You are on page 1of 38

1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99715.

html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


(Tiếp theo kỳ trước)

9. Trong tiếng ồn ào của dòng xe cộ đường Võ Thị Sáu vọng vào, cộng với tiếng tivi ở căn-tin người ta đang xem bộ phim chiếu lại đêm qua, ông Hoàng Đạo thường phải cố
gắng nói thật to - Cung cách ấy gần với một vị giáo sư trên hội trường dõng dạc, khúc chiết. Nhưng hôm nay, nhân vật của tôi tỏ ra chán nản. Chúng tôi tạm ngưng dòng thời
gian quá khứ để trở về cuộc đời hiện tại. Trở về điều đã làm ông chán nản.

“Ở đời, ông thường buồn về điều gì nhất?”. Tôi hỏi - ông lắc đầu nhè nhẹ như đang tự nói với mình: “Tôi buồn mỗi khi gặp người nói dối”. “Làm sao biết được người ta đang
nói dối để mà buồn đây?”. “Tôi dễ tin lắm. Người ta nói là tôi tin. Vậy mà khi thẩm tra ra, khối người nói dối”.

Ông kể một thí dụ, lộ ra điều khá “lãng mạn”. Ở tuổi này, ông vẫn đang đeo đuổi một chương trình liên quan đến đầu tư, đến lĩnh vực kinh tế. Liệu ông làm gì được trong thời
buổi hiện đại và phức tạp này? Thời buổi mà người nhanh nhạy còn phải vã mồ hôi?

“Tôi chỉ giúp đỡ các mối quan hệ giao dịch, để đẩy mạnh gọi đầu tư vào, góp sức cho hiện đại hóa nhanh”.

Phải hiện đại hóa nền nông nghiệp, nếu không ta sẽ chỉ đi một chân. Ông đang giúp cho một phương án trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và thường buồn lòng khi nghe
đối tác nước ngoài kêu ca khi chạy thủ tục. Họ đã mất rất nhiều tiền mà chưa đi đến đâu. Rồi đùng một cái, ông lại thay đổi tâm trạng: lúc trước thì sốt ruột vì không hiểu cửa
nào cũng hoan nghênh ý đồ của dự án, mà thủ tục thì luôn luôn tắc. Rồi bây giờ thì ông buồn khôn xiết vì chính phía đối tác nước ngoài lại lỗi hẹn. Họ nói số vốn quá lớn,
phải để có thời gian vận động nguồn tài chính. Té ra là họ cũng chẳng có tiền…!

Những điều thông thường mà các nhà kinh tế gặp xoành xoạch, thì đối với ông, thật là khó hiểu. Chữ tín trong ông là một quá vãng - Còn chữ tín ở thương trường hôm nay
lại có những màu sắc khác. Ông già bị “khủng hoảng” lòng tin chăng? Trong cơn khủng hoảng đó, ông bộc bạch một tổng kết bất ngờ: “Sao tôi bị nhiều người ghét! Tôi biết
những sự thật mà họ không muốn ai biết. Bạn bè nói: anh có một tội không tha thứ được là nhiều kẻ thù quá. Anh biết quá rõ sự thật đời họ. Nhưng tôi tự phân tích tôi: Phải
lấy trung thực làm lẽ sống. Lời tôi làm mất lòng cô, nhưng tôi không thể không nói. Cho nên tôi được người quý rất quý, mà người oán rất oán”. Ngừng lại để uống nốt chai
sữa đậu nành, ông tổng kết:

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99715.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99715.html

“Tôi thành công vì nói thật. Lý lẽ của nó là: đời ngắn”.

Ông lý giải về cuộc đời của mỗi con người “từ 1 đến 20 tuổi còn ăn bám, đang được gia đình tạo điều kiện cho vào đời. Lứa tuổi này, ngay thương yêu cũng chưa lý giải nổi.
Thấy kẻ cướp bị bắt cũng vẫn thương. Ngoài 20 tuổi, đủ hay thiếu điều kiện chưa biết, nhưng anh đã vào đời: một nghề để kiếm ăn, một sự nghiệp cho mình. Nếu không tạo
được sự nghiệp lớn thì tức là chỉ kiếm ăn để sống. Đến 60 tuổi thì coi như không làm gì lớn được nữa. Đó là lúc coi lại quá khứ xem mình đúng, sai: bao nhiêu lần sai lầm?
Lừa dối bao nhiêu người? Kể cả trong tình yêu. Có thể hoạt động nhẹ nhàng: nuôi cá, đánh cờ, trồng cây. Rồi sống làm ngọn đèn cho con cháu nhìn, nhưng tự thấy là cái nợ
cho vợ hầu”. Thấy tôi bật cười, ông thuyết phục tiếp: “Nói như nhà văn Nguyễn Khải thì nếu đời anh lại gặp một thủ trưởng xấu nữa thì mất toi thì giờ. Cũng có những người
thấy giỏi hơn, người ta ghét. Thế là chết, là rủi ro cho con người. Tôi tự thấy thời gian ngắn, dối trá làm gì. Cũng đừng có đau khổ vô ích”.

Khi tôi bị bắt được thả về, mẹ tôi bị nhà cầm quyền bắt gia đình phải cưới vợ cho tôi yên ổn “khỏi đi làm loạn”. Hội tề địa phương phải theo dõi việc thực hiện này. Tôi lấy vợ
sinh con. Rồi thì tôi bị bắt lại, bả lấy người khác. Cách đây mấy tiếng đồng hồ, đứa con gọi điện cho tôi. Con nó đua xe bị bắt giữ. Nó nhờ can thiệp. Tôi bảo việc đó để công
an làm, tôi không tán thành đua xe. Phải nói thật, không nói dối mất thì giờ. Thành công cũng là thật, mà thất bại cũng là thật”.

Ông “tổng kết” là: luôn luôn nói thật. Vậy có trường hợp hãn hữu nào không, thí dụ như khi ông làm điệp viên cộng tác với người Pháp, ông có thật được không?

“Có chứ. Nguyên tắc của tôi là: nói thật tất cả những gì họ đã biết về tôi”. “Nhưng mà thôi, tôi chưa kể cho cô cái đoạn kết thúc cuộc đời làm báo phải không?”. Chính ông
đưa tôi trở lại với dòng thời gian câu chuyện quá khứ đang bỏ dở.

(Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99715.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


> Xem Kỳ trước

10. Như ta đã biết, sau khi đi xin ý kiến cụ Phan, cụ Huỳnh và gặp được Hải Triều, chàng thanh niên đã tham gia Công hội Đỏ, trở
thành đảng viên cộng sản năm 1931. Vào Đảng đầu năm thì cuối năm bị bắt. Ở tù ra, tiếp tục làm thợ. Khi bị đuổi việc thì viết
báo. Công việc đó vừa là một nguồn sống, vừa góp phần tranh đấu. Khi Hoàng Đạo trở thành thợ sửa xe lửa, bí thư Chi bộ của
Depol Tháp Chàm, anh được nhận một nhiệm vụ quan trọng: viết một tham luận “quyền tự do ngôn luận của giai cấp thợ thuyền”
để tự đọc trước hội nghị toàn kỳ báo chí Trung kỳ do cụ Huỳnh Thúc Kháng tổ chức, Hải Triều là tổng thư ký. Hội nghị tổ chức
vào năm 1936 tại nhà hàng Đông Pháp ở Huế. Hoàng Đạo phải nhờ một anh y tá tên là Giác nghĩ cách nào tạo điều kiện cho mình
ra bệnh viện Huế. Phải có cái cớ để đi dự hội nghị báo chí. Anh Giác bày cho đốt hạt na, nhỏ vào mắt cho mắt đỏ mọng. Thế là
anh được ra nhà thương ở Huế. Hội nghị báo chí tổ chức ban đêm. Có nhiều lính kín trà trộn trong đám đông. Anh phải trèo qua
tường bệnh viện để đi tới nhà hàng. Hải Triều dặn: cố gắng tính toán đọc làm sao bước xuống là kịp cho Phan Văn Hùm vừa
Điệp viên A.13 Hoàng xuống tàu. Hùm sẽ lên đọc tham luận về trí thức Nam kỳ với nền báo chí Việt Nam. Đọc xong bản tham luận khớp với thời gian
Đạo bố trí, Hoàng Đạo được Hải Triều rỉ tai: mật thám bao vây hết rồi. Anh đã chuẩn bị sẵn sàng điều này nên không bất ngờ. Trước
lúc đọc tham luận, bảo vệ hội nghị đã báo cho biết: đọc xong sẽ bị bắt.

Hải Triều đưa anh ra khỏi nhà hàng và dặn: Ra khỏi đây là nó bắt ngay. Anh em bảo vệ có thể giúp đưa ra tàu. Chỉ có thể bảo vệ tới đó thôi, về đến Tháp Chàm
nó sẽ đón bắt ở đó. Phải tìm cách tránh ga Tháp Chàm.

Từ ga Hương Thủy, Hoàng Đạo lên con tàu Hà Nội vừa tới. Theo lời hỏi thăm người trên tàu, biết mỏ vàng Bồng Miêu đang cần, anh xuống ga Tam Kỳ để tìm
đường vào mỏ. Không thể cứ dấn thân về Tháp Chàm: mật thám đang chờ ở đó. Xuống ga, anh đi xe đò lên ngã ba Trung Đàn (bây giờ là Trà Mi) vào hỏi thăm
đường ở một cái sở trà. Lúc đó người dân gọi theo tiếng Pháp là “Pơ-lantaxiông đờ Tê”. Người ta mách anh hãy ở đó đợi xe mỏ vàng ra. Để bảo vệ mình, anh

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html 1/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html

mua một giấy đỏ, một loại giấy tùy thân của Trung kỳ do đám ăn cắp móc túi, bán lại. Đi tìm đám ăn cắp này, nói “cần bài chỉ” là họ ra giá liền: 3đ5. Bây giờ
Hoàng Đạo vẫn còn nhớ cái tên người trong tờ giấy anh mang là Nguyễn Kiệt. Giấy tờ đầy đủ thế mới nhập được vào một làng dân phu mộ.

“Hồi đó người ta đãi vàng như sau: đào đá, xay thành bột, bỏ vào quay trong nửa tháng, mạt vàng lắng xuống. Nước sông tràn, dân Tam Kỳ ngồi đen bên bờ, lấy
hộp gỗ xúc cát, sàng đãi suốt dọc bờ sông”.

Ông còn nhớ, cứ nửa tháng, chủ lấy ra một cục lớn, bỏ quay với thạch tín, cho vào lò đốt cháy thành một lanh gô vàng lớn tới 5, 10kg. Bây giờ, ta có thể liên
tưởng tới cảnh đào vàng trong phim cao bồi Viễn Tây, đầy chất phiêu bồng. Nhưng với ông, chắc chắn là những ngày nhọc nhằn khủng khiếp. Bằng cớ là nó
khắc sâu vào ký ức từng chi tiết: “Ông chủ Tây, tên Đi-boa, mặc quần lãnh đen, lấy vợ Việt Nam, nói thạo tiếng Việt. Nuôi dê lấy sữa…”. Đúng là cái hình ảnh
Tây thực dân trong các đồn điền mà thế hệ sau chỉ thấy một cách mơ hồ qua các cuốn phim người Pháp làm như “Đông Dương”, “Người tình…”. Chàng trai thợ
Hoàng Đạo lúc đó được chính ông chủ “ra đề” thử tay nghề bằng một sản phẩm thợ nguội. Anh được nhận ngay làm thợ nguội, chuyên sửa các máy khoan, máy
bắn đá, máy nghiền. Ăn ở thì trọ ở nhà người thợ tiện tên là Lượng. Không lẽ cuộc đời của người đảng viên trẻ tuổi tới đoạn này chỉ dừng lại là để ẩn náu và
kiếm sống? “Tôi lập một chi bộ có ba người, gồm tôi và hai người thợ nguội Đỗ Thảo, Lê Ưng tiếp tục hoạt động ngay trong phong trào của công nhân mỏ vàng
Bồng Miêu. Chúng tôi còn nhớ, lúc đó đã phái người xuống Tam Kỳ (Đà Nẵng) liên lạc với ông Võ Chí Công (sau này là Chủ tịch nước). Lúc đó ông là cựu tù
chính trị phạm bị quản thúc và mang một tên khác. Ban đầu Hoàng Đạo rất ngạc nhiên, buồn phiền. Vì sao ông Võ Chí Công lại từ chối sự móc nối này? Vì sao
lại có câu trả lời là do ông đang bị quản thúc nên không hoạt động nữa? Mãi đến sau này mới hiểu - Ông Võ Chí Công đã vạch ra cho thấy sự thận trọng là một
nguyên tắc của hoạt động bí mật. Nhóm của Hoàng Đạo hoạt động ngang như thế, những người có tổ chức và cảnh giác không thể móc nối. Năm 1936- xứ Việt
Nam mà tác giả Pháp nghiên cứu gọi là “một nồi hơi không có xú páp” đến đây đã có một chút chuyển biến, nhờ vào phong trào Mặt trận Bình dân bên Pháp.
Người công nhân trẻ Hoàng Đạo trong lao động cật lực ở mỏ vàng đâu biết được hết toàn cảnh cách thức người Pháp áp dụng để khai thác giá trị xứ thuộc địa
này. Chàng trai cũng không thể biết những con số tới 40.000 người Pháp, công chức, quân nhân, cùng gia đình họ sống ở Đông Dương, mà ông chủ Đi-boa chỉ
là một hình ảnh. Đông Dương chiếm tới bốn phần trăm xuất khẩu của Pháp. Hôm nay, trong cái năm 1998 này, khi Hoàng Đạo đang tự chuẩn bị nơi ăn ở cuối
cùng của đời mình, ông biết rất rõ Việt Nam đứng hàng thứ hai, thứ ba thế giới trong xuất khẩu gạo. Nhưng ngày xưa ấy, chàng trai không thể biết nước Việt
Nam của anh lúc đó đã xuất khẩu 1 triệu rưỡi tấn bán ra mỗi năm. Lớn nhất Đông Dương lúc đó là “công ty cao su Đất Đỏ” (plantaxiông Terudơ như người dân
gọi). Phu cao su phần lớn người Bắc kỳ, ở Thái Bình là nhiều nhất. Quản lý phu là mụ đầm Sô-xe-rơ. Vì không chịu được khí hậu nóng bức, bà ta thường mặc
xì líp, su chiêng, tay cầm ba toong đánh phu cao su. Phu chịu mãi, có lần một nhóm nổi dậy đánh lại, bắt mụ trói vào gốc cao su, rồi trốn mất. Còn lại mụ đầm
bị kiến lửa đốt, kêu la. Đó là chút hình ảnh thực dân ở các đồn điền cao su. Nỗi cơ cực của những người phu đồn điền cao su sau này đã được nhà thơ Tố Hữu
khái quát bằng hai câu thơ “Bán thân đổi lấy đồng xu, thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng”… Chàng trai lúc đó có thể không biết các con số ấy, anh đâu có là
học giả. Nhưng anh biết rất rõ, biết một cách trực tiếp người thợ bị đau khổ đói rét ra sao. Đó là lý do khiến cho đời anh lại có một khúc ngoặt lớn.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html 2/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html

“Chúng tôi sống ở nhà Đỗ Thảo ở số 32 đường Hội An, hồi đó gọi là Phai-phô. Đà Nẵng lúc đó kêu là Tua-ran, Phai-phô là tỉnh lỵ của Quảng Nam. Vào năm
1937 có tin từ Tua-ran đưa vào: sẽ có “lao công đại sứ” thanh tra Gô-đa từ Pháp qua thanh tra mỏ vàng Bồng Miêu. Chúng tôi ráo riết lập một ủy ban hành
động, gom nguyện vọng của người thợ và làng phu mộ”. Các hoạt động này bị lộ. Chủ mỏ lại đuổi anh ra khỏi Bồng Miêu.

Chủ mỏ nói rằng sẽ đưa anh ra ngã ba Trung Đàn rồi thả ở đó, vì đó không còn là lãnh địa của mỏ do nó chịu trách nhiệm. Nghĩa là trục xuất anh. Nhưng anh
em thợ thừa biết ở ngã ba Trung Đàn sẽ có ai đứng đợi sẵn: bọn mật thám. Chúng đã bàn với nhau cả rồi. Hoàng Đạo bị bắt, anh em thợ mỏ biểu tình đòi thả
người đại biểu công nhân vô tội. Tên chánh mật thám Quảng Nam chất vấn Hoàng Đạo. Nó nói tiếng Việt sỏi như người Việt.

“Sau này giải phóng rồi, trên đường tôi ra Bắc phát hành cuốn “X.30 phá lưới”, tôi đã gặp lại chính cái người hợp tác với Pháp đón đường bắt tôi khi đó”.
Không kể ngay cái cuộc gặp gỡ hy hữu đó, ông chợt nhớ những người làm phát hành sách cam go, lúc ông làm việc ở báo Sài Gòn Giải Phóng. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99811.html 3/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99893.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


> Xem Kỳ trước

“Tôi chở hai xe cam nhông sách ra bán. Người ta hạch hỏi giấy phép xuất bản đâu. Làm gì có! Thế là tôi đem béng lên chỗ họp Quốc hội tôi bán.
Thấy tướng Võ Nguyên Giáp lại mua, tôi biếu ông thêm 5 cuốn. Rồi tôi chở ra đường Tràng Tiền - Hà Nội. Một cái thời thú vị - Người ta chen nhau
mua sách đến nỗi sập cả cửa sắt. Đến lúc có vụ kiện quyền tác giả, tôi cũng phải ra làm chứng”.

Vâng, nhưng ông đừng quên cái đoạn gặp kẻ đã hỏi cung ông ở cái ngã ba Trung Đàn vào năm 1936 ấy nhé - Tôi nghĩ thầm, thì vừa lúc ông tiếp
tục: “Tôi gặp người đồng chí cùng hoạt động, mới vô tình biết “người kia” chính là em đồng chí của mình. Tôi hỏi: mày bắt tao hồi xưa đó? Nó chối
đây đẩy: “Bắt anh làm chi. Anh như ông anh của tôi. Bắt anh thì khác nào bắt anh của tôi” - Tôi bảo: thôi cho qua. Già hết rồi. Chúng tôi kể lại
chuyện cũ, kể cả lối những hạch hỏi của tên chánh mật thám Quảng Nam tên là Rây-nô. Đúng, tôi có hoạt động đây. Nghe nói ngài Gô-đa đến, tôi
gom nguyện vọng lên trình, nói điều kiện ăn ở của dân phu mộ. Ăn không no. Mỗi lần nổ mỏ chết tới chục mạng người. Nó vặn lại: hoạt động
chưa được phép, hoạt động ngoài pháp luật…”.

Chắc là Hoàng Đạo đang nhớ lại thời kỳ ở Gia-rây, ranh giới Phan Thiết khi bọn mật thám đón đường để bắt anh, giam ở sở mật thám Phai-phô, rồi đuổi anh về quản thúc ở
quê nhà Dĩ An - Đó là năm 1939.

***

Anh nhớ trên đường bị áp giải về Nam kỳ, họ đi bằng tàu hỏa từ ga Kỳ Lam. Lính áp tải là một người dân tộc Ra-đê, bị còng chung với tù bằng một sợi xích. Còn anh bị còng
tay. Đầu chụp một thùng gỗ có khoét hai lỗ nơi mắt để nhìn đường, giống cái gông thời cổ. Khi ăn cơm mới được mở cái thùng ra. Những lúc đi vệ sinh, anh phải kéo theo cả
tên lính. Hỏi sao không mở còng để đi vệ sinh, tên lính đáp “Thằng Tây biểu!”. Nhiều lần anh muốn nhảy tàu, vì có thể lượng sức chủ động thoát - Nhưng nếu nhảy vậy, thằng
lính rơi xuống thế nào cũng chết, về đến Gia-rây, nhân viên mật thám Sài Gòn ra nhận bàn giao, giải về Catinat. Ở đó chúng tiến hành thủ tục quản chế tại Dĩ An.

11. Vào một buổi sáng mùa hè, vẫn trong mùa nắng El Nino, khi công việc của chúng tôi bắt đầu trôi chảy, chợt giật mình khi nghe ông Hoàng Đạo nói ngay khi vừa ngồi
xuống ghế: “Năm nay xem chừng muốn nằm nhiều hơn - yếu trong người. Điếc lần đầu. Lãng tai. Ngày trước ở Hà Nội tôi uống rượu ngang cỡ Nguyễn Tuân, nay thì không

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99893.html 1/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99893.html

uống nữa”. Rồi ông trầm ngâm thoáng qua, buông một câu: “Nhiều khi tôi muốn tự vẫn, hoặc kết thúc cuộc đời”.

Tôi ngạc nhiên, nhưng không phải thứ ngạc nhiên tò mò khi nghe “xì căng đan” để hỏi những câu đại loại như: ông có chuyện bực mình, oan trái, ông gặp một thất bại gì
chăng?

Không, con người bình thường này giản dị đấy, nhưng cuộc đời lại đầy từng trải và chiến công - Chắc chắn nỗi buồn này không phải là sự chán sống hoặc trốn chạy. Có ý
nghĩ muốn ngày nào đó “đã đến lúc kết thúc”, chỉ là tâm trạng của một người biết rất rõ giá trị cuộc sống và nhìn thấy mình đang đứng ở đâu trong đoạn đời. Hay nói đúng
hơn, đó là khát vọng được sống một cách hữu ích đang dày vò một con người đã có những năm tháng rất đặc biệt, giờ đối mặt với thực tế sau cùng. Tôi thầm ngắm trộm và
lượng đoán: con người này phải sống thọ - ông còn khá tráng kiện, dù mỗi lần lên nhà tôi, ông đều nói: “Tôi ớn cái cầu thang leo lầu nhà bà”.

Để giải bày về cái việc “muốn chết” kia, ông bảo: “Đôi khi nhớ lại toàn cục thì nói: Giờ đây sống gần như vô ích. Tôi chuẩn bị rồi. Con cái tôi chúng cũng nói như cô vừa nói:
sống là niềm an ủi, chỗ dựa của con cái. Ba là ngọn đèn cho chúng con nhìn. Sống phải có lẽ sống là đúng thôi - Các con nói đúng. Nhưng đèn leo lét rồi không giúp nó ánh
sáng được”.

Tôi không thể dằn lòng, kể cho ông nghe về người mẹ của tôi, sống ở xa hàng ngàn cây số, nằm liệt giường trước khi chết tới năm năm trời. Vậy mà những năm tháng đó tôi
vẫn thấy vững mạnh hơn là bây giờ côi cút. Đó chỉ là bộ xương nằm nơi ngôi nhà hoang vắng nhớ thương con cháu đi xa. Nhiều lần mẹ đòi chết vì nghĩ mình sống như vậy
làm khổ mọi người. Vậy mà tôi ở xa vẫn thấy mình có mẹ. Mình mạnh bước hơn trên cuộc đời gian khó. Khi có kẻ xấu hãm hại, lòng vẫn thấy có sự bảo vệ, chở che.

“Đúng! Đó là cảm nghĩ của người con. Những gì cô nói tôi đều hiểu. Nhưng nếu xét một cách khách quan, thì đó chỉ là sự biện minh. Kẻ cắp cũng có lý do của kẻ cắp. Anh
bắt gặp người đàn ông trong buồng vợ mình, người ta cũng có thể giải thích lý do được. Nước Pháp cũng nói lý do vì sao họ đến Việt Nam. Mỹ cũng giải thích tại sao nó phải
vào đây”.

Ông sống như thế nào trong những ngày này? Nếu nghe nói nhà có nuôi trăn, khỉ, chim, cọp, người ta hẳn nghĩ chắc là nhà khá giả. Khi đến thăm ông, tôi thấy đó không phải
là các vila, trang trại như những nhà nuôi trăn, cọp, thường phải có các khu vườn rộng. Đó chỉ là sự giải trí của một người già tận dụng các góc sân thượng nhỏ hẹp. Tất
nhiên, ông không thể nghèo khổ - năm con trai một con gái ông đều là đảng viên, nhiều người giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội. Tất cả đều trưởng thành đủ để lo
cho cha mẹ một cuộc sống tốt, đầm ấm theo kiểu gia đình cán bộ.

Một ngày của ông thế nào?

“Đừng hỏi một ngày, mà phải một ngày một đêm. Cô có biết cái thú vị của việc nhìn sao và trăng? Chiều đến tôi phải lao động, rửa cho sạch cái sân thượng nhỏ mà chim, khỉ
cùng sống ở đó - Rồi treo võng, tưới cây”. Vậy không ngủ sao? “Khoan, 10 giờ ngủ đến 12 giờ. Nằm ngoài trời. 12 giờ đọc sách hoài. Nhìn trời, lúc này có trăng tốt lắm. Lặn
phía tây là 1 giờ đêm. Thấy sao Hôm đợi sao Mai mà có khi nào gặp. Tôi sống bằng sách báo. Sách tới vài ngàn quyển. Báo thì có khá đủ. Tôi thích đọc sách của Mac
Namara viết về chiến tranh” - Thế đấy, ở cái thành phố vĩ đại này có đủ các kiểu sống, thì ông - và tôi - cũng góp phần hai kiểu, khi tôi suốt đời thèm ngủ hơn cả ăn, tất cả các
dòng viết ra đều vào ban đêm, đều khấu vào giấc ngủ, thì ông đang phải ngắm sao Hôm, sao Mai, trăn trở với cuộc sống và không sao ngủ được. Có lẽ đây là thời kỳ duy
nhất ông được dừng lại để thưởng thức (hay là chịu đựng?) quãng thời gian của người già ngơi nghỉ trong trăn trở. Trong niềm vui ngắm các cháu lớn lên. Đứa cháu nội của
ông mách bố nó là ông nhận xét bố nó “thược dược” (thực dụng - nhưng chú bé không hiểu chữ thực dụng là gì) - Không giống cả đứa cháu nội lớn hơn, học đại học Bách
khoa - Ông quan sát sự vật với tính “triết học”.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a99893.html 2/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100005.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


> Xem Kỳ trước
Ông rút ra nhận xét: “Nuôi thú, sẽ được quan sát, luôn thấy hành động. Con khỉ sờ đầu, cọp không chịu. Tay khỉ như người, nhưng lửa cháy cũng
thò vào. Con vật dại dột. Có cái dây xích, đi vòng vòng đứng chịu hoài, tự mình cột chặt. Con chim bồ câu thì có tình nhất: phải cùng nhau ấp trứng.
Con mái đi ra ngoài cũng không đi với con trống khác. Còn con trống thì không cho con nào đến chỗ vợ nó ấp. Tôi gọi cặp đó là niên trưởng, cặp bồ
câu già lớn, hay cắn con khác”.

Còn về sinh hoạt của ông? “Ăn uống: một ngày hai chén cơm nhỏ”. Tôi cười: vậy thì sống sao được? Ông cũng cười: “Thì tôi đang sống mà khỏe
đây này”.

Trước khi bước vào công việc tiếp tục kể về quãng đời sau cái vụ trốn và làm việc ở mỏ Bồng Miêu năm 1936 - ông kể một chuyện làm quen cũng
khá là “Sài Gòn”: “Đi ăn một bát cháo vịt. Có một ông già đứng ngó lom lom. Tưởng là một người nghèo đói đứng… tôi cho tiền. Ổng làm thinh. Rồi
kêu bia lại uống. Hóa ra ổng có tiền - Ổng là một người già bình thường, chắc cũng cô đơn như tôi vậy. Thế là thành bạn - Tôi gặp ông luôn ở quán
cháo vịt”.

12. Lần này thì tôi hỏi ông về hai lần gặp Ngô Đình Diệm từ những năm 30-40, lúc nhà họ Ngô chưa lên nắm quyền. Điều lạ lùng là một lần gặp trong tư thế người tù, lần
sau gặp trong tư thế chính khách sang trọng, nhưng Ngô Đình Diệm tuyệt nhiên không phát hiện. “Không phải là anh đã cải trang như kỹ nghệ gián điệp trong các tiểu thuyết
nước ngoài chứ? Anh không sợ Ngô Đình Diệm phát hiện sao?”. Không, Hoàng Đạo nói rằng hai lần gặp cách nhau khá xa. Lần gặp đầu lại ngắn và không mấy quan trọng.
Lần gặp sau là cuộc gặp quá cao cấp - Tiếp quốc vụ khanh của Bảo Đại kia mà - Có thể vì thế Ngô Đình Diệm không thể ngờ.

Lần thứ nhất, đầu khoảng 1931, Ngô Đình Diệm lúc đó làm quản đạo ở Ninh Thuận, khu vực người Chăm, đơn vị hành chính cuối cùng ở Phan Rang. Lúc đó Hoàng Đạo
đang làm việc ở Depol Tháp Chàm, là Bí thư Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở đó. Lý do bị bắt thì cũng xoay quanh việc tranh đấu, hoạt động trong phong trào công
nhân xe lửa, thuộc Đảng ủy đường sắt phía Nam, do ông Trần Văn Út làm bí thư - khi bị giải về Ninh Thuận, Hoàng Đạo gặp ông Trần Hữu Dực - Xứ ủy Trung kỳ bị bắt ở nơi
khác cũng bị giải về đó - Họ gặp nhau ngay nơi hỏi cung. “Ngô Đình Diệm mặc áo dài trắng, quần trắng, khăn đóng, tay cầm roi chỉ vào tôi quát: Quỳ xuống! Tôi định quỳ thì
nghe tiếng ông Trần Hữu Dực: Răng quỳ? Diệm: “Mi là cộng sản”. “Cộng sản răng quỳ? Cộng sản đánh Tây đâu có tội gì mà quỳ? Diệm: Mi treo cờ rải giấy! Ông Dực: Cộng
sản có làm tay sai cho Tây đâu mà quỳ. Có ông quỳ!”.

Hoàng Đạo ngừng lại cười, kể tiếp: “Diệm bực lắm quát lính “đưa xuống!”, lính giải Trần Hữu Dực xuống, Diệm quay sang tôi. Mi tên chi? Nguyễn Văn Hoàng - Mi có chủ
trương đình công không? Tôi không có chủ trương nhưng tán thành các yêu sách hợp lý như uống nước chín trong giờ làm việc. Chúng tôi bị nước độc, ốm đau vì công việc,

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100005.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100005.html

sao không được hưởng chế độ đau ốm vì công tác. Vì sao cũng làm việc, lương người Pháp 10 đồng một ngày, chúng tôi chỉ 1 đồng? Làm sao sống? Yêu cầu phải tăng
lương…”.

Lần ấy Diệm chuyển vụ Hoàng Đạo về tỉnh để xem xét - Còn lần gặp thứ hai? Hoàng Đạo lúc đó đã ở một tư thế khác, ông đã trở thành quốc vụ khanh, thay mặt Bảo Đại ra
Huế để tiếp cận với các đảng phái nhân sĩ. Ông Trần Văn Lý, hội đồng an dân Trung kỳ mời Ngô Đình Diệm từ tòa khâm mạng sang gặp bàn việc thành lập chính phủ theo ý
đồ của người Pháp muốn - Người Pháp hy vọng vào một bộ mặt mới, có đủ sức chống lại kháng chiến của Việt Minh, của cụ Hồ đang uy tín lớn. “Tôi vẫn nhớ đó là ngôi nhà
ở gần cầu Ga Huế, một vila loại bình thường, cất chưa xong. Đến cùng với Ngô Đình Diệm, có hai linh mục ngồi hai bên trong suốt buổi hội đàm. Tôi nói rằng đức quốc
trưởng Bảo Đại cho tôi chuyển lời thăm sức khỏe và mong “ngài” dành thì giờ trong việc giúp lập ra chính phủ”. Ngô Đình Diệm đã nói gì? Trong buổi hội đàm thân mật ấy,
Hoàng Đạo còn nhớ rõ:

“Diệm nói: Tôi không muốn nói với đức quốc trưởng Bảo Đại những lời tôi nói ở đây với ông hôm nay. Nước Việt Nam là hành lang ở Đông Nam Á - Thái Bình Dương. Một
nước nhỏ lại có Chúa ban cho đặc ân có vịnh Cam Ranh. Ai làm chủ Cam Ranh sẽ làm chủ Đong Nam Á - Thái Bình Dương. Mà Việt Nam ta thì yếu ớt không đủ sức bảo vệ
hành lang, bảo vệ Cam Ranh của mình. Phải có một nước lớn với hải quân hùng hậu chiếm giữ Cam Ranh, làm chủ đất nước này. Việt Nam nhất thiết phải lệ thuộc một
nước lớn. Các nước ấy là Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc. Ông phải chọn một trong ba nước ấy. Tôi nghĩ đã không tránh được kiếp nô lệ thì phải chọn làm nô lệ sống trong cái
chuồng vàng chứ đừng ở trong cái chuồng gỗ mục của Pháp hôm nay. Vấn đề ông làm thủ tướng hay tôi làm, không giải quyết được gì. Tôi khuyên ông đi Mỹ với tôi, khi về,
tôi sẽ ở cương vị tổng thống, còn ông, phó tổng thống. Duy có một điều cần là ông phải có lực lượng để giúp chúng ta khi thời cơ đến”.

(Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100005.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100109.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


> Xem Kỳ trước
Hoàng Đạo kể lại lời Diệm. Ông nhận xét: “Từ ngày đó ông ta đã chọn con đường theo Mỹ rồi”. Diệm là người thông minh, mưu lược ghê
gớm, sau này ác ghê gớm. Và có người cho rằng Diệm cũng yêu nước theo kiểu độc tài, khó bề lay chuyển. Lúc đó tôi hứa với Diệm là sẽ
suy nghĩ lại, nhưng thật ra phải thỉnh thị báo cáo lãnh đạo”.

Chủ trương của tôi là không phải quan tâm quá nhiều đến các chức tước trong cái chính phủ bù nhìn ấy. Cả nước chỉ một mục tiêu: đánh
giặc, thắng sớm ngày nào hay ngày đó. Chiến tranh kéo dài thêm một ngày là một ngày đau khổ. Yêu cầu lúc đó là chiến thắng nhanh, kết
thúc kháng chiến chứ không tổng thống thủ tướng gì cả. Chính quyết định này đã đưa đến một kế hoạch hành động tạo nên chiến công
đánh chiến hạm Amyot D’inville vang dội. Chiến công mà đến ngày hôm nay tổng kết là một trong những chiến thắng lớn nhất của ngành
Tình báo Công an trong kháng chiến chống Pháp.

Ta đành bỏ phí một cơ hội lớn của nghề tình báo, lợi thế gài được người vào lãnh đạo cao nhất chính phủ của địch.

Chỉ thị của Trung ương lúc đó là: để hỗ trợ cho chiến dịch biên giới, phải đánh phía biển thật mạnh…

Nhân câu chuyện về cuộc gặp Ngô Đình Diệm, tôi muốn ông liệt kê cho danh sách những nhân vật tên tuổi trong cuộc đời dài gần một thế kỷ mà ông gặp. Hoàng Đạo lắc
đầu: Làm sao nhớ nổi! Sẽ là một danh sách dài: từ cụ Phan Bội Châu đến Bác Hồ, các nhà văn hóa, các cán bộ cách mạng chỉ huy quân sự, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu,
Tố Hữu, Hải Triều, Võ Chí Công, Nguyễn Lương Bằng, Trần Hữu Dực, Nguyễn Tạo, tướng Nguyễn Sơn, Nguyễn Bình… Lê Giải, Nguyễn Hữu Khiếu, sau này còn có các cán
bộ trong ngành công an và rất nhiều người tên tuổi khác…

13. Cuộc đời của Hoàng Đạo có nhiều giai đoạn, là nhân chứng của nhiều sự kiện lịch sử, kéo dài hết cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, là một trong những
người Việt Nam gia nhập Đảng rất sớm, từ khi Đảng Cộng sản mới ra đời. Tù đày trong các nhà tù từ những năm 30-40. Sau đó là khi Cách mạng Tháng Tám thành công,
ông ra Thanh Hóa làm Trưởng ty Công an trong những năm nhà nước cách mạng còn non trẻ - Rồi kháng chiến trường kỳ, giặc Pháp chiếm đóng, ông làm điệp viên leo cao,
kết thúc bằng chiến công đánh chiến hạm. Vì sao đời ông lại gắn với Thanh Hóa?

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100109.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100109.html

“Khoan hãy nói đến đoạn Thanh Hóa. Tôi sẽ kể cô nghe nốt những năm còn ở Nam bộ và lý do để tôi “khánh thành” sà lan giam tù Nam kỳ khởi nghĩa”.

Vâng, để hiểu cho kỹ những gì đã thấm vào ông như một sự chuẩn bị đầy đủ của nhân cách và lòng yêu nước. Điều đó rất cần cho sự lý giải cuộc đời ông sau này.

Thời kỳ hoạt động ở mỏ vàng Bồng Miêu bị đuổi về quản thúc ở quê nhà Dĩ An, lúc đó phong trào cách mạng đã sục sôi lắm rồi. Năm 1940 Nam kỳ khởi nghĩa, người ta gọi
“đi thôi ông ơi, đi cướp chính quyền. Các lực lượng làm mít tinh đã chờ ở đó cả rồi. Ở Trường Thọ, bà con đang chờ lực lượng Việt Minh tới”. Nhưng khi khởi nghĩa chưa tới,
các cán bộ của phong trào, trong đó có Hoàng Đạo đang trên đường đi tới cuộc mít tinh thì bị bắt. “Thằng Quản Châu nó đuổi theo tôi ở giữa đường. Vật nhau với nó, tôi
vùng tháo chạy, nhảy qua rào để xuống con mương. Nó bắt lại được. Thế là bắt đầu lại cuộc đời tù”.

Hoàng Đạo ngừng lời. Không phải ông nhớ lại những chiếc sà lan khủng khiếp, mà có lẽ nhớ lại một người: Ông Trần Văn Út, người đã cùng hoạt động thành lập Đảng ủy
đường sắt, khi còn là công nhân xe lửa - “Anh Út chính là rể của ông Trần Hữu Độ, một trí thức lớn. Tôi lúc đó là một trong đoàn đại biểu công nhân viên chức hỏa xa phía
Nam do ông Trần Văn Út làm trưởng đoàn, tham dự tổng đình công của công nhân đường sắt. Ông Độ là người góp phần tuyên truyền, dịch lý luận chủ nghĩa Mác in thành
từng cuốn bỏ túi. Anh Út bị giặc đánh đến chết. Trong tù, tôi chứng kiến tấm gương này, vậy mà nay không một ai nhắc tới anh!”.

Quãng đời làm công nhân xe lửa, ở Depol Tháp Chàm đó còn để lại bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu điều băn khoăn về con người chưa được nói tới - Hoàng Đạo cầm cuốn
sổ ghi chép của tôi, ông vẽ lại chiếc chìa khóa bằng tuýp có cán, mạ crôm. Đó là kỷ niệm của ông, người công nhân trực tiếp làm ra chiếc chìa khóa, ghi lại mốc lịch sử tuyến
đường sắt xuyên Việt được nối liền đường xe lửa Đông Dương, lúc đó chỉ mới xây dựng từng đoạn. Hảo Sơn là chỗ ráp nối. Trong cái ngày tuyến đường sắt lần đầu tiên
được nối liền. Đức vua Bảo Đại sẽ cầm một chìa khóa, còn chiếc chìa khóa thứ hai do toàn quyền Đông Dương Pasquier cầm. Hai người vặn hai ốc nối liền đường sắt bằng
hai chiếc chìa khóa đó.

Bây giờ ngôi nhà tại đường Lê Văn Sỹ thành phố Hồ Chí Minh, ông luôn có một “xưởng thợ” nhỏ gồm các đồ nghề. Ông dùng để dạy thằng cháu nội đang là sinh viên đại học
Bách khoa. Từ cái ngày là anh thợ làm ra hai chiếc chìa khóa thông đường sắt ấy, cho đến lúc về hưu là chuyên viên 5 của ngành công nghiệp, trải quãng đời mấy chục năm.
Có lúc người ta nhớ tới ông như một người thợ giỏi, lắm sáng kiến, tay nghề cao. Có lúc thì ông được nhìn nhận như một nhân vật tình báo đầy huyền thoại. Nhà tình báo ấy
nhớ lại ngày máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Ngọc Hà, Hà Nội: “Lúc đó tôi làm giám đốc nhà máy chè Phú Thọ - Tôi bảo lính cũ của tôi lên Ngọc Hà, chỉ cho họ lấy những mảnh xác
máy bay. Tôi làm thành bộ bàn ghế ngồi, có khắc cả tên viên phi công bị bắt. Khi trở về miền Nam, bè bạn mỗi người lấy một cái. Tôi còn làm một chiếc bật lửa nhờ ông Xuân
Thủy, trưởng phái đoàn ta tại hội nghị Paris chuyển qua Kissinger kèm thư gởi cho Tổng thống Mỹ Nixon. Và cũng nhờ ông Xuân Thủy nói có một người thợ nguội Việt Nam
chuyển tặng Tổng thống Nixon chiếc bật lửa làm từ xác máy bay Mỹ. Nghe nói rằng Tổng thống Nixon đã gởi lời cám ơn.

Thì ra, nhà tình báo, người thợ này còn có cả chất tưởng tượng lãng mạn của một thi nhân và cũng có thể nhận ra chất của một chính khách ngoại giao trong hành động ấy.

(Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100109.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước

14. Nhưng bây giờ phải quay lại câu hỏi: người thợ xe lửa quê Dĩ An, Thủ Đức, Sài Gòn, cớ sao trở thành Giám đốc Công an Thanh Hóa?

“Xứ ủy Trung kỳ xin tôi ra làm Giám đốc Công an Thanh Hóa. Trước đây tôi có đến đó là do tìm móc nối hoạt động, liên lạc với Đảng bộ xe lửa. Lúc đó phía Nam có nhà máy
xe lửa Dĩ An quê tôi, ở Vinh có Tràng Thi, Hà Nội có xe lửa Gia Lâm. Còn Depol là những chỗ nối, bảo trì sửa chữa đầu máy. Sau khi tôi bị bắt vụ Nam kỳ khởi nghĩa, ở sà
lan, một năm sau nó đưa ra tòa án quân sự kêu án một năm. Chúng không tìm ra bằng cớ gì. Ra tù, về lại quản thúc ở Dĩ An thì vừa gặp Tổng khởi nghĩa. Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thành công. Tôi được chứng kiến và tham gia cướp chính quyền ở Thủ Đức”.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html 1/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html

Trước đó, khoảng năm 1943 Tố Hữu đang hoạt động ở Thanh Hóa. Theo Hoàng Đạo nhớ thì Tố Hữu lúc đó đã vào Xứ ủy, đang là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Ông biết
Hoàng Đạo vì trước đó đã quen biết cả những người hoạt động cùng thời kỳ như Hải Triều, Tôn Quang Phiệt. Lúc đó quân Tàu Tưởng từ phía Bắc vào, đem theo cả những
ông “cách mạng” lưu vong ở Xiêm và Trung Quốc như Đinh Chương Dương, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần… phía Nam, quân đồng minh Anh đi đến đâu, đưa Pháp
chiếm lại tới đó. Tình thế nhà nước cách mạng non trẻ thật hiểm nghèo. Quân Tưởng nhếch nhác ô hợp, vợ con đùm đề, chăn chiếu đi theo. Hình như họ phải gom cả dân
cho đủ mấy sư đoàn kéo vào. Chính lúc này Xứ ủy Trung kỳ chủ trương tìm một người can đảm, thông minh ra làm Giám đốc Công an Thanh Hóa. Đó là lý do khiến Hoàng
Đạo đã gắn bó với xứ Thanh ngay khi chính quyền cách mạng mới thành lập được một tuần lễ. “Tháng 10 tôi ra tới nơi. Tỉnh ủy giao nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, tổ chức
Ty Công an Thanh Hóa, gây dựng nên từ một bộ phận Công an xung phong Việt Minh. Tôi mở trường. Và để nắm chắc địa bàn công tác, tôi sưu tầm viết các quyển cẩm
nang: nhân vật chí, địa dư chí. Tôi nhờ các trí thức tại chỗ giúp đỡ và hoàn thành “bộ tài liệu tự túc như vậy”. Từ những năm 45 là người cán bộ đã biết tự tìm ra cách làm
khoa học để làm nhiệm vụ, thật dễ hiểu vì sao ông nổi tiếng là cán bộ công an có năng lực tổ chức. Ông nhớ lại tình hình lúc đó.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html 2/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html

“Thanh Hóa có lúc như có hai chính quyền. Chính quyền Việt Minh đóng ở tòa sứ Pháp. Quốc dân Đảng dựa thế lực quân Tưởng chiếm khách sạn Tứ Dân. Họ cũng giở đủ
trò, bắt cóc, giam người, đặt trạm gác trong thị xã. Còn trí thức Khu 3, Khu 4, một số đi tản cư, lên Việt Bắc, số khác vào Khu 4 ở Quần Tín, Thanh Hóa. Một việc quan trọng
nhất lúc đó là không thể để Quốc dân Đảng đòi chia quyền lãnh đạo với nhà nước cách mạng còn non yếu. Tôi yêu cầu một cuộc họp để bàn về vấn đề này, mời các nhân sĩ
phát biểu. Họ cho rằng công nông chỉ cướp chính quyền, còn quản lý xã hội phải là họ, các nhân sĩ. Các tổng đốc, án sát nhân sĩ Quốc dân Đảng lên án cách mạng: “Các anh
khủng bố nên nhân sĩ không muốn cộng tác”. Tôi nhân danh phái viên chính quyền Trung bộ phát biểu, nói rõ mục đích ổn định trật tự an ninh củng cố chính quyền vững
mạnh đang ở tình thế ngàn cân treo sợi tóc - Không thể ngồi đây trong lúc toàn dân chống ngoại xâm cứu nước, một nhóm người lại có tư tưởng theo Pháp xâm lược, theo
Quốc dân Đảng, không theo tư tưởng cứu quốc của Cụ Hồ. Cách mạng phải có một sức mạnh chứ không chia năm xẻ bảy, tranh giành địa vị được. Trong số các vị ngồi đây,
nói thật, tôi còn tiếp tục bắt một số người!”.

Ông tuyên bố các đoàn thể trong Việt Minh, chủ nhiệm là do Đảng cử. Lúc đó vừa mới chuyển từ Việt Minh qua Liên Việt. Nhưng năm đầu cách mạng non yếu, phải mạnh
tay. Người tốt phải được chọn lựa và kiêm cách hướng người ta làm theo lẽ phải. Những lý lẽ đơn giản ấy của mọi cuộc cách mạng, không rõ ông đã học được ở đâu -
Không phải trong các nhà trường, mà trong phẩm chất của người cách mạng. Ông như đã nắm chắc một hướng đi, rồi cứ băng mình mà tới, chủ động và tự tin - “Nguyễn
Đức Quỳnh, Đặng Trần Hồ đòi chia quyền, không thể được, phải trị hết!”. Nghe họ nói xấu về chính quyền cách mạng, có lúc Hoàng Đạo làm cho những kẻ cứng đầu bị “roi
quất” bằng lời tuyên bố thẳng thừng: “Đừng có nói cách mạng khủng bố. Cần bảo vệ chính quyền thì trong các người ngồi đây còn có người bị bắt nữa. Tôi sẽ bắt nữa!”.

Nhớ đến đây, Hoàng Đạo cười: “Có lẽ lúc đó mình cũng hơi nói tầm bậy chăng, chả có sách nào dạy cả. Chỉ vì lòng mình không thể nào dung hòa được với lối tự mãn, cái lối
khinh bỉ người lao động của họ. Họ chê Ủy ban nông dân dốt nát không biết làm việc. Có người còn đọc: Xe xanh cờ đỏ sao vàng. Ai lên ngồi đó hai hàng lệ rơi - để nói xấu
chính quyền chuyên chính.

(Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100179.html 3/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100283.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


> Kỳ trước

“Phản động mà, không bắt sao được - Tôi chỉ tay: vậy mời các cụ về, còn cụ này, cụ này ở lại. Tôi cho bắt luôn. Không thể nhu
nhược được - Nhưng rồi ông giám đốc công an dữ dằn ấy chỉ giữ “các cụ” lại để giải thích, bắt làm cam kết rồi cho về cả - Vậy
là cương, nhu cũng uyển chuyển, nhịp nhàng. Ông kể một lần bắt linh mục điền hộ Phát Diệm trong âm mưu đưa Pháp nhảy dù
lập xứ công giáo tự trị. Thế cách mạng lúc đó “chỉ mành treo chuông”. Dân quân bắt được vị linh mục giải về, ổng chống đối
không thèm bước đi. Dân quân du kích phải lấy võng khiêng - Ông giám đốc công an phải dùng lời lẽ thuyết phục. Hai người
ngồi tranh luận ở sa lông. Người linh mục cuối cùng đã hiểu ra. Lòng yêu nước của người giáo dân cũng đã được ghi nhận.
Những tình thế lúc đó không có điều luật nào quy định. Tất cả được giải quyết hầu như dựa vào năng lực, vào quan điểm của
người cán bộ. Chính quyền non trẻ lúc ấy còn phải giải quyết đến những tranh chấp quyết liệt.

“Thí dụ có miếng đất, làng này cấy, làng kia gặt, chỉ chuyện gặt thôi cũng đánh nhau” giết mất mấy mạng người. Giết rồi, tri
phủ cho chôn vào đất bên kia để giành ruộng ăn tiền. Tôi sai trinh sát, điều tra cả hai bên, tìm ra tên đầu sỏ xúi giục giết người.
Mỗi lần đi đánh lộn “quyết tử” như thế họ làm thịt chó uống rượu, lùa nông dân đánh nhau. Tôi bắt những thằng đó. Ruộng
chia hai, mỗi bên cấy một nửa. Vậy mà cứ giành hoài, có lúc tôi phải làm lại.

Suốt thời kỳ làm công an đó, ông có đánh ai không?

“Có ai cho phép đánh người đâu - Vậy mà tôi có đánh đấy. Bạt tai vì giận lúc đó nó khiêu khích chửi bới cách mạng chứ hỏi cung thì không đánh bao giờ”.

Ông kể lại một chuyện đánh người. “Có một người phụ nữ tên là Kim Oanh. Mặc áo lụa, nó cố tình quạt cho sút khuy áo ra - Nó để chân lên chân người hỏi
cung. Nhiều anh “đổ”. Tôi bảo nó đưa chân lên xem, cái chân hay đặt lên chân cán bộ ấy, vụt cho nó một cái nhớ đời. Rồi có lần hai cán bộ thu thuế bị đám côn
đồ ở một làng công giáo đánh chết. Tôi gọi lũ ấy lên, tôi đánh”.

Nhưng ông còn đánh cả công an cấp dưới của mình? Không, câu chuyện là như thế này, nếu gọi là đánh cũng được. Bởi sự thật ông chưa kịp xử trí thì họ đã ù té
chạy. Có kẻ nhảy bừa cả xuống sông, trốn tới mấy chục năm sau. Câu chuyện bắt đầu từ lúc Tỉnh ủy mời ông giám đốc công an đến cho biết dư luận đang đồn
về sai lầm của cán bộ công an của ông: “Bắt được con gái đi buôn lậu, giam trong phòng ở khách sạn ga. Mua rượu về uống vừa hỏi cung, vừa bắt người ta cởi

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100283.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100283.html

đồ…”. Nghe thế, ông giận sôi lên, quyết bắt quả tang. Hỏi chủ nhà, biết hết bài trí trong phòng nơi diễn ra cuộc hỏi cung, ông đề nghị phá ngăn tủ, đứng nấp
ngay trong đó. Đến lúc cần xuất hiện, ông ào xô cửa tủ nhảy ra thét lên “làm ăn như thế này à?”. Lắm kẻ sợ quá tung cửa chạy, ra thẳng Phát Diệm rồi tìm
đường vào Nam không quay lại nữa. Ở Thanh Hóa có làng Thủy Cơ các hộ dân sống trên thuyền. Công an thường bắt giam đám buôn lậu ngay dưới ghe thuyền
và có người lợi dụng làm bậy. Ông tìm thẳng xuống chủ thuyền, dẹp hết cô đầu, đuổi khách hút thuốc phiện. Ông thu mình ngồi nấp sau lưng bà chủ mập ú,
trong bóng tối quan sát. Nhờ thế, tận mắt thấy cán bộ của ông nằm say thuốc phiện. Mở mắt thấy ông trưởng ty đang nhòm vào giữa mặt, cơn ghiền cũng biến
mất. Nhân dân đồn, ông Trưởng ty Công an người Sài Gòn này kinh khủng lắm, chỗ nào cũng thấy ông ấy, xuất quỷ nhập thần.

Còn những chiến sĩ tông cửa hoặc nhảy xuống sông chạy trốn ấy, mãi sau này khi đất nước thống nhất gặp lại, họ vẫn còn nhớ, nhắc lại rằng họ quá khiếp sợ sự
xuất quỷ nhập thần đầy bất ngờ của ông. Nhưng chuyện cũ qua lâu rồi, đã mấy chục năm trên đất nước bị cắt chia…

Kể đến đó, ông ngừng lời, thoáng chút than vãn: vợ tôi bả cằn nhằn sao tôi vẫn còn tham dự nhiều việc quá. Hôm qua, con tôi mời cha ra xem nơi nó chọn
miếng đất ở Long Thành, cất cho tôi nơi ở cuối cùng, làm một nhà nhỏ làm một nơi hoàn toàn nghỉ ngơi. Tôi cũng tán thành, muốn nó xây cho cái tịnh xá để
sống một mình với thiên nhiên. Nó chọn theo ý nó.

Tôi hỏi: “Con ông yêu ông nhiều phải không?”. Khác với những người thông thường khi được hỏi, thế nào cũng kinh ngạc kêu lên: Yêu chứ! Hoặc là say sưa kể
lại tình yêu của con cái. Đằng này ông suy nghĩ cẩn thận một lát rồi bảo: Chắc là yêu chứ sao không?

Nhưng có lẽ cả vợ và con ông đều đang muốn ông phải nghỉ ngơi hoàn toàn - Ông chấp nhận sự phê bình của con cái. Tôi đoán thế và thầm nghĩ: Vợ con ông
đúng, nếu xuất phát từ việc bảo vệ sức khỏe cho ông. Còn họ sẽ sai, nếu nghĩ rằng cần phải tách ông ra khỏi những chuyện “giữa đường thấy sự bất bình”, bởi vì
ông đâu còn đủ năng lực và thế mạnh để có thể giải quyết hết ngang trái ở đời. Họ nghĩ ông là người của một thời đã xa.

“Có cặp vợ chồng nghèo sống dưới chân cầu Trương Minh Giảng. Mỗi đêm người ta đái cả trăm lần lênh láng lưới sắt mục cả ra. Một hôm một người say, đái
cả lên đầu người đàn bà nghèo. Hai bên lời qua tiếng lại cãi nhau, tên say rượu bảo: Ai cho ở dưới gầm cầu? Rồi nó đập gãy cả tay bà. Ra tòa, người ấy bị kêu
án tù và đền 4 triệu đồng cho bà đi mổ. Nhưng nó không thi hành án. Người xử nói: Nó ở tù rồi thì thôi chứ. Tôi can thiệp, họ bảo: Nó còn gì nữa mà đòi…

Các con tôi bảo: Cái tính dây vào mọi việc là tính thời trẻ. Bây giờ làm cái gì cũng phải có cơ quan chức năng người ta làm chứ. Vậy mà ông vẫn không thể thay
đổi. Có cả lần mấy anh công an nóng tính cãi nhau đánh lộn cả với dân ở góc phố. Rồi họ ngẩn người khi thấy một ông già không rõ làm gì, quát lên: Tôi có dạy
anh đối xử như thế này với dân không?

Mấy anh cảnh sát nhận ra ông thầy đã từng giảng về nghiệp vụ cho mình, vội xin lỗi rối rít. Còn Hoàng Đạo nghĩ: Ngay cả hỏi cung thôi, cũng phải giữ nguyên
tắc: Hôm nay tại trụ sở… tôi được ngồi trước mặt ai đây? Chứ không phải: mày tên gì? Ông có thể cho biết ngày mấy, ngày mấy, ông đang ở đâu không? Người
ta nói ngày đó ông không ở đây, ông thấy lời khai của ông thế nào… đấy, hỏi cung là thế! (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100283.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100367.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước

15. Tôi cố gắng hình dung ra xứ Thanh Hóa, để có thể hiểu phần nào những điều kiện liên quan đến cuộc sống mà nhân vật của tôi đã
trải qua. Tuổi thơ ấu loạn lạc diễn ra khi tôi còn quá nhỏ cũng ở Thanh Hóa, theo cha mẹ vào kháng chiến. Cái xứ mà từ nay trong câu
chuyện đang kể đó luôn luôn xuất hiện, ở tôi chỉ mờ mịt tầm mắt của đứa trẻ còn ngồi trên thúng người mẹ gánh đi chạy loạn.

Để công tác tốt, ông đã “nắm chắc” các nhân vật của nhân vật chí, tác phẩm tự tạo của mình. Nhờ thế, có thể thuộc làu làu Đỗ Hùng là
ai, cử Soạn, cử Nhị là ai? Thái độ chính trị của họ thế nào. Tại sao có làng Ngò, gọi là Ngò Xá, có cụ cử Ngò. Con cháu hậu duệ của
cụ cử Ngò là Hoàng Văn Chí, Hoàng Văn Tại, nổi tiếng một thời. Để có mối liên hệ dân chúng, ông trao cho các huyện, xã giới thiệu
những người tốt. Họ giúp ông nắm được các âm mưu của kẻ xấu, dập đi bao nhiêu mầm họa, bảo vệ được người nông dân hiền lành.
Nhiều người không phải hàng năm đi giành đất xã khác, đánh giết đổ máu, vừa đói nghèo, vừa sống trong lo lắng sợ hãi suốt cả đời.

Hoàng Đạo lo việc an ninh bảo vệ chính quyền cách mạng, Tố Hữu lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy, Đặng Thai Mai là Chủ tịch Ủy ban kháng
chiến.

Ông quen Nguyễn Bình từ những năm 1936-1937, gặp nhau ở Hải Phòng họ đã cùng nhau lập ra Đông Dương Công Nghệ xã ở Hải
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
Phòng. Khi mặt trận Bình Dân bên Pháp thành công, một số tù chính trị được thả. Trong số đó có Nguyễn Phương Thảo (tức Nguyễn
Bình) và nhiều người khác. Nguyễn Bình về Bần Yên Nhân. Hoàng Đạo còn nhớ cái trụ sở ở số 120 đường Hàng Kênh. Họ lập công
nghệ xã hợp pháp, nhưng thực ra bên trong làm vũ khí cho cách mạng. “Lịch sử phải ghi nhận chỗ này”. Hoàng Đạo nói, lúc còn mua dầu rái Biên Hòa đem ra đó làm dầu
hỏa để đốt đèn, gọi là dầu Phúc Thảo, mỡ bò làm nến. Người đứng đầu công nghệ xã là Nguyễn Quốc Tuấn biết tiếng Pháp đứng ra xin môn bài để sản xuất. Từ đầu ông
quen biết được những nhân vật này? Ông nói rằng cuộc đời hoạt động quen nhiều tổ chức, kể cả những người trong Quốc dân Đảng thân Cộng sản ở ngoài Côn Lôn. “Trần
Huy Liệu lúc ấy còn ở trong Quốc dân Đảng, bị tù đày, bị đâm lòi mắt bằng bàn chải nhọn”. Quả thật nghe những chi tiết như vậy cũng đủ thấy góc cạnh gay gắt những năm
cam go của cuộc cách mạng, thông qua số phận của mỗi cá nhân, dù chỉ thoáng hiện vài hình ảnh.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100367.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100367.html

Nguyễn Bình đã vào miền Đông cùng hoạt động với ông Trần Đình Xu, Huỳnh Thiện Nghệ, Tô Ký, Đào Sơn Tây, có công trong những việc tập hợp đoàn kết xây dựng chiến
khu Đ, lúc đó mới phân rõ ai hậu cần ai vũ khí. Nguyễn Bình cùng Bộ Tư lệnh phía Nam đương đầu với quân viễn chinh Pháp. Chứ trước kia có lúc tình hình rất tản mạn.
Chỗ này anh Ba, chỗ kia anh Bảy, chỗ nọ Bình Xuyên. Ai cũng lập chi đội, không ai chịu ai hết. Mỗi chi đội chống Pháp càn quét bảo vệ dân trong khu vực của mình. Đến
hôm nay, kể lại chuyện này, ông còn ngậm ngùi: “Khi Nguyễn Bình ra Bắc, tới ngã ba biên giới ở Lâm Đồng, Pháp phục kích bắn chết ông. Chúng còn phao tin Việt Minh sát
hại nhau”.

Tôi lại phải “kéo” câu chuyện của ông, theo ký ức miên man đã bỏ đoạn Thanh Hóa khá xa. Tất nhiên thế hệ sau này khó lòng hình dung ra nổi xứ sở nhỏ bé Thanh Hóa cách
nay đã hơn nửa thế kỷ ấy như thế nào. Khi tiếp chuyện Hoàng Đạo, cái không khí gian nan và hào hùng được sống dậy, rõ hình ảnh của cuộc đời ông”. Một lần ra Huế gặp
Hải Triều, tôi ghé nhà Nguyễn Phan Long ở Tân Sơn Nhì - Tôi nói: “Lẽ ra cách mạng là phải trừ bớt những người đối lập chống đối như anh - Anh có tài, tôi xin anh đừng
cộng tác với Pháp” - Chúng ta hẳn nhớ nhà báo, chủ bút Nguyễn Phan Long đã có mối quan hệ tốt như thế nào khi Hoàng Đạo còn là một thanh niên ít học nhưng lao vào
đời sống để viết báo. Chính vì mối quan hệ thân tình đó mà họ có thể nói thẳng với nhau những câu như vậy - Nguyễn Phan Long hứa “vai trò trí thức lập hiến của chúng tôi
đã cáo chung. Giờ đây đến Công nông các anh, nếu có gì có lợi cho đất nước, tôi sẽ báo cho anh”. Nguyễn Phan Long còn cho Hoàng Đạo một ít tiền để có thể đạp xe ra
Huế gặp những cán bộ chính quyền cách mạng lúc đó như Hải Triều, Tố Hữu, Nguyễn Văn Ngọc... Để đối phó với giặc Tàu Tưởng đang nâng đỡ đám lưu vong, đối với tỉnh
nhỏ mà quan trọng như Thanh Hóa, cần một người kiên quyết, có uy tín, có lý lẽ để lo việc an ninh cho chính quyền. Cái “vai” ấy không có gì bằng chọn Hoàng Đạo. Đó là lý
do một người công nhân đường sắt Dĩ An, hoạt động chủ yếu ở Nam bộ, bỗng thành một giám đốc công an gần như đầu tiên ở Thanh Hóa. Khung cảnh những ngày đầu tiên
ấy: “Tàu Tưởng vào đến Thanh Hóa, đóng ở nội thành. Quốc dân Đảng đóng ở khách sạn Tứ Dân, lập chính quyền cơ sở, các trạm gác trong thành phố. Việt Minh thì đóng ở
tòa công sứ. Công việc lúc đó giao cho ông Vũ Đình Chung - Trưởng ty Trinh sát, sau đó ông Chung bàn giao lại cho tôi chính thức làm Trưởng ty Công an. Lúc đó còn
những kẻ dám lên diễn thuyết chửi cách mạng. Tôi quyết liệt giành diễn đàn đập lại, nói rõ chương trình hành động của Việt Minh”. Những ngày đầu của chính quyền cách
mạng non trẻ đó, ngay tòa án cũng toàn người làm tòa án cũ, theo tổ chức tư pháp cũ, chưa có cả Viện Kiểm sát. Mỗi tỉnh tổ chức tư pháp riêng. Mãi tới đầu năm 1946 mới
tổ chức chính quyền cách mạng một cách có hệ thống: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ông còn nhớ biện lý Nguyễn Thế Hùng còn mời ông tuyên thệ trước biện lý cục để
nhận chức Ủy viên. Ông không nhận lời, vì là người của Việt Minh Trung bộ, chịu sự bổ nhiệm Nha Công an Việt Nam.

Chính những ngày này, ông mới có dịp quen biết cùng làm việc với vị danh tướng Nguyễn Sơn.

Theo như Hoàng Đạo tả, tướng Nguyễn Sơn làm Tư lệnh Quân khu 4, cùng lớp với Hồ Tùng Mậu - Ông thường mặc bộ bà ba đen, tóc quăn, để đầu trần ít khi mũ nón, đi
chiếc xe cuốc thường có hai bảo vệ chạy theo. Thời kháng chiến, những khi có điều kiện, ông hút thuốc lá thơm.

“Lạ nhất là ông tướng đó văn võ song toàn, vẽ rất đẹp, hướng dẫn mọi người chuốt bút chì như một họa sĩ - Thường gặp nhau trong các hội nghị. Lúc luyện tập, ông chạy
đường dài 6 km, lính chạy phía sau.

Kể đến đây, Hoàng Đạo muốn cắt ngang câu chuyện bởi sẽ còn nhớ đến tướng Nguyễn Sơn nhiều nữa vào các đoạn sau, khi mà sự ra đời của A.13 là một câu chuyện dài.
(Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100367.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100463.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước

16. Nhưng, để cho cái đoạn đời trước đó ở Thanh Hóa được hiện ra trọn vẹn, hãy đừng vội bắt ông kể về đoạn A.13 ra đời. Thử la cà
vào các giai thoại và quan niệm sống, cách xử của ông Trưởng ty Công an nhiều huyền thoại. Đời ông có nhiều sự rời bỏ đột ngột, mà
chúng ta sẽ lần lượt biết tới sau này, vào cái thới kỳ miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ông trở lại đời thợ. Các giai thoại nào người
dân Thanh Hóa còn nhắc? Có người còn nói đùa mà thật là muốn xây đền thờ ông ở làng như thành hoàng, vì nhờ ông mà làng họ
được yên ổn làm ăn, được thoát khỏi cảnh chém giết lẫn nhau vì phe cánh, cường hào ác bá... Chắc hẳn ông đã trừng trị nhiều kẻ phá
hoại cách mạng, mà cũng đã cứu nhiều người.

Câu chuyện về ông Trưởng ty Công an không chỉ dừng lại ở cảnh xuất quỷ nhập thần trừng trị cán bộ của mình nhũng nhiễu dân - nấp
sau lưng bà chủ cô đầu mập ú để bắt quả tang cán bộ dưới quyền sống sa đọa hút thuốc phiện ngay dưới thuyền - Bây giờ gặp lại
những kẻ đã nhảy xuống sông dông thẳng vào Nam đó, họ cùng ôn lại thời sơ khái ấy và tự nhận hồi đó em bậy quá”, “sợ anh báo cáo
cái vết trong lý lịch xa xưa thì bây giờ khó làm ăn” - Nhưng ngay như gặp lại kẻ đã chỉ cho giặc bắt mình ở Bồng Miêu, Hoàng Đạo còn
không cần nhắc tới... Nhiều người có những bí mật cuộc đời được ông giữ kín trong lòng để cho con người được làm lại cuộc sống tốt
đẹp hơn...
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
Các giai đoạn của ông ở Thanh Hóa còn được người lớn tuổi kể lại, do yêu mến mà thành giống các trang hiệp khách giang hồ -
Nhưng rất nhiều chuyện khơi nguồn từ điều có thật.

Chuyện thứ nhất diễn ra vào một ngày mưa. Ông Trưởng ty Công an rẽ vào một quán nước bên đường. Người chủ quán, một thiếu phụ trẻ đẹp, có đứa con gái nhỏ. Sao nó
thức khuya vậy. Nó đợi mẹ để cùng đi ngủ. Thế bố cháu đâu? Đứa trẻ trả lời bố đi lâu lắm rồi không về. Đến đây bỗng người mẹ nói thẳng: Bố nó bị ông bắn rồi còn đâu nữa
mà về. Hoàng Đạo giật mình, vì lúc nãy hỏi thăm, ông nói mình là người đi buôn. Nghề nghiệp buộc ông phải giữ bí mật, cho dù là một trưởng ty hoạt động công khai. Càng ít
người biết, càng tốt. Vậy mà bà chủ quán nước gọi đúng tên ông. Bà ta bảo: Thôi ông ơi, buôn bán gì, ông Ký Hồ Ang, còn tên thật là Hoàng. Bà ta còn khẳng định là biết rõ
ông bắn chồng bà ở đâu. Nhìn vẻ mặt phúc hậu của người phụ nữ, ông muốn hiểu thêm câu chuyện. Giả sử như chuyện bà nói là thật thì sao? Sau khi nghe ông hỏi câu ấy

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100463.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100463.html

người đàn bà đăm chiêu một lúc rồi bảo: Nếu ông không bắn chồng tôi, thì chồng tôi nhất định sẽ bắn ông chết! Đến đó thì Hoàng Đạo nhớ ra cuộc giao chiến giữa ông và
tên trưởng ban giám sát Quốc dân Đảng.

Những đau đớn lắng dịu lại. Bà ta hiểu theo cách công bằng ông Trưởng ty làm nhiệm vụ của mình trong tình thế một mất một còn. Thanh Hóa yên ổn, đi vào trật tự như bà
biết, là có phần quan trọng từ con người cương quyết và chính trực này. Từ đó, ông thường chú ý giúp đỡ cuộc sống của hai mẹ con. Đứa trẻ trở nên gần gũi, thân thiết, tạo
nên tình bạn kỳ lạ giữa ông Trưởng ty Công an với một đứa trẻ, tình bạn ấy kéo dài năm năm. Đứa bé thường được ông đem cho quà, sách vở học hành. Có khi ông được
mời tới ăn cơm. Mỗi lần ông tới, đứa trẻ réo gọi: Mẹ ơi, bác Hoàng về. Nó chạy ào đến ôm lấy ông. Mẹ nó cười: cháu nhắc bác mãi đấy. Hình như nó nhớ! Sau năm năm,
Hoàng Đạo chuyển ra Hà Nội hoạt động điệp báo, mối quan hệ thân quý của họ mới chấm dứt.

Người ta còn kể một câu chuyện thứ hai, chẳng liên quan gì đến các sự kiện ghi trong “chính sử” Thanh Hóa. Nếu giở cuốn lịch sử Công an nhân dân Thanh Hóa giai đoạn
1945-1954, sẽ thấy có đủ tài liệu về sự hình thành các tổ chức công an hoạt động rất sớm. Tháng 8-1945, lực lượng Cảnh sát xung phong thành lập. Tổ chức liêm phóng Việt
Minh sau đổi thành Trinh sát viện do ông Vũ Đình Chung làm Viện trưởng. Hai tổ chức trên đã lại nhập thành Việt Nam Công an vụ theo sắc lệnh Bác Hồ ký tháng 2-1946.
Ông Phạm Văn Vinh được cử làm Trưởng ty. Trong cuốn lịch sử đó có in hình, có chú thích: Đồng chí Nguyễn Văn Hoàng (Hoàng Đạo) Trưởng ty Công an Thanh Hóa thời kỳ
1946-1950, cán bộ ty điệp báo (bí số A.13) trực tiếp chỉ huy đánh đắm tàu Amyot D’inville của Pháp tại vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hóa ngày 27-9-1950. Đọc cuốn sử đó dễ
hình dung ra mặt trận giữ an ninh của lãnh đạo và nhân dân Thanh Hóa trong thời kỳ phức tạp nhất. Nhưng dân chúng lại ghi vào bộ nhớ dân gian những giai thoại cụ thể về
nhiều nhân vật, trong đó câu chuyện của ông Trưởng ty Hoàng Đạo. Một ngày mùa xuân gần tết, Đà Lạt vốn không bào giờ nóng, lại càng lạnh thêm. Người ta còn kể cho
nhau những câu chuyện của ông từ trước cách mạng khi ông làm việc ở Depol Tháp Chàm, là một đảng viên trẻ hoạt động qua lại ở tuyến đường răng cưa Đà Lạt - Tháp
Chàm. Trên đường ra ga xe lửa Đà Lạt, Hoàng Đạo vào tá túc ở nhà ga qua đêm. Ông chúi vào cái góc mọi người nằm ngổn ngang, tính kiếm một giấc ngủ ngon, bỗng nghe
tiếng ngáp trong xó tối của một phụ nữ. Ông ngạc nhiên khi có một người phụ nữ còn vất vưởng nơi đây. Thế là tỉnh ngủ, người phụ nữ đã kể chuyện mình yêu cầu ông giúp
cho một việc. Câu chuyện giống như tiểu thuyết, cô cần một ông đóng vai là chồng về nhà ăn tết. Làng xóm thường dị nghị là gia đình nghèo khó không ra gì, con gái ế
chồng. Từ xưa tới nay chưa bao giờ có người đàn ông nào đến hỏi han. Đó thật là một điều đau khổ của gia đình.

Nghĩ: “Vừa có chỗ ăn tết, không phải lang thang, giúp người”, ông nhận lời. Họ lên đường về quê cô gái ở trong một sở chè, cô gái lớn tuổi, không có nhan sắc lại là con nhà
nghèo.

Về tới gia đình cô gái, ông mới chứng kiến một cái tết có ý nghĩa. Bà con họ hàng, hàng xóm nghe nói cô gái đưa chồng về quê ăn tết người ta kéo đến thăm. Nhưng vở kịch
kết thúc nhanh khi Hoàng Đạo lên đường. Phải rút lui lặng lẽ. Cô gái đưa tiễn ông lối sau nhà. Cô không có yêu cầu nào khác, vớt vát được danh dự gia đình. Mãn nguyện
với xóm làng. Bây giờ cô vui vẻ chỉ đường cho ông ra đi, với lời cảm ơn. Rời cái vùng chè xa lạ ấy, lòng ông để lại biết bao nhiêu thương cảm cho những éo le của người dân
kiếp sống bần cùng, không cần biết đến ngày mai. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100463.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100555.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
17. Ở bảo tàng Thanh Hóa, ngoài bức tượng của ông có một cây gậy do Bác Hồ tặng cho ngành điệp báo, rồi ngành điệp báo tặng
cho người lập công trong ngành. Hoàng Đạo đã tặng cho Thanh Hóa. Bác Hồ đi Trung Quốc được công nhân bên đó tặng cho cây ba
toong, cây gậy thứ hai này Bác làm quà tặng cho những ai có chiến công giỏi nhất, “Ông Nguyễn Tạo giao cho tôi, kèm theo cái tín
thư. Ông dặn: Bác thưởng cho những ai lập công lớn nhất. Vì vậy anh phải giữ gìn nó, ngoài những huân chương gì Nhà nước tặng
anh, tôi không cần biết”. Cây gậy này sau gửi ông Vũ Kỳ trao tặng bảo tàng Hồ Chí Minh.

Lần đầu tiên Hoàng Đạo gặp Bác, chính là thời kỳ ông làm Trưởng ty Công an Thanh Hóa.

“Hình như vào khoảng năm 1946, Bác đi thăm vùng Phát Diệm. Tôi lúc đó còn là cán bộ lăn lộn thực tế ít được học hành nghiên cứu
đâu đã biết hết tầm vĩ đại của Hồ Chí Minh. Mới chỉ biết đó là con người hết lòng vì dân vì nước, giành độc lập. Nhưng những gì thuộc
phẩm chất cá nhân Bác lúc đó tôi chưa thể biết hết như chúng ta được đọc nhiều trên sách báo. Hoàng Đạo mỉm cười nhớ lại hình
ảnh cách đây hơn nửa thế kỷ tại bến phà Thanh Hóa. Lúc đó kháng chiến đường bị phá rồi, nghe nói phải khiêng chiếc xe của Bác
qua khỏi chỗ phá đường. Bác chống cây ba toong đứng ở đầu xe dưới phà. Tôi thưa: Bác đừng đứng trước mũi xe như vậy, cái thắng
xe nó vô cùng, mời Bác đứng qua một bên. Chắc nghe tôi gọi cái phanh là cái thắng Bác liền nói: Chú là người miền Nam phỏng? Dạ,
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
cháu là công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An. Bác hỏi tôi làm gì ở Thanh Hóa. Sau khi biết làm công an, Bác hỏi: làm công an có phê và tự
phê không? Dạ có! Có rút kinh nghiệm không? Dạ có. Có bàn bạc với anh em không? Dạ có. Bác cười. Cái gì cũng có hết. Thế làm có
tốt không? Tôi không dám “dạ có” nữa. Nhưng sau này, tất cả những điều Bác hỏi đó, tôi soạn thành cái tài liệu học tập cho nội bộ như: dân chủ bàn bạc kế hoạch, quy luật
phê và tự phê - Làm việc phải rút kinh nghiệm. Những câu hỏi ngắn của Bác trở thành các phương pháp công tác. Bác cười rất hiền hậu và đó là nụ cười tôi nhớ mãi. Bởi vì
nó tương phản với vẻ nghiêm khắc vào buổi tối, khi ngồi bên lò sưởi hút thuốc, Bác lo lắng trước tình hình mất đoàn kết của “cán bộ địa phương”.

Dạo đó, cán bộ có nhiều nguồn: những người đã trải qua tù đày ở Buôn Ma Thuột, ở Côn Lôn về, nhiều nguồn nên chưa hiểu rõ nhau. Không hiểu sao Bác biết, Bác yêu cầu
nhân dịp Bác ghé thăm cho Bác dự cuộc họp thường vụ.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100555.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100555.html

Nhớ lại lúc Bác hỏi “Chú người miền Nam phỏng?” khác hẳn lúc Bác gặp các nhân sĩ, người lãnh đạo tỉnh. Bác ngồi trầm ngâm bên lò sưởi, đợi các ủy viên trong thường vụ
đến họp. Hoàng Đạo lúc ấy là công an, lo bảo vệ chuyến đi của Bác đến địa phương mình. Ông cảm thấy Bác Hồ là một người giản dị dễ gần, dù Bác là Chủ tịch nước. Vậy
mà số cán bộ tỉnh ủy thời đó, ngồi kiểm điểm, nghe Bác nhấn mạnh: lãnh đạo cách mạng mà không đoàn kết, thì sao dân có thể đoàn kết thành một sức mạnh chống giặc
được? Ai nấy có vẻ lo sợ trước thái độ nghiêm khắc của Bác mà cũng có thể vì họ sợ hãi ngay chính cái hậu quả của khuyết điểm. Họ đã làm sai, đã để cho người mà họ
yêu kính phải phiền lòng. Mọi người nhìn thấy cái cạn hẹp của mình làm hại sự nghiệp lớn. Hoàng Đạo nhắc tới tên những cán bộ thời đó, đầy trân trọng, Như Bùi Đạt, Lê
Chủ, Lê Tất Đắc. Ông trân trọng cán bộ ngày đó trong sáng. “Họ vấp phải những khuyết điểm, khi được chỉ ra, biết đau đớn trong lương tâm, chứ không như bây giờ có
người làm sai vẫn chẳng sao, miễn là thoát được sự trừng phạt”. Khi Hoàng Đạo nói lên sự liên hệ đó, tôi chắc trong đầu ông đang dồn dập hiện lên vụ án những vị chủ chốt
to gan thời nay dám xơi tới cả hàng tỷ đồng xương máu của nhân dân mà đâu có ngừng, nếu không bị pháp luật trừng trị. Ông nói, Bác Hồ gần tới phút lâm chung còn viết lại
Di chúc cho Đảng cho dân, dặn phải gìn giữ đoàn kết như con ngươi của mắt mình. Nói tới đó, trong ông phải chăng hiện lên hình ảnh của ngày xưa ấy, ở Thanh Hóa.

Kể đến đây, ông Hoàng Đạo bỗng như cố nhớ một điều gì xa xăm lắm. Rồi ông hạ giọng trầm ngâm: “Nhà thơ Hải Như viết về Bác, tôi nhớ lõm bõm hai câu còn hai câu quên
mất: “Bác Hồ đứng, người sau không bị khuất, Bác Hồ đi dọn bước cho người sau. Bác Hồ nói nhường lời cho người ta nói”. Hay quá đi! Tôi đọc lên là nhớ lại đúng hình ảnh
ấy về Bác Hồ ngay từ những ngày đầu cách mạng ở Thanh Hóa. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100555.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100653.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
18. Vì sao có cái tổ điệp báo A.13? Một câu chuyện dài, ông Hoàng Đạo thường nhấn mạnh, cho đó là một việc quan trọng vào bậc
nhất trong chuyện đời ông. Cũng có thể đây là một trong 4.000 câu hỏi mà ông giải thích rất nhiều vẫn có người không hình dung ra.
Sáng nay, ông đến gặp tôi với một vẻ buồn rầu mặc dù ông chấp nhận được phê phán. “Tôi thường bị cả nhà phê bình là sao cứ hay
đi. Thằng con tôi nói làm xong cái nhà ở Long Thành thì chấm dứt thói quen hay đi của tôi” - Có lẽ các con ông cũng hiểu rằng ngay
cái công việc cuối cùng này, ông cũng xoay xở được cái cớ để xông ra công việc theo bản tính cổ hữu. “Mỗi tháng có hội nghị gia đình,
mẹ nó tố giác tôi hay đi ngoài đường. Các con hỏi ba đi việc chi. Ba không biết, nhưng phải đi. Không hoạt động thì thà chết còn hơn”,
ông kể chuyện vui: Ở gần nhà ông bên dốc cầu Trương Minh Giảng, có bà bán nước mía rất đẹp. Lại có một bà đi xe máy rất giỏi,
thường chở giúp ông đi đây đó. Vợ ông thì bảo: nếu thích ăn chay cho nhẹ thì ăn, khi nào cần ăn mặn thì bà làm. Món ông ưa thích là
chân gà hầm đậu. Người phụ nữ chở ông bằng xe máy thì góp ý: Nên ăn mặn bình thường cho có đủ dinh dưỡng - Bà cho rằng người
già thường rất sai lầm khi giảm dinh dưỡng vào cái lúc cần dinh dưỡng chẳng khác nào trẻ nhỏ. Còn bà bán nước mía thì quan điểm
rõ ràng: “Ông có cho tôi có lời khuyên trong đó không? Đừng ăn chay cũng đừng ăn mặn, mà nên uống nước mía” - Họ nói thật chứ
không nói chơi...

Bao giờ ông mở đầu cho cái đoạn gay go sắp kể bằng câu chuyện vui. Vì sao có tổ điệp báo A.13, ý nghĩa của nó ra sao mà sau này
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
được thành một biểu tượng của ngành công an. Năm 1948, ông Nguyễn Tạo được giao nhiệm vụ lập Ty điệp báo ngành công an tại
Kim Bôi - Hòa Bình.

Tên tuổi của nhân vật phụ trách Ty điệp báo Nguyễn Tạo luôn xuất hiện trong câu chuyện của Hoàng Đạo với đầy vẻ kính trọng và yêu mến đặc biệt. Bạn đọc đã thấy được
bản lĩnh cuộc đời ông Nguyễn Tạo qua cuốn “Ba lần vượt ngục” - Nguyễn Tạo luôn có mặt trong việc chỉ đạo công việc quan trọng nhất. Dù ông Tạo có được là nhân vật số
một của ngành hay không, không ảnh hưởng gì tới lòng tin yêu, ông luôn là một nhà lãnh đạo tài năng của ngành công an. Có một sự thật là ông Nguyễn Tạo bị nhận xét về
phong cách ưa mạo hiểm. Cái tính mạo hiểm này truyền cả đến cấp dưới là Hoàng Đạo. Vì sự phiêu lưu mạo hiểm này mà Hoàng Đạo đã bị chính quyền cách mạng giam
cầm, suýt nữa thì đem xử bắn... nhưng về một mặt nào đó mà nói, chất mạo hiểm có thể được coi là một yếu tố khó tránh của nghề đặc biệt như tình báo - điệp báo. Trong
nghề, đôi khi nhờ nó lại đến được những thành công lớn.
http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100653.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100653.html

“Lúc tôi làm Công an Thanh Hóa, có quen biết rất nhiều trí thức, văn nghệ sĩ tản cư theo kháng chiến, ở làng Quần Tín. Trong số đó có giáo sư Đặng Thai Mai”. Hình ảnh vị
trí thức lớn này xuất hiện trong câu chuyện, tức là ông đang sắp nói đến một thời điểm và những nhân vật quan trọng của A.13, ông đã cùng tướng Nguyễn Sơn và ông
Nguyễn Tạo bàn bạc tại ngôi nhà của giáo sư Đặng Thai Mai. Nội dung lớn nhất là: làm sao giữ được Thanh Hóa. giáo sư Đặng Thai Mai nói: phải giữ bằng mưu trí, chứ
riêng về quân sự, ngay tướng Nguyễn Sơn, Tư lệnh Quân khu 4 cũng nhận định là không đủ sức giữ. Đối với giặc Pháp lúc đó, ta đánh nó được mà không giữ được Thanh
Hóa. Phải làm sao biến Thanh Hóa nó chiếm mà thực chất là của mình.

Lúc này Pháp đã sa lầy ở Việt Nam 5 năm rồi, yêu cầu quân sự viện trợ của Mỹ, vì không thể tự mình đủ sức đánh thắng. Mỹ chủ trương viện trợ trực tiếp, không thông qua
Pháp. Chính điều kiện này khiến Pháp thèm muốn có một chính phủ bù nhìn được người Mỹ chấp nhận, nhưng thực chất là phải của Pháp. Ông Nguyễn Tạo đã cùng cơ
quan lãnh đạo nhìn thấy thời cơ này, tương kế tựu kế khai thác. Đó chính là lý do Hoàng Đạo được chọn.

Nhưng tại sao lại là Hoàng Đạo, khi mà Pháp thừa biết rất rõ ông 15 tuổi Đảng, đã từng là một Giám đốc công an của Việt Minh? Đây cũng là một câu trong 1.000 câu mà
ông đã trả lời tới mức ướt đẫm cả bộ quần áo đen khi chỉnh huấn, mà hình như vẫn chưa thuyết phục.

“Vì sao có con số A.13? Tôi tính ra từ chữ “Việt Nam độc lập” có 13 chữ cái ghép lại, đúng cái con số mà phương Tây kiêng kỵ cho là xui xẻo. Tôi tự chọn như vậy cho dễ
nhớ. Tôi là A.13, sau này Kim Sơm A.14, Chu Duy Kính A.15 và chị Lợi là A.16 - Nhiệm vụ phải vào thành Hà Nội, leo sâu trèo cao, tác động giữ Thanh Hóa không cho Tây
chiếm”.

Họ nhận định, cần phải tập hợp các đảng phái phản động để thành một lực lượng “chính trị” trong vùng tạm chiếm. Muốn vậy, phải có một đảng riêng.“Giáo sư Đặng Thai Mai
gợi ý nên lấy tên đảng riêng đó là Phục Việt Cách mạng đảng - cái tên này khiến bọn địch cắn câu ngay. Chúng biết rõ có một đảng như thế thật do cụ Phan Bội Châu thành
lập nhưng chưa hoạt động - Muốn tỏ ra có một đảng hoạt động, phải có cả luận cương, tuyên ngôn” - Tài liệu là ở trong đầu - Hoàng Đạo phải nghĩ ra - Lúc đó ông chẳng
thấy khó khăn gì. Trong đầu đã nghe đầy những mớ hổ lốn cương lĩnh, nào tam dân chủ nghĩa, dân tộc dân chủ dân quyền, chủ nghĩa quốc gia cực đoan... Cũng giống như
sau này trong lịch sử, Ngô Đình Nhu đẻ ra cái đảng Cần lao nhân vị...

Giáo sư Đặng Thai Mai ở làng Quần Tín. Chính phủ kháng chiến lập trường Y khoa, có thể coi như dự bị đại học đầu tiên của Việt Nam, tại chợ Đu Hậu Hiền, do giáo sư
Trần Văn Giàu làm hiệu trưởng. Giáo sư Đặng Thai Mai đã như một cố vấn về văn hóa, chính trị, còn Nguyễn Tạo là người tổ chức, chỉ huy. Hoàng Đạo là cán bộ hành động.
Nguyễn Sơn là tướng Tư lệnh - “Thế là một tổ điệp báo A.13 thành lập. Tôi là người được bố trí lên bệ phóng đưa vào vùng địch hậu tạm chiếm tại Hà Nội, thông qua các ổ
trạm điệp báo của ta cài từ trước”. Hoàng Đạo sắp bước vào đoạn giải thích việc ông được tung vào thành, chứ không trở vào Nam củng cố các tổ chức công an như trước
đó đã từng dự định. Chính ông Nguyễn Tạo đã giữ người cán bộ này lại, việc bảo vệ cho kỳ được Thanh Hóa quan trọng không kém. Nó là con đường liên lạc của Trung
ương vào Nam. Lúc đó ta không có Hải quân vùng duyên hải. Cần phải biến Thanh Hóa thành mặt trận của điệp báo, vùng Pháp chiếm mà không của Pháp, giống như chiến
khu Trần Hưng Đạo xưa. Hoàng Đạo hỏi ông Nguyễn Tạo về nguyên tắc để chinh phục người khác. Nguyễn Tạo đã chỉ ra vắn tắt: Nói thật. Nhưng với kẻ địch thì có khác là:
chỉ nói thật những điều nó đã biết. Ông Tạo nhận xét rằng Hoàng Đạo có thái độ thuyết phục được: nói có lửa, có niềm tin. Cũng đừng từ chối mình là Cộng sản. Vào thành
làm gì? Nguyễn Tạo đã nhìn ra được thực chất của tình hình: Pháp như con hổ đói, còn Hoàng Đạo chính là miếng mồi ngon. Làm sao nó không đớp. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100653.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100735.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
Ông sẽ kể về cuộc đối thoại chưa từng có trong đời, với tướng Alexandri, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Việt Nam về những “tuyên ngôn”
thực sự của mình trước thời cuộc. Nhưng trước khi đi vào cuộc chất vấn nảy lửa để thu phục lòng tin đó, ông thấy cần thiết phải giải
thích rõ cho tôi cái hoàn cảnh và nhiệm vụ của ông lúc đó. Dường như ông sợ tôi không hiểu hết - Mà sao tôi hiểu hết được? Ngày
ông làm nên chiến công vang dội, thế hệ chúng tôi nhiều người chưa ra đời, hoặc mới vài tuổi. Đến ngay như các đồng chí, người
cùng thời hoạt động với ông còn có tới 1.000 điều thắc mắc kia mà! Tôi đề nghị ông cứ làm người kể chuyện. Bởi đây không phải là
cuốn chính sử, mà là bức chân dung con người với ký ức của ông, có thể nhớ điều này hơn điều nọ là lẽ thường. “Ty điệp báo lúc đó
cử tôi vào theo đường dây với Kim Sơm, lúc đó đã cấy vào cơ quan Phòng Nhì của Pháp. Pháp cấp tiền bạc cho họ hoạt động không
cần đắn đo trong chi tiêu. Một lãnh tụ tay sai của họ trong tương lai. Về các nhân vật tay sai như thế, trong lịch sử thường là những
hình ảnh đáng khinh. Tính chất chung là: cầu lợi, nhắm mắt bán nước, răm rắp tuân lệnh chủ một cách ngu xuẩn và hèn hạ, thường bị
chính chủ nhân vừa dùng vừa khinh rẻ. Nhưng Hoàng Đạo, tạo nên hình ảnh một chính khách có tư chất, có tư tưởng và can đảm.
Phẩm chất đó càng làm cho Pháp càng thêm tin tưởng và hy vọng. Họ cũng đã chán ngàn với đám tay sai trung thành, chỉ vì quyền
lợi, đám tay sai không có uy tín xã hội. Người Pháp tự hiểu làm sao những đảng phái khác đầy rẫy ở nội thành, những nhân vật như
Đặng Văn Sung, Bùi Diễm, Hà Thúc Ký, Hoàng Nguyên, Đinh Xuân Cầu, Nguyễn Văn Hương... vừa viết báo vừa làm ở “Đơ dem” mật
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo thám, lại có thể trở thành lực lượng đối chọi nổi với những người yêu nước Việt Minh. Những người yêu nước Việt Nam lớn mạnh lên
với tên tuổi Cụ Hồ Chí Minh đang thu phục lòng ngưỡng mộ cả một dân tộc. Phải có một nhân vật có tầm cỡ yêu nước nhưng theo
Pháp, thực sự hành động vì lý tưởng. Hoàng Đạo chính là miếng mồi ngon cho con hổ đói. Đó chính là tài năng nhận định của lãnh đạo cách mạng, là tài năng của ngành
công an, của ông Nguyễn Tạo và của người trực tiếp hành động.

Ông trở thành niềm hy vọng, là con cưng của Pháp. Không kể các sinh hoạt lặt vặt như ngồi ở nhà có người đến đo ni đóng giày, cắt quần áo, hớt tóc, mà ông còn nhận vũ
khí cho “Đảng Phục Việt” đảng “ma” của ông. Liệu có hay không những khó khăn tất yếu của nghề tình báo điệp báo: Pháp tin dùng, thì thường những người yêu nước thực
sự sẽ ghét và xa lánh? Ngoài số yêu nước ra chiến khu, tập hợp ở làng Quần Tín - Cổ Định, chịu bao gian khó ra kháng chiến, thì còn những trí thức yêu nước khác ở lại
trong lòng địch. Vì những lý do riêng Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Mạnh Hà, những trí thức “trùm chăn” bất hợp tác, Tây gọi “toa hát” (ba chữ H). Sự im lặng của

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100735.html 1/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100735.html

các trí thức lớn như một “phong trào”, một không khí chính trị. Người ta đều biết “trụ sở” của sự im lặng ấy “đóng” ở nhà sách của Nguyễn Mạnh Hà đường Tràng Thi. Họ đối
lập với những “trụ sở” khác như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... ở số 80 đường Quán Thánh. Khó khăn của Hoàng Đạo là tập hợp các đảng phái trong một “mặt trận
yêu nước” mà ông phải nổi lên như một lãnh tụ. Đủ các mức độ phản ứng phải dung hòa, từ việc sao cho các đảng phái ở trong cái “mặt trận” đừng chống lại ông, cho tới
việc tranh thủ quan hệ với giới báo chí thân Pháp như tờ “tin tức” của Mai Văn Hàm...

Hoạt động như thế rất dễ chịu sự khinh bỉ của trí thức “trùm chăn”. Hoàng Đạo biết vậy, ông thường chú ý tránh mặt nhóm “ba H”.

Nhưng với người Pháp, không lẽ Phòng Nhì mật thám Pháp cao giá như vậy lại mắc mưu dễ dàng sao?

“Đó cũng là 1.000 câu hỏi, ở cuộc chất vấn của chính các đồng chí chân thành của tôi - “Hình như ông sợ tôi nghĩ đến cái cung cách “đấu tố” ở thời nhiều ấu trĩ sai lầm, rồi vì
thế mà có ác cảm với quá khứ chăng. Mặt khác, ông lại không muốn giấu sự thật: “Có một số người sẽ còn nhớ cái trường mang tên bốn con số: 1111. Đó là nơi học tập của
những người “có vấn đề”. Họ đến đây để nhìn lại tỉ mỉ cuộc đời mình từ năm bảy tuổi. Lý lịch làm trong sáu tháng. Họ chân thành với các ý niệm: Nói thật là thước đo trung
thành với Đảng và chỉ nói khuyết điểm mà thôi”.

Trại cải tạo chứ gì? Sao ông không gọi đúng sự vật bằng tên của nó? Tôi bật lên một câu hỏi. Từ lâu người ta thành kiến với nền dân chủ của châu Á, nhất là sau khi đọc
nhiều sách của chính người Trung Quốc viết về số phận bi thảm của con người trong cách mạng văn hóa của Trung Quốc. Và sai lầm đã được sửa chữa trong cải cách
ruộng đất ở Việt Nam. Hoàng Đạo cười: “Cô bị tràn ngập thông tin rồi đó - Sao lại nghĩ đen tối vậy. Ta khác - Nếu cô bị ám ảnh điều gì đó thì hãy nghe tôi tả cuộc sống ở đó
nhé”. Ông Trần Trọng Hoàn, tức Hai Tân, thủ trưởng của cô hôm nay, cũng có mặt ở cái trường đó cùng với tôi đấy! Các đồng chí khác thì thích thú, chỉ muốn nghe đến lượt
tôi kiểm điểm. Vì cái đời của tôi nó hay, nhiều chuyện ly kỳ như nghe tiểu thuyết tình báo, lại là cuộc đời đầy những thăng trầm và éo le cho người khác dễ chất vấn cả buổi”.

Sau mỗi lần chất vấn như thế, họ lại cùng nhau nấu chè ăn. Lại còn rúc rích kể cho nhau về một bà tên “Catơrin Nhu” - Catơrin là tên một nhân vật phụ nữ Nga có nhiều
chồng - Mà ở cái xứ Việt Bắc gian khổ toàn nam giới ấy, có một phụ nữ, nhiều anh tán, thành ra cái tên bà ta. Mỗi người làm cái lán nhỏ ở bên suối. Bà Catơrin kia thường
lên phía trên để làm lán. Hoàng Đạo đâu chịu. Ông vác đồ lề lên tít trên nữa mới làm lán “định cư”. Ông phải ở phía trên “dòng nước” của Catơrin thơ mộng!

Ông Phan Trọng Quảng người đã từng đi Nga với đồng chí Trần Phú, làm tặng Hoàng Đạo một cây gậy có khắc dòng chữ: “Tân Long Tuyên Kỷ” nghĩa là kỷ niệm ở xã Tân
Long, Tuyên Quang.

“Thôi tôi lại kéo cô đi lan man. Cuộc sống thế đó, gian khổ, căng thẳng vì kiểm điểm nhưng ấm áp tình đồng chí. Cho đến hôm nay tôi ngồi với cô đây, sau cả mấy cuốn tiểu
thuyết viết theo nguyên mẫu đời tôi, vẫn còn chưa hết những câu hỏi. Vậy, bạn đọc vẫn tiếp tục thắc mắc để tôi kể cho cô nghe cái đoạn thằng Tây nó tin tôi trên cơ sở nào
nhé”.

Trước khi lắng nghe một chương mới, tôi đã tự đáp cho mình phần nào về câu chuyện “cải tạo”. Người Việt Nam dù có bị ảnh hưởng của nhân loại điều hay điều dở nào,
cũng luôn có cái riêng của mình. Tôi chợt nhớ một người bạn đã tâm sự sau khi xem “Tây du ký”: Tôn Ngộ Không là một hình tượng kỳ diệu, thu phục tình yêu của toàn nhân
loại. Người Việt Nam, trẻ em mê như điếu đổ. Yêu cái thông minh, biến hóa can đảm, nhưng rõ ràng khác người Việt Nam. Tây du ký phản ảnh một thời kỳ nhiều phức tạp
của xã hội cổ Trung Quốc, nhiều chống đối. Còn tâm hồn người Việt Nam như một cuốn sách bỏ ngỏ, luôn mong ước giao hòa với mọi người, không có cái nhìn “vào đâu
cũng thấy yêu quái”. (Còn tiếp)

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100735.html 2/3
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100905.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ

>> Tiếp theo kỳ trước

Tôi đến đây, không nghĩ là được trung tướng giúp cho tôi chết và thành công sớm như vậy - Lại một sự ngạc nhiên nữa:
“Tôi bắn ông chết mà ông thành công gì?”.

“Trước mắt tôi là một người Pháp mới, một người Pháp cũng đã đau khổ vì quê hương bị chiếm đóng, trong thời kỳ chiến
tranh với Đức. Người Pháp đau khổ như thế nào, thì người Việt Nam cũng đau khổ thế ấy - Cái chết của Hoàng Đạo nhỏ bé
vô cùng, bao nhiêu người Việt Nam yêu nước đã chết - Tôi sẵn sàng chấp nhận vì người làm chính trị, làm cách mạng
không được sợ chết. Cái chết của tôi sẽ đem lại sự thành công ở chỗ đồng bào tôi sẽ hiểu thì ra người Pháp đến đây cách
đây 80 năm với thương thuyền và tôn giáo, so với nước Pháp hôm nay không có gì thay đổi cả. Người Pháp không có gì
thay đổi cả. Người Việt Nam, nhất là ở Nam bộ, người ta đã yêu văn hóa Pháp với tính nhân văn. Tiếng mẹc-xi, vu, toa,
moa dùng cả trong đời sống gia đình, bè bạn. Nay thì họ sẽ thấy sau Đại chiến 2, nước Pháp đã không còn như trước kia.
Cái chết của Hoàng Đạo cho người Việt Nam thấy rằng họ cần thức tỉnh: nước Pháp không có gì mới cả”.

Chính sai lầm của người Pháp cũng như người Mỹ là họ lăn lộn ở đây, chết chóc ở đây, đổ người đổ của vào đây, nhưng họ
biết rất ít về con người của đất nước này. Có người sẽ bảo: không, họ không phải không hiểu. Chứng cứ là tài liệu nghiên
cứu cả địa lý, lịch sử, dân tộc học... Người Pháp đã có nhiều công trình. Thậm chí bây giờ nhiều giáo sư, tiến sĩ của ta thèm
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo cái thư viện của Pháp, Mỹ, Nhật để tìm các tài liệu về chính dân tộc mình. Tài liệu khoa học nhiều, nhưng người Pháp vẫn
đứng trên lập trường của nước Pháp, theo cái nhìn Pháp, không thấu hiểu. Cái nhìn của chính quyền bề trên, “nước mẹ đại
Pháp” nhìn xuống kẻ nhược tiểu, muốn có sự khuất phục.

“Đấy, đấy là lý do để ông thua cuộc chiến tranh nhân dân” - Nghe câu này, vị tướng đi tới đi lui bực bội. Nhưng ông suy nghĩ, không thể vì đấu lý mà quên đi
mục đích cần đạt được qua cuộc gặp gỡ này, là chọn người đại diện. Ông đưa ra con bài Bảo Đại. Hoàng Đạo: “Tôi không rõ trung tướng biết Bảo Đại đến đâu
nhưng tôi thì nhận xét rằng: Với Bảo Đại, biểu ông ta làm đúng cũng không dám làm chứ đừng nói làm sai. Ông ta không phải con người hành động”. Hoàng

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100905.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100905.html

Đạo nghĩ: đã làm chính trị ai là người không rõ bản chất của Bảo Đại là thích đánh cờ, đi săn bắn và có nhiều phụ nữ - Ai cũng biết hết, không lẽ nói ra? Đến cái
chiếu thoái vị cũng do cụ Phạm Khắc Hòe thảo.

Nhưng không có cách nào khác, Alexandri quyết định, vẫn phải dùng lại con bài Bảo Đại. Tuy nhiên, phải có một cố vấn. Người cố vấn đó, Alexandri chọn
Hoàng Đạo-dù rằng bên cạnh Bảo Đại lúc đó đã có cố vấn chính trị Cút Xô, người của thượng sứ toàn quyền Thái Bình Dương Pi-nhông.

Từ đây, người Pháp tạo điều kiện cho Hoàng Đạo vào Nam ra Bắc, lên cả Đà Lạt làm việc với quốc trưởng - Cái tờ giấy màu vàng to in cờ ba sọc để làm giấy
chính thức ngày ấy, cũng như biên bản các cuộc tiếp xúc, tranh cãi này, bây giờ vẫn còn được lưu giữ tại Hà Nội.

20. Ông trở thành một chính khách quan trọng, luôn phải giao tiếp với các nhân vật quan trọng như Cút Xô, Lê Ông Pác-mít người đại diện của thượng sứ Thái
Bình Dương. Tiếp xúc với đại diện của Bảo Đại, rồi làm đại diện cho Bảo Đại, ông gặp Bảo Đại năm nào?

“Sao lại năm nào?”. Ông nhíu mày nói: “Tôi ít nhớ - Hình như trong vòng sáu tháng tôi đã trèo lên được cái nấc thang cao nhất, đã trèo lên đó rồi”.

Vào tới Sài Gòn, Hoàng Đạo được Ưng An, đại diện của Bảo Đại đón tại sân bay Tân Sơn Nhất, đưa về khách sạn. Hôm sau xe lại tới đón ông lên dinh toàn
quyền. Trong biên bản cuộc họp tại biệt điện thành phố Sài Gòn, đại diện cho thượng sứ Thái Bình Dương là Pác-mít, Hoàng Đạo và Ưng An đại diện của Bảo
Đại, họ bàn việc đi đến hợp tác và tổ chức một bộ chỉ huy hỗn hợp. Cũng ở đây, một đề nghị được đưa ra: Một phái đoàn sẽ ra kiểm tra và tham quan “chiến
khu” của Đảng Phục Việt của ông Hoàng Đạo tại Thanh Hóa. Như ta biết, đó là chiến khu giả của Việt Minh tạo ra để lừa địch như thế nào. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a100905.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101024.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
Đó là đã vào đầu năm 1948. Tại Dinh 1 Đà Lạt, Hoàng Đạo tiếp kiến Quốc trưởng Bảo Đại. “Tôi với tư cách là đại diện các đảng phái
nên phải để râu cho già một chút, mặc đồ Tôn Trung Sơn màu xám, đi giày đen. Có một bảo vệ mang súng đi kèm, chính là Kim Sơn.
Tôi đẩy cửa gió đi vào, dáng dấp lãnh tụ phải tập. Hôm trước bàn với Kim Sơn rồi: Kim Sơn phải mở cửa, kéo ghế cho “lãnh tụ ngồi” -
Hoàng Đạo kể tiếp.

Lễ tân phía Bảo Đại là Phạm Bích ra mở cửa, Hoàng Đạo biết mình phải ước lượng bước khoảng bốn bước chầm chậm để tới kịp lúc
Bảo Đại giơ tay ra, bắt tay. Phạm Bích (con của Phạm Quỳnh, bấy giờ là Đổng lý văn phòng quốc trưởng), đẩy cửa gió và lui ra mời -
Ngài Hoàng Đạo vào... một giây, quốc trưởng bước ra, cùng đứng trên bức thảm đỏ giữa phòng... bắt tay chính khách Hoàng Đạo...
Lời lẽ, sáo ngữ tuôn ra nghiêm trang, giờ lịch sử giả tạo của đám bù nhìn lạnh lùng của Pháp bắt đầu. Họ ngồi xuống ghế. Bảo Đại:
“Ông từ ngoài kháng chiến mới vào có phải không?”. “Dạ phải!”. “Hồ Chủ tịch có mạnh khỏe không?”. “Thưa, cảm ơn quốc trưởng, tôi
có nghe nói Hồ Chủ tịch khỏe”. “Thế còn các ông bộ trưởng cũng được khỏe luôn chứ? Đặc biệt xin hỏi ông Phạm Văn Đồng có được
khỏe không?”.

Sau những lời thăm hỏi thông thường ấy, Hoàng Đạo đi vào đề một chuyện mà thâm tâm ông luôn luôn nhớ: Thanh Hóa. Tổ A.13 đã
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
nhận định, đó là con đường đi vào Nam, là kho thóc của kháng chiến - Bảo vệ bờ biển thì ta chưa có hải quân. Giặc mà đánh cái đập
Bái Thượng là mùa màng mất hết, quân dân vùng kháng chiến sẽ bị đói. Tướng Nguyễn Sơn nói rằng về quân sự ta muốn cắm cờ
chỗ nào trong Thanh Hóa đều được hết, nhưng giữ không được. Phải giữ Thanh Hóa bằng trí tuệ, bằng mưu trí. Một lần khi quân Pháp đổ bộ đánh Thanh Hóa, Hoàng Đạo
đã biết trước lộ trình kế hoạch, báo ra cho quân ta chặn đường đánh tan nát. Điều đó chứng minh lời ông vẫn khuyên can ngăn ngừa. Nhưng cũng chỉ dừng ở mức ấy, ta
chưa đủ sức để làm chủ Thanh Hóa hoàn toàn. Đó là điều tâm niệm trong lòng, hôm nay ông có dịp động viên quốc trưởng Bảo Đại đứng về phía mình. Phải biến quốc
trưởng thành “cộng tác viên” vô tình của cách mạng bằng cách giữ Thanh Hóa không để cho Tây vào. Ở đó có lăng ông tổ nhà nguyễn, nơi hoàng triều cương thổ và có lăng
Triệu Tường. Nói chính xác ra, phải giữ yên đập Bái Thượng cho dân Thanh Hóa có cơm ăn và là vựa thóc nuôi Việt Bắc. Đây chính là lúc nói chuyện này với Bảo Đại.
Hoàng Đạo thưa: “Nếu tôi biết không lầm thì năm 1945 cách mạng thành công, ngài thoái vị, ngài có yêu cầu hai việc đều được Hồ Chủ tịch chấp thuận: Việc thứ nhất là ngài
không còn làm vua thì xin cho ngài được làm con của nhà Nguyễn một cách trọn vẹn đầy đủ là bảo vệ tôn lăng các tiên vương. Điều thứ hai là đối xử với người trong Hoàng
http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101024.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101024.html

tộc được bình đẳng”. Hoàng Đạo nghĩ thầm “Tôi nói Hồ Chủ tịch chấp thuận, chứ không nhắc lại Hồ Chủ tịch phong ngài là công dân số 1 - Công dân số 1 đâu mà lại đi theo
Pháp thế này” - Ông nói tiếp với quốc trưởng: “Hôm nay tôi vào với tư cách là một người Thanh Hóa. Phải nói rõ như thế. Tôi muốn ngài cố gắng tối đa đừng để người Pháp
bước chân vào Thanh Hóa. Nếu họ vào, không thể bảo vệ lăng Triệu Tường ở Hà Trung được (đến đây ông lại thầm nghĩ: Không lẽ nói rằng nếu để quân Pháp vào, nông
dân người ta đào mả nhà ông lên vì ông rước Pháp vào giày xéo quê hương giết hại dân lành).

Đức quốc trưởng rất hài lòng chấp thuận, còn vui vẻ khi nghe Hoàng Đạo nói có gặp Đức Từ ở trong nội. Bố vợ của Hoàng Đạo là Bửu Trí, một võ quan tam phẩm, thị vệ
trưởng cuối cùng của nhà Nguyễn, là người luôn ở bên cạnh Đức Từ (là bà Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại tên thật là Hoàng Thị Cúc, tức Hoàng Thị Sắc).

Ông có cả một thời kỳ “sống đời vua chúa” rồi còn gì. Tôi hỏi ông có bao giờ gặp Nam Phương hoàng hậu không - Hoàng Đạo tả: Bà Nam Phương cực kỳ đẹp, mũi cao, da
trắng. Nói chuyện chỉ ra dấu vì bị điếc, lúc nào cũng cười đáp lễ. Mặc áo dài, tóc bới thấp kiểu Nam bộ. Có lần bà gọi con gái ra chào tôi. Công chúa Phương Mai thì phải”.

Cuộc đời “lãnh tụ” đã kéo ông tới những cuộc tiếp xúc rộng rãi. Ông đã gặp bao nhiêu loại người, bao nhiêu đẳng cấp khác nhau vào quãng đời đó?

Làm sao nhớ hết! Bây giờ chỉ kể theo trí nhớ bất chợt thôi - Lúc còn tìm hiểu các loại chính kiến, đảng phái, đã tiếp xúc với Trần Văn Lý, Chủ tịch Hội đồng an dân Trung kỳ,
gặp tại nhà riêng ở gần cầu xe lửa Huế. Trước kia cũng gặp Ngô Đình Diệm từ Tòa khâm sứ sang tiếp. Ở Hà Nội thì gặp Nguyễn Hữu Trí khâm sai miền Bắc để thăm hỏi và
bàn góp sức “Chấm dứt chiến tranh tương tàn” ở Việt Nam. Một người “nguy hiểm” mà ông gặp là Phạm Kim Xuyến, đại diện cho giám mục Lê Hữu Từ ở Phát Diệm mưu
toan lập xứ Công giáo tự trị ở miền Bắc. Ở dưới nhà ông Xuyến này có cả máy in bạc giả Việt Nam. Các chính khách lớn đều lui tới. Họ đã tổ chức cho quân Pháp nhảy dù
xuống Phát Diệm. Cũng có một cuộc gặp khác mà ông nhớ sâu sắc, đó là lần ông Chu Duy Kính đi liên lạc, phải tìm đường khác để tránh tên Mô-la. Mô-la là viên quan tư
nhảy dù xuống Phát Diệm đang tiến hành giúp xây dựng công giáo tư trị - Trước đây Chu Duy Kính là liên lạc viên của chúng ta ở Hà Nội bị bắt, Mô-la đã bắt Kính làm bồi
cho hắn. Suýt nữa mà Kính đi qua ngã đó, không biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Đời hoạt động xa xưa sớm một chút nữa, ông gặp cả những người như Bùi Quang Chiêu, Trần Văn Khá, Trương Văn Bền hoạt động báo chí.

Chỉ riêng những cuộc gặp gỡ, các mối liên hệ với những con người đủ mọi lĩnh vực, cũng thấy đời ông thật kỳ lạ. Ông sống lâu, nhưng không giống những ông già bình
thường mà chính là một con người sống gắn bó với những biến động dữ dội của lịch sử.

Thời kỳ sống ngay ở đầu sóng đời sống chính khách, sống cạnh vua chúa, ông phải luyện cử chỉ cho đúng vai thượng thư trong cái “Ủy ban tham mưu tối cao Pháp - Việt”-
Trước lúc nói phải suy nghĩ, ngay cả việc ngồi cũng phải luyện. Lần đầu tiên ăn yến, đưa cái khăn để cái chén lên, ăn một miếng cho người ta bê đi. Đó là một vở kịch. Về
đám người xung quanh thì ông nghĩ: Chúng mày cũng đóng kịch trước mặt tao thôi. Mồm lúc nào cũng nói đến quốc gia hưng vong mà tối đến đi chơi cô đầu nhà thổ. Luôn
mồm nói chuyện chống Tây nhưng lại đi làm cho Tây để lấy tiền. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101024.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101120.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
Đời ông nếm đủ - từ cái việc học ăn món da quay chấm mật ong, phải nhìn bọn đầm cách cầm dao khoét miếng thịt gọn gàng. Nhìn
mà học cách Bảo Đại ăn yến để tay, gác khăn, mới đặt chén lên. Cho đến cả việc lạ đời ông như học nhảy đầm. Ngó người ta bước
thì bước, không được ôm sát bà lớn. Tay đặt lên vai... Đi một vòng nhảy, đèn bật sáng phải cảm ơn rồi đưa người ta về bàn ngồi với
chồng. “Tôi biết ơn Kim Sơn, anh ta giúp đỡ tôi nhiều trong cái xã hội lạc lõng ăn chơi. Khi người ta rót ly, Kim Sơn kín đáo đổi ly của
mình qua. “Hoàng Đạo ở vùng kháng chiến vào, luôn tự nhận mình là dân dưới đáy, giờ đây buộc lòng sinh hoạt thượng lưu. “Nhảy” từ
một công dân nghèo khổ lên chỗ mỗi khi ông đi đâu, chi tiêu gì có người đi theo trả tiền. Dại gì không tận dụng thời cơ ấy: hễ cô nào
liên lạc từ kháng chiến vào, “ông Hoàng” cho cây bút pa-ke, một sợi dây chuyền và bộ quần áo. Chống Pháp mà lãnh trợ cấp của
Pháp. Ông cũng gởi cả cây bút để “Ánh Mai” tặng cho giáo sư Đặng Thai Mai. Chiếc bút gởi cho ông Nguyễn Văn Ngọc, chỉ huy công
an Trung kỳ của ta thì có hai chữ “Ánh Ngọc”. Mãi sau này, người kiến trúc sư ở Hà Nội là anh Đặng Thái Hoàng, con trai của giáo sư
Đặng Thai Mai vẫn còn giữ chiếc bút ấy. Ông vẫn nhớ câu nói của giáo sư Mai: Hãy giữ Thanh Hóa bằng cái miệng của anh!

Sau này khi về hưu, Hoàng Đạo lĩnh lương hưu cùng phường với nhà văn Nguyễn Công Hoan. Họ thường đùa vui nhắc đã một thời
Hoàng Đạo sống như ông Hoàng! Hoàng Đạo biết Nguyễn Công Hoan ngay từ tác phẩm “Kép Tư Bền” vừa in xong - ông ra Hà Nội,
gặp và quen Nguyễn Công Hoan tại nhà chủ bút Nguyễn Đình Long. Họ đã cùng trao đổi văn chương từ ngày ấy. Qua gần hết cuộc
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
đời, họ lại gặp nhau ở nơi cùng nhận lương hưu. Ông có lần hỏi nhà văn “vì sao lương tôi lại hơn anh”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan
hài hước: “Vì tên tôi Hoan, còn tên anh Hoàng, anh hơn tôi chữ g”.

21. Một buổi sáng khi tôi tới phòng làm việc trễ, thì đã thấy ông Hoàng Đạo ngồi ngay ở bàn làm việc của tôi, hí húi viết. Ông thường tạt qua như vậy chẳng báo trước, khi
không gặp, để lại vài dòng nhắn tin. Tôi buồn cười khi thấy ông ngẩng đầu lên chào tôi rồi lại cúi xuống viết tiếp. Người cần nhắn đây rồi, anh còn viết thêm gì đó? Nghe tiếng
tôi, ông vội vã chấm ba chấm vào tờ giấy viết thư và ký tên một chữ Hoàng to tướng.

Trong thư nhắn rằng, ông sợ tôi không hiểu hết, không lý giải nổi một nhân vật vì sao lại gặp nhiều khó khăn và chạm cay đắng trong cuộc sống. “Nếu đời người chỉ có hành
trang vào cuộc đời một cách bình thường thì lẽ ra phải được ăn học đào tạo, còn đây chỉ được học đến lớp dự bị trường làng (trên lớp đồng ấu) rồi phải đi ở đợ chăn trâu để
http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101120.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101120.html

lấy tiền, chỉ có mười đồng để chôn cha...

Lòng tôi se lại khi đọc những dòng chữ. Nỗi buồn mơ hồ về bao tài năng Việt Nam đã phải trải qua chiến tranh, những tài năng như ông mà chỉ dám ước mơ “tiếng học” -
nhịp điệu của nhà máy. Nhờ tìm đến với cách mạng trong tranh đấu, tìm ra lẽ sống của người...

Ông lo rằng tôi “say sưa” với hình ảnh ông hoàng của tầng lớp trên, mà quên đi những ngày thơ ấu của ông trên cánh đồng quê hương.

Không, sao tôi lại có thể quên được cái xuất xứ quan trọng ấy. Đã đến lúc cần phải nói đến cánh đồng thơ ấu của ông. Hình như bao đổi thay, bao thăng trầm, cái điều cuối
cùng còn lại vẫn là quê hương nơi đã sinh ra.

***

Vẫn còn đây đó cậu bé Nguyễn Văn Hoàng trong một con người từng trải này. “Tôi chỉ học lớp dự bị trường làng. Hình như trật tự học hành thuở ấy là: lớp đồng ấu, lớp dự
bị, lớp nhì hai, lớp nhì một, lớp nhất, rồi mới thi sơ học yếu lược”.

Không rõ lớp dự bị ở cái làng Dĩ An, tổng An Thổ, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định thuở ấy cậu bé đã học được gì nhiều chưa - Một sớm mai mẹ gọi về để chôn cha. Cậu thôi
học từ đấy. Lý do rất thương tâm: Phải đi ở đợ lấy tiền trả nợ cho chi phí đám tang chôn cha.

Một cậu bé tám tuổi, ở trần đen thui dưới nắng, cầm cái roi đi theo ba con trâu, hai con bò trên cánh đồng làng. Cái vùng đất ấy ngày nay không còn nữa. Ngay lúc đó, tuy
hoang vu với cây mít nài nhiều người thắt cổ, đi qua ai cũng sợ, chú bé cũng sợ, tuy vậy người ta cũng đang để vật liệu trên cánh đồng để xây dựng Nhà máy xe lửa Dĩ An.
Những thay đổi đã âm thầm đến với đất quê. Ngày nay, cuốn lịch sử đang viết cho vùng đất này với phong trào đấu tranh oanh liệt của công nhân xe lửa Dĩ An. Các mốc thời
gian đã có một bề dày: Nhà máy bắt đầu làm từ năm 1902 cho tới 10 năm sau hoàn thành, do toàn quyền Albert Sarraut cắt băng khánh thành. Đây là nhà máy xe lửa lớn thứ
hai sau nhà máy xe lửa Tràng Thi ở Vinh - Nghệ An. Việc Tỉnh ủy Bình Dương mời tham gia đóng góp ý kiến cho cuốn lịch sử phong trào công nhân đã làm sống dậy mạnh
mẽ ở ông cảm xúc thời niên thiếu. Lại sống dậy hình ảnh chú bé chăn trâu quanh quẩn ở bên ngoài nhà máy, không có ruộng cày phải thuê ruộng ở làng Bình Thung, Bình
Thắng cách 6, 7 cây số để làm ruộng. Những ngày mùa phải đưa trâu đến làm. Chú bé ngủ trên chuồng trâu để ba giờ đêm có người gọi dậy. Nhảy lên nằm sấp trên lưng
trâu, đắp áo tơi bằng lá chằm. Đếm và quan sát trâu bằng cách nghe trong đêm tối tiếng chân trâu rút lên khỏi bùn kêu oàm oạp. Nằm trên lưng trâu, đợi sao mai mọc lên,
tiếng chuông nhà thờ Bến Gỗ rung thì chủ ra lấy trâu đi cày. Còn chú, ăn cơm xong vác đôi giỏ, quang gánh sang xã Tân Vạn cắt cỏ gánh về. Đi trên con đường có hai hàng
cây sao cao chót vót và bụi mù u bên đường heo hút. Chú vừa bước vừa đầm đìa nước mắt tủi thân nhớ mẹ. Cánh đồng thơ ấu của chú còn hai địa danh nổi tiếng là Vũng
Bèo và Vũng Trường, nơi cho trâu ăn và uống nước. Nơi đó chú thường bị đánh nếu sểnh ra để trâu ăn lúa. Cây chàm của làng Bình Đáng - nơi sau này ông Ba Trò thợ sắt
đưa Hoàng Đạo về diễn thuyết, thành lập Hội nông dân không có ruộng cày, những thứ ấy ngày nay không còn dấu vết. Nhà lầu đã mọc lên san sát. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101120.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101214.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
Ở đó có một sức hút ghê gớm, một nỗi khao khát đã nung nấu lòng chú bé nghèo khổ. Mỗi nhịp gõ lạch tạch cheng, tịch tịch bùng của
thợ cả cho đám thợ học việc tập rèn, đâp búa đã trở thành nhạc điệu thần kỳ trong tai chú. Quê nghèo, không có ruộng cày, mơ trở
thành thợ của vùng công nghiệp đang lan tới người dân quê như một giấc mơ đổi đời. Đất cằn cỗi và thiếu nước. Giếng đào sâu tới cả
chục thước, nhìn xuống đen ngòm thăm thẳm chứ không thấy nước. Nhiều cô gái lấy chồng, về làm dâu ở đó chỉ sợ đi lấy nước mà
bỏ trốn luôn. Thời kháng chiến sau này các chiến sĩ đào hầm xuống giếng rồi đào ngách ngang chui vào vẫn khô ráo. Hầm cơ quan
bây giờ như một thứ địa đạo di tích kháng chiến cho khách tham quan. Cảnh vật bây giờ đã đổi khác. Lịch sử nhà máy cũng phải viết
một cuốn sách dày - những hình ảnh và những xúc cảm của chú bé nghèo khổ ấy vẫn sống trong lòng ông Hoàng Đạo tuổi đã 90 sắp
sang thế kỷ XXI. Lòng ông vẫn mang hình ảnh những năm xa xưa của thế kỷ trên đồng Cây Gõ khi có Đảng, người ta treo cờ lên đó.
Bọn giặc phải đem súng bắn gãy cây cờ, rồi bắt những người tù leo lên đưa cờ xuống vì chúng sợ có gài mìn.

Khi chú bé mười tuổi mới trả hết nợ chôn cha. Chú chỉ mơ ước trả nợ xong được làm thợ nuôi mẹ. Công việc đầu tiên của đời công
nhân - bắt đầu bằng việc chăm nước cho thợ tiện, cho tới lúc mười ba mười bốn tuổi, chú bé khéo tay đã biết làm nghề, đã có tiền để
góp tiền Công hội Đỏ mỗi tháng một hào. Lương đã lĩnh mỗi ngày một hào - còn gọi là một cắc - một tháng được hai đồng sáu - Con
số này ăn sâu vào tiềm thức đến bây giờ: nỗi vui sướng của người thợ bé con. Cũng ở cái nôi của phong trào công nhân ấy, cậu bắt
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
đầu tham gia cách mạng.

Hoàng Đạo kể đến đây thì cười - Ông biết là chuyện này đã nói rồi, ông vẫn nói lại - Có lẽ ông hài lòng nhớ lại miếng sắt thử nghề bữa đó làm rất đẹp: lật sáu mặt của khối
sắt đo đều khít với một lỗ nhỏ có thể luồn thông qua nhau. Trong nụ cười của Hoàng Đạo, tôi thấy như ở đó hình ảnh một chàng trai, người thợ ở tuổi mười tám.Tuổi mười
tám!

Bây giờ khó hình dung ra hoàn cảnh của ông lúc đó, cũng phải thôi! Ngay chính các con của ông chắc gì đã hình dung ra - Bởi ngày nay, trong cái gia đình nghèo khổ thì trẻ
em cũng vẫn ra đi làm việc kiếm sống, bán bánh, bán khoai đương đầu với hoàn cảnh phức tạp. Nhưng có rất nhiều người ở tuổi mười tám, cơ thể trưởng thành nhanh hơn
nhận thức. Dưới con mắt của nhiều gia đình trung lưu, con cái ở tuổi mười tám chưa phải là người lớn. Chân cẳng nhiều đứa “cao lêu đêu” như người “ngoài hành tinh”.
http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101214.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101214.html

Càng giống hơn nữa khi nó vừa đẩy cây lau nhà vừa đeo headphone, ai gọi cũng phớt tỉnh, mười tám tuổi, nhiều đứa còn say sưa với những ban nhạc Backstreet Boy hoặc
Boyzone, Savagegarden, với Spicegirls, còn đang mê đắm các anh chàng râu tóc bù xù ôm cây đàn hát những khúc tình ca...

22. Thỉnh thoảng ông vẫn “ập đến” mà không hẹn như thế. Tôi bắt đầu phát hiện ra một điểm yếu ở ông là ít tính toán và rất phí sức lực, thích là làm. Có lẽ từ đây tôi hiểu
hơn vì sao mỗi cuộc họp gia đình, ông hay bị “phê bình” - Mà đâu có ngán! Lại đi, lại đến, đi cả một quãng đường dài đôi khi chỉ để nói dăm ba câu.

Hôm nay, ông nhắn gì đây? Không, ông cầm theo một bản thảo, vỗ vỗ vào đó: “Một việc trước mắt, người ta trả tiền” - Đó là cuốn lịch sử nhà máy và phong trào công nhân Dĩ
An mà ông có nhiệm vụ góp ý kiến - Ông bảo: “Góp rất khó, vì người ta viết các vấn đề lý luận đều đúng cả, chỉ có điều chưa sát với thực tế Dĩ An. Có lẽ tôi sẽ viết riêng ra
cái phần tư liệu mình biết để đưa cho họ”.

Ông quay ra phân trần: Sự hình thành giai cấp thời kỳ chủ nghĩa tư bản không thể dùng lý luận chung gán ghép. Đặc điểm công nhân Dĩ An xuất thân từ nông dân chỉ có
nghề làm ruộng mà lại không có ruộng - Họ ước mơ làm thợ để có ruộng và hai con bò kéo - Họ ước mơ cụ thể kiểu nông dân - Ông thường xuyên đi về làng quê, nay đã là
nhà máy lớn - Vẫn phát hiện ra dấu vết còn lại của ngày xưa. Người công nhân bây giờ khi mở cửa cho xe ra vào, không biết cái vật dính trên tường chính là dấu vết chiếc
chìa khóa của gác dan đi tuần ngày trước, gác dan đeo đồng hồ có 100 cái ổ khóa để đi kiểm tra. Chính gác dan bị kiểm tra gắt gao. Nếu không đi đủ tua, không đếm được
từng chiếc chìa khóa lắp dính trên tường để lên giây, đồng hồ sẽ chết - Đi hai vòng hết một đêm.

Ông Hoàng Đạo mỉm cười kể về cái thưở ban sơ học lý luận chủ nghĩa Mác - Những người ít học như ông thì hiểu vần đề hóc búa của kinh tế học bằng bài toán thật sơ lược
về giá trị thặng dư như sau: Đi làm thợ cắt tóc thuê cho chủ một ngày ba hào. Cắt mười cái đầu mỗi đầu hai hào. Mười lần hai là hai đồng. Sau khi trừ chi phí mọi thứ, còn dôi
ra là m...

Thực tế cuộc đời ông đã nhìn thấy tận mắt sự bóc lột ấy như một chứng minh xác đáng.

Người kỹ sư tên là Péc-ke làm sếp ở nhà máy xe lửa Dĩ An đã “đẻ” ra cái “bông-đơ tra vai”: Tiện cái máy này phải mất hết mấy giờ? Người công nhân làm hết bốn giờ, cái
“bông-đơ tra vai” ghi lại. Khi người công nhân làm vượt mức, chỉ hết có ba giờ chẳng hạn, liền được thưởng. Chỉ tiêu định mức bậy giờ không phải bốn giờ như trước nữa,
bởi thật sự anh chỉ làm có ba giờ thôi. Nếu lần này người công nhân lại chỉ làm hết hai giờ, lại thưởng và cái mức do cái “bông-đơ tra vai” ghi sẽ là hai tiếng. Cứ như thế,
người thợ phải chạy theo cái mức sát sao đó do chính mình tạo ra đến nỗi không kịp đi vệ sinh được nữa. Nó siết người thợ, dùng ngay chính quyền lợi của người thợ mà
siết họ vào.

Chính viên kỹ sư Péc-ke này, sau khi mãn hợp đồng làm việc cho hỏa xa Đông Dương đã mua lại hãng sửa tàu và vận tải Sài Gòn - Nam Vang (CSNT) lập nên hãng SIMAC.
Nay là Caric chuyên đóng sửa tàu thủy bên kia Thủ Thiêm. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101214.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101284.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước

Đâu phải tới lúc học tập mới hiểu bóc lột là như thế nào. Tất cả đối với ông đều từ thực tế dữ dội mà làm vững chắc thêm
nhận thức - không chỉ dừng chân ở nhận thức, mà sự thật cần thiết đã thúc đẩy ông làm được cả những điều không thể làm
được. Cần phải truyền cho thợ người Hoa cùng đứng lên trong đội ngũ công nhân Việt Nam. Cái tính hăng hái này vượt qua
hàng rào ngôn ngữ. Ngay những người nghe, cũng chỉ phải hướng về những ý tưởng sục sôi của người nói. Cái giọng lơ lớ
của người mới học thuộc lòng được cũng chẳng sao: Đồng lòng “thùng xám” chúng tôi “ngộ tì” ngộ tì thùng xám - bì èn tì
há ủ tố (khổ sở nhiều quá rồi, phải đồng lòng...). Đó là lời diễn thuyết ông đã từng nói với thợ thuyền người Hoa.

23. Không phải ngẫu nhiên mà Hoàng Đạo bị thành kiến là con người phiêu lưu mạo hiểm - Điều này có phần đúng. Nó
xuất phát từ bản tính yêu tự do - mà các điệp viên không được phép mắc sai lầm này. Dù sao tôi cũng không có nhiệm vụ
phải tranh luận gì quanh việc này, bởi chính ông đã trả giá. Câu chuyện của ông, lần này phải đối mặt với một đoạn đời khó
chịu nhất: Ông suýt nữa bị xử tử và những ngày chờ chết ấy diễn ra ngay ở căn cứ cách mạng ở thành phố Sài Gòn - Gia
Định. Ông lại trải qua một lần tù, mà lần này đặc biệt hơn: Ông bị chính các đồng đội thân thiết giam cầm.

“Kinh nghiệm đau xót này chính do tính vô nguyên tắc trong hoạt động, tôi mắc phải khi đi vào chiến khu thành phố Sài
Gòn” - Đó là lúc ông đang là chính khách, đại diện của Bảo Đại, làm việc dưới sự bảo trợ của Pháp, ông vào Sài Gòn theo
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo các hoạt động với tư cách đó - Nhưng ông bị dày vò vì đã lâu lắm chưa về thăm mẹ, không biết bà sống chết thế nào. Đây là
một dịp hiếm có cho ông về thăm mẹ sau nhiều năm dài đi hoạt động ở miền Trung, miền Bắc. Hơn nữa, là một điệp báo, là
một người tham gia cách mạng rất sớm, ông biết rằng những chỉ huy của chiến khu cũng toàn là người bạn thiếu thời của ông; những người hoạt động ở Sài Gòn
như Trần Thắng Minh, Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây... Thế là từ Sài Gòn, ông đi ra. Ý ông muốn nhờ những bạn bè thân đó tìm cách - kể cả bắt - bà má từ Dĩ An
ra cho gặp con. Lúc đó chưa có cơ sở để ông về được Dĩ An. “Đó là năm 1949, tôi phải vô mật khu Hố Bò, trung tâm đầu não chiến khu Sài Gòn - Chợ Lớn”.
Hai người bạn thân đưa ông đi: Anh Hưng, người phụ trách công tác phản gián, người trước đây đã ở tù giam chung cùng xà lim với Hoàng Đạo trong nhà tù
thực dân. Người thứ hai là anh Mười Phát, phụ trách tình báo cho liên trung 512. Lúc đó chưa có sư đoàn, mới chỉ có liên trung đoàn.

“Hai người bạn như thế, đều là phản gián cả - đưa tôi vào chiến khu. Hai người khác đón tiếp cũng là những lãnh đạo lớn của chiến khu: Anh Khương, Bí thư
Sài Gòn - Chợ Lớn và anh Chiêu, Bí thư Khu 7”.

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101284.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101284.html

Hoàng Đạo nhớ lại cuộc đón tiếp có một không hai, một tình thế oái oăm, những người đồng chí biết nhau rất rõ, nhưng vì nguyên tắc hoạt động chặt chẽ, họ
không thể tin theo cảm tính được. Sau một hồi trao đổi, các anh hỏi: “Anh hoạt động những gì, làm gì cho cách mạng, ai cũng đã biết. Sao lần này lại vào Sài
Gòn có giấy tờ của Bảo Đại cấp. Anh đi gặp gỡ hết các đảng phái trong và ngoài khu tự do”. Họ đã được tình báo của ta báo rõ các hoạt động hợp tác với địch
của ông, thậm chí còn biết cả tin người Pháp sẽ dùng mọi cách để cứu ông, kể cả việc họ phải nhảy dù để cứu, nếu ông bị bắt. Các đồng chí yêu cầu Hoàng Đạo
trả lời, nếu không trả lời được thì đem bắn chứ không có điều kiện giam giữ, bởi chính họ cũng còn phải cơ động để chạy các cuộc càn quét của giặc. Cái cảnh
bị còng, bị thẩm vấn... thì đã nhiều trong cuộc đời của người tù trong nhà tù thực dân, Hoàng Đạo đã phải trải qua từ lúc còn vị thành niên. Nhưng trớ trêu thay,
lần này là những người của kháng chiến, của Đảng, người cùng đội ngũ với ông đã buộc lòng phải làm như vậy. Ông bị xích chân, mỗi bước đi phải dùng tay
nhấc sợi xích lên.

“Trong một gian nhà nhỏ thắp đèn măng - xông, suốt sáu đêm liền, một ông tên là Lưu hỏi - Ông ta luôn hỏi một câu vì sao đi vào chiến khu, vào với mục đích
gì. Tôi chỉ trả lời, đơn giản là vào thăm các anh và muốn gặp mẹ. Một người tình báo chiến lược lâu năm, có tên tuổi không thể trả lời như vậy. Nhất định phải
xâm nhập vào chiến khu với ý đồ khác” - Quả thật là khó tin, một người tình báo nắm rõ các nguyên tắc hoạt động phải kỹ lưỡng hơn ai hết, thì lại chỉ có một lý
do không ai nghe được: nhớ mẹ!.

Phó tư lệnh và phó trung đoàn trưởng liên trung, đồng thời là người bạn biết rất rõ Hoàng Đạo - Vậy mà các anh muốn đem bắn ngay để tránh hậu quả. Trước
nguy cơ ấy, Hoàng Đạo yêu cầu họ báo cáo bề Trung ương để ông kịp giao lại các đầu mối quan trọng và hệ thống hoạt động chiến lược của ông trong lòng
địch, rồi hãy xử bắn. Chính người cứu sống tôi là anh Phan Văn Chiêu. Anh nhân danh Bí thư Khu 7 ra lệnh tạm giam giữ để xin ý kiến Trung ương”. Hoàng
Đạo kể đến đây, trán ông nhăn lại - Nói đến người đã quyết liệt đòi bắn mình, ông chỉ lướt qua, nhưng nhớ đến những đồng chí đã cứu mình, dường như ông
mới nhức nhối - Nhìn ông, như là bị đau đâu đó trong người - Ông bảo: Cái người được sai chuẩn bị giết ông đó, là người trung kiên trước đây cùng tù, đã hiểu
thấu người đồng chí một lòng sống chết với Đảng. Không thể nào đem bắn một người như thế. Hơn nữa, theo lời khai của Hoàng Đạo thì ông làm tình báo của
Trung ương, nếu bắn ông mà chưa xác minh thì không thể được. Hoàng Đạo thường bị ký ức làm cho nhức nhối da diết với những cảnh vật và con người để lại
nghĩa tình trong ông, hơn là nhớ những gì phũ phàng. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101284.html 2/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101484.html

CƠ QUAN CỦA ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH BÌNH
DƯƠNG TIẾNG NÓI CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TỈNH
BÌNH DƯƠNG

Đời người xuyên thế kỷ


>> Xem kỳ trước
Lòng vừa mừng vì mọi chuyện còn tốt, chưa hỏng việc, nhưng Hoàng Đạo sẽ còn phải nhớ mãi lần hút chết này. Nhớ mãi những gian
nguy. Đâu đó tận sâu trong lòng, ông ân hận và đau khổ. Ông đã phạm vào một lỗi lớn để hy vọng được gặp lại người mẹ đã bao năm
cách xa, không rõ sống chết. Vậy mà trả giá quá đắt vẫn không gặp được mẹ. Ông chỉ còn nhớ cái lần cuối cùng gặp gỡ, trước khi trở
về Hà Nội. Lấy lý do đi kiểm tra các đồn Pháp và Cao Đài, ông rẽ về Dĩ An. Người mẹ gặp con vừa mừng vừa đau khổ. Không hiểu
trời cao đất dày xoay đổi thế nào mà con bà lại theo giặc. Bà run rẩy kể rằng khi con đi rồi, những người cách mạng tháng nào cũng
tới phụ cấp tiền và gạo. Họ săn sóc một người mẹ có con đi làm ăn với giặc, bị bỏ rơi. “Tình nghĩa vậy mà con lại theo giặc, mẹ biết
nói gì với họ?”. Hoàng Đạo an ủi mẹ: Hãy cứ trả lời với họ rằng con tôi làm gì, tôi không biết được - Mẹ cứ nói vậy!

Rồi con đi xa - Bấy nhiêu câu dặn dò làm sao giải tỏa được cho lòng mẹ hết đau khổ, mà con vẫn cứ biền biệt xa.

24.Câu chuyện về chiến công đánh chiến hạm Amyot D’inville được ghi lại trong lịch sử Công an nhân dân Thanh Hóa với tấm hình
ông Hoàng Đạo từ ngày còn rất trẻ. Ông mặc chiếc áo đen như bất kỳ người chỉ huy nào trong thời kỳ kháng chiến - Dưới tấm hình có
đề: Cán bộ Ty điệp báo bí số A.13 trực tiếp chỉ huy đánh đắm tàu Amyot D’inville của Pháp tại vùng biển Sầm Sơn - Thanh Hóa ngày
27-9-1950. Cuốn lịch sử đó cũng nói rõ Công an Thanh Hóa được Ty điệp báo Nha Công an Việt Nam giao nhiệm vụ phối hợp với
Điệp viên A.13 Hoàng Đạo
Công an Hà Nội trong một vụ án lớn. Nhân cơ hội Pháp bố trí chuyến tàu chở vũ khí, chuyên gia tăng cường cho “chiến khu ma”, đồng
thời đón người của Đảng Phục Việt và các tài liệu đem ra Hà Nội, một kế hoạch được vạch ra. Chị Nguyễn Thị Lợi, một chiến sĩ tình
báo trong vai vợ của Hoàng Đạo sẽ được đón lên tàu. Đây chính là điểm thắt nút cao nhất cho vở kịch được hạ màn. Các cán bộ và nhân dân, chính quyền Sầm Sơn, dân
quân đã chèo thuyền, vận chuyển súng đạn và tổ chức, gây cơ sở, phục vụ cho trận đánh được thắng lợi. Lịch sử Công an Thanh Hóa còn ghi tên những người như ông
Phạm Văn Khuyến chở thuyền, ông Cao Sử Sinh, Bí thư Chi bộ xã Quảng Tiến, ông Lương Ngọc Khuê cán bộ phản gián Thanh Hóa...

Một lần, khi đến nhà Hoàng Đạo, tôi thấy ông chỉ vào một bức tượng rất đẹp: “Đây là chị Nguyễn Thị Lợi, người cảm tử trên chiến hạm, vừa mới được truy phong anh hùng
tại cuộc hội thảo ở Sầm Sơn”. Còn ở một góc phía sau bộ sa lông tiếp khách, có bức tượng bán thân của ông Hoàng Đạo. Một sợi mạng nhện bám vào từ đỉnh mũi kéo

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101484.html 1/2
1/28/2018 baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101484.html

xuống miệng - Chắc chắn đã lâu chẳng ai nhìn ngó. “Chiến công, thì như cô biết rồi. Có thể nói là hàng ngàn trang sách báo đã viết, nhưng có những cái cũng chưa giải đáp
hết” - Tôi đề nghị ông nói thêm một chút về sự kiện đã được viết thành sách đó.

Pháp luôn đề nghị ông đưa vợ con qua Pháp, bảo đảm cuộc sống yên lành. Ở vùng tự do của Việt Minh, rất nhiều bất trắc - Đó là do một thiện chí thật sự, hay là họ muốn
nắm chắc con tin, số phận cả gia đình ông? Có lẽ muốn giữ con tin thì đúng hơn - mặc dù họ không nghi ngờ gì. Nếu nắm chắc được toàn bộ cuộc sống gia đình của ông
nữa, sẽ thực sự trọn vẹn bảo đảm về một nhân vật cao cấp, con bài chủ. “Lúc đó chúng ta chuẩn bị mở chiến dịch biên giới. Phải đánh mạnh cho chiến tranh mau kết thúc,
kháng chiến mau thắng lợi. Các đề nghị của Ngô Đình Diệm đưa tôi qua Mỹ học, về làm phó tổng thống, cũng như Pháp yêu cầu lập chính phủ bù nhìn do tôi làm thủ tướng,
tất cả đều bị lãnh đạo ta bác bỏ”.

Ông tóm lược về diễn biến của trận đánh:

Như các cuốn tiểu thuyết đã viết rõ: “Theo yêu cầu của tôi, Pháp đưa một tàu ghé qua Thanh Hóa đón vợ con tôi lên tàu. Tôi, Kim Sơn, Chu Duy Kính (phụ trách đánh mìn)
và Nguyễn Thị Lợi lên tàu. Anh Sử Sinh - Bí thư Chi bộ Quảng Tiến được lệnh của Huyện ủy Quảng Xương, lo việc phục vụ. Họ bố trí bốn tay chèo trung thành và khỏe
mạnh, chèo một chiếc thuyền đi biển đưa chúng tôi ra cặp mạn tàu Amyot D’inville - Một đêm mưa, biển tối đen, phải đánh moóc bằng dấu hiệu đèn pin - Chúng tôi lần lượt
trèo lên. Tôi đỡ chị Lợi lên bậc thang dây. Kim Sơn bảo vệ cầu thang phía trên để cho Kính đưa vali mìn lên. Mìn 30 kí-lô-gam, do công binh xưởng Công an Hà Nội làm ba
kíp, nổ định giờ. Chu Duy Kính là người có nhiều kinh nghiệm. Anh đã tham dự đánh cháy 30 máy bay tại sân bay Bạch Mai theo kiểu mìn này. Giờ đây anh đóng vai người
giúp việc - Chúng tôi đã xác định nếu vì trục trặc nào đó mà lộ ra thì đập mìn nổ và tất cả cùng chết theo con tàu.

Ông Hoàng Đạo dừng lại giữa câu chuyện, vì không thể không nói về nhân vật phụ nữ Nguyễn Thị Lợi, người đã được viết riêng một quyển sách. Ngày kháng chiến, người
viết đầu tiên về chuyện này là nhà văn Nguyễn Đình Lạp. Nhà văn tả rằng chị Lợi quyết hy sinh vì thù nhà nợ nước - Nợ nước thì có nhưng thù nhà thì câu chuyện rất éo le.
Chị Lợi người miền Nam theo chồng về Bắc, gặp phải cảnh chồng chung, cay nghiệt không thể ở được. Chị gởi lại đứa con gái ở quê chồng ôm đứa con trai bé bỏng, tìm
đường về quê. Đến Thanh Hóa, chị gặp người đồng hương Hoàng Đạo, nhận được sự giúp đỡ và khuyên không nên đi tiếp vì chiến tranh bom rơi đạn lạc. Chị Lợi vẫn cứ
quyết đi tìm đường về quê. Pháp đổ bộ vào Hoàng Mai, chị ôm con chạy trở lại và trên đường loạn lạc đó, đứa con trai đã chết. Buồn thương, tuyệt vọng, chị trở lại tìm
Hoàng Đạo. Ông mời chị ở lại trong nhà mình. Có lần chị đã tự vẫn không thành. Hoàng Đạo giúp đỡ, giác ngộ và chị tham gia hoạt động. Ở chị có lòng yêu nước, hy sinh vì
lợi ích Tổ quốc, có xen một tấm lòng đau khổ riêng tư nữa. Chị đóng vai phu nhân, đem vali vào phòng nằm nghỉ. Ở bên ngoài, tổ điệp viên A.13 đang lần lượt chào người
Pháp để xuống tàu. Bức tượng của chị Lợi đặt tại nhà ông Hoàng Đạo, được cả gia đình ông trân trọng gìn giữ, như một tài sản riêng. Họ luôn nhớ hình ảnh chị Lợi muốn
ông cúi xuống hôn từ biệt. Sau khi dặn dò ông, gởi gắm lại đứa con gái còn ở lại với bố ở Mỹ Hào, Hưng Yên, chị mỉm cười trong nước mắt. Sau này, ông đã thực hiện đúng
lời hứa. Trở lại Mỹ Hào đón bé Nguyễn Thị Tường Vân và Bộ Công an đã chu cấp nuôi cô bé đến trưởng thành. Đến bây giờ cô bé đã trở thành một phụ nữ có con học đến
đại học. Họ vẫn giữ quan hệ như cha con. Ông nhớ lại nụ cười từ biệt của người anh hùng năm xưa. Lòng ông đầy xót thương. Nuốt nước mắt, ông giục chị uống thuốc ngủ
để ngủ quên đi. (Còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

http://baobinhduong.vn/print/doi-nguoi-xuyen-the-ky-a101484.html 2/2