You are on page 1of 40

Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm”

S. Sherman & Diego Fernando Zampini

Ngày 23 tháng Tám 1967, lúc 14 giờ, một trận tập kích đường không nữa của Không lực Hoa Kỳ
vào thủ đô ở miền Bắc của Việt Nam đang được tiến hành.
Máy bay tiêm kích MiG-17 “Fresco” của Không quân nhân dân Việt Nam
Do lực lượng được phái đi rất đông (40 máy bay, bao gồm các máy bay Thần sấm F-105 mang
theo bom, F-105F làm nhiệm vụ chế áp các dàn rađa điều khiển tên lửa SAM của Việt Nam và các Con Ma
F-4 đi làm nhiệm vụ hộ tống), tổ bay của một trong những chiếc F-4D, Charles R. Tyler (phi công) và
Ronald M. Sittner (sỹ quan hoả lực) của phi đội chiến thuật 555 thuộc phi đoàn chiến thuật 8, cảm thấy rất tự
tin. Họ không trông đợi sự tiếp đón của MiG, có vẻ như đã bị tê liệt sau những trận không chiến ác liệt chống
lại F-4 của Phi đoàn 8 cuối tháng Năm và đầu tháng Sáu. Tyler nghe trong rađiô tiếng của một phi công của
chiếc F-105D (Elmo Baker) thông báo rằng anh ta bị MiG tấn công và phải nhảy dù. Tyler còn đang cố tìm
xem đồng đội đang ở đâu thì một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả máy bay, Tyler mất khả năng điều khiển
nó và bị bắn bật ra ngoài. Treo lơ lửng dưới những múi dù, anh ta nhìn thấy chiếc F-4 bốc cháy rơi xuống
rừng rậm, còn người sỹ quan hoả lực thì không thấy nhảy dù ra - Sittner đã bị giết bằng chính quả tên lửa đã
bắn vào máy bay. Cả Tyler và Baker đều bị bắt bởi lính Bắc Việt ngay khi tiếp đất.
Cả hai máy bay Mỹ đều bị bắn hạ bởi tên lửa không đối không R-3S Atoll của hai chiếc MiG-
21PF “Fishbed” (Tên Mỹ đặt cho MiG-21) của Trung đoàn 921 của Quân chủng Không quân (Lực lượng
không quân Việt Nam) lái bởi Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc. Hai chiếc F-4 khác cũng bị hạ, mà
không đi kèm bất kỳ thiệt hại nào của MiG. Quả là một ngày chiến đấu thành công của họ.
Trong khi chỉ có hai phi công Mỹ trở thành Át trong chiến tranh Việt Nam, Randy "Duke" (i)
Cunningham (Hải quân Hoa Kỳ) và Steve Ritchie (Không lực Hoa Kỳ) thì có đến 16 phi công Việt Nam đạt
được danh hiệu tự hào đó. Nguyễn Văn Cốc là Át chủ bài dẫn đầu của nhóm các phi công này, với thành tích
9 máy bay Mỹ (7 máy bay và 2 chiếc “xe trên trời không người lái” Firebees). Trong số 7 chiếc của anh, có 6
chiếc được chính thức xác nhận bởi Không lực Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể ghi thêm vào đó một chiếc
thứ 7 nữa, chiếc F-102A của phi công Mỹ Wallace Wiggins (chết) bị hạ ngày 3 tháng Hai năm 1968, được
kiểm tra chính xác bởi Không quân Việt Nam. Bỏ qua hai “con ong ngớ ngẩn” không người lái, thì Nguyễn
Văn Cốc vẫn là phi công “đỉnh” nhất trong chiến tranh trên bầu trời Bắc Việt vì không có bất cứ một phi
công Mỹ nào đạt được thành tích hạ trên 5 chiếc.
Vậy thì tại sao các phi công Việt Nam lại ghi được nhiều bàn thắng hơn các phi công Mỹ? Có lẽ
lý do đầu tiên là số lượng. Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng
tương đương phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 phi công. Sáu “tiểu đội” phi công
dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần sấm F-
105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoa Kỳ (F-8, A-
4 và F-4) từ tàu sân bay “Yankee Station” trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt
động không kích (EB-6B - gây nhiễu; HH-53 - cứu phi công nhảy dù; “Skyraider” yểm hộ hai loại trên).
Như vậy, phi công Việt Nam rõ ràng là “bận rộn” hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được
mục tiêu để diệt hơn, và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần “chiến đấu đến khi hy sinh”. Họ không cần
phải về nhà, vì đây đã là nhà của họ rồi - Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về
thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh hoặc trăm thứ việc linh tinh khác. Khi quay lại,
không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu.
Phi công tiêm kích MiG-17 của Việt Nam đang chạy tới máy bay để xuất kích đánh chặn máy bay
Mỹ
Vậy thì đặc điểm của chiến thuật của hai bên là gì? Bởi vì Không lực Hoa Kỳ đã không tấn công
tiêu diệt được các dàn rađa và trung tâm chỉ huy bay của Bắc Việt (lúc đó họ cho rằng được sự cố vấn của
các chuyên gia quân sự Liên Xô hoặc Trung Quốc), người Việt Nam đã dẫn các máy bay tiêm kích đánh chặn
của họ một cách tài tình với chiến thuật “du kích”, mai phục trên bầu trời. Những chiếc MiG nhanh như cắt
và bất ngờ tấn công vào đội hình không quân Hoa Kỳ từ nhiều hướng khác nhau (thông thường, MiG-17
đánh vỗ mặt, MiG-21 đánh từ phía sau). Sau khi bắn rơi một vài chiếc trong đội hình Mỹ, bắt các máy bay
cường kích F-105 phải hấp tấp ném bom trước khi đến mục tiêu, không chờ đợi sự phản ứng của đối phương,
các máy bay MiG biến mất. Chiến thuật “không chiến du kích” của không quân Việt Nam đã rất thành công.
Chiến thuật này nhiều khi lại được sự hậu thuẫn của chính những thói quen thủ cựu đến kỳ quặc
của không lực Hoa Kỳ. Ví dụ, vào cuối năm 1966, đội hình tấn công của F-105 đã bay hàng ngày ở một giờ
cố định, trên một đường bay cố định và dùng những mật hiệu gọi nhau trong khi bay không thay đổi, lặp đi
lặp lại trong rađiô. Các chỉ huy không quân Bắc Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội: vào tháng Chạp năm 1966,
các phi công MiG-21 của Trung đoàn 921 đã chặn được tụi Thần sấm trước khi họ gặp được các tốp F-4 hộ
tống, bắn rơi 14 chiếc F-105 mà chẳng mất chiếc nào. Đợt chiến đấu này kết thúc vào ngày 2 tháng Giêng
năm 1967 khi Đại tá Robin Olds tiến hành chiến dịch “Bolo”.
Về huấn luyện
Giữa thập kỷ 1960, các phi công Mỹ được tập trung huấn luyện sử dụng tên lửa không đối không
(như các loại AIM-7 Sparrow (dẫn đường bằng rađa) và AIM-9 (dẫn đường bằng hồng ngoại)) để giành
chiến thắng trong không chiến. Tuy nhiên, họ đã “quên” rằng người phi công ngồi trong khoang lái quan
trọng hơn vũ khí họ sử dụng rất nhiều. Nhưng không quân Việt Nam rất biết điều đó, họ huấn luyện và cùng
với các phi công của họ khai thác tính năng thế mạnh của những chiếc MiG 17, 19 và 21: nhanh nhẹn, cơ
động, sử dụng lối đánh gần, khi mà những chiếc Con ma và Thần sấm hoàn toàn bất lực. Chỉ cho đến năm
1972, khi chương trình “Top Gun” cải thiện kỹ năng không chiến của các phi công Mỹ trong Hải quân Hoa
Kỳ như Randall Cunningham, và sự xuất hiện của chiếc F-4E tích hợp khẩu cà-nông 20mm “Núi lửa”
(Vulcan) thì tình hình mới được cải thiện.
Cuối cùng, với mật độ đông đúc máy bay Mỹ trên bầu trời, với cái nhìn của các phi công Việt
Nam thì đó là một “chiến trường giàu mục tiêu”, còn với các phi công Mỹ thì Việt Nam là một “mảnh đất
nghèo đói”. Các phi công Mỹ không có đủ mục tiêu để có thể san bằng tỷ số, bởi vì làm gì có chiếc MiG nào
ở xung quanh mà tiêu diệt! Thời đó, Không quân Việt Nam chưa bao giờ có quá 200 chiếc máy bay chiến
đấu.
Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra nhiều Át Việt Nam hơn là Át Hoa Kỳ, và tạo điều kiện cho các
phi công Át Việt Nam ghi được nhiều bàn thắng hơn các đối thủ Mỹ. Nói một cách chính thức thì có 16 phi
công Át Việt Nam trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam (13 người là phi công MiG-21, chỉ có 3 người là
phi công MiG-17 và không có Át MiG-19). Trong danh sách dưới đây, con số trong ngoặc đơn ở cột “Chiến
công” là số liệu được Không lực Hoa Kỳ chính thức xác nhận, và do đó trên thực tế số “bàn thắng” có thể
cao hơn.

Các phi công Át MiG-17 và MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam:
Phi công Át chủ Trung đoàn
Chiến công
bài của Không Chi tiết không quân Máy bay
(*)
quân Việt Nam tiêm kích
2 F-4D, 1 F-4B, 2
Nguyễn Văn Cốc 9 (7) F-105F, 1 F-105D 921 MiG-21PF
và 1 F-102A
1 UAV, 1 F-4D, 1 F-
Nguyễn Hồng Nhị 8 (3) 105D. Bị bắn rơi 921 MiG-21
một lần.
Phạm Thanh Ngân 8 (1) 1 RF-101C 921 MiG-21F-13
Mai Văn Cương 8 (?) - 921 MiG-21
1 F-4C (22 tháng
Đặng Ngọc Ngữ 7 (1) 921 MiG-21
Năm 1967)
2 F-8, 1 F-4B, 1 A-
Nguyễn Văn Bảy 7 (5) 923 MiG-17F
4C và 1 F-105D
3 F-4E, 1 F-4J, 1 A-
Nguyễn Đức Soát 6 (5) 927 MiG-21PFM
7B
1 F-105F, 1 RF-
Nguyễn Ngọc Độ 6 (2) 921 MiG-21
101C
Nguyễn Nhật 1 F-4 (trên MiG- MiG-17 &
6 (2) 921
Chiêu 17), 1 F-105D MiG-21
3 F-105D, 1 F-4D,
Vũ Ngọc Đỉnh 6 (5) 921 MiG-21
1 HH-53C
Lê Thanh Đạo 6 (2) 1 F-4D, 1 F-4J 927 MiG-21PFM
Nguyễn Danh 1 F-105D, 1 EB-
6 (3) 921 MiG-21
Kính 66C, 1 UAV
Nguyễn Tiến Sâm 6 (1) 1 F-4E 927 MiG-21PFM
Lê Hải 6 (2) 1 F-4C, 1 F-4B 923 MiG-17F
Lưu Huy Chao 6 (1) 1 RC-47 606 ACS 923 MiG-17F
Nguyễn Văn
5 (1) - 927 MiG-21PFM
Nghĩa
(*) Trong ngoặc là con số được ghi nhận chính thức trong báo cáo thiệt hại của
Hoa Kỳ.
Ba phi công Át của Việt Nam: (từ trái sang phải) Nguyễn Văn Bảy (7), Nguyễn Văn Cốc (9) và
Nguyễn Đức Soát (6)
Phải nói thêm rằng, đây là những chiến công của các phi công dũng cảm, các dũng sỹ trên bầu trời
đã phải đối mặt với một lực lượng không quân hùng mạnh nhất thế giới để bảo vệ Tổ quốc họ, và họ rất biết
rằng mình đang đối mặt với ai.
Đại tá Toon là ai?
Người đọc Hoa Kỳ rất có thể đã từng nghe về người phi công Át huyền thoại của Việt Nam, đại tá
Toon (hoặc Tomb). Nhưng vì sao ông không có trong danh sách ở đây? Bởi vì ông ta đúng là chỉ có trong
“huyền thoại”. Chẳng có phi công nào là Đại tá Toon của Không quân Việt Nam, ông ta là nhân vật tưởng
tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý
của các phi công Mỹ, đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những
“nghệ sỹ sôlô” ném bom đơn độc ban đêm trong chiến tranh thế giới II được gọi là “máy giặt Sác-li” vậy.
Nguyễn Văn Bảy
Khi Trung đoàn không quân tiêm kích 923 được thành lập ngày 7 tháng Chín năm 1965, Nguyễn
Văn Bảy là một trong những học viên được lựa chọn để học lái MiG-17 Fresco. Khoá học kết thúc tháng
Giêng năm 1966, và người trung uý trẻ tuổi nhanh chóng được tham gia vào cuộc đối mặt với Không lực
Hoa Kỳ.
Ngày 21 tháng Giêng năm 1966, bốn chiếc MiG-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923
“túm được” một chiếc máy bay trinh sát RF-8A cùng với mấy gã hộ vệ F-8 Crusader (Hiệp sỹ thánh chiến)
của phi đội 211 Hoa Kỳ. Mặc dù đội “Hiệp sỹ thánh chiến” bắn rơi được hai chiếc MiG, Nguyễn Văn Bảy
vẫn ghi được bàn thắng đầu tiên của mình bằng một chiếc F-8E của Cole Black, người sau đó nhảy dù và bị
bắt làm tù binh. Quan trọng hơn, các phi công Việt Nam đã lập được chiến công của họ: Bảy và người chỉ
huy, phi công Phan Thành Trung trong vai trò của người chỉ huy đội đã bắn hạ một chiếc RF-8A. Người phi
công, Leonard Eastman sau đó cũng bị bắt làm tù binh.
Chiếc MiG-17F số hiệu 2047, tại bảo tàng Không quân Hà Nội. Phi công Nguyễn Văn Bảy đã
dùng chiếc tiêm kích này bắn bị thương tàu khu trục USS Oklahoma City ngày 19 tháng Tư năm 1972.
Một tuần sau đó, ngày 29 tháng Sáu, Bảy cùng ba phi công MiG-17 khác tham gia vào trận đánh
với các máy bay F-105D đang tới đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội), và (cùng với Phạm Văn Túc)
Nguyễn Văn Bảy bất ngờ hạ luôn một chiếc F-105D. Người phi công bị hạ chính là tốp trưởng, thiếu tá
Murphy Neal Jones sau đó bị bắt làm tù binh.
Chiếc MiG-17F số hiệu 2047, tại bảo tàng Không quân Hà Nội. Phi công Nguyễn Văn Bảy đã
dùng chiếc tiêm kích này bắn bị thương tàu khu trục USS Oklahoma City ngày 19 tháng Tư năm 1972.
Trận đánh giòn giã nhất của Nguyễn Văn Bảy là vào ngày 24 tháng Tư năm 1967. Cùng với người
biên đội trưởng, biên đội bất ngờ, bí mật cất cánh từ sân bay dã chiến Kiến An, đưa những chiếc MiG-17 vào
trận “tiếp đón” các máy bay của hải quân Hoa Kỳ vào đánh cảng Hải Phòng. Bảy tiếp cận một chiếc F-8C
của Phi đội 24 và dùng khẩu cà-nông 37mm của mình bắn nó vỡ tan thành từng mảnh. Chiếc F-8C số hiệu
146915 do thiếu tá hải quân E.J.Tucker bốc cháy và vỡ vụn. E.J.Tucker nhảy dù và bị bắt (nhưng sau đó chết
trong khi bị giam). Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cố gỡ bàn bằng cách lao vào công kích
Bảy, nhưng người trợ thủ của Bảy, Nguyễn Thế Hơn đã kịp báo cho anh, Bảy tài tình ngoặt gấp tránh được
tất cả những cú phóng tên lửa của máy bay Mỹ. Sau đó chính anh lại lao chiếc MiG-17 Fresco của mình về
phía một chiếc F-4 Con Ma, hạ nó bằng pháo (Tổ bay, các thiếu tá hải quân C.E. Southwick và Ens. J.W.
Land nhảy dù và được cứu, vẫn nghĩ rằng mình bị bắn rơi bởi pháo cao xạ phòng không). Ngày hôm sau 25
tháng Tư, biên đội của Bảy lại tiếp tục ghi bàn, bắn hạ hai chiếc A-4 mà chẳng bị thiệt hại gì. Cả hai chiến
công của họ đều được xác nhận chính thức bởi Hải quân Hoa Kỳ: chiếc A-4C số hiệu 147799 trung uý
Stackhouse (bị bắt làm tù binh) - rơi xuống trước mũi súng của Bảy và chiếc thứ hai, chiếc A-4C số hiệu
151102, lái bởi trung uý hải quân A.R. Crebo (được cứu thoát). Bảy được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng
quân đội vì kỹ thuật bay và tinh thần dũng cảm trong chiến đấu, và cả do sự chỉ huy biên đội tài tình. Đầu
năm 1972, Bảy cùng với người đồng đội Lê Xuân Di được các chuyên gia Cuba huấn luyện trong chống tàu
chiến, và họ quả là những học trò giỏi. Ngày 19 tháng Tư năm 1972, họ tấn công hai chiếc Khu trục hạm
USS Oklahoma City và Highbee, đang làm nhiệm vụ pháo kích thành phố Vinh. Trong khi Bảy bắn bị
thương nhẹ chiếc thứ nhất, Lê Xuân Di đã thả một quả bom 500 bảng (hơn 200 kg) BETAB-250 trúng tháp
chỉ huy phía sau chiếc thứ hai. Đây là trận bị tấn công từ trên không đầu tiên của Hạm đội 7 Hải quân Hoa
Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới 2.
Nguyễn Đức Soát
Một trong những khả năng xuất sắc của Không quân Việt Nam là việc các phi công thành công có
thể truyền kinh nghiệm của mình cho các phi công trẻ. Đó là trường hợp của Nguyễn Đức Soát. Là một phi
công tiêm kích MiG-21 trẻ măng của Trung đoàn 921, và thày giáo của anh chính là những phi công “nóng”
nhất của Không quân Việt Nam: Phạm Thanh Ngân (hạ 8 chiếc) và “con người siêu phàm” Nguyễn Văn Cốc
(9 trận thắng). Soát không cần gì nhiều hơn thế nữa. Trong khi còn chưa lập được chiến công, anh thu thập
kinh nghiệm cho mình.
Tham gia vào thành phần Trung đoàn không quân tiêm kích 927, khi chiến dịch “Linebacker I”
bắt đầu tháng Năm năm 1972, Soát đã hoàn toàn sẵn sàng “trình diễn” những kỹ năng của mình. Ngày 23
tháng Năm, anh “ghi bàn” lần đầu tiên, bắn hạ chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm.
Phi công Charles Barnett bị chết.
Ngày 24 tháng Sáu, hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Đức Nhu và Hà Vinh Thanh cất cánh ở sân bay
Nội Bài vào lúc 15 giờ 12 phút để đánh chặn một tốp Con Ma lên không kích nhà máy gang thép Thái
Nguyên. Đội hình hộ tống Mỹ nhanh chóng phản ứng và nghênh chiến. Nhưng hai chiếc MiG đó chỉ là mồi
nhử, vì bất ngờ hai chiếc MiG-21PFM của Trung đoàn 927 xuất hiện: Nguyễn Đức Soát (biên đội trưởng hai
chiếc) và Ngô Duy Thu (hộ vệ), lao từ đâu tới tấn công đội hình F-4 hộ tống. Bắn bằng quả tên lửa không đối
không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll, Soát hạ chiếc F-4E của David Grant và William Beekman, Thu cũng hạ
một chiếc Con Ma khác.

Nguyễn Đức Soát đã hạ được vài chiếc F-4 của Không lực Hoa Kỳ trên chiếc MiG-21PFM
Fishbed số hiệu 5020 này
Ba ngày sau, Soát và Thu lại kín đáo cất cánh từ sân bay Nội Bài vào 11 giờ 53 phút để đánh chặn
một tốp 4 chiếc F-4, nhưng vẫn biết rằng còn có 8 chiếc Con Ma khác đang bay tới, họ không thể bị “mắc
kẹt”(2) lại ở giữa hai tốp đó. Họ ngoặt lại, vọt lên độ cao 5000 mét và chờ đợi. Sự kiên nhẫn đã được đền
đáp, họ “túm” được cặp F-4 đi sau cùng. Cả Soát và Thu đều mỗi người hạ một chiếc bằng tên lửa R-3. Hai
phi công Mỹ “nạn nhân” của Soát là Miller và McDow bị bắt làm tù binh.
Ngày 26 tháng Tám 1972, Nguyễn Đức Soát lập công xuất sắc bắn hạ một chiếc Con Ma duy nhất
của Lực lượng Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Sỹ quan chống rađa của chiếc F-4J
được cứu nhưng người phi công xấu số Sam Cordova thì thiệt mạng. Soát ghi chiến công cuối cùng của mình
vào ngày 12 tháng Mười năm 1972, khi anh “giật phăng” khỏi bầu trời chiếc F-4E của Myron Young và
Cecil Brunson (bị bắt làm tù binh).
Cùng với Nguyễn Văn Cốc và các phi công cựu chiến binh khác của Không quân nhân dân Việt
Nam, Soát là một huyền thoại sống bởi những chiến công dũng cảm và kỹ thuật bay tuyệt vời của mình hơn
ba mươi năm trước.
(1) Duke: công tước, tiếng lóng: nắm đấm
(2) Nguyên văn: bị kẹp như giữa hai miếng sandwitch.
Người dịch: Ngô Ngọc Phương
______________________
North Vietnamese Aces
MiG-17 and MiG-21 pilots, Phantom and "Thud" Killers
by Diego Zampini
August 23 1967, 14:00. Another US raid against the capital of North Vietnam is in proccess.
Due to the size of the American formation (40 aircraft, including Thunderchiefs carrying bombs,
F-105Fs ready to supress the SAM radars, and escorting Phantoms) the crew of one of those F-4Ds, Charles
R. Tyler (pilot) and Ronald M. Sittner (WSO), of the 555th TFS/8th TFW, felt overconfident. They did not
expect any MiGs, which had been inactive after several bloody defeats dealt them by the Phantoms of the 8th
TFW in late May and early June.
Suddenly, Tyler heard on the radio an F-105D pilot (Elmo Baker) announcing that he had been hit
by a MiG-21 and was ejecting. As Tyler looked for the unexpected bandit, a tremendous explosion shook his
plane, and Tyler lost control of his aircraft, and bailed out. Hanging in his parachute he saw his F-4D falling
in flames to the jungle, but he did not see his WSO eject; Sittner had been killed instantly by the missile hit.
Both Tyler and Baker were captured by North Vietnamese troops as soon as they touched the ground.
Both had been shot down by R-3S Atoll missiles fired by two MiG-21PF Fishbeds of the 921st
Fighter Regiment of the Quan Chung Khong Quan (Vietnamese People's Air Force, VPAF) flown by Nguyen
Nhat Chieu and Nguyen Van Coc. Two more F-4Ds fell that day, without any MiGs lost, one of the VPAF's
most successful days.
While only two American pilots became aces in the Vietnam War - Randy "Duke" Cunningham
(USN) and Steve Ritchie (USAF) - sixteen Vietnamese pilots earned that honor. Nguyen Van Coc is also the
Top Ace of Vietnam War with 9 kills: 7 planes and 2 UAV (Un-manned Airborne Vehicle) Firebees. Among
those seven US planes, six are confirmed by US records (see table below), and we should add to this figure a
confirmed USAF loss (the F-102A flown by Wallace Wiggins (KIA) on February 3 1968), originally
considered a probable by the VPAF. Even omitting UAV "drones," his 7 confirmed kills qualified Coc as the
Top Ace of the war, because no American pilot achieved more than 5.
Why did so many VPAF pilots score higher than their American adversaries? Mainly because of
the numbers. In 1965 the VPAF had only 36 MiG-17s and a similar number of qualified pilots, which
increased to 180 MiGs and 72 pilots by 1968. Those brave six dozen pilots confronted about 200 F-4s of the
8th, 35th and 366th TFW, about 140 Thunderchiefs of the 355th and 388th TFW, and about 100 USN aircraft
(F-8s, A-4s and F-4s) which operated from the carriers on "Yankee Station" in the Gulf of Tonkin, plus
scores of other support aircraft (EB-6Bs jamming, HH-53s rescuing downed pilots, Skyraiders covering
them, etc).
Considering such odds, it is clear why some Vietnamese pilots scored more than the Americans;
the VPAF pilots simply were busier than their US counterparts, and they "flew till they died". They had no
rotation home after 100 combat sorties because they were already home. American pilots generally finished a
tour of duty and rotated home for training, command, or flight test assignments. Some requested for a second
combat tour, but they were the exceptions.
North Vietnamese pilots run towards their MiG-17s to take off and engage US aircraft.
What about the tactics of both sides? Because the USAF did not attack the main radar installations
and command centers (it worried about killing Russian or Chinese advisers), the Vietnamese flew their
interceptors with superb guidance from ground controllers, who positioned the MiGs in perfect ambush
battle stations. The MIGs made fast and devastating attacks against US formations from several directions
(usually the MiG-17s performed head-on attacks and the MiG-21s attacked from the rear). After shooting
down a few American planes and forcing some of the F-105s to drop their bombs prematurely, the MiGs did
not wait for retaliation, but disengaged rapidly. This "guerrilla warfare in the air" proved very successful.
Such tactics were sometimes helped by weird American practices. For example, in late 1966 the
F-105 formations used to fly every day at the same time in the same flight paths and used the same callsigns
over and over again. The North Vietnamese realized that and took the chance: in December 1966 the MiG-21
pilots of the 921st FR intercepted the "Thuds" before they met the escorting F-4s, downing 14 F-105s
without any losses. That ended on January 2 1967 when Col. Robin Olds executed Operation "Bolo".
Vietnamese ground personnel prepare two MiG-21PF for combat.
What about training? In mid-1960's the American pilots were focused on the use of air-to-air
missiles (like the radar homing AIM-7 Sparrow and IR AIM-9) to win the air battles. However, they had
forgotten that a skillful pilot in the cockpit was as important as the weapons he uses. The VPAF knew that,
and trained its pilots to exploit the superb agility of the MiG-17, MiG-19 and MiG-21 - getting into close
combat, where the heavy Phantoms and "Thuds" were at a disadvantage. Only in 1972, when the "Top Gun"
program improved the skills in aerial combat of USN Phantom pilots like Randall Cunningham, and the F-4E
appeared with a 20 mm built-in Vulcan cannon, could the Americans neutralize that Vietnamese edge.
Finally, the overwhelming US numerical superiority meant that, from the point of view of the
Vietnamese pilots, the aerial battlefield was a "target rich environment". For the American airmen Vietnam
was a "target poor environment". The Americans could not find enough enemy aircraft to pile up large scores
simply because there weren't that many MiGs around; the VPAF never had more than 200 combat aircraft.
All these factors created more Vietnamese aces than American, and created opportunities for a
few Vietnamese aces to pile up bigger scores than their American counterparts. Officially, there were 16
VPAF Aces during Vietnam War (13 were MiG-21 pilots, and three were MiG-17 drivers, there were no
MiG-19 aces). The number in parentheses indicates the kills confirmed by US sources; they could be
increased in the future. The list includes all the Vietnamese credited as aces.
VPAF MiG-17 and MiG-21 Aces of the Vietnam War:
Top Vietnamese Aces Kills (*) Comments Unit Plane
Nguyen Van Coc 9 (7) 2 F-4Ds, 1 F-4B, 2 F- 921 FR MiG-21PF
105Fs, 1 F-105D and 1 F-
102A
Nguyen Hong Nhi 8 (3) 1 UAV, 1 F-4D, 1 F- 921 FR MiG-21
105D Downed once
Pham Thanh Ngan 8 (1) 1 RF-101C 921 FR MiG-21F-13

Mai Van Cuong 8 (?) 921 FR MiG-21
Dang Ngoc Ngu 7 (1) 1 F-4C on May 22 1967 921 FR MiG-21
Nguyen Van Bay 7 (5) 2 F-8s, 1 F-4B, 1 A-4C 923 FR MiG-17F
and 1 F-105D
Nguyen Doc Soat 6 (5) 3 F-4Es, 1 F-4J, 1 A-7B 927 FR MiG-21PFM
Nguyen Ngoc Do 6 (2) 1 F-105F, 1 RF-101C 921 FR MiG-21
Nguyen Nhat Chieu 6 (2) 1 F-4 (w/MiG-17), 1 F- 921 FR MiG-17 & MiG-21
105D
Vu Ngoc Dinh 6 (5) 3 F-105Ds, 1 F-4D, 1 921 FR MiG-21
HH-53C
Le Thanh Dao 6 (2) 1 F-4D, 1 F-4J 927 FR MiG-21PFM
Nguyen Danh Kinh 6 (3) 1 F-105D, 1 EB-66C, 1 921 FR MiG-21
UAV
Nguyen Tien Sam 6 (1) 1 F-4E 927 FR MiG-21PFM

Le Hai 6 (2) 1 F-4C, 1 F-4B 923 FR MiG-17F
Luu Huy Chao 6 (1) RC-47 606 ACS 923 FR MiG-17F
Nguyen Van Nghia 5 (1) 927 FR MiG-21PFM
(*) The number in parenthesis indicate how many of the claims match with US losses reported so
far.

VPAF Aces. From left to right: Nguyen Van Bay (7 kills), Nguyen Van Coc (9) and Nguyen Doc
Soat (6).
Here are some accounts of deeds performed by those valiant pilots who faced the most powerful
air force in the world in defense of their homeland, and who earned the respect of their enemies, the
American airmen.
What about Colonel Toon?
Readers familiar with American military aviation may have heard of the legendary Vietnamese
ace, Col. Toon (or Col. Tomb). Why is he not listed here? Because, he was precisely that, "legendary". No
Col. Toon ever flew for the VPAF; he was a figment of the American fighter pilots' imagination and ready
room chatter. (In fairness to the Americans, "Col. Toon" may have been shorthand for any good Vietnamese
pilot, like any solo nighttime nuisance bomber in WW2 was called "Washing Machine Charlie".)
Nguyen Van Bay
When the 923rd Fighter Regiment was created on September 7 1965, Nguyen Van Bay was one of
the students chosen to fly the MiG-17F Frescos. His training ended in January 1966, and soon the young Lt.
Bay saw action against American aircraft.
On June 21 1966 four MiG-17s of the 923rd FR engaged an RF-8A recce plane and its escorting
F-8 Crusaders of VF-211. Even as the escorting Crusaders destroyed two MiGs, Nguyen Van Bay opened his
score when he bagged the F-8E of Cole Black, who ejected and became a POW. Even more important, the
VPAF pilots achieved their main goal; as Bay and his buddies distracted the escort, Phan Thanh Trung in the
lead MiG shot down the RF-8A. The pilot, Leonard Eastman, was also taken prisoner.
A week later -June 29- Bay and three more MiG-17 pilots engaged American F-105Ds heading for
the fuel depots in Hanoi, and (together with Phan Van Tuc) Nguyen Van Bay surprised and shot down a
"Thud". His victim, the leader of the US formation, turned out to be Major James H. Kasler, a Sabre Ace
during the Korean War with 6 MiG kills.

MiG-17F '#2047,' in the VPAF Museum in Hanoi. Nguyen Van Bay flew this plane when he
damaged the destroyer USS Oklahoma City on April 19 1972.
However, his greatest deed happened on April 24 1967. Now a flight leader, Bay scrambled from
Kien An airfield and led his flight of MiG-17Fs against a USN raid on the Haiphong docks. Bay closed on an
unaware F-8C of VF-24 and fired a burst of deathly 37 mm shells which broke it into pieces. The F-8C
-BuNo 146915, piloted by Lt. Cdr. E.J.Tucker- caught fire and crashed. Tucker ejected and was captured
(unfortunately he died in captivity). The escorting F-4Bs of VF-114 entered the battle and fired several
Sidewinders against Bay, but Bay's wingman -Nguyen The Hon- warned him, and Bay sharply broke off,
evading all the missiles. Bay then headed his MiG-17 Fresco towards one of the Phantoms and shot it down
with cannon fire (The crew, Lt. Cdr. C.E. Southwick and Ens. J.W. Land, was recovered. They thought they
had been downed by AAA). The next day, April 25, his flight of MiG-17s scored again, shooting down two
A-4s with no losses themselves. Both kills are confirmed by the US Navy: the first victim was the A-4C
BuNo 147799 piloted by Lt. C.D. Stackhouse (POW), who fell under the guns of Bay's MiG-17, and the
second was the A-4C BuNo 151102, piloted by Lt(jg) A.R. Crebo, who was rescued. Bay was awarded the
Hero's Medal of the Vietnamese People's Army for his outstanding skill and bravery in combat, and for his
superb leadership of his flight. In early 1972 Bay and his buddy Le Xuan Di were trained by a Cuban advisor
in anti-ship warfare, and they certainly were good students, because on April 19 1972 they attacked the
destroyers USS Oklahoma City and Highbee, which were shelling targets in Vinh city. While Bay caused
only slight damage to the first one, Le Xuan Di hit one of the Highbee stern turrets with a 500 pound
BETAB-250 bomb - the first air strike suffered by the USN 7th Fleet since the end of WW2.
Nguyen Doc Soat
One of the merits of the VPAF was that the more successful pilots could transfer their combat
experience to the novice students. That was the case of Nguyen Doc Soat. Originally this young MiG-21
student was assigned to the 921st FR, and his instructors were the hottest VPAF pilots of the outfit: Pham
Thanh Ngan (8 kills) and the top Vietnamese ace, Nguyen Van Coc (9 victories). Soat couldn't ask for better
teachers. While he did not score kills at that time, he gained valuable experience.
Re-assigned to the recently created 927th Fighter Regiment, when Operation "Linebacker I"
began in May 1972, Soat was ready to show his abilities. On the 23rd he scored his first victory, downin a
USN A-7B Corsair II with 30 mm fire. His victim was Charles Barnett (KIA).
On June 24 1972 two MiG-21s flown by Nguyen Duc Nhu and Ha Vinh Thanh took off from Noi
Bai at 15:12 to intercept some Phantoms attacking a factory in Thai Nguyen. The American escort reacted
rapidly and headed towards them. But those MiGs were actually only a bait; suddenly two MiG-21PFMs of
the 927th FR appeared, piloted by Nguyen Doc Soat (leader) and Ngo Duy Thu (wingman), who took the
escorting F-4Es by surprise. Firing a heat-seeking missile R-3S Atoll, Soat downed the F-4E of David Grant
and William Beekman, both crewmen became POWs, as Thu also did with another Phantom.

Nguyen Doc Soat scored some of his F-4 kills while flying the MiG-21PFM Fishbed 5020.
Three days later Soat and Thu scrambled from Noi Bai at 11:53 and headed towards four F-4s, but
knowing that eight more Phantoms were incoming, they did not risk being "sandwiched" by the arriving US
fighters. They turned back, climbed to 5,000 mts (15,000 feet) and waited. Their patience was rewarded, and
surprised the trailing pair of F-4s, and both Soat and Thu bagged one Phantom each with R-3 missiles. Soat's
victim was one F-4E, and the crew (Miller/McDow) was captured.
On August 26 1972, Nguyen Doc Soat had the distinction of shooting down the only USMC
Phantom downed in air combat during the Vietnam War. The RIO of the downed F-4J was rescued, but the
unfortunate pilot -Sam Cordova- died. Soat scored his last victory on October 12, when he blasted out of the
sky the F-4E of Myron Young and Cecil Brunson (both POW).
Along with Nguyen Van Coc and other VPAF vets, Soat is a living legend in the country for
which he bravely and skillfully fought 30 years ago.
S. Sherman & Diego Fernando Zampini
Sources and recoomended links:
Air War over North Vietnam, Dr. Itsvan Toperczer, Squadron/Signal Publications Inc. 1998.
MiG-21 Units of the Vietnam War, Istvan Toperczer, 2001, Osprey Military
MiG-17/19 Units of the Vietnam War, Istvan Toperczer, 2001, Osprey Military
Lethal Snakes, an overview of the role of the VPAF MiG-17s during Vietnam War.
Tài liệu về các Aces nổi tiếng nhất của Việt Nam
August 23 1967, 14:00. Another US raid against the capital of North Vietnam is in proccess.
Due to the size of the American formation (40 aircraft, including Thunderchiefs carrying bombs,
F-105Fs ready to supress the SAM radars, and escorting Phantoms) the crew of one of those F-4Ds, Charles
R. Tyler (pilot) and Ronald M. Sittner (WSO), of the 555th TFS/8th TFW, felt overconfident. They did not
expect any MiGs, which had been inactive after several bloody defeats dealt them by the Phantoms of the 8th
TFW in late May and early June.
Suddenly, Tyler heard on the radio an F-105D pilot (Elmo Baker) announcing that he had been hit
by a MiG-21 and was ejecting. As Tyler looked for the unexpected bandit, a tremendous explosion shook his
plane, and Tyler lost control of his aircraft, and bailed out. Hanging in his parachute he saw his F-4D falling
in flames to the jungle, but he did not see his WSO eject; Sittner had been killed instantly by the missile hit.
Both Tyler and Baker were captured by North Vietnamese troops as soon as they touched the ground.
Both had been shot down by R-3S Atoll missiles fired by two MiG-21PF Fishbeds of the 921st
Fighter Regiment of the Quan Chung Khong Quan (Vietnamese People's Air Force, VPAF) flown by Nguyen
Nhat Chieu and Nguyen Van Coc. Two more F-4Ds fell that day, without any MiGs lost, one of the VPAF's
most successful days.
While only two American pilots became aces in the Vietnam War - Randy "Duke" Cunningham
(USN) and Steve Ritchie (USAF) - sixteen Vietnamese pilots earned that honor. Nguyen Van Coc is also the
Top Ace of Vietnam War with 9 kills: 7 planes and 2 UAV (Un-manned Airborne Vehicle) Firebees. Among
those seven US planes, six are confirmed by US records (see table below), and we should add to this figure a
confirmed USAF loss (the F-102A flown by Wallace Wiggins (KIA) on February 3 1968), originally
considered a probable by the VPAF. Even omitting UAV "drones," his 7 confirmed kills qualified Coc as the
Top Ace of the war, because no American pilot achieved more than 5.
Why did so many VPAF pilots score higher than their American adversaries? Mainly because of
the numbers. In 1965 the VPAF had only 36 MiG-17s and a similar number of qualified pilots, which
increased to 180 MiGs and 72 pilots by 1968. Those brave six dozen pilots confronted about 200 F-4s of the
8th, 35th and 366th TFW, about 140 Thunderchiefs of the 355th and 388th TFW, and about 100 USN aircraft
(F-8s, A-4s and F-4s) which operated from the carriers on "Yankee Station" in the Gulf of Tonkin, plus
scores of other support aircraft (EB-6Bs jamming, HH-53s rescuing downed pilots, Skyraiders covering
them, etc).
Considering such odds, it is clear why some Vietnamese pilots scored more than the Americans;
the VPAF pilots simply were busier than their US counterparts, and they "flew till they died". They had no
rotation home after 100 combat sorties because they were already home. American pilots generally finished a
tour of duty and rotated home for training, command, or flight test assignments. Some requested for a second
combat tour, but they were the exceptions.
What about the tactics of both sides? Because the USAF did not attack the main radar installations
and command centers (it worried about killing Russian or Chinese advisers), the Vietnamese flew their
interceptors with superb guidance from ground controllers, who positioned the MiGs in perfect ambush
battle stations. The MIGs made fast and devastating attacks against US formations from several directions
(usually the MiG-17s performed head-on attacks and the MiG-21s attacked from the rear). After shooting
down a few American planes and forcing some of the F-105s to drop their bombs prematurely, the MiGs did
not wait for retaliation, but disengaged rapidly. This "guerrilla warfare in the air" proved very successful.
Such tactics were sometimes helped by weird American practices. For example, in late 1966 the
F-105 formations used to fly every day at the same time in the same flight paths and used the same callsigns
over and over again. The North Vietnamese realized that and took the chance: in December 1966 the MiG-21
pilots of the 921st FR intercepted the "Thuds" before they met the escorting F-4s, downing 14 F-105s
without any losses. That ended on January 2 1967 when Col. Robin Olds executed Operation "Bolo".
What about training? In mid-1960's the American pilots were focused on the use of air-to-air
missiles (like the radar homing AIM-7 Sparrow and IR AIM-9) to win the air battles. However, they had
forgotten that a skillful pilot in the cockpit was as important as the weapons he uses. The VPAF knew that,
and trained its pilots to exploit the superb agility of the MiG-17, MiG-19 and MiG-21 - getting into close
combat, where the heavy Phantoms and "Thuds" were at a disadvantage. Only in 1972, when the "Top Gun"
program improved the skills in aerial combat of USN Phantom pilots like Randall Cunningham, and the F-4E
appeared with a 20 mm built-in Vulcan cannon, could the Americans neutralize that Vietnamese edge.
Finally, the overwhelming US numerical superiority meant that, from the point of view of the
Vietnamese pilots, the aerial battlefield was a "target rich environment". For the American airmen Vietnam
was a "target poor environment". The Americans could not find enough enemy aircraft to pile up large scores
simply because there weren't that many MiGs around; the VPAF never had more than 200 combat aircraft.
What about Colonel Toon?
Readers familiar with American military aviation may have heard of the legendary Vietnamese
ace, Col. Toon (or Col. Tomb). Why is he not listed here? Because, he was precisely that, "legendary". No
Col. Toon ever flew for the VPAF; he was a figment of the American fighter pilots' imagination and ready
room chatter. (In fairness to the Americans, "Col. Toon" may have been shorthand for any good Vietnamese
pilot, like any solo nighttime nuisance bomber in WW2 was called "Washing Machine Charlie".)
Nguyen Van Bay
When the 923rd Fighter Regiment was created on September 7 1965, Nguyen Van Bay was one of
the students chosen to fly the MiG-17F Frescos. His training ended in January 1966, and soon the young Lt.
Bay saw action against American aircraft.
On June 21 1966 four MiG-17s of the 923rd FR engaged an RF-8A recce plane and its escorting
F-8 Crusaders of VF-211. Even as the escorting Crusaders destroyed two MiGs, Nguyen Van Bay opened his
score when he bagged the F-8E of Cole Black, who ejected and became a POW. Even more important, the
VPAF pilots achieved their main goal; as Bay and his buddies distracted the escort, Phan Thanh Trung in the
lead MiG shot down the RF-8A. The pilot, Leonard Eastman, was also taken prisoner.
A week later -June 29- Bay and three more MiG-17 pilots engaged American F-105Ds heading for
the fuel depots in Hanoi, and (together with Phan Van Tuc) Nguyen Van Bay surprised and shot down a
"Thud". His victim, the leader of the US formation, turned out to be Major James H. Kasler, a Sabre Ace
during the Korean War with 6 MiG kills.
However, his greatest deed happened on April 24 1967. Now a flight leader, Bay scrambled from
Kien An airfield and led his flight of MiG-17Fs against a USN raid on the Haiphong docks. Bay closed on an
unaware F-8C of VF-24 and fired a burst of deathly 37 mm shells which broke it into pieces. The F-8C
-BuNo 146915, piloted by Lt. Cdr. E.J.Tucker- caught fire and crashed. Tucker ejected and was captured
(unfortunately he died in captivity). The escorting F-4Bs of VF-114 entered the battle and fired several
Sidewinders against Bay, but Bay's wingman -Nguyen The Hon- warned him, and Bay sharply broke off,
evading all the missiles. Bay then headed his MiG-17 Fresco towards one of the Phantoms and shot it down
with cannon fire (The crew, Lt. Cdr. C.E. Southwick and Ens. J.W. Land, was recovered. They thought they
had been downed by AAA). The next day, April 25, his flight of MiG-17s scored again, shooting down two
A-4s with no losses themselves. Both kills are confirmed by the US Navy: the first victim was the A-4C
BuNo 147799 piloted by Lt. C.D. Stackhouse (POW), who fell under the guns of Bay's MiG-17, and the
second was the A-4C BuNo 151102, piloted by Lt(jg) A.R. Crebo, who was rescued. Bay was awarded the
Hero's Medal of the Vietnamese People's Army for his outstanding skill and bravery in combat, and for his
superb leadership of his flight. In early 1972 Bay and his buddy Le Xuan Di were trained by a Cuban advisor
in anti-ship warfare, and they certainly were good students, because on April 19 1972 they attacked the
destroyers USS Oklahoma City and Highbee, which were shelling targets in Vinh city. While Bay caused
only slight damage to the first one, Le Xuan Di hit one of the Highbee stern turrets with a 500 pound
BETAB-250 bomb - the first air strike suffered by the USN 7th Fleet since the end of WW2.
Nguyen Doc Soat
One of the merits of the VPAF was that the more successful pilots could transfer their combat
experience to the novice students. That was the case of Nguyen Doc Soat. Originally this young MiG-21
student was assigned to the 921st FR, and his instructors were the hottest VPAF pilots of the outfit: Pham
Thanh Ngan (8 kills) and the top Vietnamese ace, Nguyen Van Coc (9 victories). Soat couldn't ask for better
teachers. While he did not score kills at that time, he gained valuable experience.
Re-assigned to the recently created 927th Fighter Regiment, when Operation "Linebacker I"
began in May 1972, Soat was ready to show his abilities. On the 23rd he scored his first victory, downin a
USN A-7B Corsair II with 30 mm fire. His victim was Charles Barnett (KIA).
On June 24 1972 two MiG-21s flown by Nguyen Duc Nhu and Ha Vinh Thanh took off from Noi
Bai at 15:12 to intercept some Phantoms attacking a factory in Thai Nguyen. The American escort reacted
rapidly and headed towards them. But those MiGs were actually only a bait; suddenly two MiG-21PFMs of
the 927th FR appeared, piloted by Nguyen Doc Soat (leader) and Ngo Duy Thu (wingman), who took the
escorting F-4Es by surprise. Firing a heat-seeking missile R-3S Atoll, Soat downed the F-4E of David Grant
and William Beekman, both crewmen became POWs, as Thu also did with another Phantom.
Three days later Soat and Thu scrambled from Noi Bai at 11:53 and headed towards four F-4s, but
knowing that eight more Phantoms were incoming, they did not risk being "sandwiched" by the arriving US
fighters. They turned back, climbed to 5,000 mts (15,000 feet) and waited. Their patience was rewarded, and
surprised the trailing pair of F-4s, and both Soat and Thu bagged one Phantom each with R-3 missiles. Soat's
victim was one F-4E, and the crew (Miller/McDow) was captured.
On August 26 1972, Nguyen Doc Soat had the distinction of shooting down the only USMC
Phantom downed in air combat during the Vietnam War. The RIO of the downed F-4J was rescued, but the
unfortunate pilot -Sam Cordova- died. Soat scored his last victory on October 12, when he blasted out of the
sky the F-4E of Myron Young and Cecil Brunson (both POW).
Along with Nguyen Van Coc and other VPAF vets, Soat is a living legend in the country for
which he bravely and skillfully fought 30 years ago.
Nguồn từ http://www.acepilots.com/vietnam/viet_aces.html
Tám huy hiệu của Bác Hồ tặng Thượng tướng Phạm Thanh Ngân
… Trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Phạm Thanh Ngân, có một điều khá thú vị là phần lớn
những kỷ vật của ông đều gắn với những kỷ niệm về Bác Hồ: Ông được Bác Hồ tặng tám chiếc huy hiệu, vì
tám lần bắn rơi tám chiếc máy bay. Ông cũng là một trong những Anh hùng không quân được trực tiếp gặp
Bác Hồ, được Bác tặng chiếc đồng hồ có khắc chữ ở mặt sau “Bác Hồ tặng Phạm Thanh Ngân, tháng 12 năm
1968”…
… Phạm Thanh Ngân bắt đầu tham gia chiến đấu từ tháng 6 năm 1966, khi địch đánh kho xăng
Đức Giang (Hà Nội) và Thượng Lý (Hải Phòng)…mở đầu bước leo thang mới đánh phá hệ thống xăng dầu
và Thủ đô Hà Nội. Lúc đầu Phạm Thanh Ngân rất bỡ ngỡ, vì ngay cả ở dưới mặt đất còn chưa đánh địch bao
giờ huống chi đánh chúng ở trên trời. Được đồng chí Trần Hanh truyền đạt cho một số kinh nghiệm, nhưng
khi gặp địch trận đầu, địch rất đông, gấp hàng chục lần máy bay của ta, lần đầu tiên tham gia chiến đấu,
Ngân không bắn rơi được máy bay Mỹ nào. Đến khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân
tham gia các trận chiến đấu dồn dập hơn. Lại được Nguyễn Văn Cốc bay cùng. Hai người thường bay yểm
hộ cho nhau.
Máy bay Mỹ mỗi khi đi đánh phá miền Bắc, tốp đi đầu là bọn cường kích F-105, theo sau là máy
bay F-4, F-4C để yểm hộ. Thời gian đầu, Phạm Thanh Ngân không bắn được máy bay cường kích của địch.
Mục tiêu lúc đó đặt ra là phải làm sao bắn rơi được bọn cường kích để chúng không ném bom phá hoại miền
Bắc được, nhất là Hà Nội. Trận ngày 18 tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân phối hợp với tên lửa đánh
một trận rất hay. Hôm đó một tốp máy bay của địch gồm 12 chiếc F-105 và 4 chiếc F-4 bám sau, xuất hiện
trên bầu trời Yên Bái- Phú Thọ. Chúng bay từ Thái Lan sang, vòng xuống núp sau dãy núi Tam Đảo hướng
vào Hà Nội. Sau khi phát hiện mục tiêu, Ngân nhanh chóng thông báo và lệnh cho máy bay số 2 công kích
tốp cường kích bên phải còn mình xông thẳng vào tốp bên trái, mặc dù biết phía sau máy bay F-4 của địch
đang bám theo. “Tôi đột ngột tăng tốc độ, phóng một quả tên lửa thứ nhất vào tốp đi đầu, sau ít giây, máy
bay địch bốc cháy. Lúc này tốc độ tiếp cận rất lớn, tôi cho máy bay vọt lên rồi phóng quả tên lửa số 2 tiêu
diệt chiếc F-105 thứ 2 của địch. Cùng lúc, máy bay số 2 cũng phóng tên lửa vào tốp máy bay bên phải, một
máy bay địch trúng đạn bốc cháy”, ông nhớ lại. Trận đó biên đội của Ngân bắn rơi 3 chiếc, tên lửa đối không
của ta cũng hạ được 6 chiếc, trong đó có một chiếc F-105 do một tên đại tá phi công Mỹ lái. Đây là trận đánh
hiệp đồng tuyệt đẹp của không quân và tên lửa phòng không. Trong 2 ngày tiếp theo, biên đội của Ngân bắn
rơi thêm 2 chiếc nữa…”.
Với thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ, chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 chiếc khác, Phạm Thanh Ngân
được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1969. Từ năm 1989 đến năm 1996, ông là Tư
lệnh Quân chủng Không quân. Từ năm 1998 đến năm 2001, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chinh trị. Khi đã là
Uỷ viên Bộ Chính trị, Thượng tướng- Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông vẫn nhớ như in những ngày tháng
chiến đấu oanh liệt đó. Hiện ông là Trưởng ban chỉ đạo tổng kết chiến lược về quân sự và quốc phòng trực
thuộc Bộ Chính trị.
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân hồi tưởng: “Tôi kể xong, bác Phạm Văn Đồng hỏi tiếp: “Thế
đồng chí lái được loại máy bay gì?” Tôi trả lời: “Thưa Bác, cháu lái được MIG 17 và MiG-21”. Bác Đồng lại
hỏi: “Thế đồng chí lái máy bay nào tốt hơn”. Tôi trả lời: “Thưa bác, cháu lái máy bay MiG-21 tốt hơn ạ!”.
Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí bay được bao nhiêu giờ rồi?”. Tôi đáp: “Thưa, được khoảng 200 giờ ạ!”.
Thế số anh em mới về lái có tốt không?. Tôi trả lời: “Dạ thưa, số anh em mới về trẻ, khoẻ có kiến thức nhưng
chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Các đồng chí ấy tương lai sẽ rất giỏi ạ!”…
______________________
Đây là trùm Ace nè

Erich Alfred "Bubi" Hartmann (sinh ngày 19-4-1922 - mất 20 September 1993), còn có tên "The
Blond Knight of Germany" hay "The Black Devil" là phi công Đức Quốc Xã và là trùm Ace của mọi thời đại
với thành tích hạ 352 máy bay của đối phương trong các trận không chiến (345 máy bay Liên Xô) trong
1,404 lần bay và 825 lần không chiến. Chưa hề bị bắn rơi dù phải nhảy dù 14 lần do tai nạn.
Ông này lái chiếc Me-109 cho phi đoàn Jagdgeschwader 52 (JG 52)

Là 1 trong 27 người được tặng huân chương chữ thấp sắt loại Oak Leaves, Swords and Diamonds
(vào ngày 25-8-1944)
Ở tù 10 năm ở Siberi do thành tích nói trên
Được thả ra năm 1955. Vào năm 1956, Hartmann phục vụ cho KQ CHLB Đức
Ace Sr. Lt. Vadim Petrovich Shchbakov
Rất ít thông tin về ông này tuy ông là Ace hạ 6 chiếc máy bay Mỹ trong VNW
Ông được cử sang Việt Nam làm cố vấn cho KQ VNDCCH
Lúc tình hình căng thẳng, ông đã sử dụng MiG-21 thay thế cho phi công Việt Nam bị thương hay
chết
Sr. Lt. Vadim Petrovich Shchbakov đã ghi được 6 chiến thắng trong năm 1966
Trong đó có một nạn nhân là chiếc máy bay F-105 nổi tiếng, có số hiệu 591820, phi công Donald
Asire (KIA).

"Trận đánh tiếp theo diễn ra ngay hôm sau với 3 phi đội cất cách, trong đó có 2 phi đội nghi binh
và bảo vệ, một phi đội công kích thẳng vào tốp F-105 mang bom tấn công cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá do
Thiếu tá Frank Bennett làm dẫn đầu. Phía Mỹ có 2 chiếc F-105 bị MiG-17 bắn trúng. Chiếc do Đại uý James
Magnusson lái rơi trên đường thoát ra biển, chiếc do Thiếu tá Frank Bennett rơi khi hạ cánh khẩn cấp xuống
sân bay Đà Nẵng. Cả hai phi công đều chết. Phía Không quân Việt Nam mất 3 chiếc MiG. Một chiếc do Lê
Minh Huân lái rơi gần bờ biển Sầm Sơn, gần xác chiếc F-105 do chính anh bắn hạ. Hai chiếc còn lại, do
Phạm Giấy và Trần Nguyên Năm lái, bị rơi ở gần khu vực cầu Hàm Rồng. Cả 3 chiếc đều không có ghi nhận
nào bị bắn rơi từ phía Mỹ, có khả năng bị chính súng phòng không của Việt Nam bắn rơi. Một chiếc duy nhất
còn lại, do phi đội trưởng Trần Hanh lái và cũng là chiếc đã bắn hạ Thiếu tá Frank Bennett, hết dầu và hỏng
la bàn nên phải hạ cánh xuống lòng một con suối cạn thuộc bản Ké Tằm, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An".
Chẳng thấy bác nào bàn về át cả. Theo đuôi các bác vậy.

"Át " Phạm Tuân đang thuyết phục thằng Pilot Mĩ rằng chính bác í đã hạ nó. Cơ mà nhìn vẻ mặt
thì em thấy nó đếch tin.
______________________
Những cuộc không chiến của Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ
1. Trận đầu đọ cánh.
Sáng sớm ngày 3 tháng 4-1965.
Bình minh trên biển thật hùng vĩ. Mặt trời ở cái xứ sở nhiệt đới này sao mà dữ dội. Nó như 1 quả
cầu lửa khổng lồ, đỏ rực từ mặt nước chui lên. Bầu trời chói chang mầu máu, và biển gầm rú không ngơi.
Những con sóng vỗ lừng lững lao đến chiếc tầu sân bay Cô-rơn-xi của Mỹ hung dữ như bầy quái vật. Chính
cái ngày chiến dịch ném bom "Sấm rền 32" của Mỹ đã bắt đầu vào ngày nóng bỏng này.
Ngay từ sáng sớm, tin tức từ các nguồn tình báo và các trạm rada đã liên tiếp truyền về. Sở chỉ
huy không quân ta theo dõi rất sát mọi hoạt động của đối phương.
8 giờ 36 phút, máy bay địch tập kích đánh phá Đò Lèn. Phương án tác chiến lập tức được triển
khai. Không khí trong sở chỉ huy sôi nổi hẳn lên. Các sĩ quan tác chiến dẫn đường gấp rút tính toán phần tử.
Chiến sĩ đánh dấu đường bay hối hả ghi lên tấm bản đồ lồng mica những nét chì xanh, đỏ, đen cài quấn quýt
lấy nhau.
Lệnh báo động!
Tất cả đã sẵn sàng ở vị trí chiến đấu. Mấy giây sau, tiếng động cơ phản lực đã rung lên như sấm
rền. Những đồng chí thợ máy bàn giao máy bay cho phi công xong, nhìn nhau bằng những ánh mắt đầy
khích lệ. Đã từng bao ngày giúp phi công mở máy trong lúc báo động, hôm nay họ đều như có một linh cảm
khác thường. Từ nụ cười và bàn tay mang găng màu của Phạm Ngọc Lan, Trần Hanh, Trần Minh Phương…
giơ lên trong khoang lái đối với họ đều hứa hẹn quyết tâm, tin tưởng.
9 giờ 47 phút. Ba phát pháo hiệu xanh bay vút lên trên nóc đài chỉ huy. Biên đội thứ nhất làm
nhiệm vụ yểm trợ do Trần Hanh chỉ huy trượt trên đường băng cất cánh. Sau đó, biên đội công kích, đội hình
gồm 4 chiếc do Phạm Ngọc Lan chỉ huy rời đường băng lao lên không trung
Biên đội yểm trợ, Trần Hanh bay số 1, Phạm Giấy bay số 2. Từ phía đông Hà Nội, biên đội bay
theo đường số 1. Tới Ninh Bình bỗng ngoặt sang phía tây với nhiệm vụ thu hút, nghi binh và chặn máy bay
tiêm kích của địch, tạo thời cơ cho biên đội bạn tấn công.
Biên đội tấn công, Phạm Ngọc Lan bay số 1, Phan Văn Tuế bay số 2, Hồ Văn Quỳ bay số 3 và
Trần Minh Phương bay số 4. Biên đội dàn đội hình theo phương án xong liền xuyên mây chui lên. Bốn con
chim én vút qua sông Đuống, bay xuống phía nam lao về phía huyện Cẩm Thuỷ, Thanh hoá. Sở chỉ huy
thông báo địch đang bay tới mục tiêu rất đông. Tình huống chiến đấu mỗi phút một khẩn trương. Ở độ cao
3000m độ hình bắt đầu bay giãn cách rộng để dễ phát hiện địch. Chúng đang rất chủ quan bởi không lường
trước được khả năng không quân ta đã xuất kích.
Trong sở chỉ huy, mọi người đều hồi hộp tập trung hết trí tuệ vào những tín hiệu trong cáp nghe và
những đường chì xanh đỏ xoắn xuýt trên bản đồ. Sĩ quan dẫn đường Trần Quang Kính dồn hết tâm trí một
lúc dẫn 2 biên đội theo hai hướng khác nhau. Trên màn hiện sóng luôn nhấp nháy các tín hiệu sáng xanh màu
lân tinh. Biên đội Phạm Ngọc Lan còn cách máy bay địch 100km, 80 rồi 60km. Bỗng rada mất mục tiêu. Mọi
người nhìn nhau lo lắng. Chiến sĩ đánh dấu đường bay dừng ngọn chì đỏ. ngước nhìn Trần Quang Kính chờ
đợi. Vốn có kinh nghiệm trong lần dẫn máy bay 96B đi diệt biệt kích, người sĩ quan dẫn đường hoàn toàn
bình tĩnh. Lập tức anh chuyển sang phương án dẫn mò để hướng máy bay ta qua những dãy núi cao. Với
cách xử trí thông minh ấy chưa đầy 3 phút sau trạm rada cảnh giới báo về đã bắt được một muc tiêu ở phía
nam huyện Vĩnh Lộc.
- Biên đội Phạm Ngọc Lan đây rồi!
Trần Quang Kính reo lên. Đường bay anh dẫn mò rất đúng với hướng để biên đội Lan vào tiếp
cận. Kính quay sang đồng chí tư lệnh:
- Đề nghị tư lệnh cho Hoa Mai ngoặt vào hướng công kích.
Tư lệnh nhìn lướt nhanh vào bản tiêu đồ. Đường chỉ đỏ nếu ngoặt vào sẽ nhanh chóng cắt ngang
một đường chì đen ở thế tiến công có lợi. Ông khẽ gật đầu chỉ thị cho anh:
- Liên tục thông báo khoảng cách tiếp cận địch cho Hoa Mai
- Rõ! Hoa Mai chú ý! Hoa Mai chú ý! có Mây Đen bên phải phía trước 30km!
- Hoa Mai chú ý! Hoa Mai chú ý! Mây đen bên phải, phía trước 25km!
Bỗng giọng người sĩ quan dẫn đừơng dồn dập:
- Hoa Mai chú ý! Hoa Mai chú ý! Mây đen phía trước bên phải 20km, bên phải 30 độ, 15km…
Những đường chỉ đỏ lại chạy lướt đi trên tấm bản đồ lồng mica. Đường bay của 2 biên đội đều rất
rõ. Tuy ở hai độ cao khác nhau, biên độ bay thấp có nhiệm vụ công kích, biên độ bay cao yểm hộ, thu hút
địch, nhưng 2 đường chì đỏ gần như trùng lẫn nhau. Sự hiệp đồng từ trên không chứng tỏ rất chặt chẽ. Trong
khi ấy kẻ địch vì bất ngờ nên chưa hay biết gì, chúng vẫn thẳng đường bay tới phía cầu Hàm Rồng.
Giọng Trần Quan kính lại dồn dập:
- Hoa Mai chú ý! Hoa Mai chú ý! Mây đen phía trước bên phải 13 độ, 12 km!
Đó là khoảng cách rất gần để vào công kích rồi. Nhưng những đám mây lớn chăng kín bầu trời
nên cả biên đội vẫn chư thấy mục tiêu. Trần Minh Phương căng mắt nhìn về phía trước. Anh vốn có đôi mắt
tinh tường nhất biên đội. Kia rồi! Phương thầm sung sướng reo lên. Thấp thoáng trong mây phía trước đã có
những chấm đen di động. Anh lập tức bật công tắc máy phát gọi biên đội trưởng:
- Báo cáo bên phải 45 độ có mục tiêu!
Đó là những chiếc máy bay từ tàu Hen-cốc đang hùng hổ lao vào đánh Đò Lèn đợt 2. Chúng bay
theo độ hình hàng dọc, 2 chiếc bay thấp, 4 chiếc bay cao, sau đó là những tốp khác. Cự li giảm dần. Sở chỉ
huy cho lệnh công kích, Phạm Ngọc Lan hô lớn:
- Thả thùng dầu phụ!
Những thùng dầu phụ lấp loáng rơi xuống. Kẻ thù đã hiện rõ ngay trước mặt, màu trắng mốc, hình
thù thật quái gở. Cả biên đội vô cùng mừng rỡ, bởi bao ngày mong đợi nay mới được giáp mặt kẻ thù. Túc
đang ở vị trí thuận lợi, Lan ra lệnh:
- Số 2 công kích, số 1 yểm hộ, biên độ giữ vững độ hình chiến đấu!
- Rõ!
Túc đáp như reo, anh liền qua trái, tăng tốc lao thẳng tới chiếc F8U đi đầu. "Con quạ sắt" phình
rất to trong kính ngắm. Túc đợi cho nó trùm hết lên khuân kính cho chắc ăn, mới mím môi ấn cò súng.
Những đường đạn đỏ rực, thẳng căng. Nhưng đối phương quả là lũ giặc lái tinh ma, già đời. Tuy mới kịp
phát hiện ra có đối thủ trên không, nó liền bay vọt lên cao. Hai chiếc tiêm kích phía sau cùng lúc vội chẽ ra 2
bên. Còn 2 chiếc F8 "Thập tự quân" tạt ngang sang hướng khác rồi vội vã lao thục mạng ra biển. Đội hình cả
tốp bay đầu liền bị tán loạn. Chúng không ngờ có máy bay MiG đánh chặn. Và khi phát hiện được thì đối
phương đã bám sát nách, chiếm hoàn toàn ưu thế của trận không chiến. Cú thọc sườn bất ngờ làm cho chúng
choáng váng ngay từ phút đầu không sao chịu nổi. Nhưng không để cho chúng thoát. Quỳ và Phương mở hết
cửa dầu đuổi theo. Hai vệt lửa kéo dài thẳng tắp sau đuôi 2 cánh én. Túc vào cắt bán kính chặn đầu tên giặc
vừa lọt lưới. Yên tâm có biên đội trưởng yểm hộ, Túc lao vun vút như mũi tên bám sát kẻ thù, đầu nóng rần
rật như có lửa cháy. Loạt đạn thứ 2 nổ. Bỗng trong cáp nghe vang lên giọng nói Quảng Nam của Lan:
- Đạn rơi phía sau, bình tĩnh, vào gần nữa!
Túc lại tăng tốc phóng lên. Vòng sáng máy ngắm của anh như cái thòng lọng thắt chặt vào cổ tên
giặc. Túc nghiến răng ấn cò súng lâu hơn. Ba khẩu pháo ở đầu máy bay cùng đồng loạt nhả đạn một lúc,
người Túc rung lên theo nhịp tiếng nổ, từ thân máy bay địch ngọn lửa bùng lên.
- Cháy rồi! cháy rồ…ồi! - Túc sung sướng reo lên giữa không trung.
Chiếc thập tự quân lập tức trở thành một khối lửa đỏ lừ bay chếnh choáng rồi vun vút lao xuống
để lại vệt khói lớn xám xịt.
Bỗng Lan phát hiện thấy 1 chiếc F8U khác đang bay chếch phía trái. Anh kéo cần lái hạ độ cao
lao tới công kích. Cùng lúc đó bên phải Túc xuất hiện những chấm đen đang lao đến. Chúng hiện to dần. Để
bảo vệ cho biên đội trưởng mặc dù biết chắc rất nguy hiểm, Túc vẫn cho máy bay ngoặt gấp xuống kẻ thù.
Hành động phản kích mau lẹ vô cùng quả cảm này khiến cho tên địch đi đầu hốt hoảng, nó vội nghiêng cánh
chúi đầu xuống chuồn thẳng. Những chiếc sau cũng vội vã bay tóe ra chạy tháo thân.
Quỳ đang hăm hở bám riết đuổi bắn chiếc F8U. Lợi dụng khoảng trống một tên khác chọn góc độ
khá kín nhào đến tìm cách công kích. nó bắt đầu bám đuôi Quỳ thì Phương nhìn thấy. Tốc độ máy bay địch
rất lớn, nếu vòng lại đánh nó từ phía sau sẽ lỡ thời cơ lại không yểm hộ được cho Quỳ, Phương vụt nảy ra ý
định táo bạo. Anh xông thẳng vào đối đầu với máy bay địch. Hai đối thủ cùng lao tới nhau với tốc độ rất lớn.
Phương nghiến răng, mắt mở sáng quắc giận dữ, mọi thớ thịt trong người anh căng ra. Khoảng cách rút lại
rất nhanh, hai chiếc máy bay sẽ lao vào nhau nổ tan tành. Bỗng tên giặc lái Mỹ hốt hoảng lao đầu xuống rúc
vào tầng mây mù trốn mất. Nó khiếp sợ và không thể nào chịu nổi lối đánh dũng cảm kì lạ của đối phương.
Phương quành lại. Bỗng anh thấy 4 chiếc A4D từ biển bay vào, chúng đang triển khai độ hình
chuẩn bị ném bom. Lập tức anh tăng tốc xông thẳng vào giữa đội hình bọn chim ưng nhà trời của Mỹ này.
Bọn chúng lặc lè đeo bom không kịp phản ứng đối phó hốt hoảng chạy né bốn phía rồi quay ngơắt ra biển
chuồn mất.
Trong khi đó Quỳ và Lan vẫn bám riết chiếc F8U không cho nó thoát. Thằng giặc tăng tốc, cố
sống cố chết để vượt khỏi vòng vây. Nó là một tay lái gian ngoan xảo quyệt. Nó cơ động lúc lật trái khi lật
phải đường bay ngơằn ngoèo như một con rắn độc không để đối phương ngắm trúng. Lan tăng tốc độ tối đa,
cự ly thu ngắn dần lại 400m, 300m và 200m. Chiếc máy bay choán kính ngắm. Lan bình tĩnh ấn nút cò súng
3 khẩu pháo cùng nhả đạn. Một khối lửa bùng lên. Lan kéo mạnh cần lái cho máy bay vọt lên cao. Chiếc
máy bay địch bỗng chốc trở thành 1 bó đuốc khổng lồ vun vút lao đầu xuống biển…
… Không sao tả hết niềm vui khi những cánh én lần đầu xuất hiện đã mang chiến thắng trở về.
Phạm Văn Túc, Hồ Văn Quỳ, Trần Minh Phương lần lượt hạ cánh. Phạm Ngọc Lan bị hết dầu phải hạ cánh
bắt buộc trên bãi cát sông Đuống. Đúng lúc ấy Tư lệnh quân chủng Phùng Thế Tài đáp máy bay trực thăng từ
Hà Nội lên sân bay phát hiện thấy Lan đang bị vây chặt trong những bàn tay và ánh mắt trìu mến của nhân
dân địa phương, ông liền cho hạ trực thăng xuống đón Lan. Sự có mặt bất ngờ của Lan ở giữa sân bay đã làm
cho cả đoàn Sao Đỏ nhất là đoàn trưởng Đào Đình Luyện mừng vui đến sửng sốt. Vậy là cả biên đội trở về
đông đủ, trong khi đó 2 tên thập tự quân của Mỹ đã vĩnh viễn bị chôn vùi cùng với uy danh của không lực
Hoa kỳ. Các anh bị siết chặt trong những vòng tay. Cả sân bay tưng bừng như ngày hội. Cùng lúc ấy thì bên
kia đại dương nhưng tên chóp bu ở lầu năm góc đang điên đàu trước sự kiện "máy bay MiG của Bắc Việt bất
thần xuất trận". Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng của Mỹ lệnh cho các nhân viên của y phải bỏ tất cả
những cuộc vui chơi và tiếp tận trong ngày chủ nhật hôm sau (4-4-1965) đẻ theo dõi những bức điện mật từ
Sài Gòn báo cáo cụ thể về sự kiện trên. Trước chiến thắng của không quân ta, chúng ra sức biện bạch: nào bị
bất ngờ, nào chưa "tư duy" đến đối thủ, và ngay hôm đó, tên bộ trưởng quốc phòng Mỹ McNamara đã tức
tốc mở cuộc họp. Hắn ra lệnh cho tập đoàn không quân số 7, phần lớn là F105 được trang bị tên lửa "Rắn
đuôi chuông" ra trận để rửa vết nhục. Dạo ấy, với cái biệt hiệu rất hù doạ "Thần Sấm" F105 làm khá nhiều
nước trên thế giới run sợ. Chả là, khi bay thử, chúng đã lắp thêm bộ phận tiếng động để tiếng gầm rít trở nên
ghê sợ, tiếng gầm rú làm rung mái nhà, đổ cốc chén trên bàn và nhiều trẻ em chết ngất. Báo chí Mỹ và
phương Tây đã quảng cáo rùm beng: "Đây là một hiểm hoạ không sao trừ khử được".
Vì thế, tuy bị mất 2 chiếc F8U McNamara vẫn còn sự an ủi, cho đó mới chỉ là loại máy bay của
hải quân Mỹ…Y sẽ tung ra loại át chủ bài này của không quân chắc chắn sẽ xơi tái MiG, trả thù xứng đáng
cho ngày mồng 3-4.
Trận chiến đấu tiếp theo vào ngày mồng 4 tháng 4 trên bầu trời Hàm Rồng đã diễn ra từ bối cảnh
như vậy.
Hôm ấy, ngay từ lúc nắng hồng vừa toả trên sông Mã, vùng trời Hàm Rồng đã rung chuyển, nứt
vỡ bởi tiếng bom, tiếng đạn pháo cao xạ và tiếng động cơ của ngót 100 máy bay phản lực Mỹ. Những con
quạ sắt lồng lộn trong cơn phẫn uất trả thù. Chúng rạch nát bầu trời, gầm rú hùng hổ trú hết đợt bom này đến
đợt bom khác xuống Hàm Rồng. Hàng rào xung kích của chúng dày đặc bảo vệ cho lũ cường kích ném bom.
Cùng chia lửa với các đơn vị bạn, không quân nhân dân Việt Nam lại ra trận lần thứ 2. Từ sân bay
X đoàn không quân Sao Đỏ được lệnh tung lên những biên đội chiến đấu, biên đội thứ nhất bay cao 8000m,
nghi binh thu hút bọn tiêm kích địch. Biên đội thứ 2 bay quần trên khu vực Tản Viên đề phòng địch thọc sâu
vào nội địa và yểm hộ cho các biên đội trở về. Còn biên đội thứ 3 là mũi nhọn xung kích sẽ đánh thẳng vào
lũ máy bay địch trên khu vực Hàm Rồng.
Ngay từ sớm, biên đội Trần Hanh đã sẵn sàng. Chiến thắng trận đầu của biên đội Phạm Ngoc Lan
càng như chất men say đối với cán bộ chiến sĩ toàn đoàn. Ai nấy đều phấn chấn. Sụ náo nức quyết tâm trận
này phải giành chiến thắng lớn hơn, giòn giã hơn trận trước thể hiện rất rõ ở tất cả mọi người. Trong sở chỉ
huy, các đồng chí đoàn trưởng, chính uỷ có mặt từ sáng sớm cùng với các sĩ quan thông tin, dẫn đường…
Từ lúc tiếp nhận máy bay và cũng là đó nhận cả ánh mắt thân thương tin tưởng của các đồng chí
thợ máy đén giờ, nhìn ra quang cảnh tấp nập trên sân bay, các phi công trong biên đội Trần Hanh càng cảm
thấy xúc động.
Lên khỏi đường băng, 4 chiếc MiG như 4 mũi tên lao vút đi. Mây phủ kín bầu trời. Ngay từ độ
cao 350m, biên đội đã lướt qua những cụm mây tấp dày mờ đục hơi nước. Bay về hướng chiến đấu, biên đội
phải xuyên qua 1 lớp mây dày đặc màu sữa. Vượt qua 1 tầng mây, rồi 1 tầng mù nữa thì trước mặt biên đội
đã là 1 khoảng trời nắng chói chang. Càng bay về phía Nam, mây càng mỏng dần. Hanh có cảm giác tiếng
động cơ máy bay nổ giòn giã hơn. Anh nhìn ra 4 phía. Bốn con chim én với 4 đôi cánh trắng đang hùng dũng
bay trong đội hình đẹp quá. Và dưới đôi cánh là đồng bằng sông Hồng đã hiện lên thành đường nét uốn lượn
trên khoảng trời xanh thẫm-màu xanh mát rượi của thủ đô yêu dấu. Đã bao lần bay qua khoảng trời này
nhưng hôm nay sao Hanh cảm thấy thiêng liêng khác thường.
Vẫn hướng bay quen thuộc nhưng chỉ mấy phút sau, 4 cánh én bất ngờ vòng ra phía đông nam.
Bằng đường bay được dẫn dắt rất mưu trí đó, ngay từ những phút đầu biên đội Trần Hanh đã vượt qua được
mạng lưới rada của bọn F-100 chăng kín phía Tây, bất thần xuất hiện ngay sau lưng tốp máy bay địch.
Bọn chúng đang tổ chức đợt 2 đánh phá Hàm rồng. Từ trong khoang lái nhìn ra, Trần Hanh thấy
máy bay địch như một đàn ruồi đang lao tới.
Bầu trời Hàm Rồng rung chuyển dày đặc lửa đạn. Những tên cướp trời hùng hổ điên cuồng nối
đuôi nhau lao tới trút bom. Mỗi đợt lao xuống lại thêm 1, 2 tên bị trừng phạt. Lưới lửa dày đặc từ mặt đất
tung lên biến chúng thành những cây đuốc rừng rực bốc cháy.
Tên thiếu tá Frank Becxnet dẫn đầu phi đội không dám lao thẳng về phía cầu. Hắn lệnh cho phi
đội bay cao hơn và ngoặt trái 30 độ vòng từ phía biển vào để tránh những chuỗi đạn lửa dang thi nhau bắn
vào giữa đội hình bọn bay trước. Khi Becxnet vừa kéo cần lái vào lòng cho máy bay lên cao bỗng tên số 3
ríu lưỡi kêu thất thanh:
- Ngoặt gấp! Ngoặt gấp sang phải, có MiG! MiG ở hướng 7 giờ.
Becxnet không nghe được tiếng gọi hốt hoảng đó. Chỉ có tên chỉ huy phó nghe được, nhưng hắn
phớt lờ, cười mỉa: "Không thể có MiG, MiG không thể xuất hiện 2 ngày liền trong khu vực này"
Hắn nhíu lông mày khó chịu, nhớ lại bọn không quân nguỵ hồi đầu tháng 3 thấy một tốp F-100 lại
tưởng là MiG của Bắc Việt liền báo động ầm ĩ, suýt nữa bắn nhầm vào nhau. Nhưng vừa ấn mạnh tay ga,
tăng tốc độ vượt lên phía trước quan sát, bỗng mắt hắn hoa lên sửng sốt, "MiG!", 4 chiếc MiG như 4 thanh
gươm đang lao đến.
Tên thiếu tá phi đội trưởng bây giờ mới biết. Hắn càng hốt hoảng hơn. Vừa kịp thả cần lái cho
máy bay bay bằng, 4 chiếc MiG như 4 mũi tên lao vun vút vào giữa đội hình chúng. Biên đội bay giữa 2 lớp
mây trông như 1 làn sương mù nhẹ nên bọn chúng không nghĩ tới, bởi thế ngay từ lúc đầu chúng đã lâm vào
thế bị động hoàn toàn. Nhìn qua khoang lái, Hanh thấy máy bay địch rất đông bao quanh biên đội anh. Hanh
nhíu lông mày, quyết định cho biên đội tiếp cận địch. Cả biên đội nhằm thẳng vào tốp bay đầu. Hanh vút lên
bám sát tên bay số 1. Anh đã quyết định đánh trúng đầu rắn ngay từ giây phút đầu tiên, Phạm Giấy theo rất
sát yểm hộ cho anh. Vận dụng kịp thời kinh nghiệm chiến đấu hôm qua biên đội giữ vững đội hình chiến
đấu, vừa công kích vừa yểm hộ. Hai người quyết tiêu diệt kì được tên địch đang hiện ra trước mắt: thân hình
nó mốc thếch, cổ dài ngoẵng, 2 ống lấy hơi như 2 cái bướu nối liền với đôi cánh dài và vắt về phía sau. Đôi
mắt anh thơát đỏ lên khi nhìn thấy dưới cánh của chúng lặc lè những quả bom đen trũi. Anh kéo mạnh cần
lái. Khoảng cách tên địch lại gần rất nhanh. Nó hiện nguyên hình và mỗi tích tắc càng nằm gọn trong kính
ngắm của Hanh. Lập tức ngón tay anh ấn xiết vào nút bắn. Những luồng lửa bỗng vút ra phóng tới phía máy
bay địch, một đán khói bùng lên phía cánh trái của nó. Chiếc phản lực Mỹ bị trọng thương lảo đảo, nhưng
liền tăng hết tốc lực cố lết ra biển "Mày không thể thoát được" Hanh lao vút lên quyết bám theo và tự lệnh
cho mình: "Phải vào gần nữa mới bắn! Bắn thật trúng!". Thực tế chiến đấu và kinh nghiệm bám địch của
biên đội Phạm Ngọc Lan mau chóng giúp Hanh tìm ra cách đánh có hiệu quả hơn. Anh cắt 1 đường bay có
lợi, rút ngắn dần cự ly hơn nữa. Đến khi nhìn rõ tên giặc đầu đội mũ bay trắng hếu đang hốt hoảng ngọ
nguạy trong khung kính buồng lái của nó, Hanh mới ấn mạnh tay lên nút cò. Cả 3 khẩu pháo cùng đồng loạt
nhả đạn thăng căng vào khoang lái của chiếc máy bay địch. Những mảnh kim khí văng ra loang loáng, một
cuộn khói đen phụt dài về phía sau…
…Cũng giây phút đó Lê Minh Huân và Trần Nguyên Năm theo phương án đã hiệp đồng liền
nhanh chóng chuyển luôn đội hình vào thế công kích. Hai chiếc máy bay địch (số 3 và số 4) hoảng sợ vội trút
nốt bom cho nhẹ và ngoặt trái để thoát thân.
- Mày có chạy đằng trời! - Huân quát to với tên giặc bay phía trước và hét lên trong máy vô tuyến
điện cho Năm nghe:
- Yểm hộ, tôi công kích!
Chiếc phản lực siêu âm của Mỹ choán kín trong máy ngắm. Huân bấm cò, những luồng đạn đỏ lừ
thẳng căng. Ngay từ loạt đạn đầu hết sức chính xác, anh đã quật trúng vào ngan sườn chiếc thần sấm. Tên đại
uý giặc lái Jame Makrson không kịp nhảy dù, chết ngay trên ghế.
Năn cảnh giới phía sau, thấy Huân bắn trúng, sướng quá vừa cười vừa nói rất to:
- Rơi rồi! Rất tốt, cứ thế!
Tiếng reo ấy vang vào cáp nghe của Hanh và Giấy, càng làm cho các anh thêm phấn chấn". Thế là
cả biên đội đều đã lập công, anh sung sướng cổ vũ Huân và Năm.
Đang yểm hộ cho Hanh, Giấy phát hiện một tốp máy bay địch vòng lại phía sau biên đội. Bọn này
xảo quyệt thật. Giấy báo cho Hanh biết, ròi lập tức ngoặt lại, tăng cửa dầu với tốc độ lớn nhất, lao thẳng vào
tên bay số 1. Máy bay rung nhẹ. Ba nòng pháo cùng bắn. Tên số 1 bị trúng đạn hốt hoảng lao ngay ra biển,
tên số 2 liều lĩnh xông tới. Phạm Giấy lại ngoặt máy bay lao vào, quyết không cho nó bám được biên đội
trưởng của mình. Tình bạn chiến đấu ấy càng tăng thêm sức mạnh cho Hanh. Anh biết Giấy sẵn sàng không
tiếc thân mình yểm hộ cho anh diệt địch. Hanh chợt thấy phía sau mình và bên trái có mấy chấm nhỏ đang
lách giữa 2 dải mây vẩy cá.
Thì ra lũ tiêm kích đã vội vã đến cứu nguy cho lũ cường kích. Tên thiếu tá Jame Eminit chỉ huy
bọn máy bay liền tổ chức ngay đợt phản kích quyết liệt. Phát hiện thấy máy bay của Trần Hanh, nó ra sức
bám đuôi. Khoảng cách giữa chiếc F-100 "thanh đoản kiếm" với chiếc MiG mỗi lúc 1 gần. Tín hiệu rada báo
liên tục. Eminit đặt sẵn tay lên nút phóng tên lửa. Tiếng ro ro báo hiệu, những quả tên lửa "Rắn đuôi chuông"
đã bắt được mục tiêu. Nhưng Eminit chưa vội ấn nút. Hắn quyết định khi đã phóng ra là "đối phương chỉ còn
có việc cầu Chúa" như bọn chỉ huy của hắn thường tuyên bố. Đây lại là lần đầu gặp MiG, hắn quyết phải ra
tay đích đáng để giành lấy sự kính nể đối với bọn phi công. Cái máu "anh hùng" ấy càng thúc giục Eminit
quyết để cho chiếc MiG thật gần. Đúng tới cự ly tối thiểu, Eminit mới ấn tay vào nút phóng. Hai quả tên lửa
cùng lúc lao tới chiếc MiG. Tên thiếu tá giặc lái hí hửng. Nhưng hỡi ôi! Vừa lúc 2 quả tên lửa phóng ra thì
bỗng dưng như có phép thần thông kì lạ, chiếc MiG lật ngửa và nhào ngay xuống!
Thì ra Trần Hanh phán đoán địch đã bám được đuôi mình, một tình huống mà đối với bọn phi
công Mỹ là hoàn toàn tuyệt vọng, anh không hề nao núng và nhớ lại rất nhanh những biện pháp chống tên
lửa mà tập thể đơn vị đã đề ra. Ước lượng khoảng cách, khi biết địch đã đến vị trí phóng tên lửa, lập tức anh
làm động tác kĩ thuật vô cùng táo bạo. Chiếc MiG của anh lật ngửa nhào xuống thấp. Do máy bay hạ độ cao
đột ngột, gia tốc và áp suất quá lớn, mắt anh hoa lên, ngực như bị nén chặt, tức thở. Thật là nguy hiểm. Trần
Hanh xử lý rất nhanh, anh lấy lại thăng bằng, tăng tốc cho máy bay vọt lên, phải tranh thủ chiếm độ cao, tạo
thế chủ động tiếp tục tiến công địch. Hanh kéo cần lái sát vào lòng, máy bay vọt lên cao. Tiếng Phạm Giấy
reo to:
- Một chiếc nữa cháy rồi!
Phạm Giấy đã đánh vào sườn địch yểm hộ cho anh, 1 tốp 4 chiếc nữa xuất hiện khá gần phía sau
Trần Hanh, nhưng không để chúng lợi thế, bất thần Giấy ngoặt gấp về bên phải rồi nhanh chóng xông thẳng
vào giữa đội hình địch với tốc độ khủng khiếp. Đã tới gần tầm bắn có hiệu quả, bỗng bọn địch bay tõe ra
phía dưới, chúng nó chuồn. Hơn lúc nào hết, Trần Hanh càng hiểu thế nào là yếu tố tinh thần.
Đó cũng là giây phút cuối cùng kết thúc trận đọ cánh quyết liệt của biên đội anh. Thế là chỉ trong
vòng 4 phút, bằng cuộc tiến công chớp nhoáng và hết sức táo bạo của không quân ta đã làm cho đội hình
không quân địch đông hơn gấp nhiều lần vỡ tung tóe. Hai chiếc "Thần sấm" hiện đại của bọn không lực Hoa
Kỳ mà chúng đã hết lời quảng cáo đã bị bắn gục trước mũi súng của biên đội Trần Hanh. Những chiếc khác
phải vứt bom vung vãi chạy thoát thân…
Trận đọ cánh vẫn còn tiếp tục, cho đến dịp này, thiếu tướng Trần Hanh mới kể lại đầy đủ các phần
sau đó:
"Khi kết thúc trận đánh, tôi định hạ thấp độ cao bay về. Vì làm nhiều động tác quyết liệt trong
chiến đấu, nhất là lúc tránh tên lửa địch nên la bàn vô tuyến điện bị hỏng. Nhìn ngọn núi cao phía xa, tôi
tưởng đó là điểm kiểm tra, tới gần mới biết mình nhầm. Tôi đã lạc đường. Chiếc máy bay của tôi chẳng khác
nào con tàu giữa đại dương mênh mông sóng nước mà trong tay người thuyền trưởng không có la bàn hàng
hải. Biết đi hướng nào đây? Tôi lo lắng tự hỏi. Nhìn vào các đồng hồ trước mặt thì đèn đỏ báo hết dầu. Thêm
một mối nguy cơ mới! Tôi càng bay càng đi sâu vào những dải núi trùng điệp.
Nhảy dù! Ý nghĩ này vụt xuất hiện trong óc tôi.
Lúc ấy tôi chỉ cần thu nhỏ đôi vai lại, giơ cao tay giật chiếc khoá dù là sẽ bật ra khỏi máy bay và
chiếc dù sẽ đưa tôi trở vê mặt đất. Bằng cách ấy tôi sẽ trở về an toàn hơn. Nhưng nghĩ đến việc phải phá huỷ
chiếc MiG thân yêu mà nó vừa cùng mình bắn rơi máy bay địch, phá huỷ phương tiện chiến đấu vô cùng quý
giá khi cuộc chiến đang bước vào thời kì quyết liệt, khi nhân dân đang phải chắt chiu từng đồng để đánh
giặc, mà về lấy một mình, tim tôi như có bàn tay bóp thắt lại. Ngày hôm qua, khi máy bay hết dầu, Phạm
Ngọc Lan cũng đã bình tĩnh, dũng cảm hạ cánh trên bãi cát sông Đuống thành công. Hình ảnh ấy thoáng hiện
nhanh trong óc tôi. Sau mấy giây cân nhắc tôi quyết định không nhảy dù, mặc dù trên địa hình rừng núi, sẽ
nguy hiểm hơn nhiều. Tôi vẫn bám lấy ý định giữ máy bay, giữ lấy phương tiện chiến đấu lúc này cũng là đọ
cánh, một cuộc đọ cánh quyết liệt nữa là khác. Và tôi cũng rất tin vào tay lái của mình.
Tôi cho máy bay lượn 1 vòng, tìm một thung lũng gần nhất. Kia rồi, trước mặt tôi hiện ra một
khoảng trống nhỏ ở sâu dưới dốc núi và cây rừng. Tôi liền cho máy bay lướt xuống! Nhưng tốc độ máy bay
còn lớn, dưới đó lại có nhiều vật chướng ngại, tôi vội kéo cần lái cho máy bay vượt qua tìm cách hạ xuồn
thung lũng thứ 2 nằm ở triền núi phía sau. Khoảng trời nhỏ bỗng rung lên như giông bão. Dưới mắt tôi, mặt
đất ập đến rất nhanh. Tâm trí tôi tập trung cao độ về phía trước. Mọi sinh lực dồn cả vào tay lái điều khiển
cho máy bay vượt qua được khoảng trống nhỏ. Vừa được một quãng, lại thấy con suối nhỏ chắn ngang, tôi
liền kéo mạnh cần lái sát vào bụng, như con ngựa chiến bất thình lình tung vó, chiếc MiG ngóc cao đầu lên
lướt sang bên kia suối. Vẫn chưa hết nguy hiểm. Lại thêm một lùm cây nữa sừng sững. Tuy tốc độ chỉ còn
dưới 100km/giờ, nhưng máy bay xông vào đấy thì có khác gì chiếc ô tô đang phóng nhanh đâm đầu vào lô
cốt. Lần nữa, tôi lấy hết sức đạp chân phải điều khiển bánh lái hướng cho máy bay ngoặt sang ngang. Rất
may có thêm bụi tre ngà đã níu một bên cánh phải lại, nên tuy bánh lái hướng đã hết tác dụng vì tốc độ máy
bay còn lại quá nhỏ, do đó đã vượt qua được nguy hiểm cuối cùng…
Sau phút giây đó tôi bị ngất xỉu đi trong khoang lái. Tôi đã phải trải qua thử thách quyết liệt, căng
thẳng nhất từ trước đến nay. Phần nữa, do máy bay bị chấn động mạnh, khi tỉnh dậy tôi mới thấy rõ hơn: máy
bay của mình đang nằm trên một thửa ruộng xanh rờn, và xung quanh là một rừng hoa trẩu. Ôi mặt đất, mặt
đất thân yêu! Biết là mình còn sống, tôi yên tâm ấn mạnh tay vào nấc mở nắp khoang lái. Không khí mát dịu
ùa vào. Trên đầu tôi lúc này là cả khoảng không thoáng đãng, yên bình. Tôi với tay bám chặt lấy cửa khoang
lái cố gắng trườn xuống đất. Đến bây giờ tôi mới hoàn toàn tỉnh táo.
Nghĩ lại những phút giây vừa rồi, tôi thấy lạ cả với chính mình. Một việc làm ngoài sách vở. khi
học ở trường. đó là chuyện nghiêm cấm. Bình thường tôi cũng không nghĩ rằng mình có thể làm được. Thì ra
ở lĩnh vực nào cũng có điều ngoại lệ. Và chính trong hiểm nguy, ý chí, trí tuệ của con người lại bổ xung cho
lý thuyết.
Trước khi tạm xa chiếc MiG thân yêu của mình, tôi không quên tháo cuộn phim ghi lại kết quả
trận đánh ở chiếc máy ảnh tự động trong cảm giác say say mùi hoa trẩu. Từ giây phút đó, hương vị mùi hoa
trẩu đã in sâu vào kỉ niẹm đẹp của tôi.
Tôi thận trọng bước đi giữa những hàng hoa trẩu, lòng cồn cào với bao ý nghĩ: "các đồng chí
Giấy, Huân, những người anh em thân thiết trong biên đội bây giờ ra sao? Các đồng chí đó đều đã chiến đấu
rất dũng cảm và chắc chắn bắn rơi được máy bay Mỹ. Nhưng đã về được đến sân bay chưa? ai còn ai mất?
Còn bây giờ ở sở chỉ huy và các đơn vị chắc các đồng chí đang lo lắng cho tôi vô cùng. những gương mặt
thân yêu đang đăm chiêu chờ đợi. Bao lời gọi thắm thiết đã phát lên không trung với hy vọng cuối cùng là tôi
còn trở về được với đồng đội. Tôi ước ao lúc này có phép thần thông để báo về cho các đồng chí ở nhà. Cả
Xuyến, bé Hà yêu quý của tôi nữa. Hẳn Xuyến không biết hôm nay tôi đã ra trận. nhưng tôi tin là vợ người
lái, Xuyến đã chờ từ lâu những trận đọ cánh của chúng tôi… và Xuyến thấp thỏm lo cho tôi cả trong giấc
ngủ. Xuyến bảo: mỗi khi nghĩ đến tôi, cô lại thơm lên đôi má bé Hà và ôm chặt con vào lòng, ngắm mãi
khuân mặt và đôi mắt mà ai cũng bảo giống tôi. Tuy Xuyến không nói ra, nhưng tôi biết, đôi lúc tim Xuyến
thắt lại khi chợt nghĩ tới lúc nào đó chỉ còn được thấy tôi qua gương mặt bé Hà. Tôi thầm mong Xuyến xua
đuổi ngay ý nghĩ dại dột ấy đi…
Trần Hanh không biết rằng từ nãy đến giờ đã có tới 10 đôi mắt tinh tường cùng 5 họng súng đang
bám sát anh, bất thần 5 bóng người ập đến hô lớn:
- Giơ tay lên!
Anh giật mình, nhưng lại trấn tĩnh ngay. Với khẩu hiệu "quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược!" vừa nhìn thấy, anh đã đoán biết những nòng súng chĩa về phía mình là của ai. Anh vừa làm theo lệnh
vừa ôn tồn trình bày. Tấm biển đỏ dính trên ngực anh với dòng chữ "Không quân nhân dân Việt Nam" và
ngôi sao vàng bắt đầu có sức thuyết phục, những đôi mắt xung quanh đang bốc lửa, bỗng dịu xuống. Càng
thay đổi hơn khi nghe theo lời đề nghị của anh là "xin cho nguỵ trang máy bay ngay". Tuy vậy, đồng chí chỉ
huy dân quân cảnh giác vẫn tiếp tục hỏi. Giữa lúc đó, huyện đội phó, quần xắn đến đàu gối, chân đầy bùn, rẽ
đám đông đi vào. Đồng chí đó ôm chầm lấy anh rồi quay ra báo cho mọi người biết: Đây là chiến sĩ lái máy
bay của Bác Hồ. Lập tức không khí thay đổi hẳn. Anh bị xiết chặt trong vòng tay mọi người.
Tin về "Khăm -cô-lơi" (người nhà trời) của Bác Hồ bắn rơi máy bay Mỹ hạ xuống bản mình
truyền nhanh đi khắp núi rừng. Một ông ké có chòm râu bạc vượt 2 quả núi cao đem đến 1 cái gùi đựng toàn
trứng gà, gạo nếp, chuối tiêu bắt anh phải nhận bằng được. Khác với trí tưởng tượng của cụ lúc ra đi: "Người
nhà trời" diện mạo cũng không có gì phi thường, trái lại cũng hiền lành như trai bản. Trên chiếc nhà sàn nơi
anh tạm nghỉ, dân bản kéo đến mỗi lúc một đông. Nhiều mế nắn tay, vuốt áo anh cảm động rưng rưng nước
mắt, bắt anh phải nhận bằng được những món ăn ngon nhất của nhà mình. Các cô gái, có cô từ tít tận cuối
bản cũng hối gả chạy tới lấp ló hồi lâu rồi sung sướng cười vui khi đã nhìn rõ được "con trai nhà trời"…
Ở cơ quan huyện đội, niềm hân hoan cũng không kém. Cán bộ, chiến sĩ đón anh như đón ngừơi
thân đi xa trở về. Bỗng một người dáng vóc cao to, nước da nâu sáng chạy tới reo lên:
- Trần Hanh 48 phải không? Mình ở 64 đây!
- Chao! anh Hà Quế!
Anh nhận ra ngay và 2 chiến sĩ ở đại đoàn Đồng Bằng trước đây ôm chặt lấy nhau. Cả 2 cùng hết
sức xúc động. Không ngờ trung đoàn trưởng trung đoàn 64 cũ nay lại là tỉnh độ trưởng tỉnh đội Nghệ an.
Anh cũng không ngờ rằng đồng chí phi công mình đang đi đón lại là Trần Hanh - bạn chiến đấu cũ. Mấy
phút sau chừng như nhớ ra, anh mới giật mình gọi đồng chí cán bộ đi cùng lại bảo:
- Điện về báo cáo ngay lên Bộ: Trần Hanh đã vè tới đây an toàn, mạnh khỏe!
Không lâu, dòng điện tín vắn tắt ấy đã làm dấy lên niềm vui truyền nhanh đi khắp đoàn không
quân Sao Đỏ.
Trong bài viết của tên Tướng không quân Mỹ thú nhận chua chát: "Ngày 4 tháng 4 là ngày đen tối
của không lực Hoa kỳ"
- Dẫu sao, đó mới chỉ là trận đọ cánh mở đầu thôi, chứ sau này, anh em hơn chúng tôi nhiều.
Để chứng minh, anh dẫn ra một loạt các trận đánh hay, các phi công đánh giỏi như Nguyễn Văn
Cốc, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Tiến Sâm, Nguyễn Văn Bảy, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Đức Soát…nhưng
rồi câu chuyện lại quay về trận đọ cánh đầu tiên khi đọc lời thú nhận của tướng Mo-ơ tại buổi họp báo ở Sài
Gòn tối 4-4-1965:
"Các máy bay MiG gắn phù hiệu Bắc Việt đã dùng canon hạ tại chỗ 2 phi cơ phản lực siêu âm của
Hoa kỳ ngày chủ nhật 4-4. Chúng tôi không bắn rơi được chiếc nào vì…"
Vì gì? Khi bị các nhà báo hỏi dồn, Mo-ơ đã đổ lỗi cho thiên nhiên, nói rằng "tại thời tiết xấu"
Chính Black Bius viên đô đốc hải quân Mỹ, kẻ đã cùng có công trong việc để 4 chiếc máy bay
của cả hải quân và không quân Mỹ bị mất tích trong 2 ngày 3 và 4 tháng 4 ghi lại chuyện đó. Trong hồi kí
Bius còn viết "Sự lỡ lời của tướng Mo-ơ (vì thời tiết xấu đâu chỉ có 1 bên phải chịu?) cùng với sự kiện đó là
đề tài hấp dẫn đối với giới báo chí. Hôm sau, nhiều tờ báo ở phương Tây kể cả 1 số báo ở Hoa Kỳ đã trương
lên những hàng tít lớn: SỨC MẠNH KHÔNG THỂ TƯỞNG TƯỢNG ĐƯỢC CỦA KHÔNG LỰC HOA
KỲ BỊ KHÔNG QUÂN BẮC VIỆT CHỌC TIẾT!"… Cũng qua những kí giả thóc mách ấy mà sau đó,
chúng tôi đã được biết, Đêm 4-4 hôm ấy, nhiều Việt kiều ta ở Pháp, ở Nhật đã đến gõ cửa nhà nhau báo tin :
"Bà con ơi! Biết tin chưa? Ta có không quân rồi. Không quân ta bắn rơi được máy bay Mỹ rồi! …"
Tài liệu về các Aces nổi tiếng nhất của Việt Nam
Ai là Át? Là người bắn rơi từ 5 máy bay trở lên của đối phương
trong các trận không chiến
Danh sách Ace trong chiến tranh Việt Nam
The following is a list of flying aces of the Vietnam War.

Tên phi công Nước Số máy bay
đã hạ

Nguyễn Văn Cốc VNDCCH 9
Nguyễn Hồng Nhị VNDCCH 8
Pham Thanh Ngan VNDCCH 8
Mai Văn Cuong VNDCCH 8
Dang Ngoc Ngu VNDCCH 7
Nguyễn Van Bay VNDCCH 7
Nguyễn Duc Soat VNDCCH 6
Nguyễn Ngoc Do VNDCCH 6
Nguyễn Nhat Chieu VNDCCH 6
Vu Ngoc Dinh VNDCCH 6
Le Thanh Dao VNDCCH 6
Nguyễn Danh Kinh VNDCCH 6
Nguyễn Tien Sam VNDCCH 6
Le Hai VNDCCH 5
Luu Huy Chao VNDCCH 5
Nguyễn Van Nghia VNDCCH 5
Vadim Petrovich Shchbakov Liên Xô ?
Capt. Charles B. "Chuck" DeBellevue và LTJG William Mỹ 5
P. Driscoll USA Hải quân Mỹ
Capt. Steve Ritchie Mỹ 5
Capt. Jeff Feinstein Mỹ 5
Danh sách Ace trong thế chiến thứ 2 bắn hạ 200 máy bay trở lên
The following is a list of flying aces of the WW II.

Tên Nước Quân chủng Số máy bay
đã hạ

Hartmann Erich "Bubi" Germany Luftwaffe 352
Barkhorn, Gerhard Barkhorn Germany Luftwaffe 301

Rall, Günther Rall Germany Luftwaffe 275

Kittel, Otto Kittel Germany Luftwaffe 267
Nowotny, Walter Nowotny Germany Luftwaffe 258
Batz, Wilhelm Batz Germany Luftwaffe 237
Rudorffer, Erich Rudorffer Germany Luftwaffe 222 (12 Me-
262)
Bär, Heinz Bär Germany Luftwaffe 220 (16 Me-
262)
Graf, HermannHermann Graf Germany Luftwaffe 212
Ehrler, Heinrich Ehrler Germany Luftwaffe 208 (8 Me-
262)
Weissenberger, Theodor Weissenberger Germany Luftwaffe 208 (8 Me-
262)
Philipp, Hans Philipp Germany Luftwaffe 206
Schuck, Walter Schuck Germany Luftwaffe 206 (8 Me-
262)
Hafner, Anton Hafner Germany Luftwaffe 204
Lipfert, Helmut Lipfert Germany Luftwaffe 203
Danh sách Ace trong thế chiến thứ 2 bắn hạ từ 150-200 máy bay
Tên Nước Quân chủng Số máy bay đã hạ
Walter Krupinski Germany Luftwaffe 197
Hackl, AntonAnton Hackl Germany Luftwaffe 192
Brendel, JoachimJoachim Brendel Germany Luftwaffe 189
Stotz, MaxMax Stotz Germany Luftwaffe 189
Kirschner, JoachimJoachim Kirschner Germany Luftwaffe 188
Brandle, KurtKurt Brändle Germany Luftwaffe 180
Josten, GüntherGünther Josten Germany Luftwaffe 178
Steinhoff, JohannesJohannes Steinhoff Germany Luftwaffe 176
Reinert, Ernst-WilhelmErnst-Wilhelm Reinert Germany Luftwaffe 174
Schack, GüntherGünther Schack Germany Luftwaffe 174
Lang, EmilEmil Lang Germany Luftwaffe 173
Schmidt, HeinzHeinz Schmidt Germany Luftwaffe 173
Ademeit, HorstHorst Ademeit Germany Luftwaffe 166
Wilcke, Wolf-DietrichWolf-Dietrich Wilcke Germany Luftwaffe 162
Marseille, Hans-JoachimHans-Joachim Marseille Germany Luftwaffe 158
Sturm, HeinrichHeinrich Sturm Germany Luftwaffe 158
Thyben, GerhardGerhard Thyben Germany Luftwaffe 157
Beisswenger, HansHans Beisswenger Germany Luftwaffe 152
Düttmann, PeterPeter Düttmann Germany Luftwaffe 152
Gollob, Gordon M.Gordon M. Gollob Germany Luftwaffe 150
Phi công Đức đúng là number one
Danh sách Ace trong thế chiến thứ 2 bắn hạ từ 130-150 máy bay
Tên Nước Quân chủng Số máy bay đã hạ
Fritz Tegtmeier Germany Luftwaffe 146
Wolf, AlbinAlbin Wolf Germany Luftwaffe 144
Tanzer, KurtKurt Tanzer Germany Luftwaffe 143
Muller, Friedrich-KarlFriedrich-Karl Müller Germany Luftwaffe 140
Gratz, KarlKarl Gratz Germany Luftwaffe 138
Setz, HeinrichHeinrich Setz Germany Luftwaffe 138
Trenkel, RudolfRudolf Trenkel Germany Luftwaffe 138
Schall, FranzFranz Schall Germany Luftwaffe 137 (14 Me-262)
Wolfrum, WalterWalter Wolfrum Germany Luftwaffe 137
Fassong, Horst-Günther vonHorst-Günther von Fassong Germany Luftwaffe 136
Fonnekold, OttoOtto Fönnekold Germany Luftwaffe 136
Weber, Karl-HeinzKarl-Heinz Weber Germany Luftwaffe 136
Müncheberg, JoachimJoachim Müncheberg Germany Luftwaffe 135
Waldmann, HansHans Waldmann Germany Luftwaffe 134
Grislawski, AlfredAlfred Grislawski Germany Luftwaffe 133
Wiese, JohannesJohannes Wiese Germany Luftwaffe 133
Borchers, AdolfAdolf Borchers Germany Luftwaffe 132
Dickfeld, AdolfAdolf Dickfeld Germany Luftwaffe 132
Clausen, ErwinErwin Clausen Germany Luftwaffe 132
Lemke, WilhelmWilhelm Lemke Germany Luftwaffe 131
Hoffmann, GerhardGerhard Hoffmann Germany Luftwaffe 130
"Chủ nghĩa xã hội hay là chết"
______________________
Danh sách Ace trong thế chiến thứ 2 bắn hạ từ 100-129 máy bay
Tên Nước Quân chủng Số máy bay đã hạ
Franz Eisenach Germany Luftwaffe 129
Dahl, WaltherWalther Dahl Germany Luftwaffe 129
Sterr, HeinrichHeinrich Sterr Germany Luftwaffe 129
Dörr, FranzFranz Dörr Germany Luftwaffe 128
Rademacher, RudolfRudolf Rademacher Germany Luftwaffe 126 (8 Me-262)
Zwernemann, JosefJosef Zwernemann Germany Luftwaffe 126
Hrabak, DietrichDietrich Hrabak Germany Luftwaffe 125
Ettel, Wolf-UdoWolf-Udo Ettel Germany Luftwaffe 124
Ihlefeld, HerbertHerbert Ihlefeld Germany Luftwaffe 123 (+7 in Spain)
Tonne, WolfgangWolfgang Tonne Germany Luftwaffe 122
Marquardt, HeinzHeinz Marquardt Germany Luftwaffe 121
Schnaufer, Heinz-WolfgangHeinz-Wolfgang Schnaufer Germany Luftwaffe 121 (all at night)
Weiß, RobertRobert Weiß Germany Luftwaffe 121
Leie, ErichErich Leie Germany Luftwaffe 121
Obleser, FriedrichFriedrich Obleser Germany Luftwaffe 120
Beerenbrock, Franz-JosefFranz-Josef Beerenbrock Germany Luftwaffe 117
Birkner, Hans-JoachimHans-Joachim Birkner Germany Luftwaffe 117
Norz, JakobJakob Norz Germany Luftwaffe 117
Oesau, WalterWalter Oesau Germany Luftwaffe 117
Wernicke, HeinzHeinz Wernicke Germany Luftwaffe 117
Lambert, AugustAugust Lambert Germany Luftwaffe 116
Molders, WernerWerner Mölders Germany Luftwaffe 115 (incl. 14 in Spain)
Crinius, WilhelmWilhelm Crinius Germany Luftwaffe 114
Schröer, WernerWerner Schröer Germany Luftwaffe 114
Dammers, HansHans Dammers Germany Luftwaffe 113
Korts, BertholdBerthold Korts Germany Luftwaffe 113
Lent, HelmutHelmut Lent Germany Luftwaffe 113
Buhlingen, KurtKurt Bühlingen Germany Luftwaffe 112
Ubben, KurtKurt Ubben Germany Luftwaffe 110
Woidich, FranzFranz Woidich Germany Luftwaffe 110
Seiler, ReinhardReinhard Seiler Germany Luftwaffe 109
Bitsch, EmilEmil Bitsch Germany Luftwaffe 108
Hahn, HansHans Hahn Germany Luftwaffe 108
Vechtel, BernhardBernhard Vechtel Germany Luftwaffe 108
Bauer, ViktorViktor Bauer Germany Luftwaffe 106
Lucas, WernerWerner Lucas Germany Luftwaffe 106
Lutzow, GuntherGünther Lützow Germany Luftwaffe 105
Galland, AdolfAdolf Galland Germany Luftwaffe 104 (7 Me-262)
Boremski, Eberhard vonEberhard von Boremski Germany Luftwaffe 104
Sachsenberg, HeinzHeinz Sachsenberg Germany Luftwaffe 104
Grasser, HartmannHartmann Grasser Germany Luftwaffe 103
Freytag, SiegfriedSiegfried Freytag Germany Luftwaffe 102
Geisshardt, FriedrichFriedrich Geisshardt Germany Luftwaffe 102
Mayer, EgonEgon Mayer Germany Luftwaffe 102
Ostermann, Max-HellmuthMax-Hellmuth Ostermann Germany Luftwaffe 102
Wurmheller, JosefJosef Wurmheller Germany Luftwaffe 102
Miethig, RudolfRudolf Miethig Germany Luftwaffe 101
Priller, JosefJosef Priller Germany Luftwaffe 101
Wernitz, UlrichUlrich Wernitz Germany Luftwaffe 101
Muller, RudolfRudolf Müller Germany Luftwaffe 101
______________________
Big Mother
CH-54A #67-18418 from the 478th Heavy Helicopter Company at Da Nang - October 1968.
VHPA member Jim Oden provided these photos that describe one of the most interesting helicopter stories
from Vietnam. The full story appeared in the Nov/Dec, 1996 VHPA Newsletter. Jim deployed with the 478th
as part of the 1st Cav in 1965 and served one year with them. Prior to his second tour, again with the 478th,
he went to Ft. Rucker as part of a joint Army/Air Force effort to use surplus 10,000-lb. bombs to blow instant
LZs. They developed the drop tactics and techniques. In Sep 1968 we joined the 478th HHC, the UPTIGHT
HURRICANES, based at Red Beach, north of Da Nang. Though they continued to support the 1st Air Cav
Division, they were controlled by III MAF. Their first drop was west of Hue where the ground commanders
wanted it placed on top of a tree covered hill. What a blast! The concussion shook the helicopter as if all the
blades were out of track! Accuracy again left something to be desired as he believes they missed the hilltop
by 120 meters. Eventually they dropped three more bombs, all near the western side of the DMZ in late
September or early October. Only one, and it fell on a hillside, was, after a little clearing, used as an LZ. It
was still was about 90 meters from where they wanted it. There were five people in the Skycrane: Jim was
the AC, CWO Merle Handley the other pilot, CWO Marc Wilson the bombardier, SP5 Johnson the C.E., plus
an Air Force observer name not recorded. The Air Force man took many of the pictures and gave copies to
Jim. This collage was the November photo for this calendar.
______________________
i

Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm”
S. Sherman & Diego Fernando Zampini

Họ đã trở thành “Át” trên những chiếc tiêm kích Xô-viết
Ngày 23 tháng Tám 1967, lúc 14 giờ, một trận tập kích đường không nữa của Không lực Hoa Kỳ
vào thủ đô ở miền Bắc của Việt Nam đang được tiến hành.

Máy bay tiêm kích MiG-17 “Fresco” của Không quân nhân dân Việt Nam
Do lực lượng được phái đi rất đông (40 máy bay, bao gồm các máy bay Thần Sấm F-105 mang
theo bom, F-105F làm nhiệm vụ chế áp các dàn rađa điều khiển tên lửa SAM của Việt Nam và các Con Ma
F-4 đi làm nhiệm vụ hộ tống), tổ bay của một trong những chiếc F-4D, Charles R. Tyler (phi công) và
Ronald M. Sittner (sĩ quan hoả lực) của phi đội chiến thuật 555 thuộc phi đoàn chiến thuật 8, cảm thấy rất tự
tin. Họ không trông đợi sự tiếp đón của MiG, có vẻ như đã bị tê liệt sau những trận không chiến ác liệt chống
lại F-4 của Phi đoàn 8 cuối tháng Năm và đầu tháng Sáu. Tyler nghe trong radio tiếng của một phi công của
chiếc F-105D (Elmo Baker) thông báo rằng anh ta bị MiG tấn công và phải nhảy dù. Tyler còn đang cố tìm
xem đồng đội đang ở đâu thì một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả máy bay, Tyler mất khả năng điều khiển
nó và bị bắn bật ra ngoài. Treo lơ lửng dưới những múi dù, anh ta nhìn thấy chiếc F-4 bốc cháy rơi xuống
rừng rậm, còn người sĩ quan hoả lực thì không thấy nhảy dù ra - Sittner đã bị giết bằng chính quả tên lửa đã
bắn vào máy bay. Cả Tyler và Baker đều bị bắt bởi lính Bắc Việt ngay khi tiếp đất.

Máy bay tiêm kích MiG-21 “Fishbed” của Không quân nhân dân Việt Nam
Cả hai máy bay Mỹ đều bị bắn hạ bởi tên lửa không đối không R-3S Atoll của hai chiếc MiG-
21PF “Fishbed” (Tên Mỹ đặt cho MiG-21) của Trung đoàn 921 của Quân chủng Không quân (Lực lượng
không quân Việt Nam) lái bởi Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc. Hai chiếc F-4 khác cũng bị hạ, mà
không đi kèm bất kỳ thiệt hại nào của MiG. Quả là một ngày chiến đấu thành công của họ.
Máy bay F-4 “Con Ma” của Không lực Hoa Kỳ
Trong khi chỉ có hai phi công Mỹ trở thành Át trong chiến tranh Việt Nam, Randy "Duke"(1)
Cunningham (Hải quân Hoa Kỳ) và Steve Ritchie (Không lực Hoa Kỳ) thì có đến 16 phi công Việt Nam đạt
được danh hiệu tự hào đó. Nguyễn Văn Cốc là Át chủ bài dẫn đầu của nhóm các phi công này, với thành tích
9 máy bay Mỹ (7 máy bay và 2 chiếc “xe trên trời không người lái” Firebees). Trong số 7 chiếc của anh, có 6
chiếc được chính thức xác nhận bởi Không lực Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể ghi thêm vào đó một chiếc
thứ 7 nữa, chiếc F-102A của phi công Mỹ Wallace Wiggins (chết) bị hạ ngày 3 tháng Hai năm 1968, được
kiểm tra chính xác bởi Không quân Việt Nam. Bỏ qua hai “con ong ngớ ngẩn” không người lái, thì Nguyễn
Văn Cốc vẫn là phi công “đỉnh” nhất trong chiến tranh trên bầu trời Bắc Việt vì không có bất cứ một phi
công Mỹ nào đạt được thành tích hạ trên 5 chiếc.
Vậy thì tại sao các phi công Việt Nam lại ghi được nhiều bàn thắng hơn các phi công Mỹ? Có lẽ
lý do đầu tiên là số lượng. Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng
tương đương phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 phi công. Sáu “tiểu đội” phi công
dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần Sấm F-
105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoa Kỳ (F-8, A-
4 và F-4) từ tàu sân bay “Yankee Station” trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt
động không kích (EB-6B - gây nhiễu; HH-53 - cứu phi công nhảy dù; “Skyraider” yểm hộ hai loại trên).

Tàu sân bay “Yankee Station”
Máy bay A-4 của Hải quân Hoa Kỳ

Máy bay F8E-Crusader của Hải quân Hoa Kỳ

Skyraider

Trực thăng HH-53
Như vậy, phi công Việt Nam rõ ràng là “bận rộn” hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được
mục tiêu để diệt hơn, và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần “chiến đấu đến khi hy sinh”. Họ không cần
phải về nhà, vì đây đã là nhà của họ rồi - Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về
thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh hoặc trăm thứ việc linh tinh khác. Khi quay lại,
không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu.

Phi công tiêm kích MiG-17của Việt Nam đang chạy tới máy bay để xuất kích đánh chặn máy bay
Mỹ
Vậy thì đặc điểm của chiến thuật của hai bên là gì? Bởi vì Không lực Hoa Kỳ đã không tấn công
tiêu diệt được các dàn rađa và trung tâm chỉ huy bay của Bắc Việt (lúc đó họ cho rằng được sự cố vấn của
các chuyên gia quân sự Liên Xô hoặc Trung Quốc), người Việt Nam đã dẫn các máy bay tiêm kích đánh chặn
của họ một cách tài tình với chiến thuật “du kích”, mai phục trên bầu trời. Những chiếc MiG nhanh như cắt
và bất ngờ tấn công vào đội hình không quân Hoa Kỳ từ nhiều hướng khác nhau (thông thường, MiG-17
đánh vỗ mặt, MiG-21 đánh từ phía sau). Sau khi bắn rơi một vài chiếc trong đội hình Mỹ, bắt các máy bay
cường kích F-105 phải hấp tấp ném bom trước khi đến mục tiêu, không chờ đợi sự phản ứng của đối phương,
các máy bay MiG biến mất. Chiến thuật “không chiến du kích” của không quân Việt Nam đã rất thành công.

Máy bay F-105D ”Thần Sấm” của Không lực Hoa Kỳ
Chiến thuật này nhiều khi lại được sự hậu thuẫn của chính những thói quen thủ cựu đến kỳ quặc
của không lực Hoa Kỳ. Ví dụ, vào cuối năm 1966, đội hình tấn công của F-105 đã bay hàng ngày ở một giờ
cố định, trên một đường bay cố định và dùng những mật hiệu gọi nhau trong khi bay không thay đổi, lặp đi
lặp lại trong radio. Các chỉ huy không quân Bắc Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội: vào tháng Chạp năm 1966,
các phi công MiG-21 của Trung đoàn 921 đã chặn được tụi Thần Sấm trước khi họ gặp được các tốp F-4 hộ
tống, bắn rơi 14 chiếc F-105 mà chẳng mất chiếc nào. Đợt chiến đấu này kết thúc vào ngày 2 tháng Giêng
năm 1967 khi Đại tá Robin Olds tiến hành chiến dịch “Bolo”.

Nhân viên kỹ thuật mặt đất Việt Nam đang chuẩn bị cho chuyến xuất kích của hai chiếc MiG-
21PF (Trung đoàn không quân tiêm kích 921)
Về huấn luyện
Giữa thập kỷ 1960, các phi công Mỹ được tập trung huấn luyện sử dụng tên lửa không đối không
như các loại AIM-7 Sparrow (dẫn đường bằng rađa) và AIM-9 (dẫn đường bằng hồng ngoại) để giành chiến
thắng trong không chiến. Tuy nhiên, họ đã “quên” rằng người phi công ngồi trong khoang lái quan trọng hơn
vũ khí họ sử dụng rất nhiều. Nhưng không quân Việt Nam rất biết điều đó, họ huấn luyện và cùng với các phi
công của họ khai thác tính năng thế mạnh của những chiếc MiG 17, 19 và 21: nhanh nhẹn, cơ động, sử dụng
lối đánh gần, khi mà những chiếc Con Ma và Thần Sấm hoàn toàn bất lực. Chỉ cho đến năm 1972, khi
chương trình “Top Gun” cải thiện kỹ năng không chiến của các phi công Mỹ trong Hải quân Hoa Kỳ như
Randall Cunningham, và sự xuất hiện của chiếc F-4E tích hợp khẩu cà-nông 20mm “Núi lửa” (Vulcan) thì
tình hình mới được cải thiện.
Cuối cùng, với mật độ đông đúc máy bay Mỹ trên bầu trời, với cái nhìn của các phi công Việt
Nam thì đó là một “chiến trường giàu mục tiêu”, còn với các phi công Mỹ thì Việt Nam là một “mảnh đất
nghèo đói”. Các phi công Mỹ không có đủ mục tiêu để có thể san bằng tỷ số, bởi vì làm gì có chiếc MiG nào
ở xung quanh mà tiêu diệt! Thời đó, Không quân Việt Nam chưa bao giờ có quá 200 chiếc máy bay chiến
đấu.
Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra nhiều Át Việt Nam hơn là Át Hoa Kỳ, và tạo điều kiện cho các
phi công Át Việt Nam ghi được nhiều bàn thắng hơn các đối thủ Mỹ. Nói một cách chính thức thì có 16 phi
công Át Việt Nam trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam (13 người là phi công MiG-21, chỉ có 3 người là
phi công MiG-17 và không có Át MiG-19). Trong danh sách dưới đây, con số trong ngoặc đơn ở cột “Chiến
công” là số liệu được Không lực Hoa Kỳ chính thức xác nhận, và do đó trên thực tế số “bàn thắng” có thể
cao hơn.
Các phi công Át MiG-17 và MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam:
Phi công Át chủ bài của Không quân Việt NamChiến công (*)Chi tiếtTrung đoàn không quân tiêm kíchMáy
bayNguyễn Văn Cốc 9 (7)2 F-4D, 1 F-4B, 2 F-105F, 1 F-105D và 1 F-102A 921MiG-21PFNguyễn Hồng
Nhị 8 (3)1 UAV, 1 F-4D, 1 F-105D. Bị bắn rơi một lần. 921MiG-21Phạm Thanh Ngân 8 (1)1 RF-101C
921MiG-21F-13Mai Văn Cương 8 (?)921MiG-21Đặng Ngọc Ngữ 7 (1)1 F-4C (22 tháng Năm 1967)
921MiG-21Nguyễn Văn Bảy 7 (5)2 F-8, 1 F-4B, 1 A-4C và 1 F-105D 923MiG-17FNguyễn Đức Soát 6 (5)3
F-4E, 1 F-4J, 1 A-7B 927MiG-21PFMNguyễn Ngọc Độ6 (2)1 F-105F, 1 RF-101C 921MiG-21Nguyễn Nhật
Chiêu 6 (2)1 F-4 (trên MiG-17), 1 F-105D 921MiG-17 & MiG-21Vũ Ngọc Đỉnh 6 (5)3 F-105D, 1 F-4D, 1
HH-53C 921MiG-21Lê Thanh Đạo 6 (2)1 F-4D, 1 F-4J 927MiG-21PFMNguyễn Danh Kính 6 (3)1 F-105D,
1 EB-66C, 1 UAV 921MiG-21Nguyễn Tiến Sâm6 (1)1 F-4E 927MiG-21PFMLê Hải6 (2)1 F-4C, 1 F-4B
923MiG-17FLưu Huy Chao 6 (1)1 RC-47 606 ACS 923MiG-17FNguyễn Văn Nghĩa5 (1)- 927MiG-
21PFM(*) Trong ngoặc là con số dc ghi nhận chính thức trong báo cáo thiệt hại của Hoa Kỳ.

Ba phi công Át của Việt Nam: (từ trái sang phải)Nguyễn Văn Bảy (7), Nguyễn Văn Cốc (9) và
Nguyễn Đức Soát (6)
Phải nói thêm rằng, đây là những chiến công của các phi công dũng cảm, các dũng sĩ trên bầu trời
đã phải đối mặt với một lực lượng không quân hùng mạnh nhất thế giới để bảo vệ Tổ quốc họ, và họ rất biết
rằng mình đang đối mặt với ai.
Đại tá Toon là ai?
Người đọc Hoa Kỳ rất có thể đã từng nghe về người phi công Át huyền thoại của Việt Nam, đại tá
Toon (hoặc Tomb). Nhưng vì sao ông không có trong danh sách ở đây? Bởi vì ông ta đúng là chỉ có trong
“huyền thoại”. Chẳng có phi công nào là Đại tá Toon của Không quân Việt Nam, ông ta là nhân vật tưởng
tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý
của các phi công Mỹ, đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những
“nghệ sĩ sôlô” ném bom đơn độc ban đêm trong chiến tranh thế giới II được gọi là “máy giặt Sác-li” vậy.
NGUYỄN VĂN BẢY
Khi Trung đoàn không quân tiêm kích 923 được thành lập ngày 7 tháng Chín năm 1965, Nguyễn
Văn Bảy là một trong những học viên được lựa chọn để học lái MiG-17 Fresco. Khoá học kết thúc tháng
Giêng năm 1966, và người trung uý trẻ tuổi nhanh chóng được tham gia vào cuộc đối mặt với Không lực
Hoa Kỳ.
Ngày 21 tháng Giêng năm 1966, bốn chiếc MiG-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923
“túm được” một chiếc máy bay trinh sát RF-8A cùng với mấy gã hộ vệ F-8 Crusader (Hiệp sĩ thánh chiến)
của phi đội 211 Hoa Kỳ. Mặc dù đội “Hiệp sĩ thánh chiến” bắn rơi được hai chiếc MiG, Nguyễn Văn Bảy
vẫn ghi được bàn thắng đầu tiên của mình bằng một chiếc F-8E của Cole Black, người sau đó nhảy dù và bị
bắt làm tù binh. Quan trọng hơn, các phi công Việt Nam đã lập được chiến công của họ: Bảy và người chỉ
huy, phi công Phan Thành Trung trong vai trò của người chỉ huy đội đã bắn hạ một chiếc RF-8A. Người phi
công, Leonard Eastman sau đó cũng bị bắt làm tù binh.
Một tuần sau đó, ngày 29 tháng Sáu, Bảy cùng ba phi công MiG-17 khác tham gia vào trận đánh
với các máy bay F-105D đang tới đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội), và (cùng với Phạm Văn Túc)
Nguyễn Văn Bảy bất ngờ hạ luôn một chiếc F-105D. Người phi công bị hạ chính là tốp trưởng, thiếu tá
Murphy Neal Jones sau đó bị bắt làm tù binh.

Chiếc MiG-17F số hiệu 2047, tại bảo tàng Không quân Hà Nội. Phi công Nguyễn Văn Bảy đã
dùng chiếc tiêm kích này bắn bị thương tàu khu trục USS Oklahoma City ngày 19 tháng Tư năm 1972.

Tàu khu trục USS Oklahoma City đang trao đổi mệnh lệnh với tàu liên lạc USS Providence (Hạm
đội 7 Hoa Kỳ)
Trận đánh giòn giã nhất của Nguyễn Văn Bảy là vào ngày 24 tháng Tư năm 1967. Cùng với người
biên đội trưởng, biên đội bất ngờ, bí mật cất cánh từ sân bay dã chiến Kiến An, đưa những chiếc MiG-17 vào
trận “tiếp đón” các máy bay của hải quân Hoa Kỳ vào đánh cảng Hải Phòng. Bảy tiếp cận một chiếc F-8C
của Phi đội 24 và dùng khẩu cà-nông 37mm của mình bắn nó vỡ tan thành từng mảnh. Chiếc F-8C số hiệu
146915 do thiếu tá hải quân E.J. Tucker bốc cháy và vỡ vụn. E.J. Tucker nhảy dù và bị bắt (nhưng sau đó
chết trong khi bị giam). Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cố gỡ bàn bằng cách lao vào công
kích Bảy, nhưng người trợ thủ của Bảy, Nguyễn Thế Hơn đã kịp báo cho anh, Bảy tài tình ngoặt gấp tránh
được tất cả những cú phóng tên lửa của máy bay Mỹ. Sau đó chính anh lại lao chiếc MiG-17 Fresco của
mình về phía một chiếc F-4 Con Ma, hạ nó bằng pháo (Tổ bay, các thiếu tá hải quân C.E. Southwick và Ens.
J.W. Land nhảy dù và được cứu, vẫn nghĩ rằng mình bị bắn rơi bởi pháo cao xạ phòng không). Ngày hôm sau
25 tháng Tư, biên đội của Bảy lại tiếp tục ghi bàn, bắn hạ hai chiếc A-4 mà chẳng bị thiệt hại gì. Cả hai chiến
công của họ đều được xác nhận chính thức bởi Hải quân Hoa Kỳ: chiếc A-4C số hiệu 147799 trung uý
Stackhouse (bị bắt làm tù binh) - rơi xuống trước mũi súng của Bảy và chiếc thứ hai, chiếc A-4C số hiệu
151102, lái bởi trung uý hải quân A.R. Crebo (được cứu thoát). Bảy được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng
quân đội vì kỹ thuật bay và tinh thần dũng cảm trong chiến đấu, và cả do sự chỉ huy biên đội tài tình. Đầu
năm 1972, Bảy cùng với người đồng đội Lê Xuân Di được các chuyên gia Cuba huấn luyện trong chống tàu
chiến, và họ quả là những học trò giỏi. Ngày 19 tháng Tư năm 1972, họ tấn công hai chiếc Khu trục hạm
USS Oklahoma City và Highbee, đang làm nhiệm vụ pháo kích thành phố Vinh. Trong khi Bảy bắn bị
thương nhẹ chiếc thứ nhất, Lê Xuân Di đã thả một quả bom 500 bảng (hơn 200 kg) BETAB-250 trúng tháp
chỉ huy phía sau chiếc thứ hai. Đây là trận bị tấn công từ trên không đầu tiên của Hạm đội Bảy Hải quân Hoa
Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới 2.
NGUYỄN ĐỨC SOÁT
Một trong những khả năng xuất sắc của Không quân Việt Nam là việc các phi công thành công có
thể truyền kinh nghiệm của mình cho các phi công trẻ. Đó là trường hợp của Nguyễn Đức Soát. Là một phi
công tiêm kích MiG-21 trẻ măng của Trung đoàn 921, và thày giáo của anh chính là những phi công “nóng”
nhất của Không quân Việt Nam: Phạm Thanh Ngân (hạ 8 chiếc) và “con người siêu phàm” Nguyễn Văn Cốc
(9 trận thắng). Soát không cần gì nhiều hơn thế nữa. Trong khi còn chưa lập được chiến công, anh thu thập
kinh nghiệm cho mình.
Tham gia vào thành phần Trung đoàn không quân tiêm kích 927, khi chiến dịch “Linebacker I”
bắt đầu tháng Năm năm 1972, Soát đã hoàn toàn sẵn sàng “trình diễn” những kỹ năng của mình. Ngày 23
tháng Năm, anh “ghi bàn” lần đầu tiên, bắn hạ chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm.
Phi công Charles Barnett bị chết.
Ngày 24 tháng Sáu, hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Đức Nhu và Hà Vinh Thanh cất cánh ở sân bay
Nội Bài vào lúc 15 giờ 12 phút để đánh chặn một tốp Con Ma lên không kích nhà máy gang thép Thái
Nguyên. Đội hình hộ tống Mỹ nhanh chóng phản ứng và nghênh chiến. Nhưng hai chiếc MiG đó chỉ là mồi
nhử, vì bất ngờ hai chiếc MiG-21PFM của Trung đoàn 927 xuất hiện: Nguyễn Đức Soát (biên đội trưởng hai
chiếc) và Ngô Duy Thu (hộ vệ), lao từ đâu tới tấn công đội hình F-4 hộ tống. Bắn bằng quả tên lửa không đối
không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll, Soát hạ chiếc F-4E của David Grant và William Beekman, Thu cũng hạ
một chiếc Con Ma khác.

Nguyễn Đức Soát đã hạ được vài chiếc F-4 của Không lực Hoa Kỳ trên chiếc MiG-21PFM
Fishbed số hiệu 5020 này
Ba ngày sau, Soát và Thu lại kín đáo cất cánh từ sân bay Nội Bài vào 11 giờ 53 phút để đánh chặn
một tốp 4 chiếc F-4, nhưng vẫn biết rằng còn có 8 chiếc Con Ma khác đang bay tới, họ không thể bị “mắc
kẹt”(2) lại ở giữa hai tốp đó. Họ ngoặt lại, vọt lên độ cao 5000 mét và chờ đợi. Sự kiên nhẫn đã được đền
đáp, họ “túm” được cặp F-4 đi sau cùng. Cả Soát và Thu đều mỗi người hạ một chiếc bằng tên lửa R-3. Hai
phi công Mỹ “nạn nhân” của Soát là Miller và McDow bị bắt làm tù binh.
Ngày 26 tháng Tám 1972, Nguyễn Đức Soát lập công xuất sắc bắn hạ một chiếc Con Ma duy nhất
của Lực lượng Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Sỹ quan chống rađa của chiếc F-4J
được cứu nhưng người phi công xấu số Sam Cordova thì thiệt mạng. Soát ghi chiến công cuối cùng của mình
vào ngày 12 tháng Mười năm 1972, khi anh “giật phăng” khỏi bầu trời chiếc F-4E của Myron Young và
Cecil Brunson (bị bắt làm tù binh).
Cùng với Nguyễn Văn Cốc và các phi công cựu chiến binh khác của Không quân nhân dân Việt
Nam, Soát là một huyền thoại sống bởi những chiến công dũng cảm và kỹ thuật bay tuyệt vời của mình hơn
ba mươi năm trước.
(1) Duke: công tước, tiếng lóng: nắm đấm
(2) Nguyên văn: bị kẹp như giữa hai miếng sandwitch.
Người dịch: Ngô Ngọc Phương
Bonus:
Tám huy hiệu của Bác Hồ tặng Thượng tướng Phạm Thanh Ngân
… Trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Phạm Thanh Ngân, có một điều khá thú vị là phần lớn
những kỷ vật của ông đều gắn với những kỷ niệm về Bác Hồ: Ông được Bác Hồ tặng tám chiếc huy hiệu, vì
tám lần bắn rơi tám chiếc máy bay. Ông cũng là một trong những Anh hùng không quân được trực tiếp gặp
Bác Hồ, được Bác tặng chiếc đồng hồ có khắc chữ ở mặt sau “Bác Hồ tặng Phạm Thanh Ngân, tháng 12 năm
1968”…
… Phạm Thanh Ngân bắt đầu tham gia chiến đấu từ tháng 6 năm 1966, khi địch đánh kho xăng
Đức Giang ( Hà Nội) và Thượng Lý (Hải Phòng)… mở đầu bước leo thang mới đánh phá hệ thống xăng dầu
và Thủ đô Hà Nội. Lúc đầu Phạm Thanh Ngân rất bỡ ngỡ, vì ngay cả ở dưới mặt đất còn chưa đánh địch bao
giờ huống chi đánh chúng ở trên trời. Được đồng chí Trần Hanh truyền đạt cho một số kinh nghiệm, nhưng
khi gặp địch trận đầu, địch rất đông, gấp hàng chục lần máy bay của ta, lần đầu tiên tham gia chiến đấu,
Ngân không bắn rơi được máy bay Mỹ nào. Đến khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân
tham gia các trận chiến đấu dồn dập hơn. Lại được Nguyễn Văn Cốc bay cùng. Hai người thường bay yểm
hộ cho nhau.
Máy bay Mỹ mỗi khi đi đánh phá miền Bắc, tốp đi đầu là bọn cường kích F-105, theo sau là máy
bay F-4, F-4C để yểm hộ. Thời gian đầu, Phạm Thanh Ngân không bắn được máy bay cường kích của địch.
Mục tiêu lúc đó đặt ra là phải làm sao bắn rơi được bọn cường kích để chúng không ném bom phá hoại miền
Bắc được, nhất là Hà Nội. Trận ngày 18 tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân phối hợp với tên lửa đánh
một trận rất hay. Hôm đó một tốp máy bay của địch gồm 12 chiếc F-105 và 4 chiếc F-4 bám sau, xuất hiện
trên bầu trời Yên Bái- Phú Thọ. Chúng bay từ Thái Lan sang, vòng xuống núp sau dãy núi Tam Đảo hướng
vào Hà Nội. Sau khi phát hiện mục tiêu, Ngân nhanh chóng thông báo và lệnh cho máy bay số 2 công kích
tốp cường kích bên phải còn mình xông thẳng vào tốp bên trái, mặc dù biết phía sau máy bay F-4 của địch
đang bám theo. “Tôi đột ngột tăng tốc độ, phóng một quả tên lửa thứ nhất vào tốp đi đầu, sau ít giây, máy
bay địch bốc cháy. Lúc này tốc độ tiếp cận rất lớn, tôi cho máy bay vọt lên rồi phóng quả tên lửa số 2 tiêu
diệt chiếc F-105 thứ 2 của địch. Cùng lúc, máy bay số 2 cũng phóng tên lửa vào tốp máy bay bên phải, một
máy bay địch trúng đạn bốc cháy”, ông nhớ lại. Trận đó biên đội của Ngân bắn rơi 3 chiếc, tên lửa đối không
của ta cũng hạ được 6 chiếc, trong đó có một chiếc F-105 do một tên đại tá phi công Mỹ lái. Đây là trận đánh
hiệp đồng tuyệt đẹp của không quân và tên lửa phòng không. Trong 2 ngày tiếp theo, biên đội của Ngân bắn
rơi thêm 2 chiếc nữa…”.
Với thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ, chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 chiếc khác, Phạm Thanh Ngân
được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1969. Từ năm 1989 đến năm 1996, ông là Tư
lệnh Quân chủng Không quân. Từ năm 1998 đến năm 2001, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chinh trị. Khi đã là
Uỷ viên Bộ Chính trị, Thượng tướng- Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông vẫn nhớ như in những ngày tháng
chiến đấu oanh liệt đó. Hiện ông là Trưởng ban chỉ đạo tổng kết chiến lược về quân sự và quốc phòng trực
thuộc Bộ Chính trị.
Thượng tướng Phạm Thanh Ngân hồi tưởng: “Tôi kể xong, bác Phạm Văn Đồng hỏi tiếp: “Thế
đồng chí lái được loại máy bay gì?” Tôi trả lời: “Thưa Bác, cháu lái được MIG 17 và MiG-21”. Bác Đồng lại
hỏi: “Thế đồng chí lái máy bay nào tốt hơn”. Tôi trả lời: “Thưa bác, cháu lái máy bay MiG-21 tốt hơn ạ!”.
Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí bay được bao nhiêu giờ rồi?”. Tôi đáp: “Thưa, được khoảng 200 giờ ạ!”.
Thế số anh em mới về lái có tốt không?. Tôi trả lời: “Dạ thưa, số anh em mới về trẻ, khoẻ có kiến thức nhưng
chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Các đồng chí ấy tương lai sẽ rất giỏi ạ!”…
(Bá Kiên - Trần Dương)
Bảo vệ cầu Long Biên
… Không quân Nhân dân Việt Nam đã cất cánh hàng trăm lần chiếc, chiến đấu bảo vệ Hà Nội,
bảo vệ cầu Long Biên. Tôi nhớ mãi trận đánh bảo vệ Hà Nội ngày độc lập 2-9-1972. Hôm đó, chúng tôi được
phổ biến, bọn Mỹ sẽ tổ chức đánh lớn Thủ đô Hà Nội, nhằm phá hoại ngày lễ độc lập của ta. Mới sáng sớm,
hai chiếc F-4 đã lượn qua Hoà Bình- Mộc Châu. Tàu cấp cứu, trực thăng, được lệnh tiến vào khu vực cứu
nạn, 10 giờ 30 phút, máy bay mang bom xuất hiện. Biên đội hai chiếc MiG- 21 cất cánh từ sân bay Nội Bài
chặn địch ở hướng Tây Nam, một biên đội MiG-19 do Hoàng Cao Bổng và Nguyễn Văn Quảng cất cánh ra
khu vực Việt Trì. Địch vào rất đông. Nhưng hai gọng kìm của Không quân ta với lợi thế cơ động, bất ngờ đã
băm nát đội hình của địch, hai chiếc MiG- 21 thu hút toàn bộ tiêm kích hướng về Hoà Bình. ở Việt Trì, 12
chiếc F-4 mang bom từ phía Tây theo đường số 2 tiến vào Hà Nội, gặp biên đội MiG - 19, đã chờ sẵn. Trong
chớp mắt, ngay loạt đạn đầu, Hoàng Cao Bổng bắn rơi một chiếc F-4.
Bọn Mỹ thả bom khẩn cấp, trở thành những chiếc tiêm kích không chiến với MiG-19. Bổng yểm
hộ cho Quảng quần nhau với bọn Mỹ. MiG- 19 nhiều lần tiếp cận, chiếm được góc trong, nhưng không bắn
được. Cuộc không chiến ác liệt, không gian như nứt ra, bọn Mỹ quyết bắn rơi MiG - 19. Nhưng, hai chiếc
MiG của ta yểm hộ nhau rất tốt. Chớp thời cơ một chiếc F-4 lỏng tay lái, Nguyễn Văn Quảng đè đầu chiếc F-
4D, xả một tràng đạn cắt chiếc F-4D làm hai tên giặc lái không kịp nhảy dù…
(Lê Thành Chơn)
Sẵn sàng xuất kích trong đêm bảo vệ bầu trời Tổ quốc
______________________