MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG GẶP Ở HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ

CÁCH KHẮC PHỤC

+ Về lỗi âm đầu:
HS thường viết sai các cặp phụ âm : l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi, ng/ngh, g/gh. Trong đó
lỗi chính tả tập trung ở r/d/gi, ch/tr , l/n, s/x.
+ Về lỗi phần vần:
HS vẫn còn lẫn lộn các cặp vần : ui/ uơi , in/inh, ăn/anh, ưu/ươu, iêu/iu hoặc viết
sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt
+ Về lỗi dấu thanh:
Chủ yếu là sai thanh hỏi / thanh ng, đặc biệt do các từ láy hoặc từ Hán – Việt, các
em thường không phân biệt thanh hỏi- thanh ngã.
2. Nguyên nhân học sinh mắc lỗi chính tả
- Qua nghiên cứu phân tích, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả
của học sinh là do phát âm sai thanh hỏi/ thanh ngã lẫn lộn.
Ví dụ : suy nghĩ / suy nghỉ
nghĩ ngợi / nghỉ ngợi
cũ kĩ / củ kỉ
+ Do đặc điểm phương ngữ của học sinh còn phát âm sai các tiếng có phụ âm đầu
tr/ch, s/x, d/r/gi, l/n, nên dẫn đến việc phát âm sai các tiếng có phụ âm này:
Ví dụ : giải phóng / dải phóng; rì rào/dì dào
xúc động / súc động
truyền thống / chuyền thống
là nếp / nà nếp.
Theo thống kê số âm tiết sai về vần cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Nguyên nhân của
hiện tượng này là do HS chưa nắm vững cấu tạo nên còn viết lẫn lộn
- Ở một số cặp vần khó phân biệt hay do phát âm sai ( không chuẩn ) dẫn đến viết
sai:
Ví dụ : ươu / ưu ; con hươu / con hưu
ưu / iu : nghỉ hưu / nghỉ hiu
ươi / ui : quả chuối / quả chúi
- Với các cặp vần có âm ă, â học sinh thường hay nhầm lẫn như sau:
Ví dụ : bà cháu / bà chấu
gặp gỡ / gập gỡ
thứ sáu / thứ sấu
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến mắc lỗi chính tả của học sinh là :
- Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương
- Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩa
của các từ.
3. Biện pháp giải quyết:
*Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh:
- Muốn học sinh viết đúng chính tả giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho bản
thân mình để từ đó luyện cho học sinh phát âm đúng và chính xác như với những
tiếng có thanh ngã thì ta phải đọc nặng giọng và hơi ngân dài hơn so với những
tiếng có thanh hỏi. Những tiếng có âm cờ thì ta phải đọc nặng giọng hơn so với
những tiếng có chứa âm tờ. hoặc những tiếng có chứa âm cuối là âm ngờ thì khi
đọc ta phải ngân dài hơn so với những tiếng có chứa âm cuối là âm nờ …
- Là giáo viên dạy lớp phải bổ sung, điều chỉnh mục đích của môn chính tả sao cho
phù hợp với lớp mình phụ trách, cũng như trong việc lựa chọn để cho học sinh làm
bài tập chính tả. Vì bài tập chính tả có phân định rõ: một là phần bài tập bắt buộc;
hai là bài tập lựa chọn dành cho các vùng có phương ngữ khác nhau . Nên nhắc
nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh viết sai và thường gặp trong các môn học
khác để các em hiểu nghĩa từ và luôn viết đúng.
- Rèn học sinh viết đúng chính tả là rất quan trọng và cần thiết. Nên ngay từ đầu
năm học tôi đã điều tra và cập nhật các thông tin về học sinh thông qua giáo viên
chủ nhiệm năm trước, phụ huynh học sinh và bạn đồng nghiệp.
+ Sai âm: tr/ch; l/n; s/x
+ Sai vần: an/ang; uôn/ uông; iêc/ iêt
+ Sai về luật chính tả: g/gh; ng / ngh
* Một số biện pháp thực hiện:

- Đọc mẫu - Hướng dẫn cách viết :
Việc đọc đúng, rõ rang rành mạch, mạch lạc, đọc hay, đọc chuẩn của giáo viên là
quan trọng nhất. Không những đọc đúng mà còn phải viết đúng, đẹp, đúng quy
cách chữ hiện hành do Bộ Giáo dục quy định. Trình bày khoa học trong dạy học
(nhất là ghi trên bảng lớp vì chữ viết chính là dụng cụ trực quan hữu hiệu mà các
em có thể dựa vào đó để bắt chước, rèn luyện).
Như chúng ta đã biết muốn viết đúng thì phải đọc đúng. Vì vậy khi hướng dẫn học
sinh viết chính tả phải hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ nhất là khi phân tích từ khó , tiếng
khó. Giáo viên vừa cho học sinh viết vừa đánh vần kết hợp với đọc để khi các em
viết đỡ bị sai.
Hướng dẫn viết chữ đầu câu ta phải viết như thế nào?( Viết hoa chữ cái đầu tiếng )
Danh từ riêng phải viết như thế nào?( Viết hoa ) .
Tùy từng bài cụ thể mà giáo viên hướng dẫn học sinh viết hoa danh từ riêng cho
đúng với quy tắc.
- Sau dấu câu phải viết như thế nào? (Viết hoa chữ cái đầu câu).
- Đối với bài văn ta viết và trình bày như thế nào? (Viết thụt vào một ô li chữ đầu
bài và sau khi hết một đoạn so với lề vở).
- Đối với bài thơ ta viết và trình bày như thế nào? Bài thơ có 4,5 tiếng thì các chữ
đầu dòng thơ phải viết hoa chữ cái đầu của tiếng và viết bằng nhau. (các chữ đầu
dòng thơ phải viết thẳng hàng ) .
- Bài thơ lục bát phải trình bày theo thể thơ: Dòng 6 tiếng viết thụt lùi vào 2 ô li so
với lề vở. Dòng thơ 8 tiếng dịch ra 1 ô li so với lề vở và cứ như thế cho đến hết bài
thơ. Các chữ đầu dòng thơ đều phải viết hoa.
-Thông qua phân môn Tập đọc và các môn học khác…..Hoặc giờ ra chơi hằng
ngày tôi gọi một vài em hay mắc lỗi để tìm hiểu nguyên nhân mà các em sai về từ,
chữ, âm, vần thường mắc phải. Cùng trò chuyện trao đổi giúp các em đọc đúng
luyện thanh từ đó sẽ nhớ lâu hơn. Rồi dần dần đọc đúng, đến viết đúng.
Ví dụ: Các em đọc sai l/n
“Lính leo lên lầu
Lính lấy lưỡi lê
Lính lấy lộn lưỡi liềm”
Nếu học sinh đọc âm l thành âm n thì dẫn đến tình trạng viết sai chính tả rất
nhiều.Vì các em đọc sao viết vậy. Do vậy giáo viên cần phải luyện đọc cho thật
chuẩn, chính xác.
Với cách luyện đọc đúng thường xuyên dần dần các em sẽ khắc sâu hơn và hình
thành viết đúng chính tả. Như câu nói “Mưa dầm thấm đất”
- Phân tích từ khó:
Khi viết chính tả bài: “ Bàn tay cô giáo’’ đến phần phân tích từ khó giáo viên phải
phân tích cách hiểu nghĩa từ “ Bàn tay’’ để khi viết học sinh viết đúng không lẫn
lộn với từ “tai’’. Giáo viên phân tích: bàn tay, ngón tay luôn viết y (dài) nói chung
“cái tay” dùng để cầm, nắm một vật gì đó thì luôn viết y (dài) mới đúng. Còn cái
“tai” để nghe có nghĩa là lỗ tai thì viết i (ngắn) và chữ “tai” đi với chữ khác tạo
thành từ có nghĩa không tốt thì viết i (ngắn) như: tai nạn, tai ương…
Với cách giải thích như thế tôi chắc rằng khi viết chính tả ở bất kỳ môn học nào thì
học sinh dần dần có thói quen viết đúng chính tả. Ở phần lên lớp trong bước hướng
dẫn học sinh viết đúng từ khó, giáo viên nên chú ý giải thích nghĩa của từ và có sự
so sánh phân tích kĩ để học sinh hiểu được nghĩa của từ đã học thì học sinh mới
viết đúng từ ấy ở mọi lúc mọi nơi.
- Giúp học sinh hiểu ý nghĩa của từ :
Khi dạy chính tả giúp học sinh hiểu nghĩa của từ là rất quan trọng.Các em hiểu
nghĩa từ thì sẽ viết đúng.Thông qua các môn học Tập đọc, luyện từ và câu. Tôi
còn giúp các em có vốn từ rất phong phú thông qua các trò chơi học tập như “ Bộ
sưu tập từ của em”.
Ví dụ :
Dạy bài chính tả nghe viết: Một nhà thông thái
Qua bài tập 3a tìm những tiếng bắt đầu bằng r/d/ gi.
Tôi cho các em tìm những từ theo nội dung bài tập yêu cầu (theo nhóm).Sau đó
cho các em tổng hợp từ vào bảng nhóm theo cột (làm bộ sưu tập từ) của nhóm cho
các em trình bày nhóm nào có nhiều từ hơn và giải nghĩa đúng là nhóm thắng
cuộc-tuyên dương.
Sau khi các bạn trình bày học sinh dưới lớp đặt câu hỏi cho đội bạn giải nghĩa từ.
Bạn cho biết thế nào là dỗ dành?
- Chấm chữa bài:
+Việc chấm chữa bài cho học sinh sau khi viết chính tả, cũng không kém phần
quan trọng thường giáo viên thu tất cả vở học sinh để tự mình chấm.Như vậy giáo
viên đã bỏ qua bước cho học sinh tự sửa lỗi trên vở của mình hoặc của bạn ( học
sinh đổi vở cho nhau để bắt lỗi). Bằng cách này giáo viên chỉ có một điểm lợi là
giảm bớt thời gian trên tiết dạy. Nhưng có điểm bất lợi rất lớn là học sinh không
được tiếp xúc với bài mình vừa viết, không tự phát hiện ra những lỗi viết sai với sự
hướng dẫn sữa chửa của giáo viên. Như vậy việc tự bản thân học sinh sửa lỗi chính
tả cho mình hoặc sửa lỗi cho bạn sẽ giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu hơn những
lỗi chính tả mà mình mắc phải.
+Bản thân giáo viên luôn luôn phát âm chuẩn ở mọi lúc, mọi nơi, trong lớp, trong
trường tạo thành một thói quen để cho học sinh có ý thức viết đúng chính tả. Ngoài
việc phát âm chuẩn tôi còn kết hợp giải nghĩa từ giúp học sinh hiểu nghĩa từ và
phân biệt nghĩa từ của các chữ cần viết.
Ví dụ:
Cháu (cháu nội, cháu ngoại) cháu có nghĩa là người thuộc thế hệ sau không phải là
con.
Cháo (cháo gà, cháo lòng) cháo có nghĩa là thức ăn lỏng.
+Đối với học sinh thường viết sai thanh hỏi, thanh ngã tôi thường hướng dẫn các
em phân biệt cách phát âm hai dấu thanh này. Ngoài ra tôi còn cho học sinh học
thuộc luật chính tả với thanh hỏi, thanh ngã là: ngang-sắc-hỏi ( có nghĩa là tiếng
không có dấu thanh hoặc có thanh sắc thì thường đi với tiếng có thanh hỏi) huyền-
ngã -nặng( có nghĩa là tiếng có thanh huyền hoặc thanh nặng thường đi chung với
tiếng có thanh ngã). Nhưng luật trên chỉ tương đối thôi chứ không tuyệt đối.
Ví dụ:
Vất vả, chăm chỉ, sư tử, số lẻ.
Buồn bã, giã gạo, gìn giữ, giữa đường.
Hoặc để viết đúng thanh ngã tôi cho học sinh học thuộc 13 chữ thường gặp đó là:
cũng, chỗ, đã, giữ (gìn), giữa (đường), lẽ (phải), mãi mãi, mỗi, (một), nỗi
(niềm),học (nữa), những, sẽ (làm), vẫn (còn).
Hoặc để viết đúng dấu hỏi tôi cho thuộc 13 chữ sau: hất hủi, đắt đỏ, tất cả, lẻ lôi, lơ
lửng, trẻ trung, niềm nở, bền bỉ, vỏn vẹn, câu hỏi, sửa bài tập, ở lớp, kiểm tra.
Sau đó tôi cho học sinh làm bài tập điền thanh hỏi, thanh ngã các từ sau đây:
Câu hỏi thì điền dấu gì? ( dấu hỏi)
Giữa đường thì điền dấu gì?(dấu ngã)
+Viết đúng chính tả không chỉ là cách viết đúng tiếng từ mà gồm cả cách viết hoa,
cách dùng dấu câu.Vì thế tôi luôn nhắc nhở học sinh không viết hoa tuỳ tiện và kết
hợp với giảng dạy phân môn luyện từ và câu để hướng dẫn học sinh cách sử dụng
dấu câu.
+Điều quan trọng nhất là lúc nào giáo viên cũng trang bị cho học sinh, nhắc nhở
học sinh viết đúng chính tả ở tất cả các phân môn khác và chú ý chữa lỗi chính tả
cho học sinh mặc dù đang học phân môn khác và rèn luyện chữ viết cho học sinh.
+Giáo viên phải hoà mình gần gũi với học sinh khuyến khích động viên các em
học tập, khen thưởng kịp thời, phê bình đúng lúc.
+Tổ chức trò chơi cho các em hứng thú học tập.
+Tạo cho học sinh niềm vui, niềm tin trong học tập. Các em cảm nhận nhà trường
là mái ấm là nguồn vui không thể thiếu.Các em ngày càng yêu trường mến lớp và
ham thích học tập hơn.