vệ môi trường, đến các đoàn thể quần chúng; các cơ quan, đơn vị Đảng và Nhà nước; các doanh nghiệp, KCN, CCN; các tổ chức, cá nhân nhằm quán triệt sâu sắc và nhận thức đầy đủ hơn về nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Tăng cường năng lực các bộ phận tuyên truyền môi trường trong tổ chức, đoàn thể; phát huy các vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cộng đồng; phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nhằm xây dựng nếp sống văn hoá và hành vi thân thiện với môi trường. Đa dạng hóa hóa phương thức nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về phát triển bền vững cho cộng đồng; tăng cường các dự án trình diễn về bảo vệ môi trường, phát động phong trào toàn dân về bảo vệ môi trường, ý thức tự giác thực hiện các quy định của pháp luật nhà nước về bảo vệ môi trường cho các cơ sở sản xuất kinh doanh. Tăng cường thực hiện Đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” theo Quyết định 1363/QĐ/TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ. (2). Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường : Tăng cường xây dựng hoàn thiện các văn bản dưới luật nhằm thực thi hiệu quả Luật bảo vệ môi trường năm 2005. Xây dựng cơ chế phối hợp, xác định, phân công rõ trách nhiệm của cơ quan TN&MT và UBND các cấp địa phương về phối hợp quản lý, kiểm tra, thanh tra các hoạt động bảo vệ môi trường. Kiện toàn tổ chức

32

quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp cơ sở; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tăng cường hợp tác về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở quy mô cấp vùng, khu vực trọng điểm. Đẩy mạnh tổ chức thực hiện các Đề án, quy hoạch và kế hoạch hoạt động bảo vệ môi trường hàng năm ở các ngành, các cấp, các đoàn thể; phân công chủ trì, phối hợp đồng bộ cụ thể hóa đầy đủ, chi tiết vào kế hoạch hàng năm, đồng thời tăng cường kiểm tra giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện đề án, quy hoạch và kế hoạch bảo vệ môi trường ở các cấp, các ngành, đoàn thể. Tăng cường công tác quản lý chất thải, công tác giám sát, thanh, kiểm tra môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về pháp luật bảo vệ môi trường. (3). Thể chế hóa về bảo vệ môi trường trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội : Tổ chức thực hiện nghiêm Chiến lược, Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Thực hiện đồng bộ các biện pháp về phòng ngừa ô nhiễm môi trường tại nguồn và bảo vệ môi trường tại các khu vực trọng điểm. Bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường ngay từ khâu giới thiệu địa điểm đầu tư, xem xét phê duyệt các quy hoạch, dự án, nhất là đối với các KCN, CCN tập trung theo Luật bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật của Chính phủ, các Bộ, Ngành. Tuân thủ nghiêm các quy định về lập, thẩm định báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và bổ sung cơ chế, chính sách hoạt động kiểm tra, giám sát sau thẩm định ĐTM, Bản cam kết về BVMT đối với các dự án đầu tư. Chú trọng thực hiện nghiêm các biện pháp về xử lý, kiểm soát, thanh tra, kiểm tra và giám sát ô nhiễm môi trường. (4). Tăng cường nguồn lực và áp dụng các biện pháp kinh tế trong công tác bảo vệ môi trường, tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường : Bảo đảm hàng năm trên 1,0% trong tổng chi ngân sách và năm sau cao hơn năm trước ít nhất 10% để xây dựng và tổ chức thực hiện hoạt động BVMT. Bảo

33

đảm cấp đủ tổng nguồn vốn đầu tư cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường để tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án và đề tài nghiên cứu khoa học – công nghệ về bảo vệ môi trường. Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm, đầy đủ các quy định của Trung ương về thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải, hoạt động khai thác khoáng sản, ký quỹ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản. Buộc bồi thường thiệt hại đối với những hành vi gây ô nhiễm và làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế như thuế môi trường, thuế tài nguyên, phí và lệ phí môi trường, quota môi trường, ký quỹ và hoàn trả, quỹ môi trường, các khoản trợ cấp và nhãn sinh thái,... Đẩy mạnh hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường. Đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường, huy động sức mạnh tổng hợp để đầu tư BVMT. Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế đối với các hoạt động bảo vệ môi trường, nhất là các dự án đầu tư tái chế, tái sinh, tái sử dụng chất thải và phát triển các doanh nghiệp hoạt động bảo vệ môi trường. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho bảo vệ môi trường. Có chính sách để tăng cường thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài về lĩnh vực bảo vệ môi trường. Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng - kỹ thuật BVMT, nhất là xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại; cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị. Cân đối, bố trí đủ nguồn vốn để thực hiện công tác quy hoạch, đầu tư các dự án trong lĩnh vực BVMT. (5). Giải quyết hài hòa các mối quan hệ mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội : Đảm bảo đầy đủ các yếu tố kinh tế - xã hội và BVMT trong quy hoạch bảo vệ môi trường và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp, đoàn thể, trong đó chú trọng lồng ghép nội dung về BVMT vào trong nội dung phát triển kinh tế - xã hội. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ BVMT với nội dung về kiểm soát sự gia tăng dân số cơ học, dân số - kế hoạch hóa (DS – KHH) gia đình, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, gia tăng phúc lợi xã hội và dịch vụ tiện ích xã hội, các chương trình xoá đói, giảm nghèo, giải quyết lao động, việc làm và tăng thu nhập, không ngừng cải

34

thiện và nâng cao mức sống nhân dân, nhất là dân cư và các dân tộc thiểu số trong các vùng đệm,... (6). Tăng cường năng lực nghiên cứu phát triển khoa học – công nghệ và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư về bảo vệ môi trường, đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng công nghệ trong bảo vệ môi trường : Đẩy mạnh nghiên cứu điều tra cơ bản về bảo vệ môi trường : Tổ chức điều tra, thống kê các nguồn thải (khí thải, nước thải và chất thải rắn) tại các KCN, CCN, đô thị, khu dân cư tập trung và đề xuất các giải pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ứng dụng các thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm ngăn chặn, hạn chế và xử lý ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN, khu đô thị và bảo vệ nguồn nước mặt trọng điểm. Triển khai ứng dụng các thành tựu phát triển khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sinh học tái chế, xử lý và tiêu hủy chất thải (nước thải, chất thải rắn, khí thải); áp dụng và nhân rộng mô hình sản xuất sạch, sạch hơn nhằm tiết kiệm nguồn nhiên liệu, nguyên liệu và hạn chế phát sinh chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN, khu đô thị, làng nghề, cơ sở chăn nuôi, TTCN và nuôi trồng thuỷ sản. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cao về bảo vệ môi trường; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo vệ môi trường. Tổ chức thực hiện với hiệu quả cao các chương trình, đề án và dự án đầu tư ưu tiên trọng điểm về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và năm 2020. (7). Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường : Đa dạng hóa các loại hình hoạt động bảo vệ môi trường, khuyến khích hình thành các tổ chức để xã hội hóa trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý các loại chất thải, nhất là chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nguy hại. Xây dựng phong trào toàn dân tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường; tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Xây dựng và thực hiện hương ước về bảo vệ môi trường tại các địa phương; tổ chức đội thanh niên tình

35

nguyện, thanh niên xung kích tham gia bảo vệ môi trường tại xã phường, thị trấn, khu phố, xóm, thôn ấp. Huy động và phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, của toàn dân cùng tham gia bảo vệ môi trường. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các hiệp hội quần chúng các cấp trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm tuyên truyền, vận động các thành viên, đoàn viên, hội viên tham gia bảo vệ môi trường và giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Phát động phong trào thi đua yêu nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại các khu dân cư. Tăng cường các chương trình truyền thông, giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường tại các vùng trọng điểm. (8). Đẩy mạnh hợp tác về bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu về chất lượng môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế : Tăng cường hợp tác trong nước về tổ chức thực hiện các Chương trình bảo vệ môi trường trong Chiến lược, Quy hoạch bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020. Đẩy mạnh thực hiện 36 chương trình, đề án, dự án trọng điểm cấp quốc gia ban hành theo Quyết định số 256/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường các hoạt động hợp tác với các tổ chức quốc tế để được hỗ trợ các chương trình, đề án và dự án đầu tư về bảo vệ môi trường. Có chính sách để tăng cường thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhất là thu hút các loại kỹ thuật - công nghệ cao, mới phục vụ hiệu quả cho việc xử lý triệt để, kiểm soát và quản lý chặt chẽ các loại chất thải phát sinh. 3.2.2. Bổ sung hoàn thiện các chính sách và văn bản mới cho quản lý CTR, đặc biệt là CTR công nghiệp và chất thải nguy hại công nghiệp (1). Xây dựng các chính sách khuyến khích thực hiện : − Phân loại chất thải rắn tại nguồn nhằm tái chế, tái sử dụng, tận thu những chất quý, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.

36

− Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm quản lý chất thải rắn của các tổ chức, cá nhân, các chế tài cụ thể cho trường hợp vi phạm; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, lực lượng thanh tra, kiểm tra; triển khai đột xuất, định kỳ, thường xuyên các đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm Luật Bảo vệ môi trường được thực hiện nghiêm túc. − Tiến hành xây dựng chiến lược và lập kế hoạch quản lý môi trường ngắn hạn và dài hạn cho phù hợp. Nội dung chiến lược và kế hoạch quản lý chất thải cần tập trung vào các vấn đề: + Dành đủ đất trong quy hoạch phát triển đô thị và công nghiệp phục vụ cho thu gom, vận chuyển (trung chuyển) và xử lý, thải bỏ chất thải rắn; + Xây dựng lực lượng thu gom, phân loại, vận chuyển và dịch vụ quản lý chất thải đủ mạnh, lập phương án thu gom và vận chuyển hợp lý; + Đầu tư trang thiết bị đầy đủ phương tiện thu gom và vận chuyển CTR; + Quy hoạch địa điểm xử lý chất thải rắn lâu dài, ít nhât là 10 năm; + Lựa chọn công nghệ xử lý đổ thải chất thải rắn phù hợp; + Lập kế hoạch phân loại chất thải và kế hoạch phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn. (2). Đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý chất thải rắn : Các công cụ kinh tế tiếp cận mục tiêu quản lý chất thải linh hoạt, hiệu quả và kinh tế, cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Đẩy mạnh nghiên cứu, từng bước áp dụng vào thực tiễn quản lý chất thải rắn các loại thuế, phí (phí không tuân thủ, phí đối với người sử dụng...) các cơ chế ký quỹ, đặt cọc - hoàn trả, giấy phép phát thải và thị trường trao đổi quyền phát thải; thông qua giảm (tăng) thuế để khuyến khích việc tiêu thụ các sản phẩm an toàn về môi trường; các loại hình tổ chức tín dụng về môi trường như quỹ môi trường, ngân hàng môi trường, tổ chức cho thuê tài chính về môi trường; các hình thức khuyến khích và chế tài tài chính về môi trường ...

37

Tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư quản lý chất thải rắn nhằm mục đích tăng cường và đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư trong công tác quản lý chất thải rắn và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tăng chi từ ngân sách nhà nước cho các hoạt động quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường. Để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược, từ nay đến năm 2010, cần tăng nhanh tỷ lệ đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho giảm thiểu ô nhiễm do chất thải rắn. Tăng chi cho nâng cấp hạ tầng quản lý chất thải rắn từ nguồn vốn ODA. Khai thác triệt để các nguồn đầu tư từ xã hội cho công tác quản lý chất thải rắn. Phấn đấu đến năm 2010, các nguồn đầu tư từ xã hội cho công tác bảo vệ môi trường ngang bằng với nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Tăng nguồn vốn cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Quản lý các nguồn vốn đầu tư cho quản lý chất thải rắn và BVMT theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải và hiệu quả thấp. (3). Các chính sách về lựa chọn công nghệ xử lý giá thành hạ :
 Chôn lấp chất thải rắn: Chôn lấp chất thải rắn là công nghệ đơn giản nhất,

đỡ tốn kém nhất, nhưng đòi hỏi có diện tích rất lớn. Việc lựa chọn bãi chôn rác là hết sức quan trọng.  Chế biến chất thải rắn hữu cơ thành phân compost (phân trộn) Thành phần chất thải rắn hữu cơ dễ phân huỷ, như rau, quả phế phẩm, thực phẩm thừa, cỏ, lá v.v... có thể chế biến dễ dàng thành phân compost để phục vụ nông nghiệp. Ở thành phố Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đã xây dựng thí điểm xí nghiệp chế biến phân compost từ chất thải rắn sinh hoạt của đô thị.  Thiêu huỷ chất thải rắn Thiêu huỷ rác có ưu điểm nổi bật là làm giảm thể tích chất thải phải chôn (xi, tro của lò đốt), do đó giảm được diện tích đất dùng cho bãi thải. Tuy vậy, đầu tư cho nhà máy đốt rác tương đối lớn, giá thành vận hành nhà máy cũng cao, ngoài ra khói thải của nhà máy có tính nguy hại, cần phải tiến hành xử lý khói thải với công nghệ cao mới bảo vệ được môi trường.

38

Ngoài ra, ở một số nước còn dùng phương pháp bê tông hoá chất thải rắn nguy hại, đổ chất thải nguy hại vào các thùng, bể bọc kín bằng vật liệu kiên cố và chôn sâu dưới đất hoặc vất xuống đáy biển.  Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn Phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải rắn là phương cách tốt nhất để giảm nhỏ nhu cầu đất chôn rác và tiết kiệm vật liệu, tài nguyên thiên nhiên. Rất nhiều chất thải rắn đô thị và công nghiệp có thể tái sử dụng, tái chế như kim loại vụn, vỏ hộp, giấy, các tông, chai lọ, các bao bì bằng nilông, đồ gỗ hư hỏng v.v... Cần phải coi việc phát triển tái sử dụng và quay vòng sử dụng chất thải là có ý nghĩa chiến lược trong quản lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp. Hiện nay ở nước ta đang nghiên cứu các chính sách cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập cho trẻ em tại các bãi chôn lấp chất thải rắn. (4). Xã hội hoá công tác quản lý chất thải rắn : Để thực hiện thành công các mục tiêu về quản lý chất thải rắn và BVMT trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo, một mặt, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn thể nhân dân, mặt khác, cần có sự định hướng, tổ chức, giám sát thực hiện một cách chặt chẽ của Nhà nước. Nội dung của việc xã hội hoá công tác BVMT là huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác BVMT. Xác lập các cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và thực hiện một cách công bằng, hợp lý đối với cả các đối tác thuộc Nhà nước cũng như các đối tác tư nhân khi tham gia hoạt động quản lý chất thải rắn. Đề cao vai trò của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội trong công tác quản lý chất thải rắn và BVMT, giám sát việc BVMT. Đưa nội dung quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi trường vào hoạt động của các khu dân cư, cộng đồng dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức này trong công tác BVMT. Trong dự thảo Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải rắn đã được đặc biệt quan tâm. Do đó, cần phải có các chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề này như: các chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia quản lý chất thải rắn và bảo vệ môi

39

trường. Qua xã hội hoá hoạt động môi trường, lựa chọn những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc để tôn vinh khen thưởng, tổ chức tốt Giải thưởng môi trường quốc gia hàng năm. (5). Các chính sách về tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn trong xã hội : Phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức về quản lý chất thải rắn và BVMT của toàn xã hội. Để nâng cao nhận thức về phân loại, thu gom chất thải rắn, nhất thiết phải khai thác triệt để các lợi thế này theo hướng: tổ chức biên soạn hệ thống chương trình phát thanh, truyền hình để chuyển tải đầy đủ nội dung về trách nhiệm phân loại, thu gom, xử lý chất thải rắn của người công dân; phổ cập và nâng cao hiểu biết về môi trường, cung cấp thông tin về BVMT; cổ động liên tục cho các phong trào toàn dân BVMT, nêu gương điển hình trong hoạt động BVMT. Tăng cường giáo dục môi trường trong các trường học. Việc cung cấp đầy đủ tri thức và xây dựng ý thức tự giác bảo vệ môi trường của các công dân phải được bắt đầu từ lứa tuổi học đường. Tăng cường giáo dục môi trường trong các trường học bao gồm: lồng ghép các kiến thức môi trường một cách khoa học với một khối lượng hợp lý trong các chương trình giáo dục của từng cấp học; khuyến khích các cơ sở giáo dục - đào tạo tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao tình yêu thiên nhiên, đất nước, ý thức tự giác bảo vệ môi trường của học sinh tại các trường học, đặc biệt tại các trường mẫu giáo, tiểu học, trung học phổ thông. 3.2.3. Đề xuất một số cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ (1). Hỗ trợ về chính sách xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường :

Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách thi đua khen thưởng và kỷ luật cụ

thể đối với các cộng đồng, tổ chức và cá nhân trong thực hiện công tác bảo vệ môi trường, nhất là trong công tác tổ chức, đánh giá và phân loại đội ngũ cán bộ của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể quần chúng xã hội.

40

Bên cạnh nhiệm vụ hoàn thiện bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý môi trường ở

cấp cơ sở (xã, phường và thị trấn), thì cũng cần từng bước xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở các cụm, khu dân cư tập trung; tại các KCN, CCN; các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ;... đồng thời nhanh chóng xây dựng lực lượng tự quản nhân dân về bảo vệ môi trường ở cơ sở để phối hợp và hỗ trợ, làm “tai, mắt” cho hoạt động của lực lượng cảnh sát bảo vệ môi trường tại các địa phương.

Cụ thể hoá Quy chế dân chủ ở cơ sở để tăng cường vai trò của tổ chức, cá nhân

và cộng đồng trong công tác thẩm định và quản lý hoạt động sau thẩm định ĐTM, giám sát chất lượng môi trường,… (2). Hỗ trợ về đa dạng hoá nguồn vốn cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường :

Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách huy động các nguồn lực kết hợp giữa nhà

nước, nhân dân và các thành phần kinh tế (nhà nước, nhân dân và các thành phần kinh tế cùng làm) trong đầu tư xây dựng các hạng mục cơ sở hạ tầng nông thôn, các khu vực ven đô thị, vùng sâu, vùng xa..., trong đó ưu tiên cho các chương trình điện – đường – trường – trạm, giáo dục đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Áp dụng các giải pháp phát triển mở rộng, bổ sung Quỹ bảo vệ môi trường tại

các địa phương (như : gây quỹ tự nguyện của các KCN, CCN, các doanh nghiệp hoặc doanh nhân, của các tổ chức cơ quan Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các đoàn thể xã hội hoặc của các gia đình, các công dân; mở rộng việc thực hiện các biện pháp thu phí bảo vệ môi trường áp dụng cho việc xử lý chất thải (khí thải, nước thải, chất thải rắn), hoặc thu phí BVMT cho các dự án đầu tư BVMT quan trọng, nhất là các dự án BVMT có giá trị phúc lợi xã hội cao và lâu dài.

Đẩy mạnh thực hiện các dự án hoặc lồng ghép công tác truyền thông, nâng cao

ý thức cộng đồng về BVMT giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước, các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức quần chúng và xã hội trong các dự án đầu tư phát triển hoặc trong các hoạt động hàng năm của mình, nhất cho các khu vực dân cư đô thị và nông thôn, tập trung cho các nội dung như : xây dựng văn hóa và lối sống mới, hành vi thân thiện với môi trường xung quanh; bảo đảm nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT), Ngày môi trường thế giới,...

41

Giao cho MTTQ, Hội phụ nữ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức nghiên cứu

và triển khai các dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm xây dựng các mô hình điểm điển hình về làng xã, phường, thị trấn, xóm, ấp xanh – sạch – đẹp và văn minh. (3). Hỗ trợ về chính sách phát triển khoa học và công nghệ cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường :

Xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ về vốn, thuế, phí cho các doanh

nghiệp ứng dụng công nghệ sạch và sản xuất sạch hơn (SXSH) vào trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Xây dựng cơ chế, chính sách xúc tiến thương mại và đầu tư, xây dựng và phát

triển thị trường công nghiệp BVMT, trước mắt là phát triển thị trường công nghệ BVMT và thị trường công nghiệp xử lý chất thải.

Xây dựng và ban hành chính sách phát triển thị trường công nghệ và chuyển

giao KH&CN, thị trường trao đổi và tái sử dụng chất thải, thành lập các trung tâm quản lý chất thải, các trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ BVMT.

Tăng cường ứng dụng và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong nhiệm

vụ bảo vệ môi trường, quản lý chất thải,... (4). Hỗ trợ tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế về bảo vệ môi trường :

Tăng cường thực hiện các cơ chế phối hợp hoạt động bảo vệ môi trường liên

quốc gia, nhất là việc thực hiện đánh giá môi trường chiến lược liên lưu vực sông, kiểm soát vận chuyển chất thải rắn và nguy hại liên quốc gia, vùng cũng như đẩy mạnh các chương trình hợp tác về bảo vệ môi trường trong khu vực.

Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường, mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nhằm nỗ lực thu hút các chương trình, dự án đầu tư hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường. (5). Các công cụ hỗ trợ về pháp lý :

Xây dựng và ban hành thực hiện các tiêu chuẩn áp dụng về mô hình và công

nghệ thân thiện môi trường, sinh thái công nghiệp, đồng thời ban hành các hướng

42

dẫn cần thiết cho các đô thị, KCN, CCN và các doanh nghiệp tổ chức thực hiện ứng dụng vào trong thực tiễn CNH, HĐH và đô thị hóa của đất nước.
− −

Tăng cường xây dựng và ban hành các Quy chế bảo vệ môi trường tại các khu Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn của mô hình xã, phường, thị trấn, xóm ấp

vực trọng điểm về phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. xanh – sạch – đẹp, văn minh và thân thiện môi trường để tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

Xây dựng và ban hành các quy định về các mức phạt - khắc phục - bồi thường

cụ thể trong việc áp dụng nguyên tắc “ Người gây thiệt hại môi trường phải trả tiền, khắc phục và bồi thường ” phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn mới về xoá đói, giảm nghèo phù hợp với

định hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. (6). Các công cụ hỗ trợ về kinh tế và môi trường :

Đưa chính sách thu phí BVMT đối với các dự án đầu tư BVMT có quy mô vốn Đưa chính sách hạch toán các chi phí tài nguyên cơ bản và BVMT vào chi phí Từng bước áp dụng các nguyên tắc hạch toán kinh tế – môi trường vào trong Thực hiện chính sách quản lý và thu phí BVMT theo thải lượng phát thải phân

lớn và quan trọng vào thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. −
− −

sản phẩm để tổ chức thực hiện trong thực tiễn. thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. loại theo các phân vùng quản lý môi trường và các phân vùng môi trường tự nhiên tiếp nhận để xác định các mức ưu tiên cần thiết trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng BVMT, nhất là các bãi rác xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại; cung cấp nước sạch, hệ thống thoát nước và hệ thống xử lý nước thải (ưu tiên cho các đô thị, các KCN, CCN tập trung).

Ban hành các quy định cụ thể về chế độ giá cả trao đổi chất thải nhằm vận

hành thị trường trao đổi chất thải có hiệu quả kinh tế – môi trường cao nhất.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful