Bà Therese Neumann: nhà thần bí và được in năm dấu thánh

Therese Neumann, Mystic and Stigmatist Adalbert Albert Vogl Lời mở đầu Chúng ta được Thánh Kinh bảo đảm rằng Giáo hội sẽ được nhận biết qua các phép lạ, và lời hứa của Đấng Cứu Thế của Giáo Hội luôn được hoàn tất trong mọi giai đoạn của lịch sử. Phép lạ thường xảy ra vào những giai đoạn nổi lên nhiều nghi ngờ nhất. Rõ ràng đó là câu trả lời của Thiên Chúa đối với nỗ lực của con người trong việc chối bỏ hoặc hạn chế quyền năng của Người, để đối phó với công việc do bàn tay Người làm ra. Phép lạ Lộ Đức đã làm cho những người theo chủ thuyết duy lý và những người ưa chế diễu ở thế kỷ 19 phải bối rối, và mọi chủ thuyết độc hại có thể tìm thấy thuốc giải độc qua hiện tượng lạ lùng, nó làm mất tác dụng của thuyết độc hại và đem lại niềm tin cho những người mong muốn được nhìn thấy sự thật và nhận ra được Tác Giả của sự thật, đàng sau những biến cố phi thường này. “Sự kỳ diệu của việc được in năm Năm Dấu Thánh và hiện tượng sống mà không cần đến sự ăn uống là một phần của sự kiện lịch sử xác thực của Giáo Hội xuyên qua hàng thế kỷ. Việc Đấng Cứu Thế in các Vết Thương cứu chuộc của Người trên thân thể những vị thánh, hay việc ban Bánh Thiên Thần cho những người được tuyển chọn để thay cho các thức ăn bình thường, những công việc như thế không là sự bỡ ngỡ quá đáng hoặc băn khoăn lo lắng giữa những người tin vào Thiên Chúa và biết rằng có những kết quả và kế hoạch có thể nhận thức được vượt trên sự tuân theo một cách mù quáng và cứng ngắc các luật thiên nhiên. “Tại sao người ta phải nghĩ rằng Thiên Chúa đã tự trói tay Người lại, trói chính bàn tay đã tạo dựng lên vũ trụ đó? Sự việc Đấng là Thần Khí, quyền năng vô cùng nên bị bắt buộc phải tuân theo những qui luật tự nhiên gắn liền với thứ tự thấp kém của sinh vật, và phải vĩnh viễn không được thực hiện những khoản trừ nào, là điều tuyệt đối vô lý. Đây là cách duy nhất làm cho những người có đầu óc duy vật phải kinh ngạc khi nhận ra rằng Thiên Chúa có quyền năng trên các sự kiện - những sự kiện mà họ cho rằng không thể thay đổi được và thuộc về những luật tuyệt đối không thể lay chuyển. “Theo thống kê được thực hiện năm 1920, những người được Thiên Chúa tuyển chọn để mang Năm Dấu Thánh, đã lên tới trên 300. Thống kê này chỉ ghi chép những sự kiện đã được ghi lại và được điều tra mà thôi. Có lẽ thánh Phan-xi-cô thành At-si-si là trường hợp độc đáo nhất, vị được in Năm Dấu Thánh hai năm trước khi ngài qua đời năm 1224. “Trong thế kỷ 20, có hai vị được in Năm Dấu Thánh nổi tiếng, đó là cha Pio thành Pietrelcina, Ý, ngài được in Năm Dấu Thánh từ năm 1918 cho đến khi qua đời năm 1968, và bà Therese Neumann, nước Đức được in Năm Dấu Thánh từ năm 1926 cho đến khi qua đời năm1962. Trong cả hai trường hợp, món quà huyền nhiệm của Thiên Chúa này đã làm tăng tiến đức tin nơi rất nhiều người và biểu lộ gía trị tinh thần của những đau khổ trong kế hoạch của Thiên Chúa. Qua cuốn sách này, rất nhiều người sẽ hiểu được đời sống của bà Therese Neumann, nhà huyền bí và vị được in Năm Dấu Thánh”.

Tiểu sử bà Therese Neumann:
Therese Neumann sinh vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh 8-4-1898, trong một ngôi làng nhỏ tại Konnersreuth, nước Đức, và là chị cả trong gia đình gồm 10 người con. Cha mẹ Therese thuộc tầng lớp nghèo, ông bà làm chủ một nông trại nhỏ, nhưng thu nhập không đủ cung cấp cho các nhu cầu của gia đình, nên ông Neumann phải làm nghề may để phụ cấp thêm. Cũng may là Therese Neumann, chị cả, là một người khỏe mạnh và có thể phụ giúp cha mẹ trông coi các em, nhất là sau khi ông Neumann được gọi nhập ngũ để phục vụ trong thế chiến thứ nhất.

Niềm khao khát của Therese là trở nên một Nữ Tu truyền giáo phục vụ tại miền nghèo đói ở Phi Châu. Nhưng một tai nạn trầm trọng xảy ra đã khiến Therese không thể đạt được mộng ước: Trong biến cố căn nhà của người chú bị cháy, bà đã hăng hái chữa cháy và bị ngã xuống từ trên cao, khiến bà bị bán thân bại liệt, cộng với chứng co bắp thịt chân rất nặng. Không sờn chí, bà quyết tâm khắc phục bệnh tật. Nhưng sự quyết tâm này lại đem đến cho bà một số tai nạn và thương tích khác. Kết quả, chứng co bắp chân bị nặng thêm; bà thường bị hôn mê bất tỉnh, có khi cơn hôn mê kéo dài đến vài ngày; tháng Ba, Therese bị mù hoàn toàn; vì bị bất toại, nên bà phải nằm mãi trên giường, do đó phát sinh chứng thối hoại thân thể, chứng bệnh nghiêm trọng tới mức để lộ các xương ra; luôn bị chứng buồn nôn, cho nên bà chỉ có thể uống chất lỏng để sống mà thôi... Đau khổ bủa vây tứ bề, nhưng Therese đã dâng tất cả lên Thánh Tâm Chúa Giesu. Khả năng chịu đựng đau khổ của bà trong tinh thần tùng phục Thánh Ý Chúa là một phản ảnh đời sống đạo tuyệt vời của gia đình cha mẹ bà. Các thành viên trong gia đình thay phiên nhau đọc các sách về Chúa, về Đức Mẹ và các thánh cho bà nghe. Câu chuyện về Bông Hoa Nhỏ của Chúa Giesu (thánh Tê-rê-sa Hài Đồng) là một trong những câu chuyện lôi cuốn bà nhất. Thực thế, gia đình ông bà Neumann sống khiêm tốn, chăm chú tuân thủ giới luật Chúa và Giáo Hội, yêu thương giúp đỡ mọi người. Sau này khi Therese được mọi người mọi giới biết đến, cũng không thay đổi chút nào nếp sống khiêm tốn của họ, họ không nhận bất cứ khoản tiền biếu tặng nào của khách thăm viếng. Nhưng một ngày rất vui mừng đã đến với bà, đó là ngày Chúa Nhật 29-4-1923, ngày Giáo Hội tôn phong chân phước cho Nữ Tu dòng kín Tê-rê-sa Hài Đồng Giesu. Therese Neumann đã làm tuần chín ngày cho biến cố này, bà cũng trang hoàng hoa nến quanh tấm ảnh Nữ Tu Tê-rê-sa Hài Đồng mà cha bà đã cho cách đây ít năm. Trong ngày lễ tôn phong chân phước, bà nhận được một bông hồng do Tê-rê-sa Hài Đồng tung xuống như lời chị thánh đã hứa khi còn sống, đó là vào đúng lúc phong chân phước, mắt bà được mở ra, bệnh mù được khỏi hoàn toàn. Vào ngày 17-5-1925, ngày chân phước Tê-rê-sa được tôn phong lên hàng hiển thánh, Therese Neumann nghe thấy giọng nói êm ái của thánh nữ: - Therese, em không muốn được khỏe lại sao? - Tất cả đều tốt cho con: được khỏe mạnh hay tiếp tục bệnh, ngay cả sự chết, tất cả đều là ý Chúa, Therese Neumann trả lời. - Therese, em không vui nếu em được giảm bớt đau khổ hay sao, ít là có thể đứng dậy và đi lại được? - Mọi sự đến từ Chúa đều làm cho con vui. - Therese, chị sẽ cho em một niềm vui nhỏ. Giờ em có thể đứng dậy và đi lại được, nhưng em vẫn phải chịu đau khổ nhiều. Nhưng đừng sợ, chị đã giúp em trong quá khứ, thì chị cũng sẽ giúp em trong tương lai. Trong khi thánh nữ nói, Therese cảm thấy như có đôi tay mạnh mẽ nâng bà ra khỏi giường. Bà lập tức được khỏi bệnh bất toại sau sáu năm rưỡi chịu đựng; cả chứng thối hoại thân thể cũng được lành lại, một lớp da mới mọc ra bao phủ các vết thẹo.

Therese Neumann được in Năm Dấu Thánh.
Vào sáng sớm thứ Sáu của tuần thứ nhất mùa chay 5-3-1926, Therese cảm thấy không được khỏe, nên bà nằm nghỉ trên giường. Sau đó cô bị hôn mê. Tới gần trưa, bà tỉnh lại và ngạc nhiên vì phía bên trái của áo ngủ của bà bị dính máu. Bà khám phá thấy rằng vết máu rỉ ra từ một vết thương phía trên của trái tim. Bà dùng miếng vải lau máu và dấu dưới nệm, bà quyết định không nói với ai vì nghĩ vết thương sẽ lành lại mau chóng.

Sau đó bà trở lại với các công việc thường nhật, cho đến tối thứ Năm tuần sau, bà lại cảm thấy không khỏe, do đó bà buộc phải nằm nghỉ trên giường. Sáng thứ Sáu, bà xuất thần thấy thị kiến. Điều làm bà rất ngạc nhiên đó là vết thương bên trái lại chảy máu. Bà liền nói cho em gái là Creszentia biết chuyện này. Thứ Sáu tuần thứ ba mùa chay, hiện tượng này lại xảy ra, nhưng bà chỉ cho đó là chuyện bình thường, nên không quan tâm lắm. Sáng thứ Sáu tuần thứ tư 26-3, sự kiện lại diễn ra như ba lần trước. Trong lúc xuất thần, một vết thương xuất hiện trên lòng bàn tay trái bà. Bây giờ thì mọi sự đều không thể dấu được nữa, cả miếng vải thấm máu được dấu dưới nệm cũng bị khám phá. Mọi người trong gia đình đều lo cho sức khỏe của bà; nhất là họ kinh ngạc vì các vết thương và các thị kiến bà nhận được trong ba thứ Sáu mùa chay. Thứ Sáu tuần thứ nhất, bà thị kiến thấy Chúa Giesu và các Tông Đồ trong Vườn Cây Dầu; thứ Sáu tuần thứ hai, bà thấy thị kiến như lần trước, nhưng thêm cảnh Chúa bị đánh đòn và bị đội mạo gai, thứ Sáu tuần thứ tư, bà thấy Chúa Giesu vác Thánh Giá và bị ngã lần thứ nhất. Therese được thị kiến trọn cuộc khổ nạn của Chúa từ vườn Cây Dầu cho tới cái chết của Người trên Thập Giá, bắt đầu từ giữa đêm thứ Năm tuần Thánh 1926, và chấm dứt bằng cái chết của Chúa trên Thập Giá vào lúc ba giờ chiều thứ Sáu tuần Thánh. Sự đau đớn của Therese chịu thật ghê gớm. Các Vết Thương của Chúa cũng in nơi hai tay hai chân bà và chảy thật nhiều máu; cả đôi mắt bà cũng đầm đìa máu, chảy dài xuống dưới cằm, cổ và ngực. Thời giờ trôi đi và cơn đau đớn gia tăng, và đạt tới tột đỉnh vào lúc ba giờ chiều. Thế rồi mọi sự chấm dứt, Therese ngã xuống trên gối. Căn cứ theo Linh Mục linh hướng của bà là cha Naber, cũng như những thử nghiệm của các bác sĩ, thì bà đã chết với Chúa vào lúc ba giờ chiều. Các cuộc thử nghiệm cho thấy, tim bà ngừng đập, các mạch máu ngưng lại và bà ngừng thở. Bà nằm bất động trong khoảng thời gian độ 45 phút. Nếu trong tình huống bình thường thì bà đã được tuyên bố là đã chết thực sự. Sau 45 phút coi như đã chết, Therese từ từ tỉnh lại, khoảng một tiếng đồng hồ sau, Therese trở lại trạng thái bình thường. Therese được thông phần đau khổ với Chúa trong nhiều thứ Sáu về sau này, nhưng lần đáng chú ý xảy ra vào Thứ Sáu 5-11-1926, Therese nhận 9 vết thương trên đầu gây lên do Mạo Gai, và các vết thương trên vai và lưng, cộng với các vết thương trên hai tay và hai chân, như thế là các Dấu Thánh của Chúa đã in trên thân thể bà và kéo dài cho đến khi bà qua đời, tổng cộng độ 45. Số lượng máu chảy ra từ các vết thương thay đổi tùy từng đợt, nhưng cao điểm là vào mùa chay, nhất là vào thứ Sáu Tuần Thánh. Một đặc điểm là dù bà nằm trên giường, mười ngón chân hướng thẳng lên trần nhà, nhưng khi máu chảy ra từ hai mu bàn chân của bà lại không tuân theo luật tự nhiên, thay vì chảy xuống mắt cá chân, thì máu lại chảy ngược lên các ngón chân, giống như khi Chúa bị đóng đanh trên Thập Giá. Máu chảy ra từ hai tay cũng lạ lùng tương tự. Trong lúc xuất thần nhận thị kiến, khi bà khóc vì Chúa bị cáo gian và bị đối xử tàn tệ, thì nước mắt liền biến thành máu ngay khi Chúa bị chảy máu bởi sự hành hạ. Sự đau đớn của bà thì thường xuyên và khốc liệt hơn người ta có thể tưởng tượng. Có khi bà chịu đau đớn vài lần trong một ngày và bà đã tình nguyện xin Chúa để cho bà chịu đau khổ để cầu cho nhu cầu của những người khác như: các linh hồn trong luyện tội, các người tội lỗi, các bệnh nhân, người hấp hối, người có ý định tự tử, cho sự trở lại của nhiều người. Vết thương nơi hai tay của Therese luôn là nguồn đau đớn cho bà khi phải làm các công việc thường nhật, cũng như vết thương nơi hai chân làm bà phải bước đi trong đau đớn. Nhưng cho dù luôn bị đau đớn vì các vết thương, Therese cũng không bao giờ sao lãng bổn phận; ngoài chuyện phải làm nhiều công việc khác nhau, bà còn dành nhiều thời giờ để cầu nguyện. Và vì bà không cần ngủ, hoặc nhu cầu ngủ của bà rất ít, bà chỉ nghỉ độ 30 phút vào một vài ngày nào đó thôi, cho nên ban đêm bà thường tới nhà thờ để quét dọn nhà Chúa sạch sẽ, xếp đặt mọi sự ngăn nắp, cùng trang hoàng bàn thờ với những bình hoa tươi thật đẹp. Nhờ đó, nhà thờ giáo xứ luôn sạch sẽ và không bao giờ thiếu hoa tươi đủ loại!

Bí tích Thánh Thể và sự kiện không ăn không uống của bà Therese Neumann.
Từ năm 1922 cho đến khi qua đời 1962, Therese không ăn bất cứ loại thức ăn nào, và từ năm 1926, bà cũng không uống nước nữa. Của ăn duy nhất nuôi sống bà chính là Mình Thánh Chúa mà bà lãnh nhận. Từ nhỏ, Therese có thói quen rước lễ hàng ngày. Chính vì nhu cầu tuyệt đối cần rước Mình Thánh Chúa để giúp bà sinh tồn này, mà vào những ngày bà phải chịu đau đớn đến độ bà không thể rước Mình Thánh Chúa được, thì nhiều khi Thánh Thể mà bà rước ngày hôm trước lại hiện lên trên lưỡi của bà để bà lãnh nhận. Chính vì vậy mà nhiều người đã gọi bà là "Nhà Tạm sống", trong đó có hồng y Michael Von Faulhaber thuộc giáo phận Munich, ngài là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, trong một bài giảng mùa chay tại vương cung thánh đường thánh Micae, ngài nói "Bà Therese Neumann là một Nhà Tạm sống". Hoặc bà có thể xin với cha Naber cho bà rước Mình Thánh Chúa riêng, sau khi cơn đau đớn chấm dứt, và dĩ nhiên là cha Naber chấp thuận. Trong lúc rước lễ, bà Therese thường được thấy thị kiến Chúa Giesu mặc áo dài trắng, mỉm cười dịu dàng tiến về phía bà. Therese giơ tay về phía trước, bà gần như được nâng lên khỏi ghế để tiến đến với Chúa. Quên hết mọi sự chung quanh, bà há miệng, và khi vị linh mục trao Mình Thánh Chúa cho bà, Mình Thánh Chúa liền biến tan trên lưỡi bà mà không cần động tác nuốt xuống của bà. Trong vòng 50 năm cha Naber coi sóc giáo xứ Konnersreuth, thỉnh thoảng xảy ra trường hợp cha phải đi giúp kẻ liệt, nên Thánh Lễ sáng hôm đó phải cử hành trễ. Nhưng bà Therese thì hầu như không thể chờ đợi lâu, lòng khao khát rước Thánh Thể khiến bà ra như sắp chết vì đói. Trong trường hợp này chính Chúa đem một Bánh Thánh đã được truyền phép từ Nhà Tạm đến cho bà chịu. Biết như vậy, cho nên cha Naber luôn để dành cho bà một Bánh Thánh trong Nhà Tạm. Trong cuốn sách nhan đề "Đời sống Công Giáo huyền nhiệm" viết rằng hiện tượng này chỉ xảy ra nơi những người Công Giáo thánh thiện mà thôi. Cuốn sách nêu ra một số trường hợp như thánh Nicholas of Flue sống mà không dùng tới thức ăn và nước uống trong 20 năm; Đấng đáng kính Anne Catherine Emmerich sống mà không cần tới thức ăn 12 năm trước khi qua đời; Chân phước Angela of Foligno: 8 năm; Elizabeth von Reute: hơn 15 năm; thánh Lidwina of Schiedam: 12 năm; Dominika Lazzari và Louise Lateau, mỗi vị 14 năm. Thức ăn duy nhất của các ngài là Mình Thánh Chúa. Một lần, vị linh mục phó xứ hỏi bà Therese: - Bà không cảm thấy đói à? - Cha biết là con không ăn, bà trả lời. - Bà muốn vĩ đại hơn Đấng Cứu Thế chăng? Tại sao khi còn tại thế Ngài lại ăn uống như chúng ta? Bà Therese cười lớn và trả lời: - Đấng Cứu Thế có thể làm được mọi sự. Cha không biết Ngài là Đấng Toàn Năng hay sao? Rồi bà nhấn mạnh: Thưa cha, kết quả của sự không có gì vẫn là sự không có gì. Con không sống nhờ cái không có gì. Con sống nhờ Đấng Cứu Thế. Người đã tỏ cho chúng ta biết rằng: "Mình Ta thật là của ăn." Tại sao điều này lại không là một trường hợp có thể xảy ra, nếu đó là ý Chúa? Mặc dù bà Therese không ăn uống gì từ mùa Xuân 1922, và bà cũng không ngủ vào ban đêm, nhưng bà vẫn khỏe mạnh và lên ký đều đặn. Bà là một phụ nữ to lớn, năm 1927 bà cân nặng 55 ký, năm 1945: 84 ký; năm1953: 98 ký.

Những thị kiến của bà Therese Neumann.
Bà Therese được được Chúa ban cho rất nhiều thị kiến. Ngoài việc bà được thấy Chúa hàng ngày khi rước Thánh Thể, bà còn được thấy Chúa trong rất nhiều trường hợp khác nữa, nhất là những thị kiến về cuộc khổ nạn của Người vào các ngày thứ Sáu. Cũng thế, bà được thị kiến thấy Đức Mẹ, và hàng ngày bà được thấy giờ chết của các thánh, thấy một hay nhiều hơn mỗi ngày tùy ở lịch phụng vụ của Giáo Hội. Như thế là một năm bà có 365 thị kiến, mỗi ngày một thị kiến, đôi khi trong một ngày bà nhận được ba thị kiến hay nhiều hơn. Thị kiến xảy ra đôi khi rất ngắn, chỉ độ vài phút, đôi khi rất lâu. Khi bà Therese thị kiến về giờ chết của một vị thánh nào đó, bà được hội nhập vào đời sống của vị thánh đó, bà cảm thấy nóng hay lạnh tùy ở mỗi trường hợp, bà thấy được quang cảnh chung quanh, cảm được nỗi đau đớn hay vui mừng của vị thánh lúc đó, ngửi được hương thơm các thánh đã ngửi được. Một lần, bà kể với một nhóm người, trong đó gồm một số linh mục về thị kiến mới nhất của bà về thánh nữ Maria Ma-đa-len-na. Bà tả thánh nữ đã đổ dầu thơm lên mình Chúa Giesu như thế nào, và đã lau chân Chúa làm sao; bà cũng ngửi được mùi thơm đó nữa. Vào ngày lễ các Thánh, bà Therese trải qua cuộc xuất thần kéo dài 24 tiếng đồng hồ, trong đó bà được thấy và thăm viếng nhiều vị thánh trên Thiên Đàng. Hôm sau, lễ Các Đẳng, bà cũng trải qua cuộc xuất thần dài 24 tiếng đồng hồ, trong đó bà được thấy các linh hồn nơi Luyện Ngục. Các linh hồ trong Luyện Ngục thường hiện đến với bà, đặc biệt vào ngày lễ Các Đẳng. Nhiều lần trong năm, bà Therese được các thiên thần thuộc nhiều cấp bậc tới thăm, nhất là các thiên thần bản mệnh.

Những đặc sủng bà Therese Neumann nhận được.
Ngoài hiện tượng đôi khi bà ở hai nơi trong một lúc, cùng những điều khác thường nêu trên, bà Therese còn nhận được nhiều đặc sủng, dưới đây là một vài trường hợp: - Chữa lành bệnh: Một người đàn ông đã phải chịu đau khổ nhiều năm vì chứng bại liệt toàn thân, ông được vợ đưa tới gặp bà Therese. Bà hết lòng khuyến khích họ, đặc biệt bà nhấn mạnh đến cả hai lợi ích của sự đau khổ và lời cầu nguyện. Trước khi vợ chồng ra về, bà đề nghị họ cùng với bà làm tuần chín ngày và dâng các đau khổ của mỗi người để cầu cho bệnh nhân. Đến ngày thứ bảy của tuần chín ngày, người chồng được hoàn toàn khỏi bệnh. Liền sau đó, hai vợ chồng trở lại Konnersreuth để cám ơn bà Therese. Họ tặng bà một tượng Thánh Giá bằng đá cẩm thạch Thụy Điển rất qúi. Thánh Giá này hiện được gắn trên ngôi mộ bà Therese ở nghĩa trang địa phương. - Biết chuyện quá khứ và tương lai: Năm 1930, người em trai của bà Therese là Ferdinand tới Thụy Sĩ để chiếu cho một số bạn hữu xem cuốn phim thu hình về lần xuất thần hôm thứ Sáu của bà, nhưng anh đã bị tổ chức Nazi, Đức Quốc Xã theo dõi. Anh bị bắt giam vô cớ, cuốn phim bị tịch thu và hủy đi. Sau đó ít lâu, một người hỏi bà về số phận của cuốn phim đó, bà liền trả lời: " cuốn phim đó đã bị xóa bỏ đi hết rồi." Năm 1941, ông Freiherr von Aretin, một học giả, một nhà văn và cũng là người bạn thân của bà Therese, viết thư cho bà để xin được gặp bà vào tháng Bảy. Bà hồi thư khuyên ông đừng tới trước ngày 15 tháng Tám. Ông không hiểu lý do dời lại. Độ một tuần lễ sau, bà, cha Naber và một bác sĩ lái xe tới Eichstatt để tham dự Thánh Lễ mở tay của một tân Linh Mục. Khi trở về, bà bị chứng tai biến mạch máu não và bị bán thân bại liệt phía bên phải. Các bác sĩ đã tận tình cứu chữa nhưng vô hiệu. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15 tháng Tám, một vài Linh Mục bạn của cha Naber tỏ ý muốn được gặp bà Therese. Bà Therese đồng ý, và cha Naber chở bà tới nhà xứ. Đến 12 giờ trưa, bà xuất thần, tay trái bà vươn tới trước, phần thân thể phía trái nhấc lên khỏi gối. Bà mỉm cười hướng về phía trước như thể bà đang đối diện với

đấng nào đó. Rồi bất thần bà ngã lại trên gối, cùng lúc đó chứng tai biến mạch máu não được khỏi hẳn. Bà giải thích rằng, bà đã thấy Đức Mẹ được hộ tống bởi hai thiên thần và Đức Mẹ đã chữa lành bệnh cho bà. Và giờ thì ông Freiherr đã hiểu! Một lần, bà Therese tới thăm cha Michael Rackle, trong cuộc đàm đạo, bà nói có ngày cha sẽ là Giám Mục giáo phận Eichstatt. Ít năm sau, Giám Mục Leo của giáo phận đó qua đời và Linh Mục Conrad von Preysing được phong Giám Mục cai quản giáo phận Eichstatt. Mọi người có vẻ đều cho lời tiên đoán của bà Therese là không đúng, nhưng ba năm sau Đức Thánh Cha cử đức Giám Mục von Preysing cai quản giáo khu Berlin, sau đó ít lâu ngài được tấn phong Hồng Y. Và cha Michael Rackl trở thành Giám Mục địa phận Eichstatt. - Một ngày vào tháng Hai 1948, bà Therese có chuyện phải làm ở Tirschenreuth. Đó là một ngày rất lạnh, cho nên bà thuê xe taxi để đi. Khi trở về, xe taxi bất ngờ bị hết ga nên không thể chạy tiếp. Bác tài rất bối rối lo âu vì xe phải nằm ụ giữa đường vào lúc thời tiết giá lạnh. Rồi Chúa hiện ra và nói với bà biểu bác tài cứ đề máy chạy tiếp. Không còn cách nào khác, bác tài đành thử đề máy, và kết quả là xe đã đưa bà về tới nhà mà không cần chút ga nào. Sau đó thì xe không thể tiếp tục cho đến khi xe được vô ga! - Sau cùng là ơn cảm hóa người tội lỗi và đưa nhiều người trở lại với đạo Công Giáo. Danh sách những người trở lại này thì rất nhiều, đây chỉ xin nêu một thí dụ: Anh Bruno Rothschild, một người Do Thái ngụ ở Vienna. Tình cờ anh đọc được một bài viết về bà Therese Neumann và anh quyết định đến Konnersreuth xem sao. Anh nhờ một linh mục Công Giáo viết thư giới thiệu với Cha Naber để xin được gặp bà Therese. Ước muốn của anh được đáp ứng. Trong vòng mấy tuần lễ đi đi về về từ Vienna tới Konnersreuth, anh thực sự bị đánh động bởi tất cả những gì anh được chứng kiến, sau cùng anh xin được trở lại đạo Công Giáo, cho dù có sự phản đối dữ dội của gia đình, cha mẹ anh tuyên bố sẽ từ bỏ và truất quyền thừa kế của anh, nếu anh theo đạo Công Giáo. Không những thế, anh còn xin đi tu và trở thành một linh mục Công Giáo nhiệt thành! Những món quà huyền nhiệm bà Therese Neumann nhận được đã ảnh hưởng đến rất nhiều người thuộc mọi cấp bậc trong xã hội. Thí dụ, vào những năm 1920 và 1930, Giám Mục Schrembs thuộc giáo phận Cleveland, Ohio rất thường xuyên tới thăm bà Therese, và nhiều lần ngài công khai xác nhận rằng bà Therese đã từng nói cho ngài về nhiều trở ngại trong địa phận của ngài. Bà nói ra từng chi tiết chính xác của những trở ngại đó và góp ý để ngài điều chỉnh. Theo đức giám mục Schrembs, thì bà Therese trong nhiều dịp, đã nói với ngài những điều mà chỉ có ngài và Chúa biết được mà thôi. Ngay cả lần thứ nhất tới thăm bà, bà lập tức cho biết ngài là ai và từ đâu tới! Bà góp ý với ngài về việc điều hành giáo phận. Ngài tỏ vẻ rất xúc động khi đề cập đến những vấn đề này. Mỗi ngày có nhiều vị chức sắc trong giáo hội và xã hội tới thăm bà, gồm Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, chính khách. Đó là chưa kể mỗi ngày có đến hàng trăm người từ khắp nơi trên thế giới đến để mong được gặp hay ít ra được nhìn thấy bà. Nhất là vào những ngày thứ Sáu, ngày bà được thông phần khổ nạn của Chúa, thì số người hiện diện lên từ 5000 đến 7000 người, đôi khi 15,000 người. Từ sau 1945, số lính Mỹ tới Konnersreuth ước lượng có tới nửa triệu. Trong lúc bà ngất trí thông phần khổ nạn của Chúa, thì người ta phải xếp hàng hai để lên bậc thang dẫn đến căn phòng của bà, mọi người đi từ từ, nhưng không được ngừng lại. Mặc dù bà rất yêu mến mọi người, nhưng sự kiện đông đảo người đến mỗi ngày trong suốt hơn 36 năm, đã trở nên gánh nặng cho bà và gia đình. Bà luôn nhấn mạnh rằng người ta nên siêng năng đến viếng Mình Thánh Chúa trong nhà thờ địa phương của họ, như thế họ sẽ được ơn ích nhiều, hơn là đến Konnersreuth. Bà Therese cũng viết rất nhiều thư mặc dù việc này có gây nhiều đau đớn cho bà, do Vết Thương nơi lòng bàn tay gây nên. Giữa năm 1952 và 1962, bà đã viết tổng cộng 1500 lá thư. Thư gửi đến cho bà đến từ khắp nơi trên thế giới. Khi ở trong trạng thái bình thường, bà mở thư ra và nhìn vào chữ ký, lập tức bà biết được nội dung lá thư, dù nó được viết bằng ngôn ngữ gì. Nếu thư được đặt bên cạnh trong lúc xuất thần, bà lập tức hiểu biết nội dung lá thư mà không cần mở phong bì ra.

Dự án cuối cùng và cái chết của bà Therese Neumann.
Một thời gian ngắn sau khi linh mục tiến sĩ Rudolf Graber được phong giám mục giáo phận Regensburg, ngài viết cho bà Therese một lá thư xin bà cầu nguyện và dâng các đau khổ cho dự án lập một nhà dòng mới, chủ yếu cầu nguyện theo ý chỉ của ngài và cho các nhu cầu của địa phận. Bà Therese rất vui mừng với dự án này. Bà không những cầu nguyện, dâng hy sinh, mà bà con vận động mọi người hỗ trợ để dự án này sớm thành tựu. Lòng nhiệt thành với công việc của bà đã giúp cho dự án được tiến triển rất tốt đẹp. Nhưng khi dự án xây dựng nhà dòng mới gần thành tựu, thì tình trạng sức khỏe của bà đột nhiên bị suy giảm trầm trọng. Do đó, cha Naber đã dâng Thánh Lễ tại bàn thờ riêng của bà (tất nhiên là cha đã về hưu). Cha Naber, với tư cách là cha linh hướng của bà, hỏi nếu sức khỏe của bà không tốt lại, thì sự thể sẽ như thế nào. Bà trả lời: "Thứ Ba tuần sau sẽ có giải quyết." Thì ra thứ Ba tuần sau chính là lần rước Thánh Thể cuối cùng của bà. Đó là lần rước Thánh Thể huyền nhiệm: Mình Thánh Chúa xuất hiện trên lưỡi bà! Chính Chúa Giesu trao Mình Thánh cho bà chịu. Thế rồi bà lâm cơn hôn mê hoàn toàn. Lúc đó là 10.30 sáng. Bà Marie em bà thấy vậy liền điện thoại cho cha Naber. Khi ngài bước vào phòng, thì bà Therese đã về với Chúa rồi. Linh mục Schumann, cha xứ họ đạo Konnersreuth ban bí tích cuối cùng cho bà. Không ai trong phòng tin bà Therese đã chết thật sự. Trong đời bà, bà đã chết đến trên trăm lần, nhiều lần trong những lần đó, người ta cho là bà đã lìa bỏ thế gian về với Chúa, và nến cũng đã được thắp lên. Nhưng lần này, sau khi chờ vài tiếng đồng hồ mà bà vẫn không tỉnh lại, họ liền mời ba bác sĩ tới xét nghiệm. Các bác sĩ xác nhận là bà đã chết, hôm đó là ngày 18-9-1962. Tin bà Therese Neumann qua đời đã lan truyền khắp châu Âu và toàn thế giới. Các bác sĩ được yêu cầu trông chừng và xét nghiệm thân thể bà, bắt đầu từ thứ Ba 18 tháng Chín cho đến thứ Bảy trước khi thi thể bà được đưa vào quan tài và đóng lại. Xác nhận của các nhà khoa học trong lần xét nghiệm lần cuối trước khi an táng là: không có mùi vị của sự chết, không có dấu của sự chết, và thân thể bà vẫn mềm mại, dù không còn thở nữa, nhưng môi bà vẫn tươi và ướt. Cũng trong ngày thứ Bảy này, các bác sĩ còn muốn khám nghiệm bên trong cơ thể bà, nên họ đã dùng một dụng cụ dài để đâm qua các bộ phận bên trong, kết quả: không có dấu hiệu của sự thối rữa, của sự chết, máu và các mô vẫn trong tình trạng tốt. Đám tang của bà Therese đã diễn ra rất trọng thể. Nhiều Giám Mục, chức sắc trong Giáo Hội, viên chức chính quyền và trên 10,000 người tham gia đám tang bà Therese Neumann. Sau cái chết của bà Therese, có rất nhiều đơn thỉnh nguyện được gửi tới Đức Giám Mục giáo phận Regensburg để xin tiến hành cuộc điều tra về sự kiện ở Konnersreuth. Những yêu cầu như vậy không chỉ đến từ nhiều vị trong hàng giáo phẩm và Linh Mục Tu Sĩ, nhưng còn đến từ rất nhiều giáo dân trên khắp thế giới nữa. Hồng Y Bea Sj. không lâu sau ngày qua đời của bà Therese, trong một số dịp đã yêu cầu là việc điều tra nên được tiến hành sớm. Thủ tục điều tra về trường hợp bà Therese đã được chính thức bắt đầu vào năm 1971. Giám Mục Rudolf Graber của giáo phận Regensburg đã cử Linh Mục tiến sĩ Carl Strater Sj. cầm đầu phái đoàn điều tra. Tới nay, Tòa Giám Mục Regensburg đã nhận được hàng chục ngàn thỉnh nguyện thư xin tiến hành thủ tục phong chân phước cho bà Therese Neumann.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful