You are on page 1of 90

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM


HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN SƠN

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI


CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN SƠN

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI


CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự


Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


PGS.TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Sơn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY
THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA
NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.................... 8
1.1. Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác .................................................................................................. 8
1.2. Sự cần thiết và ý nghĩa việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khoẻ cho người khác .............................................................. 12
1.3. Những quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức
khoẻ cho người khác trong Luật hình sự một số nước trên thế giới ............... 15
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO
SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC .............................................................. 18
2.1. Quá trình phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác trong luật hình sự Việt Nam ............................ 18
2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ........................... 26
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC ....................... 58
3.1. Thực tiễn việc áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở
thành phố Vinh,tỉnh Nghệ An ......................................................................... 58
3.2. Các giải pháp nhằm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ....... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

XHCN :Xã hội chủ nghĩa


BLHS : Bộ luật Hình sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
CTTP : Cấu thành tội phạm
CYGTT : Cố ý gây thương tích
HĐTP : Hội đồng thẩm phán
TAND : Tòa án nhân dân
THTT : Tiến hành tố tụng
TNHS : Trách nhiệm hình sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác với tội phạm nói chung ..................................... 60
Bảng 3.2: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác với các tội về trật tự trị an nói chung................ 60
Bảng 3.3: Kết quả truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác theo từng khoản cụ thể ............................... 63
Bảng 3.4: Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ..... 65
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bảo vệ con người tạo dựng một xã hội trong sạch và lành mạnh
đảm bảo cho sự phát triển của xã hội, của đất nước là nhiệm vụ cấp bách
trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt bảo vệ con người gắn với việc bảo vệ sức
khoẻ và tính mạng được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, trong điều kiện
nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển do công cuộc đổi mới cũng như hội
nhập quốc tế, giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới thì tình hình tội phạm
ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp. Theo đó quyền con người luôn được
pháp luật bảo hộ, nhất là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ,
danh dự và nhân phẩm. Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ,
danh dự và nhân phẩm. Chính vì thế mà các cơ quan bảo vệ pháp luật đã luôn
tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con người và đặc biệt là các hành vi phạm tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác và được quy định
rất sớm trong pháp luật hình sự ở nước ta
Cùng với tình hình đổi mới và đi lên chung của đất nước, Thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An - là một trong những trung tâm văn hoá chính trị của khu
vực miền Trung, đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng khẳng định được
vị trí của mình, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên kéo
theo đó cũng nảy sinh sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự tha hoá
về đạo đức, lối sống, sự xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội cũng như các loại tội
phạm như về trộm cắp, cướp giật, ma tuý, mại dâm, các tội xâm phạm sức
khoẻ, danh dự nhân phẩm của người khác, trong đó có tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác có chiều hướng gia tăng, xâm
phạm trực tiếp tới khách thể được Pháp luật hình sự bảo vệ đó là tính mạng
sức khoẻ của con người. Hậu quả mà tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

1
hại cho sức khỏe của người khác là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới
sức khỏe của người bị hại, ảnh hưởng tới tình hình trật tự, an ninh của xã hội.
Bên cạnh đó thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác còn có nhiều
vướng mắc, nhiều vụ án rất khó trong việc điều tra,truy tố dễ dẫn đến hiện tượng
oan sai, bỏ lọt tội phạm. Quy định của pháp luật hình sự, xét xử về loại tội này
còn chưa thống nhất, còn nhiều bất cập.
Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
hiện hành về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng
mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn
nghiên cứu đề tài "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của
người khác theo pháp luật hình sự Việt nam từ thực tiễn Thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
không phải là vấn đề mới mẻ, đã có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu, các
bài viết đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập đến loại tội phạm này. Tuy nhiên,
hiện nay tội phạm này là một trong các vấn đề nóng trong xã hội, diễn biến với
tính chất ngày càng phức tạp nên đã được nhiều nhà khoa học Luật gia đề cập,
nghiên cứu ở nhiều hình thức, mức độ, khía cạnh khác nhau nhưng các công
trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận ở các góc độ khái quát chung nhất hoặc
dưới góc độ so sánh tội phạm này với các loại tội phạm khác trong cùng chương
hoặc các công trình nghiên cứu đó nghiên cứu tại thời điểm áp dụng BLHS cũ,
đã gần hết hiệu lực, phạm vi bài viết thuộc các địa phương khác nhau như:
Trong các giáo trình luật hình sự như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
của Đại học Luật Hà Nội năm 2008; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần
các tội phạm cụ thể của Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế; Giáo trình Luật

2
hình sự Việt Nam phần các tội phạm cụ thể của Khoa luật Đại học quốc gia
Hà Nội năm 2005; Trong các công trình nghiên cứu khoa học về luật hình sự;
Các tập bình luận khoa học về luật hình sự...
Các công trình nghiên cứu đối với tội danh này như các bài viết trong các
luận văn thạc sỹ, tiến sỹ của một số tác giả: Luận văn thạc sỹ Luật học về
“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” của tác giả Tô
Ngọc Đường - Học viện khoa học xã hội, năm 2011; Luận án tiến sĩ luật học “
Đấu tranh phòng, chống tội CYGTT trên địa bàn tỉnh Thái Bình” của tác giả
Phạm Thị Mỹ Hương - Học viện khoa học xã hội năm 2016; Luận văn thạc sỹ
Luật học về “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”
của tác giả Trần Cẩm Thanh - Học viện khoa học xã hội, năm 2016 và “Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn
Thị Hoà - Viện khoa học xã hội, năm 2016...
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều bài viết trên các tạp
chí chuyên ngành, như Tạp chí Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao,
Tạp chí Tòa án nhân dân, trên rất nhiều số đã đề cập đến loại tội này trên nhiều
góc độ, khía cạnh khác nhau như bài viết của tác giả: Nguyễn Văn Dũng, Bàn về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại
điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 1/2018; Đỗ Đức Hồng Hà, Các quan điểm chung quanh quy
định về chuẩn bị tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (335)/2017; Nguyễn
Thanh Bình “ Một số giải pháp, kiến nghị nhằm phòng, chống tội cố ý gây
thương tích trên địa bàn huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang”, tạp chí kiểm sát số 7
(4/2010); bài viết của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà “Các quan điểm chung quanh

3
quy định về chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác”, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 07 (4/2017); hay bài viết
của Đại tá, PGS.TS. Bùi Văn Thịnh và ThS Vũ Bá Xiêm “Một số quy định của
pháp luật liên quan đến việc xác định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác theo Điều 104 BLHS”, tạp chí TAND kỳ II số 18
(9/2014); Nguyễn Anh Tuấn, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong Bộ luật
hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7 (321)/2007; Trần
Nguyên Quân, Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết định khung
tăng nặng của tội cố ý gây thương tích, Tạp chí Kiểm sát số 1/2014; Nguyễn
Nông, Phân biệt tội "giết người" với tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác" trong trường hợp dẫn đến chết người, Tạp
chí Kiểm sát, số 21/2005….
Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những thành tựu nhất định
trong công cuộc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, đánh giá,
nhận xét những điểm mà nhà làm luật đã làm được trong thời gian vừa qua để từ
đó có thể đi đến việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng; đánh
giá những bất cập, hạn chế mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm được; hay
những quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc áp dụng
pháp luật,… Tuy nhiên, mỗi vùng miền lại có những đặc thù về kinh tế, văn
hóa, xã hội dẫn đến tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác ở mỗi nơi là khác nhau. Đặc biệt thành phố
Vinh, Nghệ An – thành phố có vị trí quan trọng ở miền Trung sẽ mang đến
góc nhìn mới mẻ hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến việc nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định của
pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

4
khác theo luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng quy định này trong thực tiễn
trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An, từ đó xác định những bất cập để đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác cũng như đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định Bộ luật hình sự
năm 2015 về tội phạm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả luận
văn đặt cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phân tích làm rõ vấn đề lý luận chung của tội CYGTT hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
- Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong luật Hình sự Việt Nam từ
thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 cho đến nay, làm rõ khái niệm, quy định của
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong
bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi.
- Nghiên cứu thực tiễn xử lý tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác theo quy định của BLHS năm 1999 trên địa
thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian 05 năm (từ năm 2013 đến
2017). Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng truy tố
loại tội phạm này trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung và
thực tiễn áp dụng về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác cụ thể: khái niệm, ý nghĩa của việc quy định tội phạm này,
các dấu hiệu pháp lý, cũng như thực tiễn áp dụng đối với tội cố ý gây thương

5
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung đề tài thực hiện trong phạm vi của chuyên ngành luật hình sự
và tố tụng hình sự về tội cố ý gây thưng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác quy định tại Điều 104 BLHS 1999 và Điều 134 BLHS 2015, sửa đổi.
Đề tài tập trung nghiên cứu các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An từ năm (2013-2017).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài dựa trên quan điểm
của chũ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành về
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân
tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp khảo sát, thực
tiễn; phương pháp thống kê số liệu tổng kết hàng năm trong các báo cáo của
Viện kiểm sát và các tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn để hoàn thành các
nhiệm vụ mà luận văn đã đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần hoàn thiện nội dung quy định của Điều 104 BLHS năm
1999 (về nhóm các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác). Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu
tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng ở Việt Nam; giữ gìn an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội. Nâng cao chất lượng truy tố loại tội này nói
chung và ở thành phố Vinh, Nghệ An nói riêng.

6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa quan trọng về cả lý luận và thực tiễn, đây là công
trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ pháp luật
hình sự về tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể trong việc đấu tranh phòng
chống loại tội phạm này.
Luận văn có thể là một trong những tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên thuộc chuyên ngành Tư
pháp tại các cơ sở đào tạo luật. Trang bị kiến thức cho các cán bộ thực tiễn
đang công tác tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật..
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm, đặc điểm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trong luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ an.

7
Chương 1
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC
GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CHO NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ hữu hiệu, sắc bén trong
công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ
chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, góp phần ổn định, duy trì
trật tự kinh tế- xã hội. Đặc biệt trong chế độ Xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện
nay thì vấn đề về tính mạng, sức khoẻ danh dự, nhân phẩm con người luôn
được pháp luật bảo vệ. Vì thế mà tại khoản 1, Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS)
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định rõ khái niệm
tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa” [17, tr.13] mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử
lý hình sự.
Cho đến nay, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam chưa có một định nghĩa cụ
thể về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Tuỳ vào góc độ tiếp cận mà có nhiều cách hiểu khác nhau.

8
Có định nghĩa cho rằng: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe cho người khác
dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”, có định nghĩa cho rằng: “Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi
của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức
khỏe”. [4, tr.137]
Tuy nhiên, từ khái niệm chung về tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ
luật hình sự năm 1999 thì có thể hiểu khái niệm về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm gây thương tích hoặc tổn
hại cho sức khoẻ của người khác. Sức khoẻ ở đây theo Từ điển Bách khoa
Việt Nam là: Trạng thái đầy đủ về vật chất, tâm thần mà không chỉ có nghĩa
là không có bênh hay thương tật; cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng
với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao
động có hiệu quả.
Tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương,
xâm phạm vào tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật Việt Nam
bảo hộ. Hành vi cố ý gây thương tích bị coi là tội phạm và tội phạm đó được
quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo Điều luật này thì tội
cố ý gây thương tích (CYGTT) được hiểu là hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chính là hành vi cố ý như: đâm,
chém, đấm, đá, đầu độc...xâm hại đến sức khoẻ của con người làm cho người
đó bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ làm mất đi một phần hay toàn bộ sức
lực sẵn có của chính người đó, ảnh hưởng tới một phần hay nhiều bộ phận
trên cơ thể con người như bàn tay, bàn chân, thân thể, mặt... để lại những

9
trạng thái bất thường hay thương tật hoặc làm giảm đi một phần chức năng
hoạt động của một số bộ phận trên cơ thể khiến cho họ khó khăn trong hoạt
động hơn khi chưa có những thương tích nhất định. Xét về góc độ nào đó thì
hành vi này cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất, mức độ
nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại
đến sức khoẻ chứ không làm cho nạn nhân bị chết.
Hành vi của người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác được thực hiện do lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức được
rõ hành vi của mình nhất định sẽ gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho
người khác nhưng vẫn ý thức để mặc cho hậu quả đó xẩy ra. Hậu quả của
hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là thương tích
hoặc tổn hại sức khoẻ cho nạn nhân. Thương tích ở đây là căn cứ có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định có tội
hay không có tội, thương tích đó phải được đánh giá một cách chính xác, cụ
thể thông qua hoạt động giám định của Hội đồng giám định y khoa. Hành vi
gây thương tích có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của công cụ, phương tiện
hoặc dùng sự tác động bằng thực thể, và phải có thương tích trên thực tế thì
người thực hiện hành vi mới có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hậu quả của tội phạm này là gây thương tích hoặc tổn thương đến sức khoẻ
cho người khác ở mức độ đáng kể theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự
năm 1999 là có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% và nó thuộc
một trong các trường hợp sau:
- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều
người (điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân (điểm b khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người
(điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS);

10
- Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau
hoặc người khác không có khả năng tự vệ (điểm d khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo
của mình (điểm đ khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội có tổ chức (điểm e khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục (điểm g khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê (điểm h khoản 1 Điều
104 BLHS);
- Phạm tội có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm i khoản 1
Điều 104 BLHS);
- Phạm tội để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của
nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS).
- Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (khoản 3 Điều 104 BLHS).
Trường hợp này xét về mặt chủ quan thì người phạm tội chỉ muốn gây thương
tích, hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không
mong muốn cho nạn nhân chết. Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội
không nhận thức được hoặc chưa nhận thức được có thể xẩy ra hậu quả chết
người. Trong trường hợp này, người phạm tội chỉ cố ý đối với việc gây
thương tích, không cố ý giết chết người.
Trên cơ sở các quan điểm trên cũng như các quy định của BLHS hiện
hành, tác giả đưa ra khái niệm về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác như sau: “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác là hành vi cố ý tác động trái pháp luật đến thân thể của người
khác làm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực, gây thiệt hại
cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể nhất định theo quy
định của Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện”.

11
1.2. Sự cần thiết và ý nghĩa việc quy định tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác
Kể từ sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, tình hình đất nước ta đã
có những thay đổi lớn về mọi mặt. Việc thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mà nội dung cơ bản là ghi nhận
và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến
lược hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động
hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mang lại những chuyển biến lớn, tích cực về
kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm
nhìn chung, vẫn diễn biến hết sức phức tạp với những phương thức, thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt. Số lượng tội phạm luôn có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng
hơn cả về quy mô và tính chất, nhất là tội phạm xâm phạm về tính mạng sức
khoẻ danh dự nhân phẩm con người. Điều này đã làm cho vấn đề về quyền con
người, về việc bảo vệ tính mạng sức khoẻ của con người càng trở nên quan
trong hơn bao giờ hết. Vì thế những quy định BLHS về quyền con người trở
nên bất cập không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thể hiện ở một số điểm
chủ yếu như sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta đã có những
bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều
vấn đề cần phải giải quyết, nhất là vấn đề về xâm phạm về tính mạng sức
khoẻ của con người. Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn đang ở thời kỳ
tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì
chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích
cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển một cách lành
mạnh. Một số quy định của Bộ luật về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ danh
dự nhân phẩm của con người chưa được quy định rõ ràng, chỉ mới được áp

12
dụng một cách chung chung nên công tác đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm tỏ ra
không mấy hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhằm thể thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng và
nhà nước về vấn đề con người và hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố
tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử
lý người phạm tội. Đồng thời, để có biện pháp ngăn chặn đối với những người
có hành vi coi thường tính mạng sức khoẻ con người thì càng phải xử lý
nghiêm khắc để làm gương cho người khác.
Đặc biệt, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm
bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục
đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với
tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và
bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Theo đó, thì BLHS cần
ghi nhận điều luật quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc xâm phạm đến
tính mạng sức khoẻ của người khác một cách cụ thể và rõ ràng hơn theo hướng
bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản
của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao
hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo
điều kiện thuận lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng.
Kể từ khi chưa có quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác trong BLHS một cách cụ thể cho đến khi
BLHS năm 1985 của nước ta ra đời còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập
pháp, việc định tội, định khung cũng như cách thiết kế khung hình phạt cũng
như khoảng cách khung hình phạt tội phạm này nên ít nhiều đã có những bất
cập việc hướng dẫn thi hành và áp dụng loại tội này trên thực tế.Những hạn
chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm về tính mạng sức khoẻ của con người; chưa
thực sự tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội

13
nhập quốc tế của đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm các quyền của người dân. Do đó, việc quy định tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là rất cần thiết và mang lại những
ý nghĩa nhất định sau:
Việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho
người khác trong bộ luật hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội.
Trên cơ sở của việc xác định đúng tội phạm, chính xác về hành vi của người
phạm tội, các cơ quan thực hành quyền công tố, cơ quan tiến hành tố tụng có
thể truy tố, đưa ra quyết định đúng đắn, chính xác, tương xứng với hành vi mà
người phạm tội đã thực hiện.
Trên cơ sở tội danh đã được quy định trong Bộ luật hình sự giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng xác định đúng tội phạm, đảm bảo việc xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, loại trừ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và
kết án oan sai, vô căn cứ đối với những người có hành vi không nguy hiểm cho
xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định
hình phạt công bằng đối với những người phạm tội.
Dựa vào quy định của Bộ luật hình sự để làm cơ sở áp dụng chính xác các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thời hạn điều tra, việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn, đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo và việc ra các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đảm
bảo có căn cứ và đúng pháp luật, sẽ góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó giúp các cơ quan Điều
tra, Viện kiểm sát, Toà án tuân thủ chính xác các quy định của đạo luật hình sự,
áp dụng điều, khoản, điểm của điều luật hoặc tổng hợp các điều luật bao quát
được hành vi phạm tội đã thực hiện. Xác định đúng chính xác và đầy đủ đạo
luật hình sự phản ánh được sự đánh giá pháp lý của Nhà nước đối với tội phạm
đã thực hiện

14
Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khoẻ của người khác, khi xảy ra hành vi phạm tội thì cơ quan
tiến hành tố tụng dựa vào quy định của Luật hình sự để truy tố đúng người
đúng tội từ đó thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt
để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, từ đó góp phần nâng cao uy tín,
chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng như hỗ trợ cho việc củng cố
và tăng cường pháp chế XHCN.
1.3. Những quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức
khoẻ cho người khác trong Luật hình sự một số nước trên thế giới
Nghiên cứu Bộ luật hình sự các nước Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, Nhật Bản cho thấy rằng, Bộ luật hình sự các nước quy định khá
đầy đủ và chặt chẽ về các tội xâm phạm sức khỏe của con người. Qua quá
trình học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc điều chỉnh hành vi
xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người được pháp
luật bảo hộ là điều cần thiết. Do đó, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật
hình sự Việt Nam đã có thu những quy định tiến bộ, phù hợp cho phần các
quy định về nhóm tội xâm phạm sức khỏe của con người.
1.3.1. Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1979, sửa
đổi năm 1997
Tại Điều 14 của BLHS Trung Quốc (1997) đã định nghĩa tội phạm như
sau: Tất cả các hành vi gây nguy hiểm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an
ninh của quốc gia, chia rẽ quốc gia, phá hoại quyền lực chính trị của chuyên
chính dân chủ nhân dân và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự
kinh tế và xã hội; xâm phạm tài sản sở hữu của Nhà nước hoặc của tập thể
quần chúng lao động, xâm phạm tài sản của công dân; xâm phạm quyền cá
nhân, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân; và các hành vi khác
gây nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm nếu theo luật những hành vi này

15
cần phải xử lý bằng hình sự. Tuy nhiên, nếu trong những hoàn cảnh rõ ràng là
nhỏ và thiệt hại của các hành vi gây ra là không lớn, thì những hành vì này
không bị coi là tội phạm.
Hiện nay, Trung Quốc cũng như hầu hết các nước trên thế giới không
đưa ra khái niệm tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong
bối cảnh toàn cầu hóa. Trái lại, các nước này đã đưa khái niệm về các vấn đề
an ninh truyền thống và vấn đề an ninh phi truyền thống trên cơ sở xem xét
đánh giá về lợi ích quốc gia, sự nguy hại đối với xã hội và quyền con người
trong bối cảnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới có mục tiêu và các bước
phát triển chung về hiện đại hóa nền kinh tế; có chung động cơ thúc đẩy hội
nhập quốc tế và khu vực; và những yêu cầu về giải quyết các mối đe dọa về
an ninh phi truyền thống nói chung hay an ninh xã hội, an ninh môi trường, an
ninh con người nói riêng.
Cũng như ở Việt Nam, thì vấn đề về xâm phạm quyền con người, quyền
công dân luôn được nhà nước bảo hộ. và trong BLHS của nước này cũng
dành hẳn chương IV: Những tội ác xâm phạm quyền của người và các quyền
dân chủ của người dân. Trong đó tội CYGTT được quy định tại Điều 234 của
bộ luật này quy định như sau: Người nào cố ý gây thương tích cho người khác
phải bị kết án tù không quá ba năm, giam giữ hoặc kiểm soát.
Ai vi phạm ở khoản trên và gây thương tích nghiêm trọng cho người đó
phải bị kết án không dưới ba năm và không quá 10 năm tù định định; nếu ông
gây ra cái chết của một người hoặc gây ra sự biến dạng nghiêm trọng của
một người bằng cách gây thương tích nặng nề với các biện pháp tàn nhẫn đặc
biệt thì ông ta sẽ bị kết án tù không thời hạn dưới 10 năm, tù chung thân hoặc
chết. Trường hợp Luật này có các quy định khác thì xử lý theo quy định.
Tại Điều 235 cũng quy định: Người nào gây ra thương tích nghiêm
trọng cho người khác và gây thương tật nghiêm trọng thì bị phạt tù không quá

16
ba năm hoặc có thể bị tạm giam. Trường hợp luật này có các quy định khác,
các vấn đề sẽ được giải quyết theo các quy định đó.
Như vậy, so với quy về tội CYGTT của luật hình sự Việt Nam thì tội phạm
về CYGTT ở nước Trung Quốc chỉ quy định một cách chung chung về hành vi
gây thương tích, không quy định rõ ràng về mức độ thương tật, về độ tuổi....

Kết luận chương 1


Trong chương 1, luận văn đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ
bản về khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trong BLHS và làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm tác giả đã phân tích ý nghĩa của việc
quy định tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam. Dựa trên quy định của
Pháp luật hình sự Việt nam về loại tội này tác giả đã nêu lên quy định về tội
này của một số nước trên thế giới, trên kết quả đó sẽ tạo dựng những cơ sở
làm tiền đề cho việc xem xét, đánh giá công tác áp dụng pháp luật điều chỉnh
tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An.

17
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý
GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ
CỦA NGƯỜI KHÁC

2.1. Quá trình phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác trong luật hình sự Việt Nam
2.1.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trước cách mạng tháng
8 năm 1945
Sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam gắn liền với
nhu cầu quản lý xã hội bằng luật và sự quan tâm của chính quyền phong kiến
đối với vấn đề này, cùng với đó song song tồn tại các bộ luật lớn được pháp
điển hoá như Bộ Hình thư thời lý, Quốc triều hình luật thời Lê, Bộ Hoàng việt
luật lệ nhà Nguyễn và các văn bản pháp luật hình sự như Chiếu, Lệnh...Cùng
với sự đô hộ của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương gần một thế kỷ đã
làm thay đổi sâu sắc pháp luật của Việt Nam về cả tính chất, nội dung và hình
thức. Bằng sự ban hành ba Bộ luật hình sự ở ba miền Bắc - Trung - Nam: ở
Nam Kỳ là Bộ hình luật tu chính năm 1902, Ở Bắc kỳ và Trung Kỳ ban hành
bộ luật Hình sự Bắc kỳ năm 1922, Bộ luật hình sự Trung kỳ năm 1933, người
pháp đã xác định lại giới hạn Luật hình sự trong phạm vi điều chỉnh quan hệ
nhà nước bảo hộ với người mà Nhà nước coi là đã thực hiện hành vi phạm tội.
Lúc đó án lệ chính thức xuất hiện và được coi là nguồn của Luật hình sự Việt
Nam, theo đó chưa có quy định cụ thể nào về tội CYGTT, mà các hành vi chủ
yếu liên quan đến loại tội này chưa được xác định rõ ràng mà chỉ dùng án lệ
để áp dụng chung chung.

18
2.1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 1945 đến nay
a. Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có
hiệu lực thi hành
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử Nước ta vừa trải qua
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp hao tốn cả sức người, sức của, chính
quyền nhân dân vừa mới thành lập còn non trẻ nên Nhà nước ta đã phải đối
mặt với vô vàn khó khăn… trước tình hình đó nhân dân ta phải tập trung chủ
yếu cho việc tái thiết lập đất nước và củng cố chính quyền cách mạng nên
chưa kịp thời xây dựng Bộ luật hình sự đúng nghĩa của nó và cũng chưa có
các văn bản pháp luật cụ thể để xử lý các tội xâm phạm về tính mạng, sức
khoẻ của con người. Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc
lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ
sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm. Các đạo luật hình sự là một trong những
đạo luật đầu tiên cùng với các sắc lệnh như Sắc lệnh số 6-SL ngày 15/1/1946;
Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946; Sắc
lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949... trên các lĩnh vực như trừng trị phản động, âm
mưu hành động phản quốc, quy định về trốn tránh nghĩa vụ, về phòng, chống
các tội phạm cụ thể như hành vi trộm cắp, bắt cóc, tống tiền, ám sát… tạo cơ
sở pháp lí cho việc trấn áp tội phạm, bảo vệ nhà nước non trẻ. Tuy nhiên,
trong tình hình cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như các văn
bản pháp luật Hình sự nói riêng mới ban hành không đủ để điều chỉnh các
quan hệ xã hội đa dạng. Vì thế ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành sắc
lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới,
không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong

19
đó có Luật hình An Nam, Hoàng Việt Hình luật và Hình luật pháp tư chính.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 03/SL/76 ngày
15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt với 7 loại tội phạm, trong đó có
quy định về tội CYGTT. Tại điểm b điều 5 sắc luật số 03/SL/76 quy định:
“Phạm tội cố ý gây thương tích thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường
hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm” [8]. Ngày 02/7/1976 Quốc hội
chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
pháp luật được áp dụng chung cho cả nước. Do vậy, để giải quyết các vụ án
CYGTT, chúng ta chủ yếu áp dụng điểm b Điều 5 Sắc luật số 03-SL/76 nói
trên cho đến trước khi BLHS 1985 ra đời và đã sớm đi vào cuộc sống và phát
huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm. Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành nhiệm vụ
đổi mới toàn diện, đưa kinh tế và xã hội thoát khỏi khủng hoảng, với sự quan
tâm của Nhà nước, nhằm phát huy hơn nữa vai trò pháp luật với tư cách là công
cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần
bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân thì quá trình pháp điển hoá Luật Hình sự ở Việt Nam được
đẩy mạnh và được đánh dấu bởi việc ban hành bộ luật hình sự năm 1985. Đây
là bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta và đây là thời điểm đánh dấu bước chuyển
biến mang tính chất lịch sử, đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử lập
pháp hình sự Việt Nam. Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn
diện về các nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội
phạm và hình phạt cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao
cho xã hội, BLHS 1985 một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng
ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp
lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là tội

20
xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người;
qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Trong BLHS 1985, tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe
của người khác được quy định tại Chương II, Điều 109 bao gồm 4 khung hình
phạt và trong mỗi khung thì có mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức
độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội, trong đó, mức cao nhất của hình
phạt đối với tội này là 20 năm tù.
b. Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 1985
Nhằm tăng cường kỷ cương, pháp luật và thực hiện đầy đủ toàn diện
chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, tại kỳ họp thứ 9 ngày
27/6/1985, Quốc hội khoá VII đã thông qua toàn văn Bộ luật hình sự năm
1985 (có hiệu lực kể từ ngày 01/1/1986). Đây là một bước ngoặt rất quan
trọng trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta.
BLHS năm 1985 là sự kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của
chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm của nước ta từ năm 1945 đến thời điểm bộ luật ban
hành. Bộ luật hình sự năm 1985 là bộ luật đầu tiên của Nhà nước chúng ta
dựa trên sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt
Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp hình sự tiên
tiến của các nước trên thế giới thể hiện được bản chất nhân văn, nhân đạo sâu
sắc của xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý có hiệu quả cho cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm. BLHS Việt Nam 1985 bao gồm 02 phần: phần chung
gồm 8 chương với 71 điều; phần các tội phạm gồm 12 chương với 209 điều.
Trong đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác được quy định cụ thể tại Điều 109, Chương II về các tội xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân hẩm của con người như sau:.

21
1- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ
ba tháng đến ba năm.
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm:
a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác;
b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
c) Có tính chất côn đồn hoặc tái phạm nguy hiểm;
3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp
đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm.
4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2,
ở khoản 3 Điều này màdo bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm
trọng của nạn nhân hoặctrong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng thì bị phạt cảnh cáo,cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt
tù từ ba tháng đến hai năm.
Tuy nhiên, ra đời trong bối cảnh điều kiện đất nước có những đặc trưng
là cần bảo vệ nền kinh tế bao cấp chủ yếu dựa trên hai hình thức sở hữu: Nhà
nước và tập thể theo cơ chế bao cấp. Vì thế, từ khi đất nước bước vào thời kỳ
đổi mới do Đại hội VI đề ra, BLHS đã dần biểu hiện những bất cập hạn chế,
như Điều 109 quy định về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, nhưng nhà làm luật lại đưa nhiều hành vi phạm tội với tính chất
và mức độ nguy hiểm khác nhau vào trong cùng một điều luật. Hơn nữa Điều
109 chỉ nêu tên tội danh mà không mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của
tội phạm, các điểm, khoản quy định còn chung chung, trừu tượng, ví dụ như
điểm a khoản 2 Điều 109 quy định “Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại
nặng cho sức khỏe của người khác”, mà không giải thích rõ thế nào là thương
tích nặng, tổn hại nặng… Do vậy, việc áp dụng pháp luật cho các cơ quan tố
tụng gặp nhiều khó khăn. Để hướng dẫn thi hành điều luật này, TANDTC đã

22
có nhiều văn bản hướng dẫn như: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986
của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định phần các tội phạm
của BLHS; Công văn số 03-TATC ngày 22/10/1987 của TANDTC hướng dẫn
thực hiện Điều 109 BLHS; Công văn số 311/HS ngày 04/04/1989 của
TANDTC về việc xác định tỷ lệ thương tật của người bị thương tích; Nghị
quyết số 01-89/HĐTP ngày 12/4/1989 của HĐTP TANDTC hướng dẫn việc
bổ sung áp dụng một số quy định của BLHS; Công văn số 140/1998/KHXX
của TANDTC về việc hướng dẫn áp dụng Điều 109. Do phải đáp ứng yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình đất nước phát triển, BLHS
năm 1985 tiếp tục có bốn lần sửa đổi ban hành ngày 28/12/1989, ngày
12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997. Tuy nhiên cả 4 lần sửa đổi
trên đều tập trung vào vệc đảm bảo chặt chẽ hơn các quy định về định tội và
hình phạt, đề cập được những vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết, đáp ứng
yêu của của tình hình mới và nguyện vọng của nhân dân.
c. Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời là một trong những thành tựu vượt bậc
của hoạt động lập pháp hình sự nói riêng và hoạt động lập pháp ở Việt Nam
nói chung. Từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến năm 1997 đã trải qua bốn lần
sửa đổi nhưng vẫn còn mang tính bộ phận chỉ đáp ứng được yêu cầu bức xúc
trước tình hình tội phạm ngày càng có chiều hướng gia tăng. Tuy nhiên để
đáp ứng yêu cầu đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội thì việc thể chế hoá các
chính sách hình sự của nước ta nhằm nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu
tranh phòng chống tội phạm tạo thuận lợi cho việc nhận thức và áp dụng Bộ
luật Hình sự một cách thống nhất trong tình hình mới, Bộ luật hình sự năm
1999 đã ra đời đã thể chế hoá những chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách của Nhà nước trong giai đoạn mới. So với Bộ luật hình sự năm 1985
được thể hiện ở cả phần chung và phần các tội phạm với 24 chương, 344 điều.

23
Trong đó tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 cụ thể như sau:
Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc
một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba
năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều
người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc
người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1
Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến

24
60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a
đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù
chung thân.
BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 đã thể chế
hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong
giai đoạn mới. Đặc trưng cơ bản của pháp luật hình sự trong giai đoạn này đã
thể hiện trong BLHS năm 1999 là: Điều chỉnh tối đa về mặt lập pháp những
chế định cơ bản, quan trọng của luật hình sự; phân hóa triệt để TNHS và hình
phạt; nêu cao tinh thần nhân đạo của luật hình sự. BLHS 1999 có nhiều nội
dung mới so với BLHS 1985 được thể hiện cả ở phần chung và phần các tội
phạm, thể hiện rõ những điểm mới trong chính sách hình sự của Nhà nước ta
nói chung, đối với xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của
con người nói riêng. BLHS 1999 đã tách tội CYGTT hoặc tổn hại cho sức
khỏe của người khác được quy định tại Điều 109 BLHS năm 1985 thành 3 tội
và được quy định thành ba điều luật khác nhau và quy định mô tả cụ thể, tách
riêng ra từng hành vi hậu quả, điều luật vừa nêu tên tội vừa mô tả các dấu
hiệu pháp lý đặc trưng của nó trong điều luật. Khoản 1 Điều 104 quy định “tỷ lệ
thương tật” là 10 tình tiết từ điểm a đến điểm k làm yếu tố định khung và định
tội, trong đó tỷ lệ thương tật giữ vai trò quyết định. Ngoài ra BLHS 1999 còn bổ
sung một số tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại Điều 104 như sau:
- Đối với trẻ em hoặc người chưa thành niên (điểm d khoản 1 Điều 104).
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 104).
- Thuê người khác phạm tội hoặc phạm tội thuê (điểm h khoản 1 Điều 104).
- Đối với những người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của
nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều 104). [17]

25
Về hình phạt của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác: Tại BLHS năm 1985 hình phạt tù tối đa đến 20 năm, thì trong BLHS 1999
đã tăng lên mức tù chung thân. Theo quy định của pháp luật và BLHS năm 1999
thì người phạm tội đương nhiên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi và
hậu quả do chính họ gây ra tức là theo tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi
và hậu quả mà người phạm tội phải gánh chịu hình phạt tương xứng.
2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trong những năm qua, nền kinh tế - xã hội đã có nhiều biến đổi, làm phát
sinh nhiều quan hệ xã hội, từ đó làm nảy sinh nhu cầu tất yếu phải điều chỉnh.
Để tồn tại và phát triển, mọi thiết chế của Nhà nước và của xã hội phải được tổ
chức trên những nền tảng chuẩn mực và ổn định, thể hiện lợi ích, tiến bộ của xã
hội, đó là pháp luật. Như vậy, pháp luật là hình thức tổ chức, là nền tảng tổ
chức của xã hội, của Nhà nước. Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng một loại
phương tiện pháp lý đặc thù là quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các quan hệ đó theo phương hướng nhất
định, đó là điều chỉnh pháp luật. Chính vì vậy, điều chỉnh các quan hệ xã hội
bằng các quy phạm pháp luật phù hợp là điều mà nhà lập pháp luôn mong
muốn. Ngày 27/11/2015, Quốc hội đã xây dựng BLHS năm 2015 đáp ứng nhu
cầu của xã hội, được Chủ tịch nước công bố vào ngày 18/12/2015 và chính
thức có hiệu lực từ ngày 01/1/2018. Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời đánh
dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế -
xã hội của nước ta. Bộ luật Hình sự 2015 gồm 3 Phần, 26 Chương, 426 Điều
(thay vì Bộ Luật Hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 Chương, 344 Điều). So với Bộ
luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều thay đổi hơn.
Trong đó, Điều 104 BLHS năm 1999 quy định về tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được sửa đổi bổ sung rõ

26
ràng hơn, phù hợp với thực tại hơn tại Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi năm
2017.
Điều 134 BLHS năm 2015 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng
thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ
đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả
năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu,
ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi
dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án
phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02
năm đến 07 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

27
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại
điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở
lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k
khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

28
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy
định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong
các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12
năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong
các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy
hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.” [19]
Như vậy, so với quy định về tội CYGTT tại điều 104 Bộ luật 1999 thì
Điều 134 năm 2015 có những điểm mới như:
- Bổ sung các trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của người khác: Dùng axit sunfuric (H2SO4) hoặc hoá chất
nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác; lợi dụng chức vụ quyền hạn. Ngoài ra còn làm rõ quy định trẻ em là
người dưới 16 tuổi.
- Phân định mức độ gây tỷ lệ thương tích để quy định hình phạt thay vì
gộp chung vào như trước
- Bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc tù chung
thân ngoài các trường hợp đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó

29
là trường hợp: Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở
lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích
vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Bổ sung quy định đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Việc quy định tội phạm cụ thể của tội này trong Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi) đóng vai trò quan trọng, giúp ta phân biệt giữa tội này và tội
phạm khác để từ đó có thể đưa ra những nhận định chính xác về tội phạm như
tội đó thuộc loại tội phạm nào, tính chất nguy hiểm do hành vi của tội đó ra
sao, người thực hiện hành vi tội đó có phải chịu trách nhiệm hình sự hay
không?... Để phân loại và định tội được một cách cụ thể, chính xác thì việc
xác định dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác thì phải xem xét trên 4 yếu tố cấu thành tội phạm đó
là: Khách thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội
phạm và Mặt chủ quan của tội phạm.
2.2.1. Mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa
học luật hình sự, đó là những "Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị
tội phạm xâm hại hoặc đe doạ gây thiệt hại ở một mức độ nhất định". Trong
luật hình sự Việt Nam, khách thể được bảo vệ là xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật Xã
hội Chủ nghĩa - Khoản 1, Điều 8 BLHS 2015
Khách thể của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác là quan hệ nhân thân bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại ở một mức độ nhất định, là xâm phạm vào những quyền được bảo hộ

30
trực tiếp về sức khoẻ của con người. Bởi vì con người là chủ thể của hầu hết
mọi quan hệ xã hội khi quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con
người bị xâm phạm nó làm phá vỡ sự ổn định của các quan hệ xã hội đó
Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hai loại tội: Tội cố ý gây
thương tích; Tội cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Việc quy định điều luật này trong Bộ luật hình sự nhằm mục đích bảo vệ
sức khoẻ cho mọi công dân. Như vậy khách thể trực tiếp của tội phạm này là
xâm phạm đến sức khoẻ của người khác - đó là con người cụ thể đang tồn tại
và sinh sống theo quy luật của tự nhiên, của xã hội.
Như vậy, nếu một người mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho chính
sức khoẻ của bản thân mình thì không được coi là tội phạm trừ trường hợp
người đó tự gây thương tích cho chính mình để nhằm thực hiện một tội phạm
khác. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
được quy định tại Điều 134 BLHS có quy định hình phạt nghiêm khắc nhất là
chung thân. Điều này khẳng định quyền bảo vệ về sức khỏe của con người là
thiêng liêng cao quý và cần được bảo vệ tuyệt đối. Đồng thời cũng thể hiện
thái độ của nhà nước với tội phạm này một cách kiên quyết bất kỳ ai xâm
phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người đều bị trừng trị thích đáng.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm
phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người thông qua sự tác động làm
biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động. Đối tượng tác động là
sức khỏe của trẻ em, người già, phụ nữ có thai, người không có khả năng tự
vệ thì TNHS đối với người phạm tội sẽ nặng hơn. Việc xác định đúng đối
tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác là vô cùng quan trọng.
2.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên
ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện ra của tội phạm diễn ra hoặc tồn

31
tại bên ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thức được bằng các giác quan
trực tiếp hay bằng tư duy lôgic. Nội dung mặt khách quan bao gồm: hành vi
khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi và hậu quả cũng như thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện,
thủ đoạn phạm tội. Trong đó Hành vi khách quan của tội phạm là biểu hiện cơ
bản, là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới
những hình thức cụ thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong
muốn. [31].
Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện
của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài bằng giác quan mà con người có
thể nhận biết được bao gồm: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy
hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như thời
gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội.
Trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng
nhất đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận
thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: hậu quả, mối quan hệ
nhân quả, công cụ phương tiện phạm tội…chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách
quan. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác có thể được thực hiện thông qua hành động hoặc
không hành động. Hành động phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi
tình trạng bình thường đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm đến quyền
được bảo vệ về sức khỏe của con người qua việc chủ thể của tội phạm làm
một việc mà pháp luật cấm. Không hành động phạm tội cố ý gây thương tích

32
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách
quan làm biến đổi tình trạng bất bình thường đối tượng tác động của tội phạm
xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người qua việc chủ thể tội
phạm không làm một việc mà pháp luật yêu cầu làm mặc dù có đủ điều kiện
để làm. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới
khách quan có sự kiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí. Đây là điều
kiện cần, điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra thương tích hoặc
gây tổn hại sức khỏe cho người khác một cách trái pháp luật. Những hành vi
này có thể được thể hiện bằng các công cụ phương tiện phạm tội như đấm đá
hoặc có thể thông qua các loại súc vật như thả chó cắn, bò đá... Đây là những
hành vi hành động hoặc không hành động.
Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác chính là thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ
nhân thân, cho quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người và thể hiện ở tỷ
lệ thương tật ( tỷ lệ %) mất sức lao động của nạn nhân. Thiệt hại này được thể
hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác. Việc xác định có hậu quả xảy ra trên thực tế
hay không, tính chất mức độ của hậu quả xảy ra trên thực tế có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, đảm
bảo xét xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việc quyết định
hình phạt.
Công cụ, phương tiện sử dụng: Nếu người phạm tội sử dụng các phương
tiện có tính nguy hiểm cao như: lựu đạn, súng, chất nổ, dao găm… phần nào
đó có thể xác định người phạm tội mong muốn cho nạn chết. Ngược lai, nếu
người phạm tội không lựa chọn hoặc chỉ lựa chọn loại phương tiện ít nguy
hiểm đến tính mạng thì phần nào không mong muốn nạn nhân chết. Vì vậy,
dựa vào việc người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện hành

33
vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người
hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe.
Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức
khỏe: Trên thực tế khi muốn tước đoạt sinh mạng của ai đó thì người phạm tội
sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực,
vùng cổ, vùng bụng…kết hợp việc sử dụng công cụ, phương tiện nếu là công
cụ, phương tiện ít nguy hiểm, cùng với việc tấn công vào những nơi được coi
là không xung yếu trên cơ thể, có thể xác định là hành vi cố ý gây thương
tích, gây tổn hại sức khỏe.
Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Xác định hành vi cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ
mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập
và cường độ tấn công mạnh không? Nếu cường độ tấn công không mạnh và
những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn
nhân, khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.
2.2.3. Chủ thể của tội phạm
Theo luật hình sự Việt Nam hiện hành thì "Chủ thể của tội phạm là người
có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi
phạm tội cụ thể ". Như vậy chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam
hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể. Con người cụ thể ở đây phải là
người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện
hành vi phạm tội cụ thể. Và khi thực hiện hành vi phạm tội người ấy có khả
năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và
có khả năng điều chỉnh được hành vi ấy. Theo Điều 12 BLHS năm 2015 quy
định: Người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

34
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác, tội hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội
cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt
tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [19]
Điều 21 BLHS 2015 quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm
hình sự: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc
bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự… Chủ
thể của tội “Cố ý gây thương tích” là người đã có lỗi trong việc thực hiện
hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có đủ năng lực
chịu trách nhiệm hình sự và phải đạt độ tuổi nhất định mà xâm hại đến sức
khỏe của người khác một cách trái pháp luật, người phạm tội phải từ 16 tuổi
trở lên gây thương tích cho người khác từ 11% đến 30% hoặc dưới 11%
nhưng thuộc một trong các trường đã nêu tại khoản 1 Điều 134 của BLHS thì
phải chịu trách nhiệm hình sự.
2.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, là những biểu
hiện tâm lý bên ngoài của người phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích
phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Lỗi là
dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ cấu thành tội phạm nào. Mục đích và
động cơ phạm tội tuy cũng là những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
nhưng không phải luôn luôn có ý nghĩa quyết định tính chất nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm.
“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành
vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi họ có đủ điều kiện khách
quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội”. [36] Đây chính là định nghĩa lỗi về mặt nội dung. Về mặt hình thức,

35
“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý”.
Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích là người phạm tội mong muốn
gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, đó chính là diễn
biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi cố ý gây
thương tích và hậu quả phát sinh từ hành vi gây thương tích gây ra. Mặt chủ
quan của tội cố ý gây thương tích bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
Lỗi ở đây được hiểu là lỗi cá nhân tức là lỗi của con người cụ thể khi họ
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện dưới hành vi cố ý
hoặc vô ý. Người phạm tội thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật chỉ bị coi là có
lỗi khi chính họ lựa chọn hành vi đó, mặc dù họ tự ý thức được và có đủ điều
kiện để kiểm soát hành vi của mình trong khi họ có thể lựa chọn và thực hiện
xử sự khác nhưng họ không lựa chọn. Như vậy muốn xác định đúng lỗi của
người phạm tội đối với thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân là cố
ý hay vô ý thì cần phải xác định xem người phạm tội có thấy trước hậu quả
nguy hiểm của hành vi mà họ thực hiện hay không; Và nếu thấy trước được
hậu quả thì họ mong muốn chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả xảy ra.
Nếu vấn đề thứ nhất được xác định là không thì có thể loại trừ ngay khả năng
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Để xác
định người phạm tội mong muốn chấp nhận hay loại trừ hậu quả gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần xem xét đánh giá
những tình tiết như: sự lựa chọn công cụ phương tiện phạm tội cách thức sử
dụng; diễn biến tâm lý của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm;
tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích phạm tội; vị trí
tác động và khả năng nhận thức của người thực hiện hành vi phạm tội.

36
Ngoài dấu hiệu lỗi của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe
của người khác thì động cơ, mục đích phạm tội cũng là một dấu hiệu trong cấu
thành tội phạm. Trong một số trường hợp thì việc xác định đúng động cơ, mục
đích phạm tội sẽ giúp định đúng tội danh và phân biệt tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác với một số tội khác.
“Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực
hiện hành vi phạm tội”. Động cơ phạm tội còn có thể được xem là tình tiết
tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. “Mục đích phạm tội là kết quả
trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra cho hành vi phạm tội phải đạt
được”. Người phạm tội khi thực hiện tội phạm đều hướng đến những mục
đích nhất định. Dấu hiệu động cơ và dấu hiệu mục đích có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau vì có động cơ thúc đẩy thì người phạm tội mới thực hiện tội
phạm để thỏa mãn động cơ. Đối với tội cố ý gây thương tích thì thông thường
động cơ chủ yếu thúc đẩy người phạm tội là nhằm gây thương tích cho người
khác. Bên cạnh đó việc xác định động cơ, mục đích của người phạm tội có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định khung hình phạt, quyết định hình phạt.
Tóm lại, bốn yếu tố của cấu thành tội phạm của tội Cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, tồn tại không tách rời nhau, chúng là cơ sở pháp lý để truy cứu trách
nhiệm hình sự và để định tội danh. Vì vậy, trong công tác đấu tranh phòng
chống tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác, các nhà bảo vệ pháp luật phải nắm rõ được các dấu hiệu trên và phải
đánh giá chúng một cách khách quan, toàn diện, lôgic, biện chứng, và phải
phân biệt được các dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác với các tội phạm khác để từ đó có cách
xử lý phù hợp, tránh truy tố oan sai, tránh bỏ lọt tội phạm, đảm bảo tính pháp
chế XHCN.

37
2.2.5. Các trường hợp phạm tội đặc biệt
a. Phạm tội chưa đạt
Tại điều 15 BLHS năm 2015 sửa đổi quy định về phạm tội chưa đạt như
sau: Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện
được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Như vậy, ta có thể hiểu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác ở giai đoạt phạm tội chưa đạt là hành vi cố ý, mong
muốn gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng vì nguyên nhân nào đó
mà hậu quả mong muốn chưa xảy ra.
Cho nên tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác ở giai đoạt phạm tội chưa đạt có đủ yếu tố cấu thành của hành vi
phạm tội, tuy hành vi ở giai đoạn này chưa gây ra hậu quả như mong muốn
nhưng được thực hiện bởi lỗi cố ý, nó chứa đựng khả năng gây ra hậu quả
thậm chí là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Cũng như các tội phạm khác thì
vấn đề phạm tội chưa đạt trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác cũng có các giai đoạn như phạm tội chưa đạt như
Thời điểm bắt đầu của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác giai đoạn phạm tội chưa đạt: Là thời điểm bắt đầu người
phạm tội thực hiện hành vi khách quan như hành vi chuẩn bị các công cụ,
phương tiện như gậy gộc, dao kiếm,... hoặc nhặt dao để cố ý gây thương tích
cho nạn nhân. Thời điểm kết thúc của tội phạm này là thời điểm hành vi phạm
tội phải dừng lại khi nó chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu trong mặt khách quan
của cấu thành tội phạm. Bao gồm một trong các trường hợp sau:
+ Tội phạm đã thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan
+ Tội phạm chưa thực hiện hết các hành vi khách quan đối với tội phạm
có cấu thành tội phạm hình thức mà có nhiều hành vi khách quan.

38
Ví dụ: A Cố ý gây thương tích làm cho B bị gãy tay nhưng khi vừa lao
vào đánh B được một cái thì A bị mọi người xung quanh giữ lại.
+ Tội phạm đã thực hiện hết hành vi khách quan nhưng hậu quả chưa
xảy ra với cấu thành tội phạm vật chất
Ví dụ: A muốn gây thương tích làm cho B ko đi lại được. Khi thực hiện
hành vi xong nghĩ là B đã bị như mong muốn nên A bỏ đi mặc B nằm đó, và
B đã được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời nên hậu quả như A mong muốn
không xảy ra.
Xét về tâm lý: Việc tội phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích
phải dừng lại ở thời điểm trên là do các nguyên nhân khách quan, các nguyên
nhân ấy có thể là do: Nạn nhân tránh được, hoặc bị người khác ngăn chặn,
hoặc không có đối tượng tác động, hoặc công cụ, phương tiện vô hiệu như
đạn không nổ, thuốc độc không có giá trị sử dụng.
Như vậy, ở đây khi một người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
có nghĩa là hành vi đã đựơc thực hiện, do lỗi cố ý của người thực hiện hành vi
phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác nhưng do
nguyên nhân khách quan nào đó mà hậu quả xảy ra không như mong muốn.
Như vậy, vấn đề về trách nhiệm hình sự được đặt ra và căn cứ để xác định
trách nhiệm hình sự cụ thể cho những trường hợp phạm tội chưa đạt cho tội
cố ý gây thương tích được đặt ra:
Tại khoản 1 Điều 57 BLHS năm 2015 quy định: "Đối với hành vi
chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt đựơc quyết định
theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội
và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng"
Tại khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015 quy định: "nếu điều luật được áp
dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì áp

39
dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt
không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định"
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
ở giai đoạn phạm tội chưa đạt có các trường hợp sau:
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: Là trường hợp người phạm tội
đã thực hiện xong những hành vi cố ý gây thương tích mà bản thân họ cho là
cần thiết để gây hậu quả cho người khác, nhưng vì nguyên nhân khách quan
mà hậu quả đó không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, hoàn thành về hành vi).
Ví dụ: A có ý định làm cho B bị ngộ độc bằng cách bỏ thuốc độc vào
cốc nước của B và tin rằng B sẽ uống cốc nước đó nên bỏ đi, nhưng sau đó vì
có việc phải ra ngoài nên B đã không uống cốc nước đo nên không bị ngộ
độc. Ở đây A đã hành động như ý muốn và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưng lại
không xảy ra. Trường hợp này người phạm tội dừng lại dù không có ai ngăn
cản hay không có nguyên nhân gì tác động để người phạm tội kết thúc hành vi
của mình nhưng cũng không được coi là tự nguyện nửa chừng chấm dứt thực
hiện tội phạm, vì người phạm tội đã thỏa mãn với hành vi nhưng chưa thỏa
mãn về hậu quả.
Phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành: Là trường hợp người phạm tội cố
ý gây thương tích cho người khác vì nguyên nhân khách quan, chưa thực hiện
hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả nên hậu quả không
xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi).
Ví dụ: A có ý định dùng dao để chém nhiều nhát vào B để làm cho B
gãy tay, nhưng mới chém được 1 nhát thì bị người khác giữ tay lại làm cho A
không thực hiện được tiếp hành vi của mình. Hậu quả là B không bị gãy tay.
Trường hợp này người phạm tội chưa gây ra được hậu quả được như ý muốn,
chưa tin vào hậu quả xảy ra và hậu quả cũng không xảy ra.)

40
Ngoài ra còn có trường hợp cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vô hiệu: Là trường
hợp phạm tội mà nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với công cụ
phương tiện hoặc đối tượng tác động (Ví dụ: A lẻn vào nhà B nhằm gây
thương tích cho B nhưng lúc đó B lại không có mặt ở nhà).
b. Đồng phạm
Theo quy định của Điều 17 BLHS năm 2015 thì đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện
một tội phạm.
2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ
giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi
giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện
tội phạm.
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc
thực hiện tội phạm.
4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
vượt quá của người thực hành. [19]
Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thể
hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Tuy nhiên, không phải cứ có
nhiều người tham gia là đồng phạm, mà nhiều người tham gia đó phải cố ý
cùng thực hiện một tội phạm, nếu có nhiều người phạm tội nhưng không cùng
thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm. Giữa những người phạm
tội đó có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện tội phạm hoặc có sự tiếp
nhận về mặt ý chí giữa những người phạm tội.

41
Cũng như các tội phạm khác thì vấn đề đồng phạm trong tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác phải thoả mãn các
dấu hiệu sau:
Thứ nhất: Phải từ hai người trở lên, những người này phải có đủ dấu
hiệu về chủ thể của tội phạm như đã phân tích ở trên. Đây là điều kiện về
năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định tại Điều 12 BLHS năm 2015.
Thứ hai: Cố ý cùng thực hiện một tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác, tức là người trong đồng phạm đều có hành
vi tham gia vào thực hiện tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác, hành vi của mỗi người được thực hiện không biệt lập
nhau mà trong sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho
hành vi của người khác và ngược lại, hành vi phạm tội của mỗi người đều
nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm, với mục đích chung là đạt được
kết quả thực hiện tội phạm. Vì vậy, sẽ không được coi là đồng phạm khi một
số người đã cùng thực hiện một tội phạm và cùng một thời gian, nhưng giữa
những người này không có sự bàn bạc, liên hệ, ràng buộc, hỗ trợ nhau mà
hành vi của từng người đều thực hiện độc lập.
Trong cùng một vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác thì dấu hiệu đồng phạm trong việc cùng thực hiện hành
vi cố ý gây thương tích có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong
cấu thành tội phạm (người thực hành), thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy,
cầm đầu việc thực hiện tội phạm (người tổ chức), người thực hiện hành vi
kích động, dụ dỗ, xúi giục người khác thực hiện tội phạm (người xúi giục);
tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm (người
giúp sức). Nếu không có một trong những hành vi nêu trên thì không thể được
coi là người cùng thực hiện và do vậy cũng không thể là đồng phạm về tội cố
ý gây thương tích.

42
Khi thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác thì mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội
của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng
phạm khác. Cùng cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai phương diện
về lý trí và ý chí: Đều nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của
mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác,
thấy trước được việc gây ra hậu quả chung của hành vi phạm tội đó. Những
người đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích khi thực hiện hành vi đều
mong muốn cùng xâm phạm đến sức khoẻ của người khác và mong muốn hậu
quả do hành vi phạm tội xảy ra.
Trong thực tiễn việc xác định yếu tố đồng phạm trong tội cố ý gây
thương tích gặp rất nhiều khó khăn và còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Ví dụ: Khoảng 9g30 phút ngày 12/4/2017, Hải đang ngồi uống nước tại
quán nước nhà bà An. nhìn thấy Tùng và Lâm đang đuổi đánh nhau, trong hai
người đó, Tùng là bạn rất thân của Hải. Thấy vậy, Hải đã cầm một đoạn gậy
chắc dài 1m lao ra cùng Tùng đánh Lâm; Tùng thấy Hải vào đã gật đầu tán
thành. Hậu quả Lâm bị thương với tỷ lệ thương tích 32%. Khi xử lý vụ án này
có nhiều quan điểm khác nhau.
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: khi đánh Lâm, Tùng chỉ dùng tay
không đánh, còn Hải đã dùng gậy đánh; hơn nữa lý do Tùng đánh Lâm là do
Lâm đã có những hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến Tùng và sự tấn công
này của Tùng được xác định là trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Nếu xử lý thì Tùng sẽ phạm tội Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh
thần kích động mạnh theo Điều 135 BLHS 2015, còn Hải thì phạm tội Cố ý
gây thương tích theo Điều 134 BLHS 2015. Mỗi người sẽ xử lý theo một tội
danh khác nhau, do đó theo quy định tại Điều 17 BLHS 2015 thì Hải và Tùng
không đồng phạm vì không bị xử lý cùng một tội danh, nếu không đồng phạm
thì phải tách thương tích và xử lý từng đối tượng trên cơ sở hậu quả gây ra

43
của mỗi người theo nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Nếu khi tách
thương tích của người bị hại đưa đến kết quả là: vết thương do Hải dùng gậy
đánh Lâm để lại tỷ lệ thương tích 30%, còn vết thương do Tùng gây ra khi
đánh Lâm bằng tay không có tỷ lệ 2%, thì có nghĩa Hải bị xử lý hình sự, còn
Tùng thì không bị xử lý hình sự.
Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng: đồng phạm được hiểu là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và trước hết phải thoả mãn
điều kiện về chủ thể (độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự), nhưng với
điều kiện thứ hai là cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nhóm ý kiến này cho
rằng hành vi cố ý cùng thực hiện một tội phạm là cùng cố ý với hành vi phạm
tội và cùng mong muốn hậu quả chung sẽ xảy ra, không cần phải cùng một tội
danh. Thậm chí nếu hành vi phạm tội của các đối tượng trên thoả mãn những
quy định của pháp luật về phạm tội có tổ chức thì vẫn phải viện dẫn và xử lý.
Như vậy, về vụ án nêu trên, mặc dù hai đối tượng Tùng và Hải trước đó
không có sự bàn bạc với nhau về việc đánh Lâm, nhưng khi Hải lao vào hỗ
trợ, thì Tùng đã gật đầu đồng ý, tức là giữa hai người đã có sự tiếp nhận mục
đích của nhau để cùng thực hiện hành vi đánh Lâm, do đó Hải và Tùng phải là
đồng phạm. Quá trình đánh Lâm, Tùng dùng tay không đánh, còn Hải dùng
gậy đánh, nhưng Tùng biết Hải khi vào đánh Lâm có dùng gậy và đã chấp
nhận việc Hải giúp sức cho mình, nên cả hai đối tượng đều phải chịu tình tiết
định khung. Theo nhóm ý kiến này cho rằng giữa hai đối tượng có dấu hiệu
của đồng phạm nên không thể tách thương tích của người bị hại để xử lý riêng
từng đối tượng được, mà cả hai đều phải chịu chung hậu quả do chúng cùng
gây ra đối với Lâm là 32%. Khi cá thể hoá trách nhiệm hình sự, Tùng có yếu
tố phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp
luật nghiêm trọng của Lâm gây ra, thì Tùng được hưởng tình tiết này, Hải
không có nên không được hưởng. Mỗi đối tượng tuy bị xử lý ở những điều
luật khác nhau, nhưng phải xác định là có đồng phạm mới chính xác.

44
Theo quan điểm cá nhân tôi đồng tình với nhóm ý kiến thứ hai, giữa
những người này tuy chưa có sự bàn bạc, thống nhất nhưng đã hiểu và tiếp
nhận mục đích, ý chí của nhau để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích thì
đó là đồng phạm. không có đồng phạm thì không thể giải quyết được trường
hợp của Tùng, đó là điều không hợp lý.
Đồng phạm không phải là tình tiết tăng nặng, cũng không phải là tình tiết
định khung hình phạt, nhưng trong một số trường hợp, đồng phạm có ý nghĩa
rất lớn đến việc xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không. Thậm chí nếu
giữa những người phạm tội trước đó có sự câu kết chặt chẽ, đề ra kế hoạch và
định phương hướng hành động cụ thể, phân công công việc cho từng người,
bàn bạc kỹ lưỡng thì theo nhóm ý kiến thứ nhất cũng không được coi là
“phạm tội có tổ chức” vì “phạm tội có tổ chức” trước hết phải thoả mãn điều
kiện đồng phạm, nếu các đối tượng bị xử lý ở những tội danh khác nhau thì
đồng phạm bị phá vỡ, còn nhóm ý kiến thứ hai thì vẫn cho rằng đồng phạm.
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc xác định đồng phạm trong tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác có ý nghĩa và
tầm quan trọng rất lớn cả về lý luận và thực tiễn trong việc giúp cho Viện
kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội góp phần phòng chống oan, sai trong tố
tụng hình sự./.
2.2.6. Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác
a. Hình phạt.
Từ khi xuất hiện Nhà nước cùng với sự ra đời của pháp luật, Nhà nước
đã dùng phát luật để điều hành, duy trì và ổn định trật tự xã hội. Trong quá
trình phát triển của con người được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các
biện pháp cưỡng chế, mọi người phải tuân theo, người nào vi phạm pháp luật
sẽ bị cưỡng chế bởi Nhà nước. Trong tất cả các biện pháp cưỡng chế thì
cưỡng chế trong lĩnh vực hình sự được xem là nghiêm khắc nhất gọi là hình

45
phạt và được quy định cụ thể tại điều 30 BLHS năm 2015: Hình phạt là biện
pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật
này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại
phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân
thương mại đó. Theo đó thì: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp
nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và
các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp
nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống
tội phạm - Điều 31 BLHS năm 2015
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến
sức khoẻ. Hành vi gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác phải được trừng
trị bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước và được quy định tại điều 134
BLHS 2015. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác được cấu tạo thành 7 khoản, trong đó khoản 1 quy định cấu thành
cơ bản đối với tội danh này, các khoản 2,3,4,5,6 quy định cấu thành tăng nặng
cho người thực hiện hành vi. Khoản 7 quy định về các hình phạt bổ sung cần
thiết để áp dụng. Mức cao nhất của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác được quy định tại khoản 6 điều 134 BLHS 2015
là tù chung thân. Cụ thể:
* Phạm tội theo khung cấu thành cơ bản: Theo quy định tại khoản 1 điều
134 BLHS 2015, phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới
11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản này, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03
năm. Các trường hợp đó cụ thể là:
- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người
trở lên: Được hiểu là dùng các vật nhọn, sắc, có tính sát thương và gây nguy

46
hiểm cao cho nạn nhân cụ thể công cụ dụng cụ như búa, đinh, dao phay, các
loại dao sắc nhọn...; vật mà người phạm tội chế tạo ra như thanh sắt mài nhọn,
côn gỗ...; vật có sẵn trong tự nhiên như đá, gạch, đoạn gậy cứng chắc, thanh
sắt. Thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người là thủ đoạn gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho người khác có khả năng gây ra hậu quả đó không phải
chỉ cho một người mà cho nhiều người như dùng bom xăng…Ví dụ như: để
đầu độc một người tội phạm đã bỏ thuốc độc xuống giếng nước làm nhiều
người bị ngộ độc...
- Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: So với BLHS
1999 thì BLHS 2015 quy định thêm đây một trong các tình tiết tăng nặng
TNHS, đặc biệt quy định a-xít sunfuric, tức là một loại a-xít thông dụng và
thường được sử dụng trong việc tấn công đối với tội phạm này.
- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân: Là hậu quả từ hành vi phạm tội gây ra, cố
tật nhẹ là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một
bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một
trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất
chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động
của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của
nạn nhân.
- Phạm tội 02 lần trở lên: Là trường hợp phạm tội với nhiều lần, cho
thấy tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
- Phạm tội đối với 02 người trở lên: Là trường hợp phạm tội với nhiều người,
cho thấy tính nguy hiểm của công cụ, thủ đoạn mà đối tượng thực hiện hành vi có
khả năng tác động và gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho nhiều người.
- Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu,
ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ: Là những đối tượng yếu

47
thế được pháp luật bảo vệ. Trẻ em dưới 16 tuổi trong trường hợp này cần
được hiểu là người chưa đủ 16 tuổi đây là tình tiết định khung tăng nặng được
quy định bổ sung trong BLHS quy định này giúp nghiêm trị những kẻ có hành
vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của trẻ em. Phụ nữ mà
biết là có thai là trường hợp cố ý gây ra thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe
cho người phụ nữ đang mang thai. Việc xác định nạn nhân là phụ nữ có thai
hay không căn cứ vào những chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang
mang thai như: bị can bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo
nghe được biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó
đang mang thai; Người già yếu là người từ 60 tuổi trở lên sinh hoạt đi lại khó
khăn… Người ốm đau là người đang bị bệnh tật có thể đang điều trị ở bệnh
viện ở cơ sở y tế tư nhân hoặc ở tại nhà riêng của họ; Người không có khả
năng tự vệ là người do bị khiếm khuyết về thể chất như người bị khuyết tật
bẩm sinh hoặc tàn tật do tai nạn như tâm thần bại liệt, mù lòa, liệt tay chân... làm
hạn chế khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình. Những người
không có khả năng tự vệ luôn luôn ở trong tình trạng không thể tự vệ được khi bị
người khác thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của mình
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo
của mình: Là những người có quan hệ ruột thịt gồm ông bà nội, ông bà ngoại;
Cha, mẹ là người đã sinh ra người phạm tội. Cha mẹ nuôi là người
nhận người phạm tội làm con nuôi được pháp luật thừa nhận; Người nuôi
dưỡng là người chăm sóc, quản lý, giáo dục như vai trò của bố, mẹ đẻ
mình; Thầy cô giáo trong trường hợp này chính là những người đã trực tiếp
giảng dạy cho người phạm tội về văn hóa chuyên môn nghề nghiệp... Quy
định này đề cao giá trị đạo đức trong xã hội trước hành vi phạm tội.
- Có tổ chức: Là trường hợp có từ 02 người trở lên dưới hình thức đồng
phạm, có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội

48
phạm, thể hiện như: chuẩn bị kế hoạch phạm tội, phân công vai trò, vị trí từng
tên, kế hoạch đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật...
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Là hành vi cố ý gây thương tích của
những người có chức vụ, quyền hạn nhưng không liên quan đến công vụ của
người đó.
- Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành
hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đang bị tạm giữ, tạm
giam là đang tạm giữ, tạm giam trong nhà tạm giữ, tạm giam của cơ quan
công an hoặc cơ quan điều tra hình sự quân đội theo lệnh tạm giữ của người
có thẩm quyền, trong thời gian đang bị tạm giữ lại cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong nhà tạm giữ, tạm giam. Đang
bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là đang bị giáo dục trong các cơ
sở giáo dục của Bộ Công an như: Trường giáo dưỡng, các trung tâm cải tạo
do bộ công an quản lý... Không coi là phạm tội trong thời gian bị tạm giữ, tạm
giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nếu như người
đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục đã bỏ trốn khỏi nhà tạm giữ, nhà tạm giam hoặc cơ sở giáo dục. Đây là
những đối tượng bị kiểm soát và đang chấp hành án hình sự hoặc hành chính
và cần có thái độ tôn trọng pháp luật một cách cao nhất.
- Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích
hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê: Thuê gây thương tích cho nạn nhân
là thủ phạm không trực tiếp hành động mà giấu mặt dùng tiền hoặc lợi ích vất
chất, tinh thần để yêu cầu người khác thực hiện hành vi phạm tội. Gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ do được thuê là trường hợp người phạm
tội vì lợi ích vật chất từ người khác mặc dù có thể không có mâu thuẫn thù
hằn gì với nạn nhân mà chỉ xuất phát từ lợi ích vật chất để thực hiện hành vi
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Người

49
thuê và người được thuê gây thương tích cho người khác đều được coi là
nghiêm trọng hơn trường hợp gây thương tích bình thường, nên người bị hại
chỉ bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe dưới 11% thì người phạm tội đã
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
- Có tính chất côn đồ: Là thực hiện hành vi có tính hung hãn cao độ, có
thái coi thường tính mạng, sức khoẻ của người khác; gây thương tích không
có nguyên cớ hoặc phạm tội vì lý do nhỏ nhen; đâm, đánh người dã man, bất
chấp pháp luật của những người thực hiện hành vi phạm tội
- Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội trước đây đã bị kết
án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá
án tích mà lại phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
người khác. Hoặc trường hợp đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm
tội này. Được xác định theo khoản 2 điều 53 BLHS 2015 để xác định.
- Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn
nhân: Trong trường hợp phạm tội này người phạm tội gây thương tích cho
nạn nhân là để cản trở việc thi hành công vụ của họ hoặc vì lý do công vụ của
người khác mà gây ra thương tích.
*. Phạm tội theo cấu thành tăng nặng tại khoản 2
Khoản 2 dùng tỉ lệ thương tật để xác định khung hình phạt tăng nặng.
Theo đó, tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các
trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1
Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
*. Phạm tội theo cấu thành tăng nặng tại khoản 3
Khoản 3 dùng tỉ lệ thương tật để xác định khung hình phạt tăng nặng.
Theo đó, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

50
*. Phạm tội theo cấu thành tăng nặng tại khoản 4
Khoản 4 dùng tỉ lệ thương tật để xác định khung hình phạt tăng nặng.
Theo đó, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp
quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì
bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
*. Phạm tội theo cấu thành tăng nặng tại khoản 5
Khoản 5 dùng tỉ lệ thương tật để xác định khung hình phạt tăng nặng.
Theo đó, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại
điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm
đến 15 năm.
*. Phạm tội theo cấu thành tăng nặng tại khoản 6
Khoản 6 dùng tỉ lệ thương tật và các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
khác để xác định khung hình phạt tăng nặng. Theo đó, Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau: Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc
gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi
người 61% trở lên; Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ
tổn thương cơ thể 61% trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân
*. Chuẩn bị phạm tội
BLHS 2015 cũng quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội cố ý gây
thương tích, theo đó: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
b. Biện pháp tư pháp
Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự, được quy định
trong Bộ luật hình sự, do Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với người
phạm tội cũng như người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi

51
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt
Như vậy các biện pháp tư pháp áp dụng đối với tội cố ý gây thương tích là
các biện pháp hình sự được Bộ luật hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp
(Viện kiểm sát, Toà án) áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm đến tính
mạng sức khoẻ của người khác, nó có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội cố ý gây
thương tích do Cơ quan tiến hành tố tụng quyết định, và cơ quan tiến hành tố
tụng trong vụ án hình sự căn cứ vào quy định đó để áp dụng đối với người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nó là biện pháp cưỡng chế về hình
sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, nhằm hạn chế quyền tự do của người
phạm tội. người phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp chỉ mang án tích khi
bị áp dụng hình phạt. Nếu một người người phạm tội được miễn hình phạt
nhưng bị áp dụng biện pháp tư pháp thì không phải mang án tích, nó được thể
hiện trong các bản án của tòa án hoặc quyết định các cơ quan tiến hành tố
tụng khác. Theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 thì các biện pháp tư
pháp gồm: các biện pháp tư pháp áp dụng chung đối với người phạm tội và
các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Biện
pháp tư pháp hình sự áp dụng chung cho người phạm tội được quy định tại
khoản 1, Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017, gồm có
các biện pháp như sau:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
Biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được áp dụng theo
quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự. Theo đó công cụ, phương tiện của
người phạm tội dùng để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, xâm phạm tới
sức khoẻ của người khác hoặc thông qua việc thực hiện hành vi cố ý gây
thương tích mà có được do mua bán, đổi chác, thuê mượn hoặc thu lợi bất

52
chính từ việc phạm tội mà có tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch
thu tiêu hủy. Ví dụ: A đưa cho B 10.000.000, để thuê B chém C. B đã cầm
tiền của A và đi mua một con dao mác nhằm gây thương tích cho C. Trong
trường hợp này thì số tiền 10.000.000 đồng và con dao mác là công cụ,
phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên buộc phải tịch thu.
Còn đối với vật, tiền bị người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại sức khoẻ cho người khác chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không
tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Ví dụ: Vì có
mâu thuẫn với B mà A đã chạy vào nhà C để lấy một con dao đuổi theo B để
đánh. Như vậy, trong quá trình xét xử vụ án thì con dao này sẽ bị tịch thu để
trả lại cho chủ sở hữu của nó.
Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để
cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện hành vi gây thương tích cho
người khác, thì có thể bị tịch thu. Tịch thu vật và tiền trực tiếp liên quan đến
hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác là biện pháp tư pháp được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội
ở giai đoạn xét xử vụ án hình sự, nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt có tác
dụng góp phần cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm, ổn định
và đảm bảo trật tự xã hội.
Những vật, tiền của thuộc quyền sở hữu của người phạm tội hoặc vật
thuộc loại nhà nước cấm lưu hành (thuốc độc...) và người phạm tội đã dùng
những thứ đó làm phương tiện hoặc công cụ để thực hiện hành vi phạm tội
hoặc vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác, thu lợi bất chính
những thứ ấy mà đều là tang vật của vụ án, vì thế theo quy định khi xét xử
Tòa án quyết định tịch thu những tài sản này. Trường hợp là tài sản của người
khác thì chỉ có thể bị tịch thu khi người này có lỗi trong việc để cho người
phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, trong trường hợp này cần xác
định rõ lỗi của chủ sở hữu tài sản. Trong trường hợp người phạm tội sử dụng

53
trái phép tài sản của người khác vào việc phạm tội thì tài sản này không bị
tịch thu, mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai
xin lỗi;
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do phạm tội cố ý gây
thương tích là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy định, do Tòa án áp
dụng đối với người phạm tội cố ý gây thương tích khi họ gây ra thiệt hại về
tinh thần cho người bị hại, người thân của người bị hại. Tại Điều 48 của Bộ
luật hình sự quy định:
1. Người phạm tội phải trả lại những tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở
hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp tội phạm gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc
người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Điều luật quy định hai biện pháp trên để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị hại khi bị xân phạm về sức khoẻ, tính mạng, đó là các
quyền sở hữu về tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của con người đã được Hiến pháp quy định. Bộ luật hình
sự quy định người phạm tội cố ý gây thương tích phải trả lại tài sản cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Trong trường hợp người phạm
tội cố ý gây thương tích mà làm hư hỏng hoặc giảm giá trị tài sản thì phải bồi
thường thiệt hại cùng với việc trả lại tài sản. Nếu tài sản bị chiếm đoạt không
trả lại được thì người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp tài sản.
Ví dụ: A vào quán karaoke đánh B, trong quá trình xô xát mâu thuẫn A
đã làm hỏng tài sản của quán thì buộc A phải khắc phục bồi thường thiệt hại
cho quán.

54
Khi giải quyết vấn đề trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
(phần dân sự trong vụ án hình sự), Tòa án phải căn cứ vào quy định của Bộ
luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết
Buộc công khai xin lỗi là biện pháp tư pháp được quy định trong Bộ
luật hình sự, do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội gây thiệt hại về tinh
thần nhằm khôi phục lại những giá trị tinh thần cho người bị hại và giáo dục,
cải tạo người phạm tội [2, tr. 197]. Pháp luật quy định biện pháp này chỉ do
Tòa án áp dụng và như vậy có thể hiểu là biện pháp áp dụng cùng với hình
phạt hoặc thay cho hành phạt khi người phạm tội được miễn hình phạt hay
miễn trách nhiệm hình sự. Biện pháp này chỉ có thể được áp dụng trên cơ sở
tự nguyện của người phạm tội và sự đồng ý của người bị thiệt hại. Trường
hợp người phạm tội không tự nguyện công khai xin lỗi người bị hại thì biện
pháp này sẽ không thi hành được, vì không có cơ quan nào có thể cưỡng chế
bắt buộc người phạm tội phải công khai xin lỗi.
c) Bắt buộc chữa bệnh.
Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật hình sự quy
định, do Tòa án hoặc Viện kiểm sát áp dụng đối với người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình [2, tr. 197].
Bắt buộc chữa bệnh nhằm phòng ngừa khả năng gây thiệt hại cho trật
tự, an toàn xã hội của người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác gây rối loạn
hoạt động tâm thần. Thay vì áp dụng hình phạt đối với người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội, Tòa án cho họ được chữa bệnh tại cơ sở điều trị chuyên khoa
hoặc có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trong nom dưới sự giám sát
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, đối với một người trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bênh
khác mà làm mất khả năng nhận thức hoặc khả điều khiển hành vi của mình
mà phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người

55
khác thì sẽ bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Theo đó Viện kiểm sát
hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần
có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa
bệnh. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được áp dụng theo Điều 49
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
d) Biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với người chưa thành niên
phạm tội gồm có hai biện pháp là “Giáo dục tại xã, phường, thị trấn” và “Đưa
vào trường giáo dưỡng”, được quy định tại Điều 95, 96 BLHS năm 2015.
Biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý
gây thương tích là biện pháp cưỡng chế về hình sự của nhà nước, được quy
định trong Bộ luật hình sự, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng khi xét thấy
không cần thiết phải áp dụng hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và yêu cầu
của việc phòng ngừa tội phạm. Tại Điều 96 trong Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
1. Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng từ 01
năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất
nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người
đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.
2. Người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải chấp hành đầy đủ
những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý,
giáo dục của nhà trường.
Như vậy đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác thì xét do khả năng nhận thức của họ còn
hạn chế, nên nguyên tắc xử lý đối với những người này chủ yếu nhằm giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân
có ích cho xã hội. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt

56
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì Tòa án áp dụng giáo dục tại trường
giáo dưỡng.
Tuy biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng bắt buộc người dưới 18
tuổi phạm tội phải chịu sự quản lý chặt chẽ và phải cách ly khỏi xã hội nhưng
họ được học tập văn hóa và học nghề. Tại đây, họ rèn luyện và cải tạo lối
sống trước đây của mình, để trở thành công dân có ý thức pháp luật đầy đủ
trong tương lai. Họ không bị giam giữ như trong trường hợp áp dụng hình
phạt tù. Khi áp dụng biện pháp tư pháp này, Tòa án phải xem xét tính chất
nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và môi
trường sống của người đó. Thời hạn của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường
giáo dưỡng là từ một năm đến hai năm. Khi đã chấp hành được một phần hai
thời hạn và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của nhà trường, Tòa án có thể
quyết định chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng.

Kết luận chương 2


Trong chương 2, tác giả đã khái quát một cách cụ thể quy định của tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người trong quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam từ trước năm 1945 đến nay. Trên cơ sở đó
phân tích các yếu tố cấu thành tội danh cũng như quy định của loại tội này
trong BLHS năm 2015 (sửa đổi) một cách chi tiết có chiều sâu người viết
mong muốn cung cấp một cách rõ nét nhất về mặt lý luận các mô tả đối với
tội danh này để có nhận định đúng đắn trong hoạt động thực tiễn với quá trình
định tội danh tránh oan sai trong thực tế.
Trên kết quả đó sẽ tạo dựng những cơ sở làm tiền đề cho việc xem xét,
đánh giá thực tiễn công tác áp dụng pháp luật có hiệu quả về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao việc truy tố
loại tội phạm này trên thực tế.

57
Chương 3
THỰC TIỄN ÁP DỤNG
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý
GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ
CỦA NGƯỜI KHÁC

3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở
thành phố Vinh,tỉnh Nghệ An
Thành phố Vinh là đô thị loại 1 thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam, là
trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh và đã được Chính phủ Việt Nam quy
hoạch để trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ.
Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38'50" đến 18°43’38" vĩ độ Bắc, từ
105°56’30" đến 105°49’50" kinh độ Đông, là thành phố nằm bên bờ sông
Lam, phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam và Đông Nam giáp
huyện Nghi Xuân, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Hưng Nguyên. Thành
phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ
Chí Minh 1.424 km, cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400 km về phía Tây.
Thành phố Vinh hiện có diện tích tự nhiên 104,96 km², dân số có khoảng
480.000 người, bao gồm 16 phường xã. Mặc dù được sự quan tâm đầu tư
phát triển của Trung ương, song điều kiện kinh tế, xã hội vẫn còn gặp nhiều
khó khăn, nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, thu nhập bình quân
đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo còn cao. Tuy nhiên, dưới
sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền địa phương và sự nỗ
lực phấn đấu của cán bộ nhân dân trên địa bàn trong thời gian qua, nên nền
kinh tế thành phố Vinh đã tường bước đi vào ổn định và phát triển, đời
sống về mọi mặt của nhân dân ngày càng được nâng cao.

58
Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, xã hội thì do đặc điểm vị trí địa lý cùng
với mặt trái của cơ chế thị trường cũng làm nảy sinh những vấn đề phức tạp
mới như: Sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng
bằng và hải đảo ngày càng gia tăng; Tình trạng thiếu việc làm khiến cho
người lao động phải kiếm sống bằng nhiều cách và bằng mọi giá nên số người
này dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội. Đặc biệt, đây lại là nơi tập trung
đông người từ các địa phương về đây vui chơi giải trí, sinh hoạt nên rất dễ xảy
ra va chạm, tình hình vi phạm và tội phạm còn diễn biến khá phức tạp, nhất là
trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội. Cùng với lối sống thực dụng, những
truyền thống tốt đẹp đang dần bị lãng quên, đạo đức xã hội có phần xuống
cấp, số người tham gia vào tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng. Trong đó nổi lên
tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với các thủ
đoạn thực hiện trắng trợn, liều lĩnh gây thái độ hoang mang, sợ sệt trong nhân
dân ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Trong thời gian qua, VKSND thành phố Vinh đã thực hiện một cách
nghiêm túc có hiệu quả trong việc truy tố xử lý đối với tội CYGTT hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác như: thực hiện tốt nhiệm vụ chống bỏ lọt
tội phạm và không làm oan người vô tội; kiểm sát chặt chẽ, phê chuẩn kịp
thời, chính xác các trường hợp áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn
chặn, làm giảm sự lạm dụng bắt, giam, giữ; đề ra yêu cầu điều tra, góp phần
cùng CQĐT kết thúc việc điều tra vụ án về tôi CYGTT một cách kịp thời,
chính xác; số vụ truy tố ra trước Tòa án để xét xử hàng năm đạt tỷ lệ cao.
Theo thống kê của VKSND thành phố Vinh từ đầu năm 2013 đến cuối
năm 2017 tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác còn diễn
ra rất phức tạp, VKSND thành phố Vinh đã truy tố 3118 vụ, 616 án về loại tội
này, chiếm tỉ lệ 20% trong tổng số án thụ lý trên địa bàn. Cụ thể:

59
Bảng 3.1: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác với tội phạm nói chung
Đơn vị tính: Vụ án
Tổng số vụ án và bị
Tổng số vụ án và bị cáo cáo phạm tội theo Điều Tỷ lệ %
Năm
104 BLHS (2)/(1)
Số vụ (1) Số bị cáo Số vụ (2) Số bị cáo
2013 685 897 137 155 20%
2014 588 765 147 178 25%
2015 545 685 122 157 22,4%
2016 654 693 109 138 16,6%
2017 646 669 101 145 15,6%
19,8
Tổng 3118 3709 616 773
%
(Nguồn thống kê tội phạm của VKSND thành phố Vinh)
Bảng 3.2: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác với các tội về trật tự trị an nói chung
Đơn vị tính: Vụ án
Tổng số vụ án và Tổng số vụ án
bị cáo phạm tội về và bị cáo phạm tội Tỷ lệ %
Năm
trật tự trị an theo Điều 104 BLHS (2)/(1)
Số vụ (1) Số bị cáo Số vụ (2) Số bị cáo
2013 314 404 137 155 44%
2014 286 384 147 178 51,4%
2015 309 397 122 157 40%
2016 296 321 109 138 36,8%
2017 291 343 101 145 34,7%
Tổng 1496 1894 616 773 41,2%
(Nguồn: Số liệu thống kê tội phạm của VKSND thành phố Vinh)

60
Qua bảng số liệu 3.1 và 3.2, ta có thể thấy, từ năm 2013 đến năm 2017,
VKSND thành phố Vinh đã truy tố 616 vụ - 773 bị can phạm tội CYGTT hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; trung bình mỗi năm tại thành phố Vinh
có 123 vụ với 154 bị cáo. Có thể nói, tội CYGTT so với tổng số tội phạm đã
truy tố trên địa bàn thành phố Vinh (từ 2013-2017) chiếm số lượng tương đối
lớn. Đặc điểm của loại tội phạm cố ý gây thương tích luôn liều lĩnh, nguy
hiểm, các động thái tội phạm đang có xu hướng gia tăng tính bạo lực, tính
chuyên nghiệp.
Mới đây VKS nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị
cáo: Phạm Văn Dũng (sinh năm 1973, trú tại xóm Kim Mỹ, xã Nghi Ân,
Vinh, Nghệ An) theo khoản 3, Điều 104 về tội cố ý gây thương tích.
Theo cáo trạng số 40 ngày 21/8/2017 của Viện Kiểm sát: Vào khoảng
09 giờ ngày 28/02/2017, Phạm Văn Dũng đi đến nhà anh Nguyễn Văn Lập -
Sinh năm 1973, xóm Kim Mỹ, xã Nghi Ân, Vinh, tỉnh Nghệ An thì gặp Trần
Hữu Hùng - Sinh năm 1970 và Nguyễn Văn Hiền - Sinh năm 1959 đều trú tại
xóm Kim Mỹ, xã Nghi Ân, Vinh, Nghệ An. Ngồi chơi được một lúc thì anh
Nguyễn Văn Lập đưa rượu ra cùng mọi người ngồi uống rượu, trong quá trình
ngồi uống rượu thì anh Lập nói cho mọi người biết về Phạm Văn Dũng là
"thằng ni bản lĩnh lắm đó", Trần Hữu Hùng nói lại: "hại chi hắn". Cho rằng
anh Trần Hữu Hùng coi thường thường mình nên Dũng rút trong người 01
con dao lưỡi dao bằng kim loại dài 10 cm, cán dao bằng nhựa dài 12 cm đâm
01 nhát trúng vào bụng anh Hùng làm anh Hùng bị thương phải đi điều trị tại
Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An từ ngày 28/02/2017 đến ngày
10/3/2017 thì ra viện. Còn Phạm Văn Dũng sau khi gây thương tích cho anh
Hùng xong thì đi đến nhà anh Hồ Đình Quý - Sinh năm 1968 ở xóm Kim
Nghĩ, xã Nghi Ân, Vinh, Nghệ An thì thấy Hồ Đình Quý, Tô Bá Tảo - Sinh
năm 1962, Hồ Đình Quế - Sinh năm 1971 và Hoàng Văn Minh - Sinh năm
1969 đang đánh bạc bằng hình thức đánh "phỏm", còn Phạm Văn Ngọc - Sinh

61
năm 1969 (Là anh trai của Phạm Văn Dũng) đang ngồi xem. Thấy vậy, Phạm
Văn Dũng nói "cho xin mười nghìn, mỗi người mười nghìn" rồi thò tay lấy số
tiền để tại chiếu thì Phạm Văn Ngọc nói: "thôi các bác để cho hắn lấy, tý nữa
tôi trả lại cho", nên mọi người đồng ý để cho Hải lấy số tiền 190.000 đồng
(Trong đó của Tô Bá Tảo là 10.000 đồng, Hồ Đình Quý 160.000 đồng, Hoàng
Văn Minh 20.000 đồng). Sau khi Dũng lấy tiền xong thì Phạm Văn Ngọc đuổi
Dũng về, Dũng rút dao ra dọa anh Ngọc thì bị anh Ngọc tước lấy dao, còn
Dũng đi về nhà. Đến ngày 02/3/2017, nhận thấy hành vi của minh là vi phạm
pháp luật, nên Phạm văn Dũng đã đến Cơ quan điều tra Công an Thành phố
Vinh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. [33, tr2,3)
Ngày 01/3/2017, anh Trần Hữu Hùng có đơn đề nghị giám định thương
tích, đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tại Kết luận giám định pháp y về
thương tích số 66/TTPY ngày 07/3/2017, của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ
An đã kết luận: "Vết thương thượng vị trái gây tổn thương gan và thủng dạ
dày đã được phẫy thuật khâu cầm máu nhu mô gan và khâu lỗ thủng dạ dày.
Hiện tại bệnh nhân ổn định. Vết thương trên khả năng do vật sức nhọn gây
nên. Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của
Trần Hữu Hùng là 52% (Năm mươi hai phần trăm).
Tuy tội phạm cố ý gây thương tích ở trên địa bàn thành phố Vinh có
nhiều diễn biến phức tạp, tội phạm có tính chất mạnh động và ngày càng liều
lình với sự tham gia của nhiều đối tượng nhưng thực tế các cơ quan tiến hành
tố tụng cũng đã thể hiện được đúng vai trò của mình, các vụ án mau chóng
được đưa ra điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, rất ít trường hợp truy tố oan sai,
bỏ lọt tội phạm.
Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết
định khung của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên địa bàn thành phố Vinh đã đạt được những kết quả nhất định.
Tình tiết định khung đã giúp cho VKS truy tố đúng người đúng tội.

62
Bảng 3.3: Kết quả truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác theo từng khoản cụ thể
Đơn vị tính: Vụ án, bị cáo
Khoản 1 Khoản 2 Khoản 3 Khoản 4
Năm
Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo
2013 54 59 45 51 36 42 02 03
2014 58 69 47 58 39 48 03 03
2015 49 64 41 49 31 43 01 01
2016 44 57 35 41 27 36 03 04
2017 42 63 33 45 24 34 02 03
Tổng 247 312 201 244 157 11 14
203
(Nguồn: Số liệu thống kê tội phạm của VKSND thành phố Vinh)
Ví dụ như theo cáo trạng số: 14/2017/VKS-HS ngày 17/2/2017 của
VKSND thành phố Vinh, Nghệ An: Vào khoảng 15 giờ ngày 19/10/2016,
Ngô Văn Tuấn thấy ông Nguyễn Hữu Nam - Sinh năm 1962, trú tại tại khối
12, phường Lê Lợi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, đang dùng xẻng lấp
mương thoát nước sát bờ rào nhà ông Nam, thì Ngô Văn Tuấn cầm 01 cái
xẻng lưỡi làm bằng kim loại dài 26cm, cán xẻng làm bằng gỗ dài 1,1m đường
kích 3cm đi đến chỗ ông Nguyễn Hữu Nam đang đứng. Vì cho rằng phần đất
đó là của mình, nên giữa Ngô Văn Tuấn và Nguyễn Hữu Nam xẩy ra xô xát
cãi nhau, Ngô Văn Tuấn dùng cán xẻng làm bằng gỗ dài 1,1m đường kích
3cm, đánh vào phía sau đầu ông Nguyễn Hữu Nam làm ông Nam bị thương.
Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 cầm 01 cái xẻng lưỡi làm bằng kim
loại dài 26cm, cán xẻng làm bằng gỗ dài 1,1m đường kích 3cm
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 306/TTPY ngày
24/11/2016, của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ An đã kết luận: "Chấn thương
vùng đầu gây chấn động não hiện tại đã điều trị ổn định. Tác động vào đầu gây
chấn động não không để lại sẹo vết thương bên ngoài là do vật tày gây nên. Tổn
hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần
trăm). Các thương tích trên có đặc điểm do vậy sắc tác động trực tiếp gây nên.

63
Mặc dù tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể nạn nhân do các thương
tích gây nên là 03% nhưng các thương tích trên là do vật sắc nhọn tác động
trực tiếp gây nên. Căn cứ theo quy định tại điểm a Tiểu mục 2.2 Mục 2 phần 1
Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 và Tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị
quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thì hành vi của Lương Văn Chung được coi là “dùng hung
khí nguy hiểm”.
Vì vậy, Tại Bản án số 16/2017-HSST ngày 15/3/2017 Tòa án nhân dân
thành phố Vinh đã áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 104; điểm p, h khoản 1 Điều
46; Điều 33 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô văn Tuấn 9 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2017.
Như vậy, trong vụ án trên mặc dù tỉ lệ thương tật là 03% nhưng tội
phạm đã dùng hung khí nguy hiểm là vật sắc nhọn gây nên thương tích cho bị
hại, căn cứ vào quy định của pháp luật mà Viện kiểm sát đã truy tố tội phạm
theo quy định của pháp luật. Việc quyết định hình phạt đúng pháp luật, công
bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo
dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng). Để có thể quyết định hình phạt
một cách chính xác, phù hợp, đúng pháp luật, Tòa án cần phải dựa vào những
căn cứ quyết định hình phạt, đó là:
- Các quy định của BLHS
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
- Nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách
nhiệm hình sự (Điều 45 BLHS năm 1999)
Khi quyết định hình phạt trước hết Tòa án cần phải dựa vào các quy
định của BLHS. Các quy định của BLHS được hiểu là tất cả những quy định
phần chung và phần tội phạm của BLHS có liên quan đến việc quyết định hình
phạt, bao gồm phần chung bao gồm các quy định như: Quy định về nguyên tắc
xử lý (Điều 3), các quy định liên quan đến hình phạt (Điều 26 đến Điều 40), các
quy định về các biện pháp tư pháp (Điều 41 đến Điều 44), các quy định về căn cứ

64
quyết định hình phạt (Điều 45), các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình
sự (Điều 46 đến Điều 48), tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 49), quy định về
án treo (Điều 60). Phần riêng bao gồm: Phần về tội phạm (Điều 104).
Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, loại chế tài
đã áp dụng đối với 773 bị cáo đã bị truy tố, xét xử về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn giai đoạn 2013-
2017 như sau: phạt tiền có 06 bị cáo; đưa vào trường giáo dưỡng có 04 bị cáo;
phạt cải tạo không giam giữ có 04 bị cáo; phạt tù cho hưởng án treo có 284 bị
cáo; dưới 3 năm tù giam có 247 bị cáo; tù từ 3 năm đến dưới 7 năm có 157 bị
cáo; tù từ 7 năm đến dưới 15 năm có 27 bị cáo. Cụ thể:
Bảng 3.4: Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Đơn vị tính: Bị cáo
Các hình phạt áp dụng
Tù Tù
Tổng Đưa Cải từ 3 từ 7
Năm số bị Cảnh vào tạo Cho Tù năm năm
Phạt
cáo trường không hưởng dưới đến đến
cáo tiền
giáo giam án treo 3 năm dưới dưới
dưỡng giữ 7 15
năm năm
2013 155 0 1 2 1 64 47 35 5
2014 178 0 3 1 0 52 68 47 7
2015 157 0 1 1 1 57 48 43 6
2016 138 0 1 0 2 49 39 43 4
2017 145 0 0 0 1 62 45 32 5
Tổng 773 0 6 4 4 284 247 157 27
100 20,3
Số % 0% 0,7% 0,5% 0,5% 36,7% 32% 3,5%
% %
(Nguồn: Số liệu thống kê tội phạm của VKSND thành phố Vinh)

65
Qua bảng thống kê trên cho thấy mức hình phạt đã áp dụng đối với các
bị cáo trên địa bàn thành phố Vinh trong giai đoạn 2013-2017 chủ yếu là hình
phạt tù giam. Tổng tất cả các hình phạt tù giam chiếm 55,8% trên tổng số loại
chế tài đã áp dụng, hình phạt cải tạo không giam giữ và đưa vào trường giáo
dưỡng chiếm tỷ lệ thấp nhất với tổng số 8 bị cáo, chiếm 1%. Điều này cho thấy
tính chất nghiêm trọng của các hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Vinh. Cách
thức phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp và có mức độ nguy hiểm tăng dần,
có sự cấu kết giữa những người cũng thực hiện hành vi phạm tội, xu hướng
dùng vũ khí nguy hiểm với động cơ đê hèn ngày càng tăng cao.
Ví dụ như theo bản cáo trạng số: 416/2015/VKS-HS ngày 20/8/2015 của
VKSND thành phố Vinh: Khoảng 20 giờ ngày 29/4/2015, Nguyễn Văn
Phong; Phạm Văn Dũng; Nguyễn Công Giang, sinh năm 1993 (đều trú tại
xóm Kim Mỹ, Nghi Ân, TP Vinh) cùng với một số người khác đi từ thị xã
Cửa Lò về TP Vinh. Trên đường đi, Nguyễn Văn Phong và một số người khác
có trêu đùa nhóm thanh niên khác cũng đi từ thị xã Cửa Lò về trong đó có
Nguyễn Bá Ngọc (sinh năm 1993, trú tại xóm 5, xã Hưng Thịnh, Hưng
Nguyên, Nghệ An) nên giữa hai nhóm thanh niên có xảy ra mâu thuẫn với
nhau. Khi Nguyễn Bá Ngọc và một số người bạn mình đến khu vực Ngã tư
sân bay (Giao giữa đường Lê Nin và đường 46) thuộc xóm 2, xã Nghi Phú,
TP Vinh thì bị Nguyễn Văn Phong , Phạm Văn Dũng và một số người khác
đuổi đánh, nên anh Ngọc chạy vào quán bia 666 của anh Nguyễn Thái Phiên
(sinh năm 1977, trú tại xóm 8, xã Nghi Phú, TP Vinh), khi vào quán, Phong
lấy một cốc thủy tinh ( loại 300ml) có sẵn trên bàn trong quán ném trúng đầu
anh Ngọc còn Phạm Văn Dũng chạy vào bếp của quán lấy một con dao có
chiều dài 40cm, bản rộng 7cm tiếp tục đuổi đánh anh Ngọc. Lúc này, Phạm
Trường Phi đang ngồi uống bia tại quán thì thấy Nguyễn Văn Phong và Phạm
Văn Dũng đuổi đánh anh Nguyễn Bá Ngọc nên Phi vào bếp của quán bia lấy

66
một con dao dài khoảng 30 cm, bản rộng 7 cm đuổi theo chém anh Ngọc. Khi
Nguyễn Văn Phong , Phạm Văn Dũng và Phạm Trường Phi đuổi theo anh
Nguyễn Bá Ngọc được khoảng 200m thì Phi dùng dao chém một phát vào
lưng anh Ngọc, Phạm Văn Dũng dùng dao chém một phát vào bàn tay phải
của anh Ngọc. Sau khi chém anh Ngọc, Dũng; Phi; Phong bỏ về, trên đường
về, Phạm Trường Phi và Nguyễn Bá Ngọc đó vứt hung khí gây án. Anh
Nguyễn Bá Ngọc được người dân đưa đi bệnh viện cấp cứu. [27, tr2]
Tại kết luận giám định số 110/TTPY ngày 19/5/2015 của Trung tâm
giám định pháp y tỉnh Nghệ An kết luận mức độ tổn hại về sức khỏe của anh
Nguyễn Bá Ngọc: Gãy hai xương bàn tay số 4, số 5 bàn tay phải đó điều trị
phẫu thuật kết hợp xương bàn tay kết quả tốt. Không hạn chế chức năng bàn
tay, ngón tay và năm sẹo vết thương phần mềm, kích thước trung bình không
ảnh hưởng đến chức năng .Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời
điểm giám định là: 17% (mười bảy phần trăm).
Tại bản án số 471/2015-HSST ngày 20/11/2015 Toà án nhân dân thành
phố Vinh đã tuyên phạt các bị cáo tượng Phạm Trường Phi về tội “Cố ý gây
thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104, điểm b,p,q khoản 1 điều 46
khoản 2 điều 46 điều 47 BLHS. Xử phạt : Bị cáo Phạm Trường Phi 15 tháng
tù. Áp dụng điểm a khoản 2 điều 104 điểm b,p khoản 1 điều 46 khoản 2 điều
46 điều 47 điều 60 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Văn Dũng 21 tháng tù cho
hưởng án treo .Thử thách 42 tháng. Nguyễn Văn Phong 21tháng tù cho hưởng
án treo, thứu thách 42 tháng.
Từ vụ án này ta có thể nhận thấy khi đưa vụ án ra truy tố để Toà án làm
căn cứ xét xử vụ án:
- Về căn cứ vào các quy định của BLHS: Căn cứ vào hành vi phạm tội
của bị cáo được thể hiện cùng với hậu quả là nạn nhân bị thương tật 17% và
các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của phần
Các tội phạm của BLHS, đủ căn cứ kết luận: Hành vi trên của các bị cáo đã

67
phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104
BLHS như Viện kiểm sát đã truy tố.
- Về căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hậu
quả gây ra là nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng
của công dân, gây mất trật tự ở địa phương và trật tự an toàn xã hội. Các bị
cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song do coi
thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật nên đã bất
chấp. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời
sống xã hội một thời gian là cần thiết. Có như vậy mới đảm bảo tính giáo dục
và phòng ngừa chung.
- Về căn cứ vào nhân thân người phạm tội: Các bị cáo đều chưa có tiền
án, tiền sự. Do các tình tiết này không được quy định tại khoản 1 Điều 46
BLHS nên được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận coi là các tình tiết
giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
- Về căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS: Các bị cáo đã ra
đầu thú, khai báo thành khẩn, tự nguyện khắc phục hậu quả, người bị hại có lỗi
một phần, gia đình người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3.2. Các giải pháp nhằm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
3.2.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tình tiết định tội,
tình tiết định khung và hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác
Để thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật trong quá trình truy
tố tội CYGTT và gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác một cách đúng
đắn, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì việc hoàn thiện
các quy định của pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng. Trên thực tế, việc phân
biệt ranh giới giữa các tội này phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của các Kiểm sát

68
viên khi nghiên cứu giải quyết án. Vì thế mà ngày 27/11/2015 tại kỳ họp thứ
10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS năm 2015. Mặc dù đến ngày
01/1/2018 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi) mới có hiệu lực thi hành nhưng có
thể thấy những bước tiến trong pháp luật hình sự về quy định các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe con người nằm trong Chương XIV: “Các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe con người”.
Tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi tuy vẫn giữ nguyên việc chia
định mức tỉ lệ thương tật nhưng tội này đã được chia ra làm 7 khoản với một
số điểm mới sửa đổi và bổ sung để hoàn thiện hơn những chế định của pháp
luật về tội này. Trong khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 này so với
khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 thì có thể nhận thấy đã quy định thêm
ba điểm mới sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trong cấu thành cơ bản bổ sung các trường hợp phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác: dùng axit sunfuric
hoặc hoá chất nguy hiểm và lợi dụng chức vụ quyền hạn cố ý gây thương tích
Ngoài ra trong khoản này, đã tách từ trường hợp “phạm tội nhiều lần”
thành “phạm tội 02 lần trở lên” và “phạm tội đối với 02 người trở lên”, ngoài
ra còn làm rõ trẻ em là người từ 16 tuổi trở lên. Đây là bước cải tiến rõ rệt
trong quy định của pháp luật nhằm phân định rõ những định nghĩa mà trước
nay vẫn còn chung chung. Chính quy định này giúp chúng ta có thể xác định
rõ hành vi của người phạm tội tương ứng với điều khoản nào của điều luật để
áp dụng cho từng trường hợp phạm tội cụ thể. Về khoản 2, khoản 3 Điều 104
Bộ luật Hình sự 1999, nay đã được chia thành 4 khoản riêng biệt theo điều
luật mới. Theo đó, BLHS 2015 cũng phân định mức độ tỷ lệ thương tích để
quy định khung hình phạt thay vì chung chung như trước. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi cho các cơ quan tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát có thể dễ
dàng hơn trong việc định tội áp dụng mức hình phạt đối với người phạm tội.

69
Khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 đã cụ thể hóa khoản 4 Điều 104
Bộ luật Hình sự 1999. Theo đó, tình tiết định tính như “chết nhiều người”
“đặc biệt nghiêm trọng khác” đã được quy định thành từng điểm rõ ràng:
“a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ
thể 61% trở lên.”
Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 còn bổ sung thêm quy định về trường
hợp gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể
61% trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Bởi vì
đối với một người việc bị thương tích tại vùng mặt sẽ để lại di chứng về mặt
tinh thần, khiến họ mặc cảm không hòa nhập với cộng đồng xã hội. Việc gây
thương tích tại vùng mặt không chỉ xâm phạm đến thân thể mà còn xâm phạm
đến mặt tinh thần. Thêm vào đó, Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 còn quy định
thêm một khoản mới về việc chuẩn bị phạm tội. Theo đó người chuẩn bị
phạm tội này sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, những sửa đổi bổ sung các quy định
của BLHS năm 2015 (sửa đổi) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả trong lý luận
cũng như thực tiễn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung,
trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác nói riêng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng hơn trong việc
áp dụng mức hình phạt đối với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bởi sự vận động
và phát triển của đời sống xã hội kéo theo sự vận động, thay đổi của các quan
hệ xã hội và như vậy kéo theo sự đa dạng và phong phú của các dạng hành vi
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Trong khi đó,
dù đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nhưng các quy định pháp luật vẫn

70
là "những cái chung cho những trường hợp riêng cụ thể", do đó, những quy
định của BLHS năm 2015 cần được tiếp tục giải thích, hướng dẫn áp dụng cụ
thể. Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan Điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án cần tăng cường tổ chức tập huấn về áp dụng pháp luật
cho các cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật nhằm tăng cường chất lượng
áp dụng pháp luật hình sự, trong đó có pháp luật về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Những sửa đổi, bổ sung này đã khắc phục được hạn chế, vướng mắc như
đã nêu trên, góp phần bảo đảm áp dụng đúng quy định về tình tiết định tội,
định khung và hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác.
3.2.2. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và giải thích, hướng dẫn
áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
- Liên ngành cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung Ương và địa phương cần
tăng cường tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hành điều tra, truy
tố, xét xử các vụ án hình sự, nhất là những vướng mắc, sai sót, những vụ án về
tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhằm nâng cao chất
lượng truy tố. Đối với các đơn vị cấp tỉnh cần kiểm tra đối với công tác giải
quyết vụ án của cấp huyện; kịp thời phát hiện sai phạm, hạn chế trong công tác
kiểm tra các bản án đã có hiệu lực pháp luật để tham mưu cho lãnh đạo ngành
chỉ đạo nâng cao chất lượng ADPL của các đơn vị cấp huyện.
Việc áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
có ý nghĩa vô cùng quan trọng và nó chỉ thực sự có ý nghĩa nếu được áp dụng
đúng đối tượng. Việc áp dụng pháp luật hình sự có thể dẫn tới việc truy tố oan
sai, bỏ lọt tội phạm. Do đó các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải định
hướng, hướng dẫn cho các cơ quan THTT vận dụng đúng các quy phạm pháp
luật hình sự vào giải quyết vụ án hình sự trong thực tế thông qua hoạt động

71
ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự. Do đó việc ban hành
các văn bản dưới luật hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp
dụng pháp luật trong việc xử lý đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác nói riêng nhằm thống nhất cách áp dụng trong phạm vi
của một ngành cụ thể, một cơ quan cụ thể. Bên cạnh việc ban hành văn bản
hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, hoạt động hướng dẫn áp dụng pháp luật
hình sự còn được thể hiện qua nhiều hình thức khác như: tổ chức các chương
trình tập huấn nghiệp vụ, các khóa đào tạo cho những người làm pháp luật;
học tập rút kinh nghiệm thông qua các vụ án điểm hoặc án rút kinh nghiệm;
chỉ dẫn và thực hiện các đường lối giải quyết kiểu mẫu trong một số vụ án
hình sự cụ thể.v.v…
Đặc biệt khi Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời, có rất nhiều thay đổi
nhằm đáp ứng như cầu thực tế trong việc quản lý xã hội của Nhà nước ta thì
việc cần thiết phải làm là nhanh chóng hướng dẫn kịp thời và đồng bộ BLHS
2015 vào cuộc sống.
3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác(công tác điều tra, truy
tố, xét xử)
Đối với Cơ quan điều tra. - Phát huy nâng cao việc tiếp nhận và giải
quyết các tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của quần chúng
nhân dân. Đề ra nhiều biện pháp cụ thể để tạo mọi điều kiện cho các cá nhân,
tổ chức có thể cung cấp thông tin về tội phạm được thuận lợi, nhanh chóng và
chính xác. Bên cạnh đó cần phối hợp tốt với các ngành, các cấp trong công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm và nâng cao chất lượng điều tra để phục vụ
cho công tác điều tra thu thập chứng cứ đảm bảo khách quan, toàn diện, đầy
đủ và cụ thể, và kịp thời truy bắt các đối tượng gây án. Kiên quyết, kịp thời
xử lý đối với các hành vi phạm tội, tránh tình trạng lạm dụng việc hòa giải

72
giữa các bên thúc đẩy người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án dẫn đến vụ
án bị đình chỉ.
Đối với Viện kiểm sát. Ngay từ khi tiếp nhận được tin báo tố giác về tội
phạm phải tham gia và giám sát chặt chẽ quá trình xử lý giải quyết. Quá trình
giám sát việc điều tra của Cơ quan Công an phải chủ động đề xuất những vấn
đề cần điều tra làm rõ, khắc phục tình trạng vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ
sung, đảm bảo việc truy tố đúng tội danh và đúng khung hình phạt. bên cạnh
đó cần phối hợp tốt với Toà án trong quá trình xét xử để chọn ra những vụ án
điểm hoặc những vụ án xét xử lưu động để nhằm tuyên truyền nâng cao nhận
thức pháp luật cho người dân. Bên cạnh đó cần chú trọng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cho kiểm sát viên, đảm bảo việc luận tội cũng như
việc tranh luận tại phiên tòa được thực hiện một cách dân chủ và thuyết phục.
Đối với Cơ quan Toà án: Tăng cường phối hợp với Viện kiểm sát nhân
trong việc ban hành quy chế phối hợp trong việc giải quyết các vụ án hình sự,
tham mưu cho Toà án nhân dân tối cao ban hành các thông tư hướng dẫn về
một số vướng mắc trong quá trình áp dụng, giải quyết đối với loại tội này.
Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội thẩm nhân dân đối với việc xét xử
các vụ án hình sự nói chung để đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong
quá trình xét xử. Ngoài ra cần tổ chức hội thảo, tập huấn về kỹ năng xét xử
của thẩm phán đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người một
cách định kỳ, thường xuyên, có sự trao đổi về kinh nghiệm xét xử giữa các
tòa án với nhau qua đó rút kinh nghiệm xét xử trong toàn ngành.
3.2.4. Giải pháp nâng cao năng lực nhận thức, trình độ chuyên môn
của các cán bộ, kiểm sát viên trong các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác
Nhà nước đã xây dựng và ban hành ra một hệ thống văn bản pháp luật để
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, tạo ra hành lang pháp lý để làm căn cứ cho
việc truy tố đúng người đúng tội trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên qua công

73
tác tổng kết kinh nghiệm trong thực tiễn việc áp dụng pháp luật trong hệ
thống cơ quan Viện kiểm sát vẫn còn tồn tại những sai lầm không đáng có.
Một phần là do việc áp dụng các quy định của pháp luật còn mang tính chung
chung, trừu tượng khó thực hiện; một số quy định quá cụ thể, cứng nhắc
không đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống xã hội. Cho nên bên cạnh việc đề
nghị, xem xét sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, giải thích, hướng dẫn những quy
phạm pháp luật cũng cần phải nâng cao năng lực nhận thức trình độ chuyên môn
của các cán bộ, kiểm sát viên trong việc giải quyết các vụ án về loại tội này.
Tiếp tục kiện toàn, nâng cao đội ngũ cán bộ, Kiểm tra viên, kiểm sát viên
có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức theo quy định; Tăng cường công
tác đào tạo, tập huấn, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ, từng bước nâng
cao trình độ, kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu công tác
truy tố nói chung và các vụ án về cố ý gây thương tích nói riêng; Hiện nay
Luật tổ chức Viện kiểm sát đã quy định các chức danh Kiểm sát viên được bổ
nhiệm thông qua hình thức thi tuyển. Đây là một trong những sự đổi mới căn
bản của Nhà nước ta trong việc nâng cao chất lượng, trình độ của cán bộ trong
hai cơ quan này, thông qua thi tuyển các chức danh pháp lý, vừa đảm bảo
được sự khách quan, vừa lựa chọn được những người có đủ đức, đủ tài công
tác trong các cơ quan này và phù hợp với xu thế chung của quốc tế hiện nay.
Đề cao trách nhiệm công tác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ truy tố
các vụ án hình sự: Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cán bộ kiểm
sát viên là người có vị trí, vai trò rất đặc biệt, họ là những người có quyền
truy tố một người nào đó có tội hay không có tội, và đề xuất mức hình phạt
được áp dụng như thế nào. Do đó, để đảm bảo hoạt truy tố đối với người
phạm tội được chính xác, các cán bộ Kiểm sát viên phải nêu cao tinh thần
trách nhiệm của mình trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ của vụ án, phải
nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra đã thu thập được
trong hồ sơ vụ án để xem xét tính đúng đắn, khách quan của chứng cứ và bác

74
bỏ những chứng cứ không phù hợp với tình tiết, diễn biến của vụ án, từ đó
truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tăng cường mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Công an,
Viện kiểm sát, Toà án trong quá trình giải quyết các vụ án về tội CYGTT hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Mỗi ngành cần thường xuyên tổ chức
quán triệt, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho cán bộ ngành mình
trong thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình. Duy trì việc tổ chức giao ban định
kỳ đối với liên ngành, thông qua đó tháo gỡ khó khăn vướng mắc, hướng giải
quyết đối với quá trình giải quyết vụ án.
Cải cách chế độ tiền lương, bảo đảm cuộc sống cho đội ngũ tiến hành tố
tụng : Hiện tại chế độ đãi ngộ và thu nhập trong các cơ quan tiến hành tố tụng
chưa đủ sức thu hút nhân tài vào công tác trong ngành, nhiều sinh viên sau khi
tốt nghiệp vào công tác môt thời gian thì chuyển sang làm công việc khác vì
mức thu nhập không đảm bảo cuộc sống, nên việc tuyển đủ biên chế cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong tiến trình cải cách tư pháp thời điểm hiện nay là
một vấn đề hết sức khó khăn. Do đó, để chủ động hơn về nguồn nhân lực cho
ngành Điều tra, Kiểm sát và ngành Tòa án, cần có kế hoạch dài hạn và đề nghị
Nhà nước tăng cường chế độ đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực có chất lượng.
Tăng cường công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm
trong các hoạt động tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
bên cạnh tính hệ trọng còn có tính phức tạp cao. Trong quá trình này, các chủ
thể tiến hành tố tụng được pháp luật trao cho quyền tự do đánh giá chứng cứ
trên cơ sở niềm tin nội tâm, ý thức pháp luật của mình. Vì vậy, khi các chủ thể
đó có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nắm vững kiến thức về pháp luật thì
các quyết định tố tụng của họ mới có cơ sở thực tế, đảm bảo tính khách quan,
đúng đắn và phù hợp với pháp luật và đó cũng chính là cơ sở quan trọng làm
giảm tình trạng oan, sai trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, năng lực công tác, cũng như kỹ

75
năng, kinh nghiệm thực tiễn trong việc định tội danh cho đội ngũ Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán, trong quá trình công tác thì việc tăng cường công
tác tổng kết, rút kinh nghiệm, phổ biến, chia sẻ kinh nghiệm giải quyết trong
các hoạt động tố tụng là rất cần thiết. Nhằm giúp cho họ nắm vững những dấu
hiệu cấu thành tội phạm, nắm vững các cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và
phương pháp định tội danh, để thực hiện hoạt động định tội danh đảm bảo chặt
chẽ, khoa học và chính xác mà còn chia sẻ những kinh nghiệm xử lý: định tội
danh và quyết định hình phạt đối với những vụ án có tính chất phức tạp. Bên
cạnh đó, cũng cần tổ chức các buổi hội thảo tổng kết rút kinh nghiệm trong việc
định tội danh đối với các vụ án để xảy ra oan sai, có sai sót hoặc còn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau trong việc định tội danh
Tăng cường giáo dục công dân thông qua tất cả các chương trình,
phương tiện thông tin đại chúng về tính công bằng xã hội, tinh thần tôn vinh
pháp luật và sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.
3.2.5. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng đúng quy
định của Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
- Nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục
pháp luật: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm nâng cao ý
thức pháp luật, văn hóa pháp lý mọi tổ chức, cá nhân, xây dựng nếp sống văn
minh, tạo thói quen “sống, làm việc theo pháp luật” trong các cơ quan và toàn
xã hội. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phải được tiến hành có
hệ thống, có mục đích và thường xuyên đầy đủ, có chất lượng. Nhằm nâng
cao nhận thức của người dân về tính chất nguy hiểm của tội phạm nói chung
và các tội xâm phạm sức khỏe của con người nói riêng, các ngành chức năng
và nhân dân trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cần tiến hành những
hoạt động như: Nghiên cứu thực hiện đề án chỉ đạo điểm các hình thức phổ
biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay; xây dựng và

76
thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật vào tủ sách pháp luật ở từng cơ
sở... Thông qua các loại hình văn hóa nghệ thuật, phổ biến rộng rãi những gương
người tốt, việc tốt; phản ánh kịp thời những hiện tượng tiêu cực, giúp các cơ
quan chuyên trách phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm, phạm tội...
- Biện pháp về quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, trật tự, an toàn
xã hội: Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền địa phương cần phải quan tâm sâu
sát, thường xuyên quan tâm, kiểm tra công tác phòng chống tội phạm ở địa
phương để tạo lập một môi trường xã hội lành mạnh, góp phần khắc phục
những hạn chế trong công tác văn hóa, giáo dục để giải quyết tốt các vấn đề
an sinh xã hội. Nâng cao hiệu quả của công tác đảm bảo an ninh, trật tự an
toàn xã hội ở cấp cơ sở, bên cạnh đó cần quản lý tốt những đối tượng có tiền
án, tiền sự, các đối tượng lang thang không có việc làm, các phần tử lưu manh
để kịp thời có biện pháp chấn chỉnh khi họ có biểu hiện vi phạm.
- Đối với các trường học cần có biện pháp quản lý, giáo dục chặt chẽ các
học sinh có năng lực, hạnh kiểm yếu kém, trung bình để phòng ngừa tình
trạng phạm tội. Cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa gia đình, nhà
trường và xã hội trong việc quản lý và giáo dục tạo thành cầu nối để quản lý
con em mình tránh tình trạng bỏ học, lôi kéo bạn bè tham gia tụ tập gây rối,
đánh nhau để dẫn đến vi phạm phạm luật
- Quan tâm cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ chính
sách; bổ sung kinh phí hoạt động cho Viện kiểm sát các cấp để tổ chức phối
hợp tốt với toà án trong việc lựa chọn đưa ra xét xử tốt các vụ án về cố ý gây
thương tích, đặc biệt là các vụ án điểm; đồng thời, tăng cường công tác xét xử
lưu động, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân. Việc
thay thế các trang thiết bị lạc hậu bằng những trang thiết bị hiện đại, đưa vào
sử dụng các trang thiết bị có tính công nghệ cao góp phần giúp cho những
người THTT có được những trang bị tốt nhất giúp đánh giá chính xác được
những tình tiết trong một vụ án hình sự, cập nhật được những văn bản và

77
hướng dẫn áp dụng pháp luật mới nhất. Điều này có ý nghĩa không chỉ giúp
cho việc giải quyết một vụ án hình sự đạt được độ chính xác cao mà còn nhằm
làm rút ngắn thời gian hoàn thành quá trình giải quyết ở mỗi giai đoạn của các
cơ quan THTT, rút ngắn tổng thể thời gian giải quyết một vụ án hình sự.
Ngoài việc thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của ngành, cần chủ
động tích cực hơn nữa trong công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan
(nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng), quản lý đầy đủ, xử lý nhanh chóng,
nghiêm minh, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm; đồng thời làm tốt công tác
tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, trong hoạt động chỉ đạo các
cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nắm
chắc tình hình các mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ quần chúng nhân dân, để
có biện pháp xử lý kịp thời, thích hợp. Với diễn biến phức tạp của tình hình
tội phạm “Cố ý gây thương tích” trên địa bàn, VKS cần chủ động phối hợp
cùng với cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng kiên quyết
đấu tranh với loại tội phạm này, nhanh chóng tiến hành các trình tự tố tụng
sớm đưa tội phạm ra xử lý trước pháp luật; đưa ra xét xử lưu động tại nơi xảy
ra tội phạm, góp phần tích cực vào việc giáo dục, phòng ngừa và phục vụ
nhiệm vụ chính trị địa phương.

78
Kết luận chương 3

Tại chương 3, trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận xét các cáo trạng, bản
án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Tìm ra những điểm mà cơ quan tiến
hành tố tụng đã định tội danh, quyết định hình phạt đúng người, đúng tội và
những điểm mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm được. Nêu ra những mặt
hạn chế, bất cập đó. Từ đó đưa ra những giải pháp áp dụng có hiệu quả quy
định của pháp luật sao cho Viện kiểm sát truy tố đúng người đúng tội, nhằm
ngăn ngừa hạn chế các tình trạng phạm tội trên địa bàn. Trong chương này tác
giải đã đưa ra 6 vấn đề để áp dụng có hiệu quả quy định của pháp luật trong
giải quyết loại tội này. Thứ nhất là hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự
về tính tiết định tội, tình tiết định khung và hình phạt của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Thứ hai là Tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát và giải thích, hướng dẫn áp dụng các quy định của
Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác. Thứ ba là Nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác(công tác điều
tra, truy tố, xét xử). Thứ tư là Giải pháp nâng cao năng lực nhận thức, trình độ
chuyên môn của các cán bộ, kiểm sát viên trong các vụ án cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Thứ năm là: Một số giải
pháp khác như: công tác tuyên truyền, cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện
làm việc, chế độ chính sách; bổ sung kinh phí hoạt động cho VKS các cấp để
giải quyết tốt các vụ án về cố ý gây thương tích.

79
KẾT LUẬN

Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác là một trong những tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
nhân phẩm, danh dự của con người. Qua thực tiễn truy tố cho thấy loại tội
phạm này vẫn đang trở thành một vấn đề nhức nhối trong việc phòng ngừa,
đấu tranh, trấn áp tội phạm về trật tự xã hội. Vì vậy việc nghiên cứu một cách
đầy đủ và có hệ thống nội dung quy định của Điều 104 BLHS năm 1999 cũng
như Điều 134 BLHS năm 2015, sửa đổi có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng
cao hiệu quả của công tác áp dụng thực tiễn. Trên cơ sở đề cập những vấn đề
liên quan tới những quy định của luật hình sự về loại tội này, cũng như đánh
giá được điểm mới, điểm tích cực của BLHS năm 2015 để đưa vào áp dụng
thực tế, luận văn đã làm sáng tỏ được những dấu hiệu pháp lý cũng như thực
tiễn truy tố loại tội này. Từ đó tìm ra những vướng mắc cũng như những hạn
chế của việc vận dụng điều luật trong thực tiễn và đề xuất phương hướng điều
chỉnh phù hợp với sự diễn biến ấy, tạo cơ sở cho hoạt động áp dụng pháp luật
vào thực tiễn được diễn ra thuận lợi, đạt hiệu quả cao.
Trong quá trình xử lý tội phạm CYGTT trên địa bàn thành phố Vinh đã
đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn
tại. Thiết nghĩ, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả trong quá trình truy
tố loại tội phạm này tại VKSND thành phố Vinh tỉnh Nghệ An thì cần phải
thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau: hoàn thiện các quy định của Bộ luật
Hình sự về tính tiết định tội, tình tiết định khung và hình phạt, tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát và giải thích, hướng dẫn áp dụng các quy định của
pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử; chú trọng về
nâng cao năng lực nhận thức, trình độ chuyên môn của các cán bộ, kiểm sát
viên trong các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác. Bên cạnh đó cần chú trọng công tác tuyên truyền, cải thiện cơ sở

80
vật chất, phương tiện làm việc, chế độ chính sách; bổ sung kinh phí hoạt động
cho VKS các cấp và phối hợp với các cơ quan hữu quan./.
Trên đây là toàn bộ nội dung của luận văn đã thể hiện. Tuy còn những
hạn chế nhất định khả năng diễn đạt, cũng như về thời gian nghiên cứu…nên
luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy tác giả
rất mong được sự góp ý chân thành của các nhà khoa học, cũng như các cán bộ
công tác trong thực tiễn và những người quan tâm đến đề tài này giúp tác giả
nâng cao hơn nữa, hoàn thiện hơn nữa kỹ năng nghiên cứu phục vụ cho công
việc sau này.

81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thanh Bình (2010) Một số giải pháp, kiến nghị nhằm phòng,
chống tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang, Tạp chí kiểm sát.
2. Lê Cảm (2002), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (một số vấn đề chung về
định tội danh), Nxb Đại học luật Hà Nội, Hà Nội.
3. Chính phủ (1955), Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng
Chính phủ chính thức quy định tội CYGTT.
4. Chính phủ (1976), Sắc lệnh số 03 của Chính phủ cách mạng lâm thời miền
Nam Việt Nam.
5. Đỗ Đức Hồng Hà (2004), Phân biệt tội giết người và tội CYGTT, Tạp chí
TAND.
6. Đỗ Đức Hồng Hà (2017) Các quan điểm chung quanh quy định về chuẩn bị
phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
7. Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Mô hình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
8. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
9. Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn (2006), Tự điển pháp luật hình sự, Nxb
Tư pháp, Hà Nội.
10. Trần Minh Hưởng (2011), Một số hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng
điều 104 BLHS Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,
Tạp chí Kiểm sát số 10/2011.
11. Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và QĐHP, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
12. Nguyễn Nông (2005), Phân biệt tội Giết người với tội CYGTT hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp dẫn đến chết người,
Tạp chí Kiểm sát số 21/2005.
13. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS năm 1999 – Phần chung,
Nxb thành phố Hồ Chí Minh.

82
14. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS năm 1999 – Phần riêng,
Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
15. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia.
16. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự năm 1985.
17. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi)
18. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia.
19. Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi.
20. Quốc hội (1999), Nghị quyết số 32/1999/NQ-UBTVQH10, ngày 21/12/1999
về thi hành BLHS.
21. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, Nxb Chính trị
quốc gia.
22. Đỗ Thị Thanh, Vấn đề giám định trong việc truy cứu TNHS đối với người
phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định
tại điều 104 BLHS, Tạp chí TAND, số 23/2008.
23. Bùi Quang Thạch (2002), Bàn về một số tình tiết tăng nặng TNHS được bổ
sung ở khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, Tạp chí Kiểm sát.
24. Bùi Văn Thịnh (2003), Phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khỏe của con người bằng biện pháp quản lý, giáo dục cải tạo những người
có nhân thân xấu ở địa bàn cơ sở, Tạp chí Kiểm sát.
25. Vũ Xuân Thu (2003), Góp phần làm rõ hơn các khái niệm Tội phạm có tổ
chức, Tạp chí Kiểm sát.
26. Bùi Văn Thịnh và Vũ Bá Xiêm (2014) Một số quy định của pháp luật liên
quan đến việc xác định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác theo Điều 104 BLHS”, Tạp chí TAND
27. Toà án nhân dân Thành phố Vinh (2017), Bản án hình sự sơ thẩm số:
16/2017-HSST ngày 15/3/2017
28. Toà án nhân dân Thành phố Vinh (2017), Bản án hình sự sơ thẩm số:
471/2015-HSST ngày 20/11/2015.
29. Tòa án nhân dân tối cao (1979), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Tập 1
(1945-1974), Hà Nội.
30. Trường Đại học luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
83
31. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2000), Nghị quyết số 229/2000/NQ-
UBTVQH10, ngày 28/01/2000 về triển khai Mục 3, Nghị quyết số
32/1999/QH10.
32. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh (2015), Cáo trạng số
40/2017/VKS-HS ngày 21/8/2017.
33. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh (2015), Cáo trạng số:
14/2017/VKS-HS ngày 17/2/2017.
34. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh (2016), Cáo trạng số:
416/2015/VKS-HS ngày 20/8/2015.
35. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Vinh, Nghệ An, Báo cáo tổng kết năm
2013, 2014, 2015, 2016, 2017.
36. Võ Khánh Vinh (2011), Lý luận chung về định tội danh, Nxb khoa học xã
hội, Hà Nội.
37. Võ Khánh Vinh (2011), Quyền con người – Giáo trình giảng dạy sau Đại
học, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
38. Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam –
Phần các tội phạm, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
39. Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam –
Phần chung, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.

TÀI LIỆU INTERRNET


40. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2224,
truy cập ngày 10/12/2017.
41. http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Trach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-hinh-su-
2015-296661.aspx, truy cập ngày 10/12/2017.
42. http://phaply24h.net/bai-viet/hau-qua-nguy-hiem-cho-xa-hoi-cua-toi-pham
43. http://luatducphuong.com/index.php/news/Hinh-su/Toi-co-y-gay-thuong-
tich-can-cu-phap-ly-va-cau-thanh-toi-pham-283/, truy cập ngày 17/12/2017.
44. https://luatduonggia.vn/cau-thanh-toi-co-y-gay-thuong-tich-cho-nguoi-
khac, truy cập ngày 17/12/2017.

84