GVHD: GS.

TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH - MARKETING
MÔN KINH TẾ VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI: THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TRÊN TỪNG THỊ TRƯỜNG.
GVHD: GS.TS. VÕ THANH THU LỚP: NGOẠI THƯƠNG 3 KHÓA: 32 NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN 1. TRẦN NGUYÊN THU THỦY 2. NGUYỄN THỊ DIỄM KIỀU 3. LÊ THỊ BÍCH THẢO 4. HỨA THANH THẢO 5. NGUYỄN THỊ BÍCH TRÂM (12/02)

THÁNG 10/2009

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 1

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu MỤC LỤC

Ngoại Thương 3 K32

III. Định hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam ..........................5 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM...........................................................................................................7 I. THỊ TRƯỜNG EU:.........................................................................................................7

2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ EU..........................................................12 3. Tình hình xuất nhập khẩu cụ thể các quốc gia trong EU: ...............................13 4. Thuận lợi và khó khăn....................................................................................19 6. Phương án xuất khẩu sang EU trong thời gian tới:.........................................25
II. THỊ TRƯỜNG MỸ:....................................................................................................27

3. Hạn chế khi xuất nhập khẩu vào thị trường Mỹ..............................................31 4. Thuận lợi khi đẩy mạnh thương mại với Mỹ:.................................................34 5. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giao thương với Mỹ.......................................35
III. THỊ TRƯỜNG ASEAN:............................................................................................37

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang các nước Asean...................................38 3. Thuận lợi –khó khăn- hạn chế trong giao thương với các nước Asean:..........52 4. Các biện pháp trong hoạt động giao thương với Asean:.................................55
IV. THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC:..............................................................................57

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Trung Quốc:........................................57 2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ Trung Quốc:...........................................60 3. Thuận lợi trong giao thương với Trung Quốc:................................................61 4. Khó khăn trong hoạt động giao thương:.........................................................63 5. Giải pháp trong hoạt động giao thương với Trung Quốc:...............................63
V. THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN........................................................................................67

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Nhật Bản.............................................68 2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ Nhật Bản................................................74 3. Thuận lợi khó khăn và thách thức:..................................................................76 4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với Nhật Bản:..........................78 1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Úc.......................................................83 ............................................................................................................................86 3. Thuận lợi khó khăn - thách thức và cơ hội:.....................................................87 4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động ngoại thương sang Úc:...................................89
VII. THỊ TRƯỜNG NGA:...............................................................................................92

1. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và Nga giai đoạn 2000-2008...............92 3. Cơ hội và thách thức.......................................................................................93 4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giao thương...................................................94
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM............95

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 2

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM I. Đánh giá về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2008
Bảng : Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2001-2008 Năm Xuất khẩu Trị giá Tăng trưởng 2008 62.9 29,5 2007 48.561 22,0 2006 39.805 22,9 2005 32.223 21,6 2004 26.503 31,5 2003 20.149 20,6 2002 16.706 11,2 2001 15.029 3,8 2000 14.483 25,5 Nhập khẩu Trị giá Tăng trưởng 80.4 28.3 60.830 37,0 44.410 20,4 36.881 15,0 32.075 27,0 25.256 27,9 19.746 21,8 16.218 3,7 15.637 34,5 Cán cân thương mại Tổng kim ngạch Trị giá Trị giá Tăng trưởng -17.5 143.2 30.9 -12.269 109.391 30,0 -4.805 84.215 21,6 -4.658 69.104 18,0 -5.572 58.578 29,0 -5.107 45.405 24,6 -304 36.452 16,7 -1.189 31.247 3,7 -1.154 30.120 30,0

Nguồn: Bộ Công thương, Tổng cục Thống kê

Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam:

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 3

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Đây là thời kỳ Việt Nam tham gia sâu rộng vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới: hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực thực thi. Việt nam thực hiện xong chương trình thuế quan có hiệu lực chung của Asean. Trong giai đoạn này, thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triển theo chiều rộng lẫn chiều sâu. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam:
Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 2008
5% 24% 52% Châu Á – TBD Châu Âu Châu Mỹ Châu Phi 19%

Khối thị trường, nước 1. ASEAN 2. EU 3. NGA 4. HOA KỲ 5. TRUNG QUỐC 6. NHẬT BẢN 7. ÚC

2007 XK NK 7813.4 158889.2 9096 5139.1 236.9 1016.2 10300 1900 3356.7 12502 6069.8 6188.9 3802.2 1059.4

2008 XK NK 10194.9 19570.9 10000.0 6047.4 1641 671.9 11868.5 2635.3 4535.7 15652.1 8537.9 8525.1 4225.2 1360.5

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 4

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

II. Đánh giá về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 8

tháng năm 2009:
Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại 8T/2009

Trị giá xuất khẩu phân theo một số nước, khối nước và vùng lãnh thổ chủ yếu 8 tháng đầu năm 2009 Thị trường EU ASEAN Mỹ Nhật Bản Ô-xtrây-li-a Trung Quốc Ấn Độ Ma-lai-xi-a U-crai-na Giá trị (1000USD) 5440253.125 5099499.583 6174300.122 3310985.827 1457618.743 2377892.702 190359.16 1007350.028 88322.887

III. Định hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam
Tiếp tục tạo khung pháp lý về thị trường quốc tế thông thoáng hơn cũng như kịp thời phát hiện và xử lý các trở ngại, rào cản về thị trường để tạo thuận lợi cho các hoạt động xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu. Trước mắt, cần tập trung nghiên cứu ký thêm các hiệp định, thoả thuận kinh tế thương mại với Italia, Tây Ban Nha, Bungary, Rumani, Mexico, Braxin... Điều chỉnh hoặc chấm dứt hiệu lực các hiệp định, thoả thuân thương mại với các nước thành viên mới của EU, nếu xét thấy không còn phù hợp. Theo dõi, đôn đốc thực hiện các hiệp định, thoả thuận còn hiệu lực, tổ chức, chuẩn bị, tham gia các cuộc đàm phán song phương và đa phương với các đối tác liên quan. Tham gia vòng đàm phán Doha để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam, đồng thời
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 5

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

tham gia đàm phán song phương với các đối tác trong WTO để mở rộng thị trường cho hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam. Nâng cao hơn nữa chất lượng nghiên cứu về tình hình thị trường; hàng hoá; biện pháp xử lý xuất nhập khẩu; các rào cản thương mại; các thay đổi về chính sách thuế; các quy định về vệ sinh an toàn; nhãn mác; tình hình cạnh tranh của các đối tác; khả năng thâm nhập hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam vào thị trường nước ngoài cũng như đề xuất các giải pháp phù hợp về phát triển thị trường, hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả hơn. Tiếp tục phấn đấu giảm nhập siêu và hướng tới cân bằng cán cân thương mại và có thể xuất siêu để có tiền trả nợ nước ngoài trong vòng 5 năm tới. Chủ động trước xu hướng chuyển dịch tỷ trọng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các khu vực thị trường

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 6

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM I. THỊ TRƯỜNG EU:
Năm 2000 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 VN xuất khẩu sang VN nhập khẩu từ Cán cân EU EU mại 2445.1 1317.4 +1127.7 3162.5 1840.6 +1321.9 3852.6 2477.7 +1347.9 4968.4 2681.8 +2286.6 5517.0 2581.2 +2935.8 7052.9 3118.4 +3934.5 9096.0 5139.1 +3956.9 10000.0 6047.4 +3925.6 thương

Đơn vị: triệu USD Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang EU:
1.1 Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá xuất khẩu sang EU
12000 10000
Triệu USD

9096 7052.9 4968.4 5517

10000

8000 6000 4000 2000 0 2000 2002 2003 2004
Năm

Trị giá xuất khẩu

2445.1

3162.5

3852.6

2005

2006

2007

2008

Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU đạt 10 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2007. Phấn đấu đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đạt 12,1 tỷ USD, tăng 14,2%. Về thị trường: Tiếp tục khai thác triệt để các thị trường trọng điểm có kim ngạch lớn, cụ thể: Đức, Anh, Pháp,Hà Lan, Bỉ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại vào các thị trường “mới” của EU.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 7

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Về mặt hàng: bên cạnh những mặt hàng đã có chỗ đứng trên thị trường như dệt may, giày dép, nông thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ... cần phát triển các mặt hàng mới, có triển vọng tăng kim ngạch như sản phẩm cơ khí, chế tạo (gia công), linh kiện vi tính và điện tử. Định hướng đối với một số mặt hàng cụ thể như sau: Dệt may: EU bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc. Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường này. Việt Nam và các nước dệt may khác sẽ phải cạnh tranh gay gắt với ngành dệt may Trung Quốc là nước có sức cạnh tranh cao, chủ động được nguyên phụ liệu và có khả năng đáp ứng nhiều loại phẩm cấp hàng hoá. Phấn dadáu, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 2,1 tỷ USD, tăng 13,5%. Giày dép: EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn thứ 2 trên thế giới sau Hoa Kỳ, nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng trên 36 tỷ USD/năm. Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhưng nhìn chung xuất khẩu của Việt Nam còn có nhiều hạn chế như: nhiều nguyên liệu đầu vào của ngành da giày phải nhập khẩu từ bên ngoài, khâu tiêu thụ còn phụ thuộc lớn vào đối tác trong liên doanh, khâu nghiên cứu thị hiếu thị trường, thiết kế mẫu mã và phát triển sản phẩm mới còn yếu. Phấn đấu, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 3 tỷ USD, tăng 9,1%. Thuỷ sản: EU là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn trên thế giới, nhập khẩu nhiều nhất philê cá đông lạnh chủ yếu là cá tuyết, cá tuyết vàng, và cá tra, sau đó là tôm đông lạnh, và cá ngừ. Hàng năm, kim ngạch nhập khẩu khoảng 40 tỷ USD.Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU năm 2008 đạt trên 1 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2007. Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 1,45 tỷ USD, tăng 16%. Cà phê: EU là thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với cà phê Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 45% trong xuất khẩu của Việt Nam. Phấn đấu, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 850 triệu USD, tăng 6,3% . Sản phẩm gỗ là mặt hàng có tiềm năng phát triển do EU là thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất thế giới. Nhìn chung, trình độ sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã có tiến bộ đáng kể, có thể đáp ứng được yêu cầu tương đối khắt khe của khách hàng EU về chất lượng và quy cách.Đồ gỗ của Việt Nam đã thâm nhập được vào hầu hết các nước EU trong đó những nước nhập khẩu chính là Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch. Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 900 triệu USD, tăng 15,4%. Một số điểm đáng lưu ý với thị trường EU năm 2009 : EU không gia hạn quy chế GSP đối với hàng da giày xuất khẩu của Việt Nam. Tại EU, theo Hiệp định “Tăng cường thực thi Luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và buôn bán gỗ” (FLEGT), được ban hành nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các lô hàng thông qua các bằng chứng gốc; Quyết định ngày 22/9/2008 của Hội đồng Châu Âu thiết lập hệ thống phòng ngừa và ngăn chặn đánh bắt kinh doanh cá bất hợp pháp... Ước lượng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực vào EU giai đoạn 2009-2010 Đơn vị tính: Kim ngạch: triệu USD; tăng %

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 8

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Nội dung

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2009-2010 Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá Tăng Trị giá tăng Tổng KN XK vào10.000 17,6 10.600 6,0 12.100 14,2 22.700 6,7 EU KNXK các mặt6.990 17,6 7.430 6,3 8.300 11,7 15.730 6,0 hàng chủ lực Dệt May 1.750 20,7 1.850 5,7 2.100 13,5 3.950 6,4 Giày dép 2.600 21,3 2.750 5,8 3.000 9,1 5.750 5,0 Thuỷ sản 1.100 20,6 1.250 13,6 1.450 16,0 2.700 9,9 Cà phê 820 -2,4 800 -2,4 850 6,3 1.650 1,3 Sản phẩm gỗ 720 20,0 780 8,3 900 15,4 2.400 7,9 (Vinanet) 1.2/ Tình hình xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của nước ta sang EU 6 tháng đầu năm giảm 13,9% so với cùng kỳ 2008, nhưng vẫn thấp hơn mức giảm tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của toàn EU trong thời gian này. Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh sang EU trong 6 tháng đầu năm nay có giầy dép giảm 19,6%, xuống còn 990 triệu USD; sản phẩm gỗ giảm 37%, xuống 267 triệu USD; sản phẩm chất dẻo giảm 21%, xuống 91 triệu USD; nhân điều giảm 25,2%, xuống còn 80 triệu USD. Trong khi đó, xuất khẩu một số mặt hàng vẫn duy trì được mức tăng nhẹ như cà phê tăng 3%, đạt 552 triệu USD; túi xách, ví, va li tăng 1,37%, đạt 161 triệu USD. Ngoài ra, xuất khẩu hàng dệt may, mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ 2, sau giầy dép cũng đạt khá, đạt 743 triệu USD, giảm 3,18%... Tham khảo kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng sang thị trường EU 6 tháng đầu năm nay 6 tháng 2009 Mặt hàng Giày dép các loại Hàng dệt may Cà phê Hàng thủy sản Gỗ và sản phẩm gỗ Máy vi tính, sản phẩm điện tử và 172.328 linh kiện Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 161.825 Sản phẩm chất dẻo 91.069 Hạt điều 80.063 Phương tiện vận tải và phụ tùng 77.582
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

(nghìn USD) 989.723 743.128 552.103 419.492 267.439

6 tháng 2008Tăng (nghìn USD) (%) 1.231.312 767.509 535.768 481.842 425.127 202.912 159.641 114.581 107.062 -19,62 -3,18 3,05 -12,94 -37,09 -15,07 1,37 -20,52 -25,22

giảm

Trang 9

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ 68.196 tùng khác Sản phẩm từ sắt thép 56.867 Hạt tiêu 44.318 Sản phẩm gốm sứ 40.859 Sản phẩm mây, tre, cói, thảm 35.302 Đá quý, kim loại quý và sản phẩm 26.167 Cao su 23.024 Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ 18.965 cốc Hàng rau quả 15.805 Gạo 10.580 Chất dẻo nguyên liệu 9.637 Sắt thép các loại 6.042 Sản phẩm từ cao su 5.111 Sản phẩm từ hóa chất 4.911 Chè 1.733

9.955 48.509 62.482 52.830 49.588 60.382 0 20.685 12.246 0 0 0 0 3.900

585,04 -8,64 -34,61 -33,18 -47,23 -61,87 -23,59 -13,60

-55,56

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 6 tháng đầu năm giảm 13,9% so với cùng kỳ 2008, nhưng mức giảm này vẫn thấp hơn mức giảm 22% của tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của toàn EU trong 4 tháng đầu năm nay. Cùng với sự phục hồi của kinh tế toàn cầu cũng như kinh tế khu vực châu Âu, dự báo xuất khẩu hàng hoá của nước ta sang thị trường này cũng sẽ tiếp tục xu hướng tăng trở lại. Nhưng do kinh tế EU phục hồi chậm nên tốc độ gia tăng xuất khẩu còn hạn chế so với các thị trường khác. Theo số liệu của Cơ quan thống kê EU (Eurostat), tỉ lệ thất nghiệp tại EU trong tháng 5/2009 là 8,9%, mức cao nhất kể từ năm 2005 và của khu vực đồng Euro là 9,5%, mức cao nhất kể từ năm 1999. Trong khi đó, GDP của EU được dự báo sẽ suy giảm 4% trong năm 2009, với 26/27 nước (trừ Hy Lạp) có mức tăng trưởng âm. Tuy nhiên đã có những dấu hiệu cho thấy thời kỳ suy thoái tồi tệ nhất đã chấm dứt. Kinh tế Anh quý II chỉ còn giảm ở mức 0,3% trong khi mức suy giảm của các quý trước là 1,8% và 2,4%. Tại Đức, doanh số bán lẻ trong tháng tăng 0,4%, tốt hơn so nới dự đoán là 0%. 1.3/ Xu hướng tiêu dùng EU đang có dấu hiệu thay đổi: Những diễn biến của thị trường EU thời gian qua cho thấy, Xu hướng tiêu dùng EU đang có dấu hiệu thay đổi. Đối với hàng thực phẩm: do dân số châu Âu ngày càng già đi, áp lực công việc cao nên xu hướng tiêu dùng thực phẩm sẽ lựa chọn những sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng cao, sạch và an toàn cho sức khỏe, những sản phẩm tiện lợi, ăn liền. Cộng thêm, xu hướng các hộ gia định nhỏ không có con ở châu Âu cũng đang tăng lên nên các hộ gia đình người châu Âu chuyển sang tiêu dùng ít thực phẩm hơn và tiêu dùng
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 10

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

những sản phẩm có kích cỡ nhỏ, vừa phải thay vì chọn mua những sản phẩm có kích cỡ lớn như trước đây. Đối với hàng thời trang: người châu Âu ưa phong cách thoải mái, các loại bộ đồ thoải mái và giầy thể thao đang được ưa chuộng nhiều ở châu Âu. Đồng thời họ cũng hay thay đổi phong cách hơn so với trước đây chỉ mua vào 2 vụ chính là đông, hè thì nay mua vào nhiều lần trong năm. Bởi vậy, xu hướng của các nhà nhập khẩu cũng chuyển sang những nhà xuất khẩu qui mô nhỏ và vừa, linh hoạt thay cho những đơn đặt hàng rất lớn từ Trung Quốc với giá rất rẻ. Đây là một điểm có lợi cho các doanh nghiệp may mặc Việt Nam trong tương lai. Đối với hàng rau quả: lượng tiêu thụ có xu hướng tăng tại EU do thói quen ăn uống để bảo vệ, tăng cường sức khỏe của người dân. Đây là yếu tố làm gia tăng nhu cầu hoa quả từ các nước nhiệt đới tại EU. Một dự báo cho biết mặt hàng này sẽ đạt mức tăng 6-8%/năm. Hiện Việt Nam và một số nước ASEAN đang đàm phán với EU về hiệp định thương mại tự do giữa các nước ASEAN và EU (FTA ASEAN-EU). Hiệp định này nếu sớm được thông qua sẽ tạo ra lợi thế rất lớn cho Việt Nam do gần 60% hàng hoá xuất khẩu của nước ta vào EU đang phải chịu thuế nhiều hơn các nước trong khu vực. Nếu thông qua hiệp định, EU có khả năng giảm 90% thuế suất đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Theo tính toán của các chuyên gia, hiệp định cũng sẽ góp phần đẩy mạnh đầu tư vào các ngành định hướng xuất khẩu và đóng góp khoảng 2 – 15% vào tăng trưởng GDP của nước ta. Xuất khẩu lương thực qua EU có thể tăng 26 – 44%, hàng dệt may, giày dép có thể tăng tới 154% … Đối với mặt hàng dệt may, một nhà ngoại giao EU cho biết nhiều nước muốn bãi bỏ các mức thuế chống bán phá giá giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc trước mùa Giáng sinh năm nay, thời điểm ngành bán lẻ có doanh thu cao. Hiện đã có 15 nước ủng hộ bỏ loại thuế này. Đây là một thuận lợi lớn do trong hai năm qua, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam vào thị trường châu Âu giảm đáng kể do bị áp thuế chống bán phá giá. (Nguồn Tinthuongmai.vn)

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 11

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ EU
2.1 Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá nhập khẩu từ EU
7000 6000 5000 Triệu USD 4000 3000 2000 1000 0 2000 2002 2003 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 1317.4 1840.6 2477.7 2681.8 3118.4 2581.2 Trị giá nhập khẩu 5139.1 6047.4

2.2 Tình hình nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2009: Sơ bộ 7 tháng Trị giá Lượng (1000 USD) 2920560 19626 44908 46354 30443 40176 59502 53973 1420 20156 6989 2716 98106 98576 65886 1583 9521 58021
Trang 12

Khối nước

ĐVT

Trong đó : Xe máy nguyên chiếc Vải các loại Thuốc trừ sâu và nguyên liệu Thức ăn gia súc và nguyên liệu Sắt thép các loại Sản phẩm từ sắt thép Sản phẩm từ giấy Sản phẩm từ chất dẻo Sản phẩm từ cao su Sản phẩm khác từ dầu mỏ Sản phẩm hoá chất Sữa và sản phẩm từ sữa Phương tiện vận tải khác và phụ tùng Phân bón Nguyên phụ liệu thuốc lá Nguyên phụ liệu dệt may, da, giầy
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Chiếc 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD

106683

2035

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Nguyên phụ liệu dược phẩm Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác Linh kiện, phụ tùng xe máy Linh kiện, phụ tùng ô tô Kim loại thường khác Hoá chất Hàng thuỷ sản Giấy các loại Gỗ và sản phẩm gỗ Dược phẩm Dây điện và dây cáp điện Chất dẻo nguyên liệu Bông các loại Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Ô tô nguyên chiếc các loại

1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn Tấn 1000 USD 1000 USD Chiếc

2181

7736

30619 6046 1044

499

23069 26920 1064617 117 60430 6866 59370 11948 8184 12585 278188 62373 8072 769 1379 19912 18650

(Nguồn: www.tinnhanhchungkhoan.vn)

3. Tình hình xuất nhập khẩu cụ thể các quốc gia trong EU:
3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu từng quốc gia trong EU 7 tháng đầu năm 2009 Đơn vị 1000USD Sơ bộ 7 tháng Xuất khẩu Nhập khẩu

Khối nước, nước E U Trong đó : Ai-len Anh Áo Ba Lan Bỉ Bồ Đào Nha Bun-ga-ri Đan Mạch Đức Ê-xtô-ni-a
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

21060 746401 58586 95546 546733 48659 28171 90791 1069950 4809

68942 181736 66252 47647 143942 6015 14646 107613 726178 1612
Trang 13

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Hà Lan Hung-ga-ri Hy Lạp I-ta-li-a Lát-vi-a Li-tu-a-ni-a (Lít-va) Lúc-xăm-bua Man-ta Phần Lan Pháp Ru-ma-ni Séc Síp Xlô-va-ki-a Xlô-ven-nia Tây Ban Nha Thuỵ Điển

765595 40696 43889 486926 5232 20195 8747 1465 43233 455363 38149 63470 6896 46277 10296 569756 123359

238769 68216 3365 374541 1291 2431 1099 68576 408616 9679 16175 8090 3776 4857 97852 248645 (Nguồn: Tinnhanhchungkhoan.vn)

3.2/ Thị trường Anh: Năm 2000 2004 2005 2006 2007 2008 Xuất khẩu 479.4 1010.3 1015.8 1179.7 1431.3 1581 Nhập khẩu 149.9 227.7 102.4 202.1 237 306.3 Đơn vị: triệu USD Nguồn: Niên giám thống kê
Kim ngạch xuất nhập khẩu sang Anh
1800 1600 1400 1200 1000 800 600 400 200 0

1431.3 1010.3 479.4 149.9 2000 227.7 2004 182.4 2005 Năm 202.1 2006 237 2007 1015.8 1179.7

1581 Xuất khẩu Nhập khẩu 386.3

Triệu USD

2008

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 14

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Năm 2008: Trong năm 2008, những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Anh là: sản phẩm chất dẻo; cà phê; hạt tiêu; máy vi tính, sp điện tử & linh kiện; hàng dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ.... Số liệu xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Anh tháng 12 và 12 tháng năm 2008 Mặt hàng XK ĐVT Tháng 12/2008 12 tháng 2008 Trị giá Lượng Lượng Trị giá (USD) (USD) 125.397.783 1.581.044.649 Hàng hải sản USD 193.54 68.622.592 Hàng rau quả USD 1.113.374 3.546.985 Hạt điều Tấn 207 9.868.918 8.482 49.243.159 Cà phê Tấn 6.18 35.157 69.330.889 Chè Tấn 908 1.587.669 Hạt tiêu Tấn 179 568.716 1.901 8.056.744 Gạo Tấn 103.88 1.122 711.722 Mỳ ăn liền USD 37.153 919.458 Sản phẩm chất USD 4.313.419 46.260.266 dẻo Cao su Tấn 367 570.103 3.175 7.079.475 Tuí xách, ví, USD 1.463.555 20.103.375 vali, mũ và ôdù Sản phẩm mây, USD 581.9 7.217.452 tre, cói và thảm Gỗ và sp gỗ USD 15.289.844 197.651.285 Sản phẩm gốm, USD 1.662.822 14.937.987 sứ Sp đá quý & USD 14.421.715 kim loại quý Hàng dệt may USD 25.464.525 316.802.227 Giày dép các USD 46.263.968 558.960.423 loại Thiếc Tấn 439 6.481.495 Máy vi tính, sp điện tử & linhUSD 1.408.746 30.127.972 kiện Dây điện và USD 694.139 dây cáp điện Đồ chơi trẻ em USD 426.099 7.968.485 Theo Vinanet

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 15

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

7 tháng đầu năm 2009 - Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2009 kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Anh đạt 746,4 triệu USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2008. - Trong 7 tháng đầu năm 2009 mặt hàng dẫn đầu kim ngạch xuất khẩu vào Anh là giày dép các loại, với trị giá 269.242.846 USD, chiếm 36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam vào thị trường này; tiếp đến là mặt hàng dệt may, với trị giá 148.409.127 USD, chiếm 19,8%; gỗ và sản phẩm gỗ cũng đạt kim ngạch khá cao, với trị giá 93.295.245 USD. - Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: hàng rau quả đạt trị giá 1.674.509 USD, giảm 29%; hạt điều đạt trị giá 19.607.102 USD, giảm 39%; cà phê đạt 17.495 tấn, trị giá 26.157.577 USD, giảm 28% về lượng và giảm 48% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008. - Số liệu xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Anh 7 tháng đầu năm 2009 Mặt hàng XK Tổng Giày dép các loại Hàng dệt may Gỗ và sp gỗ Hàng thuỷ sản Cà phê Hạt điều Sp từ chất dẻo Tuí xách, ví, vali, mũ và ôdù USD USD USD USD Tấn Tấn Tấn USD 17.495 4.104 ĐVT Lượng Trị giá (USD) 746.400.960 269.242.846 148.409.127 93.295.245 41.934.499 26.157.577 19.607.102 19.360.238 19.240.241 12.115.463 11.026.654 8.263.251 6.892.625 1.281 4.117.368 3.297.364 3.091.786 1.674.509 591 844.579 707630
Trang 16

Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện USD Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ USD tùng khác Sp từ sắt thép SP gốm sứ Hạt tiêu Bánh kẹo và các sp từ ngũ cốc Sp mây, tre, cói và thảm Hàng rau quả Cao su Phương tiện vận tải và phụ tùng
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

USD USD Tấn USD USD USD USD USD

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Đá quý, kim loại quý và sp Giấy và các sp từ giấy Sắt thép các loại

USD USD USD 8

145.437 116.404 37.519 Theo Stockbiz

3.3/ Thị trường Đức Năm 2000 2004 2005 2006 2007 2008 Xuất khẩu 730.3 1064.7 1085.5 1445.3 1854.9 2073.4 Nhập khẩu 295.2 694.3 661.9 914.5 1308.5 1480 Đơn vị: triệu USD Nguồn: Niên giám thống kê
Kim ngạch xuất nhập khẩu sang Đức
2500 2000 Triệu USD 1500 1000 500 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 730.3 295.2 1064.7 694.3 1085.5 661.9 1445.3 914.5 1854.9 1308.5 2073.4 1480 Xuất khẩu Nhập khẩu

7 tháng đầu năm 2009: - Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2009 kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Đức đạt 1,06 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm 2008. - Trong 7 tháng đầu năm 2009 có 4 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Đức đạt kim ngạch hơn 100 triệu USD. Mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất là hàng dệt may, đạt trị giá 236.790.257 USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 22,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp đến là mặt hàng giày dép các loại trị giá 189.161.670 USD, chiếm 17,6%; mặt hàng cà phê đứng thứ 3 với trị giá 127.236.085 USD, chiếm 11,8%; mặt hàng thuỷ sản trị giá đạt 115.724.979 USD, chiếm 10,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường này. - Số liệu thống kê cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Đức giảm, tuy nhiên một số mặt hàng xuất khẩu vẫn tăng so với cùng kỳ
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 17

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

năm 2008. Cụ thể: mặt hàng hạt điều với lượng xuất 1.554 tấn, trị giá 7.470.321 USD, tăng 37,7% về lượng và tăng 10,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008. Đáng chú ý nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện được xuất khẩu khá mạnh sang thị trường Đức trong 7 tháng đầu năm, với trị giá đạt 10.730.248 USD, tăng 380% so với cùng kỳ năm 2008. - Một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Đức 7 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước là: hàng rau quả đạt 3.033.700 USD, giảm 18%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 46.022.631 USD, giảm 40%; cao su với lượng xuất 8.499 tấn, trị giá 13.642.575 USD, giảm 36% về lượng và giảm 60% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008. Số liệu xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Đức 7 tháng đầu năm 2009 Mặt hàng XK Tổng Hàng dệt may Giày dép các loại Cà phê Hàng thuỷ sản Tuí xách, ví, vali, mũ và ôdù Gỗ và sp gỗ Phương tiện vận tải và phụ tùng Sp từ chất dẻo Sp từ sắt thép Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác Hạt tiêu Sp mây, tre, cói và thảm Cao su SP gốm sứ Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện Hạt điều USD USD Tấn USD USD USD USD USD USD USD Tấn USD Tấn USD USD Tấn 1.554 8.499 7.110 85.284 ĐVT Lượng Trị giá (USD) 1.069.950.433 236.790.257 189.161.670 127.236.085 115.724.979 47.862.452 46.022.631 36.535.973 30.476.871 23.588.482 20.030.424 17.609.141 16.056.523 13.642.575 13.531.266 10.730.248 7.470.321
Trang 18

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Bánh kẹo và các sp từ ngũ cốc Sp từ cao su Hàng rau quả Chè Đá quý, kim loại quý và sp Giấy và các sp từ giấy

USD USD USD Tấn USD USD 1.168

4.475.349 3.773.427 3.033.700 1.477.083 1.069.919 515.589 (Vinanet)

4. Thuận lợi và khó khăn
4.1/ Những thuận lợi khi đẩy mạnh thương mại với EU: Đây là thị trường lớn có nhu cầu nhập khẩu lớn và khả năng thanh toán cao. Thị trường cần nhiều sản phẩm mà Việt Nam có khả năng xuất khẩu và có khả năng cung cấp máy móc, công nghệ, nguyên liệu cao cấp mà Việt Nam đang cần để phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Nhiều nước EU giành những ưu đãi cho Việt Nam trong hoạt động thương mại và đầu tư. Nhà nước có nhiều chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp thâm nhập thị trường EU, như: chính phủ tích cực đàm phán với EU để bãi bỏ hoặc gia tăng hạn ngạch dệt, may; Đại sứ quán của Việt Nam tại các nước thành viên EU đang tích cực giúp các doanh nghiệp nội địa nghiên cứu thị trường, đàm phán ký kết hợp đồng thương mại; Cục xúc tiến thương mại và các cơ quan quản lý nhà nước khác có các chương trình xúc tiến thương mại; tổ chức nghiên cứu thị trường, tham gia hội chợ triễn lãm tại EU, thành lập văn phòng đại diện… Đây là những biện pháp hỗ trợ từ bên ngoài mà các doanh nghiệp xuất khẩu hàng sang EU cần nắm đê hưởng lợi. Số thành viên EU đã lên đến con số 27 nước, nhiều nước Đông Âu trước đây là bạn hàng truyền thống của Việt Nam cũng đã gia nhập EU: Hungary, Bungaria, Sec, Slôvakia, Ba Lan… Những nơi này cần nông sản nhiệt đới, hàng thủy sản, giày dép, gạo, thực phẩm chế biến.. Nếu hàng hóa của Việt Nam mang tính cạnh tranh cao thì EU là thị trường có sức tiêu thụ lớn. 4.2/ Những khó khăn khi xuất khẩu hàng vào EU: Những rào cản kỹ thuật: quy định về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cao, hàng thủy sản và nông sản chịu sự kiểm soát rất chặc chẽ; hàng may mặc, giày dép cũng có những quy định kỹ thuật riêng.
Trang 19

-

-

-

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

-

Hàng xuất khẩu của Việt Nam đưa vào EU sẽ chịu sự cạnh tranh rất lớn chẳng những với hàng hóa Trung Quốc, mà còn với hàng của các nước Đông Âu, các nước ASEAN và Nam Á. Hàng xuất khẩu giá quá rẻ cũng có thể bị khiếu kiện và bị áp dụng luật thuế chống bán phá giá.

-

5. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU
Để xuất khẩu vào EU tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng cao trong năm nay cũng như những năm tiếp theo, các chuyên gia thương mại cho rằng, cần phải phát huy hiệu quả năng lực xúc tiến thương mại ở cả ba cấp độ là Nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp. Quan hệ thương mại Việt Nam - EU đang chuyển sang thời kỳ gắn liến với những chuyển biến kinh tế từ hai phía. Theo đó, triển vọng và hiệu quả xuất khẩu vào EU phụ thuộc vào đường lối, chính sách và những định hướng dài hạn về phát triển thị trường, những phương sách cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường này cũng như việc lôi cuốn các doanh nghiệp EU vào thị trường Việt Nam. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường các hoạt động thông tin về thị trường EU, áp dụng các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu vào EU, đặc biệt khuyến khích các mặt hàng có lợi thế là việc làm cần thiết. Nhà nước cần tăng cường các chính sách và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm chuyên ngành, quảng bá, giới thiệu sản phẩm tại thị trường EU. Cá hiệp hội ngành hàng cần nâng cao vai trò xúc tiến thương mại, hợp tác với các hiệp hội ngành hàng của các nước để tìm hiểu thông tin thị trường, đối tác, thiết lập quan hệ bạn hàng. 5.1/ Giải pháp từ phía Nhà nước 5.1.1/ Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu. Rà soát lại hệ thống luật lệ, điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa rõ ràng, trước hết là Luật Thương mại, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài. Thay đổi về căn bản phương thức quản lý nhập khẩu. Tăng cường sử dụng các công cụ phi thuế “hợp lệ” như hàng rào kỹ thuật, hạn ngạch, thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp. Khắc phục triệt để những bất hợp lý trong chính sách bảo hộ, cân đối lại đối tượng bảo hộ theo hướng chú trọng bảo hộ nông sản. Sửa đổi biểu thuế và cải cách công tác thu thuế tiến tới xoá bỏ chế độ tính thuế theo tối thiểu. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng xoá bỏ các thủ tục phiền hà, và phấn đấu ổn định môi trườngpháp lý để tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp, khuyến khích họ chấp nhận bỏ vốn đầu tư lâu dài. 5.1.2/ Phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 20

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Nhà nước cần có chính sách cụ thể để phát triển các ngành hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường EU. Thông qua sự hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế và tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực là giày dép và dệt may, do có đặc thù riêng trong sản xuất và xuất khẩu; Việt Nam chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên hiệu quả thực tế thu được từ xuất khẩu là rất thấp (25-30% doanh thu). Bởi vậy, Nhà nước cần có chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất (không phải gia công) làm ăn có hiệu quả hoặc các doanh nghiệp sản xuất đã xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang EU thuộc hai ngành công nghiệp này tiếp tục đầu tư vốn và đổi mới công nghệ trong quá trình sản xuất để cải tiến sản phẩm phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng EU, nâng cao chất lượng, tăng cường xuất khẩu theo phương thức mua nguyên liệu và bán thành phẩm, giảm dần phương thức gia công xuất khẩu đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa cao, và tiến tới xuất khẩu sản phẩm 100% nguyên liệu trong nước. Đối với các mặt hàng đang được ưa chuộng trên thị trường EU như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ gia dụng, đồ phục vụ du lịch, đồ chơi trẻ em, hàng điện tử và hàng thủy hải sản, Nhà nước cần có chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn và công nghệ hiện đại để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa và nâng cao trình độ tiếp thị sản phẩm nhằm mục đích tăng khối lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu những mặt hàng này sang EU. Đối với một số mặt hàng nông sản có khả năng xuất khẩu sang thị trường EU như cà phê, chè, hạt tiêu, điều, cao su, rau quả…Nhà nước cần xây dựng quy hoạch, chọn lựa và có chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư vốn, tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch để đảm bảo sản phẩm làm ra có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng đều, giá thành hạ và khối lượng lớn. 5.1.3. Gắn nhập khẩu công nghệ nguồn với xuất khẩu Hiện nay trong buôn bán với EU Việt Nam xuất siêu khá lớn, nếu Việt Nam tăng cường nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU sẽ làm cân bằng cán cân thanh toán, phía EU sẽ không tìm cách cản trở xuất khẩu Việt Nam, đồng thời nhập khẩu được công nghệ hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu giúp thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu nói chung và sang thị trường EU nói riêng. Đây là phuơng pháp hữu hiệu hỗ trợ và đẩy mạnh xuất khẩu sang EU. Nhập khẩu công nghệ nguồn từ EU có thể thực hiện bằng hai biện pháp sau: (1) đầu tư của chính phủ và (2) thu hút các nhà đầu tư EU tham gia và quá trình sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam. Để thực hiện, Nhà nước Việt Nam cần có những chính sách ưu đãi riêng cho các nhà đầu tư EU ngoài những ưu đãi và quyền lợi họ sẽ được hưởng theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam. 5.1.4. Hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu. - Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ xuất khẩu để các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất thấp, giải quyết được khó khăn về vốn lưu động và vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập được thị trường EU.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 21

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

- Đảm bảo sự bình đẳng thực sự trong quan hệ tín dụng ngân hàng trên cơ sở pháp luật giữa các thành phần kinh tế. Mở rộng khả năng tiếp cận nguồn tín dụng từ các ngân hàng cũng như các định chế tài chính. Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và yêu cầu thế chấp tài sản của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. - Xúc tiến thành lập ngân hàng chuyên doanh của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lớn với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế. - Thực hiện lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, kinh doanh xuất khẩu sang EU có hiệu quả, sản xuất sản phẩm mới hoặc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ mới. 5.2/ Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 5.2.1/ Lựa chọn phương thức thích hợp để chủ động thâm nhập vào kênh phân phối trên thị trường EU. Xuất khẩu vào EU trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO không thể vẫn cứ theo kiểu nhỏ lẻ mà phải biết đáp ứng theo đòi hỏi của thị trường và coi đó là phần không thể thiếu trong chiến lược sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, cần phải phân tích kỹ sức mua, thị hiếu, tính đa dạng cũng như phân khúc thị trường, dân số của các nước trong khu vực EU nhằm đưa ra các mặt hàng phù hợp. Mặt khác, phải tích cực tiếp cận các thông tin thị trường, học hỏi kinh nghiệm của các nước và rút kinh nghiệm từ chính mình để tổ chức lại sản xuất. Như đã trình bày trong phần trên, trong thời gian tới cần đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp là con đường chính thâm nhập thị trường EU của các doanh nghiệp Việt Nam. Con đường thứ hai là liên doanh, có thể dưới hình thức sử dụng giấy phép nhãn hiệu hàng hóa là biện pháp tối ưu để các nhà sản xuất Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU. Con đường thứ ba là trong tương lai, khi các doanh nghiệp Việt Nam đã đủ mạnh có thể lựa chọn thâm nhập thị trường bằng hình thức đầu tư trực tiếp. Dù lựa chọn phương thức thâm nhập thị trường nào thì Việt Nam cũng phải nghiên cứu kỹ các yếu tố sau: dung lượng thị trường, thị hiếu tiêu dùng, kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, giá cả… và cần nắm vững 4 nguyên tắc khi thâm nhập thị trường này: - Nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng - Hạ giá thành sản phẩm - Đảm bảo thời gian giao hàng - Duy trì chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng cần biết chấp nhận và nâng cao khả năng thích ứng với các rào cản kỹ thuật cao của EU (vệ sinh an toàn thực phẩm, chống bán phá giá...), trên cơ sở đó có đối sách ứng phó kịp thời từ đầu để kiểm soát sản phẩm của mình và trácnh bị động. Đồng thời, nên nắm rõ các quy định liên quan của EU, đặc biệt coi trọng việc liên doanh, liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh. 5.2.2/ Tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý để tạo nguồn hàng thích hợp với thị trường EU.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 22

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng mọi cơ hội nghiên cứu thị trường và khách hàng để nắm được đặc điểm của thị trường, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và kênh phân phối trên thị trường EU, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp để cải tiến và đa dạng hóa sản phẩm, tạo nguồn hàng thích hợp với thị trường EU. Muốn tạo ra nguồn hàng thích hợp, các doanh nghiệp Việt Nam phải tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý. Từ năm 1996 đến nay, EU dành cho hàng xuất khẩu Việt Nam thuế quan ưu đãi GSP, do vậy rào cản kỹ thuật mới chính là rào cản thực sự và khó vượt qua đối với hàng hóa Việt Nam khi vào thị trường EU. Cần tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý ISO 9000, ISO 14000 và HACCP. Điều này giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tạo ra được nguồn hàng xuất khẩu ổn định và thích hợp sang thị trường EU. HACCP áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiêp chế biến thực phẩm, ISO 14000 áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mà có quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường, và ISO 9000 áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác. 5.2.3/ Tăng cường khai thác quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của liên minh châu Âu. Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam (SMEDF) một phần trong “Chương trình trợ giúp kỹ thuật của châu Âu trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam”. SMEDF được thành lập theo thỏa thuận tài chính giữa Việt Nam và EU ngày 6/6/1996. Tổng số nguồn vốn của SMEDF là 25 triệu USD do EU cung cấp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam phát triển sản xuất và tạo thêm việc làm. SMEDF rất quan trọng đối với phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Quỹ đã góp phần đáng kể trong phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường EU. Các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt cơ hội được tài trợ của SMEDF để phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời nhận được cả hỗ trợ về mặt kỹ thuật. 5.3/ Giải pháp khác 5.3.1. Đẩy mạnh công tác xúc tiến xuất khẩu sang EU. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang EU là công việc chính của doanh nghiệp nhưng sự hỗ trợ của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là rất quan trọng. * Hỗ trợ của Nhà nước trong công tác xúc tiến xuất khẩu sang EU. Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hàng hóa Việt Nam thâm nhập dễ dàng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường EU, Nhà nước nên thực hiện một số hoạt động trợ giúp sau đây. - Đẩy mạnh xây dựng chiến lược phát triển trên thị trường EU thông qua việc đàm phán, ký kết các hiệp định, thỏa thuận thương mại song phương và đa phương nhằm tạo ra các tiền đề, hành lang pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu. - Thảo luận ở cấp Chính phủ về mở cửa thị trường trước hết đối với những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. - Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ việc làm hoặc hội thảo chuyên đề thị trường giúp các doanh nghiệp tiếp cận trự ctiếp thị
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 23

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

trường, trực tiếp tìm hiểu nhu cầu thị trường và trực tiếp giao dịch với các nhà nhập khẩu chính của thị trường EU. - Hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc xúc tiến và tiếp cận thị trường. - Đẩy mạnh công tác trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức thưởng xuất khẩu. * Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường EU. - Ngoài việc chú trọng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải nâng cao năng lực tiếp thị tích cực thực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu sang thị trường EU. - Chủ động tìm kiếm đối tác chào hàng thông qua việc tham gia hội chợ, triển lãm và hội thảo chuyên đề tổ chức tại Việt Nam hoặc EU, qua tham tán thương mại các nước thành viên EU và qua văn phòng EU tại Việt Nam. - Tìm hiểu và nghiên cứu thị trường EU trực tiếp hoặc thông qua phòng thương mại EU tại Việt Nam, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cục Xúc tiến thương mại Bộ Thương mại, tham tán thương mại Việt Nam tại các nước EU, Trung tâm thông tin thương mại Bộ Thương mại… - Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu ứng dụng các nghiệp vụ marketing để phát hiện nhiều mặt hàng mới có khả năng tiêu thụ tại thị trường EU. Tổ chức các hoạt động dịch vụ trước và sau bán hàng để duy trì củng cố uy tín của hàng hóa Việt Nam đối với người tiêu dùng EU. 5.3.2. Phát triển nguồn nhân lực cho đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Con người là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao và đáp ứng tốt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Ngoài việc trang bị máy móc thiết bị hiện đại phải có những cán bộ kỹ thuật giỏi và công nhân lành nghề. Hiện nay, nước ta rất thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao. Do đó khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa rất thấp. Bởi vậy để khắc phục tình trạng này Việt Nam cần tổ chức nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu cho các cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật thuộc các lĩnh vực để tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề trong các ngành chế tạo, sản xuất chế biến. Đồng thời Việt Nam nên phối hợp với các nước để gửi cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trẻ, có triển vọng ra đào tạo ở nước ngoài. Ngoài vấn đề chú trọng đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân kỹ thuật, Việt Nam cần phải quan tâm đào tạo để có đội ngũ cán bộ thương mại giỏi thì mới có thể đưa sản phẩm có chất lượng cao tới được thị trường EU. (GS.TS Trần Chí Thành – Đại học Kinh tế Quốc dân Nguồn: Tạp chí Kinh tế và phát triển số 92/2005)

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 24

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

6. Phương án xuất khẩu sang EU trong thời gian tới:
6.1/ Những xu hướng tác động tới xuất khẩu sang thị trường EU trong thời gian tới: 6.1.1/ Xu hướng thay đổi nhu cầu tiêu dùng, nhập khẩu tại thị trường EU - Cà phê: Theo dự báo của ngành cà phê thì nhu cầu tiêu thụ trên thế giới trong niên vụ 2009/2010 khoảng 126,5 triệu bao, giảm 0,4% so với niên vụ trước. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ cà phê tại khu vực EU 27 dự báo khoảng 44,5 triệu bao, tăng 1,14%, đứng đầu thế giới và gấp hai lần thị trường đứng sau là Hoa Kỳ (22 triệu tấn). Trong nửa đầu năm 2009, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực này không được khả quan song vẫn có triển vọng tăng kim ngạch vào những tháng cuối năm, là thời điểm nhu cầu cà phê tại đây tăng cao. - Thủy sản: + Nhu cầu nhập khẩu tôm của EU từ Việt Nam đang tăng: Xuất khẩu tôm sang khu vực này tháng 6/2009 đạt 3,7 nghìn tấn, trị giá 24,4 triệu USD, tăng 65% về lượng và 48% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2008, trong khi tổng xuất khẩu tôm của cả nước chỉ tăng tương ứng là 13,5% về lượng và 3,9% về trị giá. Các mặt hàng tôm nên khai thác xuất khẩu sang EU là tôm he chân trắng, tôm sú đông lạnh… + Nhu cầu cá tra tra tại thị trường EU cũng đang dần hồi phục sau nhiều tháng sụt giảm: Riêng tháng 6/2009, xuất khẩu cá tra basa Việt Nam sang EU đạt 20.644 tấn, trị giá 51,585 triệu USD, tăng 26,7% và 19,4% so với cùng kỳ 2008. Giá trung bình cá tra basa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU trong 2 tháng gần đây đã tăng so với các tháng hồi đầu năm. 6.1.2/ Một số chỉ tiêu kinh tế của các quốc gia khu vực EU: - Thất nghiệp: Theo số liệu của Cơ quan thống kê EU (Eurostat), tỉ lệ thất nghiệp tại EU trong tháng 5/2009 là 8,9%, mức cao nhất kể từ năm 2005 và của khu vực đồng Euro là 9,5%, mức cao nhất kể từ năm 1999. Trong khi đó, GDP của EU được dự báo sẽ suy giảm 4% trong năm 2009. - Lạm phát: Lãi suất cơ bản đồng Euro hiện vẫn được giữ ở mức thấp 1%, đồng nghĩa với việc sức ép lạm phát tại khu vực không lớn. Tháng 6/2009, tỷ lệ lạm phát của khu vực này là - 0,1%, giảm so với mức 0% trong tháng 5 và 0,6% trong tháng 4/2009. Tuy nhiên giá cả tiêu dùng tháng 6/2009 lại tăng ở một số quốc gia lớn như Đức (0,4%), Tây Ban Nha (0,5%); Italia (0,2%). - Doanh thu bán lẻ tại một số quốc gia khu vực EU vẫn đang tiến triển khả quan. Đơn cử, mức bán lẻ của các cửa hàng ở Anh tháng 6/2009 tăng 1,2% so với tháng trước, trong đó tiêu dùng hàng quần áo trong thời gian qua tăng mạnh do thời tiết nắng nóng. Lượng bán của các mặt hàng dệt may mặc và giày dép tăng 11,3% kể từ đầu năm nay. Mức bán lẻ các mặt hàng hạ giá cũng tăng 2,9% kể từ tháng 6/2008. 6.1.3/ Một số chính sách tại EU và các nước thành viên:
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 25

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

- Dự kiến tháng 9 tới, Ủy ban châu Âu (EC) sẽ đưa ra đề xuất gia hạn hay bãi bỏ việc áp thuế chống phá giá đối với các mặt hàng giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc. Hiện mặt hàng giày da Việt Nam đang bị EC áp thuế chông bán phá giá 10%. Hiện có nhiều nước thuộc Liên minh EU muốn bãi bỏ các mức thuế chống bán phá giá giày da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc trước mùa Giáng sinh năm nay, thời điểm ngành bán lẻ có doanh thu cao. Các nước ủng hộ bỏ thuế này hiện là: Anh, Áo, Bỉ, Séc, Síp, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Đức, Ireland, Latvia, Luxembourg, Malta, Hà Lan và Thụy Điển. - Hiện tại, EU vẫn tiếp tục thắt chặt các biện pháp bảo vệ môi trường. Cụ thể 6 tháng đầu năm 2009, EU đã thông qua: + Luật hạn chế sử dụng các loại thuốc trừ sâu có chất gây ung thư và nguy hiểm về mặt sinh học; + Dự thảo cấm sử dụng chất dimethyl fumarate; + Đẩy mạnh việc chuẩn bị thực hiện Quy định về thiết lập hệ thống phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ việc đánh bắt và kinh doanh các sản phẩm cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý; + Quy định hạn chế đối với nikel; + Quy định áp dụng thu phí đối với khí thải từ máy bay; + Luật hạn chế tiến tới loại bỏ việc sử dung các chất có hại cho tầng khí quyển Ozon… Thời gian tới EU sẽ vẫn tiếp tục thi hành những chính sách cứng rắn, bảo thủ và có khuynh hướng bảo hộ thương mại. 6.2/ Phương án, giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu vào EU trong thời gian tới: - Các mặt hàng cần tận dụng và đẩy mạnh xuất khẩu tới khu vực EU trong thời gian tới: + Một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam đang được ưa chuộng tại EU như cá tra, cá ba sa, tôm, cá ngừ, bạch tuộc đông lạnh,.v.v… + Đối với mặt hàng giày dép: Bên cạnh việc tiếp tục hướng đến các thị trường chủ lực như Đức, Anh, Pháp, cần khai thác những thị trường tiềm năng đang có xu hướng nhập khẩu nhiều hàng giày dép như: Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch) và Đông Âu (Hungary, Bulgary) và thực tế trong kỳ qua xuất khẩu giày dép tới các thị trường này đã tăng trưởng khá tốt./.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 26

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

II. THỊ TRƯỜNG MỸ:
1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Mỹ

1.1/ Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2000-2008 Năm 2000 2004 2005 2006 2007 2008 11868.5

Trị giá xuất khẩu sang Mỹ 732.8

5024.8 5924

10104. 7845.1 5

Đơn vị: Triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê

Trị giá xuất khẩu sang Hoa Kỳ
14000 12000 10000 8000 6000 4000 2000 0

11868.5 10104.5 7845.1 5024.8 732.8 2000 2004 2005
Năm Trị giá xuất khẩu

Triệu USD

5924

2006

2007

2008

Năm 2007, kim ngạch XK của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 10,104 tỷ USD, tăng 25% so với 2006, trong đó mặt hàng chủ lực như: hàng dệt may đạt 4,29 tỷ USD, tăng 36%. Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) cho biết, trong suốt 3 năm qua, kim ngạch XK hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ luôn đứng trong Top 5.So với các thị trường trên, Mỹ là thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ lên tới 12 tỷ USD, tăng 17,3% so với năm 2007. Các mặt hàng chủ lực được định hướng xuất khẩu vào thị trường này trong giai đoạn 2009-2010 sẽ là: dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, thủy sản, cà phê, và một số các mặt hàng thuộc da. Ủy ban Thương mại Quốc tế thuộc Bộ Thương mại Mỹ mới công bố số liệu cho thấy, trong sáu tháng đầu năm nay, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt 5,77 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng thời gian này năm ngoái. Hàng dệt may vẫn đứng đầu danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào Mỹ, đạt gần 2,39 tỷ USD, tăng 2,3%. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, nửa đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam sang Mỹ đạt 2,04 tỉ

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 27

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

USD, tăng 2,86% so với cùng kỳ năm 2008; xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 462,7 triệu USD, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2008... Đứng thứ nhì là hàng giày dép, đạt hơn 720.000 USD, tăng 20%. Đồ gỗ và nội thất đạt 645.000 USD, giảm 6,8%. Những mặt hàng xuất khẩu khác của Việt Nam sang Mỹ đạt gần 300.000 USD gồm nông sản; máy móc thiết bị điện, máy nghe nhìn, ghi âm và phụ kiện; thủy hải sản; dầu mỏ, khí đốt và sản phẩm hóa dầu Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn chưa có thay đối lớn trừ kim ngạch các sản phẩm điện tử và linh kiện đang tăng với tốc độ cao. Các mặt hàng xuất khẩu chính xếp theo thứ tự kim ngạch vẫn là dệt may, giầy dép, đồ gỗ, thuỷ sản, dầu thô, sản phẩm điện tử và linh kiện, cà phê và hạt điều. Mặc dù, kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ và xuất khẩu của hầu hết các nước vào thị trường này đều giảm mạnh do tác động của khủng hoảng, song xuất khẩu của ta vào thị trường này vẫn tăng hoặc giảm ít. Ví dụ, trong 4 tháng đầu năm 2009, nhập khẩu dệt may và giầy dép của Hoa Kỳ giảm lần lượt là gần - 14% và - 6%, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu hai nhóm hàng này của ta sang Hoa Kỳ chỉ giảm và tăng lần lượt là - 6% và + 10%. Điều đó nói lên rằng các sản phẩm của ta có khả năng cạnh tranh khá tốt tại Hoa Kỳ và đang chiếm thị phần ngày càng tăng. Đây cũng là một thuận lợi lớn để ta có thể tăng cao kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ khi thị trường này hồi phục và tăng trưởng nhập khẩu trở lại. Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu ngành đồ nội thất tăng mạnh, năm 2008 đạt tới 3 tỷ USD, hiện Việt Nam là một trong bốn quốc gia xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến lớn nhất Đông Nam Á. Thị trường chủ lực là Mỹ, EU, Nhật Bản. Trong đó, Mỹ là thị trường có những bước phát triển nhạy vọt. / Tình hình xuất khẩu các tháng đầu năm 2009: 7 tháng đầu năm 2009 Mỹ Trong đó : Hải sản Hàng rau quả Hạt điều Cà phê Chè Hạt tiêu Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Dầu thô Hóa chất Các sản phẩm hóa chất
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

6174300 1000 USD 1000 USD Tấn Tấn Tấn Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 376009 8894 137279 126993 2380 22660 15671 232630 3108 4192
Trang 28

30260 84056 2565 8117 617969

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Sản phẩm từ chất dẻo Cao su Sản phẩm từ cao su Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù Sản phẩm mây, tre, cói & thảm Gỗ và sản phẩm gỗ Giấy và các sản phẩm từ giấy Hàng dệt may Giầy dép các loại Sản phẩm gốm sứ Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Sắt thép các loại Sản phẩm từ sắt thép Máy vi tính và linh kiện Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác Dây điện và dây cáp điện Phương tiện vận tải và phụ tùng

1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD

6842

2623

88617 9248 10645 129476 14338 566418 47938 2773708 612977 17997 20447 12571 3649 53296 241692 126011 35941 42455

Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu hàng hoá sang Hoa Kỳ đạt 6.174.300.122 USD (giảm 5,82% so cùng kỳ năm 2008), riêng tháng 7 xuất khẩu đạt 1.022.750.891USD. Cơ cấu xuất khẩu hàng hoá sang Hoa Kỳ 7 tháng đầu năm: chủ yếu là hàng dệt may đạt 2.773.708.446USD (chiếm 44,92% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ 7 tháng đầu năm), đứng vị trí thứ 2 là mặt hàng giày dép chiếm 9,93% kim ngạch; gỗ và sản phẩm gỗ chiếm 9,17% kim ngạch; tiếp theo là mặt hàng thuỷ sản chiếm 6,09% kim ngạch; sau đó là các sản phẩm hoá chất, máy vi tính – hàng điện tử và linh kiện, cà phê, dây điện, cáp điện… Trong tổng số 28 nhóm mặt hàng xuất sang Hoa Kỳ 7 tháng đầu năm 2009 có 7 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ 2008 đó là: Hàng thuỷ sản tăng 9,95%, Chè tăng 45,83% Hạt tiêu tăng 10,67%, sản phẩm từ chất dẻo tăng 1,6%, giày dép tăng 79,25%, Đá quí, kim loại quí và sản phẩm tăng 19,45%, Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 65,82%. Còn lại 11 mặt hàng có kim ngạch giảm so cùng kỳ năm 2008; trong đó giảm mạnh nhất là kim ngạch xuất khẩu Dầu thô giảm 59,39%, Dây điện và dây cáp điện giảm 39%, Cao su giảm 31%. Đáng chú ý, trong 7 tháng đầu năm nay có thêm những mặt hàng mới tham gia xuất khẩu sang Hoa Kỳ đó là; Bánh kẹo, hoá chất, sản phẩm cao su, giấy, thuỷ tinh, sắt thép, máy móc phụ tùng.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 29

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ Mỹ

2.1 Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2000-2008 Năm 2000 2004 1133.9 2005 862.9 2006 987 2007 1700.5 2008 2635.3

Trị giá nhập khẩu hàng hóa 363.4

Đơn vị: Triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê

Trị giá nhập khẩu từ Mỹ sang 3000 2500 Triệu USD 2000 1500 1000 500 0 2000 2004 2005 2006 2007 2008 Năm 363.4 1133.9 862.9 987 1700.5 2635.3

Trị giá nhập khẩu

2.2 Tình hình nhập khẩu các tháng đầu năm 2009: Mỹ Trong đó : Hàng thuỷ sản Sữa và sản phẩm sữa Hàng rau quả Lúa mỳ Dầu mỡ động thực vật Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Thức ăn gia súc và nguyên liệu Nguyên phụ liệu thuốc lá Sản phẩm khác từ dầu mỏ
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

1501638 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 8181 21677 9210 2876 14470 1632 97639 12450 2528
Trang 30

10084

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Hoá chất Sản phẩm hoá chất Dược phẩm Phân bón các loại Thuốc trừ sâu và nguyên liệu Chất dẻo nguyên liệu Sản phẩm từ chất dẻo Cao su Sản phẩm từ cao su Gỗ và sản phẩm gỗ Giấy các loại Sản phẩm từ giấy Bông các loại Vải các loại Nguyên phụ liệu dệt may da giày Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Sắt thép các loại Sản phẩm từ sắt thép Kim loại thường khác Sản phẩm từ kim loại thường khác Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác Dây điện và dây cáp điện khác Ô tô nguyên chiếc các loại Linh kiện, phụ tùng ô tô Phương tiện vận tải khác và phụ tùng

1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Chiếc 1000 USD 1000 USD

102012 55545 4734

5905 87079

43589 582

2479

26255 50219 22261 42117 6681 58579 10699 4276 6896 48810 6014 3292 108981 10543 35956 13930 18733 32748 1856 2027 47286 394901 7089 68902 3665 1952

3. Hạn chế khi xuất nhập khẩu vào thị trường Mỹ
Đạo luật Lacey: Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với những rào cản thương mại từ Mỹ. Một trong số đó là đạo luật Lacey, chính thức có hiệu lực từ 1/4/2009 theo đó, các sản phẩm nhập khẩu sẽ được kiểm soát rất chặt chẽ về nguồn gốc, xuất xứ. Trong khi, Việt Nam chưa có bộ tiêu chuẩn cụ thể về gỗ, điều này gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp. Một khó khăn không nhỏ nữa là trước đây khoảng 90% mẫu mã hàng là do các nhà nhập khẩu cung cấp, nay do khủng hoảng kinh tế người tiêu dùng thắt chặt hầu bao, các nhà nhập khẩu phải cắt giảm chi phí tối đa nên yêu cầu các nhà sản xuất phải tự thiết kế mẫu mã, các doanh nghiệp của ta sẽ không khỏi lúng túng khi đối mặt với tình hình này Trong ngắn hạn, việc lo nhất là thiếu tiền. Với 4,5 triệu m3 gỗ nhập khẩu, năm 2007 các doanh nghiệp đã phải vay khoảng 800 triệu USD. Để đạt được mục tiêu đề ra của năm nay, số tiền doanh nghiệp phải vay từ các ngân hàng sẽ khoảng 1 tỷ USD.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 31

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Ngoài các doanh nghiệp FDI có nguồn vay từ nước ngoài, doanh nghiệp trong nước chỉ còn biết trông chờ vào các ngân hàng thương mại cổ phần. Theo tôi được biết, một sự án vay vốn ngân hàng, thời gian xét duyệt mất khoảng từ 2 đến 3 tháng. Điều này rất bất lợi cho các doanh nghiệp. Về dài hạn, vấn đề hiện nay của ngành gỗ là thiếu công nhân lành nghề và yếu về trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Công nhân lành nghề đặc biệt thiếu. Việc đào tạo nghề gỗ hiện nay đang đổ hết lên đầu doanh nghiệp. Trong khi đó, ở hầu hết các doanh nghiệp trong nước, lãnh đạo rất yếu về ngoại ngữ, kỹ năng quản lý cũng kém. Trong khoảng 2000 doanh nghiệp ngành gỗ, chưa đến 10% có chứng chỉ ISO. Đa số các doanh nghiệp, hệ thống sổ sách, số liệu chưa đạt tiêu chuẩn. Xuất khẩu vào Mỹ phải tuân thủ luật mới. Muốn thâm nhập được vào thị trường Mỹ, sản phẩm xuất khẩu bắt buộc phải tuân thủ theo nhiều qui định khác nhau, trong đó có đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng. Đây là vấn đề khó khăn mà các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu sang Mỹ. Luật mới áp dụng từ 15/8 Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng đã được Quốc hội Mỹ thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/8/2008. Văn bản quy định những điều kiện liên quan đến nhập khẩu một số mặt hàng chiếm thị phần xuất khẩu lớn của Việt Nam. Từ ngày 15/8/2009 tới, một số quy định mới trong Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng sẽ tác động trực tiếp đến việc sản phẩm dệt may và đồ nội thất của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới. Giám đốc Chương trình Quốc tế và Đối ngoại Liên Chính phủ, Uỷ ban An toàn sản phẩm tiêu dùng Hoa Kỳ (CPSC) cho rằng, để hạn chế tối đa rủi ro hàng hóa bị từ chối nhập khẩu vào Hoa Kỳ vì lý do không an toàn cho người tiêu dùng, các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may và đồ gỗ Việt Nam cần cập nhật những qui định mới nhất trong việc nhập khẩu hàng dệt may và đồ gỗ vào thị trường Hoa Kỳ nói chung và đáp ứng được những quy định trong Đạo luật "Cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng" (CPSIA) nói riêng. Việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn phải được thực hiện bởi một cơ quan đánh giá độc lập do CPSC công nhận. Giấy chứng nhận này phải kèm theo sản phẩm hay chuyến hàng xuất khẩu sản phẩm và phải có sẵn để cho CPSC và Hải quan Mỹ kiểm tra khi có yêu cầu. Đối với sản phẩm đồ gỗ nhập khẩu, việc nhập khẩu đồ gỗ nội thất vào Hoa Kỳ tương đối dễ, không cần xin giấy phép nhập khẩu hay một một loại giấy tờ đặc biệt nào. Tuy nhiên, mặt hàng này cũng có một số quy định khá chặt chẽ đối với các sản phẩm nội thất dành cho trẻ em, đồ nội thất có thành phần dệt và đồ nội thất chiếu sáng. Cụ thể, đối với các loại giường cũi cho trẻ em, có những quy định rất chặt chẽ liên quan đến chiều cao của thanh bao quanh, khoảng cách giữa các bộ phận của cũi, kích cỡ bên trong, chi tiết hoàn thiện, các linh kiện bằng kim loại và phải có hướng dẫn tháo lắp đối với những bộ phận tháo ghép.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 32

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Ngoài ra, nhà nhập khẩu các loại cũi cho trẻ em phải duy trì hồ sơ lưu trữ trong vòng 3 năm kể từ ngày sản xuất hoặc nhập khẩu sản phẩm này. Hộp carton đóng gói cũi và trên cũi phải dán nhãn với những thông tin: tên, địa điểm kinh doanh của nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối hoặc bán hàng... Nhãn hàng phải lưu ý người sử dụng dùng các loại đệm với kích cỡ cụ thể cao bao nhiêu, dài bao nhiêu, rộng bao nhiêu và lưu ý này phải viết bằng chữ hoa với chiều cao ít nhất là 1/4 inch và phải rõ ràng, dễ đọc, tương phản với nền chữ. Nhãn phải đảm bảo không dễ bị tẩy xoá, mất dấu và tồn tại lâu dài cùng với sản phẩm. Sản phẩm không hợp lệ bị từ chối ngay tại cảng Lô hàng trên 2 triệu sản phẩm đồ nội thất có sử dụng nguyên liệu dệt của Công ty cổ phần chế biến gỗ Long Thành vừa được xuất sang Mỹ phải được dán nhãn theo các quy định của Luật nhận dạng sản phẩm sợi dệt (TFPIA), được giám sát bởi Uỷ ban Thương mại Liên bang (FTC). Sản phẩm phải được đóng dấu, dán nhãn hoặc ghi mác với những thông tin: tên, tỷ lệ phần trăm trọng lượng của các loại sợi có chiếm trên 5% trọng lượng theo thứ tự giảm dần; % của các loại sợi theo quy định được ghi là "các loại sợi khác"; tên nhà sản xuất do FTC cấp, tên nước sản xuất. Ngoài quy định không được bán đồ dùng trẻ em hoặc dụng cụ chăm sóc trẻ em có chứa hàm lượng chất Pthalates (DEHP, DBP và BBP) trên 0,1%, nhà sản xuất sản phẩm cho trẻ em còn được yêu cầu phải đặt dấu hiệu trên sản phẩm và bao bì để người mua có thể xác định nguồn gốc, xuất xứ của nhà cung cấp. Ngoài những quy định trên, đồ nội thất có chứa thành phần dệt cũng chịu sự quy định của Luật vải dễ cháy (FTA) được CPSC giám sát. Theo đó, nếu CPSC cho rằng sản phẩm không tuân theo một tiêu chuẩn về dễ cháy, cơ quan này có quyền tiến hành các biện pháp trừng phạt về sản phẩm đó. Sản phẩm không đáp ứng yêu cầu chứng nhận thì sẽ bị từ chối nhập khẩu ngay tại cảng. Trước đây những sản phẩm khi bị phát hiện không đạt tiêu chuẩn thì bị yêu cầu tái xuất, nhưng nay những sản phẩm vi phạm này sẽ không được phép tái xuất mà phải bị hủy bỏ. Vì cho rằng, nếu những sản phẩm này được tái xuất thì có nghĩa là nó sẽ được tiêu thụ ở một nước thứ ba nào khác, với mức giá rẻ hơn. Như vậy sẽ gây ảnh hưởng tới người dân ở nước thứ ba đó. Do vậy, chính phủ Mỹ yêu cầu phải hủy bỏ những sản phẩm không an toàn, vì họ thấy rằng nếu người dân Mỹ không được đảm bảo an toàn thì cũng sẽ không có sự an toàn đối với những người dân ở nước khác. Mọi chi phí cho việc tiêu hủy (bao gồm nhân công, vận chuyển, kho bãi...) sẽ được tính cho người sở hữu hàng hóa đó. Nếu không trả những khoản phí này, họ sẽ bị ghi nợ và sẽ không được phép nhập khẩu trong tương lai cho tới khi thanh toán hết những khoản này. Mức hình phạt cũng rất cao. CPSIA gia tăng mức phạt dân sự lên đến 100.000 USD cho một lần vi phạm và lên tới 15.000.000 USD cho gộp chung nhiều lần vi phạm.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 33

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Nói về khó khăn do vướng phải các rào cản khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu dệt may Việt Nam cho rằng, trở ngại lớn nhất hiện nay là việc doanh nghiệp tuân thủ các quy định mới phần lớn bị động theo yêu cầu của nhà nhập khẩu. Nguyên nhân chính là do chưa có đầu mối quản lý một cách hệ thống và cập nhật các yêu cầu mang tính quy chuẩn tại các thị trường nhập khẩu. Chẳng hạn liên quan tới gần 200 hóa chất bị cấm nhập lẫn sử dụng trong ngành dệt may và da giày, việc thực hiện đăng ký hóa chất đang gây lúng túng rất lớn cho các doanh nghiệp do việc tìm hiểu các quy định và thủ tục cụ thể rất khó bởi các doanh nghiệp không biết cách xác định hóa chất trong sản phẩm của mình như thế nào mới đúng. Đạo luật cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng áp dụng đối với ngành dệt may có hiệu lực từ 10/2/2010 cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới doanh nghiệp. Chính vì vậy, để tiếp tục xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này, doanh nghiệp Việt Nam phải nắm rất kỹ và phải tuân thủ nghiêm ngặt đạo luật này Một khó khăn không nhỏ nữa là trước đây khoảng 90% mẫu mã hàng là do các nhà nhập khẩu cung cấp, nay do khủng hoảng kinh tế người tiêu dùng thắt chặt hầu bao, các nhà nhập khẩu phải cắt giảm chi phí tối đa nên yêu cầu các nhà sản xuất phải tự thiết kế mẫu mã, các doanh nghiệp của ta sẽ không khỏi lúng túng khi đối mặt với tình hình này. Với việc chấm dứt hoàn toàn chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ ngày 1/1/2009 (ngày bỏ hạn ngạch cuối cùng đối với hàng dệt may Trung Quốc), các nước xuất khẩu hàng dệt may lớn vào Hoa Kỳ như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Campuchia, Indonesia, Phillipines và cả các nước xuất khẩu khác ở Nam Mỹ, Đông Âu,… đang đứng trước nguy cơ bị ngành công nghiệp dệt may Hoa Kỳ kiện theo các điều khoản của luật khiếu kiện thương mại (trade remedy law).

4. Thuận lợi khi đẩy mạnh thương mại với Mỹ:
Một trong các nội dung đàm phán cấp cao Việt - Mỹ thời gian qua được các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trông đợi là chương trình thuế quan phổ cập (GSP) đối với nhiều hàng hóa Việt Nam: Giải quyết được bài toán cạnh tranh về giá. Việt Nam đã chính thức đặt vấn đề với Đại diện Thương mại Mỹ về việc xem xét, trao GSP cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua. Tương tự như Nhật, Canada, hoặc EU, chương trình GSP được Mỹ đưa ra năm 1976 dành cho những nước đang phát triển. Với ưu đãi gần như miễn thuế hoàn toàn, hàng hóa đạt yêu cầu chất lượng và kỹ thuật của những nước đang phát triển có thể xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Theo Thương vụ Việt Nam tại Mỹ và Công ty luật Sidley Austin, có khoảng 3.400 dòng thuế hàng hóa nhập khẩu được hưởng chương trình GSP. Hiện tại Việt Nam xuất vào Mỹ sản phẩm của khoảng 1.000 dòng thuế. Những mặt hàng nhập khẩu được cho là nhạy cảm, ảnh hưởng đến một số ngành công nghiệp của Mỹ không
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 34

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

được hưởng GSP, thay vào đó thuế nhập khẩu đôi khi cao hơn những thị trường khác. Chẳng hạn như dệt may, giày dép, sản phẩm da, găng tay, túi xách, sản phẩm thép, một số nông sản có quota hoặc hàng hóa có quota khác... Những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như thủy sản, nhựa, gỗ, nông sản, thực phẩm... được xem là đối tượng hưởng GSP. Đối với nông sản, trái cây hay thực phẩm, để được hưởng GSP phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm của Cơ quan Quản lý thực phẩm Mỹ - FDA. Các mặt hàng gốm, sứ, lò sưởi, loa, thiết bị tăng âm, yên ngựa, kim loại quý, nữ trang giả, đồ gỗ, bút viết, thiết bị dụng cụ cho sân golf, bóng hơi... được ưu tiên nhập khẩu vào Mỹ và hưởng thuế theo GSP Trưởng ban điều hành dự án liên kết GAP Sông Tiền - nguyên Chủ tịch Hiệp hội trái cây Việt Nam (Vinafruit), cho biết trái cây Việt Nam xuất vào Mỹ những năm qua có tăng nhưng chưa nhiều, vì khó đáp ứng những tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, và cạnh tranh không lại về giá với những nước xuất khẩu khác. Theo Vinafruit, kim ngạch trái cây vào Mỹ của Việt Nam năm 2007 khoảng 20 triệu USD (năm 2006 là 18 triệu USD) trong tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây năm ngoái là 300 triệu USD, chủ yếu là trái cây đóng hộp. Trái cây tươi Việt Nam gần như chưa có mặt tại thị trường Mỹ hoặc với số lượng cực kỳ thấp vì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Ông Nguyễn Văn Kỳ, Tổng thư ký Vinafruit, nhận định nếu có GSP, trái cây Việt Nam sẽ giải quyết được bài toán cạnh tranh về giá. Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cho biết hàng hóa Việt Nam được tham gia chương trình GSP không chỉ có lợi cho phía Việt Nam mà còn đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ vì được tiếp cận với hàng hóa và cả nguồn nguyên liệu nhanh, đa dạng với chi phí rẻ hơn. Năm 2007 nhờ GSP, các nhà nhập khẩu của Mỹ đã tiết kiệm được 1 tỉ USD tiền thuế. Người dân Mỹ gần như đều có thể sử dụng hàng tiêu dùng mà họ cần nhờ giá rẻ Mỹ là thị trường vốn lớn nhất thế giới hiện nay, với số lượng nhà đầu tư đông đảo, trong đó có nhiều nhà đầu tư lớn, mức thanh khoản cao. Thị trường này hiện có trên 250 quỹ đầu tư, mỗi quỹ quản lý trên 50 tỷ USD. Do vậy, khả năng để các doanh nghiệp Việt Nam huy động vốn từ thị trường này để mở rộng sản xuất là rất lớn

5. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giao thương với Mỹ
Nhìn chung, phần lớn những khó khăn hiện nay doanh nghiệp gặp phải tại thị trường Mỹ là do Việt Nam chưa gia nhập WTO, nên chưa được hưởng các ưu đãi thuế quan cũng như lợi thế về hạn ngạch của Mỹ đối với các nước là thành viên của WTO. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những định hướng, chiến lược để bước vào một sân chơi mới khi chính thức gia nhập WTO. Những vấn đề các doanh nghiệp cần quan tâm là: mau chóng đưa ra những tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra vệ sinh thực phẩm nhằm tránh những vụ việc như vụ cá basa của Việt Nam tại thị trường Mỹ vừa qua; xây dựng thương hiệu riêng cho các sản phẩm của mình; đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm; các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam cần hình thành các chuỗi liên
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 35

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

kết để có thể hỗ trợ lẫn nhau phát triển; tích cực đầu tư công nghệ hiện đại với mục đích tăng tính công nghệ trong sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường Mỹ Để nâng cao hiệu quả kinh doanh ngoài những hỗ trợ của nhà nước, các doanh nghiệp cũng nên chủ động đầu tư vào nghiên cứu mẫu mã, kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào. Đồng thời, chủ động tìm kiếm thêm khách hàng mới bằng việc tham gia hội trợ triển lãm tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử, tìm hiểu kỹ thông tin trước khi tham gia một thị trường cụ thể... Để đối phó với các vụ kiện có thể xảy ra, ngay từ bây giờ, Vitas cần có bộ phận nghiên cứu các vấn đề và thủ tục liên quan đến khiếu kiện thương mại tại Hoa Kỳ, nhất là kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp giá, quyền tự vệ thương mại để phổ biến kiến thức cho các doanh nghiệp thành viên và tiến hành thu thập các số liệu thống kê, thông tin về sản xuất và nhập khẩu của Hoa Kỳ để xác định các mặt hàng có thể bị kiện và tìm kiếm những chứng cứ, lý lẽ phản bác. Ngoài ra cũng cần thu thập thông tin và thống kê xuất khẩu của các nước khác vào Hoa Kỳ, nhất là các nước Nam Mỹ có lợi thế hơn về địa lý và gia công quần áo xuất khẩu sang Hoa Kỳ bằng vải nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Vitas có thể tiếp xúc sơ bộ với các công ty luật Hoa Kỳ để vừa cập nhật tình hình, vừa lựa chọn sơ bộ các công ty luật có kinh nghiệm sẽ thuê khi các vụ kiển xảy ra. Các ngành công nghiệp Hoa Kỳ thường lẳng lặng thuê luật sư tiến hành thu thập thông tin, số liệu, chuẩn bị hồ sơ và chọn thời điểm thích hợp có lợi nhất cho họ đ bất ngời nộp hồ sơ khởi kiện. Nếu không được chuẩn bị trước, các doanh nghiệp Việt Nam bị động sẽ trở tay không kịp và có thể bị thua thiệt lớn do mất thị trường. Vitas có thể liên kết với các hiệp hội nhập khẩu, các nhà nhập khẩu và các tập đoàn bán lẻ ở Hoa Kỳ đẻ tạo lực lượng và dư luận ủng hộ khi vụ việc xảy ra, đồng thời cũng cần có phương hướng chuẩn bị thị trường thay thế nếu bị thua kiện. Để tránh bất kỳ vấn đề rắc rối từ đầu vào đối với Chính phủ Hoa Kỳ (Hải quan và CPSC), các nhà sản xuất nên tuân thủ cả những Quy định bắt buộc của CPSC và tiêu chuẩn khu vực tư nhân (tiêu chuẩn tự nguyện). Các nhà nhập khẩu và nhà sản xuất phải nắm rõ chính xác các tiêu chuẩn nào cần phải đáp ứng. Nhà sản xuất nước ngoài cần nắm rõ danh sách các tiêu chuẩn bắt buộc và tự nguyện hiện hành. Cụ thể hoá các tiêu chuẩn tự nguyện và các yêu cầu khác. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh ngoài những hỗ trợ của nhà nước, các doanh nghiệp cũng nên chủ động đầu tư vào nghiên cứu mẫu mã, kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào. Đồng thời, chủ động tìm kiếm thêm khách hàng mới bằng việc tham gia hội trợ triển lãm tham gia các sàn giao dịch thương mại điện tử, tìm hiểu kỹ thông tin trước khi tham gia một thị trường cụ thể...

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 36

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

III. THỊ TRƯỜNG ASEAN:
2000 Xuất khẩu Nhập khẩu 2619 4449 2004 2005 2006 2007 8110.3 15908. 2 2008 10194.9 19570.9 Đơn vị: triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê
Kim ngạch xuất nhập khẩu sang Asean
25000 20000 Triệu USD 15000 12546.6 10000 7768.5 5000 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 4449 2619 4056.1 9326.3 5743.5 6632.6 10194.9 8110.3 15908.2 19570.9 Xuất khẩu Nhập khẩu

4056.1 5743.5 6632.6 12546. 7768.5 9326.3 6

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 37

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang các nước Asean
1.1/ Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá xuất khẩu sang Asean
12000 10000 Triệu USD 8000 6000 4000 2000 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 2619 4056.1 6632.6 5743.5 8110.3 Trị giá xuất khẩu 10194.9

Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN ước đạt 11 tỷ USD, tăng 41% so với năm 2007, tương đương 17,1% kim ngạch xuất khẩu cả nước (63 tỷ USD), xấp xỉ với mức xuất khẩu sang thị trường Châu Âu (18,3%) và cao hơn nhiều so với xuất khẩu sang Châu Đại Dương (6,7%) và Châu Phi (1,9%). Ngoài ra, ASEAN cũng là thị trường nhập khẩu rất lớn của Việt Nam (bên cạnh Trung Quốc), chiếm khoảng 25,5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước, đáp ứng được nguồn nhiên liệu cho sản xuất và hàng hóa tiêu dùng. ASEAN đã trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam do vị trí địa lý gần gũi và các hàng rào thuế quan và phi thuế quan hầu hết được bãi bỏ theo cam kết AFTA. Các mặt hàng xuất khẩu chính sang ASEAN chủ yếu là gạo, dầu thô và một số hàng tiêu dùng như thủy sản, cà phê, sản phẩm nhựa, đồ điện và thiết bị điện... Do lợi thế về địa lý và nhu cầu phù hợp với sản phẩm gạo Việt Nam nên ASEAN là thị trường xuất khẩu gạo quan trọng của Việt Nam. Philippines là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong khu vực. Đầu năm nay, Philippines đã ký hợp đồng mua 1,5 triệu tấn gạo từ Việt Nam với giá trung bình dưới 500 USD/tấn. Nhiều sản phẩm là thế mạnh của Việt Nam hiện nay như dệt may, giày dép, thủy sản hiện mới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN. 1.2/ Tình hình xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2009: Do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, 7 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN giảm 17,5% so với cùng kỳ năm 2008, và chỉ chiếm 16,5% tổng tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam (cùng kỳ năm ngoái là 18%).

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 38

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Một số mặt hàng xuất khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ 7 tháng đầu năm 2009 Sơ bộ 7 tháng Trị giá Lượng (1000US D)

Mặt hàng

ĐVT

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Trong đó : Thái Lan Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Trong đó : Cam-pu-chia Phi-li-pin Thái Lan Xin-ga-po Các sản phẩm hóa chất Trong đó : Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Thái Lan Xin-ga-po Phi-li-pin In-đô-nê-xia Cà phê Trong đó : Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Phi-li-pin In-đô-nê-xia Thái Lan Cao su Trong đó : Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Bra-xin In-đô-nê-xia Chất dẻo nguyên liệu Trong đó :
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

1000 USD " 1000 USD " " " " 1000 USD 20493 5875 5117 1880 1416

" " " " " Tấn " " " " " Tấn " " " " Tấn 11966 12001 12141 2052 2030

18038 14321 9510 6256 5645 4554

17928 17674 17245 3179 3012

14839 2490 2594 1898

20670 3603 3400 2286

Trang 39

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thái Lan Cam-pu-chia Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Chè Trong đó : In-đô-nê-xia Phi-li-pin Dây điện và dây cáp điện Trong đó : Xin-ga-po Phi-li-pin Thái Lan Cam-pu-chia Lào Ma-lai-xi-a Dầu thô Trong đó :

" " " " " Tấn " " 1000 USD " " " " " Tấn

3386 3178 805 756 1322

5432 3461 1398 1194 1183

2744 197

2418 574

7384 5106 4413 3789 1073 694

15851 Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Thái Lan In-đô-nê-xia Gạo Trong đó : 15730 Phi-li-pin Ma-lai-xi-a Xin-ga-po In-đô-nê-xia Gỗ và sản phẩm gỗ Trong đó : Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Thái Lan Cam-pu-chia Nga
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

" " " " Tấn

22 12914 47 57258 1 23332 2

626432 496088 259256 110940

"

76 41014 6 19036

852315 180000 78825 6889

" " 1000 USD " " " " "

8 17275

7059 1870 1329 957 870
Trang 40

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Giầy dép các loại Trong đó : Xin-ga-po Thái Lan In-đô-nê-xia Phi-li-pin Giấy và các sản phẩm từ giấy Trong đó : Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Xin-ga-po Thái Lan In-đô-nê-xia Lào Phi-li-pin Hàng dệt may Trong đó : In-đô-nê-xia Xin-ga-po Cam-pu-chia Ma-lai-xi-a Thái Lan Phi-li-pin Lào Hàng rau quả Trong đó : In-đô-nê-xia Xin-ga-po Thái Lan Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Hải sản Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Phi-li-pin In-đô-nê-xia Hạt điều Trong đó :
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

1000 USD " " " " 1000 USD " " " " " " 1000 USD 7180 4449 3107 3047

6828 6313 5002 2492 2363 1636 1588

" " " " " " 1000 USD " " " " " 1000 USD " " " "

23445 21941 17776 15767 10983 8694 3609

6433 5595 5004 3004 2212

36810 30652 18009 9544 8853 4182

Tấn

Trang 41

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thái Lan I-ta-li-a Phi-li-pin Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Hạt tiêu Trong đó : Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Hóa chất Trong đó : Cam-pu-chia Thái Lan Ma-lai-xi-a Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác Trong đó : Xin-ga-po Phi-li-pin Thái Lan In-đô-nê-xia Cam-pu-chia Ma-lai-xi-a Lào Máy vi tính và linh kiện Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po Phi-li-pin Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Phương tiện vận tải và phụ tùng Trong đó : Xin-ga-po Phi-li-pin In-đô-nê-xia Thái Lan Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Lào Quặng và khoáng sản khác
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

" " " " Tấn " " " 1000 USD " " " 1000 USD " " " " " " " 1000 USD " " " " " 1000 USD " " " " " Tấn

1246 1213 624 402 313

5463 3815 2294 1742 1315

3600 2125 1531

7056 5045 3142

1530 1291 848

54626 35941 32285 21815 21320 18802 6656

153117 90812 53165 22876 5023

17264 14528 11681 10267 9237 6415 5855
Trang 42

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Trong đó : Ma-lai-xi-a Thái Lan Sản phẩm gốm sứ Trong đó : Cam-pu-chia Thái Lan Ma-lai-xi-a Sản phẩm từ cao su Trong đó : Cam-pu-chia In-đô-nê-xia Thái Lan Ma-lai-xi-a Sản phẩm từ chất dẻo Trong đó : Cam-pu-chia Ma-lai-xi-a Phi-li-pin In-đô-nê-xia Thái Lan Xin-ga-po Sản phẩm từ sắt thép Trong đó : Cam-pu-chia Xin-ga-po In-đô-nê-xia Lào Thái Lan Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Sắn và các sản phẩm từ sắn Trong đó : Phi-li-pin Ma-lai-xi-a Sắt thép các loại Trong đó :

" 1000 USD " " " 1000 USD " " " " 1000 USD " " " " " " 1000 USD " " " " " " " Tấn " " Tấn

1550 400

139 25

4223 3933 2412

1760 1490 1241 1065

22004 10834 9370 7148 5040 4742

33695 11554 7012 6876 5298 3672 1508

24251 4992

5445 1237

11762 Cam-pu-chia Lào Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

" " " "

7 21547 14598 13735

71811 16306 16208 11147

Trang 43

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thái Lan Phi-li-pin Xin-ga-po Than đá Trong đó : Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Lào Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh Trong đó : Xin-ga-po Cam-pu-chia Phi-li-pin Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Xăng dầu các loại Trong đó :

" Tấn

12851 8811 2075

9895 7237 2044

" " 1000 USD " " " 1000 USD " " " Tấn

94368 65200 47048

10131 8126 3975

24933 1959 700

1641 1606 893

57269 Cam-pu-chia Lào Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Thái Lan 4 " " " " 36303 28975 15876 3219 262791 19285 9229 8209 1278

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 44

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2/ Nhập khẩu của Việt Nam từ các nước Asean
2.1/ Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá nhập khẩu từ Asean
25000 20000 Triệu USD 15000 12546.6 10000 7768.5 5000 0 2000 2004 2005 2006 2007 2008 Năm 4449 9326.3 15908.2 Trị giá nhập khẩu 19570.9

2.2/ Tình hình nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2009

Kim ngạch XNK qua từng thị trường trong 7 tháng 2009
2500000 2000000 Triệu USD 1500000 1289702 1000000 807605 500000 0
Br u

2150329 2213501

Xuất khẩu 1120668 1148429 719634 271879 25451 11750
-li -p in Th ái La n -g apo

1007350 632687 357181 2259 2468 109262
Là o

Nhập khẩu

138453 99332
M i-a nm a i-x i-a M ala

ne i C am -p uch ia In do ne xi a

Ph i

Quốc gia

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Xi n

Trang 45

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

ASEAN Trong đó : Brunei Cam-pu-chia In-đô-nê-xia Lào Ma-lai-xi-a Mi-an-ma Phi-li-pin Xin-ga-po Thái Lan

Đơn vị Xuất khẩu 2468 632687 357181 99332 1007350 11750 1120668 1148429 719634

1000USD Nhập khẩu 2259 109262 807605 138453 1289702 25451 271879 2150329 2213501

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 7 tháng năm 2009 từ các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm 2008 từ ASEAN đạt 8,1 tỷ USD, giảm 43,6. Hiện nay, cán cân thương mại giữa Việt Nam và ASEAN không cân bằng. Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu.7 tháng đầu năm nay, nhập siêu của Việt Nam từ ASEAN lên tới 1,3 tỷ USD. Hàng hóa từ các nước Đông Nam Á (ASEAN) đang có xu hướng gia tăng trong quá trình thuế suất nhập khẩu hạ dần theo lộ trình thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Ưu thế từ những ưu đãi về thuế suất nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ các nước ASEAN vào Việt Nam đã giúp cho lượng hàng hóa của các nước này tiêu thụ ở thị trường Việt Nam tăng mạnh. Một số mặt hàng nhập khẩu từ Asaen sơ bộ 7 tháng đầu năm 2009 Mặt hàng Nước xuất khẩu sang ĐVT Việt Nam Sơ bộ 7 tháng Trị giá Lượng (1000 USD)

Ô tô nguyên chiếc các loại Trong đó : Thái Lan Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Trong đó :
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Chiếc 1157 1000 USD
Trang 46

19525

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thái Lan Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Trong đó : Phi-li-pin Thái Lan Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Xin-ga-po Bông các loại Trong đó : In-đô-nê-xia Cao su Trong đó : Thái Lan Cam-pu-chia In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Chất dẻo nguyên liệu Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Dây điện và dây cáp điện Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Xin-ga-po In-đô-nê-xia Dầu mỡ động thực vật Trong đó : Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Thái Lan Xin-ga-po Dược phẩm Trong đó : Thái Lan In-đô-nê-xia Xin-ga-po
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

1151 1000 USD " " " " " Tấn " Tấn " " 2506 16578 10284 9560 8090 2201

2482

35937 23068 12227 4867

45713 33015 16041 5133

Tấn 172798 90049 68290 28774 188324 106875 79708 31331

" " " 1000 USD

" " " 1000 USD " " " 1000 USD " " "

14887 8780 3558 3182 1849

126793 90776 21789 1576

20684 7187 4132
Trang 47

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Gỗ và sản phẩm gỗ Trong đó : Ma-lai-xi-a Lào Thái Lan Cam-pu-chia In-đô-nê-xia Giấy các loại Trong đó : In-đô-nê-xia Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Hàng rau quả Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Hàng thuỷ sản Trong đó : In-đô-nê-xia Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Hoá chất Trong đó : Ma-lai-xi-a Thái Lan In-đô-nê-xia Xin-ga-po Khí đốt các loại

" " 1000 USD " " " " " Tấn " " " " 1000 USD " " 1000 USD 137667 130871 10020 14438 19744

3810 2840

70396 59130 25865 22553 6860

94932 72788 45907 12616 10911

35144 1609 230

" " 1000 USD " " " " Tấn 49274 211135 72829 44040 12388

12451 2386 2088 1814

62227 59554 42220 30122

Trong đó : A-rập Xê-út " Trung Quốc Ma-lai-xi-a Tiểu VQ Arập Thống nhất " Đài Loan
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

23806 106398 36209 19029 6202
Trang 48

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Xin-ga-po Hàn Quốc Kim loại thường khác Trong đó : Lào In-đô-nê-xia Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Linh kiện, phụ tùng ô tô Trong đó : Thái Lan In-đô-nê-xia Phi-li-pin Ma-lai-xi-a Linh kiện, phụ tùng xe máy Trong đó : Thái Lan In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện Trong đó : Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Thái Lan In-đô-nê-xia Phi-li-pin NPL dệt may da giày Trong đó : Thái Lan In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

" " Tấn " " " " " " 1000 USD " " " " 1000 USD " "

6770 310

3184 261

12884 7456 11722 4066 6718 2746

54813 27950 25219 18888 18480 12209

156665 33592 14801 4992

149529 15117 2185

1000 USD " " " " 1000 USD " " " " 1000 USD " " " 153524 116083 74542 30481 20146 171713 124144 97872 9463

46604 11238 6545
Trang 49

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Xin-ga-po Nguyên phụ liệu thuốc lá Trong đó : Cam-pu-chia In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Xin-ga-po Phi-li-pin Thái Lan Phân bón các loại Trong đó : Phi-li-pin Ma-lai-xi-a Thái Lan Phương tiện vận tải khác và phụ tùng Trong đó : Xin-ga-po Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Sữa và sản phẩm sữa Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a Phi-li-pin Sản phẩm hoá chất Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a Xin-ga-po In-đô-nê-xia Phi-li-pin Sản phẩm khác từ dầu mỏ Trong đó : Xin-ga-po Thái Lan Ma-lai-xi-a Nhật Bản In-đô-nê-xia Sản phẩm từ cao su Trong đó :
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

"

2969

6992 6970 6527 5920 4152 256 Tấn " " 192960 15122 12492 77326 4822 3564

1000 USD " " " 1000 USD " " " 1000 USD " " " " 1000 USD 106493 37469 16131 10764 651 2732 238 36

19094 15157 914

58131 46740 42564 19241 3292

"

" 1000 USD

Trang 50

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thái Lan Đài Loan Ma-lai-xi-a Xin-ga-po In-đô-nê-xia Pháp Phi-li-pin Sản phẩm từ chất dẻo Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Xin-ga-po Phi-li-pin Sản phẩm từ giấy Trong đó : Xin-ga-po Đài Loan Thái Lan In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Sản phẩm từ kim loại thường khác Trong đó : In-đô-nê-xia Thái Lan Ma-lai-xi-a Cam-pu-chia Phi-li-pin Sản phẩm từ sắt thép Trong đó : Xin-ga-po Thái Lan Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Sắt thép các loại Trong đó : Ma-lai-xi-a Thái Lan In-đô-nê-xia Xin-ga-po Phi-li-pin
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

" " " " " " 1000 USD " " " " 1000 USD " " " " " 1000 USD " " " 1000 USD " " " " Tấn " " " " " 368034 212979 93472 10966 2040

12117 10895 8034 2810 1208 1142 596

59394 29200 17263 6656 4334

20189 18956 9837 3389 3077

7854 4517 2439 687 36

39872 34277 20988 11190

163420 111034 58182 13045 905
Trang 51

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Thức ăn giá nguyên liệu

súc

và 1000 USD Trong đó : In-đô-nê-xia Thái Lan Phi-li-pin Ma-lai-xi-a Xin-ga-po " " " " 27052 24902 8261 6480 5099

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu Trong đó : Thái Lan Xin-ga-po In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Vải các loại Trong đó : Thái Lan Ma-lai-xi-a In-đô-nê-xia Xin-ga-po Phi-li-pin Xăng dầu các loại Trong đó : Xin-ga-po Thái Lan Ma-lai-xi-a Xơ, sợi dệt các loại Trong đó : Thái Lan In-đô-nê-xia Ma-lai-xi-a Xe máy nguyên chiếc Trong đó : Thái Lan " " " " 1000 USD " " " " " Tấn " " " Tấn " " " Chiếc " 3122722 291721 275345 12560 8903 8568 3597

44721 19775 17910 5877 470

1330882 130293 87737

45765 14529 19669

54481 24611 22062

24127

19855

3. Thuận lợi –khó khăn- hạn chế trong giao thương với các nước Asean:
3.1/ Thuận lợi: Trong những năm tới, Việt Nam tiếp tục xuất khẩu chủ yếu sang ASEAN các mặt hàng gồm: dầu thô, gạo, rau quả, thuỷ sản, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 52

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

linh kiện, thịt lợn. Theo Thỏa thuận về Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) với thuế suất 0- 5%, đã tạo thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam thâm nhập mạnh hơn vào khu vực này Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng cao và giá rẻ (do cắt giảm thuế quan nhập khẩu, chẳng hạn như sợi 5%, vải 12%, mức cắt giảm chung từ mức bình quân 17,4% xuống 13,4%) để sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam với hàng hóa của các nước ASEAN khác. Nhóm mặt hàng tận dụng công nghệ, đầu tư của các nước phát triển có thể cạnh tranh và xuất khẩu sang các nước ASEAN như: điện tử và linh kiện điện tử, máy vi tính và linh kiện, điện và dây cáp điện, dệt may, hải sản chế biến... Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam tương đồng với cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN khác như Thái lan, Philíppin,v.v... với thế mạnh là hàng nông sản do vậy việc gia nhập WTO sẽ ít ảnh hưởng đến gia tăng xuất khẩu nhóm mặt hàng này. Do thuế suất cam kết trong AFTA còn thấp hơn nhiều so với thuế suất cam kết trong WTO, hơn nữa việc giảm thuế trong khuôn khổ WTO cũng cần được xem xét trong tổng thể với việc giảm thuế trong khuôn khổ AFTA, nên có thể nói rằng thuế suất trong AFTA còn ưu đãi hơn so với cam kết trong WTO. Thỏa thuận về khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) với thuế suất 0-5% về khách quan tạo thuận lợi cho hàng hóa của ta thâm nhập mạnh hơn vào khu vực. Tuy nhiên, trên thực tế mức tăng trưởng xuất khẩu sang ASEAN trong 5 năm qua chỉ bằng mức tăng trưởng xuất khẩu nói chung (khoảng 2,1 lần). Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng cao và giá rẻ (do cắt giảm thuế quan nhập khẩu chẳng hạn như sợi 5%, vải 12%, mức cắt giảm chung từ mức bình quân 17,4% xuống 13,4%) để sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam với hàng hóa của các nước ASEAN khác. Nhóm mặt hàng tận dụng công nghệ, đầu tư của các nước phát triển và có thể cạnh tranh và xuất khẩu sang các nước ASEAN như điện tử và linh kiện điện tử, máy vi tính và linh kiện, điện và dây cáp điện, dệt may, hải sản chế biến... Cùng với việc cắt giảm thuế quan theo cam kết trong WTO, các ngành chịu ảnh hưởng nhiều từ cạnh tranh của hàng nhập khẩu gồm các sản phẩm gỗ, ô tô, sản phẩm chế tạo khác, đồ nhựa, hàng dệt may, máy móc thiết bị các loại. Việc mở cửa thị trường tuy tạo thêm sức ép, song điều đó cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước vươn lên, người tiêu dùng, thực chất là toàn xã hội, có điều kiện tiếp cận hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn, tốt hơn, tiện ích hơn. Trong những năm qua, không ít hàng hóa của Việt Nam đã thắng không chỉ trên sân nhà mà cả trên sân người (trong đó có cả khu vực ASEAN), thậm chí một số nước vốn mạnh hơn Việt Nam về mặt hàng này hay mặt hàng khác đã tỏ ra lo ngại về sức cạnh tranh của Việt Nam. Do vậy các ngành này nếu vươn lên cạnh tranh được với hàng ngoại nhập thì cũng có nghĩa là xuất khẩu sang ASEAN ngày càng có triển vọng. Hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu ở phía Nam, đang tận dụng những lợi thế thuận lợi về địa lý tại các khu kinh tế cửa khẩu quốc tế giáp với
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 53

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Campuchia, đã đẩy mạnh xuất khẩu sang nước bạn, tậo trung vào hàng giá rẻ. Sức mua hàng Việt Nam tại trường này liên tục tăng. Theo nhiều doanh nghiệp Campuchia, hàng Việt Nam đang chiếm ưu thế về chất lượng và giá cả so với hàng của Trung Quốc, Thái Lan... và người tiêu dùng Campuchia có xu hướng chuyển sang sử dụng hàng Việt Nam ngày một nhiều hơn với các sản phẩm như đường, sữa, cà phê, các loại thực phẩm chế biến... Đây là cơ hội tốt để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục mở rộng thị phần tại thị trường này. Thời gian qua, Bộ Công Thương cũng đã có nhiều hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp xúc tiến thương mại sang thị trường này, điển hình là Hội chợ Thương mại Du lịch và Đầu tư được tổ chức tại Khu Công nghiệp Xuân Tô, Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, An Giang từ ngày 14 - 19/5/2009 do Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương phối hợp với UBND tỉnh An Giang tổ chức theo Chương trình Xúc tiến Thương mại quốc gia năm 2009. 3.2/ Khó khăn và thách thức Xuất khẩu của ta sang các nước ASEAN chưa cao, nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp có tâm lý ngại cạnh tranh tại thị trường các nước này do cơ cấu hàng hóa của Việt Nam và các nước ASEAN giống nhau Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa tận dụng triệt để các điều kiện thuận lợi mà việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo cho hàng hóa Việt Nam vào thị trường Asean. Đối với những thị trường có cơ cấu hàng hóa giống Việt Nam và có nhu cầu tiêu dùng hàng có chất lượng tương đối cao như Thái Lan, Indonesia, Malaysia thì Việt Nam vẫn chưa thâm nhập được mấy trong khi nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường này rất lớn. Hiện nay, nhiều sản phẩm của Thái Lan, Malaysia đang tiêu thụ rất mạnh tại Việt Nam. Thậm chí, nhiều nước đã tổ chức hội chợ bán hàng tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn thông tin, do đó không nắm bắt được những ưu đãi của ASEAN dành cho các nước trong khu vực. Đây sẽ là những thiệt thòi không nhỏ khi các doanh nghiệp phải vất vả lăn lộn trên thương trường. Năm 2010, khi hàng rào thuế quan trong ASEAN hoàn toàn được xóa bỏ, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp thách thức lớn nếu không biết tận dụng cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực trong khi hàng hóa từ các nước này tràn vào Việt Nam. Do cơ cấu hàng hoá của Việt Nam và ASEAN có nhiều điểm giống nhau, nhưng Việt Nam ở trình độ phát triển thấp hơn nên hàng hoá của Việt Nam chưa thâm nhập được nhiều vào thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN có xu hướng tăng chậm, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này đang có xu hướng tăng mạnh.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 54

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

4. Các biện pháp trong hoạt động giao thương với Asean:
4.1/ Định hướng xuất khẩu một số mặt hàng vào thị trường ASEAN: Gạo: trong số các nước ASEAN, Indonesia, Philippines, Malaysia là những nước thường xuyên nhập khẩu gạo của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 dự kiến tăng khoảng 23,9%/năm và đạt 1,8 tỉ USD. Do lợi thế về vận tải và nhu cầu gạo phẩm cấp thấp, phù hợp với sản xuất của Việt Nam nên thị trường ASEAN vẫn được xác định là thị trường xuất khẩu gạo quan trọng của Việt Nam. Cà phê: dự kiến kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt 220 triệu USD, tăng bình quân 15%/năm. Tuy nhiên, để đạt được kim ngạch xuất khẩu nêu trên cần tuyên truyền, khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đến vấn đề chất lượng để tăng thêm giá trị gia tăng. Thuỷ sản: tuy các nước ASEAN cũng xuất khẩu thuỷ sản, nhưng Việt Nam vẫn có thể thâm nhập vào những thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 dự kiến đạt 320 triệu USD, tăng bình quân 24%/năm. Tuy nhiên, để đẩy mạnh xuất khẩu, ngoài vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, việc ký thoả thuận về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm giữa các cơ quan quản lý chất lượng các nước ASEAN là rất cần thiết. Hàng dệt may và giày dép: do trùng hợp về cơ cấu xuất khẩu nên Việt Nam khó có khả năng thâm nhập mạnh vào thị trường này. Phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 380 triệu USD, tăng bình quân 30%/năm trong giai đoạn 2008-2010. Hàng điện tử và linh kiện: đây là mặt hàng chủ yếu do các công ty liên doanh tại Việt nam sản xuất và xuất khẩu sang các nước ASEAN. Phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,8 tỉ USD, tăng bình quân 61%/năm. 4.2/ Những biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN Để đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN, tham gia vào việc hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập khu vực nói riêng, doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm một số vấn đề sau đây: Nắm bắt kịp thời những biến động trên thị trường thế giới cũng như ở các nước ASEAN có ảnh hưởng nhiều tới giao dịch và giá cả; tiếp đó là tình hình chính trị thiếu ổn định ở một số nước cũng tác động mạnh đến quan hệ thương mại và khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Có như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mới điều chỉnh tốt chính sách thị trường, giá cả trong giao dịch.
-

Từ nay đến năm 2020, thị trường châu Á và các nước ASEAN vẫn tiếp tục giữ tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tương đối cao, doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng lợi thế vị trí địa lý gần và đây hầu hết là các thị trường buôn bán truyền thống, để đẩy mạnh những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, hải sản, sản phẩm điện tử và máy vi tính, hàng dệt may, gạo, cao su và than đá...
-

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 55

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Tăng cường cơ chế hợp tác thay cho sự cạnh tranh trên thị trường, nhất là việc cùng giao dịch chào bán và tham gia đấu thầu các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su... mà Việt Nam và một số nước trong khu vực đều là nước có thế mạnh xuất khẩu, tránh được sự ép giá của các nhà nhập khẩu. Điển hình là mặt hàng gạo trong nhiều năm qua, Việt Nam và Thái Lan đã hợp tác xuất khẩu nên đã nâng được giá cả trên thị trường thế giới, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nông dân. Việc hợp tác tham gia đấu thầu và xuất khẩu gạo tại thị trường Philippin, Inđônêxia cũng cần được hai nước chú ý phối hợp tốt trong thời gian tới.

Công tác xúc tiến thương mại luôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với xuất khẩu. Cần xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu riêng cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam để đảm bảo chất lượng, ổn định thị trường tiêu thụ và thu hút sự quan tâm của khách hàng ngày càng nhiều.
-

Củng cố hoạt động của các Cơ quan thương vụ ở nước ngoài. Việc thành lập các phòng trưng bầy giới thiệu sản phẩm tại các nước phải được các cơ quan thương vụ quan tâm hơn.
-

Không chỉ tập trung vào các thị trường chủ chốt hoặc các thị trường mới như Trung Đông, châu Phi, các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng những lợi thế và ưu đãi để xúc tiến xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tổ chức nghiên cứu thị trường các nước ASEAN để hàng hóa sản xuất ra có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực. Vịêt Nam cần chú ý đầu tư máy móc thiết bị để nâng cao năng lực cạnh tranh và Nhà nước cũng cần có những hỗ trợ về thông tin qua các cuộc hội thảo, đào tạo giới thiệu về thị trường các nước trong ASEAN, giới thịêu những ưu đãi và thuận lợi mà doanh nghiệp Việt Nam được hưởng cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải, để doanh nghiệp định hướng chiến lược phát triển sản phẩm tại các thị trường này.
-

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 56

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

IV. THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC:
2000 Xuất khẩu 1536.4 Nhập khẩu 1401.1 2004 2005 2006 2007 2008 2899.1 3228.1 3242.8 3646.1 4535.7 4595.1 5899.7 7391.3 12710 15652.1 Đơn vị: Triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê
Kim ngạch XNK với Trung Quốc
18000 16000 14000 Triệu USD 12000 10000 8000 6000 4000 2000 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 1536.4 1401.1 4595.1 2899.1 5899.7 3228.1 3242.8 3646.1 4535.7 7391.3 12710 Xuất khẩu Nhập khẩu 15652.1

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Trung Quốc:
1.1/ Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá xuất khẩu sang Trung Quốc
5000 4535.7 4000 Triệu USD 3000 2000 1536.4 1000 0 2000 2004 2005 Nắm 2006 2007 2008 2899.1 3228.1 3242.8 3646.1 Xuất khẩu

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 57

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Theo nhận định của Vụ châu Á-Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt trội trong vòng hơn 10 năm qua, từ trên 32 triệu USD năm 1991 lên 10,4 tỷ USD năm 2006. Tính đến tháng 10/2007, con số này là 12,1 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung Quốc hiện đứng đầu trong số các nước xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam và đứng thứ 3 trong số các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Việt Nam là thị trường tiêu thụ các mặt hàng xăng dầu, vải sợi, nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị, phân bón, hóa chất, sắt thép các loại của Trung Quốc; đồng thời xuất sang thị trường này nguyên liệu dầu thô, cao su, than đá, các nhóm hàng nông sản như thủy hải sản, rau quả, hạt điều, dầu thực vật; nhóm hàng công nghiệp như các sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa. Số liệu thống kê năm 2006 của Hải quan Trung Quốc (theo Quốc tế Thương báo, Trung Quốc, ngày 31/1/2007) chot hấy mức thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Năm 2006, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 2,486 tỉ USD, giảm 2,6% so với năm 2005, trong khi đó Trung Quốc xuất sang Việt Nam 7,465 tỉ USD, tăng 32,3%. Như vậy, mức thâm hụt thương mại là 4,979 tỉ USD, bằng 200% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Số liệu của Hải quan Việt Nam cho thấy, Việt Nam nhập của Trung Quốc 7,391 tỉ USD (thấp hơn số liệu của Trung Quốc 74 triệu USD) và xuất sang Trung Quốc 3,030 tỉ USD (cao hơn 544 triệu USD). Xác định Trung Quốc vẫn tiếp tục là một thị trường trọng điểm và là đối tác thương mại hàng đầu, Bộ Công Thương dự kiến năm 2009, kim ngạch mậu dịch giữa hai nước đạt khoảng 21,5 tỷ USD, tăng 6,9% so với năm 2008. Năm 2010, dự kiến có khả năng đạt 25 tỷ USD, hoàn thành mục tiêu mà lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra. Những năm gần đây, quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc phát triển mạnh. 5 tháng đầu năm 2009, do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên kim ngạch mậu dịch hai nước giảm 21,4% so với cùng kỳ năm 2008, đạt 7,120 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu đạt 1,609 tỷ USD, giảm 1,71%, nhập khẩu đạt 5,511 tỷ USD, giảm 25,8%. Trung Quốc vẫn tiếp tục là một thị trường trọng điểm và là đối tác thương mại hàng đầu, Bộ Công Thương dự kiến năm 2009, kim ngạch mậu dịch giữa hai nước đạt khoảng 21,5 tỷ USD, tăng 6,9% so với năm 2008. Năm 2010, dự kiến có khả năng đạt 25 tỷ USD, hoàn thành mục tiêu mà lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra Trước đó, năm 2008, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt 20,188 tỷ USD, tăng 27,3% so với năm 2007, trong đó Việt Nam nhập khẩu 15,652 tỷ USD. Bên cạnh đó, thương mại biên giới Việt - Trung cũng trở thành một bộ phận quan trọng không thể tách rời và có đóng góp tích cực trong quan hệ thương mại hai nước. Trong giai đoạn 2006 - 2008, hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung không ngừng tăng về giá trị tuyệt đối, bình quân mỗi năm trên 40%. Năm 2008, kim ngạch xuất nhập khẩu biên mậu của 7 tỉnh có chung biên giới với Trung Quốc đạt
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 58

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

khoảng 6,5 triệu USD, tăng trên 19% so với năm 2007, chiếm 32,24% tỷ trọng trong kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc. Sau đây là 13 nhóm mặt hàng xuất khẩu tiềm năng vào thị trường Trung Quốc: Cao su: Trung Quốc nhập khẩu 2,76 tỉ USD, hàng Việt Nam xuất sang mới đạt 773 triệu USD. Cà phê: Hiện nay nhu cầu của Trung Quốc khoảng hơn 100 triệu USD/năm, Việt Nam mới xuất khẩu được 13-14 triệu USD/năm. Chè: Nhu cầu thị trường Trung Quốc khoảng trên 50 triệu USD chè các loại, Việt Nam mới xuất khẩu được 7 triệu USD. Dây cáp điện: Trung Quốc nhập khẩu 3,1 tỉ USD dây cáp điện, Việt Nam mới xuất khẩu ở mức 10,7 triệu USD. Gạo cao cấp: Việt Nam xuất khẩu 12 triệu USD, trong khi Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu rất lớn. Giày dép: Trung Quốc nhập khẩu 554 triệu USD hàng giày dép, Việt Nam mới xuất khẩu được khoảng 37-38 triệu USD. Hạt điều: thị trường Trung Quốc tiêu thụ 1,6 tỉ USD, Việt Nam mới xuất sang được 84-85 triệu USD. Hạt tiêu: thị trường Trung Quốc tiêu thụ 1.350 tấn, Việt Nam xuất khẩu chưa đầy 300 tấn. Sản phẩm gỗ: Trung Quốc nhập khẩu 13,6 tỉ USD. Các sản phẩm gỗ chất lượng cao Việt Nam xuất sang mới đạt 82,2 triệu USD. Sản phẩm nhựa: Trung Quốc nhập khẩu 2,6 tỉ USD, Việt Nam xuất sang 6,5 triệu USD. Dầu thực vật: Trung Quốc nhập khẩu 2,75 tỉ USD, Việt Nam xuất sang 2,78 triệu USD. Linh kiện điện tử, điện máy: Trung Quốc nhập khẩu 13 tỉ USD, Việt Nam xuất khẩu 7,5 tỉ USD. Sắn lát và tinh bột sắn: hàng năm Trung Quốc tiêu thụ khoảng 3,5 triệu tấn. Thống kê của Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc cho thấy nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này luôn ổn định qua nhiều năm. 1.2/ Tình hình xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2009 Tổng kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm 2009 đạt 12,19 tỷ USD, giảm 10,9% so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó: Trung Quốc xuất khẩu đạt 9,25 tỷ USD, giảm 13,4% và Việt Nam xuất khẩu đạt 2,93 tỷ USD, giảm 2,1%. Trung Quốc xuất siêu đạt 6,32 tỷ USD. Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu cụ thể như sau:

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 59

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc - Động vật và các sản phẩm chế biến từ động vật - Sản phẩm từ thực vật - Thực phẩm, đồ uống, thuốc lḠvà các chế phẩm - Khoáng sản các loại (bao gồm xăng dầu) - Hóa chất và các chế phẩm cùng loại - Nhựa, cao su và các chế phẩm cùng loại - Da, giả da và các chế phẩm cùng loại - Gỗ và các chế phẩm cùng loại - Bột giấy và các chế phẩm cùng loại - Nguyên vật liệu, hàng dệt may - Giày, dép, mũ, ô - Đồ sứ, thủy tinh - Vàng, bạc, đá, quý - Sắt thép, kim loại mầu - Hàng cơ điện, máy móc các loại - Phương tiện vận tải - Thiết bị quang học, y tế - Tạp hóa

2,238 51,110 0,639 171,531 2,940 23,613 4,771 25,069 0,140 29,536 10,684 3,974 0,003 2,274 79,002 1,345 2,973 8,186

18,486 526,533 3,688 1.197,602 21,594 163,433 32,722 85,193 1,456 186,235 90,191 41,913 0,047 19,587 480,203 5,868 14,554 45,919

Nguồn: Thương Vụ Việt Nam tại Trung Quốc

2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ Trung Quốc:
2.1/ Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá nhập khẩu từ Tung Quốc
18000 16000 14000 12000 10000 8000 6000 4000 2000 0

15652.1 12710 7391.3 Nhập khẩu

Triệu USD

4595.1 1401.1 2000 2004

5899.7

2005 Năm

2006

2007

2008

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 60

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2.2/ Tình hình nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2009 Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam Động vật, các sản phẩm chế biến từ động vật Sản phẩm từ thực vật Thựcphẩm, đồ uống, thuốc lá và các chế phẩm Khoáng sản các loại ( bao gồm xăng dầu ) Hóa chất và các chế phẩm cùng loại Nhựa, cao su và các chế phẩm cùng loại Da, giả da và các chế phẩm cùng loại Gỗ và các chế phẩm cùng loại Bột giấy và các chế phẩm cùng loại Nguyên phụ liệu, hàng dệt may Giày, dép, mũ, ô .. Đồ sứ, thủy tinh Vàng, bạc, đá quý Sắt thép, kim loại mầu Hàng cơ điện, máy móc các loại Phương tiện vận tải Vũ khí, đạn dược ......... Thiết bị quang học, y tế Tạp hóa Tháng 8 (triệuUSD) 3,228 58,547 17,488 130,981 151,077 33,390 7,738 9,576 9,513 260,095 7,810 25,726 6,222 216,175 416,169 60,871 0,000 19,864 22,883 8 tháng (triệuUSD) 15,035 349,346 159,079 956,513 904,243 237,851 40,039 56,700 61,965 1.682,424 50,706 176,287 7,489 893,868 2.928,861 441,552 0,360 130,641 164,008

Nguồn: THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI TRUNG QUỐC

3. Thuận lợi trong giao thương với Trung Quốc:
Thị trường Trung Quốc có 4 đặc điểm lớn. Thứ nhất, đây là thị trường khổng lồ với dân số hơn 1,3 tỷ người, có nhu cầu rất lớn phục vụ ổn định đời sống người dân và xã hội trước mắt cũng như các nhu cầu dự trữ chiến lược trong trường hợp thiên tai, biến đổi khí hậu. Trung Quốc còn là công xưởng lớn nhất thế giới có nhu cầu nhập khẩu lớn đối với tất cả các loại nguyên, nhiên vật liệu, khoáng sản, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tiêu dùng trong nước, cho gia công xuất khẩu. Thứ hai, Trung Quốc là thị trường láng giềng lớn nhất của Việt Nam. Hai nước có chung đường biên giới dài trên 1450 km với 8 cặp cửa khẩu quốc tế và 13 cặp cửa khẩu chính cùng nhiều cửa khẩu phụ và chợ đường biên. Phong tục tập quán,

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 61

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

nền văn hoá có nhiều nét tương đồng. Hệ thống chính trị và mô hình phát triển kinh tế cơ bản giống nhau. Mô hình phát triển kinh tế đều hướng ra xuất khẩu. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu có nhiều nét giống nhau. Thương mại hai bên được tiến hành theo nhiều phương thức mậu dịch phong phú (chính ngạch, buôn bán qua biên giới, tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu, trao đổi hàng hoá giữa cư dân biên giới hai nước). Thứ ba, đây là thị trường có nhu cầu đa dạng. Nhu cầu giữa các vùng miền ở Trung Quốc khác nhau. Các tỉnh Đông Bắc và khu vực miền Trung có nhu cầu thường xuyên về rau quả nhiệt đới, thực phẩm đồ uống chế biến từ nguyên liệu hoa quả nhiệt đới. Miền Tây Nam Trung Quốc có nhu cầu thường xuyên về thuỷ hải sản do không có biển. Địa hình miền núi hiểm trở. Miền Đông và các đặc khu kinh tế cần nhiều loại sản phẩm cao cấp từ các nước láng giềng phía Nam; đồ gỗ cao cấp, thuỷ hải sản tươi sống cao cấp, hoa quả nhiệt đới cao cấp. Các tỉnh phía Nam và giáp biên thường xuyên có nhu cầu về than, khoáng sản (do vận chuyển từ phía Bắc xuống không hiệu quả). Thứ tư, đây là thị trường đang phát triển. Hiện Trung Quốc đang hoàn thiện dần thị trường trao đổi hàng hoá tại các đô thị, trung tâm kinh tế thông qua hệ thống chợ bán buôn, chợ đầu mối và hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện ích. Thị trường nông thôn Trung Quốc với hơn 700 triệu người tiêu dùng chủ yếu vẫn thông qua hệ thống chợ truyền thống và hệ thống hơn 2 vạn cửa hàng “Lợi dân” do Bộ Thương mại Trung Quốc xây dựng và quản lý tại các địa phương từ cấp xã trở lên. Hiện nay, thị trường nội địa Trung Quốc đang được củng cố và sắp xếp lại do Chính phủ chuyển trọng tâm từ kinh tế hướng ra xuất khẩu sang chủ động mở rộng nhu cầu trong nước. Có nghĩa là hàng nước ngoài vào thị trường Trung Quốc sẽ khó khăn hơn do chính sách hỗ trợ khuyến khích sản xuất và sử dụng hàng nội địa. Do lợi thế tuyệt đối về vị trí địa lý, Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và bờ biển dài, nên cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu hai nước tuy cơ bản là tương đồng, nhưng về trước mắt và lâu dài Trung Quốc ngày càng phụ thuộc và có nhu cầu tăng lên đối với năm nhóm hàng ta có nhiều tiềm năng phát triển. Phát huy lợi thế có chung đường biên giới, trong những năm qua, 7 tỉnh biên giới Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên và 2 tỉnh biên giới Trung Quốc là Quảng Tây và Vân Nam đã chủ động hợp tác phát triển kinh tế. Cụ thể là việc hình thành các khu thương mại, chợ cửa khẩu, khu kinh tế mở, và chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng biên giới như kết nối hệ thống đường sắt, đường bộ, đường không, hệ thống điện, nước và ký kết các thoả thuận hợp tác kinh tế thương mại, góp phần không nhỏ ổn định và cải thiện đời sống nhân dân vùng biên và thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại hai nước. Cũng theo đánh giá của Vụ châu Á-Thái Bình Dương, xuất khẩu qua các cửa khẩu Móng Cái, Hữu Nghị, Đồng Đăng chiếm tới 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc. Hiện Việt Nam đang nhập siêu từ Trung Quốc.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 62

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

4. Khó khăn trong hoạt động giao thương:
Trung Quốc bắt đầu áp dụng kiểm dịch thực vật theo tiêu chuẩn của WTO, theo cam kết của nước này với Tổ chức Thương mại thế giới: Từ đầu năm đến nay, tại cửa khẩu Lào Cai chưa có một doanh nghiệp nào mở hồ sơ xuất khẩu hoa quả tươi, tại cơ quan Hải quan sở tại. Nguyên nhân là do sản phẩm hoa quả tươi của Việt Nam không vượt qua được các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, do cơ quan Kiểm dịch thực vật phía Trung Quốc áp dụng theo tiêu chuẩn của WTO tại cửa khẩu này. Xuất khẩu nông sản hiện nay phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, trong khi phần lớn các mặt hàng xuất vào thị trường này đều giảm về lượng và giá trị xuất khẩu. Chỉ có sắn là mặt hàng duy nhất xuất vào Trung Quốc tăng về lượng cũng như giá trị, nhưng chỉ khoảng 400 triệu đô la Mỹ. Trong khi GDP, thương mại nội địa, sản xuất công nghiệp tăng trưởng thì tình hình xuất khẩu lại khá ảm đạm, đứng đầu là sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu dầu thô, với mức giảm hơn 53% mất 5,5 tỉ đô la Mỹ so với dự kiến. Kế đến là nhóm nông lâm thủy sản, tuy tăng về số lượng xuất khẩu nhưng giá lại giảm trên 8,8%. Cụ thể, hai mặt hàng lớn là cá tra, tôm xuất khẩu tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng giá vẫn giảm. Nhiều mặt hàng vươn lên chi phối thị phần như tiêu, cà phê, nhưng bị tình trạng đầu cơ làm giá giảm, làm điêu đứng các doanh nghiệp và nông dân. Công tác tổ chức thị trường xuất khẩu, biện pháp xúc tiến thương mại và hoạt động marketing của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tốt. Sức cạnh tranh trong 5 tháng cuối năm sẽ khốc liệt hơn, khi mà nền kinh tế các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương hồi phục sớm hơn dự kiến, nhất là Trung Quốc.

5. Giải pháp trong hoạt động giao thương với Trung Quốc:
5.1/ Về phía Nhà nước: Cần khắc phục như những vướng mắc trong việc thực thi Hiệp định ACFTA, việc thực thi các Hiệp định đã ký như quy định về kiểm dịch, kiểm nghiệm động vật, thực vật... Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu còn bất hợp lý, chưa có sự chuyển dịch tích cực. Buôn bán biên giới không ổn định và thiếu lành mạnh, tình trạng buôn lậu, hàng nhái, hàng giả trên toàn tuyến biên giới vẫn diễn ra khá nhiều. Thực hiện lộ trình cắt giảm thuế danh mục thông thường trong Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), 50% tổng số dòng thuế đạt 0 - 5% vào năm 2009. Điều đó tạo cơ hội cho nhiều mặt hàng của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, đặc biệt là các mặt hàng cao su tự nhiên, cà phê, chè, tiêu, điều, gạo, dây và cáp điện, giày dép, hải sản, dệt may, rau quả, gỗ, nhựa, dầu động - thực vật, sắn lát, tinh bột sắn, bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc...
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 63

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Ngoài những sản phẩm có xuất xứ thuần túy trong nước như cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng, động vật sống, sản phẩm từ động vật sống, khoáng sản, sản phẩm khai thác, đánh bắt đương nhiên được hưởng thuế ưu đãi thì những sản phẩm khác phải đảm bảo quy tắc xuất xứ với hàm lượng giá trị khu vực phải đạt 40% (Trung Quốc áp dụng quy tắc cộng gộp nguyên liệu nhập khẩu phải có tối thiểu 40% hàm lượng giá trị khu vực ACFTA). Tăng cường công tác quy hoạch cửa khẩu biên giới, tăng mức đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở; Mặt khác, cần phải nhanh chóng đưa ra các biện pháp chính sách cụ thể, hỗ trợ và hướng dẫn doanh nghiệp biên mậu có thực lực kinh tế, giữ chữ tín, thực hiện đúng pháp luật hoàn thành việc thay đổi hình thức kinh doanh, tự nâng cấp. Đồng thời, cũng cần phải phát huy ưu thế về giá nhân công thấp, nguồn tài nguyên phong phú của các khu vực biên giới, nghiên cứu chính sách hiện hành có liên quan đến khu ngoại quan hoặc khu gia công xuất khẩu, lựa chọn các khu vực biên giới có điều kiện để xây dựng khu gia công chế biến tại khu vực biên giới, khuyến khích và ủng hộ nguồn vốn trong dân đầu tư vào khu vực này, hướng tới hai thị trường trong nước và ngoài nước, phát triển ngành chế biến chế tạo, dần dần làm thay đổi hiện trạng “không nghề không giàu”, tiến tới thúc đẩy nâng cầp sản nghiệp tại khu vực biên giới, thúc đẩy cửa khẩu biên giới phát triển. Nhằm phát huy lợi thế và hạn chế những tác động bất lợi của việc buôn bán qua cửa khẩu, góp phần vào việc cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước, hàng loạt giải pháp tích cực đang được triển khai. Đáng chú ý là chủ trương đẩy mạnh buôn bán những mặt hàng lớn, trong đó Trung Quốc cung cấp các sản phẩm cơ điện, thiết bị trọn gói và nhập khẩu ổn định các sản phẩm Việt Nam có ưu thế như dầu thô, cao su, cà phê, thủy sản. Cùng với đó, hai bên cũng đang xúc tiến việc lập Tổ liên ngành nghiên cứu mặt hàng mới và ký kết Hiệp định kiểm dịch động thực vật, hình thành chuỗi đô thị - cửa khẩu, phát triển tuyến hành lang kinh tế. Lâu nay xuất khẩu của Việt Nam chỉ là những gì chúng ta có, chứ chưa làm được việc xuất những gì Trung Quốc cần, chúng ta có thể mua hàng hóa của nước thứ ba rồi tái xuất cho Trung Quốc. Hướng đề xuất với Chính phủ là tạo thuận lợi cho đầu tư các loại hình khu hợp tác kinh tế biên giới, quy hoạch hệ thống cửa khẩu, chợ biên giới để tạo thêm động lực và sự yên tâm cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, Chính phủ cần rà soát hệ thống văn bản hợp tác với Trung Quốc, nếu cần có thể sửa đổi, bổ sung để tránh tình trạng điều hành, chỉ đạo quản lý nhà nước lúng túng. 5.2/ Về phía doanh nghiệp: Điều đáng lưu ý đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam là cần nắm vững quy tắc xuất xứ mẫu E trong Hiệp định ACFTA để được hưởng ưu đãi thuế quan Tận dụng những ưu đãi này để đẩy mạnh xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam nên có chiến lược sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và tìm đối tác thích hợp trong khu vực ACFTA. Hơn thế nữa, theo lộ trình cam kết, từ năm 2013, 40% tổng số dòng thuế sẽ đạt 0% và 100% tổng số dòng thuế sẽ đạt 0% vào năm 2015, linh hoạt đối với 250 dòng thuế đạt 0% vào năm 2018
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 64

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Bên cạnh các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai nhà nước, những năm gần đây, doanh nghiệp hai nước đã dành sự quan tâm đáng kể cho việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại thị trường của nhau bằng việc tổ chức nhiều đoàn tham gia các hội chợ, triển lãm, thương mại, hội thảo và xúc tiến đầu tư, thương mại. Gần đây nhất, tháng 4/2007, đoàn gồm 70 doanh nghiệp Trung Quốc đã đến Thành phố Hồ Chí Minh tìm kiếm cơ hội đầu tư và hợp tác kinh doanh. Các lĩnh vực giành được sự chú ý của các doanh nghiệp Trung Quốc khi đến Việt Nam là công nghệ cao, bất động sản và nguyên liệu cho ngành luyện kim. Các doanh nghiệp Việt Nam cần biết chấp nhận cạnh tranh, phải học tập các doanh nghiệp Trung Quốc, hợp tác với họ trên từng công đoạn, từng khâu chế tác, từng phân khúc thị trường. Những công đoạn nào có thể hợp tác, nên triển khai việc hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tránh việc bán nguyên liệu thô, rất kém hiệu quả. Nếu không cạnh tranh được về giá cả hàng may mặc, doanh nghiệp có thể sản xuất dòng sản phẩm có chất lượng cao hơn, hợp thời trang hơn và duy trì được thị phần ở thành thị trong nước và hướng tới thị trường xuất khẩu khác. Thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu được xem là biện pháp quan trọng. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc gồm 3 nhóm hàng chính là nguyên nhiên liệu và khoáng sản, chiếm trung bình 55%; nông sản, thủy sản chiếm 15%; hàng công nghiệp chiếm 10% cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc ít thay đổi, trong khi nhập khẩu rất đa dạng. Muốn tăng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cần có cơ cấu hàng hóa mới, đưa thêm nhiều mặt hàng mới, đẩy mạnh nghiên cứu cơ cấu xuất khẩu để đưa thêm nhiều mặt hàng mới. Một biện pháp không thể thiếu để đẩy mạnh XK là hoạt động XTTM Muốn thâm nhập, duy trì và tăng thị phần trên thị trường lớn như Trung Quốc, đòi hỏi doanh nghiệp ta phải cố gắng đáp ứng và hoàn thiện năm yêu cầu đặt ra đối với một doanh nghiệp xuất khẩu. Đó là doanh nghiệp phải có hệ thống kho tàng, nhà xưởng, cơ sở vật chất. Có hợp đồng thu mua nông sản ổn định trung và dài hạn (đối với doanh nghiệp chế biến hàng nông sản). Doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng công nghệ sản xuất, chế biến nông sản. Doanh nghiệp đã xây dựng, quảng bá và đăng ký thương hiệu trong và ngoài nước. Cuối cùng doanh nghiệp cần thiết phải có chiến lược thâm nhập và phát triển mặt hàng trên thị trường Trung Quốc. Với các tiền đề vững chắc được nêu trên, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin, lựa chọn cách tiếp cận thị trường, xây dựng mối quan hệ bạn hàng tại thị trường Trung Quốc thông qua các hội chợ quốc tế, chuyên ngành tổ chức tại Trung Quốc. Cạnh đó, có thể lựa chọn đối tác thông qua danh sách các doanh nghiệp Trung Quốc được Bộ Thương mại Trung Quốc, Uỷ ban Xúc tiến mậu dịch Trung Quốc thẩm định và công bố hàng năm. Cũng có thể thông qua hệ thống các hiệp hội ngành hàng của Trung Quốc giới thiệu. Thông qua giới thiệu của Thương vụ và các Chi nhánh Thương vụ Việt Nam tại Trung Quốc cũng là kênh đáng tin cậy.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 65

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Mặt khác, doanh nghiệp Việt Nam cần tổ chức đoàn đi khảo sát, xây dựng hệ thống đại lý bán hàng. Thâm nhập và tham gia các kênh phân phối vào hệ thống siêu thị (doanh nghiệp Vinamit, Vinacafe đã thành công). Tham gia hệ thống bán buôn và chợ đầu mối ở một số tỉnh thành phố. Mở các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm. Hoặc liên doanh với doanh nghiệp Trung Quốc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm tại đây. Để doanh nghiệp Việt Nam an tâm làm ăn lâu dài trên thị trường Trung Quốc, doanh nghiệp cần nắm vững cách thức thẩm tra lý lịch thương nhân Trung Quốc nhằm xác định đúng đối tác. Muốn vậy, doanh nghiệp ta cần lưu ý các quy định, thông lệ sau: Thứ nhất, theo quy định của Bộ Thương mại Trung Quốc, chỉ có một số doanh nghiệp đặc biệt do Bộ Thương mại Trung Quốc chỉ định và cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực thẩm tra lý lịch thương nhân và khả năng kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp Trung Quốc. Phía doanh nghiệp nước ngoài có nhu cầu thẩm tra đối tác Trung Quốc đều phải thông qua các doanh nghiệp này và phải trả chi phí theo yêu cầu thẩm tra cụ thể. Chi tiết cụ thể liên hệ với Thương vụ Việt Nam tại Bắc Kinh. Đối với các đối tác giao dịch gián tiếp qua mạng, những đối tác được giới thiệu qua trung gian hoặc đối tác lớn cần kiểm tra kỹ lí lịch thương nhân để quyết định hợp tác lâu dài hay trước khi ký kết những hợp đồng giao dịch lớn, đề nghị doanh nghiệp nên dành một khoản chi phí uỷ thác doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động trong lĩnh vực trên trợ giúp. Thứ hai, trong trường hợp là đối tác thông thường lần đầu tiếp xúc qua hội chợ triển lãm hoặc qua các kênh hội thảo, diễn đàn, giao thương... thì cần đề nghị đối tác cung cấp giấy phép kinh doanh do Cục Quản lý hành chính công thương tại tỉnh, thành phố Trung Quốc mà doanh nghiệp đó có trụ sở. Giấy phép kinh doanh nếu là bản sao phải có công chứng. Nếu là đối tác đứng đắn và có nguyện vọng làm ăn nghiêm túc, lâu dài với ta thì doanh nghiệp Trung Quốc đó sẽ không thoái thác yêu cầu này của ta. Thứ ba, đối với các doanh nghiệp Trung Quốc dù là nhà nhập khẩu hay xuất khẩu, trước khi ký kết hợp đồng thương mại đầu tiên, doanh nghiệp Việt Nam nên chủ động dành kinh phí cử đoàn khoảng 2-3 người sang trực tiếp thẩm định văn phòng, hệ thống nhà xưởng, kho tàng, hệ thống phân phối... Thực tế đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam làm như vậy nhưng vẫn bị lừa do phía đối tác Trung Quốc thuê mượn lại văn phòng, cơ sở vật chất kho tàng để khuếch trương với đoàn. Đến khi xảy ra lừa đảo thương mại, phía doanh nghiệp ta mới té ngửa trước thực tế đối tác là "doanh nghiệp ma" không trụ sở, kho tàng nhà xưởng. Tất cả đều thuê mượn và nguỵ trang để lừa đảo.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 66

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

V. THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
2000 2575. Xuất khẩu 2 2300. Nhập khẩu 9 2004 2005 2006 2007 2008 8537.9

3542.1 4340.3 5240.1 6090 3552.6 4074.1 4702.1 6188.9

Đơn vị: triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê
Kim ngạch XNK với Nhật Bản
9000 8000 7000 6000 Triệu USD 5000 4000 3000 2000 1000 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 2575.2 2300.9 4340.3 4074.1 3552.6 3542.1 5240.1 4702.1 6090 6188.9 Xuất khẩu Nhập khẩu 8537.9

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 67

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Nhật Bản
1.1/ Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2000-2008
Trị giá xuất khẩu
9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 8537.9 6090 Xuất khẩu

Triệu USD

5240.1 3542.1 2575.2 4340.3

2000

2004

2005 Năm

2006

2007

2008

Kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản ngày càng tăng. Nếu như năm 2001, kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản mới đạt 351 tỷ USD, thì năm 2008 đã tăng lên 756 USD, trong đó những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: nông sản, hải sản, may mặc, gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt 8,5 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2007. Nhật Bản tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam. Mặc dù hàng Việt Nam ngày càng được ưa chuộng tại thị trường Nhật nhưng thị phần còn nhỏ, hiện mới đạt xấp xỉ 1,19% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản, thấp hơn nhiều so với hàng hóa các nước trong khu vực (thị phần của Malaysia là 3,05%, Thái Lan 2,73%, Indonesia 4,27%, Trung Quốc 18,83%). Theo nội dung Hiệp định, thuế suất bình quân đối với hàng Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm 2018. Khi Hiệp định có hiệu lực, ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt Nam xuất sang Nhật Bản được hưởng ưu đãi thuế. Đổi lại, thuế suất bình quân đối với hàng nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ giảm dần, xuống còn 7% vào năm 2018. Các mặt hàng thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất, linh kiện điện tử có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽ nhất. Trong vòng 10 năm, theo thỏa thuận, Việt Nam và Nhật Bản sẽ cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại tự do song phương hoàn chỉnh. Theo đó, 94,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 87,6% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu vào Nhật Bản:

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 68

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Dệt may: Theo nguồn thương mại của Việt Nam tại Nhật Bản cho biết, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Nhật Bản những năm gần đây luôn tăng trưởng ở mức 910% Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, 6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may qua thị trường Nhật Bản ước đạt 440 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2008. Nếu duy trì được tốc độ như những tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật trong năm 2009 tăng khoảng 18-20%, đạt từ 900 triệu 1 tỷ USD và năm 2010 có thể đạt khoảng 1.1 - 1.2 tỷ USD Để giảm tỷ lệ gia công, tăng giá trị gia tăng của hàng may mặc xuất khẩu sang Nhật, doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực thiết kế thời trang, tăng cường sức cạnh tranh và phát triển bền vững kim ngạch hàng xuất khẩu sang Nhật. Để tạo dựng thành công thương hiệu của mình các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của người dân Nhật, nắm được xu hướng thời trang của người tiêu dùng Nhật, đồng thời hàng hóa cũng phải thể hiện được cá tính riêng Gỗ: Nhật Bản là thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam có sự tăng trưởng cao nhất, đạt 6,8 triệu USD. Như sậy, sau khi chững lại trong năm 2007 (chỉ tăng 4,8%), thì sang năm 2008, xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường này đã liên tục tăng, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi mà xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào hầu hết các thị trường chính đều đồng loạt giảm sút, thì sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản là đáng mừng. Cơ cấu các chủng loại sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản năm 2009 (tỷ trọng tính theo kim ngạch) Nội thất phòng khách 24,9% Ghế 9,9% Dăm gỗ 17,6% Gỗ, ván, ván sàn 6,0% nội thất văn phòng 12,9% Nội thất, đồ dùng nhà bếp 7,0% nội thất phòng ngủ 20,4% Loại khác 1,3% Đối với lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, nhiều mặt hàng sẽ được xóa bỏ thuế. Cụ thể, nếu như thuế suất hiện hành (gồm cả thuế ưu đãi chung) của sầu riêng là 2,5% và đậu bắp là 3%, thì đến 1/10 tới, sẽ được xóa bỏ thuế ngay. Các mặt hàng nông sản khác như: cải bó xôi đông lạnh từ 6%, ớt piment từ 3%, sẽ được xóa bỏ thuế trong 5 năm; bắp ngọt từ 6%, gia vị cà ri từ 3,6%, sẽ được xóa bỏ thuế trong 7 năm; cà phê rang từ 10%, trà xanh từ 17% sẽ được xóa bỏ thuế trong 15 năm; Mật ong tự nhiên từ 25,5% sẽ được định hạn ngạch thuế quan (còn 12,8% trong hạn ngạch hoặc với khung đó từ 100 tấn của năm thứ nhất tăng mỗi năm 5 tấn đến năm thứ 11 và sau đó là 150 tấn); sốt cà chua (từ 17%) giảm một nửa thuế trong 5 năm.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 69

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Lâm sản (trừ ván ép), mức thuế hiện nay từ 0 đến 6 % sẽ được xóa bỏ thuế đến 10 năm. Với các mặt hàng thủy sản như: tôm từ mức thuế 1 đến 2% hiện nay sẽ được xóa bỏ thuế ngay; bạch tuộc đông lạnh từ mức thuế 5%, cá kiếm đông lạnh 3,5% sẽ được xóa bỏ thuế trong 5 năm. Giày dép: Tương tự như mặt hàng dệt may, các sản phẩm giày dép của Việt Nam đứng thứ 4 trong số các nước xuất khẩu vào Nhật Bản nhưng thị phần còn rất khiêm tốn. Hiện nay, Việt Nam xuất chủ yếu là giày thể thao vào Nhật Bản.. Thủy sản: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào Nhật năm 2007 đạt 700 triệu USD, tăng 8% so với năm 2006. Các mặt hàng thủy sản trọng điểm xuất sang Nhật là tôm, mực, bạch tuộc đông lạnh và cá ngừ đại dương Các mặt hàng chế tạo (chủ yếu là dây điện và dây cáp điện, máy tính và linh kiện, sản phẩm nhựa): Việc triển khai tốt Chương trình hành động của Sáng kiến chung Việt- Nhật sẽ giúp doanh nghiệp FDI của Nhật Bản đầu tư mạnh vào sản xuất các mặt hàng này tại Việt Nam và khuyến khích họ tăng cường xuất khẩu trở lại Nhật Bản. Xuất khẩu các mặt hàng này vào Nhật Bản năm 2007 đạt kim ngạch 940 triệu USD. Xuất khẩu chè sang Nhật Bản: Xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản chiếm khoảng 5% tổng lượng xuất khẩu chè của Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2006. Khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường này năm 2003 là cao nhất, đạt 3,55 nghìn tấn, chiếm gần 6% khối lượng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xuất khẩu chè sang thị trường này giảm xuống do chè của Việt Nam chưa đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng Nhật khó tính. Nhật Bản là nước nhập khẩu chè xanh nhiều nhất của Việt Nam với hơn 50% khối lượng chè xuất khẩu sang thị trường này là chè xanh. Tuy nhiên, chè Việt Nam chỉ chiếm khối lượng nhỏ trong tổng khối lượng chè nhập khẩu của Nhật Bản Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu chè sang Nhật Bản chỉ đạt 374 tấn, trị giá 927.867 USD, tuy giảm đôi chút về số lượng nhưng lại tăng về trị giá. Xuất khẩu chè của Việt Nam sang Nhật Bản
2000 Tổng số lượng XK chè55,7 của VN (tấn) Xuất sang Nhật (tấn) 1,86 2001 68,0 2002 2003 2004 75,0 59,7 99,3 2005 87,9 2006 105,6 2007 118 2008 104

1,22

2,97

3,55

1,08

0,69

0,44

0,377

0,374

Tỷ trọng (%)

3,3

1,8 78,4

3,96 82,5

5,95 59,8

1,1 99,4

0,79 96,9

0,42 110,4

0,31 130

0,35 147

Tổng kim ngạch XK69,6 chè của VN (triệu USD) Xuất khẩu sang Nhật2,95 (triệu USD)

1,7

3,0

3,7

1,5

1,24

1,08

0,844

0,927

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 70

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

(Nguồn: Hải quan Việt Nam và tính toán theo số liệu XNK) Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm chè của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường các nước, trong đó có thị trường Nhật Bản, được tiêu thụ chủ yếu dưới hình thức các bản quyền nhãn hiệu sản phẩm của nước nhập khẩu hoặc các nhãn hiệu khác có uy tín. Sản phẩm chè đen của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu dưới dạng chè thô, rời, chưa chế biến và được gia công, đóng gói nhãn mác tại Nhật Bản và bán dưới nhãn chè Nhật Bản hoặc công ty Nhật Bản nhập khẩu chè đã chế biến nhưng đóng gói và bán lẻ tại Nhật Bản. Mục tiêu xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường này trong giai đoạn 2006 - 2010 đạt tốc độ tăng trưởng 7,5%/năm, kim ngạch đạt 1,55 triệu USD vào năm 2010 và tăng bình quân 10,5%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015, đạt 2,55 triệu USD vào năm 2015. Hiện nay, sản phẩm chè Việt Nam đã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Chè Việt” đã được đăng ký và bảo hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực. Việt Nam đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu chè chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka, Kenya 1.2/ Tình hình xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2009: Nhật Bản DVT Lượng Trị giá (1000USD) Tổng cộng: Hải sản Hàng rau quả Hạt điều Cà phê Hạt tiêu Gạo Sắn và các sản phẩm từ sắn Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Than đá Dầu thô Xăng dầu các loại Quặng và khoáng sản khác Hóa chất Các sản phẩm hóa chất Chất dẻo nguyên 3.310.986.000 usd 388319 17565 2028 67229 5592 1726 1851 11236 79684 228436 22808 4163 13090 22401 16100
Trang 71

1000 USD 1000 USD Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn 1000 USD Tấn Tấn Tấn Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn

479 42143 1150 4166 7930

597567 559696 68632 28477

11093

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

liệu Sản phẩm từ chất dẻo Cao su Sản phẩm từ cao su Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù Sản phẩm mây, tre, cói & thảm Gỗ và sản phẩm gỗ Giấy và các sản phẩm từ giấy Hàng dệt may Giầy dép các loại Sản phẩm gốm sứ Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Sắt thép các loại Sản phẩm từ sắt thép Máy vi tính và linh kiện Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác Dây điện và dây cáp điện Phương tiện vận tải và phụ tùng

1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD

4562

124654 7240 10289 39830 14278 205251 19807 512910 75191 19692 25905

716

27915 2210 43499 193725 309165 277359 124091

Số liệu thống kê của cơ quan hải quan cho thấy, 7 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch 3,3 tỷ USD, giảm 34,8% so với cùng kỳ năm 2008 (trong đó, dệt may đạt 513 triệu USD, tăng 15,9%; thủy sản đạt 338 triệu USD, giảm 15,4%; dầu thô đạt 228 triệu USD, giảm 85%...). Xuất khẩu vào Nhật Bản giảm mạnh do nhiều chủng loại hàng hóa của các nước tương đồng với hàng hóa của Việt Nam, trong giai đoạn khó khăn về xuất khẩu, cạnh tranh do vậy quyết liệt hơn. Bên cạnh đó, dầu thô của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm tỷ trọng lớn, nhưng do giá giảm mạnh nên kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này giảm theo. Với ngành thủy sản, theo Hiệp định, sẽ có ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản của Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế, trong đó mặt hàng tôm sẽ được
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 72

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

giảm thuế suất nhập khẩu xuống 1 - 2% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, các mặt hàng chế biến từ tôm cũng được giảm mức thuế nhập khẩu. Sản phẩm thủy hải sản chủ yếu xuất sang thị trường này bao gồm các loại cá như cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim, cá ngừ hun khói, mực, bạch tuộc, ghẹ. Nhóm ngành gỗ chế biến cũng được hưởng lợi lớn. Hiện Nhật Bản là thị trường lớn thứ 3 đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Từ đầu năm 2009 đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã lấy lại được vị thế của mình tại thị trường này. Trong khi xuất khẩu sản phẩm gỗ, đặc biệt là đồ nội thất bằng gỗ sang hầu hết các thị trường giảm thì xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản lại có xu hướng tăng khá bền vững. Việc thay đổi xu hướng tiêu dùng từ đồ nội thất cao cấp sang đồ nội thất hạng trung là cơ hội tốt đối với xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam.
-

- Trong nửa đầu quí III/2009, xuất khẩu các mặt hàng chủ chốt sang thị trường Nhật Bản như tôm càng xanh đông lạnh, cá ngừ, mực ống, than đá, dầu thô, dệt may, da giày, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, dây điện và cáp điện vẫn tiếp tục giữ kim ngạch ở mức ổn định và đang có xu hướng tăng nhẹ trong tuần cuối tháng 8 này. Nhu cầu tiêu dùng mặt hàng da giày tại thị trường Nhật Bản sẽ tăng cao do xu hướng thời trang da-giày thu-đông với những màu sắc tự nhiên, nhẹ nhàng gắn với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá. Đáng chú ý là mặt hàng tôm và mực ống đang được ưa chuộng và đầy triển vọng để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này.
-

Thống kê từ Tổng cục Hải quan cho thấy, 6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may qua thị trường Nhật Bản ước đạt 440 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2008 xuất khẩu dệt may Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản. Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ đầu tháng 7/2009 sẽ tạo thêm thuận lợi cho hàng dệt may Việt Nam xuất sang Nhật. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nguyên liệu vải có xuất xứ từ Nhật Bản sẽ được hưởng thuế suất 0% thay vì 5% đến 10% như trước đây Hiện Nhật Bản là thị trường lớn thứ hai trên thế giới về tiêu thụ hàng dệt may, trong đó thị trường thời trang hàng ngày cho tầng lớp phụ nữ trẻ chiếm khoảng 60% trong tổng thể thị trường quần áo và trị giá khoảng 28 tỷ USD

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 73

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2. Nhập khẩu các mặt hàng chủ lực từ Nhật Bản
2.1/ Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2000-2008:
Trị giá nhập khẩu từ Nhật
7000 6000 5000 Triệu USD 4000 3000 2000 1000 0 2000 2004 2005 Năm 2006 2007 2008 2300.9 3552.6 4074.1 Nhập khẩu 4702.1 6188.9

Theo hiệp định, có 2.586 mặt hàng của Nhật vào VN được cắt giảm thuế từ 1.10 và một số khác sẽ cắt giảm nhiều đợt theo từng năm. Hiện nay, hầu hết sản phẩm điện tử, điện gia dụng mang thương hiệu Nhật đang được tiêu thụ tại VN được nhập khẩu từ các nhà máy trong khu vực ASEAN như Malaysia, Thái Lan,... chỉ có một số ít sản phẩm cao cấp mới được nhập khẩu trực tiếp từ Nhật nhưng lộ trình miễn thuế còn khá dài. Theo đánh giá của Công ty Sony Electronic VN, việc giảm thuế theo hiệp định này chưa ảnh hưởng nhiều đến giá bán lẻ các sản phẩm trên thị trường. Ngoài ra, giá bán còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tỷ giá ngoại tệ, khuyến mãi, chi phí vận chuyển... Theo thông báo của Chính phủ Nhật Bản vào tháng 7/2009, nền kinh tế nước này gần đây đã có những dấu hiệu cải thiện nhưng vẫn còn khá nhiều khó khăn. Đối với triển vọng ngắn hạn, nạn thất nghiệp gia tăng khiến nền kinh tế Nhật Bản có thể vẫn phát triển chậm chạp. Tuy nhiên, nền kinh tế dự kiến sẽ nhích lên, điều này phản ánh kết quả của việc điều chỉnh hàng bán ra, tác động tích cực của các gói chính sách kích cầu và sự cải thiện của các điều kiện kinh tế bên ngoài. Thế nhưng, số lao động mất việc làm ngày càng nhiều do hoạt động sản xuất vẫn còn ở mức rất thấp. Hơn nữa, cần phải lưu tâm đến những rủi ro nền kinh tế bị sức ép do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự quan ngại đối với sự phát triển chậm lại của các nền kinh tế trên thế giới và tác động của những biến động trong thị trường vốn và tài chính. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5 là 100,5, giảm 0,2 điểm so với tháng trước. Số người thất nghiệp thực tế đã tăng thêm 10.000 từ tháng 5/2009, đẩy tỷ lệ thất nghiệp tăng thêm 0,2 điểm lên 5,2%. 2.2/ Tình hình nhập khẩu các tháng đầu năm 2009:
Mặt hàng Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam DVT Lượng Trị Trang 74

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32 giá(1000US D) 80437 7984 7535 45141 15905 112869 40914 5962 12676 14772 13766 63761 19916 63423 146186 34302 1263703 412594 68039 20645 79044 11051 89556

Ô tô nguyên chiếc các loại Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Cao su Chất dẻo nguyên liệu Dây điện và dây cáp điện Dược phẩm Giấy các loại Hàng thuỷ sản Hoá chất Kim loại thường khác Linh kiện, phụ tùng ô tô Linh kiện, phụ tùng xe máy

Chiếc 1000 USD Tấn Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD

3065

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ 1000 USD tùng khác Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện NPL dệt may da giày Nguyên phụ liệu thuốc lá Phân bón các loại Phương tiện vận tải khác và phụ tùng Sản phẩm hoá chất Sản phẩm từ cao su Sản phẩm từ chất dẻo Sản phẩm từ giấy Sản phẩm từ kim loại thường khác Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD

1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD

73989 25779 161599 26253 17571 Trang 75

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu Sản phẩm từ sắt thép Sắt thép các loại Thức ăn giá súc và nguyên liệu Thuốc trừ sâu và nguyên liệu Vải các loại Xơ, sợi dệt các loại Xe máy nguyên chiếc 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn Chiếc 4590 1595 718888

Ngoại Thương 3 K32 138872 392789 3459 12737 189468 8534 3359

3. Thuận lợi khó khăn và thách thức:
3.1/ Thuận lợi: Xuất khẩu hàng sang Nhật vốn không dễ đối với nhiều DN trong nước. Lâu nay, các loại hàng hóa của Việt Nam khi qua Nhật bị rất nhiều trở lực. Tuy nhiên, từ ngày 1-10, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) bắt đầu có hiệu lực, nhiều mặt hàng XK vào thị trường này được xóa bỏ thuế quan. Đây sẽ là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Nhật. Với Hiệp định này, Nhật Bản cam kết loại bỏ thuế cho 83,8% giá trị thương mại hàng nông sản Việt Nam trong vòng 10 năm. Theo đó, 23 trong tổng số 30 mặt hàng nông lâm sản có giá trị cao nhất của Việt Nam xuất sang Nhật sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay lập tức hoặc qua lộ trình trong vòng 10 năm. Đối với lĩnh vực nông-lâm-thủy sản, nhiều mặt hàng như cải bó xôi đông lạnh từ 6%, ớt piment từ 3% sẽ được xóa bỏ thuế trong 5 năm; bắp ngọt từ 6%, gia vị cà-ri từ 3,6% được xóa bỏ thuế trong 7 năm; cà phê rang từ 10%, trà xanh từ 17% được xóa thuế trong vòng 15 năm. Mặt hàng mật ong tự nhiên từ 25,5% sẽ được hạn ngạch thuế quan còn 12,8% trong hạn ngạch hoặc với khung đó từ 100 tấn của năm thứ nhất tăng mỗi năm 5 tấn, đến năm thứ 11 và sau đó là 150 tấn; sốt cà chua từ 17% giảm còn 1/2 trong 5 năm. Với các mặt hàng thủy sản như tôm từ mức thuế 1-2% hiện nay sẽ được xóa bỏ thuế ngay; bạch tuộc đông lạnh từ mức thuế 5%, cá kiếm đông lạnh 3,5% sẽ được xóa bỏ thuế trong 5 năm; sầu riêng và đậu bắp được xóa bỏ thuế ngay trong 1-10 này. Để thực hiện Hiệp định VJEPA giai đoạn 2009-2012, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 158 về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam. Theo đó, hàng hóa nhập khẩu để được áp dụng thuế suất VJEPA phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang sở hữu 3 lợi điểm khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản: + Đồng Yên lên giá mạnh;
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 76

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

+ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản với nhiều ưu đãi thuế hơn trước có hiệu lực từ đầu Tháng 7 + Kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu tốt lên nhờ chính sách kích thích tiêu dùng của Chính phủ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/10/2009 sẽ giúp kích thích một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Nhật Bản, đặc biệt là sản phẩm dệt may, thủy sản và gỗ chế biến. 3.2/ Khó khăn Mặc dù hàng Việt Nam ngày càng được ưa chuộng tại thị trường Nhật nhưng thị phần còn khá khiêm tốn, hiện mới đạt xấp xỉ 1,19% tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản, thấp hơn nhiều so với hàng hóa các nước trong khu vực (thị phần của Malaysia là 3,05%, Thái Lan 2,73%, Indonesia 4,27%, Trung Quốc 18,83%). Hàng Việt Nam xuất sang Nhật chủ yếu là thủy sản (tôm, mực, bạch tuộc, cá ngừ), thực phẩm, dệt may, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ…Trong đó, tôm và mực là hai mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Nhật Bản. Hiện nay, thuế suất thuế nhập khẩu của Nhật Bản đối với mặt hàng tôm đông lạnh là 0%, nếu doanh nghiệp có giấy chứng nhận xuất từ Form AJ (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật Bản). Trong khuôn khổ Hiệp định EPA Việt- Nhật, thuế suất mặt hàng này cũng được áp dụng mức 0%. Thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng mực ống hiện nay theo khuôn khổ Hiệp định ASEAN-Nhật Bản là 3,5%. Tuy nhiên, trong khuôn khổ Hiệp định EPA Việt-Nhật, Nhật Bản không cam kết cắt giảm thuế quan đối với mặt hàng này. Riêng đối với mặt hàng bạch tuộc đông lạnh, thuế suất thuế nhập khẩu theo khuôn khổ GSP là 5% và sẽ được giảm trong vòng 6 năm kể từ khi Hiệp định EPA Việt – Nhật có hiệu lực. Nhật Bản là một thị trường lớn, đầy tiềm năng nhưng rất khó tiếp cận. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này chính là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt được đặc trưng, văn hóa của thị trường và thị hiếu của người Nhật Bản. Nền công nghiệp của Nhật Bản luôn luôn có sự cải tiến, đổi mới về kỹ thuật. Người tiêu dùng Nhật Bản yêu cầu khắt khe về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, sự tiện dụng của sản phẩm… và sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm có chất lượng tốt, đồng thời cũng chú ý tới các dịch vụ hậu mãi, phương thức phân phối của các nhà sản xuất. 3.3/ Thách thức Theo nội dung Hiệp định, thuế suất bình quân đối với hàng Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm 2018. Khi Hiệp định có hiệu lực, ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt Nam xuất sang Nhật Bản được hưởng ưu đãi thuế. Đổi lại, thuế suất bình quân đối với hàng nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ giảm dần, xuống còn 7% vào năm 2018. Các mặt hàng thủy sản, nông sản, dệt may, sắt thép, hóa chất, linh kiện điện tử có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽ nhất. Trong vòng 10 năm, theo thỏa thuận, Việt Nam và Nhật Bản sẽ cơ bản hoàn tất lộ trình giảm thuế để xây dựng một khu vực thương mại
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 77

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

tự do song phương hoàn chỉnh. Theo đó, 94,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 87,6% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Do yêu cầu cao cả về chất lượng và hình thức, nên các doanh nghiệp cần đầu tư cải tiến nhiều khâu từ thiết kế, kỹ thuật, bảo quản, vận chuyển đến qui trình quản lý chất lượng. Mặt khác, bảo đảm quy cách, phẩm chất, số lượng, giá cả và thời gian giao hàng như đã thỏa thuận là những yếu tố quan trọng hàng đầu trong quan hệ với các bạn hàng Nhật. Bên cạnh đó, cần liên tục thay đổi khẩu vị, mẫu mã theo thị hiếu của người tiêu dùng. Đặc biệt, đối với mặt hàng hải sản, qui trình chế biến phải nghiêm ngặt ngay từ đầu vào đến các khâu sản xuất, bảo quản tại nhà máy Để tăng tốc vào thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các nước khác tại thị trường Nhật Bản Doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng hàng hoá, điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như thời gian giao hàng

4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động ngoại thương với Nhật Bản:
4.1/ Giải pháp cho các doanh nghiệp: Theo đánh giá của Bộ Công thương, Nhật Bản là một thị trường lớn, đầy tiềm năng nhưng rất khó tiếp cận. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng này chính là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt được đặc trưng, văn hóa của thị trường và thị hiếu của người Nhật Bản. Trong kinh doanh người Nhật lấy chữ tín làm đầu. Nền công nghiệp của Nhật Bản luôn luôn có sự cải tiến, đổi mới về kỹ thuật. Người tiêu dùng Nhật Bản yêu cầu khắt khe về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, sự tiện dụng của sản phẩm… và sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm có chất lượng tốt, đồng thời cũng chú ý tới các dịch vụ hậu mãi, phương thức phân phối của các nhà sản xuất. Ví dụ như khi một sản phẩm bị trục trặc, thì nhà sản xuất phải có khả năng và thời gian sửa chữa một cách nhanh chóng... Do yêu cầu cao cả về chất lượng và hình thức, nên các doanh nghiệp cần đầu tư cải tiến nhiều khâu từ thiết kế, kỹ thuật, bảo quản, vận chuyển đến qui trình quản lý chất lượng. Để tăng xuất khẩu vào thị trường Nhật, thì việc tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau là yếu tố quyết định thành công trong quan hệ với công ty Nhật Bản. Mặt khác, đảm bảo quy cách, phẩm chất, số lượng, giá cả và thời gian giao hàng như đã thoả thuận là những yếu tố quan trọng hàng đầu khác. Ngoài ra, để duy trì quan hệ kinh doanh, cần siết chặt quản lý chất lượng hàng xuất khẩu. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn về chất lượng còn giúp sản phẩm được người tiêu dùng Nhật tin tưởng. Trên nhãn hiệu hàng cần kèm theo những thông tin hướng dẫn tiêu dùng để giúp người tiêu dùng dễ dàng hơn trong lựa chọn sản phẩm. Người tiêu dùng Nhật Bản cũng hay để ý đến biến động giá cả, các mẫu mã mới và rất nhạy cảm với những thay đổi theo mùa. Đặc điểm khí hậu tác động đến khuynh hướng tiêu dùng. Quần áo, đồ dùng trong nhà là những mặt hàng có ảnh

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 78

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

hưởng theo mùa. Cùng với yếu tố khí hậu, yếu tố tập quán tiêu dùng cũng phải được quan tâm và tham khảo trong kế hoạch khuếch trương thị trường tại Nhật Bản. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm để đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm khoảng 23-25%.Theo đó, sẽ đưa mục tiêu những mặt hàng XK có thế mạnh như thủy sản đông lạnh tăng bình quân 25-28%/năm; cùng với sản phẩm may mặc, giày các loại chiếm tỷ trọng 15%, đồ gỗ mỹ nghệ chiếm 20%. Đà Nẵng đã có Văn phòng đại diện tại Tokyo - Nhật Bản, và thông qua thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản sẽ giúp giải quyết nhanh thủ tục hành chính, thu hút đầu tư, quảng bá hàng hóa của địa phương ra nước ngoài được thuận lợi Nhóm hàng dệt may, nhu cầu về hàng dệt may của Nhật Bản đang tăng trở lại do nền kinh tế của nước này đã vượt qua đáy và đang phục hồi trở lại. Một số doanh nghiệp dệt may nhận định, xu hướng giá nguyên phụ liệu sẽ tiếp tục tăng vào những tháng cuối năm theo biến động giá trên thị trường thế giới tăng do một số yếu tố như nguồn cung bông bị thu hẹp, một số nước giảm diện tích trồng, sâu bệnh, ảnh hưởng của thời tiết, giá xăng dầu tăng... nên đã nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may cho 2 quý cuối năm vào cuối quý II/2009 - thời điểm giá nguyên liệu ở mức thấp. Việc nắm bắt đúng thời điểm giá nguyên liệu thấp để nhập về đã giúp doanh nghiệp sản xuất dệt may giảm bớt chi phí đầu vào. Đây chính là một lợi thế để các doanh nghiệp cạnh tranh về giá so với một số đối thủ xuất khẩu vào Nhật Bản. Một đặc điểm cần chú ý nữa là người dân Nhật Bản rất ưa thích hàng may mặc làm từ chất liệu bông. Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà người dân Nhật Bản có xu hướng tiêu dùng hàng dệt may giá rẻ nhằm cắt giảm tiêu dùng. Trước xu thế ấy, Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách nhập khẩu chủ yếu từ nguồn cung cấp của Trung Quốc trong nhiều năm qua sang các nhà cung cấp hàng giá rẻ khác từ châu Á như Ấn Độ, Việt Nam. Nhóm ngành thủy sản, theo Hiệp định, sẽ có ít nhất 86% hàng nông - lâm - thủy sản của Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế, trong đó mặt hàng tôm sẽ được giảm thuế suất nhập khẩu xuống 1 - 2% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, các mặt hàng chế biến từ tôm cũng được giảm mức thuế nhập khẩu. Sản phẩm thủy hải sản chủ yếu xuất sang thị trường này bao gồm các loại cá như cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim, cá ngừ hun khói, mực, bạch tuộc, ghẹ. Nhóm ngành gỗ chế biến cũng được hưởng lợi lớn. Hiện Nhật Bản là thị trường lớn thứ 3 đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Từ đầu năm 2009 đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã lấy lại được vị thế của mình tại thị trường này. Trong khi xuất khẩu sản phẩm gỗ, đặc biệt là đồ nội thất bằng gỗ sang hầu hết các thị trường giảm thì xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản lại có xu hướng tăng khá bền vững. Việc thay đổi xu hướng tiêu dùng từ đồ nội thất cao cấp sang đồ nội thất hạng trung là cơ hội tốt đối với xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam Hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là còn yếu ở khâu tiếp cận thị trường nên trong thời gian tới, cần thiết lập hệ thống bán sản phẩm tại chính thị trường Nhật Bản. Bộ Công Thương cũng khuyến nghị, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ quy định trong Hiệp định để tận dụng tối đa lợi thế về ưu đãi thuế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới, vậy để gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Nhật, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải đáp ứng được các yêu cầu khắt khe
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 79

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

về chất lượng hàng hoá, điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như thời gian giao hàng. Doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần tận dụng cơ hội tăng xuất khẩu vào Nhật Bản, một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, bằng cách tìm hiểu kỹ đặc tính của thị trường này Để giữ mức tăng ổn định tại thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải tạo dựng được thương hiệu của riêng mình bằng chất lượng tốt và thiết kế mới lạ. 4.2/ Những lưu ý về sản phẩm khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản • Nên biết rằng các sản phẩm được khách du lịch Nhật Bản mua ở nước ngoài một cách bốc đồng vì sự tò mò của họ để làm vật lưu niệm cho chính mình hoặc cho người khác không bán được ở Nhật Bản như nó đã từng được bán ở những địa điểm du lịch của nước ngoài. Hàng lưu niệm và hàng thương mại không giống nhau. Xin nhấn mạnh rằng bạn cần phải khảo sát xem sản phẩm của mình có thực sự phù hợp với thị trường Nhật Bản hay không trước khi định bán nó vào Nhật. • Khi đàm phán với các thương nhân Nhật bản, phía Nhật thường đưa ra các yêu cầu, đề nghị; ví dụ, yêu cầu thay đổi mẫu mã hoặc cách đóng gói, hoặc thay đổi mầu sắc cho phù hợp với thị hiếu của người Nhật. Mặc dù có thể đáp ứng được các yêu cầu này, nhưng nhiều công ty nước ngoài đã lập tức bỏ cuộc vì họ ngại tốn thời gian và công sức cần thiết để thay đổi nó. Những công ty tốt nhất chính là những công ty hiểu về thị trường nên họ mới yêu cầu thay đổi cho phù hợp với thị trường như vậy. Bạn nên làm ăn với những đối tác này. Nên tránh những đối tác chẳng góp ý cho bạn được gì. Những đòi hỏi và yêu cầu đó, vì vậy, cần phải được hoan nghênh. • Để làm ra các sản phẩm phù hợp với thị trường Nhật bạn cần phải hợp tác chặt chẽ với các công ty Nhật Bản. Nếu bạn muốn thành công ở Nhật Bản, bạn đừng tiếc công sức bỏ ra để hợp tác với các đối tác Nhật. Một khi họ đưa ra những yêu cầu, những điều tư vấn góp ý cho bạn để làm cho bản chào hàng của bạn được tốt hơn thì có nghĩa là người ta đang tạo cho bạn con đường đến với thị trường Nhật và bạn nên tích cực đáp ứng những yêu cầu đó. Nếu không có sự nỗ lực đó thì hầu như không có hy vọng cho sự thành công ở Nhật Bản. Nếu những đòi hỏi phía đối tác đưa ra quá khắt khe, bạn nên trao đổi cụ thể, đầy đủ với phía Nhật Bản và cùng với họ xác định rõ mức độ thay đổi mà bạn có thể đáp ứng được. • Một khi đối tác yêu cầu bạn gửi mẫu hàng sang Nhật thì mẫu đó nên được gửi đi không tính tiền, trừ phi nó quá đắt. Sự thật là, một khi công ty Nhật yêu cầu gửi mẫu có nghĩa là sản phẩm của bạn có sức hấp dẫn, điều đó cho thấy con đường đến với thị trường Nhật Bản của bạn không còn xa nữa. Mẫu hàng được xem như là "hạt giống" của việc kinh doanh. Theo bạn không gieo hạt thì làm sao bạn gặt hái được. Chính vì vậy, ai muốn bán sản phẩm của mình thì đương
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 80

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

nhiên phải cho không những hạt giống đó, kể cả những mẫu sản phẩm được thay đổi theo yêu cầu của phía Nhật Bản cũng được gửi không tính tiền. • Các mẫu sản phẩm cần được làm cẩn thận theo đúng yêu cầu. Không nên gửi mẫu đi với các lời chú thích như là: Khi ông / bà đặt hàng thì sản phẩm thật sẽ khác mẫu ở chỗ này, chỗ kia...Nếu bạn đã gửi mẫu đi theo đúng yêu cầu sửa đổi của đối tác Nhật nhưng phía đối tác lại yêu cầu bạn thay đổi lần nữa thì bạn có thể yêu cầu họ trả tiền cho các mẫu phải làm lại đó, nhưng ít nhất là mẫu gốc của bạn và mẫu đầu tiên người ta yêu cầu bạn thay đổi thì nên gửi miễn phí. • Ngay cả khi đối tác Nhật bản chấp nhận giá, mẫu mã, vật liệu và mẫu hàng cuối cùng và bạn chỉ việc chờ đơn hàng thì thương vụ đó vẫn có thể bị ngừng lại vì lý do có sự thay đổi đột ngột của thị trường Nhật Bản. Điều này sảy ra trong hệ thống bán lẻ ở Nhật. Một nhà bán lẻ lớn bỗng dưng tuyên bố hạ giá áo phông từ 1900 Yên xuống còn 1000 Yên cho loại một mầu và 2900 Yên xuống còn 1900 Yên cho loại in hoa, gây ra sự sụt giá của đối thủ cạnh tranh. Nhà cung cấp nước ngoài đã không thể chịu được áp lực về giá này chính vì vậy quan hệ thương mại bị ngừng lại. Bài học ở đây là, không đáp ứng được sự thay đổi của thị trường về giá có nghĩa là đánh mất cơ hội kinh doanh. • Sẽ khó khăn hơn cho các thương nhân nước ngoài muốn thành công ở Nhật bản mà không có đối tác Nhật Bản tốt. Đơn giản là ngày nay chiến lược bán hàng truyền thống không đủ để giúp họ. Bạn nên hợp tác chặt chẽ với đối tác, người đã gắn bó với bạn từ giai đoạn đầu, giúp bạn xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong đó có cả phát triển mẫu mã. Đối tác đó cũng sẽ là người giúp bạn phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường Nhật Bản. Khi tìm được đối tác bạn nên bắt đầu việc phát triển sản phẩm cùng với họ. Có thể có nhiều ứng cử viên với các ý tưởng hay và mẫu mã tốt , nếu bạn may mắn chọn được một đối tác trong số đó thì bạn sẽ là người chiến thắng ở Nhật Bản 4.3/ Phương hướng tiếp cận thị trường Nhật Bản hiệu quả nhất • Để thâm nhập thị trường Nhật Bản việc sản xuất phải được thực hiên tại công ty của chính mình và sẵn sàng xuất khẩu theo kế hoạch và chỉ dẫn của đối tác, bao gồm cả hàng hóa có nhãn hiệu • Sẽ rất có hiệu quả nếu các thành viên trong cùng một ngành hàng cùng tham gia vào 1 đoàn để sang Nhật Bản tổ chức các cuộc gặp gỡ giao dịch với các công ty Nhật Bản về OEM. Một doanh nghiệp châu Á muốn xuất khẩu sang Nhật mặt hàng da sống gắn keo làm thức ăn cho chó để tăng độ cứng cho răng của chúng, gọi là mặt hàng " Kẹo cao su da sống cho chó". Kết quả là sau khi khảo sát, doanh nghiệp này đã bán được hàng vào Nhật, nhưng trước đây vài năm đã phải ngừng vì thị trường Nhật đã xuất hiện những loại thức ăn mới cho chó xa xỉ hơn, mặt hàng kẹo cao su nói trên không còn phù hợp với thị trường Nhật Bản nữa.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 81

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

• Nhu cầu của người tiêu dùng Nhật Bản ngày nay đã có sự thay đổi từ nhập số lượng lớn sang nhập nhiều chủng loại hàng với số lượng nhỏ hơn để đáp ứng sở thích cá nhân. Tình hình đã thay đổi từ số lượng sang chất lượng. Hơn nữa, con người ta không thích những thứ giá quá cao và người Nhật cũng không phải là ngoại lê. Đây là xu hướng chung lan toả khắp thế giới. Để chiến thắng được trong cuộc cạnh tranh quốc tế, điều quan trọng là phải tăng năng suất,tăng hiệu suất và cần phải có hệ thống sản xuất giá thành thấp. Ngoài ra, bạn sẽ không thâm nhập được thị trường Nhật Bản nếu bạn không có cái của riêng mình. • Để thâm nhập được thị trường mới là Nhật Bản, việc giới thiệu một cách có hiêu quả các sản phẩm của mình là chìa khoá của sự thành công. Khỏi phải nói, sản phẩm vốn dĩ tự nó đã có sức hấp dẫn, và vì catalog được biết đến như là "những người bán hàng thầm lặng" nên chúng phải được làm chính xác và dễ hiểu. Ngoài catalog tiếng Anh cũng nên có cả catalog tiếng Nhật. Tốt nhật là kẹp cả bản tiếng Nhật và bản tiếng Anh. • Để bán hàng vào Nhật Bản, việc hoàn tất và đóng gói rất quan trọng. Đối với châu Âu mà Mỹ, người ta cho rằng chỉ cần sản phẩm tốt, không mấy ai quan tâm đến khâu hoàn tất và bao gói, nhưng điều này không đúng đối với thị trường Nhật Bản. Ví dụ, có một số người cho rằng vì không nhìn thấy đáy của hộp kim loại nên không cần thiết phải đánh bóng phần đó. Nhưng ở Nhật Bản, nếu phần đáy không được đánh bóng người ta sẽ không mua. • Nếu trên hộp in không đẹp hoặc đóng hàng vào những chiếc hộp có mầu đơn điệu thì chẳng ai hỏi mua. Khâu hoàn thiện mặt ngoài và bao gói có thể gọi là trang điểm cho sản phẩm. Ở Nhật Bản, mọi thứ thường được dùng như là hàng quà tặng, vì vậy nếu không trang điểm thì sẽ không bán được. Bạn phải lưu ý đến thiết kế bao bì trên vỏ hộp và nhãn hiệu. Trong nhiều trường hợp, bao gói đẹp hay xấu quyết định việc hàng bán chạy hay không. • Ở Nhật Bản, quan hệ con người rất được coi trong ngay cả trong kinh doanh. Có rất nhiều câu chuyện kể rằng công việc kinh doanh đang xuôi chèo mát mái nhưng khi có sự thay đổi người làm thì lại bị trục trặc.Thậm chí có trường hợp quan hệ làm ăn tốt suốt trong thời gian dài nhưng có thể vẫn bị bị trục trặc do người làm trực tiếp bị cấp trên ép buộc phải thay bằng người khác. • Để tránh tình trạng này, bạn nên xem xét người phần hành mới và người giám sát mới, giải thích đầy đủ mọi chi tiết của công viêc kinh doanh, toàn bộ quá trình, những đặc điểm của sản phẩm, mục đích của việc đàm phán và tính kế thừa. Điều quan trọng là không nên bỏ lửng việc kinh doanh, cần phải duy trì việc trao đổi và bán hàng một cách tích cực.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 82

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

VI. THỊ TRƯỜNG ÚC
2000 2004 2005 2006 2007 2008 Xuất khẩu 1272.5 1884.7 2722.8 3744.7 3802.2 4225.2 Nhập khẩu 293.5 458.8 498.5 1099.7 1059.4 1360.5 Đơn vị: triệu USD Nguồn: Tổng cục thống kê
Kim ngạch XNK với Úc
4500 4000 3500 3000 2500 2000 1500 1000 500 0 4225.2

3744.7 2722.8 1884.7 1272.5 293.5 2000 458.8 2004 498.5 2005 Năm 2006 1099.7

3802.2

Triệu USD

Xuất khẩu Nhập khẩu 1059.4 1360.5

2007

2008

1. Xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang Úc
1.1/ Tình hình xuất khẩu qua các năm
Trị giá xuất khẩu
4500 4000 3500 3000 2500 2000 1500 1000 500 0 4225.2

3744.7 2722.8 1884.7 1272.5

3802.2

Triệu USD

Xuất khẩu

2000

2004

2005 Năm

2006

2007

2008

Hiện Australia là đối tác thương mại thứ 7 của Việt nam, về xuất khẩu là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư sau Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại Việ Nam – Australia, thặng dư thương mại khá lớn, đạt 1,4 tỷ US$, (chủ yếu do Việt Nam xuất khẩu dầu thô sang Australia
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 83

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Trong năm 2008, dẫn đầu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Úc là dầu thô, đạt trị giá 3,35 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 79,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường này. Tuy nhiên, cũng có một số mặt hàng như dây điện và dây cáp điện, cà phê xuất khẩu giảm so với năm 2007 Trong vòng 5 năm qua, thuỷ sản là nhóm hàng xuất khẩu tới Ôxtrâylia đạt kim ngạch cao nhất sau mặt hàng đặc biệt là dầu thô. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tới Ôxtrâylia đạt 126,3 triệu USD chiếm 3,45% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và cũng là mặt hàng xuất khẩu đạt được kim ngạch cao nhất trên 100 triệu USD. Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới Ôxtrâylia giảm chỉ còn 122,89 triệu USD và vẫn chiếm 3,45% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tới Ôxtrâylia chiếm 3,15%. Như vậy nhiều năm qua mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất khẩu tới Ôxtrâylia luôn chiếm tỉ trọng cao nhất nếu không tính dầu thô. Qua số liệu thống kê cho thấy xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tới Ôxtrâylia có dấu hiệu chững lại về kim ngạch mặc dù lượng xuất khẩu liên tục tăng. Nguyên nhân chính là do có sự thay đổi mạnh về cơ cấu mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu. Việt Nam nhập từ Australia tàu biển, máy chế biến thực phẩm, thiết bị điện, kim loại, thức ăn gia súc, thực phẩm, xăng dầu, tân dược, phân bón, hóa chất, nguyên phụ liệu dệt may... và xuất khẩu sang Australia dầu thô, các sản phẩm dầu, thủy hải sản, hạt điều, cà phê, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, giày dép, sản phẩm nhựa... Ngoài ra, hai bên đã hợp tác trong nhiều lĩnh vực như: viễn thông, ngân hàng, luật, tài chính - kế toán, vận tải, du lịch...

1.2/ Tình hình xuất khẩu các tháng đầu năm 2009 Trong tháng 7, Australia là thị trường nhập khẩu nhiều nhất mặt hàng dầu thô của Việt Nam, đạt 365,2 ngàn tấn, kim ngạch 188,42 triệu USD, tăng 14,8% về lượng và 26% về kim ngạch so với tháng trước, nhưng giảm 26,9% về lượng và 63,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái Tính chung 7 tháng đầu năm, xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sang Australia đạt cao nhất với 2,379 triệu tấn, kim ngạch đạt 1,084 tỉ USD, tăng 0,4% về lượng nhưng giảm 49,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2008 Tiếp theo sau mặt hàng dầu thô là các mặt hàng đá quý và kim loại quý đạt 181,75 triệu USD, tăng 91,8%. Đứng vị trí thứ 3 trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam sang Úc là hạt điều, đạt 67,47 triệu USD, tăng 30%. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác của Việt Nam tại thị trường Úc như than đá đạt 12,05 triệu USD; sản phẩm chất dẻo đạt 17,69 triệu USD; đồ chơi trẻ em đạt 1,06 triệu USD.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 84

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Australia (1457619000 USD) Hải sản Hàng rau quả Hạt điều Cà phê Hạt tiêu Gạo Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Than đá Dầu thô Quặng và khoáng sản khác Các sản phẩm hóa chất Chất dẻo nguyên liệu Sản phẩm từ chất dẻo Sản phẩm từ cao su Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù Sản phẩm mây, tre, cói & thảm Gỗ và sản phẩm gỗ Giấy và các sản phẩm từ giấy Hàng dệt may Giầy dép các loại Sản phẩm gốm sứ Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Sắt thép các loại Sản phẩm từ sắt thép Máy vi tính và linh kiện Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng khác

DVT 1000 USD 1000 USD Tấn Tấn Tấn Tấn 1000 USD Tấn Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 1000 USD 1000 USD 1000 USD

Lượng

Trị giá (1000USD) 60660 3102 27613 11084 1171 2113 2579 6293 1084791 85 968

5911 7658 441 3380

27361 2379436 1000

395

471 7692 3982 5518 2795 32807 6073 17094 22541 6252

552

39125 515 9433 20806 20212
Trang 85

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Dây điện và dây cáp điện 1000 USD Phương tiện vận tải và phụ tùng 1000 USD

8437 2564

2. Tình hình nhập khẩu sang Việt Nam từ Úc
1.1/ Tình hình nhập khẩu qua các năm
Trị giá nhập khẩu
1600 1400 1200 1000 800 600 400 200 0

1360.5 1099.7 1059.4 Nhập khẩu 458.8 293.5 498.5

Triệu USD

2000

2004

2005 Năm

2006

2007

2008

1.2/ Tình hình nhập khẩu các tháng đầu năm 2009 Mặt hàng DVT Lượng Trị giá(1000USD) Ô tô nguyên chiếc các loại Chiếc 32 486 Đá quý, kim loại quý và sản 1000 USD phẩm Chất dẻo nguyên liệu Dầu mỡ động thực vật Dược phẩm Gỗ và sản phẩm gỗ Hàng rau quả Hoá chất Kim loại thường khác Tấn 1000 USD 1000 USD 1000USD 1000 USD 1000 USD Tấn 52527 3379 3862 3472 1110 12169 8379 10468 3593 140769 19808

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, 1000 USD phụ tùng khác
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 86

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

NPL dệt may da giày Sữa và sản phẩm sữa Sản phẩm hoá chất Sản phẩm khác từ dầu mỏ Sắt thép các loại

1000 USD 1000 USD 1000 USD 1000 USD Tấn 50121

4144 10320 9879 1006 21678 3589

Thức ăn giá súc và nguyên 1000 USD liệu

3. Thuận lợi khó khăn - thách thức và cơ hội:
3.1/ Thuận lợi: Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Việt Nam – Australia vẫn tiếp tục tăng trưởng đều và khá cao trong những năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 12%/năm Các mặt hàng xuất khẩu (ngoài dầu thô) gồm thuỷ hải sản, hật điều, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ đều có tốc độ tăng trưởng rất mạnh. Điều này cho thấy tiềm năng xuất khẩu sang thị trường này là rất lớn Trong 5 năm gần đây, tăng trưởng thương mại giữa Australia - Việt Nam ở mức 22%/năm. Năm 2008 kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2 nước đạt khoảng 5,6 tỷ USD. Trong quan hệ đầu tư, đến nay, Australia và New Zealand đang có 190 dự án với tổng vốn khoảng trên 1 tỷ USD đã đầu tư vào thị trường Việt Người tiêu dùng lại rất cởi mở đối với hàng hóa nhập khẩu, không quá coi trọng nguồn gốc xuất xứ, chỉ quan tâm tới yếu tố như chất lượng, kiểu dáng và giá cả. Cách nhìn thoáng của người tiêu dùng sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu. 3.2/ Khó khăn Theo nghiên cứu của Thương vụ Việt Nam tại Australia, người tiêu dùng Australia khá bảo thủ và rất hiểu biết về vấn đề “giá cả tương xứng với giá trị”, họ cũng đánh giá cao hàng hóa sản xuất tại nội địa. Hình ảnh và tên tuổi của các nhà xuất khẩu Việt Nam tại thị trường Australia vẫn còn khá trầm lắng, gần như nhà nhập khẩu ở nước này rất xa lạ với hàng hóa Việt.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 87

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

3.3/ Thách thức Tuy nhiên, tại sân chơi FTA, nơi hàng rào thuế quan được giảm và bãi bỏ, các rào cản thương mại được thu hẹp thì khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định. Như vậy liệu có diễn ra tình trạng ‘cá lớn nuốt cá bé’ khi mà đa phần các doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Liệu lợi ích sẽ nghiêng về phía Úc nhiều hơn là về phía Việt Nam? Các doanh nghiệp Việt Nam gặp những trở ngại về nhận thức do thông tin về các đối tác Úc hiện vẫn còn thiếu rất nhiều. Doanh nghiệp Úc mong muốn chính phủ Việt Nam đẩy mạnh chống tham nhũng và những điều lệ được minh bạch hóa Australia là thị trường ít dân nên yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hóa rất cao Nhà nhập khẩu Australia không chấp nhận những sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng của họ AANZFTA sẽ tạo ra một khối thương mại với tổng dân số trên 600 triệu người và GDP ước tính khoảng 2,7 ngàn tỷ USD/năm. Hiệp định bao gồm các cam kết về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, hải quan, thương mại điện tử, di chuyển thể nhân và hợp tác kinh tế 3.4/ Cơ hội Trong 5 năm gần đây, tăng trưởng thương mại giữa Australia - Việt Nam ở mức 22%/năm. Năm 2008 kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2 nước đạt khoảng 5,6 tỷ USD. Nhìn chung tỉ lệ giá trị xuất khẩu vào hai thị trường này có tăng trưởng nhưng được nhận định là vẫn chưa xứng với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Trong quan hệ đầu tư, đến nay, Australia và New Zealand đang có 190 dự án với tổng vốn khoảng trên 1 tỷ USD đã đầu tư vào thị trường Việt Nam. Hiệp định Tự do thương mại ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA) có hiệu lực, hoạt động thương mại giữa các quốc gia trong khối sẽ được mở rộng hơn hiện tại. Theo cam kết, đến năm 2018, các nước ASEAN, Australia và New Zealand sẽ xóa bỏ thuế quan cho ít nhất 90 dòng thuế và mở cửa cho các hoạt động ở lĩnh vực dịch vụ và đầu tư cho các bên tham gia. Người tiêu dùng lại rất cởi mở đối với hàng hóa nhập khẩu, không quá coi trọng nguồn gốc xuất xứ, chỉ quan tâm tới yếu tố như chất lượng, kiểu dáng và giá cả. Cách nhìn thoáng của người tiêu dùng sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu Hiệp định AANZFTA được đánh giá là sẽ mang nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như nông thủy sản, dệt may, đồ gỗ v.v... sẽ được Úc và New Zealand miễn thuế vào ngay năm 2010.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 88

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động ngoại thương sang Úc:
4.1/ Giải pháp cho xuất nhập khẩu Điều cấp thiết hiện nay là làm sao mang thông tin và tạo cầu nối cho doanh nghiệp với thị trường, nhằm giúp doanh nghiệp khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu. Nếu Việt Nam không tận dụng tốt cơ hội thì AANZFTA sẽ chỉ có lợi cho nhà xuất khẩu Australia và New Zealand. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại nhầm tạo vị thế cho sản phẩm Việt trên thị trường Australia Tăng cường cải tiến chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường Australia Trong khi tiến hành kinh doanh với bất kỳ quốc gia trên thế giới đòi hỏi sự hiểu biết về xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất hoặc yêu cầu và các dịch vụ được cung cấp hoặc cần thiết, người ta cũng phải lưu ý tổng số dân và quyền lực chi tiêu của mình trong khi lựa chọn một quốc gia như là một thị trường tiềm năng. Mặc dù dân số của Úc là không phải là lớn với số lượng, nó phải được ghi nhận rằng đất nước được xếp hạng thứ mười lăm trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới và phần lớn dân số của nó có sức mua khá cao Học tập và hiểu biết về các quy tắc, rõ ràng danh sách những thứ nhất định và các mặt hàng bị cấm theo luật pháp, là phải cho bất cứ ai tìm cách để tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu tại Úc. Ổn định nguồn cung để đảm bảo và gia tăng sản lượng xuất khẩu. Tạo dựng uy tín bằng cách thực hiện tốt tất cả những hợp đồng trước, tạo cơ sờ cho việc kí kết tiếp các hợp đồng 4.2/ Những điều cần lưu ý khi xuất khẩu sang Australia a. Báo giá và thanh toán Hầu hết các nhà nhập khẩu Australia đều đã có kinh nghiệm trong việc buôn bán với các đối tác nước ngoài và họ sử dụng nhiều loại tiền khác nhau trong thanh toán. Cho đến thời điểm hiện nay, đồng tiền thông dụng nhất và là cơ sở trong các cuộc đàm phán thương mại vẫn là đồng đô la Mĩ. Hầu hết các nhà cung cấp nước ngoìa cũng thấy rằng báo giá bằng đồng đô la Mĩ thuận tiện hơn cả. Các nhà nhập khẩu Australia cũng quan âm tới những đối tác có khả năng báo giá bằng đồng đô la Australia nhưng đây không phải là điều kiện tiên quyết. Phương thức báo giá dành cho nhà nhập khẩu Australia khác nhau tuỳ theo sản phẩm hay hàng hóa đang được bán Hầu hết các nhà nhập khẩu mong muốn nhận được phương thức báo giá theo giá FOB hoặc (FCA) bằng đồng đô la Mĩ. Tuy nhiên, đối với các mặt hàng như gỗ nguyên liệu hay đồ gia vị thì thông thường họ sẽ yêu cầu báo giá CFR (hoặc CPT). Ví dụ, một nhà nhập khẩu đồ may mặc sẽ quen với báo giá FOB bằng đồng đô la Mĩ, trong khi đó một nhà nhập khẩu gỗ nguyên liệu lại thích nhạn báo giá CFR. Phần lớn các nhà nhập khẩu Australia đều dành quyền tự mua bảo
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 89

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

hiểm và thường không muốn nhậnbáo giá CIF (hay CIP). (Khi các phương thức báo giá CFR, CPT, CIF hay CIP được cung cấp thì giá FOB (hay FCA) cũng nên được đưa ra do thuế nhập khẩu được tính trên giá FOB) Phần lớn hàng hoá nhập khẩu vào Australia bởi những người bán lẻ đều được thanh toán bằng L/C trong vòng từ 30 đến 90 ngày. Néu giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu có mối quan hệ thân thiết thì theo ỷcác nhà xuất khẩu, việc thanh toán cóthể là chuyển tiền bằng điện (telegraphic transfer – T/T). Trong những trường hợp như vậy, nhà nhập khẩu thường chuyển tiền một lần khi hàng hoá đã được chất lên tàu. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, tỷ giá hối đoái thích hợp là tỉ giá hiện hành tại thời điểm chuyển tiền thực tế giữa hai ngân hàng, thường là trong vòng 3 ngày kể từ khi hàng lên tàu b. Thủ tục chứng từ Những chứng từ yêu cầu phải có khi xuất khẩu sang Australia bằng đường hàng không hoặc đường biển bao gồm:

c. Ưu đãi đối với các nước đang phát triển Để có đủ tiêu chuẩn hưởng ưu đãi thuế quan dành chonc đang phát triển, khâu cuối cùng của việc sản xuất một mặt hàng nào đó phải được thực hiện tại một Cơ quan hải quan Australia (ACS), cơ quan được quyền quyết định đánh giá tư cách đạt tiêu chuẩn ưu đãi của một nước đang phát triển. Thêm vào đó, không dưới 50% chi phí nhà xưởng và nhân công sản xuất ra sản phẩm phải được thể hiện bởi giá trị lao động và / hoặc giá trị nguyên vật liệu của nước sản xuất hoặc của nước đang phát triển và Ustralia d. Trình tự giao dịch nhập khẩu e. Xúc tiến thương mại
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 90

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Chìa khoá của sự thành công lâu dài trên bất kì thị trường nào chính là khả năng thích ứng với các yêu cầu và điều kiện của thị trường đó. Một sản phẩm có kiểu dáng đặc biệt có thể bán chạy ở thị trường này lại hoàn toàn thất bại ở thị trường khác. Tương tự như vậy, đã có nhiều mình chứng cho thấy một hoạt động xúc tiến thương mại có thể thành cong ở châu Âu nhưng lại có thể không thành công ở một thị trường như Australia. Thị trường Australia đòi hỏi cách tiếp cận xúc tiến thương mại hơi khác so với cách thức có thể đem lại hiệu quả ở những thị trường khác -Phát triển xúc tiến bán hàng, Nhiều quốc gia đã thành công trong việc cử các phái đoàn xúc iến bán hàng sang Australia để tiếp cận thị trường -Tham gia hội chợ triển lãm thương mại chuyên ngành - Triển lãm giới thiệu đất nước, Việc tổ chức một cuộc triển lãm giới thiệu đất nước có thể là một phương pháp hữu ích cho ccnhà xuất khẩu nước ngoài không quen thuộc với Australia để thử nghiệm sản phẩm của họ ở thị trường này. Trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay, các nhà nhập khẩu Australia không múôn lãng phí thời gian đếnthăm một cuộc triển lãm sản phẩm có giá đắt và không thích hợp với thị trường Australia. Khi lên kế hoạch tổ chức một cuộc triển lãm giới thiệu đất nước, vấn đề quan trọng là phải thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi chọn lựa các đơn vị và sản phẩm tham dự triển lãm - Phái đoàn mua hàng, Cách tiếp cận này thường chứng tỏ sẽ thành công bởi người mua sẽ xác nhận đặt hàng cho tới khi họ trực tiếp xem xét kiểm tra các hoạt động của nhà cung cấp và họ có thể sẽ bị cuốn hút vào việc tham quan đất nước nếu họ biết được rằng có một chương trình được chuẩn bị trước cho các cuộc hẹn. Cách tiếp cận này sẽ thành công hơn cả khi được tổ chức tiếp sau một hoạt động xúc tiến thương mại ở Australia - Xây dựng hình ảnh trên thị trường, Ở một thị trường qui mô nhỏ như Australia, công cụ xúc tiến thương mại hữu dụng nhất đối với các nhà xuất khẩu từ một quốc gia cụ thể là thực hiện giao dịch thành công với các nhà nhập khẩu Australia. Ngay khi sản phẩm từ một nước cung cấp mới bắt đầu hiện diện trên thị trường, các nhà nhập khẩu khác sẽ bắt đầu quan tâm hơn đến việc xem xem có cơ hội nào cho họ không. Phần lớn các nhà nhập khẩu Australia biết các đối thủ cạnh tranh của họ và bất kỳ một sản phẩm mới nào mà họ đang kinh doanh. Ở thị trường Australia đầy cạnh trah, các nhà nhập khẩu và bán lẻ không có đủ khả năng để đối thủ cạnh tranh của họ đạt được bất kì một cơ hội nào. - Cơ hội xuất khẩu và lợi ích công nghệ

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 91

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

VII. THỊ TRƯỜNG NGA:
Nga là một trong những thị trường lớn của thế giới, nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên tới hàng trăm tỷ USD; Trong khi đó, năng lực sản xuất hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng, luôn trong tình trạng “cầu” vượt “cung” . Bình quân mỗi năm, kim ngạch nhập khẩu của Nga khoảng 200 tỷ USD, trong đó hàng tiêu dùng chiếm 20-30%, đặc biệt là các mặt hàng may mặc, nông sản thực phẩm có tỷ trọng nhập khẩu khá cao.

1. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và Nga giai đoạn 2000-2008
Việt XK Nga 122.9 194.5 187.4 159.6 215.8 251.9 413.2 236.9 1641 Việt Nam Nam sang NK từ Nga 240.5 376.8 500.6 491.8 671.5 766.6 455.8 1016.2 671.9

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

Kim ngạch XNK với Nga
1800 1600 1400 Triệu USD 1200 1000 800 600 400 200 0 376.8 671.5 500.6 491.8 766.6 455.8 413.2 236.9 2007 2008 1016.2 671.9 Xuất khẩu Nhập khẩu 1641

240.5 194.5 187.4 215.8 251.9 159.6 122.9 2000 2001 2002 2003 2004 Năm 2005 2006

Năm 2008, tổng kim ngạch mua bán hai chiều giữa Việt Nam và Liên bang Nga đạt 1,641 tỷ USD, tăng 62,4% so với năm 2007, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nga đạt 671,9 triệu USD, tăng 46,4% và xuất khẩu của Nga sang Việt Nam đạt 969,6 triệu USD, tăng 75,5%.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 92

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

2. Tình hình thương mại giữa Việt Nam và Nga 7 tháng năm 2009
Trong 7 tháng đầu năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, tổng kim ngạch nhập khẩu Việt Nam- Liên Bang Nga chỉ đạt 820 triệu USD, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào Liên bang Nga đạt 180,45 triệu USD, nhập khẩu của Việt Nam từ Liên bang Nga đạt 636,96 triệu USD. Những mặt hàng xuất khẩu sang Nga có kim ngạch đạt trên 10 triệu USD gồm: thủy hải sản; dệt may, giày dép, cà phê, rau quả chế biến, hạt điều, hạt tiêu Sơ bộ 7 tháng Trị giá Lượng (1000USD) 7995 7995 9458 14146 5820 9384 10845 12855 52999 22871 38620 21176 2034 9430 3028 6140 2483 3123 767 4888 7225 5027

Mặt hàng Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc Cao su Cà phê Cao su Chè Gạo Hàng dệt may Hàng rau quả Hạt điều Hạt tiêu Sản phẩm mây, tre, cói & thảm Sắn và các sản phẩm từ sắn Túi xách, ví, vaili, mũ & ô dù Xăng dầu các loại

ĐVT 1000 USD Tấn Tấn Tấn Tấn Tấn 1000 USD 1000 USD Tấn Tấn 1000 USD Tấn 1000 USD Tấn

3. Cơ hội và thách thức
Nga là bạn hàng truyền thống của Việt Nam, chính phủ của hai nước đều mong muốn và đang thực hiện những biện pháp phát triển quan hệ thương mại, đầu tư, văn hóa… giữa hai nước. Việt Nam và Nga có lợi thế so sánh khác nhau cho nên sản phẩm có thể bổ sung cho nhau thông qua con đường thương mại. Chính phủ đã có kế hoạch xây dựng thị trường Nga thành thị trường xuất khẩu chủ lực, thông qua nó hàng Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa qua Nga nói riêng và toàn bộ châu Âu nói chung. Thách thức; Mặc dù Nga được đánh giá là thị trường tiềm năng, nhưng để xuất khẩu hàng vào được thị trường này, các doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn. Người tiêu dùng Nga luôn đòi hỏi khắt khe về chất lượng cũng như hình thức sản phẩm. Việc áp
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 93

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để điều tiết xuất nhập khẩu khá phổ biến và khó dự báo trước như việc đưa ra các lệnh hạn chế và cấm nhập khẩu hàng hóa, nhất là đối với hàng nông sản, thủy hải sản và thịt đông lạnh. Ngoài ra, vấn đề thanh toán cũng là một trở ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo phản ánh của các doanh nghiệp, việc thanh toán qua hình thức mở tín dụng thư (L/C) chưa nhiều, những cách thanh toán khác chưa bảo đảm độ tin cậy, độ an toàn cho các doanh nghiệp giao hàng. Hiện nay, có đến 70% sản phẩm của doanh nghiệp xuất sang thị trường Nga. Sản phẩm của doanh nghiệp này đủ các tiêu chuẩn để xuất khẩu sang Nga, nhưng do trở ngại trong vấn đề thanh toán nên chưa dám làm hết khả năng để xuất khẩu sang thị trường này. Hiện nay Nga xếp Việt Nam chung với các nước khá phát triển như: Singapore, Hongkong, Đài Loan…hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào Nga bị đánh thuế cao. Chính phủ Nga khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đưa hàng vào Nga để kinh doanh trực tiếp. Trong khi đó đa số các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam quy mô kinh doanh không lớn, chưa có các tập đoàn thương mại mạnh để triển khai kinh doanh trực tiếp tại Nga.

4. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giao thương
Để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa Việt Nam ở thị trường Nga, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm và tìm cách tiếp cận mới. Doanh nghiệp giữ cách tiếp cận theo kiểu cũ sẽ không hiệu quả vì nhu cầu của thị trường Nga bây giờ đã khác trước. Cần nới lỏng chính sách tiền tệ một cách từ từ, nhằm tạo thanh khoản và huy động nguồn lực cho chính sách tài khóa của Chính phủ. Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ cần được tiến hành thận trọng trên cơ sở giám sát chặt chẽ tỷ lệ lạm phát và thực hiện nghiêm túc các biện pháp giám sát cẩn trọng, minh bạch trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Giữ vững và củng cố các thị trường trọng điểm. Theo các chuyên gia kinh tế, các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản về lâu về dài vẫn là những thị trường tiềm năng nhất mà các DN VN nên duy trì và phát triển, đặc biệt là thị trường Mỹ, một trong những thị trường được xem là "rốn" XK hàng hóa của VN. Do đó, DN cần tăng cường công tác tìm kiếm thị trường, nắm bắt và tổ chức tốt các hoạt động giao lưu, tiếp xúc với các bạn hàng NK, các tổ chức bán buôn, bán lẻ để có hiểu biết kịp thời về bạn hàng và thị trường XK của mình. Tiếp tục thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông lâm thủy sản, trước hết là việc tiêu thụ nông sản cho một số ngành có lượng hàng hóa lớn và sản xuất tập trung như như lúa gạo, thủy sản và một số nông sản khác nhằm duy trì sản xuất ổn định thu nhập và việc làm cho nông dân.

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 94

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Chính sách tỷ giá: Trong thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tỷ giá theo hướng tích cực: mở rộng biên độ dao động lên ± 5% và cho phép tỷ giá VND/USD biến động theo hướng phù hợp với thực trạng cung, cầu ngoại hối trên thị trường. Trong thời gian tới, Chính phủ cần tiếp tục điều chỉnh phá giá dần dần tiền đồng, tránh gây sốc, nhưng bảo đảm theo khuynh hướng tăng/giảm giá trị của đồng USD trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh tỷ giá cần cân nhắc theo một giỏ tiền tệ các ngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi (USD, EUR, JPY, GBP) theo tỷ trọng thương mại của Việt Nam với các nước/khối nước liên quan. Chính sách hỗ trợ tín dụng xuất khẩu: Nguồn kinh phí của gói kích cầu 1 tỉ USD cần được sử dụng đúng nơi, đúng chỗ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ví dụ, chỉ tài trợ cho các khoản tín dụng liên quan trực tiếp tới xuất khẩu: Cho phép doanh nghiệp xuất khẩu chiết khấu các loại hối phiếu thanh toán trả chậm, hoặc cấp tín dụng ngay cho các doanh nghiệp có thể chứng minh đã hoàn thành việc giao hàng và đang làm thủ tục thanh toán trên cơ sở bảo đảm thanh toán bằng chuyển giao chứng từ sở hữu hàng hóa cho ngân hàng. Chính phủ có thể bảo lãnh các khoản thanh toán này. Chính sách hỗ trợ chi phí xuất khẩu: Hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu để giảm các loại chi phí liên quan tới xuất khẩu như chi phí tại cảng biển, sân bay và chi phí vận tải; giảm tối đa thủ tục hành chính gây phiền hà cho doanh nghiệp xuất - nhập khẩu (có thể tài trợ chi phí cho doanh nghiệp xuất - nhập khẩu để thực hiện các thủ tục này được thuận tiện, thông qua bộ máy hành chính nhà nước phục vụ xuất khẩu như thuế, hải quan). Đa dạng hóa cơ cấu thị trường xuất - nhập khẩu: Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của nước ta cho thấy, thị trường xuất - nhập khẩu của Việt Nam tập trung cao độ vào một số thị trường trọng điểm đang chịu ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới. Do vậy, cần huy động các cơ quan ngoại giao và mạng lưới doanh nghiệp Việt Nam trên toàn thế giới để phát triển, mở rộng thị trường mới như Trung Đông, châu Phi, châu Đại Dương và Mỹ La-tinh, đồng thời khôi phục lại những thị trường cũ như Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập... Cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu: Việc cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cần xây dựng lộ trình cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước, đặc biệt là các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, đồng thời tìm thị trường cho các sản phẩm xuất khẩu mới. Hàng hóa nhập khẩu cần tiếp tục điều chỉnh theo hướng giảm tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu thành phẩm, tăng tỷ trọng nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu thô. Khai thác thị trường trong nước: Cần khai thác tối đa thị trường trong nước để giảm quy mô nhập khẩu, nhằm giảm mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào các thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đối với các nước trong khu vực. Nghiên cứu, điều chỉnh công nghệ, nâng cao phần giá trị gia tăng sản xuất trong nước thông qua việc khai thác các nguồn nguyên, nhiên, vật liệu sẵn có trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu, đặc biệt là dệt may, giày dép, thiết bị điện tử đã đáp ứng được nhu cầu của các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, cần nỗ lực
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 95

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

khai thác thị trường nội địa để duy trì quy mô hoạt động trong thời kỳ khó khăn, đồng thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước, giảm áp lực nhập khẩu hàng tiêu dùng, góp phần cân bằng cán cân thương mại, nhất là hỗ trợ cho các nhà sản xuất lúc thị trường xuất khẩu có biến động xấu. Chính sách thưởng xuất khẩu và giảm thuế cho các doanh nghiệp xuất khẩu: Có cơ chế thưởng xuất khẩu xứng đáng, đồng thời giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Các chính sách tài khóa khác: Để giảm tác động tiêu cực của suy giảm sản xuất xuất khẩu, đặc biệt là vấn đề công ăn việc làm và thu nhập cho công nhân sản xuất hàng xuất khẩu, Chính phủ cần nghiên cứu chế độ trợ cấp thất nghiệp cho công nhân của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu bị mất việc làm, song song với các biện pháp hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho công nhân mất việc trên cả nước nhằm tránh vòng xoáy suy thoái kinh tế - thất nghiệp, không có thu nhập, giảm tiêu dùng, buộc doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân dẫn tới thất nghiệp trầm trọng hơn. Chính sách tiền tệ: Cần nới lỏng chính sách tiền tệ một cách từ từ, nhằm tạo thanh khoản và huy động nguồn lực cho chính sách tài khóa của Chính phủ. Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ cần được tiến hành thận trọng trên cơ sở giám sát chặt chẽ tỷ lệ lạm phát và thực hiện nghiêm túc các biện pháp giám sát cẩn trọng, minh bạch trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Các giải pháp khác: Ở thời điểm hiện nay, các DN nên tiếp tục thúc đẩy hoạt động XK các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao tại các thị trường truyền thống gắn liền với việc mở rộng, đa dạng hóa thị trường XK. Không nên phụ thuộc vào một thị trường Hàng hóa của các DN đã XK đến hơn 200 nước trên thế giới nhưng trên 80% giá trị hàng hóa tập trung tại Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản... nên trước mắt, DN vẫn nên chú trọng và duy trì kim ngạch XK đối với các thị trường này. Nhưng để tránh phụ thuộc về lâu dài, các DN cần chủ động nghiên cứu, mở rộng đến các thị trường mới như: Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ.. Giữ vững và củng cố các thị trường trọng điểm. Theo các chuyên gia kinh tế, các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản về lâu về dài vẫn là những thị trường tiềm năng nhất mà các DN VN nên duy trì và phát triển, đặc biệt là thị trường Mỹ, một trong những thị trường được xem là "rốn" XK hàng hóa của VN. Do đó, DN cần tăng cường công tác tìm kiếm thị trường, nắm bắt và tổ chức tốt các hoạt động giao lưu, tiếp xúc với các bạn hàng NK, các tổ chức bán buôn, bán lẻ để có hiểu biết kịp thời về bạn hàng và thị trường XK của mình. Hiện Mỹ đã và đang chuẩn bị ban hành một số điều luật như: Đạo luật Farm Bill, Luật Lacey sẽ ảnh hưởng đến một số mặt hàng XK của VN như hàng thuỷ sản, đồ gỗ... Do đó, DN cần tiếp xúc nhiều hơn nữa với cơ quan tham vấn để hiểu rõ về những quy định mới. Tiếp tục thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông lâm thủy sản, trước hết là việc tiêu thụ nông sản cho một số ngành có lượng hàng hóa lớn và sản xuất tập trung như như lúa gạo, thủy sản và một số nông sản khác nhằm duy trì sản xuất ổn định thu nhập và việc làm cho nông dân.
Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam Trang 96

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

Khẩn trương tiêu thụ một số ngành hàng có lượng hàng hoá lớn và sản xuất tập trung như lúa, gạo, thuỷ sản Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường XK sang các khu vực ít bị tác động của khủng hoảng Thúc đẩy sớm việc ký kết các hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN với Ấn Độ Khai thác tối đa thị trường Nhật Bản Điều hành linh hoạt hoạt động buôn bán biên mậu Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn cho doanh nghiệp Linh hoạt trong điều hành thuế suất thuế XK và thuế NK theo hướng hỗ trợ cho sản xuất trong nước và triển khai Đề án thí điểm “Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu”, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt…

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 97

GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu

Ngoại Thương 3 K32

DANH MỤC THAM KHẢO 1. Bộ công thương - Báo cáo “Tình hình xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2009 và giải pháp cho 4 tháng cuối năm” 2. Thời báo kinh tế Sài Gòn 3. Website Tổng cục thống kê – www. 4. Tổng cục hải quan 5. Website Bộ thươg mại – www.mot.gov 6. Trung tâm thôg tin thương mại – www.vinanet.com 7. Website Cổng thông tin xuất khẩu Việt Nam- www.ngoaithuong.vn 8. Website Vụ kế hoạch – Bộ Nông Nghiệp

Thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 98

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful