1

CHỨC QUAN ĐÔ HỘ Ở AN NAM THỜI THUỘC ĐƯỜNG (679 - 905)

Dẫn nhập

Vào đầu thế kỉ VII, vùng đất Giao Châu - An Nam nằm dưới sự thống trị của nhà Đường ở Trung
Quốc. Là một triều đại có dòng dõi hỗn huyết Hán - Hồ, nền chính trị nhà Đường buổi đầu thiết lập
(sơ Đường) vẫn mang đậm tính quý tộc quân sự. Tự nhận mình là một nhà nước quân sự, chính
sách bành trướng, mở rộng lãnh thổ của nhà Đường cũng được đẩy mạnh ở mức cao nhất. Quá
trình bành trướng mở rộng lãnh thổ của nhà Đường vượt xa cả thời Tần, Hán. Đương thời, Đường
Thái Tông đã từng nói về võ công chinh phục và thành quả mở rộng bờ cõi của mình như sau:
“chinh phục Man Di ngày trước, chỉ có Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế. Ta nay với thanh gươm ba
thước, đã khuất phục 20 vương quốc, dẹp yên bốn bể, bọn Man Di ở cõi xa cũng lần lượt về quy
phục”1. Để có thể quản lý chặt chẽ những vùng đất mới chiếm được, nhà Đường đã lần lượt đặt các
chức quan Đô hộ và thiết lập bộ máy phủ đô hộ ở nhiều nơi. Đô hộ ở An Nam là một trong số đó.
Đây là một cơ chế thống trị mới, có sự phát triển hoàn thiện hơn về mặt tổ chức so với bộ máy cai
trị của các triều đại Bắc thuộc thời Hán, Ngô, Lương, Tùy. Bài viết sau đây sẽ bước đầu tìm hiểu sự
hình thành, phát triển cũng như tổ chức, hoạt động của chức quan Đô hộ ở An Nam thời thuộc
Đường.

1. Nguồn gốc tên gọi và sự ra đời của chức quan Đô hộ ở An Nam

Theo Hán - Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh thì đô hộ là chức trưởng quan thống trị các
thuộc quốc của nước Tàu về đời nhà Hán, nhà Đường 2. Còn theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
do Phan Ngọc Liên chủ biên thì đô hộ là chế độ cai trị của một nước đối với một nước khác bị xâm
chiếm, như chế độ đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam; cũng là chức quan của nhà Hán, nhà Đường
(Trung Quốc) đặt ở các nước bị lệ thuộc3. Từ điển chức quan Việt Nam của Đỗ Văn Ninh thì cho biết
đô hộ là chức quan quản lý Thượng đô hộ phủ được lập vào thời Đường, phân biệt với Đại đô hộ là
chức quan quản lý Đại đô hộ phủ4. Một tài liệu khác là Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc thì
giải thích đô hộ ngụ ý là giám sát toàn bộ và là chức quan đứng đầu phủ đô hộ - tổ chức hành chính
quân sự do nhà Đường lập ở các vùng đất mới chinh phục 5. Học giả Lý Đại Long trong công trình
Nghiên cứu chế độ đô hộ thì xác định đô hộ có nguồn gốc từ thời Tây Hán dùng để chỉ một chức
quan với chức trách cai quản và thống lĩnh tất cả mọi việc (thống hạt, lĩnh đạo) 6.
2

Các kiến giải trên cho thấy đô hộ là một khái niệm có nội hàm khá phức tạp bởi nó vừa là tên gọi
của một chức quan thuộc quan chế thời nhà Đường - quan Đô hộ vừa dùng để chỉ bộ máy tổ chức
được điều hành bởi chính chức quan đó tức chế độ đô hộ, đồng thời còn phản ánh cả tính chất công
việc do chức quan ấy đảm trách là cai quản, thống hạt mọi việc của phủ đô hộ. Chính điều này đã tạo
nên một số khó khăn khi tiếp cận nghiên cứu vấn đề.

Chức quan Đô hộ đã có từ lâu trong lịch sử Trung Quốc. Những bộ sử lớn của Trung Quốc gồm
Nhị thập tứ sử, các loại sử biên niên như Tư trị thông giám, Tam triều bắc minh hội biên, Kiến viêm dĩ
lai hệ niên yếu lục và các loại sách chính trị như Thông điển, Văn hiến thông khảo, Đường đại chiếu
lệnh tập, Đường hội yếu, Đường lục điển hay Nguyên Hòa quận huyện đồ chí, Thái Bình hoàn vũ ký
đều có các ghi chép liên quan đến chức quan Đô hộ 7. Theo đó, lần đầu tiên chức quan Đô hộ được
nhắc đến là trong Hán thư, quyển 70, truyện Trịnh Cát chép về việc lập Đô hộ ở Tây Vực. Kể từ đó
trở đi, các triều đại Trung Quốc vẫn duy trì chức quan Đô hộ với nhiều hình thức, tổ chức khác nhau.
Đặc biệt vào thời Đường cùng với sự bành trướng mở rộng lãnh thổ thì cũng là lúc chức quan Đô hộ
được đặt ra nhiều nhất.

Từ đời Đường Thái Tông đến Vũ Tắc Thiên, nhà Đường đã đặt chức Đô hộ ở 9 nơi, trong đó có 6
Đô hộ quan trọng ở An Tây, Bắc Đình, Yên Nhiên (sau đổi là Hãn Hải, An Bắc), Thiền Vu, An Đông và
An Nam. Đô hộ thời Đường được chia làm hai bậc theo chính cấp bậc của phủ đô hộ là Đại đô hộ
phủ và Thượng đô hộ phủ8. Nếu là bậc Đại đô hộ phủ thì trưởng quan là Đại Đô hộ, có hàm tòng nhị
phẩm. Nếu là bậc Thượng đô hộ phủ thì trưởng quan là Đô hộ, có hàm chính tam phẩm. Dưới
trưởng quan có chức phó Đô hộ, số lượng từ 2 - 4 người tùy theo cấp bậc của phủ đô hộ. Ngoài ra
còn có các quan phụ tá như Trưởng sử, Tư mã, Lục sự, Công tào, Thương tào, Hộ tào, Binh tào, Pháp
tào, mỗi chức một người, Tham quân sự ba người9.

Đối với An Nam, sau khi thiết lập được nền thống trị ở đây, vào tháng 3 niên hiệu Vũ Đức thứ 5
(tức năm 622), nhà Đường đã cho đặt Giao Châu tổng quản phủ quản lý 10 châu: Giao, Phong, Ái,
Tiên, Diên, Tống, Từ, Hiểm, Đạo, Long 10. Đồng thời, lấy Khâu Hòa vốn là Thái thú Giao Chỉ triều Tùy
giữ chức Tổng quản Giao Châu 11. Đến tháng 8 cùng năm nâng làm Giao Châu đại tổng quản phủ.
Tháng 2 năm 624, niên hiệu Vũ Đức thứ 7, cho đổi Đại tổng quản phủ thành Đại đô đốc phủ, lấy Giao
Châu tổng quản làm Giao Châu đô đốc12. Đến tháng 8 niên hiệu Điều Lộ nguyên niên (tức năm 679)
đời Đường Cao Tông thì nhà Đường đã cho đổi Giao Châu đô đốc phủ thành An Nam đô hộ phủ 13,
đứng đầu bởi một quan Đô hộ. Như vậy, chức quan Đô hộ ở An Nam bắt đầu được đặt ra kể từ năm
679 trở thành trưởng quan đại diện cho nhà Đường cai trị An Nam.

2. Diễn tiến lịch sử của chức quan Đô hộ ở An Nam
3

Trước khi chức quan Đô hộ được đặt ra để quản lý An Nam, vùng đất này đã nằm dưới sự cai trị
của nhà Đường được 60 năm (từ năm 622 đến năm 679). Trong khoảng thời gian này, đứng đầu bộ
máy thống trị của nhà Đường lúc đầu là Đại tổng quản (622 - 624) sau là Đô đốc (624 - 679)14. Đây
đều là các chức quan đảm trách toàn bộ công việc của nhà Đường ở Giao Châu - An Nam trong lúc
nhà Đường đang tìm kiếm và tiến tới xác lập một cơ chế thống trị mới, hoàn thiện và phù hợp với
khả năng cai trị của nhà Đường cũng như thích ứng với các điều kiện thực tiễn của An Nam.

Kể từ năm 679 thì An Nam được cai trị bởi các quan Đô hộ. Cho đến khi phủ đô hộ An Nam bị
xóa bỏ vào năm 905, chức quan này đã trải qua nhiều biến đổi về hình thức tổ chức và tên gọi. Có
thể khái quát sự biến đổi này theo các giai đoạn lịch sử sau:

- Từ năm 679 đến năm 757 là giai đoạn phủ đô hộ An Nam do triều đình nhà Đường trực tiếp
cai quản. Đứng đầu phủ đô hộ giai đoạn này đều là các trưởng quan có chức danh Đô hộ 15.

- Từ năm 757 đến năm 766 là giai đoạn phủ đô hộ An Nam được nhà Đường đổi tên thành Trấn
Nam đô hộ phủ. Hàm ý của việc đổi tên này là vùng đất An Nam không còn yên nữa, cần tăng cường
quản lý và trấn áp16. Nhưng tên gọi Trấn Nam tồn tại chưa được bao lâu thì đến năm 766, nhà
Đường đã lấy lại tên cũ là An Nam (Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương
mục chép là năm 768). Cũng từ năm 757 thì phủ đô hộ đã được chuyển về cho Tiết độ sứ ở đạo Lĩnh
Nam quản lý. Đứng đầu phủ đô hộ Trấn Nam thời gian này vẫn là các quan Đô hộ 17.

- Từ năm 766 đến năm 863 là giai đoạn nhà Đường duy trì bộ máy phủ đô hộ An Nam một cách
khá ổn định về mặt tổ chức. Đứng đầu phủ đô hộ lúc này phần lớn đều là các quan Đô hộ nhưng khi
An Nam có biến loạn thì đặt chức Kinh lược sứ kiêm nhiệm vai trò của Đô hộ để trấn áp 18.

- Từ năm 863 đến năm 866 là khoảng thời gian phủ đô hộ bị Nam Chiếu tấn công và chiếm giữ
nên vào tháng 6 năm 863 nhà Đường đã bãi bỏ phủ đô hộ và đặt ra hành Giao Châu ở trấn Hải Môn
(thuộc Uất Lâm, tỉnh Quảng Đông) đứng đầu bởi Thứ sử. Nhưng đến tháng 7 cùng năm lại đặt phủ
đô hộ An Nam tại hành Giao Châu, đứng đầu bởi Kinh lược sứ 19. Chức Kinh lược sứ kiêm trách vai
trò của Đô hộ20.

- Từ năm 866 đến năm 905, sau khi tạm dẹp yên được nạn xâm lược của Nam Chiếu và lấy lại
đất An Nam, nhà Đường đã thăng phủ đô hộ An Nam lên thành Tĩnh hải quân tiết trấn, đứng đầu
bởi Tiết độ sứ kiêm Đô hộ, cử Cao Biền làm Tiết độ sứ An Nam đầu tiên21. Kể từ đây, An Nam đã có
chức Tiết độ sứ riêng22. Đây là bước phát triển cao nhất về mặt tổ chức của chức quan đứng đầu
vùng đất An Nam.
4

Có thể thấy từ năm 679 đến 905, chức quan Đô hộ An Nam đã có nhiều biến đổi về tên gọi và tổ
chức. Sự xuất hiện của chức Kinh lược sứ là một biện pháp nhất thời của nhà Đường khi An Nam rơi
vào tình trạng hỗn loạn, cần phải kịp thời trấn áp. Đó là cách thức khá hiệu quả để duy trì được nền
thống trị của nhà Đường ở An Nam. Đến khi nhà Đường lập Tĩnh hải quân tiết trấn ở An Nam thì
chức quan đứng đầu An Nam được gọi là Tiết độ sứ. Tiết có nghĩa là cờ lệnh. Tiết độ sứ là người
được giao cờ lệnh thay mặt hoàng đế cai quản biên cương với quyền hạn rất lớn, hùng cứ một
phương. Trên danh nghĩa thì Tiết độ sứ thay thế cho chức Đô hộ nhưng trên thực tế vẫn đảm trách
các công việc của Đô hộ.

Yếu tố cơ bản liên kết chức quan Đô hộ với Kinh lược sứ và Tiết độ sứ về mặt tổ chức chính là ở
vai trò của Thứ sử Giao Châu. Do phủ đô hộ An Nam đóng tại Tống Bình (Giao Châu) nên nghiễm
nhiên quan Đô hộ, Kinh lược sứ và Tiết độ sứ đều là Thứ sử của Giao Châu. Nói một cách khác Thứ
sử Giao Châu cũng chính là Đô hộ, Kinh lược sứ và Tiết độ sứ của toàn vùng đất An Nam. Ngoài ra,
giữa các chức Đô hộ, Kinh lược sứ, Tiết độ sứ còn có sự tương đồng về chức trách và hoạt động, đều
là cai quản và duy trì sự thống trị của nhà Đường ở An Nam. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng
tuy có sự biến đổi về tên gọi nhưng từ năm 679 đến năm 905, Đô hộ vẫn là chức quan chủ yếu trong
bộ máy cai trị của nhà Đường ở An Nam, được nhà Đường duy trì thường xuyên và khá liên tục.

3. Phẩm hàm, chức trách và hoạt động của quan Đô hộ

Phẩm hàm của quan Đô hộ An Nam được xác định dựa vào cấp bậc của phủ đô hộ. Theo ghi
chép của địa lý chí trong Tân Đường thư thì An Nam là trung đô hộ phủ, nhưng phần quan chức chí
của Tân Đường thư lẫn Cựu Đường thư đều chỉ đề cập đến bậc đại đô hộ phủ và thượng đô hộ phủ
mà không thấy ghi chép về trung đô hộ phủ23. Tác giả Trương Sáng Tân trong công trình Lịch sử chế
độ chính trị Trung Quốc, căn cứ vào Đường lục điển, quyển 3 cho rằng An Nam là Thượng đô hộ
phủ24. Theo đó, trưởng quan đứng đầu Thượng đô hộ phủ sẽ có hàm chính tam phẩm 25.

Là một trong những vùng đất có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của nhà Đường, chức
quan Đô hộ ở An Nam đã được nhà Đường đặt ra với mục đích:

Thứ nhất, củng cố cơ sở thống trị đã được thiết lập, khống chế toàn bộ vùng đất An Nam, tạo
bàn đạp để bành trướng hơn nữa về phía nam. Khi bình định được Giao Châu năm 622, nhà Đường
đã thừa hưởng được một vùng đất rộng lớn, là kết quả của một quá trình thống trị lâu dài của các
5

triều đại Bắc thuộc từ Hán đến Tùy. Cương vực đó kéo dài từ phía nam tỉnh Quý Châu, phía đông
tỉnh Vân Nam đến trung bộ của Việt Nam hiện nay26.

Thứ hai, tạo nên sự ràng buộc chặt chẽ giữa nhà Đường với An Nam. Nhà Đường thiết lập phủ,
châu, huyện ràng buộc các vùng dân tộc thiểu số, do tù trưởng dân tộc thiểu số đảm nhiệm chức
quan phụ trách hành chính địa phương, ban cho quyền tự trị khá lớn, bên trên lập phủ đô hộ để
quản lý, có lợi cho việc yên ổn, đoàn kết và thống nhất 27. Việc đặt chức quan Đô hộ ở An Nam là để
“phủ dụ, vỗ về” và giải quyết mối quan hệ với các dân tộc nơi đây. Đồng thời, nó cũng góp phần làm
hoàn thiện hệ thống đô hộ phủ, tạo nên sự thống nhất trong cơ cấu quản lý quân chính của nhà
Đường.

Thứ ba, nhằm đề phòng nguy cơ đe dọa của các nước láng giềng như Lâm Ấp (Hoàn Vương),
Ceilendra và Nam Chiếu. Trong đó đáng kể nhất là thế lực của Nam Chiếu - một quốc gia có địa bàn
tiếp giáp với miền tây bắc của An Nam. Từ thời sơ Đường, thế lực của họ đã bắt đầu phát triển
mạnh, đe dọa đến an ninh của biên cương phía nam Trung Quốc 28. Còn Lâm Ấp tuy về danh nghĩa
thần phục nhà Đường nhưng cũng thường xuyên xâm lấn biên giới Hoan châu thuộc An Nam. Cùng
lúc đó, ở đảo Java (Indonesia) xuất hiện một vương triều mới, hùng mạnh là Ceilendra nghĩa là “nhà
vua xứ núi”. Họ được gọi là những người Chop’o (Chà Và) và K’ouen Louen (Côn Lôn, chỉ chung các
hải đảo phương nam) với mưu toan đặt chân lên miền bán đảo Đông Dương 29.

Chính vì vậy, chức trách của Đô hộ An Nam được xác định là “phủ dụ, vỗ về các man, đánh dẹp
làm yên giặc bên ngoài”. Tân Đường thư, quyển 49 hạ, Bách quan tứ hạ chép: “Đô hộ thống hạt các
phiên, gồm các việc vỗ về, đánh dẹp, thưởng công, phạt tội, quyết định chung các việc trong phủ”30.
Chức trách này được cụ thể hóa ở sáu đặc điểm chính: (1) bố trí hệ thống phòng ngự và quân binh
trấn thủ; (2) chinh thu phú thuế; (3) dùng đức hóa cai trị để truyền bá Nho học; (4) bình định phản
loạn, phòng ngự ngoại địch; (5) “dĩ Di trị Di”; (6) khai thông đường biển và tu đắp sửa chữa đường
bộ, phát triển kinh tế31.

Như vậy chức trách của quan Đô hộ đã bao quát hầu hết mọi công việc của phủ đô hộ An Nam.
Trong đó, hai chức trách cơ bản và có vai trò quan trọng nhất là bố trí hệ thống quân binh trấn thủ
và phòng ngự ngoại địch, bình định phản loạn. Lực lượng quân đội thường trực của An Nam do Đô
hộ đảm trách theo Cựu Đường thư, quyển 41, Địa lý tứ là “4 nghìn 2 trăm”. Những lúc An Nam có
biến loạn thì Kinh lược sứ kiêm Đô hộ sẽ đảm trách quân Nhu viễn (Cựu Đường thư, quyển 13, Đức
Tông kỷ hạ) và Kinh lược (Tân Đường thư, quyển 43 thượng, Địa lý thất thượng). Đến khi An Nam
được thăng lên Tĩnh hải quân tiết trấn thì còn có thêm quân Tĩnh hải 32.
6

Chức trách của Đô hộ An Nam được thể hiện rõ nhất khi nhà Đường đối đầu trực tiếp với Nam
Chiếu vào thế kỉ IX. Khi đó, An Nam trở thành trận địa tiền phương để nhà Đường chống lại Nam
Chiếu, cũng là phên giậu trọng yếu ngăn cản sự xâm lấn của Nam Chiếu vào nội địa Trung Quốc 33.
Tuy nhiên, trên thực tế thì chức trách phòng ngự đã không được thực thi hiệu quả. Bằng chứng là
việc Đô hộ An Nam để phủ đô hộ bị Nam Chiếu chiếm giữ năm 863 và bản thân quan Đô hộ lúc bấy
giờ là Thái Tập cũng bị chết trận34. Còn chức trách trấn áp của quan Đô hộ thì thường vấp phải sự
kháng cự quyết liệt của nhân dân An Nam. Các cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đường liên tiếp diễn
ra như của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến năm 687; Mai Thúc Loan những năm 713 - 722; Phùng Hưng và
Đỗ Anh Hàn từ năm 766 đến 791. Quân binh đồn trú ở phủ đô hộ cũng thường xuyên nổi loạn,
chống lại Đô hộ các năm 782, 819, 828, 843, 880. Kết quả là các quan Đô hộ Lưu Diên Hựu, Cao
Chính Bình, Lý Tượng Cổ bị giết còn Hàn Ước, Vũ Hồn bị đánh chạy khỏi An Nam 35.

4. Phương thức tuyển chọn quan Đô hộ An Nam

Do có vai trò, chức trách quan trọng, đứng đầu cai quản một vùng đất khá trọng yếu nên quan
Đô hộ ở An Nam cũng được tuyển chọn chặt chẽ. Nó phản ánh chính sách cũng như mức độ coi
trọng vùng đất An Nam của nhà Đường. Tác giả Lý Đại Long trong công trình Nghiên cứu chế độ đô
hộ đã khái quát được 8 phương thức để tuyển chọn quan Đô hộ ở An Nam 36.

Trước hết, quan Đô hộ được tuyển chọn từ Thứ sử của các châu. Cựu Đường thư, quyển 41, Địa
lý tứ chép “lấy Thứ sử sung làm Đô hộ”37. Trong số 58 quan Đô hộ An Nam được sử sách ghi chép rõ
ràng thì có đến 20 người là Thứ sử ở các châu được cử sang làm Đô hộ ở An Nam. Trong số đó có
Lưu Diên Hựu là Thứ sử Cơ Châu, Trương Bá Nghi là Thứ sử Hàng Châu, Ô Sùng Phúc là Thứ sử
Thương Châu, Trương Đình là Thứ sử Cát Châu, Bàng Phục là Thứ sử Tư Châu, Triệu Xương là Thứ
sử Kiền Châu, Mã Ân là Thứ sử Kiền Châu, Trương Miễn là Thứ sử Giang Châu, Bùi Hành Lập là Thứ
sử Kỳ Châu, Lý Tượng Cổ là Thứ sử Hành Châu, Quế Trọng Vũ là Thứ sử Đường Châu, Vương Thừa
Biện là Thứ sử Quỳ Châu, Lý Nguyên Hỷ là Thứ sử Vạn Châu, Hàn Ước là Thứ sử Kiền Châu, Trịnh
Xước là Thứ sử Miên Châu, Lưu Mân là Thứ sử Cung Châu, Hàn Uy là Thứ sử Lệ Châu, Điền Tảo là
Thứ sử Lệ Châu, Mã Thực là Thứ sử Nhiêu Châu, Vương Khoan là Thứ sử Diêm Châu. Thứ sử các
châu làm Đô hộ An Nam cũng là phương thức chiếm tỉ lệ cao nhất 38.

Thứ hai, do quan trong triều đình nhà Đường được cử sang làm Đô hộ như trường hợp Bùi Thái
từng là Từ bộ viên ngoại lang; Triệu Xương là Quốc tử tế tửu; Vương Thức là Triều Tán đại phu, Thủ
khang vương phó phận ty Đông Đô, Thượng trụ quốc, Tập ngụy quân khai quốc công; Độc Cô Tổn là
Môn hạ thị lang, Thượng thư bộ Hộ, Đồng bình chương sự, Giám tu quốc sử; Đậu Mông do Ty nghị
lang tấn thăng An Nam đô hộ39.
7

Thứ ba, do các võ tướng được cử sang làm Đô hộ như Tống Nhai từng là An Nam tuyên úy sứ,

Hữu thiên ngưu vệ đại tướng quân; Tống Nhung là Hữu giám môn tướng quân; Cao Biền là Kiêu vệ

tướng quân còn Vương Án Quyền là Hữu vũ vệ tướng quân 40.

Thứ tư, do Kinh lược sứ, Quan sát sứ nhậm chức Đô hộ có Trương Chu là An Nam kinh lược phó

sứ; Bùi Hành Lập là Quế quản quan sát sứ; Thái Tập là Hồ Nam quan sát sứ; Trương Nhân là Dung

quản kinh lược sứ41.

Thứ năm là do Đô hộ An Nam trước tái nhậm chức, trường hợp này có 4 người là Triệu Xương,

Bùi Hành Lập, Quế Trọng Vũ và Cao Biền. Như Triệu Xương nhậm chức Đô hộ hai lần vào các năm

791 - 802 và 804 - 806, Bùi Hành Lập các năm 813 - 817 và 820, Quế Trọng Vũ các năm 819 - 820

và 820 - 822, Cao Biền các năm 864 - 866 và 866 - 868.

Thứ sáu là do quan viên tiến cử như trường hợp Cao Tầm, Tăng Cổn. Vào cuối thời Đường khi

quyền lực của triều đình trung ương càng suy yếu thì thế lực cát cứ ở địa phương trỗi dậy mạnh mẽ.

Tiết độ sứ có quyền chọn người thân hoặc thuộc hạ để tiến cử, gọi là “lưu hậu”. Ở An Nam, Cao Biền

đã tiến cử cháu họ là Cao Tầm và sau đó là bộ tướng Tăng Cổn giữ chức Tiết độ sứ.

Thứ bảy là do người nước ngoài giữ chức Đô hộ. Trường hợp đặc biệt này có hai người. Một là

Khang Khiêm - vốn là thương nhân người Hồ ở Tây Vực do hối lộ phụ chính Dương Quốc Trung đã

được cho làm Đô hộ ở An Nam vào cuối thời Đường Huyền Tông. Hai là Triều Hoành - vốn là người

Nhật có tên là Abe no Nakamaro từ Nhật Bản đi sứ sang nhà Đường (Khiển Đường sứ) đã ở lại làm

quan và được cử làm Đô hộ vào khoảng từ năm 761 đến trước năm 76742.

Cuối cùng, cá biệt và cũng là ngoại lệ duy nhất. Đó là trường hợp của Chu Toàn Dục làm quan Đô

hộ An Nam vào cuối thời Đường Chiêu Tông. Chu Toàn Dục vốn là anh của Chu Toàn Trung - người

đang lũng đoạn nhà Đường lúc bấy giờ, vì cậy thế của em nên được cử làm Đô hộ An Nam. Nhưng

do Chu Toàn Dục là kẻ bất tài nên chẳng bao lâu Chu Toàn Trung đã phải tự bãi chức anh mình.
8

Có thể thấy, phương thức tuyển chọn quan Đô hộ An Nam khá linh hoạt, tùy vào tình hình của

An Nam cũng như mục đích cai trị của nhà Đường. Trong đó, quan Đô hộ An Nam chủ yếu là do Thứ

sử các châu Trung Quốc được cử sang. Cũng có trường hợp người nước ngoài như Triều Hoành

được cử làm Đô hộ An Nam. Song trong suốt chiều dài bộ máy cai trị của nhà Đường ở An Nam,

tuyệt đối không có bất cứ một người Việt bản địa nào được cử làm Đô hộ. Có chăng là được cử làm

Thứ sử một châu ở An Nam hoặc cử về trị sở phủ đô hộ tại Tống Bình để làm việc. Chức quan cao

nhất mà người Việt được giữ chỉ là phó Đô hộ 43.

Kết luận

Đầu thế kỉ X, khi nhà Đường đứng trước nguy cơ diệt vong thì vùng đất An Nam cũng trở thành

một địa phương cát cứ riêng rẽ, thoát ly khỏi sự kiểm soát của nhà Đường. Cùng với sự kiện Khúc

Thừa Dụ nổi dậy giành quyền tự chủ, tự xưng là Tiết độ sứ năm 905 - trở thành Tiết độ sứ người

Việt đầu tiên thì cũng là lúc chức quan Đô hộ của nhà Đường ở An Nam chấm dứt sự tồn tại. Nhìn lại

quá trình lịch sử của chức quan Đô hộ ở An Nam thời thuộc Đường, chúng ta có thể thấy:

Thứ nhất, chức quan Đô hộ ở An Nam là một thiết chế quan trọng trong cơ cấu quân chính để
quản lý các vùng đất biên cương phía nam của nhà Đường. Sự ra đời chức quan Đô hộ phản ánh
mục tiêu và mưu đồ thống trị mới của giai cấp thống trị Hán tộc - mà đại diện là nhà Đường ở An
Nam. Đó là chức quan đứng đầu một thể chế quản lý đặc biệt nhằm ràng buộc các vùng ngoại địa,
biên cương phía nam với triều đình nhà Đường mà thực chất là nhằm duy trì sự thống trị, áp bức và
đồng hóa nhân dân nơi đây. Cùng với các phủ đô hộ An Tây, Bắc Đình ở phía tây, An Bắc, Thiền Vu ở
phía bắc, An Đông ở phía đông, An Nam đô hộ phủ đã tạo thành hình thế “tứ phương đô hộ phủ”
trấn giữ khắp bốn vùng biên cương của nhà Đường. Việc đặt chức quan Đô hộ chính là sự cụ thể hóa
tư tưởng lấy Hoa Hạ làm trung tâm, chế ngự Tứ Di ở bốn phương của nhà Đường.

Thứ hai, Đô hộ là chức quan cao nhất mà nhà Đưởng cử sang để cai trị An Nam có vai trò như
một tổng trú sứ, đại diện cho hoàng đế nhà Đường thống hạt toàn thể đất đai, nhân dân nơi đây.
Quyền hạn và chức trách của Đô hộ An Nam ắt hẳn sẽ lớn hơn nhiều so với Thứ sử Giao Chỉ, Châu
mục châu Giao và Thứ sử Giao Châu các đời thuộc Hán, Tùy. Chức quan Đô hộ ở An Nam thời
Đường là sự tiến hóa chính trị cao nhất của bộ máy thống trị các triều đại Hán tộc ở Việt Nam thời
9

Bắc thuộc. Sự phát triển này đạt đến mức cao nhất khi An Nam được thăng lên Tĩnh hải quân tiết
trấn, đứng đầu là Tiết độ sứ. Khi đó, trưởng quan Đô hộ ở An Nam trở thành một quần hùng cát cứ,
nắm giữ quân đội riêng và có quyền lựa chọn người kế vị (lưu hậu).

Cuối cùng, cũng phải nhận thấy rằng tuy có sự phát triển về mặt tổ chức quản lý và vai trò chức
trách song trên thực tế trong suốt thời gian tồn tại, chức quan Đô hộ đã bị vô hiệu hóa về nhiều mặt.
Chính tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân An Nam cùng các yếu tố khách quan bên ngoài
như sự xâm lược của Nam Chiếu đã làm suy yếu khả năng hoạt động của chức quan Đô hộ dẫn đến
sự kết thúc vai trò của nó vào đầu thế kỉ X.

Chú thích:
(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử quân sự Việt Nam tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, tr.
196.
(2) Đào Duy Anh (1992), Hán - Việt từ điển giản yếu, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 289.
(3) Phan Ngọc Liên (2009), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, tr.
176.
(4) (8) Đỗ Văn Ninh (2002), Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb Thanh niên, tr. 223.
(5) (9) (27) Chu Phát Tăng - Trần Long Đào - Tề Cát Tường (2001), Từ điển lịch sử chế độ chính trị
Trung Quốc, Nxb Trẻ, tr. 72, tr. 299, tr. 289.
(6) (7) (36) (39) (40) (41) Lý Đại Long (2003), Nghiên cứu chế độ đô hộ, Nxb Giáo dục Hắc Long
giang, tr. 2, tr. 6-13, tr. 292, tr. 293.
(10) (13) (37) http://www.guoxue.com/shibu/24shi/oldtangsu/jts_045.htm Cựu Đường thư,
quyển 41, Địa lý tứ.
(11) http://www.guoxue.com/shibu/zztj/content/zztj_190.htm Tư trị thông giám, quyển 190,
Đường kỷ lục.
(12) http://www.guoxue.com/shibu/zztj/content/zztj_191.htm Tư trị thông giám, quyển 191,
Đường kỷ thất. Nguyên Hòa quận huyện đồ chí, quyển 38, An Nam chép niên hiệu Vĩnh Huy thứ 2
(năm 651) đổi tên là An Nam đô đốc phủ.
(14) Theo ghi chép của Lê Tắc trong An Nam chí lược và Uất Hiền Hạo trong Đường thứ sử khảo
toàn biên thì từ năm 622 đến năm 679 giữ chức Tổng quản chỉ có một người là Khâu Hòa (622), còn
giữ chức Đô đốc gồm Vương Chí Viễn (624), Lý Đại Lượng (627), Lý Thọ (628), Lư Tổ Thượng
(628), Phổ Tán (Trinh Quán trung), Lý Đạo Hưng (635 - 638), Liễu Sở Hiền (Trinh Quán trung), Lý
Hoằng Sức (640), Đỗ Chánh Luân (643), Lý Tố Lập (Trinh Quán mạt), Khương Giản (Vĩnh Huy
trung), Sài Triết Uy (656 - 661), Lý Càn Hựu (Long Sóc trung), Lang Dư Khánh (674), Lương Nạn
Địch (Nghi Phượng sơ).
(15) Các quan Đô hộ được ghi chép trong khoảng thời gian từ năm 679 đến năm 757 gồm có Lưu
Diên Hựu (687), Dương Mẫn, Thôi Huyền Tín (thời Vũ Tắc Thiên), Đặng Hựu (thời Đường Trung
10

Tông), Quang Sở Khách (Khai Nguyên sơ), Tân Tử Ngôn, Hà Lý Quang (749 - 751), Vương Tri Tiến
(751) và Khang Khiêm (Thiên Bảo trung).
(16) (34) Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo
dục, tr. 164, tr. 185.
(17) Giai đoạn này có 2 quan Đô hộ là Đậu Mông (thời Đường Túc Tông) và Triều Hoành (761 -
766).
(18) Trong giai đoạn này giữ chức Đô hộ có Ô Sùng Phúc (777 - 782), Phụ Lương Giao (782),
Trương Đình (788), Bàng Phục (789), Cao Chính Bình (790 - 791), Triệu Xương (791 - 802 và 804 -
806), Bùi Thái (802 - 803), Trương Chu (806 - 810), Mã Ân (Mã Tổng, 810 - 813), Trương Miễn
(813), Bùi Hành Lập (813 - 817 và 820), Lý Tượng Cổ (818 - 819), Quế Trọng Vũ (819 - 820 và 820
- 822), Vương Thừa Biện (822), Lý Nguyên Hỷ (822 - 826), Hàn Ước (827 - 828), Trịnh Xước (831),
Lưu Mân (833), Hàn Uy (834), Điền Tảo (835), Mã Thực (836 - 840), Điền Tại Hựu (849 - 850), Thôi
Cảnh (852), Lý Trác (853 - 855), Tống Nhai (857), Lý Hoằng Phủ (858 - 858), Lý Hộ (860 - 861).
Còn chức Kinh lược sứ có Trương Bá Nghi (767 - 777), Vũ Hồn (843), Bùi Nguyên Dụ (846 - 847),
Vương Thức (858 - 860), Vương Khoan (861 - 862), Thái Tập (Sái Tập, 862 - 863).
(19) (21) Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc - Sở nghiên cứu Lịch sử (1982), Tuyển biên tư liệu sử về
quan hệ Trung - Việt cổ đại, Nxb Khoa học Xã hội Trung Quốc, tr. 117, tr. 109.
(20) Giai đoạn này có các Kinh lược sứ: Tống Nhung (863), Trương Nhân (864), Cao Biền (864 -
866) và Vương Án Quyền (866).
(22) Giữ chức Tiết độ sứ giai đoạn này có Cao Biền (866 - 868), Cao Tầm (868 - 873), Tăng Cổn
(880), Cao Mậu Khanh (882), Tạ Triệu (884), An Hữu Quyền (897 - 900), Tôn Đức Chiêu (901), Chu
Toàn Dục (904) và Độc Cô Tổn (905).
(23) http://www.guoxue.com/shibu/24shi/newtangsu/xts_047.htm Tân Đường thư, quyển 43
thượng, Địa lý thất thượng.
(24) Trương Sáng Tân (2005), Lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc, Nxb. Đại học Thanh Hoa, tr. 204.
(25) (30) http://www.guoxue.com/shibu/24shi/newtangsu/xts_055.htm Tân Đường thư, quyển
49 hạ, Bách quan tứ hạ.
(26) Đàm Kỳ Tương (1996), Trung Quốc lịch sử địa đồ tập: quyển 5: Tùy Đường Ngũ đại, Nxb Địa đồ
Trung Quốc, tr. 72-73.
(28) Có thể tham khảo các bài viết của Trần Quốc Bảo: “Việc xây dựng và ảnh hưởng của An Nam đô
hộ phủ đối với hệ thống phòng ngự biên cương thời Đường”, Nghiên cứu Sử Địa biên cương, kỳ 3
năm 2010, tr. 18-29; “Bàn về ảnh hưởng của việc Nam Chiếu xâm lược An Nam đối với an ninh quốc
gia thời Đường”, Học báo Đại học dân tộc Vân Nam: bản Triết học Khoa học xã hội, kì 1 năm 2011, tr.
115-122.
(29) G.E. Coedes (2011), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nxb Thế giới, tr. 166, 170.
(31) (32) (38), Ô Tiểu Hoa - Lý Đại Long (2003), “Về vấn đề cơ cấu của An Nam đô hộ phủ”, Nghiên
cứu Sử Địa biên cương Trung Quốc kì 2, tr. 35-38, tr. 33.
11

(33) Trần Quốc Bảo (2010), “Việc xây dựng và ảnh hưởng của An Nam đô hộ phủ đối với hệ thống
phòng ngự biên cương thời Đường”, Nghiên cứu Sử Địa biên cương Trung Quốc kỳ 3 năm 2010, tr.
26.
(35) Viện Sử học (2006), Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thủy đến 1858, Nxb Giáo dục, tr. 39,
43, 44.
(42) Uất Hiền Hạo (2000), Đường thứ sử khảo toàn biên, Đại học An Huy xuất bản, tr. 3343-3344.
(43) Đó là trường hợp của Đỗ Anh Sách làm phó Đô hộ thời Trương Chu. Xem thêm Phạm Lê Huy
(2009), “Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường”, Nghiên cứu lịch sử số 09 (401), số 10 (402).
Tài liệu tham khảo:
1. Đào Duy Anh (1992), Hán - Việt từ điển giản yếu, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.

2. Phan Ngọc Liên (chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.

3. Đỗ Văn Ninh (2002), Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb Thanh niên.
4. Lê Tắc (2009), An Nam chí lược, Nxb Lao động, Hà Nội.
5. Chu Phát Tăng - Trần Long Đào - Tề Cát Tường (2001), Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung
Quốc, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
6. Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
7. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử quân sự Việt Nam tập 2, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
8. Viện Sử học (2006), Việt Nam những sự kiện lịch sử từ khởi thủy đến 1858, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

9. G.E. Coedes (2011), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nxb Thế giới, Hà Nội.
10. Trần Quốc Bảo (2010), “Việc xây dựng và ảnh hưởng của An Nam đô hộ phủ đối với hệ thống
phòng ngự biên cương thời Đường”, Nghiên cứu Sử Địa biên cương Trung Quốc tháng 9, quyển
20, kì 3. tr. 18-29. (陈国保 (2010),「安南都护府与唐代边疆防御体系的构建及影响」,《中国边
疆史地研究》, 2010 年 9 月, 第 20 卷, 第 3 期, 18-29 页。)

11. Uất Hiền Hạo (2000), Đường thứ sử khảo toàn biên, Đại học An Huy xuất bản. (郁贤皓 (2000),
《唐刺史考全编 》, 安徽大学出版社。)

12. Ô Tiểu Hoa - Lý Đại Long (2003), “Về vấn đề cơ cấu của An Nam đô hộ phủ”, Nghiên cứu Sử Địa
biên cương Trung Quốc tháng 6, quyển 13, kì 2, tr. 27-38. (乌小花、李大龙 (2003),「有关安南
都护府的几个问题」,《中国边疆史地研究》, 2003 年 6 月, 第 13 卷, 第 2 期。)

13. Lý Đại Long (2003) Nghiên cứu chế độ đô hộ, Nxb Giáo dục Hắc Long giang. (李大龙 (2003),《都
护制度研究》, 黑龙江教育出版社。)
12

14. Trương Sáng Tân (2005), Lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc, Nxb Đại học Thanh Hoa. (张创新
(2005),《中国政治制度史》清华大学出版社。

15. Đàm Kỳ Tương (1996), Trung Quốc lịch sử địa đồ tập: quyển 5: Tùy Đường Ngũ đại, Nxb Địa đồ
Trung Quốc. (谭其骧 (1996),《中国历史地图集 第五册:隋唐五代》, 中国地图出版社。)

16. Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Sở Nghiên cứu Lịch sử (1982), Tuyển biên tư liệu sử về quan
hệ Trung Việt cổ đại, Nxb Khoa học Xã hội. (中国社会科学院•历史研究所 (1982),《古代中越关
系史资料选编》, 中国社会科学出版社。)
CHỨC QUAN ĐÔ HỘ Ở AN NAM THỜI THUỘC ĐƯỜNG (679 - 905)
THE GENERAL (DOUHU) OF TANG DYNASTY IN AN NAM (679 - 905)
Tóm tắt
Đô hộ là chức quan được nhà Đường đặt ra để cai trị An Nam từ năm 679 đến năm 905. Đây là một
thiết chế quan trọng trong cơ cấu quân chính để quản lý vùng biên cương phía nam của nhà Đường.
Đô hộ đứng đầu và thay mặt hoàng đế nhà Đường thống hạt toàn thể đất đai, nhân dân An Nam, có
quyền hạn rất lớn. Bài viết này bước đầu tìm hiểu về chức quan Đô hộ ở An Nam thời thuộc Đường.
Trong đó, chủ yếu đề cập đến diễn tiến lịch sử, chức trách, hoạt động cùng phương thức tuyển chọn
quan Đô hộ ở An Nam.
Từ khóa: Lịch sử, quan chế Trung Quốc, Đô hộ, An Nam thuộc Đường.