You are on page 1of 162

Sư đoàn phòng không 363 1965 - 2005

Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân

Lời nói đầu

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Sư đoàn phòng không 363, được sự chỉ đạo của
Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, Thường vụ Đảng uỷ và
chỉ huy sư đoàn tổ chức biên soạn bổ sung, hoàn chỉnh và nâng cao cuốn "Lịch sử Sư đoàn phòng
không 363" xuất bản năm 1995 thành cuốn "Lịch sử Sư đoàn phòng không 363 (1965 - 2005) nhằm
ghi lại những sự kiện chính yếu của Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng (1965 - 1966), Bộ tư lệnh
phòng không Hải Phòng - Đường 5 (1966 - 1967) và Sư đoàn phòng không 363 (1967 - 2005), giúp
cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ quá trình hình thành, chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng của sư đoàn
trong 40 năm qua. Đó là chặng đường khá dài, đầy gian lao thử thách nhưng rất vẻ vang, nhất là trong
cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta, chủ yếu là trên địa bàn Hải
Phòng- Hải Dương - Quảng Ninh.

Lịch sử của sư đoàn diễn ra trong không gian rộng, thời gian khá dài với vô vàn sự kiện sôi
động, hào hùng, khẩn trương, phức tạp và giain khổ, hi sinh. Vì vậy, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng
nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, biên soạn bổ sung,hoàn chỉnh và nâng cao bản thảo, nhưng do trình độ
người viết có mặt hạn chế, tư liệu lưu trữ không đầy đủ, nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong
được sự đóng góp ý kiến phê bình của các đồng chí để cuốn lịch sử đầy đủ và có chất lượng cao hơn,
xứng đáng với bề dày lịch sử và truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng.

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ đạo,
giúp đỡ của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, Viện Lịch sử
quân sự Việt nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn các đồng chí
lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt của sư đoàn các thời kỳ đã tích cực đóng góp ý kiến, cung cấp tư liệu trong
quá trình nghiên cứu biên soạn cuốn sách.

THƯỜNG VỤ ĐẢNG UỶ VÀ CHỈ HUY SƯ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG 363

Chương 1

RA ĐỜI VÀ CHIẾN ĐẤU (1965 - 1968)

Trước thất bại nặng nề trong cuộc ”chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, đầu năm 1965, tổng
thống Johnson và tạp đoàn cầm quyền Mỹ quyết định đưa quân vào miền Nam và tiến hành cuộc
chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc nước ta.

Để thực hiện ý đồ đó, Mỹ tăng cường lực lượng không quân ở Đông Nam Á. Trên vùng
biển nước ta thường xuyên có từ 3 đến 4 tàu sân bay của Hạm đội 7 với khoảng 350 đến 400 máy bay
chiến đấu các loại. Các căn cứ không quân ở miền Nam và Thái Lan được bổ sung tới gần 440 máy
bay.
Ngày 7 tháng 2 năm 1965, lấy cớ ta tiến công quân Mỹ ở Plây Cu, Công Tum, Quy Nhơn,
địch sử dụng máy bay tiến hành cuộc tiến công mang tên “mũi lao lửa” đánh phá ác liệt một số mục
tiêu ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, bắt đầu cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc.

Trong tháng 2 và tháng 3 năm 1965, máy bay địch tập trung đánh phá ác liệt khu vực
Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và tăng cường trinh sát khu vực Hà nội, Hải Phòng.

Trước tình hình nghiêm trọng trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị toàn
thể lần thứ 11, đề ra đường lối và nhiệm vụ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho toàn Đảng, toàn
quân và toàn dân ta.

Ngày 13 tháng 4 năm 1965, tại Hội nghị Quốc hội khoá III, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
đồng bào và chiến sĩ cả nước, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng và Hồ Chủ tịch, miền Bắc thực hiện chuyển vào
trạng thái thời chiến, đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược, vừa sản xuất vừa chiến đấu, kiên
quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và làm tròn nhiệm vụ chi viên cho tiền
tuyến lớn miền Nam. Phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Quyết tâm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược” trở thành cao trào thi đua trên toàn miền Bắc. Các lực lượng bắn máy bay bay thấp của
quân dân tự vệ, hệ thống báo động phòng không được triển khai rộng khắp.

Quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc
phòng chủ trương: Nhanh chóng phát triển các lực lượng phòng không, hoàn chỉnh thế trận tác chiến
phòng không bảo vệ miền Bắc, nhất là hai yếu địa lớn Hà nội, Hải Phòng.

Thực hiện chủ trương trên, ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành
lập Bộ tư lệnh phòng không Hà nội và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng, trực thuộc Bộ tư lệnh
Phòng không - không quân. Trong quyết định sô 66/QP-QĐ của Bộ quốc phòng ghi rõ: “Trên cơ sở
trung đoàn bộ Trung đoàn 240, tăng cường chất lượng cán bộ và biên chế để tổ chức thành Bộ tư lệnh
phòng không Hải Phòng”.

Trung đoàn pháo cao xạ 240 (ban đầu là Trung đoàn cạo xạ 689) được thành lập ngày 21
tháng 9 năm 1954 theo nghị định số 34/NĐA thành lập Đại đoàn pháo cao xạ 367 của Bộ quốc phòng.
Khi mới thanh lập, trung đoàn được biên chế các ban tham mưu, chính trị, cung cấp, hai tiểu đoàn 85,
86 trang bị pháo 88mm và tiểu đoàn 44 trang bị pháo 40mm.

Ban chỉ huy trung đoàn ban đầu có các đồng chí Phạm Lê Hoàng, Trung đoàn trưởng; Trần
Văn Giang, Chính uỷ; Hoàng Văn Ngữ và Trần Văn Địch, Phó chính uỷ.

Đồng chí Trần Quang Hùng làm tham mưu trưởng. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm chủ
nhiệm chính trị. Đồng chí Nguyễn Văn Tăng làm chủ nhiệm cung cấp.

Đảng uỷ trung đoàn (Trung đoàn uỷ) đầu tiên có các đồng chí: Trần Văn Giang, Bí thư;
Hoàng Văn Ngữ, Trần Quang Hùng, Vi Huyền Kỳ, Văn Học làm uỷ viên.

Tham gia xây dựng trung đoàn phần đông là cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 536 thuộc Đại đoàn
316, tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308 và hai tiểu đoàn 392, 394. Đó là những đơn vị đã lập nhiều
chiến công và có kinh nghiệm bắn máy bay trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Ngày 20 tháng 10 năm 1954, ban chỉ huy trung đoàn tổ chức mít tinh công bố quyết định
thành lập trung đoàn tại làng Phan thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi tổ chức mít tinh, toàn trung đoàn hành quân bộ từ Thái Nguyên, vượt chặng đường
dài trên 300km lên Nước Hai thuộc huyện Hoà An, Cao Bằng. Tại đây, cán bộ, chiến sĩ đã nêu cao
trách nhiệm, vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách để xây dựng doanh trại, làm pháo trường và tiếp
nhận vũ khí trang bị mới.

Để giữ bí mật lực lượng, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, toàn bộ lực lượng, vũ
khí, trang bị của trung đoàn cơ động về Vai Cày thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, cán
bộ, chiến sĩ khẩn trương xây dựng doanh trại, pháo trường, các lớp học và chuẩn bị mọi mặt để huấn
luyện sử dụng pháo 88mm và 40mm.

Ngày 4 tháng 4 năm 1955, toàn trung đoàn bắt đầu ra quân huấn luyện. Dưới sự lãnh đạo,
tổ chức của Đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn, tất cả cán bộ chiến sĩ đoàn kết, tích cực giúp đỡ nhau,
tranh thủ ngày nghỉ, giờ nghỉ để học tập. Đến cuối tháng 8, toàn trung đoàn hoàn thành chương trình
huấn luyện.

Ngày 30 tháng 8 năm 1955, tại chân núi Tam Đảo, Đại đoàn 367 tổ chức diễn tập chiến
thuật và bắn đạn thật để kiểm tra khoá huấn luyện của các đơn vị. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ
trưởng Bộ quốc phòng đến theo dõi diễn tập và quan sát kết quả bắn. Tất cả các đại đội bắn đều đạt
yêu cầu, trong đó hầu hết đạt khá, giỏi.

Ngày 16 tháng 12 năm 1955, trung đoàn hành quân từ Thái Nguyên về triển khai lực lượng
bảo vệ thành phố Hải Phòng. Sau thời gian chuẩn bị chiến đấu, được sự giúp đỡ tận tình của Thành
uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố và nhân dân Hải Phòng, ngày 7 tháng 2 năm 1956, trung đoàn bắt
đầu làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu.

Trong hai năm 1956-1957, trung đoàn vừa sẵn sàng chiến đấu vừa đẩy mạnh xây dựng,
không ngừng nâng cao trình độ chiến đấu và xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ
chức, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân.

Ngày 21 tháng 3 năm 1958, Bộ Quốc phòng ra nghị định số 047/NĐ, tách Đại đoàn 367
khỏi Bộ tư lệnh Pháo binh, thành lập Bộ tư lệnh Phòng không trực thuộc Bộ Quốc phòng. Từ đó,
trung đoàn 689 trực thuộc Bộ tư lệnh Phòng không.

Ngày 10 tháng 6 năm 1958, Bộ tư lệnh Phòng không ra quyết định đổi phiên hiệu một số
đơn vị, trong đó Trung đoàn pháo cao xạ 689 được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn pháo cao xạ 240
(Đoàn Thành Tô).

Năm 1959, trung đoàn được Thành uỷ Hải Phòng tặng bức trướng "Bảo vệ Tổ quốc, sẵn
sàng chiến đấu".

Năm 1960, trung đoàn được Bộ tư lệnh Phòng không tặng lá cờ "Học tập khá nhất" giải
thưởng luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại đội 1 trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua "Ba
nhất" của trung đoàn.
Ngày 22 tháng 10 năm 1963, Bộ Quốc phòng ra quyết định hợp nhất Bộ tư lệnh Phòng
không và Cục Không quân thành Quân chủng Phòng không - Không quân. Trung đoàn vẫn làm nhiệm
vụ bảo vệ Hải Phòng. Đồng chí Lê Huy Vinh, Trung đoàn trưởng; đồng chí Lê Hồng Tâm, Chính uỷ;
đồng chí Hoàng Bình, Tham mưu trưởng; đồng chí Vi Huyền Kỳ, Chủ nhiệm chính trị; đồng chí Đỗ
Ngọc Mậu, Chủ nhiệm hậu cần.

Cuối năm 1963, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, trung đoàn tổ chức tiểu đoàn 217
gồm các đại đội 141, 142, 143 trang bị pháo 88mm và lực lượng súng máy phòng không, cơ động ra
bảo vệ khu vực Hòn Gai - Bãi Cháy thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Sau khi dựng nên "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ", ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ huy động 64 lần
chiếc máy bay hải quân đánh 3 đợt vào 4 khu vực Vinh - Bến Thuỷ, cảng Gianh, Lạch Trường và Bãi
Cháy. Với tinh thần cảnh giác cao và hiệp đồng chiến đấu tốt, quân và dân ta đã bắn rơi 8 máy bay
địch. Trong chiến công trên, nổi bật là khẩu đội súng máy phòng không của tiểu đoàn 217 ở khe núi
Lưỡi Hái do trung đội phó trương Thanh Luyện chỉ huy, bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay A4D, bắt sống
tên trung uý An-va-rét, là tên giặc lái Mỹ bị bắt sống đầu tiên trên miền Bắc.

Chiến công bắn rơi tại chỗ máy bay địch, bắt sống giặc lái của tiểu đoàn 217 là thành công
điển hình về lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng nền nếp chính quy
và chấp hành lỷ luật của Trung đoàn pháo cao xạ 240 trong 10 năm xây dựng thời bình (1954-1964).

Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, trên cơ sở Trung đoàn pháo cao xạ 240, Bộ tư
lệnh Quân chủng bổ sung lực lwợng, vũ khí, trang bị, tổ chức thành Bộ tư lệnh phòng không Hải
Phòng. Trung tá Nguyễn Hữu Ích được bổ nhiệm làm tư lệnh. Trung tá Lương Tý được bổ nhiệm làm
chính uỷ. Đồng chí Lê Huy Vinh làm tham mưu trưởng. Đồng chí Lê Hồng Tâm làm chủ nhiệm chính
trị. Đồng chí Đỗ Ngọc Mậu làm chủ nhiệm hậu cần.

Sau khi tổ chức tiếp nhận lực lượng, vũ khí, trang bị, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng
tiến hành ổn định biên chế, tổ chức cho các cơ quan và đơn vị.

Biên chế của Bộ tư lệnh gồm có các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần, 3 tiểu đoàn pháo
tiểu cao hỗn hợp 51, 52, 53 (còn gọi là các tiểu đoàn 1, 2, 3), 6 đại đội 114, 115, 116, 117, 118, 119
trang bị pháo 100mm và 7 trung đội súng máy phòng không 14,5mm.

Được sự quan tâm đặc biệt của Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố và Đảng uỷ, chính
quyền các cấp, với tinh thần "Ba sẵn sàng", "Ba đảm nhiệm", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược", nhân dân các huyện An Hải, Kiến Thuỵ, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo,… sẵn sàng hi sinh những vạt
lúa và hoa màu để bộ đội xây dựng trận đại.

Tại trận địa trên đồi 74 ở làng Xuân Sơn phía tây nam thành phố, nhân dân các xã Quảng
Trung, Thái Sơn, Tân Dân… ngày đêm sôi nổi thi đua đào, cuốc sỏi, đá liên tục hơn một tuần lễ và đã
hoàn thành trận địa đặt pháo 57mm trước thời gian quy định. Đến cuối tháng 5 năm 1965, gần 3 vạn
lượt dân cộng thuộc huyện An Hải đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, hoàn thành hơn 10 trận
địa cho các loại pháo, súng máy phòng không. Nhân dân các huyện Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên đã huy
động các lực lượng để làm hàng chục trận địa pháo cho bộ đội. Nhiều gia đình ở cầu Dền, Đồng Thái,
huyện An Hải đã phá cả ruộng dưa đang mùa hái quả, chặt cả vườn xoan và chuyển nhà đi nơi khác
cho bộ đội xây dựng trận địa.

Với sự giúp đỡ tận tình, to lớn, quý báu trên và sự cố gắng vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ,
chỉ trong thời gian ngắn, các đơn vị đã triển khai lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu theo phương án
tác chiến của Bộ tư lệnh.

Tiểu đoàn 151 gồm 4 đại đội pháo 57mm, 3 đại đội 37mm, 3 trung đội súng máy phòng
không 14,5mm bố trí bảo vệ Hải Phòng. Tiểu đoàn 52 có 3 đại đội pháo 57mm, 1 đại đội và 2 trung
đội pháo 37mm, 3 trung đội súng máy phòng không 14,5mm, bố trí bảo vệ sân bay Kiến An. Tiểu
đoàn 53 có 1 đại đội pháo 57mm, 3 trung đội pháo 37mm, 1 trung đội súng máy phòng không
14,5mm bố trí bảo vệ sân bay Cát Bi.

Các đại đội pháo trung cao 100mm bố trí ở Đoạn Xá, cầu Rào, Lam Khê, Tân Dương, Lâm
Động, An Lạc, Càu Dền, tạo thành vùng hoả lực ở vòng ngoài cách trung tâm yếu địa từ 6 đến 10km.

6 đại đội pháo 57mm bố trí ở Gò Chuối, xóm Bạc, Bến Bính, Bình Đông, An Lạc, đồi 54
Kiến An. Pháo 37mm bố trí ở một số mục tiêu như nhà máy điện ắc-qui, cảng, nhà máy xi-măng…
Các đơn vị tiểu cao bố trí xen kẽ nhau cách mục tiêu bảo vệ từ 0,8 đến 2,5km, tạo thành vùng hoả lực
yếu địa.

Súng máy phòng không bố trí ở núi Đèo, các phân đội 116, 74 và trên các nóc nhà ngân
hàng, nhà máy phốt phát, bê-tông đúc sẵn, trường kỹ thuật, sở kiểm nghiệm… để phục kích đón đánh
các đường bay thấp của địch vào đánh phá, trinh sát mục tiêu.

Nhìn chung đội hình chiến đấu của bộ đội phòng không Hải Phòng bố trí vòng tròn quanh
yếu địa, từ xa đến gần, tạo thành vùng hoả lực liên hoàn, có chiều sâu, có thể đánh được địch trên
nhiều hướng, phát huy các loại hoả lực đánh địch ở các độ cao, nhất là ở tầng trung, tầng thấp, đánh
máy bay bay bằng từ ngoài cự ly cắt bom và có thể chi viện được cho nhau.

Nhiệm vụ của Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng là đánh địch, bảo vệ các mục tiêu trọng
yếu ở Hải Phòng.

Hải Phòng là thành phố lớn thứ hai và là hải cảng lớn nhất miền Bắc, là trung tâm lớn về
chính trị, kinh tế và quốc phòng. Mục tiêu nổi bật nhất ở Hải Phòng là khu vực Cảng, có ý nghĩa quan
trọng về chính trị, kinh tế, ngoại giao và ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là
xây dựng, bảo vệ miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Về chính trị, Cảng là nơi giao dịch, quan hệ, trao đổi, buôn bán giữa nước ta với hầu hết
các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, một số các nước dân tộc chủ nghĩa và các nước tư bản. Vì vậy,
đánh phá vào Hải Phòng, nhất là đánh vào khu vực Cảng buộc địch phải cân nhắc giữa âm mưu đánh
phá và ảnh hưởng chính trị, ngoại giao của Mỹ trên thế giới.

Về kinh tế, cảng đảm nhiệm việc tiếp nhận phần lớn hàng hoá viện trợ từ các nước xã hội
chủ nghĩa. Trong chiến tranh, lực lượng bốc dỡ hàng ngày của cảng tăng hơn trước. Thường xuyên ở
cảng có từ 5 đến 7 tàu, lúc cao nhất lên tới 12 chiếc. Những hàng hoá qua đây rất thiết yếu cho công
cuộc kháng chiến của cả nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc.
Ngoài ra, qua 10 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, Hải Phòng đã trở thành một khu công
nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng chiến lược. Dọc theo sông Cấm, về phía đông nam có nhà máy xi-
măng, xưởng đóng tàu biển, kho dầu Thượng Lý, trạm biến thế An Lạc; phí tây có cảng mới… Các cơ
sở trên hình thành khu vực công nghiệp tập trung dài hàng chục ki-lô-mét.

Hải Phòng còn là một đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ và đường thuỷ. Đường
bộ có đường số 5 (Hà Nội - Hải Phòng), đường số 10 (Hải Phòng - Nam Định), các đường liên tỉnh,
liên huyện, rất thuận lợi cho việc vận chuyển. Đường sông có các tuyến từ Hải Phòng đi Hà Nội, Nam
Định, Hải Dương. Đường biển có các tuyến đi Thái Bình và các tỉnh của Khu 4. Nổi bật về giao thông
ở Hải Phòng có hệ thống cầu Hoa Lư, Thượng Lý, Hạ Lý, cầu Rào, cầu Niệm; các hệ thống nhà ga
như ga Hải Phòng, Thượng Lý, Dụ Nghĩa…, các bến phà lớn như phà Kiền, Bính, Kiến An… Những
nơi này địch coi là những "điểm tắc" quan trọng.

Về quốc phòng, Hải Phòng có 2 sân bay phản lực Cát Bi (phía Đông Nam) và Kiến An
(phía Tây Nam); có các cảng, xưởng sửa chữa của hải quân, công trình quốc phòng, cơ sở doanh trại,
kho tàng, hệ thống trận địa tên lửa, cao xạ và radar phòng không…

Hải Phòng còn là khu tập trung đông dân, một bộ phạn lớn là công nhân.

Trước cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân Hải Phòng có
truyền thống đấu tranh bất khuất với danh hiệu "Hải Phòng trung dũng quyết thắng". Trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước, nhân dân ở đây càng phát huy tinh thần kiên
cường, dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu, hết lòng giúp đỡ bộ đội đánh giặc bảo vệ cảng, nhà
máy, ruộng vườn.

Do vị trí, tầm quan trọng và những tính chất ttrên đây, yếu địa ven biển Hải Phòng trở
thành trọng điểm của cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch.

Yếu địa Hải Phòng nằm ở vùng đồng bằng và ven biển nên địa hình rất phức tạp. Hải
Phòng nằm ở vùng hạ lưu và có nhiều cửa sông lớn như Nam Triệu, Bạch Đằng, Văn Úc, Thái Bình.
Các sông lớn này kết hợp với nhiều sông nhỏ chia cắt yếu địa thành 5 khu vực. Từ Hải Phòng đi các
nơi cũng như ra các vùng ngoại thành đều phải qua cầu hoặc phà lớn.

Sông ngòi ở gần biển nên mực nước lên xuống rất thất thường và độ chênh rất lớn. Trong
một ngày có khi mực nước chênh nhau từ 3 đến 4m.

Xung quanh Hải Phòng rải rác có những ngọn núi hoặc dãy núi đột xuất ở đồng bằng cách
trung tâm yếu địa từ 5 đến 25km. Phía bắc và đông bắc có dãy núi Tràng Kênh, núi Đèo. Phía nam -
đông nam có dãy núi Đồ Sơn, núi Đôi. Phía tây nam có dãy núi Phú Liễn, Xuân Sơn… xa hơn về phía
tây bắc có các dãy Yên Tử, Kình Chu, Yên Phụ (Kinh Môn). Ở phía đông - đông bắc có dãy Cát Bà.

Hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10, thời tiết thuận lợi cho hoạt động của không quân. Hàng
ngày, từ 10 giờ đến 16 giờ, trời thường trong và ít mây. Không khí ven biển thường ẩm ướt, độ ẩm
không khí về mùa xuân rất lớn, có ảnh hưởng không nhỏ đến vũ khí, trang bị và hiệu quả xạ kích.

Địch sẽ lợi dụng đặc điểm địa hình, thời tiết trên đây để bay thấp, tách tốp, gây nhiễu… bất
ngờ tiếp cận trinh sát, đánh phá mcụ tiêu và hạn chế tổn thất của chúng.
Đối tượng tác chiến của bộ đội phòng không Hải Phòng chủ yếu là máy bay của hạm đội 7
Hải quân Mỹ ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Đó là lực lượng đông, máy bay và trang bị kỹ thuật hiện đại,
có sức cơ động lớn, đội ngũ giặc lái lành nghề, tổ chức chặt chẽ, có nhiều thủ đoạn hoạt động, xảo
quyệt. Do căn cứ xuất kích gần mục tiêu đánh phá nên thời gian tập kích của máy bay địch ngắn, có
nhiều điều kiện lưọi dụng mặt biển, cửa sông để bay thấp, tiện kết hợp các hoạt động luyện tập với
nghi binh, trinh sát, gây nhiễu, dễ bề rút chạy, cứu giặc lái và có điều kiện nắm được tình hình khí
tượng ở khu vực mục tiêu.

Ngay sau khi thành lập, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đã tổ chức nghiên
cứu quán triệt đặc điểm tình hình nhiệm vụ, nhận rõ những thuận lợi, khó khăn. Những thuận lợi:

- Lực lượng phòng không Hải Phòng được hoạt động trong lòng hậu phương miền Bắc,
trên địa bàn có cơ sở chính trị vững mạnh, nhân dân có truyền thống cách mạng, có giác ngộ xã hội
chủ nghĩa cao và có nền kinh tế khá vững chắc.

- Cán bộ, chiến sĩ đã công tác chiến đấu nhiều năm ở Hải Phòng, chẳng những nắm được
đối tượng tác chiến mà còn có đầy đủ các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hoà".

- Nhiều đơn vị có truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng từ cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và 10 năm trong thời bình. Đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
trình độ và năng lực, nhiệt tình và trách nhiệm cao. Các tổ chức Đảng, chính quyền và quần chúng
luôn được kiện toàn, thường xuyên vũng mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có khả năng hoàn
thành được chức năng, nhiệm vụ.

- Biên chế, tổ chức, trang bị của lực lượng phòng không tương đối hoàn chỉnh, có đủ các
loại vũ khí, khí tài chất lượng tốt, trang bị đồng bộ, có khả năng đánh địch trên các tầng không, nhất là
tầng trung và tầng thấp, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch với sự hiệp
đồng, hỗ trợ đắc lực của các lực lượng vũ trang và dân quan tự vệ ở địa phương.

- Do yếu địa ven biển Hải Phòng là trung tâm chính trị, kinh tế, đặc biệt là cảng thường
xuyên quan hệ với nhiều nước có chế độ chính trị khác nhau nên trong chiến lược leo thang phá hoại
buộc địch phải vừa đánh vừa thăm dò dư luận và có hạn chế đánh phá nhất định đối với một số mục
tiêu. Đây là điều kiện ta có thể lưọi dụng để nghiên cứu, phán đoán âm mưu thủ đoạn địch, chủ động
tập trung trí lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân đối không và thừa
hưởng kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị bạn, nhằm đánh thắng kẻ thù.

Tuy vậy, bộ đội phòng không Hải Phòng có một số khó khăn, hạn chế:

- Kinh nghiệm chiến đấu với máy bay phản lực hiện đại có thủ đoạn hoạt động xảo quyệt
của bộ đội còn ít.

- Địa hình, khí tượng phức tạp, có nhiều khó khăn trong việc cơ động lực lượng, bố trí đội
hình, dễ bị bất ngờ khi địch bay thấp và sử dụng đường bay vẹt vào trinh sát, đánh phá mục tiêu.

- Địch có căn cứ xuất kích gần, lợi dụng mặt biển, cửa sông bay thấp, kết hợp nghi binh thu
hút, gây nhiễu, bí mật, bất ngờ tiếp cận trinh sát hoặc đánh phá mục tiêu làm cho ta dễ bị lỡ thời cơ
chiến đấu.
- Yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu ngày càng cao nhưng trình độ cán bộ, chiến sĩ, nhất là trình
độ chiến đấu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

- Vũ khí, trang bị nhiều, hiện đại nhưng trình độ quản lý, sử dụng còn hạn chế, điều kiện
đảm bảo kỹ thuật còn nhiều khó khăn, phương tiện bảo đảm cơ động chiến đấu thiếu thốn.

Nhận rõ những thuận lưọi, khó khăn trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng
đề ra các chủ trương biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, một mặt khẩn trương hoàn
thành việc xây dựng các trận địa, ổn định nơi ăn, ở cho bộ đội, đồng thời nghiên cứu địch, xây dựng
phương án tác chiến, hoàn chỉnh cách đánh.

Trong tháng 6 năm 1965, máy bay địch đã bay vào trinh sát khu vực Hải Phòng 26 lần, trên
độ cao từ 5.000 đến 11.000m. Chấp hành chỉ thị số 341/B1 ngày 11 tháng 6 năm 1965 của Bộ tư lệnh
Quân chủng, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đã tổ chức trực ban chiến đấu nghiêm mật ở sở chỉ
huy các cấp, trên các trận địa pháo và radar nhìn vòng. Vì vậy hầu hết các đơn vị pháo trung cao đều
phát hiện được mục tiêu từ xa, chuyển cấp chiến đấu kịp thời nhưng chưa nổ súng đánh địch vì chúng
ở ngoài vùng hoả lực.

Cuối tháng 6 năm 1965, đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng đã dẫn đầu đoàn cán bộ
xuống kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu của Bộ Tư lệnh phòng không Hải Phòng. Sau khi đến
một số trận địa pháo phòng không và kiểm tra phương án tác chiến bảo vệ thành phố Cảng, đồng chí
Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho Tư lệnh Nguyễn Hữu Ích điều chỉnh đội hình chiến đấu để đón đánh
các đường bay chủ yếu của địch.

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng,
dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Phòng Tham mưu do Tham mưu trưởng Lê Huy Vinh phụ trách, đại
đội 114 trang bị pháo 100mm cơ động từ cầu Rào đến chiếm lĩnh trận địa ở xã An Hồng thuộc huyện
An Hải. Được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các xã Hùng Vương, An Hồng, Bắc Sơn, Đặng
Cương… đại đội 114 đã nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng trận địa, cơ động và sẵn sàng chiến
đấu.

14 giờ 32 phút ngày 11 tháng 7 năm 1965, một tốp 4 chiếc F-104 độ cao 8.400m từ hướng
đông nam vòng lên hướng đông bắc rồi ngoặt lại bay thẳng về trận địa đại đôi 114. Chiến sĩ trinh sát
Lê Thiệp phát hiện được mục tiêu, thông báo phần tử về sở chỉ huy đại đội. Thực hiện chỉ thị của Bộ
Tư lệnh, đại đội trưởng Phạm Văn Tư và chính trị viên Lê Phương Châm đã chỉ huy đại đội đánh bằng
phần tử tổng hợp với một loạt 8 viên đạn, bắn rơi một chiếc F-104 ở ngoài khơi Đồ Sơn.

Đây là chiến công đầu tiên của Bộ Tư lệnh phòng không Hải Phòng và là lần đầu tiên quân
và dân Hải Phòng bắn rơi máy bay phản lực Mỹ trong cuộc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Sau trận đánh, đồng chí Trần Kiên, Chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng đã
dẫn đầu đoàn cán bộ thành phố đến tận trận địa chúc mừng chiến thắng trận đầu của bộ đội phòng
không Hải Phòng và tặng đơn vị lá cờ luân lưu của Uỷ ban mặt trận dân tộc giải phóng thành phố Đà
Nẵng (thành phố kết nghĩa với thành phố Cảng). Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam gửi
điện khen chiến công đầu của quân và dân Hải Phòng.
Chiến thắng trận đầu ngày 11 tháng 7 năm 1965 đã kịp thời động viên khí thế cách mạng,
củng cố lòng tin vào quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược của quân dân thành phố, nhất
là đối với bộ đội phòng không Hải Phòng.

Phát huy chiến thắng trận đầu, 9 giờ 59 phút ngày 18 tháng 7 năm 1965, tại trận địa Đoạn
Xá, đại đội 115 bắn rơi chiếc máy bay F-104 thứ hai tại khu vực Hòn Dáu, phía đông nam Đồ Sơn
khoảng 10km.

Buổi tối cùng ngày, nhận được tin chiến thắng của đại đội 115, các đại biểu dự mít tinh
chào mừng chiến công đầu ngày 11 tháng 7 năm 1965 của đại đội 114 tại Nhà hát lớn thành phố đều
nhiệt liệt chúc mừng chiến công xuất sắc của bộ đội phòng không Hải Phòng.

Cũng trong thời gian này, địch sử dụng các tốp nhỏ máy bay cường kích A4 của hải quân,
lợi dụng mặt biển và các cửa sông bay thấp vào đánh phá Hải Phòng. Chấp hành chỉ thị của Bộ tư
lệnh, cơ quan tham mưu chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu quy luật, thủ đoạn bay thấp của địch, bổ sung
phương án tác chiến và tăng cường sẵn sàng chiến đấu.Trong hai ngày 1 và 2 tháng 10 năm 1965, các
trung đội 5, 7 trang bị súng máy phòng không 14,5mm bố trí trên nóc nhà Ngân hàng và Nhà máy
điện Cửa Cấm đã bắn rơi 2 chiếc máy bay A4 ở độ cao thấp. Đây là những chiếc máy bay A4 đầu tiên
bị bộ đội phòng không bắn rơi ở thành phố cảng.

Thực hiện kế hoạch tác chiến của cụm tiền phương 3, cuối tháng 9, tiểu đoàn 84 Trung
đoàn tên lửa 238 triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu tại trận địa Hoàng Lâu, An Dương. 11 giờ 38
phút ngày 1 tháng 10 năm 1965, lần đầu tiên tiểu đoàn 84 phóng đạn đánh địch trên vùng trời Hải
Phòng và bắn rơi 2 chiếc A4.

Đầu tháng 10 năm 1965, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng đến thăm
đại đội 386 tại trận địa đồi Cột Cờ, gần thị xã Kiến An. Cùng đi với đồng chí Tổng tham mưu trưởng
có Tư lệnh Quân chủng Phùng Thế Tài và Tư lệnh bộ đội phòng không Hải Phòng Nguyễn Hữu Ích.
Được biết đơn vị ở trận địa này hơn một năm nhưng chưa một lần nổ súng đánh địch, đồng chí Tổng
tham mưu trưởng chỉ thị cho hai đồng chí Tư lệnh cần nghiên cứu tổ chức một số đơn vị làm nhiệm
vụ cơ động phục kích đón đánh các đường bay địch thường hoạt động. Chấp hành chỉ thị này, Bộ tư
lệnh phòng không Hải Phòng điều động một số đơn vị cơ động ra chiến đấu ở vòng ngoài để vừa thực
hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Quân chủng là "tích cực tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu…” vừa rèn
luyện bộ đội nâng cao trình độ chiến đấu.

Thực hiện mệnh lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng tổ chức thành
lập tiểu đoàn 9 gồm 3 đại đội pháo 37mm làm nhiệm vụ bảo vệ tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên lửa 238
thuộc cụm tiền phương 3; điều chỉnh đội hình tiểu đoàn 53 được tăng cường đại đội 516 (phối thuộc
chiến đấu) lên phía đường số 5 vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tiểu đoàn 84 Trung đoàn tên lửa 238 vừa đón
đánh địch từ hướng Hải Dương vào Hải Phòng; điều một số đơn vị lên tăng cường đánh địch bảo vệ
Hải Dương. Ngày 5 tháng 11 năm 1965, đại đội 18 hiệp đồng chặt chẽ với Trung đoàn pháo phòng
không 213 bắn rơi tại chỗ một chiếc A4. Ngày 15 tháng 11 tiểu đoàn 9 đánh địch quyết liệt, bắn rơi
một máy bay địch, bảo vệ an toàn tiểu đoàn tên lửa 81.
Tiểu đoàn 53 được tăng cường đại đội 518 (từ Hải Dương về) và với các đại đội trung cao
171, 175 hình thành cụm tác chiến tập trung ở tây bắc Hải Phòng. Đây là cụm tác chiến đầu tiên của
Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng.

Được Chính uỷ Quân chủng Đặng Tính, Chính uỷ Lương Tý, Tham mưu trưởng Lê Huy
Vinh và Chủ nhiệm chính trị Lê Hồng Tâm đến kiểm tra, chỉ đạo và động viên, cán bộ, chiến sĩ trong
cụm tác chiến nêu cao quyết tâm chiến đấu, đẩy mạnh huấn luyện và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn
diện. Nhiều đơn vị và cá nhân đã viết quyết tâm thư gửi lên cấp trên, ra sức rèn luyện nâng cao trình
độ về mọi mặt, nhất là trình độ chiến đấu, bắn rơi máy bay địch, lập thành tích thiết thực chào mừng
lễ kỷ niệm ngày thành lập quân đội 22 tháng 12. Khẩu đội 5 có nhiều cố gắng trong xây dựng và trở
thành khẩu đội đầu đàn của đại đội 516. Tại trận địa An Hồng, tiểu đoàn 84 Trung đoàn 238 liên tục
trong 3 ngày 21, 22, 23 tháng 12 năm 1965 bắn rơi 3 máy bay F-105, A-3D, F4, lập thành tích thiết
thực chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

14 giờ 30 phút ngày 23 tháng 12 năm 1965, một số tốp máy bay hải quân gồm 9 chiếc A3J,
A4D, F4H từ Hải Dương bay về hướng Hải Phòng. Được lệnh của chỉ huy tiểu đoàn 53, các đại đội
pháo trung cao và tiểu cao của cụm đều nổ súng đánh địch quyết liệt Đại đội 5 16 ở trận địa Tràng
Duệ thuộc huyện An Hải sử dụng phương pháp bắn trực tiếp, bắn rơi một chiếc A4. Đây là trận đầu
tiên bộ đội pháo 57mm của bộ đội phòng không Hải Phòng bắn rơi máy bay Mỹ.

Trải qua hơn 7 tháng vừa chiến đấu vừa xây dựng, được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của
Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng, sự quan tâm giúp đỡ to lớn, quý báu của Thành uỷ, Uỷ ban hành
chính, các lực lượng vũ trang và nhân dân Hải Phòng, sự cố gắng vượt bậc của lãnh đạo, chỉ huy các
cấp và bộ đội, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đã khẩn trương xây dựng lực lượng, nghiên cứu
đích, triển khai phương án tác chiến, đội hình chiến đấu, cách đánh và bước đầu hoàn thành được
nhiệm vụ trong thời kỳ đầu cuộc chống chiến tranh phá hoại của địch ở khu vực Hải Phòng.

Trong thời gian trên, Bộ tư lệnh đã chỉ huy các đơn vị nhiều lần cơ động chiến đấu, đánh
17 trận, bắn rơi 8 máy bay Mỹ, bắn bị thương nhiều chiếc khác. Càng chiến đấu, bộ đội càng được rèn
luyện, thử thách, nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt, các tổ chức Đảng, quần chúng, đơn vị vững
mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật được triển khai nghiêm
túc, thường xuyên bảo đảm chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy và bảo đảm đời sống của bộ
đội trong thời chiến. Các tổ chức đảng và đoàn hoàn thành tốt cuộc vận động xây dựng chí bộ, chi
đoàn 4 tốt và rèn luyện đảng viên, đoàn viên 4 tốt. Quan hệ với các tổ chức Đảng, chính quyền, nhân
dân địa phương và các lực lượng vũ trang của thành phố ngày càng chặt chẽ, từng bước phát huy được
sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không trên địa bàn "Thành phố trung
dũng quyết thắng".

Do lập được nhiều thành tích trong chiến đấu, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đề nghị
Bộ tư lệnh Quân chủng xét tặng huân chương Chiến công hạng nhì cho đại đội 2, huân chương chiến
công hạng ba cho đại đội 518 tiểu đoàn 53 và đại đội 1; tặng bằng khen cho các đại đội 173, 517, 118,
khẩu đội 3 trung đội 3 tiểu đoàn 51, các chi đoàn 114, 115, 9 và 12 cán bộ, chiến sĩ; tặng giấy khen
cho 19 tập thể, 3 chi đoàn và 147 cán bộ, chiến sĩ; tặng huy hiệu chiến thắng 5-8 cho 230 đồng chí;
tặng danh hiệu "Chiến sĩ tháng 8" cho 455 đồng chí và hàng trăm tặng phẩm khác. Đặc biệt, do có
nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng, trong năm 1965, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng đã công nhận phân đội radar nhìn vòng 513K là đơn vị quyết thắng, 22 phân đội và phòng đạt
danh hiệu tiên tiến, 40 chiến sĩ thi đua và 249 chiến sĩ giỏi, 7 chi bộ, 12 chi đoàn, 206 đảng viên, 818
đoàn viên đạt 4 tốt và 5 đơn vị được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhì và ba.

Tuy nhiên do đặc điểm yếu địa ven biển, có nhiều mục tiêu bảo vệ trên diện rộng, lực
lượng và trang bị có hạn, trình độ cán bộ, chiến sĩ còn hạn chế nên chất lượng chiến đấu chưa cao,
chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Những khiếm khuyết này được lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ đội
nghiêm khắc kiểm điểm, rút ra bài học cụ thể và có biện pháp khắc phục hiệu quả nhằm nâng cao hiệu
suất chiến đấu trong thời gian tới.

Bị thất bại nặng nề trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, tháng 1 năm 1966,
Mỹ - nguỵ huy động toàn bộ lực lượng quân sự mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất.

Sau 37 ngày ngừng ném bom trên miền Bắc, ngày 1 tháng 2 năm 1966 Mỹ lại tiếp tục sử
dụng máy bay đánh phá ác liệt ở Quân khu 4 rồi leo thang phá hoại ra Thanh Hoá, đồng thời tăng
cường sử dụng máy bay trinh sát các mục tiêu ở ngoài vĩ tuyến 20, trọng điểm là Hà Nội, Hải Phòng.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 12, Nghị quyết Quân uỷ Trung ương tháng
2 năm 1966, Đảng uỷ Quân chủng nhận định địch có khả năng đánh thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng.
Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh Quân chủng tổ chức lực lượng cơ động đánh địch bảo vệ giao thông vận tải,
nhất là trên tuyến đường số 1 Nam, đồng thời chỉ đạo các đơn vị ra sức huấn luyện, chuẩn bị sẵn sàng
chiến đấu để bảo vệ Thủ đô và thành phố Cảng.

Căn cứ vào đặc điểm tình hình, nhiệm vụ được giao, ngày 26 tháng 3 năm 1966, Đảng uỷ
Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng xác định nhiệm vụ của bộ đội phòng không Hải Phòng trong năm
1966 là: Tập trung mọi khả năng, tìm mọi biện pháp làm chuyển biến mạnh mẽ mọi mặt chính trị, tư
tưởng, tổ chức chỉ huy, kỹ thuật, chiến thuật nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện và khả năng chiến
đấu. Phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt của đơn vị trong tác chiến phòng không. Thường xuyên hiệp
đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, quyết tâm chiến đấu tiêu diệt nhiều
máy bay địch, bảo vệ vững chắc các mục tiêu trọng yếu ở Hải Phòng, góp phần phá tan bước leo
thang mới và làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại của địch trong bất cứ tình huống nào.
Cùng địa phương kiên quyết chống mọi hoạt động biệt kích, gián điệp, chiến tranh tâm lý để bảo vệ
nhân dân và các kho tàng, trận địa của đơn vị. Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng khi có lệnh đi tham gia
chiến đấu ở các chiến trường B, C. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để đánh thắng địch trong trường hợp
chúng mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước. Yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trên là càng đánh càng
giỏi, càng thắng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Trên cơ sở đó, Đảng uỷ đề ra các chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng
lãnh đạo các đơn vị thực hiện nhiệm vụ trên. Về tác chiến, Đảng uỷ đặc biệt nhấn mạnh đến việc lãnh
đạo quán triệt đường lối quân sự và quyết tâm chiến lược của Đảng, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng
không, kiên quyết tập trung lực lượng và phát huy cao độ khả năng trang bị sẵn có, bảo vệ vững chắc
các mục tiêu trọng yếu ở Hải Phòng.
Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng xác định quyết tâm: kiên quyết tập trung binh hoả lực,
nắm vững thời cơ, cơ động kịp thời, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, bảo vệ các mục tiêu chủ yếu,
nhất là kho xăng, nhà máy xi măng, khu cảng, cầu Hoa Lư, sân bay Kiến An, nhà máy điện và trạm
biến thế.

Để thực hiện quyết tâm trên, Bộ tư lệnh đã điều chỉnh lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu
cơ bản: Cụm pháo trung cao thứ nhất gồm các đại đội 171, 175, 176 bố trí ở An Hồng, Đăng Cương,
Lâm Hà; cụm pháo trung.cao thứ 2 gồm các đại dội 173, 172, 174 bố trí ở Lôi Dương, Đoạn Xá, cầu
Rào. Tiểu đoàn 51 gồm các đại đội 511, 516, 382, 388 bố trí ở An Lạc, Gò Chuối, Sở dầu, cầu Niệm;
các trung đội 11, 12, 13 bố trí ở Cam Lộ, Vĩnh Khe, cầu Niệm; sở chỉ huy ở Thẩm Cối (Đình Cam
Lộ), đài quan sát ở chợ Hồ. Tiểu đoàn 52 gồm các đại đội 517, 381, 386 bố trí ở đồi 74, Lò Vôi, đồi
137; các trung đội 21, 22 bố trí ở tây Phù Liễn, bắc đồi 137; sở chỉ huy bố trí ở khu hải quân, đài quan
sát ở đồi 143. Tiểu đoàn 53 gồm các đại đội 512, 384 bố trí ở Thượng Đoan, An Đa Nội; các trung đội
31, 32, 33, 34 bố trí ở nhà máy điện, nhà máy cá hộp, ga và cầu Rào; sở chỉ huy ở cây số 8 Cát Bi, đài
quan sát ở Tràng Cát. Tiểu đoàn 54 gồm các đại đội 513, 515, 387 bố trí ở bến Bính, xóm Dâu, bãi
Mìn, Bính Động; trung đội 41 ở Lâm Động; sở chỉ huy ở khu nhà xe, đài quan sát ở núi Đèo. Sở chỉ
huy cơ bản của Bộ tư lệnh ở Kiến An. Trung đội radar nhìn vòng 513K ở Động Giới.

Các đại đội pháo trung cao tập trung hoả lực đánh địch ở hướng phụ trách để bảo vệ các
mục tiêu, trọng tâm là các mục tiêu chủ yếu ở Hải Phòng; khi tốp máy bay chủ yếu chuẩn bị công kích
thì hiệp đồng với các loại hoả lực khác đánh địch bay bằng trên đường bay vào mục tiêu; tích cực chi
viện cho bộ đội tên lửa, không quân; sẵn sàng cơ động về trận địa dự bị khi có lệnh.

Tiểu đoàn 51 cùng với các tiểu đoàn 53, 54 bảo vệ vững chắc các mục tiêu ở Hải Phòng,
chủ yếu là kho xăng dầu, nhà máy xi măng, khu cảng và cầu Hoa Lư. Hướng chủ yếu của tiểu đoàn là
tây, tây nam; hướng quan trọng là đông bắc, tây bắc; sẵn sàng cơ động khi có lệnh. Hiệp đồng chặt
chẽ với cụm hoả lực bảo vệ tiểu đoàn tên lửa ở Minh Kha và các lực lượng cơ động của Bộ tư lệnh
tiêu diệt địch bảo vệ mục tiêu được giao.

Tiểu đoàn 52 có nhiệm vụ bảo vệ sân bay Kiến An, chủ yếu là đường băng, chỗ để máy
bay, sở chỉ huy Bộ tư lệnh. Hưởng chủ yếu từ đông nam, nam đến tây nam. Hiệp đồng chặt chẽ, bảo
đảm cho không quân ta cất, hạ cánh an toàn. Hiệp đồng chặt chẽ với cụm phòng không để chi viện
bảo vệ tiểu đoàn tên lửa ở Láng Thượng. Sẵn sàng cơ động khi có lệnh. Thường xuyên quan hệ chặt
chẽ với các tiểu đoàn 51, 53 kịp thời cơ động tăng cường hoả lực bảo vệ các mục tiêu ở Hải Phòng.

Tiểu đoàn 53 là lực lượng sẵn sàng làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu của Bộ tư lệnh, cùng
với các tiểu đoàn 51, 54 bảo vệ các mục tiêu ở Hải Phòng. Hướng chủ yếu là đông nam và đông. Mục
tiêu bảo vệ chủ yếu của tiểu đoàn là cảng, nhà máy điện Cửa Cấm, ga, cầu Rào, đường băng sân bay
Cát Bi. Hiện nay tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ cơ động đánh địch trên tuyến đường số 5, có nhiệm vụ
đánh địch ở vòng ngoài buộc chúng phải tăng độ cao, phá tan ý định bất ngờ đánh phá mục tiêu và tạo
điều kiện cho các đơn vị chốt ở tuyến trung tâm tiêu diệt địch. Hướng chủ yếu của tiểu đoàn là tây và
tây nam. Sẵn sàng cơ động khi có lệnh. Hiệp đồng chặt chẽ với cụm hoả lực bảo vệ tiểu đoàn tên lửa ở
Song Mai, Minh Kha, Hồng Phong, Đoạn Xá. Tích cực chi viện cho các đơn vị bạn khi bị địch đánh
vào trận địa và phối hợp hoả lực đánh địch bảo vệ mục tiêu.
Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đẩy mạnh công tác nghiên cứu địch để xây dưng
phương án tác chiến, tổ chức chỉ huy, bảo đảm chiến đấu và hiệp đồng đánh địch, tiến hành nguỵ
trang công sự, trận địa và chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu ở các cấp.

Phòng Tham mưu tổ chức triển khai kế hoạch huấn luyện năm 1966 nhằm nâng cao chất
lượng chiến đấu cho các đơn vị, bồi dưỡng trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ, nghiệp vụ của cơ
quan, củng cố nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật và hiệp đồng chiến đấu cho bộ đội.

Ngày 12 tháng 4 năm 1966, Bộ tư lệnh hoàn thành phương án tác chiến bảo vệ Hải Phòng
với bản thuyết minh và được thể hiện trên bản đồ có tỉ lệ 1/50.000. Bản thuyết minh nêu rõ các nội
dung về phán đoán thủ đoạn hoạt động của địch, nguyên tắc chỉ huy, quy định về xạ kích và xử lý các
tình huống chiến đấu.

Cùng ngày, Bộ tư lệnh ban hành mệnh lệnh chiến đấu cho các đơn vị.

Với sự chỉ đạo, tổ chức của Phòng Tham mưu, các cơ quan, đơn vị nhanh chóng triển khai
thực hiện các văn bản trên.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi thành lập, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng xây dựng và
triển khai phương án tác chiến bài bản, đầy đủ công phu, mang tính khoa học quân sự phòng không
khá cao. Đó là yếu tố rất cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội nâng cao trình độ tác chiến phòng
không trước đối tượng tác chiến là máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ.

15 giờ 15 phút ngày 19 tháng 4 năm 1966, đài radar của hải quân phát hiện một tốp 4 chiếc
máy bay ở ngoài biển bay thẳng vào đất liền. Lập tức, thủ trưởng trực ban Bộ tư lệnh báo động các
đơn vị vào cấp 1. 15 giờ 22 phút, đài radar của các tiểu đoàn 51, 52 và các đại đội 171, 116, 173 đều
phát hiện và bám sát mục tiêu. Ngay khi tốp mục tiêu vào đến vùng hoả lực, các đại đội 116, 173, 174,
387, trung đội 6 và lực lượng súng máy phòng không tự hành AM lần lượt bắn vào đội hình địch. Đại
đội 116 bắn rơi 1 chiếc A4.

Xét thành tích chiến đấu trong trận đánh và căn cứ vào đề nghị của thủ trưởng các đơn vị,
ngày 7 tháng 5 năm 1966, Chủ nhiệm chính trị Lê Hồng Tâm đã ký quyết định tặng danh hiệu quyết
thắng cho 38 cán bộ, chiến sĩ.

Ngày 9 tháng 5 năm 1966, Chủ tịch Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng Trần Kiên ký
quyết định số 209/QĐ, tặng cờ luân lưu của Mặt trận dân tộc giải phóng thành phố Đà Nẵng (thành
phố kết nghĩa với Hải Phòng) cho đại đội 116 thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân và được
ghi vào sổ vàng của thành phố.

Ngày 11 tháng 5 năm 1966, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân ban hành tài liệu số
773/TM-KH về dự thảo kế hoạch bảo vệ Hải Phòng. Quyết tâm của Bộ tư lệnh Quân chủng là:

- Tập trung lực lượng tiêu diệt thật nhiều máy bay địch, bảo vệ vững chắc khu vực Hải
Phòng, nhất là các mục tiêu trọng yếu, không để địch phá hoại ngay từ trận đầu, bảo tồn lực lượng,
sẵn sàng đánh liên tục, lâu dài, gây cho địch thiệt hại nặng, từng bước đánh bại âm mưu đánh phá Hải
Phòng của chúng.
- Sử dụng lực lượng: Các đơn vị thuộc Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng; từ 1 đến 2 tiểu
đoàn tên lửa; các lực lượng vũ trang, bán vũ trang ở địa phương.

Khi địch có triệu chứng đánh lớn Hải Phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng sẽ tăng cường từ 1
đến 2 trung đoàn pháo cao xạ, từ 2 đến 3 tiểu đoàn tên lửa và lực lượng pháo cao xạ bảo vệ tên lửa;
một phần lực lượng của 2 trung đoàn không quân 921, 923.

Bản kế hoạch còn nêu rõ nguyên tắc bố trí sử dụng lực lượng, việc tổ chức chỉ huy và hiệp
đồng chiến đấu của các lực lượng phòng không.

Đảng uỷ và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng tổ chức quán triệt triển khai thực hiện
nghiêm túc quyết tâm của Bộ tư lệnh Quân chủng, xây dựng thành phương án tác chiến và kế hoạch
chiến đấu để bảo vệ thành phố Hải Phòng.

Ngày 14 tháng 5 năm 1966, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp, ra quyết định về xây
dựng lực lượng và tổ chức chỉ huy các lực lượng phòng không, trong đó có quyết định tăng cường Bộ
tư lệnh phòng không Hải Phòng.

Thực hiện quyết định trên, ngày 21 tháng 6 năm 1966, Bộ Quốc phòng ra quyết định số
461QĐ-QP, thành lập và chấn chỉnh một số đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân,
trong đó chấn chỉnh các đơn vị thuộc Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 thành 3 trung
đoàn pháo phòng không 240, 252, 254 và tăng cường Bộ tư lệnh Hải Phòng - Đường 5 để chỉ huy,
quản lý các trung đoàn pháo phòng không 213, 240, 252, 254 và Trung đoàn tên lửa 285.

Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 gồm có các đồng chí: thượng tá Nguyễn
Hữu Ích, Tư lệnh; thượng tá Văn Giang đang làm chính uỷ Bộ tư lệnh phòng không Hà Nội được điều
về làm chính uỷ; trung tá Thanh Giang, Phó tư lệnh; trung tá Lương Tý, Phó chính uỷ.

Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng chỉ định các đồng chí Văn Giang (bí thư), Đinh Phúc Hải
và Lâm Văn Kiếm vào Đảng uỷ Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5.

Thủ trưởng cơ quan Bộ tư lệnh gồm có các đồng chí: Ninh Hữu Trác, Tham mưu trưởng;
Lê Hồng Tâm, Chủ nhiệm chính trị; Trần Sự, Chủ nhiệm hậu cần.

Trung đoàn pháo phòng không 240 (Đoàn Thành Tô) do đồng chí Nguyễn Điện làm trung
đoàn trưởng, đồng chí Vi Huyền Kỳ làm chính uỷ. Trung đoàn gồm có 3 đại đội pháo trung cao 172,
174, 176 trang bị pháo 100mm; 2 đại đội 512, 513 trang bị pháo 57mm; 7 đại đội 382, 383, 384, 386,
394, 395, 396 trang bị pháo 37mm; năm trung đội súng máy phòng không 14,5mm một nòng (mỗi
trung đội có 4 khẩu). Sở chỉ huy trung đoàn ở Cảng Đoạn Xá. Nhiệm vụ của trung đoàn là đánh địch,
trực tiếp bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở nội thành Hải Phòng.

Trung đoàn pháo phòng không 252 (Đoàn Sông Cấm) do đồng chí Nguyễn Ngọc Sinh làm
trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Tự Biên làm chính uỷ. Trung đoàn gồm có 4 đại đội 171, 173, 175,
177 trang bị pháo 100mm; 2 đại đội 51, 515 trang bị pháo 57mm; 2 đại đội 387, 388 trang bị pháo
37mm; 2 trung đội 33, 34 trang bị súng máy phòng không 12,7mm. Sở chỉ huy trung đoàn ở Lân
Động, Thuỷ Nguyên. Nhiệm vụ của trung đoàn là đánh địch đột nhập từ phía bắc vào Hải Phòng.
Trung đoàn pháo phòng không 254 (Đoàn Duyên Hải) do đồng chí Bùi Trường Chiểu làm
trung đoàn trưởng, đồng chí Dương Bá Kim làm chính uỷ. Trung đoàn gồm có 3 đại đội 134, 136, 137
trang bị pháo 100mm; hai đại đội 516, 517 trang bị pháo 57mm; 2 đại đội 381, 385 trang bị pháo
37mm. Sở chỉ huy trung đoàn ở An Hải. Nhiệm vụ của trung đoàn là đánh địch từ hướng tây nam vào
Hải Phòng.

Trung đoàn pháo phòng không 213 (Đoàn Trần Phú) thành lập ngày 13 tháng 12 năm 1963
tại xã Thọ Vực, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, gồm có các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần,
đại đội chỉ huy và 5 đại đội pháo 37mm, do đồng chí Đoàn Ngọc Cát làm quyền trung đoàn trưởng,
đồng chí Nguyễn Huy Riểu làm chính uỷ, trực thuộc Quân khu 3. Tháng 4 năm 1964, trung đoàn chia
làm 2 cụm làm nhiệm vụ cơ động phục kích đánh máy bay thả biệt kích của địch ở nông trường Rạng
Đông, tỉnh Hà Nam và huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Tháng 6 năm 1964, trung đoàn cơ động về
huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình làm nhiệm vụ huấn luyện bổ sung kỹ thuật hộ binh và bắn đạn thật.
Ngày 20 tháng 9 năm 1964, trung đoàn hành quân lên Mai Sơn thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc
cùng với hai trung đoàn bạn phục kích đánh máy bay thả biệt kích của địch. Ngày 9 tháng 11 năm
1964 trung đoàn cơ động về thị trấn Vân Đình thuộc huyện ứng Hoà, tỉnh Hà Tây.

Tháng 1 năm 1965, trung đoàn được lệnh tổ chức lực lượng gồm 3 đại đội pháo 37mm và
đại đội 48 sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Thượng Lào. Tháng 2 năm 1965, trên đường hành quân về
nước trung đoàn trú quân ở Mường Hàm. Tại đây cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã chiến đấu hết sức
dũng cảm, bắn rơi 11 máy bay Mỹ, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ. Do lập công xuất sắc, trung đoàn
đã được Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào trao tặng huân chương Ít-xa-la hạng nhất, lá quốc kỳ
Lào và được Bộ Quốc phòng tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhì.

Tháng 4 năm 1965, đại đội 2 và đại đội 3 rút từ Lào về thị trấn Đồng Tâm, tỉnh Thanh Hoá.
Tại đây, lực lượng này tiếp nhận thêm 1 đại đội thành lập tiểu đoàn có phiên hiệu là tiểu đoàn 2. Sau
khi ổn định biên chế, tổ chức, tranh thủ huấn luyện, tiểu đoàn làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên
địa bàn Thanh Hoá, Ninh Bình.

Ngày 17 tháng 2 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu 3 ra lệnh cho hai đại đội 4 và 5 hành
quân vào Thanh Hoá, cùng với tiểu đoàn 14 sư đoàn 304 thành lập cụm phòng không bảo vệ cầu Hàm
Rồng. Tại đây lực lượng của trung đoàn đã đánh một số trận, cùng với quân và dân Thanh Hoá bắn rơi
47 máy bay Mỹ trong 2 ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965.

Tháng 9 năm 1965, trung đoàn tổ chức tiếp nhận pháo 57mm và huấn luyện tại núi Chè,
huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Biên chế của trung đoàn thời kỳ này có 6 đại đội pháo 57mm, 3 tiểu
đoàn pháo gồm 7 đại đội pháo 37mm, hai đại đội súng máy phòng không 14,5mm hai nòng và 1 đại
đội súng máy phòng không 14,5mm một nòng.

Đêm ngày 5 tháng 11 năm 1965, Trung đoàn 213 được lệnh cơ động về bảo vệ hai cầu Lai
Vu, Phú Lương thuộc tỉnh Hải Hưng.

Ngày 30 tháng 12 năm 1965, Bộ Tổng tham mưu ra quyết định số 123/TM-QĐ điều Trung
đoàn pháo phòng không 213 từ Quân khu 3 về trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ
đó đến khi về trực thuộc Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5, Trung đoàn 213 đã liên tục
chiến đấu quyết liệt, bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ hai cầu Phú Lương, Lai Vu.

Trung đoàn tên lửa 285 (đoàn Nam Triệu) thành lập ngày 3 tháng 7 năm 1965 tại xã Quỳnh
Động, trong khu rừng Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Thái. Trung đoàn 285 gồm có các ban tham mưu, chính
trị, hậu cần, bốn tiểu đoàn hoả lực 71, 72, 73, 74 và tiểu đoàn kỹ thuật 75 do đồng chí Vũ Thành làm
trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Tán Thuật làm chính uỷ. Sau huấn luyện chuyển binh chủng, đầu
tháng 12 năm 1965, trung đoàn tổ chức nhận khí tài và triển khai chiến đấu bảo vệ phía đông nam Hà
Nội. Cuối tháng 12 năm 1965, trung đoàn được Quân chủng giao nhiệm vụ triển khai lực lượng chiến
đấu bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở Hải Dương, Hải Phòng. Ngày 3 tháng 3 năm 1966, trong đợt phối
thuộc chiến đấu với Trung đoàn tên lửa 238 ở Hoà Bình, tiểu đoàn 71 đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại
chỗ 1 chiếc F-105. Hai ngày sau, tiểu đoàn 72 đánh thắng trận đầu, bắn rơi 1 máy bay địch ở cửa Nam
Triệu. Ngày 17 tháng 4, tại trận địa Bùi Xá (Quảng Ninh), tiểu đoàn 72 hiệp đồng chặt chẽ với pháo
phòng không bảo vệ trận địa, đánh tháng trận đầu, bắn rơi 2 máy bay địch. Tiếp đó, trung đoàn còn
đánh một số trận bắn rơi tại chỗ 6 máy bay địch, riêng đợt tham gia cụm tác chiến Lê Xá - Đồ Sơn do
Quân chủng tổ chức tiểu đoàn 74 bắn rơi 3 máy bay địch.

Ngay sau khi ổn định biên chế tổ chức, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng-
Đường 5 đã tập trung lãnh đạo, tổ chức đơn vị bổ sung phương án tác chiến, điều chỉnh đội hình và
sẵn sàng chiến đấu cao để bảo vệ các mục tiêu được giao.

Đội hình chiến đấu Ở Hải Phòng: Trung đoàn 240 bố trí ở đông nam, Trung đoàn 252 bố trí
ở phía bắc, Trung đoàn 254 bố trí ở tây nam. Ở Hải Dương, Trung đoàn 213 bố trí bảo vệ hai cầu Phú
Lương, Lai Vu. Trung đoàn tên lửa 285 bố trí bảo vệ Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh.

Ngoài nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Hải Phòng như trước, bộ đội
phòng không Hải Phòng - Đường 5 còn có thêm nhiệm vụ bảo vệ đường số 5, chủ yếu là hai cầu Phú
Lương và Lai Vu ở Hải Dương.

Đường số 5 ở khu vực Hải Dương có trên 40km đường bộ và đường sắt, trong đó có hai
trọng điểm giao thông là cầu Phú Lương và cầu Lai Vu. Cầu Phú Lương có 5 nhịp dài 375m bắc qua
song Thái Bình, là cầu dài thứ 2 trên miền Bắc. Cầu Lai Vu dài 128m, có 2 nhịp bắc qua chi nhánh
sông Văn Úc. Hai cầu cách nhau 4,5km, cách thị xã Hải Dương 2km về phía đông và cách Hải Phòng
40km về phía tây. Hai cầu này cùng với hệ thống nhà ga lớn ở Hải Dương, Lai Khê, Phú Thái, Cao
Xá, Cẩm Giăng… làm cho đường số 5 trở thành đường giao thông chiến lược nối liền Hải Phòng với
Hà Nội. Ngoài ra ở Hải Dương còn có các cơ sở sơ tán nhiên liệu, các khu bốc dỡ hàng đường sông ở
cảng Tiên Kiều, Ninh Giang, bốc dỡ hàng đường bộ ở Lai Khê, Tiên Trung, thị xã Hải Dương, các đầu
mối giao thông quan trọng như đường số 17 (Phả Lại - Ninh Giang), đường số 39 (Hải Dương - Hưng
Yên) và các đường liên huyện từ Hải Dương đi Thanh Hà, Tứ Kỳ…

Với tính chất các mục tiêu trên và vị trí địa bàn nằm ở quãng giữa Hà Nội với Hải Phòng
nên Hải Dương trở thành 1 khu vực quan trọng mà địch tập trung đánh phá.

Về đặc điểm địa hình Ở Hải Dương: phía bắc là dãy núi Đông Triều, Chí Linh cách Phú
Lương 25km, phía đông bắc khoảng 17km có dãy núi Yên Phụ, Kình Chu.
Trên các cao điểm này, ta có thể triển khai các vọng quan sát, bố trí các đơn vị súng máy
phòng không, các cao điểm 74, 137 (Kiến An) có thể bố trí cả đại đội 57 hoặc 37mm. Đối với địch
cũng có thể lợi dụng làm những điểm kiểm tra đường bay, những địa tiêu để tập kích mục tiêu.

Hải Dương còn là khu vực đất thấp, nhiều vùng ruộng trũng, mưa lớn có thể ngập, úng.
Hàm lượng nước trong đất rất lớn, đào sâu 30, 40cm đã có nước làm cho công sự, đường sá dễ bị sụt
lở khi có mưa.

Nắm chắc tầm quan trọng và đặc điểm địa hình ở Hải Dượng, Đảng uỷ, ban chỉ huy Trung
đoàn 213 đã tổ chức nghiên cứu địch, xây dựng phương án tác chiến, bố trí đội hình chiến đấu, từng
bước hoàn chỉnh cách đánh và đã bắn rơi một số máy bay địch bảo vệ hai cầu Phú Lương, Lai Vu từ
đầu tháng 11 năm 1965 đến nay.

Ngày 21 tháng 6 năm 1966, địch sử dụng nhiều tốp máy bay vào đánh phá cầu Phú Lương.
Khi một tốp 6 chiếc máy bay vào vùng hoả lực, dưới sự chỉ huy của trung đoàn, các đại đội cùng với
lực lượng dân quân tự vệ địa phương đều nổ súng đánh địch quyết liệt Với phương pháp bắn bằng
phần tử khí tài, đại đội trưởng Phạm Đức Dục đã chỉ huy đại đội 15 bắn trúng 1 chiếc A4. Lực lượng
còn lại bắn rơi 1 máy bay địch.

Một tốp máy bay địch lao xuống ném bom, bắn phá vào trận địa. Pháo thủ số 5 Trần Nghĩa
bị thương nặng vẫn không rời vị trí chiến đấu. Tiểu đội trưởng máy chỉ huy Đoàn Bá Vân bị mảnh
rốc-két xuyên vào cánh tay trái và ngực, máu ra nhiều, biết mình không sống nổi đã động viên đồng
đội đánh thắng rồi trút hơi thở cuối cùng. Đại đội trưởng Phạm Đức Dục bị ngất trong giây lát vì một
quả tên lửa nổ sát cửa hầm sở chỉ huy, khi tỉnh dậy, anh lao thẳng ra trận địa tiếp tục chỉ huy đơn vị
chiến đấu.

Phái viên, đảng uỷ viên trung đoàn Nguyễn Ngọc Hiếu bị ức ép của bom nhưng vẫn gượng
dậy hô lớn: "Các đồng chí đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ đại đội 15 chúng ta quyết ngẩng cao
đầu đánh địch đến cùng". Hưởng ứng lời anh, những loạt đạn lại vun vút lao về phía máy bay địch. Bị
dập nát cánh tay nhưng tiểu đội phó Nguyễn Xuân Kỷ cố cắn răng nén đau, tay còn lại vẫn giữ chặt
ống nhòm quan sát và thông báo phần thử máy bay địch cho đơn vị chiến đấu.

Tin chiến thắng bắn rơi 2 máy bay địch và gương chiến đấu dũng cảm quên mình của các
đồng chí Đoàn Bá Vân, Phạm Đức Dục, Nguyễn Xuân Kỷ của Trung đoàn 213 được Phòng Chính trị
thông báo cho các đơn vị ở Hải Dương, Hải Phòng.

Cuối tháng 6 năm 1966, địch tập trung máy bay tiến hành chiến dịch "Sấm rền Alfa 50",
đánh phá 13 mục tiêu trong hệ thống kho xăng dầu trên miền Bắc. Các chuyên gia quân sự Mỹ cho
rằng, ném bom vào các kho dự trữ xăng dầu của Bắc Việt Nam sẽ gây tổn hại nhiều đến khả năng vận
chuyển hàng quân sự trong nước và dọc các đường thâm nhập vào Nam Việt Nam hơn là bắn phá bất
kỳ một hệ thống mục tiêu riêng biệt nào.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, đồng thời với không quân địch đánh phá kho xăng Đức Giang
ở Hà Nội, nhiều tốp máy bay hải quân vào đánh phá Sở dầu Thượng Lý ở Hải Phòng. Dưới sự chỉ huy
của Bộ tư lệnh, 17 đại đội pháo các loại và 7 trung đội sung máy phòng không của các trung đoàn
254, 252, 240 hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch liên tục, quyết liệt, bắn rơi 2 máy bay và bắn bị thương 4
chiếc khác.

Đồng thời với việc đánh phá Sở dầu Thượng Lý, máy bay địch còn đánh phá ác liệt các
trận địa phòng không của ta. Thấy rõ vị trí lợi hại của đại đội 388 pháo 37mm ở cạnh Sở dầu, nhiều
tốp máy bay địch lao xuống ném bom phá, bắn rốc-két và đạn 20mm xuống trận địa. Pháo thủ số 1
khẩu đội 2 Nguyễn Thuỷ Toàn bị thương vào đùi, chiếc quần đẫm máu nhưng anh cố nén đau, không
rời vị trí chiến đấu. Khẩu đội trưởng khẩu đội 2 Nguyễn Văn Đệ vừa bị thương vào tay vừa bị sức ép
của bom quật ngã xuống đất, đồng đội chưa kịp băng bó anh đã vùng dậy giơ cao cờ tiếp tục chỉ huy
khẩu đội bắn. Pháo thủ số 4 Đỗ Xuân Thư bị thương ở chân, pháo thủ số 3 Phạm Trọng Ôn mình đầy
bùn đất đã noi gương khẩu đội trưởng tiếp tục sử dụng khẩu pháo bị hỏng máy ngắm bắn vào đội hình
máy bay địch để trả thù cho đồng chí, đồng bào.

Ở đài quan sát, chiến sĩ Phạm Quang Nga bị mảnh bom làm dập cánh tay trái và tiện đứt 3
ngón tay phải nhưng anh đã cố hết sức dùng hai khuỷu tay đẫm máu tỳ lên thành công sự tiếp tục
quan sát máy bay địch.

Thấy khẩu đội 2 bị thương vong, đại đội phó Phạm Văn Hiệp từ khẩu đội lao sang thì bị
thương nặng nhưng anh không chịu rời trận địa, tiếp tục động viên bộ đội cho tới khi trận đánh kết
thúc.

Mặc dù bộ đội chiến đấu rất dũng cảm nhưng trận đánh lớn đầu tiên của Bộ tư lệnh phòng
không Hải Phòng - Đường 5 đã không giành được thắng lợi như mong muốn. Không có chiếc máy
bay địch nào bị bắn rơi tại chỗ. Sở dầu Thượng Lý bị tổn thất lớn. Một số cán bộ, chiến sĩ và đồng bào
bị thương vong. Trận đánh không thành công này có nhiều nguyên nhân. Do ta chưa dự kiến hết âm
mưu, thủ đoạn đánh phá của địch nên đội hình chiến đấu bố trí vòng tròn, dàn trải để đánh địch nhiều
hướng và chủ yếu là.bắn máy bay bay bằng. Vì vậy khi địch đánh sở dầu chỉ có đại đội 388 có thể
đánh được máy bay bổ nhào ném bom. Trong khi đó cả 3 trung đoàn 240, 252, 254 vừa mới điều
chỉnh lại lực lượng nên việc tổ chức chỉ huy còn lúng túng, không đơn vị nào bắn được tốp máy bay
đầu tiên vào công kích mục tiêu, trình độ hiệp đồng đánh máy bay bổ nhào ném bom còn nhiều hạn
chế…

Sau trận đánh ngày 29 tháng 6 năm 1966, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng-
Đường 5 đã tập trung lãnh đạo, tổ chức bổ sung phương án tác chiến, kế hoạch chiến đấu và thống
nhất ý định tác chiến, sử dụng lực lượng để bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở Hải Phòng.

Về nhiệm vụ, ngoài các mục tiêu bảo vệ như trước còn thêm Sở dầu Thượng Lý, các nhà
máy điện, xi măng, xưởng đóng tàu và cơ quan thành phố.

Về ý định tác chiến và sử dụng lực lượng: Sử dụng 3 trung đoàn pháo phòng không hỗn
hợp 240, 252, 254 bảo vệ Hải Phòng. Trung đoàn 240 bảo vệ phía nam sông Cấm. Trung đoàn 252
bảo vệ phía bắc sông Cam. Trung đoàn 254 bảo vệ phía tây thành phố và khu vực Kiến An. Trung
đoàn 2 1 3 bảo vệ hai cầu Lai Vu, Phú Lương. Trung đoàn tên lửa 285, hai tiểu đoàn ở Quảng Ninh
làm nhiệm vụ đánh địch bảo vệ vận chuyển dầu bằng đường biển từ Hòn Gai đến Bạch Đằng, một tiểu
đoàn cơ động trên các trận địa Mai Chữ, Đồng Xã bảo vệ phía tây, tây nam Hải Phòng và đường số 5.
Bộ tư lệnh tổ chức nghiên cứu, điều chỉnh đội hình các đơn vị pháo 57 và 37mm "ôm sát"
mục tiêu bảo vệ hơn để có nhiều đơn vị đánh được máy bay địch bổ nhào ném bom; cho phép tên lửa
bắn ở độ cao dưới 2.000m khi có đủ điều kiện xạ kích hiệu quả; tăng cường nghiên cứu địch và huấn
luyện cách đánh máy bay bổ nhào ném bom cho bộ đội pháo phòng không.

Trước bước leo thang đánh phá nghiêm trọng của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, ngày 17
tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chi Minh ra lời kêu gọi quân và dân cả nước: "…Chiến tranh có thể
kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp
có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ' Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến
ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!".

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng và hướng dẫn của Cục
Chính trị,' Đảng uỷ, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 ra nghị quyết chuyên đề về "Thực
hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Phòng Chính trị chỉ đạo
các đơn vị sinh hoạt chính trị, quán triệt sâu sắc ba văn kiện lớn là lời kêu gọi của Bác, thông báo của
Hội đồng Quốc phòng và lệnh động viên của Quốc hội. Cùng với việc phát động phong trào thi đua
"làm theo lời Bác", Bộ tư lệnh còn treo giải thưởng bức trướng "Đơn vị bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ"
cho đơn vị nào bán rơi tại chỗ máy bay địch.

Nhận rõ ý nghĩa thiêng liêng, sâu sắc trong từng ý, từng lời của Hồ Chủ tịch, toàn thể cán
bộ, chiến sĩ bộ đội phòng không Hải Phòng- Đường 5 nguyện phát huy truyền thống "Quyết tử cho
Hải phòng quyết sinh" của các thế hệ cha anh năm xưa, sẵn sàng chiến đấu hi sinh, kiên quyết bắt kẻ
thù phải đền tội mỗi khi chúng vào đánh phá để bảo vệ thành phố cảng và mạch máu giao thông chiến
lược trên tuyến đường số 5. Quyết tâm đó đã trở thành hành động cách mạng cụ thể từ các đồng chí
lãnh đạo, chỉ huy đến từng cán bộ, chiến sĩ; cả trong nghiên cứu địch, bổ sung phương án tác chiến,
cách đánh, huấn luyện chiến đấu và bảo đảm kỹ thuật, hậu cần.

Hai ngày sau khi có lời kêu gọi của Bác, ngày 19 tháng 7 năm 1966, đại đội 175 Trung
đoàn 254 bắn rơi một chiếc A4. Cùng ngày, hai tiểu đoàn 71, 72 Trung đoàn tên lửa 285 phối thuộc
chiến đấu với Bộ tư lệnh Đường số 2- Đường số 3 ở Tây Bắc, bắn rơi 2 chiếc máy bay F-105. Từ ngày
20 đến ngày 25 tháng 7, hai tiểu đoàn 71, 72 còn bắn rơi thêm 4 máy bay địch. Trong các chiến công
trên, nổi bật là trận đánh ngày 20 tháng 7, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn phó Nguyễn Lan và chính trị
viên Đỗ Đăng Khôi, tiểu đoàn 72 đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay gây nhiễu ngoài đội hình RB-
66C diệt một giặc lái. Đây là chiếc máy bay RB-66C đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên miền Bắc. Đó còn
là trận đầu bắn rơi tại chỗ máy bay địch của lực lượng phòng không Hải Phòng - Đường 5, lập chiến
công đầu cho tỉnh Tuyên Quang.

Như vậy, trong hơn một tháng cơ động chiến đấu ở Tây Bắc, hai tiểu đoàn 71, 72 trung
đoàn tên lửa 285 đã hành quân trên 1.800km an toàn, đánh 15 trận, bắn rơi 9 máy bay địch, trong đó
có 3 chiếc rơi tại chỗ.

Ở Hải Phòng, 15 giờ 24 phút ngày 22 tháng 7 năm 1966, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn
285, tại trận địa Trịnh Hưởng (huyện Thuỷ Nguyên), tiểu đoàn 73 bắn rơi tại chỗ máy bay trinh sát
không người lái tầng cao BQM-34A. Đây là trận đầu tiên bộ đội phòng không Hải Phòng- Đường 5
bắn rơi tại chỗ máy bay địch trên đất Hải Phòng. Do lập được thành tích xuất sắc, tiểu đoàn 73 đã
được Bộ tư lệnh Hải Phòng - Đường 5 tặng bức trướng "Đơn vị bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ" và được
liên hoan mừng chiến thắng.

Ngày 27 tháng 7 năm 1966, với sự chủ trì của Bí thư Đảng uỷ Văn Giang, Đảng uỷ Bộ tư
lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 ra nghị quyết "Quyết tâm đánh bại bước leo thang mới cực
kỳ nghiêm trọng của không quân Mỹ tại khu vực Hải Phòng - Đường 5". Sau khi kiểm điểm, đánh giá
kết quả lãnh đạo công tác chiến đấu xây dựng trong thời gian qua, nhận định địch sẽ đánh phá ác liệt
Hải Phòng, Hải Dương, Đảng uỷ đề ra phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo trong thời gian tới là: “Lãnh
đạo chính trị tư tưởng, xây dựng lập trường kiên định vững vàng trong mọi tình huống, xây dựng khí
thế tiến công cách mạng và ý chí kiên cường quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược cho đến thắng
lợi hoàn toàn. Phải giáo dục quán triệt thật sâu sắc quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của Trung ương
Đảng, thấm nhuần lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, nêu cao quyết tâm bảo vệ vững chắc Hải
Phòng - Đường 5".

Đảng uỷ nhấn mạnh: "Cán bộ, chiến sĩ phải biến quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Hồ
Chủ tịch mà ra sức thi đua rèn luyện kỹ thuật, nâng cao chất lượng chiến đấu, bắn trúng, bắn rơi tại
chỗ máy bay địch, bắt sống giặc lái. Tiếp tục hoàn chỉnh phương án tác chiến của Bộ tư lệnh và các
trung đoàn. Có biện pháp nâng cao chất lượng của cơ quan Bộ tư lệnh và cơ quan trung đoàn. Tiến
hành điều chỉnh đội hình chiến đấu và xây dựng một số trận địa mới cho phù hợp với yêu cầu bảo vệ
mục tiêu”.

Tối ngày 29 tháng 7 năm 1966, Bộ tư lệnh tổ chức hội nghị quân chính. Dự hội nghị có
đông đủ thủ trưởng cơ quan Bộ tư lệnh, thủ trưởng các trung đoàn và đơn vị trực thuộc. Sau khi quán
triệt nghị quyết của Đảng uỷ, hội nghị đã quán triệt tình hình địch, thảo luận bổ sung phương án tác
chiến, kế hoạch chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ
trong thời gian tới, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy chủ chốt của Bộ tư lệnh và các trung đoàn thống
nhất đẩy mạnh công tác nghiên cứu để nắm chắc quy luật, thủ đoạn hoạt động, nhất là các thủ đoạn
mới của địch về gây nhiễu ngoài đội hình của các loại máy bay EB-66, EC-121, EA-6B…, nhiễu mục
tiêu giả và nhiễu tích cực trong đội hình máy bay cường kích của hải quân; quán triệt 6 tư tưởng chỉ
đạo tác chiến của Quân chủng trong tiến trình chuẩn bị và thực hành chiến đấu, vận dụng linh hoạt
sáng tạo các hình thức và thủ đoạn chiến thuật trong bố trí đội hình, sử dụng lực lượng, cơ động chiến
đấu, nghi binh, nguỵ trang, nổ giả và bảo đảm kỹ thuật, hậu cần; phát huy uy lực của mọi loại vũ khí,
khí tài, trang bị để đánh thắng các thủ đoạn hoạt động của địch, phấn đấu bắn rơi tại chỗ máy bay, bắt
sống giặc lái trên đất Hải Phòng.

Để thực hiện được quyết tâm trên, hội nghị thống nhất các biện pháp về đẩy mạnh nghiên
cứu đối tượng tác chiến chủ yếu là máy bay hải quân địch, nắm chắc đặc điểm các mục tiêu trọng yếu
của yếu địa ven biển Hải Phòng. Trên cơ sở đó, điều chỉnh đội hình chiến đấu hợp lý, trong đó bố trí
các đơn vị tiểu cao "ôm sát" mục tiêu để đánh máy bay bổ nhào; tích cực vận dụng linh hoạt, sáng tạo
hình thức chiến thuật chết vòng trong kết hợp với lực lượng cơ động lòng ngoài, cơ động phục kích
đón lõng đường bay bay tháp của địch; đẩy mạnh công tác huấn luyện đánh máy bay bay thấp, bổ
nhào ném bom và đánh địch trong điều kiện có nhiễu tích cực ngoài đội hình, nhiễu mục tiêu giả và
nhiễu tiêu cực…Tuy nhiên, việc bắn rơi tại chỗ máy bay, bắt sống giặc lái trên đất Hải Phòng đối với
bộ đội phòng không còn gặp rất nhiều khó khăn. Địch thường sử dụng đường bay vẹt, có khi từ phía
Hải Dương vào đánh thành phố nên khi bị ta bắn trúng rất dễ lao ra biển để trực thăng cứu giặc lái.
Trong khi đó điều kiện phương tiện và tổ chức hiệp đồng vây bắt giặc lái trên biển của ta còn nhiều
hạn chế. Chính vì vậy chỉ tiêu bắn rơi tại chỗ máy bay, bắt sống giặc lái trên đất Hải Phòng trở thành
việc rất khó khăn, phải cố gắng vượt bậc về nhiều mặt mới có thể làm được.

Sau hội nghị, do nắm được ý định tập trung máy bay đánh phá hệ thống kho xăng dầu của
địch nên Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 đã điều chỉnh đội hình chiến đấu. Các đại đội
pháo tiểu cao 384, 66, 65, 177 được cơ động đến các trận địa Bãi Gỗ, An Lạc, Lâm Động, Bính Động
gần Sở dầu Thượng Lý hơn để đánh máy bay địch bổ nhào ném bom vào mục tiêu. Lực lượng tên lửa
được điều ra Quảng Ninh để tăng cường lực lượng đánh địch bảo vệ tàu dầu và lực lượng vận chuyển
dầu từ tàu dầu của nước ngoài đậu ở phao số "O" vào đất liền và đưa đến các kho sơ tán. Đại đội 2
Trung đoàn 213 và một số đơn vị súng máy phòng không khác được điều động đến bảo vệ các kho
xăng dầu sơ tán ở Kinh Môn…

Để bảo đảm chỉ huy chiến đấu, Bộ tư lệnh tổ chức thu tình báo radar, duy từ các vọng quan
sát mắt trên đảo Cát Bà, ĐỒ Sơn, Thuỵ Anh, đồi 137… và vọng quan sát của các đơn vị làm nhiệm vụ
trực ban nghiêm mật liên tục ngày đêm. Phòng Tham mưu kiểm tra, đôn đốc các đơn vị triển khai kế
hoạch chiến đấu và duy trì việc chấp hành các chế độ trực ban sẵn sàng đánh địch. Phòng Hậu cần tổ
chức kiểm tra, hiệu chỉnh, sửa chữa vũ khí, khí tài cho các đơn vị đảm bảo hệ số chiến đấu cao và tiếp
nhận xăng dầu, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men… để đáp ứng yêu cầu chiến đấu đời sống bộ
đội và đủ cơ số dự trữ quy định. Phòng Chính trị đã triển khai thực hiện công tác chính trị, tư tưởng,
tổ chức bảo đảm cho các đơn vị vừa chiến đấu vừa xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Bộ tư lệnh
còn hiệp đồng chặt chẽ với các tổ chức Đảng, chính quyền thành phố, các địa phương và lực lượng vũ
trang khu vực để đánh địch và sẵn sàng vây bắt giặc lái.

5 giờ 56 phút ngày 2 tháng 8 năm 1966, lợi dụng cơn bão số 5 sắp vào đến Hải Phòng,
đồng thời với việc gây nhiễu ngoài đội hình, 2 tốp máy bay nghi binh thu hút trên vùng trời khu vực
cửa Thái Bình và cửa Đáy, địch sử dụng 3 tốp 28 chiếc máy bay A4, F4H, A-3J từ biển bay qua cửa
Thái Bình, cửa Văn Úc, vào núi Voi rồi bay lên huyện Kim Thành (Hải Dương). Chiến sĩ quan sát trên
các vọng Đồ Sơn, Thuỵ Anh, Cát Bà, đồi 137 tới tấp thông báo tình báo địch về sở chỉ huy Bộ tư lệnh.
Dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh, tất cả các đơn vị chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cấp 1.

Tại Hải Dương, ngay khi đội hình máy bay địch bay vào vùng hoả lực, được lệnh của ban
chỉ huy Trung đoàn 213, các đơn vị nổ súng đánh địch quyết liệt. Đại đội 14 chốt ở cầu Lai Vu sử
dụng phần tử tổng hợp bắn 2 loạt đạn, một chiếc F4 bốc cháy. Đại đội 8 pháo 85mm cũng bắn rơi 1
chiếc A4.

Tuy nhiên, địch không đánh mục tiêu ở Hải Dương mà vòng lại lao thẳng về phía Hải
Phòng. Phát hiện ra thủ đoạn nghi binh của địch, Bộ tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị ở Hải Phòng sẵn
sàng chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của các trung đoàn 240, 252, 254, tất cả các lực lượng pháo trung
cao, tiểu cao, súng máy phòng không đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không địa
phương, dân quân tự vệ đánh địch mãnh liệt.
6 giờ 4 phút, khi những tốp máy bay hải quân đầu tiên vào đến cự ly 14km, các dại đội
pháo trung cao 171, 172, 173, 174, 175, 176, 177 sử dụng phương pháp bắn bằng phần tử tổng hợp,
máy chỉ huy và trực tiếp liên tục nhả đạn vào đội hình máy bay địch.

Từ phía tây bắc và tây nam thành phố, trên độ cao từ 1.500 đến 1.800m, các tốp máy bay
cường kích nâng độ cao gần 3.000m rồi bổ nhào ném bom, bắn rốc-két vào Sở dầu Thượng Lý. Tất cả
các đại đội pháo tiểu cao 511, 512, 515, 516, 517, 381, 382, 383, 384, 386, 387 và các trung đội súng
máy phòng không đã hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch dũng cảm, chính xác, bắn rơi 5 máy bay địch bảo
vệ sở dầu an toàn.

Do bộ đội phòng không đánh trả mãnh liệt, bọn giặc lái hoảng sợ đã ném hàng chục quả
bom trệch mục tiêu nhưng lại trúng vào thôn Cam Lộ, giết hại 45 người dân, có cả cụ già và em nhỏ.
Trong nỗi đau chung này, chính trị viên đại đội 517 Vũ Đức Dục đang chỉ huy bộ đội trên đồi 74 đã
mất 9 người thân trong gia đình.

Trong trận đánh quyết liệt đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu vô cùng dũng cảm. Ở đại
đội 177, mặc dù bom đạn địch nổ chát chúa bên cạnh công sự nhưng cả khẩu đội của Trương Văn Cao
vẫn bình tĩnh đánh địch mãnh liệt, nhân viên máy nổ Lê Văn Quý vẫn bám sát vị trí để cung cấp điện
cho đơn vị chiến đấu. Tại trận địa đại đội 511 ở Bến Bính, tiểu đội phó Nguyễn Văn Đễ đã noi gương
chiến sĩ trinh sát Thái Văn A trên đảo Cồn Cỏ, hiên ngang trên chòi cao, bình tĩnh phát hiện, thông
báo dịch dưới làn bom đạn, kiên quyết không xuống thấp để bảo đảm an toàn cho riêng mình với nhận
thức thật đơn giản nhưng thể hiện ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng “ở trên cao nhìn rõ
kẻ thù hơn”.

Trận địa đại đội 384 Trung đoàn 240 ở Bãi Gỗ, cách Sở dầu chưa đầy 500m là nơi diễn ra
trận chiến đấu vô cùng quyết liệt giữa các chiến sĩ ta với máy bay địch. Thấy rõ vị trí lợi hại của trận
địa chốt này, máy bay địch liên tục ném bom, bắn rốc-két vào trận địa. Tất cả cán bộ, chiến sĩ vẫn hiệp
đồng chặt chẽ với dân quân các xã Hùng Vương, Bằng Giang và tự vệ cảng, nhà máy đóng tàu Bạch
Đằng, nhà máy xi măng, Sở dầu Thượng Lý, chiến đấu vô cùng dũng cảm. Khẩu đội trưởng khẩu đội
2 Mai Văn Thầm bị thương nặng đã nén đau, dựa vào thành công sự tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho
đến hơi thở cuối cùng. Dù bị thương nặng, khẩu đội phó Lê Minh Thước đã khẩn trương nhận lá cờ
của khẩu đội trưởng, tiếp tục chỉ huy chiến đấu để trả thù cho đồng chí, đồng bào…

Trận đánh vừa kết thúc, chi bộ đại đội 384 đã tổ chức lễ kết nạp đảng viên cho liệt sĩ khẩu
đội trưởng Mai Văn Thầm tại trận địa. Các chiến sĩ Thuỳ, Nhật, Đông cũng được kết nạp vào Đoàn.
Các buổi lễ được tổ chức đơn giản nhưng trang nghiêm với nhiều ý nghĩa. Mọi người đều nhận rõ
Đảng và Đoàn thường xuyên quan tâm, dìu dắt và sẵn sàng kết nạp những chiến sĩ ưu tú vào đội quân
tiên phong của giai cấp công nhân để tiếp tục gánh vác sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Bộ tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị nhanh chóng khắc phục hậu quả trận đánh và cơn bão, rút
kinh nghiệm, tổ chức khôi phục sức chiến đấu cho các phân đội bị địch đánh phá và tiếp tục chuẩn bị
cho những trận đánh sắp tới. Các đơn vị ở gần thôn Cam Lộ còn tổ chức đoàn cán bộ, chiến sĩ đến
phúng viếng và giúp đỡ các gia đình có người bị địch giết hại khắc phục tổn thất. Càng căm thù giặc
Mỹ bao nhiêu, bộ đội phòng không, nhân dân Hải Phòng càng gắn bó chặt chẽ bấy nhiêu và càng nêu
cao quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.
Để tăng cường lực lượng đánh địch, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho tiểu đoàn 72 Trung
đoàn tên lửa 285 đang chiến đấu ở khu vực Thái Nguyên hành quân gấp về Hải Phòng. Được tin địch
đánh lớn thành phố Cảng gây tổn thất về người và tài sản, bộ đội đã biến lòng căm thù giặc thành
quyết tâm và hành động, nêu cao trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, nhất là cơ động dưới trời
mưa, đường trơn, nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa và chuẩn bị chiến đấu. Ngày 3 tháng 8 năm 1966,
tại trận địa Mai Trữ, tiểu đoàn 72 đã sẵn sàng đánh địch.

Ngày 4 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 72 đánh thắng trận đầu tiên, bắn rơi 1 máy bay địch.
Ngày 5 tháng 8, tiểu đoàn thắng liền 2 trận, lập công xuất sắc, bắn rơi 2 chiếc A-3J ở Kinh Môn, trong
đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 50 bị bắn rơi ở Hải Phòng.

Được tin quân và dân Hải Phòng bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 50, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã gửi thư khen, trong đó Bác nhấn mạnh "Quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu giỏi, tiến bộ nhiều về
phòng không nhân dân và bảo vệ trật tự trị an. Bác rất vui long thay mặt Trung ương Đảng và Chính
phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Hải Phòng. Giặc Mỹ hung ác, chúng còn âm mưu đánh phá
Hải Phòng nhiều hơn. Quân và dân Hải Phòng cán luôn luôn nêu cao cảnh giác, chiến đấu giỏi hơn
nữa, sản xuất giỏi hơn nữa, bảo vệ trật tự trị an tốt hơn nữa và lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa”
(HỒ Chí Minh Toàn tập. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989, tập 10, tr. 384).

Trước tình hình địch tăng cường đánh phá hệ thống kho xăng dầu và chế áp các tàu chở
dầu của nước ngoài ở cảng Hải Phòng, đồng chí Phan Trọng Tuệ, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ
trưởng Bộ Giao thông vận tải đã chủ trì cuộc họp gồm đại biểu Bộ tư lệnh Phòng không- Không quân,
BỘ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5, Bộ tư lệnh Hải quân, Bộ tư lệnh 350, Bộ tư lệnh Công
an vũ trang, Cục Đường biển, cảng và Công ty Xăng dầu… để thống nhất kế hoạch tiếp nhận, vận
chuyển, bảo vệ dầu.

Theo kế hoạch mới, từ nay tàu dầu sẽ đậu ở phao số không trên vùng biển từ Hòn Gai đến
cửa Bạch Đằng. Cục Đường biển và Công ty Xăng dầu tổ chức tiếp nhận dầu từ phao số không vào
đất liền rồi vận chuyển đến các kho sơ tán. Các lực lượng vũ trang, nòng cốt là bộ đội phòng không
Hải Phòng tổ chức đợt tác chiến bảo vệ an toàn các lực lượng vận chuyển dầu.

Thực hiện kế hoạch trên, Bộ tư lệnh Quân chủng điều tiểu đoàn 71 Trung đoàn tên lửa
285,.tiểu đoàn 62 Trung đoàn tên lửa 236 cùng với hai trung đoàn pháo phòng không 231, 233 và hai
đại đội súng máy phòng không từ Bắc Thái về Hải Dương, Hải Phòng. Tiểu đoàn 62 triển khai chiến
đấu bảo vệ Hải Dương. Lực lượng còn lại cùng với tiểu đoàn 73, các lực lượng phòng không tại chỗ
hình thành cụm tác chiến ở Quảng Ninh làm nhiệm vụ bảo vệ tàu dầu và lực lượng vận chuyển dầu
dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5.

Đội hình chiến đấu của cụm: tiểu đoàn 71 ở Vạn Yên, tiểu đoàn 73 ở La Khê, hai trung
đoàn 231, 233 và các đơn vị súng máy phòng không bố trí bảo vệ hai tiểu đoàn tên lửa.

Đảng uỷ, Bộ tư lệnh đã tập trung lãnh đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện
nghiêm chỉnh kế hoạch tác chiến bảo vệ tàu dầu và lực lượng vận chuyển dầu. Tư lệnh Nguyễn Hữu
Ích cùng với đoàn trưởng công an vũ trang Hải Phòng là đồng chí Quốc Thái và một số cán bộ tham
mưu sử dụng tàu tăng-hốt-kít đi tìm trận địa phục kích cho lực lượng súng máy phòng không trên đảo
Đình Vũ và đảo Hải Yến để áp sát bảo vệ tàu dầu và đón đánh đường bay bay thấp của địch.

Ngày 19 tháng 8 năm 1966, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 chính thức giao
nhiệm vụ cho cụm tác chiến ở Quảng Ninh. Nhiệm vụ của cụm là tiêu diệt máy bay địch, đánh giãn
chúng ra xa để bảo vệ tàu dầu và lực lượng, phương tiện vận chuyển dầu từ pháo số không vào đất
liền. Ý định tác chiến của Bộ tư lệnh là sử dụng cả hai tiểu đoàn 71, 73 đánh địch cả ban ngày và ban
đêm.

Cùng ngày, toàn cụm sẵn sàng chiến đấu.

Buổi tối ngày 21 tháng 8, cán bộ, nhân viên Sở dầu Thượng Lý phối hợp với các lực lượng
vận chuyển dầu bằng xà lan từ phao số không vào đất liền. Máy bay địch thay nhau bắn pháo sáng và
quần đảo trên các tàu chở dầu để uy hiếp và ngăn chặn công việc vận chuyển.dầu của ta. 23 giờ 45
phút, được lệnh của Trung đoàn 285, tiểu đoàn 73 phóng 1 quả đạn vào một tốp máy bay địch buộc
chúng phải vòng ra xa. Các chiến sĩ vận chuyển dầu yên tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch.

Gần trưa ngày 23 tháng 8, một số tốp máy bay địch vào hoạt động ở ngoài khơi Hải Phòng.
10 giờ 25 phút, tiểu đoàn 71 phóng 2 quả đạn bắn rơi 1 chiếc A4. Đến 11 giờ 44 phút, tiểu đoàn 73
phóng 1 quả đạn bắn cháy 1 chiếc khác. Phát huy chiến thắng, ngày 29 tháng 8, tiểu đoàn 71 đánh
thắng 2 trận, bắn rơi 2 chiếc A4; ngày 30 tháng 8, tiểu đoàn 73 cũng đánh thắng 2 trận, bắn rơi 2 chiếc
A4.

Giữa lúc cụm chiến đấu liên tiếp lập công thì ba trung đội súng máy phòng không của
Trung đoàn 252 gồm 18 khẩu đội 12,7mm được lệnh hành quân từ núi Đèo đến cảng Hải Phòng rồi
lên tàu Tăng-hốt-kít đến chiếm lĩnh trận địa quy định. Hai trung đội triển khai ở đảo Hải Yến. Trung
đội 33 triển khai ở đảo Đình Vũ Với quyết tâm diệt địch rất cao, cán bộ, chiến sĩ đã thức trắng đêm
hành quân bảo đảm bí mật, an toàn; có sáng kiến khắc phục khó khăn hạn chế nhiều muỗi, dĩn, xây
dựng trận địa trên nền đất cát và khẩn trương sẵn sàng chiến đấu.

15 giờ 54 phút ngày 31 tháng 8, hai chiếc RF-8U từ hướng đông nam bay thẳng vào đảo
Đình Vũ. Phát hiện được máy bay địch, chiến sĩ trinh sát Phạm Hữu Ngân đánh kẻng báo động. Khi
máy bay cách trận địa 2.000m, dưới sự chỉ huy của trung đội trưởng Đồng Văn Quyền và chính trị
viên Nguyễn Văn Đàm, cả 6 khẩu đội đồng loạt bắn 4 điểm xạ hết 240 viên vào chiếc bay đầu. Do
bắn mạnh, một khẩu súng bị đổ nghiêng vì đất cát sụt lở. Noi gương Bế Văn Đàn lấy thân làm giá
súng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến sĩ Ngưu lao đến, dũng cảm lấy tay và đầu nâng thẳng
súng lên cho khẩu đội tiếp tục bắn. Một chiếc RF-8U bị bắn rơi, cách bờ biển khoảng 10km, phi công
nhảy dù. Theo kế hoạch hiệp đồng, lực lượng công an vũ trang và dân quân tự vệ ở Tràng Cát, Hoàng
Châu lên tầu, thuyền ra biển vây bắt giặc lái. Vì tàu, thuyền tốc độ chậm lại bị máy bay địch ném
bom, bắn đạn khống chế nên trực thăng địch cứu được giặc lái. Một số đơn vị pháo trung cao ở Hải
Phòng và trung đội dân quân ở Thuỷ Nguyên, Tràng Cát, Cát Hải trang bị súng máy 12,7mm có nổ
súng vào máy bay địch đến cứu giặc lái nhưng không kết quả.
Như vậy, trung đội 33 Trung đoàn 252 đã lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay Mỹ có
giặc lái đầu tiên ở Hải Phòng. Đó là chiến công thiết thực của bộ đội phòng không Hải Phòng chào
mừng kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9.

Nhận được báo cáo, Bộ tư lệnh Quân chủng đã gửi điện khen và lặng trung đội 33 một
chiếc đài thu thanh bán dẫn. Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 tặng trung đội lá cờ "Làm
theo lời Bác, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược", trao giải thưởng bức trướng "Đơn vị bắn
rơi tại chỗ" và một con bò theo quy định để bộ đội liên hoan.

Đến ngày 31 tháng 8 năm 1966, đợt tiếp nhận, vận chuyển dầu từ tàu dầu nước ngoài đậu ở
phao số không vào đất liền kết thúc thắng lợi, vượt kế hoạch 15 ngày. Đây là thành công về tổ chức,
chỉ huy và thực hành nhiệm vụ đột xuất của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5.

Phủ thủ tướng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân
đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương thành tích xuất sắc của bộ đội phòng không Hải Phòng, trong đó
nổi bật là các tiểu đoàn 71, 73 Trung đoàn tên lửa 285 và trung đội 33 Trung đoàn pháo phòng không
252. Đó là trang sử huy hoàng của bộ đội phòng không Hải Phòng - Đường 5 trong sự nghiệp chống
Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta.

Học tập và phát huy những chiến công xuất sắc của bộ đội phòng không Hải Phòng, các
đơn vị ở Hải Dương làm nhiệm vụ phối thuộc chiến đấu với Bộ tư lệnh cũng liên tiếp lập cộng xuất
sắc. Ngày 10 tháng 9 năm 1966, tiểu đoàn 62 Trung đoàn tên lửa 236 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay
F4C. Ngày 22 tháng 10 năm 1966, tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi một chiếc máy bay
trinh sát RA-5C.

Thực hiện các quyết định số 1618/TM-QL ngày 19 tháng 10 năm 1966 và số 1707/TM-QL
của Bộ tư lệnh Quân chủng, cuối năm 1966, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 thành lập
tiểu đoàn pháo phòng không 25 làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Kiến An, tiểu đoàn pháo phòng không
26 là lực lượng cơ động của Trung đoàn 240, tiểu đoàn pháo phòng không 19 làm nhiệm vụ cơ động
của Bộ tư lệnh và 8 đại đội, mỗi đại đội có 4 khẩu pháo 37mm để bổ sung cho các đơn vị. Đây là
bước phát triển mới về lực lượng, tạo điều kiện cho bộ đội phòng không Hải Phòng - Đường 5 hoàn
thành tốt hơn nhiệm vụ trên giao.

Cuối tháng 10 năm 1966, Đảng uỷ Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 ra nghị
quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ Đông - Xuân 1966 - 1967. Sau khi đánh giá kết quả lãnh đạo trong
thời gian qua, Đảng uỷ đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới là: Nghiêm chỉnh chấp hành
các nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, hiệp đồng chặt chẽ với quân và dân Hải Phòng -
Đường 5 kiên quyết đánh bại thủ đoạn của địch để bảo vệ an toàn các mục tiêu được giao. Quyết tâm
của Đảng uỷ là kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và xây dựng, không ngừng nâng cao trình độ của bộ
đội về mọi mặt, nhất là trình độ chiến đấu, kiên quyết bắn rơi tại chỗ máy bay địch, bắt sống giặc lái
trên đất Hải Phòng.

Chấp hành nghị quyết trên, các đơn vị triển khai thực hiện các kế hoạch cụ thể, bổ sung
phương án tác chiến, rút kinh nghiệm chiến đấu và đẩy mạnh huấn luyện. Đồng thời với việc nâng cao
trình độ thao tác cá nhân, hiệp đồng chiến đấu, bộ đội pháo phòng không còn nghiên cứu nắm chắc
thủ đoạn hoạt động của máy bay hải quân địch, xác định rõ thời cơ bắn và nâng cao kỹ năng, kỹ xảo
xạ kích mục tiêu trong các trường hợp bắn, nhất là khi địch bay thấp, bổ nhào ném bom. Bộ đội tên
lửa còn đi sâu nghiên cứu nâng cao trình độ đánh địch trong trường hợp chúng gây nhiễu, nhất là
nhiễu "xung trả lời" để nâng cao hiệu suất chiến đấu.

Toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đều sôi nổi thi đua biến quyết tâm thành hành động
cách mạng, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, lập thành tích chào mừng lễ kỷ niệm 20 năm ngày
Hải Phòng kháng chiến 20-11-1946 - 20-11-1966).

15 giờ 36 phút ngày 1 tháng 11 năm 1966, một tốp 9 chiếc máy bay A4, F4, F-8 từ đông
nam đảo Cát Bà bay thẳng vào Hải Phòng. Bộ tư lệnh nhanh chóng thông báo tình hình địch và giao
nhiệm vụ bắn cụ thể cho các trung đoàn.

15 giờ 46 phút, phát hiện tiểu đoàn 73 vừa phóng đạn lên, một tốp máy bay cường kích bay
qua trận địa đại đội 172 Trung đoàn 240 ở Cảng Đoạn Xá định vào đánh trận địa tên lửa. Chớp thời
cơ, đại đội 172 đã sử dụng phần tử tổng hợp, bắn 35 viên đạn pháo 100mm, bắn rơi tại chỗ một chiếc
A4E. Đây là trận đầu tiên bộ đội phòng không Hải Phòng bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Đó là chiến
công xuất sắc, thiết thực hưởng ứng tháng thi đua phát huy truyền thống "Trung dũng - quyết thắng"
do Thành uỷ và Uỷ ban hành chính thành phố phát động.

Như vậy, sau hơn một năm chiến đấu khẩn trương, đầy gian lao, vất vả, quyết liệt, đại đội
172 là đơn vị đầu tiên của bộ đội phòng không Hải Phòng đã thực hiện xuất sắc quyết tâm của Đảng
uỷ Bộ tư lệnh và niềm khát khao bấy lâu của quân và dân thành phố Cảng. Đó là thành công về lãnh
đạo, tổ chức chỉ huy và tinh thần cố gắng vượt bậc của bộ đội. Qua trận đánh bộ đội đã rút ra bài học
sâu sắc về nhiều mặt, nhất là xây dựng quyết tâm chiến đấu nghiên cứu địch, xây dựng và thực hành
phương án tác chiến, cách đánh và tổ chức hiệp đồng chiến đấu, vây bắt giặc lái ở yếu địa ven biển
Hải Phòng.

13 giờ 5 phút ngày 22 tháng 11 năm 1966, một số tốp máy bay hải quân vào đánh trận địa
đại đội 517 tiểu đoàn 25 trên đồi 74. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn 25 trên đồi Phù Liễn, tất cả các
khẩu đội của đại đội 517 đều đồng loạt nổ súng. Nhiều quả bom, đạn rốc-két rơi trúng trận địa. Đại
đội phó Trần Thành bị thương nặng vào tay và đầu ngã vật xuống đất nhưng anh vẫn giơ cao lá cờ đỏ
thẫm máu. Lập tức, chính trị viên Vũ Đức Dục nhảy tới cầm cờ lệnh tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.

Một loạt rốc-két trúng vào hầm chỉ huy, sức ép và nhiều mảnh đạn găm vào người làm
chính trị viên ngã xuống. Dồn hết sức còn lại, anh cố đứng dậy, tựa vào thành công sự tay giơ cao lá
cờ và hi sinh anh dũng trong tư thế chỉ huy chiến đấu. Thấy thế, từ hầm chỉ huy trung đội 1, trung đội
phó Nguyễn Văn Sắc chạy sang hầm chỉ huy đại đội nhận lá cờ trong tay chính trị viên, tiếp tục chỉ
huy bộ đội đánh địch.

Cuộc chiến đấu giữa cán bộ, chiến sĩ đại đội 517 với bọn giặc lái máy bay hải quân Mỹ
diễn ra ngày càng quyết liệt. Nhiều chiến sĩ đã noi gương đại đội phó, chính trị viên, kiên cường bám
pháo, bám trận địa chiến đấu vô cùng dũng cảm. chiến sĩ Chu Văn Kỷ, người dân tộc Tày, chưa đầy
một tuổi quân đã hi sinh tại vị trí pháo thủ số 1 trong thư thế nhằm thẳng quân thù mà bắn. Phân đội
trưởng Đỗ Văn Tha, khẩu đội phó Vũ Khắc Đội bị thương nhẹ đã nhường băng cho đồng đội tiếp tục
cáng thương binh về tuyến sau dưới làn bom đạn địch. Pháo thủ số 5 Vũ Văn Chiêu bị nhiều mảnh
đạn xuyên vào bụng và tay nhưng vẫn cố hết sức lao đạn vào nòng pháo, đến khi kết thúc trận đánh
anh mới gục xuống mâm pháo.

Giữa lúc cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, dân quân xã Thái Sơn đã vượt dốc cao, băng
qua làn lửa đạn vào trận địa đại đội 517 cứu chữa, khiêng thương binh ra hầm và tiếp đạn cho bộ đội
chiến đấu Thấy vết thương đồng chí Thành vẫn ra nhiều máu, chị Nếp, hội phó Hội phụ nữ xã xé khăn
trùm đầu và chiếc áo đang mặc để băng bó cho người chiến sĩ.

Sau trận đánh, vĩnh biệt những đồng chí, đồng đội thân yêu, đại đội 517 đã viết quyết tâm
thư gửi lên Đảng uỷ và Bộ tư lệnh xin hứa "kiên quyết đứng vững trên pháo đài tiền tiêu của Hải
Phòng, quyết bắt giặc Mỹ phải đền nợ máu”.

Ngày hôm sau, 23 tháng 11 năm 1966, địch lại tiếp tục vào đánh, hòng huỷ diệt đại đội
517. Nhưng với 58 viên đạn, các chiến sĩ trên pháo đài 74 đã bắn rơi một máy bay F4.

Cũng từ đó, tiếng hát "Tôi sẽ trở thành người chiến sĩ pháo đứng vững trên chiến hào" của
các chiến sĩ đại đội 517 trên điểm cao 74 cứ vang vọng mãi, tràn đầy niềm tự hào của người chiến
thắng, thôi thúc các chiến sĩ noi gương và làm theo những hành động anh hùng của các liệt sĩ, thương
binh.

Ngày 24 tháng 2 năm 1967, Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 đã tổ chức
trọng thể hội nghị mừng công năm 1966 tại nhà hát thành phố. Tới dự có đông đủ đại biểu các đơn vị
xuất sắc như đại đội 172 Trung đoàn 240, đại đội 15 Trung đoàn 213, đại đội 517 Trung đoàn 254,
trung đội 33 Trung đoàn 252, các tiểu đoàn 71, 72, 73 Trung đoàn 285, Trạm quân giới Phòng Hậu
cần… Tới dự buổi lễ có đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng, đồng chí Trần Kiên, Bí thư
Thành uỷ Hải Phòng; đồng chí Hoài Bắc, Phó bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương, đại biểu các tỉnh Hưng Yên,
Quảng Ninh; Quân chủng Hải quân, Quân khu 3, Quân khu Đông Bắc, công an vũ trang, Bộ tư lệnh
350, đại biểu các cơ quan, ban ngành và địa phương. Các đại biểu dự buổi lễ vô cùng phấn khởi khi
nghe Chính uỷ Văn Giang báo cáo những thành tích nổi bật của bộ đội phòng không Hải Phòng -
Đường 5.

Trong năm 1966, các lực lượng của Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng đã đánh gần 300
trận, bắn rơi 55 máy bay địch các loại, trong đó có 7 chiếc rơi tại chỗ, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ
Hải Phòng - Đường 5, riêng nhiệm vụ cơ động đánh địch trên tuyến đường số 2 và số 3 hoàn thành
xuất sắc. Trong hơn 1 tháng cơ động chiến đấu, hai tiểu đoàn 71, 72 đã vượt qua chặng đường dài trên
1.800km an toàn, đánh 15 trận, bắn rơi 9 máy bay địch, trong đó có 3 chiếc rơi tại chỗ.

Trong năm, lực lượng phòng không của Bộ tư lệnh không ngừng phát triển. Bộ tư lệnh đã
tổ chức tiếp nhận Trung đoàn 213, xây dựng hai trung đoàn 252, 254, 3 tiểu đoàn 25, 26, 19 và 8 đại
đội pháo 37mm. Bộ tư lệnh còn tổ chức tiếp nhận và chỉ huy các lực lượng phối thuộc chiến đấu là hai
trung đoàn pháo phòng không 233, 243, tiểu đoàn 62 Trung đoàn tên lửa 236…

Hệ thống sở chỉ huy, trận địa, công sự, hầm hào không ngừng được củng cố, nâng cấp, kịp
thời đáp ứng yêu cầu chiến đấu. Đồng thời với việc đẩy mạnh phong trào "Luyện hay, đánh giỏi", Bộ
tư lệnh còn tổ chức các đọt huấn luyện đột kích, tập huấn cán bộ, nhân viên kỹ thuật nhằm khắc phục
những mặt còn yếu, nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội.

Khẩu hiệu "Lấy đơn vị làm trận địa, dụng cụ đồ nghề làm vũ khí tất cả hướng về đơn vị
chiến đấu mà phục vụ, cơ quan, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã có nhiều cố gắng khắc phục
khó khăn, phát huy trí sáng tạo để bảo đảm tham số kỹ thuật cho chiến đấu huấn luyện. Trong năm,
trạm quân giới đã sửa chữa được 9 đài radar, 108 khẩu pháo, súng các loại, đào tạo, bồi dưỡng được
20 thợ; trạm xe trung tu được 39 xe các loại, bảo dưỡng được 261 lần, sản xuất được 13 loại dụng cụ,
sửa chữa, thay thế 1.614 lần và đào tạo bồi dưỡng được 31 thợ; đội vận tải bảo dưỡng được 216 lần
đầu xe, thực hiện vận tải trên chặng đường 184.224km an toàn, đào tạo bổ túc được 5 lái xe xích và
60 lái xe hơi; bệnh xá điều trị được hàng trăm thương binh, bệnh binh, đào tạo bổ túc được 90 y tá
cứu thương.

Ngoài việc bảo đảm xăng dầu, đạn dược, lương thực, thực phẩm… cho chiến đấu, huấn
luyện, xây dựng và đời sống bộ đội, các cơ quan đơn vị còn tăng gia sản xuất được 1.830kg thóc,
1.380 kg thịt. 9.270kg rau và 330 kg khoai, sắn. Ngoài những phong trào chung do Bộ tư lệnh phát
động, Trung đoàn 213 có phong trào "5 giỏi", Trung đoàn 252 có "5 quản", Trung đoàn 240 có "2 tốt 1
giỏi", Trung đoàn 254 có "3 dám 1 quyết", Trung đoàn 285 có phong trào "3 nhanh, 3 nền nếp".
Những phong trào này được đúc kết lại thành phong trào "3 đỉnh cao, 5 nhất" của các đơn vị.

Trong điều kiện Bộ tư lệnh mới thành lập, lực lượng phát triển nhanh chóng, yêu cầu
nhiệm vụ ngày càng cao, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh đã khẩn trương củng cố tổ chức, trước hết là kiện
toàn các tổ chức Đảng, chính quyền; nâng cao vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng
bộ, đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở, nhất là xây dựng "chi bộ 4 tốt" và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.
Chính vì vậy, đến cuối năm 1966 công tác xây dựng của các cơ quan, đơn vị đã thực hiện tốt 3 khâu:
lây chính trị tư tưởng làm gốc, lấy xây dựng "chi bộ 4 tốt" làm trung tâm, lấy bồi dưỡng cán bộ làm
đòn bẩy.

Do làm tốt công tác dân vận, bộ đội phòng không Hải Phòng - Đường 5 thường xuyên
được sự quan tâm và giúp đỡ to lớn của Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng; các tỉnh
Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh; các cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân địa phương. Trong năm
1966, nhân dân các địa phương nơi có các đơn vị đóng quân đã góp 394.879 ngày công, đào đắp được
hơn 276.697 m3 đất đá để xây dựng công sự, trận địa và ủng hộ hơn 2 vạn cây tre, 159 tạ vải để bảo
quản vũ khí, khí tài, trang bị. Trong năm còn có 667 đoàn đại biểu ở địa phương đến thăm hỏi, động
viên các đơn vị…

Trong năm 1966, do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng, Bộ tư lệnh
Quân chủng và Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng - Đường 5 đã công nhận và khen thưởng 1 chiến
sĩ quyết thắng, 1 đơn vị và 1 chi đoàn quyết thắng, 12 chiến sĩ thi đua, 6 đơn vị và 10 cá nhân được
tặng bằng khen, 5 đơn vị và 50 cá nhân được tặng giấy khen, 40 cá nhân được biểu dương và tặng vật
kỷ niệm.

Đầu năm 1967, cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 của Mỹ - nguỵ trên chiến
trường miền Nam bị thất bại nặng nề. Để gỡ thế bí trên chiến trường, hội đồng tham mưu trưởng liên
quân Mỹ ra lệnh cho tập đoàn không quân số 7 và lực lượng đặc nhiệm 77 tiến hành các chiến dịch
mang tên "Sấm rền", được phép đánh toàn bộ 6 hệ thống mục tiêu cơ bản là điện lực, công nghiệp,
giao thông, cơ sở quân sự, kho nhiên liệu và hệ thống phòng không ở Bắc Việt Nam, kể cả Hà Nội,
Hải Phòng.

Để thực hiện nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc là đánh vào Hà
Nội, Hải Phòng, địch đã tập trung lực lượng máy bay chiến đấu của không quân, hải quân… lên tới
1.333 chiếc (17 liên đội). Trung bình hàng ngày có từ 300 đến 350 lần chiếc máy bay địch hoạt động
trên miền Bắc, ngày cao nhất lên tới 440 lần chiếc.

Tháng 12 năm 1966, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị cho các lực lượng vũ trang, trong đó
nhấn mạnh: kiên quyết đánh trả các bước leo thang đánh phá bằng không quân, hải quân của địch. Sau
khi ta đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 trên chiến trường miền Nam, Bộ Quốc
phòng chỉ đạo các lực lượng vũ trang nhân dân trong cả nước thực hiện đánh tập trung, đánh tiêu diệt
và tiêu diệt lớn quân địch. Đối với bộ đội phòng không - không quân, Bộ chỉ đạo thực hiện đánh tập
trung nhằm tiêu diệt nhiều máy bay địch, bảo vệ an toàn các mục tiêu được giao.

Thực hiện sự chỉ đạo trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương: Tập trung lực
lượng bảo vệ vững chắc và có trọng điểm các tuyến giao thông, các yếu địa quan trọng, nhất là Hà
Nội, Hải Phòng…

Trước sự phát triển lực lượng và để nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội phòng không -
không quân, Bộ Quốc phòng chủ trương đặt lại phiên hiệu cho các đơn vị trong Quân chủng và thành
lập các binh chủng tên lửa, không quân và radar.

Ngày 16 tháng 3 năm 1967, Bộ Tổng tham mưu ra quyết định số 16/TM-QĐ, đặt phiên
hiệu cho các đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân, trong đó Bộ tư lệnh phòng không
Hải Phòng - Đường 5 mang phiên hiệu Sư đoàn phòng không 363.

Bộ tư lệnh Quân chủng ra hàng loạt quyết định chấn chỉnh, điều động, biên chế lực lượng,
bổ sung vũ khí, khí tài cho các đơn vị.

Ngày 10 tháng 4 năm 1967, Bộ tư lệnh Quân chủng chính thức giao nhiệm vụ cho Sư đoàn
phòng không 363. Trong mệnh lệnh ghi rõ: "Sư đoàn 363 được tăng cường Trung đoàn pháo phòng
không 241, 2 tiểu đoàn 67, 69 Trung đoàn tên lửa 275 có nhiệm vụ:

- Kiên quyết đánh bại mọi âm mưu đánh lớn ban ngày, đánh lén ban đêm của địch vào khu
vực Hải Phòng - Hải Dương.

- Tiêu diệt địch bảo vệ các nhà máy điện Uông Bí, xi măng, điện, cơ khí, cảng Hải Phòng
và hai cầu Lai Vu, Phú Lương.

Chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của Quân chủng, trước mắt, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức giải
thể Trung đoàn 254, tiểu đoàn 19, tăng cường lực lượng cho các trung đoàn 240, 252, biên chế pháo
trung cao cho Trung đoàn 213, tăng cường các đại đội pháo 37mm từ 4 lên 6 khẩu đội; tổ chức tiếp
nhận Trung đoàn 241 và hai tiểu đoàn 67, 69 Trung đoàn tên lửa 275. Trung đoàn tên lửa 285 và 2 tiểu
đoàn 67, 69 Trung đoàn 275 trực thuộc Bộ tư lệnh Binh chủng Tên lửa, phối thuộc chiến đấu với sư
đoàn.
Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức xây dựng, triển khai phương án tác chiến mới.

Nhiệm vụ của sư đoàn: bảo vệ khu công nghiệp phía tây, cảng, các sân bay Cát Bi, Kiến
An, hệ thống cầu ở Hải Phòng và hai cầu Phú Lương, Lai Vu Ở Hải Dương. Mục tiêu chủ yếu là cảng
Hải Phòng và hai sân bay Kiến An, Cát Bi.

Chủ trương bố trí đội hình và sử dụng lực lượng: bố trí kết hợp các loại pháo trung, tiểu
cao, súng máy phòng không, tập trung vào hướng chủ yếu để tiêu diệt địch, đồng thời chú ý thích
đáng các hướng khác. Tổ chức lực lượng cơ động đánh địch từ xa, ở Hải Phòng có 1 tiểu đoàn, ở Hải
Dương có 1 đại đội.

Đội hình chiến đấu và nhiệm vụ của các lực lượng ở Hải Phòng:

Lực lượng pháo trung cao bố trí thành 2 khu vực. Khu vực 1 gồm 3 đại đội bố trí ở Đông
Khe, Tiên Phong, xóm Bắc có nhiệm vụ đánh địch từ hướng cửa sông Cấm vào yếu địa, bảo vệ các
mục tiêu công nghiệp ở phía tây và Cát Bi. Khu vực 2 gồm 2 đại đội bố trí ở Lỗi Dương, Lâm Động
có nhiệm vụ đánh địch từ hướng đông bắc yếu địa, trực tiếp bảo vệ khu công nghiệp phía tây và cảng;
1 đại đội ở Tam Quan đánh địch trên hướng tây nam, bảo vệ khu công nghiệp và sân bay Kiến An.

Lực lượng pháo 57mm bố trí thành 2 cụm: cụm 1 bố trí trên các trận địa Gò Chuối, Long
Vũ, Bãi pháo thủ; cụm 2 bố trí trên các trận địa bến Bính, Lò Vôi, Lan Lang.

Lực lượng pháo 37mm bố trí thành 3 cụm: cụm 1 ở Bãi Gỗ, Phối Phát, Long Ga bảo vệ
khu công nghiệp; cụm 2 ở Bãi Môn, Nhà Xe, Tam Quan bảo vệ cảng; cụm 3 ở Đồi 54, 137, Ang Son
bảo vệ sân bay Kiến An. Tiểu đoàn cơ động ở Cát Bi hoặc Hải Dương.

Lực lượng tên lửa bố trí thành hai khu vực: 2 tiểu đoàn ở Quảng Yên, đường 18, 4 tiểu
đoàn ở khu vực Hải Phòng, khi cần thiết cơ động từ 1 đến 2 tiểu đoàn lên đường số 5.

Đội hình chiến đấu và nhiệm vụ của các lực lượng ở Hải Dương:

Lực lượng pháo trung cao bố trí xen kẽ với pháo tiểu cao, chủ yếu ở doanh trại hoá học,
vườn cam Ngọc Uyên.

Lực lượng pháo 57mm: 3 đại đội bố trí ở tây bắc, tây nam và đông nam cầu Phú Lương.
Một đại đội ở đông nam cầu Lai Vu.

Lực lượng pháo 37mm: 3 đại đội bố trí xen kẽ với 3 đại đội pháo 57mm bảo vệ cầu Phú
Lương, 3 đại đội bố trí ở tây bắc và tây nam cầu Lai Vu. Một đại đội ghép (mỗi đại đội có 1 khẩu đội)
làm nhiệm vụ cơ động đánh địch trên hướng đột nhập của địch.

Như vậy, các lực lượng được tập trung đánh địch trên hướng chủ yếu, khu vực chủ yếu có
nhiều đơn vị đánh địch bổ nhào ném bom để bảo vệ các mục tiêu trọng điểm và có thể chi viện cho
nhau.

Để thực hiện cách đánh tập trung, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung lực lượng bảo vệ các
mục tiêu trọng yếu như cảng, nhà máy xi măng, cầu Hoa Lư, sân bay Kiến An… kết hợp với lực
lượng cơ động đánh địch ở vòng ngoài, hình thành từng cụm hoả lực, tạo nên "khu vực quyết chiến
trên không" để liên tục đánh địch từ xa đến gần. Đối với tên lửa, tổ chức đánh tập trung từ 2 tiểu đoàn
trở lên, Trung đoàn 285 đã có sáng kiến cải tiến cách lắp đạn trên xe TZM, đưa năng xuất sản xuất
đạn từ 20 đến 24 đạn trong 1 ngày để bảo đảm đánh tập trung trong các đơn vị.

Bộ tư lệnh sư đoàn đã thống nhất phương án tác chiến, cách đánh và giao nhiệm vụ cụ thể
kiểm tra, duyệt phương án tác chiến của các trung đoàn. Phương án hiệp đồng chiến đấu giữa bộ đội
pháo phòng không với bộ đội tên lửa, không quân và các lực lượng ở Hải Phòng, Hải Dương được
triển khai nghiêm túc. Trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 4, được sự giúp đỡ của ngành kỹ thuật Quân
chủng, đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật của sư đoàn đã tiến hành kiểm tra, hiệu chỉnh lại toàn bộ vũ
khí, khí tài đủ các tham số kỹ thuật quy định. Cơ quan hậu cần tập trung chỉ đạo các chuyên ngành
bảo đảm xăng dầu, đạn dược, lương thực, thực phẩm, sức kéo… và lượng dự trữ quy định.

Ngày 19 tháng 4 năm 1967, Quân chủng tổ chức cuộc diễn tập có thực binh giữa các lực
lượng pháo, tên lửa phòng không và không quân để huấn luyện nâng cao trình độ hiệp đồng chiến đấu
và kiểm tra phương án tác chiến bảo vệ Hải Phòng. Với trách nhiệm chính trị cao và có nhiều cố gắng,
cuộc diễn tập chiến thuật trên đã thành công tốt đẹp. Đây là thành công về lãnh đạo, chỉ huy các cấp
và sự cố gắng vượt bậc của bộ đội trong quá trình xây dựng, triển khai và huấn luyện theo phương án
tác chiến của toàn sư đoàn.

Sáng ngày 20 tháng 4, phát hiện được 2 chiếc máy bay F4, F-8 từ biển qua núi Voi, Bộ tư
lệnh sư đoàn ra lệnh cho các trung đoàn ngừng luyện tập và sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 20 tháng 4, hải quân Mỹ sử dụng 83 lần chiếc máy bay các loại đánh phá dữ dội các
nhà máy xi măng, sắt tráng men, điện Cửa Cấm, hoá chất… mở đầu đợt đánh lớn vào thành phố Hải
Phòng.

10 giờ 30 phút, 16 chiếc máy bay A4, F4, F-8 từ biển vòng lên hướng tây vào đánh nhà
máy điện Cửa Cấm. Sau hồi còi báo động lực lượng tự vệ của các nhà máy có mặt đầy đủ trên các nóc
nhà cao tầng sẵn sàng đánh địch. Công nhân các nhà máy ngừng làm việc, nhanh chóng về vị trí bắn
máy bay bay thấp và sẵn sàng khắc phục hậu quả. 10 giờ 54 phút, tại trận địa Nhà máy sắt tráng men,
dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Phạm Đình Hùng, đại đội 172 bắn cháy một chiếc A4. 10 giờ 59
phút, một tốp máy bay địch từ hướng 14 lợi dụng ánh mặt trời vào đánh nhà máy xí măng, dưới sự chỉ
huy của Trung đoàn 252, các đại đội 173, 175 hiệp đồng chặt chẽ đánh địch quyết liệt. Một số tốp
máy bay lao xuống ném bom, bắn tên lửa vào các đại đội 382, 172, 516, 388, 511, 175. Do đã huấn
luyện thuần thục phương án tác chiến, bộ đội bình tĩnh xử trí các tình huống, vừa đánh địch bảo vệ
mục tiêu vừa đánh trả các tốp tập kích vào trận địa. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 285, lúc 11 giờ 3
phút, tiểu đoàn 73 phóng 2 quả đạn vào đội hình máy bay cường kích địch, bắn rơi 1 chiếc A4. Đến 11
giờ 27 phút, trận đánh kết thúc. Các lực lượng phòng không Hải Phòng bắn rơi 3 máy bay địch.

Buổi chiều, địch sử dụng 30 chiếc A4, F4, F-8, A-3J, A-6 vào đánh phá khu công nghiệp
Hải Phòng. Các lực lượng pháo và tên lửa phòng không hiệp đồng chặt chẽ bắn rơi 2 máy bay địch,
trong đó tiểu đoàn 73 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc A4 tại cánh đồng xã Hiệp Hoà, cách trận địa 13km. Các
đại đội 172, 382 Trung đoàn 240 đã chiến đấu rất quyết liệt, bắn rơi 1 chiếc A4 và bắn cháy 1 chiếc
A4 khác. Địch đánh trúng 4 trận địa của Trung đoàn 240 làm 1 pháo thủ hi sinh, 12 đồng chí bị
thương. Nữ dân quân Nguyễn Thị Trân xã Tân Dương đang tiếp đạn cho đại đội 173 đã hi sinh anh
dũng.
Trong trận đánh quyết liệt đầu liên này, nhiều gương chiến đấu dũng cảm của tập thể và cá
nhân đã xuất hiện. Tiêu biểu là tập thể các đại đội 172, 516, 382, 388, bị địch đánh nhiều lần vào trận
địa nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn vững vàng ở vị trí chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch quyết liệt.
Ở đại đội 172, khẩu đội trưởng khẩu đội 4 Vũ Văn Nhạn bị sức ép của bom hất xuống đất nhưng đã
vùng dậy động viên các chiến sĩ tiếp tục chiến đấu; khi pháo bị hỏng liền chạy sang tiếp đạn cho khẩu
đội 8 và sách thùng nước dập tắt đám cháy lán đạn khẩu đội 3. Chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Mỹ
quên mình xông pha dưới làn bom đạn địch để nối liền mạch máu thông tin phục vụ đơn vị đánh
thắng.

Trận địa đại đội 382 gần nhà máy điện, bị địch tập kích 4 lần. Pháo thủ số 5 Trần Văn Hạ
đã lấy thân mình đè lên máy nạp đạn khi bom nổ gần khẩu đội, bùn đất bắn tung toé để giữ gìn vũ khí
tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội trưởng trinh sát Nguyễn Tiến Thuyền bị thương nặng, bùn đất lấp kín
người vẫn nén đau, không một lời kêu ca. Pháo thủ số 3 Nguyễn Ngọc Ninh, đại đội 5 16 bị thương
vào vai, vào ngực vẫn vững vàng trên vị trí chiến đấu.

Tại trận địa đại đội 172, trợ lý kỹ thuật pháo trung cao Phòng Hậu cần Nguyễn Đức Chấn
đã cùng các chiến sĩ tập trung cứu pháo dưới làn bom đạn địch, khi bị thương nặng vẫn động viên bộ
đội tiếp tục cứu pháo. Ở đại đội 388, trợ lý chính trị Trung đoàn 252 Vũ Quang Bang đã cùng các cán
bộ chính trị đại đội động viên bộ đội chiến đấu, khi bị thương đã cố gắng chịu đựng, nêu gương cho
các chiến sĩ. Đó là những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động viên bộ đội bám
trận địa, bám pháo, chiến đấu dũng cảm quên mình để tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu và giữ gìn lực
lượng ta của bộ đội phòng không Hải Phòng.Tối ngày 20 tháng 4, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn họp,
nhất trí đánh giá: "Tuy trận đánh còn bộc lộ một số điểm yếu như việc quản lý địch chưa thật chắc,
bắn còn lãng phí đạn, chưa rơi nhiều máy bay, máy bay rơi tại chỗ ít, chưa bảo vệ an toàn mục tiêu,
nhưng nhìn chung đã có những tiến bộ vượt bậc về trình độ kỹ thuật, chiến thuật, trình độ tổ chức chỉ
huy. Công tác chuẩn bị đã làm được chu đáo, tỉ mỉ cả về lực lượng và tổ chức”.

Thường vụ Đảng uỷ chỉ đạo các cơ quan, đơn vị rút kinh nghiệm chiến đấu, nhanh chóng
khắc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu để chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới; kiên quyết tập
trung lực lượng, đánh tập trung bắn rơi nhiều máy bay địch, diệt giặc lái để bảo vệ các mục tiêu được
giao.

Cũng trong buổi tối cùng ngày, Tư lệnh Quân chủng Phùng Thế Tài tới sư đoàn, trực tiếp
nghe báo cáo diễn biến trận đánh và chủ trì cuộc họp hiệp đồng chiến đấu giữa Sư đoàn phòng không
363 với Trung đoàn không quân tiêm kích 923. Quyết tâm của Bộ tư lệnh Quân chủng là điều một
biên đội MiG-17 xuống Hải Phòng, hiệp đồng chiến đấu với sư đoàn để bảo vệ thành phố. Hội nghị đã
thống nhất các biện pháp tổ chức chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu, kiên quyết thực hiện quyết tâm của Bộ
tư lệnh Quân chủng.

Ngày 21 tháng 4 năm 1967, Báo Nhân dân đã đăng xã luận, nêu rõ: "Trận thắng hôm qua
của Hải Phòng là trận thắng của tinh thần quyết chiến quyết thắng. Đó còn là trận thắng của tinh thần
cảnh giác cao và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Hoan hô quân và dân Hải Phòng anh hùng đã chiến
đấu dũng cảm và lập công to lớn…”.
Cùng ngày, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ
trang giải phóng miền Nam và Uỷ ban Mặt trận dân tộc giải phóng thành phố Đà Nẵng, thành phố kết
nghĩa với Hải Phòng gửi điện chúc mừng chiến thắng của thành phố "Trung dũng quyết thắng".

Ngày 23 tháng 4 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào, cán bộ và bộ đội
Hải Phòng. Trong thư, Bác căn dặn: "Giặc Mỹ bị thua to ở cả hai miền Nam, Bắc nước ta, nhưng
chúng còn ngoan cố tăng cường chiến tranh xâm lược. Đồng bào, cán bộ và bộ đội không được vì
thắng lợi mà chủ quan. Phải nâng cao cảnh giác, làm tốt công tác phòng không nhân dân, đánh giỏi
thắng lớn hơn nữa…".

Các cơ quan, đơn vị đều sôi nổi tổ chức mít tinh đón mừng thư khen của Bác. Nhiều tập
thể, cá nhân đã viết quyết tâm thư gửi lên Đảng uỷ, thủ trưởng trung đoàn, sư đoàn hứa hẹn tích cực
rèn luyện, phấn đấu làm theo lời Bác dạy, hoàn thành tết mọi nhiệm vụ, lập thành tích thiết thực mừng
thọ Bác Hồ kính yêu tròn 77 tuổi.

9 giờ 50 phút ngày 25 tháng 4 năm 1967, ba mươi tám chiếc máy bay A4, A-6, F4 vào
đánh nhà máy xi măng, kho Kha Lâm và trận địa các đại đội 517, 516.

Nắm chức tình báo địch do bộ đội radar và các vọng quan sát mắt cung cấp, Bộ tư lệnh sư
đoàn đã thông báo tình hình địch và giao nhiệm vụ cụ thể cho các trung đoàn. Mở đầu trận đánh, dưới
sự chỉ huy của tiểu đoàn 71, sĩ quan điều khiển Ngô Văn Tác và kíp trắc thủ Nguyễn Văn Sáng,
Hoàng Thanh Vân, Nguyễn Văn Kiểm đã mưu trí tránh được tên lửa không - đất Shrike AGM-45 của
địch, bắn rơi tại chỗ một chiếc A4. Với sự chỉ huy của đại đội trưởng Vũ Văn Đẩu, tất cả các khẩu đội
của đại đội 516 tại trận địa An Từ đánh trả quyết liệt 4 chiếc A4 công kích vào trận địa, bắn rơi 1
chiếc. Các đơn vị phòng không của Sư đoàn 350, bộ đội hải quân, công an vũ trang đã hiệp đồng chặt
'chẽ bắn rơi thêm 2 chiếc A4 khác.

10 giờ 10 phút, được lệnh từ sở chỉ huy Quân chủng, biên đội MiG-17 do Nguyễn Văn Bảy
chỉ huy, cất cánh, từ sân bay Kiến An bắn cháy một máy bay địch. Hai chiếc máy bay tiêm kích F4
bám đuôi 4 chiếc MiG-17 liền bị lưới lửa phòng không, chặn đầu, buộc chúng phải vòng ra, bảo đảm
an toàn cho máy bay ta.

Buổi chiều, địch lại sử dụng 68 chiếc A4, F4, F-8 đánh 4 đợt vào nhà máy xi măng, kho
Kha Lâm và một số khu vực dân cư ở ngoại thành Hải Phòng. Kết hợp các thủ đoạn chiến thuật nghi
binh, thu hút, gây nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình, từ cửa song Văn Úc, đội hình máy bay cường
kích vòng lên hướng tây bắc, lợi dụng ánh sáng mặt trời làm chói mắt các chiến sĩ pháo phòng không,
gây khó khăn trong việc chỉ huy và xạ kích, bất ngờ tiếp cận được mục tiêu và thực hiện được ý định
đánh phá. 13 giờ 55 phút, tại trận địa Đông Linh, tiểu đoàn 71 phóng hai đạn bắn rơi 1 chiếc A4. 5
phút sau, tiểu đoàn 73 lại bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-8. Nhân dân Hải Phòng vô cùng phấn khởi được
trực tiếp thấy tên lửa ta diệt địch trên trời cao.

Trong trận đánh, tiểu đoàn 72, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo đánh thắng địch trong điều kiện
có nhiễu giải, nhiễu mục tiêu giả dày đặc của hải quân Mỹ.

Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội tên lửa, các đại đội pháo phòng không 511, 175, 173, 515,
136, 516, 517, 388 cùng với dân quân tự vệ Hoa Động, Tân Dương, khu phố Hồng Bàng, xưởng đúc
Tân Long, nhà máy nhựa Tiền Phong đã chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, bắn rơi máy bay địch và
tham gia bắt giặc lái.

Ở đại đội 175, mảnh bom văng vào đài radar COH-9A nhưng các trắc thủ Cường, Thao,
Hoàn vẫn bình tĩnh thao tác phát hiện, thông báo mục tiêu. Thấy đường dây thông tin và đường
chuyền phần tử xa bị đứt, trung đội trưởng Nguyễn Hồng Thái và chiến sĩ Xanh nhanh chóng nối liền
mạch máu thông tin để đơn vị tiếp tục chiến đấu. Ở khẩu đội 6, bộ phận hất vỏ đạn bị hỏng, đồng chí
Ngô Văn Giáo đã dũng cảm dùng tay kéo 16 chiếc vỏ đạn nóng bỏng ra ngoài để khẩu đội tiếp tục
chiến đấu.

Ở đại đội 173, giữa lúc đoàn chèo Hải Phòng biểu diễn phục vụ đơn vị thì địch vào đánh
phá. Được lệnh đi sơ tán nhưng các diễn viên đã xin ở lại tiếp đạn cho bộ đội.

Tại sở chỉ huy phòng không thành phố, đồng chí Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Trung ương
Đảng và đồng chí Trần Kiên, Bí thư Thành uỷ chăm chú theo dõi cuộc chiến đấu, kịp thời động viên
bộ đội và các lực lượng khác.

Trong ngày 25 tháng 4, quân và dân Hải Phòng thắng lớn, bắn rơi 12 máy bay địch, trong
đó các lực lượng của sư đoàn bắn rơi 7 chiếc (bộ đội tên lửa bắn rơi 5 chiếc, bộ đội pháo phòng không
bắn rơi 2 chiếc).

Nhận được tin vui, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng và Bộ chỉ huy các lực
lượng vũ trang giải phóng miền Nam gửi điện đến Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc và Bộ Tổng
tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trong thư nêu rõ: "Được tin ngày 25 tháng 4 năm 1967, quân và
dân Hải Phòng, Hà Nội thắng lớn, bắn rơi 15 máy bay Mỹ, trong đó Hải Phòng bắn rơi 12 chiếc, có
chiếc thứ 1.800, quân và dân miền Nam hết sức phấn khởi. Thay mặt 14 triệu nhân dân và các lực
lượng vũ trang giải phóng miền Nam, chúng tôi xin gửi lời chúc mừng nhiệt liệt đến quân và dân
miền Bắc, quân và dân thành phố Hải Phòng thân yêu, đã chiến thắng oanh liệt".

Từ trên mâm pháo, bệ phóng, buồng máy, cán bộ chiến sĩ phòng không Hải Phòng vô cùng
tự hào, xúc động trước lời chào mừng từ tiền tuyến lớn miền Nam và càng nhận rõ thêm trách nhiệm
nặng nề trong nhiệm vụ bảo vệ thành phố Trung dũng quyết thắng.

Ngày 26 tháng 4 năm 1967, hải quân Mỹ sử dụng 57 chiếc máy bay đánh 3 đợt vào nhà
máy xi măng, kho Khả Lâm, kho dầu, trạm biến thế An Lạc. Các lực lượng phòng không Hải Phòng,
trong đó Sư đoàn 363 làm nòng cốt, đã hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch liên tục, quyết liệt bắn rơi 6
máy bay địch. Riêng các lực lượng của sư đoàn bắn rơi 5 chiếc. Đại đội 393 tiểu đoàn 25 bắn rơi 1
chiếc, đại đội 515 Trung đoàn 252 bắn rơi 1 chiếc, các tiểu đoàn 71, 73, 74 Trung đoàn 285, mỗi đơn
vị bắn rơi 1 chiếc.

Như vậy, trong 3 ngày 20, 25, 26 tháng 4 năm 1967, quân và dân Hải Phòng đã bắn rơi 23
máy bay địch, trong đó Sư đoàn 363 bắn rơi 16 chiếc.

Ngày 29 tháng 4 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh thưởng huân chương Độc
lập hạng nhất cho quân và dân Hải Phòng. Trước phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước trao
tặng, quân và dân Hải Phòng nâng cao tinh thần cảnh giác, hoàn chỉnh thế trận tác chiến phòng không
trên yếu địa ven biển, sôi nổi thi đua lập công chào mừng ngày sinh của Bác sắp tới.
Ngày 10 tháng 5 năm 1967, địch sử dụng 61 lần chiếc máy bay đánh 4 đợt vào Nhà máy Xi
măng, Nhà máy điện Cửa Cấm, thị xã Kiến An và một số trận địa pháo phòng không của ta. Bộ đội
phòng không Hải phòng đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng chiến đấu vô cùng mưu trí dũng
cảm, bắn rơi 4 máy bay địch. Tiêu biểu trong trận đánh là trung đội 2 đại đội 171. Dưới sự chỉ huy của
đại đội trưởng Nguyễn Thiện Tĩnh, cả đại đội đã bắn 5 loạt đạn vào đội hình địch. Đột nhiên, một quả
rốc-két rơi vào giữa công sự của khẩu đội 8, làm một số chiến sĩ bị thương. Khẩu đội trưởng, đảng
viên Nguyễn Sĩ Thuỵ vừa chỉ huy cứu chữa thương binh vừa động viên 3 chiến sĩ còn lại tiếp tục
chiến đấu. Pháo thủ số 1 Trần Đức Tấn, vết thương trên vai đang rỉ máu đã nén đau, tận tình cứu chữa
cho đồng đội rồi nhanh chóng về vị trí chiến đấu. Noi gương anh hùng La Văn Cầu trong kháng chiến
chống pháp, pháo thủ số 5 Nguyễn Đông Hưu đã yêu cầu y tá cắt đặt cánh tay phải bị mảnh bom chỉ
còn lại ít da, không một tiếng rên la. Khẩu đội trưởng khấu đội 7 Bùi Phú Thầm, hai đùi đều bị thương
đã tự băng bó rồi cố đứng dậy tiếp tục chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Chiến sĩ máy nổ Nguyễn Mạnh
Thường bị sức ép của bom ngã vật xuống nhưng vẫn quyết tâm bám máy bảo đảm điện cho đơn vị
chiến đấu.

Từ đại đội 511, chiến sĩ nuôi quân người dân tộc Thổ Hoàng Văn Loỏng nghe kẻng báo
động đã từ bếp lao ra trận địa vác 30 hòm đạn (mỗi hòm đạn nặng 50 kg) cho hai khẩu đội 4 và 5 đủ
đạn chiến đấu.

Ở đại đội 172, trắc thủ máy chỉ huy Trương Công Phùng vừa ra khỏi trận địa để đi học dài
hạn, khi nghe kẻng báo động anh vội quay lại cùng đồng đội chiến đấu. Bị thương nặng ở tay nhưng
anh kiên quyết xin chính trị viên ở lại trận địa dùng cánh tay còn lại giúp đỡ các thương binh khác.

Những gương chiến đấu dũng cảm, quên mình trên đã kịp thời động viên khí thế chiến đấu
trong toàn sư đoàn, góp phần bắn rơi 26 máy bay giặc Mỹ trong đợt thi đua "Lập công mừng thọ
Bác".

Ngày 26 tháng 5 năm 1967, đại đội trưởng Hà Văn Kỉnh và chính trị viên Nguỵ Xuân
Phương đã chỉ huy đại đội 171 bắn rơi 1 chiếc F4. Đó là chiếc máy bay Mỹ thứ 100 bị bắn rơi ở Hải
Phòng. Đây là mốc lịch sử rất quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của quân dân thành phố "trung
dũng quyết thắng" trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta.

Sau đợt đánh lớn khu công nghiệp ở Hải Phòng, địch chuyển sang đánh phá trên tuyến
đường số 5 hòng làm tê liệt mạch máu giao thông vận chuyển chiến lược từ Hải Phòng đến Hà Nội và
cả nước.

Thời kỳ này, Trung đoàn pháo phòng không 213 có 3 đại đội 174, 176, 177 trang bị pháo
100mm; 4 đại đội 11, 12, 14, 15 trang bi pháo 57mm; hai tiểu đoàn gồm 6 đại đội pháo 37mm và 3
trung đội súng máy phòng không 14,5mm 4 nòng. Ngoài ra còn có tiểu đoàn 20 của Sư đoàn 367 gồm
3 đại đội pháo 37mm bố trí bảo vệ ga Hải Dương.

Đội hình chiến đấu của trung đoàn: 3 đại đội pháo 57mm và 7 đại đội 37mm bố trí bảo vệ
cầu Phú Lương, 1 đại đội pháo 57mm và 3 đại đội pháo 37mm bố trí bảo vệ cầu Lai Vu, 3 đại đội
pháo 100mm bố trí ở vòng ngoài để đánh địch từ xa cho cả 2 cụm hoả lực trên.
Hầu hết các trận địa pháo 57mm và 37mm được bố trí sát mục tiêu bảo vệ có thể tập trung
hoả lực đánh địch trên hướng chủ yếu, khu vực chủ yếu cả khi địch bổ nhào ném bom, phóng tên lửa
vào mục tiêu.

Ban chỉ huy Trung đoàn 213 thống nhất phán đoán địch sẽ đánh phá ác liệt trên tuyến
đường số 5, đã khẩn trương tổ chức rà soát bổ sung phương án tác chiến, điều chỉnh đội hình chiến
đấu để nâng cao hiệu suất đánh tập trung tiêu diệt nhiều máy bay địch, tích cực bảo vệ 2 trọng điểm
giao thông là cầu Phú Lương và cầu Lai Vu. Ban chỉ huy trung đoàn còn tổ chức kiểm tra kế hoạch
bảo đảm chiến đấu và cơ số dự trữ bảo đảm đạn dược, xăng dầu, sức kéo, lương thực, thực phẩm…
cho các đơn vị.

Từ ngày 19 tháng 6 đến ngày 30 tháng 7 năm 1967, lực lượng đặc nhiệm 77 của hải quân
Mỹ tập trung máy bay đánh phá ác liệt các mục tiêu giao thông vận chuyển trên tuyến đường số 5,
đoạn từ ga Dụ Nghĩa đến ga Văn Lâm. Mục tiêu đánh phá chủ yếu của chúng là hai cầu Phú Lương,
Lai Vu và các ga Hải Dương, Cẩm Giàng, Lai Khê, Cao Xá…, đồng thời tổ chức đánh hàng chục trận
vào khu vực cảng mới, An Lão, ga Vật Cách nhằm giữ lực lượng ta ở Hải Phòng.

Nhận rõ âm mưu địch, ngay từ đợt đầu địch đánh phá ở Hải Dương, Bộ tư lệnh sư đoàn đã
điều đại đội 136 pháo trung cao tăng cường cho Trung đoàn 213, sau đó điều tiếp 3 đại đội pháo trung
cao và 2 tiểu đoàn pháo 37mm lên bảo vệ hai cầu Phú Lương, Lai Vu Bộ tư lệnh còn cử đoàn cán bộ
các phòng tham mưu, hậu cần xuống trung đoàn để kiểm tra và giúp đỡ đơn vi chiến đấu.

9 giờ 58 phút ngày 19 tháng 6 năm 1967, địch sử dụng 35 chiếc máy bay A-6, A4, F4, F-8
tập trung đánh phá cầu Lai Vu. Trong lúc nhiều tốp A-6, A4 bổ nhào đánh cầu thì các tốp F4, F-8 lao
xuống đánh phá trận địa các đại đội 177 (pháo 100mm), 14 (pháo 57mm) và 3 đại đội 1, 2, 3 tiểu đoàn
96. Mặc dù địch sử dụng các thủ đoạn nghi binh, thu hút, gây cả nhiễu tích cực và tiêu cực, trong đó
có 1 chiếc bay rất thấp phóng tên lửa xuống cầu Phú Lương, nhưng do các đơn vị hiệp đồng chặt chẽ,
đánh theo phương án tác chiến và đánh trả địch quyết liệt nên vẫn bảo vệ cả hai cầu an toàn.

Ngày 20 tháng 6, 36 chiếc máy bay hải quân tiếp tục vào đánh cầu Lai Vu. Đồng thời với
việc sử dụng lực lượng nghi binh, thu hút, gây nhiễu đánh phá như trước, chúng còn sử dụng 4 chiếc
F-8 phóng tên lửa vào cầu nhưng không kết quả.

Ngày 21 tháng 6, địch sử dụng 41 lần chiếc máy bay, tiếp tục đánh phá cầu Lai Vu. Rút
kinh nghiệm hai trận đánh trước, lần này địch vào nhiều hướng, nhiều tầng với những góc bổ nhào
khác nhau để đánh phá mục tiêu. Chúng còn tăng cường đánh phá trận địa các đại đội 177, 14, 1, 2,
11, 176, 25 và 134 (vừa mới cơ động từ Hải Phòng lên).

Phát huy truyền thống "còn người, còn súng, còn chiến đấu” của Trung đoàn 213, tiêu biểu
là các đồng chí Hoàng Ngọc Chương, Vũ Nam Chinh, nhiều tập thể, cá nhân đã chiến đấu vô cùng
mưu trí, dũng cảm và ngoan cường. Đồng chí Trần Văn Định, pháo thủ số 3 đại đội 14 bị thương nặng
vào đùi, lưng và đầu đã cố sức cùng khẩu đội đánh địch cho đến lúc gục xuống mâm pháo. Pháo thủ
số 4 đại đội 26, tiểu đoàn 97 Đoàn Xuân Đào bị thương nặng vào ngực, không một tiếng rên la, còn
động viên bộ đội tiếp tục chiến đấu. Pháo thủ số 6 đại đội 11 Bùi Văn Yên, bị thương nặng ở mặt và
ngực cố hết sức ra hầm thương binh rồi trút hơi thở cuối cùng.
Trong các trận đánh trên, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hải Dương, huyện Nam Sách và nhân
dân các xã Nam Đồng, Ngọc Châu, Ái Quốc, Đồng Lạc… đã thường xuyên đến các đơn vị động viên
bộ đội và hiệp đồng chiến đấu. Ngày 19 tháng 6 năm 1967, thấy địch vào đánh cầu, xã đội phó xã Ái
Quốc Hoàng Thị Nhu đã bơi qua sông giữa lúc địch đang đánh phá nhanh chóng đến vị trí cùng dân
quân xã hiệp đồng với đại đội 2 bắn máy bay địch. Bà mẹ Nam ở thôn Vũ La, xã Nam Đồng cứ ngớt
tiếng súng lại chẳng ngại tuổi cao, lưng còng, đến từng khẩu đội trao tận tay từng chiến sĩ bát nước
chè xanh đậm tình quân dân. Chi La, mặc dầu đã 4 con nhưng trận nào cũng có mặt ở trận địa để tiếp
đạn, tải thương, có lần chị đã xé chiếc áo đang mặc để lau đạn cho bộ đội tiếp tục chiến đấu. Chị Đoàn
Thị Xoan trong lúc cõng thương binh ra hầm, thấy địch vào đánh lại trận địa đã lấy thân mình che cho
thương binh, quyết không để thương binh bị thương lần thứ hai. Trung đội dân quân thôn Miếu Lãng,
xã Đồng Lạc đã băng qua làn bom đạn địch để giúp đỡ đại đội 174 giải quyết hậu quả và tiếp tục hiệp
đồng chiến đấu.

Tình thương yêu và sự giúp đỡ quý báu của quân và dân tỉnh Hải Dương, nhất là huyện
Nam Sách làm cho cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 213 vô cùng cảm động nhưng cũng rất day dứt vì
trong các trận chiến đấu vừa qua chưa bắn rơi máy bay Mỹ. Vì vậy, việc bắn rơi máy bay Mỹ trên bầu
trời Hải Dương không những trở thành yêu cầu bức xúc đối với Trung đoàn 213 mà còn đối với cả Sư
đoàn 363 và lãnh đạo, nhân dân tỉnh Hải Dương.

Chiều ngày 21 tháng 6 năm 1967, Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu Ích đến Trung đoàn 213
kiểm tra tình hình và chủ trì cuộc họp rút kinh nghiệm chiến đấu. Dự hội nghị có đông đủ cán bộ chủ
trì của trung đoàn, các cơ quan và đơn vị. Đồng chí Phó bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Hải Hưng gửi thư cho
Trung đoàn 213 để chỉ đạo và động viên bộ đội đánh thắng.

Hội nghị tập trung thảo luận xoay quanh ý kiến chỉ đạo của Tư lệnh sư đoàn và nhận định
của Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn 213: Tinh thần chiến đấu của bộ đội rất dũng cảm, ý chí quyết
chiến quyết thắng của bộ đội rất cao nhưng vì sao ta chưa bắn trúng, bắn rơi máy bay Mỹ.

Với tinh thần tự phê bình, phê bình sâu sắc và phát huy dân chủ quân sự, các đại biểu dự
hội nghị đã phát biểu làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra một số biện pháp cụ thể. Vấn đề trước
tiên là các đơn vị làm tốt công tác chính trị tư tưởng để củng cố, nâng cao quyết tâm đánh thắng máy
bay địch, tập trung giải quyết hậu quả, khôi phục sức chiến đấu. Về chỉ huy, cần nắm chắc phương án
tác chiến, nắm chắc tình hình địch, chọn đúng tốp chủ yếu, chiếc chủ yếu, xác định đúng thời cơ bắn
và di chuyển hoả lực để đánh các tốp, chiếc thứ yếu, quan trọng tiếp theo. Bộ đội cần hiệp đồng thao
tác chính xác, chặt chẽ từ khẩu đội, trung đội đến đại đội.

Đến 1 giờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1967 hội nghị mới kết thúc. Đây thực sự là hội nghị
điển hình về rút kinh nghiệm chiến đấu và phát huy dân chủ quân sự hoàn chỉnh phương án tác chiến,
cách đánh nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu cho Trung đoàn pháo phòng không 213 trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hai cầu Phú Lương, Lai Vu ở Hải Dương.

Ngày 22 tháng 6 năm 1967, địch sử dụng 52 lần chiếc máy bay hải quân tổ chức thành 2
đợt đánh phá ác liệt cầu Phú Lương và Lai Vu. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Lâm Văn
Kiếm, Phó chính uỷ Lê Đình Chơi và Tham mưu trưởng Nguyễn Đấu Võ, các đơn vị đã hiệp đồng
đánh địch quyết liệt bắn rơi 2 chiếc A4, trong đó đại đội 177 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc ở huyện Tứ Kỳ.
Các đại đội 177, 176, 134, 12, 25, 24, 14, 2 bị địch đánh vào trận địa gây tổn thất.

Chính trị viên phó đại đội 177 đang động viên bộ đội thì bị thương nặng đã tự băng bó vết
thương và tiếp tục động viên các chiến sĩ bị thương. Quân khí viên Đinh Viết Khoa xông pha dưới làn
bom đạn địch để sửa chữa vũ khí cho đồng đội tiếp tục chiến đấu, bị thương nặng vẫn lo lắng đến khí
tài của đại đội và đã hi sinh anh dũng. Chiến sĩ máy nổ đại đội 16 Trần Hữu Chữ hai chân bị dập nát,
nhiều mảnh đạn găm vào người, sau khi bị ngất đã dồn sức lết theo thành máy rồi dùng tay giữ chặt
cầu dao điện để đơn vị tiếp tục chiến đấu và sau đó đã trút hơi thở cuối cùng. Ở đại đội 14, khẩu đội
trưởng Nguyễn Duy Thân bị thương nặng vẫn động viên bộ đội chiến đấu và vĩnh biệt đồng đội giữa
lúc tiếng sung đang rền vang khắp trận địa; pháo thủ số 5 Lê Văn Nội bị thương nặng vẫn lao thêm
một băng đạn nữa và đã hi sinh trong tư thế hiên ngang của người chiến thắng…

Sau đợt đánh thứ hai, được sự chỉ đạo trực tiếp của Chính uỷ sư đoàn Lương Tý và lãnh
đạo chỉ huy trung đoàn, các đơn vị đã tập trung khắc phục hậu quả, tiến hành công tác chính trị tư
tưởng, khôi phục sức chiến đấu và khẩn trương sẵn sàng chiến đấu.

Sau trận đánh, đồng chí Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và đoàn đại biểu
phụ nữ tỉnh Hải Dương đã đến đại đội 177 chúc mừng chiến thắng, tặng quà cho cán bộ, chiến sĩ và
thăm hỏi tình hình đơn vị.

Nhận rõ địch tập trung lực lượng máy bay hải quân đánh phá ác liệt giao thông vận chuyển
trên tuyến đường số 5, Bộ tư lệnh Quân chủng điều các trung đoàn pháo phòng không 230, 210 của
Sư đoàn 367 cơ động lực lượng xuống tăng cường đánh địch bảo vệ giao thông ở Hải Dương. Bộ tư
lệnh sư đoàn điều 3 đại đội pháo trung cao 134, 175 từ Hải Phòng lên phối thuộc chiến đấu với Trung
đoàn 213.

Ngày 1 tháng 7 năm 1967, địch sử dụng 18 lần chiếc máy bay hải quân chia làm 3 đợt vào
đánh cầu Phú Lương và một số mục tiêu lân cận. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 213 các đơn vị đã
hiệp đồng chặt chẽ với các trung đoàn bạn và dân quân tự vệ địa phương đánh địch quyết liệt, đại đội
174 bắn rơi 1 chiếc A4.

Buổi chiều cùng ngày, Tư lệnh Quân chủng Phùng Thế Tài, Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu
Ích và Tham mưu trưởng sư đoàn Ninh Hữu Trác đã xuống kiểm tra tình hình chiến đấu của Trung
đoàn 213.

Buổi tối, Tư lệnh Quân chủng chủ trì cuộc họp hiệp đồng chiến đấu các lực lượng ở khu
vực Hải Dương. Dự hội nghị có đồng chí Hoài Bắc, Phó bí thư tỉnh uỷ, Chủ tịch tỉnh Hải Hưng và
đồng chí Lê Thừa Giao, Tỉnh đội trưởng tỉnh Hải Hưng. Hội nghị đã thống nhất nhận định về địch,
nguyên tắc sử dụng lực lượng, bố trí đội hình và các phương pháp hiệp đồng chiến đấu nhằm nâng cao
hiệu suất chiến đấu của các lực lượng phòng không trên địa bàn, đánh bại âm mưu cắt đứt giao thông
vận chuyển trên tuyến đường số 5 của địch.

Trong 2 ngày 2 và 3 tháng 7, địch sử dụng 140 lần chiếc máy bay hải quân vào đánh phá
hai cầu Lai Vu, Phú Lương (kể cả các cầu tạm phía nam và phía bắc hai cầu), các ga Hải Dương, Cao
Xá, Cẩm Giàng, cảng Tiên Kiều và một số trận địa phòng không. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn
213, các đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm. Ngày 2
tháng 7, đại đội 176 bắn rơi tại chỗ một chiếc A4. Tiểu đội máy chỉ huy do Trần Văn Cẩm phụ trách
đã phát hiện và bám sát địch tốt, tạo điều kiện cho đơn vị đánh thắng.

Trong trận đánh trên, khẩu đội trưởng, đảng viên Đỗ Tôn Trường thuộc đại đội 174, ba lần
bị thương vẫn nén đau, kiên cường bám vị trí, chỉ huy khẩu đội chiến đấu đến cuối trận đánh. Pháo
thủ số 2 Nguyễn Văn Hùng bị thương vào ngực và cổ vẫn nén đau tiếp tục thao tác phát hiện địch để
khẩu đội chiến đấu và đã hi sinh anh dũng. Gương chiến đấu dũng cảm quên mình và bài thơ "Giáp
sắt, giáp rơm" viết trên vỏ bao thuốc lá Trường Sơn của liệt sĩ Nguyễn Văn Hùng mãi mãi gắn liền với
lịch sử huy hoàng của Trung đoàn 213 trên tuyến đường số 5 anh hùng.

Ngày 4 tháng 7 năm 1967, tám mươi sáu lần chiếc máy bay hải quân đánh nhiều đợt vào
cầu chính, cầu tạm Phú Lương, Lai Vu, khu vực cầu Cẩm Giàng, ga Hải Dương… 7 giờ 2 phút, đài
radar của các đại đội 174, 13, 15 và vọng quan sát ở Quý Cao phát hiện được 1 tốp 8 chiếc, trong đó
có 6 chiếc A4, độ cao 3.000m từ toạ độ 70 bay vào. Lập tức Trung đoàn trưởng Lâm Văn Kiếm ra
lệnh cho các đơn vỉ tập trung đánh tốp 6 chiếc A4. Đến vùng hoả lực, các đại đội trung cao, tiểu cao
trong cụm Phú Lương nổ sung mãnh liệt, buộc chúng phải quẳng bom bừa bãi rồi vòng ra.

7 giờ 10 phút, đài radar đại đội 15 và vọng quan sát ở Quý Cao phát hiện được 1 tốp 16
chiếc đang bay về hướng 12. Dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Trương Văn Ruyện và chính trị viên
Nghiêm Đình Chiểu, tất cả các khẩu đội của đại đội 11 ở trận địa Mị Châu đều đồng loạt nổ súng vào
4 chiếc A4 bổ nhào đánh nhà ga Hải Dương. Một chiếc A4 rơi xuống hồ cá trong thị xã. Đây là lần
đầu tiên lực lượng pháo 57 mm của trung đoàn và sư đoàn bắn rơi máy bay địch đang bổ nhào ném
bom bắn phá mục tiêu. Cùng lúc, các đại đội pháo 37mm của tiểu đoàn 20 ở phía bắc thị xã đã hiệp
đồng với lực lượng dân quân tự vệ bắn cháy 1 chiếc A4.

Sau trận đánh, các đồng chí Lê Quý Quỳnh, Chủ tịch tỉnh Hải Hưng; Lê Thừa Giao, tỉnh
đội trưởng và đoàn đại biểu huyện Nam Sách do đồng chí Tấn, Bí thư huyện uỷ; đồng chí Mùi, Chủ
tịch huyện; đồng chí Chất, Huyện đội trưởng dẫn đầu đến đại đội 11 chúc mừng chiến thắng, tặng quà
và động viên bộ đội. Buổi chiều cùng ngày, từ trận địa đại đội 174, Chính uỷ Quân chủng Đặng Tính
cũng đến đại đội 11, nhiệt liệt biểu dương chiến công xuất sắc của bộ đội. Buổi tối, Phòng Chính trị sư
đoàn đã cử đội chiếu phim đến phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương tại trận địa đại đội
11.

Tiếp đó, Trung đoàn 213 đánh nhiều trận, bắn rơi thêm một số máy bay Mỹ.

Tính từ ngày 19 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7 năm 1967, địch đã sử dụng 852 lần chiếc máy
bay hải quân đánh phá một số mục tiêu ở Hải Dương, chủ yếu là 2 cầu Phú Lương, Lai Vu với 119
trận, đánh trận địa phòng không 96 lần (đánh trận địa có pháo 78 lần) với trên 1.000 tấn bom đạn
(2.111 quả bom phá, 180 quả bom bi mẹ, 49 tên lửa các loại, 1.192 quả rốc-két).

Cũng trong thời gian trên, được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn, sự giúp đỡ tận tình
của các cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân địa phương, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 213 đã chiến đấu
liên tục quyết liệt và vô cùng dũng cảm với 954 lần nổ súng có 300 lần bắn có khí tài), bắn rơi 10 máy
bay địch, trong đó có 4 chiếc rơi tại chỗ. Toàn trung đoàn bị hỏng 41 khẩu pháo các loại, 2 radar
COH-9A, 2 máy chỉ huy, quân số thương vong là 104 đồng chí.

Đây là đợt chiến đấu vô cùng quyết liệt, khẩn trương, liên tục của cán bộ, chiến sĩ Trung
đoàn 213 và cũng là đợt chiến đấu điển hình của Sư đoàn 363 trong năm 1967. Đó cũng là đợt chiến
đấu mà bộ đội đã vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách quyết liệt, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về
thành công, chưa thành công trong quá trình chuẩn bị, thực hành chiến đấu và xuất hiện nhiều tập thể,
cá nhân điển hình về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là những trang sử vàng trong lịch sử vẻ vang
của Sư đoàn phòng không 363.

Bị thất bại nặng nề ở miền Nam, tập đoàn cầm quyền Mỹ âm mưu tiếp tục tập trung lực
lượng mở các đợt đánh phá quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng nhằm gây sức ép với ta, phá huỷ tiềm
lực kinh tế, quốc phòng và ngăn chặn giao thông vận chuyển chi viện cho chiến trường.

Ngày 9 tháng 8 năm 1967, đô đốc Grân Sáp, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương
thông qua kế hoạch "Sấm rền 57". Đó là kế hoạch đánh lớn nhằm biến Hải Phòng thành một hòn đảo
để ngăn chặn việc vận chuyển hàng hoá viện trợ từ Hải Phòng lên Hà Nội.

Để thực hiện âm mưu và kế hoạch trên, địch huy động 4 tàu sân bay Interpít, Ôriôkany,
Côranxi, Conxten Laxiôn vào biển Đông với khả năng xuất kích hàng nghìn lần chiếc máy bay cho
chiến dịch đánh phá sắp tới. Ý định của chúng là: tập trung máy bay đánh phá hệ thống cầu Rào,
Niệm, Quay, Thượng Lý và Hạ Lý; các phà Kiền, Cựu và kho sơ tán ở An Lão, Thuỷ Nguyên; các kho
ở nội thành.

Quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng và nhiệm vụ trên giao, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Sư
đoàn 363 đã tập trung nghiên cứu địch, bổ sung phương án tác chiến, chấn chỉnh biên chế tổ chức,
điều chỉnh đội hình và triển khai thực hiện kế hoạch bảo đảm chiến đấu.

Nhiệm vụ của sư đoàn: cơ bản như trước, nhưng đặc biệt chú trọng bảo vệ cảng, hệ thống
cầu và các sân bay. Yêu cầu nhiệm vụ là phải bảo vệ vững chắc giao thông vận chuyển chi viện chiến
trường để quân và dân miền Nam chuẩn bị cuộc Tổng tiến công sắp tới. Chủ trương và ý định tác
chiến:

- Kiên quyết tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu.

- Bố trí các tiểu đoàn pháo 57mm, 37mm thành cụm chốt sát mục tiêu bảo vệ để đánh máy
bay địch bổ nhào ném bom là chủ yếu. Mỗi cụm ít nhất từ 3 đại đội trở lên bảo đảm bắn trước khi
máy bay cắt bom. Cụm pháo trung cao bắn địch trên đường bay vào, chủ yếu ở giai đoạn bay bằng.
Phương pháp chính là khống chế cự ly bắn để tập trung hoả lực trên điểm bắn đón tính sẵn. Các tiểu
đoàn tên lửa bố trí hợp lý, bảo đảm kết hợp hoả lực của nhiều tiểu đoàn bắn tập trung vào từng tốp
trên một đường bay và chi viện được cho nhau.

- Tăng cường thực hành cơ động, chủ động đánh địch từ ngoài hoặc tăng cường cho hướng
chủ yếu của sư đoàn.

- Không sử dụng các phương pháp bắn có hiệu suất thấp như bắn màn đạn, theo khu quyết
chiến, chặn, cản theo tiếng động cơ, theo báo đọc và điểm xạ dài.
- Tuỳ theo giãn cách đội hình mà tập trung hoả lực đánh đúng tốp chiếc chủ yếu, nhất là
tốp trực tiếp đánh phá mục tiêu.

Đội hình chiến đấu ở Hải Phòng:

- Trung đoàn tên lửa 285: ba tiểu đoàn bố trí ở các trận địa Trịnh Hưởng, Minh Kha, Ngọ
Dương, hai tiểu đoàn bố trí ở khu vực đường 18, Quảng Yên (còn 3 tiểu đoàn, trong đó có 2 tiểu đoàn
của Trung đoàn 275 hỏng khí tài, không tham gia chiến đấu). Ba tiểu đoàn ở Hải Phòng hình thành
cụm ở phía tây và tây nam thành phố có nhiệm vụ chủ yếu là đánh địch trên hướng tây nam. Hai tiểu
đoàn 51, 52 của Trung đoàn 267 được điều về nằm trong đội hình chiến đấu của trung đoàn.

- Trung đoàn 240: tập trung 6 đại đội pháo 100mm trên địa bàn huyện An Hải, phía tây
nam Hải Phòng, giãn cách giữa các đại đội từ 1.000 đến 1.500m. Nhiệm vụ của trung đoàn là đánh
máy bay bay bằng trên hướng tiếp cận chủ yếu của địch là hướng tây nam.

- Trung đoàn 252: 1 tiểu đoàn pháo 57 bố trí ở tây bắc cầu Hoa Lư, 1 tiểu đoàn pháo 57mm
bố trí ở phía nam và tây nam sân bay Kiến An, 1 tiểu đoàn pháo 37mm bố trí ở phía bắc cảng Hải
Phòng.

- Tiểu đoàn 23 gồm 3 đại đội pháo 37mm bố trí bảo vệ cầu Niệm. Tiểu đoàn 25 gồm 3 đại
đội pháo 37mm bố trí bảo vệ sân bay Cát Bi. Cả hai tiểu đoàn sẵn sàng cơ động tăng cường bảo vệ
cầu Hoa Lư và khu công nghiệp phía tây thành phố.

Đội hình chiến đấu của Trung đoàn 213 ở Hải Dương: 1 tiểu đoàn pháo 57mm và 1 tiểu
đoàn pháo 37mm bố trí thành cụm trên hướng tây bắc cầu Phú Lương; giãn cách giữa các đại đội pháo
57mm từ 500 đến 800m, giữa các đại đội pháo 37mm từ 300 đến 400m. Tiểu đoàn pháo 37mm bố trí
ở phía bắc và tây bắc cầu Lai Vu. Tiểu đoàn pháo 100mm bố trí ở phía đông nam cầu Phú Lương, giãn
cách các đại đội khoảng 1.000m.

Cụm chiến đấu bảo vệ nhà máy điện Uông Bí gồm 3 đại đội 511, 513, 517.

Đây thực sự là cuộc cách mạng về đội hình chiến đấu, vừa tập trung hoả lực đánh địch trên
hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu vừa phát huy được khả năng tết nhất của các loại vũ khí được trang
bị, phù hợp với tư tưởng chỉ đạo đánh tập trung tiêu diệt và tiêu diệt lớn máy bay địch của Bộ và tư
tưởng chỉ đạo tác chiến của quân chủng.

Thực hiện quyết tâm của Bộ tư lệnh sư đoàn, Phòng Tham mưu đã chỉ đạo, tổ chức các cơ
quan, đơn vị khẩn trương triển khai kế hoạch tác chiến và bảo đảm chiến đấu.

Ngày 17 tháng 8 năm 1967, tại nhà hát thành phố, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức lễ đón nhận
huân chương Quan công hạng nhì mà Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tặng thưởng cho sư
đoàn. Cuối buổi lễ, Bộ tư lệnh phát động phong trào thi đua chiến đấu và xây dựng, lập thành tích
chào mừng kỷ niệm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2-9.

Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn vô cùng phấn khởi, tự hào trước phần thưởng cao
quý vừa được trao tặng. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ đội đều nguyện quyết tâm nêu cao trách
nhiệm, tích cực hưởng ứng đợt thi đua, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và sức mạnh tổng
hợp của các lực lượng, phương tiện, không ngừng phấn đấu rèn luyện vươn lên, vượt qua mọi khó
khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ để góp phần cùng quân và dân cả nước đánh thắng
hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

7 giờ 25 phút ngày 21 tháng 8 năm 1967, một số tốp máy bay hải quân vào đánh nhà máy
điện Uông Bí. Dưới sự chỉ huy của cụm, các đại đội 511, 513, 517 đã hiệp đồng chặt chẽ, vận dụng tốt
cách đánh máy bay bổ nhào ném bom, đánh địch quyết liệt, đại đội 513 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc A4.
Khi địch đánh vào trận địa đại đội 513, đại đội phó Nguyễn Xân Trịnh, trung đội phó Hoàng Phùng
Đễ, pháo thủ số 3 Nguyễn Duy Thuật, pháo thủ số 4 Ngô Minh Được và trắc thủ đo xa Đỗ Đức Thuỷ
bị thương nặng vẫn kiên cường giữ vững vị trí chiến đấu và động viên đồng đội đánh địch.

Đây là chiến công xuất sắc đầu tiên của cụm phòng không bảo vệ Uông Bí và cũng là chiến
công đầu trong đợt thi đua của sư đoàn.

Thực hiện chỉ thị ngày 2 tháng 7 năm 1967 của Thường trực Quân uỷ Trung ương và nghị
quyết của Đảng uỷ Quân chủng, ngày 31 tháng 8 năm 1967, đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết chuyên đề
về việc thực hiện cuộc vận động “Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đâu, quyết tâm đánh
thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, mục đích, yêu
cầu và nội dụng của cuộc vận động, Đảng uỷ chủ trương nâng cao chất lượng toàn diện cho bộ đội,
lấy nâng cao chất lượng chính trị làm gốc, chú trọng 2 khâu mấu chốt là xây dưng quyết tâm chiến
đấu cao và cách đánh giỏi, trước hết là đơn vị chiến đấu và Khâu quan trọng bậc nhất là xây dựng đội
ngũ cán bộ, trọng điểm là xây dựng trung đoàn, tiểu đoàn độc lập và đại đội; cần tiến hành rất khẩn
trương và tích cực nhưng phải hết sức thiết thực, chắc chắn, tránh hình thức; lãnh đạo phải tập trung,
phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các cơ quan và đơn vị.

Đảng uỷ sư đoàn còn đề ra kế hoạch, biện pháp và yêu cầu công tác lãnh đạo trong tiến
trình thực hiện cuộc vận động trên các lĩnh vực quân sự, chính trị và hậu cần.

Nghị quyết trên đã được các cấp uỷ, thủ trưởng cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện
nghiêm túc, khẩn trương.

Từ ngày 31 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9 năm 1967, máy bay hải quân tập trung đánh phá
nhà máy điện Uông Bí, các kho tàng, chân hàng, cảng mới và các cầu Dế, Giá, Đá Bạc… nhằm tiêu
hao tiềm lực quốc phòng, cô lập Hải Phòng và kéo lực lượng phòng không của ta ra vòng ngoài rồi
bất ngờ tập trung đánh phá ác liệt các mục tiêu trọng yếu ở nội thành. Sáng ngày 31 tháng 8, các tiểu
đoàn tên lửa 73, 51, 52 hiệp đồng với bộ đội pháo phòng không đánh địch mãnh liệt; tiểu đoàn 73 ở
trận địa Trịnh Hưởng dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn phó Châu Quang Bút, sĩ quan điều khiển Đặng
Minh Chức cùng các trắc thủ Chính, Vượng, Nhu phóng 1 quả đạn bắn rơi tại chỗ 2 chiếc máy bay
A4. Đây là trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao của Trung đoàn tên lửa 285.

0 giờ 45 phút ngày 3 tháng 9, một chiếc máy bay A-6A từ biển bay thấp qua cửa Văn Úc,
đồi 140, lấy sông Lạch Tray làm điểm kiểm tra rồi công kích cầu Niệm. Kíp ban sở chỉ huy sư đoàn
chuyển cấp chậm, bộ đội bị bất ngờ lỡ thời cơ chiến đấu. Trung đội súng máy phòng không của tiểu
đoàn 23 ở gần cầu Niệm bị trúng bom, tổn thất nặng. Ngay sau trận đánh, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ
thị cho kíp sở chỉ huy, các đơn vị nghiêm khắc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục
khuyết điểm.
7 giờ 9 phút ngày 4 tháng 9, địch sử dụng 42 chiếc máy bay A4, F-8, AD-6 vào đánh các
cầu Niệm, Rào, Quay và Thượng Lý. Các đơn vị gần các mục tiêu trên đã đánh địch quyết liệt. Đại
đội 173 Trung đoàn 252 bắn rơi 1 chiếc A4. Các cầu đều an toàn, riêng cầu Rào bị sập 2 nhịp.

Nhận rõ âm mưu đánh phá các trọng điểm giao thông trong thành Hải Phòng, Bộ tư lệnh đã
chỉ thị cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu cao, tập trung hoả lực tiêu diệt địch; đồng thời lệnh cho đại
đội 14 Trung đoàn 213 từ Hải Dương cơ động về Lãm Hà tăng cường lực lượng bảo vệ cầu Niệm. Bộ
tư lệnh sư đoàn còn hiệp đồng với Bộ tư lệnh 350 điều động tiểu đoàn 14 trang bị pháo 37mm của địa
phương và hiệp đồng với công an thành phố điều đại đội súng máy phòng không về tăng cường bảo
vệ cầu Niệm.

Chiều ngày 4 tháng 9, Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và Chính uỷ kiêm Tư
lệnh Quân chủng Đặng Tính dẫn đầu đoàn cán bộ xuống kiểm tra và chỉ đạo tác chiến phòng không
Sư đoàn 363 ở Hải Phòng. Sau khi nghe đồng chí Tư lệnh sư đoàn báo cáo tình hình chiến đấu trong
thời gian qua, đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng và đồng chí Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân chủng
đã cùng thủ trưởng các cơ quan cấp trên trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ sư đoàn về nghiên cứu địch và
chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới Các cơ quan tác chiến, huấn luyện của Binh chủng Tên lửa
nghiên cứu tại chỗ và phổ biến kinh nghiệm đánh thắng của tiểu đoàn 73 Trung đoàn tên lửa 285 ngày
31 tháng 8 cho các đơn vị tên lửa phối thuộc chiến đấu với sư đoàn. Phòng Cao xạ Bộ Tham mưu tổ
chức tập huấn tài liệu "Pháo phòng không đánh máy bay hải quân Mỹ" cho các đơn vị pháo phòng
không của sư đoàn. Sự chỉ đạo và giúp đỡ của cấp trên đã tạo thêm.điều kiện cho bộ đội nâng cao
trình độ nghiên cứu nắm chắc địch và trình độ chiến đấu.

Chấp hành quyết nghị của Thường vụ Đảng uỷ, đêm 4 tháng 9, Bộ tư lệnh sư đoàn đề nghị
lên Quân chủng cho điều tiếp một phần lực lượng từ Hải Dương về tăng cường bảo Vệ Hải Phòng.
Được Quân chủng chấp thuận, ngày 10 tháng 9, Bộ tư lệnh sư đoàn điều hai dại đội 174, 176 trang bị
pháo 100mm, đại đội 12 trang bị pháo 57mm và tiểu đoàn 28 trang bị pháo 37mm của Trung đoàn 213
cơ động gấp về Hải Phòng.

Mặc dù nhận lệnh gấp, trời mưa to, sức kéo thiếu, nhưng từ lãnh đạo chỉ huy trung đoàn
đến cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, vượt qua mọi khó khăn, vượt
qua 2 phà, chiếm lĩnh trận địa và triển khai chiến đấu trong đêm đúng kế hoạch và an toàn. Sáng hôm
sau, các đơn vị bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trên trận địa mới. Đại đội 174 ở Cam Lộ. Đại đội ở Tràng
Quán. Tiểu đoàn 28 ở xã Hùng Vương.

Trong các ngày 11, 17 và 18 tháng 9, nhiều tốp máy bay hải quân tiến hành nhiều đợt đánh
phá các cầu Quay, Niệm, Thượng Lý và đánh phá hầu hết các trận địa phòng không trong khu vực.
Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của sư đoàn và trung đoàn, tất cả các đại đội 171, 172, 173, 175,
134, 136, 382, 388, 12, 14… đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không địa phương, đánh
địch liên tục, mãnh liệt, chỉ riêng trong 2 ngày 17 và 18 tháng 9 đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ.Trong
những trận chiến đấu quyết liệt trên, nhiều tập thể và cá nhân đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí
và lập công xuất sắc. Đại đội 382 bên cầu Thượng Lý bị địch đánh phá ác liệt vào trận địa đã nêu cao
quyết tâm "Một tấc không đi, một ly không rời", kiên quyết bám trận địa chiến đấu đến cùng. Khẩu
đội 3, khẩu đội quyết thắng của đại đội 172 khi pháo bị hóc, tất cả các chiến sĩ đều khẩn trương tập
trung sửa chữa, kịp thời cùng đơn vị bắn rơi 1 chiếc A4.

Dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Bùi Học Bưởi và Chính trị viên Lương Huỳnh, cán bộ,
chiến sĩ đại đội 174 Trung đoàn 252 đã kiên cường đánh trả các đợt đánh phá của địch vào trận địa,
bắn rơi 1 chiếc A4. Khẩu đội 5, trong đó có số 2 Đoàn Đăng Thuật mới đi viện về, đang chiến đấu thì
pháo bị hỏng, mỗi lần bắn lại phải móc vỏ đạn ra, vẫn kiên cường đánh địch. Pháo thủ số 2 Hoàng
Văn Sông bị bệnh vẫn lau đạn cùng đồng đội đánh địch, khi có viên đạn không nổ đã nhanh chóng
tháo ra, vứt ra ngoài công sự bảo đảm an toàn cho khẩu đội.

Tiểu đoàn 23 liên tục cơ động đánh địch, từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 9 đã bắn rơi 2 máy
bay A4. Chiến sĩ thông tin Lê Văn Luận đã băng qua cầu Niệm giữa lúc địch đang đánh phá để nối
liền mạch máu thông tin liên lạc, đảm bảo cho chỉ huy chiến đấu. Được tin gia đình bị giặc Mỹ giết
hại, pháo thủ số 3 Đào Đình Đô chưa đi phép, tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu, bị thương cả hai chân
vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng. Ba chiến sĩ Nông Văn Ty, Lê Đình Thăng, Nguyễn Huy Thuỳ đại
đội 517 dũng cảm nhặt bom bi vứt ra ngoài công sự để bảo vệ an toàn cho đồng đội và vũ khí.

Cán bộ, chiến sĩ đại đội 14 Trung đoàn 213 đã phát huy phẩm chất anh hùng khi chiến đấu
ở Hải Dương, kiên cường bám trận địa, chiến đấu bảo vệ cầu Niệm với tinh thần "còn một người, còn
một khẩu cũng quyết đánh đến cùng", "quyết tâm hiến dâng tất cả đời mình cho Đảng, cho cách
mạng”. Khẩu đội trưởng Ma Sơn Cung, người dân tộc Thổ, bị thương vào chân đã giấu đồng đội, nén
đau tiếp tục chỉ huy khẩu đội đánh địch và từ chối đi viện để tiếp tục chiến đấu…

Đại tá Đặng Tính, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân chủng xuống sở chỉ huy sư đoàn trực tiếp
chỉ đạo và động viên bộ đội chiến đấu.

Được sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng và trên cơ sở rút kinh nghiệm các trận đánh
vừa qua, đêm ngày 20 tháng 9, Bộ tư lệnh sư đoàn điều đại đội 172 ở Đông Khê cơ động về bảo vệ
cầu Rào, đại đội 171 cơ động từ xóm Bắc về Lãm Khê, đại đội 136 từ Lâm Động về trận địa Lò Vôi
(Kiến An). Các trung đoàn tập trung khắc phục hậu quả, khẩn trương kiện toàn biên chế, tổ chức, khôi
phục sức chiến đấu và chuẩn bị đánh địch.

Ngày 21 tháng 9, đồng thời với việc sử dụng các tốp máy bay EC-121, EA-6B gây nhiễu
tích cực ngoài đội hình và một số tốp làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút, hải quân Mỹ tập trung 34 chiếc
máy bay liên tục vào đánh cầu Niệm. Với đội hình mật tập kéo dài và tăng cường gây nhiễu xung trả
lời, nhiễu tiêu cực (giấy bạc), các tốp máy bay cường kích A4 phân tốp từ 2 đến 4 chiếc lần lượt công
kích mục tiêu từ nhiều hướng, từ nhiều độ cao khác nhau.

Ngay từ những phút đầu, Bộ tư lệnh đã chủ động nắm chắc tình hình địch, giao nhiệm vụ
cụ thể cho các đơn vị. Cuộc chiến đấu giữa các lực lượng phòng không Hải Phòng với máy bay hải
quân Mỹ diễn ra vô cùng quyết liệt.

12 giờ 40 phút, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Phạm Văn Thuân, đại đội 12 bắn rơi
một chiếc F4. Đến loạt đạn thứ 3 thì cánh tay phải của đại đội trưởng bị một mảnh đạn, máu ướt đẫm
tay áo nhưng anh cố nén đau, nhanh chóng chuyển cờ sang tay trái tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu.
Ở đại đội 171, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Hà Văn Kỉnh và chính trị viên Nguyễn
Xuân Phương, cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí. Pháo thủ số 5 Hoàng Dương
bị sức ép của bom hất vào thành công sự, chân bị thương đã cùng đồng đội băng bó cho thương binh
nặng, động viên các thương binh nhẹ rồi vừa tiếp đạn, cùng đơn vị bắn rơi 1 chiếc A4.

Tại đại đội 14, các khẩu đội 6, 5, 1 lần lượt bị trúng bom. Dưới sự chỉ huy của đại đội phó
Vũ Xuân Hải, bộ đội nhanh chóng khắc phục hậu quả, tiếp tục chiến đấu vô cùng anh dũng. Pháo thủ
số 4 Nguyễn Quốc Hiển bị nhiều mảnh đạn vào người nhưng vẫn kiên cường bám vị trí đánh địch.
Khẩu đội phó Nông Văn Sơn, người đã quên mình cứu hai em nhỏ trong bom đạn địch, được Chủ tịch
Hồ Chí Minh tặng huy hiệu của Người, trong trận chiến đấu này bị sức ép của bom, ngực đau, tai ù
vẫn không chịu đi viện, xin cấp trên ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Trận đánh càng diễn ra ác liệt tất
cả cán bộ, chiến sĩ đại đội 14 càng nêu cao tinh thần “quyết tử cho Hải Phòng quyết sinh", kiên cường
bám trụ, đồng loạt nổ súng vào đội hình địch theo lệnh của đại đội phó và đã bắn rơi chiếc F-8 gần
phà bến Bính lúc 12 giờ 42 phút. 12 giờ 46 phút, đại đội 512 phía bên kia cầu Niệm bắn rơi thêm 1
chiếc A4.

Trận đánh diễn ra chưa đầy 30 phút, các lực lượng phòng không Hải Phòng đã bắn rơi 7
máy bay địch, trong đó sư đoàn bắn rơi 4 chiếc. Sau trận đánh, đồng chí Đinh Phúc Hải, Chính uỷ
Trung đoàn 213 từ Vĩnh Khê đến đại đội 14 nắm tình hình, chỉ đạo đơn vị và động viên bộ đội khẩn
trương chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới.

Ngày 22 tháng 9 năm 1967, Báo Nhân dân nhiệt liệt ca ngợi chiến công xuất sắc, bắn rơi 7
máy bay Mỹ trong ngày 21 tháng 9 của quân và dân Hải Phòng, trong đó nhấn mạnh: "… Hải Phòng
đã liên tục chiến đấu và liên tiếp chiến thắng. Hải Phòng đã bền bỉ, gan góc đánh trả bước leo thang
mới của giặc Mỹ. Hải Phòng đánh giỏi, đánh trúng, tiêu diệt nhiều địch, bảo vệ được mình. Hải Phòng
là một thành phố quyết chiến, quyết thắng… Cả nước hoan hô Hải Phòng chiến đấu oanh liệt và chiến
thắng vẻ vang".

Ngoài niềm vui chung với quân dân cả nước, với cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn, khẩu đội
trưởng Ma Văn Cung còn thêm niềm vui đặc biệt. Tối ngày 22 tháng 9, anh đã được chi bộ đại đội 14
kết nạp vào Đảng ngay tại trận địa do đã chiến đấu rất dũng cảm và cùng đơn vị bắn rơi máy bay Mỹ
trong ngày 21 tháng 9. Đây là điển hình chứng minh cho thực tế chiến đấu của bộ đội phòng không:
càng chiến đấu ác liệt, cán bộ chiến sĩ càng được rèn luyện thử thách và trưởng thành; đội ngũ đảng
viên ngày càng phát triển và góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong những ngày tiếp theo, trung đội 41 Trung đoàn 252, trung đội 43 tiểu đoàn 25, đại
đội 174 Trung đoàn 213, đại đội 384 Trung đoàn 240 và tiểu đoàn 28 bắn rơi thêm 5 máy bay địch,
nâng tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi của quân, dân Hải Phòng lên 31 chiếc, của sư đoàn lên 16 chiếc.
Đây là tháng bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất của Hải Phòng và của sư đoàn từ trước đến thời điểm
này.

Thực hiện cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu, xây dựng
trung đoàn mạnh", đầu tháng 10 năm 1967, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức hội nghị quân chính để sơ kết
đợt chiến đấu vừa qua và phát huy dân chủ về quân sự nghiên cứu cách đánh địch trong thời gian tới.
Dự hội nghị có thủ trưởng quân chính các cơ quan, đơn vị và các cán bộ chỉ huy giỏi của một số phân
đội. Tới dự hội nghị còn có các đồng chí thủ trưởng Bộ tư lệnh Sư đoàn 350.

Hội nghị đã nghe Tham mưu trưởng sư đoàn Ninh Hữu Trác phân tích âm mưu, thủ đoạn
hoạt động của địch và tổng hợp kết quả chiến đấu của các đơn vị trong đợt tác chiến vừa qua, trên cơ
sở đó rút ra một số vấn đề có tính nguyên tắc, một số bài học kinh nghiệm về nghiên cứu địch, xây
dựng và từng bước hoàn chỉnh phương án tác chiến, cách đánh trong quá trình vận dụng phương
châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không của Quân chủng đối với nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven
biển Hải Phòng trước đối tượng tác chiến chủ yếu là máy bay hải quân Mỹ.

Hội nghị nhất trí nhận định: thời gian tới địch sẽ thay đổi thủ đoạn hoạt động, tăng cường
sử dụng các thủ đoạn chiến thuật, nhất là gây nhiễu tích cực, tiêu cực, chế áp các trận địa phòng
không bằng tên lửa tự dẫn Shrike AGM-45 và bom đạn thông thường. Trên cơ sở đó, các đơn vị cần
quán triệt sâu sắc hơn tình hình nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo tác chiến, cách đánh tập trung để nâng cao
hiệu suất chiến đấu. Các chiến sĩ radar COH-9A kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp kỹ thuật và chiến
thuật để nâng cao hiệu quả chống nhiễu tích cực, tiêu cực và phòng tránh tên lửa Shrike. Chỉ huy các
trung đoàn, đại đội thường xuyên nắm chắc địch, chọn tốp chọn chiếc chủ yếu và xác định thời cơ bắn
chính xác nhằm phát huy các loại hoả lực tiêu diệt địch. Bộ đội hiệp đồng thao tác chặt chẽ, đánh địch
đúng phương án tác chiến và phương pháp xạ kích, thực hiện tốt cách đánh tập trung. Các đơn vị cần
làm tốt công tác bảo đảm chiến đấu như nguỵ trang, nghi binh lừa địch, chuẩn bị đầy đủ đạn dược,
xăng dầu, tích cực kiểm tra hiệu chỉnh, sửa chữa vũ khí' khí tài để đạt hệ số chiến đấu cao và sẵn sàng
cơ động chiến đấu theo kế hoạch tác chiến…

Hội nghị đã dành thời gian để thảo luận về cách đánh máy bay bổ nhào ném bom của địch.
Nắm chắc cách đánh phá sở trường của địch là bổ nhào ném bom, bắn tên lửa vào mục tiêu để nâng
cao hiệu quả đánh phá, việc bố trí các đơn vị pháo tiểu cao chết sát mục tiêu bảo vệ để đánh máy bay
địch bổ nhào là thành công lớn trong việc chỉ đạo tác chiến của sư đoàn. Tuy nhiên, các trận địa chết
đó phải trực tiếp đối đầu với bom đạn địch. Vì vậy, lãnh đạo chỉ huy các cấp phải làm tốt công tác
chính trị, tư tưởng để bộ đội nhận rõ chỉ có nâng-cao quyết tâm đánh máy bay địch bổ nhào, thực hiện
tết khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù mà bắn" của liệt sĩ anh hùng Nguyễn Viết Xuân là biện pháp tốt
nhất vừa tiêu diệt địch, bảo vệ được mục tiêu và giữ gìn lực lượng ta.

Kết luận hội nghị, đồng chí Tư lệnh sư đoàn nhấn mạnh: Phải tổ chức chặt chẽ và nâng cao
chất lượng nghiên cứu địch, kịp thời phát hiện và có biện pháp đánh trả có hiệu quả các thủ đoạn mới
của chúng. Các cơ quan, đơn vị cần quán triệt và vận dụng tốt tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng
không, nhất là cách đánh tập trung, đánh máy bay bổ nhào, bay thấp, đánh địch trong trường hợp địch
gây nhiễu nặng và tăng cường sử dụng tên lửa Shrike… Muốn làm tốt các điều đó cần tiếp tục phát
huy dân chủ quân sự, bổ sung phương án tác chiến, cách đánh, làm tốt công tác bảo đảm chiến đấu và
huấn luyện bộ đội để không ngừng nâng cao hiệu suất chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao.

Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh sư đoàn, các đơn vị tiến hành hội nghị dân chủ về quân sự,
phát huy trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ, kịp thời bổ sung phương án, hoàn chỉnh cách đánh, nhất là cách
đánh tập trung, đánh máy bay bổ nhào, bay thấp, đánh địch trong các tình huống phức tạp… Các đơn
vị còn phát động phong trào thi đua huấn luyện đột kích để thuần thục các cách đánh trên.
Nhìn chung, các hội nghị trên thực sự phát huy trí tuệ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ
đội, thống nhất quyết tâm, ý chí và hành động, tư tưởng chỉ đạo và cách đánh trong toàn sư đoàn. Đây
là bước đột phá để nâng cao trình độ chiến đấu của bộ đội phòng không Hải Phòng.

Được sự nhất trí của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức lực lượng pháo phòng không
thành các tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn, biên chế thuần nhất từng loại pháo cho từng trung đoàn để
đáp ứng yêu cầu tổ chức chỉ huy và chiến đấu. Trung đoàn 252 gồm có 2 tiểu đoàn pháo 57mm. Trung
đoàn 240 biên chế pháo 100mm nhưng không thành lập tiểu đoàn. Trung đoàn 213 tác chiến độc lập
nên biên chế hỗn hợp các loại pháo, bao gồm 1 tiểu đoàn pháo 100mm, 1 tiểu đoàn pháo 57mm và 2
tiểu đoàn pháo 37mm.

15 giờ 55 phút ngày 4 tháng 10 năm 1967, nhiều tốp máy bay hải quân vào đánh phá Hải
Phòng. Dưới sự chỉ huy của sư đoàn và trung đoàn, các đại đội 173, 175, 388, 511, 381 và các trung
đội 45, 33 đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không địa phương đánh địch mãnh liệt. Tại
trận địa chốt ở Đồi Dương, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Đình Năm, tất cả các khẩu đội
pháo 37mm của đại đội 387 Trung đoàn 252 bắn 112 viên đạn, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay A4 khi
nó đang bổ nhào vào mục tiêu máy bay rơi cách trận địa 300m. Đây là lần đầu tiên bộ đội pháo 37mm
của sư đoàn bắn rơi tại chỗ máy bay bổ nhào ném bom.

Chiến công xuất sắc của đại đội 387 đánh dấu sự thành công của lãnh đạo chỉ huy sư đoàn
và kết quả của các hội nghị phát huy dân chủ quân sự vừa qua, lập thành tích chào mừng chiến thắng
bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 150 của Hải Phòng và kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Quân chủng
Phòng không- Không quân (22-10-1963 - 22-10-1967).

Phát huy chiến thắng của đại đội 387, ngày 5 tháng 10, đại đội 183 Trung đoàn 240 và đại
đội 511 Trung đoàn 252 bắn rơi 2 chiếc A4. Đó là trận đánh cuối cùng trong đợt đánh lớn mới của
địch vào Hải Phòng.

Trong đợt này, địch đã sử dụng 459 lần chiếc máy bay, đánh phá các mục tiêu, chủ yếu là
các trọng điểm giao thông và các trận địa phòng không ở Hải Phòng. Toàn sư đoàn đã đánh hàng trăm
trận, bắn rơi 23 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ (kể cả 2 chiếc bị Trung đoàn 2 1 3 ở Hải
Dương bắn rơi ngày 5 tháng 10).

Ngày 7 tháng 10 năm 1967, địch tiến hành đợt đánh lớn thứ 2 vào Hải Phòng. Mục tiêu
đánh phá chủ yếu là các bến phà Cựu, Khuề, Kiến An, Kiều Bái…, một số chân hàng và khống chế
các mục tiêu giao thông đường bộ, đường thuỷ.

Ngay trong ngày đầu tiên trong đợt đánh lớn thứ hai của địch, tại trận địa trên đồi 137, đại
đội 386 lập công xuất sắc, bắn rơi 1 chiếc A4.

Ngày 18 tháng 10, tiểu đoàn 28 mới cơ động từ Hải Dương về Hải Phòng lập chiến công
đặc biệt xuất sắc, bắn rơi tại chỗ một máy bay địch tại xã Hùng Vương.

Mặc dù tình hình chiến đấu khẩn trương, liên tục và quyết liệt nhưng lãnh đạo, chỉ huy các
'cấp vẫn quan tâm xây dựng đơn vị về mọi mặt. Điển hình là phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" vẫn
phát triển mạnh mẽ trong toàn sư đoàn. Tối ngày 21 tháng 10 năm 1967, hội diễn văn nghệ của sư
đoàn được tiến hành tại hội trường lớn của thành phố Hải Phòng. Tham gia hội diễn có gần 100 nam
nữ diễn viên vừa trải qua các trận đánh quyết liệt và phục vụ chiến đấu với 15 tiết mục đủ các thể loại
thơ, ca, tấu, kịch, chèo, hầu hết là các tiết mục tự biên, tự diễn.

Ngày 22 tháng 10 năm 1967, đích tiến hành đợt đánh lần thứ 3 vào Hải Phòng. Trong đợt
này, dưới sự chỉ huy của sư đoàn, các đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ đánh địch lập công. Ngày 23 tháng
10, đại đội 511 Trung đoàn 252 cơ động về trận địa Cầu Đen phối thuộc chiến đấu với Trung đoàn 240
bắn rơi một máy bay A4. Ngày 24 tháng 10, tại trận địa Gò Chuối, đại đội 512 bắn rơi 1 chiếc A4…

Trong các trận chiến đấu vô cùng quyết liệt với máy bay hải quân Mỹ, các đại đội 171, 172
Trung đoàn 240; 136, 173, 175 Trung đoàn 252; 14, 12 Trung đoàn 213; đại đội 386 tiểu đoàn 25… bị
địch đánh vào trận địa nhiều lần nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trận địa, giữ vững vị trí
chiến đấu và đánh trả địch quyết liệt. Các đồng chí Lê Ngọc Huỳnh, chính trị viên đại đội 175; Đinh
Văn Quang, chính trị viên đại đội 172; Nguỵ Xuân Phương, chính trị viên đại đội 171; Bùi Học Bưởi,
đại đội trưởng đại đội 175; Vũ Xuân Hải, đại đội phó đại đội 14; Tường Duy Ý, đại đội phó đại đội
173… đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, sâu sát đơn vị, dũng cảm trong chiến đấu, lãnh đạo và chỉ huy
đơn vị vững vàng trong mọi tình huống. Các pháo thủ Nguyễn Quốc Hiển, Ma Sơn Cung đại đội 14;
Trần Huy Sáng, Nguyễn Quý Hân đại đội 382; Lê Văn Luận, Đào Đình Đô tiểu đoàn 23… đã nêu cao
tinh thần chiến đấu dũng cảm trước bom đạn địch, bị thương nặng không kêu ca, bị thương nhẹ không
rời trận địa, cùng đồng đội lập nên những chiến công của sư đoàn.

Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh sư đoàn, các cơ quan, đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm hai
tháng chiến đấu vừa qua. Những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công về công tác
tham mưu, chính trị, hậu cần được đúc kết và phổ biến rộng rãi. Bộ đội lại khẩn trương chuẩn bị cho
những trận đánh quyết liệt sắp tới.

Ngày 17 tháng 11 năm 1967, Đảng uỷ sư đoàn họp, quán triệt chỉ thị của Thường vụ Đảng
uỷ Quân chủng và ra nghị quyết về nhiệm vụ Đông Xuân 1967-1968. Trên cơ sở đó, Đảng uỷ sư đoàn
chủ trương: Tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ để bộ đội nêu cao quyết tâm, xác định rõ trách
nhiệm trong những trận chiến đấu liên tục, ác liệt sắp tới. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực
lượng, phương tiện, nêu cao tinh thần hiệp đồng lập công tập thể, vượt qua mọi khó khăn thử thách để
tiêu diệt địch, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu được giao.

Thực hiện chủ trương trên và được sự đồng ý của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn thành
lập tiểu đoàn pháo 100mm thuộc Trung đoàn 213 rồi cơ động về tăng cường bảo vệ Hải Phòng do sư
đoàn trực tiếp chỉ huy; thành lập 2 tiểu đoàn pháo tiểu cao thuộc Trung đoàn 252 gồm 7 đại đội pháo
57mm, hai đại đội súng máy phòng không tự hành AM bố trí bảo vệ cầu Quay và cầu Thượng Lý.

Phòng Tham mưu hiệp đồng chặt chẽ với các phòng Chính trị, Hậu cần, kiện toàn biên chế,
tổ chức, xây dựng trận địa, doanh trại cho các đơn vị mới thành lập, hoàn chỉnh tổ chức thuần nhất
từng loại pháo cho các trung đoàn và bổ sung phương án tác chiến cho sư đoàn.

Để phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong Đông Xuân 1967-1968, Bộ tư lệnh sư
đoàn và Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng đã gửi thư động viên tới toàn thể cán bộ,
chiến sĩ.
Sau khi biểu dương thành tích chiến đấu của sư đoàn trong 2 tháng 9 và 10 năm 1967, cùng
quân và dân thành phố bắn rơi 55 máy bay Mỹ, bức thư của Thành uỷ và Uỷ ban hành chính thành
phố nêu rõ: "Hiện nay các đồng chí đang sôi nổi thi đua bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 200 của Hải
Phòng và chiếc 2.600 trên miền Bắc, do sư đoàn phát động. Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố
nhiệt liệt biểu dương thành tích của sư đoàn…". Bức thư này đã được phòng Chính trị in thành nhiều
bản gửi cho các trung đoàn, đại đội và trung đội độc lập, kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ trong toàn
sư đoàn.

Ngày 16 tháng 11 năm 1967, hải quân Mỹ lại tiến hành đợt đánh phá mới vào Hải Phòng.
Dưới sự chỉ huy của sư đoàn và các trung đoàn, bộ đội đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trong
khu vực đánh địch quyết liệt và lập công xuất sắc.

3 giờ 25 phút ngày 25 tháng 11 năm 1967, tại điểm cao 137 gần thị xã Kiến An, với 66
viên đạn súng máy phòng không trung đội 41 tiểu đoàn 28 đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay A-6A,
cách trận địa gần 1km. Đây là chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi tại chỗ ban đêm đầu tiên của Hải Phòng
và là chiếc máy bay Mỹ thứ 2.600 bị bắn rơi trên miền Bắc. Chiến công đặc biệt xuất sắc của trung
đội 41 đã kịp thời động viên khí thế chiến đấu trong toàn sư đoàn.

Trong 2 ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1967, tại Hải Dương, Trung đoàn 213 bắn rơi 2 chiếc
A4.

Ngày 22 tháng 12 năm 1967, tiểu đoàn 52, Trung đoàn 267 bắn rơi chiếc A-7 đầu tiên trên
miền Bắc. Đó là chiến công cuối cùng trong đợt đánh trả cuộc tiến công lớn của địch vào Hải Phòng.

Trong đợt chiến đấu này xuất hiện nhiều gương điển hình về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng. Nổi bật là tập thể đại đội 512, trong đợt chiến đấu tháng 9, tháng 10 năm 1967, khẩu đội 5 kiên
cường chiến đấu bên bom nổ chậm, nạy lại kiên cường chiến đấu quyết liệt với máy bay hải quân Mỹ.
Noi gương chiến đấu dũng cảm của các cán bộ Nguyễn Văn Thành, Bì Hữu Tê, Nguyễn Thế Mỹ, đại
đội trưởng Vũ Ngọc Đạm và chính trị viên Nguyễn Sĩ Thuỵ cùng tập thể chi uỷ giương cao ngọn cờ
lãnh đạo của chi bộ Đảng, phát huy sức mạnh của quần chúng, thường xuyên sâu sát động viên cán
bộ, chiến sĩ trong chiến đấu và xây dựng, cùng đơn vị hoàn thành tết mọi nhiệm vụ.

Ở đại đội 136, khẩu đội trưởng Bùi Xuân Chiến thường xuyên tranh thủ học tập, rèn luyện
cùng khẩu đội 7, trong chỉ huy chiến đấu rất bình tĩnh, mưu trí, linh hoạt, dũng cảm được các chiến sĩ
hết sức tin tưởng, tự hào. Trong trận đánh ngày 28 tháng 11 năm 1967, thấy tấn đạn của khẩu đội bốc
cháy, anh nhảy ra khỏi công sự cùng đồng đội dập lửa cứu được hơn 100 viên đạn và bảo đảm an toàn
cho đơn vị. Gương quên mình cứu đạn của anh được Phòng Chính trị sư đoàn thông báo kịp thời cho
các đơn vị học tập.

Bị thất bại nặng nề trong các đợt tập kích đường không quy mô lớn vào Hà Nội, Hải
Phòng, cuối năm 1967, địch phải ngừng đánh lớn, chuyển sang sử dụng tốp nhỏ, chiếc lẻ đánh phá,
trinh sát miền Bắc cả ban ngày và ban đêm.

Trong năm 1967, toàn sư đoàn đã chiến đấu 166 ngày gồm 292 trận, bắn rơi 76 máy bay
Mỹ, trong đó có 11 chiếc rơi tại chỗ. Tháng 9 sư đoàn bắn rơi 16 máy bay địch, là tháng bắn rơi nhiều
máy bay Mỹ nhất; ngày 21 tháng 9 các đơn vị bắn rơi 4 chiếc, là ngày bắn rơi nhiều máy bay địch
nhất. Các đại đội bắn rơi nhiều máy bay: đại đội 175 bắn rơi 6 chiếc, đại đội 172 bắn rơi 5 chiếc. Các
đơn vị bắn rơi tại chỗ máy bay địch là các đại đội pháo trung cao 175, 176, 177; các đại đội 11, 14,
513, 511 trang bị pháo 57mm; các đại đội 5, 381, 386 trang bị pháo 37mm và trung đội 41 súng máy
phòng không 14,5mm.

Bộ tư lệnh sư đoàn thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của Quân chủng, lãnh đạo thành phố
Hải Phòng, tỉnh Hải Hưng, tranh thủ các cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân địa phương giúp đỡ về mọi
mặt, bảo đảm cho các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng.

Trong năm 1967, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức cho các đơn vị cơ động được 532 lần với
chặng đường dài 10.536 km, trong đó có 164 lần qua phà; tổ chức đào đắp công sự được 268.587 m3
đất với 113.519 ngày công, riêng nhân dân địa phương giúp đỡ 689.234 ngày công đào đắp trận địa;
khôi phục, sửa chữa đường dây thông tin được 1.854 lần, thường xuyên bảo đảm liên lạc thông suốt
với hệ số các mạng từ 96,54 đến 99,88%. Sư đoàn hoàn thành 2 đợt kiện toàn biên chế tổ chức lực
lượng, xây dựng thêm 4 tiểu đoàn, đại đội an dưỡng, đại đội huấn luyện và xây dựng lực lượng bổ
sung cho các chiến trường.

Sư đoàn còn khắc phục nhiều khó khăn, phát huy sáng kiến, làm tốt công tác bảo quản, bảo
dưỡng, sửa chữa cho 496 lượt khẩu pháo các loại, 77 lượt khí tài, 93 máy nổ, 1.799 chiếc xe. Vì vậy,
các loại vũ khí, khí tài thường xuyên bảo đảm hệ số chiến đấu cao. Các cơ quan, đơn vị còn phát huy
thế mạnh hậu cần tại chỗ, bảo đảm cung cấp 100% lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cho các đơn
vị và tranh thủ tăng gia sản xuất có thêm lượng thịt, cá, bột, rau đáng kể để bộ đội đủ sức khoẻ chiến
đấu liên tục, lâu dài.

Mặc dù tình hình chiến đấu khẩn trương, liên tục, ác liệt, nhưng do quán triệt đầy đủ tầm
quan trọng của công tác huấn luyện nhằm nâng cao trình độ chiến đấu nên lãnh đạo, chỉ huy các cấp
đã nêu cao trách nhiệm. kiên quyết tổ chức huấn luyện cho bộ đội Trong năm, sư đoàn tổ chức huấn
luyện được 213 ngày, tập huấn 154 lần với 3.499 lượt cán bộ và bồi dưỡng nghiệp vụ cho 5.000 cán
bộ, chiến sĩ. Do quán triệt tốt mục đích, yêu cầu, phương châm, phương pháp và nội dung huấn luyện
nên nhìn chung bộ đội thực hiện được chương trình, kế hoạch, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm với
chất lượng ngày càng tết hơn. Đây là nguyên nhân trực tiếp, hết sức quan trọng để nâng cao trình độ
chiến đấu của bộ đội.

Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng
Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Các cơ
quan, đơn vị, tổ chức Đảng và quần chúng thường xuyên được kiện toàn, vững mạnh cả về chính trị,
tư tưởng và tổ chức. Số chi bộ 4 tốt đạt 72,72%, đảng viên 4 tốt đạt 85,48%, kết nạp đảng viên mới
vượt kế hoạch 2,5%. Xây dựng chi đoàn quyết thắng đạt 82,70%, đoàn viên 4 tốt đạt 91% và kết nạp
được 477 đoàn viên mới. Công tác cán bộ được lãnh đạo, chỉ huy các cấp quan tâm, bảo đảm với số
lượng tương đối đủ và chất lượng ngày càng tốt hơn. Các công tác tổ chức, tuyên truyền, dân vận,
chính sách, văn hoá, văn nghệ được thực hiện đúng kế hoạch với chất lượng tốt. Sư đoàn còn làm tốt
công tác tuyên truyền, nói chuyện thời sự được 15.375 người, phối hợp diễn đàn với địa phương được
1.390 người, huấn luyện cho 3.326 dân quân tự vệ, giúp dân sản xuất, chống hạn được 5.457 ngày
công và một số nội dung khác, cả về tinh thần và vật chất.
Do lập nhiều chiến công và thành tích xuất sắc, năm 1967, Sư đoàn phòng không 363 đã
được tặng thưởng huân chương Quân công hạng nhì và được Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tặng cờ, Trung đoàn 240 được tặng thưởng 2 huân chương Chiến công hạng nhất, Trung
đoàn 252 được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất và hạng nhì, 137 liệt sĩ được truy tặng
huân chương Chiến công hạng nhì và hạng ba, tiểu đoàn 52 Trung đoàn tên lửa 267 phối thuộc với
Trung đoàn tên lửa 285 được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất, đại đội 14 Trung đoàn
213, tiểu đoàn 54, đại đội 383 Trung đoàn 240 và 4 đồng chí Bùi Xuân Chiến, Nguyễn Đình Thuỵ,
Nguyễn Văn Vì, Nguyễn Quốc Hiển được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì, 18 đại đội
và 15 cá nhân được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng ba, đại đội 172 được Trung ương
Đoàn tặng cờ Nguyễn Văn Trỗi.

Bộ tư lệnh sư đoàn trao cờ thưởng luân lưu "Đơn vị khá nhất" cho Trung đoàn 252 và tiểu
đoàn 23, công nhận 376 chiến sĩ thi đua, tặng bằng khen, giấy khen 173 tập thể và 3.051 cá nhân, đề
nghị cấp trên công nhận 34 đơn vị quyết thắng và 60 chiến sĩ quyếtthắng.

Năm 1967 là năm cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn chiến đấu vô cùng quyết liệt, lập chiến
công vẻ vang và được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, Chính phủ, quân đội. Đây
thực sự là những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363.

Tết Mậu Thân (1968), quân và dân ta đồng loạt mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên
toàn chiến trường miền Nam. Những tháng lợi dồn dập đầu tiên của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở
miền Nam làm rung chuyển nước Mỹ và chấn động dư luận trên thế giới.

Do bị thất bại nặng nề trong các đợt tập kích đường không quy mô lớn vào Hà Nội, Hải
Phòng năm 1967, lại phải lo chống trả cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của ta trên chiến
trường miền Nam nên đầu năm 1968 địch sử dụng tốp nhỏ, chiếc lẻ vào trinh sát, đánh phá, nhất là
thường xuyên sử dụng máy bay A-6A bay thấp đánh đêm một số mục tiêu trên miền Bắc.

A-6A là máy bay cường kích của hải quân Mỹ, do được trang bị đặc biệt nên nó có thể hoạt
động ở độ cao thấp trong đêm tối để đánh lén một số mục tiêu. Thông thường trong một đêm, chúng
sử dụng từ 2 đến 3 tốp A-6A, mỗi tốp 1 chiếc, bay ở độ cao từ 500 đến 1.000m. Do địch bay thấp, khả
năng radar phát hiện mục tiêu rất gần, lại lẫn trong khu vực có sóng về địa vật dày đặc, thời gian phát
hiện, bám sát và xạ kích mục tiêu rất ngắn nên dễ lỡ thời cơ chiến đấu. Đánh máy bay bay thấp ban
ngày đã khó nhưng đánh máy bay bay thấp ban đêm đối với bộ đội pháo và tên lửa phòng không còn
khó hơn nhiều, vì trong đêm tối rất khó phát hiện bằng mắt thường. Vì vậy, thời gian đầu, một số lần
máy bay A-6A vào đánh đêm ở Hải Phòng, bộ đội phòng không để lỡ thời cơ chiến đấu.

Trước tình hình trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức bộ đội quán triệt tình hình
nhiệm vụ mới, đi sâu nghiên cứu thủ đoạn hoạt động của máy bay A-6A và tìm cách tiêu diệt loại máy
bay này. Chỉ trong thời gian ngắn, bộ đội đã nắm được quy luật, thủ đoạn hoạt động của chúng, xây
dựng cách đánh nhanh, có chuẩn bị máy bay bay thấp ban đêm của địch.

Ngày 3 tháng 1 năm 1968, đại đội 1 Trung đoàn 213 bắn rơi 1 chiếc A4 ở Hải Dương.
Ngày 4 tháng 1, tiểu đoàn 52 ở trận địa Minh Kha bắn rơi 1 chiếc A4, tiểu đoàn 72 ở trận địa Ngọc
Dương bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-8, đại đội 171 Trung đoàn 240 bắn rơi 1 chiếc A4 ở Hải Phòng. Ngày
5 tháng 1, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Xuân Quỳnh và chính trị viên Nguyễn Ngọc
Tâm, đại đội 511 Trung đoàn 252 cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, thực hành xạ kích tốt, với 21 viên
đạn pháo 57mm bắn rơi tại chỗ 1 chiếc A4.

Tháng 2 năm 1968, Bộ tư lệnh Binh chủng Tên lửa được lệnh giải thể. Ngày 22 tháng 2
năm 1968, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân ra quyết định số 135/TM-QL, điều hai trung đoàn
tên lửa 285, 267 từ Bộ tư lệnh tên lửa về trực thuộc Sư đoàn phòng không 363. Cũng theo quyết định
này, Trung đoàn tên lửa 285 gồm có các tiểu đoàn 71, 72, 73, 74, 75, Trung đoàn tên lửa 267 gồm các
tiểu đoàn 5 1, 52, 53, 54, 55; mỗi tiểu đoàn hoả lực có hai đại đội pháo 37mm bảo vệ. Thực hiện quyết
định trên, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức tiếp nhận và triển khai đội hình chiến đấu cho hai trung đoàn
tên lửa 285, 267. Trung đoàn 285 bố trí từ phía bắc sông Cấm đến Uông Bí, Quảng Ninh. Trung đoàn
267 bố trí ở phía nam sông Cấm.

Cũng trong thời gian này, cấp trên điều tiểu đoàn 28 vào chiến đấu ở chiến trường Quân
khu 4, tiểu đoàn 12 được thành lập thay thế tiểu đoàn 28 làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Kiến An. Đồng
chí Bùi Đăng Tự, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 285 được bổ nhiệm chức phó tư lệnh sư đoàn.

Ngày 22 tháng 2 năm 1968, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết số 205/B-1 về tình hình, nhiệm
vụ năm 1968. Quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và nhiệm vụ của Đảng uỷ và Bộ
tư lệnh Quân chủng giao, Đảng uỷ xác định nhiệm vụ của sư đoàn trong năm 1968 là: Phát huy mọi
nỗ lực, động viên mọi cố gắng, dốc sức tập trung mọi lực lượng về tinh thần và vật chất của sư đoàn,
vừa chiến đấu vừa xây dựng, nhanh chóng nâng cao chất lượng toàn diện, phát huy sức mạnh chiến
đấu, lấy việc nâng cao chất lượng chính trị tư tưởng làm cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
làm khâu chính để phát huy khả năng chiến đấu tiềm tàng của sư đoàn. Hiệp đồng chặt chẽ với các lực
lượng vũ trang nhân dân, phát huy mạnh mẽ khí thế cách mạng tiến công, nắm chắc và sáng tạo ra
thời cơ, thừa thắng xông lên tiến công địch liên tục dồn dập, đều khắp; vận dụng linh hoạt và sáng tạo
các hình thức tác chiến, đánh tập trung, đánh tiêu diệt và tiêu diệt lớn không quân Mỹ, bắn rơi nhiều
máy bay, bắt sống nhiều giặc lái, bảo vệ tốt các mục tiêu trọng điểm; giữ gìn và bồi dưỡng tốt lực
lượng ta, càng đánh càng thắng, càng thắng càng mạnh, làm tròn nhiệm vụ của lực lượng nòng cốt
trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở khu vực Hải Phòng.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng uỷ sư đoàn đã đề ra một số chủ trương, biện pháp lãnh
đạo, chỉ đạo các tổ chức Đảng trong Đảng bộ, cơ quan và đơn vị nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết
trên.

Tháng 2 năm 1968, đồng chí Lê Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính
phủ đến thăm sư đoàn. Đồng chí nhiệt liệt biểu dương thành tích chiến đấu của sư đoàn trong thời
gian qua và mong rằng toàn thể cán bộ, chiến sĩ phòng không Hải Phòng sẽ phát huy những kết quả
đã đạt được để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn trong thời gian tới. Cảm động trước lời động viên của
đồng chí đại diện cho Đảng và Chính phủ, toàn thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn nguyện nêu cao trách
nhiệm, ra sức học tập rèn luyện và phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao.

Ngày 3 tháng 3 năm 1968, tiểu đoàn 52 Trung đoàn tên lửa 267 đã nêu cao cảnh giác, thực
hiện tết cách đánh nhanh, có chuẩn bị trước, bắn rơi tại chỗ một chiếc máy bay trinh sát không người
lái tầng thấp 147F. Đây là chiến công xuất sắc đầu tiên của trung đoàn kể từ khi về trực thuộc sư đoàn.
Trong thời gian này, đại đội 512 tiểu đoàn 24 Trung đoàn 252 ngày đêm nghiên cứu thủ
đoạn hoạt động bay thấp ban đêm của máy bay A-6A, xây dựng và luyện tập phương án tác chiến. Để
phát hiện máy bay bay thấp xa hơn, trung đội trưởng radar Trần Văn Hân và kíp trắc thủ Lập, Toàn,
Chuyên có sáng kiến bỏ bớt một số hòm đạn trên thành công sự vào kích cao đài radar.

1 9 giờ 39 phút ngày 6 tháng 3 năm 1968, tại trận địa Gò Chuối, dưới sự chỉ huy của đại
đội phó Phách, kíp trắc thủ radar do Trần Văn Hân phụ trách đã phát hiện kịp thời máy bay A-6A, tạo
điều kiện cho đại đội bắn bằng phần tử radar và Đ-49 bắn rơi tại chỗ máy bay địch, diệt 2 giặc lái gần
Sở dầu Thượng Lý. Đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 200 bị bắn rơi ở Hải Phòng.

Nhận được tin, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen, trong đó nhấn mạnh: "Quân và dân
Hải Phòng đã bắn rơi 200 máy bay Mỹ, góp phần vào chiến công bắn rơi 2.800 máy bay Mỹ trên miền
Bắc. Thành tích đó rất vẻ vang".

Thi đua với tiểu đoàn 52 và đại đội 512, các đơn vị trong sư đoàn ngày đêm nghiên cứu bổ
sung phương án tác chiến, cách đánh và liên tiếp lập công. Đêm ngày 12 tháng 3, đại đội 11 Trung
đoàn 213 bắn rơi 1 chiếc A-6A ở Hải Dương. Đêm ngày 25 tháng 3 tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267 bắn
rơi thêm 1 chiếc A-6 nữa. Chiến công của sư đoàn đã tích cực góp phần đánh bại bước đầu âm mưu,
thủ đoạn trinh sát miền Bắc của địch.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc, ngày 31 tháng 3 năm 1968, tổng thống Mỹ
Johnson buộc phải tuyên bố ngừng ném bom đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Thực hiện "ném bom hạn chế” miền Bắc, tập đoàn cầm quyền Mỹ âm mưu xoa dịu phong
trào đấu tranh của nhân dân Mỹ và lừa bịp dư luận thế giới. Trên thực tế, chúng tập trung lực lượng
máy bay của không quân và hải quân đánh phá ác liệt giao thông vận chuyển từ Nghệ An trở vào,
hòng ngăn chặn triệt để sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Chúng còn sử dụng các loại máy bay SR-71, BQM-34A và 147S… tăng cường trinh sát, khiêu khích
miền Bắc và đe doạ đánh trả đũa nếu ta bắn rơi máy bay của chúng.

Tháng 4 năm 1968, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân uỷ
Trung ương, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm Bộ tư lệnh Sư đoàn phòng không
363. Cùng đi với Đại tướng có Trung tướng Song Hào, Phó bí thư Quân uỷ Trung ương, Chủ nhiệm
Tổng cục Chính trị. Sau khi biểu dương những chiến công xuất sắc bảo vệ thành phố cảng Hải Phòng
trong thời gian qua, Đại tướng căn dặn cán bộ, chiến sĩ sư đoàn: Thường xuyên nêu cao cảnh giác,
kiên quyết đánh bại các cuộc tiến công của địch nếu chúng đánh phá trở lại miền Bắc, trước mắt tập
trung tiêu diệt máy bay trinh sát của địch.

Thực hiện lời căn dặn của Đại tướng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn nguyện quyết
tâm làm tròn chức trách, nhiệm vụ, xứng dáng với sự quan tâm của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc
phòng.

Trong tháng 4 năm 1968, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lãnh đạo, tổ chức rút
kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội pháo phòng không từ tháng 4 năm 1967 đến tháng 4 năm 1968, ra
nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo hai trung đoàn tên lửa 285, 267 và tổng kết 3 năm xây dựng trận địa
của sư đoàn.
Nổi bật nhất trong tháng 4 năm 1968 là toàn sư đoàn triển khai thực hiện phương án tác
chiến mới, sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch vào Hải Phòng, trước mắt tập
trung đánh các loại máy bay trinh sát của địch.

SR-71 là loại máy bay trinh sát tầng rất cao, thường bay ở độ cao 24 km và có tốc độ rất
nhanh, khi tăng tốc lên tới 3.600 km/giờ. Vì tốc độ máy bay rất nhanh nên tên lửa phòng không của ta
đánh loại máy bay này gặp nhiều khó khăn. Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương nghiên cứu đánh loại
máy bay này để cảnh cáo địch và rút kinh nghiệm cho các trận đánh sau này.

BQM-34A là loại máy bay trinh sát không người lái tầng cao, thường bay ở độ cao 18km.
Đây là loại máy bay đã bị tên lửa ta đánh rơi nhiều lần nên thời gian này chúng ít hoạt động ở ngoài vĩ
tuyến 20.

Các loại máy bay 1 47S, 1 47J… là loại máy bay trinh sát không người lái tầng thấp, do
máy bay C-130 phóng từ biển vào, độ cao trinh sát thường từ 500 đến 1.000m, có lúc bay rất thấp (từ
200 đến 300m). Mỗi khi có tình huống trinh sát thấp, địch thường sử dụng từ 1 đến 2 máy bay gây
nhiễu ngoài đội hình EC-121, EA-6B… một số tốp làm nhiệm vụ nghi binh, thu hút và bảo vệ.

Hầu hết các đường bay trinh sát tầng thấp vào Hải Phòng đều là đường bay "vẹt”, từ các
cửa Ba Lạt, Thái Bình vào trinh sát Hải Phòng rồi ra cửa Nam Triệu hoặc ngược lại. Vì vậy đánh máy
bay trinh sát ở tầng thấp đã khó nhưng đánh nó ở đường bay vẹt còn khó hơn nhiều vì thời gian phát
hiện, bám sát và xạ kích rất ngắn, mục tiêu dễ lẫn với sóng về địa vật, phát hiện mục tiêu và chọn thời
cơ phóng rất khó khăn.

Trước tình hình trên, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh sư đoàn đã xây dựng phương án tác chiến, xác
định rõ nhiệm vụ, chủ trương, ý định tác chiến và chỉ đạo cách đánh cụ thể cho các lực lượng.

Nhiệm vụ của sư đoàn là hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ
các mục tiêu trọng yếu ở Hải Phòng, đường 5 và Uông Bí. Trước mắt, tập trung đánh máy bay trinh
sát của địch, nhất là loại máy bay trinh sát không người lái tầng thấp 147J, 147S, 147F… Riêng với
bộ đội tên lửa, nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện và chuẩn bị đánh máy bay cường kích và đánh máy bay
B-52; trước mắt đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp và giao cho 2 tiểu đoàn nghiên cứu
đánh máy bay trinh sát tầng cao và có tốc độ rất nhanh SR-71 theo kế hoạch của Quân chủng.

Chủ trương và ý định tác chiến: Tăng cường rèn luyện kỹ thuật, các lực lượng pháo và
súng máy phòng không đều phấn đấu đánh rơi máy bay trinh sát không người lái tầng thấp. Tích cực
cơ động phục kích đón đánh trên những đường bay trinh sát tầng thấp, bố trí đội hình chiến đấu tạo
thành vùng hoả lực có tung thâm sâu để có nhiều đơn vị đánh được trên đường bay trinh sát của địch.

Thực hiện nhiệm vụ, chủ trương và ý định tác chiến trên, Phòng Tham mưu đã điều chỉnh
đội hình ra phía ngoài để phục kích đón đánh máy bay trinh sát từ xa: tiểu đoàn 24 ra An Lạc, tiểu
đoàn 57 Trung đoàn 252 ra Cát Bi; rút các tiểu đoàn pháo bảo vệ tên lửa làm nhiệm vụ cơ động phục
kích ở những điểm máy bay trinh sát thường bay qua (tiểu đoàn 19 ra Do Khuê, Do Vàng; tiểu đoàn
30 ra Lâm Đồng…). Các tiểu đoàn tên lửa 53, 54, 74, 73 cơ động ra Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, Uông Bí,
Kim Thành… Tất cả đài radar, các loại pháo súng máy phòng không đều được tôn cao nền công sự để
phát hiện và đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp từ xa. Các đơn vị làm tốt công tác
nghiên cứu địch, xây dựng phương án tác chiến và huấn luyện cách đánh nhanh có chuẩn bị để tiêu
diệt máy bay trinh sát tầng thấp của địch.

Để tăng cường công tác nắm địch và chỉ huy bộ đội chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức
thu mạng tình báo radar quốc gia B1, mạng radar phân tán của Quân chủng, các đài radar P-12 của
các trung đoàn tên lửa, radar COH-9A của các đơn vị pháo 100 và 57mm và hệ thống vọng quan sát
mắt của Quân chủng, sư đoàn.Do chuẩn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu cao, trong các ngày 16, 21, 23
tháng 4 năm 1968, các đại đội pháo phòng không 171, 176 và 386 bắn rơi 3 máy bay trinh sát không
người lái tầng thấp của địch. Đây là thành công đầu tiên trong công tác lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, chỉ
đạo và thực hành chiến thuật đánh máy bay trinh sát tầng thấp của sư đoàn.

Thực hiện quyết định số 76/TM-QĐ ngày 23 tháng 5 năm 1968 của Bộ Tổng tham mưu và
quyết định của Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh Sư đoàn tổ chức tiếp nhận Trung đoàn pháo phòng
không 243 và tiểu đoàn pháo phòng không 101 làm nhiệm vụ báo vệ Uông Bí, phà Rừng, phà Dụn về
trực thuộc sư đoàn.

Ngày 5 tháng 6 năm 1968, Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân ra quyết định số
488/BTL xác định tổ chức lực lượng của Sư đoàn phòng không 363 gồm có 4 trung đoàn pháo phòng
không 240, 252, 213, 243, bốn tiểu đoàn pháo phòng không 12, 24, 25, 97 và hai trung đoàn tên lửa
267, 285.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, từ tháng 6 đến tháng 7 năm 1968, Bộ tư lệnh sư
đoàn tổ chức Trung đoàn tên lửa 285 và tiểu đoàn 23, hai đại đội pháo 23mm và tiểu đoàn bộ 97 vào
chiến đấu trên chiến trường Quân khu 4 và tiếp nhận Trung đoàn tên lửa 268.

Căn cứ vào kế hoạch hiệp đồng chiến đấu giữa Bộ tư lệnh Không quân, Bộ tư lệnh 350 và
Sư đoàn phòng không 363 do Quân chủng chủ từ ngày 6 tháng 7 năm 1968, ngày 13 tháng 7 năm
1968, Bộ tư lệnh sư đoàn hoàn thành kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa không quân, tên lửa và pháo
phòng không số 729/A2. Trên cơ sở nhận định về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch, bản kế hoạch
đã nêu rõ nguyên tắc, nội dung hiệp đồng (chủ yếu là theo khu vực, độ cao và thời gian) trong các tình
huống địch đánh phá, trinh sát ở khu vực Hải Phòng, các khu vực đông bắc và đông nam Hà Nội. Đây
là bước phát triển mới về hiệp đồng chiến đấu giữa các binh chủng trong Quân chủng trên địa bàn Hải
Phòng, đông bắc và đông nam Hà Nội của Sư đoàn phòng không 363.

Ngày 31 tháng 8 năm 1968, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ nhất được tiến hành
trọng thể tại hội trường Sư đoàn 350. Dự đại hội có đông đủ đại biểu các tổ chức Đảng của các trung
đoàn, tiểu đoàn và các cơ quan sư đoàn. Sau khi đánh giá kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ vừa qua,
đại hội đã ra nghị quyết lãnh đạo trong nhiệm kỳ tới với quyết tâm: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực
lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, phương tiện, không ngừng nâng cao sức mạnh
chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ mới do
đồng chí Lương Tý làm bí thư, đồng chí Nguyễn Hữu Ích làm phó bí thư.

Trong thời gian này, các cơ quan, đơn vị sôi nổi thi đua lập thành tích thiết thực chào mừng
đại hội. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ vô cùng phấn khởi trước sự thành công tốt đẹp của đại hội, quyết
tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết do đại hội đề ra.
Tháng 11 năm 1968, sư đoàn tổ chức tiếp nhận lại Trung đoàn tên lửa 285. Trải qua 4 tháng
chiến đấu góp phần bảo vệ giao thông vận chuyển ở Nghệ An, chủ yếu là khu vực Thanh Chương, Đô
Lương, toàn trung đoàn đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đánh 13
trận, phóng 20 quả đạn, bắn rơi 5 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ. Căn cứ vào kết quả
chiến đấu, Đảng uỷ Trung đoàn 285 đánh giá: “Mặc dù chiến đấu phân tán trong điều kiện địch
thường xuyên đánh phá ác liệt, cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn đã nêu cao quyết tâm đánh địch, tuy
số lượng máy bay bắn rơi còn ít, có tổn thất về người và khí tài nhưng đã góp phần tích cực giải toả
giao thông vận chuyển ở Quân khu 4. Trong quá trình chiến đấu đầy gian nan thử thách, bộ đội đã
được rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt. Những bài học về chiến đấu và xây dựng ở Quân khu 4 là
những bài học quý báu trên chặng đường trưởng thành của Trung đoàn tên lửa 285".

Cuối năm 1968, đồng thời với việc tổ chức củng cố sức chiến đấu cho Trung đoàn tên lửa
285, xây dựng, sửa chữa hệ thống trận địa, kiểm tra huấn luyện…, Bộ tư lệnh sư đoàn đã phát huy kết
quả xây dựng đại đội 172 Trung đoàn 240, phát động phong trào thi đua “giành ba đỉnh cao quyết
thắng” (mọi người đều tiên tiến, mọi người là dũng sĩ, mọi người giỏi kỹ thuật) trong toàn sư đoàn.
Đây là phong trào thi đua lớn, có bề rộng và chiều sâu, diễn ra sôi nối ở khắp cơ quan đơn vị tạo điều
kiện cho sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng trong năm 1968 và thời gian
tới.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc, ngày 31 tháng 10 năm 1968, tổng thống Mỹ
Johnson buộc phải tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn vô điều kiện nước Việt nam dân chủ cộng hoà
và chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris (Pháp). Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế
quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta kết thúc.

Trải qua hơn ba năm vừa chiến đấu vừa xây dựng, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng,
Chính phủ và quân đội, thường xuyên và trực tiếp là Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không-
Không quân, sự giúp đỡ nhiệt tình, to lớn và quý báu của nhân dân các địa phương, nhất là thành phố
Hải Phòng, các tỉnh Hải Hưng và Quảng Ninh, sự cố gắng vượt bậc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và
bộ đội, Sư đoàn phòng không 363 không ngừng phát triển, trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt,
hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao.

Nổi bật nhất trong thời kỳ lịch sử này là sư đoàn vừa mới thành lập đã phải làm nhiệm vụ
bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng, đối đầu với lực lượng chủ yếu là máy bay hải quân Mỹ có số
lượng đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn hoạt động phức tạp, xảo quyệt;
trong khi đó lực lượng, trình độ và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội còn hạn chế. Mặc dù vậy, từ
lãnh đạo chỉ huy các cấp đến bộ đội đã thường xuyên quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, đặc
điểm tình hình nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, đoàn kết chặt chẽ, khắc phục mọi
khó khăn, thử thách, không ngừng học tập, rèn luyện vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ.

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, địch đã sử dụng 6.692 lần chiếc máy bay, sử
dụng mọi thủ đoạn xảo quyệt, nham hiểm, ném hàng ngàn tấn bom đạn xuống khu vực Hải Phòng,
Hải Dương, Uông Bí. Toàn sư đoàn đã đánh hàng ngàn trận, bắn rơi 176 máy bay chiến thuật của
địch. Những chiến công của sư đoàn xứng đáng là lực lượng nòng cất của các lực lượng phòng không
trên địa bàn, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của dịch ở khu vực Hải Phòng, Hải
Dương, Quảng Ninh và tích cực góp phần cùng quân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá
hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta.

Trong thời gian trên, sư đoàn không ngừng phát triển lực lượng, xây dựng cơ quan; đơn vị
không ngừng lớn mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; thực hiện càng đánh càng mạnh và trưởng
thành nhanh chóng về mọi mặt. Chẳng những thế, sư đoàn còn quán triệt và vận dụng linh hoạt, sáng
tạo tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng không, từng bước xây dựng và phát triển các hình thức, thủ đoạn
chiến thuật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển như chết bảo vệ yếu địa, kết
hợp chốt vòng trong với cơ động đánh địch ở vòng ngoài, cơ động phục kích đánh địch…; đánh máy
bay bay thấp, bay cao, đánh các loại máy bay trinh sát, đánh đội hình cường kích mật tập có nhiễu
trong và ngoài đội hình, cả nhiễu tích cực và tiêu cực, đánh địch trong điều kiện có tên lửa tự dẫn
đánh phá radar Shrike, đánh máy bay địch bổ nhào ném bom…

Những chiến công và thành tích trên là những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử của Sư
đoàn phòng không 363 và góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến phòng không Việt Nam,
nhất là nghệ thuật tác chiến phòng không bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng.

Sư đoàn rất nghiêm khắc trước những khuyết điểm, thiếu sót về nghiên cứu địch, xây
dựng, phát triển và thực hành phương án tác chiến, bố trí đội hình chiến đấu, tổ chức chỉ huy, sử dụng
lực lượng, phương tiện cả trong chuẩn bị, thực hành và kết thúc chiến đấu cả trong chiến đấu, xây
dựng và đã có biện pháp khắc phục cụ thể, hiệu quả sau từng trận đánh, đợt đánh. Đó là những kinh
nghiệm quý báu để sư đoàn nghiên cứu vận dụng trong chiến đấu, xây dựng thời gian tới.

Chương 2

TẬP TRUNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU, ĐÁNH MÁY BAY
TRINH SÁT CỦA ĐỊCH, BẢO VỆ THÀNH PHỐ CẢNG (1969 - 1971)

Tháng 1 năm 1969, vừa mới nhậm chức tổng thống nước Mỹ, Ních-xơn chủ trương thực
hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" nhằm tiếp tục bám giữ Nam Việt Nam, ngăn chặn phong
trào cách mạng ở Đông Nam Á.

Thực hiện chiến lược trên, Mỹ- nguỵ tiến hành "bình định nông thôn" miền Nam, ra sức
xây dựng quân nguỵ Sài Gòn thành đội quân hiện đại, làm lực lượng chủ yếu trên chiến trường, thay
dần quân Mỹ và củng cố nguỵ quyền các cấp. Đối với miền Bắc, đồng thời với việc tập trung máy bay
đánh phá ác liệt ở phía nam Quân khu 4 để ngăn chặn sự chi viện của ta cho chiến trường, địch còn
tăng cường sử dụng các loại máy bay SR-71, BQM-34A và 147S, 147J… trinh sát miền Bắc, nhất là
khu vực Hà Nội, Hải Phòng.

Ngày 1 tháng 1 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư chúc mừng năm mới tới đồng
bào, chiến sĩ cả nước:

"Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

…Vì độc lập vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào…".
Sáng ngày 1 Tết Kỷ Dậu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Quân chủng Phòng không
Không quân. Sau khi ân cần thăm hỏi chúc Tết cán bộ, chiến sĩ, Người nói: "…Không tin được Mỹ
đâu! Chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược, phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để
khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay".

Quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và sự chỉ đạo
của Quân chủng, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương: Dốc sức xây dựng lực lượng, nâng cao
chất lượng huấn luyện chiến đấu cho bộ đội, sẵn sàng đánh thắng các cuộc tập kích của địch vào Hải
Phòng. Trước mắt, tập trung lực lượng tiêu diệt máy bay trinh sát của địch, coi đó là nhiệm vụ quan
trọng để nâng cao trình độ chiến đấu đánh cảnh cáo địch và bảo vệ miền Bắc. Đồng thời tiến hành
tổng kết 4 năm chống chiến tranh phá hoại của địch và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 1969.

Thực hiện kế hoạch tác chiến ngày 16 tháng 12 năm 1968 của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư
đoàn tổ chức rà soát, bổ sung phương án tác chiến và triển khai thực hiện kế hoạch chiến đấu cho sư
đoàn, các trung đoàn pháo phòng không 252, 240, 243, 213 và các trung đoàn tên lửa 285, 267, 268.
Quyết tâm của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn là tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu,
sẵn sàng chiến đấu cao, kiên quyết đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch nếu chúng đánh
phá trở lại khu vực Hải Phòng để bảo vệ các mục tiêu trọng yếu là cảng, nhà máy xi măng, điện Uông
Bí, các cầu, sân bay Kiến An, trong đó mục tiêu quan trọng nhất là cảng Hải Phòng; trước mắt tập
trung nghiên cứu, tìm cách đánh thắng các loại máy bay trinh sát của địch, nhất là máy bay trinh sát
không người lái tầng thấp.

Thời kỳ này, địch tăng cường sử dụng máy bay không người lái vào trinh sát khu vực Hải
Phòng để thu thập tình báo, sẵn sàng đánh phá trở lại khi cần thiết. Khi có tình huống trinh sát tầng
thấp, địch thường sử dụng từ 1 đến 2 tốp EC-121, EA-6B gây nhiễu ngoài đội hình và một số tốp làm
nhiệm vụ nghi binh thu hút ở ven biển, trong khi đó máy bay C-130 vào khu vực đảo Bạch Long Vĩ
lợi dung dải nhiễu ngoài đội hình và lợi dụng các cửa sông phóng máy bay trinh sát ở độ cao từ 2,5
đến 3,5 km.

Đường bay của máy bay trinh sát không người lái tầng thấp được chia thành 2 loại đường
bay "vẹt sâu” và "vẹt nông". Đường bay “vẹt sâu” đột nhập ở phía bắc đảo Cát Bà qua Quảng Yên,
phà Rừng hoặc Hồng Gai, Uông Bí, phà Đụn vào trinh sát thành phố; đột nhập từ các cửa Văn Úc,
Thái Bình qua các phà Khuể, Cựu, Quý Cao, Tây núi Voi vào thành phố hoặc qua các phà Khuể, Cựu,
An Lão, Xuân Sơn vào sân bay Kiến An. Đường bay "vẹt nông" đột nhập từ Lạch Tray đến bắc cửa
Văn Úc chủ yếu vào trinh sát khu đông cảng và sân bay Cát Bi, có trường hợp qua Lạch Tray, Núi Đôi
vào trinh sát sân bay Kiến An rồi ra cửa sông Thái Bình.

Độ cao của máy bay trinh sát không người lái thường từ 300 đến 500m, tốc độ bay từ 240 -
250 m/giây. Thời gian trinh sát thường từ 10 giờ đến 14 giờ trong ngày. Giãn cách giữa 2 lần phóng
máy bay trinh sát của C-130 thường từ 1 giờ 30 phút đến 2 giờ 30 phút.

Ở Hải Phòng, địch thường dùng loại máy bay trinh sát không người lái tầng thấp 147S,
thường xuyên thay đổi về hướng đột nhập, đường bay, độ cao và thời gian và không ngừng thay đổi
các thủ đoạn gây nhiễu, nghi binh thu hút làm cho ta căng thẳng, mệt mỏi dẫn đến bị bất ngờ, lỡ thời
cơ chiến đấu.
Dựa vào đặc điểm tính năng, tác dụng của loại máy bay này địch tăng cường hoạt động
trinh sát, khiêu khích miền Bắc và tiêu hao sức lực, tiềm lực của bộ đội phòng không ta.

Mặc dù đã có kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp trong cuộc
chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, nhất là các trận bắn rơi máy bay địch trong các ngày 16, 21, 23
tháng 4 và ngày 1 tháng 11 năm 1968 nhưng việc đánh loại máy bay này của Sư đoàn phòng không
363 vẫn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là đánh máy bay bay thấp đã khó nhưng đánh địch
sử dụng đường "vẹt", nhất là "vẹt nông" còn khó hơn nhiều.

Trước tình hình trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lãnh đạo, tổ chức các cơ
quan, đơn vị nghiên cứu quy luật, thủ đoạn hoạt động trinh sát thấp của địch, xây dựng phương án tác
chiến và huấn luyện cách đánh nhanh ở cự ly gần. Nhiều đơn vị đã dày công nghiên cứu, tìm cách
đánh và huấn luyện bộ đội cách đánh nhanh có chuẩn bị với quyết tâm bắn rơi bằng được máy bay
trinh sát tầng thấp của địch.

Trong khi bộ đội pháo phòng không chưa tìm ra giải pháp đánh địch hiệu quả thì bộ đội tên
lửa của sư đoàn đã tìm được biện pháp đánh địch hiệu quả. Tại Trung đoàn tên lửa 267, dưới sự chỉ
huy của Trung đoàn trưởng Đoàn Thuận và Chính uỷ Lê Sơn, đơn vị đã tập trung giải quyết đồng bộ 5
vấn đề:

- Nghiên cứu kỹ các đường bay trinh sát, kiên quyết cơ động trên địa bàn, tạo điều kiện
đón đánh đúng đường bay của địch.

- Tăng cường rèn luyện để nâng cao trình độ phát hiện, bám sát mục tiêu của kíp trắc thủ,
bảo đảm đánh nhanh có chuẩn bị, đánh thắng và an toàn.

- Cơ quan kỹ thuật thường xuyên bảo đảm khí tài tốt nhất phục vụ cho đơn vị đánh thắng.

- Đẩy mạnh xây dựng toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trước mắt là xây dựng
quy trình xử lý, thao tác của kíp chiến đấu chấp hành nghiêm túc các chế độ trực ban, kiên quyết
không để lỡ thời cơ đánh địch.

- Tổ chức đoàn “bắn trúng, bắn rơi” gồm cán bộ tham mưu, chính trị, kỹ thuật do trung
đoàn trưởng chỉ đạo xuống từng tiểu đoàn, lấy tiểu đoàn 53 làm đơn vị đột phá nhằm trực tiếp giải
quyết cách đánh cụ thể.

Để đảm bảo đánh máy bay trinh sát hiệu quả, ngoài việc kiểm tra đôn đốc thực hiện 5 vấn
đề trên, ban chỉ huy trung đoàn còn tăng cường công tác nắm địch qua các nguồn tình báo radar, vọng
quan sát mắt, nâng cao chất lượng chỉ huy đánh nhanh có chuẩn bị, tổ chức đoàn cán bộ đi tìm các
trận địa phục kích ở các khu vực Đồ Sơn, Đại Trà, Tiên Lãng, Đông Am (Vĩnh Bảo), Phụ Dực (Thái
Bình) và xây dựng trận địa cho có tiểu đoàn hoả lực nhanh chóng bảo đảm chiến đấu.

15 giờ 31 phút ngày 7 tháng 2 năm 1969, một chiếc máy bay trinh sát không người lái
147K, độ cao 700m từ cửa Văn Úc vào trinh sát sân bay Kiến An và Hải Phòng. Được chỉ huy Trung
đoàn 267 chỉ thị mục tiêu kịp thời, kíp chiến đấu tiểu đoàn 53 đã thực hành đánh nhanh có chuẩn bị
tốt, phóng 2 quả đạn, bắn rơi tại chỗ máy bay địch ở xã Hoà Bình huyện Vĩnh Bảo. Đây là trận đánh
thắng đầu tiên của trung đoàn trên trận địa phục kích, chứng minh chủ trương cơ động phục kích đón
đánh đường bay địch và cách đánh nhanh có chuẩn bị của trung đoàn là chính xác, hiệu quả.

Học tập và phát huy chiến thắng của tiểu đoàn 53, trong hai ngày 15 và 28 tháng 3 năm
1969, tiểu đoàn 52 bắn rơi 2 chiếc máy bay 147E. 12 giờ 11 phút ngày 31 tháng 3 năm 1969, tiểu
đoàn 53 lại bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp ở xã Toàn Thắng,
huyện Tiên Lãng, cách trận địa 10km. 12 giờ 26 phút ngày 19 tháng 4 năm 1969, tại trận địa Minh
Kha, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Phạm Thật và chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Huy
Nhượng, với 1 quả đạn, sĩ quan điều khiển Lại Chân Chính và các trắc thủ Hoàng Văn Nam, Lê Văn
Thư, Nguyễn Văn Ty của tiểu đoàn 52 đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay không người lái ở sông
Cấm. Ngày 18 tháng 5 năm 1969, tiểu đoàn 53 lại bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 147S.

Cũng trong thời gian này, Trung đoàn tên lửa 285 vừa khẩn trương khôi phục khí tài cho 2
tiểu đoàn 71, 73 bị địch đánh hỏng ở Nghệ An, vừa chuẩn bị cho 2 tiểu đoàn 72 (ở trận địa Trung Hà),
74 (ở trận địa Yên Hưng, Quảng Yên) đánh máy bay trinh sát tầng thấp của địch.

12 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1969, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 285, tiểu đoàn trưởng
Nguyễn Đình Lâm và chính trị viên tiểu đoàn Lê Minh Tuấn đã cùng sĩ quan điều khiển Nguyễn Sáng
và kíp trắc thủ tiểu đoàn 74 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay không người lái 147B ký hiệu ASSY-500-
902 SB-35 ở bãi Xú thuộc xã Hoàng Tân, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, cách trận địa 10km.
Đây là chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp đầu tiên bị Trung đoàn 285 bắn rơi.

Tính từ ngày 4 tháng 2 đến ngày 23 tháng 5 năm 1969, toàn sư đoàn đã có 29 lần tiểu đoàn
tên lửa đánh địch, phóng 41 quả đạn, diệt 11 máy bay trinh sát tầng thấp. Trong chiến công trên,
Trung đoàn tên lửa 267 lập công xuất sắc, đánh 23 lần, phóng 32 quả đạn bắn rơi 9 máy bay trinh sát
không người lái tầng thấp của địch và trở thành đơn vị bắn rơi nhiều máy bay trinh sát nhất trong các
trung đoàn tên lửa của Quân chủng. Tiểu đoàn 53 lập thành tích xuất sắc nhất, bắn rơi 4 chiếc, trong
đó có chiếc bị bắn rơi máy 18 tháng 5 năm 1969, lập thành tích thiết thực mừng thọ Chủ tịch Hồ Chí
Minh tròn 79 tuổi. Được tin vui này, Bác Hồ rất xúc động và gửi tặng đơn vị lẵng hoa của Người.

Cũng từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 25 tháng 5 năm 1969, bộ đội pháo phòng không của sư
đoàn đã đánh 33 trận, bắn 2.701 viên đạn các loại nhưng không bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không
người lái tầng thấp nào. Khuyết điểm này có nhiều nguyên nhân: Về khách quan do thời tiết xấu, máy
bay bay thấp, thể tích nhỏ, tốc độ lớn nên khó phát hiện mục tiêu từ xa; về chủ quan, do trình độ tổ
chức chỉ huy của cán bộ, trình độ kỹ thuật của bộ đội còn yếu, công tác chuẩn bị vũ khí, khí tài, đạn
dược chưa tỉ mỉ, chính xác.

Trước tình hình trên, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức cho các trung đoàn pháo phòng không
nghiêm khắc kiểm điểm, rút ra bài học kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục cụ thể, hiệu quả.

Ngày 30 tháng 5 năm 1969, tại trận địa Lâm Động, tiểu đoàn pháo phòng không 30 của
Trung đoàn tên lửa 285 đã kịp thời phát hiện máy bay trinh sát không người lái tầng thấp, đồng loạt
bắn 17 viên dạn pháo 37mm, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 147J. Đây là chiếc máy bay trinh sát tầng thấp
đầu tiên bị bộ đội pháo phòng không bắn rơi trong năm 1969.
Ngày 1 tháng 6 năm 1969, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho các sư đoàn phòng không
363, 361, 377, 365: giãn đội hình tên lửa và một bộ phận pháo phòng không ra bố trí đón đúng đường
bay để tiêu diệt địch từ vòng ngoài. Các đơn vị luân phiên nhau làm nhiệm vụ chiến đấu và rèn luyện
bộ đội. Đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Khi bố trí đội hình tên lửa chú ý
tính toán để tầng 1 rơi vào nơi không có dân cư. Tuyệt đối không bắn vào vùng cấm Hà Nội, Hải
Phòng. Mỗi cấp phải phân công tổ chức thực hiện và tổ chức kiểm tra thật chặt chẽ việc triển khai
phương án tác chiến và kế hoạch chiến đấu.

Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 363: Trung đoàn tên lửa 285 bố trí hai
tiểu đoàn ở Quảng Ninh, hai tiểu đoàn ở Hải Phòng. Trung đoàn 267, bố trí hai tiểu đoàn ở đông bắc
Hải Phòng để đón đánh địch từ cửa Văn Úc vào, hai tiểu đoàn cơ động qua đường 10 đón đánh địch ở
các cửa Thái Bình, Trà Lý. Sư đoàn nghiên cứu đưa lực lượng pháo phòng không đón đánh địch ở cửa
Trà Lý, Thái Bình vào.

Thực hiện chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo tổ chức cơ quan tham
mưu và các đơn vị khẩn trương triển khai kế hoạch cơ động phục kích đón đánh máy bay trinh sát
tầng thấp của địch.

Trung đoàn tên lửa 285 tổ chức cơ động tiểu đoàn 73 về Tứ Kỳ dưới trời mưa xối xả,
đường vào trận địa lầy lội. Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã tổ chức nhân dân sửa
đường ra vào trận địa và chống lầy, tạo điều kiện cho đơn vị chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy
định và an toàn.

Ngày 10 tháng 6 năm 1969, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Châu Quang Bút, kíp
chiến đấu của tiểu đoàn 73 hiệp đồng xử trí thao tác tốt, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 147J cách trận địa
4km. Ngày 18 tháng 6 năm 1969, đồng chí Ngô Văn Tác, trưởng xe kiêm sĩ quan điều khiển tiểu đoàn
71 Trung đoàn tên lửa 285 và đồng chí Bùi Xuân Chiến, khẩu đội trưởng đại đội 3 Trung đoàn pháo
phòng không 240 được Chính phủ và Quốc hội tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Đây là hai đồng chí đầu tiên của Sư đoàn 363 được tặng phần thưởng cao quý này. Toàn thể cán bộ,
chiến sĩ trong sư đoàn vô cùng phấn khởi, nguyện ra sức học tập, noi gương các đồng chí anh hùng,
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chức trách cùng sư đoàn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao.

Niềm vui của cán bộ chiến sĩ càng được nhân lên khi bộ đội tên lửa trong sư đoàn liên tiếp
đánh thắng máy bay trinh sát không người lái tầng thấp. Ngày 14 tháng 7 năm 1969, tiểu đoàn 72
Trung đoàn 285 phóng 2 quả đạn tiêu diệt một chiếc 147J. Ngày 22 tháng 7, dưới sự chỉ huy của tiểu
đoàn phó Đặng Minh Chức, sĩ quan điều khiển Vũ Đình Nũng và các trắc thủ Quang, Thắng, Vang
bắn rơi 1 chiếc 147J. Ngày 25 tháng 7, tiểu đoàn 74 thực hành bắn đuổi tốt, bắn rơi tại chỗ một chiếc
máy bay trinh sát không người lái ở độ cao 500m. Trong 2 ngày 10 và 17 tháng 8, tiểu đoàn 73 lại bắn
rơi 2 máy bay trinh sát không người lái tầng thấp, là chiếc máy bay Mỹ thứ 99 và 100 bị trung đoàn
bắn rơi và trở thành đơn vị bắn rơi máy bay trinh sát tầng thấp xuất sắc nhất sư đoàn.

Cũng trong thời gian này, Quân chủng tổ chức nghiên cứu biên soạn tài liệu "Đánh máy
bay trinh sát không người lái bay thấp". Tham gia biên soạn có một số cán bộ nhiều kinh nghiệm
chiến đấu của các trung đoàn tên lửa 267, 285 như Phạm Văn Chắt, Lại Chân Chính… Ngay sau khi
hoàn thành tài liệu, Quân chủng đã tổ chức tập huấn cho các trung đoàn tên lửa trong toàn quân
chủng.

Bộ tư lệnh Quân chủng còn tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát không
người lái tầng thấp cho bộ đội tên lửa tại tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267. Dự hội nghị có đại diện cán bộ
các sư đoàn phòng không, lãnh đạo chỉ huy các trung đoàn và một số kíp chiến đấu tên lửa. Tại hội
nghị này, Bộ tư lệnh Quân chủng đã nhiệt liệt biểu dương và công nhận Sư đoàn 363 là lá cờ đầu của
Quân chủng trong phong trào thi đua bắn rơi máy bay trinh sát không người lái tầng thấp.

Sau khi nghe đồng chí Đoàn Thuận, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 267 báo cáo kết
quả trong những trận đánh vừa qua, hội nghị đã trao đổi và học tập kinh nghiệm về cách đánh máy
bay trinh sát không người lái tầng thấp. Kết luận hội nghị, đại tá Đặng Tính, Chính uỷ kiêm Tư lệnh
Quân chủng nhấn mạnh: Vấn đề mấu chốt để đánh thắng được rút ra là phải tôn cao đài radar P-12 và
xe thu phát nhằm phát hiện máy bay bay thấp từ xa; phải luyện tập cho kíp chiến đấu thuần thục động
tác thao tác cách đánh gần, đánh nhanh có chuẩn bị, đánh trong điều kiện độ cao mục tiêu nhỏ hơn
1km; phải bảo đảm tốt các tham số kỹ thuật để bảo đảm cho bộ đội đánh chắc thắng.

Giữa lúc toàn Quân chủng đang sôi nổi thi đua sẵn sàng chiến đấu và đánh máy bay trinh
sát của địch thì nhận được tin vô cùng đau đớn: 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ
Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ
trang nhân dân qua đời. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đều xúc động, không cầm được nước mắt
trước tổn thất lớn lao này, đời đời nhớ ơn công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và nguyện
mang hết sức mình tiếp tục thực hiện sự nghiệp cách mạng cao cả của Người.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng và hướng dẫn của Cục Chính trị, toàn sư đoàn nghiêm
chỉnh thực hiện tang lễ Bác, tổ chức học tập các văn kiện chính của Đảng và Nhà nước và sôi nổi thi
đua "Biến đau thương thành hành động cách mạng" nhằm động viên khí thế của bộ đội và nâng cao
khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời của Tổ quốc.

7 giờ 30 phút ngày 6 tháng 9, với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, tiểu đoàn 51 Trung
đoàn tên lửa 267 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay trinh sát không người lái của địch. Chiến công xuất
sắc này cùng với rất nhiều gương "Người tốt, việc tốt" ở khắp các cơ quan, đơn vị biểu thị rõ tình cảm
sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu.

Toàn sư đoàn sôi nổi thực hiện phong trào "Học tập và làm theo Di chúc thiêng liêng của
Hồ Chủ tịch", đẩy mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và hoàn thành tốt kế hoạch công tác
năm 1969. Đến thời gian này, sư đoàn đã hoàn thành tài liệu “Tổng kết 4 năm chiến đấu chống chiến
tranh phá hoại của Sư đoàn phòng không 363 tại khu vực yếu địa Hải Phòng - Hải Dương - Uông Bí
(1965 - 1968)". Tài liệu in rô-nê-ô, dày 140 trang gồm 4 phần, trong đó nêu rõ đặc điểm tình hình của
sư đoàn, hoạt động của địch, những vấn đề chủ yếu trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, xây
dựng, những bài học kinh nghiệm. Đây là tài liệu được nghiên cứu, biên soạn công phu, vô cùng quý
giá và góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật tác chiến của bộ đội phòng không Việt Nam.

Thực hiện quyết định số 78/TM-QĐ của Bộ Tổng tham mưu ngày 16 tháng 10 năm 1969,
Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức tách Phòng Hậu cần thành Phòng Hậu cần và Phòng Kỹ thuật.
Việc tổ chức Phòng Kỹ thuật là bước phát triển mới về tổ chức trong sư đoàn, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc bảo đảm kỹ thuật, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ yếu địa ven biển của bộ đội
phòng không Hải Phòng.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285 và đồng chí Đặng Minh Chức
nguyên là sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 72 Trung đoàn tên lửa 285 được Chính phủ và Quốc hội tuyên
dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tiểu đoàn 73 là đơn vị đầu tiên của sư đoàn được nhận
phần thưởng cao quý này. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn phấn khởi, tự hào, nguyện học tập
và làm theo gương tập thể, cá nhân anh hùng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao để xứng đáng
với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân.

Trong năm 1969, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Quân chủng, sự
giúp đỡ tận tình của các cơ quan, đơn vị bạn và địa phương, với sự cố gắng phấn đấu, rèn luyện vượt
bậc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ đội, sư đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu
và xây dựng, nổi bật là nhiệm vụ đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp của địch.

Trong năm, sư đoàn báo động chuyển cấp chiến đấu 675 lần, đánh 93 trận, bắn rơi 19 máy
bay trinh sát của địch, hầu hết máy bay đều rơi tại chỗ. Trung đoàn tên lửa 267 đánh 34 trận, bắn rơi
10 chiếc. Trung đoàn tên lửa 285 đánh 17 trận, bắn rơi 8 chiếc. Các trung đoàn pháo phòng không
đánh 62 trận, bắn rơi 1 chiếc. Do bắn rơi nhiều máy bay, sư đoàn được Quân chủng công nhận là đơn
vị dẫn đầu trong phong trào thi đua bắn rơi máy bay trinh sát không người lái tầng thấp của địch.

Trong năm, sư đoàn tổ chức cho các đơn vị cơ động, chủ yếu là cơ động phục kích đánh
địch, 184 lần với quãng đường dài 4.034km; củng cố, xây dựng xong toàn bồ hệ thống sở chỉ huy cơ
bản, dã chiến và trận địa, trong đó đào đắp được 89.440 m3 đất đá, sửa chữa 12 km đường xá, làm
thêm và sửa chữa 9 trận địa tên lửa, 51 trận địa pháo phòng không với 165.118 ngày công, trồng được
98.305 cây nguỵ trang trận địa. Sư đoàn còn xây dựng 1 đại đội công binh; điều động các tiểu đoàn
độc lập 24, 25, 12, 96 về trực thuộc các trung đoàn 213, 252, 267 và sư đoàn; cắt giảm biên chế pháo
ở các đơn vị đưa về kho bảo quản 244 khẩu pháo các loại, 15 bộ khí tài, 32 máy nổ và hơn 100 tấn
phụ tùng kèm theo; giải thể Trung đoàn tên lửa 268, chuyển Trung đoàn 243 làm nhiệm vụ xây dựng
kinh tế…; bàn giao cho các sư đoàn 365, 377 và chiến trường 78 khẩu pháo 37mm và 8 khẩu pháo
100mm.

Quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ các ngành tham mưu, kỹ thuật, hậu
cần nêu cao trách nhiệm, khắc phục nhiều khó khăn, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để nâng cao
hiệu quả bảo đảm chiến đấu, huấn luyện và xây dựng sư đoàn. Các mạng thông tin vô tuyến điện báo,
vô tuyến thoại và hữu tuyến điện đều đạt hệ số cao, từ 96,1 đến 98,6%. Hệ số chiến đấu của pháo
phòng không có khí tài đạt từ 85 đến 95%, của tên lửa đạt từ 75 đến 95%. Nổi bật nhất trong phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật là bộ đội đã cải tiến cơ khí và điện, sử dụng 1 khẩu pháo 37mm thay cho
máy chỉ huy điều khiển pháo 100mm và đã triển khai cho đại đội 172 Trung đoàn 240 làm nhiệm vụ
chiến đấu.

Quán triệt quan điểm cần kiệm xây dựng quân đội, ngành hậu cần đã tìm mọi biện pháp hạ
mức tiêu thụ xăng dầu, thu hồi được 9.940 lít dầu thải, bảo đảm phục vụ chiến đấu, xây dựng và sinh
hoạt của bộ đội. Công tác xây dựng doanh trại, bảo đảm lương thực, thực phẩm, phòng chống dịch
bệnh có nhiều tiến bộ, duy trì sức khoẻ cho cán bộ, chiến sĩ chiến đấu liên tục, lâu dài.

Đồng thời với việc hoàn thành chương trình huấn luyện, kiểm tra đánh giá cuối năm, sư
đoàn đã mở được 43 đợt tập huấn cho 1647 cán bộ, nhân viên kỹ thuật và cử đi học các trường được
245 người. Sư đoàn còn tổ chức đoàn cán bộ do Tham mưu phó Trịnh Liễu dẫn đầu xuống đại đội 512
Trung đoàn 252 xây dựng đơn vị mẫu rồi chỉ đạo các đơn vị xây dựng đột phá, đẩy mạnh thực hiện
phong trào "5 luyện, 6 quản", xây dựng nền nếp chính quy và quản lý kỷ luật cho bộ đội.

Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm, đẩy mạnh công tác chính trị,
tư tưởng, xây dựng Đảng và các tổ chức quần chúng, bảo đảm các cơ quan, đơn vị thường xuyên được
kiện toàn, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phát huy được vai trò, vị trí, chức năng của
các tổ chức, tích cực góp phần hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng của sư đoàn.

Tuy nhiên, sư đoàn còn một số khuyết điểm, tồn tại: hiệu suất đánh máy bay trinh sát
không người lái tầng thấp của bộ đội pháo phòng không còn thấp, công tác xây dựng nhất là về huấn
luyện, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật bộ đội còn nhiều hạn chế… Những khuyết điểm, tồn tại
này đã ảnh hưởng không ít đến kết quả chiến đấu, xây dựng của sư đoàn. Bài học kinh nghiệm rút ra
tư thực tê đành máy bay trinh sát tầng thấp của địch là:

1. Phải tăng cường công tác nghiên cứu địch, thực hiện thường xuyên, bài bản, tỉ mỉ, có hệ
thống, trong đó phải nắm chắc quy luật thủ đoạn hoạt động và triệu chứng phóng máy bay trinh sát
không người lái, thủ đoạn hoạt động trên từng đường bay cơ bản của địch. Đây là cơ sở rất quan trọng
để xây dựng phương án tác chiến và cách đánh hiệu quả.

2. Phải quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, nêu cao tinh thần kiên quyết tiến công tiêu
diệt địch; chỉ đạo phải tập trung, xây dựng đơn vị đột phá và làm tốt các nội dung về xây dựng
phương án tác chiến, phát huy dân chủ tìm cách đánh có hiệu quả, tổ chức chỉ huy chỉ thị sục sạo, phát
hiện và bám sát mục tiêu, chuẩn bị xạ kích, khí tài, đạn dược, tổ chức rút và phổ biến kinh nghiệm
chặt chẽ, kịp thời.

3. Phải kết hợp chặt chẽ giữa chiến đấu và xây dựng, nhất là các nội dung về bảo đảm kỹ
thuật, huấn luyện thuần thục phương án tác chiến, cách đánh, đẩy mạnh “5 luyện, 6 quản" để nâng cao
trình độ, chiến đấu, tác phong chính quy, chấp hành kỷ luật… Đây là yêu cầu hết sức quan trọng để
đáp ứng yêu cầu tác chiến phòng không ngày càng hiện đại, nhất là trong đánh máy bay bay thấp sử
dụng đường bay vẹt ở yếu địa ven biển Hải Phòng.

Thực hiện kế hoạch tác chiến mùa khô 1969 - 1970 của Bộ tư lệnh Quân chủng, Đảng uỷ
và Bộ tư lệnh Sư đoàn phòng không 363 đã tập trung lãnh đạo, tổ chức toàn sư đoàn bổ sung, hoàn
chỉnh phương án tác chiến, hiệp đồng chiến đấu, sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không
nếu địch đánh lớn trở lại miền Bắc, bảo vệ có hiệu quả các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Hải Phòng;
tiếp tục đánh máy bay trinh sát của địch; đẩy mạnh xây dựng cơ quan, đơn vị về mọi mặt.

Rút kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp năm 1969, Bộ tư lệnh
sư đoàn tổ chức nghiên cứu địch, bổ sung phương án tác chiến, cách đánh cho các đơn vị và tổ chức
huấn luyện "đánh nhanh có chuẩn bị" cho bộ đội theo tài liệu của Quân chủng và kinh nghiệm chiến
đấu của sư đoàn. Để nâng cao hiệu suất đánh địch, Bộ tư lệnh còn tổ chức củng cố trang thiết bị ở sở
chỉ huy các cấp, duy trì nghiêm mật trạng thái thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, quy định rõ các tín
hiệu báo động có tình huống đánh máy bay tầng thấp, bảo đảm kỹ thuật cho vũ khí, khí tài, thiết bị
thông tin, thu các nguồn tình báo radar như B1, trực tiếp là đại đội đội radar 46 và các vọng quan sát
mắt trong khu vực.

Vì vậy, trong tháng 3 và tháng 4 năm 1970, Trung đoàn tên lửa 267 đánh thắng liền hai
trận. Ngày 14 tháng 3, tiểu đoàn 51 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 147S ở cánh đồng Tiên Lãng. Ngày 11
tháng 4, tiểu đoàn 52 bắn rơi tại chỗ một chiếc 147S ở chân núi Voi, gần làng Kiến Hội.

Ngày 26 tháng 4 năm 1970, Phòng Tham mưu sư đoàn ban hành tài liệu số 3571A4 về
đánh máy bay cường kích bay thấp, cách chống nhiễu tích cực ngoài và trong đội hình của địch và chỉ
lệnh xạ kích máy bay chiến thuật, máy bay ném bom chiến lược B-52. Đây là cơ sở quan trọng để sư
đoàn và các đơn vị bổ sung phương án tác chiến, cách đánh và sẵn sàng đánh bại các cuộc đánh phá
trở lại của máy bay địch vào khu vực Hải Phòng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1970, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng
tham mưu trưởng đến thăm và làm việc với sư đoàn. Sau khi nghe Tư lệnh sư đoàn báo cáo kết quả
thực hiện nhiệm vụ trong thời gian qua, đồng chí Tổng tham mưu trưởng đã nhiệt liệt biểu dương
những chiến công và thành tích của sư đoàn, đồng thời chỉ thị cho bộ đội thường xuyên nêu cao tinh
thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu tết và không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ, đồng chí Tư lệnh sư đoàn xin hứa với Thượng tướng - Tổng
tham mưu trưởng, thực hiện tốt các chỉ thị trên, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ để xứng đáng với sự
quan tâm của Đảng, quân đội và nhân dân.

Ngày 24 tháng 5 năm 1970, Đảng uỷ Quân chủng họp bất thường, ra nghị quyết về “Tình
hình nhiệm vụ trước mắt". Sau khi nhận định địch âm mưu mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia,
lấn chiếm vùng giải phóng Lào và có thể dùng bộ binh đánh phá hành lang 559, kể cả nam, bắc đường
số 9, Đảng uỷ Quân chủng đề ra một số chủ trương, trong đó nhấn mạnh: ở khu vực 2 (từ Thanh Hoá
trở ra), 100% lực lượng phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu nhất là các đơn vị bảo vệ Hải Phòng càng
phải sẵn sàng chiến đấu cao hơn để chủ động đánh bại các trận tập kích đường không của địch và
đánh máy bay trinh sát.

Thực hiện nghị quyết trên, Tham mưu trưởng sư đoàn Vũ Thành cùng hai tham mưu phó
Lê Ngọc Quất và Nguyễn Văn Hải tập trung tổ chức kiểm tra, đốc chiến các đơn vị, bảo đảm 100%
lực lượng sẵn sàng chiến đấu cao; bổ sung phương án tác chiến và tố chức luyện tập cách đánh các
loại máy bay của địch, kể cả B-52; duy trì các chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu cao cho sở chỉ huy
các cấp và các đơn vị Thủ trưởng các phòng chính trị, kỹ thuật, hậu cần kịp thời bổ sung và triển khai
kế hoạch công tác chính trị tư tưởng, bảo đảm chiến đấu cho các đơn vị.

Sáng sớm ngày 21 tháng 11 năm 1970, địch sử dụng 6 chiếc trực thăng với sự nghi binh,
yểm hộ của một số tốp F4 tiến hành cuộc tập kích hòng cứu giặc lái Mỹ ở Sơn Tây. Các lực lượng của
Quân chủng ở khu vực Hà Nội, Sơn Tây không đánh được trực thăng bay thấp của địch. Bài học này
đã được cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 363 rút kinh nghiệm sâu sắc, trên cơ sở đó nâng cao tinh thần cảnh
giác sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống để bảo vệ thành phố Cảng.

Trong năm 1970, toàn sư đoàn chuyển cấp đánh máy bay trinh sát 302 lần, hai trung đoàn
tên lửa 267, 285 đánh 17 trận, phóng 12 quả đạn, bắn rơi 2 máy bay 147S; các trung đoàn pháo phòng
không đánh 18 trận không bắn rơi máy bay địch.

Ngoài việc đánh máy bay trinh sát tầng thấp, sư đoàn còn chuẩn bị tết về mọi mặt, sẵn sàng
đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch nếu chúng đánh phá trở lại Hải Phòng; bổ sung
phương án tác chiến trong các tình huống phức tạp, quyết liệt, kể cả đánh máy bay B-52; tu sửa được
37 trận địa pháo phòng không, 14 trận địa tên lửa; công tác bảo đảm chiến đấu có nhiều tiến bộ.

Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ, sư đoàn đã tổ chức cho bộ đội huấn luyện cơ bản, hệ
thống, toàn diện có trọng điểm, thực sự thực tế sát với yêu cầu chiến đấu và điều kiện bảo vệ yếu địa
ven biển. Đồng thời với việc nâng cao trình độ về kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ, các
đơn vị còn chú trọng rèn luyện chính quy, quản lý kỷ luật để đáp ứng yêu cầu của tác chiến phòng
không hiện đại trong mọi tình huống. Trong huấn luyện, các đơn vị đã lấy khẩu huấn luyện cán bộ và
nhân viên kỹ thuật làm trọng tâm, trong đó đối tượng chủ yếu là cán bộ chỉ huy mới nhận chức và cấp
phó. Sư đoàn và các trung đoàn còn mở được 214 lớp với 2.679 lượt cán bộ học. Việc kiểm tra, đôn
đốc, rút kinh nghiệm huấn luyện được thực hiện thường xuyên.

Đồng thời với việc kiện toàn biên chế tổ chức, xây dựng lực lượng, sư đoàn đã bổ sung cho
chiến trường 6 tiểu đoàn pháo phòng không 12, 24, 25, 30, 96, 101 và đại đội công binh, tổ chức 4
tiểu đoàn mới là 97, 108, 109 và 111 để thay thế các đơn vị đi chiến đấu.

So với năm 1969, công tác bảo đảm kỹ thuật có nhiều tiến bộ: đảm bảo hệ số kỹ thuật cao
hơn, đều hơn; giờ sử dụng giảm 1 giờ 20 phút; tỉ lệ sửa chữa vũ khí, khí tài của đơn vị tăng; chấp
hành các chế độ nền nếp bảo quản, bảo dưỡng đi vào nền nếp với chất lượng tốt hơn; việc che đậy khí
tài, xe cộ tiến hành được nhiềuhơn.

Công tác đảm bảo hậu cần đã có nhiều cố gắng, phát huy được thế mạnh hậu cần tại chỗ và
tranh thủ được sự giúp đỡ của cấp trên. Trong năm đã bảo đảm 673/712 xe tốt, thực hiện 822.220 km
cơ động và vận chuyển; làm tết công tác tiếp nhận, phân phối xăng dầu, lương thực, thực phẩm,
phòng ngừa dịch bệnh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất nên đã bảo đảm yêu cầu chiến đấu và quân số
khoẻ đạt 98,36%.

Công tác đảng, công tác chính trị được các cấp quan tâm và thực hiện nghiêm chỉnh, hiệu
quả. Các tổ chức Đảng phát huy được vai trò lãnh đạo và hoàn thành được nhiệm vụ, tỉ lệ đạt 4 tốt
tăng hơn năm 1969, công tác phát triển đảng viên lớp Hồ Chí Minh được thực hiện đúng kế hoạch và
bảo đảm chất lượng tốt. Các tổ chức quần chúng nhất là đoàn thanh niên thường xuyên phát huy là đội
quân xung kích trên mọi mặt công tác. Các nhiệm vụ tuyên truyền, thi đua, bảo vệ, dân vận, phong
trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao vẫn giữ vững, phát huy với chất lượng, hiệu quả tốt hơn.

Một số những mặt yếu như đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp, chất lượng
huấn luyện chưa cao, rèn luyện chính quy còn nhiều hạn chế, quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật và bảo
đảm kỹ thuật hậu cần chưa duy trì thành nền nếp và có mặt còn yếu… đã được lãnh đạo, chỉ huy các
cấp nghiêm khắc kiểm điểm rút kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục cụ thể nhằm nâng cao chất
lượng chiến đấu trong thời gian tới.Thực hiện nghị quyết và kế hoạch tác chiến mùa khô 1970 - 1971
của Quân chủng, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn xác định nhiệm vụ của bộ đội phòng không Hải
Phòng: Ra sức chuẩn bị về mọi mặt, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, sẵn sàng đánh bại các cuộc
tập kích đường không của địch vào Hải Phòng, đồng thời chuẩn bị lực lượng sẵn sàng lên đường vào
chiến đấu ở chiến trường phía Nam.

Thực hiện nhiệm vụ năm 1971, sư đoàn có nhiều thuận lợi: Dưới ánh sáng Nghị quyết
Trung ương Đảng lần thứ 19 và thông qua đợt sinh hoạt chính trị, bộ đội quán triệt được tình hình
nhiệm vụ; được sự quan tâm lãnh đạo thường xuyên, chặt chẽ của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng;
cán bộ chiến sĩ được sự cổ vũ trước những thắng lợi to lớn trên chiến trường miền Nam; chủ động
triển khai có bài bản các phương án tác chiến và kế hoạch công tác; cán bộ, chiến sĩ đã tích luỹ được
kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng, huấn luyện, duy trì nền nếp chính quy…

Tuy nhiên sư đoàn gặp không ít khó khăn: Một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đầy đủ
tình hình nhiệm vụ, còn chủ quan, giản đơn, suy tính cá nhân, ngại khó khăn gian khổ…; ý thức tổ
chức, chấp hành điều lệnh kỷ luật của bộ đội còn có mặt hạn chế; vũ khí, khí tài đã cũ, quân số thiếu,
nhất là ở các đơn vị pháo phòng không…

Trước tình hình trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp triển khai
các kế hoạch công tác năm 1971 với sinh hoạt chính trị, làm cho bộ đội quán triệt sâu sắc tình hình
nhiệm vụ mới, trên cơ sở đó dốc sức xây dựng về mọi mặt, nâng cao khả năng chiến đấu bảo vệ thành
phố Cảng, đồng thời "hướng ra phía trước”, “hướng ra chiến trường" sẵn sàng đi chiến đấu khi có
lệnh.

Phòng Tham mưu sư đoàn đã tổ chức nghiên cứu địch, xây dựng các phương án đánh địch
tập kích bất ngờ, đánh máy bay trinh sát và cường kích tầng thấp, đánh địch mặt đất. Thông qua thông
báo tình hình địch hoạt động ở Quân khu 4 của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn kịp thời bổ sung
phương án tác chiến, điều chỉnh đội hình chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không để bảo vệ
các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Hải Phòng. Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức thành lập hai tiểu đoàn pháo
phòng không 114, 115 trang bị pháo 37mm trực thuộc hai trung đoàn tên lửa 267, 285 làm nhiệm vụ
bảo vệ tên lửa.

Để nâng cao chất lượng nắm địch, Bộ tư lệnh lệnh sư đoàn phối hợp với Bộ tư lệnh Binh
chủng Radar tổ chức nghiên cứu phát hiện triệu chứng, quy luật hoạt động phóng máy bay trinh sát
không người lái ở khu vực đảo Bạch Long Vĩ và thu tình báo vọng quan sát mắt trên đảo. cộ tư lệnh
còn tăng cường kiểm tra, báo động chuyển cấp để duy trì việc chấp hành chế độ chiến đấu, rút ngắn
thời gian sẵn sàng đánh địch. Việc luyện tập sở chỉ huy các cấp và các kíp chiến đấu ở các đơn vị tên
lửa, pháo phòng không đánh máy bay trinh sát tầng thấp được tổ chức chặt chẽ, chất lượng đánh
nhanh có chuẩn bị ngày càng tốt hơn.

Do sẵn sàng chiến đấu cao và trình độ chiến đấu tốt, trong tháng 4 năm 1971, bộ đội tên
lửa của sư đoàn hai lần bắn rơi máy bay trinh sát không người lái tầng thấp của địch. 14 giờ 26 phút
ngày 1 tháng 4, tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267 bắn rơi 1 chiếc 147S ở gần cầu Niệm. 15 giờ 26 phút
ngày 15 tháng 4, kíp trắc thủ mới của tiểu đoàn 72 Trung đoàn 285 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 147F96 ở
Hoành Bồ, Quảng Ninh.

Từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 15 tháng 4 hai trung đoàn tên lửa 267, 285 đánh 4 trận, diệt
hai chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp; các đại đội pháo phòng không 174, 11, 147, 14,
516 đánh 8 trận không kết quả.

Ngày 20 tháng 7 năm 1971, Bộ tư lệnh Quân chủng ra quyết định số 571/BTL xác định lại
tổ chức cho Sư đoàn phòng không 363, trong đó nêu rõ: biên chế sư đoàn có 4 phòng như hiện nay và
các trung đoàn pháo phòng không 240, 252, 213, các trung đoàn tên lửa 267, 285, 238.

Thực hiện quyết định trên, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức tiếp nhận trung đoàn tên lửa 238
gồm các tiểu đoàn 81, 82, 83, 84, 85 từ Sư đoàn 367, bàn giao hai tiểu đoàn 97, 111 cho Trung đoàn
tên lửa 237 Sư đoàn 367, bàn giao tiểu đoàn 115 và trung đội quan trắc cho Quân chủng để tổ chức
các đại đội pháo 57mm cho Bộ tư lệnh 559 và chuyển hai tiểu đoàn 108, 109 cho Trung đoàn 213 làm
nhiệm vụ cơ động của sư đoàn.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Lý Mạnh
Quát và Chính uỷ Nguyễn Hoa Diệu, Trung đoàn tên lửa 238 đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách
từ phía nam Quân khu 4 hành quân trên chặng đường dài gần 1.000km tập kết ở Hải Phòng vào cuối
tháng 8 năm 1971.

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Sư đoàn 363, ban chỉ huy Trung đoàn 238 triển khai đội
hình chiến đấu. Sở chỉ huy trung đoàn ở Lang Côn, Kiến Thuỵ. Tiểu đoàn 81 bố trí ở Lê Xá. Tiểu
đoàn 82 ở Trà Phương. Tiểu đoàn 83 ở trận địa Mỹ Đức. Tiểu đoàn 84 ở sân bay Cát Bi. Tiểu đoàn kỹ
thuật ở An Lão (Kiến An). Nhiệm vụ của trung đoàn là hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng
không của sư đoàn và địa phương chủ động đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch bảo vệ
các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Hải Phòng trọng điểm là cảng.

Với lực lượng được bổ sung, tăng cường, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức các đơn vị triển khai
thực hiện kế hoạch tác chiến mới bảo vệ thành phố Cảng trong mùa khô 1971 - 1972 và sẵn sàng cơ
động lực lượng đi chiến đấu ở chiến trường phía Nam.

Ngày 11 tháng 10 năm 1971, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức diễn tập chiến thuật một bên ba
cấp có máy bay ta làm "quân xanh”, để kiểm tra trình độ xử lý chỉ huy thực hiện phương án tác chiến
của chỉ huy các cấp và trình độ hiệp đồng chiến đấu của các đơn vị. Do nắm chắc phương án tác chiến
và hoàn thành tốt chương trình huấn luyện quý III, nhất là sau 3 tuần huấn luyện đột kích, từ người
chỉ huy - cơ quan tham mưu các cấp đến bộ đội đều thực hiện tốt lệnh chuyển cấp chiến đấu, thực
hành xử lý của chỉ huy và đánh máy bay tốc độ chậm, đánh B-52 có nhiễu tích cực, tiêu cực, cường
kích, tiêm kích yểm hộ và chế áp trận địa phòng không. Kết quả, các trung đoàn tên lửa 267, 285, 238
và các trung đoàn pháo phòng không 252, 213, 240 đều hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập.

Kết quả diễn tập là thành công của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và sự cố gắng vượt bậc của bộ
đội trong quá trình dốc sức xây dựng nâng cao trình độ về mọi mặt, nhất là việc chuẩn bị và thực hành
phương án tác chiến bảo vệ thành phố Cảng và các mục tiêu trọng yếu ở Hải Dương, Uông Bí. Đó còn
là điều kiện rất thuận lợi để sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ tác chiến trong mùa khô 1971 - 1972.
Trải qua gần ba năm xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thành phố "trung dũng
quyết thắng" và đánh máy bay trinh sát của địch, Sư đoàn phòng không 363 đã trưởng thành về mọi
mặt. Thành công nổi bật nhất của sư đoàn trong thời kỳ này là bộ đội nhận thức đúng đắn tình hình
nhiệm vụ, thường xuyên rèn luyện, phấn đấu, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và
phương tiện, đủ sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, trong đó kết quả đánh máy bay trinh sát của hai
trung đoàn tên lửa 267, 285 là minh chứng điển hình.

Một số khuyết điểm tồn tại trong xây dựng, sẵn sàng chiến đấu, nhất là việc bộ đội pháo
phòng không đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp có hiệu suất chiến đấu thấp đã được
các đơn vị nghiêm khắc kiểm điểm và có những biện pháp khắc phục cụ thể trong thời gian tới.

Chương 3.

VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH, THAM GIA CHIẾN DỊCH TRỊ - THIÊN, GÓP
PHẦN ĐÁNH THẮNG CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1971 - 1975)

Sau khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc, thế thắng của ta, thế thua của địch trên
chiến trường miền Nam đã rõ ràng. Nắm bắt thời cơ chiến lược này, tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương phát động thế tiến công chiến lược, giành thắng lợi
quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế
thua…

Tháng 6 năm 1971, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng thông qua kế hoạch tác chiến
chiến lược năm 1972. Theo kế hoạch này, ta sẽ tiến công trên 3 hướng chiến lược là miền Đông Nam
Bộ, Tây Nguyên và Trị- Thiên.

Thực hiện các chủ trương, kế hoạch trên, tháng 7 năm 1971, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng tập trung lãnh đạo, tổ chức các đơn vị trong đó có Sư đoàn phòng không 363, xây dựng và triển
khai kế hoạch đánh địch bảo vệ khu vực Hải Phòng - Hải Dương - Uông Bí, đồng thời chuẩn bị lực
lượng vào chiến đấu ở chiến trường phía Nam.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, tháng 11 năm 1971, Bộ tư lệnh sư đoàn
thành lập Sư đoàn phòng không 363B gồm Trung đoàn tên lửa 267, Trung đoàn pháo phòng không
213 và Bộ tư lệnh rút gọn do Phó tư lệnh sư đoàn Trần Nhẫn làm tư lệnh, Chủ nhiệm chính trị Đinh
Phúc Hải làm chính uỷ, khẩn trương chuẩn bị vào chiến đấu ở phía nam Quân khu 4.

Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo lực lượng tiền phương của sư đoàn,
trong đó nhấn mạnh: lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải tổ chức các đơn vị thực hiện bằng được quyết tâm
"Đi nhanh, đến đủ, bí mật, an toàn, đánh thắng".

Quán triệt nghị quyết trên, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn phòng không 363B nhận rõ tình hình,
nhiệm vụ, xác định quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn, ra sức chuẩn bị về mọi mặt và kiên quyết hoàn
thành nhiệm vụ trên giao. Đó là cơ sở rất quan trọng để lực lượng tiền phương sư đoàn thực hiện hành
quân đúng kế hoạch và bảo đảm an toàn.
Vào đến Nghệ An, do quán triệt và chuẩn bị tết yêu cầu vừa hành quân vừa sẵn sàng chiến
đấu, các lực lượng của sư đoàn đã kịp thời đánh trả các trận tập kích của địch và lập công. Ngày 18
tháng 12 năm 1971, tại sân bay Anh Sơn, đại đội 11 Trung đoàn 213 bắn rơi một máy bay F-8. Trong
2 ngày 26 và 29 tháng 12, hai tiểu đoàn 51, 52 Trung đoàn 267 bắn rơi 2 chiếc F4. Đặc biệt, ngày 30
tháng 12 năm 1971, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Xuân Quất và Chính Uỷ Lê Sơn,
các tiểu đoàn của Trung đoàn 267 đã thực hiện thành công cách đánh tập trung, lập công xuất sắc, bắn
rơi 4 máy bay địch, trong đó tiểu đoàn 53 ở trận địa Xuân An, Nghi Xuân bắn rơi tại chỗ một chiếc
F4.

Để kịp thời động viên bộ đội vừa lập công, Trung đoàn 267 tổ chức cho một số cán bộ
chiến sĩ tiểu đoàn 53 đến thăm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Làng Sen. Được chứng kiến
những kỷ niệm thời niên thiếu của Hồ Chủ tịch, mọi người bồi hồi, xúc động tưởng nhớ đến vị lãnh tụ
vĩ đại của dân tộc và đều nguyện quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ để xứng đáng với Người cha thân
yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngay sau khi hành quân vào đến Quảng Bình, thực hiện kế hoạch tác chiến của Quân
chủng, Bộ tư lệnh Sư đoàn 363B triển khai đội hình chiến đấu, xây dựng phương án tác chiến và sẵn
sang đánh địch, đồng thời tổ chức bộ đội vào rừng khai thác tre, nứa, lá xây dựng sở chỉ huy, công sự,
doanh trại nửa nổi, nửa chìm để tránh địch tập kích vào trận địa.

Được Chính uỷ Sư đoàn Vũ Trọng Cảnh vừa từ Hải Phòng vào chỉ đạo và động viên, cán
bộ, chiến sĩ vô cùng phấn khởi và hứa với đồng chí Bí thư đảng uỷ sư đoàn thi đua bắn rơi nhiều máy
bay địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không
363.

Thời kỳ này, Bộ tư lệnh Mặt trận Trị - Thiên đang khẩn trương tổ chức các sư đoàn bộ binh
304, 308, 324 và các lực lượng trực thuộc, phối thuộc chuẩn bị tiến hành chiến dịch tiến công lớn trên
chiến trường Trị - Thiên.

Các lực lượng tham gia chiến dịch của quân chủng gồm có bốn sư đoàn phòng không 377,
365, 367 và 363B dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của bộ tư lệnh tiền phương Quân chủng do đồng
chí Hoàng Văn Khánh, Phó tư lệnh Quân chủng làm tư lệnh, đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, Phó chính
uỷ Quân chủng làm chính uỷ.

Địa bàn hoạt động của Sư đoàn 363B từ bắc, nam sông Gianh đến bắc Long Đại. Trong địa
bàn này có các đầu mối giao thông quan trọng, trọng điểm giao thông, chân hàng, tập kết lực lượng
các quân, binh chủng như khu vực Xuân Sơn, Troóc, đầu đường số 20, cảng Gianh, phà Long Đại,
nông trường Phú Quý, thị xã Đồng Hới và sân bay Lộc Đại.

Không quân và hải quân địch thường xuyên sử dụng tốp nhỏ (từ 2 đến 4 chiếc) tiến hành
trinh sát vũ trang, đánh săm các nơi chúng nghi ngờ, khi phát hiện được chân hàng hoặc khu vực tập
kết lực lượng ta, hoặc đoàn xe vận tải qua cầu phà… là chúng tổ chức lực lượng từ 15 đến 20 chiếc
máy bay vào đánh phá từ 1 đến 3 đợt. Khi đánh phá mục tiêu, đồng thời với việc sử dụng các thủ đoạn
nghi binh, thu hút, bay thấp, tăng cường gây nhiễu tổng hợp, địch còn sử dụng các thủ đoạn tập kích
từ nhiều tầng, nhiều hướng, đánh liên tục, dồn dập, kết hợp đánh lớn với đánh nhỏ, cả ngày và đêm,
đánh nhanh rút nhanh và sử dụng các loại bom đạn thông thường, tên lửa Shrike, bom có điều khiển
bằng tia la-de… để đánh phá, chế áp lực lượng phòng không của ta.

Lực lượng của sư đoàn bao gồm toàn bộ hai trung đoàn 267, 213, sở chỉ huy sư đoàn và
Trung đoàn pháo phòng không 214 của Quân khu 4 (phối thuộc chiến đấu).

Nhiệm vụ của sư đoàn là cơ động chiến đấu trên các khu vực bắc, nam sông Gianh đến bắc
Long Đại, hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội không quân và các lực lượng phòng không khác đánh tiêu
diệt địch bảo vệ các kho tàng, chân hàng, khu vực tập kết các lực lượng và các đầu mối, trọng điểm
giao thông trên địa bàn phụ trách; tham gia chiến đấu trong chiến dịch binh chủng hợp thành ở nam
Quân khu 4 khi địch tập kích và đổ bộ đường không, đồng thời sẵn sàng cơ động vào sâu trong chiến
trường; kết hợp chiến đấu với xây dựng, không ngừng nâng cao chất lượng về mọi mặt, thực hiện
càng đánh càng mạnh và trưởng thành.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức nghiên cứu địch, vận dụng tư
tưởng chỉ đạo tác chiến của quân chủng, xây dựng phương án tác chiến và tổ chức bảo đảm chiến đấu.

Phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của sư đoàn là: Phát huy cao độ tinh thần cách
mạng tiến công, kết hợp linh hoạt giữa đánh tập trung và phân tán, lấy đánh tập trung là chủ yếu, thực
hiện chủ động, bí mật, bất ngờ; hiệp đồng chặt chẽ giữa pháo, tên lửa, không quân, radar và các lực
lượng phòng không khác, thực hiện đánh và phòng tránh tốt, tạo thành sức mạnh tổng hợp tiêu diệt
địch trên không và mặt đất, bảo đảm thắng liên tục trong mọi tình huống, kể cả tình huống phức tạp,
quyết liệt nhất, thực hiện kiên trì bám trụ giữ vững khu vực; hết sức coi trọng cơ động kết hợp với
công sự, nguỵ trang, nghi binh và biện pháp phòng chống tên lửa Shrike, thực hiện tiêu diệt địch và
giữ gìn lực lượng ta.

Cách đánh của sư đoàn: Trên cơ sở quyết tâm đánh tiêu diệt, tiêu diệt lớn, đánh phủ đầu
mãnh liệt và liên tục, hiệp đồng chặt chẽ giữa pháo và tên lửa tổ chức thành các cụm chiến đấu tập
trung chi viện lẫn nhau ở từng khu vực và giữa các khu vực. Tuỳ từng đối tượng mục tiêu và ở từng
thời điểm, căn cứ vào lực lượng, đội hình chiến đấu và nhiệm vụ mà có cách đánh phù hợp nhưng khi
Bộ tư lệnh chiến dịch yêu cầu thì phải đánh mạnh, đánh tập trung, đánh mọi đối tượng, đánh trúng,
đánh rơi máy bay địch trong mọi tình huống, cả ban ngày và ban đêm.

Để bảo đảm cho chiến đấu, sư đoàn thường xuyên duy trì nền nếp bảo quản, bảo dưỡng,
kiểm tra, hiệu chỉnh và tự sửa chữa vũ khí, khí tài là chính, trường hợp hỏng hóc nặng báo cáo lên trên
nhờ sự giúp đỡ, đảm bảo tên lửa có 3 tiểu đoàn tên lửa, pháo phòng không có khí tài, 100% sẵn sàng
chiến đấu; đạn tên lửa được kiểm tra đúng niên hạn, 3 tháng kiểm tra kíp, 6 tháng kiểm tra AK, đạn đã
lắp ráp và hành quân hơn 50 km phải kiểm tra kíp và cơ khí. Các mặt về hậu cần như xăng dầu, lương
thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược… bảo đảm đủ lượng dự trữ quy định. Về cấp cứu thương binh,
sư đoàn quy định: đại đội đảm nhiệm tuyến 1, tiểu đoàn và trung đoàn đảm nhiệm tuyến 2, khi cần
đưa về tuyến 3 gồm các viện 41, 44 của Quân khu 4 và bệnh viện tỉnh Quảng Bình.

Nhằm tăng cường công tác nắm địch, ngoài việc duy trì mạng quan sát của các trung đoàn
267, 213, 214, Bộ tư lệnh sư đoàn còn tổ chức thu tình báo ở hai đại đội trinh sát nhiễu (c2, c3) của
Trung đoàn radar 290, các vọng quan sát A1, A2, A3, A4 của Quân chủng và các vọng quan sát B1,
B2, B3, B4, B5, B6 của Sư đoàn 377. Các hệ thống thông tin liên lạc vô tuyến và hữu tuyến nội bộ,
với Quân chủng và các đơn vị bạn thường xuyên thông suất ngày đêm.

Để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức cho các đơn vị
pháo phòng không làm công tác chuẩn bị chiến đấu ngày 3 lần vào các buổi sáng, trưa, chiều và sau
những buổi tập luyện; các đơn vị tên lửa kiểm tra ngày 1 lần bảo đảm đầy đủ các bước và đúng tham
số kỹ thuật, trong đó chú ý kiểm tra đồng bộ bệ, đài, đài 2 với đài 1. Thực hiện quy định của sư đoàn,
mỗi trung đoàn pháo phòng không thường xuyên có 1 đại đội sẵn sàng chiến đấu liên tục ngày đêm,
vào giờ cao điểm có 2 đại đội sẵn sàng đánh địch kết hợp luyện tập theo phương án tác chiến; bộ đội
tên lửa tổ chức các kíp gọn làm nhiệm vụ trực ban, tranh thủ luyện tập.

Với cách tổ chức chặt chẽ, chu đáo như trên, toàn sư đoàn đã thực sự làm tốt công tác
chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu. Phong trào thi đua bắn rơi máy bay địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên
giao trở thành phong trào sôi nổi ở khắp các cơ quan, đơn vị.

Phát hiện ta tập trung lực lượng lớn ở Quảng Bình - Vĩnh Linh, trong 2 ngày 16 và 17
tháng 2 năm 1972, địch tập trung hàng trăm máy bay đánh phá ác liệt, một số chân hàng, trọng điểm
giao thông, khu vực ta tập kết lực lượng, phương tiện và trận địa phòng không. Ngày 17 tháng 2
(mồng 3 Tết âm lịch), dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 267, tiểu đoàn 51 đã hiệp đồng chặt chẽ với các
tiểu đoàn của Trung đoàn tên lửa 274 đánh địch quyết liệt, bắn rơi 1 chiếc F-8. Đây là chiến công đầu
tiên của sư đoàn trên chiến trường nam Quân khu 4 trong đợt tham gia chiến dịch Trị - Thiên.

11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972, ta bắt đầu mở cuộc tiến công chiến lược quy mô
lớn trên toàn chiến trường miền Nam, trong đó trọng điểm là chiến dịch Trị - Thiên. Chỉ trong thời
gian ngắn quân nguỵ đã bị thiệt hại nặng nề. Trên chiến trường đường số 9, tuyến phòng thủ vòng
ngoài của địch ở phía nam và tây nam Đông Hà - Quảng Trị bị phá vỡ.

Ngay trong ngày 30 tháng 3, nhóm "hành động đặc biệt" (WSAG) của Mỹ gồm đại diện
Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và cơ quan tình báo do Kít-xinh-giơ đứng đầu được triệu họp để phân
tích, đánh giá tình hình, gấp rút tìm cách ngăn chặn cuộc tiến công chiến lược của ta.

Ngày 2 tháng 4 địch cấp tốc điều hai tầu chở máy bay Kít-ti-hốc ở Su-bích và Công-tin-la-
ti-ông ở Nhật về vùng biển Việt Nam, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên 4 chiếc. Ngày 3 tháng 4,
chúng lại điều thêm 1 đại đội máy bay chiến lược B-52 gồm 20 chiếc từ Mỹ sang sân bay U-ta-pao
(Thái Lan); 1 đại đội F4D gồm 21 chiếc từ Phi-líp-pin đến 2 sân bay Đà Nẵng và U-đôn (Thái Lan).

Ngày 6 tháng 4 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn ra lệnh huy động lực lượng lớn máy
bay của không quân và hải quân tham chiến ở miền Nam và tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần
thứ hai trên miền Bắc nước ta.

Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 4 năm 1972, mỗi ngày địch sử dụng khoảng 200 lần chiếc máy
bay đánh phá tuyến giao thông vận chuyển, chân hàng và các trận địa phòng không của ta ở Quảng
Bình, Vĩnh Linh hòng chặn đứng cuộc tiến công của ta vào Đông Hà, Quảng Trị.

Ngày 6 tháng 4, dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Sư đoàn 363b, hai trung đoàn 267, 213 đã
hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn và lực lượng phòng không địa phương đánh địch liên tục, quyết
liệt bắn rơi 10 máy bay Mỹ. Trong chiến công trên, Trung đoàn tên lửa 267 đã sử dụng thành công
cách đánh tập trung, giành thắng lợi lớn bắn rơi 6 máy bay địch. Nổi bật là trận đánh thắng xuất sắc
của tiểu đoàn 52 và tiểu đoàn 53. Lúc 7 giờ 58 phút, tại trận địa xóm Sỏi, tiểu đoàn 52 bắn rơi tại chỗ
một máy bay F4 ở thôn Quảng Phúc, xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch. Đến 11 giờ 17 phút, tại
trận địa xóm Côi, tiểu đoàn 53 bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F4 ở Long Đại. Đây là trận đánh thắng đầu tiên
của sư đoàn trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ và là trận đánh tập
trung điển hình, giành hiệu suất chiến đấu cao của bộ đội tên lửa của sư đoàn.

Đại tá Đoàn Huyên, Phó tư lệnh Quân chủng nhiệt liệt biểu dương chiến công xuất sắc của
Trung đoàn 267 và chỉ thị cho các đơn vị học tập kinh nghiệm tổ chức và cách đánh tập trung tiêu diệt
nhiều máy bay địch của Sư đoàn 363b.

Các đồng chí đại diện cho lãnh đạo tỉnh Quảng Bình đã đến sư đoàn bộ để chúc mừng
chiến công xuất sắc của Sư đoàn 363b. Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn vô cùng xúc động
trước sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình và tỏ lòng biết ơn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa
phương, coi đó là nhân tố rất quan trọng tạo nên chiến thắng của sư đoàn.

Sau trận đánh, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm chiến đấu và khẩn
trương chuẩn bị đánh địch. Các đơn vị sôi nổi học tập tiểu đoàn 52, thi đua bắn rơi máy bay Mỹ và
liên tiếp lập công.

Ngày 15 tháng 4, tiểu đoàn 51 Trung đoàn 267 bắn rơi 1 chiếc F4.

Ngày 20 tháng 4, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn 267, kíp chiến đấu của tiểu đoàn 53 gồm
tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Tâm, Chính trị viên Phạm Văn Nghĩa, sĩ quan điều khiển Lê Văn Khôi
và các trắc thủ Đoàn Hữu Để, Phạm Công Thoa, Bùi Văn Bách đã lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ
một chiếc F4 ở Đá Lật. Đó là chiếc máy bay Mỹ thứ 3.500 bị bắn rơi trên miền Bắc.

Trong trận đánh trên, tiểu đoàn 109 Trung đoàn pháo phòng không 213 đã nêu cao trách
nhiệm, hiệp đồng chiến đấu tết, đánh địch dũng cảm, mưu trí bảo vệ an toàn cho tiểu đoàn 53 đánh
thắng.

Trong mùa khô 1971 - 1972, Sư đoàn phòng không 363b đã bắn rơi 27 máy bay địch, tích
cực góp phần cùng các sư đoàn bạn hoàn thành tết nhiệm vụ bảo vệ hậu phương trực tiếp của chiến
dịch Trị - Thiên ở khu vực Quảng Bình - Vĩnh Linh.

Mặc dù chiến đấu ở xa hậu phương, trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, lãnh đạo, chỉ huy
các cấp và bộ đội đã thường xuyên quán triệt tình hình, nhiệm vụ, đoàn kết nhất trí cao, vượt qua
nhiều khó khăn thử thách, vừa chiến đấu vừa xây dựng và trưởng thành về mọi mặt. Thành công nổi
bật nhất của Sư đoàn 363b thời kỳ này là đã vận dụng sáng tạo tư tưởng chỉ đạo tác chiến phòng
không, tư tưởng đánh tập trung tiêu diệt nhiều máy bay địch của trên trong quá trình chuẩn bị và thực
hành chiến đấu, giành hiệu suất chiến đấu cao. Nổi bật nhất là trận đánh tập trung ngày 30 tháng 2
năm 1971 ở Nghệ An và ngày 6 tháng 4 năm 1972 ở Quảng Bình.

Những bài học kinh nghiệm quý báu của sư đoàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo
vệ hậu phương chiến dịch binh chủng hợp thành ở Trị - Thiên đã góp phần làm phong phú thêm nghệ
thuật tác chiến của bộ đội phòng không Việt Nam.
Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc nước ta
nhằm những mục đích chiến lược: bao vây cô lập miền Bắc, cắt đứt sự viện trợ từ ngoài vào và ngăn
chặn sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến; làm lung lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của
nhân dân ta; đánh phá tiềm lực kinh tế quốc phòng làm suy yếu miền Bắc để không đủ sức chi viện
miền Nam và gây khó khăn cho ta trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; củng cố tinh thần cho nguỵ
quân, nguỵ quyền Sài Gòn.

Với bản chất hiếu chiến và tàn bạo, địch tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai
với hơn 1.000 máy bay chiến thuật và cả máy bay ném bom chiến lược B-52, có nhiều trang bị kỹ
thuật cải tiến, không leo thang chiến tranh như trước mà mang tính "nhảy cóc” và tính huỷ diệt cao.

Ngay sau khi đánh phá ác liệt hậu phương trực tiếp của chiến dịch Trị - Thiên ở khu vực
Quảng Bình - Vinh Linh, trong 2 ngày 10 và 13 tháng 4 năm 1972, địch sử dụng máy bay B-52 đánh
ra Vinh - Bến Thuỷ và Thanh Hoá. Do bị địch gây nhiễu tổng hợp cường độ lớn nên chỉ huy và bộ đội
lúng túng, không đánh được máy bay B-52.

Thời gian này, Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Quân chủng tổ chức Sư đoàn 363 và các
lực lượng ở khu vực Hải Phòng diễn tập đánh địch tập kích đường không quy mô lớn để bảo vệ thành
phố Cảng. Đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng đã tới dự và chỉ đạo cuộc diễn tập. Khi
nói chuyện với cán bộ chỉ huy tham mưu của Quân chủng và sư đoàn, đồng chí Tổng tham mưu
trưởng đã nêu rõ bản chất hiếu chiến, tàn bạo, âm mưu thâm độc của kẻ thù và căn dặn các lực lượng
vũ trang Hải Phòng phải nâng cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tập kích đường
không của địch, bảo vệ an toàn các mục tiêu được giao.

Chiều ngày 15 tháng 4 năm 1972, Quân chủng thông báo cho sư đoàn: Ta vừa thắng lớn và
giải phóng Bình Long lúc 13 giờ, đề phòng địch đánh phản ứng đối với miền Bắc. Đến 23 giờ 25
phút, Quân chủng lại chỉ thị: Sắp có đợt hoạt động lớn của địch, Sư đoàn 363 khẩn trương sẵn sàng
chiến đấu.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho sở chỉ huy và các đơn vị
vào cấp 1, sẵn sàng đánh địch.

Từ 1 giờ 25 phút đến 3 giờ 42 phút ngày 16 tháng 4, địch sử dụng 25 tốp gồm 70 lần chiếc
máy bay hải quân và 9 chiếc máy bay B-52 vào đánh Hải Phòng. Máy bay B-52 đã rải thảm bom
xuống khu An Dũng và làng Phúc Lộc gây tổn thất lớn về người và của. Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ huy
bộ đội hiệp đồng với các lực lượng trong khu vực đánh địch rất quyết liệt. Dưới sự chỉ huy của đại đội
trưởng Bùi Đình Dự và được kíp trắc thủ radar COH-9A là Nam, Hồng, Đàn cung cấp tình báo liên
tục, đại đội đội 12 Trung đoàn 240 ở trận địa Sở dầu bắn 6 loạt đạn, tiêu diệt 1 chiếc A-6. Đây là chiến
công đầu của quân và dân thành phố trung dũng quyết thắng trong cuộc chống chiến tranh phá hoại
lần thứ 2 của đế quốc Mỹ.

Tuy nhiên, trước thủ đoạn đánh lớn ban đêm và tăng cường gây nhiễu tổng hợp với cường
độ lớn, bộ đội bị lúng túng trong xử lý thao tác và xạ kích không chuẩn xác, hiệu suất chiến đấu thấp.
Hai trung đoàn tên lửa 238, 285 đánh 18 trận, phóng tới 35 quả đạn, tiểu đoàn 81 được công nhận bắn
rơi 1 chiếc B-52 nhưng không rơi tại chỗ. Hơn 1.000 người dân Hải Phòng, nhất là khu vực An
Dương đã bị thương vong vì trúng vệt bom rải thảm của B-52.

Trong trận chiến đấu ban đêm quyết liệt này có nhiều tấm gương điển hình về chủ nghĩa
anh hùng cách mạng. Trận địa đại đội 12 bị trúng bom B-52 nhưng cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu vô
cùng dũng cảm. Binh nhất Nguyễn Sĩ Hùng, pháo thủ số 2, sinh viên năm thứ 3 trường đại học Bách
khoa vừa nhập ngũ chưa đầy 3 tháng, bị thương ở tay trái, cán bộ quyết định phải đi viện nhưng đồng
chí một mực xin được ở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Đình Huy, là sinh viên mới
nhập ngũ, trắc thủ số 4 máy chỉ huy, khi máy bị bom địch phá hỏng đã xung phong thay thế pháo thủ
bị thương, tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt, giữa lúc bom đạn địch đang nổ quanh trận địa thì tiểu đội
trưởng nuôi quân Nguyễn Khắc Luyện đã nhường hầm của mình cứu sống mẹ con chị Cát, còn mình
thì bị bom địch cắt đứt một cánh tay.

Nghe tin trận địa của đại đội 12 bị địch đánh, bà mẹ Nguyễn Thị Sao gần 70 tuổi đã không
quản tuổi già sức yếu, dẫn đầu đoàn các bà mẹ ở địa phương vào đơn vị giúp anh nuôi lo cơm nước
cho bộ đội và chăm sóc các thương binh. Bí thư chi bộ Bùi Thị Vinh, trung đội trưởng dân quân Phạm
Thị Hưng đã cùng lực lượng dân quân, thanh niên ở địa phương đã kịp thời có mặt ở trận địa, tiếp đạn
cho bộ đội, cáng thương, thay thế pháo thủ cùng đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Ngay sau trận đánh, Chính uỷ Quân chủng Hoàng Phương và Chính uỷ sư đoàn Vũ Trọng
Cảnh tới trận địa đại đội 12 nắm tình hình, chỉ đạo, động viên bộ đội khắc phục hậu quả và khẩn
trương chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới. Chấp hành chỉ thị của cấp trên, đại đội trưởng Bùi Đình
Dự và chính trị viên Trần Trung Tể nhanh chóng chỉ huy bộ đội ổn định biên chế tổ chức, bổ sung đạn
dược và chuẩn bị chiến đấu.

9 giờ 7 phút cùng ngày, phát hiện 1 máy bay trinh sát không người lái bay ở độ cao 500m
từ biển theo cửa sông Thái Bình vào phía đông nam Hải Phòng, hai tiểu đoàn 81, 84 Trung đoàn tên
lửa 238 phóng hai quả đạn, tiểu đoàn 81 bắn rơi tại chỗ chiếc 147S ở nông trường Ninh Hải.

Từ 9 giờ 15 phút đến 16 giờ 5 phút, hải quân địch sử dụng hàng trăm lần chiếc máy bay
với đội hình lớn mật tập vào đánh phá ác liệt nhiều mục tiêu ở Hải Phòng. Dưới sự chỉ huy của sư
đoàn các đơn vị tên lửa, pháo phòng không đánh địch liên tục, quyết liệt được công nhận bắn rơi một
số chiếc máy bay.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 1972, tám tiểu đoàn của 2 trung đoàn tên lửa 238, 285 đánh 50
trận, phóng 91 quả đạn; 12 đại đội pháo phòng không đánh 159 trận, bắn hết gần 3.000 viên đạn pháo
các loại, gần 5.000 viên đạn súng máy phòng không, bắn rơi mười máy bay, có 1 chiếc 147S rơi tại
chỗ. Toàn sư đoàn có tiểu đoàn 82, ba đại đội pháo 12, 512, 515 và tiểu đoàn huấn luyện bị địch đánh
làm một đồng chí quản lý hi sinh, 27 đồng chí khác bị thương, một số vũ khí, khí tài và xe cộ… bị
địch đánh hỏng.

Ngày hôm sau, đại tá Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân dẫn đầu
đoàn cán bộ cơ quan xuống Sư đoàn 363. Sau khi nghiên cứu tình hình chiến đấu của sư đoàn, đặc
biệt là ở một số tiểu đoàn tên lửa, đồng chí Tư lệnh Quân chủng kết luận: nguyên nhân chưa đánh rơi
tại chỗ B-52 không chỉ do lực lượng ít mà do địch gây nhiễu nặng, nhưng chủ yếu là do tổ chức chỉ
huy; cần phải chống hữu khuynh tiêu cực và nâng cao trình độ chiến đấu cho bộ đội, nhất là các kíp
chiến đấu tên lửa. Trên cơ sở đó Tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho sư đoàn khẩn trương tổ chức một
số biện pháp cụ thể để khắc phục khuyết điểm, tồn tại để khôi phục và phát huy sức mạnh chiến đấu
của sư đoàn khẩn trương chuẩn bị cho những trận đánh sắp tới.

Ngày 21 tháng 4 năm 1972, đồng chí Lê Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng
Chính phủ đến thăm đại đội 12 Trung đoàn 240 làm nhiệm vụ bảo vệ Sở dầu và tiểu đoàn 81 Trung
đoàn tên lửa 238 ở trận địa Minh Kha. Cùng đi với đồng chí Phó thủ tướng có đồng chí Trần Danh
Tuyên, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng và đồng chí Lê Đức Thịnh, Chủ tịch uỷ ban hành chính
thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghe Tư lệnh sư đoàn Bùi Đăng Tự báo cáo tình hình đơn vị tham quan trận địa và
ân cần thăm hỏi cán bộ, chiến sĩ, đồng chí Phó thủ tướng đã nhiệt liệt biểu dương thành tích chiến đấu
và xây dựng của đơn vị, cùng các lực lượng của sư đoàn và lực lượng phòng không Hải Phòng trong
quá trình bảo vệ thành phố Cảng. Đồng chí Phó thủ tướng nhấn mạnh: Các đồng chí cần nhận rõ hơn
vị trí quan trọng mang tầm chiến lược của thành phố cảng Hải Phòng và âm mưu thâm độc của địch,
hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp
của thế trận chiến tranh nhân dân đối không nhằm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
trên địa bàn trọng yếu này, tích cực góp phần bảo vệ miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến lớn miền
Nam đánh thắng.

Thay mặt lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ, đồng chí Tư lệnh sư đoàn xin hứa với đồng
chí Phó thủ tướng, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị trên, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ trong mọi
tình huống để xứng đáng với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân.

Sau khi cùng các cố vấn thân cận phân tích đánh giá tầm quan trọng của hàng hoá viện trợ,
nhất là xăng dầu từ nước ngoài qua cảng Hải Phòng đối với cuộc chiến đấu của ta trên chiến trường
miền Nam và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, ngày 8 tháng 5 năm 1972, tổng
thống Mỹ Ních-xơn chủ trương đánh đòn hiểm độc, có tính chất quyết định bằng cách phong toả cảng
Hải Phòng.

9 giờ 27 phút ngày 9 tháng 5, địch bắt đầu triển khai lực lượng hải quân rất lớn ở vịnh Bắc
Bộ, thả 7.963 quả thuỷ lôi và bom từ trường xuống các bến cảng, cửa sông, luồng lạch thuộc 10 tỉnh
trên 43 khu vực, trong đó riêng cảng Hải Phòng chúng đã thả tới 1.733 quả.

Trước thủ đoạn mới hết sức thâm độc của kẻ thù, bộ đội phòng không Hải Phòng càng nêu
cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng đánh địch lập công.

Ngày 10 tháng 5 năm 1972, đại đội 515 Trung đoàn 240 tại trận địa Yên Lạc bắn rơi 1 A-6,
là chiếc máy bay Mỹ thứ 250 trên thành phố Cảng. Đó là chiến công thiết thực của sư đoàn chào
mừng kỷ niệm 17 năm ngày Hải Phòng giải phóng (13-5-1955 - 13-5-1972).

Tuy nhiên, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn rất băn khoăn vì chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch và
bắt sống giặc lái ở Hải Phòng kể từ ngày chúng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 đối với
miền Bắc nước ta.
Thực tế trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng là địch tăng cường gây
nhiễu tổng hợp cường độ lớn và sử dụng nhiều tên lửa Shrike để đánh phá các đài radar phòng không
trong đó có các đài điều khiển tên lửa và radar ngắm bắn của pháo phòng không. Chỉ mới hơn một
tháng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai chúng đã phóng tên lửa vào hầu hết các trận địa
phòng không có khí tài của sư đoàn, riêng các tiểu đoàn tên lửa 71, 73 đã bị phóng tên lửa nhiều lần
làm đơn vị bị tổn thất về người và khí tài. Có cán bộ, chiến sĩ đã xuất hiện tư tưởng ngại phát sóng
đánh địch.

Trước tình hình trên, đồng thời với việc tổ chức sinh hoạt tư tưởng, khơi gợi tâm tư của cán
bộ, chiến sĩ, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã luân phiên xuống đơn vị để nắm tình hình
bộ đội Những cuộc trao đổi giữa các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn với các kíp chiến đấu tên lửa,
nhất là cuộc đối thoại trực tiếp của Chính uỷ kiêm Bí thư Đảng uỷ sư đoàn Vũ Trọng Cảnh với kíp
chiến đấu tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên lửa 238 cho thấy: Đánh địch trong điều kiện có tên lửa Shrike
là tình huống rất phức tạp, quyết liệt có tính chất sống còn giữa kíp chiến đấu của ta với phi công Mỹ.
Nếu đề cao cảnh giác, kịp thời phát hiện triệu chứng địch phóng tên lửa và tín hiệu Shrike có thể vừa
tránh được nguy hiểm vừa tiêu diệt được địch. Ngược lại sẽ dẫn đến tổn thất về người và khí tài.

Để nâng cao trình độ chiến đấu của bộ đội, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã ra nghị quyết
chuyên đề về "Bắn rơi tại chỗ máy bay địch". Sau khi nêu rõ các thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt của
địch và quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến "tích cực tiêu diệt địch, giữ gìn bồi dưỡng lực lượng
ta…", Thường vụ Đảng uỷ chủ trương: Nêu cao tư tưởng tiến công, phát huy sức mạnh tổng hợp để
tìm ra cách đánh địch hiệu quả nhất, kiên quyết bắn rơi tại chỗ máy bay địch, thực hiện phòng tránh
tốt để giữ gìn lực lượng ta. Thường vụ Đảng uỷ còn đề ra một số biện pháp nhằm lãnh đạo đơn vị thực
hiện thắng lợi chủ trương trên. Đây là sự lãnh đạo kịp thời để khắc phục một số khuyết điểm trong các
trận đánh vừa qua, củng cố quyết tâm và nâng cao hiệu suất chiến đấu, kiên quyết bắn rơi tại chỗ máy
bay địch, hoàn thành tết nhiệm vụ chính trị trọng tâm của sư đoàn.

Thực hiện nghị quyết trên, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức rà soát, bổ sung phương án và
hướng dẫn cách đánh B-52 của Quân chủng; củng cố việc thu tình báo trực tiếp của đại đội radar 46
để nắm địch và đảm bảo cho bộ đội đánh địch khi bị nhiễu nặng; tổ chức hiệp đồng chiến đấu với bộ
đội không quân, radar, Quân khu Tả Ngạn, Bộ tư lệnh Hải quân, Sư đoàn 350, công an vũ trang và các
lực lượng phòng không địa phương; tăng cường thông tin liên lạc để báo động phòng không nhân dân
cho thành phố khi địch đánh phá.

Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu các thủ đoạn mới của địch, tiến hành
hội nghị dân chủ về quân sự, phát huy trí tuệ của tập thể để bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến,
luyện tập cho bộ đội thuần thục quy trình xử trí thao tác các cách đánh có nhiễu ngoài đội hình, trong
đội hình của hải quân, đánh địch bay thấp, bay bằng, bổ nhào ném bom và trong trường hợp có tên lửa
Shrike. Thủ trưởng sư đoàn và cán bộ phòng tham mưu còn tổ chức đoàn cán bộ nghiên cứu địch ở
thực địa để nắm chắc hơn các thủ đoạn, nhất là thủ đoạn hoạt động gây nhiễu mới và phóng tên lửa
Shrike của địch.

Sáng sớm ngày 24 tháng 5 năm 1972, địch sử dụng một số tốp máy bay vào đánh khu vực
Hải Phòng. Được Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị mục tiêu và giao nhiệm vụ kịp thời, cả 3 tiểu đoàn 81, 82,
84 của Trung đoàn tên lửa 238 phóng 6 quả đạn, bắn rơi 2 máy bay địch. 8 giờ 26 phút, tại trận địa
Cát Bi, tiểu đoàn 82 bắn rơi 1 chiếc A-6. 8 giờ 34 phút, tại trận địa Minh Kha, dưới sự chỉ huy của
tiểu đoàn trưởng Phan Minh Châu, sĩ quan điều khiển Kiều Thanh Tịnh và ba trắc thủ Vũ Ngọc
Quyền, Nguyễn Mạnh Tấn, Trần Đình Ngư bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-8 ở Kinh Môn. Đây là chiếc máy
bay bị sư đoàn bắn rơi tại chỗ đầu tiên trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ, có
tác dụng động viên khí thế và xây dựng lòng tin vào khả năng đánh bại các thủ đoạn của địch đối với
bộ đội phòng không Hải Phòng.

Phát huy chiến thắng, 20 giờ cùng ngày, tiểu đoàn 81 lại bắn rơi 1 chiếc F4. Đây là chiếc
máy bay đánh đêm đầu tiên bị sư đoàn bắn rơi trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của
Mỹ.

Được tin Trung đoàn 238 liên tiếp lập công xuất sác, đồng chí Nguyễn Xuân Mậu, Phó
chính uỷ Quân chủng đang làm việc ở sư đoàn bộ xuống ngay Trung đoàn 238 ở Lạng Côn dự buổi
rút kinh nghiệm chiến đấu. Sau khi nghe Trung đoàn trưởng Đào Công Thận va Chính uỷ Nguyễn Vũ
Hùng báo cáo quá trình nghiên cứu địch và rèn luyện công phu của bộ đội, đồng chí Phó chính uỷ
Quân chủng nhiệt liệt biểu dương chiến công xuất sắc của tiểu đoàn 81 và khen ngợi kíp chiến đấu
Tịnh, Quyền, Tấn, Ngư. Tiếp đó đồng chí Trần Kiên, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng cũng đến tận trận
địa Minh Kha trao phần thưởng cho tiểu đoàn 81. Nhiều đoàn cán bộ cơ quan, đơn vị bạn và địa
phương lần lượt đến đơn vị chúc mừng chiến thắng của tiểu đoàn.

Toàn thể cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 81 vô cùng xúc động trước sự quan tâm của thủ trưởng
cấp trên, các đồng chí lãnh đạo thành phố, cơ quan đơn vị bạn và địa phương. Mọi người đều thống
nhất quyết tâm bắn rơi máy bay địch, giữ vững lá cờ đầu trong phong trào thi đua lập công, bắn rơi tại
chỗ máy bay địch của sư đoàn.

Sau khi địch phong toả cảng Hải Phòng, Đảng và Chính phủ ta chủ trương chuyển phần
lớn hàng viện trợ từ đường biển sang đường sắt và đường bộ. Vì vậy Lạng Sơn và đường số 1 bắc trở
thành "Cảng nổi" và tuyến đường vận chuyển chủ yếu hàng viện trợ cho các chiến trường.

Thực hiện chủ trương trên, đồng chí Tổng tham mưu trưởng chỉ thị cho Quân chủng Phòng
không- Không quân tổ chức lực lượng phòng không để đánh địch, bảo vệ Lạng Sơn và tuyến đường
số 1 bắc.

Thực hiện quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng thành lập Sư đoàn
phòng không 375 gồm các trung đoàn pháo phòng không 224, 213, 216, 282 và Trung đoàn tên lửa
268 làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Lạng Sơn và đường số 1 bắc.Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, Bộ tư
lệnh Sư đoàn 363 điều Trung đoàn pháo phòng không 240 và hai tiểu đoàn 71, 72 Trung đoàn tên lửa
285 lên khu vực Hà Bắc, phối thuộc chiến đấu với Sư đoàn 375.

Mặc dù lần đầu tiên rời thành phố Cảng, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ trung đoàn,
sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Công Đỉnh và Chính uỷ Lê Văn San, cán bộ, chiến sĩ
Trung đoàn 240 đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên, khắc phục mọi khó khăn trong cơ
động lực lượng và triển khai đội hình chiến đấu theo kế hoạch. Nhiệm cụ của Trung đoàn là cơ động
chiến đấu ở khu vực Kép - Voi Xô. trước mắt bố trí ở Kép rồi cơ động về phố Vị, sở chỉ huy cơ bản ở
Kép.

Với kinh nghiêm cơ đông Chiến đấu trên tuyến đường số 2 và số 3 năm 1966 và đánh địch
ở chiến trường Khu 4 năm 1968, Trung đoàn Phó Châu Quang Bút đã cùng Phó chính uỷ Nguyễn
Đình Huyện và các đồng chí lãnh đao chỉ huy trung đoàn tên lửa 285 tập trung lãnh đạo, tổ chức bộ
đội hành quân và triển khai đội hình chiến đấu theo kế hoạch. Nhiệm vu của trung đoàn là cơ động
chiến đấu từ Lục Nam đến Hữu Lũng. Đánh địch từ Hồng Gai theo đường số 13, 18 vào đánh Bắc
Giang, Kép, Voi Xô. Sông Hoá và từ Thái Nguyên theo đường số l6 vào vùng hoả lực của trung đoàn.
Hai tiểu đoàn hoả lực triển khai ở các khu vực Hữu Lũng, Tân An (Lạng Giang) và Mỹ Lộc. Sở chỉ
huy trung đoàn ở khu vực Kép.

Ngay sau khi bố trí đội hình chiến đấu cả hai trung đoàn đều tổ chức nghiên cứu địch, xây
dưng Phương án tác chiến, tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng trong khu vực và sẵn sàng

đánh địch.

Với tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao và hiêv đồng tốt, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn
285, mười ba giờ 30 phút ngày 17 tháng năm 1972, tai trân địa Kép Ha, tiểu đoàn 72 bắn rơi 1 chiếc
máy bay F4. Đúng ngày kỷ niệm Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8, tiểu đoàn lại bắn rơi tại chỗ một chiếc
RF4C.

Phát huy chiến thắng của Trung đoàn 285, các đơn vị của Trung đoàn 240 cũng liên tiếp
đánh thắng. Ngày 12 tháng 9 năm 1972, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Vũ Mạnh Hốt và chính trị
viên Nguyễn Quốc Hoàn, đại đội 173 sử dụng cách đánh bằng phần tử tổng hợp, chỉ với 15 viên đạn
đã bắn rơi 1 máy bay F4, lập chiến công đầu của trung đoàn trên địa bàn chiến đấu mới. Ngày 13
tháng 9, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Văn Bắc và chính trị viên Lê Viết Chuyền, đại đội
172 cũng đánh bằng phần tử tổng hợp, bắn rơi 1 chiếc F4.

Cuộc chiến đấu với không quân Mỹ, bảo vệ giao thông vận chuyển trên tuyến đường số 1
bắc của hai trung đoàn 285, 240 ngày càng quyết liệt. Đồng thời với việc sử dụng các thủ đoạn chiến
thuật nghi binh, thu hút, bay thấp…, không quân địch còn tăng cường gây nhiễu tổng hợp cường độ
lớn, phóng tên lửa Shrike chế áp radar phòng không và sử dụng thiết bị ném bom có điều khiển bằng
tia la-de để đánh phá mục tiêu, nhất là hệ thống cầu trên địa bàn.

Trước tình hình đó, lãnh đạo chỉ huy các cấp và bộ đội của hai trung đoàn đã phát huy
truyền thống vẻ vang của sư đoàn và đơn vị vượt qua mọi khó khăn thử thách, tập trung nghiên cứu
địch, bổ sung phương án tác chiến, hoàn chỉnh cách đánh và liên tiếp lập công. Ngày 29 tháng 9, tại
trận địa Na Hoa (Hà Bắc), tiểu đoàn 72 bắn rơi 1 chiếc A-6. Ngày 19 tháng 10, tại trận địa Kép, đại
đội 173 bắn rơi thêm 1 chiếc A-6 khác. Đặc biệt, 0 giờ 28 phút ngày 21 tháng 12 năm 1972, tại trận
địa Đồng Gạch (Bắc Giang), đại đội 515 bắn rơi 1 chiếc má bay cường kích F-111A. Đó là chiến công
cuối cùng, kết thúc thắng lợi nhiệm vụ của sư đoàn trên tuyến đường số 1 Bắc.

Sau khi các trung đoàn 213, 240, 285 đi phối thuộc chiến đấu với các sư đoàn bạn, Sư đoàn
363 gặp rất nhiều khó khăn. Lực lượng của sư đoàn chỉ còn hai trung đoàn 238, hai tiểu đoàn 73, 74
Trung đoàn 285 và 252. Trong khi đó địch tăng cường sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật mới gây
nhiễu tổng hợp cường độ lớn, tên lửa không - đất tự dẫn cải tiến Stăng-đa AGM-78 và thiết bị ném
bom có điều khiển bằng tia la-de mới Ka-nai (1 chiếc làm cả hai nhiệm vụ ném và điều khiển bom).

Với những khó khăn trên, trong hai tháng 6 và 7 năm 1972 các đơn vị của sư đoàn bắn rơi
9 máy bay địch nhưng không có chiếc nào rơi tại chỗ, trong khi đó một số - mục tiêu bị tổn thất, nhiều
đồng bào ở Hạ Lý, An Lư, Lũng Đông, thị xã Kiến An bị thương vong.

Trước tình hình trên, ngày 31 tháng 7 năm 1972, Đảng uỷ sư đoàn họp bất thường do đồng
chí Bí thư Đảng uỷ Vũ Trọng Cảnh chủ trì. Đảng uỷ sư đoàn đã nghiêm khắc kiểm điểm, tìm rõ
nguyên nhân và xác định trách nhiệm cụ thể trong đợt chiến đấu vừa qua. Trên cơ sở đó, Đảng uỷ tiến
hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng từ trên xuống dưới, từ cán bộ đến chiến sĩ nhằm giải quyết 4 vấn
đề :

- Nghiên cứu tìm cách đánh hay của bộ đội pháo và tên lửa.

- Nghiên cứu cách huấn luyện bộ đội để đáp ứng yêu cầu chiến đấu.

- Nghiên cứu cách theo dõi và nắm địch.

- Nghiên cứu việc bảo đảm vũ khí, khí tài để chiến đấu liên tục đồng thời tích cực cơ động
lực lượng ra vòng ngoài để đánh địch.

Tại cuộc họp này, Đảng uỷ quyết định thành lập tổ nghiên cứu gồm đồng chí tham mưu
trưởng sư đoàn, thủ trưởng các phòng chính trị, kỹ thuật, hậu cần, các trưởng ban tác chiến, trinh sát
và một số trợ lý tham mưu chủ chốt của cơ quan, do đồng chí Tư lệnh sư đoàn làm tổ trưởng.

Căn cứ vào nhiệm vụ Quân chủng giao và kết quả nghiên cứu, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết
định tổ chức cụm chiến đấu ở Quảng Ninh. Lực lượng tham gia cụm gồm các tiểu đoàn tên lửa 81, 84,
73 bố trí ở các trận địa Tân Yên, Lê Xá, Hoành Mô; các đại đội pháo 174, 512, 516 bảo vệ ba tiểu
đoàn 73, 81, 84. Tư lệnh sư đoàn Bùi Đăng Tự, Phó chính uỷ Lê Sơn, Phó chính uỷ Lê Chí Hướng,
Tham mưu trưởng Nguyễn Hào Hiệp trực tiếp chỉ huy cụm chiến đấu.

Được sự nhất trí của Quân chủng, ngày 2 tháng 8 năm 1972, các đơn vị bắt đầu hành quân
chiếm lĩnh trận địa theo kế hoạch. Mặc dù đường vào một số trận địa bị lầy lội, nhưng với quyết tâm
cao và tổ chức chỉ huy chặt chẽ nên các đơn vị đều chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định và an
toàn. Thủ trưởng và trợ lý chủ chốt các phòng tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần xuống các trận
địa chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị triển khai phương án tác chiến và kế hoạch chiến đấu.

Mục đích của trận đánh là đánh địch trên đường bay cơ bản 1, bắn rơi tại chỗ bắt sống giặc
lái ở khu vực Hải Phòng để gây khí thế chiến thắng cho quân và dân Hải Phòng, đồng thời kết hợp
hoả lực tên lửa và pháo phòng không bảo vê mục tiêu.

10 giờ ngày 6 tháng 8, sở chỉ huy Quân chủng thông báo: 11 giờ trở đi có đợt hoạt động
của không quân và hải quân địch. Lập tức thủ trưởng trực ban sư đoàn thông báo tình hình địch và chỉ
thị cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu.

11 giờ 20 phút, phát hiện một số tốp máy bay hải quân vào hoạt động nghi binh, thu hút ở
khu vực cửa Ba Lạt, Văn Úc, Tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho các đơn vị vào cấp 1, sẵn sàng đánh địch. Ít
phút sau, tốp lớn 23 chiếc gồm 9 chiếc A-6, 10 chiếc A-7, 3 chiếc F4 và 1 chiếc A-3J từ biển qua cửa
Ba Lạt lên bắc Cát Bà, qua phà Rừng, Quảng Yên lên bắc đường số 18 rồi vòng xuống, lần lượt bổ
nhào đánh Quán Toan, cảng mới.

11 giờ 40 phút, dưới sự chỉ huy của trung đoàn, kíp chiến đấu tiểu đoàn 81 gồm tiểu đoàn
trưởng Cát Tòng Nhiên, sĩ quan điều khiển Kiều Thanh Tịnh và các trắc thủ Vũ Ngọc Quyền, Trần
Đình Ngư, Nguyễn Mạnh Tấn đã hiệp đồng chặt chẽ, chống nhiễu mục tiêu giả tốt, từ bám sát bằng
tay chuyển sang bám sát tự động kịp thời, chuẩn xác, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc máy bay A-7. Đây là
chiếc máy bay Mỹ thứ 3.800 bị bắn rơi trên miền Bắc.

Trong trận đánh, hai đại đội pháo phòng không 511, 171 Trung đoàn 252 tham gia đánh
địch tích cực, đại đội 511 bắn rơi 1 chiếc F4; tiểu đoàn 73 phóng 2 quả đạn, bắn cháy 1 chiếc F4.

Sau trận đánh, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn nhận xét: Trận đánh đã thực hiện được yêu cầu
chính trị, bắn rơi tại chỗ máy bay địch ở Hải Phòng lập thành tích thiết thực chào mừng ngày kỷ niệm
chiến thắng trận đầu 5 tháng 8 của bộ đội phòng không, thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Thường
vụ Đảng uỷ Quân chủng và nghị quyết Đảng uỷ sư đoàn; đáp ứng được nguyện vọng và tình cảm của
quân, dân Hải Phòng. Đây là trận đánh có chuẩn bị chu đáo, phán đoán địch chính xác, chọn hướng
đúng, sử dụng lực lượng mạnh dạn, thích hợp, cách đánh cơ động bí mật, bất ngờ, linh hoạt, mưu trí,
động viên chính trị, xây dựng quyết tâm chiến đấu kịp thời, chính xác; kết hợp chặt chẽ giữa chiến
đấu với xây dựng và rèn luyện bộ đội. Tuy nhiên do chưa quán triệt tốt tình hình nhiệm vụ, hai đại đội
512, 174 Trung đoàn 252 không hoàn thành nhiệm vụ, hai tiểu đoàn 73, 84 bảo đảm kỹ thuật không
tốt, để lỡ thời cơ chiến đấu.

Mặc dù tình hình chiến đấu rất khẩn trương nhưng Bộ tư lệnh sư đoàn vẫn nghiêm chỉnh
thực hiện chỉ thị của Quân chủng, hướng dẫn của Cục Chính trị, tiến hành hội nghị nêu gương "Người
tốt, việc tốt" của sư đoàn. Dự hội nghị có đông đủ cán bộ chủ trì các cấp và những điển hình về
"Người tốt, việc tốt" trong sư đoàn. Đồng chí Hoàng Phương, Chính uỷ Quân chủng tới dự và chỉ đạo
hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Chính uỷ Quân chủng nhiệt liệt biểu dương cán bộ, chiến sĩ
Sư đoàn 363 đã có nhiều cố gắng vượt bậc trong quá trình chiến đấu, xây dựng; nhiệt liệt biểu dương
những điển hình về "người tốt, việc tốt" của sư đoàn, coi đó là những hạt giống tết cán tiếp tục nhân
lên. Đồng chí nhấn mạnh: Vấn đề quan trọng bậc nhất bây giờ là tiếp tục tiến công. Mọi người đều
tiến công, tiến công trong chiến đấu và xây dựng. Cần tiếp tục tăng cường các biện pháp để nhân các
gương "Người tốt, việc tốt” cả về bề rộng và chiều sâu. Đó là biện pháp rất quan trọng để tiến công
trong chiến đấu và xây dựng, tích cực góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của sư đoàn.

Chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng và quyết tâm của thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định tổ trận đánh thứ hai, lấy tên là trận “19-8” nhằm bắn rơi tại chỗ
máy bay địch, bắt sống giặc lái ở khu vực Hải Phòng. Tham gia trận đánh có các tiểu đoàn 81, 73, 84
bố trí ở Nhân Lý, Động Xá, Lê Xá; hai đại đội pháo 512, 516 bảo vệ hai tiểu đoàn tên lửa 81, 84; hai
đại đội 171, 174 bố trí ở Xu Hai và Hoàng Lâu vừa bảo vệ tên lứa vừa bảo vệ yếu địa Ngoài lực lượng
trên, đại đội 511 hố trí bảo vệ nhà máy điện cửa Cấm, tiểu đoàn 73 ở Tứ Kỳ (Hải Dương), tiểu đoàn
tên lửa 82 sau khi đổi khí tài về sẽ triển khai ở Nam Sách.
Ý định tác chiến của sư đoàn là đánh tất cả các loại máy bay địch vào trinh sát và đánh phá,
đánh địch cả ban ngày và ban đêm, cả máy bay hải quân, không quân và B-52; tích cực đánh địch bảo
vệ mục tiêu và sẵn sàng đánh địch đến cứu giặc lái, chế áp trận địa phòng không; tạo điểm nổ của tên
lửa trên đất liền, trước khi địch ném bom với các cách đánh đón, đuổi, đánh tập trung, từ hai tiểu đoàn
trên từng đường bay địch, đánh từ nhiều hướng, trong lúc chúng đang bận quan sát, đánh phá mục
tiêu, tên lửa tận dụng bám sát tự động hoặc hỗn hợp để nâng cao hiệu suất chiến đấu.

Ngày 16 tháng 8, lúc 20 giờ 8 phút, hai chiếc A-6 vào hoạt động ở khu vực Quảng Yên.
Được lệnh của sư đoàn và trung đoàn, tiểu đoàn 81 phóng hai quả đạn, vọng quan sát của sư đoàn báo
cáo có máy bay cháy ở khu vực Kinh Môn.

0 giờ 40 phút ngày 17 tháng 8, hai chiếc máy bay địch từ đường số 18 và đánh Kinh Môn.
Được lệnh của Trung đoàn 238, lúc 0 giờ 55 phút, tiểu đoàn 81 phóng 2 quả đạn, bắn rơi tại chỗ 1
chiếc A-6 ở xã Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh.

15 giờ 40 phút cùng ngày, một tốp 2 chiếc máy bay hải quân qua cửa Thái Bình, Văn Úc
vào Vĩnh Bảo, Ninh Giang, tiểu đoàn tên lửa 73 và bộ đội pháo phòng không đánh nhưng không kết
quả.

Trận đánh thứ hai đạt được yêu cầu đánh trúng, đánh rơi tại chỗ máy bay địch hoạt động
ban đêm nhưng hiệu suất chiến đấu của các tiểu đoàn tên lửa 84, 73 và các đại đội pháo phòng không
còn thấp.

Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức trận đánh lớn thứ 3 ở Hải Dương. Tham gia trận này có các tiểu
đoàn 82, 83, 73, 84 bố trí ở Nam Sách, Cẩm Giàng, Động Cần, Dương Am; các đại đội 1, 2, 3 tiểu
đoàn 1 Trung đoàn pháo phòng không 262 (sư đoàn vừa tổ chức tiếp nhận của Quân chủng) làm
nhiệm vụ bảo vệ các tiểu đoàn 83, 73, đại đội 516 bảo vệ tiểu đoàn 84. Đến ngày 24 tháng 8, các đơn
vị sẵn sàng đánh địch.

17 giờ 25 phút ngày 25 tháng 8, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa
238 Đào Công Thận, tiểu đoàn trưởng Đặng Minh Chức, chính trị viên Đào Tràng đã cùng sĩ quan
điều khiển Đỗ Minh Châu và các trắc thủ Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Xuân Quang, Doãn Văn Dự,
phóng 2 quả đạn, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F4B ở Ngọc Tái thuộc xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ.

Tiếp đó, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức trận đánh lớn thứ 4 ở Hải Phòng. Tham gia trận đánh
có hai tiểu đoàn tên lửa 81, 73 bố trí ở Hải Hưng và toàn bộ lực lượng của 2 trung đoàn pháo phòng
không 252, 262. Mục đích của trận đánh là tiêu diệt địch bảo vệ thành phố Cảng, lập thành tích thiết
thực chào mừng kỷ niệm Quốc khánh 2-9. 12 giờ 22 phút ngày 6 tháng 9, dưới sự chỉ huy của sư đoàn
và Trung đoàn 238, tiểu đoàn 81 phóng 2 quả đạn vào tốp 10 chiếc máy bay hải quân, bắn rơi tại chỗ
1 chiếc A-6 ở xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thuỵ. Do lập được chiến công xuất sắc, tiểu đoàn 8 1 được
Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa trong dịp Quốc khánh 2-9.

Qua 4 trận đánh lớn được tổ chức chặt chẽ trên của sư đoàn, lực lượng tên lửa đã đánh 17
trận, phóng 28 quả đạn bắn rơi tại chỗ 4 máy bay địch, lực lượng pháo phòng không bắn hết 2.537
viên đạn các loại, trong đó Trung đoàn 262 có tiến bộ, đã bắn cháy máy bay địch, các đơn vị đều được
rèn luyện và trưởng thành về nhiều mặt. Các cơ quan chỉ huy tham.mưu từ trung đoàn đến sư đoàn đã
có nhiều tiến bộ trong việc nghiên cứu địch, chỉ đạo tổ chức chuẩn bị, thực hành và rút kinh nghiệm
các trận đánh hiệp đông giữa bộ đội tên lửa và bộ đội pháo phòng không. Các cơ quan chính trị, kỹ
thuật, hậu cần cũng có nhiều tiến bộ trong việc triển khai công tác chuyên ngành trước, trong và sau
trận đánh, hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ trên giao.

Qua 4 trận đánh trên, Bộ tư lệnh sư đoàn đã rút ra các bài học về nắm vững, phát huy và
vận dụng tương đối tết tư tưởng tích cực tiến công địch; tích cực nghiên cứu địch và tìm ra cách đánh
chủ động, linh hoạt, bất ngờ, sáng tạo và hiệu quả; tập trung lực lượng, phát huy uy lực của các loại
hoả lực đánh địch trên hướng chủ yếu, khu vực chủ yếu và đúng đối tượng chủ yếu; tiêu diệt địch, bảo
vệ mục tiêu và giữ gìn, bồi dưỡng lực lượng ta; bảo đảm hiệp đồng, cơ động chiến đấu, bảo đảm kỹ
thuật, hậu cần và rèn luyện bộ đội.

Những bài học kinh nghiệm này cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng phù hợp với đặc
điểm và điều kiện tác chiến mới.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc ngày 22 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ
Ních-xơn ra lệnh cho các lực lượng không quân, hải quân ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20
trở ra. Từ ngày 23 tháng 10 trở đi, địch tập trung máy bay đánh phá ác liệt các mục tiêu giao thông
vận chuyển từ vĩ tuyến 20 trở vào. Âm mưu của chúng là: ngăn chặn sự chi viện của ta cho chiến
trường miền Nam, xoa dịu dư luận phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, kéo lực
lượng phòng không của ta vào Quân khu 4 rồi bất ngờ mở cuộc tập kích đường không chiến lược vào
Hà Nội, Hải Phòng.

Do phía Mỹ tráo trở, không thực hiện những thoả thuận với ta vào trung tuần tháng 10 năm
1972 ở Hội nghị Paris, ngày 26 tháng 10 năm 1972, Chính phủ ta đã ra tuyên bố lên án thái độ tật lọng
của Mỹ, bày tỏ thái độ thiện chí và lập trường chính nghĩa của ta.

Quán triệt nghị quyết bất thường của Đảng uỷ Quân chủng ngày 27 tháng 10 năm 1972, từ
lãnh đạo chỉ huy các cấp đến bộ đội nhận rõ khả năng địch sẽ tập trung máy bay, trong đó có cả máy
bay ném bom chiến lược B-52 đánh lớn vào Hà Nội, Hải Phòng. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh sư đoàn
tập trung tổ chức rà soát, bổ sung các phương án tác chiến và hiệp đồng chiến đấu trong đó có phương
án đánh B-52 để bảo vệ thành phố Cảng; hoàn chỉnh và luyện tập cách đánh B-52 theo nội dung tập
huấn trong hội nghị chuyên đề về đánh B-52 ở Hoà Mục cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1972 và
hướng dẫn của Quân chủng; chuẩn bị mọi mặt bảo đảm chiến đấu như tổ chức kiểm tra, hiệu chỉnh,
sửa chữa vũ khí, khí tài sản xuất và bảo đảm đạn tên lửa trên 3 tuyến và bảo đảm đạn cho bộ đội pháo
phòng không đánh địch…

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, tháng 11 năm 1972 Trung đoàn tên lửa 285 cơ
động từ Hà Bắc về bảo vệ Hải Phòng. Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức triển khai đội hình chiến đấu của
trung đoàn theo phương án tác chiến mới và chỉ đạo hai trung đoàn tên lửa 238, 285 huấn luyện đột
kích cách đánh B-52 theo tài liệu "Cách đánh B-52" của Quân chủng. Phong trào thi đua "Đánh 1
luyện 10" nhằm nâng cao trình độ đánh B-52 trở thành phong trào sôi nổi của bộ đội tên lửa trong sư
đoàn.
Cũng trong thời gian này, bộ đội pháo phòng không tập trung giải quyết và huấn luyện đột
kích cách đánh máy bay bổ nhào bằng máy chỉ huy, đánh máy bay F-111 bay thấp ban đêm và đánh
B-52 của pháo 100mm.

Ngày 18 tháng 11 năm 1972, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đến thăm đại đội 512 Trung đoàn 252 tại trận địa ngã ba Tam giác Cầu ở Hải Phòng. Cùng
đi với đồng chí Bí thư thứ nhất có đồng chí Trần Kiên, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng và đồng chí Bùi
Đăng Tự, Phó tư lệnh sư đoàn. Sau khi đi thăm doanh trại, trận địa, nghe thủ trưởng sư đoàn báo cáo
tình hình đơn vị, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ, đồng chí Bí thư thứ nhất biểu dương đại đội 512 đã
lập nhiều chiến công, khen ngợi sư đoàn và quân dân Hải Phòng đã chiến đấu dũng cảm bảo vệ thành
phố Cảng. Cuối cùng, đồng chí căn dặn bộ đội: Phải tranh thủ nâng cao trình độ về mọi mặt, sẵn sàng
chiến đấu để cùng quân và dân cả nước đập tan mọi âm mưu mới của kẻ thù.

Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đều nhận thức sâu sắc lời căn dặn của đồng chí Lê
Duẩn, tích cực chuẩn bị chiến đấu, trước mắt sẵn sàng đánh máy bay trinh sát của địch, sôi nổi hưởng
ứng phong trào thi đua bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 300 ở Hải Phòng do Thành uỷ phát động, thiết
thực kỷ niệm 26 năm ngày Hải Phòng kháng chiến (20-11-1946 - 20-11-1972).

Được tin ngày 22 tháng 11 năm 1972 Trung đoàn tên lửa 263 ở Nghệ An lần đầu tiên bắn
rơi B-52 trên đất liền, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo các trung đoàn tên lửa 238, 285 học tập kinh
nghiệm nóng hổi từ trận chiến đấu này, bổ sung phương án tác chiến, quy trình xử lý thao tác của kíp
chiến đấu và tổ chức huấn luyện đột kích để thuần thục cách đánh B-52.

Ngày 24 tháng 11 năm 1972, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thông qua lần cuối
cùng phương án đánh B-52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng của Quân chủng Phòng không - Không quân.

Sáng ngày 26 tháng 11, dưới sự chỉ huy của sư đoàn và Trung đoàn tên lửa 238, tại trận địa
Lê Xá, ĐỒ Sơn, tiểu đoàn phó Vũ Bổng và chính trị viên phó Mai Quang Vinh đã cùng sĩ quan điều
khiển Lê Văn Nghĩa và các tắc thủ Trần Văn Việt, Phan Xuân Hùng, Nguyễn Văn Thịnh của tiểu đoàn
83 bắn rơi tại chỗ chiếc 147J cách trận địa khoảng 2km. Đây chính là chiếc máy bay Mỹ thứ 300 bị
bắn rơi ở thành phố Cảng.

Được tin trên, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã gửi thư khen quân và dân Hải Phòng.

Buổi lễ mừng công bắn rơi 300 máy bay Mỹ được Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố
Hải Phòng tổ chức trọng thể tại nhà hát thành phố. Tại cuộc mít tinh trọng thể này, các đồng chí lãnh
đạo thành phố đã nhiệt liệt biểu dương chiến công xuất sắc của Sư đoàn phòng không 363, đơn vị đã
bắn rơi phần lớn số máy bay trên, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của các lực lượng phòng không ba
thứ quân ở khu vực Hải Phòng, tích cực góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
trên địa bàn. Tất cả các đại biểu dự hội nghị và cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đều nhận rõ đây là mốc
lịch sử đánh dấu kết quả của quá trình rèn luyện, phấn đấu và cố gắng vượt bậc của quân và dân Hải
Phòng để cùng quân dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Ngày 28 tháng 11 năm 1972, đồng chí Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài và Tư
lệnh Quân chủng Lê Văn Try đã dẫn đầu đoàn cán bộ tham mưu xuống kiểm tra phương án tác chiến
của sư đoàn và chỉ thị một số nội dung cần bổ sung, hoàn chỉnh đồng thời nhấn mạnh: sư đoàn cần
làm tốt công tác tư tưởng để chống biểu hiện ảo tưởng hoà bình trong một số cán bộ, chiến sĩ. Phải
làm tốt việc triển khai phương án tác chiến, nhất là phương án đánh B-52. Phải tổ chức các đơn vị
thường xuyên sẵn sàng chiến đấu cao, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tập kích đường không quy mô lớn
của địch trong mọi tình huống.

Ngày 13 tháng 12 năm 1972, Hội nghị Paris về Việt Nam bế tắc Mỹ tuyên bố đình chỉ vô
thời hạn hội nghị này.

Ngày 14 tháng 12 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn chính thức thông qua kế hoạch
"Linebacker II". Đó là chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào
Hà Nội, Hải Phòng.

Đến thời điểm này, Sư đoàn phòng không 363 đã hoàn thành các nội dung về nghiên cứu
địch, bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến, trong đó có phương án đánh B-52, triển khai đồng bộ
kế hoạch chiến đấu mới.

Ngày 15 tháng 12 năm 1972, toàn sư đoàn nghiêm chỉnh chấphành mệnh lệnh của Quân
chủng, sẵn sàng chiến đấu cao.

Trong 2 ngày 16 và 17 tháng 12, địch tiến hành pháo kích vào Đồ Sơn, tiếp tục thả thuỷ lôi
phong toả cảng Hải Phòng và sử dụng một số tốp máy bay hoạt động ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ để
nghi binh thu hút ta hòng làm cho ta lầm tưởng rằng chúng sẽ đánh phá Hải Phòng trong những ngày
tới.

Từ 19 giờ 40 phút ngày 18 đến 4 giờ 35 phút ngày 19 tháng 12 năm 1972, địch sử dụng
235 lần chiếc, trong đó có 90 lần chiếc B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Phần lớn lực lượng
máy bay chiến thuật và toàn bộ lực lượng B-52 vào đánh Hà Nội. Bộ đội phòng không Hà Nội đã bắn
rơi 3 chiếc B-52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ.

Trong thời gian trên, địch sử dụng 28 lần chiếc máy bay hải quân vào đánh phá nhà máy cơ
khí, sân bay Kiến An, Xí nghiệp Nam Hải… Với tinh thần cảnh giác cao và hiệp đồng chiến đấu tốt
đại đội 171 Trung đoàn 252 bắn rơi 1 chiếc A-7.

Trong 2 đêm ngày 19 và ngày 20 tháng 12, địch tiếp tục sử dụng hàng trăm lần chiếc máy
bay chiến thuật và B-52 vào đánh Hà Nội. Trong thời gian đó, địch sử dụng nhiều tốp máy bay hải
quân vào đánh phá Sở dầu Thượng Lý, cầu Quay và một số trận địa tên lửa ở ngoại vi Hải Phòng.
Đêm 19 rạng ngày 20 tháng 12, tiểu đoàn 81 ở trận địa Minh Khả bắn rơi 1 chiếc F4. 5giờ 20 phút
ngày 21 tháng 12, tại trận địa An Lão, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Lê Lập Dân, sĩ quan điều
khiển Nguyễn Phúc Truyện và các trắc thủ Hiển, Liên, Giang của tiểu đoàn 82 đã phóng 2 quả đạn,
bắn rơi tại chỗ 1 chiếc A-7. Cũng trong thời gian này, hai tiểu đoàn 72, 73, mỗi đơn vị bắn rơi 1 chiếc
F4. Các đại đội pháo tiểu cao 511, 512, 516 Trung đoàn 252 đã chiến đấu rất dũng cảm và hiệp đồng
chặt chẽ đánh địch quyết liệt, trong đó đại đội 512 lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc A-6A.

Sau các trận đánh đêm 18 và 19 tháng 12, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo các đơn vị rút kinh
nghiệm chiến đấu, tìm ra ưu điểm, khuyết điểm và những bài học kinh nghiệm để chuẩn bị cho những
trận đánh sắp tới. Đội hình chiến đấu được điều chỉnh thành 2 cụm. Cụm phía tây thành phố gồm 3
đại đội pháo 57mm, đại đội 511 ở An Lạc, đại đội 5 12 ở Gò Chuối, đại đội 516 ở Tràng Quán.
Nhiệm vụ của cụm là đánh địch bảo vệ khu công nghiệp phía tây Hải Phòng. Cụm phía
đông thành phố gồm hai đại đội 171 (ở gần nhà máy Sắt tráng men), 174 (ở xóm Bắc) và ba đại đội
của tiểu đoàn 147 (đại đội 1 ở Lông Vũ, đại đội 2 ở nhà máy điện Cửa Cấm, đại đội 3 ở gần nhà máy
Sắt tráng men). Nhiệm vụ của cụm là bảo vệ khu công nghiệp phía đông thành phố và đánh các đường
bay địch từ bắc Đồ Sơn, Cửa Cấm và cửa Nam Triệu vào Hải Phòng.

Ý định tác chiến của sư đoàn là tập trung hoả lực pháo phòng không đánh máy bay cường
kích và máy bay bay thấp ban đêm. Sử dụng từ 1 đến 2 tiểu đoàn tên lửa đánh máy bay cường kích,
phần lớn lực lượng còn lại tập trung đánh B-52. Lực lượng pháo 100mm bao gồm hai đại đội 171, 174
và 2 đại đội của tự vệ thành phố do Trung đoàn 252 trực tiếp chỉ huy, khi chưa có B-52 thì tập trung
đánh máy bay cường kích, khi có B-52 thì tập trung đánh B-52. Lực lượng pháo 100mm tập trung
đánh địch trên 2 hướng, từ bắc Đồ Sơn đến cửa Nam Triệu và từ nam Đồ Sơn đến cửa Thái Bình.

Quyết tâm của Bộ tư lệnh sư đoàn là kiên quyết đánh tập trung phát huy mạnh mẽ mọi loại
hoả lực, bắn rơi tại chỗ các loại máy bay địch, kể cả B-52, bắt sống và tiêu diệt giặc lái.

23 giờ 10 phút ngày 20 tháng 12, sở chỉ huy Quân chủng thông báo: Từ 23 giờ 30 phút đến
24 giờ có 30 lần chiếc B-52 và từ 30 đến 40 lần chiếc máy bay hải quân và không quân địch hoạt
động. Lập tức, thủ trưởng trực ban sư đoàn ra lệnh cho các đơn vị vào cấp 1.

23 giờ 53 phút, trên bảng tiêu đồ thu tình báo của đại đội radar 46 xuất hiện tốp 09, số
lượng 1 chiếc, độ cao 500m đang từ biển bay vào Hải Phòng. Được sư đoàn giao nhiệm vụ đánh tốp
09, đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 252 ra lệnh cho các đơn vị đánh theo phần tử radar của
đại đội 46. 23 giờ 53 phút, được lệnh của trung đoàn, cả 3 đại đội 511, 512, 516 đều đồng loạt nổ
súng, đại đội 512 bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay A-6A tại xã Đại Hợp huyện Kiến Thuỵ

Từ sở chỉ huy sư đoàn, Chính uỷ Vũ Trọng Cảnh điện cho đồng chí Phan Văn Bành, Chính
uỷ Trung đoàn 252, nhiệt liệt biểu dương chiến công xuất sắc của trung đoàn và nhắc nhở ban chỉ huy
tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu, rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng cho các trận đánh sau này.

Sáng ngày 22 tháng 12 năm 1972, trên cơ sở báo cáo tình hình và kết quả chiến đấu của Bộ
Tham mưu, Bộ tư lệnh Quân chủng nhận định: Sau 4 đêm bị tổn thất lớn ở Hà Nội, địch có thể chuyển
sang đánh phá Hải Phòng và một số mục tiêu ở vòng ngoài Hà Nội.

Thực hiện ý định tác chiến của Quân chủng, Thủ trưởng Bộ Tham mưu đã cử đoàn cán bộ
gồm các đồng chí Nguyễn Xuân Minh, Phan Toàn, Nguyễn Đức Thuần do đồng chí Chu Thái phụ
trách đáp máy bay quân sự xuống Sư đoàn 363 để truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu của Tư lệnh Quân
chủng và phổ biến kinh nghiệm đánh B-52 của bộ đội tên lửa Hà Nội.

9 giờ sáng ngày 22 tháng 12, thủ trưởng trực ban ở sở chỉ huy Quân chủng thông báo cho
sở chỉ huy sư đoàn: Đêm nay địch sẽ sử dụng B-52 đánh Hải Phòng. Lập tức, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ
thị cho các đơn vị sẵn sàng đánh địch, đồng thời chỉ đạo cho các trung đoàn tên lửa 238, 285 tiếp thu
kinh nghiệm đánh B-52 ở Hà Nội do đoàn cán bộ tham mưu Quân chủng phổ biến, bổ sung ngay vào
phương án tác chiến, cách đánh và tranh thủ huấn luyện đánh B-52.

Từ 4 giờ 30 phút đến 5 giờ 23 phút ngay 23 tháng 12, địch sử dụng 51 chiếc máy bay,
trong đó có 24 chiếc B-52 vào đánh nhà máy xi măng, sở dầu, khu tập thể An Dương… ở Hải Phòng.
Các trung đoàn tên lửa 238, 285 cùng 2 đại đội pháo 100mm của Trung đoàn 252 và 2 đại đội pháo
100mm của Xí nghiệp Cảng, nhà máy đóng tàu Bạch Đàng đã đánh địch rất mãnh liệt. 5 giờ 2 phút,
tiểu đoàn 82 Trung đoàn tên lửa 238 bắn rơi 1 chiếc B-52. Năm giờ 3 phút, tiểu đoàn 73 Trung đoàn
tên lửa 285 bắn rơi 1 chiếc B-52. Đó là chiếc máy bay Mỹ thứ 800 bị Quân khu Tả Ngạn bắn rơi tại
địa phương.

Nổi bật trong các trận chiến đấu này là cán bộ, chiến sĩ hai đại đội 511, 516 Trung đoàn
252 đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường bám trụ trận địa dưới làn bom rải thảm của B-52.
Các đồng chí Bùi Công Vụ, thợ sửa chữa máy nổ đại đội 511 và Nguyễn Văn Tạo, pháo thủ đại đội
516, mặc dù bị đất vùi lấp đã cố sức bật dậy tiếp tục chiến đấu và cùng đồng đội khắc phục hậu quả.

Bị thất bại nặng nề ở Hà Nội, Hải Phòng, trong các đêm ngày 23 và 24 tháng 12, với cố
gắng cao nhất, địch chỉ sử dụng lực lượng B-52 và máy bay chiến thuật đánh phá các khu vực Đồng
Mỏ, Kép, Bắc Giang, Thái Nguyên…

Sau trận đánh đêm ngày 23 tháng 12, Bộ tư lệnh sư đoàn điều đại đội 171 cơ động sang
phía bắc Hải Phòng để đón đánh đường bay số 1 của địch vào đánh thành phố Cảng.

Lấy cớ nghỉ lễ Nô-en, 24 giờ ngày 24 tháng 12 năm 1972, địch tạm ngừng cuộc tập kích
đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng.

Sáng ngày 25 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân chủng tổ chức hội nghị quân chính rút kinh
nghiệm chiến đấu và phổ biến quyết tâm của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng trong đợt chiến đấu tới.
Sau khi đánh giá thắng lợi to lớn, toàn diện trong đợt 1 và chỉ ra một số khuyết điểm, tồn tại, hội nghị
nhất trí với kết luận của Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Try: "Địch sẽ tiếp tục sử dụng lực lượng lớn B-
52 và máy bay chiến thuật đánh Hà Nội, Hải Phòng với nhiều thủ đoạn, tình huống phức tạp, quyết
liệt để ép ta ở Hội nghị Paris. Toàn quân chủng nhất trí với quyết tâm của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh
Quân chủng là tập trung lực lượng cao nhất, khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tốt nhất để cùng
với các lực lượng phòng không khác đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược của
địch”.

Sau hội nghị, Bộ tư lệnh sư đoàn đã khẩn trương tố chức khắc phục hậu quả trong các trận
đánh vừa qua, tổ chức bổ sung, điều chỉnh lực lượng, rút kinh nghiệm chiến đấu, tranh thủ kiểm tra
bảo đảm kỹ thuật và chuẩn bị đạn dược, xăng dầu, nhất là đạn tên lửa cho bộ đội tiếp tục đánh B-52.
Chỉ trong vòng 36 giờ tạm ngừng chiến đấu, lãnh đạo chỉ huy các cấp và bộ đội đã đoàn kết nhất trí
cao, phát huy trách nhiệm, kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan với đơn vị, giữa các ngành đã hoàn thành
khối lượng công việc rất lớn để chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch phòng không. Nhiều cán bộ, chiến
sĩ đã bám sát trận địa, thực hiện "3 cùng" với bộ đội để kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn đơn vị thực hiện
kế hoạch chiến đấu của sư đoàn.

Từ 21 giờ 49 phút đến 23 giờ ngày 26 tháng 12 năm 1972, địch sử dụng 105 lần chiếc B-
52, 90 chiếc máy bay chiến thuật từ nhiều hướng đánh phá ồ ạt, liên tục, đồng thời đánh nhiều mục
tiêu trên 3 khu vực Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên. Đặc biệt, ở Hà Nội, B-52 đã rải thảm xuống khu
phố Khâm Thiên, gây tội ác vô cùng man rợ đối với nhân dân ta.
Ở Hải Phòng địch sử dụng hàng chục tốp máy bay, trong đó có 6 tốp B-52 vào đánh phá
nhà máy Xi măng và Sở dầu. 22 giờ 34 phút, đại đội 174 Trung đoàn 252 bắn rơi 1 chiếc B-52. 22 giờ
36 phút, tiểu đoàn 81 bắn rơi 1 chiếc B-52. Tiểu đoàn 81 rất vinh dư và tự hào chính đáng là đơn vị
đầu tiên bắn rơi B-52 ở Hải Phòng nay lại là đơn vị bán rơi chiếc B-52 cuối cùng trên thành phố Cảng
trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972.

Để chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, đêm ngày 21
tháng 12 năm 1972, Bộ tư lệnh sư đoàn điều hai tiểu đoàn 71, 72 Trung đoàn 285 lên Hà Bắc, phối
thuộc chiến đấu với Sư đoàn phòng không 361, tăng cường đánh địch bảo vệ Hà Nội. Nhận rõ vinh dự
và trách nhiệm bảo vệ thủ đô, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn phó Nguyễn Đình Lâm và Phó chính
uỷ Lê Phương Châm, cả hai tiểu đoàn 71, 72 đã vượt qua mọi khó khăn, khẩn trương hành quân
chiếm lĩnh các trận địa Hà Liễu, Đại Chu (Hà Bắc) đúng kế hoạch và bảo đảm an toàn.

13 giờ 35 phút ngày 26 tháng 12, địch sử dụng 50 lần chiếc máy bay vào đánh phá một số
mục tiêu ở phía bắc Hà Nội. Tiểu đoàn 72 được lệnh đánh, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F4. Tiểu đoàn 71
được cấp trên công nhận bắn rơi 1 chiếc khác.

23 giờ ngày 27 tháng 12, địch sử dụng 105 lần chiếc B-52 và 90 lần chiếc máy bay chiến
thuật vào đánh 3 khu vực Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên. Thực hiện mệnh lệnh của Sư đoàn 361,
đồng chí Trung đoàn phó Trung đoàn 285 Nguyễn Đình Lâm giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 71 đánh tốp
B-52 từ bắc Tam Đảo xuống, tiểu đoàn 72 đánh địch từ hướng đông nam vào khu vực Văn Điển, Giáp
Bát. Tiểu đoàn 71 phóng 2 đạn nhưng không bắn rơi máy bay địch. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn
trưởng tiểu đoàn 72 Phạm Văn Chắt, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng và các trắc thủ Trần Đăng
Khoa, Nguyễn Đức Chiêu, Nguyễn Văn Tuyền với sự giúp đỡ của trắc thủ kíp 1 Lê Đông Hướng bám
sát dải nhiễu, sử dụng cách đánh ba điểm, bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 xuống hồ Hữu Tiệp, làng hoa
Ngọc Hà, nhiều mảnh xác máy bay rơi xuống đường Hoàng Hoa Thám thuộc thành phố Hà Nội.

Đây là lần đầu tiên Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi tại chỗ máy bay ném bom chiến lược B-
52 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chiến công bắn rơi tại chỗ B-52 ở Hà Nội của tiểu
đoàn 72 là trang sử chói lọi trong lịch sử truyền thống vẻ vang của Trung đoàn tên lửa 285 và Sư đoàn
phòng không 363.

Trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, quân và dân miền
Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52 (16 chiếc
rơi tại chỗ). Riêng Sư đoàn phòng không 363 bắn rơi 17 chiếc, trong đó có 4 chiếc B-52 tại Hải Phòng
và 1 chiếc B-52 ở Hà Nội. Chiến thắng to lớn trên đã làm thất bại hoàn toàn chiến dịch tập kích đường
không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, làm nên
“Điện Biên Phủ trên không” chấn động dự luận trên thế giới.

Trong chiến dịch phòng không trên, Trung đoàn tên lửa 238 đã bắn rơi 2 trong tổng số 5
chiếc B-52. Đồng chí Ngô Huynh, Trung đoàn phó Trung đoàn tên lửa 238 được vinh dự thay mặt cán
bộ, chiến sĩ lên gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Quân khu Tả Ngạn. Trong lần gặp mặt này, Đại
tướng đã ân cần thăm hỏi tình hình đơn vị và nhiệt liệt chúc mừng chiến công của Trung đoàn 238 và
Sư đoàn 363 trong chiến dịch phòng không vừa qua.
Như vậy, trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ trên miền Bắc,
Sư đoàn phòng không 363 đã bắn rơi 83 máy bay Mỹ. Nếu tính cả hai cuộc chống chiến tranh phá
hoại, toàn sư đoàn đã bắn rơi 381 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 5 chiếc B-52. Đó là thành tích to
lớn, thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, đoàn kết nhất trí vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, không
ngừng rèn luyện, phấn đấu trưởng thành về mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn. Thắng lợi to
lớn đó đã tích cực góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của địch ở khu vực Hải Phòng và trên
toàn miền Bắc. Đây là giai đoạn lịch sử hào hung nhất của Sư đoàn phòng không 363.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Theo hiệp định, Mỹ
phải tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta, ngừng mém bom hoàn toàn, vô
điều kiện nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Như vậy, chúng ta
đã thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Đánh cho Mỹ cút", nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn quân và toàn dân ta trong thời gian tới là "Đánh cho nguỵ nhào" nhằm giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước.

Ngày 31 tháng 1 năm 1973, Đảng uỷ Quân chủng ra nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ trong tình
hình mới là: Khẩn trương củng cố nâng cao chất lượng về mọi mặt, làm tết chức năng của đội quân
cách mạng là chiến đấu giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi. Phải sẵn sàng chiến đấu rất cao, tham gia và
làm hậu thuẫn vững mạnh cho cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Paris. Tích cực tham gia xây dựng
hậu phương, khắc phục hậu quả chiến tranh, đồng thời làm tốt nhiệm vụ quốc tế.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ và kế hoạch của Bộ tư lệnh Quân chủng, đầu năm 1973,
Bộ tư lệnh sư đoàn đã triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ sư đoàn và các kế hoạch công tác
nhằm thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và xây dựng sư đoàn năm 1973.

Chấp hành quyết định của Quân chủng, tháng 1 năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức bàn
giao Trung đoàn tên lửa 285 và Trung đoàn pháo phòng không 240 cho Sư đoàn 375 làm nhiệm vụ
bảo vệ giao thông vận chuyển trên tuyến đường số 1 Bắc và nhận bàn giao Trung đoàn tên lửa 268 từ
Sư đoàn 375.

Ngày 14 tháng 1 năm 1973, tại Sư đoàn 375, Phó tư lệnh sư đoàn Nguyễn Điện dẫn đầu
đoàn cán bộ các cơ quan tổ chức tiếp nhận Trung đoàn tên lửa 268. Đây là Trung đoàn tên lửa Hồng
Kỳ II của Trung Quốc gồm các ban tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, đại đội chỉ huy, các tiểu
đoàn 38, 49 và tiểu đoàn kỹ thuật 50 với tổng quân số là 944 người, trong đó có 124 sĩ quan, 79 quân
nhân chuyên nghiệp và 491 hạ sĩ quan, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Hàn làm trung đoàn phó, phụ
trách trung đoàn trưởng; đồng chí Vũ Tiến làm chính uỷ.

Ngay sau khi tổ chức tiếp nhận, đồng chí Phó tư lệnh sư đoàn chỉ huy trung đoàn cơ động
từ đường số 1 Bắc về triển khai ở bắc sông Cấm.

Đến tháng 4 năm 1973, sư đoàn tổ chức tiếp nhận lại Trung đoàn pháo phòng không 240 từ
Sư đoàn 375.

Như vậy, đến thời điểm này, lực lượng của sư đoàn có hai trung đoàn pháo phòng không
240, 252 và hai trung đoàn tên lửa 238, 268. Trung đoàn 252 gồm tiểu đoàn pháo 37mm, 2 đại đội
171, 174 trang bị pháo 100mm và 3 đại đội pháo 57mm không có khí tài. Trung đoàn 240 gồm 3 đại
đội 172, 173, 175 trang bị pháo 100mm và hai đại đội pháo 57mm không có khí tài. Trung đoàn tên
lửa 238 gồm có 4 tiểu đoàn hoả lực 81, 82, 83, 84 và tiểu đoàn kỹ thuật 85. Trung đoàn tên lửa 268
gồm có 3 tiểu đoàn hoả lực 38, 39, 49 (tiểu đoàn 39 chưa có khí tài) và tiểu đoàn kỹ thuật 50.

Căn cứ vào đặc điểm tình hình và nhiệm vụ trên giao, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức xây
dựng phương án tác chiến mới, điều chỉnh đội hình, tổ chức bảo đảm kỹ thuật, hậu cần và trực ban sẵn
sàng chiến đấu.

Ngày 6 tháng 5 năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chỉ thị cho bộ đội tên lửa, pháo phòng
không thường xuyên sẵn sàng đánh địch khi chúng bay vào vùng hoả lực, quản lý chặt chẽ, bảo đảm
an toàn cho máy bay ta và máy bay quốc tế.

Thời gian này, địch tăng cường sử dụng các loại máy bay U-2, EB-66, EC-121… hoạt
động trinh sát ở ngoài biển từ Hà Tĩnh đến nam Bạch Long Vĩ. Chấp hành chỉ của Bộ tư lệnh Quân
chủng về công tác giữ bí mật điện tử, ngày 15 tháng 6 năm 1973 Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các
đơn vị thực hiện nghiêm túc các quy định về phát sóng, thay đổi tán số và sử dụng mật danh, mật ngữ
nhằm giữ bí mật, bất ngờ về vị trí và lực lượng, sẵn sàng đánh thắng địch trong điều kiện tác chiến
điện tử phát triển.

Ngày 18 tháng 6 năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn ban hành chỉ lệnh xạ kích đánh các loại
máy bay B-52, cường kích và trinh sát của địch cho bộ đội tên lửa. Sau khi nêu rõ âm mưu, đặc điểm
thủ đoạn hoạt động của các loại máy bay trên, căn cứ vào kinh nghiệm đánh địch trong cuộc chống
chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, Bộ tư lệnh sư đoàn đã quy định về nguyên tắc xạ
kích, cách đánh trong các trường hợp có nhiễu ngoài đội hình, nhiễu B-52, nhiễu xung trả lời của máy
bay hải quân, nhiễu dải của không quân, đánh địch trong điều kiện có tên lửa Shrike và đánh các loại
máy bay trinh sát, nhất là loại trinh sát không người lái tầng thấp.

Những chỉ thị, quy định trên của sư đoàn, tạo điều kiện cho các đơn vị bổ sung phương án
tác chiến, cách đánh, nâng cao chất lượng huấn luyện và trình độ chiến đấu của bộ đội.Chấp hành
mệnh lệnh của Quân chủng, tháng 10 năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức điều chỉnh các đại đội
511, 512, 515, 51 6, 517, 12 trang bị pháo 57mm về trực thuộc Trung đoàn 252, riêng đại đội 51 6 tổ
chức thành khung huấn luyện khẩu đội trưởng pháo 57mm và tiểu đội trưởng máy chỉ huy; điều chỉnh
các đại đội 171, 172, 173, 174, 175 trang bị pháo 100mm trực thuộc Trung đoàn 240, riêng đại đội
175 tổ chức thành khung huấn luyện khẩu đội trưởng pháo 100mm và tiểu đội trưởng radar COH-9A.
Việc biên chế loại pháo thuần nhất cho các trung đoàn tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức
sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và xây dựng chính quy.

Chấp hành chỉ thị số 790/BTL ngày 14 tháng 7 năm 1973 của Quân chủng, ngày 4 tháng
10 năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định số 1152/C7, thành lập Hội đồng kỹ thuật sư đoàn gồm
9 đồng chí do Phó tư lệnh sư đoàn Nguyễn Điện làm chủ tịch và trưởng phòng kỹ thuật Hồ Ngọc
Châu làm phó chủ tịch. Cũng trong quyết định này, các trung đoàn tên lửa, pháo phòng không được
thành lập hội đồng kỹ thuật do các đồng chí trung đoàn phó làm chủ tịch, các đồng chí trưởng ban kỹ
thuật làm phó chủ tịch. Việc thành lập hội đồng kỹ thuật của sư đoàn và các trung đoàn là bước phát
triển mới về tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng bảo đảm kỹ thuật phục vụ
sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện ở các đơn vị.
Đồng thời với việc tổ chức thực hiện kế hoạch huấn luyện cho các cơ quan và đơn vị, Bộ
tư lệnh sư đoàn còn mở 105 lớp học ngắn hạn, bồi dưỡng cho 1.593 cán bộ, chiến sĩ; mở các lớp đào
tạo tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng cho các loại pháo, tên lửa, máy chỉ huy, radar và thợ xe hơi ở các
đại đội huấn luyện của các trung đoàn 252, 240, tiểu đoàn huấn luyện và Phòng Hậu cần. Với trách
nhiệm chính trị cao, và có nhiều biện pháp tốt, tiểu đoàn huấn luyện dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn
trưởng Lê Sơn đã tổ chức thành công nhiều lớp học, nhất là các lớp học về khẩu đội trưởng bệ tên lửa
với chất lượng tốt.

Ngày 16 tháng 10 năm 1973, tại Trung đoàn 252, lần đầu tiên kể từ ngày thành lập, Bộ tư
lệnh sư đoàn tổ chức hội thao quy mô lớn về kỹ thuật và chiến thuật cho bộ đội tên lửa và pháo phòng
không. Dự hội thao có đông đủ các kíp chiến đấu, các thành phần chính yếu của cả 4 trung đoàn 238,
268, 240 và 252. Sau 2 ngày thi đấu, cuộc hội thao thực hiện đúng kế hoạch, đạt mục đích, yêu cầu đề
ra. Nổi bật trong kết quả hội thao là hai Trung đoàn 238 và 240. Trung đoàn 240 được Bộ tư lệnh sư
đoàn tặng cờ thưởng luân lưu "Trung đoàn khá nhất".

Đồng thời với những công việc trên, trong năm 1973, sư đoàn còn hoàn thành tốt nhiệm vụ
tổng kết cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai; giải quyết hậu quả sau chiến tranh như thu hồi
vũ khí, khí tài, xe cộ ở 2 khu vực Lạng Sơn và Hải Phòng về các khu vực theo quy định của Quân
chủng, giải quyết khí tài bị địch đánh phá cho các đại đội 516, 511 và các tiểu đoàn 82, 39…; triển
khai thực hiện tết kế hoạch chống bão lụt; xây dựng doanh trại, trận địa tập trung, thống nhất để rèn
luyện tác phong chính quy và từng bước cải thiện đời sống tinh thần, vật chất cho bộ đội; bổ sung
quân cho chiến trường và xây dựng các đơn vị bạn được 427 đồng chí trong đó có 123 sĩ quan…

Với những cố gắng vượt bậc và kết quả trên, Sư đoàn 363 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm
1973.

Đầu năm 1974, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 3 được tiến hành trọng thể. Đại
hội nhất trí nhất định: "Trong ba năm qua, Đảng bộ ta đã lãnh đạo sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ chiến
đấu và xây dựng, đánh thắng địch trong mọi tình huống, trên mọi địa bàn hoạt động, hiệu suất chiến
đấu ngày càng cao; bộ đội pháo phòng không và tên lửa, đơn vị cũ và đơn vị mới đều lập thành tích;
hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, có nhiều trận đánh đạt hiệu suất cao, cùng quân và dân các địa
phương đánh bại nhiều cuộc tiến công của địch, nhất là 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, góp
phần vào thắng lợi chung của dân tộc".

Đại hội đã đề ra những chủ trương, biện pháp lãnh đạo sư đoàn thường xuyên sẵn sàng
chiến đấu cao, kịp thời đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch vào khu vực Hải Phòng, đẩy
mạnh phong trào thi đua xây dựng trung đoàn giành "ba đỉnh cao quyết thắng" nhằm xây dựng cơ
quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường phía Nam.

Đại hội bầu ra Ban chấp hành Đảng uỷ mới gồm các đồng chí: Đinh Phúc Hải, Chính uỷ sư
đoàn làm bí thư; Đoàn Thuận, Tư lệnh sư đoàn làm phó bí thư; Lê Sơn, Phó chính uỷ làm uỷ viên
thường vụ; Đinh Công Khẩn; Đào Công Thận, Tạ Lương Bội, Phạm Duy Kính, Mai Đức Hoạt, Lê
Đình Thỉnh làm uỷ viên. Một thời gian sau, đồng chí Nguyễn Thước, Phó chính uỷ sư đoàn được
Đảng uỷ Quân chủng chỉ định bổ sung vào Đảng uỷ sư đoàn.
Thực hiện nhiệm vụ Quân chủng giao và nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ, Bộ tư lệnh
sư đoàn đã tổ chức triển khai các nhiệm vụ công tác năm 1974.

Chấp hành chỉ thị số 967/TM-QL tháng 4 năm 1974 của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn
tổ chức điều chỉnh lại lực lượng. Trung đoàn 240, hai đại đội 172, 173 tương đối đủ quân số làm
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, biên chế 3 khung đại đội 171, 174, 175, lấy khung đại đội 175 làm
khung huấn luyện pháo 100mm. Trung đoàn 252, tổ chức 3 đại đội 12, 511, 512 làm nhiệm vụ sẵn
sang chiến đấu thường xuyên, biên chế 3 khung các đại 'đội 5 15, 516, 517, lấy khung đại đội 516 làm
khung huấn luyện pháo 57mm.

Hàng tháng sư đoàn thường xuyên duy trì 2 tiểu đoàn tên lửa, 2 đại đội pháo phòng không
làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu liên tục ngày đêm.

Để tăng cường công tác nắm địch, phục vụ chỉ huy chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức
thu mạng tình báo quốc gia B1 và các mạng thông báo phân tán của Trung đoàn radar 293 và các đại
đội 25, 28; tổ chức liên tác thường xuyên với trạm chuyển tiếp ở Yên Tử để thu tình báo các vọng
quan sát mắt ở Bạch Long Vĩ, Long Châu, Đồ Sơn, Ba Lạt, Thuỵ Anh, Bãi Cháy, Cựu Viên và các đơn
vị.

Đồng thời với việc thực hiện nghiêm túc các chế độ chiến đấu, sở chỉ huy các cấp và các
đơn vị thường xuyên, chặt chẽ các chế độ giao, nhận ban ngày, tuần, tháng, quý.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức xây dựng và triển
khai các phương án tác chiến đánh địch trên không, mặt đất, phòng chống bão lụt… Đặc biệt, sư đoàn
đã tổ chức xây dựng và triển khai kế hoạch đánh máy bay trinh sát tầng cao SR-71. Nhiệm vụ này sư
đoàn giao cho Trung đoàn tên lửa 238, trong đó chủ yếu là hai tiểu đoàn 81, 83. Do nhận rõ trách
nhiệm, bộ đội tên lửa đã xác định quyết tâm tết và tích cực huấn luyện, trình độ phát hiện và xử trí,
thao tác đánh loại máy bay SR-71 ngày càng tiến bộ.

Để kết hợp chặt chẽ giữa sẵn sàng chiến đấu với xây dựng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo
và tổ chức cơ động trung đoàn bộ Trung đoàn 268 từ Trịnh Thuỷ về Phương Đông Quảng Ninh, tiểu
đoàn 39 hành quân từ Thuỷ Triều về La Khê, tiểu đoàn 85 từ An Thọ về Chí Linh. Do không có khí
tài, tiểu đoàn 39 được giao nhiệm vụ làm lực lượng dự bị cơ động chiến đấu, trước mắt làm nhiệm vụ
xây dựng cho trung đoàn và sư đoàn. Trên cơ sở đội hình bố trí tập trung, các trung đoàn đã đẩy mạnh
xây dựng về mọi mặt, nhất là công tác huấn luyện, xây dựng chính quy và duy trì chấp hành kỷ luật.

Các mặt công tác bảo đảm, kỹ thuật, hậu cần được lãnh đạo chỉ huy các cấp triển khai đúng
kế hoạch, bảo đảm cho sẵn sang chiến đấu, xây dựng và sinh hoạt của bộ đội. Chấp hành chỉ thị của
quân chủng, từ quý II năm 1974, Bộ tư lệnh sư đoàn đã cắt giảm một phần lương thực của bộ đội để
ủng hộ nhân dân và đẩy mạnh tăng gia sản xuất trồng rau, cấy lúa, chăn nuôi trâu, bò, lợn để duy trì
và cải thiện bữa ăn cho bộ đội.

Nổi bật nhất trong công tác xây dựng của sư đoàn trong năm 1974 là phong trào thi đua
quyết thắng và hoạt động sôi nổi, hiệu quả của đoàn thanh niên. Chấp hành chỉ thị của Quân chủng,
Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức xây dựng Trung đoàn tên lửa 238 thành đơn vị điển hình trong phong
trào thi đua giành 3 đỉnh cao quyết thắng của sư đoàn và toàn Quân chủng. Được sự chỉ đạo, hướng
dẫn của các cơ quan cấp trên, Trung đoàn tên lửa 238 đã xây dựng các chế độ nền nếp sẵn sàng chiến
đấu, rèn luyện chính quy.

Quán triệt nhiệm vụ trên giao, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của sư đoàn, các đồng chí lãnh
đạo, chỉ huy Trung đoàn 238 đã vận dụng sáng tạo 3 đỉnh cao quyết thắng của đại đội 172 trước đây
thành phong trào thi đua giành 3 đỉnh cao quyết thắng của trung đoàn với chỉ tiêu "5 giỏi, 2 nhất, 1
giàu” (5 giỏi là sẵn sàng chiến đấu giỏi, huấn luyện giỏi, quản lý kỹ thuật giỏi, quản lý cơ sở vật chất,
kỹ thuật giỏi; 2 đẹp là đẹp người, đẹp trận địa; 1 giàu là làm giàu cho đơn vị).

Từ lãnh đạo, chỉ huy các cấp đến cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 238 đã nêu cao trách
nhiệm, đoàn kết nhất trí cao, khắc phục nhiều khó khăn, hạn chế, nỗ lực vượt bậc trong rèn luyện,
phấn đấu đạt ba đỉnh cao trên. Qua đó, trung đoàn đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị về
lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng điển hình… Nhiều đơn vị trong sư đoàn và Quân chủng đến tham quan,
học tập kinh nghiệm để vận dụng thực hiện ở đơn vị mình. Cuối năm 1974, trong hội thao quyết thắng
của sư đoàn, Trung đoàn 238 đoạt giải nhất.

Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng năm 1974, vinh dự cho sư đoàn đã có đại đội 172
điển hình toàn quân, nay lại có Trung đoàn tên lửa 238 trở thành đơn vị điển hình trong Quân chủng
và toàn quân với phong trào "5 giỏi, 2 đẹp, 1 giàu”. Do lập được thành tích xuất sắc trên, Trung đoàn
tên lửa 238 đã được nhận cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

Trong phong trào thi đua sôi nổi trên, đoàn viên và thanh niên trong sư đoàn đã thể hiện vai
trò xung kích trên mọi lĩnh vực công tác và là lực lượng hậu bị của Đảng. Vì vậy, Tổng cục Chính trị
đã chọn Sư đoàn 363 làm nơi tổ chức hội nghị thanh niên quyết thắng toàn quân. Trung tướng Lê
Quang Hoà, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Lê Thanh Đạo, Bí thư Trung ương Đoàn
trực tiếp chủ trì hội nghị. Tại hội nghị này, chi đoàn thanh niên 172 đã được công nhận là chi đoàn
xuất sắc nhất toàn quân.

Đầu năm 1975, quân và dân ta liên tiếp mở cuộc Tổng tiến công chiến lược trên chiến
trường miền Nam và đã thu được thắng lợi vô cùng to lớn.

Nắm chắc quy luật bị thất bại nặng nề ở miền Nam, địch sẽ tiến hành chiến tranh phá hoại
miền Bắc, được sự chỉ đạo của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức tiếp nhận Trung đoàn tên
lửa 285 từ đường số 1 Bắc về, triển khai đội hình chiến đấu ở đông bắc Hải Phòng cùng các lực lượng
của sư đoàn sẵn sàng đánh địch bảo vệ thành phố Cảng.

Hàng nghìn lá đơn tình nguyện đi chiến đấu ở chiến trường của tập thể và cá nhân tới tấp
gửi về sư đoàn. Một số cán bộ, chiến sĩ nhận được lệnh đi chiến đấu đã nhanh chóng lên đường với
quyết tâm cao.

Trước tình hình chuyển biến hết sức khẩn trương, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Bộ tư
lệnh sư đoàn đã gấp rút triển khai 6 khung đại đội huấn luyện của các trung đoàn 240, 252 thành các
đơn vị chiến đấu, thành lập Trung đoàn pháo phòng không 264 rồi hành quân vào làm nhiệm vụ ở
Thanh Hoá và tiếp nhận Trung đoàn pháo phòng không 211 của Sư đoàn 365 ở sân bay Thọ Xuân, tổ
chức bộ phận tiền phương để chỉ đạo, chỉ huy 2 trung đoàn 264, 211 bảo vệ khu vực này thay thế cho
Sư đoàn 365 đi làm nhiệm vụ ở tuyến trước.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, từ tháng 5 năm 1975, ngoài nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng ở Hải Phòng trong điều kiện hoà bình, Bộ tư lệnh sư đoàn còn
tổ chức và xây dựng một số đơn vị bổ sung cho chiến trường với tổng quân số 3.193 cán bộ chiến sĩ.

Tháng 9 năm 1975, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức cơ động Trung đoàn tên lửa 285 từ Hải
Phòng vào thành phố Hồ Chí Minh để bàn giao cho Sư đoàn phòng không 367. Với quyết tâm rất cao
và tổ chức chặt chẽ, toàn bộ lực lượng, phương tiện của Trung đoàn 285 đã vượt chặng đường dài
hàng nghìn ki-lô-mét an toàn và triển khai bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh đúng kế hoạch. Cũng trong
thời gian này, sư đoàn còn tổ chức huấn luyện lực lượng tham gia diễu binh, duyệt binh tại Hải Phòng,
Hà Nội trong ngày Quốc khánh 2-9-1975.

Quán triệt Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và nghị quyết của Bộ
Chính trị về công tác quân sự trong tình hình mới, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của quân chủng, từ tháng
10 năm 1975, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức rút gọn lực lượng theo biểu biên chế mới và điều chỉnh lại
đội hình chiến đấu phù hợp với đặc điểm tình hình nhiệm vụ mới. Trung đoàn pháo phòng không 240
ở Tân Dương. Trung đoàn pháo phòng không 252 ở Đoạn Xá. Trung đoàn tên lửa 238 ở sân bay Cát
Bi. Đồng thời sư đoàn còn tiến hành giải quyết chính sách gần 1.000 đồng chí, tiếp nhận và huấn
luyện 4.721 chiến sĩ mới, tổ chức đào tạo 20 lớp hạ sĩ quan, chuyên môn kỹ thuật.

Trải qua một năm làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng, mặc dù tình hình và
nhiệm vụ của sư đoàn luôn biến động và phức tạp, nhưng với quyết tâm cao và cố gắng lớn, toàn thể
cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đã khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ năm 1975, có
nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, một số cơ quan, đơn vị có tiến bộ đáng kể.

Do lập nhiều thành tích xuất sắc trong sẵn sàng chiến đấu và xây dựng, toàn sư đoàn có
hàng trăm tập thể, cá nhân được tặng danh hiệu quyết thắng, chiến sĩ thi đua, bằng khen và giấy khen.
Đặc biệt, Trung đoàn tên lửa 238 được Bộ tư lệnh sư đoàn tặng cờ "Học tập khá nhất", giải thưởng
luân lưu của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

Trải qua hơn 10 năm vừa chiến đấu vừa xây dựng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vĩ
đại của dân tộc, chủ yếu trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của để quốc Mỹ đối với miền Bắc
(1965-1975), được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng;
sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ to lớn của Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng, Bộ tư
lệnh Quân khu Tả Ngạn, Bộ tư lệnh sư đoàn 350, Đoàn công an vũ trang, các cơ quan đơn vị bạn và
nhân dân địa phương; với sự cố gắng vượt bậc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ đội, Sư đoàn
phòng không 363 ngày càng trưởng thành nhanh chóng, vững chắc về mọi mặt, hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ trên giao, trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Trong thời gian trên, sư đoàn đã thường xuyên và chủ yếu chỉ huy các lực lượng đánh địch
bảo vệ thành phố “Trung dũng quyết thắng”, đồng thời tổ chức cơ động một phần lực lượng cơ động
chiến đấu trên các tỉnh Quảng Ninh, Hải Hưng, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Bắc, Bắc Thái, Tuyên
Quang, Thanh Hoá… Toàn sư đoàn đã đánh hang nghìn trận, bắn rơi 381 máy bay Mỹ, gồm 12 kiểu
loại, có 12 máy bay chiến lược B-52, 82 chiếc rơi tại chỗ.
Với kết quả chiến đấu trên, sư đoàn thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong các lực
lượng phòng không ba thứ quân, cùng quân dân thành phố Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh đánh
thắng cuộc chiến tranh phá hoại của địch trên địa bàn để bảo vệ yếu địa ven biển, giao thông vận
chuyển chiến lược trên tuyến đường số 5 và nhiều mục tiêu trọng yếu trong khu vực, tích cực góp
phần cùng quân dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Do lập nhiều chiến công, thành tích trong chiến đấu và xây dựng, trong hơn 10 năm qua, sư
đoàn đã được nhận những phần thưởng cao quý: Sư đoàn 363, bốn trung đoàn (591, 240, 238, 285),
hai tiểu đoàn (73, 81), đại đội 172 và các đồng chí Bùi Xuân Chiến, Ngô Văn Tác, Đặng Minh Chức,
Kiều Thanh Tịnh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 11 huân chương Quân
công, 1.011 huân chương các loại cho tập thể và cá nhân; 7 lần được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ
tịch Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa; Bộ tư lệnh Quân chủng trao cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch Tôn
Đức Thắng cho Trung đoàn tên lửa 238 năm 1974; từ năm 1967 đến năm 1974, Bộ tư lệnh sư đoàn
tám lần trao cờ thi đua quyết thắng cho các trung đoàn 252, 240, 285, 267, 238; toàn sư đoàn có 195
đơn vị và 264 chiến sĩ dạt danh hiệu quyết thắng, 2.776 chiến sĩ thi đua và 20.680 bằng khen, giấy
khen.

Đây là giai đoạn lịch sử vô cùng oanh liệt, hào hùng, với rất nhiều chiến công, thành tích
và phần thưởng cao quý, làm rạng rỡ những trang sử vàng của Sư đoàn phòng không 363.

Chương 4.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐƠN VỊ ANH HÙNG, KHÔNG NGỪNG XÂY DỰNG
SƯ ĐOÀN VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN, HOÀN THÀNH TỐT MỌI NHIỆM VỤ (1976 - 1986)

Sau thắng lợi vĩ đại mùa Xuân năm 1975, Tổ quốc ta hoàn toàn thống nhất, nhân dân ta
được độc lập, tự do, cả nước tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh và dựng xây chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương,
Bộ Quốc phòng, Đảng uỷ Quân chủng Phòng không - Không quân xác định nhiệm vụ của Quân
chủng là xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, từng bước hoàn chỉnh, đồng bộ, cân
đối, có sức tấn công mạnh, có khả năng bảo vệ vững chắc không phận Tổ quốc.

Quán triệt đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng uỷ
Sư đoàn phòng không 363 đã tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện 4 nhiệm vụ: Sẵn sàng chiến đấu tốt
rèn luyện kỷ luật nghiêm, thu hồi và bảo quản tết cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng đơn vị cơ sở vững
mạnh toàn diện.

Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đầu năm 1976, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức giải thể
Trung đoàn tên lửa 247, bàn giao khí tài cho Trung đoàn tên lửa 238; giải thể Trung đoàn tên lửa 268,
thành lập đội bảo quản 78; giải thể Trung đoàn pháo phòng không 211; tiếp nhận Trung đoàn tên lửa
257 từ Sư đoàn 36 1 và chuyển đơn vị sang làm nhiệm vụ niêm cất, bảo quản vũ khí, khí tài; xây dựng
Trung đoàn 240 thành đơn vị điển hình làm nhiệm vụ thu hồi, bảo quản định kỳ vũ khí, khí tài. Như
vậy lực lượng sẵn sàng chiến đấu thường xuyên của sư đoàn gồm Trung đoàn tên lửa 238 và một bộ
phận lực lượng của các trung đoàn pháo phòng không 252, 240. Ngoài các phân đội tên lửa, pháo
phòng không luân phiên nhau làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu, các phân đội còn lại đều
được tập trung về các điểm quy định để huấn luyện, xây dựng và lao động sản xuất.

Để xây dựng các đơn vị vững mạnh toàn diện, sư đoàn tiếp tục xây dựng Trung đoàn tên
lửa 238 làm đơn vị điểm toàn diện, rút kinh nghiệm để chỉ đạo các đơn vị và phát động phong trào thi
đua học tập, đuổi kịp và vượt Trung đoàn 238.

Chấp hành Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và nghị quyết của Đảng
uỷ Quân chủng, ngày 1 tháng 5 năm 1976, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết chuyên đề về làm nhiệm vụ
kinh tế. Căn cứ vào đặc điểm tình hình nhiệm vụ và quán triệt tinh thần chỉ đạo của cấp trên, trên cơ
sở xác định nhiệm vụ xây dựng kinh tế là nhiệm vụ lâu dài, Đảng uỷ sư đoàn chủ trương: Đẩy mạnh
phong trào tiết kiệm toàn diện trong mọi sinh hoạt của đơn vị sản xuất tự túc một phần lương thực,
thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng nhà ở, sẵn sàng giúp dân phòng chống bão lụt trên địa bàn đóng
quân và đưa lực lượng đi đào tạo thành lực lượng lao động có chuyên môn, có kỷ luật đạt năng suất,
chất lượng cao.

Thực hiện nghị quyết trên, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức ban chỉ đạo tăng gia của sư đoàn
và giao nhiệm vụ cho các trung đoàn tổ chức bộ phận tăng gia tại chỗ. Cán bộ, chiến sĩ đều nhận rõ
trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, tích cực tham gia lao động sản xuất đem lại hiệu quả thiết thực.
Các bộ phận tăng gia của các đơn vị thường xuyên hiệp đồng chặt chẽ với địa phương, chẳng quản
nắng mưa chăm sóc lúa, khoai, khai thác than, tre, nứa và đóng gạch, ngói để cải thiện nơi ăn, ở của
bộ đội. Chỉ tính riêng trong quý I năm 1976, toàn sư đoàn đã cấy được 105 sào lúa, trồng được 48 sào
khoai và 35 sào rau xanh; thu hoạch được 7.634 kg thịt, 1.012 kg cá và sản xuất được 14 vạn viên
gạch.

Từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 6 năm 1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn được tiến
hành trọng thể tại hội trường 44 ở An Dương. Đây là đại hội đầu tiên xác định phương hướng lãnh
đạo sư đoàn thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới nhằm thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược của quân đội.

Đại hội nhận định: "Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng hơn 2 năm qua, Đảng bộ sư
đoàn đã lãnh đạo các đơn vị đoàn kết nhất trí, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tết các nhiệm vụ,
trong đó có một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội đại biểu
Đảng bộ sư đoàn lần thứ 3, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc, đồng thời xây dựng
sư đoàn trưởng thành, tiến bộ lên một bước mới".

Quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, nhiệm vụ của Quân chủng giao, đại hội đã đề ra
nhiệm vụ trong nhiệm kỳ mới là "Ra sức xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng chính
quy hiện đại, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao và chiến đấu giỏi, bảo vệ vững chắc thành phố cảng
Hải Phòng và khu mỏ Quảng Ninh, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về xây
dựng kinh tế, góp phần đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội".

Đại hội đã ra lời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ đoàn kết nhất trí, nỗ lực vượt bậc, ra sức
phát huy ưu điểm, nhanh chóng khắc phục khuyết điểm, nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết của đại
hội, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, liên tục và vững chắc về mọi mặt, xây dựng sư đoàn chính quy,
hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ mới gồm 11 đồng chí do đồng chí thượng tá Đinh
Phúc Hải, Chính uỷ sư đoàn làm bí thư.

Tháng 8 năm 1976, Bộ tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho hai trung đoàn 238, 252 làm đột
phá một số nội dung cho lớp tập huấn cán bộ quân sự toàn Quân chủng thăm quan. Do đã có nền nếp
xây dựng tết và với trách nhiệm chính trị cao, cả hai đơn vị đều làm tốt các chế độ trực ban sẵn sàng
chiến đấu và xây dựng chính quy, được Bộ tư lệnh Quân chủng đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cũng trong thời gian này, sư đoàn tổ chức thực hiện nhiệm vụ đột xuất tham gia giải toả
cảng Hải Phòng. Do được giáo dục và tổ chức tốt, trong 2 tháng lao động vất vả, lực lượng tham gia
giải toả cảng đã vận chuyển được 9.000 tấn hàng an toàn, đúng kế hoạch trên giao, hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Ngày 20 tháng 10 năm 1976, Sư đoàn phòng không 363 được Quốc hội, Chủ tịch nước và
Hội đồng Chính phủ tuyên dương công trạng và tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân. Trước vinh dự lớn và trách nhiệm nặng nề này, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức đợt
sinh hoạt chính trị "Phát huy truyền thống anh hùng, nhận rõ vinh dự và trách nhiệm, phấn đấu hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới". Tiếp đó Bộ tư lệnh phát động đợt thi đua
hành động cách mạng "Tô thắm truyền thống anh hùng". Với khí thế phấn khởi, sôi nổi và quyết tâm
cao, hàng loạt công trình mới lần lượt hoàn thành. Trung đoàn 240 làm xong khu nhà huấn luyện tập
trung. Trung đoàn 252 khánh thành khu nhà xe và công trình trận địa "Kỹ thuật 5 tốt". Trung đoàn 238
hoàn thành khu nhà vòm lớn làm bằng khung thép và lớp hơn 2.000 tấm tôn để bảo quản khí tài.
Trung đoàn 257 tu sửa xong hệ thống công sự trận địa. Trạm kỹ thuật sư đoàn sản xuất được máy tuốt
lúa phục vụ cho tăng gia sản xuất… Những công trình trên là kết quả hành động cách mạng của cán
bộ, chiến sĩ, lập thành tích thiết thực chào mừng sư đoàn vừa được nhận phần thưởng cao quý và chào
mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV vào cuối năm 1976.

Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức lễ trọng thể đón nhận danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân tại Nhà hát lớn của thành phố Hải Phòng. Tới dự lễ có đại biểu Đảng, Uỷ ban nhân dân
Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, các cơ quan đơn vị bạn và hơn 400 cán bộ, chiến sĩ. Đại tá Vũ
Trọng Cảnh, Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phòng không- Không quân đọc lời tuyên dương của
Quốc hội. Tiếp đó, đại tá Trần Thanh Từ, Phó tư lệnh Quân khu 3, gắn huy hiệu Anh hùng lên lá cờ
quyết thắng của sư đoàn. Thay mặt cán bộ, chiến sĩ, Chính uỷ sư đoàn Đinh Phúc Hải đọc lời tuyên
thệ, trong đó nhấn mạnh: "Nguyện mãi mãi gương cao lá cờ quyết chiến, quyết thắng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, kiên quyết giữ vững và tô thắm truyền thống anh hùng của sư đoàn, phấn đấu cho lý tưởng
cao đẹp là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo
gương Bác Hồ vĩ đại xứng đáng với sự tin yêu của Đảng và nhân dân. Nguyện sẵn sàng nhận và hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới. Tất cả vì sự nghiệp bảo vệ bầu trời của Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa!".

Trước cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc, tháng 5 năm 1977, Đảng uỷ ra
nghị quyết, lãnh đạo sư đoàn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, thường xuyên
sẵn sàng chiến đấu cao, xây dựng tốt, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Thực hiện nghị quyết trên, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức cơ động tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên
lửa 238 và các đại đội của Trung đoàn pháo phòng không 252 về trận địa cơ bản để làm nhiệm vụ trực
ban sẵn sàng chiến đấu. Do quán triệt tốt tình hình nhiệm vụ, các đơn vị đều thực hiện được 5 yêu cầu
của Quân chủng là triển khai đúng thời gian, đủ quân số, vũ khí khí tài tết, tổ chức lãnh đạo chỉ huy
chặt chẽ và bảo đảm tết đời sống bộ đội ở trận địa. Những kinh nghiệm hay về cơ động, triển khai lực
lượng, chuẩn bị và thực hành sẵn sàng chiến đấu của hai đơn vị được Bộ tư lệnh sư đoàn phổ biến kịp
thời cho các đơn vị.

Thực hiện sắc lệnh số 34/LCT ngày 16 tháng 5 năm 1977 của Chủ tịch nước Tôn Đức
Thắng, Quân chủng Phòng không - Không quân được tách thành Quân chủng Phòng không và Quân
chủng Không quân. Quân chủng Phòng không do đại tá Hoàng Văn Khánh làm tư lệnh, đại tá Nguyễn
Xuân Mậu làm chính uỷ. Theo quyết định của trên, Sư đoàn phòng không 363 thuộc Quân chủng
Phòng không.

Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Bộ tư lệnh sư đoàn bàn giao khung Trung đoàn 252 và
đại đội chỉ huy cho Quân chủng Không quân, ba đại đội 511, 512, 515 và toàn bộ vũ khí khí tài giao
lại cho Trung đoàn pháo phòng không 240. Trung đoàn 240 được trang bị thống nhất loại pháo 57mm,
mỗi đại đội biên chế 6 khẩu. Hai trung đoàn 240, 238 vừa huấn luyện vừa sẵn sang chiến đấu. Trung
đoàn 257 tiếp tục làm nhiệm vụ bảo quản vũ khí, khí tài Cũng trong thời gian này, toàn sư đoàn triển
khai đợt sinh hoạt chính trị quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, ổn định nơi ăn ở cho
hai trung đoàn 240, 257, động viên chuyển 86 cán bộ trung cấp, sơ cấp đi tăng cường cấp huyện và
triển khai kế hoạch tổng gia sản xuất.

13 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1977, cơn bão số 3 có gió mạnh trên cấp 12 tràn qua toàn bộ
đội hình chiến đấu của sư đoàn làm hơn 1.024 gian nhà các loại sụp đổ, gần 3 vạn mét vuông nhà bị
tốc mái và hư hỏng nặng.

Trước tình hình trên, ngày 22 tháng 7 năm 1977, Đảng uỷ sư đoàn họp phiên bất thường,
đề ra 4 chủ trương lớn: Khẩn trương khôi phục, bảo quản và sửa chữa vũ khí, khí tài, bảo đảm sẵn
sang chiến đấu, nhất là đối với các đơn vị đang làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu; kiểm tra,
bảo quản quản và tăng cường bảo vệ các kho để vũ khí khí tài; thu hồi và tận dụng các loại vật liệu để
làm nhà tạm cho bộ đội ăn, ở, sinh hoạt; tiếp tục tổ chức sinh hoạt chính trị quán triệt Nghị quyết Đại
hội IV của Đảng, nhanh chóng duy trì các chế độ, nền nếp sẵn sàng chiến đấu và sinh hoạt của bộ đội
trở lại như trước.

Thực hiện chủ trương trên, Bộ tư lệnh sư đoàn cử nhiều đoàn cán bộ cơ quan xuống nắm
tình hình, chỉ đạo và giúp đỡ các đơn vị khắc phục hậu quả cơn bão. Chính uỷ Quân chủng Nguyễn
Xuân Mậu dẫn đầu đoàn cán bộ cơ quan Quân chủng xuống sư đoàn trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị.
Được sự quan tâm trực tiếp chỉ đạo và giúp đỡ trên, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã nỗ lực vượt bậc,
khẩn trương khắc phục hậu quả cơn bão lớn nhất trong 22 năm qua.

Cũng trong thời gian này, thực hiện yêu cầu của lãnh đạo thành phố Hải Phòng, sư đoàn đã
điều động lực lượng Trung đoàn 238 làm nhiệm vụ thu hồi, canh gác bảo vệ hàng hoá của nhà nước ở
sân bay Cát Bi, cử lực lượng Trung đoàn 240 do Chính uỷ Mai Đức Hoạt trực tiếp phụ trách, làm
nhiệm vụ khôi phục đường dây điện cao thế qua sông Cấm bị đứt. Với trách nhiệm cao và cố gắng
vượt bậc, cả hai lực lượng trên đều hoàn thành tết nhiệm vụ, Trung đoàn 240 được Uỷ ban nhân dân
thành phố Hải Phòng tặng bằng khen và vật kỷ niệm.

Từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 8 năm 1977, Đảng uỷ sư đoàn họp phiên mở rộng đến các
đồng chí phó tư lệnh, thủ trưởng các cơ quan và chính uỷ các trung đoàn, ra nghị quyết lãnh đạo xây
dựng sư đoàn trong 3 năm tới (1977- 1980). Căn cứ vào các nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp
trên và đặc điểm tình hình nhiệm vụ của sư đoàn, Đảng uỷ quyết nghị: Phát huy cao độ vai trò lãnh
đạo các tổ chức Đảng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, tinh thần làm chủ của cán bộ chiến
sĩ, trình độ tổ chức, quản lý và điều hành của thủ trưởng các cấp; phát huy truyền thống anh hùng, ra
sức xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, bảo đảm sư
đoàn thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Tại hội nghị này, Đảng uỷ đã đề ra 5 chỉ tiêu cụ thể về sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị
cơ sở vững mạnh toàn diện, quản lý vũ khí khí tài lao động sản xuất, xây dựng lực lượng phòng không
địa phương và quyết định xây dựng 5 công trình trọng điểm, mở đầu trong kế hoạch 3 năm tới là xây
dựng cơ bản trận địa tên lửa ở Minh Kha, trận địa pháo phòng không ở Bến Bính, khu kho Trịnh
Hưởng, bệnh xá và trạm kỹ thuật sư đoàn. Ngoài 5 công trình trên, ở khu vực sư đoàn bộ tiến hành
xây dựng khu văn hoá liên hoàn và tập trung. Đảng uỷ còn đề ra phương châm xây dựng là vững chắc,
đẹp, sử dụng được lâu, bền; thứ tự ưu tiên theo trình tự nhà kho, trận địa cơ bản, bệnh xá, trạm kỹ
thuật, nhà ở.

Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1977, hội nghị cán bộ quân chính sư đoàn đã quán
triệt và bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ và kế hoạch của Bộ tư lệnh sư đoàn. Tiếp đó
các cơ quan, đơn vị phát huy dân chủ, hiến kế thực hiện kế hoạch của sư đoàn và đơn vị. Hàng loạt
những màu thiết kế, phương án thi công, dự toán công trình được bộ đội tham gia ý kiến bổ sung hoàn
chỉnh.

Ban chỉ huy trung tâm điều hành của sư đoàn được tổ chức do thượng tá Đinh Phúc Hải,
Chính uỷ kiêm Tư lệnh và trung tá Đinh Công Khẩn, Phó tư lệnh sư đoàn phụ trách; các đồng chí chủ
nhiệm các phòng và các trưởng ban doanh trại, tài vụ, công binh là uỷ viên. Ở các trung đoàn và
phòng cũng thành lập ban chỉ huy công trường do người chỉ huy cao nhất phụ trách. Ban chỉ huy công
trường xây dựng khu sư đoàn bộ do trung tá Ngô Huynh, tham mưu phó sư đoàn làm chỉ huy trưởng
và thiếu tá Mai Đức Hoạt, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn phụ trách công tác chính trị cùng với 5 cán
bộ giúp việc về kỹ thuật, vật tư, thi công và tài chính.

Ngày 26 tháng 9 năm 1977, đồng chí Chính uỷ kiêm Tư lệnh sư đoàn cùng với đồng chí Bí
thư Huyện uỷ huyện Thuỷ Nguyên bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công xây dựng trận địa pháo phòng
không cơ bản ở Bến Bính. Hơn 500 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 240 do Trung đoàn trưởng Phạm Văn
Biểu và Phó chính uỷ Đinh Văn Quang chỉ huy cùng với thanh niên, dân quân, các cháu học sinh và
hội mẹ chiến sĩ các xã Tân Dương, Hoa Động đã sôi nổi lao động trong ngày đầu tiên trên công
trường.

Ngày 6 tháng 11 năm 1977, đồng chí thủ trưởng sư đoàn cùng với các đồng chí lãnh đạo
huyện An Hải, xã Đồng Thái và thủ trưởng Trung đoàn tên lửa 238 đặt những viên gạch đầu tiên xây
dựng nhà truyền thống và trận địa tên lửa cơ bản ở Minh Kha. Đây là trận địa mà các lực lượng tên
lửa của sư đoàn đã bắn rơi 28 máy bay Mỹ, trong đó có chiếc B-52 bị bắn rơi đầu tiên ở Hải Phòng và
có nhiều kỷ niệm sâu sắc về tình nghĩa quân dân. Tự hào về truyền thống vẻ vang của trận địa này,
500 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 238 do Trung đoàn trưởng Đoàn Mạnh Dũng và Chính uỷ Nguyễn
Văn Vỹ trực tiếp chỉ huy cùng với dân quân, thanh niên, học sinh địa phương đã thi đua lao động,
mang hết sức mình đóng góp vào việc xây dựng công trình. Nhân dân địa phương sẵn sàng di chuyển
nhà ở cách xa đường dây điện cao thế, tạo điều kiện cho bộ đội thực hiện đúng tiến độ trên công
trường.

Từ tháng 9 đến tháng 11, các công trình xây dựng khu kho Trịnh Hưởng, bệnh xá, trạm kỹ
thuật và khu văn hoá ở sư đoàn bộ cũng lần lượt được khởi công.

Chấp hành mệnh lệnh ngày 3 tháng 10 năm 1977 của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn tổ chức
tiếp nhận Trung đoàn pháo phòng không 591 từ Sư đoàn 367, cơ động ra Dốc Đỏ, Quảng Ninh chuyển
nhiệm vụ thành trường đào tạo hạ sĩ quan của Quân chủng phòng không. Trong buổi khai mạc khoá
đào tạo đầu tiên, đồng chí tham mưu phó sư đoàn đã giao nhiệm vụ và động viên cán bộ, học viên
phát huy truyền thống vẻ vang của sư đoàn anh hùng, nêu cao tinh thần học tập, rèn luyện để đạt kết
quả cao trong học tập. Thực hiện chỉ thị tháng 10 năm 1977 của Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn, toàn sư
đoàn thực sự trở thành công trường lớn, tranh thủ thùa khô, chớp lấy thời cơ sản xuất nhiều vật liệu
xây dựng, đẩy nhanh tiến độ thi công trên các công trường. Bộ tư lệnh sư đoàn và các đơn vị đã mạnh
dạn đầu tư nhân lực, máy móc hoặc phát huy sáng kiến khắc phục khó khăn nâng cao chất lượng và
đẩy nhanh tiến độ thi công. Trung đoàn 240 tự mua máy làm gạch có công suất 800 viên giờ. Trung
đoàn 238 dùng gạch đổi lấy vôi và xi măng để khắc phục khó khăn về thiếu vật liệu. Nhận rõ tính chất
quy mô, phức tạp trong việc xây dựng trận địa tên lửa, Bộ tư lệnh sư đoàn tăng cường cho Trung đoàn
238 hai trăm chiến sĩ mới để xây dựng công trình trận địa ở Minh Kha. Các đồng chí thủ trưởng sư
đoàn và cơ quan luân phiên nhau dẫn đầu đoàn cán bộ xuống kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc giúp đỡ các
công trường. Bộ tư lệnh sư đoàn còn tổ chức phổ biến kinh nghiệm tổ chức điều hành của các trung
đoàn 240, 238 cho các đơn vị.

Với quyết tâm cao, cố gắng vượt bậc và tổ chức chặt chẽ, lại được sự quan tâm giúp đỡ tận
tình, to lớn và quý báu của lãnh đạo thành phố, các địa phương và công ty xây dựng nhà cửa thành
phố, đến ngày 16 tháng 12 năm 1977 cả 5 công trình trọng điểm đã hoàn thành. Trong quá trình xây
dựng 5 công trình trên, sư đoàn đã sử dụng 44.341 ngày công của bộ đội, 15.290 công thợ, 2.936 ngày
công của nhân dân địa phương; đã đào đáp được 27.013 m3 đất đá, vận chuyển 3.157 chuyến xe; sử
dụng 161 tấn xi măng, 1162 tấn vôi, 2.964 m3 cát, 2.259.343 viên gạch, 1.645 kg dây thép, 2.776 tấm
ghi sắt, 155 vì kèo thép, 257 cột bê-tông, 2.748 cây róc, 1.800 m2 cót ép, 57 tấn xỉ than, 4.466 m ống
dẫn nước và 210 kg sơn. Trên 5 công trình đó đã xây dựng được 5.385 m2 nhà lâu bền, 753 m2 nhà
quá độ, 253 m2 nhà tạm, 612 m2 nhà kho được xây dựng cơ bản; 2.3 12 m2 nhà quá độ và tạm thời,
94 m2 nhà sở chỉ huy, 252 m2 nhà khác, 86 m3 bể chứa nước, 4.466 m ống dẫn nước và xây dựng 1
trạm biến thế điện 50 KVA.

Việc xây dựng 5 công trình trọng điểm là kết quả của sự chủ động, sáng tạo, tinh thần khắc
phục khó khăn, tự lực tự cường, ý thức làm chủ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, trước hết là của Đảng
uỷ Bộ tư lệnh sư đoàn và bộ đội, được kế thừa, phát huy từ các phong trào thi đua quyết thắng giành
"3 đỉnh cao", "5 đỉnh cao" và "5 giỏi, 2 đẹp, 1 giàu” của sư đoàn, dưới ánh sang Nghị quyết Đại hội
lần thứ IV của Đảng. Năm công trình trên còn là sản phẩm của tình đoàn kết quân dân nhằm bảo tồn
những địa danh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc trên địa bàn
Hải Phòng, kịp thời đáp ứng yêu cầu xây dựng sư đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại,
giải quyết những khó khăn, thiếu thơn, ổn định, nâng dần đời sống vật chất và tinh thần của bộ đội.

Ngày 19 tháng 12 năm 1977, Đại hội thi đua quyết thắng được tiến hành trọng thể tại hội
trường sư đoàn. Các đồng chí tá Hoàng Văn Khánh, Nguyễn Xuân Mậu, Tư lệnh và Chính uỷ Quân
chủng; đồng chí Phó tư lệnh Quân khu 3, đại biểu Sư đoàn 350, cơ quan, sư đoàn, nhà trường của
Quân chủng; các đại biểu của huyện uỷ, uỷ ban hành chính các huyện An Hải, Thuỷ Nguyên, các
phóng viên báo quân đội, Quân chủng và Hải Phòng đến dự. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh, thủ
trưởng quân chính các phòng, trung đoàn và đại biểu các đơn vị, cá nhân anh hùng, chiến sĩ quyết
thắng, chiến sĩ thi đua trong toàn sư đoàn có mặt đông đủ.

Đại hội đã nghe báo cáo tổng kết phong trào thi đua quyết thắng của sư đoàn, 16 báo cáo
của tập thể và cá nhân điển hình trong năm 1977.

Phát biểu trước đại hội, đồng chí Tư lệnh Quân chủng nhấn mạnh: Sư đoàn 363 có những
đặc điểm cơ bản như nhiều đơn vị khác trong Quân chủng, nhưng đã bị cơn bão số 3 tàn phá rất nặng
nề, tưởng chừng khó có thể khắc phục được. Song tập thể, cán bộ chiến sĩ sư đoàn đã đoàn kết nhất trí
vượt qua mọi khó khăn thử thách, thực hiện tết việc xây dựng 5 công trình trọng điểm, bước đầu thực
hiện tết Nghị quyết Đại hội lán thứ IV của Đảng và 6 nhiệm vụ do Quân chủng đề ra. Các đơn vị
trong toàn quân chủng cần nghiên cứu và vận dụng những kinh nghiệm thành công của Sư đoàn 363.

Tiếp đó, các đại biểu của đại hội lần lượt đi tham quan 5 công trình trọng điểm của sư
đoàn. 14 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1977, khi đoàn đại biểu đến tham quan trận địa Minh Kha của
Trung đoàn tên lửa 238, đồng chí Tư lệnh Quân chủng đã cắt băng khánh thành công trình trọng điểm
này. Cũng tại đây, Bộ tư lệnh sư đoàn chính thức công bố đưa 5 công trình trọng điểm vào sử dụng
giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt của các đại biểu và cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 238.

Do lập được nhiều thành tích trong phong trào thi đua quyết thắng năm 1977, Sư đoàn
phòng không 363 được công nhận là lá cờ đầu của Quân chủng Phòng không, Trung đoàn pháo phòng
không 240 được nhận cờ thưởng luân lưu "Thi đua quyết thắng" của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.
Đây là trung đoàn thứ hai của sư đoàn được nhận phần thưởng cao quý này.

Đầu năm 1978, tình hình biên giới phía Bắc của Tổ quốc có những diễn biến căng thẳng,
phức tạp.

Chấp hành mệnh lệnh ngày 10 tháng 1 năm 1978 của Tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh sư
đoàn tổ chức các sở chỉ huy trung đoàn gọn cùng với một số phân đội tên lửa, pháo phòng không cơ
động theo trục đường số 5 và đường số 18 lên triển khai đội hình chiến đấu tại Phả Lại, Bắc Ninh. Do
xác định rõ trách nhiệm, các lực lượng trên đã thực hiện đúng kế hoạch, bảo đảm an toàn và khẩn
trương sẵn sàng chiến đấu theo ý định tác chiến của Quân chủng.

Ngày 18 tháng 3 năm 1978, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng đến thăm
và kiểm tra tình hình sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn. Cùng đi với Đại tướng có Tư lệnh Quân chủng
Hoàng Văn Khánh. Tại Trung đoàn tên lửa 238, trung tá Đinh Công Khẩn, quyền Tư lệnh sư đoàn đã
báo cáo đồng chí Tổng tham mưu trưởng toàn bộ tình hình biên chế, tổ chức, chất lượng vũ khí khí tài
và việc thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn. Tiếp đó, đồng chí Đại tướng đã đi kiểm
tra tình hình sẵn sàng chiến đấu một số đơn vị, thăm các trận địa Minh Kha, Bến Bính và khu kho
Trịnh Hưởng.

Khi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 238 ở trận địa Minh Kha, đồng chí
Tổng tham mưu trưởng đã biểu dương sư đoàn chấp hành nghiêm chỉnh nhiệm vụ trực ban sẵn sàng
chiến đấu, đạt 5 yêu cầu của Quân chủng và biểu dương những cố gắng của sư đoàn trong xây dựng
các trận địa cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng vững chắc, lâu dài.

Chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của Tư lệnh Quân chủng, ngày 27 tháng 6, Thường vụ
Đảng uỷ sư đoàn họp phiên bất thường, đề ra các nhiệm vụ trọng tâm: triển khai toàn bộ lực lượng
làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến sĩ mới bổ sung cho các đơn vị, chuẩn bị công sự
nguỵ trang và bảo đảm đời sống của bộ đội, nhất là các đơn vị mới triển khai sẵn sàng chiến đấu.

Thực hiện các nhiệm vụ trên, đồng chí quyền Tư lệnh sư đoàn đã tổ chức xây dựng và triển
khai kế hoạch tác chiến mới.

Trung đoàn tên lửa 257 chuyển nhiệm vụ từ bảo quản vũ khí, khí tài sang làm nhiệm vụ
chiến đấu, cơ động toàn bộ trung đoàn từ Đoạn Xá về Trịnh Hưởng, các tiểu đoàn hoả lực triển khai
đội hình chiến đấu ở phía bắc cảng.Trung đoàn tên lửa 238 chuyển toàn bộ 4 tiểu đoàn hoả lực và tiểu
đoàn kỹ thuật ra trận địa làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu bảo vệ khu công nghiệp phía tây
Hải Phòng và khu quân sự Kiến An.

Trung đoàn pháo phòng không 240 chuyển 5 đại đội làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tổ
chức đại đội 515 làm nhiệm vụ bảo vệ cảng Hải Phòng.

Trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Điện, quyền Tư lệnh sư đoàn và đồng chí Đinh Phúc
Hải, Chính uỷ sư đoàn được cấp trên điều đi nhận nhiệm vụ mới. Bộ tư lệnh sư đoàn gồm có các đồng
chí: Đinh Công Khẩn, quyền Tư lệnh; Lương Hữu Chung, Phó chính uỷ sư đoàn; Nguyễn Văn
Nghiên, Phó tư lệnh - Tham mưu trưởng, Phạm Văn Biểu, Phó tư lệnh - Chủ nhiệm hậu cần; Đào
Công Thận, Nguyễn Văn Pháp đều giữ chức phó tư lệnh.

Thực hiện quyết định số 562/QL ngày 15 tháng 7 năm 1978 của Bộ tư lệnh Quân chủng
Phòng không, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức khôi phục Trung đoàn pháo phòng không 218 gồm có 3 tiểu
đoàn 24, 25, 26; mỗi tiểu đoàn có 2 đại đội pháo 57mm (mỗi đại đội có 6 khẩu) có khí tài và 1 đại đội
4 khẩu pháo 37mm 2 nòng. Đến ngày 21 tháng 8 năm 1978, Bộ tư lệnh Phòng không ra quyết định số
736/QL, thay đổi phiên hiệu Trung đoàn pháo phòng không 218 bằng phiên hiệu Trung đoàn pháo
phòng không 591 anh hùng. Các tiểu đoàn 24, 25, 26 được đổi thành các tiểu đoàn 30, 31, 32. Trung
đoàn 591 do đồng chí Hà Minh Tứ làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguỵ Xuân Phương làm chính
uỷ. Ngay sau khi tiếp nhận chiến sĩ mới và vũ khí, khí tài, toàn trung đoàn tập trung huấn luyện ở
Đoạn Xá.

Toàn sư đoàn khẩn trương chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến tích cực
chuẩn bị chiến đấu và huấn luyện để thực hiện quyết tâm của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn là "Tất
cả cho đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục, đánh tiêu diệt lớn máy bay, diệt và bắt sống nhiều
giặc lái; càng đánh càng mạnh và trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; vừa chiến đấu thắng lợi vừa
xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đồng đều và vững chắc".

Thực hiện quyết tâm trên, ở các đơn vị, ban ngày bộ đội tiến hành huấn luyện theo kế
hoạch, ban đêm cùng với nhân dân địa phương đào đắp công sự, xây dựng trận địa. Trong huấn luyện,
bộ đội tranh thủ thời gian miệt mài học tập với tinh thần “thời gian là sức mạnh, là lực lượng" và thực
hiện theo phương châm "cơ bản, ứng dụng, thực sự, thực tế, sát yêu cầu chiến đấu”. Cán bộ các cơ
quan sư đoàn, trung đoàn thường xuyên sâu sát nắm tình hình, chỉ đạo giúp đỡ đơn vị chuẩn bị chiến
đấu, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và bảo đảm kỹ thuật, hậu cần.

Sau 2 tháng huấn luyện 1.000 chiến sĩ mới, Bộ tư lệnh sư đoàn bổ sung quân số cho các
đơn vị và triển khai toàn bộ lực lượng làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trước ngày 15 tháng 10, thực
hiện nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Quân chủng giao cho. Trung đoàn 591 làm nhiệm vụ bảo vệ cảng
Chùa Vẽ, sân bay Kiến An. Tiểu đoàn 31 Trung đoàn 591 phối thuộc với Trung đoàn 240 làm nhiệm
vụ bảo vệ nhà máy điện Uông Bí. Trung đoàn tên lửa 257 làm nhiệm vụ bảo vệ phía bắc Hải Phòng.
Trung đoàn tên lửa 238 và hai trung đoàn 240, 591 làm nhiệm vụ bảo vệ thành phố Hải Phòng và nhà
máy điện Uông Bí.

Trong 2 ngày 21 và 22 tháng 11, sư đoàn tổ chức hội thao huấn luyện năm 1978. Kết quả
toàn sư đoàn có 718 tiểu đoàn hoả lực tên lửa, 10/10 đại đội pháo đạt tiêu chuẩn đi bắn đạn thật, hai
tiểu đoàn kỹ thuật 80, 85 thực hiện tết quy trình sản xuất đạn, đạt tốc độ 1,22 qủa/giờ. Do đạt kết quả
khá hơn, tiểu đoàn kỹ thuật 80 được Bộ tư lệnh sư đoàn tặng bằng khen. Căn cứ vào kết quả trên, Bộ
tư lệnh sư đoàn quyết định tiểu đoàn 81 Trung đoàn tên lửa 238, tiểu đoàn 79 Trung đoàn tên lửa 257,
đại đội 172 Trung đoàn 240 và đại đội 2 Trung đoàn 591 di bắn đạn thật do Quân chủng tổ chức. Thực
hiện quyết định của Quân chủng, tiểu đoàn 83 và tiểu đoàn kỹ thuật 85 Trung đoàn tên lửa 238 được
làm nhiệm vụ phục vụ ở trường bắn.

Trong thời gian này, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, tiểu đoàn radar 295 được thành lập
ở Hải Phòng, trực thuộc Bộ tư lệnh Binh chủng Radar, phối thuộc chiến đấu với Sư đoàn 363. tiểu
đoàn radar 295 có 4 đại đội do đồng chí Nguyễn Kim Hùng làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn
Kim Chung làm chính trị viên. Đại đội 25 ở Kiến Xương, Thái Bình. Đại đội 58 ở Nghĩa Hưng, Hà
Nam Ninh. Nhiệm vụ của tiểu đoàn 295 là phát hiện địch trên hướng đông, đông bắc, đông nam Hà
Nội, trực tiếp bảo đảm radar cho Sư đoàn phòng không 363 và các lực lượng phòng không trong khu
vực. Đây là bước phát triển mới của lực lượng phòng không ở Hải Phòng, tạo điều kiện cho Sư đoàn
363 hoàn thành tết nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng.

Cuối năm 1978, toàn sư đoàn vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu vừa triển khai nhiệm
vụ đi bắn đạn thật ở Thái Bình và tổ chức cuộc hành hương thăm di tích lịch sử Bạch Đằng để hưởng
ứng đợt giáo dục "Phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm
lược" do Tổng cục Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
phát động. Căn cứ vào đặc điểm tình hình nhiệm vụ, Bộ tư lệnh sư đoàn giao cho đồng chí Lương
Hữu Chung và đồng chí Đào Công Thận trực tiếp tổ chức cuộc hành hương; phân công đồng chí Ngô
Huynh và đồng chí Nguyễn Hữu Hoè tổ chức lực lượng đi bắn đạn thật ở Thái Bình; đồng chí Đinh
Công Khẩn ở nhà trực chỉ huy.

Được sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo và các cơ quan thành phố Hải Phòng, sự hưởng
ứng nhiệt tình của lực lượng vũ trang, tự vệ nhà máy và dân quân, thanh niên các xã trong huyện
Thuỷ Nguyên, ngày 16 tháng 12 năm 1978, sư đoàn tổ chức cuộc hành hương với chủ đề "Bộ đội
phòng không Hải Phòng hành quân đi thăm di tích Bạch Đằng lịch sử”. Ngay sau khi tới bờ sông
Bạch Đằng, đồng chí Trần Đông, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng; đồng chí
Lương Hữu Chung, Phó chính uỷ sư đoàn và đồng chí Bí thư Huyện uỷ huyện Thuỷ Nguyên đã tới
đền thờ vị tướng Trần Quốc Tuấn làm lễ dâng hương, tưởng niệm những vị anh hùng dân tộc Lê
Hoàn, Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đã cùng quân và dân ta ba lần chiến thắng oanh liệt quân xâm
lược trong các thế kỷ X, XIII và trồng cây lưu niệm tại đây.

Tiếp đó, cuộc mít tinh lớn được tổ chức ngay trên bờ song Bạch Đằng lịch sử. Tham gia
mít tinh có đại biểu cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 363; cán bộ, công nhân viên, tự vệ các nhà máy, xí
nghiệp Đất Đèn, Đá Tràng Kênh, xi măng, Đá Minh Đức; các lực lượng vũ trang và' công an huyện
Thuỷ Nguyên; nhân dân các xã Minh Đức Minh Tân, Phục Lễ. Dự cuộc mít tinh có đồng chí Trần
Đông, Bí thư Thành uỷ, đồng chí Đoàn Duy Thành, Phó bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố
Hải Phòng, đại biểu huyện Thuỷ Nguyên, Tổng cục Chính trị và Quân chủng Phòng không cùng một
số phóng viên báo chí, đài phát thanh của Trung ương và địa phương.

Đồng chí Phó chính uỷ sư đoàn đọc diễn văn quan trọng tại buổi lễ, trong đó nhấn mạnh:
"Toàn thể cán bộ, chiến sĩ phòng không Hải Phòng nguyện giữ vững và phát huy truyền thống vẻ
vang của thành phố Cảng "Trung dũng quyết thắng", của Sư đoàn 363 anh hùng, đoàn kết nhất trí cao,
vượt qua mọi khó khăn thử thách, không ngừng xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành
tốt mọi nhiệm vụ, kiên quyết cùng quân và dân địa phương đánh bại mọi hành động xâm lược của kẻ
thù”.

Sau lời phát biểu của đồng chí Phó chính uỷ sư đoàn, đồng chí giám đốc nhà máy đất đèn
Tràng Kênh đề nghị sư đoàn tiếp nhận một đoàn viên thanh niên nhập ngũ để biểu hiện ý chí quyết
tâm của cán bộ công nhân nhà máy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Sau khi nói lên tình cảm và trách
nhiệm của mình trước Tổ quốc bị xâm lăng, ông Lê Vãn An, xã viên hợp tác xã nông nghiệp Minh
Đức đã xin gửi đứa con trai út là Lê Văn Ngọt, 18 tuổi vào sư đoàn góp phần cầm súng đánh giặc.

Thay mặt Bộ tư lệnh sư đoàn, đồng chí Phó chính uỷ đã trao hai bộ quân phục chiến sĩ
phòng không cho hai chiến sĩ mới giữa tiếng hoan hô vang dậy của mọi người.

Thay mặt lãnh đạo thành phố Cảng, đồng chí Trần Đông đã nhiệt liệt biểu dương những
chiến công và thành tích của Sư đoàn 363, nhấn mạnh nhiệm vụ của Đảng bộ, nhân dân và các lực
lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Hải Phòng. Đồng chí đã trao lá cờ truyền thống
"Trung dũng quyết thắng" của thành phố cho Sư đoàn 363, đốt ngọn đuốc truyền thống trước lễ đài và
của các đơn vị, cơ quan, nhà máy xí nghiệp và địa phương. Những ngọn đuốc sáng rực trên bờ sông
Bạch Đằng cùng với khí thế cách mạng sục sôi của hơn một vạn người dự mít tinh là bằng chứng sinh
động biểu thị quyết tâm đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược của quân và dân thành phố lớn thứ hai trên
miền Bắc.
Cuộc hành hương thành công tốt đẹp, được Tổng cục Chính trị và Tư lệnh Quân chủng
Phòng không đánh giá cao. Báo quân đội nhân dân và báo Hải Phòng đều đưa tin đậm và đăng ảnh về
cuộc biểu dương lực lượng này.

Đón đuốc truyền thống Bạch Đằng và lá cờ "Trung dũng quyết thắng" của Thành uỷ Hải
Phòng trao tặng trong đêm 7 tháng 12 năm 1978, các lực lượng bắn đạn thật của sư đoàn ở Thái Bình
rất phấn khởi, quyết tâm cao và hoàn thành tết nhiệm vụ. Hai tiểu đoàn tên lửa 81 và 79 diệt mục tiêu
bằng phương pháp bắn tự động. Đại đội 2 diệt mục tiêu di động. Hai tiểu đoàn 83, 85 hoàn thành
mệnh lệnh của Quân chủng bắn 1 quả đạn diệt mục tiêu bằng phương pháp tự động. Kết quả bắn đạn
thật ở Thái Bình là thành công về lãnh đạo, tổ chức chỉ huy và là kết quả của quá trình học tập rèn
luyện phấn đấu công phu của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn.

Do hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, Trung đoàn 240 được tiếp tục giữ cờ thưởng luân lưu của
Chủ tịch nước. Đây là đơn vị đầu tiên trong sư đoàn 2 năm liền được giữ phần thưởng cao quý này.

Trải qua hơn 3 năm sẵn sàng chiến đấu và xây dựng trong thời bình, Sư đoàn phòng không
363 đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, nổi bật nhất là về huấn luyện, xây dựng chính quy và
các phong trào ở đơn vị cơ sở. Đó chính là lý do để Bộ Quốc phòng và Quân chủng chọn Sư đoàn 363
làm đơn vị đột phá triển khai thực hiện cuộc vận động lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức
mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân" do Ban Bí thư Trung ương Đảng vừa phát động
nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân (22-12-1978).

Tháng 2 năm 1979, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới
phía Bắc của Tổ quốc.

Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân chủng, trước tình hình và yêu cầu nhiệm vụ hết sức
khẩn trương, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn tập trung lãnh đạo, tổ chức tiếp nhận tiểu đoàn radar 295 từ
Bộ tư lệnh Binh chủng Radar về trực thuộc sư đoàn, xây dựng và triển khai phương án tác chiến mới,
chuyển toàn bộ các cơ quan, đơn vị sang thời chiến, chấp hành nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu
cao nhằm thực hiện quyết tâm của sư đoàn là đánh thắng địch ngay từ trận đầu, ngày đầu, trên tuyến
dầu, bằng quả đạn và loạt đạn đầu.

Được quán triệt tình hình đất nước có chiến tranh, lòng yêu nước nồng nàn của cán bộ,
chiến sĩ lại trỗi dậy và trở thành hành động cách mạng cụ thể. Bộ đội chấp hành nghiêm túc các chế
độ trực chiến tuần tra, canh gác và chuẩn bị chiến đấu. Hơn 100 chiến sĩ tình nguyện lên chiến đấu ở
tuyến trước. Sau 3 giờ, 2 đại đội của Trung đoàn 591 hành quân lên tuyến trước làm nhiệm vụ. Các
đơn vị ở tuyến trước như tiểu đoàn 30, các tiểu đoàn tên lửa 78, 79, 84 và các đại đội pháo 58, 172,
171, 1, 3 ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu còn tập trung huấn luyện, bảo đảm đánh thắng trận đầu,
đánh thắng liên tục.

Do yêu cầu nhiệm vụ khẩn trương và nặng nề, lực lượng của sư đoàn liên tục phát triển cả
về số lượng và chất lượng. Thực hiện quyết định số 522/QĐ-QP ngày 29 tháng 4 năm 1979 của Bộ
Quốc phòng và quyết định của Quân chủng, tháng 5 năm 1979, sư đoàn tổ chức thành lập Trung đoàn
pháo phòng không 225 gồm 3 đại đội pháo 57mm, hai đại đội pháo 37mm hai nòng làm nhiệm vụ bảo
vệ nhà máy điện Uông Bí. Chấp hành quyết định số 684/QĐ-QP ngày 27 tháng 6 của Bộ Quốc phòng,
trong tháng 7 năm 1979 sư đoàn tổ chức nâng cấp tiểu đoàn bộ tiểu đoàn radar 295 thành trung đoàn
bộ Trung đoàn radar 295 với 3 đại đội mới là 27, 65, 66. Cũng trong thời gian này, sư đoàn tổ chức
tiếp nhận đại đội 4 tên lửa vác vai A-72 trực thuộc Trung đoàn 240, cơ động Trung đoàn tên lửa 257 ra
Quảng Ninh và bàn giao hai trung đoàn 257, 225 cho Sư đoàn phòng không 369 làm nhiệm vụ bảo vệ
Đặc khu Quảng Ninh. Từ đây, nhiệm vụ của sư đoàn là tập trung bảo vệ thành phố Hải Phòng.

Để tăng cường sức mạnh lãnh đạo trong tình hình mới, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn
lần thứ 5 được triệu tập. Sau khi quán triệt tình hình nhiệm vụ mới, đại hội nhất trí khẳng định: Động
viên cán bộ, chiến sĩ phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đơn vị anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ chiến đấu trong mọi tình huống.

Đại hội. đã bầu ra ban chấp hành Đảng bộ mới gồm các đồng chí Lương Hữu Chung, Đinh
Công Khẩn, Nguyễn Hữu Hoè, Ngô Huynh, Phạm Thế Mạc, Bùi Văn Hoạt, Hà Minh Tứ, Vũ Đình
Hắc, Vũ Khắc Điển, Trần Đình Mụng, Phạm Văn Biểu. Đồng chí Lương Hữu Chung được bầu làm bí
thư Đảng uỷ. Tiếp đó, đồng chí đại tá Hoàng Bát được bổ nhiệm chức sư đoàn trưởng và được bầu
làm phó bí thư đảng uỷ sư đoàn.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng ngày 30 tháng 7 năm 1979, Sư đoàn 363 và
Trung đoàn tên lửa 238 được chọn làm đơn vị thí điểm về triển khai thực hiện chế độ một người chỉ
huy trong quân đội, để rút kinh nghiệm chỉ đạo tổ chức thực hiện trong toàn quân chủng.

Tổng kết năm đầu thực hiện cuộc vận động lớn (12-1978 - 12-1979), toàn sư đoàn có bước
phát triển và chuyển biến tiến bộ vượt bậc về mọi mặt. Sư đoàn chấp hành tốt việc phát triển lực
lượng và bố trí thế trận tác chiến phòng không bao gồm các lực lượng tên lửa, pháo phòng không, tên
lửa vác vai A-72 và radar để bảo vệ Hải Phòng. Các cơ quan, đơn vị sôi nổi thực hiện phong trào thi
đua "luyện hay, đánh giỏi", chú trọng huấn luyện cán bộ chỉ huy, kíp chiến đấu, kíp trắc thủ và nhân
viên kỹ thuật, 100% phân đội đều đạt tiêu chuẩn đi hội thao bắn đạn thật. Đại đội 3 Trung đoàn 225 và
đại đội 4 tên lửa vác vai đi hội thao bắn đạn thật ở quân chủng đạt loại giỏi.

Công tác bảo đảm kỹ thuật, hậu cần có nhiều chuyển biến tiến bộ. Tất cả các loại vũ khí,
trang bị đều đạt hệ số chiến đấu cao. Toàn sư đoàn xây dựng được 4.112 m2 nhà ở lâu bền, làm thêm
12.192 m2 nhà tạm. Bình quân đầu người tăng gia sản xuất được 37kg lương thực, 4 kg thịt cá, 64 kg
rau xanh. Hầu hết các đơn vị có tủ sách, nhiều đơn vị tự mua sắm được máy thu hình, thu thanh.

Do lập được nhiều thành tích, toàn sư đoàn có 2/3 trung đoàn, 4 phòng, 518 tiểu đoàn,
21/23 đại đội… đạt 5 mục tiêu của cuộc vận động. Trung đoàn 240, phát huy được thành tích 2 năm
liền giữ cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch nước, là đơn vị điển hình về xây dựng đơn vị cơ sở, các cơ
quan và phân đội tiến bộ đồng đều, vững mạnh. Trung đoàn tên lửa 238 phát huy truyền thống anh
hùng, khắc phục nhiều khó khăn hoàn thành tết đợt cơ động chiến đấu và các nhiệm vụ được giao.
Với những kết quả trên, sư đoàn được cấp trên công nhận đạt 5 mục tiêu của cuộc vận động lớn.

Thực hiện mệnh lệnh số 15/TC ngày 4 tháng 1 năm 1980 của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư
đoàn tổ chức tiếp nhận Trung đoàn radar 295 làm đơn vị phối thuộc chiến đấu. Nhiệm vụ của Trung
đoàn 295 là quản lý vùng trời hướng đông và đông bắc Hải Phòng, bảo đảm radar cho các sư đoàn
phòng không 363, 369 và các đơn vị trong khu vực chiến đấu, giành thắng lợi ngay từ ngày đầu, trận
đầu.

Chấp hành chỉ thị của Tổng cục Chính trị và Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng chọn Sư
đoàn 363 làm trước đợt phát thẻ Đảng, ngày 8 tháng 1 năm 1980, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị
quyết về việc phát thẻ đảng viên đợt đầu tiên vào dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3-2. Các cấp uỷ
đảng đã tổ chức quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa việc phát thẻ Đảng cho đảng viên. Hai đảng bộ
trung đoàn 240, 285 là đơn vị làm điểm của Đảng hộ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đây là sự kiện lịch
sử quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng bộ sư đoàn, tạo điều kiện cho sư đoàn
hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Thực hiện phương án tác chiến bảo vệ Hải Phòng, sư đoàn tổ chức cơ động Trung đoàn tên
lửa 238 từ Hải Phòng sang Quảng Ninh, tổ chức tiếp nhận và triển khai đội hình Trung đoàn tên lửa
258 (tên lửa Pê-trô-ra C-125M) và triển khai đội hình chiến đấu cho Trung đoàn tên lửa 255 tên lửa
Von-ga C-75M) tạo thành vùng hoả lực trùm kín Hải Phòng, có thể đánh địch trên các hướng, nhất là
trên các hướng bắc, tây và nam thành phố.

Tháng 10 năm 1980, Quân chủng tổ chức diễn tập chiến dịch phòng không chống địch tập
kích đổ bộ đường không và đổ bộ đường biển. Toàn bộ lực lượng của sư đoàn cùng các sư đoàn 369,
365, 377, Binh chủng Radar và các lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc tham gia cuộc
diễn tập. Mục đích diễn tập là nâng cao trình độ chỉ huy và cơ quan tham mưu các cấp trong việc chỉ
đạo, tổ chức chuẩn bị, thực hành và hiệp đồng chiến đấu trong chiến dịch phòng không. Do quán triệt
mục đích, yêu cầu, nội dung và xác định tốt trách nhiệm, chỉ huy và cơ quan tham mưu sư đoàn đã
thực hành tết các bước chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu chuẩn bị, thực hành và kết thúc các đợt
đánh địch bảo vệ Hải Phòng. Qua diễn tập, trình độ xử lý của người chỉ huy và trình độ tác nghiệp của
cơ quan tham mưu được nâng lên rõ rệt. Đây là lần đầu tiên sư đoàn tham gia cuộc diễn tập lớn trong
thời bình, qua đó rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm trong tiến trình sư đoàn tham gia chiến dịch
phòng không trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trong đợt diễn tập bắn đạn thật cuối năm do Quân chủng tổ chức, cả 5 trung đoàn 238,
258, 240, 591, 255 đều diệt mục tiêu, hoàn thành tết nhiệm vụ, trong đó hai trung đoàn 255, 591 đạt
thành tích xuất sắc.

Trong năm 1980, cùng với việc tiếp tục thực hiện cuộc vận động lớn, toàn sư đoàn còn
triển khai thực hiện các cuộc vận động "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa", "Toàn quân hành
động theo điều lệnh", "Chống tiêu cực và đào bỏ ngũ”, "Xây dựng đơn vị tiên tiến vê chấp hành kỷ
luật và pháp luật". Trung đoàn 591 được Bộ Quốc phòng và Quân chủng chỉ định thực hiện đột phá
cuộc vận động "Xây dựng đơn vị tiên tiến về chấp hành kỷ luật và pháp luật" để rút kinh nghiệm chỉ
đạo các đơn vị trong toàn quân.

Trong năm, toàn sư đoàn tổ chức gặp mặt 30 lần cấp huyện, 116 cấp xã để hiệp đồng chiến
đấu và xây dựng địa phương; huấn luyện quân sự cho 2.887 lượt dân quân tự vệ; kết nghĩa với 34 chi
đoàn, 10 trường học; khám, cấp cứu và chữa bệnh cho 113 người dân; giúp.đỡ dân được 3..728 công
lao động, 908 kg gạo, 3.247 đồng; xây dựng nhà trẻ cho các xã Minh Kha, Tân Dương… Những hoạt
động trên vừa tích cực góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ
Tổ quốc, tạo điều kiện cho sư đoàn và địa phương cùng hoàn thành nhiệm vụ vừa tăng cường mối
đoàn kết quân với dân một ý chí.

Năm 1981, nhiệm vụ của sư đoàn mở rộng hơn trước, ngoài việc bảo vệ Hải Phòng còn có
nhiệm vụ bảo vệ nhà máy điện Uông Bí và nhà máy xi măng Hoàng Thạch.

Thực hiện nhiệm vụ trên, tháng 3 năm 1981, sư đoàn tổ chức tiếp nhận Trung đoàn pháo
phòng không 225 từ Sư đoàn 369, cùng với Trung đoàn tên lửa 238 bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở
Quảng Ninh, đồng thời tổ chức triển khai chiến đấu cho Trung đoàn tên lửa 255, điều chỉnh đội hình
Trung đoàn tên lửa 258, các trung đoàn pháo phòng không 240, 591 làm nhiệm vụ bảo vệ Hải Phòng.

Để nâng cao trình độ chiến đấu của bộ đội, sư đoàn tổ chức tốt các lớp huấn luyện tập
trung tại trung tâm huấn luyện tên lửa ở Minh Kha, các kíp chiến đấu của bộ đội pháo phòng không
luân phiên nhau bắn kẹp nòng, tiếp nhận và huấn luyện 830 chiến sĩ mới, đào tạo được 129 đồng chí
giỏi để bổ sung cho các đơn vị, các dây chuyền sản xuất đạn tên lửa có nhiều cố gắng thực hiện được
các chỉ tiêu về thời gian và chất lượng. Chỉ huy sư đoàn còn tổ chức xây dựng trận địa cơ bản cho 3
trung đoàn tên lửa và bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu và công tác. Trong đợt sơ kết 6
tháng đầu năm, sư đoàn được Bộ tư lệnh Quân chủng công nhận đạt "5 mục tiên của cuộc vận động,
biểu dương, thông báo tuyên truyền trong toàn quân chủng 3 mặt mạnh của sư đoàn là ý chí chiến đấu
được giữ vững, đoàn kết kỷ luật có tiến bộ; năng lực, hành động của cán bộ, chiến sĩ và trình độ sẵn
sàng chiến đấu được nâng lên rõ rệt; tích cực cải thiện đời sống bộ đội.

Tháng 7 năm 1981, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 6 được tiến hành trọng thể.
Sau khi đánh giá kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ qua, đại hội đã đề ra phương hướng lãnh đạo nhiệm
kỳ 1981-1983. Đại hội nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện cuộc vận động lớn với chất lượng mới, đạt
kết quả cao, đồng đều và vững chắc hơn, phấn đấu đến năm 1982 đạt các mục tiêu đề ra. Đại hội bầu
ra ban chấp hành Đảng bộ mới do trung tá Nguyễn Hữu Hoè, Phó sư đoàn trưởng chính trị làm bí thư;
đại tá Hoàng Bát, sư đoàn trưởng làm phó bí thư.

Thi đua lập thành tích chào mừng thành công của đại hội, toàn sư đoàn chấp hành tốt các
chế độ nền nếp sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, hoàn thành tốt cuộc diễn tập năm 1981 ở mức
khá Trung đoàn 225 tham gia diễn tập hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng ở Quảng Ninh hoàn
thành tết nhiệm vụ, tổ chức tham quan rút kinh nghiệm thành công ở đại đội 8 Trung đoàn 591 và tiểu
đoàn 49 Trung đoàn 258, sôi nổi thi đua huấn luyện đạt tiêu chuẩn đi bắn đạn thật.

Tháng 11 năm 1981, sư đoàn tổng kết công tác bảo đảm kỹ thuật, có 15 tiểu đoàn tên lửa,
18 đại đội pháo phòng không vượt hệ số chiến đấu từ 3 đến 10%. Trung đoàn 591 vươn lên dẫn đầu
toàn sư đoàn về bảo đảm kỹ thuật toàn diện, vững chắc. Các trung đoàn đều chấp hành nghiêm túc các
chế độ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí, khí tài trang bị. 100% khí tài có nhà che, đậy. Công tác
bảo quản, niêm cất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật có nhiều chuyển biến tiến bộ và hiệu quả.

Trong đợt Quân chủng kiểm tra cuối năm, toàn sư đoàn có 29/30 phân đội, 4/4 sở chỉ huy
trung đoàn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu Đại đội 5 Trung đoàn 225, đại đội 10 Trung đoàn 591, các tiểu
đoàn 191, 192 Trung đoàn tên lửa 255 đều đạt loại giỏi trong hội thao bắn đạn thật do Quân chủng tổ
chức. Hai tiểu đoàn kỹ thuật 85, 195 hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm đạn cho trường bắn, được Tư
lệnh Quân chủng tặng bằng khen.

Tổng kết năm 1981, sư đoàn dược Bộ tư lệnh Quân chủng công nhận đạt 5 mục tiêu của
cuộc vận động lớn. Các trung đoàn 591, 238, 255, hai phòng tham mưu, chính trị, 9 phân đội và 7 cán
bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu quyết thắng. 257 cán bộ, chiến sĩ được công nhận là chiến sĩ thi đua.

Trung đoàn 591 là đơn vị điển hình của sư đoàn về chấp hành pháp luật của Nhà nước và
kỷ luật quân đội, đã có nhiều biện pháp tích cực, chủ động, hiệu quả về giải quyết kỷ luật, làm cơ sở
để trung đoàn chuyển biến tiến bộ về nhiều mặt, được công nhận là lá cờ đầu trong khối các trung
đoàn toàn quân chủng và nhận cờ thưởng luân lưu "Thi đua quyết thắng" của Chủ tịch nước Tôn Đức
Thắng. Đây là trung đoàn thứ 3 và lần thứ 4 sư đoàn được nhận phần thưởng cao quý này.

Căn cứ vào mệnh lệnh chiến đấu ngày 6 tháng 3 năm 1982, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn
xác định nhiệm vụ trọng tâm trong năm: Luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, thực hiện bằng được
quyết tâm đánh thắng trận đầu, ngày đầu, quả đạn đầu, đánh thắng liên tục, đánh tiêu diệt lớn, bảo vệ
vững chắc thành phố Hải Phòng, nhà máy điện Uông Bí, Phả Lại, nhà máy xi măng Hoàng Thạch và
các mục tiêu được giao; sẵn sàng cơ động lực lượng khi có lệnh; tích cực tham gia chống bạo loạn
góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đầu năm, sư đoàn tiến hành đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nghị quyết Đại hội lần thứ V
của Đảng, học tập Luật nghĩa vụ quân sự, Luật sĩ quan cho cán bộ, chiến sĩ và hướng dẫn đơn vị triển
khai thực hiện quy chế giáo dục chính trị lần đầu tiên do Tổng cục Chính trị ban hành.

Là đơn vị điểm về thực hiện cơ chế một người chỉ huy trong quân đội, Sư đoàn 363 có các
đồng chí: đại tá Hoàng Bát, Sư đoàn trưởng; đại tá Nguyễn Hữu Hoè, Phó sư đoàn trưởng chính trị;
thượng tá Đoàn Mạnh Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng; trung tá Nguyễn Mạnh ái, Phó
sư đoàn trưởng quân sự; đại tá Phạm Ngọc Biểu, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm hậu cần; đại tá
Phạm Thế Hạo, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm kỹ thuật. Mặc dù ban đầu thực hiện cơ chế mới còn
bỡ ngỡ nhưng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã nêu cao trách nhiệm chính trị, đoàn kết thống
nhất, từng bước giải quyết các mối quan hệ giữa cấp trưởng và cấp phó, giữa các cấp phó với nhau,
vừa làm vừa rút kinh nghiệm để nâng cao dần chất lượng lãnh đạo, chỉ huy bộ đội.

Được sự chỉ đạo của Quân chủng, đầu tháng 7, sư đoàn tổ chức xây dựng kế hoạch chuyển
trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho sư đoàn, các trung đoàn và chuyển vào phương án 1, 2 cho các phân
đội. Từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 7, sư đoàn triển khai 11/11 tiểu đoàn tên lửa, 6/8 đại đội pháo phòng
không thực hành chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, đồng thời cơ động sở chỉ huy gọn của sư đoàn,
trung đoàn. Đại tá Trần Xanh, Phó tư lệnh Quân chủng, trực tiếp theo dõi tại sư đoàn đã nhận xét: Sư
đoàn 363 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm mẫu thực hành chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho
Quân chủng.

Tiếp đó, sư đoàn tổ chức diễn tập thực nghiệm với đại đội không quân tiêm kích của Trung
đoàn 923 ở Kiến An, đơn vị phối thuộc chiến đấu với sư đoàn. Trên cơ sở phương án hiệp đồng chiến
đấu, người chỉ huy và cơ quan tham mưu sư đoàn triển khai trình tự các bước diễn tập, thực hiện tết
kế hoạch hiệp đồng theo tuyến, dải quạt và mục tiêu, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt giữa sở chỉ
huy sư đoàn và sở chỉ huy trung đoàn không quân ở Kiến An, kịp thời phát hiện, thông báo mục tiêu
và bảo đảm dẫn đường cho không quân tiêm kích chiến đấu thắng lợi. Lần đầu tiên diễn tập thực
nghiệm với không quân, sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ, rút ra một số bài học kinh nghiệm quý về
hiệp đồng chiến đấu với không quân tiêm kích trong tác chiến hiệp đồng binh chủng bảo vệ yếu địa
ven biển.

Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 10 năm 1982, sư đoàn cùng với 4 sư đoàn phòng không ở
phía Bắc thực hành diễn tập chiến dịch phòng không đánh trả chiến dịch tập kích đường không của
địch bảo vệ yếu địa, bảo vệ giao thông vận tải và tác chiến trong đội hình binh chủng hợp thành. Do
nắm chắc mục đích, yêu cầu và chuẩn bị tốt, cuộc diễn tập của sư đoàn đã thành công tết đẹp. Thời
gian nhận và truyền lệnh chuyển trạng thái từ tăng cường lên cấp cao đến các đơn vị và Quân khu 3
đúng quy định của cấp trên. Cơ động sở chỉ huy sư đoàn từ Kha Lâm lên Cựu Viên mất 2 giờ. Trung
đoàn tên lửa 255 sản xuất quả đạn đầu hết 58 phút, quả thứ hai hết 14 phút. Đặc biệt, sư đoàn đã chỉ
huy các đơn vị đánh bại cuộc tập kích đường không của địch vào Hải Phòng.

Nhìn chung, cuộc diễn tập trên của sư đoàn bảo đảm bí mật, an toàn tuyệt đối, thực sự,
thực tế, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Qua diễn tập, một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải
quyết như phải nêu rõ hướng tấn công của địch trên bộ và trên biển để người chỉ huy xác định âm
mưu thủ đoạn của địch mà sử dụng lực lượng và phân loại rõ mục tiêu bảo vệ; nên sử dụng bản đồ
diễn tập ở khu vực khác mới đánh giá được thực chất sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, năng lực của
người chỉ huy và cơ quan tham mưu…

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh
chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân", Đảng uỷ sư đoàn nhận định: "Sau 4 năm thực hiện
cuộc vận động lớn, sức mạnh chiến đấu của sư đoàn từng bước được nâng lên, năm sau cao hơn năm
trước, các mặt công tác khác vững chắc hơn trước khi bước vào thực hiện cuộc vận động, bảo đảm
cho sư đoàn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, quân đội, Quân chủng giao phó".

Trong 4 năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân chủng, sự giúp đỡ tận tình
của lãnh đạo thành phố Hải Phòng, các cơ quan, đơn vị bạn và địa phương, với sự cố gắng vượt bậc
của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và bộ đội, sư đoàn đã giành được nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực sẵn
sàng chiến đấu và xây dựng.

Về tác chiến, lực lượng của sư đoàn không ngừng được phát triển cả về số lượng và chất
lượng; phương án tác chiến, đội hình chiến đấu luôn được bổ sung, hoàn chỉnh; hệ thống tổ chức chỉ
huy, hệ thống trận địa được củng cố; bộ đội chấp hành nghiêm túc các chế độ, nền nếp trực ban sẵn
sàng chiến đấu, quản lý vùng trời với hệ số chiến đấu cao; công tác hiệp đồng chiến đấu với các binh
chủng bạn và các lực lượng phòng không khác trên địa bàn ngày càng chặt chẽ, có chất lượng tốt hơn.

Đồng thời với việc thực hiện tốt các kế hoạch công tác huấn luyện hàng năm, sư đoàn còn
mở được nhiều lớp huấn luyện tập trung để bồi dưỡng các đối tượng chủ yếu là cán bộ, kíp chiến đấu,
kíp trắc thủ và đội ngũ cán bộ nhân viên kỹ thuật. Chỉ tính riêng trong 2 năm 1981-1982, toàn sư đoàn
đã mở được 108 lớp huấn luyện với 1.747 lượt cán bộ, chiến sĩ và nhân viên kỹ thuật. Hầu hết các
phân đội đạt tiêu chuẩn đi bắn đạn thật. Các đơn vị đi hội thao bắn đạn thật ở Quân chủng đều hoàn
thành tốt nhiệm vụ, tiêu diệt được mục tiêu trên không. Việc xây dựng chính quy ở các cơ quan, đơn
vị chuyển biến tiến bộ rõ rệt.

4 năm thực hiện cuộc vận động lớn cũng là thời kỳ sư đoàn tập trung chuyển hướng xây
dựng cơ bản "ngói hoá" nhà ở cho bộ đội Chỉ tính riêng năm 1982 toàn sư đoàn đã sản xuất được
2.722.400 viên gạch chỉ, 147.870 viên gạch xỉ, sản xuất được 1.058 tấn vôi, khai thác 5.000 m3 cát,
1.792 m3 đá và hàng vạn cây gỗ tre, nứa. Năm 1982, toàn sư đoàn đã xây dựng cơ bản được 9.913 m2
nhà ở, 2.533 m2 nhà kho, nâng tỉ lệ nhà ở của bộ đội được xây dựng cơ bản từ 30% (năm 1980) lên
75% (năm 1982).

Các cơ quan, đơn vị đã phát huy khả năng hậu cần tại chỗ, cố gắng bảo đảm các tiêu chuẩn
trên cấp cho bộ đội. Nhiều đơn vị đã trích từ quỹ vốn tăng gia mua sắm thêm mũ, chiếu và máy khâu
để may vá cho cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm mang mặc thống nhất. Về tăng gia sản xuất, tính bình quân
theo đầu người, hàng năm đạt từ 20 đến 25 kg lương thực, 6kg thịt và cá, 60kg rau xanh. Hầu hết các
cơ quan, đơn vị đều có ao cá, lợn nái. Toàn sư đoàn có 60% bếp ăn khá.

Do làm tết công tác đảng, công tác chính trị nên đến cuối năm 1982, toàn Đảng bộ sư đoàn
có 10 đảng uỷ cơ sở, 18 đảng uỷ bộ phận,72 đảng uỷ viên và 1.332 đảng viên, có 936 đảng viên chính
thức, đạt tỉ lệ lãnh đạo 24,7%. đến năm 1982, toàn Đảng bộ đã mở được 17 lớp bồi dưỡng 352 đoàn
viên ưu tú, kết nạp được 268 đảng viên, đảng viên đủ tư cách tăng 2,4%.

Mối đoàn kết quân dân ngày càng đi vào nền nếp, tăng cường cả về bề rộng, chiều sâu,
nâng cao được chất lượng hiệp đồng chiến đấu, xây dựng đơn vị và địa phương để cùng hoàn thành
nhiệm vụ chung. Chỉ tính riêng năm 1982 toàn sư đoàn có 5/6 trung đoàn, 4/4 phòng đạt tiêu chuẩn
"Quân với dân một ý chí”, tăng 10% so với 2 năm đầu thực hiện cuộc vận động. Tiêu biểu trong thực
hiện mục tiêu này là Trung đoàn 225 ở Uông Bí, đã xây dựng được những "Trận địa lòng dân".

Tổng kết 4 năm thực hiện cuộc vận động lớn, toàn sư đoàn có 6/6 trung đoàn, 4/4 phòng
đạt và cơ bản đạt "5 mục tiêu”. Điển hình là Trung đoàn 255 đạt "5 mục tiêu” vững chắc, hai trung
đoàn 591, 258 đạt khá. Sư đoàn được công nhận đạt toàn diện "5 mục tiêu” của cuộc vận động.

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm đánh thắng chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu
bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng (12-1972 - 12-1982), Sư đoàn 363 được Đảng uỷ, Bộ tư
lệnh Quân chủng công nhận và biểu dương là "lá cờ đầu” trong khối các sư đoàn về thành tích trong 4
năm thực hiện cuộc vận động lớn, được Quốc hội tặng thưởng huân chương Quân công hạng ba và
Chính phủ tặng cờ thưởng luân lưu. Các trung đoàn 255, 238 và Phó sư đoàn trưởng Ngô Huynh được
tặng thưởng huân chương Chiến công hạng ba. Hàng chục đơn vị và cá nhân được công nhận danh
hiệu quyết thắng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua, bằng khen, giấy
khen.

Để chào mừng Quân chủng Phòng không được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân (ngày 31 tháng 12 năm 1982), đầu năm 1983, sư đoàn phát động phong trào thi đua
hành động cách mạng "3 giỏi, 2 tốt, 1 mạnh" (3 giỏi là sẵn sàng chiến đấu giỏi, huấn luyện giỏi, quản
lý cơ sở vật chất kỹ thuật giỏi; 2 tốt là rèn luyện kỷ luật tốt, tổ chức đời sống tốt; 1 mạnh là xây dựng
đơn vị cơ sở mạnh). Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phấn đấu, theo dõi và đánh giá kết quả thi
đua, sư đoàn tổ chức thành 3 cụm, gồm bộ đội tên lửa, pháo phòng không và cơ quan sư đoàn. Nhằm
tạo khí thế thi đua sôi nổi ngay từ đầu, sư đoàn tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo huấn luyện đánh đêm
của bộ đội pháo phòng không, mô hình tranh vẽ, dụng cụ phục vụ huấn luyện; các cuộc hội thảo về
điều lệnh, đội ngũ, sản xuất đạn tên lửa, làm gạch, chấp hành kỷ luật; các hội nghị chuyên đề về bắn
trúng mục tiêu, xây dựng đơn vị cơ sở…

Qua 8 phong trào và 4 đợt thi đua đột kích, kết quả và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ
của sư đoàn được nâng lên rõ rệt. Toàn sư đoàn chấp hành nghiêm túc 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu
của Quân chủng, củng cố các trận địa, triển khai làm trận địa cho tiểu đoàn 83 Trung đoàn 238 và sở
chỉ huy Trung đoàn 255, bổ sung hoàn chỉnh quyết tâm đánh địch trên không và phương án chống
chiến tranh phá hoại nhiều mặt của đối phương, hoàn thành tốt cuộc diễn tập chiến thuật năm 1983…
Đặc biệt, trong hội thao bắn đạn thật toàn quân, tiểu đoàn 82 Trung đoàn 238, tiểu đoàn 193 Trung
đoàn 255 và tiểu đoàn 46 Trung đoàn 258 đều bắn trúng mục tiêu, đạt danh hiệu đơn vị bắn giỏi; các
đại đội pháo phòng không đạt 83% đơn vị tiêu diệt mục tiêu trên không và 100% đơn vị bắn trúng
mục tiêu mặt đất, tiêu biểu là đại đội 172 Trung đoàn 240 và đại đội 4 Trung đoàn 225 bắn trúng cả
mục tiêu trên không và mặt đất.

Các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh tăng gia, sản xuất và xây dựng doanh trại, thực hiện chủ
trương "ngói hoá" của Quân chủng. Với cố gắng vượt bậc trong công tác sản xuất và khai thác vật
liệu, trong năm, toàn sư đoàn đã xây dựng cơ bản được hơn 10 nghìn mét vuông nhà, trong đó có hơn
7 nghìn mét vuông nhà kho.

Về xây dựng đơn vị cơ sở, sư đoàn tập trung vào xây dựng các chế độ, nền nếp chính quy
trong ngày, hàng tuần, tháng, quý; cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt, năng lực lãnh đạo của
các tổ chức Đảng; phát huy vai trò các tổ chức quần chúng. Nổi bật là công tác xây dựng Đảng, toàn
Đảng bộ có 99,3% đảng viên đủ tư cách, tăng 2,8% (so với năm 1982), kết nạp được 269 đảng viên,
vượt 0,7% kế hoạch.

Mùa khô năm 1984, trên chiến trường biên giới Tây Nam, quân và dân Cam-pu-chia phối
hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở các cuộc tiến công lớn vào căn cứ bọn phản động trên tuyến
biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, thu được những thắng lợi hết sức quan trọng. Trên tuyến biên giới
phía Bắc tình hình cũng diễn biến phức tạp.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, toàn sư đoàn chuyển từ trạng thái sẵn sàng chiến
đấu thường xuyên lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Ngày 30 tháng 4, các đơn vị ở tuyến
trước được lệnh chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cấp cao.

Thực hiện quyết định của cấp trên, đầu năm 1984, sư đoàn bàn giao khung Trung đoàn tên
lửa 258 cho Sư đoàn 367, đồng thời thành lập Lữ đoàn tên lửa hỗn hợp 255 trên cơ sở Trung đoàn tên
lửa 255 và 5 tiểu đoàn của Trung đoàn tên lửa 258 có trang bị hệ thống sở chỉ huy tự động ACY và
các phòng tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần do trung tá Nguyễn Như Toa làm Lữ đoàn trưởng.
Đây là lần đầu tiên có lữ đoàn tên lửa phòng không hỗn hợp, trang bị hiện đại, đồng bộ, có hoả lực
mạnh nâng cao khả năng tác chiến phòng không bảo vệ thành phố Hải Phòng.
Thực hiện quyết định ngày 27 tháng 3 năm 1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, được
sự lãnh đạo của Quân chủng và hướng dẫn của Cục Chính trị, đầu tháng 4 năm 1984, sư đoàn bắt đầu
thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với
quân đội, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ một người chỉ huy. Theo quyết định của trên, cán
bộ sư đoàn gồm các đồng chí: đại tá Ngô Huynh, Sư đoàn trưởng; đại tá Nguyễn Hữu Hoè, Chủ
nhiệm chính trị; đại tá Đoàn Mạnh Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng; đại tá Phạm Văn
Biểu, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm hậu cần; trung tá Vũ Mạnh Quyết, Phó sư đoàn trưởng - Chủ
nhiệm kỹ thuật; trung tá Vũ Đình Hắc, Phó sư đoàn trưởng quân sự.

Cũng theo quyết định của trên, từ nay không còn Đảng uỷ sư đoàn, Hội đồng Phòng Chính
trị được tổ chức gồm các đồng chí Nguyễn Hữu Hoè, ĐỖ Văn Chung, Trần Khắc Điều, Nguyễn Đức
Luận, Cao Văn Luyện, Hoàng Bình Thiêm, Nguyễn Ngọc Vượng. Ở cấp cơ sở vẫn còn đảng uỷ, đồng
chí Chủ, nhiệm chính trị làm bí thư Đảng uỷ chuyên trách và có biên chế bí thư đoàn chuyên trách.

Ban đầu, việc thực hiện cơ chế mới có nhiều bỡ ngỡ. Tuy nhiên với trách nhiệm chính trị
cao, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã đoàn kết nhất trí, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng
bước giải quyết mối quan hệ giữa cấp trưởng với cấp phó, giữa chỉ huy và ban chấp hành Phòng
Chính trị… Vì vậy, việc lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn nhìn chung vẫn được giữ vững, hoàn thành được
các nhiệm vụ.

Tháng 8 năm 1984, sư đoàn tổ chức tiếp nhận khung trung đoàn tên lửa 258, tuyển chọn,
huấn luyện chiến sĩ mới rồi bàn giao toàn bộ trung đoàn này cho Sư đoàn phòng không 377.

Chấp hành mệnh lệnh số 32/ML-TM ngày 11 tháng 9 năm 1984 và mệnh lệnh số 37/ML-
TM ngày 12 tháng 9 năm 1984 của Bộ Tổng tham mưu, được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã
tổ chức sở chỉ huy thống nhất bao gồm các sở chỉ huy sư đoàn, Trung đoàn không quân 923 và Trung
đoàn radar 295. Đây là bước phát triển mới về xây dựng lực lượng và tổ chức hiệp đồng chiến đấu
nhằm nâng cao hiệu quả tác chiến phòng không bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng.

Thực hiện mệnh lệnh tác chiến số 755/ML-TC ngày 10 tháng 10 năm 1984 của Tư lệnh
Quân chủng, chỉ huy sư đoàn tổ chức xây dựng, triển khai kế hoạch tác chiến phòng không tình huống
1, bao gồm nhiệm vụ, sử dụng lực lượng, tổ chức chỉ huy hiệp đồng và công tác bảo đảm chiến đấu,
kỹ thuật, hậu cần. Nội dung nổi bật của kế hoạch tác chiến tình huống 1 là quản lý chặt chẽ vùng trời
khu vực Hải Phòng, kịp thời thông báo và bảo đảm cho tác chiến phòng không trên địa bàn; sử dụng
một bộ phận lực lượng không quân tiêm kích phối thuộc về tác chiến, các lực lượng của sư đoàn và
hiệp đồng với các lực lượng trong khu vực sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch,
bảo vệ an toàn các mục tiêu được giao. Đây là kế hoạch tác chiến quy mô lớn và toàn diện, là bước
phát triển mới trong thế trận tác chiến phòng không ở khu vực Hải Phòng, có ý nghĩa rất quan trọng
trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.Trong báo cáo của đồng chí Sư đoàn trưởng trước
Hội đồng thi đua Bộ Quốc phòng và đại diện Hội đồng thi đua của ba quân chủng Phòng không,
Không quân và Hải quân đã nêu rõ: Mặc dù có nhiều nhiệm vụ đột xuất và những khó khăn mới
nhưng sư đoàn vẫn đi lên, giữ vững và phát huy được bản chất, truyền thống, hoàn thành được nhiệm
vụ, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, đạt các mục tiêu của cuộc vận động lớn.
Đồng thời với việc chấp hành tốt 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu chuyển trạng thái nhanh và
chất lượng, sư đoàn còn xây dựng công trình sở chỉ huy tự động của Lữ đoàn 255 với khối lượng hơn
6.000 m3 trên diện tích 400 m2, tiếp tục xây dựng và củng cố hệ thống trận địa của các trung đoàn
238,240. Thực hiện khảo sát, hiệu chỉnh đồng bộ các loại khí tài; tiếp nhận khối lượng khí tài lớn cho
Lữ đoàn 255, Trung đoàn 258 và hơn 100 quả đạn tên lửa; làm thêm được 5.280 m2 nhà che đậy khí
tài. Tiểu đoàn 81 Trung đoàn 238, các tiểu đoàn 48, 194 Lữ đoàn 255, các đại đội 8, 12 Trung đoàn
591, các đại đội 1 và 5 Trung đoàn 225 và đại đội 172 Trung đoàn 240 hoàn thành tốt nhiệm vụ bắn
đạn thật cuối năm do Quân chủng tổ chức. Đây là đợt bắn đạn thật đạt kết quả cao nhất của sư đoàn từ
trước đến nay.

Thành công về công tác huấn luyện, thể hiện qua đợt bắn đạn thật trên được sư đoàn tổng
kết rút ra một số bài học kính nghiệm:

- Để xây dựng sư đoàn theo hướng cách mạng, chính quy, ngày càng hiện đại, công tác
huấn luyện phải được coi là khâu then chốt có tầm quan trọng quyết định trong việc nâng cao trình độ
chiến đấu của bộ đội. Để thực hiện tốt công tác huấn luyện, cần quán triệt kỹ mục đích, yêu cầu, nội
dung, phương châm, phương pháp, có chức trách và quy chế chặt chẽ, phối hợp đồng bộ dưới sự lãnh
đạo chỉ huy tập trung, thống nhất. Vì vậy người chỉ huy phải trực tiếp chỉ đạo công tác huấn luyện.
Qua kết quả huấn luyện và bắn đạn thật năm 1984 có thể rút ra kết luận: nơi nào người chỉ huy trực
tiếp chỉ đạo và thường xuyên quan tâm thì ở đó công tác huấn luyện đạt kết quả cao.

- Trong chỉ đạo huấn luyện phải tập trung dứt điểm từng khâu yếu với chỉ tiêu phấn đấu và
cho điểm cụ thể: có hình thức khen thưởng, kỷ luật chặt chẽ trong việc đánh giá kết quả huấn luyện,
hội thi, hội thao, bắn đạn thật. Có biện pháp cụ thể, đôn đốc kiểm tra chặt chẽ thì nhất định sẽ tạo
được chuyển biến mạnh mẽ. Với những nội dung, khoa mục huấn luyện đạt kết quả thấp thì phải kịp
thời tổ chức nghiêm túc việc cải tiến cả về nội dung và phương pháp huấn luyện. Trong chỉ đạo huấn
luyện phải coi trọng công tác nghiên cứu, rút Kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm.

- Phải tập trung xây dựng các khâu cơ bản nhất trong tổ chức, chỉ đạo huấn luyện, xây
dựng chế độ nền nếp huấn luyện vững chắc. Biên soạn giáo khoa tiêu chuẩn, quy chế và phương pháp
huấn luyện cho từng đối tượng và duy trì thành nền nếp trong quá trình huấn luyện.

- Phải bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên sâu, có trình độ cơ bản, có kinh nghiệm
huấn luyện chuyên môn kỹ thuật, chiến thuật và các khoa mục quân sự chung. Ờ mỗi bộ môn phải có
cán bộ chuyên ngành. Đặc biệt, trong huấn luyện kỹ thuật phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kỹ sự đầu
ngành về mọi loại thiết bị kỹ thuật và đội ngũ thợ lành nghề thì mới bảo đảm xây dựng đơn vị sư đoàn
phòng không hiện đại.

- Các bài học trên cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong những
điều kiện, hoàn cảnh mới.

Đầu năm 1985, toàn sư đoàn triển khai kế hoạch công tác năm, sôi nổi thi đua lập thành
tích thiết thực chào mừng kỷ niệm 55 ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, 10 năm miền Nam
hoàn toàn giải phóng, 30 năm giải phóng thành phố Hải Phòng và lần thứ 95 ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Trong các ngày lễ lớn 30 tháng 4 và 1 tháng 5, các đơn vị trực chiến khối A đã chấp hành
nghiêm túc 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu, thông tin liên lạc thông suốt liên tục ngày đêm. Khối diễu
binh kỷ niệm 30 năm giải phóng Hải Phòng (15-5-1955 - 15-5-1985) hoàn thành tốt nhiệm vụ, để lại
ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh bộ đội phòng không với lãnh đạo và nhân dân thành phố Cảng.

Chấp hành chỉ thị số 114/CT ngày 1 tháng 3 năm 1985 của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư
đoàn chọn lực lượng tham gia diễu binh tại Hải Phòng, tổ chức thành 2 khối tiếp tục tập luyện để cùng
với lực lượng của Quân chủng tham gia duyệt binh tại Quảng trường Đình, Hà Nội trong ngày kỷ
niệm 40 năm Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 19 tháng 5 năm 1985, sư đoàn tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 20 năm ngày thành lập sư
đoàn. Tới dự buổi lễ có đại biểu Đảng uỷ, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân chủng; đại biểu lãnh đạo,
một số ban ngành của thành phố Hải Phòng, cơ quan, đơn vị bạn và địa phương; lãnh đạo, chỉ huy sư
đoàn các thời kỳ và đại biểu các cơ quan, đơn vị. Diễn văn của sư đoàn và các lời phát biểu chào
mừng của cấp trên, lãnh đạo thành phố, cơ quan, đơn vị bạn và địa phương đã nêu bật chặng đường
lịch sử hào hùng và truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng trong 20 năm qua.
Đây thực sự là ngày hội đoàn kết giữa sư đoàn với nhân dân và các lực lượng ở Hải Phòng vốn đã có
truyền thống gắn bó chặt chẽ trong chặng đường lịch sử vừa qua. Do chuẩn bị tốt về mọi mặt nên lễ
kỷ niệm đã thành công tốt đẹp, có tác dụng giáo dục truyền thống sâu sắc.

Đồng thời với việc triển khai thực hiện huấn luyện giai đoạn 1, sư đoàn tập trung bồi
dưỡng cán bộ các cấp để tiến hành kế hoạch diễn tập chiến thuật cho các đơn vị. Từ 9 đồng chí cán bộ
chỉ huy tham mưu dự tập huấn tại Quân chủng về, sư đoàn tổ chức tập huấn cho 48 đồng chí phó tham
mưu trưởng, trưởng ban, trợ lý trinh sát, cán bộ tiểu đoàn tên lửa và đại đội pháo phòng không về mục
đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp và chức trách, nhiệm vụ của các thành phần tham gia diễn tập.
Sư đoàn còn tiến hành kiểm tra hiệu chỉnh nắm chất lượng toàn bộ vũ khí, khí tài của các lữ đoàn,
trung đoàn để tạo điều kiện cho các đơn vị thực hành diễn tập đạt kết quả.

Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 6 năm 1985, sư đoàn chỉ đạo, tổ chức cho các lữ đoàn, trung
đoàn thực hành diễn tập chỉ huy tham mưu có một phần thực binh về tác chiến phòng không. Do
chuẩn bị tốt và với trách nhiệm cao, các lữ đoàn, trung đoàn đều đạt yêu cầu một số đơn vị đạt khá.
Qua diễn tập, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ và trình độ hiệp đồng chiến đấu của các đơn vị được
nâng lên rõ rệt, kíp 1 đánh địch cả trong điều kiện bình thường và có tình huống phức tạp, kíp 2 thay
thế được kíp 1 có thể đánh địch trong điều kiện bình thường, các trung đoàn tổ chức tốt việc cơ động
phân đội và sở chỉ huy gọn nhẹ.

Để hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội, ngày 4 tháng 7 năm 1985, Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 27. Thực hiện quyết định của trên,
Đảng uỷ lâm thời của sư đoàn được thành lập, đồng chí Nguyễn Hữu Hoè, Phó sư đoàn trưởng về
chính trị được chỉ định làm bí thư Đảng uỷ; bỏ chức danh bí thư Đảng và bí thư đoàn chuyên trách,
các đồng chí phó lữ đoàn trưởng và phó trung đoàn trưởng về chính trị làm bí thư Đảng uỷ.

Cán bộ sư đoàn gồm có các đồng chí: Ngô Huynh, Sư đoàn trưởng; Nguyễn Hữu Hoè, Phó
sư đoàn trưởng chính trị; Đoàn Mạnh Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng; Vũ Đình Hắc,
Phó sư đoàn trưởng quân sự; Vũ Mạnh Quyết, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm kỹ thuật; Phạm Văn
Biểu, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm hậu cần.

Việc chuyển đổi cơ chế từ 07 sang cơ chế 27 là điều kiện thuận lợi, tích cực góp phần phát
huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội, trong đó có sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong Sư
đoàn 363 và tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành tết mọi nhiệm vụ.

Ngày 29 tháng 8 năm 1985, Chủ tịch hội đồng Nhà nước Trường Chinh ký quyết định tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 75 đơn vị, 20 cá nhân, trong đó có Trung đoàn
pháo phòng không 240. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn vô cùng phấn khởi, nguyện học tập và
làm theo gương các đơn vị và cá nhân anh hùng, hoàn thành tết mọi nhiệm vụ để xứng đáng với sự tin
yêu của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân.

Ngày 9 tháng 9 năm 1985, sư đoàn tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm huấn luyện chiến sĩ
mới. Hội nghị nhất trí đánh giá: Các đơn vị coi trọng công tác tuyển nhận, chủ động cử cán bộ đến địa
phương nắm hồ sơ thâm nhập, gặp gỡ từng đối tượng. Các lữ đoàn, trung đoàn tổ chức tốt lớp bồi
dưỡng cán bộ khung và thường xuyên chỉ đạo các điểm huấn luyện. Qua huấn luyện, nhiều đơn vị đã
có kinh nghiệm về tổ chức, giáo dục, huấn luyện chiến sĩ mới, thực hiện tốt nội dung chương trình và
duy trì tốt các nền nếp, chế độ quy định. Kết thúc khoá huấn luyện, các đơn vị kiểm tra hết các khoa
mục đã học, bộ đội sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Sư đoàn đã tổ chức cho 894 chiến sĩ mới bắn đạn
thật trên 5 trường bắn, 100% đạt yêu cầu, trong đó có 60% đạt khá, giỏi. Tiêu biểu là Trung đoàn tên
lửa 238, đạt tỉ lệ khá giỏi cao.

Sang năm 1986, toàn sư đoàn sôi nổi. thi đua phát huy sức mạnh tổng hợp để quản lý và
bảo vệ vùng trời được giao, xây dựng thế trận phòng không khu vực hoàn chỉnh cùng quân, dân cả
nước đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, thực hiện tốt khẩu hiệu
"Đơn vị mạnh, địa phương mạnh".

Thực hiện nghị quyết chuyên đề ngày 26 tháng 2 năm 1986 của Đảng uỷ sư đoàn về "Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên", các chi đoàn cơ sở sôi nổi thi đua hành
động cách mạng, thực hiện "toàn đoàn tham gia xây dựng Đảng", tổ chức gặp mặt các sĩ quan trẻ xuất
sắc và đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng trận địa phòng không quyết thắng. Đó là những hoạt
động thiết thực, hiệu quả, thể hiện rõ vai trò xung kích của đoàn thanh niên, tích cực góp phần hoàn
thành các nhiệm vụ của sư đoàn.

Ngày 25 tháng 8 năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 7 được tiến hành.
Đây là thời điểm toàn Đảng bộ tập trung nỗ lực cao nhất để đóng góp trí tuệ vào báo cáo chính trị của
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Vi sắp tới. Với ý thức trách nhiệm cao và thái độ nghiêm túc nhìn
thẳng vào sự thật, Đại hội nhất trí đánh giá: được sự lãnh đạo của Đảng uỷ Quân chủng, sự giúp đỡ
của Đảng bộ chính quyền, nhân dân địa phương và chuyên gia Liên Xô sư đoàn đã hoàn thành các
nhiệm vụ được giao, có tiến bộ trên mọi mặt, giữ vững vị trí đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.

Căn cứ vào đặc điểm tình hình, nhiệm vụ trên giao, Đại hội xác định phương hướng nhiệm
vụ lãnh đạo trọng tâm của Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới là: Thường xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thắng lợi, không để bị bất ngờ lỡ thời cơ, bảo đảm đánh thắng trận đầu, thắng liên tục
không quân địch trong mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần đánh
bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch.

Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 9 đồng chí do đại tá Nguyễn Hữu Hoè làm
bí thư, đồng chí Đoàn Mạnh Dũng làm phó bí thư.

Chào mừng thành công của đại hội, các lữ đoàn, trung đoàn tập trung cao nhất cho nhiệm
vụ huấn luyện, chuẩn bị diễn tập chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Đại hội Đảng các cấp, nhất
là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.

Trải qua hơn 10 năm tập trung làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng trong thời
bình, được sự quan tâm lãnh đạo của Quân chủng, sự giúp đỡ tận tình của Đảng bộ, chính quyền các
cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân địa phương, lãnh đạo chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn
phòng không 363 đã thường xuyên nêu cao trách nhiệm chính trị, đoàn kết thống nhất cao, khắc phục
mọi khó khăn, thử thách, luôn sẵn sàng chiến đấu và xây dựng đơn vị về mọi mặt, vững mạnh cả về
chính trị, tư tưởng tổ chức, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Thành công nổi bật của sư đoàn
trong giai đoạn lịch sử này là thường xuyên quán triệt tình hình, nhiệm vụ; phát huy sức mạnh tổng
hợp để xây dựng, phát triển lực lượng cả về lượng và chất, tích cực góp phần xây dựng thế trận tác
chiến phòng không bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng và các mục tiêu quan trọng khác, trong đó lực
lượng sư đoàn làm nòng cốt, thường xuyên quản lý và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời được giao;
không ngừng xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện với nhiều phong trào, nhất là phong trào
xây dựng trận địa phòng không quyết thắng. Điển hình nhất trong thời kỳ này là các trung đoàn 240,
238, 591. Đó là những tập thể đoàn kết thống nhất cao, quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, xây
dựng được quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ, phát huy được sức mạnh tổng hợp, không ngừng phấn đấu,
rèn luyện, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Vì vậy cả ba trung đoàn trên đều trở thành những
đơn vị mạnh điển hình trong toàn quân, được trao cờ thưởng luân lưu của Chủ tịch nước Tôn Đức
Thắng, trong đó Trung đoàn 240 được giữ cờ thưởng luân lưu 2 năm liền. Qua các phong trào xây
dựng trên đã xuất hiện nhiều đơn vị, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua… Đó là những tập thể và cá
nhân điển hình về khắc phục khó khăn, nỗ lực vượt bậc, hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ
được giao.

Đây cũng là thời kỳ sư đoàn rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm về lãnh đạo, tổ chức
chỉ huy trên các lĩnh vực công tác tham mưu, bảo đảm kỹ thuật, hậu cần và công tác đảng, công tác
chính trị. Những bài học này cần được tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong điều kiện mới, nhằm không
ngừng xây dựng sư đoàn ngày càng vững mạnh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Chương 5

QUÁN TRIỆT TINH THẦN ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG, RA SỨC XÂY DỰNG SƯ ĐOÀN
THEO HƯỚNG CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI, HOÀN
THÀNH TỐT MỌI NHIỆM VỤ (1987 - 2005)

Cuối năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thành công tốt đẹp. Quán triệt tinh thần
đổi mới của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo
chỉ huy các cấp và cán bộ chiến sĩ trong Sư đoàn phòng không 363 vô cùng phấn khởi, ngày càng tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao quyết tâm học tập, rèn luyện, phấn đấu thực hiện tết chức
trách, góp phần xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chấp hành quyết định số 621QĐ-TM ngày 9 tháng 2 năm 1987 của Tư lệnh Quân chủng
Phòng không, chỉ huy sư đoàn tổ chức tiếp nhận Trung đoàn radar 295 từ Binh chủng Radar về trực
thuộc sư đoàn. Với trách nhiệm cao, sư đoàn đã cùng với các cơ quan trực tiếp làm việc với lãnh đạo,
chỉ huy trung đoàn, nắm bắt tình hình nhiệm vụ của đơn vị. Đến ngày 1 tháng 4 năm 1987, Trung
đoàn 295 chính thức thuộc quyền chỉ huy, quản lý trực tiếp của Sư đoàn phòng không 363. Như vậy,
từ nay, ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Hải Phòng,
Quảng Ninh, Sư đoàn phòng không 363 còn có thêm nhiệm vụ quản lý vùng trời khu vực trên và phía
tây nam của Tổ Quốc, tham gia làm nhiệm vụ thông báo tập trung trên mạng tình báo quốc gia B1 và
trực tiếp bảo đảm tác chiến phòng không trên địa bàn.

Cũng trong thời gian này, chấp hành quyết định của trên, sư đoàn tổ chức giải thể tiểu đoàn
31 và chỉ đạo Trung đoàn 225 rút gọn 3 đại đội 3, 5, 6; Trung đoàn 240 rút gọn 3 đại đội 173, 174,
176; Trung đoàn 591 rút gọn 3 đại đội 9, 1 1, 12. Các đại đội rút gọn làm nhiệm vụ huấn luyện chiến
sĩ mới, huấn luyện quân dự bị động viên và bảo quản khí tài tại trận địa. Để tạo điều kiện thuận lợi
cho các đại đội rút gọn và làm nhiệm vụ mới, sư đoàn tổ chức cho cả đại đội 9, 11, 12 Trung đoàn 591
làm mẫu trước, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và chỉ đạo chung cho các đơn vị.

Ngày 28 tháng 4 năm 1987, Đảng uỷ ra nghị quyết chuyên đề về công tác kỹ thuật 3 năm
tới (1988-1990) kiểm điểm công tác lãnh đạo kỹ thuật trong năm vừa qua, Đảng uỷ nhất trí đánh giá:
Ngành kỹ thuật sư đoàn đã tổ chức tiếp nhận, vận chuyển số lượng lớn khí tài cho Trung đoàn tên lửa
238 và cho Quân chủng bảo đảm đúng kế hoạch và an toàn. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có tay
nghề khá, năng lực bảo đảm kỹ thuật phục vụ sẵn sang chiến đấu tốt, góp phần thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chung của sư đoàn. Các phân đội tự sửa chữa 60% số lần hỏng hóc, điển hình là các trung
đoàn 238, 591 và các tiểu đoàn 47, 83. Tuy nhiên, chưa gắn chặt phong trào "5 tốt kỹ thuật" vào xây
dựng trận địa phòng không quyết thắng.

Ngay sau khi được quán triệt nghị quyết trên, Phòng Kỹ thuật sư đoàn đã xây dựng và triển
khai kế hoạch, thực hiện cụ thể, tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị, thực hiện thắng lợi nghị quyết
chuyên đề về kỹ thuật của Đảng uỷ sư đoàn.

Đầu tháng 7, sư đoàn tổ chức hội nghị quân chính để phát huy dân chủ quân sự, thảo luận,
đóng góp ý kiến vào chương trình hành động công tác kỹ thuật 6 tháng cuối năm 1987 và 3 năm tới
(1988 - 1990). Chỉ huy sư đoàn quyết định xây dựng Lữ đoàn 255 làm đơn vị điểm để rút kinh
nghiệm chỉ đạo chung cho các đơn vị, các lữ đoàn, trung đoàn xây dựng một phân đội làm đơn vị
điểm nhằm nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu chiến đấu thực chất, thường
xuyên vững chắc và ngày càng đồng bộ.

Với trách nhiệm cao và có nhiều cố gắng, các cơ quan, đơn vị đã có nhiều biện pháp thiết
thực, hiệu quả để xây dựng, củng cố ngành kỹ thuật, bảo đảm hệ số kỹ thuật toàn sư đoàn vượt chỉ
tiêu 5,5%, chất lượng bảo quản vũ khí, khí tài tết hơn trước. Trong đợt sư đoàn kiểm tra toàn diện các
tiểu đoàn kỹ thuật và 1 dây chuyền sản xuất đạn vào cuối năm, các đơn vị trên đều đạt 8,3 điểm trở
lên.

Quán triệt phương châm "cơ bản, toàn diện, sát thực tế chiến đấu, các cơ quan đơn vị đã
triển khai thực hiện kế hoạch huấn luyện nghiêm túc, chú trọng đúng mức các đối tượng cán bộ, kíp
chiến đấu, thành phần chuyên môn kỹ thuật, kết hợp nâng cao trình độ kỹ thuật với chiến thuật và xây
dựng nền nếp chính quy, kết hợp tốt lý thuyết cơ bản với thao tác thực hành trên pháo, máy, giảm
được những biểu hiện huấn luyện hình thức, không thực chất. Nổi bật nhất trong năm là công tác huấn
luyện cán bộ. Ngoài việc thực hiện tết các nội dung, chương trình huấn luyện theo kế hoạch, toàn sư
đoàn còn mở được 58 lớp, tập huấn tại chức cho 1.584 lượt cán bộ, điển hình là các phòng tham mưu,
chính trị, kỹ thuật. Vì vậy toàn sư đoàn đã có số lượng cán bộ đạt 92% theo biểu biên chế, hầu hết số
cán bộ trên đều đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, chức trách.

Trong tổng kết cuối năm, sư đoàn đã đánh giá: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
Vi đem lại tư duy, sức mạnh mới, cổ vũ phong trào hành động cách mạng trong toàn sư đoàn, khắc
phục được nhiều khó khăn, thực hiện nhiệm vụ có nhiều tiến bộ, yếu tố tích cực được phát huy, hiện
tượng tiêu cực giảm dần. Thực hiện nghị quyết chuyên đề về kỹ thuật của Đảng uỷ được tiến hành
chặt chẽ, tổ chức hội nghị bàn bạc thống nhất ý chí và hành động, phát huy được trí tuệ và sức mạnh
tổng hợp, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Cục Kỹ thuật, chuyên gia
Liên Xô. Vì vậy toàn sư đoàn bảo đảm được chỉ tiêu về hệ số kỹ thuật, góp phần đồng bộ khí tài đáp
ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu thực chất hơn.

Thực hiện quyết định ngày 12 tháng 1 năm 1988 của Sư đoàn trưởng, Phòng Tham mưu
điều toàn bộ lực lượng pháo 37mm hai nòng của đại đội 12 Trung đoàn 591 sang đại đội 171 Trung
đoàn 240 làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu, điều lực lượng pháo 57mm từ đại đội 171 sang
đại đội 12 làm nhiệm vụ niêm cất bảo quản, tổ chức tiểu đoàn pháo phòng không 30 gồm tiểu đoàn bộ
và 3 đại đội làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Phòng Kỹ thuật, tiểu
đoàn 30 và hai đại đội 12, 171 nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ và xây dựng các nền nếp, chế độ công
tác mới.

Chấp hành quyết định của Quân chủng, tháng 5 năm 1988, sư đoàn chỉ đạo Trung đoàn
radar 295 triển khai trạm 22 gồm các đài radar П-12, П-35 và ПPB-11 tại trận địa CB. Trung đoàn
radar 295 khẩn trương xây dựng trận địa cơ bản, tổ chức tiếp nhận và cơ động khí tài từ Trung đoàn
radar 293 về trận địa an toàn, đúng kế hoạch. Với cố gắng vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ, đến ngày 1
tháng 7, trạm radar 22 bắt đầu làm nhiệm vụ cảnh giới trong mạng radar của Trung đoàn 295 và sẵn
sàng bảo đảm dẫn đường cho bộ đội không quân chiến đấu, huấn luyện.

Trong quý III năm 1988, sư đoàn chú trọng luyện tập chuyển cấp chiến đấu cho các phân
đội kiểm tra chuyển cấp chiến đấu 26 lượt phân đội, hoàn thành kế hoạch diễn tập chỉ huy - tham mưu
cho các lữ đoàn, trung đoàn và diễn tập chiến thuật phân đội cho bộ đội tên lửa, pháo phòng không và
radar. Qua các hoạt động trên, trình độ chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội được
nâng lên rõ rệt.

Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm trong hội nghị hậu cần cơ sở tại tiểu đoàn 81 Trung
đoàn tên lửa 238, chỉ huy sư đoàn đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh tăng gia sản xuất theo mô
hình VAC (vườn, ao, chuồng). Đến cuối năm, toàn sư đoàn đã thu hoạch được 178.620 kg rau xanh,
3.400 kg thịt, 5.820 kg cá và thường xuyên duy trì được 36/39 bếp ăn khá. Kết quả trên đã tích cực
góp phần duy trì ổn định và cải thiện một phần đời sống của bộ đội.

Sau hội thao kỹ thuật cấp trung đoàn và sư đoàn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã tập trung
khắc phục có hiệu quả từng khâu yếu trong bảo quản, kiểm tra, sửa chữa, quản lý và khai thác vũ khí,
khí tài. Do vậy, các chế độ nền nếp và chất lượng công tác bảo đảm kỹ thuật của sư đoàn chuyển biến
rõ rệt. Trong đợt phúc tra cuối năm của đoàn cán bộ Quân chủng, tất cả các đơn vị đều bảo đảm sẵn
sàng chiến đấu, trong đó hai tiểu đoàn kỹ thuật 85 và 50 đạt khá.

Chấp hành nghị quyết số 115/NQ-ĐU ngày 24 tháng 5 năm 1988 của Đảng uỷ quân sự
Trung ương, nghị quyết số 15/NQ ngày 4 tháng 10 năm 1988 của Đảng uỷ và chỉ thị của Tư lệnh
Quân chủng Phòng không về công tác huấn luyện, nhà trường năm 1988-1990, chỉ huy sư đoàn đã chỉ
đạo Phòng Tham mưu nghiên cứu, xây dựng kế hoạch kiện toàn biên chế tổ chức, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, giáo viên, đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, huấn luyện, bổ
sung cơ sở vật chất kỹ thuật, mô hình học cụ cho các đơn vị.

Từ kết quả công tác huấn luyện năm và việc các đơn vị đi bắn dạn thật đều hoàn thành tốt
nhiệm vụ cho thấy: chất lượng đổi mới công tác huấn luyện đã bước đầu thực hiện tết phương châm
huấn luyện "cơ bản, thiết thực, vững chắc", tích cực góp phần nâng cao trình độ chiến đấu của bộ đội.
Đó là thành công trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức huấn luyện của sư đoàn trong năm 1988.

Thành công nổi bật trong công tác đảng, công tác chính trị của sư đoàn năm 1988 là Đảng
uỷ sư đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành đại hội đại biểu cho 11 đảng bộ cơ sở, tạo điều
kiện cho đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn thành công tốt đẹp. Đại hội Đảng bộ sư đoàn đã bầu ra ban
chấp hành Đảng bộ mới gồm 9 đồng chí, đồng chí Là Hồng Phương, Phó sư đoàn trưởng về chính trị
được bầu làm bí thư Đảng uỷ, đồng chí Đoàn Mạnh Dũng, Sư đoàn trưởng được bầu làm phó bí thư.

Cuối năm 1988, đầu năm 1989, tình hình ở biển Đông ngày càng trở nên phức tạp.

Chấp hành mệnh lệnh ngày 20 tháng 2 năm 1989 của Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn trưởng
Đoàn Mạnh Dũng chỉ thị cho các đơn vị trực ban sẵn sàng chiến đấu nghiêm mật, xử lý các tình
huống trên không theo chỉ lệnh tác chiến phòng không số 48/CL-TM ngày 14 tháng 5 năm 1988 của
Bộ Tổng tham mưu; tập trung huấn luyện đánh máy bay bay thấp, tên lửa có cánh trong điều kiện địch
tăng cường tác chiến điện tử, sử dụng vũ khí công nghệ cao và chuẩn bị lực lượng sẵn sàng cơ động
chiến đấu khi có lệnh; tổ chức hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không, không quân trong
thế trận tác chiến phòng thủ khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh; kết hợp sẵn sàng chiến đấu với rèn
luyện kỷ luật và bảo quản vũ khí khí tài.

Thực hiện chỉ thị trên, được sự hướng dẫn và tổ chức của các cơ quan sư đoàn, các đơn vị
đã nghiêm chỉnh thực hiện 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh huấn luyện, rèn luyện chính quy,
chấp hành kỷ luật cho bộ đội và rà soát, bổ sung phương án tác chiến, kế hoạch chiến đấu với các đơn
vị bạn trong khu vực.

Chấp hành Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 17/CT-TM ngày 17 tháng 1 năm
1989 của Bộ Tổng tham mưu, được sự lãnh đạo chỉ đạo của Quân chủng, Đảng uỷ, chỉ huy sư đoàn
tập trung kiện toàn tổ chức theo hướng giảm quân số, lấy chất lượng là chính; chấn chỉnh kế hoạch
động viên, kiên toàn nâng cao chất lượng khung dự bị, xây dựng nền nếp công tác quản lý, từng bước
nâng cao chất lượng dự bị động viên; làm tốt công tác quản lý vũ khí, trang bị, tăng cường bảo quản,
bảo dưỡng, tổ chức niêm cất vũ khí; trang bị chưa dùng đến Đây là bước phát triển mới về xây dựng
lực lượng của sư đoàn theo hướng tinh, gọn, chất lượng cao, kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
giai đoạn cách mạng mới.

Thực hiện quyết định số 105/QĐ-QP ngày 14 tháng 4 năm 1989 của Bộ Quốc phòng, Sư
đoàn trưởng tổ chức giải thể hai trung đoàn 225, 591. Như vậy, biên chế của sư đoàn ở thời điểm này
gồm có các phòng tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, lữ đoàn tên lửa hỗn hợp 255, Trung đoàn
tên lửa 238, Trung đoàn pháo phòng không 240, Trung đoàn radar 295 và tiểu đoàn 11. Cán bộ sư
đoàn gồm các đồng chí: Đoàn Mạnh Dũng, Sư đoàn trưởng; Lã Hồng Phương, Phó sư đoàn trưởng -
Chính trị; Tống Ngọc Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng; Phạm Ngọc Nguyên, Phó sư
đoàn trưởng - Quân sự. Đồng chí Phạm Ngọc Diên làm chủ nhiệm chính trị. Đồng chí Nguyễn Văn
Tư làm chủ nhiệm kỹ thuật. Đồng chí Nguyễn Thiện Tĩnh bàn giao cho đồng chí Dực làm chủ nhiệm
hậu cần.

Ngày 20 tháng 6 năm 1989, Sư đoàn trưởng ra quyết định điều nguyên canh tiểu đoàn 11 từ
trực thuộc sư đoàn về trực thuộc Phòng Tham mưu. Thực hiện quyết định trên, Phòng tham mưu tổ
chức tiếp nhận và cơ động tiểu đoàn 11 từ Xuân Sơn về xây dựng trận địa ở đường Phạm Hồng Thái.

Sau khi tiếp nhận các đại đội pháo của hai trung đoàn 225, 591 vừa giải thể, được sự chỉ
đạo của sư đoàn, Đảng uỷ, chỉ huy Trung đoàn 240 tổ chức điều chỉnh lực lượng và đội hình chiến
đấu, ổn định về mọi mặt, tiếp tục làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Trong quý II năm 1989, sư đoàn tiến hành diễn tập chỉ huy tham mưu đánh địch tập kích
đường không bảo vệ Hải Phòng có một phần làm thực binh. Do đã được diễn tập nhiều lần, trình độ tổ
chức chỉ huy về chiến thuật - chiến dịch được nâng lên và với trách nhiệm cao, từ sư đoàn đến các
đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ. Nổi bật trong cuộc diễn tập này, sư đoàn tổ chức thực hành cơ động
sở chỉ huy, một số phân đội chiến đấu đúng kế hoạch và bảo đảm an toàn; tổ chức chỉ huy các đơn vị
đánh trả cuộc tập kích đường không của địch và tổ chức động viên quân dự bị có nhiều tiến bộ rõ nét.
Đây là bước tiến bộ mới về trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến phòng không bảo vệ yếu địa ven biển
Hải Phòng.

Sau khi tiến hành hội nghị sơ kết công tác đảm bảo kỹ thuật ở Lữ đoàn 255, chỉ huy sư
đoàn tổ chức cho các đơn vị rút kinh nghiệm về công tác bảo quản, bảo dưỡng, khai thác,sử dụng và
niêm cất vũ khí trang bị. Trên cơ sở đó ngành kỹ thuật ở các cấp đã chủ động và đẩy mạnh công tác
kỹ thuật, tích cực kiểm tra, sửa chữa khí tài bỏng hóc để phục vụ sẵn sàng chiến đấu và diễn tập bắn
đạn thật.

Để kiểm tra kết quả thực hiện đổi mới phương pháp huấn luyện, cuối năm 1989, Quân
chủng tổ chức diễn tập chiến thuật và bắn đạn thật cho bộ đội pháo phòng không, tên lửa A-72, A-87
tại trường bắn Cấm Sơn, Mây Tào và tổ chức bắn đạn thật cho bộ đội tên lửa tại Đồng Châu, Thái
Bình. Thực hiện kế hoạch của Quân chủng, sư đoàn tổ chức cho đại đội pháo phòng không 171, đại
đội A-72 thực hành diễn tập chiến thuật và bắn đạn thật tại trường bắn Cấm Sơn (TB-1); tiểu đoàn 191
Lữ đoàn 255 bắn đạn thật tại Đồng Châu. Kết quả, cả ba đơn vị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Tiểu đoàn 191 hiệp đồng bắn trúng mục tiêu M-10, đoạt loại giỏi. Đại đội 17, bốn lần bắn trúng mục
tiêu đoạt loại giỏi. Lực lượng A-72 đoạt giải nhất, đồng chí Nguyễn Tiến Lự đoạt giải nhất. Kết quả
trên là thành công của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và sự rèn luyện công phu của cán bộ chiến sĩ về thực
hiện đổi mới phương pháp huấn luyện của sư đoàn.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng và mệnh lệnh số 542/BTL ngày 9 tháng 12
năm 1989 của Tư lệnh Quân chủng, đầu năm 1990, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn chủ trương: tập trung
xây dựng sư đoàn với chất lượng cao, thực chất, vững chắc, đồng đều hơn. Hiệp đồng chặt chẽ với các
lực lượng trong khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý và bảo vệ vững
chắc bầu trời Hải Phòng và phía đông- đông nam của Tổ quốc. Cùng với các lực lượng vũ trang và
nhân dân địa phương đối phó có hiệu quả chiến lược chiến tranh phá hoại của kẻ thù. Tích cực lao
động sản xuất làm kinh tế đạt hiệu quả cao hơn. Sẵn sang nhận và hoàn thành nhiệm vụ trên giao.

Thực hiện chủ trương trên, sư đoàn chỉ đạo Trung đoàn radar 295 tổ chức kiện toàn biên
chế các trạm radar 27, 66; củng cố sở chỉ huy trung đoàn và các trạm, quy định thông báo cụ thể khi
phát hiện địch có triệu chứng xâm phạm vùng trời được giao. Sư đoàn thường xuyên duy trì lực lượng
tên lửa, pháo và radar chấp hành nghiêm túc 10 chế độ chiến đấu, thực hiện tốt việc báo động thường
xuyên và đột xuất để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và quản lý vùng trời của sư đoàn.

Đồng thời với việc bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch sẵn sang chiến đấu thường xuyên, chỉ
huy sư đoàn còn tổ chức làm kế hoạch chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch
(gọi tắt là kế hoạch A2); tổ chức diễn tập người chỉ huy cơ quan tham mưu có một số phân đội làm
thực binh nhằm sẵn sang đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

Trong năm 1990, các cơ quan, đơn vị còn sôi nổi thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm
60 năm ngày thành lập Đảng, 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 45 năm thành lập
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là động lực mạnh mẽ, tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ, đạt 5 mục tiêu của cuộc vận động lớn.

Năm 1991, sau chiến tranh vùng Vịnh, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu bị
khủng hoảng chính trị nghiêm trọng. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tích cực chống phá
cách mạng nước ta hòng gây bạo loạn, lật đổ ở một số nơi. Tình hình khu vực, nhất là biển Đông tiếp
tục diễn biến phức tạp. Những điều đó ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng cán bộ, chiến sĩ.

Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, trực tiếp là của Đảng uỷ
và Tư lệnh Quân chủng, hướng dẫn của Cục Chính trị, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn đã lãnh đạo, tổ
chức đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ cho bộ đội nhận thức rõ trách nhiệm
chính trị, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nêu cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu
để cùng với quân dân cả nước đánh bại mọi âm mưu của địch.

Lãnh đạo, chỉ huy các cấp đẩy mạnh công tác đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng các
tổ chức, trước hết là các tổ chức đảng, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là hạt
nhân lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, củng cố trận địa tư tưởng trong sư đoàn; tích cực xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và
lâu dài; xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh, tăng cường mối liên hệ giữa đảng viên với
quần chúng và công tác dân vận trong tình hình mới.

Thực hiện quyết định số 44/QĐ-QP ngày 29 tháng 1 năm 1991 của Bộ Quốc phòng, sư
đoàn chấn chỉnh tổ chức biên chế Lữ đoàn tên lửa 255 thành Trung đoàn tên lửa 255. Qua sự kiện này,
sư đoàn rút ra bài học: việc tổ chức lữ đoàn tên lửa hỗn hợp, hiện đại, đồng bộ có hoả lực mạnh, khả
năng chỉ huy tự động cao làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa Hải Phòng có ý nghĩa rất quan trọng trong tác
chiến phòng thủ khu vực của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do ta chưa đủ
khả năng và trình độ để quản lý, duy trì bảo đảm kỹ thuật đồng bộ, nhất là đối với sở chỉ huy tự động
ACY nên không phát huy được sức mạnh tổng hợp của lữ đoàn tên lửa phòng không hiện đại. Có
nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là ta chưa đào tạo được đội ngũ cán bộ chỉ huy, cán bộ, nhân viên
và bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật. Đây là một trong những việc cần nghiên cứu, giải quyết trong
phương hướng nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ và xây dựng lực lượng trong hiện tại và tương lai.

Đầu quý I năm 1991, đồng chí Tống Ngọc Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng
được bổ nhiệm chức sư đoàn trưởng, thay đồng chí Đoàn Mạnh Dũng nghỉ hưu; đồng chí Vũ Mạnh
Hốt được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng quân sự.

Thực hiện quyết định của trên, sư đoàn điều đại đội huấn luyện radar 58 của Trung đoàn
radar 295 về trực thuộc tiểu đoàn 11 làm nhiệm vụ huấn luyện trắc thủ radar; tiếp nhận Trung đoàn tên
lửa 281, các đại đội của Trung đoàn pháo phòng không 230 và toàn bộ vũ khí, khí tài của Trung đoàn
tên lửa 257 của Sư đoàn 369, tổ chức các đại đội pháo phòng không thành tiểu đoàn 528; đổi phiên
hiệu Trung đoàn tên lửa 255 thành Trung đoàn tên lửa 285.

Như vậy, thời kỳ này sư đoàn được biên chế 3 trung đoàn tên lửa (238, 281, 285), Trung
đoàn pháo phòng không 240, tiểu đoàn pháo phòng không 528, Trung đoàn radar 295, tiểu đoàn huấn
luyện 11 và một kho lớn ở Kim Sen (Phả Lại). Các lực lượng trên triển khai làm nhiệm vụ sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở thành phố Hải Phòng, các tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình, Hải
Dương và vùng Đông Bắc của Tổ quốc.

Đồng thời với việc chấn chỉnh, kiện toàn biên chế tổ chức, rút gọn cho đơn vị, sư đoàn kịp
thời chỉ đạo những đơn vị cơ động về vị trí mới phải giữ nguyên toàn bộ hệ thống doanh trại, trận địa;
các đơn vị sáp nhập tiếp nhận nguyên canh đơn vị cũ; thanh quyết toán dứt điểm cho các đơn vị giải
thể; khẩn trương ổn định nơi ăn ở và làm nhiệm vụ dược giao. Chỉ huy sư đoàn chỉ đạo Phòng Tham
mưu nghiên cứu bổ sung phương án tác chiến, tổ chức hiệp đồng chiến đấu và chỉ đạo các cơ quan
hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị triển khai thực hiện các kế hoạch của sư đoàn, tập trung xây dựng
trung đoàn mạnh.

Ngày 11 tháng 10 năm 1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 9 (vòng 2) được
tiến hành trọng thể. Đại hội nhất trí đánh giá: Trong nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ đã nêu cao trách
nhiệm, phát huy được vai trò lãnh đạo, củng cố và nâng cao khả năng quản lý vùng trời, sẵn sàng
chiến đấu thực chất hơn, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, trong đó nhiệm vụ quản lý vùng trời,
sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm kỹ thuật hoàn thành tốt.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết
24 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 01 của Đảng uỷ quân sự Trung ương, Nghị quyết Đại hội lần thứ 2
của Đảng bộ Quân chủng và đặc điểm tình hình nhiệm vụ trên giao, đại hội đề ra phương hướng lãnh
đạo trong nhiệm kỳ tới là: Nêu cao vai trò lãnh đạo của toàn Đảng bộ, xây dựng sư đoàn vững mạnh,
cơ bản, toàn diện, trong đó lấy xây dựng chính trị tư tưởng làm cơ sở để nâng cao sức mạnh tổng hợp,
hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý vùng trời và bảo vệ các mục tiêu được giao, thực hành xử lý 5 tình
huống trên không có thể xảy ra, cùng với các đơn vị bạn, địa phương tích cực chống chiến lược diễn
biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch, để bảo vệ đại hội Đảng các cấp, nhất là Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khác.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 9 đồng chí. Đồng chí Lã Hồng Phương
được bầu làm bí thư đảng uỷ. Đồng chí Tống Ngọc Dũng được bầu làm phó bí thư.

Thực hiện quyết định ngày 30 tháng 12 năm 1991 của Tư lệnh Quân chủng, chỉ huy sư
đoàn tổ chức đổi phiên hiệu cho các phân đội tên lửa. Trung đoàn tên lửa 285: tiểu đoàn 46 mang
phiên hiệu tiểu đoàn 71, tiểu đoàn 182 mang phiên hiệu tiểu đoàn 72, tiểu đoàn 47 mang phiên hiệu
tiểu đoàn 73 (đơn vị anh hùng), tiểu đoàn 49 mang phiên hiệu tiểu đoàn 74, tiểu đoàn kỹ thuật 50
mang phiên hiệu tiểu đoàn kỹ thuật 75. Sau khi tiểu đoàn 72 chuyển về Trường sĩ quan phòng không,
tiểu đoàn 74 được đổi thành tiểu đoàn 72. Trung đoàn tên lửa 238: tiểu đoàn 76 mang phiên hiệu tiểu
đoàn niêm cất 84B, tiểu đoàn 77 mang phiên hiệu tiểu đoàn 84C, tiểu đoàn kỹ thuật 80 mang phiên
hiệu tiểu đoàn kỹ thuật 85.

Năm 1991, với quyết tâm cao và cố gắng vượt bậc, Sư đoàn phòng không 363 đã thực hiện
thắng lợi chủ trương hướng về cơ sở, xây dựng trung đoàn mạnh với những tiến bộ mới, vững chắc
hơn trước. Điển hình nhất là tiếp nhận phiên hiệu của những đơn vị có bề dày thành tích, chấn chỉnh
kiện toàn biên chế, dồn dịch đội hình chiến đấu và ổn định nền nếp chiến đấu, công tác sinh hoạt cho
các đơn vị. Hệ số chiến đấu của các loại vũ khí, khí tài đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. 35143 lượt phân đội
trực chiến được nhận cờ "Phân đội trực ban khá nhất" của Tư lệnh Quân chủng, tiêu biểu là các tiểu
đoàn 73, 74 Trung đoàn 285, các tiểu đoàn 81, 82, Trung đoàn 238, các đại đội 172, A-72 Trung đoàn
240, tiểu đoàn 183 Trung đoàn 281 và các trạm radar 25, 27, 28 Trung đoàn 295.

Do thực hiện tốt phong trào "5 tốt kỹ thuật", hệ số kỹ thuật của tên lửa là 89,16% vượt
16,3%; radar cảnh giới là 92,4%, vượt 15%; pháo phòng không đạt 100%, vượt 2%; ô-tô, xe máy đạt
67,8%. Ngoài ra sư đoàn còn tổ chức đóng được 6 xe công nông để chuyên chở lương thực, thực
phẩm và các vật liệu khác. Nổi bật trong công tác bảo đảm kỹ thuật là bảo quản niêm cất toàn bộ vũ
khí khí tài tiếp nhận từ Trung đoàn tên lửa 257; xây dựng xong khu niêm cất tập trung ở Kim Sen với
số tiền trên 5 tỉ đồng, xây dựng được 8.290 m2 nhà kho, làm hơn 1.000 m2 đường nội bộ và đầy đủ hệ
thống cứu hoả, trạm biến áp, giềng khoan…

Thực hiện phong trào thi đua xây dựng "trận địa vành đai xanh", "Đơn vị hậu cần 4 tốt" các
đơn vị đã tận dụng khả năng của từng trận địa, tổ chức lao động tăng gia sản xuất theo mô hình VAC.
Do đó sư đoàn đã đạt và vượt các chỉ tiêu về tăng gia, sản xuất, tích cực góp phần cải thiện đời sống
của bộ đội.
Do hoàn thành tốt nhiệm vụ, các đảng bộ 240, 238, 285, 281 được công nhận đạt trong
sạch vững mạnh; các đảng bộ Phòng Chính trị, Tham mưu, Kỹ thuật, hậu cần và Trung đoàn 295 đạt
mức khá; sư đoàn được Quân chủng tặng cờ bảo đảm kỹ thuật khá; Trung đoàn 240 được nhận cờ
thưởng luân lưu của Thủ tướng Chính phủ.

Chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ, mệnh lệnh công tác quân sự của Tư lệnh Quân chủng
và 2 nghị quyết chuyên đề số 04, 05 ngày 7 tháng 1 năm 1992 của Đảng uỷ Quân chủng về "giữ vững
và cải thiện một phần đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội trong 2 năm 1992-1993", "Chương trình
toàn Quân chủng hành động theo điều lệnh, chấp hành pháp luật, xây dựng nền nếp chính quy, nâng
cao chất lượng tổng hợp", ngày 23 tháng 1 năm 1992, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ năm 1992.

Với tinh thần đổi mới, Đảng uỷ nhất trí với 4 tình huống mà Quân uỷ Trung ương đã dự
kiến và xác định nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của sư đoàn là sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời,
chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch và nhiệm vụ có tính chất sống còn là
"tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng"; đồng thời thực hiện "toàn sư đoàn hành động theo điều lệnh", đẩy
mạnh xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật và đẩy mạnh tăng gia sản xuất.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng trung đoàn, sư đoàn mạnh, Đảng uỷ quyết
định chọn đại đội 171, trạm 22, các tiểu đoàn 73, 82, 183, 11 làm mẫu theo từng loại hình đơn vị để
rút kinh nghiệm, chỉ đạo chung trong toàn sư đoàn.

Thực hiện chủ trương xây dựng lực lượng tinh, gọn, chất lượng cao của cấp trên, sư đoàn
tổ chức rà soát, kiện toàn biên chế theo sự chỉ đạo của trên. Các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến
đấu được biên chế đủ quân số, các thành phần thông tin, trinh sát. Những phân đội bảo quản niêm cất
đủ quân số bảo quản, quản lý và canh gác. Các đơn vị nắm chắc nguồn dự bị động viên, hiệp đồng
chặt chẽ với cơ quan, chính quyền địa phương, tiếp nhận, quản lý theo chỉ tiêu được giao. Thời kỳ này
quân số toàn sư đoàn chỉ còn 4.460 người, trong đó có 868 sĩ quan, 2.750 hạ sĩ quan chiến sĩ và 842
công nhân viên.Chấp hành quyết định của cấp trên, sư đoàn tiến hành giải thể trạm radar 65, đại đội
A-87; thành lập đại đội 174 trang bị 6 khẩu pháo 57mm trực thuộc Trung đoàn 240, đại đội 21 trang
bị 6 khẩu pháo 37mm trực thuộc tiểu đoàn 528, chuyển đại đội 23 trang bị pháo 37mm sang loại pháo
57mm thuộc tiểu đoàn 528. Đến ngày 31 tháng 3 năm 1992 các đại đội 174, 21, 23 và A-72 làm
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Được sự chỉ đạo của Bộ Tham mưu Quân chủng, sư đoàn triển khai kế hoạch hl-lấn luyện
đánh đêm và cơ động trong tình huống gấp cho các phân đội pháo phòng không. Nhận rõ đây là vấn
đề chiến thuật có ý nghĩa rất quan trọng trong tác chiến phòng không hiện đại trong thế trận chiến
tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, từ cơ quan đến đơn vị đều nêu cao trách nhiệm thực hiện tốt kế hoạch
trên. Đó là bước phát triển mới về xây dựng lực lượng của sư đoàn trong thời bình, kịp thời đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Quán triệt hai nghị quyết chuyên đề của Quân chủng và nghị quyết chuyên đề của Đảng uỷ
sư đoàn, với tinh thần tự lực, tự cường, các cơ quan, đơn vị đã khắc phục mọi khó khăn, thực hiện
nghiêm chỉnh kế hoạch của sư đoàn về khắc phục các mặt yếu về kỹ thuật, kỷ luật và đời
sống; đẩy mạnh xây dựng chính quy, nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu và tích cực lao động sản
xuất.

Các cơ quan, đơn vị tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập những nội dung cơ bản về điều
lệnh quản lý bộ đội, chế độ huấn luyện, chiến đấu và pháp luật của Nhà nước. Các đơn vị tổ chức xây
dựng doanh trại, trận địa, sở chỉ huy theo các quy định thống nhất của Quân chủng và sư đoàn. 100%
trung đoàn xây dựng đơn vị điểm về huấn luyện chiến sĩ mới và đều có chuyển biến tiến bộ rõ rệt về
rèn luyện bộ đội theo nền nếp chính quy. Chính vì vậy, số vụ việc trong toàn sư đoàn giảm đáng kể.

Từ thành công trên, sư đoàn đã rút ra một số bài học kinh nghiệm:

- Lãnh đạo chỉ huy các cấp phải thực sự nhất trí về quan điểm, phương pháp tiến hành, mục
tiêu cần dứt điểm, tìm ra phương hướng, biện pháp cụ thể để dứt điểm từng khâu yếu, mặt yếu phù
hợp với đặc điểm tình hình đơn vị. Biết đầu tư đúng mức xây dựng đơn vị điểm để từ đó phát triển
đều khắp, biết dứt điểm các nội dung chủ yếu, làm tiền đề cho việc xây dựng các nội dung tiếp theo.

- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tính tự giác, trách nhiệm của mỗi người với việc học tập
nâng cao nhận thức về điều lệnh quân đội pháp luật Nhà nước, đồng thời có những biện pháp hiệu quả
thực hiện chức trách, kiên quyết duy tư nghiêm túc các nền nếp chế độ quy định.

- Phải gắn chặt mọi hoạt động của đơn vị với việc chấp hành điều lệnh. Tăng cường công
tác kiểm tra, hội thao về điều lệnh từ cơ quan đến đơn vị, giữ vững chế độ thông báo, nhận xét về điều
lệnh ở mỗi cấp. Động viên khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân chấp hành tốt. Nghiêm
khắc phê bình, xử phạt các hiện tượng vi phạm kỷ luật.

Những bài học này cần được lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong sư đoàn tiếp tục nghiên cứu,
vận dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, để góp phần xây dựng trung đoàn, sư đoàn mạnh
toàn diện.

Để phát huy thế mạnh hậu cần tại chỗ, sư đoàn đã tổ chức thực hiện các mũi nhọn là khu
tăng gia tập trung, nuôi tôm, khai thác than, lò vôi và vận chuyển kết hợp, liên doanh liên kết để làm
ra sản phẩm. Các đơn vị tận dụng ao hồ, đồi trọc, đất hoang hoá xung quanh doanh trại, tích cực lao
động tăng gia tại chỗ. Những biện pháp trên cùng với tinh thần tích cực, chủ động và cố gắng của cán
bộ, chiến sĩ đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của bộ đội.

Sau hơn 4 năm giữ cương vị Phó sư đoàn trưởng về chính trị Bí thư Đảng uỷ sư đoàn, giữa
năm 1992, đồng chí Lã Hồng Phương được bổ nhiệm chức vụ chủ nhiệm chính trị Quân chủng. Đồng
chí Đỗ Ngọc Phụ, Chủ nhiệm chính trị sư đoàn được bổ nhiệm chức vụ Phó sư đoàn rưởng về chính
trị - Bí thư Đảng uỷ sư đoàn.

Thực hiện "Tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng", Đảng uỷ sư đoàn đã tiến hành khảo sát, đánh
giá thận trọng các tổ chức Đảng, đội ngũ đảng viên; chỉ đạo các cấp tiến hành giáo dục, nâng cao
trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng, đưa đảng viên có từng mặt yếu trở lại đúng vị
trí, củng cố đoàn kết nội bộ. Hệ thống quy chế làm việc của các cấp, chi bộ được triển khai và thực
hiện đồng bộ tư cơ quan đến đơn vị, từ cấp uỷ cơ sở đến các chi bộ, tạo được sự chuyển biến tích cực
trong chấp hành nguyên tắc tổ chức, thực hiện lãnh đạo của các tổ chức Đảng, vai trò trách nhiệm cá
nhân trong tổ chức thực hiện, khắc phục dần những nhận thức chưa đúng vai trò lãnh đạo của Đảng.

Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và hướng dẫn của
các cơ quan chính trị, Đảng bộ sư đoàn vẫn phát huy vai trò lãnh đạo, số đảng bộ, chi bộ trong sạch
vững mạnh trong năm 1992 tăng hơn năm trước, một số chi bộ yếu kém đều có chuyển biến tích cực.
Đó là cơ sở rất quan trọng để sư đoàn hoàn thành mọi nhiệm vụ trong năm 1992.

Chấp hành chỉ lệnh của Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn trưởng tập trung chỉ đạo, tổ chức
cho các đơn vị thực hiện 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu mới từ ngày 15 tháng 1 năm 1993 và chỉ thị
sẵn sàng chiến đấu số 124/TC-TM của Bộ Tổng tham mưu; sẵn sang đối phó có hiệu quả 5 tình huống
đã dự kiến. Cũng trong thời gian này, sư đoàn đã tổ chức bổ sung hoàn chỉnh phương án chống diễn
biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch (A2), xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu thường xuyên và
rà soát, bổ sung cá phương án hiệp đồng chiến đấu của các lực lượng trong khu vực nhằm nâng cao
khả năng sẵn sàng chiến đấu, chống bất ngờ lỡ thời cơ đánh trả các cuộc tập kích đường không của
địch.

Thực hiện quyết định của Tư lệnh Quân chủng và sư đoàn trưởng, đầu năm 1993, Phòng
Tham mưu và Phòng Kỹ thuật tổ chức bàn giao nguyên canh trận địa Đồng Gia của Trung đoàn 285
cho Trung đoàn 295 làm trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới; điều động đại đội 25 tiểu đoàn 528 với
toàn bộ quân số, vũ khí trang bị về trực thuộc kho 84 Trung đoàn 238, tiếp đó lại điều kho 84 về trực
thuộc sư đoàn.

Từ năm 1993, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không chỉ đạo Sư đoàn 363 là
đơn vị điểm về xây dựng sư đoàn mạnh của Quân chủng. Thực hiện sự chỉ đạo trên, lãnh đạo, chỉ huy
sư đoàn đã triển khai kế hoạch xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện.

Ngày 10 tháng 9 năm 1993, sư đoàn tiến hành hội nghị sơ kết cuộc vận động "Quản lý xe,
máy tốt, bền, an toàn, tiết kiệm" từ năm 1981 đến năm 1993. Trong báo cáo của sư đoàn nêu rõ: sư
đoàn đóng quân trên 4 tỉnh, thành nên có nhiều khó khăn phức tạp, trong tình trạng vật tư thiếu, xăng
dầu có hạn. Trong khi đó số lượng xe năm 1989 là 721 chiếc, năm 1992 là 900 chiếc và 284 trạm
nguồn điện bao gồm nhiều chủng loại. Từ thực tế đó sư đoàn đã đi sâu nghiên cứu, ra nghị quyết
chuyên đề lãnh đạo và kế hoạch xây dựng ngành xe, máy; kết hợp với đơn vị khảo sát, đăng ký đầy đủ
toàn bộ xe máy của sư đoàn. Qua đợt tổng kiểm kê ngày 1 tháng 1 năm 1993, công tác quản lý được
thực hiện chặt chẽ hơn, ngành xe máy hoạt động có chất lượng hơn. Đến tháng 7 năm 1993, toàn sư
đoàn đã làm nhà che đậy cho 90% xe máy, cải tiến được xe cần cẩu để khai thác hết tính năng kỹ
thuật. Với tinh thần tiếp thu phê bình, khắc phục một số mặt còn yếu kém, ngành xe của sư đoàn đã
từng bước thực hiện tốt các chế độ nền nếp, nâng cao chất lượng công tác, tự khắc phục sửa chữa
được hơn 300 xe các loại, bảo đảm cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, cơ động và xây dựng.

Trong quý IV năm 1993, sơ kết 2 năm thực hiện các chuyên đề của sư đoàn nêu rõ: Các
cấp đã gắn thực hiện chỉ thị 37 về xây dựng chính quy với xây dựng đơn vị mạnh. Thực tiễn cho thấy,
đơn vị nào có nền nếp chính quy, trách nhiệm tốt thì hiệu quả thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, vụ việc vi
phạm kỷ luật giảm. Về chuyên đề bảo đảm đời sống cho bộ đội, các cấp đã cơ bản hoàn thành các chỉ
tiêu đề ra, mô hình VAC ở nhiều đơn vị đạt hiệu quả thiết thực. Trong năm 1993, sản phẩm thu được
từ tăng gia sản xuất lên tới 756.277.000 đồng, đưa vào bữa ăn của bộ đội là 482.058.000 đồng. Trong
2 năm 1992-1993 sư đoàn đã tiết kiệm được 422 tấn than, trị giá 42.200.000 đồng, góp phần múa sắm
trang bị dụng cụ cấp dưỡng, bàn ghế cho các bếp ăn, xây dựng được 38/44 bếp ăn khá, vượt chỉ tiêu
11,3%, không có bếp ăn kém. Sư đoàn còn trích vốn tự có 13.268.000 đồng để mua sắm thêm giầy,
mũ, quân hàm và tổ chức may vá cho bộ đội tại các đơn vị.

Việc củng cố trận địa, nâng cấp nhà ở được lãnh đạo, chỉ huy các cấp chú ý đầu tư thích
đáng. Trong 2 năm (1992- 1993) toàn sư đoàn đã xây dựng được 18.955 m2 nhà ở (có 499 m2 nhà cơ
bản cấp 2), sửa chữa 38.941 m2 và xây dựng được 2.295 m2 công trình phụ các loại với tổng kinh phí
là 2.521.600.000 đồng, trong đó kinh phí tự có là 1.401.000.000 đồng. Các đơn vị đóng quaan ở đảo,
trên núi cao hoặc sát biển, không có điều kiện đưa nước máy đến hoặc khoan giếng đã tổ chức xây
dựng bể nước sạch phục vụ sinh hoạt cho bộ đội.

Với những thành tích trên, hai năm liền (1992- 1993), sư đoàn được Quân chủng tặng cờ
đơn vị khá nhất về công tác hậu cần.

Trong đợt kiểm tra huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu các kíp tên lửa, pháo phòng không và
các hội thi, hội thao cuối năm 1993 của Quân chủng, Sư đoàn 363 đạt điểm cao nhất trong các sư
đoàn về phân đội pháo phòng không giỏi; Trung đoàn 240 được tặng cờ "Khẩu đội pháo phòng không
huấn luyện giỏi năm 1993".

Năm 1994 là năm kỷ niệm 40 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 50 năm ngày thành
lập Quân đội nhân dân, đồng thời là năm thực hiện đồng bộ kế hoạch xây dựng sư đoàn mạnh.

Ngay từ đầu năm, Đảng uỷ sư đoàn đã ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện 4 nhiệm vụ chính,
trong đó có nhiệm vụ xây dựng sư đoàn mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm cho toàn Đảng bộ
luôn là một khối thống nhất, nâng cao vai trò lãnh đạo, bảo đảm cho sư đoàn hoàn thành tốt mọi
nhiệm vụ.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ và kế hoạch của Sư đoàn trưởng, các đơn vị vừa chấp
hành nghiêm túc 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu mới của Quân chủng, vừa tích cực chẳng chiến lược
diễn biến hoà bình,bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, chuẩn bị đối phó có hiệu quả 5 tình huống
đã dự kiến; phấn đấu hạn chế đến mức thấp nhất yếu tố không thực chất trong sẵn sàng chiến đấu,
quản lý vùng trời, giúp đỡ các lực lượng phòng không trong khu vực nâng cao sức mạnh chiến đấu;
đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về bảo đảm vũ khí, trang bị; đẩy mạnh các mặt xây dựng, nổi lên là xây
dựng nền nếp chính quy thực hiện chỉ thị 37 của Đảng uỷ quân sự trung ương, chỉ thị 85 và quy định
234 của Bộ Tổng tham mưu, coi đó là nội dung chủ yếu để xây dựng trung đoàn mạnh, sư đoàn mạnh.

Tháng 4 năm 1994, đồng chí thượng tá Dương Anh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu
trưởng được bổ nhiệm chức Sư đoàn trưởng thay đồng chí Tống Ngọc Dũng về Bộ Tổng tham mưu
nhận nhiệm vụ mới.

Trong 2 ngày 19 và 20 tháng 5 năm 1994, hội nghị đại biểu Đảng bộ sư đoàn giữa nhiệm
kỳ được tiến hành. 58 đảng viên thay mặt gần 1.000 đảng viên trong Đảng bộ dự hội nghị. Hội nghị
đã phân tích, làm rõ những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân về công tác lãnh đạo trong 2 năm qua và
quyết nghị phương hướng lãnh đạo trong 2 năm tới.
Đánh giá kết quả đại hội Đảng bộ cơ sở, hội nghị nêu rõ: Do làm tốt công tác chuẩn bị, có
10/10 đảng bộ tổ chức đại hội thành công tốt đẹp. 103 ý kiến trong các đại hội trên đều nhất trí với
báo cáo của Đảng uỷ và xác định phương hướng nhiệm kỳ 1994-1996.Trong số 74 đồng chí được bầu
vào ban chấp hành Đảng bộ mới có 56 đồng chí được bầu lại, 100% là cán bộ chủ trì. Thành công của
các đại hội Đảng bộ cơ sở thể hiện sự chỉ đạo sát, đúng của Đảng uỷ sư đoàn, sự đoàn kết nhất trí cao
trong đại hội, là cơ sở rất quan trọng tạo điều kiện cho các trung đoàn và toàn sư đoàn hoàn thành tốt
mọi nhiệm vụ.

Triển khai thực hiện nghị quyết của đảng uỷ và kế hoạch của Sư đoàn trưởng, bộ phận lịch
sử của sư đoàn được thành lập do đồng chí Phó sư đoàn trưởng về chính trị phụ trách với sự chỉ đạo
trực tiếp của Thường vụ Đảng uỷ chỉ huy sư đoàn và sự giúp đỡ của ban lịch sử Quân chủng do
thượng tá Nguyễn Thế Kỷ trực tiếp đảm nhiệm. Quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp
tiến hành biên soạn cuốn lịch sử của sư đoàn, tất cả các thành phần trên đã nêu cao trách nhiệm khẩn
trương thực hiện kế hoạch đề ra.

Từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 7 năm 1994, chỉ huy sư đoàn mời một số đồng chí lãnh đạo,
chỉ huy sư đoàn các thời kỳ đến dự hội nghị thông qua đề cương lịch sử của sư đoàn. Là những cán bộ
chủ chốt cùng sư đoàn trực tiếp làm nên lịch sử và với nhiệt tình, trách nhiệm cao, các đồng chí đã
đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện cho ban biên soạn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Ngày 22 tháng 8 năm 1994, sau khi kiểm tra Đảng uỷ Sư đoàn 363, Thường vụ Đảng uỷ
Quân chủng kết luận: Tập thể đảng uỷ đã xác định rõ vị trí, trách nhiệm, chấp hành nghiêm túc chỉ thị,
nghị quyết của cấp trên. Trong lãnh đạo, đề ra chủ trương, biện pháp sát, đúng, quán triệt quan điểm
tự lực, tự cường, chủ động điều chỉnh đội hình chiến đấu, bảo quản sửa chữa khí tài phục vụ nhiệm vụ
sẵn sàng chiến đấu. Giữ được đoàn kết, nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế lãnh đạo được tiến hành
thống nhất, phát huy trách nhiệm cá nhân từng đảng viên. Trong công tác quản lý đã gắn xây dựng đội
ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng lực lượng hiện có để tiếp tục bồi dưỡng, giáo
dục, phát triển trước mắt cũng như lâu dài. Đây là điều Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng nhấn mạnh
để Đảng uỷ sư đoàn thực hiện tết hơn nữa trong thời gian tới.

Thực hiện kết luận trên, Đảng uỷ sư đoàn đã đề ra một số chủ trương, biện pháp nhằm tiếp
tục phát huy ưu điểm, khắc phục tồn tại và thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ Quân
chủng.

Tiếp tục quán triệt phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc", sư đoàn đã chỉ đạo các cơ
quan, đơn vị gắn chặt huấn luyện với yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị, sát thực tế chiến đấu nhằm
nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời. Sau khi nghiên cứu,
xem xét các chỉ tiêu, chỉ huy sư đoàn đã chỉ đạo các trung đoàn làm kế hoạch tháng, phân đội làm tiến
trình biểu huấn luyện tuần. Toàn sư đoàn đã mở được 13 lớp tập huấn cho 396 một cán bộ. Trong quá
trình huấn luyện, sư đoàn đã chỉ đạo nâng cấp tiểu đoàn 11 chuyên đào tạo đài trưởng, tiểu đội trưởng
A-72 cho các quân khu, quân đoàn và huấn luyện 1.460 chiến sĩ mới.

Do nhận thức tốt và tổ chức thực hiện chặt chẽ, các trung đoàn đều hoàn thành kế hoạch
huấn luyện với 5/10 kíp chiến đấu đạt loại khá, 3/3 dây chuyền sản xuất đạn đạt khá, riêng dây chuyền
sản xuất đạn của tiểu đoàn 75 đạt giỏi, tiểu đoàn 81 Trung đoàn 238 và tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285
tham gia bắn đạn thật trúng mục tiêu, hoàn thành tết nhiệm vụ.

Trong xây dựng chính quy, toàn sư đoàn thực hiện theo 4 nội dung và 7 biện pháp, thống
nhất mô hình ăn ở, sinh hoạt, học tập với 21 chi tiết nội vụ, 10 chế độ trong ngày, 3 chế độ trong tuần,
6 chế độ huấn luyện và 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu mới. Thực hiện đổi mới tác phong công tác, từng
cấp làm việc có kế hoạch, mọi người làm việc theo chức trách và có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể. Đó là
những nội dung quan trọng trong phong trào thi đua "Toàn sư đoàn làm theo điều lệnh".

Công tác kỹ thuật, hậu cần thường xuyên được lãnh đạo chỉ huy các cấp quan tâm, giữ
vững được đơn vị khá trong Quân chủng, trong đó có nhiều mặt tiến bộ nhất là bảo đảm đời sống vật
chất, tinh thần cho bộ đội. Nền nếp hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi với
nhiều nội dung, hình thức phong phú có tác dụng thiết thực và lành mạnh. Hầu hết các phân đội đều
có phòng Hồ Chí Minh, trang bị máy thu hình, thu thanh và hệ thống truyền thanh nội bộ; xây dựng,
củng cố vườn hoa, cây cảnh, đường trong doanh trại, trận địa làm cho đơn vị ngày càng khang trang
sạch đẹp.

Nổi bật trong tăng gia sản xuất của sư đoàn là 72 héc-ta đồng tôm ở Cát Bi, 5 héc-ta cây
trồng với nhiều diện tích cây ăn quả, lấy gỗ và hơn 40 héc-ta ao thả cá. Với kết quả trên, sư đoàn đã
chi 42 triệu đồng bảo đảm đời sống tinh thần cho bộ đội và chi vào bữa ăn hàng ngày mỗi người là
380 đồng.

Với những kết quả trên, năm 1994, toàn sư đoàn đã thực hiện thắng lợi nghị quyết của
Đảng uỷ và kế hoạch của sư đoàn, làm chuyển biến rõ nét một số khâu yếu về kỹ thuật, kỷ luật và đời
sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, trong đó nổi bật là cải thiện đáng kể đời sống tinh thần, vật chất
cho bộ đội.

Kết quả bình xét cuối năm, toàn Đảng bộ có 10/10 đảng bộ cơ sở và 65/76 chi bộ đạt trong
sạch vững mạnh, 11 chi bộ đạt khá, có 831/1011 đảng viên đạt đảng viên đủ tư cách mức 1, 175 đồng
chí đạt mức 2 và kết nạp được 42 đảng viên; có 1 liên chi đoàn vững mạnh, 46/61 chi đoàn vững
mạnh xuất sắc. Trung đoàn 281 được xếp thứ nhất khối đơn vị. Các phòng tham mưu, hậu cần được
xếp thứ nhất khối cơ quan. Toàn sư đoàn có 22 tập thể được công nhận danh hiệu Đơn vị quyết thắng
và 71 chiến sĩ thi đua.

Đầu năm 1995, đồng thời với việc triển khai thực hiện nhiệm vụ năm, Đảng uỷ, chỉ huy sư
đoàn tập trung lãnh đạo, tổ chức triển khai kế hoạch kỷ niệm 30 năm ngày thành lập sư đoàn (19-5-
1965 - 19-5-1995).

Ngay từ đầu năm toàn sư đoàn đã sôi nổi thi đua lập thành tích thiết thực chào mừng ngày
kỷ niệm thành lập Đảng 3-2, 105 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm ngày thành lập sư
đoàn. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành đợt sinh hoạt chính trị nhằm giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ
và tuyên truyền cho nhân dân địa phương về lịch sử, truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không
363 anh hùng. Các cơ quan, đơn vị triển khai thắng lợi kế hoạch, tạo ra bước chuyển biến mới về sẵn
sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật trong toàn sư đoàn. Hàng chục công trình,
trong đó có nhà ở sư đoàn, nhà 3 tầng của Phòng Tham mưu, tiểu đoàn 85 và tiểu đoàn 75 được đẩy
mạnh tiến độ và chuẩn bị hoàn thành.

Mặc dù thời gian gấp, công việc nhiều nhưng với quyết tâm cao và có nhiều cố gắng, đến
đầu tháng 5, sư đoàn tổ chức in xong cuốn lịch sử gồm 390 trang có chất lượng tốt. Đây là thành công
lớn của Thường vụ Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn, sự cố gắng vượt bậc của Phòng Chính trị và thượng
tá Nguyễn Thế Kỷ. Cuốn sách được phát hành kịp thời phục vụ việc tuyên truyền và giáo dục lịch sử
hào hùng, truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng cho cán bộ, chiến sĩ nhân dịp
kỷ niệm 30 năm ngày thành lập sư đoàn.

Sáng 19 tháng 5 năm 1995, lễ kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống vẻ vang của sư đoàn
được tổ chức trọng thể. Đến dự buổi lễ có đại diện Đảng uỷ, Bộ tư lệnh và các cơ quan quân chủng,
lãnh đạo thành phố Hải Phòng, các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, các cơ quan, đơn vị bạn và cán bộ
chủ chốt trong sư đoàn. Trong 30 năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, thường
xuyên, trực tiếp là Quân chủng, sự giúp đỡ tận tình, to lớn, quý báu của lãnh đạo, nhân dân Hải
Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, các địa phương khác, các cơ quan, đơn vị bạn trên địa bàn, với trách
nhiệm chính trị cao và cố gắng vượt bậc, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cán bộ chiến sĩ trong sư
đoàn đã thường xuyên quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các nghị
quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, đoàn kết thống nhất cao, vượt qua muôn vàn khó khăn thử
thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước.

Với những thành tích chiến đấu và xây dựng, Sư đoàn phòng không 363, các trung đoàn
240, 285, 238, 591, hai tiểu đoàn 73, 81 và các đồng chí Bùi Xuân Chiến, Ngô Văn Tác, Đặng Minh
Chức, Kiều Thanh Tịnh và liệt sĩ Lệ Hồng Thịnh đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân; toàn sư đoàn được tặng thưởng hơn 113 huân chương Quân công, Chiến công các
loại và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Các đại biểu dự buổi lễ vô cùng phấn khởi tự hào trước sự trưởng thành nhanh chóng, vững
chắc với những thành tích đã đạt được và được gặp mặt trong ngày hội đoàn kết quân dân này, tất cả
đều chúc mừng ngày hội lớn và mong muốn cán bộ, chiến sĩ hãy giữ vững và phát huy truyền thống
vẻ vang của sư đoàn anh hùng.

Ngày 14 tháng 8 năm 1995, sư đoàn tổ chức sơ kết 2 năm xây dựng sư đoàn vững mạnh
toàn diện. Sau 2 năm thực hiện chỉ thị 37 và nhiệm vụ Quân chủng giao cho, toàn sư đoàn đã tích cực
triển khai kế hoạch và có nhiều cố gắng xây dựng sư đoàn mạnh toàn diện. Các đơn vị thường xuyên
sẵn sàng chiến đấu cao với hệ số kỹ thuật của tên lửa đạt 87,6%, của pháo phòng không đạt 99,8%,
radar đạt 98,5%. 109/135 lần đơn vị trực chiến được tặng cờ của Tư lệnh Quân chủng. Sư đoàn được
xếp thứ 2 trong Quân chủng về công tác huấn luyện. Kết thúc huấn luyện giai đoạn 1 năm 1995, 3/3
phân đội bắn đạn thật đều đạt giỏi, được.Quân chủng tặng bằng khen. Toàn sư đoàn đạt 5 yêu cầu của
cuộc vận động ở mức khá.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, sư đoàn đề ra chủ trương biện pháp cụ thể nhằm phát
huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tồn tại, tiếp tục phấn đấu xây dựng sư đoàn mạnh toàn diện.
Ngày 29 tháng 8 năm 1995, Đảng uỷ sư đoàn tổng kết 3 năm thực hiện cuộc vận động "Tự
đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng". Ba năm qua, với trách nhiệm chính trị cao, các tổ chức Đảng đã có
nhiều biện pháp tốt và tích cực phấn đấu thực hiện kế hoạch, chỉ tiêu đề ra, thực sự làm chuyển biến
và nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, củng cố lòng tin cho cán bộ, chiến sĩ. Toàn Đảng
bộ lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ thực chất và hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng không thực
chất trong sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời, bảo đảm kỹ thuật có nhiều cố gắng nhất là bảo đảm
hệ số kỹ thuật và bảo quản niêm cất vũ khí, trang bị. Một số khuyết điểm, hạn chế đã được các tổ
chức Đảng nghiêm khắc kiểm điểm, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và đề ra các biện pháp
khắc phục cụ thể nhằm tiếp tục phát huy những thành quả tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng", lãnh đạo sư
đoàn hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong thời gian tới, trước mắt là nhiệm vụ quý IV năm 1995.

Nhìn chung năm 1995, toàn sư đoàn thực hiện đổi mới toàn diện, có nhiều chuyển biến tiến
bộ trên các lĩnh vực công tác. Đảng uỷ, chỉ huy các cấp và bộ đội đoàn kết nhất trí cao, phát huy vai
trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, các cơ quan, đơn vị và các tổ chức quần chúng, tạo nên sức mạnh
tổng hợp, hoàn thành tốt các nhiệm vụ. Đồng thời với việc hưởng ứng tốt các cuộc vận động lớn, hội
đồng thi đua sư đoàn thường xuyên phát động, tổ chức chặt chẽ các phong trào thi đua thường xuyên
và đột xuất của chính quyền và các tổ chức quần chúng, làm cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên
thường xuyên quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ phát huy trách nhiệm chính trị phấn đấu đạt và
vượt các chỉ tiêu đề ra.

Các cơ quan, đơn vị phát huy dân chủ về chính trị, quân sự, kinh tế, nhất là công khai về
các quyền lợi của cán bộ, chiến sĩ công nhân viên, tạo nên sự phấn khởi, tin tưởng và sôi nổi thi đua
giữa các tập thể và cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung của sư đoàn.

Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, các tiểu đoàn 82, 83, đại đội 9 Trung đoàn 238; các tiểu
đoàn 71, 72, đại đội 9 Trung đoàn 285; các tiểu đoàn 181, 183, 185 và đại đội 1 Trung đoàn 281; các
đại đội 9, 172, A-72 Trung đoàn 240; các trạm radar 25, 22 và đại đội 9 Trung đoàn 295; tiểu đoàn 10
và đại đội 1 Phòng Tham mưu; trạm kỹ thuật Phòng Kỹ thuật được công nhận danh hiệu Đơn vị quyết
thắng. Quân chủng và sư đoàn còn công nhận hàng trăm Chiến sĩ thi đua, tặng bằng khen, giấy khen
cho nhiều tập thể và cá nhân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Được sự chỉ đạo của trên, đầu năm 1996, sư đoàn điều tiểu đoàn 528 Trung đoàn 281 về
trực thuộc sư đoàn và tổ chức biên chế đủ trung đội, tiểu đội cho đại đội tên lửa vác vai A-72 theo quy
định.

Chấp hành chỉ thị ngày 2 tháng 1 năm 1996 của Tư lệnh Quân chủng, Đảng uỷ và chỉ huy
sư đoàn đã kết hợp triển khai kế hoạch công tác năm với việc sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đại hội Đảng
các cấp đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Hội đồng thi đua sư đoàn còn phát động đợt
thi đua lập thành tích thiết thực chào mừng đại hội đảng các cấp.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ và kế hoạch công tác của sư đoàn trưởng, các lực lượng
trực chiến thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, thực hiện "4 biết”, trong
quản lý vùng trời; Phòng Tham mưu và các đơn vị bổ sung hoàn chỉnh các kế hoạch đánh trả, phòng
tránh địch tập kích đường không, chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của địch; chỉ
đạo, tổ chức cho các đơn vị thực hành diễn tập chỉ huy tham mưu, thực hành tác chiến điện tử, bảo
đảm thông tin, thông báo, nâng cao hiệu quả tác chiến phòng không trên địa bàn Hải Phòng - Quảng
Ninh - Hải Hưng - Thái Bình.

Từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1996, đoàn cán bộ Tổng cục kỹ thuật do Thiếu
tướng Lê Mỹ Huyên làm trưởng đoàn về kiểm tra công tác kỹ thuật của sư đoàn. Sau khi kiểm tra ban
kỹ thuật và các tiểu đoàn 73, 75 Trung đoàn 285; đại đội 172 và ban kỹ thuật Trung đoàn 240; trạm 22
Trung đoàn 295, tiểu đoàn 82 Trung đoàn 238, Phòng Kỹ thuật và kho 255, trưởng đoàn kiểm tra nhận
xét: Các đơn vị có nhiều cố gắng bảo đảm khí tài cho sẵn sàng chiến đấu, điển hình về làm tốt công
tác kỹ thuật là các tiểu đoàn 73, 82 và đại đội 172. Công tác bảo đảm kỹ thuật được tiến hành theo chế
độ, nền nếp. Hệ thống cơ quan kỹ thuật có đủ biên chế, nắm chắc số lượng, chất lượng vũ khí trang bị,
các trạm kỹ thuật hoạt động có hiệu quả.

Các khuyết điểm, tồn tại về chưa đồng bộ xe máy, thiếu lốp pháo 37mm, 57mm và thợ sửa
chữa do đoàn nêu ra đã được các cơ quan kỹ thuật và đơn vị tiếp thu nghiêm túc và có hướng khắc
phục hiệu quả.

Trong 2 ngày 22 và 23 tháng 7, sư đoàn tổ chức hội thao kỹ thuật tại tiểu đoàn 75 Trung
đoàn 285. Ba tiểu đoàn kỹ thuật tên lửa đều đạt khá và giỏi, riêng tiểu đoàn 75 được 8,2 điểm, đoạt
giải nhất. Trong hội thi xe máy, đại uý Vũ Sách, trợ lý xe Trung đoàn 240 đoạt giải nhất, trung uý Trần
Đăng Dân thợ xe Trung đoàn 28 1 đoạt giải nhất.

Ngày 18 tháng 9, sư đoàn tiến hành hội nghị sơ kết 5 năm xây dựng lực lượng dự bị động
viên. Nhận rõ xây dựng lực lượng dự bị động viên là nhiệm vụ chiến lược quan trọng, cơ bản, lâu dài
của quân đội, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo chỉ đạo cơ quan tham
mưu và các đơn vị thực hiện tốt mọi chủ trương, kế hoạch của trên và của sư đoàn. Từ năm 1992-
1996, sư đoàn đã quan hệ chặt chẽ với địa phương xây dựng nền nếp hoàn chỉnh chế độ tạo và quản lý
nguồn chặt chẽ, tổ chức biên chế cho các đơn vị đúng kế hoạch và thực hiện tết chế độ huấn luyện cán
bộ, nhân viên kỹ thuật và phân đội pháo phòng không. Trong thời gian trên, sư đoàn đã tiếp nhận
4.697 chiến sĩ mới, tổ chức xuất ngũ về Hải Phòng 1.500 quân nhân, về Hải Dương 661 quân nhân, về
Hải Hưng 661 quân nhân và về Quảng Ninh 656

quân nhân. Các lực lượng xuất ngũ được cơ quan hiệp đồng với địa phương tuyển chọn,
sắp xếp nguồn dự bị động viên cho các đơn vị theo đúng chuyên ngành quân sự. Đây là biện pháp
chiến lược nhằm bổ sung lực lượng, nâng cao khả năng chiến đấu của sư đoàn khi tình huống phức
tạp xảy ra.

Tháng 10 năm 1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn được tiến hành. Đại hội nhất trí
đánh giá: 5 năm qua, Đảng bộ đã vận dụng, cụ thể hoá Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, từng
bước đổi mới cách nghĩ, cách làm, có phương pháp lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo và 'hiệu quả. Kết quả,
khả năng quản lý vùng trời, sẵn sàng chiến đấu ngày càng thực chất hơn, chất lượng tổng hợp của sư
đoàn được nâng lên một bước mới; công tác huấn luyện, xây dựng chính quy có tiến bộ, bảo đảm kỹ
thuật có nhiều cố gắng, đời sống vật chất tinh thần của bộ đội được cải thiện; cơ chế lãnh đạo được
Đảng bộ thực hiện nghiêm túc, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng được nâng lên;
đoàn kết nội bộ và đoàn kết quân dân tốt.
Đại hội đã quán triệt, thảo luận, bổ sung dự thảo báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VIII, đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng lần thứ 3 và dự thảo báo cáo chính trị của
Đảng uỷ sư đoàn. Đại hội dành nhiều thời gian thảo luận về lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên để phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng trung đoàn mạnh, sư đoàn mạnh, xây dựng các tổ chức
Đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao.

Đại hội đã bầu ra ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 9 đồng chí do đồng chí Đỗ Ngọc Phụ,
Phó sư đoàn trưởng chính trị làm bí thư, đồng chí Dương Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng làm phó bí thư.

Thành công của đại hội là nhận thức, trách nhiệm ngày càng cao của Đảng bộ trước những
thời cơ và thách thức trong giai đoạn cách mạng mới. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong
sư đoàn vô cùng phấn khởi trước thành công của đại hội và quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết
mà đại hội đã đề ra.

Với quyết tâm trên, toàn sư đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 1996, nổi bật là quản lý
chặt chẽ vùng trời được giao, không có sai, sót, lọt, chậm; các phân đội trực chiến được nhận cờ vượt
chỉ tiêu 1,2%; các trung đoàn thực hành diễn tập chiến thuật đều đạt khá; 51 cán bộ trung cao cấp dự
thi thì 100% đạt yêu cầu trở lên, trong đó có 31 đồng chí đạt loại giỏi, 10 đồng chí đạt khá; các trung
đoàn 281, 295 và tiểu đoàn 528 đạt tiêu chuẩn huấn luyện giỏi; lực lượng đi bắn đạn thật do Quân
chủng tổ chức hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó tiểu đoàn 82 Trung đoàn 238 được tặng cờ "Phân đội
bắn giỏi", tiểu đoàn 71 Trung đoàn 285 được tặng bằng khen. Kết quả, năm 1996, sư đoàn hoàn thành
nhiệm vụ ở mức khá.

Chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ, kế hoạch công tác năm 1997 của sư đoàn trưởng, ngay
từ đầu năm, các cơ quan đơn vị đã tập trung triển khai các mặt công tác.

Các trung đoàn, nhất là Trung đoàn radar 295 nghiêm chỉnh thực hiện các quy định về "4
biết" trong quản lý vùng trời (biết kế hoạch dự báo bay, biết có bay hay không bay, bay đến đâu biết
đến đó, biết hoạt động bay trên không), 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu củng cố kiện toàn sở chỉ huy các
cấp và các kế hoạch tác chiến, tiếp tục kiện toàn biên chế, tổ chức và triển khai các nội dung về tác
chiến điện tử và bảo mật điện tử theo quy định.

Thực hiện quyết định số 601/QĐ-QP ngày 6 tháng 5 năm 1997 của Bộ Quốc phòng, chỉ
huy sư đoàn tổ chức cho Trung đoàn tên lửa 28 1 làm lễ đón nhận phiên hiệu mới là Trung đoàn tên
lửa 213 và tiểu đoàn 528 làm lễ đón nhận phiên mới là tiểu đoàn 105. Quán triệt mục đích, yêu cầu
đổi phiên hiệu của trên, toàn thể cán bộ chiến sĩ Trung đoàn tên lửa 213 và tiểu đoàn 105 nguyện học
tập giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang của Trung đoàn pháo phòng không 213 anh hùng và
tiểu đoàn 105 (Trung đoàn 280) anh hùng trước đây, tích cực góp phần giữ vững và phát huy truyền
thống vẻ vang của Sư đoàn 363 anh hùng và góp phần cùng quân và dân cả nước giữ vững trận địa
chính trị, tư tưởng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Cũng trong thời gian này, sư đoàn tổ chức giải thể đại đội 175 Trung đoàn 240, đại đội 25
tiểu đoàn 105, điều chỉnh biên chế đài tiếp sức P-405 và giảm biên chế trạm bộ thuộc Trung đoàn
radar. Như vậy, biên chế tổ chức của sư đoàn gồm 3 trung đoàn tên lửa 213, 285, 238, Trung đoàn
pháo phòng không 240, Trung đoàn radar 295, tiểu đoàn 105, Kho 255 và 4 phòng tham mưu, chính
trị, kỹ thuật, hậu cần.

Trong quý II năm 1997, đại tá Vi Văn Liên được bổ nhiệm giữ chức Phó sư đoàn trưởng-
Tham mưu trưởng, thay đồng chí Nguyễn Danh Goòng về Quân chủng nhận nhiệm vụ mới.

Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn rất phấn khởi trước những kết quả đạt được trong
năm 1997. Hệ số chiến đấu của tên lửa đạt 99%, pháo đạt 100%, radar đạt 99,7%, tên lửa vác vai A-72
đạt 100% và hệ số thông tin liên lạc đạt 97,7%. Sư đoàn hoàn thành 100% chương trình nội dung
huấn luyện, trong đó nổi bật là công lác huấn luyện cán bộ. Trong đợt kiểm tra toàn diện của Quân
chủng sư đoàn đạt điểm giỏi (8,18 điểm). Trong lần đầu tiên tham gia hội thi diễn tập chỉ huy tham
mưu trung đoàn phòng không cấp Quân chủng, Trung đoàn tên lửa 213 đạt loại giỏi. Tại trường bắn
TB-1, đại đội 173 trang bị pháo 37mm của Trung đoàn 240 bắn trúng mục tiêu, đoạt giải nhất, được
Tư lệnh Quân chủng tặng bằng khen.

Một trong những nội dung nổi bật về công tác xây dựng sư đoàn năm 1997 là công tác dân
vận. Do quán triệt mục đích, yêu cầu nội dung công tác dân vận, được sự giúp đỡ tận tình của lãnh
đạo và nhân dân 4 tỉnh, thành, sư đoàn đã hoàn thành tốt công tác dân vận. Đồng thời với việc thường
xuyên làm tốt công tác hiệp đồng chiến đấu, thực hiện tết kế hoạch A2, xây dựng địa bàn an toàn,
trong năm 1997 toàn sư đoàn đã giúp địa phương 711 ngày công làm mương, 1.452 ngày công làm
đường, 490 công đắp đê; thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình chính sách 7.510.000 đồng, 50 kg gạo,
tặng 28 sổ tiết kiệm trị giá 11.700.000 đồng; các đơn vị và đoàn thanh niên tổ chức 62 buổi liên hoan
văn nghệ, giao hữu 49 trận bóng đá, 42 trận bóng chuyền với các địa phương; nói chuyện thời sự và
truyền thống cho 12.580 cháu học sinh và đón 8.158 cháu vào thăm nhà truyền thống của sư đoàn.
Những kết quả trên dã tăng cường mối đoàn kết vốn đã gắn bó giữa sư đoàn và các địa phương, tạo
điều kiện cho sư đoàn hoàn thành các nhiệm vụ.

Căn cứ vào nhiệm vụ Quân chủng giao, đặc điểm tình hình nhiệm vụ và kết quả các mặt
công tác năm 1997, Đảng uỷ, chỉ huy sư đoàn xác định phương hướng nhiệm vụ năm 1998: Quán
triệt, nghiên cứu kỹ nghị quyết, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, kiên quyết thực hiện đạt và vượt các
chỉ tiêu Quân chủng giao cho, xây dựng sư đoàn theo tư tưởng chỉ đạo “chủ động sáng tạo, đoàn kết
vươn lên, tiến bộ đồng đều, vững mạnh toàn diện".

Ngay từ đầu năm, các đơn vị trực chiến thường xuyên quản lý nắm chắc tình hình trên
không, biển đảo, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, thực hiện tốt mục tiêu "Không để Tổ quốc bị
bất ngờ vì các tình huống trên không, quyết tâm đánh thắng trận đầu. Các cơ quan, đơn vị tiến hành
công tác xây dựng theo hướng nâng cáo chất lượng, đồng đều, thực chất, toàn diện, vững chắc.

Ngày 25 tháng 4 năm 1998, Phòng Kỹ thuật báo cáo tình hình quản lý, sử dụng, niêm cất
vũ khí, khí tài trong sư đoàn. Quán triệt tình hình, chức năng nhiệm vụ được giao, ngành kỹ thuật sư
đoàn đã nghiêm chỉnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên, thực hiện đổi mới
công tác, đẩy mạnh phong trào thi đua "5 tốt kỹ thuật", bảo đảm cho sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện
và diễn tập. Kế hoạch niêm cất ngắn hạn số vũ khí, trang bị cấp 2, cấp 3 và che đậy khí tài, xe máy
được thực hiện nghiêm túc. Một số khuyết điểm, tồn tại về bảo dưỡng, sửa chữa khôi phục vũ khí
trang bị được Phòng Kỹ thuật có biện pháp khắc phục cụ thể.
Đến trung tuần tháng 6, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị thực hiện công tác 6 tháng cuối năm. Chỉ
thị nêu rõ: Qua đợt kiểm tra của Quân chủng, sư đoàn khẳng định 6 tháng đầu năm khả năng sẵn sàng
chiến đấu, quản lý vùng trời ở các đơn vị được nâng lên một bước về chất lượng. 36/36 lượt phân đội
trực chiến được nhận cờ "Đơn vị trực ban khán của Tư lệnh Quân chủng, 28/38 tuần Trung đoàn radar
295 được Quân chủng xếp loại 1, 100% số lần báo động chuyển cấp bảo đảm thời gian và quân số.
Công tác huấn luyện đi vào chiều sâu và có chuyển biến về chất lượng. Việc tuyển chọn, huấn luyện
874 chiến sĩ mới đạt kết quả tốt. Công tác quản lý vũ khí trang bị có nhiều tiến bộ. Đời sống vật chất,
tinh thần của bộ đội được giữ vững và không ngừng được cải thiện.

Thực hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng, 6 tháng cuối năm, toàn sư đoàn tiếp tục thực hiện
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời, tổ chức Đại hội Đảng bộ cơ sở và Đại hội Đoàn đạt
kết quả cao, tổ chức chặt chẽ rút kinh nghiệm huấn luyện giai đoạn 1 và triển khai kế hoạch huấn
luyện giai đoạn 2, trọng tâm trong quý IV là tổ chức huấn luyện tổng hợp cấp phân đội, kíp chiến đấu
sở chỉ huy, thuần thục đội ngũ chiến thuật một xe, một máy và chuẩn bị cho các đơn vị đi bán đạn thật
đạt kết quả tốt. Vì vậy, trong đợt bắn đạn thật cuối năm tại trường bắn TB-1, các đại đội 171, 172, 21
và kíp bắn tên lửa vác vai A-72 đều bắn trúng mục tiêu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Kết quả bình
xét cuối năm, toàn đảng bộ có 8/11 Đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh.

Tháng 11 năm 1998, sư đoàn tổ chức kiểm tra toàn diện các đơn vị Kết quả, Trung đoàn
213 đạt 8,26 điểm, Trung đoàn 238 đạt 8,18 điểm, Trung đoàn 285 đạt 8,13 điểm, Trung đoàn 240 đạt
8,11 điểm, Trung đoàn 295 đạt 8,05 điểm; các trung đoàn và tiểu đoàn 105 đều đạt tiêu chuẩn huấn
luyện giỏi.

Kết quả kiểm tra trên và kết quả các mặt công tác trong năm đã khẳng định: Năm 1998, sư
đoàn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đặc biệt, Trung đoàn 213 lần thứ 2 được nhận cờ thi đua khá nhất
của Chính phủ.

Năm 1999, tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp. Đế quốc Mỹ tăng cường củng cố các
liên minh chiến lược, phục hồi các hiệp ước, tổ chức diễn tập quân sự với một số nước trong khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời kích động gây xung đột vũ trang, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo
nhằm chia rẽ các nước, điển hình như ở Cô-xô-vô - Đông Ti-mo, thiết lập trật tự thế giới mới do Mỹ
đứng đầu. Trong khi đó, tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển Đông vẫn tiềm ẩn những yếu tố gây
mất ổn định.Mặc dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực Châu Á và hậu quả thiên
tai nhưng tình hình kinh tế xã hội nước ta vẫn ổn định, có mặt chuyển biến tích cực, đồng thời cũng
xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới.

Thực hiện chủ trương cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước, Đảng uỷ quân sự Trung
ương và Bộ Quốc phòng quyết định hợp nhất, rút gọn một số quân chủng, binh chủng nhằm xây dựng
quân đội tinh, gọn, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong thế trận chiến tranh
nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện sắc lệnh số 03/L-CTN ngày 3 tháng 3 năm 1999 của Chủ tịch nước Trần Đức
Lương, Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng
không - Không quân. Từ đây Sư đoàn phòng không 363 trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không
quân.
Thời kỳ này, cán bộ sư đoàn có các đồng chí: đại tá Dương Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng; đại
tá Đỗ Ngọc phụ, Phó sư đoàn trưởng chính trị - Bí thư Đảng uỷ; thượng tá Vi Văn Liên, Phó sư đoàn
trưởng - Tham mưu trưởng; thượng tá Lê Hữu Đức, phó sư đoàn trưởng quân sự Thượng tá Nguyễn
Văn Phi, Chủ nhiệm chính trị. Thượng tá Tăng Ngọc Lan, Chủ nhiệm kỹ thuật. Thượng tá Nguyễn
Quang Vinh, Chủ nhiệm hậu cần.

Ngày 12 tháng 5 năm 1999, Ban 50 của sư đoàn tiến hành sơ kết 2 năm thực hiện cuộc vận
động “quản lý, khai thác vũ khí, trang bị, khí tài tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông"
(1997-1999). Hai năm qua, sư đoàn luôn gắn liền thực hiện nhiệm vụ trung tâm, chấp hành pháp luật
của Nhà nước với việc đẩy mạnh cuộc vận động trên. Do có hệ thống tổ chức, thực hiện quy chế hoạt
động tốt và kiểm tra đôn đốc chặt chẽ nên phong trào thực hiện cuộc vận động ngày càng sôi nổi và
thu được kết quả thiết thực. Sư đoàn đã tổ chức kiểm định được 254 xe, kiểm tra 100% bằng lái xe,
100% xe máy đi công tác, bổ túc lái xe cho 96 lượt người, tu bổ sửa chữa 165 xe các loại. Trong số
hàng trăm nghìn ki-lô-mét xe làm nhiệm vụ cơ động, diễn tập, giao nhận vật tư, đưa khí tài đi
xưởng… hầu hết đều an toàn. Một số vụ việc mất an toàn, những khuyết điểm, tồn tại đã được lãnh
đạo, chỉ huy các cấp nghiêm khắc kiểm điểm và có biện pháp khắc phục cụ thể.

Chấp hành chỉ thị số 917/CT-QP ngày 22 tháng 6 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, đầu tháng 8, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Đồng chí Đỗ Ngọc Phụ, Bí thư Đảng uỷ sư đoàn chủ trì hội nghị. Sau khi quán triệt chỉ thị của trên,
căn cứ vào đặc điểm tình hình cụ thể của sư đoàn, Đảng uỷ quyết tâm tổ chức thực hiện thật tốt cuộc
vận động xây dựng đơn vị mạnh toàn diện theo 5 tiêu chuẩn: vững mạnh về chính trị; tổ chức biên chế
đúng quy định, duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện giỏi; xây dựng nền nếp
chính quy và quản lý kỷ luật tốt; bảo đảm tốt hậu cần, tài chính và đời sống bộ đội; bảo đảm tốt công
tác kỹ thuật. Hội nghị thông qua kế hoạch xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện của sư đoàn trưởng
theo 5 tiêu chuẩn với những nội dung và chỉ tiêu cụ thể.

Nhận rõ vị trí, tầm quan trọng, ý nghĩa chiến thuật - chiến dịch của sư đoàn phòng không
làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng và các mục tiêu trọng yếu trên các tỉnh Quảng Ninh,
Hải Hưng, Thái Bình trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc từ lãnh đạo, chỉ huy các cấp
đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên đều xác định rõ trách nhiệm và xác định quyết tâm làm
tốt chức trách, nhiệm vụ, góp phần xây dựng sư đoàn mạnh toàn diện theo hướng cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng,
Nhà nước, quân đội và nhân dân.

Đầu tháng 9, Đảng uỷ sư đoàn tổ chức hội nghị sơ kết 6 năm xây dựng tổ chức cơ sở Đảng
trong sạch vững mạnh (1993- 1999). Dự hội nghị có đông đủ cán bộ chủ trì của sư đoàn và các trung
đoàn. Hội nghị nhất trí đánh giá: Sáu năm qua, chất lượng các đảng bộ cơ sở có nhiều chuyển biến
tiến bộ, thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các
Đảng bộ cơ sở được nâng lên, quán triệt vận dụng sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng và các chỉ
thị, nghị quyết của cấp trên vào thực tiễn cấp mình, chấp hành tết nguyên tắc tập trung dân chủ và các
quy định của cấp trên, giữ vững đoàn kết nội bộ. Các đảng bộ đều củng cố, tăng cường và phát huy
vai trò lãnh đạo đơn vị thực hiện mọi nhiệm vụ, trong mọi tình huống, thực sự là nhân tố quyết định
trong lãnh đạo xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Hầu hết đội ngũ đảng viên có bước tiến bộ, trưởng thành về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội sâu sắc, có niềm tin vững chắc vào lý tưởng
cách mạng, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nhìn xã hội chủ nghĩa và
nhân dân, có ý chí, trách nhiệm cao, phẩm chất, đạo đức, tác phong, lối sống trong sạch, lành mạnh,
phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và được quần chúng
tín nhiệm.

Những khuyết điểm, tồn tại nổi lên là: Chất lượng xây dựng các đảng bộ cơ sở tiến bộ chưa
đồng đều, vững chắc, năng lực lãnh đạo còn hạn chế, nhất là lãnh đạo kỷ luật, xây dựng chính quy,
quản lý cơ sở vật chất, tài chính. Việc quán triệt, cụ thể hoá nghị quyết của cấp trên vào cấp mình có
lúc chưa sáng tạo, thiếu kiên quyết trong tổ chức thực hiện. Chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ
có lúc, có nơi còn vi phạm, đoàn kết nhất trí chưa cao, tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng ở một số
nơi còn thấp.

Sau khi nêu lên nguyên nhân thành công và chưa thành công, hội nghị thống nhất các bài
học kinh nghiệm trong 6 năm xây dựng đảng bộ cơ sở là:

- Muốn xây dựng Đảng bộ cơ sở trong sạch vững mạnh đạt kết quả tốt, trước hết phải làm
chuyển biến nhận thức trách nhiệm của các cấp uỷ và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán
bộ chủ trì các cấp, tạo được sự đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động trong Đảng bộ và đơn vị.

- Xây dựng kế hoạch phải sát với đặc điểm tình hình nhiệm vụ của Đảng bộ, có trọng tâm,
trọng điểm và biện pháp cụ thể, tỉ mỉ. Tổ chức thực hiện phải kiên quyết, triệt để, thường xuyên kiểm
tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm kịp thời.

- Phải kết hợp xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh
toàn diện, kết hợp xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên và xây dựng cấp uỷ với
cán bộ chủ trì.

- Thường xuyên đổi mới phong cách lãnh đạo, thực hiện cụ thể, trực tiếp, dứt điểm. Phát
huy tết vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Củng cố, tăng cường mối quan
hệ gắn bó giữa Đảng với quần chúng.

Đây thực sự là đợt sơ kết có chất lượng, cả về thực tiễn với lý luận của Đảng bộ Sư đoàn
phòng không 363 trong 6 năm làm nhiệm vụ lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời và xây
dựng trên địa bàn Hải Phòng- Quảng Ninh- Hải Hưng, Thái Bình. Những bài học kinh nghiệm trên rất
quý, cần được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng sáng tạo trong những điều kiện, hoàn cảnh mới, góp
phần xây đựng sư đoàn mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Cuối năm 1999, đồng chí Đỗ Ngọc Phụ được điều động về Quân chủng nhận chức phó chủ
nhiệm chính trị; đồng chí Nguyễn Văn Phi, Chủ nhiệm chính trị được bổ nhiệm làm phó sư đoàn
trưởng về chính trị - Bí thư Đảng uỷ sư đoàn.
Ngày 2 tháng 1 năm 2000, sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết phong trào thi đua quyết
thắng năm 1999. Dự hội nghị có đông đủ các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn, các cơ quan, đơn vị,
đại biểu các tập thể điển hình tiên tiến và chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua trong sư đoàn. Hội
nghị vô cùng phấn khởi trước những thành tích, kết quả phấn đấu qua các phong trào thi đua của sư
đoàn với sự xuất hiện của các đơn vị điển hình tiên tiến và đại biểu chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi
đua.

Hội nghị nhiệt liệt biểu dương Trung đoàn 213 ba năm liền (1997- 1999) được nhận cờ
thưởng thi đua khá nhất của Chính phủ và Phòng Chính trị có nhiều cố gắng giữ vững và vươn lên
giành nhiều thành tích dẫn đầu khối đơn vị và cơ quan trong sư đoàn; biểu dương và ghi nhận thành
tích của 30 đơn vị đạt danh hiệu “Đơn vị quyết thắng" và hàng chục chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi
đua… Đó là những nhân tố mới làm động lực mạnh mẽ tích cực góp phần đẩy mạnh phong trào thi
đua quyết thắng, tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành tết mọi nhiệm vụ.

Từ những thành công trên, hội nghị rút ra một số kinh nghiệm về tổ chức thực hiện phong
trào thi đua của sư đoàn trong những năm tới.

Năm 2000, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ hòng xoá bỏ
chế độ xã hội chủ nghĩa và chống phá cách mạng nước ta.

Quán triệt nghị quyết của của Đảng uỷ và mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, đồng thời
với việc triển khai các kế hoạch năm 2000, sư đoàn trên tiếp ban hành các mệnh lệnh chiến đấu, chỉ
thị về công tác đảng, công tác chính trị nhằm tăng cường thực hiện sẵn sàng chiến đấu quản lý vùng
trời, phòng thủ bảo vệ an ninh trong khu vực, ngăn chặn và xử lý có hiệu các vụ không tặc có thể xẩy
ra. Qua việc quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, mệnh lệnh trên, các tổ chức đảng, cơ quan,
đơn vị, tổ chức quần chúng và từng cán bộ, chiến sĩ đều nhận rõ bản chất, âm mưu của các thế lực thù
địch và trách nhiệm chính trị của sư đoàn, trên cơ sở đó nâng cao bản lĩnh, trình độ xử trí, chỉ huy,
chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý vùng trời, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ các mục tiêu được
giao trong mọi tình huống.

Tháng 8 năm 2000, cán bộ sư đoàn có thay đổi, Đồng chí Dương Anh Tuấn về Quân chủng
nhận chức phó tham mưu trưởng, đồng chí Lê Hữu Đức, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng
được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng. Đồng chí Vi Văn Liên giữ chức phó sư đoàn trưởng - tham mưu
trưởng. Đồng chí Lê Huy Vịnh được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng quân sự.

Mặc dù có nhiều ngày lễ lớn, cán bộ chủ trì sư đoàn và các trung đoàn 238, 285, 213 có
thay đổi, công việc nhiều, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của sư đoàn, các cơ quan đơn vị đã có
nhiều cố gắng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ năm 2000.

Các lực lượng trực chiến chấp hành nghiêm túc 10 chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt
chẽ vùng trời được giao và bảo đảm thông tin liên lạc thường xuyên thông suốt. 100% lượt phân đội
trực chiến được tặng cờ của tư lệnh Quân chủng. Toàn sư đoàn làm tốt công tác chuẩn bị và phục vụ
Quân chủng kiểm tra toàn diện 6 tháng đầu năm đạt kết quả cao.
Trong diễn tập chỉ huy - tham mưu 1 bên, 2 cấp về tác chiến phòng không, sư đoàn trực
tiếp chỉ đạo, đạo diễn cho các trung đoàn 240, 295 và theo dõi các trung đoàn 238, 285 đều đạt mục
đích, yêu cáu, nội dung đề ra và bảo đảm bí mật, an toàn. Qua diễn tập và kiểm tra huấn luyện, sở chỉ
huy sư đoàn và các trung đoàn đều có kíp 1 giỏi, kíp 2 khá; cán bộ chỉ huy các cấp hoàn thành tốt
nhiệm vụ, chức trách.

Các cơ quan, đơn vị đã gắn việc thực hiện cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí, trang
bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông", "Ngành Hậu cần làm theo lời Bác Hồ
dạy" với nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Do làm tốt công tác huấn luyện, hội thao,
phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nên hệ số chiến đấu được giữ vững và nâng lên. Kết quả, Phòng
Kỹ thuật sư đoàn được Tư lệnh Quân chủng tặng bằng khen do có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt
động khoa học công nghệ - môi trường và sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong 5 năm qua (1996 - 2000).
Ngành hậu cần đã có nhiều cố gắng phát huy khả năng hậu cần tại chỗ, bảo đảm cho sẵn sàng chiến
đấu, huấn luyện, xây dựng và không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tính thần cho bộ đội.

Hưởng ứng phong trào "Đền ơn, đáp nghĩa", sư đoàn đã tặng sổ tiết kiệm và tặng quà cho
các gia đình chính sách trong khu vực đóng quân trị giá 61.300.000 đồng. Qua 3 đợt quyên góp tiền
ủng hộ đồng bào bị lũ lụt toàn sư đoàn đã thu được 149.122.000 đồng và ủng hộ quỹ tình nghĩa biên
giới hải đảo 17.000.000 đồng cùng hàng trăm bộ quần áo, chăn màn và bàn ghế… Trong dịp Tết cổ
truyền của dân tộc, kỷ niệm 35 năm ngày truyền thống vẻ vang của sư đoàn, ngày hội quốc phòng
toàn dân, các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương dã đến chúc Tết và tặng quà cho các đơn
vị trị giá 53.700.000 đồng. Riêng các cháu học sinh đã quyên góp và tặng đơn vị 1.825 kg dẻ bảo
quản, 500 chổi lúa và trồng 5.200 cây xung quanh doanh trại, trận địa. Những sự quan tâm lẫn nhau
đầy tình nghĩa trên đã tăng cường tình đoàn kết "Quân với dân một ý chí”, tạo điều kiện hoàn thành
nhiệm vụ chung. Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, năm 2000, sư đoàn được Đảng, Nhà nước tặng
thưởng huân chương Chiến công hạng nhất.

Trong hai ngày 12 và 13 tháng 10 năm 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 11
được tiến hành trọng thể tại hội trường sư đoàn. Dự đại hội có 100 đại biểu ưu tú trong đảng bộ.
Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Phó bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân
tới dự và chỉ đạo đại hội.

Sau khi thảo luận các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX, báo cáo chính trị của Đảng uỷ Phòng không - Không quân, đại hội tiếp tục thảo
luận báo cáo chính trị của Đảng uỷ sư đoàn.

Đại hội nhất trí đánh giá: Trong nhiệm kỳ 1996 - 2000, Đảng hộ sư đoàn đã có nhiều cố
gắng lãnh đạo nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời, thực chất và vững
chắc hơn; coi trọng lãnh đạo xây dựng sư đoàn mạnh về chính trị, tư tưởng ; chất lượng tổng hợp và
sức mạnh chiến đấu của sư đoàn nâng lên; công tác kỹ thuật được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, phát huy
tính chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn và có nhiều biện pháp tốt bảo đảm vũ khí trang bị kỹ
thuật cho sẵn sàng chiến đấu; quán triệt tư tưởng tự lập, tự cường, công tác hậu cần bảo đảm kịp thời
cho các nhiệm vụ, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, giữ vững và từng bước cải thiện đời sống bộ đội.
Đại hội xác định mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2000 - 2005 là: Tập trung xây dựng
Đảng bộ sư đoàn vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức. Tăng cường bản chất giai cấp công
nhân, nâng cao trình độ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên.
Lãnh đạo sư đoàn kế thừa và phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, xây dựng sư đoàn theo hướng
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; có chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến
đấu và sức thiến đấu ngày càng cao. Quản lý và bảo vệ Túng chắc vùng trời được giao; bảo vệ Đảng,
chế độ xã hội chủ nghĩa và nhân dân trên địa bàn. Sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trên
giao.

Đại hội quyết định 5 nhiệm vụ, các chủ trương, biện pháp chính để lãnh đạo sư đoàn thực
hiện mục tiêu chính trị nêu trên.

Đại hội bầu ra ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới gồm 11 đồng chí: Nguyễn Văn Phi,
Bí thư Đảng uỷ, Lê Hữu Đức, Phó bí thư Đảng uỷ; Phạm Quốc Bình, uỷ viên thường vụ; các đồng chí
Vi Văn Liên, Lê Huy Vịnh, Tăng Ngọc Lan, Nguyễn Quang Vinh, Đào Huy Sáng, Phạm Trí Ước, Lê
Văn Đức, Nguyễn Đức Bình làm uỷ viên.

Toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên vô cùng phấn khởi trước thành công của đại hội,
nguyện quyết tâm phát huy truyền thống của sư đoàn anh hùng, tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục
khó khăn, phấn đấu hoàn thành thắng lợi nghị quyết của đại hội và các nhiệm vụ.

Sau sự kiện khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Mỹ, tình hình thế giới và khu vực Châu
Á diễn biến rất phức tạp. Lợi dụng chiến dịch chống khủng bố, Mỹ tập hợp lực lượng chủ động tiến
hành chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtăng và công khai can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước khác.
Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ thành
lập các tổ chức chính trị đối lập công khai tuyên truyền, kích động một số phần tử xấu chống lại Đảng
và chính quyền ta, điển hình là ở Tây Nguyên.

Chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, trực tiếp là Đảng uỷ và Tư lệnh Quân chủng,
Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn tập trung lãnh đạo, tổ chức sư đoàn triển khai kế hoạch chiến đấu mới để
kịp thời ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Thực hiền kế hoạch tác chiến mới của Quân chủng,
sư đoàn đã sử dụng lực lượng radar trên đảo và ven biển cùng với lực lượng radar của không quân, hải
quân, Quân khu 3, hàng không dân dụng quản lý chặt chẽ vùng trời khu vực và biển Đông, kịp thời
phát hiện máy bay, tàu chiến của đối phương, thông báo cho các lực lượng phòng không đánh trả có
hiệu quả các đòn tập kích của địch, bảo vệ an toàn các mục tiêu ở Hải Phòng, Quảng Ninh, căn cứ
Vùng 1 hải quân, góp phần cùng các lực lượng khác bảo vệ quần đảo Trường Sa, biển Đông và thềm
lục địa trên địa bàn phụ trách.

Ngày 15 tháng 9 năm 2001, đoàn cán bộ của Đảng uỷ quân sự Trung ương đến kiểm tra sư
đoàn. Sau khi nghe trưởng phòng Kỹ thuật sư đoàn báo cáo và trực tiếp kiểm tra một số đơn vị, trạm,
xưởng, đoàn kiểm tra kết luận: Trong thời gian qua, sư đoàn chấp hành nghiêm chỉnh chỉ thị, nghị
quyết của cấp trên, tổ chức triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả, bảo đảm vũ khí, trang bị, đạn cơ
bản đủ chủng loại, đồng bộ theo trang bị và từng đơn vị, thường xuyên đạt hệ số chiến đấu ổn định,
vững chắc; thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ động chiến đấu và diễn tập của sư đoàn và Quân chủng.
Duy trì nghiêm chế độ sử dụng, quy trình bảo quản, tích cực sửa chữa nâng cấp và làm đồng bộ khí
tài, hoạt động của các trạm kỹ thuật ngày càng hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật có trách
nhiệm, tay nghề cao, ở các cấp tổ chức tết công tác huấn luyện kỹ thuật. Công tác bảo đảm vũ khí
trang bị của ngành kỹ thuật đã góp phần quan trọng trong thành tích bảo đảm sẵn sang chiến đấu của
sư đoàn.

Những kiến nghị của sư đoàn về bảo đảm vũ khí trang bị và công tác kỹ thuật để thực hiện
nhiệm vụ trước mắt và lâu dài được đoàn kiểm tra quan tâm đặc biệt.

Sau đợt kiểm tra trên, ngành kỹ thuật sư đoàn đã tập trung khắc phục một số khuyết điểm,
tồn tại để nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và phục vụ lực lượng đi bắn đạn thật do Quân chủng
tổ chức vào cuối năm.

Ngày 23 tháng 11 năm 2001, Bộ Tham mưu Quân chủng thông báo kết quả bắn đạn thật tại
trường bắn TB-1. Theo thông báo trên, các phân đội của sư đoàn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Đại đội 171 trang bị pháo 37mm và đại đội 174 trang bị pháo 57mm của Trung đoàn 240 đều bắn diệt
mục tiêu M-96. Tiểu đoàn 83 Trung đoàn 238 và tiểu đoàn 184 Trung đoàn 213 đều diệt mục tiêu M-
100. Bốn xạ thủ A-72 của Trung đoàn 240 tham gia bắn thì có 3 đồng chí đạt loại giỏi, 1 đồng chí đạt
loại khá. Với thành tích xuất sắc trên, tất cả các phân đội đi bắn đạn thật của sư đoàn đều được Tư
lệnh Quân chủng tặng cờ "Đơn vị bắn giỏi" năm 2001.

Trong đợt kiểm tra huấn luyện cuối năm, toàn sư đoàn có 5/5 trung đoàn, tiểu đoàn 105,
93% phân đội và 4 cơ quan đều đạt tiêu chuẩn "Đơn vị huấn luyện giỏi".

Thành công nổi bật về công tác huấn luyện, bắn đạn thật năm 2001 là kết quả của sự lãnh
đạo của Đảng uỷ, tổ chức của chỉ huy của sư đoàn, sự cố gắng vượt bậc của lãnh dạo, chỉ huy các cấp
và tinh thần rèn luyện công phu của cán bộ, chiến sĩ. Kết quả trên khẳng định trình độ và khả năng sẵn
sàng chiến đấu của sư đoàn, kịp thời đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cuối tháng 12, sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết phong trào thi đua quyết thắng và hội
nghị đoàn kết quân dân năm 2001. Tới dự và chỉ đạo hội nghị có Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, Phó
tư lệnh chính trị Quân chủng. Hội nghị rất vinh dự được đón tiếp đại biểu của Thành uỷ, Uỷ ban nhân
dân, Chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng. Dự hội nghị có đông đủ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy
chủ chốt của sư đoàn, các phòng tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, các trung đoàn và đại biểu
các đơn vị, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua.

Hội nghị vô cùng phấn khởi trước những thành tích và kết quả công tác dân vận của sư
đoàn trong năm 2001. Hội nghị khẳng định: Các phong trào thi đua thực sự là động lực thúc đẩy sư
đoàn hoàn thành tốt mọi chỉ tiêu, nhiệm vụ trong năm. Các đại biểu dự hội nghị nhiệt liệt hoan
nghênh 25 đơn vị quyết thắng, 98 chiến sĩ thi đua, 205 tập thể và 109 cá nhân được tặng tằng khen,
giấy khen.

Những thành tích trên, đồng thời với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn
còn có sự đóng góp to lớn, quý báu cả về công sức, trí tuệ và vật lực của đảng bộ, chính quyền và
nhân dân địa phương, nhất là thành phố Hải Phòng, nơi sư đoàn đã có 36 năm gắn bó. Toàn thể cán
bộ, chiến sĩ trong sư đoàn luôn ý thức rằng, những tình cảm tết đẹp và sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa
của lãnh đạo, nhân dân các địa phương, đặc biệt là thành phố Hải Phòng vừa là chỗ dựa vừa là sự cổ
vũ động viên đơn vị tiếp tục phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong thời gian tới.

Năm 2002, Mỹ chuyển hướng chiến lược sang khu vực châu Á Thái Bình Dương, công
khai tuyên bố "chiến lược an ninh quốc gia", sẵn sàng thực hiện quyền "đánh đòn phủ đầu đối với
những nước không đi theo quỹ đạo của chúng và ráo riết cùng một số nước đồng minh chuẩn bị phát
động chiến tranh chống Iraq. Trong khi đó các thế lực thù địch tiếp tục gây mất ổn định ở Tây
Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây bắc nhằm chia rẽ nội bộ và xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn tổ chức các lực lượng trực chiến
sẵn sàng chiến đấu nghiêm mật, triển khai thêm lực lượng và hàng chục tổ bắn máy bay bay thấp bằng
súng bộ binh theo kế hoạch.

Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 5 năm 2002, Đoàn cán bộ Quân chủng do đại tá Nguyễn Đăng
Doanh, Phó tham mưu trưởng dẫn đầu đã tiến hành kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn. Sau khi
nghe báo cáo và kiểm tra một số đơn vị. Đoàn kiểm tra của Quân chủng nhận xét: Lãnh đạo và chỉ
huy các đơn vị đều tổ chức quán triệt nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; bộ đội nhận rõ âm mưu, thủ
đoạn của địch, kể cả trong ngày bầu cử Quốc hội. Từ sư đoàn đến các phân đội đều có kế hoạch sẵn
sàng chiến đấu cụ thể, tỉ mỉ, sát thực tế. Công tác triển khai lực lượng, khí tài trực ban sẵn sàng chiến
đấu tăng cường và lực lượng cơ động theo đúng kế hoạch, bảo đảm tốt thông tin liên lạc, bộ đội có khí
thế và quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đoàn kiểm tra Quân chủng biểu dương tiểu đoàn 81 Trung
đoàn tên lửa 238, tiểu đoàn 73 Trung đoàn tên lửa 285 và tiểu đoàn 181 Trung đoàn tên lửa 213 vì đã
khắc phục khó khăn, có nhiều cố gắng triển khai sẵn sàng chiến đấu tốt.

Ngay 20 tháng 6 năm 2002, ngành hậu cần sư đoàn sơ kết điển hình tiên tiến trong phong
trào thi đua "Ngành hậu cần quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy" từ 1995 - 2002. Trong 8 năm qua, sư
đoàn đã phát động 3 phong trào cùng chung mục đích làm theo lời dạy của Bác Hồ và phong trào đẩy
mạnh tăng gia sản xuất cải thiện nâng cao đời sống bộ đội; phong trào xây dựng doanh trại xanh, sạch
đẹp; phong trào quân y 5 tốt và chiến sĩ quân y làm theo lời Bác Hồ dạy.

Trong năm đầu, sư đoàn chỉ đạo mỗi trung đoàn xây dựng 1 phân đội điểm, đến nám thứ ba
tiến hành nhân rộng mô hình điểm ra toàn sư đoàn. Đến năm 2002, sư đoàn sơ kế đánh giá, rút ra bài
học kinh nghiệm để tiếp tục chỉ đạo thực hiện nâng cao hiệu quả hơn. Năm 2002, sư đoàn tổ chức sơ
kết, bình chọn các đơn vị điển hình tiên tiến của các phong trào trên. Kết quả, Trung đoàn 285 tiêu
biểu cho phong trào tăng gia sản xuất chính quy; các trung đoàn 240, 213 tiêu biểu cho phong trào xây
dựng doanh trại xanh, sạch, đẹp; 18 phân đội có phong trào tăng gia sản xuất giỏi và 12 phân đội có
phong trào xây dựng doanh trại xanh, sạch, đẹp, được sư đoàn tặng bằng khen. Những kinh nghiệm
rút ra từ xây dựng điển hình tiên tiến trong các phong trào trên, sư đoàn xây dựng kế hoạch đến năm
2005, phấn đấu có 80% phân đội tiêu biểu cho các phong trào này.

Cũng trong thời gian này, cán bộ sư đoàn có thay đổi. Thượng tá Nguyễn Văn Khuây, Phó
trưởng phòng Quân huấn Quân chủng được bổ nhiệm giữ chức phó sư đoàn trưởng quân sự. Thượng
tá Lê Huy Vịnh, Phó sư đoàn trưởng quân sự được giữ chức phó sư đoàn trưởng - tham mưu trưởng,
thay đồng chí Vi Văn Liên về Quân chủng nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí trung tá Nguyễn Sỹ Hiền
được bổ nhiệm chức chủ nhiệm kỹ thuật thay đồng chí Tăng Ngọc Lan về Quân chủng nhận nhiệm vụ
mới, trung tá Lê Ngọc Bảo được bổ nhiệm chức phó chủ nhiệm kỹ thuật.

Ngày 10 tháng 7, Phòng Chính trị báo cáo kết quả 10 năm thực hiện cuộc vận động xây
dựng môi trường văn hoá mới (1992-2002). Do nhận thức rõ đây là cuộc vận động có ý nghĩa lớn
trong công tác đảng, công tác chính trị nên các cấp uỷ Đảng, người chỉ huy và cơ quan chính trị đã
căn cứ vào đặc điểm tình hình nhiệm vụ từng đơn vị mà cụ thể hoá 5 nội dung của cuộc vận động và
tổ chức triển khai thực hiện. 10 năm qua, từ chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, lãnh đạo chỉ huy các
cấp đã xây dựng được tập thể cán bộ, chiến sĩ có nhân cách người quân nhân cách mạng, đời sống vật
chất tinh thần được giữ vững, các thiết chế văn hoá được củng cố và phát huy, không có tệ nạn xã hội.
Tình hình chính trị, tư tưởng trong sư đoàn ổn định, mối quan hệ đoàn kết quân dân được giữ vững và
phát triển, tạo được niềm tin của cán bộ, chiến sĩ, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ
của sư đoàn. Năm 1994 Trung đoàn 285 được Quân chủng tặng cờ "Đơn vị có môi trường văn hoá
khá nhất". Năm 1997 sư đoàn được Quân chủng tặng cờ "Đơn vị có môi trường văn hoá tốt". Đồng
thời với các phần thưởng đặc biệt trên, nhiều tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến xuất hiện, được
tặng bằng khen, giấy khen.

Thực hiện kế hoạch của Bộ và Quân chủng, từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 7 năm 2002, sư
đoàn đã cùng các sư đoàn 361, 365, 371 và Trung đoàn không quân 916 tham gia cuộc diễn tập chỉ
huy - tham mưu có một phần thực binh với đề mục “Bộ đội phòng không - Không quân trên chiến
trường miền Bắc hiệp đồng với các lực lượng vũ trang trên địa bàn thực hành tác chiến đánh bại tiến
công đường không của địch, bảo vệ vững chắc các mục tiêu được giao". Do đã nhiều lần tham gia
diễn tập quy mô lớn, sư đoàn đã chủ động chuẩn bị và tổ chức thực hiện nghiêm túc các bước trong
diễn tập đúng ý định đạo diễn của Bộ và Quân chủng, đạt kết quả khá.

Để chuẩn bị cho cuộc diễn tập sắp tới, ngày 25 tháng 9, sư đoàn tổ chức hội thao kíp chiến
đấu gọn phân đội tên lửa C-125M. Kết quả, các thành phần nắm được lý thuyết cơ bản, thao tác cá
nhân đạt loại giỏi, hiệp đồng khẩu đội tốt, khẩu đội trưởng và đài trưởng chỉ huy điều hành tốt. Do
hoàn thành tốt hội thao, kíp chiến đấu tiểu đoàn 71 Trung đoàn 285 được tặng bằng khen; đại đội 1
tiểu đoàn 183 Trung đoàn 213, đại đội 2 tiểu đoàn 71 Trung đoàn 285, kíp trắc thủ đại đội 1, tiểu đoàn
183 và đài radar P-15 tiểu đoàn 183 Trung đoàn 213 được tặng giấy khen.

Đầu tháng 10, sư đoàn tổ chức thực hành diễn tập chỉ huy - tham mưu một bên hai cấp. Với
tinh thần trách nhiệm và chuẩn bị chu đáo, cuộc diễn tập được thực hiện tốt. Nổi bật trong cuộc diễn
tập này là các cơ quan, đơn vị chấp hành nghiêm túc chỉ thị, tích cực chủ động chuẩn bị; những đơn vị
làm đạo diễn đã tập trung nghiên cứu nắm bắt trình độ chuyên môn địa bàn và nhiệm vụ cụ thể của
đơn vị diễn tập. 6/6 đơn vị thực hành diễn tập đạt mục đích, yêu cầu nội dung và an toàn tuyệt đối.
Qua diễn tập, trình độ chỉ huy của cán bộ các cấp, nhất là người chỉ huy và cơ quan trung đoàn được
nâng lên. nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích được cán bộ vận dụng kịp thời trong việc duy trì sẵn sàng
chiến đấu cho đơn vị.

Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Trung đoàn 238 được Bộ Quốc phòng tặng cờ thưởng, là
năm thứ 3 liên tục (2000 - 2002) trưng đoàn được nhận phần thưởng cao quý này; sư đoàn được Quân
chủng tặng bằng khen về công tác đảng, công tác chính trị và huấn luyện.
Ngày 24 tháng 1 năm 2003, Trung tướng Phùng Quang Thanh, Uỷ viên Trung ương Đảng,
Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ quận sự Trung ương, Tổng tham mưu trưởng đến thăm và chúc Tết sư
đoàn. Thay mặt Đảng uỷ quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, đồng chí Trung tướng đã ghi vào sổ
vàng truyền thống: Chúc cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng Sư
đoàn 363 anh hùng sang năm mới phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xây dựng đơn vị vững
mạnh toàn diện, Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

Cảm động trước sự quan tâm của cấp trên, toàn thể cán bộ, chiến sĩ nguyện quyết tâm thực
hiện tốt lời chúc của đồng chí Tổng tham mưu trưởng, làm tốt chức trách nhiệm vụ, góp phần hoàn
thành tốt nhiệm vụ của sư đoàn, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân
dân.

Quý II năm 2003, cán bộ cơ quan sư đoàn có nhiều thay đổi. Đại tá Nguyễn Kim Sơn,
Trưởng phòng Tuyên huấn Cục Chính trị được điều về dự nhiệm chức phó sư đoàn trưởng về chính
trị. Thượng tá Đào Huy Sáng được bổ nhiệm giữ chức chủ nhiệm chính trị thay đồng chí Phạm Quốc
Bình đi nhận nhiệm vụ mới. Thượng tá Đồng Văn Triệu được bổ nhiệm chức phó chủ nhiệm chính trị
thay đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh. Thượng tá Vũ Duy An được bổ nhiệm chức Chủ nhiệm hậu cần thay
đồng chí Nguyễn Quang Vinh. Hai đồng chí trung tá Trần Công Tuấn, Lê Xuân Tiến cùng được bổ
nhiệm chức phó chủ nhiệm hậu cần. Trung tá Trần Trung Hiếu được bổ nhiệm chức phó chủ nhiệm kỹ
thuật.

Từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 8, sư đoàn tổ chức hội thi tiểu đoàn trưởng hoả lực tên lửa
với 4 nội dung: Làm bài tập cơ bản huấn luyện kíp chiến đấu tiểu đoàn đánh địch tập kích đường
không, làm kế hoạch đánh địch tập kích đường không, tổ chức thực hành huấn luyện khan (không nối
điện) và thực hành tính toán. Tham gia hội thi có 9 đồng chí tiểu đoàn trưởng hoả lực tên lửa. Với
trách nhiệm chính trị cao, hội thi đã thành công tốt đẹp. Trung đoàn tên lửa 213 đoạt giải nhất. Đồng
chí Nguyễn Hữu Cương, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 81 Trung đoàn 238 đoạt giải nhất. Đồng chí Đặng
Danh Nghị, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 184 Trung đoàn 213 đoạt giải nhì.

Qua hội thi, sư đoàn phát hiện được nhiều ưu điểm và nhận rõ những hạn chế về chỉ huy xạ
kích và tác nghiệp của đội ngũ cán bộ tiểu đoàn trưởng hoả lực tên lửa. Qua đó, sư đoàn xây dựng kế
hoạch bồi dưỡng cho đối tượng trên trong thời gian tới.

Cũng trong thời gian này, nhiều đoàn tuyển thủ của sư đoàn tham gia hội thi hội thao cấp
Quân chủng. Do thường xuyên huấn luyện đúng quy trình "cơ bản, cá nhân, phân đội nhỏ, toàn phân
đội và có nhiều cố gắng trong luyện tập, tất cả các đoàn tuyển thủ trên đều hoàn thành tết nhiệm vụ.
Hoàn thành xuất sắc nhất là lực lượng đi bắn đạn thật do Quân chủng tổ chức: Các đại đội 171, 172
Trung đoàn 240 được tặng cờ "Phân đội bắn giỏi", tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285 được tặng bằng khen.

Tháng 10 năm 2003, Đảng uỷ sư đoàn tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện chỉ thị "Tăng
cường chỉ đạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã biên giới
hải đảo" của Thủ tướng Chính phủ (1998 - 2003), nắm chắc đặc điểm sư đoàn làm nhiệm vụ quản lý
và bảo vệ vùng trời Đông Bắc của Tổ quốc đội hình đóng quân trải dọc vùng duyên hải phía bắc và
một phần miền Trung, có phân đội đóng quân ở vùng biên giới, hải đảo nên các cấp uỷ đã cụ thể hoá
sát với thực tiễn các nội dung của chỉ thị trên trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Thông qua
việc quán triệt chỉ thị trên, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn việc tham gia xây dựng, phát
triển kinh tế - xã hội ở các xã biên giới, hải đảo. Các cấp, các ngành đều nêu cao trách nhiệm, tích cực
tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở địa phương, điển hình là trạm radar 27 với các cơ quan, ban,
ngành đảo Bạch Long Vĩ, trạm radar 28 kết nghĩa với xã Đầm Hà.

Trong 5 năm qua, các đơn vị trên đã tổ chức 27 buổi tuyên truyền thời sự cho 3.548 lượt
người dân và học sinh; giúp dân 650 ngày công làm đường, củng cố nhà ở, xây dựng môi trường văn
hoá mới. Năm 1998, sư đoàn đã trao tặng Trường phổ thông cơ sở Đầm Hà số lượng lớn bàn ghế,
bảng trị giá 15 triệu đồng và sửa lại trường, hệ thống vườn hoa… Trong phong trào “xoá đói, giảm
nghèo", các đơn vị tổ chức phổ biến kinh nghiệm tổ chức lực lượng cùng với nhân dân cải tạo đất
trồng lúa, rau màu đạt năng suất cao, góp phần cải thiện đời sống nhân dân địa phương. Riêng trạm
radar 28 còn tặng 3 suất học bổng cho những học sinh nghèo vượt khó mỗi suất 150.000 đồng.

Trong 3 năm qua (2001 - 2003), nhận rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động "Ngày
vì người nghèo", cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đã tự nguyện đóng góp hàng trăm triệu đồng giúp đỡ
các địa phương và tham gia chương trình "xoá đói giảm nghèo” của đất nước.

Do hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2003, Sư đoàn phòng không 363 đã được Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng tặng bằng khen. Đặc biệt, Trung đoàn 213 được Đảng, Nhà nước tuyên dương công trạng
và tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới. Đây là lần thứ 2, Trung
đoàn 213 được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trung đoàn 240 được Chính phủ
tặng cờ thi đua khá nhất năm 2003.

Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới" và Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 11, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn xác
định nhiệm vụ trung tâm trong năm 2004: Tập trung xây dựng sư đoàn vững mạnh về chính trị, có
chất lượng tổng hợp vững chắc, trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ
trong mọi tình huống.

Thực hiện nhiệm vụ trên, Bí thư Đảng uỷ sư đoàn Nguyễn Văn Phi và Sư đoàn trưởng
Nguyễn Văn Khuây (vừa được bổ nhiệm chức sư đoàn trưởng thay đồng chí Lê Hữu Đức về Quân
chủng nhận chức Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân) cùng với các đồng chí lãnh
đạo chỉ huy sư đoàn tập trung chỉ đạo các tổ chức Đảng, cơ quan và đơn vị triển khai thực hiện các kế
hoạch công tác năm 2004.

Chấp hành quyết định số 127 ngày 31 tháng 3 năm 2003 của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn
tổ chức nghiên cứu cải tiến, chế tạo khí tài nghi trang radar P-12. Đây là đề tài khoa học công nghệ
của Quân chủng do sư đoàn tổ chức thực hiện, đồng chí Sư đoàn trưởng Lê Hữu Đức làm chủ nhiệm
đề tài, đồng chí Chủ nhiệm kỹ thuật Nguyễn Sỹ Hiền làm phó chủ nhiệm đề tài và đồng chí trưởng
ban tên lửa- radar Phòng Kỹ thuật Nguyễn Văn Lâm làm thư ký. Nhận rõ ý nghĩa tầm quan trọng của
đề tài về tác chiến điện tử trong tác chiến phòng không hiện đại bảo vệ Tổ quốc, các đồng chí tham
gia làm đề tài đã nêu cao trách nhiệm, tập trung nghiên cứu và thực hiện kế hoạch theo các phương án
đã đặt ra.
Sau gần 1 năm nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo đầy vất vả, ngày 11 tháng 3 năm 2004, đề tài
đã được bảo vệ thành công trước Hội đồng khoa học Quân chủng và được Hội đồng quyết định cho
triển khai thực hiện. Được sự giúp đỡ của trạm kỹ thuật sư đoàn, Trung đoàn radar 295, ban tên lửa -
radar và bộ phận vật tư Phòng Kỹ thuật, radar nghi trang P-12 được hoàn chỉnh theo sơ đồ thiết kế với
tổng số 1.125 ngày công và được đưa vào sử dụng.

Thành công của đề tài khoa học công nghệ lớn đầu tiên của sư đoàn thể hiện rõ tiềm năng
trí tuệ, tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của người chỉ huy và đội ngũ kỹ sư, nhân viên ngành kỹ
thuật của sư đoàn, góp phần nâng cao chất lượng tác chiến điện tử trong tác chiến phòng không hiện
đại bảo vệ Tổ quốc.

Tháng 5 năm 2004, Quân chủng tổ chức hội thao kíp chiến đấu tiểu đoàn kỹ thuật C-125M
và C-75M tại Trung đoàn tên lửa 285. Sư đoàn có ba phân đội tham gia hội thao là tiểu đoàn 185
Trung đoàn 213, tiểu đoàn 75 Trung đoàn 285 và tiểu đoàn 85 Trung đoàn 238. Kết quả, cả 3 đơn vị
đều đạt điểm giỏi. Đây là thành công của sư đoàn trong công tác huấn luyện chiến đấu các tiểu đoàn
kỹ thuật tên lửa phòng không.

Ngày 17 tháng 6 năm 2004, đoàn cán bộ Quân chủng do Thiếu tướng Bùi Đăng Phiệt, Phó
tư lệnh Quân chủng làm trưởng đoàn xuống kiểm tra toàn diện kết quả công tác 6 tháng đầu năm. Qua
kiểm tra 7 đầu mối trong sư đoàn, trưởng đoàn kiểm tra Quân chủng kết luận: các đơn vị vẫn giữ và
phát huy kết quả năm 2003, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, có nhiều chuyển biến tiến bộ. Do đạt
điểm cao, sư đoàn được xếp thứ nhất về hoàn thành nhiệm vụ 6 tháng đầu năm trong khối các sư đoàn
của quân chủng.

Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9 năm 2004, tiểu đoàn 184 Trung đoàn tên lửa 213 của sư
đoàn tham gia hội thao đội ngũ chiến thuật phân đội tên lửa C-125M do Quân chủng tổ chức tại Sư
đoàn 361. Nội dung hội thao bao gồm thu hồi, triển khai xe YHB, xe YHK, trạm nguồn điện, bệ
phóng và đài radar P-19. Do phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, tiểu đoàn 184 đã hoàn thành xuất sắc
các nội dung hội thao, đạt 8,68 điểm, đoạt giải nhất Quân chủng. Những bài học kinh nghiệm về huấn
luyện và hội thao đã được Phòng Tham mưu kịp thời phổ biến cho các phân đội tên lửa.

Trong quý III năm 2004, Phòng Chính trị sư đoàn báo cáo rút kinh nghiệm 5 năm thực hiện
hình thức kết nghĩa và hoạt động phối hợp đoàn kết quân dân (1999- 2004). Nhận thức rõ vị trí, ý
nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu cấp thiết vấn đề trên, 5 năm qua, lãnh đạo chỉ huy các cấp đã ra nghị
quyết chuyên đề, xây dựng và tích cực triển khai kế hoạch. Trong thời gian trên, toàn sư đoàn đã kết
nghĩa với 159 đầu mối chính quyền, trường học và tổ chức đoàn trên địa bàn. Những hoạt động của
các tổ chức kết nghĩa đã góp phần củng cố 32 tổ chức đảng, chính quyền, xã, phường; 2 cơ sở thôn
bản thuộc vùng sâu, vùng xa; 8 cơ sở thôn, xã tôn giáo và 2 cơ sở vùng biên giới, hải đảo. Đặc biệt,
thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, sư đoàn dã tổ chức hội nghị ký kết phối hợp với công an
thành phố Hải Phòng về bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố.

Từ hoạt động thực tiễn trên, sư đoàn rút ra bài học: người chỉ huy, cơ quan chính trị và cán
bộ chính trị có kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, bám sát thực tiễn ở địa phương trong từng
thời kỳ và thống nhất phối hợp hành động. Phát huy đội ngũ chi uỷ viên, cán bộ, chiến sĩ phụ trách
dân vận trong việc nắm tình hình, kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh, chủ động làm tham mưu
cho cấp uỷ, chỉ huy có biện pháp chỉ đạo giải quyết hiệu quả.Đến cuối năm, toàn sư đoàn hoàn thành
tết kế hoạch huấn luyện năm với kết quả khá. Các phân đội trực chiến đều hoàn thành tốt nhiệm vụ,
được nhận cờ của Tư lệnh Quân chủng. Công tác kỹ thuật có nhiều tiến bộ, đạt và vượt chỉ tiêu hệ số
kỹ thuật đề ra, được Quân chủng tặng bằng khen về công tác đảm bảo kỹ thuật 2 năm liền (2003-
2004). Ngành hậu cần có rất nhiều cố gắng, đề ra nhiều biện pháp hiệu quả, giữ vững và từng bước
nâng cao đời sống, bảo đảm tốt sức khoẻ cho bộ đội. Toàn sư đoàn đóng góp xây dựng quỹ "Đền ơn
đáp nghĩa" được 76.229.000 đồng.

Tháng 12 năm 2004, trung tá Trần Trung Hiếu được bổ nhiệm chức chủ nhiệm kỹ thuật
thay đồng chí Nguyễn Sĩ Hiền về Quân chủng làm trưởng phòng vật tư tổng hợp.

Đồng thời với việc hoàn thành tốt kế hoạch công tác đảng, công tác chính trị năm 2004, sư
đoàn còn tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống vẻ vang của sư
đoàn (19-5-1965 - 19-5-2005). Thực hiện kế hoạch này, các cơ quan, đơn vị là tổ chức quần chúng đã
xây dựng hàng chục công trình có ý nghĩa lập thành tích thiết thực chào mừng ngày kỷ niệm lớn của
sư đoàn. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Quân chủng, sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng uỷ Và Chỉ huy
Sư đoàn, Phòng Chính trị tổ chức nghiên cứu bổ súng hoàn chỉnh, nâng cao cuốn lịch sử Sư đoàn
phòng không 363.

Điển hình trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2004 là các trung đoàn 238, 295 và
240. Đặc biệt, đội tuyên truyền của sư đoàn tham gia hội thi toàn quân đoạt cờ "Đội tuyên truyền viên
trẻ xuất sắc”. Đây là lần thứ 6 sư đoàn được Bộ Quốc phòng tặng phần thưởng cao quý này.

Từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005, thực hiện phương châm hành động "Nói ít, nghe
nhiều, làm thực sự để tạo ra hiệu quả", đồng thời với việc thực hiện các nhiệm vụ, toàn sư đoàn sôi
nổi thi đua làm 11 công trình bao gồm sân khấu ngoài trời, sửa chữa tôn tạo hội trường, nhà bia liệt sĩ,
kè đá khu hội trường và nhà bia của Phòng Tham mưu, bờ kè ao Phòng Chính trị, Nhà xe sư đoàn bộ,
nhà ở của Phòng Kỹ thuật, nhà che đậy khí tài của Trung đoàn bộ 240, nhà khách sư đoàn, tường bao
khu văn hoá ngoài trời và đường bê tông khu truyền thống và trưng bày hiện vật vũ khí có công, củng
cố bổ sung nâng cấp toàn bộ khu vực văn hoá ngoài trời và 100% nhà truyền thống, phòng đọc, phòng
Hồ Chí Minh của sư đoàn và các đơn vị. Đến trước ngày lễ kỷ niệm thành lập sư đoàn, toàn bộ 11
công trình trên đã cơ bản hoàn thành với tổng số hơn 6.390 ngày công và tổng trị giá hơn
2.483.000.000 đồng. Đó là thành tích đặc biệt xuất sắc của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, lập thành tích
thiết thực chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh
hùng.

Trải qua hơn 18 năm sẵn sàng chiến đấu và xây dựng trong sự nghiệp đổi mới, cán bộ,
chiến sĩ sư đoàn thường xuyên quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, tích cực đổi mới tư duy và
phương pháp công tác, đoàn kết thống nhất cao, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự
lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn, không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ,
trong đó có nhiều năm, nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Nổi bật trong thời kỳ này là sư đoàn không ngừng xây dựng, phát 'triển lực lượng, cả về số
lượng và chất lượng, tích cực góp phần xây dựng thế trận tác chiến phòng không trong thế trận phòng
không khu vực phòng thủ yếu địa ven biển Hải Phòng và có nhiều phong trào xây dựng đơn vị cơ sở,
trận địa phòng không quyết thắng, mối tình đoàn kết quân dân…

Do lập được nhiều thành tích xuất sắc, sư đoàn đã được Nhà nước tặng thưởng huân
chương Độc lập hạng nhất, các trung đoàn tên lửa 285, 238 và một số tập thể, cá nhân được tặng
thưởng huân chương Chiến công, hàng nghìn lượt tập thể và cá nhân được tặng danh hiệu Đơn vị và
Chiến sĩ quyết thắng, Chiến sĩ thi đua.

Những bài học về lãnh đạo, tổ chức chỉ huy thực hành sẵn sàng chiến đấu, xây dựng của sư
đoàn trong thời kỳ này góp phần làm phong phú thêm những bài học kinh nghiệm về xây dựng lực
lượng phòng không trong thời bình.

Kết luận

Bốn mươi năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, trực tiếp là Quân
chủng Phòng không và Quân chủng Phòng không - Không quân; với sự giúp đỡ tận tình, to lớn và quý
báu của cơ quan, đơn vị bạn và nhân dân, nhất là nhân dân thành phố Hải Phòng; sự phấn đấu vượt
bậc của các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, Sư đoàn phòng không 363 đã
hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc cả trong sự nghiệp chống Mỹ
cứu nước vĩ đại của dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đó là 40 năm sư đoàn thường xuyên quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, tư tưởng
chỉ đạo tác chiến phòng không, kế thừa và phát huy truyền thống cha ông ta đánh giặc, của các chiến
sĩ phòng không trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua
mọi khó khăn thử thách, vừa chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu vừa xây dựng và ngày càng trưởng thành
về mọi mặt.

Trong quá trình đó, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ nhận rõ vinh dự và trách nhiệm là lực lượng
nòng cốt trong các lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng và một số
mục tiêu trọng yếu ở Hải Dương, Quảng Ninh… không ngừng xây dựng, phát triển lực lượng, kiện
toàn biên chế tổ chức, làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, làm cho sư đoàn ngày càng phát triển
hoàn chỉnh, từ Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng (5-1965) thành Bộ tư lệnh phòng không Hải
Phòng- Đường 5 (6-1966) và Sư đoàn phòng không 363 (từ 1967 đến nay).

Trên chặng đường 40 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, các thế hệ lãnh đạo, chỉ
huy, cán bộ, chiến sĩ không ngừng nghiên cứu địch, sáng tạo cách đánh, nâng cao trình độ kỹ thuật,
chiến thuật, chiến dịch tác chiến phòng không, thực hiện càng đánh càng mạnh, hiệu suất chiến đấu
ngày càng cao kể cả trong nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng - Quảng Ninh, bảo vệ trọng
điểm giao thông trên tuyến đường số 5, cơ động chiến đấu bảo vệ giao thông vận chuyển trên đường
số 2, đường số 3, đường số 1 bắc, Quân khu 4 và đánh địch bảo vệ hậu phương chiến dịch Trị - Thiên
ở khu vực Quảng Bình - Vĩnh Linh trong điều kiện tác chiến phòng không hiện đại, tác chiến điện tử
phát triển và địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Nghệ thuật tác chiến phòng không cấp chiến thuật - chiến dịch của sư đoàn không ngừng
phát triển, nâng cao, từ nghiên cứu đánh giá địch, hạ quyết tâm xây dựng phương án tác chiến, bố trí
đội hình, tổ chức hiệp đồng chiến đấu, xây dựng cách đánh, thực hành linh hoạt, bí mật, bất ngờ, sáng
tạo các hình thức chiến thuật như chốt bảo vệ yếu địa, kết hợp chốt với cơ động ở vòng ngoài, cơ
động phục kích đánh địch… Đó là những yếu tố rất cơ bản, tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành tốt
nhiệm vụ bảo vệ yếu địa ven biển Hải Phòng, trọng điểm giao thông trên đường số 5, một số mục tiêu
trọng yếu ở Quảng Ninh và cơ động chiến đấu trên các chiến trường khác, tích cực góp phần cùng các
lực lượng của Quân chủng hoàn thành 3 nhiệm vụ tác chiến chiến lược là bảo vệ yếu địa, bảo vệ giao
thông vận chuyển và chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành.

Kết quả tác chiến của sư đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân
tộc là những bằng chứng sinh động về sự hình thành và phát triển nghệ thuật tác chiến phòng không
của sư đoàn.

Đồng thời với nghệ thuật tác chiến phòng không hiện đại, sư đoàn thường xuyên làm tốt
công tác xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có nền nếp tác phong chính
quy chấp hành nghiêm kỷ luật, sẵn sàng hi sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ, thực hiện càng đánh càng
mạnh và trưởng thành nhanh chóng, vững chắc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc chủ yếu là trong cuộc
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, toàn sư đoàn đã đánh hàng nghìn trận, bắn
rơi 381 máy bay, gồm 12 kiểu loại, có 12 máy bay ném bom chiến lược B-52, 82 chiếc rơi tại chỗ.

Phát huy những thành tích trên, toàn sư. đoàn đã nêu cao tinh thần đoàn kết trách nhiệm, tự
lực tự cường, khắc phục nhiều khó khăn, thường xuyên sẵn sàng chiến đấu và tổ chức thành công
nhiều phong trào xây dựng trung đoàn mạnh, sư đoàn mạnh.

Do lập nhiều thành tích xuất sắc, Sư đoàn phòng không 363, 5 trung đoàn (591, 240, 238,
285, 213), hai tiểu đoàn (73, 81), đại đội 172 và các đồng chí Bùi Xuân Chiến, Ngô Văn Tác, Đặng

Minh Chức, Kiều Thanh Tịnh, liệt sĩ Lê Hồng Thịnh được Đảng và Nhà nước tuyên dương
công trạng, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Sư đoàn được thưởng 1 huân chương Độc lập hạng nhất, 11 huân chương Quân công,
1.014 huân chương Chiến công các loại cho tập thể; 7 lần được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch
Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa; Bộ tư lệnh Quân chủng trao cờ thưởng luận lưu của Chủ tịch nước cho
Trung đoàn tên lửa 238, 255, 240; hang trăm đơn vị và cá nhân được tặng danh hiệu quyết thắng;
hang nghìn cán bộ, chiến sĩ được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua.

Trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Sư đoàn phòng không 363 đã
không ngừng phát triển, lớn mạnh về mọi mặt, hoàn thành tết mọi nhiệm vụ, có nhiều nhiệm vụ hoàn
thành xuất sắc. Thắng lợi to lớn đó, trước hết bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, của
Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng…, trực tiếp và thường xuyên là của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân
chủng Phòng không, Quân chủng Phòng không - không quân. Đó là quá trình quán triệt, vận dụng các
quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng sư đoàn phòng không bảo vệ yếu địa ven biển có trang bị vũ
khí, khí tài, kỹ thuật ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh, có sức chiến đấu mạnh, khả năng cơ động cao,
sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Trên chặng đường có bề dày truyền thống 40 năm, Sư đoàn phòng không 363 đã có các thế
hệ tập thể Đảng uỷ, Bộ tư lệnh, chỉ huy sư đoàn, Đảng uỷ và chỉ huy các trung đoàn, tiểu đoàn vững
mạnh, đoàn kết thống nhất cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, được tôi luyện trưởng thành trong
chiến đấu và xây dựng, có trình độ và kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy, góp phần quan trọng, có tính
chất quyết định đưa sư đoàn vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tết mọi nhiệm vụ.

Lịch sử vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng được nhiều thế hệ cán bộ chiến
sĩ, đảng viên, đoàn viên, công nhân viên trong thời đại Hồ Chí Minh kế tục nhau xây dựng nên. Đó là
những chiến sĩ cách mạng có lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù địch sâu sắc, thông minh, sáng tạo,
dũng cảm, vững vàng về chính trị tư tưởng, kiên cường bám trận địa, dù ở cương vị công tác nào cũng
cương quyết hoàn thành nhiệm vụ kể cả trong điều kiện gian khổ ác liệt hi sinh. Thành tích xây dựng,
chiến đấu, sẵn sang chiến đấu của sư đoàn còn có sự đóng góp to lớn của hàng ngàn liệt sĩ thương
binh, của các anh hùng, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua. Đó là những người con trung hiếu của
Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, đã nêu những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho
các thế hệ sau học tập và noi theo.

Trong những thành công và thắng lợi của sư đoàn còn có sự giúp đỡ tận tình, to lớn, quý
báu của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang địa phương và cơ quan, đơn vị bạn. Đó
là sức mạnh to lớn trong thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không, tạo điều kiện cho sư đoàn giải
quyết khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ và là động lực mạnh mẽ để cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn
phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên cường bám trận địa, bám dân, sẵn sàng xả thân vì sự
nghiệp cách mạng vẻ vang góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với
miền Bắc nước ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt chặng đường 40 năm vừa chiến đấu, sẵn sang chiến đấu vừa xây dựng và
trưởng thành, các thế hệ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đã kế thừa và phát huy
truyền thống vẻ vang của dân tộc anh hùng, quân đội và Quân chủng Phòng không - Không quân anh
hùng, bằng trí tuệ sức lực, mồ hôi, xương máu của mình xây đắp nên những trang sử vẻ vang và
truyền thống tốt đẹp của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng, Những truyền thống đó là:

1. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, sẵn sàng chiến
đấu hi sinh, nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

2. Nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, chủ động tiến công, cơ động sáng tạo, chiến
dấu mưu trí, dũng cảm, kiên cường; đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục, đánh thắng mọi đối
tượng địch trong mọi tình huống; càng đánh càng mạnh và trưởng thành.

3. Phát huy tinh thần tự túc tự cường, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ.

4. Thường xuyên xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, lấy việc xây dựng Đảng làm trung
tâm, xây dựng cán bộ làm nòng cốt, lấy đoàn thanh niên làm lực lượng xung kích, liên tục sáng tạo và
xây dựng nhiều phong trào thi đua nổi tiếng trong toàn Quân chủng và toàn quân.

5. Thường xuyên học tập và rèn luyện, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ
chiến đấu; yêu quý, quản lý sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm.
6. Đoàn kết nội bộ, đoàn kết quan dân, đoàn kết quốc tế; phát huy sức mạnh tổng hợp của
các lực lượng trên địa bàn, hiệp đồng chiến đấu, lập công tập thể.

Những truyền thống vẻ vang của Sư đoàn phòng không 363 anh hùng có thể khái quát là
"Anh dũng chiến đấu, bám chốt kiên cường, chiến thắng vẻ vang; khắc phục khó khăn, hoàn thành
nhiệm vụ, đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể; xây dựng vững mạnh, trưởng thành nhanh chóng".

Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn phòng không 363
tiếp tục phát huy truyền thống sư đoàn anh hùng, xây dựng đơn vị theo hướng cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, viết tiếp những trang sử huy hoàng mới.
Trước mắt, sư đoàn tập trung xây dựng đơn vị mạnh về chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, tích cực chống chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, kiên
định mục tiêu xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao trình độ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

PHỤ LỤC

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BỘ QUỐC PHÒNG

SỐ: 66/QP-QĐ

Ngày 19 tháng 5 năm 1965

BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

Để tăng cường và thông nhất chỉ huy.

Theo đề nghị của thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, thủ trưởng

Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay tổ chức Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng trực thuộc Bộ tư lệnh Phòng
không - Không quân.

Điều 2: Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng có nhiệm vụ thống nhất lãnh đạo, chỉ huy, xây
dựng, bảo đảm hậu cần các đơn vị pháo cao xạ bố trí phòng thủ khu vực Hải Phòng - Kiến An - Cát
Bi.

Điều 3: Trên cơ sở Trung đoàn bộ của Trung đoàn 240, tăng cường chất lượng cán bộ và
biên chế để tổ chức Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng gồm có:

- Thủ trưởng.

- Phòng Tham mưu.

- Phòng Chính trị.

- Phòng Hậu cần.
Biên chế cụ thể do Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục
Chính trị, Tổng cục Hậu cần thi hành quyết định này.

KT/ BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG

THỨ TRƯỞNG

Thiếu tướng Trần Quý Hai

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆTNAM

BỘ TỔNG THAM MƯU

SỐ: 16/TM-QĐ

Ngày 16 tháng 3 năm 1967

TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG

Theo nhu cầu xây dựng và tác chiến.

Theo đề nghị của Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân và

Cục trưởng Cục Quân lực.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay đặt phiên hiệu cho các đơn vị sau thuộc Bộ tư lệnh Phòng Không - Không
quân.

- Bộ tư lệnh phòng không Hà Nội lấy phiên hiệu f361.

- Bộ tư lệnh phòng không Hải Phòng lấy phiên hiệu f363.

- Bộ tư lệnh phòng không Hà Bắc lấy phiên hiệu f365.

- Bộ tư lệnh phòng không 367 lấy phiên hiệu f367.

Điều 2: Các đồng chí thủ trưởng Bộ tư lệnh Phòng không- Không quân và các cơ quan liên
quan thi hành quyết định này.

KT/ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG

PHÓ TỔNG THAM MƯU TRƯỞNG

Thiếu tướng Trần Sâm

***

ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC NHÀ NƯỚC TẶNG DANH HIỆU

ANH HÙNG LỰC LƯƠNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

I. Đơn vị:

- Sư đoàn phòng không 363, tuyên dương ngày 20 tháng 10 năm 1976.
- Trung đoàn pháo phòng không 591, tuyên dương ngày 15 tháng 1 năm 1976.

- Trung đoàn tên lửa 238, tuyên dương ngày 15 tháng 1 năm 1976.

- Trung đoàn tên lửa 285, tuyên dương ngày 20 tháng 10 năm 1976.

- Trung đoàn pháo phòng không 240 và Trung đoàn pháo phòng không 213, tuyên dương
ngày 29 tháng 8 năm 1985.

- Trung đoàn tên lửa 213, tuyên dương ngày 13 tháng 1 năm 2003 (tuyên dương lần thứ 2).

- Tiểu đoàn 73, Trung đoàn tên lửa 285, tuyên dương ngày 22 tháng 12 năm 1969.

- Tiểu đoàn 81, Trung đoàn tên lửa 238, tuyên dương ngày 3 tháng 9 năm 1973.

- Đại đội 172, Trung đoàn pháo phòng không 240, tuyên dương ngày 15 tháng 1 năm 1976.

- Đại đội 19, Trung đoàn radar 295, tuyên dương ngày 25 tháng 8 năm 1970.

- Đại đội 25, Trung đoàn radar 295, tuyên dương ngày 11 tháng 1 năm 1973.

- Đại đội 45, Trung đoàn radar 295, tuyên dương ngày 20 tháng 10 năm 1976.

II. Cá nhân:

- Bùi Xuân Chiến, hạ sĩ, khẩu đội trưởng đại đội 173, Trung đoàn pháo phòng không 240,
tuyên dương ngày 18 tháng 6 năm 1969.

- Ngô Văn Tác, thiếu uý, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 71, Trung đoàn tên lửa 285, tuyên
dương ngày 18 tháng 6 năm 1969.

- Đặng Minh Chức, thiếu uý, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 73, Trung đoàn tên lửa 285,
tuyên dương ngày 22 tháng 12 năm 1969.

- Kiều Thanh Tịnh, chuẩn uý, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 81, Trung đoàn tên lửa 238,
tuyên dương ngày 31 tháng 12 năm 1973

- Liệt sĩ Lê Hồng Thịnh, thiếu uý, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238, tuyên
dương ngày 20 tháng 12 năm 1994.

***

40 TRẬN THẮNG ĐIỂN HÌNH

1. Ngày 11 tháng 7 năm 1965, đại đội 171 tại trận địa An Hồng (An Hải, Hải Phòng) bằng
phần tử tổng hợp, bắn rơi 1 F-104 ngay từ khi chúng mới bén mảng đến vùng trời Hải Phòng. Lần đầu
tiên quân và dân Hải Phòng bắn rơi máy bay Mỹ trên đất liền, đó cũng là chiến công đầu của sư đoàn.
Bộ Tổng tư lệnh đã điện khen quân và dân Hải Phòng, Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng đã
tặng đại đội 171 lá cờ luân lưu của Uỷ ban Mặt trận dân tộc giải phóng thành phố Đà Nẵng kết nghĩa.

2. Ngày 1 tháng 10 năm 1965, các trung đội 3 và 7 tiểu đoàn 23 Trung đoàn 240 trên trận
địa Ngân hàng Hải Phòng bắn rơi 1 A4, là trận đầu súng máy 14,5 ly của sư đoàn lập công và cũng là
chiếc A4 "chim ó" đầu tiên bị sư đoàn bắn rơi.
3. Ngày 5 tháng 7 năm 1966, trong đội hình cụm chiến đấu cơ động của Quân chủng trên
đường số 2 và đường số 3, tiểu đoàn 72 tại trận địa Tây Cốc, Phú Thọ đã bắn rơi 1 máy bay Mỹ. Đây
là trận đánh thắng đầu tiên của cụm phòng không Đường số 2 - Đường số 3.

4. 8 giờ 10 phút, ngày 20 tháng 7 năm 1966, tiểu đoàn 72 Trung đoàn 285 thuộc biên chế
sư đoàn đi chiến dịch do Quân chủng chỉ huy tại trận địa Vô Thanh (Phú Lương, Bắc Thái) bằng 2
quả đạn bám sát bằng tay bắn rơi tại chỗ 1 RB-66. Đó là chiếc RB-66 bị bắn rơi tại chỗ đầu tiên trên
miền Bắc và là chiến công đầu của quân và dân tỉnh Tuyên Quang.

5. 15 giờ 24 phút, ngày 22 tháng 7 năm 1966, tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285, trận địa Trịnh
Hưởng (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng) bằng 1 quả đạn bám sát tự động, bắn rơi máy bay trinh sát tầng
cao BQM đầu tiên trên đất Hải Phòng, được thành phố Hải Phòng và Bộ tư lệnh sư đoàn tặng cờ "Thi
đua bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ".

6. 7 giờ ngày 5 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 72 Trung đoàn 285, tại trận địa An Hồng (An
Hải, Hải Phòng) bằng 1 quả đạn bám sát tự động, bắn rơi 1 A-3J, đó là chiếc máy bay thứ 50 bị bắn
rơi tại Hải Phòng, thiết thực kỷ niệm 2 năm miền Bắc đánh thắng trận đầu không quân Mỹ. Bác Hồ
khen: "Quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu giỏi, tiến bộ” nhiều về phòng không nhân dân và bảo vệ
trật tự trị an".

7. 20 giờ, ngày 30 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 73 Trung đoàn 285, tại trận địa La Khê
(Yên Hưng, Quảng Ninh) bằng 2 quả đạn, bắn rơi 1 máy bay Mỹ, là trận đầu sư đoàn bắn rơi A-6 "kẻ
đột nhập" và là trận đầu sư đoàn chỉ huy bắn rơi máy bay ban đêm.

8. Ngày 31 tháng 8 năm 1966, bằng súng máy 14,5mm, trung đội 33 Trung đoàn 252 tại
trận địa đảo Đình Vũ (Hải Phòng), bằng 310 viên đạn đã bắn rơi 1 RF-8, là trận đầu sư đoàn chỉ huy
bắn rơi máy bay trinh sát có người lái đầu tiên tại Hải Phòng. Đây là lần đấu tiên quân và dân Hải
Phòng bắt sống giặc lái Mỹ.

9. Ngày 1 tháng 11 năm 1966, đại đội 172 Trung đoàn 240 tại trận địa Đoạn Xá (Hải
Phòng) bằng phần tử tổng hợp với 35 viên đạn pháo 100, bắn rơi 1 A4E.

10. Ngày 11 tháng 3 năm 1967, đại đội 171 Trung đoàn 240, tại Cam Lộ, Hải Phòng bắn
rơi 1 chiếc máy bay Mỹ, là trận đầu sư đoàn bắn rơi loại máy bay trinh sát không người lái tầng thấp
147F.

11. Ngày 25 tháng 4 năm 1967, quân và dân Hải Phòng hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu mưu
trí, dũng cảm, bắn rơi 12 máy bay Mỹ, riêng tiểu đoàn 71 Trung đoàn tên lửa 285 bắn rơi 2 chiếc A4.

12. 11 giờ 55 phút ngày 26 tháng 5 năm 1967, đại đội 171 tại trận địa Đông Khê (Hải
Phòng) bằng phần tử radar với 24 viên đạn pháo 100 đã bắn rơi 1 F4, chiếc thứ 100 bị hạ trên đất Hải
Phòng.

13. Ngày 4 tháng 7 năm 1967, đại đội 11 Trung đoàn 213, tại trận địa Nhị Châu (Hải
Dương) bằng 45 viên đạn theo phần tử máy chỉ huy bắn rơi 1 A4 ngay bên hồ cá thị xã Hải Dương.
Lần đầu pháo cỡ 57 ly của sư đoàn bắn rơi máy bay Mỹ khi nó bổ nhào.
14. Ngày 31 tháng 8 năm 1967, tiểu đoàn 73 Trung đoàn tên lửa 285 tại trận địa Trịnh
Hưởng, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng đã phóng 1 quả đạn bắn rơi tại chỗ 2 chiếc máy bay A4E. Đây là
trận đánh có hiệu suất chiến đấu cao của sư đoàn trong chiến tranh chống Mỹ.

15. 11 giờ 55 phút ngày 4 tháng 10 năm 1967, đại đội 387 Trung đoàn 252, tại trận địa Đồi
Dương (Hải Phòng) bằng 112 viên đạn bắn trực tiếp, hạ 1 A4. Trận đầu pháo tiểu cao 37 ly của sư
đoàn bắn rơi trong lúc nó bổ nhào.

16. 3 giờ 30 phút ngày 25 tháng 11 năm 1967, trung đội 41 súng máy 14,5 ly (tiểu đoàn 25)
trên trận địa đồi 137 Kiến An (Hải Phòng), bằng 66 viên đạn, bắn rơi 1 A-6A. Đó lá chiếc thứ 2.600,
bị bắn rơi trên miền Bắc.

17. 19 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 năm 1968, đại đội 512 Trung đoàn 252, tại trận địa Gò
Chuối (Hải Phòng) bằng phần tử radar với 49 viên đạn pháo 57 ly bắn rơi 1 A-6A, chiếc thứ 200 bị
bắn rơi ở Hải Phòng. Bác Hồ gửi thư khen: "Quân và dân Hải Phòng đã bắn rơi 200 máy bay Mỹ, góp
phần vào chiến công bắn rơi 2.800 máy bay Mỹ trên miền Bắc. Thành tích đó rất vẻ vang".

18. Ngày 16 tháng 4 năm 1968, trung đội súng máy đại đội 171 Trung đoàn 240, tại trận
địa Đông Khê (Hải Phòng) bằng 31 viên đạn, bắn rơi 147J, là trận đầu tiên sư đoàn bắn rơi máy bay
không người lái, đánh thắng thủ đoạn trinh sát, khiêu khích và chuẩn bị đánh lớn Hải Phòng. Trận
thắng đó nói lên ý thức cảnh giác, vững vàng tay súng của quân và dân Hải Phòng ngay từ khi
Johnson tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào.

19. Ngày 23 tháng 4 năm 1968, trung đội 23 ly đại đội 176 tiểu đoàn 97, tại trận địa Từ Bí
(Hải Phòng) bắn rơi 147J, là trận đầu pháo 23mm của sư đoàn lập công.

20. Ngày 18 tháng 5 năm 1969, tiểu đoàn 53 Trung đoàn 267 tại trận địa Hạ Đới (Tiên
Lãng, Hải Phòng) bắn rơi 1 chiếc 147J lập chiến công mừng thọ Bác Hồ 79 tuổi, được Bác Hồ gửi
tặng lẵng hoa.

21. 7 giờ ngày 6 tháng 9 năm 1969, tiểu đoàn 51 Trung đoàn 267, tại trận địa Kiến Thanh
(Hải Phòng) bắn rơi 1 chiếc 147J, thiết thực biến đau thương thành hành động cách mạng trong tuần
lễ tang Bác Hồ, được Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân gửi thư biểu dương.

22. 14 giờ 25 phút, ngày 1 tháng 4 năm 1971, tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267, tại trận địa
Minh Kha (An Hải, Hải Phòng) bằng một quả đạn, bám sát bằng tay bắn rơi 1 chiếc 147J, đánh thắng
thủ đoạn "đường bay vẹt" của địch, thiết thực phối hợp với mặt trận Đường 9 - Nam Lào, chào mừng
đại thắng Bản Đông.

23. 15 giờ 40 phút, ngày 18 tháng 12 năm 1971, đại đội 11, Trung đoàn 213 tại sân bay
Anh Sơn (Nghệ An), trong đội hình chiến đấu của tiền phương sư đoàn, bắn rơi 1 F4 là trận đầu tiền
phương của sư đoàn đánh thắng tại địa bàn Quân khu 4.

24. Ngày 31 tháng 12 năm 1971, ngày tiền phương của sư đoàn đánh to thắng lớn ở Vinh
(Nghệ An), Trung đoàn 267 và Trung đoàn 213 đều lập công, trong đó Trung đoàn 267 đã thực hiện
được quyết tâm đánh tập trung, cả 4 tiểu đoàn cùng đánh vào một tốp, bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Nhân
chiến thắng này, Bộ Tổng ư lệnh đã ra thông cáo tuyên dương công trạng quân và dân Quân khu 4.
25. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, ngày đầu địch đánh trở lại miền Bắc mở đầu cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ hai, bộ đội tiền phương của sư đoàn ở nam sông Gianh (Quảng Bình) đã đánh
một trận tiêu diệt lớn, bắn rơi 7 chiếc F4, trong đó 4 tiểu đoàn của Trung đoàn 267 đều bắn rơi máy
bay Mỹ. Riêng tiểu đoàn 52 và tiểu đoàn 53 mỗi tiểu đoàn bắn rơi 2 chiếc. Chủ tịch Tôn Đức Thắng
gửi thư khen: "Đồng bào và chiến sĩ Quảng Bình, Vĩnh Linh đã cảnh giác cao, chiến đấu dũng cảm,
đánh giỏi lập công xuất sắc".

26. Ngày 16 tháng 4 năm 1972, tại Hải Phòng, toàn sư đoàn đã nổ súng kịp thời, bắn rơi 8
máy bay Mỹ, tên lửa và cao xạ đều lập công, pháo 57 và pháo 100 đều bắn rơi. Trong đó có lúc 3 giờ
sáng, đại đội 12, Trung đoàn 240 tại trận địa Sở dầu, bằng phần tử radar, với 6 loạt pháo 57mm, đã
bắn rơi 1 A-6 mở đầu ngày thắng lớn của sư đoàn trên địa bàn Hải Phòng trong cuộc chiến tranh phá
hoại lần thứ hai. Lúc 3 giờ 06 phút, tiểu đoàn 81 Trung đoàn 238 tại trận địa Minh Kha (An Hải - Hải
Phòng) bằng 3 quả đạn bám sát bằng tay đã bắn rơi 1 B-52, là chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi ở Hải
Phòng.

27. 8 giờ 10 phút ngày 20 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 53, Trung đoàn 267, tại trận địa Đại
Nam (Bố Trạch- Quảng Bình) bằng 2 quả đạn bám sát hỗn hợp, đã bắn rơi 1 RF4C. Đó là chiếc thứ
3.500 bị quân và dân miền Bắc bắn rơi.

28. 8 giờ 54 phút ngày 10 tháng 5 năm 1972, đại đội 515, Trung đoàn 240 tại trận địa An
Lạc (Hải Phòng) bằng phần tử tổng hợp bắn rơi 1 A-6, đây là chiếc máy bay Mỹ thứ 250 bị bắn rơi tại
Hải Phòng.

29. 8 giờ 34 phút ngày 24 tháng 5 năm 1972, tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238 tại trận địa
Minh Khả (An Hải, Hải Phòng) bằng 2 quả đạn bám sát bằng tay bắn rơi 1 F-8 "thập tự quân". Đây là
chiếc máy bay bị sư đoàn bắn rơi đầu tiên, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai.

30. 11 giờ 38 phút ngày 6 tháng 8 năm 1972, tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238, tại trận địa Tân
Yên Đông Triều, Quảng Ninh) bằng hai quả đạn, bắn đuổi và bám sát tự động bắn rơi tại chỗ 1 A-7.
Đó là chiếc máy bay Mỹ thứ 3.800 bị bắn rơi trên miền Bắc. Bộ Tổng tư lệnh đã điện khen quân và
dân Hải Phòng.

31. 10 giờ 14 phút ngày 19 tháng 8 năm 1972, chào mừng ngày hội của cả nước, tiểu đoàn
72, Trung đoàn 285 tại trận địa Kép Hạ (Hà Bắc) bằng 2 quả đạn bám sát tay quay đã bắn rơi 1 RF4C.

32. 8 giờ 38 phút ngày 26 tháng 11 năm 1972, tiểu đoàn 83, Trung đoàn 238 tại trận địa Lê
Xá (Đồ Sơn, Hải Phòng) bằng 2 quả đạn bám sát tự động, bắn rơi tại chỗ 1 chiếc 47J, đó là chiếc máy
bay Mỹ thứ 300 bị quân và dân Hải Phòng bắn rơi. Chủ tịch Tôn Đức Thắng gửi thư khen: "Hải
Phòng là đơn vị thứ 5 trên miền Bắc lập công xuất sắc, bắn rơi 300 máy bay giặc Mỹ".

33. 5 giờ 00 ngày 20 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 82, Trung đoàn 238 tại trận địa An Lão
(Hải Phòng) bằng 2 quả đạn bám sát tự động, bắn rơi tại chỗ 1 A-7C. Đó là trận đầu bắn rơi tại chỗ
máy bay địch trong cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm.

34. 0 giờ 28 phút ngày 21 tháng 12 năm 1972 đại đội 515 Trung đoàn 240, tại trận địa
Đồng Gạch (Bắc Giang) bắn rơi 1 máy bay Mỹ, là chiếc F- 111 đầu tiên do các lực lượng thuộc sư
đoàn đi phối thuộc bắn rơi.
35. 23 giờ 55 phút ngày 20 tháng 12 năm 1972, đại đội 512, Trung đoàn 252 tại trận địa Gò
Chuối (Hải Phòng) bằng phần tử C46, bắn rơi tại chỗ 1 A-6A. Cùng với chiến thắng của các đại đội
511, 515, 171, Trung đoàn 252 đạt 100% số đại đội của trung đoàn bắn rơi máy bay Mỹ năm 1972,
được tặng thưởng huân chương Quân công hạng hai và Bác Tôn tặng lẵng hoa cuối năm 1972.

36. 4 giờ 53 phút ngày 23 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 82 Trung đoàn 238, tại trận địa An
Lão (Hải Phòng) bằng 2 quả đạn bám sát bằng tay bắn rơi 1 B-52 là chiếc B-52 đầu tiên quân dân Hải
Phòng bắn rơi trong 12 ngày đêm đánh thắng cuộc tập kích chiến lược của giặc Mỹ.

37. 5 giờ 03 phút ngày 23 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 73, Trung đoàn 285 tại trận địa
Trịnh Hưởng (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng) bằng 2 quả đạn bám sát bằng tay bắn rơi 1 B-52 và là chiếc
máy bay thứ 800 bị bắn rơi tại Quân khu Tả Ngạn, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn tặng bức trướng
"Đơn vị bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 800".

38. 22 giờ 34 phút ngày 26 tháng 12 năm 1972, đại đội 174 Trung đoàn 252, tại trận địa
Xóm Bắc (Hải Phòng) bằng phần tử radar K-860, bắn rơi 1 B-52 là trận đầu và độc nhất cao xạ của sư
đoàn và Quân chủng Phòng không- không quân bắn rơi B-52.

39. 22 giờ 36 phút ngày 26 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238 tại trận địa
An Hồng (An Hải, Hải Phòng) bằng 2 quả đạn, bám sát bằng tay bắn rơi 1 B-52, là chiếc B-52 thứ 5
và chiếc máy bay thứ 317 bị Hải Phòng bắn rơi, kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại đối với Hải Phòng.

40. 23 giờ 03 phút ngày 27 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, tại trận địa
Đại Chu (Yên Phong, Hà Bắc) bằng 2 quả đạn bám sát hỗn hợp từ 3 điểm chuyển sang vượt nửa góc,
bắn rơi 1 B-52D tại hồ Hữu Tiệp cạnh đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Đây là chiếc máy bay B-52
cuối cùng bị bắn rơi ở Hà Nội, đồng thời cũng là chiếc máy bay cuối cùng được ghi trong sổ vàng
truyền thống của Sư đoàn 363.CÁC TRẬN ĐỊA TRUYỀN THỐNG

Trận địa Minh Kha

Tại trận địa Minh Kha các tiểu đoàn tên lửa phòng không đã bắn rơi 29 máy bay Mỹ gồm 7
kiểu loại: B-52, A4, A-6, A-7, F-8, F4, 147J.

Tiểu đoàn 52 Trung đoàn 267 tên lửa phòng không bắn rơi 17 máy bay (có 7 máy bay
không người lái bay thấp loại 1 47J, S, có chiếc A-7 đầu tiên bị bắn rơi trên miền Bắc ngày 22 tháng
12 năm 1967.

Tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238 tên lửa phòng không bắn rơi 5 máy bay, có chiếc B-52 đầu
tiên bị bắn rơi ở Hải Phòng, có chiếc F-8 bị bắn rơi tại chỗ đầu 'tiên trong cuộc chống chiến tranh phá
hoại lần thứ hai.

Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 tên lửa phòng không bắn rơi 4 máy bay.

Tiểu đoàn 74, Trung đoàn 285 bắn rơi 1 máy bay.

Tiểu đoàn 69, Trung đoàn 275 bắn rơi 1 chiếc A4.

Tiểu đoàn 67, Trung đoàn 275 bắn rơi 1 chiếc A4.
7 giờ 25 phút ngày 7 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285 đánh thắng trận đầu
tại trận địa Minh Kha, bắn rơi 1 A4.

23 giờ 18 phút ngày 19 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 81, Trung đoàn 238 đánh trận cuối
cùng bắn rơi 1 F4.

Trận địa Trịnh Hưởng

Các tiểu đoàn tên lửa phòng không triển khai tại trận địa Trịnh Hưởng đã bắn rơi 14 máy
bay Mỹ gồm 8 kiểu loại: BQM-34A, B-52, F4, F-l05, A-6, A-7, A4, F-105.

Tiểu đoàn 73 bắn rơi 5 chiếc, tiểu đoàn 74 bắn rơi 3 chiếc, các tiểu đoàn 51, 82, 71 mỗi
tiểu đoàn bắn rơi 2 chiếc.

15 giờ 24 phút ngày 22 tháng 7 năm 1966, tiểu đoàn 73 đánh thắng trận đầu tại trận địa,
bắn rơi tại chỗ máy bay trinh sát không người lái tầng cao BQM-34A đầu tiên ở Hải Phòng. Ngày 31
tháng 8 năm 1967 bằng 1 quả đạn lại diệt 2 chiếc A4.

15 giờ 20 phút ngày 16 tháng 11 năm 1967, tiểu đoàn 71 ở Trịnh Hưởng, tiểu đoàn 73 ở
Trung Hà (Hải Phòng) của Trung đoàn 285 đánh tập trung, bán rơi 1 chiếc A4.

5 giờ 03 phút ngày 23 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 73 đánh trận cuối cùng bắn rơi 1 máy
bay B-52 là chiếc thứ 800 của Quân khu Tả Ngạn.

Trận địa Đoạn Xá

Các đại đội 171, 172, Trung đoàn 240 pháo phòng không triển khai tại trận địa bắn rơi 7
máy bay Mỹ gồm 5 kiểu loại: A4, A-7, F4, F-l04, A-3J.

Ngày 18 tháng 7 năm 1965, đại đội 172 lập chiến công đầu bắn rơi 1 F-104. Ngày 18 tháng
12 năm 1972, ngay đêm đầu chiến dịch tập kích đường không chiến lược, đại đội 171 bắn rơi 1 máy
bay A-7.

Trận địa Gò Chuối

Tại trận địa này đại đội 512 pháo phòng không đã bắn rơi 6 máy bay Mỹ gồm 3 kiểu loại;
A4, A-6A, F-8.

Ngày 25 tháng 5 năm 1967 đánh thắng trận đầu, bắn rơi 1 máy bay A4.

Ngày 20 tháng 12 năm 1972, đánh trận cuối cùng bắn rơi 1 máy bay A-6.

Đêm 6 tháng 3 năm 1968 bắn rơi một chiếc A-6, là chiếc thứ 200 bị bắn rơi ở Hải Phòng.

Trận địa An Hồng (An Hải, Hải Phòng)

Đại đội 171 và các tiểu đoàn tên lửa 84, 72, 51, 71, 81… đã bắn rơi 10 máy bay Mỹ gồm
các kiểu loại B-52, A-3D, A-3J, F4, F-104, F-105.

Ngày 11 tháng 7 năm 1965, đại đội 171 pháo 100mm bắn rơi 1 F-104, là chiến công đầu
trên đất liền của quân dân Hải Phòng.
Ngày 22 tháng 12 năm 1965, tiểu đoàn 84 Trung đoàn 238 bắn rơi 2 chiếc A-3D, lập thành
tích thiết thực chào mừng ngày kỷ niệm quân đội ta tròn 21 tuổi.

Ngày 5 tháng 8 năm 1966, tiểu đoàn 72 Trung đoàn 285 bắn rơi 2 chiếc A-3J, trong đó có
chiếc thứ 50 bị quân dân Hải Phòng bắn rơi, thiết thực kỷ niệm 2 năm quân và dân miền Bắc đánh
thắng trận đầu ngày 5 tháng 8 năm 1964.

Ngày 26 tháng 12 năm 1972, tiểu đoàn 81 Trung đoàn 238 bắn rơi 1 chiếc B-52, là chiếc
cuối cùng và là chiếc máy bay Mỹ thứ 317 bị quân và dân Hải Phòng bắn rơi.

***

Danh sách Cán bộ sư đoàn qua các thời kỳ

- Thượng tá Nguyễn Hữu Ích, Tư lệnh sư đoàn (1965-1969)

- Thượng tá Lương Tý, Chính uỷ sư đoàn (1965-1969)

- Thượng tá Thanh Giang, Phó tư lệnh (1965-1968)

- Thượng tá Trần Văn Điệp, Phó chính uỷ sư đoàn

- Thượng tá Văn Giang, Chính uỷ sư đoàn (1966-1967)

- Thượng tá Bùi Đăng Tự, Tư lệnh sư đoàn (1969-1973)

- Thượng tá Trần Văn Địch, Phó chính uỷ sư đoàn (1971-1972)

- Thượng tá Vũ Trọng Cảnh, Chính uỷ sư đoàn (1970-1973)

- Trung tá Lê Chí Hướng, Phó chính uỷ sư đoàn (1971-1972)

- Trung tá Trần Nhẫn, Phó tư lệnh sư đoàn (1971-1972)

- Trung tá Lê Sơn, Phó chính uỷ sư đoàn (1971-1976)

- Trung tá Lê Ngọc Quất, Phó tư lệnh sư đoàn (1972-1974)

- Thượng tá Đoàn Thuận, Tư lệnh sư đoàn (1973-1976)

- Thượng tá Đinh Phúc Hải, Chính uỷ sư đoàn (1973-1978)

- Thượng tá Đỗ Thế Nhân, Phó tư lệnh sư đoàn (1973-1976)

- Trung tá Nguyễn Thước, Phó chính uỷ sư đoàn (1975-1977)

- Thượng tá Nguyễn Điện, Tư lệnh sư đoàn (1976-1978)

- Thượng tá Đinh Công Khẩn, Sư đoàn trưởng (1978-1979)

- Trung tá Nguyễn Mạnh Đàn, Phó tư lệnh sư đoàn (1977-1978)

- Thượng tá Đào Công Thận, Phó sư đoàn trưởng (1978-1983)

- Thượng tá Lương Hữu Chung, Phó chính uỷ sư đoàn (1978-1980)

- Đại tá Hoàng Bát, Sư đoàn trưởng (1979-1984)

- Đại tá Ngô Huynh, Sư đoàn trưởng (1984-1986)
- Trung tá Nguyễn Văn Pháp, Phó sư đoàn trưởng (1978-1983)

- Trung tá Nguyễn Văn Nghiên, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1978-1982)

- Đại tá Đoàn Mạnh Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1982-1986)

- Đại tá Nguyễn Hữu Hòe, Phó sư đoàn trưởng chính trị (1980-1987)

- Đại tá Phạm Ngọc Biểu, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm hậu cần (1978-1987)

- Đại tá Phạm Thế Hạo, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm kỹ thuật (1979-1985)

- Đại tá Đoàn Mạnh Dũng, Sư đoàn trưởng (1986-1991)

- Đại tá Vũ Mạnh Quyết, Phó sư đoàn trưởng - Chủ nhiệm kỹ thuật (1985-1988)

- Thượng tá Vũ Đình Hắc, Phó sư đoàn trưởng quân sự (1984-1987)

- Đại tá Kiều Thanh Tịnh, Phó sư đoàn trưởng quân sự (1986-1989)

- Đại tá Lã Hồng Phương, Phó sư đoàn trưởng chính trị (1987-1992)

- Thượng tá Nguyễn Văn Thực, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1987-1988)

- Trung tá Tống Ngọc Dũng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1988-1991)

- Thượng tá Tống Ngọc Dũng, Sư đoàn trưởng (1991-1994)

- Thượng tá Phạm Ngọc Nguyên, Phó sư đoàn trưởng quân sự (1989-1991)

- Thượng tá Phạm Văn Thoan, Tham mưu trưởng và Phó sư đoàn trưởng quân sự (1991-
1995)

- Thượng tá Vũ Mạnh Hốt, Phó sư đoàn trưởng quân sự (1991-1993)

- Thượng tá Dương Anh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1992-1994)

- Đại tá Dương Anh Tuấn, Sư đoàn trưởng (1994-2000)

- Đại tá Đỗ Ngọc Phụ, Phó sư đoàn trưởng về chính trị (1992-1999)

- Đại tá Nguyễn Danh Goòng, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1994-1997)

- Trung tá Lê Hữu Đức, Phó sư đoàn trưởng quân sự và Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu
trưởng (1995-2000)

- Đại tá Lê Hữu Đức, Sư đoàn trưởng (2000-2004)

- Đại tá Nguyễn Văn Phi, Phó sư đoàn trưởng chính trị (1999-nay)

- Đại tá Nguyễn Kim Sơn, Phó sư đoàn trưởng về chính trị (2003-2004)

- Đại tá Vi Văn Liên, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (1997-2002)

- Trung tá Lê Huy Vịnh, Phó sư đoàn trưởng quân sự (2000-2002)

- Thượng tá Lê Huy Vinh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng (2002-nay)

- Thượng tá Nguyễn Văn Khuây, Phó sư đoàn trưởng quân sự (2002-2004)
- Đại tá Nguyễn Văn Khuây, Sư đoàn trưởng (2004-nay)

- Thượng tá Nguyễn Quang Tuyến, Phó sư đoàn trưởng quân sự (2004 đến nay)

HẾT

______________________