MỤC LỤC PHẦN 1: SƠ LƯỢC VỀ ĐỀ TÀI A. Lý do chọn đề tài 2 B. Hướng nghiên cứu của đề tài 3 C.

Ý nghĩa và phạm vi của đề tài 3 PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI A.NGHIÊN CỨU I. Con nguời và nhu cầu tâm sinh lý 4 II. Cảm xúc của con người 4 II.1 Tìm hiểu về cảm xúc 5 II.2 Thị giác và các giác quan 8 III. Cảm xúc bình yên của con người trong không gian nội thất 9 III.1 Định nghĩa về sự bình yên 9 III.2 Thị giác về sự bình yên trong nội thất 13 IV. Tìm hiểu đối tượng chọn ứng dụng( Cặp vợ chồng 50- 65tuổi) 17 IV.1 Lý do chọn 17 IV.2 Ý nghĩa sự bình yên đối với người lớn tuổi 17 IV.3 Đặc điểm tâm sinh lý của người lớn tuổi 17 B. ỨNG DỤNG I. Công trình biệt thự 18 a. Không gian phòng khách 21 b. Không gian bếp 21 c. Không gian sân vườn 22 II. Công trình chung cư 22 a. Không gian phòng khách 23 b. Không gian phòng ngủ 23 PHẦN 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN 1: SƠ LƯỢC VỀ ĐỀ TÀI A. Lý do chọn đề tài Có một định nghĩa về không gian như sau: “ Không gian kết hợp một cách bền bỉ những thực tại của chúng ta qua những hình khối của không gian. Chúng ta xúc động, chúng ta thụ cảm những hình thức, những đồ vật, chúng ta nghe những âm thanh, chúng ta cảm thấy những làn gió mát, những mùi vị của một vườn hoa đang nở hoa. Không gian, đồng

thời là một bản chất vật chất như đá và gỗ, mặc dù nó vô hình. Hình thức của không gian, chất lượng của độ sáng, những kích thước và tầm vóc của chúng phụ thuộc hoàn toàn vào những giới hạn và biên giới xác định bởi những thành phần của hình thức…” Xây dựng nên các kích thước, tầm vóc, hình thức của một không gian như nêu trên đó là công việc của các nhà thiết kế. Đó không đơn giản là xây một căn nhà thật đẹp, trang trí một căn phòng thật bắt mắt và tiện nghi là có thể đáp ứng được nhu cầu của con người. Không thể phủ nhận tầm quan trọng của công năng và hình thức thẩm mỹ của không gian kiến trúc hay nội thất nhưng cái quan trọng nhất vẫn là sự hòa hợp của con người với không gian đó. Cuộc sống của chúng ta hầu như diễn ra trong bốn bức tường ( nhà ở, trường học, công sở…), nếu phải sống và làm việc giữa các bức tường vô cảm cùng những ô cửa thì liệu ta có thể sống, sinh hoạt, làm việc, sáng tạo… để tạo ra một xã hội phát triển như ngày nay không? Câu hỏi đặt ra cho các nhà thiết kế làm thế nào để tạo ra những không gian có thể “ sống” cùng con người? Tạo một không gian cho con người và để không gian đó phù hợp với con người thì câu trả lời chính là nên tìm hiểu con người trước rồi sau đó tạo ra những không gian tương thích với họ. Đó chính là công việc của người làm nội thất bởi lẽ con người sống trong không gian nội thất với những xúc cảm không lúc nào giống nhau và không phải ai sống trong nhà mình hay làm việc trong công sở thật sự có tâm trạng, cảm xúc thật thoải mái do không gian nội thất mang lại. Hiểu được con người, cụ thể là nắm bắt được tâm sinh lý con người sẽ giúp nhà nội thất phần nào quyết định được mình nên chọn màu sắc nào, vật liệu nào, kiểu dáng nào cho đối tượng chủ thể của không gian mà mình đang bắt tay vào thiết kế. B. Hướng nghiên cứu của đề tài

C. Ý nghĩa và phạm vi của đề tài 1. Ý nghĩa
• • •

Hiểu được tầm quan trọng của cảm xúc trong không gian nội thất cũng như yếu tố con người trong không gian nội thất ở khía cạnh tâm lý. Có kiến thức tổng quát về các yếu tố tác động đến con người trong không gian nội thất. Tạo lập thói quen tìm hiểu và nghiên cứu về tâm sinh lý của con người trước khi thiết kế không gian nội thất cho con người sử dụng.

2. Phạm vi của đề tài Tìm hiểu sơ lược yếu tố cảm xúc của con người để làm cơ sở cho việc đi tìm cảm xúc bình yên trong nội thất. Tất cả các yếu tố được tìm hiểu một cách khái quát nhất để có thể nắm bắt một cách nhanh nhất chứ không đào sâu nghiên cứu kĩ từng vấn đề. Phần ứng dụng chỉ chọn một đối tượng duy nhất là cặp vợ chồng từ 50- 65tuổi trong 2 công trình biệt thự và chung cư.
• •

Công trình biệt thự chỉ chọn 3 không gian để thể hiện là phòng khách, bếp và 1 góc sân vườn. Công trình chung cư chỉ chọn 2 không gian thể hiện là phòng khách và phòng ngủ.

PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI A. Nghiên cứu I. Con người và nhu cầu tâm sinh lý C. Mác đã viết: “ Khi nhu cầu của con người không được thỏa mãn thì người đó ở trong trạng thái không thoải mái với các nhu cầu của mình, và do đó với cả bản thân mình nữa”. Nhu cầu- đó là cái mà con người và loài vật thấy cần, là cái cần thiết để duy trì và bảo đảm các chức năng sống quan trọng. Ngoài các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, ở, mặc, tái sản xuất xã hội… thì con người chúng ta có khuynh hướng hướng đến những nhu cầu cao hơn khi những nhu cầu cơ bản trên được thoả mãn. Theo lý thuyết của Maslow thì các nhu cầu cơ bản của chúng ta hình thành nên một hệ thứ bậc các nhu cầu như được minh hoạ trong hình 1.1- các nhu cầu bẩm sinh của chúng ta được sắp xếp trong một chuỗi các giai đoạn từ nguyên thủy đến tiến bộ. Các nhu cầu sinh học cơ bản, như đói và khát chẳng hạn, nằm ở phần đáy của hệ này. Chúng phải được thỏa mãn trước khi những nhu cầu khác có thể khởi sự tác động. Khi các nhu cầu

sinh học bị thúc ép, những nhu cầu khác phải gạt sang bên và không chắc có ảnh hưởng gì đến các hoạt động của ta, song nếu chúng được thoả mãn một cách hợp lý thì những nhu cầu ở tầm gần đó – những nhu cầu an toàn- sẽ thúc đẩy chúng ta. Khi không còn bận tâm đến nỗi hiểm nguy nữa thì ta bị thúc đẩy bởi các nhu cầu gắn bó, nhu cầu được quy thuộc, được sáp nhập với những người khác, nhu cầu yêu thương và được yêu thương. Nếu nhu cầu dinh dưỡng và an toàn được thỏa mãn và nếu cảm thấy một ý thức quy thuộc về mặt xã hội , thì ta chuyển lên các nhu cầu tự trọng. Những nhu cầu này gồm nhu cầu yêu thích bản thân, nhìn bản thân như người có tài năng và tạo ra ấn tượng sâu sắc, và nhu cầu muốn làm điều được cho là cần thiết đặng giành được sự tôn trọng của người khác. Loài người là những sinh vật có suy nghĩ, với bộ não phức tạo đòi hỏi có kích thích thư duy. Chúng ta bị thúc đẩy bởi các nhu cầu mạnh mẽ về nhận thức muốn biết quá khứ của mình để hiểu những bí ẩn của cuộc sống hiện tại, và để đoán trước được tương lai. Sức mạnh các nhu cầu này giúp các học giả và các nhà khoa học cống hiến cuộc đời mình cho cuộc truy tìm kiến thức mới. Ơ tầm tiếp theo của hệ thứ bậc nhu cầu của Maslow, là ham muốn của con người với cái đẹp và cái trật tự , dưới dạng các nhu cầu thẩm mỹ làm nảy sinh phương diện sáng tạo của con người. Tại đỉnh của hệ thứ bậc là những con người được nuôi dưỡng, được che chở, được yêu thương và yêu thương, được yên tâm, được tư duy và sáng tạo. Những con người này đã chuyển động vượt ra ngoài những nhu cầu cơ bản của con người để tìm kiếm sự phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình; còn gọi là sự ý thức đầy đủ về bản thân- Một con người có ý thức đầy đủ về mình, tự nhận thức được mình, tự chấp nhận, thì nhiệt tình với xã hội, có tính sáng tạo, không gò bó, sẵn sàng tiếp nhận cái mới và sẵn sàng chấp nhận thử thách – không kể các phẩm chất tích cực khác. Hệ thứ bậc các nhu cầu của Maslowgồm một bước vượt ra ngoài sự thỏa mãn hoàn toàn tiềm năng các nhân. Nhu cầu vươn tới cái siêu việt có thể dẫn tới các trạng thái cao hơn của ý thức và một cái nhìn có tính vũ trụ xem bản thân như một phần của vũ trụ. Rất ít người có ham muốn chuyển động ra ngoài cái tôi để hòa nhập vào các sức mạnh tâm linh. Đối với Maslow, sức mạnh trung tâm của động cơ đối với con người là nhu cầu lớn lên mang tính bẩm sinh và mong muốn thể hiện những tiềm năng cao nhất của mình. II. Cảm xúc của con người

II.1 Tìm hiểu về cảm xúc a. Khái niệm về cảm xúc Cảm xúc ( theo tiếng La Tinh Emôxêô- tôi cảm động, tôi xúc động)- đó là sự rung động về phía bản thân con người đối với hiện thực cũng như sự rung động của trạng thái chủ quan nảy sinh trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh và trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu của mình. Cảm xúc, cũng như tất cả các quá trình tâm lý khác, xuất hiện có tính chất phản xạ, vì vậy nó là sự phản ánh của thế giới hiện thực tác động vào con người. Sự xuất hiện của cảm xúc được xác định bởi sự tác động của các hiện tượng khách quan lên hệ thống thần kinh, nó do các nguyên vật chất tạo nên, vì vậy sự rung động cảm xúc là sự phản ánh chủ quan hiện thực khách quan. Cảm xúc là một hình thức đặc biệt của sự phản ánh quá trình thực tế tác động lẫn nhau giữa con người với môi trường xung quanh. Khác với các quá trình trí tuệ như cảm giác, tri giác, biểu tượng, tư duy là các quá trình mà thế giới khách quan của các sự vật và hiện tượng được phản ánh cùng với các tính chất và quy luật của mình, trong cảm xúc chỉ phản ánh những mặt của hiện thực được nổi bật lên như một quá trình thực tế tác động lẫn nhau giữa con người với môi trường lúc các nhu cầu của mình được thỏa mãn. Trong quá trình tác động tương hỗ tích cực với môi trường, con người không phải không phân biệt các tác động của môi trường và các hiện tượng khách quan, mà là ở người đó sẽ nảy sinh những rung động biểu hiện thái độ chủ quan của mình đối với các hiện tượng ấy và các đặc điểm của chúng như dễ chịu hay khó chịu, tốt hay xấu, có làm thỏa mãn hay không thỏa mãn. Khi rung động với những cảm xúc như vậy con người sẵn sàng bằng hoạt động của mình đáp lại một cách tích cực đối với những tác động khác nhau của môi trường bên ngoài. b. Những đặc điểm cơ bản của sự rung động cảm xúc Cảm xúc , như là sự rung động về một mặt nhất định của con người đối với các hiện tượng nào đó của hiện thực, có đặc điểm là mang tính chất chủ quan. Cảm xúc là chủ quan theo ý nghĩa là nó luôn luôn biểu hiện thái độ tốt hay xấu của cá nhân con người đối

với hiện thực khách quan. Đồng thời cảm xùc cũng biểu hiện trạng thái bên trong của con người do con người đó rung cảm khi tác động tương hỗ với môi trường xung quanh. Đặc tính của các rung động cảm xúc là chúng phong phú và đa dạng không chỉ về mặt nội dung của các hiện tượng nó có liên quan tới, mà còn theo các đặc điểm về chất của mình và theo vô số các sắc thái cảm xúc tương tự. Các rung động cảm xúc thể hiện tiêu biểu là rung động cảm xúc tốt hoặc xấu, tức là mang sắc thái thoải mái hoặc không thoải mái. Trong cảm xúc thoải mái và không thoải mái biểu hiện thái độ tốt hay xấu của bản thân con người đối với các hiện tượng của hiện thực và đối với các hành vi và các hoạt động riêng của mình. Thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của con người có liên quan đến cảm xúc thoải mái hay không thoải mái đó. Sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu thể hiện như những tác nhân kích thích mạnh mẽ nhất đưa đến vận động và cũng là nguồn củng cố và kích thích khi hình thành kỹ xảo, khi hình thành hành vi, khi chọn lựa động cơ để hoạt động và hành động. Sự không thỏa mãn và không thoải mái thường thể hiện động cơ cố gắng tránh cái gây nên cảm giác đó. Nhưng sẽ không đúng nếu cho rằng chỉ có sự thoải mái mới gây nên tính tích cực của con người. Không thoải mái, không thỏa mãn nhu cầu cũng có thể là tác nhân gây kích thích mạnh mẽ làm xuất hiện những hoạt động tích cực nhằm đạt mục đích, nhằm đấu tranh cho thắng lợi tương lai, cho đạt hiệu quả. Vai trò tốt hay xấu của sự thoải mái và không thoải mái trong hành động và hành vi của con người không phải là đồng nghĩa với nhau và phụ thuộc vào xu hướng đạo đức của cá nhân, vào nội dung tư tưởng của sự vươn lên của cá nhân đó, vào tính chất, khí chất… Phạm Gia Bảo Châu– Khóa M2001 Hết Phần I. c. Cơ sở sinh lý của cảm xúc Cơ sở sinh lý của cảm xúc là các quá trình sinh lý rất phức tạp. Sự kích thích đối với các cơ quan thụ cảm, dù là từ bên trong hay bên ngoài, đều được truyền theo các giây thần kinh hường tâm đến hệ thần kinh trung ương, đến các bộ phận của vỏ não và dưới vỏ não. Từ đây các xung động thần kinh lại được truyền theo các dây thần kinh li tâm đến các cơ quan khác nhau của cơ thể. Khi cảm xúc thì các quá trình thần kinh hưng phấn hay ức chế được truyền đến các trung khu thực vật, do đó gây nên những thay đổi rất đa dạng trong hoạt động sống của cơ thể. Các phản ứng của cơ thể cho ta hiểu được bộ máy của trải nghiệm cảm xúc. Cơ thể phản ứng với các phản ứng bên trong và bên ngoài bằng cách phát đi các tín hiệu làm hoạt hóa hoặc ức chế các đáp ứng cảm xúc. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện được vai trò quan trọng của các bộ phận trong hệ thần kinh, các hocmon, những khác biệt của bán cầu não ( khác biệt giữa hai bên của võ não) và chức năng hóa sinh của não. - Hệ lưới hoạt hóa: các thông điệp cảm giác phải đi qua hệ này trên con đường tới não. Hệ lưới này vận hành như một hệ báo động chung cho phần còn lại của bộ não. - Hệ thần kinh tự chủ: hệ thần kinh tự chủ giúp cơ thể chuẩn bị cho các đáp ứng cảm xúc thông qua tác động của các bộ phận của nó nhằm giữ thế cân bằng và trong đáp ứng với bản chất của sự thức tỉnh. Hệ thần kinh giao cảm chỉ huy việc phóng thích các hoomon từ tuyến thượng thận, các hoocmon này đến lượt mình lại khiến các cơ quan nội tạng giải phóng chất đường trong máu, làm tăng huyết áp, làm vã mồ hôi và tăng tiết nước bọt.

Các hoocmon: đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh ảnh hưởng các hoocmon đối với cảm xúc. Khi dùng các hoocmon chữa bệnh hoặc nếu các bệnh có ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, thì diễn ra những thay đổi trong đáp ứng cảm xúc của con người. Nồng độ hoocmon trong máu và trong nước tiểu tăng lên trong các trạng thái cảm xúc bởi lẽ các hoocmon được giải phóng khi con người tri giác thấy các kích thích cảm xúc. Các cấu trúc của bộ não: các phương diện hoocmon và thần kinh của thức tỉnh cảm xúc được chỉnh hợp bởi hai vùng của não: vùng dưới đồi và hệ viền. Trong tất cả các cảm xúc phức tạp, võ não- lớp ngoài cùng của mô tế bào não, “ cái mũ tư duy” của chúng ta- đều có dính líu tới. Vỏ não mang lại các liên tưởng, ký ức và ý nghĩa chung chỉnh hợp các trải nghiệm sinh học. Nghiên cứu cho thấy có các trung tâm cảm xúc khác nhau trong võ não đối với quá trình xử lý các cảm xúc tích cực và tiêu cực. Bán cầu não trái chỉ huy các cảm xúc tích cực như vui sướng chẳng hạn, còn bán cầu não phải thì ảnh hưởng tới các cảm xúc tiêu cực như giận dữ chẳng hạn. Hóa sinh: các đáp ứng hóa sinh có dính líu trong các phản ứng cảm xúc có thể khác nhau tùy theo ý nghĩa ta gắn vào các tình huống trong đó các phản ứng được trải nghiệm.

d. Cảm xúc và nhu cầu Các đặc điểm của những cảm xúc xuất hiện trong quá trình tác động lẫn nhau tích cực giữa con người với môi trường và trong quá trình hoạt động và sinh hoạt xã hội là có liên quan đến sự thỏa mãn các nhu cầu xã hội khác nhau và các nhu cầu vật chất, văn hóa. Cảm xúc của loài vật mang bản chất sinh vật gắn chặt với bản năng, với sự thỏa mãn các nhu cầu sinh vật. Nếu các nhu cầu sinh vật của con vật không được thỏa mãn, nếu nó không nhận được thức ăn và thức uống cần thiết cho sự tồn tại của cơ thể mình thì nó sẽ chết. Các cảm giác khổ sở, ví dụ, do bị đói hoặc khát không thể nào chịu được sẽ kích thích sự tìm kiếm điều kiện để duy trì sự sống chùng nào các điều kiện đó vẫn chưa tìm ra. Khi nhu cầu được thỏa mãn thì cảm xúc khổ sở sẽ được thay thế bằng các cảm giác tốt như cảm giác thoải mái, đầy đủ, tình yêu. Như vậy, nhờ có cảm xúc nên mới xảy ra sự thích nghi hợp lý nhất của cơ thể đối với các điều kiện nhất định để tồn tại. Về mặt này, cảm xúc được xem xét trong sinh lý học thần kinh hiện đại như là cơ chế tự điều chỉnh khi các quá trình tác động lẫn nhau giữa cơ thể và môi trường được cân bằng. Cảm xúc của con người gắn với sự thỏa mãn các nhu cầu khác nhau về xã hội, vật chất và văn hóa. Hình ảnh cuộc sống xã hội, các mối quan hệ lẫn nhau về lao động xã hội giữa người với người, các hình thức giao tiếp và hợp tác lẫn nhau đã làm sản sinh ra các nhu cầu mới khác nhau và những cảm xúc phức tạp của con người- cảm xúc nghĩa vụ, trách nhiệm, tính tập thể… e. Vai trò của cảm xúc trong cuộc sống và trong hoạt động của con người Cảm xúc đóng một vai trò rất lớn trong cuộc sống và trong hoạt động của con người. Sau khi nảy sinh trong quá trình tác động lẫn nhau tích cực với môi trường xung quanh trong quá trình hoạt động lao động, học tập, sinh hoạt… thì bản thân các rung cảm, các trạng thái cảm xúc khác nhau lại bắt đầu hoạt động đến tính chất và kết quả thực hiện hoạt động đó. Trong mỗi một hình thức hoạt động thì sự ảnh hưởng của các rung động cảm xúc đến quá trình và kết quả hoạt động do con người thực hiện sẽ biểu hiện khác nhau và

sẽ phản ánh đặc thù tương ứng của mỗi hoạt động cụ thể. Trong giao tiếp giữa người với người, các cảm xúc đóng vai trò truyền đạt quan trọng. Cảm xúc mang lại cho ngôn ngữ con người tính truyền cảm. Sự đa dạng, sâu sắc và trong sáng của các rung động cảm xúc sẽ làm cho kinh nghiệm sống của con người trở nên phong phú hơn, làm cho quan hệ lẫn nhau giữa cá nhân con người với nhau có nội dung đầy đủ hơn. II.2 Thị giác và các giác quan Con người cảm nhận và tiếp nhận hình ảnh của thế giới quanh mình bằng 5 giác quan: thị giác- mắt, thính giác- tai, khứu giác- mũi, xúc giác- da và vị giác lưỡi. Đó là 5 cửa mở vào nội giới và mở ra ngoại giới của cơ thể chúng ta. Tạo nên sự sống thực sự. Lịch sử loài người cũng là lịch sử đào luyện, phát triển của các giác quan. Những vấn đề triết học cao siêu, sâu sắc nhất nhằm giải quyết các vấn đề sống- chết, yêu- ghét, tôn giáo, chiến tranh… đều bắt nguồn từ các quan niệm về ngũ quan. Trong ngũ quan, con mắt là số một. Nó ưu việt về nhiều mặt. Trong sự liên thông với các giác quan khác ưu thế cũng thuộc về thị giác. Con mắt cho ta nhận biết mọi đối tượng của ngoại giới chính xác và phong phú hơn rất nhiều so với các giác quan khác. Tai nghe không bằng mắt thấy là một chân lý khoa học. Một cảm giác xúc giác. Ví dụ: nhẵn hay nhám có thể biểu hiện bằng thị giác tốt hơn rất nhiều so với việc ta sờ để mong thấy được màu hay nét. Cảm giác thính giác cũng có thể biểu diễn bằng hình ảnh dễ hơn là ngược lại. Đó là nhờ thị giác nhanh hơn, rộng hơn và nhạy bén hơn các giác quan khác nhiều lần. Bằng mắt, chúng ta cảm nhận được hình ảnh của đối tượng quan sát. Đây là những cảm nhận trực quan. Những hình ảnh này được bộ não người đem so sánh, đối chiếu với kho tư liệu hình ảnh được tích lũy một cách vô thức hoặc có ý thức từ khi con người ra đời đến thời điểm họ quan sát, nhận dạng và ra những khẳng định tiếp theo cho hệ thần kinh. Đây là quá trình tri giác, vận động tư duy, xử lý thông tin… kết quả của quá trình này chính là những cảm xúc. Đó có thể là những cảm xúc thẩm mỹ hoặc không còn tùy thuộc vào mối quan hệ giữa đối tượng quan sát và kho tư liệu hình ảnh kể trên, và tất nhiên, phụ thuộc rất nhiều vào bộ “ vi xử lý” của chủ thể quan sát. a. Nó phân biệt được tối sáng. Độ tối sáng mắt ta phân biệt được khác với các loài vật và cũng không giống nhau ở mỗi người. Đó là khả năng trừu tượng hóa các biểu hiện thị giác về đen và trắng. Sự chênh nhau về đen trắng tạo ra tối sáng. Nhờ sự rút gọn này mà kí ức thị giác hoạt động tốt, nghĩa là nhanh nhậy và gọn nhẹ. Ta thường mơ chỉ có đen trắng, nhớ lại cũng ít nhớ màu. Xem phim, ảnh, tranh đen trắng vẫn không bị “ sốc” , vẫn chấp nhận chúng như thật. Mọi đối vật đều có thể qui về đen trắng là một thành tựu của tiến hóa, tạo ra một công cụ nhận thức đặc biệt của con người. Trong tự nhiên không có đen và trắng tuyệt đối. Nó không phải là màu mà là khi đối vật hấp thu toàn bộ ánh sáng thì ta có đen, khi đối vật hoàn toàn không hấp thu ánh sáng thì ta có trắng. b. Con mắt có khả năng nhận biết điểm và nét. Đó cũng là khả năng trừu tượng hóa phi thường, kết quả sự tiến hóa của loài người. Nếu không có điểm và nét con mắt chúng ta sẽ nhìn sự vật khác đi biết bao. Vậy mà trong thực tế cũng không có điểm và nét. Về mặt hình học người ta định nghĩa nét là quĩ đạo của một điểm trong không gian và điểm là giao của hai đường nét ! Còn trong thực tế nhận biết thị giác thì sao ? Điểm là một cái

chấm nhỏ tương đối và nét là một vệt dài mảnh tương đối. Có thể giải thích như sau: Bước trừu tượng hóa đầu tiên của sự nhìn là chuyển không gian ba chiều lên một mặt phẳng. Và người ta đứng yên một chỗ. Người nguyên thủy nhìn lên bầu trời thấy nền trời phẳng và có mặt trăng mặt trời ở trên đó. Người ta cũng nhìn thấy cái cây dừa nổi bật trên nền trời bên cạnh trái núi in lên nền trời. Đứng ở trên cao nhìn xuống mặt nước người ta thấy mặt nước phẳng hai chiều và các đối vật : cây, núi, mây… in hình xuống cái mặt phẳng hai chiều đó. Bước thứ hai là người ta nhìn thấy vật này trước vật kia, vật đứng sau bị lấp bởi vật đứng trước. Bước thứ ba là người ta rút ra, trừu tượng hóa cái ranh giới giữa cây, núi… với nền trời, mặt nước. Người ta trừu tượng hóa ranh giới vật nọ với vật kia khi chúng đứng trước sau nhau. Những ranh giới đó không có thật trong không gian. Nét chính là kết quả của sự trừu tượng hóa này và làm cho con người nhận biết các đối vật rõ ràng mạch lạc hơn mọi loài khác. Người ta trừu tượng hóa các đối vật thành các nét và ghi nhớ chúng vào kí ức thị giác. Giao của các nét này cho ta các điểm. Một phần rất lớn kí ức thị giác của chúng ta là kí ức đen- trắng và nét- điểm. c. Con mắt phân biệt được khối trong không gian. Nó nhận biết sự chiếm chỗ của đối vật trong không gian ba chiều và nhờ vậy ta có thể xác định vị trí, kích thước và các tính chất khác nhau của đối tượng. Nhận biết này là một tiền đề cho sự di động trong không gian của con người. Trẻ em khi học đi, vận động cơ thể có phần căn bản là học dùng mắt xác định khối và sự chiếm chỗ của đồ vật xung quanh chúng. Ví dụ cảm nhận bằng mắt về sự to nhỏ giúp trẻ cầm nắm đồ vật. Cảm nhận về xa gần, trước sau giúp chúng tiếp cận đối tượng chính xác. Cảm nhận về hình thù của khối giúp trẻ ứng xử với khối đó một cách thích hợp. Rõ ràng người ta không thể vận động được nếu không cảm nhận được về khối trong không gian. d. Con mắt phân biệt được hàng trăm triệu màu. Màu là hiện tượng phức tạp nhất trong tự nhiên. Số lượng nơron thần kinh dùng cho phân biệt màu cũnh nhiều nhất, khoảng 125 triệu nơron hình chóp. Không có khả năng nào phong phú như khả năng nhận biết màu. Tuy nhiên trong bộ nhớ thì màu khó được gọi lại hơn nét, khối, đen trắng. Trẻ phân biệt khối, nét… nhanh hơn màu nhất là những màu gần nhau. Màu cho thấy sự phong phú của thế giới thị giác nhưng để nhận biết đối vật và ghi nhớ thì nó quá phức tạp. Với bốn khả năng trên con mắt có được một khả năng thứ năm là nó có thể cảm nhận thay xúc giác khá hoàn hảo. Chỉ cần nhìn ta có thể biết vật đó to hay nhỏ, nặng hay nhẹ, nhẵn hay nhám, ướt hay khô, mềm hay cứng… điều đáng lưu ý là những cảm nhận này tùy thuộc vào kinh nghiệm sử dụng bốn khả năng kể trên trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. III. Cảm xúc bình yên của con người trong không gian nội thất III.1 Định nghĩa về sự bình yên Có một điều mà trong những năm gần đây chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống là sự xuất hiện của những quán cà phê sân vườn ngày một tăng, hay trên các tạp chí về kiến trúc, nội thất các chuyên đề về đem yếu tố thiên nhiên trong không gian nội thất cũng hết sức phong phú và đa dạng. Vậy có phải yếu tố thiên nhiên đang trở thành một thứ “ mốt” thời thượng của những nhà làm nội thất ? Hãy nghĩ về cảm xúc của mình khi sau một ngày làm việc mệt nhọc tìm đến một quán nước với một góc nhỏ lạ mà như quen

bởi sự gần gũi và dễ chịu của cỏ cây hoa lá, của sỏi đá, của nước…, hay cảm xúc trở về nhà sau những căng thẳng của một ngày làm việc được thấy khung cảnh thân quen của căn phòng khách nhìn ra khoảng thiên nhiên xanh mướt hay căn bếp ấm cúng cho những bữa cơm gia đình? Điều ta cảm nhận được lúc ấy có lẽ rất khó diễn tả nhưng gọi tên cảm xúc ấy là “ bình yên” chắc có lẽ cũng không sai. “ Bình yên” theo từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa Sài Gòn 2005 định nghĩa là gặp yên lành, không gặp điều gì tai họa, rủi ro. Bình yên đối với mỗi người cảm nhận khác nhau nhưng tác dụng mà cảm xúc ấy mang lại là sự thanh thản, tĩnh tại trong tâm hồn. Bình yên cũng có nghĩa là phẳng lặng, không xảy ra nhiều xáo trộn, đôi khi điều này bị hiểu lầm là sự đơn điệu và tẻ nhạt. Ta có thể cảm nhận sự bình yên ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, tuy còn tùy thuộc vào từng cá nhân cụ thể nhưng nhìn chung chúng ít nhiều cũng được sự đồng cảm của nhiều người: a. Cảm nhận sự bình yên trong âm nhạc Am nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh làm phương tiện biểu hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh thế giới quan của người nghệ sĩ. Ngôn ngữ âm nhạc- thế giới các âm thanh âm nhạc trong sự hòa hợp với nhau thật sự là khoa học về sự biểu đạt thế giới tâm cảm của con người. Ngôn ngữ âm nhạc, nhất là những âm thanh khí nhạc mang trong nó tính trừu tượng cao khi biểu đạt hình tượng nghệ thuật. Chính tính trừu tượng cao khi biểu hiện hình tượng nghệ thuật lại là một trong những sức mạnh vô cùng to lớn của nghệ thuật âm nhạc. Tính trừu tượng cao của hình tượng nghệ thuật âm nhạc là cơ sở để nâng cao đôi cánh thần diệu của trí tưởng tượng, đưa tâm cảm người nghe đến với một thế giới của những điều kì diệu, thế giới mà con người chỉ có thể đến đó bằng chính đôi cánh của loại hình nghệ thuật lấy âm thanh làm ngôn ngữ biểu hiện này. Ta thấy rằng nét nhạc đầu tiên đến với con người ngay từ giây phút mới hiện diện trên cuộc đời chính là tiếng hát ru. Chức năng xã hội của nó là làm cho tâm hồn đứa trẻ được êm dịu để đi lần vào giấc ngủ. Ngoài việc đem lại sự an bình cho giấc ngủ, tiếng hát ru còn gieo vào tiềm thức của trẻ nhỏ một câu thơ, một nét nhạc dân gian. Khi lớn lên, mỗi khi kí ức ngày xưa trở về thì giọng hát lời ca đó sẽ gợi lại cả cảm giác thuở còn thơ nằm trong vòng tay ấm áp của mẹ hiền cùng với dòng sữa nóng từ người mẹ chảy vào cơ thể. Au ơ… Ví dầu cầu ván (ơ…) đóng đinh Cầu tre lắt lẻo (ờ…) gập ghềnh khó ( a) đi … Au ơ… Tới mùa lúa trổ đầy bông Nhớ lời mẹ dạy Cửu Long quê mình Dòng sông hiền dịu bóng hình Cây me ngả nhánh, tâm tình đò ngang… Những hình ảnh trên gợi cho ta một kí ức với miền quê, cuộc sống thanh bình, không có người Việt Nam nào lại không cảm thấy bồi hồi khi nghe những làn điệu ru con ấy. Sự bình yên đã hiện diện ngay khi ta chào đời trong vòng tay yêu thương của bố mẹ, của gia đình. Am nhạc luôn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Khi nghe một bản nhạc thân quen hay một giai điệu mình yêu thích chắc chắn sẽ đem lại cho chúng ta nhiều cảm xúc tích cực. Không thể phủ nhận vai trò của âm nhạc trong việc làm giảm sự mệt mỏi và căng

thẳng, đó chính là phương thuốc vô hình cho chúng ta thêm nhiều hứng khởi và cảm xúc mới lạ trong cuộc sống hàng ngày. b. Cảm nhận sự bình yên trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày

Phạm Gia Bảo Châu– Khóa M2001 Hết Phần II. c. Cảm nhận sự bình yên trong phong cảnh thiên nhiên

*** Ý nghĩa của cảm xúc bình yên trong cuộc sống
• • • •

Làm giảm đi những áp lực trong cuộc sống Lấy lại sự cân bằng trong tâm hồn Giúp ta nhìn lại bản thân mình Giúp ta có cái nhìn độ lượng về những sai lầm, thiếu sót của mọi người

II.2 Thị giác về sự bình yên trong nội thất a. Đường nét Những đường nét được coi là bình yên là những đường nét có phương ngang hay theo một nhịp điệu, biên độ đều, cho ta cảm giác ổn định

b. Hình khối Những hình khối vững chãi, cân đều đều cho ta cảm giác bình yên. Hay những hình được bo góc cũng làm cho ta có cảm giác nhẹ nhàng hơn.

c. Thiên nhiên Không phải cho tới thời nay, khi đô thị hóa, bê tông hóa đang thăng hoa, dồn ép con người, ta mới chợt nhận thấy sự hiện diện của thiên nhiên trong căn phòng ta ở, nơi ta sống, nơi công sở thật quý giá nhường nào. Một chậu cây cảnh, một hòn non bộ, một bể cá cũng đủ cho ta tĩnh trí, tĩnh tâm.

d. Màu sắc Các nghiên cứu khoa học từ lâu đã khẳng định có sự tác động không nhỏ của màu sắc lên trạng thái tâm lý và sức khỏe của người sử dụng. Nếu để ý , bạn sẽ thắc mắc tại sao các quán ăn “nhanh” và xe buýt thường sơn màu vàng, cam, đỏ? Vì đây là các tông màu luôn tạo sự tỉnh táo, giúp bạn có được những động tác nhanh, lẹ. Cũng vậy, phòng chờ của bệnh viện thường sơn màu xanh nhằm giảm nhẹ nỗi lo lắng cho bệnh nhân. Mỗi màu có một tiếng nói riêng, không những phản ánh tính cách và cảm xúc con người mà còn ít nhiều tác động đến cảm xúc của con người làm cho con người cảm thấy thoải mái, dễ chịu hay bực bội, bất an… - Màu giảm stress: những màu có tác dụng giúp thư giãn như xanh nhạt, xanh lá tươi, xanh ghi xám thích hợp nhất đối với phòng ngủ, phòng tắm. Không nên chọn những màu

quá chói lọi như màu đỏ. - Màu tạo cảm giác bình yên: có thể kể đến màu be, màu trắng ngà, màu xanh cây và những màu nhạt khác có ánh vàng và xanh biển. Những màu này tạo cảm giác yên tĩnh, thanh bình và hài hòa.

e. Chất liệu Những loại chất liệu có nguồn gốc thiên nhiên hay mô phỏng tự nhiên đều cho ta cảm giác gần gũi, nhẹ nhàng và bình yên.

Gỗ: gỗ là loại vật liệu gần gũi nhất con người trong cuộc sống. Gỗ dù có hoặc không qua xử lý lúc nào cũng cho ta cảm giác gần gũi và ấm áp. Màu sắc, bề mặt, các vân gỗ cho ta những cảm xúc khác nhau, khi thì hiện đại, khi thì mộc mạc, lúc lại cầu kì, sang trọng…

Tre, nứa, mây…, các loại sợi thiên nhiên: các không gian và đồ nội thất sử dụng các chất liệu này cho ta cảm giác gần gũi với thiên nhiên.

Nước: nước đem đến sự thoải mái và sảng khoái bằng âm thanh và hình ảnh. Yếu tố âm thanh là đặc điểm nổi bật mà ít chất liệu nào có được, cho cảm giác thiên nhiên như đang ở gần. Khi sử dụng nước trong nội thất tốt nhất là nên để nước ở

thế động để tạo âm thanh, cho chảy từ trên cao xuống, đưa nước tràn qua thành hồ hay dẫn nước chảy từ khe…

Giấy dán tường: giấy dán tường được xem như một chất liệu hoàn thiện mang đến nhiều cảm xúc thú vị cho nhà thiết kế nội thất. Những ưu điểm nổi bật của vật liệu này: thời gian thi công nhanh, kỹ thuật thi công không quá phức tạp, giá thành tương đương sơn nước, màu sắc và hoa văn đa dạng, bề mặt chất liệu phong phú…

IV. Tìm hiểu đối tượng chọn ứng dụng( Cặp vợ chồng 50- 65tuổi) IV.1 Lý do chọn Lứa tuổi này là lứa tuổi chuyển tiếp giữa lứa tuổi cuối tuổi trưởng thành bước sang tuổi già. Mọi người ở lứa tuổi này hầu hết đều đã nghỉ hưu, hoạt động ngoài xã hội là rất ít. Ở độ tuổi này, hầu như tất cả con cái trong gia đình đã trưởng thành và chuẩn bị tách ra thành lập gia đình mới, do đó đôi khi những người ở độ tuổi này thường cảm thấy cô đơn khi con cái dần xa mình và bản thân mình cũng không còn hoạt động như trước. Sự bình yên của lứa tuổi này chính là sự nghỉ ngơi sau những năm làm việc, là khoảng thời gian mà họ dành trọn để chăm sóc nhà cửa, con cháu, để làm những việc mà mình yêu thích và cũng là lúc để họ nhìn lại quá khứ đúc kết lại kinh nghiệm truyền cho con cháu. Sự bình yên đối với lứa tuổi này là đặc biệt quan trọng, vì đấy là lúc họ không còn muốn lo toan, bôn ba việc mưu sinh, sau thời tuổi trẻ cống hiến và xông xáo, giờ đây họ muốn dừng lại để thế hệ trẻ tiếp nối , cũng đồng thời họ tìm về với những hoạt động và niềm vui của lứa tuổi mình. Bình yên với họ là một cuộc sống không phải lo toan nhiều chuyện kiếm sống, là niềm vui khi con cái trưởng thành và thành đạt, là sự kính trọng của mọi người khi nhìn nhận về bản thân họ, là sức khỏe không nhiều bệnh tật và tinh thần lạc quan, thoải mái… Sự bình yên đều cần thiết tất cả mọi người, nhưng đối với lứa tuổi này nó thật sự là điều không thể không đề cập tới, ví có lẽ khi trải qua gần hết cuộc đời họ mới hiểu và cần sự bình yên hơn bất cứ một lứa tuổi nào khác. IV.2 Ý nghĩa sự bình yên đối với người lớn tuổi

Sự bình yên đối với người lớn tuổi là:
• • • • •

Khoảng thời gian riêng tư không phải vướng bận, lo toan cuộc sống. Khoảng thời gian để suy tư và ngẫm nghĩ về quá khứ. Dành trọn thời gian để chăm sóc nhà cửa, con cháu. Niềm vui trong những thú chơi cây cảnh, chơi cờ, sưu tầm, du lịch…, hay gặp gỡ bạn bè… Sự hòa hợp với gia đình, cộng đồng khi bản thân không còn đóng góp trực tiếp cho xã hội.

IV.3 Đặc điểm tâm sinh lý của người lớn tuổi a. Đặc điểm tâm lý
• • • • •

Sợ cô độc. Thích được gần gũi người khác. Hay hồi tưởng quá khứ. Cẩn thận, kĩ lưỡng. Cần môi trường trong lành, hòa khí, hiền hòa

b. Đặc điểm sinh lý
• • • • • •

Sức dẻo dai giảm. Các cơ quan cảm giác kém nhạy cảm. Thị giác kém, mau mỏi Giảm sức nghe, khó nghe các âm thanh có tần số cao Hay quên. Ít ngủ, khó ngủ

c. Ưng dụng việc tìm hiểu tâm sinh lý vào không gian nội thất:
• • • • • • • •

Thị giác kém nên việc định hướng chậm nên không thiết kế nhiều góc nhọn Mắt phản ứng với ánh sáng không còn nhạy nên ánh sáng trong phòng không được quá chói Khả năng phân biệt màu giảm, do đó sử dụng màu sắc tránh sự tương phản cao. Không gian hài hòa với thiên nhiên. Hình khối chắc chắn không có góc nhọn, dàn trải theo phương ngang nhiều tạo sự ổn định và cân bằng. Anh sáng nhẹ nhàng, khai thác ánh sáng tự nhiên. Màu sắc tạo sự yên tĩnh ( trắng, trắng ngà, vàng kem, xanh nước biển, xanh lá cây…) Vật liệu dễ vệ sinh, mang tính an toàn, sử dụng vật liệu tự nhiên tạo sự gần gũi Phạm Gia Bảo Châu– Khóa M2001 Hết Phần III.

B. Ứng dụng I. Công trình biệt thự 1. Không gian phòng khách Theo cấu trúc của ngôi nhà Việt, thì phòng khách là nơi đầu tiên khi khách bước vào nhà, là khoảng không được ưu ái nhất trong ngôi nhà, vì nó yhể hiện đuợc “tầm” của gia chủ trong mắt của khách từ cái nhìn đầu tiên. Ơ phòng khách ta tiếp rất nhiều khách thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, có thể là đồng nghiệp, là bạn bè thân thiết, một người nào mới quen được ta mời về nhà, hoặc chỉ là những đứa trẻ bạn của con mình. Nhưng dù là ai, thì phòng khách vẫn là nơi ta trịnh trọng mời khách ngồi và dùng trà, là nơi ta hàn huyên trăm chuyện mà ta quan tâm, là nơi ta có thể tự hào rằng nhà ta là một nơi sang trọng và ấm cúng. Trong không gian biệt thự với sân vườn bao quanh, không gian phòng khách có được những ưu thế mà không phải mất công tìm kiếm đó là mảng thiên nhiên bao bọc xung quanh, chính vì vậy, kính được đặc biệt sử dụng để thiên nhiên có thể hiện hữu cả trong và ngoài nội thất. Chất liệu sử dụng chủ yếu là gỗ, yếu tố mặt nước cũng được quan tâm nhằm tạo sự mát mẻ trong không khí và cũng là yếu tố âm thanh góp phần với thiên nhiên ngoài kia. Sự bình yên chính là sự hài hòa của thiên nhiên và nội thất, thiên nhiên như thảm thấu vào trong và làm cho khung cảnh phòng khách thêm nhẹ nhàng và cởi mở.

2. Không gian bếp Trong một căn nhà đúng nghĩa, nếu người ta ví những chiếc cửa sổ thể hiện cá tính căn nhà, màu sắc là bộ thần kinh của ngôi nhà thì nhà bếp được ví như trái tim của cái tổ ấm ấy. Ơ đó luôn thấp thoáng bóng dáng một người đàn bà chuẩn bị nhịp đập , nhịp sống của một gia đình khi bà quyết định lúc nào và mùi gì để bắt đầu một bữa ăn sáng khởi sự đón chào một ngày mới, hoặc hương vị gì dành cho buổi ăn tối nhằm kết thúc một ngày làm việc trong không khí đầm ấm… Ở đó, có những đứa trẻ chạy ra vào vòi vĩnh một món ăn, ông bố nhắm nháp một tách cà phê… Căn bếp đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của một gia đình, đối với những cặp vợ chồng lớn tuổi có con cái đã trưởng thành và ra ở riêng thì căn bếp không những giữ nhiệm vụ sưởi ấm cho căn nhà mà còn là nơi quây quần đoàn tụ của cả đại gia đình vào những dịp cuối tuần, lễ tết, … Đó là nơi mà họ- những người chủ nhân lớn tuổi có thể dùng một tách trà, làm một cái bánh…, vừa chuyện trò vừa nấu nướng với những người bạn của mình trong cuộc sống chỉ có hai vợ chồng hằng ngày. Vì có sân vườn bao quanh nên việc mở cửa kính để nhìn thấy thiên nhiên như một bức tranh là phương án được chọn, không những nhà bếp được thông thoáng mà còn tận dụng ánh sáng tự nhiên để làm bếp, thiên nhiên sẽ giúp con người cảm thấy thoải mái trong mọi hoạt động, nhất là trong không gian bếp, nơi nạp lại năng lượng cho cơ thể sau những công việc thường nhật. Sự bình yên chính ở những mảng thiên nhiên ngoài kia và không gian ấm cúng của bếp.

3. Không gian sân vườn Khi mua một căn nhà hay hoặc khi chuyển đến một căn hộ mới, mối quan tâm đầu tiên của chúng ta hầu như chỉ là nơi đó có bao nhiêu phòng ngủ, nhà bếp có đủ rông hay không và mái có bị dột hay không. Rất hiếm khi chúng ta chọn một nơi ở mới với điều kiện đầu tiên là khu vườn phải theo đúng yêu cầu của ta , cho dù chính khu vườn là phần quan trọng trong việc điều chỉnh sự mất quân bình gây ra do nhịp phát triển chóng mặt của đời sống hiện đại. Chúng ta cần có khoảng trời xanh mát để thư giãn và bồi bổ lại năng lượng mỗi khi quay về nơi ăn chốn ngủ của mình. Không mấy người trong chúng ta, vào một lúc nào đó trong đời, lại không bồi hồi khi nhìn một vạt cỏ xanh mướt bên đường lại không mơ về cả một màu xanh bát ngát của cánh đồng lúa vào lúc trổ đòng. Chúng ta phản ứng với khu vườn của mình thông qua các giác quan. Hương thơm của một loại cây chúng ta yêu thích có thể mang lại cảm giác ngây ngất. Không có gì tuyệt hơn là chúng ta có một căn nhà đủ rộng rãi để ở và một khu vườn đem lại sinh khí cho ngôi nhà. Việc hòa hợp giữa thiên nhiên và kiến trúc là một sự kết hợp đem lại cho cuộc sống, sinh hoạt của con người thêm phần thú vị. Một căn bếp với ô cửa kính nhìn ra khoảng cây xanh tươi mát, một chỗ ngồi ăn nhìn ra hiên nhà mát rượi bóng cây…, điều đó chắc chắn sẽ làm cho chúng ta thêm sự thích thú và hứng khởi với công việc bếp núc hằng ngày.

II. Công trình chung cư 1. Không gian phòng khách Đối lập với biệt thự ở trên, với diện tích hạn hẹp theo qui định, chung cư không phải là nơi hào phóng cho những ý tưởng và một không gian sống đáp ứng tất cả những yêu cầu

và thỏa mãn mọi nhu cầu của con người sống trong đó. Song, nếu biết sắp xếp và tính toán thì không gian của chung cư vẫn có thể đem lại đầy đủ những tiện ích cho chúng ta. Mặc dù không được sở hữu khỏang sân vườn rộng lớn bao la, chúng ta vẫn có thể chạm tới được thiên nhiên chỉ bằng những khoảng xanh ngoài ban công hay khéo léo mang hình ảnh của thiên nhiên vào nội thất một cách gián tiếp qua màu sắc, vật liệu hay một khoảnh nhỏ sắp đặt cho sỏi đá, hoa và nước. Sự bình yên trong không gian nhỏ này chính là ở sự hạn chế về độ cao và chất liệu sử dụng. Những vật liệu sử dụng trong không gian này hầu hết là vật liệu có nguồn gốc tự nhiên và mô phỏng hình ảnh của tự nhiên, bố cục của phòng được hạn chế về chiều cao như chỗ ngồi tiếp khách được làm âm dưới sàn nhằm tạo cảm giác ấm cúng và khoảng trần thấp của chung cư cũng được đẩy lên cao hơn.

Phối cảnh phòng khách 2. Không gian phòng ngủ Một phần ba cuộc đời con người dành cho giấc ngủ. Vì vậy, ngủ không chỉ đơn thuần là ngả lưng sau một ngày làm việc để chuần bị cho một ngày mới mà còn là thời gian thư giãn, lấy lại năng lượng đã mất. Trong phòng ngủ không sử dụng ánh sáng trắng, mà lấy ánh sáng màu từ đèn ngủ và ánh sáng tự nhiên từ cửa sổ, bên ngoài cửa sổ là vài chậu cây đơn giản, một dây leo dịu dàng để không gian không đơn điệu. Khoảng nắng chói chang nhìn ra ban công có thể khắc phục bằng màu xanh dịu mát của cây xanh.

PHẦN 3: TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “ Tâm lý học”- P.A. Rudich- NXB Thể dục thể thao 1980 2. “ Cơ sở tâm lý học ứng dụng”- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2001 3. “ Con mắt nhìn cái đẹp”- Nguyễn Quân 4. Tạp chí Kiến trúc Nhà đẹp 5. Tạp chí Kinh tế- Đô thị- Nội thất Phạm Gia Bảo Châu– Khóa M2001 Hết.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful