You are on page 1of 38

SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG

CHĂN NUÔI THÚ Y Ở VIỆT NAM

TS. Nguyễn Quốc Ân


Phó trưởng Phòng Quản lý thuốc, Cục Thú y
Khái quát về các loại thuốc
sử dùng trong thú y
Tổng Thuốc sản xuất Thuốc, nguyên liệu
số tại Việt Nam nhập khẩu vào Việt Nam
sản Tổng Số cơ Tổng Số nhà Số
phẩm số sản sở số sản sản xuất nước
phẩm sản xuất phẩm

5.870 4.522 86 1.348 149 32


Khái quát về các loại thuốc
sử dùng trong thú y
Bao gồm các loại kháng sinh, Vitamin, thuốc trị ký
sinh trùng trong đó kháng sinh chiếm khoảng 70%(
4109 sản phẩm). Kháng sinh sử dụng trong thú y
với mục đích phòng, trị bệnh. Sử dụng trong chăn
nuôi với mục đích kích thích tăng trưởng.
Kháng sinh dùng trong thú y
bao gồm 11 nhóm chủ yếu :
+ β- Lactam(Peniciline, Amoxycilline, Cloxaciline, Cephalosporins,...)
+ Aminoglucosides (Apramycin, Gentamycin, Kanamycin, Neomycin,
Spectinomycin, Streptomycin)
+ Macrolides (Erythromycin, Josamycin, Spiramycin, Tylosin).
+ Tetracyclin (Tetracyclin, Oxytetracyclin, Doxycyclin, Chlotetracyclin)
+(Fluoro)quinolones(Flumequine, Enrofloxacin, Norfloxacin, Oxolinic
acid, Marbofloxacin, Danofloxacin, Difloxacin...)
+ Phenicol(Florfenicol, Thiamphenicol)
+ Polymyxins(Colistin)
+ Pleuromutilins(Tiamulin)
+ Lincosamides( Lincomycin)
+ Sulfamid( Sulfachlorpiridazine, Sulfadiazine, Sulfadimethoxine,....)
+ Diaminopyrimidine( Trimethoprim)
Các dạng bào chế chủ yếu
Dung dịch tiêm( Injection)
Dung dịch uống (Oral solution)
Chiếm tỉ lệ : 48%
Bột uống(Oral powder): 36%
Bột pha tiêm( Injectable powder), các dạng khác:
16%
Kháng sinh dùng trong chăn
nuôi:
Bổ sung vào thức ăn chăn nuôi dùng cho mục đích
kích thích tăng trưởng theo khuyến cáo của FDA(
USA)
DANH MỤC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH
CẤM SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT, KINH
DOANH THỦY SẢN (19 loại)
Aristolochia spp và các chế phẩm từ Green Malachite (Xanh Malachite)
chúng
Chloramphenicol Ipronidazole
Chloroform Các Nitroimidazole khác
Chlorpromazine Clenbuterol
Colchicine Diethylstilbestrol (DES)
Dapsone Glycopeptides
Dimetridazole Trichlorfon (Dipterex)
Metronidazole Gentian Violet (Crystal violet)
Nitrofuran (bao gồm cả Furazolidone) Nhóm Fluoroquinolones( cấm sử dụng
trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản
xuất khẩu vào thị trường Mỹ và bắc Mỹ)
Ronidazole
DANH MỤC THUỐC, HOÁ CHẤT, KHÁNG
SINH CẤM SỬ DỤNG TRONG THÚ Y (13
loại)
Chloramphenicol Ciprofloxacin
Furazolidon và dẫn xuất của Ofloxacin
nhóm Nitrofuran
Dimetridazole (Tên khác: Carbadox
Emtryl)
Metronidazole Olaquidox
Dipterex (Trichlorphon); Bacitracin Zn
DDVP
Eprofloxacin Green Malachite (Xanh
Malachite)
Gentian Violet (Crystal violet)
DANH MỤC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH
HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH THỦY SẢN (33 loại)
Tên hoá chất, kháng sinh Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Amoxicillin 50
Ampicillin 50
Benzylpenicillin 50
Cloxacillin 300
Dicloxacillin 300
Oxacillin 300
Oxolinic Acid 100
Colistin 150
Cypermethrim 50
Deltamethrin 10
Diflubenzuron 1000
DANH MỤC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH
HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH THỦY SẢN (33 loại)
Tên hoá chất, kháng sinh Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Teflubenzuron 500
Emamectin 100
Erythromycine 200
Tilmicosin 50
Tylosin 100
Florfenicol 1000
Lincomycine 100
Neomycine 500
Paromomycin 500
Spectinomycin 300
Chlortetracycline 100
DANH MỤC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH
HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH THỦY SẢN (33 loại)
Tên hoá chất, kháng sinh Dư lượng tối đa (MRL)(ppb)
Oxytetracycline 100
Tetracycline 100
Sulfonamide (các loại) 100
Trimethoprim 50
Ormetoprim 50
Tricainemethanesulfonate 15-330
Danofloxacin 100
Difloxacin 300
Enrofloxacin + Ciprofloxacin 100
Sarafloxacin 30
Flumequine 600
DANH MỤC THUỐC, HOÁ CHẤT, KHÁNG
SINH HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG THÚ Y
(13 loại)

Tên hoá chất, kháng sinh Tên hoá chất, kháng sinh
Spiramycin Nicarbazin
Avoparcin Flavophospholipol
Virginiamycin Salinomycin
Meticlorpidol Avilamycin
Meticlorpidol/Methylbenzoquate Monensin
Amprolium (dạng bột) Tylosin phosphate
Amprolium/ethopate
DANH MỤC KHÁNG SINH, HOÁ CHẤT
CẤM SỬ DỤNG TRONG CHĂN NUÔI (18
loại)

Tên hoá chất, kháng sinh Tên hoá chất, kháng sinh
CARBUTEROL METHYL-TESTOSTERONE
CIMATEROL METRONIDAZOLE
CLENBUTEROL 19 NOR-TESTOSTERONE
CHLORAMPHENICOL RACTOPAMINE
DIETHYLSTILBESTROL (DES) SALBUTAMOL
DIMETRIDAZOLE TERBUTALINE
FENOTEROL STIBENES
FURAZOLIDON VÀ CÁC DẪN TERBOLONE
XUẤT NHÓM NITROFURAN ZERANOL
ISOXUPRIN
Kết quả khảo sát sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi
Kết quả khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong
chăn nuôi lợn thịt, gà thịt ở một số trang trại chăn nuôi
tập trung trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Hà Tây tại 30
trang trại chăn nuôi lợn thịt và 30 trang trại chăn nuôi
gà thịt, kết quả cho thấy:
Kết quả khảo sát sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi
+ 100% các trang trại chăn nuôi có sử dụng kháng
sinh, với mục đích chủ yếu để trị bệnh( 63,3% với
lợn thịt, 50% với gà thịt); với mục đích phòng và trị
bệnh (13,3% với lợn thịt, 46,7% với gà thịt).
+ 60,3% mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt, 70,3%
mẫu thức ăn chăn nuôi gà thịt phát hiện ít nhất có
một trong số các loại kháng sinh thuộc nhóm
Tetracycline và Tylosin trong đó có một mẫu thức
ăn chăn nuôi lợn thịt có hàm lượng Tylosin vượt
giới hạn cho phép.
Kết quả khảo sát sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi
Kết quả khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh ở
55 trại chăn nuôi lợn tại 2 tỉnh Đồng Nai và Bình
Dương:
13 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là
Tylosin (16,39%), Amoxicillin (11,89%),
Gentamycin (8,61%), Enrofloxacin (6,56%),
Penicillin (6,15%), Lincomycin (5,74%), Tiamulin
(5,74%), Colistin (5,33%), Streptomycin (4,51%),
Norfloxacin (4,51%), Tetracyclin (4,1%), Ampicillin
(4,1%) và Florphenicol (3,28%).
Kết quả khảo sát sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi
44,05% trại chăn nuôi lựa chọn kháng sinh dựa vào
triệu chứng bệnh của đàn lợn và kinh nghiệm của
người nuôi, 33,33% trại sử dụng thuốc theo chỉ
định của thú y viên, 16,67% sử dụng thuốc theo
thông tin và khuyến cáo của nhà sản xuất và chỉ có
5,95% trại sử dụng thuốc theo kết quả thử nghiệm
kháng sinh đồ.
Kết quả khảo sát sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi
- Tỉ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi có sử dụng kháng
sinh lần lượt là: Tylosin 31/60 mẫu (51,67%),
Tetracycline: 25/60 mẫu (41,16%), Oxytetracyclin:
4/60 mẫu (6,6%) và Chlotetracycline: 15/60 mẫu
(25%).
- Số mẫu vượt quá qui định theo 10 TCN 861-2006:
Tylosin: 1/60 (1,66%); Tetracycline: 2/60 mẫu
(3,3%); Oxytetracyline 1/60 mẫu (1,66%);
Chlotetracycline: 9/60 mẫu (15%).
Nhận xét:
Việc sử dụng kháng sinh ở các trang trại chăn nuôi
ở các trang trại chưa hợp lý: lựa chọn loại kháng
sinh, liều sử dụng, liều trình điều trị, chủ yếu dựa
vào kinh nghiệm của người chăn nuôi; chưa chú ý
thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi khai thác
sản phẩm (thịt, trứng, sữa).
Kết quả phân tích dư
lượng kháng sinh
trong nuôi trồng thuỷ
sản
Kết quả phân tích năm
2007
1. Đối với mẫu thủy sản nuôi lấy tại ao nuôi
Nhóm các kháng sinh cấm (A6): Phát hiện 07 mẫu
thủy sản nhiễm Chloramphenicol với khoảng phát
hiện từ 0,24- 1,17 ppb trên tổng số 768 lượt phân
tích (chiếm 0,9 %); phát hiện 05 mẫu thủy sản
nhiễm SEM (3 mẫu tôm,1 mẫu cá và 1 mẫu cua lột)
với khoảng phát hiện từ 0-3,55 ppb (0,7%).
Một mẫu cá nuôi nhiễm Malachite Green (mức phát
hiện là 21,6 ppb) trên tổng số 326 lượt chỉ tiêu
phân tích (chiếm 0,3%)
1. Đối với mẫu thủy sản nuôi lấy tại ao nuôi
Đối với nhóm kháng sinh sử dụng có giới hạn tối đa cho
phép (B1):
+ Trong 263 lượt phân tích đối với nhóm chỉ tiêu
Tetracycline, phát hiện 01 mẫu nhiễm Oxytetracycline ở
mức thấp.
+ Trong 571 lượt chỉ tiêu phân tích với nhóm chỉ tiêu
Sulfonamide: phát hiện 02 mẫu có dư lượng (01 mẫu
Sulfamethazine vượt).
+ Trong 579 lượt chỉ tiêu phân tích, phát hiện 72 mẫu thủy
sản nuôi có dư lượng các chất nhóm Quinolones. Trong đó
có 67 mẫu phát hiện có dư lượng
Enrofloxacine/Ciprofloxacin (4 mẫu vượt).
+ Phát hiện 14/53 mẫu có Flofenicol và 2/53 mẫu có
Trimethoprim, đều ở mức thấp.
Nhận xét
Người nuôi đang sử dụng phổ biến kháng sinh
nhóm Quinolones và Sulfonamides thay cho nhóm
Tetracycline để trị bệnh cho thủy sản nuôi.
Nhìn chung, các hộ nuôi đã sử dụng thuốc đúng
cách, tuy nhiên vẫn còn có những vi phạm.
Như vậy năm 2008 nhóm chỉ tiêu này vẫn cần phải
được kiểm soát chặt chẽ, trong đó cần đặc biệt
tăng cường đối với chỉ tiêu Sulfamethazine thuộc
nhóm Sulfonamides và Enrofloxacine/Ciprofloxacin
thuộc nhóm Quinolones.
Kết quả phân tích năm
2007
2. Đối với các mẫu thủy sản nuôi lấy tại cơ sở thu
mua:
Phát hiện 02/111 mẫu có dư lượng
Chloramphenicol, chiếm tỷ lệ (1,8%).
3. Đối với các mẫu thuốc thú y, thức ăn thuỷ sản
và nước ương/nuôi tôm giống
Mẫu thuốc thú y: không phát hiện Chloramphenicol
và Furazolidone.
Mẫu thức ăn: Các chỉ tiêu Chloramphenicol và
Furazolidone đều không phát hiện dư lượng.
Kết quả phân tích năm
2007
Mẫu nước ương con giống:
15/79 mẫu nước nhiễm Chloramphenicol với
khoảng phát hiện 0,1-80,77ppb (chiếm 19%) tăng
cao hơn so với kết quả năm 2006 (14%);
Không phát hiện có dư lượng Furazolidone;
Kết quả này phản ánh các hộ nuôi vẫn lạm dụng sử
dụng Chloramphenicol trong khâu sản xuất con
giống.
Kết quả phân tích năm
2008
1.Đối với mẫu thủy sản nuôi lấy tại ao nuôi
Nhóm các kháng sinh cấm (A6):
Phát hiện 03/794 mẫu cá tra nuôi tại Thốt Nốt, Ô
Môn - Cần Thơ và 01 mẫu tôm sú tại Xuyên Mộc –
Bà Rịa Vũng Tàu nhiễm Chloramphenicol với
khoảng phát hiện từ 1,51 – 2,23 ppb (chiếm 0,5 %);
01 mẫu tôm thẻ chân trắng tại Phú Mỹ - Bình Định
nhiễm AOZ với giá trị phát hiện là 12,6 ppb
02/754 mẫu cua lột tại Cần Guộc – Long An nhiễm
SEM với khoảng phát hiện là 2 - 2,2 (chiếm 0,4 %).
Kết quả phân tích năm
2008
1.Đối với mẫu thủy sản nuôi lấy tại ao nuôi
01/340 mẫu tôm thẻ chân trắng tại Vạn Ninh –
Khánh Hòa nhiễm Malachite Green (mức phát hiện
là 0,6 ppb) (chiếm 0,3%)
Cùng với kết quả kiểm soát năm 2007 cho thấy đã
có sự chuyển biến tích cực trong ý thức của người
dân về việc chấp hành quy định cấm sử dụng
Malachite Green để phòng/trị bệnh cho cá.
Kết quả phân tích năm
2008
Đối với nhóm kháng sinh sử dụng có giới hạn tối
đa cho phép (B1):
Không phát hiện Tetracycline/246 lượt chỉ tiêu phân
tích;
30/686 mẫu có dư lượng Sulfonamides trong đó có
10 mẫu vượt quá giới hạn tối đa cho phép (06 mẫu
cá tra tại An Phú, Phú Tân - An Giang; Châu
Thành, Cao Lãnh - Đồng Tháp; TX.Vĩnh Long -
Vĩnh Long; 04 mẫu tôm sú tại Vĩnh Thuận, Kiên
Lương, An Minh - Kiên Giang (chiếm 1,46 %).
Đối với nhóm kháng sinh sử dụng có giới hạn tối
đa cho phép (B1):
85/711 mẫu thủy sản nuôi có dư lượng các chất
thuộc nhóm Quinolones, trong đó
67 mẫu phát hiện có dư lượng Enrofloxacine/
Ciprofloxacin, 7 mẫu vượt quá giới hạn cho phép
(05 mẫu cá tra tại Cai Lậy - Tiền Giang; Châu
Thành – Đồng Tháp; Thốt Nốt – Cần Thơ, Phú Tân
– An Giang và 02 mẫu tôm sú tại Tân Phú Đông -
Tiền Giang;
1 mẫu cá tra tại An Phú - An Giang phát hiện dư
lượng Sarafloxacin vượt mức cho phép.
Đối với nhóm kháng sinh sử dụng có giới hạn tối
đa cho phép (B1):
2/108 mẫu cá tra có dư lượng Trimethoprim vượt
mức giới hạn cho phép (giá trị phát hiện là 56ppb,
105,5 ppb) (chiếm 1,85 %) (tại Lai Vung – Đồng
Tháp, Tân Hiệp – Kiên Giang);
19/100 mẫu có dư lượng Flofenicol, ở mức thấp
hơn so với giới hạn cho phép.
Nhận xét
Người nuôi hiện đang sử dụng phổ biến kháng sinh
nhóm Quinolones, Sulfonamides, Trimethoprim và
Flofenicol thay cho nhóm Tetracycline để trị bệnh
cho thủy sản nuôi.
Nhìn chung, các hộ nuôi đã sử dụng thuốc đúng
cách, nhưng số trường hợp vi phạm đã tăng hơn
so với năm 2007.
Kết quả phân tích năm
2008
2. Đối với các mẫu thủy sản nuôi lấy tại cơ sở thu
mua
Không phát hiện dư lượng Chloramphenicol trên
tổng số 121 lượt chỉ tiêu phân tích.
Kết quả phân tích năm
2008
3. Đối với các mẫu thuốc thú y, thức ăn thuỷ sản và
nước ương/nuôi tôm giống
Không phát hiện Chloramphenicol và Furazolidone
trong các mẫu thuốc thú y thủy sản, mẫu thức ăn thủy
sản trên 146 lượt phân tích.
14/97 mẫu nước ương tôm giống nhiễm
Chloramphenicol với khoảng phát hiện 0,02 – 0,29 ppb
(chiếm 14,43%) (tại Núi Thành, Điện Bàn – Quảng
Nam; Cam Ranh, Ninh Hòa, Nha Trang – Khánh Hòa;
Đông Hòa, Tuy Hòa – Phú Yên; Tuy Phong – Bình
Thuận; An Thuận, Thạch Phú – Bến Tre; An Minh –
Kiên Giang; Duyên Hải – Trà Vinh, Vĩnh Châu - Sóc
Trăng)
Kết quả phân tích đến tháng 7
năm 2009:
1. Đối với mẫu thủy sản nuôi lấy tại ao nuôi
1/437 mẫu vượt chỉ tiêu Sulfamethoxazole (tại Long
Xuyên- An Giang);
5 mẫu cá Tra có dư lượng kháng sinh Enrofloxacin
thuộc nhóm Quinolones từ: 2,08 đến 7,58 ppb (tại
Đồng Tháp, Vĩnh Long);
4 mẫu cá Tra nhiễm Enrofloxacin, 3 mẫu cá Tra
nhiễm Flumequin;
1 mẫu Cua lột phát hiện kháng sinh SEM
Kết quả phân tích đến tháng 7
năm 2009:
2. Đối với các mẫu thuốc thú y, thức ăn thuỷ sản
và nước ương/nuôi tôm giống
3 mẫu thuốc Thú y có chứa Chloramphenicol tại
Giao Thuỷ Nam Định; Quỳng Lưu- Nghệ An; Kỳ
Anh- Hà Tĩnh(giá trị phát hiện lần lượt là 1,8ppm;
18,7ppm; 0,42ppm).
Kết quả phân tích đến tháng 7
năm 2009:
2 mẫu thuốc thú y phát hiện Furazolidone tại Ninh
Hoà- Khành Hoà, Gò Công Đông- Tiền Giang (giá
trị phát hiện lần lượt là 5,1ppm; 9,4ppm)
1 mẫu thức ăn chăn nuôi phát hiện Furazolidone tại
Ninh Phước-Ninh Thuận giá trị phát hiện là 1,6ppm.
Có 2 mẫu nước ương tôm giống tại Huế, Đà Nẵng
có dư lượng kháng sinh Chloramphenicol
Kết luận
Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho
người tiêu dùng và nhu cầu xuất khẩu sản
phẩm động vật việc kiểm soát dư lượng
kháng sinh trong thú y đặc biệt dùng trong
nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được tăng
cường.
Xin chân thành cảm ơn