You are on page 1of 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

VIỆN ĐIỆN

TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN


ĐIỀU KHIỂN ĐIỆN TỬ CÔNG SUẤT VÀ ỨNG
DỤNG TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN
Đề tài: ‘ Tìm hiểu về hệ năng lượng gió sử dụng máy phát đồng bộ
nam châm vĩnh cửu (PMSG); Sơ đồ cấu trúc hệ thống
khi làm việc độc lập; nêu 1 sơ đồ nguyên lý các bộ biến
đổi tĩnh và nguyên tắc điều khiển’
Học viên: Nguyễn Đức Hạnh

Mã số học viên: CB150118

Lớp : SPKT 2015B

Giảng viên: TS Nguyễn Thế Công

HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2017


1
Đề tài: ‘ Tìm hiểu về hệ năng lượng gió sử dụng máy phát đồng bộ nam châm
vĩnh cửu (PMSG); Sơ đồ cấu trúc hệ thống khi làm việc độc lập; nêu 1 sơ đồ
nguyên lý các bộ biến đổi tĩnh và nguyên tắc điều khiển’.

1. Tìm hiểu về hệ năng lượng gió sử dụng máy phát đồng bộ nam châm vĩnh
cửu (PMSG)
1.1. Đặt vấn đề
Năng lượng gió đã được sử dụng từ hằng trăm năm nay. Con người đã dùng
năng lượng gió để di chuyển thuyền buồm hay khinh khí cầu, ngoài ra năng lượng
gió còn được sử dụng để tạo công cơ học nhờ vào các cối xay gió.
Ý tưởng dùng năng lượng gió để sản xuất điện hình thành ngay sau các
phát minh ra điện và máy phát điện. Lúc đầu nguyên tắc của cối xay gió chỉ được
biến đổi nhỏ và thay vì là chuyển đổi động năng của gió thành năng lượng cơ học
thì dùng máy phát điện để sản xuất năng lượng điện. Khi bộ môn cơ học dòng
chảy tiếp tục phát triển thì các thiết bị xây dựng và hình dáng của các cánh quạt
cũng được chế tạo đặc biệt hơn. Ngày nay người ta gọi đó tuốc bin gió, khái niệm
cối xay gió không còn phù hợp nữa vì chúng không còn có thiết bị nghiền. Từ sau
những cuộc khủng hoảng dầu trong thập niên 1970 việc nghiên cứu sản xuất năng
lượng từ các nguồn khác được đẩy mạnh trên toàn thế giới, kể cả việc phát triển
các tuốc bin gió hiện đại.
Vì gió không thổi đều đặn nên năng lượng điện phát sinh từ các tuốc bin
gió chỉ có thể được sử dụng kết hợp chung với các nguồn năng lượng khác để
cung cấp năng lượng liên tục. Tại châu Âu, các tuốc bin gió được nối mạng toàn
châu Âu, nhờ vào đó mà việc sản xuất điện có thể được điều hòa một phần. Một
khả năng khác là sử dụng các nhà máy phát điện có bơm trữ để bơm nước vào các
bồn chứa ở trên cao và dùng nước để vận hành tuốc bin khi không đủ gió. Xây
dựng các nhà máy điện có bơm trữ này là một tác động lớn vào thiên nhiên vì
phải xây chúng trên các đỉnh núi cao (có thể sử dụng mỏ khai thác quặng nằm
sâu dưới lòng đất mà thôi không sử dụng nữa để xả nước phát điện và lấy nước
bơm lên hồ chứa- Đây là ý kiến riêng của em).
Mặt khác vì có ánh sáng Mặt Trời nên gió thổi vào ban ngày thường mạnh
hơn vào đêm và vì vậy mà thích ứng một cách tự nhiên với nhu cầu năng lượng
nhiều hơn vào ban ngày. Công suất dự trữ phụ thuộc vào độ chính xác của dự báo
gió, khả năng điều chỉnh của mạng lưới và nhu cầu dùng điện. (Đọc thêm thông
tin trong bài tuốc bin gió).
2
Người ta còn có một công nghệ khác để tích trữ năng lượng gió. Cánh quạt
gió sẽ được truyền động trực tiếp để quay máy nén khí. Động năng của gió được
tích lũy vào hệ thống nhiều bình khí nén. Hệ thống hàng loạt bình khí nén này sẽ
được luân phiên tuần tự phun vào các turbine để quay máy phát điện. Như vậy
năng lượng gió được lưu trữ và sử dụng ổn định hơn (dù gió mạnh hay gió yếu thì
khí vẫn luôn được nén vào bình, và người ta sẽ dễ dàng điểu khiển cường độ và
lưu lượng khí nén từ bình phun ra), hệ thống các bình khí nén sẽ được nạp khí và
xả khí luân phiên để đảm bảo sự liên tục cung cấp năng lượng quay máy phát điện
(khi 1 bình đang xả khí quay máy phát điện thì các bình khác sẽ đang được cánh
quạt gió nạp khí nén vào).
Nếu cộng tất cả các chi phí bên ngoài (kể cả các tác hại đến môi trường như
thải các chất độc hại) thì năng lượng gió cùng với sức nước là một trong những
nguồn năng lượng rẻ tiền nhất.
1.2. Máy phát đồng bộ nam châm vĩnh cửu (PMSG) tua bin gió
Trong công nghiệp điện gió gồm những lọai máy phát điện:
• Máy phát điện dị bộ (Asynchron generator).
• Máy phát điện dị bộ kép (Double fed asynchron generator).
• Máy phát điện đồng bộ (Synchron generator).
• Máy phát điện đồng bộ vòng (Annular Generator) hoặc máy phát điện
nam châm vĩnh cửu (Permanent Magnet Synchronous Generator).
Phần lớn máy phát điện trong tua-bin điện gió tạo ra dòng điện xoay chiều
ba pha, tương tự những máy phát điện thông thường. Tùy theo lọai tua-bin điện
gió mà máy phát điện có điện thế và công suất khác nhau
• 12 V, 24 V ho ặc 48 V: Tua-bin điện gió dưới 2 kW.
• 120 V đến 240 V: Tua-bin điện gió từ 2 đến 10 kW.
• 400 V: Tua-bin điện gió đến 600 kW.
• 400 V: Tua-bin điện gió trên 1,0 MW không hộp số.
• 690 V: Tua bin đi ện gió trên 600 kW có / không hộp số.
(Hộp số trong Tua-bin điện gió là một bộ phận có tỉ lệ gây ra sự cố cao
nhất làm tăng chi phí cho ngành năng lượng điện gió. Việc bảo trì, sửa chữa hộp
số chiếm một tỉ lệ từ 15 đến 20 phần trăm tiền đầu tư. Để khắc phục và giải quyết
những nhược điểm cơ bản từ Tua-bin điện gió sử dụng hộp số, đầu năm 2011 Bộ

3
năng lượng Mỹ đã quyết định hỗ trợ700 triệu USD cho việc nghiên cứu và thử
nghiệm Tua-bin điện gió không dùng hộp số).
Từ năm 1993 công nghiệp điện gió sử dụng máy phát điện nam châm vĩnh
cửu được sản xuất và đưa vào thị trường. Nguyên tắc của lọai máy phát điện này
là sử dụng nam châm vĩnh cửu kết hợp nhiều cực trong một vòng khung và được
gắn trực tiếp với hệ thống Rotor. Công nghệ này trong những năm 90 không phát
triển vì giá thành vật liệu nam châm vĩnh cửu từ đất hiếm rất cao. Những năm vừa
qua việc khai thác đất hiếm tăng nên công nghệ máy phát điện nam châm vĩnh
cửu phát triển nhanh.

Hình 1: Máy phát điện nam châm vĩnh cửu trong tua-bin Avantis

4
Hình 2: Máy phát điện nam châm vĩnh cửu trong tua-bin Enercon E70

Hình 3: Máy phát điện nam châm vĩnh cửu trong tua-bin ScanWind

5
Sử dụng máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu, hộp số và máy phát
điện thông thường cuả tua-bin điện gió được thay thế bằng những mảng nam
châm quay vòng từ cơ năng của hệ thống cánh quạt. Với nguyên tắc thiết kế giản
dị này, máy phát điện họat động với tốc độ số vòng quay rất thấp nhưng nguồn
điện năng sản xuất cao. Những ưu điểm cơ bản khác là máy phát điện không cần
bôi trơn bằng dầu, thời gian bảo trì ngắn, độ bền cao và độ ồn phát sinh cũng
thấp. Nam châm vĩnh cửu được cấu tạo từ các các hợp chất của các nguyên tố đất
hiếm (rare earth) và kim loại chuyển tiếp có khả năng giữ từ tính cao và là nguồn
tạo ra từ trường như chất Samarium - Cobalt, Neodym (Nd), Dysprosium(Dy)
hoặc Terbium (Tb).

Hình 4: Cuộn dây đồng trong bộ phận tĩnh Stator.


Cảm ứng điện từ sảy ra trong những cuộn dây đồng của bộ phận tĩnh Stator
nhờ những lớp nam châm vĩnh cửu đặt tại vòng quay Rotor. Khi Rotor quay,
nguồn từ trường làm chuyển động những nguyên tử electron và phát sinh ra dòng
điện.

Hình 5: Rotor máy phát điện và phận lõi Stator - Tua-bin Avantis

6
Hình 6: Rotor máy phát điện nam châm vĩnh cửu - Tua-bin Avantis

Nguyên tắc kích thích bởi nam châm vĩnh cửu


Trong nguyên tắc kích thích bởi nam châm vĩnh cửu, công suất tua-bin điện
gió chỉ điều khiển được theo tốc độ số vòng quay của Rotor và có ưu điểm là
không cần một nguồn điện từ bên ngòai.

Khi tua bin gió quay kéo rô to là quay với tốc độ n (vòng/phút), từ thông do
nam châm vĩnh cửu quét qua các cuộn dây 3 pha của phần ứng trên Stato, gây ra
sự biến đổi từ thông trong các cuộn dây này theo chu kỳ . Theo định luật cảm ứng
điện từ trong 3 cuộn dây ký hiệu là AX, BY, CZ sẽ xuất hiện 3 S.đ.đ cảm ứng e a,
eb, ec .
Vì 3 cuộn dây có cấu tạo giống nhau và trục của chúng lệch nhau 120 0
trong không gian, nên các s.đ.đ có trị số hiệu dụng bằng nhau và lệch pha nhau
1200 (tức 1 / 3 chu kỳ ) công thức tính trị số hiệu dụng của s.đ.đ là :
E = 4,44.w. f..k (4–2)
7
p.n
Trong đó : + f = là tần số của s.đ.đ
60
+ p số cặp cực của bộ dây
+ n là tốc độ quay của rô to (nam châm vĩnh cửu)
+ w là số vòng của 1 cuộn dây pha
+  là từ thông của nam châm vĩnh cửu
+ k là hệ số quấn dây
Các cuộn dây phần ứng nối hình sao 3 đầu cuối X,Y, Z được nối lại một
điểm 0 gọi là điểm trung tính của máy phát điện, 3 đầu A, B, C đưa điện áp 3 pha
ra.
Như vậy, S.đ.đ 3 pha của máy phát đồng bộ nam châm vĩnh cửu tua bin
gió là S.đ.đ xoay chiều 3 pha hình sin có độ lớn và tần số phụ thuộc vào tốc độ
quay hay tốc độ gió.
Những nguyên tắc điều chỉnh hệ thống Rotor.
Vì tốc độ gió luôn thay đổi nên trong thiết kế, để có một công suất ổn định,
tua-bin chỉ có thể hoạt động tối ưu với một tốc độ gió nhất định. Để đạt được
những yêu cầu này, hệ thống Rotor phải có những chức năng tự điều chỉnh theo
tốc độ và hướng gió và tự ngưng hoạt động bằng những hệ thống phanh để bảo
đảm an toàn. Việc điều chỉnh hệ thống Rotor trước đây thường theo nguyên tắc
điều chỉnh tình trạng gió trượt của cánh quạt (Stall control – pasiv hoặc activ),
trong thập niên vừa qua việc điều chỉnh này được thực hiện bằng phương thức
chỉnh quay mặt đón gió của cánh quạt (Pitch control).
Việc điều chỉnh mặt đón gió của cánh quạt thực sự là để điều chỉnh số vòng
quay của hệ thống Rotor. tốc độ gió luôn thay đổi nên việc điều chỉnh, tăng hoặc
hạn chế cơ năng từ dòng gió là yếu tố quan trọng để tua-bin điện gió có thể hoạt
động lâu dài và ổn định:
- Khi dòng gió có tốc độ thấp, hệ thống cánh quạt phải chỉnh mặt diện tích
đón gió cao để có được công suất tối ưu.
- Khi tốc độ gió lên cao, hệ thống cánh quạt phải giảm mặt đón gió để tiếp
tục hoạt động.
- Khi tốc độ gió lên quá cao, hệ thống cánh quạt phải tự chỉnh góc không
đón gió để ngưng hoạt động, tránh hư hại cho tua-bin điện gió và như thế chính là
dựa trên nguyên tắc khí động lực học để thắng cánh quạt khi cần thiết

2. Sơ đồ cấu trúc hệ thống khi làm việc độc lập


8
Hình 7: Sơ đồ cấu trúc hệ thống phát điện gió khi làm việc độc lập
Hệ thống điện điện gió khi làm việc độc lập cung cấp cho các phụ tải nhỏ,
cục bộ (chẳng hạn phụ tải địa phương vùng cao, vùng xa, đảo chưa có điện lưới,.)
bao gồm:
Tua bin gió quay máy phát điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu đưa đến bộ
Switching and Fusing và cấp nguồn cho bộ chỉnh lưu cầu 3 pha. Bộ chỉnh lưu
cầu 3 pha cung cấp dòng điện nạp cho ắc quy và cấp nguồn cho bộ nghịch lưu.
Khi tốc độ gió giảm thấp hoặc không đủ gió để quay tua bin thì bộ nghịch
lưu lấy nguồn từ ắc quy. Bộ nghịch lưu đưa ra điện áp 3 pha có điện áp và tần số
sử dụng ( 380V-50Hz) đưa đến bộ Switching and Fusing.
Bộ Switching and Fusing là bộ chuyển mạch tự động sẽ cung cấp nguồn
điện 3 pha liên tục lấy từ trực tiếp máy phát hoặc chuyển mạch tự động lấy nguồn
điện từ sau bộ nghịch lưu 3 pha.

3. Sơ đồ nguyên lý các bộ biến đổi tĩnh và nguyên tắc điều khiển

Hình 8: Sơ đồ chỉnh lưu cầu ba pha

9
Để đơn giản hóa việc tính toán ta giả thiết như sau :
 Giả thiết các van là lý tưởng, nguồn có nội trở nhỏ vô cùng và dẫn
điện theo hai chiều.
 Van động lực cơ bản T1, T2, T3, T4, T5, T6 làm việc với độ dẫn điện
180 , Za = Zb = Zc.

Các điôt D1, D2, D3, D4, D5, D6 làm chức năng trả năng lượng về nguồn
và tụ C đảm bảo nguồn cấp là nguồn áp đồng thời tiếp nhận năng lượng phản
kháng từ tải.
Ta xét cụ thể nguyên lý và luật điều khiển cho các tiristo như sau

10
11
T1 D1 T3 D3 T5 D5
+

E
C

- T4 D4 T6 D6 T2 D2

Za Zb Zc

Hình 9: Sơ đồ điều chế độ rộng xung cho nghịch lưu ba pha

T1 t3 t4 T1 t
t1 t2 T4

T3 T3 t
T6 T6

T5 T5 t
T2 T2

Hình 10. Luật điều khiển các tiristo

Để đảm bảo tạo ra điện áp ba pha đối xứng luật dẫn điện của các van
phải tuân theo đồ thị như trên hình 11
Như vậy T1, T4 dẫn điện lệch nhau 180 và tạo ra pha A. T3, T6 dẫn điện
lệch nhau 180 để tạo ra pha B. T5, T2 dẫn điện lệch nhau 180 để tạo ra pha C,
và các pha lệch nhau 120 .

12
UZA
2E/
E/3 t
-E/3
-2E/3
UZB
2E/
E/3 t
-E/3
-2E/3
UZC
2E/
E/3 t
-E/3
-2E/3

Hình 12. Điện áp trên tải của mạch nghịch lưu

13