2.

NHO GIA
a) Sơ lược sự hình thành và phát triển Nho gia
 Nho gia là một trường phái triết học lớn được hoàn thiện liên tục và có ảnh hưởng
sâu rộng, lâu dài đến nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc nói riêng, của nhiều quốc gia phương
Đông nói chung.
- Khổng Tử1 sáng lập ra Nho gia vào cuối thời Xuân Thu rất quan tâm đến các vấn đề đạo đức
– chính trị – xã hội. Ông coi hoạt động đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để gìn giữ trật tự
xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người. Đến thời Chiến Quốc, do bất đồng về bản
tính con người mà Nho gia bị chia thành 8 phái, trong đó có phái của Tuân Tử và phái của Mạnh
Tử là mạnh nhất2. Mạnh Tử đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Nho gia nguyên
thủy3, ông đã khép lại một giai đoạn quan trọng, - giai đoạn hình thành Nho gia; vì vậy, Nho gia
Khổng - Mạnh còn được gọi là Nho gia nguyên thủy hay Nho gia tiên Tần.
- Sang thời Tây Hán, Đổng Trọng Thư (179 - 104 TCN) đã dựa trên lợi ích giai cấp phong
kiến thống trị, khai thác lý luận Âm dương – Ngũ hành, đưa ra thuyết trời sinh vạn vật và thiên
nhân cảm ứng để hoàn chỉnh thêm Nho gia trong việc giải thích vạn vật, con người và xã hội. Ông
đã hệ thống hóa kinh điển Nho gia thành Tứ thư và Ngũ kinh, đồng thời đưa ra quan niệm tam
cương (quân – thần, phụ – tử, phu – phụ: quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ xử tử vong,
tử bất vong bất hiếu; phu xướng, phụ tùy), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)…, tam tòng (tại
gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh)… đối với phụ
nữ. Những quan niệm này đã nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn đạo đức và nền tảng tư tưởng xã
hội, tức trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến thống trị Trung Quốc. Nho gia không dừng
lại với tư cách một trường phái triết học vươn lên thành hệ tư tưởng xã hội mà còn được mở rộng
thành một hệ thống niềm tin, tín ngưỡng – nghi thức được phổ biến trong toàn xã hội. Nho giáo
xuất hiện và Khổng Tử được suy tôn làm Giáo chủ của đạo Học.
- Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc và Đạo giáo ra đời, Nho giáo hấp thụ một số tư tưởng
của hai học thuyết này để phát triển tiếp tục. Sang thời nhà Tống, Nho giáo mới thật sự phát triển
rất mạnh. Chính Chu Đôn Di (1017-1073) và Thiệu Ung (1011-1077) là những người đã khởi
xướng lý học trong Nho giáo. Với thuyết thái cực đồ, Chu Đôn Di cho rằng: Nguồn gốc của Vũ
trụ là thái cực; Thái cực có thể động và thể tĩnh; Động sinh ra dương, động cực rồi lại tĩnh, và
ngược lại. Aâm dương tác động sinh ra Ngũ hành, rồi sinh ra vạn vật. Ngoài ra, thời này còn có
hai anh em họ Trình - Trình Hạo (1032 - 1085), Trình Di (1033 - 1107), và Chu Hy (1130 - 1200)
… là những nhà lý học xuất sắc. Họ đã nêu ra thuyết cách vật trí tri (cách vật, trí tri, thành ý,
chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)…
- Nho giáo tiếp tục chi phối đời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc qua các triều đại tiếp theo,
nhưng nói chung, Nho giáo trong thời Minh – Thanh không có phát triển mới nổi bật mà càng
1
Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ (Sơn Đông) là nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn và đầu tiên của Trung Quốc.
Dù có làm một số chức quan ở nước Lỗ trong mấy năm, nhưng phần lớn thời gian trong cuộc đời của mình, ông chu du nhiều nước để trình bày chủ
trương chính trị của mình, và sau đó mở trường dạy học. Tương truyền, số học trò của ông có đến 3000 người, trong đó có nhiều người thành đạt mà
sử sách gọi là thất thập nhị hiền. Khổng Tử không chỉ dạy học mà còn chỉnh lý các sách ( san Thi, dịch Thư, tán Dịch, định Lễ, bút Xuân Thu). Lý
luận của ông là một hệ thống triết lý sâu sắc về đạo đức - chính trị – xã hội, được học trò chép lại thành sách Luận ngữ. Lý luận về nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín, dũng… tạo nên nội dung quan điểm về đạo đức của ông. Trong hoạt động chính trị – xã hội, ông chủ trương dùng đức trị (cai trị dân mà
dùng mệnh lệnh, đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ; cai trị dân mà dùng đạo
đức, đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng quy phục) và thực hành chính danh (danh không chính thì ngôn
chẳng thuận, ngôn chẳng thuận thì việc không thành, việc không thành thì lễ - nhạc bất hưng, lễ - nhạc bất hưng thì hình phạt không trúng lý,
hình phạt không trúng lý thì dân biết bám víu vào đâu? Người quân tử quan niệm được danh thì nói được, nói được thì làm được) để xây dựng
một xã hội đại đồng (xã hội có trật tự trên - dưới, mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân đều dựa trên địa vị của mình mà làm tròn bổn
phận được xã hội giao cho; xã hội có vua sáng tôi hiền, cha từ con thảo, trong ấm ngoài êm…). Nội dung đường lối đức trị của Khổng Tử hướng đến
thực hiện 3 điều là: dân đông, kinh tế phát triển, dân được học hành. Biện pháp để thi hành đường lối đức trị là: thận trọng trong công việc, gìn giữ
chữ tín, tiết kiệm trong tiêu dùng, thương người, sử dụng sức dân hợp lý… Để xây dựng xã hội đại đồng, Khổng Tử chủ trương dựa vào sự nghiệp
giáo dục để uốn nắn nhân cách, bồi dưỡng đào tạo nhân tài theo hai phương châm: tiên học lễ, hậu học văn và học đi đôi với hành, học để vận dụng
vào thực tế. Để học tốt, ông yêu cầu học trò phải có tinh thần khiêm tốn và cầu tiến, biết suy tư và luôn tích cực trong học tập…
2
Tuân Tử (315 - 230 TCN) phát triển Nho gia theo xu hướng duy vật; còn Mạnh Tử (372 - 298 TCN, người nước Trâu (Sơn Đông), học trò của
Khổng Cấp – cháu nội Khổng Tử) phát triển Nho gia theo xu hướng duy tâm.
3
Mạnh Tử tin tưởng sâu sắc vào sự tồn tại thiên mệnh và cho rằng, mọi việc ở trên đời đều do Trời quyết. Ông lý giải bản tính thiện của con người
thông qua lý luận về nhân, lễ, nghĩa và trí, trong đó nhân - nghĩa là quan trọng, và từ lý luận này ông khẳng định: Nhân chi sơ tính bản thiện. Mạnh
Tử chủ trương thực hành đường lối đức trị dựa trên tinh thần quý dân (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh - dân quý nhất, kế đến là đất nước
và lúa gạo, còn vua là cái quý sau cùng), nhân chính và thống nhất…

. cha chẳng ra cha. b) Một số tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo nguyên thủy: Nho giáo nguyên thủy là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người quân tử và cách thức trở thành người quân tử. trăm vật sinh sôi. con ra con. Xuất phát từ vũ trụ quan của kinh Dịch. Sang thế kỷ XIX. cúng tế. dân tộc.xã hội là những quan hệ đạo đức . xuất tính chi vị đạo. cách cai trị đất nước. nhưng mặt khác. đặc biệt là 3 quan hệ vua – tôi. hai ông tìm kiếm sự thống nhất giữa trời.chính trị. và Tính tương cận. vào sự phát triển văn hóa và giáo dục. Mạnh Tử là sách bàn về tính thiện.vạn vật một cách đúng đắn. Vì vậy.xã hội. gia đình yên vui. muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn chỉnh lại 3 quan hệ đó. đất. ông có thái độ hoài nghi. Nho giáo đã thật sự trở nên già cỗi. không thiên lệch do Khổng Cấp - cháu nội của Khổng Tử. Nhưng trong cuộc sống. kỷ cương phép nước lỏng lẻo là do 3 quan hệ này rối loạn. muốn cải loạn thành trị. Các quan hệ này được Nho gia gọi là đạo. làm cho con người trở nên vô đạo. Khổng Tử cho rằng: Thiên mệnh chi vị tính. rồi cả nước. bảo thủ của nó mà Nho giáo đã tạo ra tình trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc.Dựa trên thuyết thiên mệnh. 7 Khổng Tử cho rằng: Không hiểu mệnh trời thì không trở thành người quân tử. nghĩa là phải làm (giáo dục) cho cả nước. cả thiên hạ vô đạo. và ngược lại. Nó được trình bày trong một hệ thống các tư tưởng về đạo đức – chính trị – xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau. ông lại coi trọng tang ma. luân thường đạo lý suy đồi. vào quá trình rèn luyện đạo đức cá nhân. Nho giáo đã đóng góp lớn vào sự nghiệp tổ chức và quản lý xã hội. nền tảng của gia đình . Khổng Tử muốn dùng nó để giáo dục tình cảm lành mạnh cho con người. mọi nhà. Xuất phát từ quan điểm thiên mệnh. Đó là cái đức của người quân tử. Nhưng đến cuối thời đại phong kiến. học trò của Tăng Tử viết. mà thực chất là làm theo các nguyên tắc.vợ. một mặt. làm cho con người không giữ được tính do trời phú cho. dạy. cha – con. tập tục không giống nhau mà người này khác xa người kia. Hữu đạo là thể hiện được mối quan hệ giữa người và người. Kinh Lễ là sách ghi chép những lễ nghi đời trước dùng làm phương tiện duy trì và ổn định trật tự xã hội. càng khắc khe và bảo thủ. Đại học là sách dạy cách làm người quân tử. ông coi đó là giới tự nhiên với 4 mùa thay đổi. vợ ra vợ) thì xã hội ổn định. Trung dung. Vậy. 6 Về trời. vạn vật không ngừng biến hóa theo một trật tự không gì cưỡng lại được. do những tập quán. quốc gia. do danh . hoàn cảnh. chồng .ngày. Khổng Tử và cả Mạnh Tử đều xây dựng thuyết thiên mệnh. luận bàn của Khổng Tử.thực oán trách nhau (vua chẳng ra vua. Nho gia nguyên thủy lấy giáo dục đạo đức làm cứu cánh. Lễ. Khi các quan hệ này chính danh (vua ra vua. Tuy nhiên. Thư. cả thiên hạ hữu đạo. Kinh Thư là sách ghi lại cách tổ chức hành chính nhà nước. đặc biệt là trên bình diện đạo đức – chính trị . vững chắc và rộng khắp. đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. đất. Kinh Dịch là sách bàn về những biến đổi của trời. quỷ . do các học trò tập hợp chép lại sau khi ông mất.  Nho gia nguyên thủy cho rằng.thần không rõ ràng 6. giữa người và trời đất .  Khổng Tử ít quan tâm đến các vấn đề nguồn gốc của vũ trụ nên quan điểm của ông về trời . người và vạn vật. muốn giữ được tính cho con người phải lập đạo. 5 Luận ngữ là sách ghi lại các lời giảng. tôi chẳng ra tôi. tôi ra tôi. không còn sức sống nữa… Với tính cách là hệ tư tưởng chỉ đạo đường lối trị nước ở Trung Quốc trên 2000 năm. về đạo nhân nghĩa do Mạnh Tử . Đại học. giàu sang tại trời… . nghĩa là phù hợp với thiên mệnh. 4 Kinh Thi là sách sưu tập thơ ca dân gian với chủ đề chính là tình yêu nam nữ. Kinh Xuân Thu là sách viết về lịch sử biến động chính trị thời Xuân Thu. Trung dung là sách dạy cách sống dung hòa. một mặt. Sống chết có mệnh. do Tăng Tử . do tính phục cổ. tập là nguyên nhân làm biến tính ở mỗi con người. . làm cho Trung Quốc không bắt kịp trào lưu văn minh của thế giới. Về quỷ thần. giáo dục đạo đức cho con người.tự nhiên trong con người. cha ra cha. cả thiên hạ hữu đạo. Để chấn chỉnh lại 3 quan hệ đó. môi trường khác nhau. Điều này có nghĩa là: Con người có tính người. vợ chẳng ra vợ. Còn sự hiểu biết được thiên mệnh là điều kiện tiên quyết để trở thành con người hoàn thiện 7. tính người do trời phú. những truyền thuyết.học trò của Khổng Cấp soạn. ông coi trời là lực lượng siêu nhiên quy định số phận và cuộc đời của mỗi con người. Mạnh Tử)5.đất. Xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc loạn lạc. do điều kiện. tu đạo chi vị giáo. Dịch. mà nền tảng tận cùng của trật tự đó là thiên mệnh. chồng ra chồng. để tìm chỗ dựa vững chắc cho lý luận đạo đức của mình. con chẳng ra con. Khổng Tử cho rằng. chứ không để ý đến khía cạnh sinh học . Còn mục đích của giáo là làm cho mọi người.  Kinh điển của Nho gia gồm 2 bộ là Bộ Ngũ kinh (Thi. biến cố xảy ra ở đời trước nhằm làm gương cho các đời sau. con người và xã hội. Xuân Thu)4 và Bộ Tứ Thư (Luận ngữ. tập tương viễn.học trò xuất sắc của Khổng Tử soạn ra. chồng chẳng ra chồng). Đã biết có mệnh trời thì phải sợ và thuận mệnh.. Vì vậy. nhưng mặt khác. sự phú cái tính ấy về cơ bản là đồng đều ở mỗi con người. Đạo phải có giáo mới sâu sắc.

sách Đại học chỉ rõ rằng “Giao kết với người. hành vi ứng xử. Khổng Tử cho rằng. để lập lại trật tự. của giai cấp thống trị. Khi nói một điều gì đó hay khi làm một việc gì đó mà ta cảm thấy thỏa mái. thái độ. Do nhận thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử đã dốc sức san định lại lễ. Đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử. trật tự. lời nói và việc làm nhất trí với nhau. Khống chế mình theo đúng lễ… Người có đức nhân thì bên ngoài xã hội luôn cung. tức kẻ cai trị. chi phối mọi quan hệ giữa người với người trong xã hội. không thể có được đức nhân. Ở Khổng Tử. nhạy bén. còn Mạnh Tử thì cho rằng. Khổng Tử coi trí là điều kiện để có nhân. tang.tập. Nhân là nội dung bên trong của lễ. khoan hòa. thì lập đạo của người. Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân. Nhân giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người ta vẽ lên những bức tranh tuyệt đẹp. tín nhiệm. bất kể làm điều đó có đem lại cho người thực hiện nó ích lợi gì hay không. Vì lễ có thể: xác định được vị trí. Muốn có trí thì phải học. về việc mình nên làm. đức nghĩa dùng để đối xử với chính mình và tạo ra ta. đặc biệt là lễ của nhà Chu. nhường nhịn)… Quan niệm về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng. hành. Tiểu nhân và quân tử là hai loại người đối lập nhau không phải chủ yếu về địa vị xã hội mà chủ yếu là về phẩm chất đạo đức. còn người tiểu nhân. phải nói về nhân và nghĩa. khoan.phương châm cơ bản của Nho gia. Khổng Tử cho rằng. qui định về trật tự xã hội. nếu lập đạo của trời. pháp luật nhà nước như: sinh. thì nghĩa là dạ thủy chung. mà Khổng Tử cho rằng. lập đạo của đất. lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức. tử. huệ (cung kính. và nó được hiểu rất rộng. nói về âm và dương. trước hết. thể chế. hứng thú trong lương tâm thì đó là ta nói điều nghĩa. đễ (hiếu thảo. chớ nghe điều trái lễ. con người muốn sống tốt phải biết lấy nghĩa để đáp lại lợi. tín. chúng hợp với các quan niệm khác tạo thành hệ thống phạm trù đạo đức của phái này: nhân. tế lễ. Tín là đức trong mối quan hệ bạn bè và rất quan trọng với mọi người. để tạo ra người. còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài. trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. khi tự vấn lương tâm mình về điều mình nên nói. + Quan niệm về trí – sự sáng suốt nhận thức thấu đáo mọi vấn đề. đức nhân dùng để đối xử với người và tạo ra người. Tín củng cố sự tin cậy giữa người với người. kỷ cương phong kiến. tức nhân dân lao động. nhân là lòng thương người (ái nhân). loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa. đạo người. nếu nhân là lòng thương người. khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ. củng cố lòng tin với đạo lý thánh hiền. tín. nhân là cách đối xử của con người với con người. ông cho rằng chỉ có người quân tử. ta làm việc nghĩa. chứ không nên lấy lợi đáp lại lợi. Muốn thực hiện đạo làm người. Khổng Tử cho rằng. mới có được đức nhân. hình pháp…. Đức nhân thể hiện trong quan hệ với người khác. thảnh thơi.Quan niệm về nhân và nghĩa là quan niệm trung tâm của đạo đức Nho gia nguyên thủy. Nói chung. vai trò của từng người. Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết. + Quan niệm về lễ: Để đạt được nhân. lễ. hiểu thấu đạo trời. luật lệ. Khổng Tử cho rằng. mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt. chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ. cốt ở chữ tín”. dũng… + Quan niệm về nhân: Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản qui định bản tính con người. . ông khuyên chớ xem điều trái lễ. kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội. nghĩa. Khổng Tử suốt đời đã thực hiện phương pháp học và dạy là “học không biết chán. biết sống hợp với nhân. do hạn chế bởi lập trường giai cấp. Vậy. + Quan niệm về nghĩa: Theo Nho gia. lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán. phân định trật tự. nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi. vì lấy lợi đáp lại lợi sẽ sinh ra oán trách… Song. bên trong gia đình luôn hiếu. tức muốn thực hiện đức nhân cần phải: Điều gì mà mình không muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác. nói về cương và nhu. hiểu cả thiên hạ. Vì vậy. hôn. những qui tắc. nhân là lòng trắc ẩn. rộng rãi)…. Khi học cần coi trọng mối liên hệ mật thiết giữa các khâu: tư . còn đức nghĩa thể hiện trong quan hệ với mình. dạy không biết mỏi”. mẫn. sau đó. + Quan niệm về tín – lòng ngay dạ thẳng. nghĩa được hiểu là những gì hợp đạo lý mà con người phải làm. tin vào sự tốt đẹp và vững bền của các mối quan hệ cơ bản trong xã hội phong . kẻ tiểu nhân rành rẽ về việc lợi. trí.

nhưng Mạnh Tử cho rằng nhân chi sơ tính bản thiện. và muốn trở thành người quân tử cần phải tu thân. nghi thức và tổ chức bộ máy cai trị và trật tự tôn ti trong cả nước. trí). trong đó nhân là chủ. 11 Tu thân trước hết là thái độ ứng xử đúng đắn trong gia đình (thiên hạ gốc ở nước. do có nhân nên người quân tử không buồn phiền. làm cơ sở cho mục tiêu phấn đấu và nội dung tu dưỡng của con người là có tính hợp lý hơn. Lấy tu thân11 làm 8 Khổng Tử cho rằng: Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái ngu che mờ. ngũ luân . Trong tam cương có hai quan hệ mấu chốt là vua . trị dân. Đứng đầu ngũ thường là nhân. gọi đạo của Khổng Tử là đạo nhân. con nên con. lễ. Vì vậy. bởi vì. Để tu thân cần phải đạt đạo (con đường phải theo. do có lễ nên ai cũng có lòng cung kính. Gắn dũng với lễ cho thấy quân tử ghét những kẻ có dũng mà không có lễ. nhưng ông vừa cổ vũ. Dù bản tính con người là thiện. huynh – đệ. Tư thân tiếp theo là thực hành trách nhiệm với nước. ông chủ trương không chỉ dùng nhân. lễ. anh nên anh. và mở rộng thành ngũ luân (quân – thần. Đặc biệt trong hai quan hệ cha – con. đồng thời phải biết thi. nhân. Nho giáo . Cũng dựa trên thuyết thiên mệnh. trí. con người cần phải trường kỳ tâm dưỡng kỳ tính. nó là sản phẩm của xã hội và cũng là nguyên nhân trì trệ của xã hội đó. gắn dũng với trí để chỉ dũng không thể không có trí soi sáng. vừa dè dặt. Ý nghĩa tích cực “thuyết tính thiện” của Mạnh Tử là ở chỗ phát huy bốn đầu mối. nhưng trong cuộc sống của con người vẫn có cái ác. cải biến cái ác thành cái thiện.tam cương là vua tôi. nghĩa. vì vậy. khí phách anh hùng của những nhân dân đối với vua chúa phong kiến. Mặt khác. quan hệ mà con người phải biết giữ để ứng xử trong cuộc sống) mà trước hết là đạo quân – thần. phụ – tử.kiến. Khổng Tử cho rằng. trị quốc.con biểu hiện bằng đức hiếu. Cái ác ấy xuất hiện là do kỷ cương xã hội rối loạn. – tức gìn giữ cái tâm thiện ấy.tôi. nhà gốc ở thân mình): luôn tu sửa thân mình để làm cho mình xứng đáng với vị trí là một thành viên trong gia đình “cha nên cha. chúng là gốc của đức nhân. Cáo Tử cho rằng bản tính con người không thiện không ác. lễ. từ những phép tắc trong nhà người ta suy rộng và vận dụng vào việc xây dựng thể chế. bình thiên hạ. Để vãn hồi tính thiện ở con người thì phải lập lại trật tự kỷ cương cho xã hội trên cơ sở thực hành đường lối nhân nghĩa9. nhạc. trong đó có ba quan hệ chính . + Quan niệm về dũng – sức mạnh tinh thần. nếu dân không tin thì không thể cai trị được. nhạc mà phải dùng hình luật để giải hòa tính ác. Ai biết ba điều ấy tất biết phép tu thân. khi sinh ra mỗi con người đều có đủ nhân. tín). Muốn trí mà không muốn học thì bị cái sai trái che mờ. đối với người trị nước. Khổng Tử rất quan tâm tới chữ dũng. cha . Những đức con người thường xuyên phải trau dồi là ngũ thường (nhân. Biết phép trị nhân tất biết phép tề gia. cha con.Những phạm trù đạo đức thể hiện các nguyên tắc cơ bản của đạo đức Nho giáo 8 đạo đức hướng đến xây dựng mẫu người quân tử. thư. người biết hổ ngươi gần với đức dũng. gan dạ dám hy sinh. Từ phụng sự cha mẹ người ta nâng lên phụng sự nhà vua. chồng vợ.em phải thể hiện hai đức hiếu và đễ. phu – phụ10 và cần phải đạt đức (phẩm chất tốt đẹp của con người cần phải thể hiện trong cuộc sống). nghĩa. nhưng do tiêm nhiễm mà chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau. nghĩa. Tâm là cội nguộn của tính thiện trong con người. Mạnh Tử bỏ dũng thay vào đó lễ và nghĩa thành tứ đức (nhân. . Nếu Khổng Tử chú trọng đến tam đức thì sang thời Chiến quốc. chồng nên chồng. Nho gia đặt con người trong năm mối quan hệ với những lập luận khá chặt chẽ. Vương Sung cũng quan niệm bản tính con người có thiện. vợ nên vợ. do có nghĩa nên ai cũng có lòng u tố. do có trí nên người quân tử không nhầm lẫn. người ham làm gần với đức nhân. ông lại dè dặt đối với dũng vì người dũng là người không sợ sệt. thì trung đứng đầu. dũng biểu hiện sức mạnh và ý chí thực hiện mục đích của mình.Như vậy. 9 Tuân Tử cho rằng. những người đó sẽ phá phách. Ông cổ vũ tinh thần quả cảm. nghĩa. Vì vậy. Biết phép tu thân tất biết phép trị nhân. . lễ. bằng – hữu). biểu hiện bằng đức trung. Khổng Tử và Mạnh Tử đều nhất trí coi chuẩn mực đạo đức là tiêu chuẩn của người quân tử. Ông thường hay gắn dũng với nghĩa để kết luận người quân tử coi trọng điều nghĩa. Giữa trung và hiếu. nghĩa. phụ – tử. Khi mất phương hướng. gây nên những hậu quả tiêu cực. có ác. do có trí nên ai cũng biết lẽ thị phi. biết xấu hổ vì cái sai cái xấu để vứt bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa… Là đức nói lên tinh thần hăng hái.… . dũng). Muốn dũng mà không muốn học thì bị cái loạn che mờ… Người ham học gần với đức trí. Chúng toát ra từ tâm. lễ. luân thường đạo lý bị đảo điên. Nó thực sự góp phần củng cố trật tự xã hội. đến đời nhà Hán. ấy là gia đạo chính”. quan hệ anh . người quân tử có đủ tam đức (trí. Là người ai cũng có cái tâm. bản tính con người là ác.Theo Nho gia. Đổng Trọng Thư gọi là tam cương. em nên em. lòng can đảm. nước gốc ở nhà.năm mối quan hệ mà con người phải xác định và làm tròn trách nhiệm của mình trong các quan hệ ấy. làm cho phần tốt trong con người ngày càng phát triển. Muốn cương trực mà không muốn học thì bị cái ương ngạnh che mờ. trí. Do có nhân nên ai cũng có lòng trắc ẩn. quyết tâm khắc phục khó khăn. do có dũng nên người quân tử không có gì phải kinh sợ. không có trí. còn phần xấu ngày càng thu hẹp lại. Đổng Trọng Thư thêm tín thành ngũ thường. phu – phụ. 10 Sau này. Khổng Tử cho rằng.

Nho gia nguyên thủy Khổng . Ông cho rằng chỉ cần có ông Vua đứng đầu. vai trò tài đức của người cầm quyền và vai trò của dân với ý nghĩa là gốc là nền tảng của chính trị.Mạnh chứa đựng nhiều giá trị nhân bản và toát lên tinh thần biện chứng sâu sắc. Tiếc thay điều mơ ước trên của Khổng Tử và học trò của ông chỉ là điều không tưởng vì ông chủ trương đơn thuần lấy giáo dục đạo đức làm cốt yếu.. Chỉ có như vậy thì người quân tử . Ý tưởng về xã hội đại đồng cho dù đã làm lay động trái tim và khối óc của biết bao con người. nhà cầm quyền phải lấy đạo đức mà giáo hóa. là xã hội có giáo dục. nên sống yên phận. tuy nhiên. ảo tưởng. Với các đệ tử nói chung. nghĩa. cha ra cha. bằng sự yêu người. coi tề gia là tiền đề của trị quốc. là xã hội có đời sống vật chất đầy đủ. mọi người trong xã hội được giáo hóa. Chế độ công hữu với phép tỉnh điền của nhà Chu không còn giá trị thực tế nữa. bình thiên hạ. Biện pháp cơ bản để thực hiện nhân trị. Để trị nước họ phải trau dồi đức nhân (vua nhân). các danh nho nêu lên sáu đức: hiếu. vợ ra vợ…). nhưng nó mãi mãi chỉ là một lý tưởng chính trị rất cao đẹp của tầng phong kiến thống trị xã hội Trung Quốc. Cái gì giúp cho con người. biết bao nhiêu người đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của lý luận này. đễ làm gốc thì từ một nhà nhân hậu làm cho cả nước nhân hậu.gốc nhưng người quân tử phải biết hành động tề gia. hoặc ông vua có thể có được thiên hạ. các danh nho gộp thành một cụm ba đức: nhân. có quan hệ người với người tốt đẹp. xuất phát từ việc giáo dục. Vai trò của đạo đức theo Nho giáo là phương tiện chủ yếu để cai trị đất nước. Đòi hỏi của Nho giáo nguyên thủy về người cai trị . Dù vậy. Nói tới nước là nói tới vua. Thiên hạ (dưới gầm trời) luôn gắn với sự ngự trị của một bậc thiên tử.giai cấp cai trị mới xây dựng được một xã hội đại đồng13. 12 Thuyết nhân trị phát sinh từ học phái Nho gia được hiểu là sự cai trị đất nước đặt trên cơ sở bản thân nhà cầm quyền. nhận mệnh trời đứng ra bình thiên hạ. Đây là điểm khác so với quan điểm của Đạo gia – trường phái triết học nhấn mạnh bản tính tự nhiên của con người. không dựa vào quần chúng nhân dân bị trị. xa rời thực tế cuộc sống bấy giờ. Nhưng chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng của Nho giáo hoàn toàn không dựa trên các quan hệ kinh tế – xã hội. trọng trách. con ra con.người quân tử không thể là dân võ biền mà phải là người có một vốn văn hóa toàn diện là một đòi hỏi chính đáng. Đối với những người có vị trí. vua có sứ mệnh lớn là cai trị đất nước. Những đức được đề cao. lễ. Nó thể hiện tính nhân bản sâu sắc. khía cạnh xã hội của con người đã bị hiểu một cách hạn chế và duy tâm. Về những đức thường xuyên phải trau dồi. tín. nghĩa. lễ. mà nền tảng kinh tế của nó đã không còn. Thuyết nhân trị còn được hiểu là cách cai trị. 13 Đó là xã hội thái bình ổn định. đễ. dẫn dắt dân chúng chứ không phải dùng đến cưỡng chế. trí. Nho giáo khẳng định rõ ràng đó là đức Nhân. theo đó. vì vậy. trung. chồng ra chồng. là điều kiện quan trọng để hình thành và hoàn thiện con người góp phần củng cố và duy trì trật tự xã hội. chế độ tư hữu ngày càng phát triển. trong khi đó. Điều này không có trong Nho giáo hậu Tần. rèn luyện nhân cách cá nhân cho tầng lớp thống trị và chỉ dựa duy nhất vào tầng lớp thống trị là một chủ trương duy tâm. . sự hưng suy của xã hội đều do nơi giá trị bản thân của những người cầm quyền mà ra và vấn đề cốt lõi tập trung ở chỗ làm sao cho người cai trị có đủ tài đức. hiểu đạo đức và thực hành đạo đức là trên dưới hòa mục. Những lời răn dạy của Khổng Tử với học trò không còn hiệu quả trong đời sống xã hội. mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung. trí. quyết định vận mệnh thiên hạ. không xuất phát từ việc xây dựng nền sản xuất vật chất. đã đem gắn chặt nước với nhà. nghĩa là bên cạnh khả năng. Để hành động hiệu quả người quân tử phải thực hành đường lối nhân trị12 (cai trị bằng tình người.) và chính danh (cai trị sao cho vua ra vua. Nho gia nguyên thủy đã làm nổi bật khía cạnh xã hội của con người. là chính danh. dũng. nó mãi mãi chỉ là một lý tưởng. tức “bọn” tiểu nhân. phục tùng. nhiều danh nho nêu lên năm đức (ngũ thường): Nhân. nhà cầm quyền phải có đủ đức hạnh. trở thành chướng ngại cho sự phát triển. coi người như bản thân mình. rồi thiên hạ ắt được yên bình… Xã hội mà Khổng Tử mong muốn là xã hội của quá khứ. lễ. tôi ra tôi.. mà chỉ dựa trên các quan hệ đạo đức – chính trị – xã hội. trị quốc. coi là hạt nhân: nhân và lễ. Xã hội đại đồng là điều mong ước của nhiều thế hệ nhà Nho thời cận đại. có trật tự kỷ cương. Còn với thần dân. trừng phạt. Chỉ cần lấy hiếu. số phận của họ là hết lòng phụng sự. sẵn sàng xả thân bảo vệ Vua (tôi trung). tín. Sau cùng tu thân phải hướng đến bình thiên hạ. c) Nhận xét: Nho gia nguyên thủy khao khát cải biến xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc từ loạn thành trị là một khao khát thầm kín của cả thiên hạ lúc bấy giờ. Do không phù hợp với ước vọng của quần chúng nhân dân.