You are on page 1of 178

Sư đoàn phòng không 361, Hà nội

Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân

Lời nói đầu

Sư đoàn phòng không 361 mà tiền thân là Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội được thành lập
ngày 19 tháng 5 năm 1955.

Đầu năm 1965, sau khi thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, dựa vào sức mạnh về
kinh tế và quân sự đế quốc Mỹ đã dùng không quân mở rộng đánh phá ra toàn miền Bắc mà đỉnh cao
là tập trung lực lượng đánh phá ác liệt vào Hà nội, mục tiêu chiến lược số một của đất nước nhằm phá
huỷ tiềm lực kinh tế, quốc phòng ép ta về chính trị, ngoại giao và ngăn chặn sự chi viện của hậu
phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, sự chỉ dạo của
Quân uỷ Trung ương, Bộ quốc phòng, trực tiếp là sự lãnh đạo của Đảng uý Bộ tư lệnh Quân chủng
phòng không - không quân, sau này là Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không, đoàn phòng không 361
luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong các lực lượng phòng không ba thứ quân ở Hà nội, tích cực
góp phần đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân Mỹ ở khu vực Thủ đô. Trong cuộc
chiến đầu liên tục quyết liệt đó, với sự hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ của các lực lượng phòng không,
sự quan tâm và giúp đỡ to lớn của Thành uỷ, chính quyền, nhân dân Hà nội cùng đồng bào cả nước,
sư đoàn vừa chiến đấu vừa xây dựng, càng đánh càng thắng, càng trưởng thành nhanh chóng ùa lập
chiến công ngày càng to lớn. Điển hình là trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972, sư
đoàn là lực lượng nòng cốt trên mặt trận đất đối không ở Thủ đô và trên miền Bắc đánh bại chiến dịch
tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà nội, Hải Phòng và cùng
các vùng lân cận.

Với những thành tích và chiến công vẻ vang đó, sư đoàn đã được Đảng và Nhà nước tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày truyền thống của sư đoàn (19-5-1965 - 19-5-1995)
chúng tôi tổ chức biên soạn cuốn "Sư đoàn phòng không Hà nội" nhằm mục đích giáo dục cán bộ
chiến sĩ trong sư đoàn và giới thiệu những nét tiêu biểu trong lịch sử của sư đoàn trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời góp phần nhỏ bé vào kho tàng kinh nghiệm và truyền thống anh
hùng của quân đội ta.

Quá trình sưu tầm tư liệu và nghiên cứu biên soạn, chúng tôi được sự tận tình giúp đỡ của
đông đảo cán bộ chiến sĩ cũ của sư đoàn, Thành uỷ, uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân. Nhân dịp cuốn sách "Sư đoàn phòng không Hà nội" ra mắt bạn đọc, chúng tới xin
chân thành cảm ơn tất cả các đồng chí và các bạn.

Do sự hạn chế về trình độ, khả năng của người viết, cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí và các bạn.

THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ CHỈ HUY SƯ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG 361

Mở đầu

BỘ ĐỘI PHÒNG KHÔNG HÀ NỘI TRƯỚC KHI THÀNH LẬP SƯ ĐOÀN (1954 -
1965)

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch
Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Miền Bắc nước ta, tính từ vĩ tuyến 17 trở ra, gồm cả vùng biển, vùng trời hoàn toàn giải
phóng. Một nửa đất ở phía Nam tạm thời bị đặt dưới quyền kiểm soát của đối phương.

Lợi dụng lúc nước Pháp thua trận, đế quốc Mỹ tìm mọi cách để nhanh chóng gạt Pháp ra
khỏi khu vực Đông Nam Á, thực hiện âm mưu xâm lược các nước Đông Dương, biến miền Nam
thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.

Trung tuấn tháng 6 năm 1954, trong báo cáo quan trọng tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân
thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào (1).

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 chỉ ra con đường đấu tranh vũ trang
của cách mạng giải phóng miền Nam và khẳng định nhân dân miền Nam sẽ phải đương đầu với đế
quốc Mỹ, nước đế quốc có tiềm lực kinh tế quốc phòng mạnh nhất thế giới. Từ chỗ xác định kẻ thù,
Đảng ta chủ trương phải tích cực xây dựng quân đội cách mạng, chính quy và ngày càng hiện đại đảm
bảo cho quân đội thực hiện được vai trò trụ cột để bảo vệ Tổ quốc và chuẩn bị đối phó với khả năng
chiến tranh xảy ra. Trong kế hoạch xây dựng quân đội 5 năm lần thứ nhất (1955 - 1960), bộ đội phòng
không được xác định là trọng tâm, cần phải đầu tư xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ vùng trời
miền Bắc.

Vấn đề bảo vệ bầu trời Hà nội đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đặt ra rất sớm. Ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: "Hà nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc".

Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, quân đội ta mới có một trung đoàn pháo phòng không tiểu
cao (trung đoàn 367) và một số tiều đoàn pháo phòng không trực thuộc các sư đoàn bộ binh.

Trước mắt, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tiếp quản thủ đô Hà nội, Bộ Tổng tư lệnh quyết
định điều 3 tiểu đoàn 381, 385 và 394 của trung đoàn 367 về bảo vệ Thủ đô đặt dưới quyền chỉ huy
của Bộ tư lệnh Pháo binh, có nhiệm vụ bảo vệ các yếu địa ở khu vực Gia Lâm, cầu Long Biên và các
cơ quan Trung ương.

Đầu tháng 11 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh điều tiếp 3 tiểu đoàn pháo 37 mm vừa được xây
dựng ở Cao Bằng về bảo vệ Thủ đô. Tiểu đoàn 1 do đồng chí Đặng Trình làm tiểu đoàn trưởng, bố trí
trận địa ở bãi Phúc Tân (ven sông Hồng). Tiểu đoàn 2 do đồng chí Phạm Ngọc Dư làm tiểu đoàn
trưởng, bố trí ở khu vực Quần Ngựa (nay ở cuối phố Đội Cấn). Tiều đoàn 3 do đồng chí Nguyễn Đăng
Riềng làm tiểu đoàn trưởng, bố trí ở khu vực Bạch Mai.

Do dự đoán trước sự phát triển của tình hình sau khi chiến tranh kết thúc nên ngay từ giữa
năm 1954 Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã có kế hoạch tiếp nhận vũ khi, khí tài viện trợ và cử
người ra nước ngoài học vũ khí phòng không để chuẩn bị thành lập đơn vị mới.

Ngày 21 tháng 9 năm 1954 Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập đại đoàn pháo phòng
không 367 gồm 3 trung đoàn 681, 685 và 689. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển binh chủng ở Đại
Từ (Thái Nguyên), đại đoàn nhận nhiệm vụ mới về bảo vệ hai yếu địa lớn trên miền Bắc là thủ đô Hà
nội và thành phố cảng Hài Phòng.

Ở yếu địa Hà nội bố trí hai trung đoàn 681 và 685 trang bị hỗn hợp pháo trung cao 88 mm
và pháo tiểu cao 40 mm.

Trung đoàn 681 (sau đổi thành 220) gồm hai tiểu đoàn 81, 82 (pháo 88 mm), hai tiểu đoàn
41, 42 (pháo 40 mm) bố trí ở các trận địa bên tả ngạn sông Hồng bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở phía
đông Hà nội như cầu Đuống, cầu Long Biên, sân bay Gia Lâm, nhà máy xe lửa Gia Lâm.

Trung đoàn 685 (sau đổi thành 250) gồm ba tiểu đoàn 83, 84, 86 (pháo 88 mm) và tiểu
đoàn 43 (pháo 40 mm), bố trí ở các trận địa bên hữu ngạn sông Hồng có nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan
Trung ương Đảng, Chính phủ và một số mục tiêu trọng yếu như cầu Long Biên, nhà máy điện Yên
Phụ.

Sở chỉ huy đại đoàn đặt ở khu vực gò Đống Đa. Sau một thời gian triển khai, xây dựng
phương án, ngày 7 tháng 2 năm 1956 hai trung đoàn 681 và 685 đã chính thức bước vào trực ban
chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà nội

Đến đầu năm 1956, lực lượng phòng không bảo vệ Hà nội đã có 15 đại đội pháo 88 mm,
12 đại đội pháo cao xạ 40 mm và 5 đại đội súng máy phòng không 12,7 mm.

Ngày 21 tháng 3 năm 1958, thực hiện nghị quyết chuyên đề về xây dựng quân đội, củng cố
quốc phòng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Tổng tư lệnh quyết định tách sư đoàn pháo
phòng không 367 khỏi Bộ tư lệnh Pháo binh tổ chức thành Bộ tư lệnh Phòng không trực thuộc Bộ
quốc phòng - Tổng tư lệnh làm nhiệm vụ bào vệ yếu địa. Đồng chí Hoàng Kiện được bổ nhiệm quyền
tư lệnh, đồng chí Đoàn Phụng làm chính uỷ Bộ tư lệnh Phòng không.

Theo quyết định của Bộ, Bộ tư lệnh Binh chủng phòng không được biên chế các cơ quan
gồm các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị đảm bảo, phục vụ đại đội chỉ huy 810 và
tiểu đoàn thông tin 26.
Khối các đơn vị trực thuộc gồm 3 trung đoàn pháo phòng không: 220, 240, 250, một trung
đoàn radar 260 (gọi là trung đoàn tình báo binh phòng không)1 (Trung đoàn radar 260 - thời kỳ đầu
năm 1956 gọi là tiểu đoàn 4. Đầu năm 1960 đổi phiên hiệu thành trung đoàn 300, đến tháng 6 năm
1961 đổi thành trung đoàn 291)

Trực tiếp bảo vệ Hà nội lúc này có hai trung đoàn 220, 250 trang bị các loại vũ khí khí tài
phòng không hiện đại nhất của quân đội ta lúc đó.

Ngày 22 tháng 6 năm 1958, theo quyết định của Bộ, Bộ tư lệnh Phòng không thành lập
trung đoàn pháo phòng không 230, biên chế chín đại đội pháo 57 mm1 (Sau một thời gian ngắn trung
đoàn 230 bàn giao ba đại đội pháo 57 mm cho trung đoàn pháo phòng không 240) làm lực lượng dự bị
cơ động của Bộ, trước mắt làm nhiệm vụ bảo vệ Hà nội. Đây là trung đoàn trang bị pháo phòng không
57 mm đầu tiên bảo vệ Hà nội.

Sau một thời gian huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, hệ thống vũ khí, khí tài phòng không
có 88, 40 mm, loại vũ khí chiến lợi phẩm sau Đại chiến thế giới thứ hai do Liên Xô viện trợ cho ta,
đều xuống cấp. Các phụ tùng thay thế và đạn dược dự trữ không có. Để đảm bảo cho bộ đội phòng
không sẵn sàng chiến đấu Bộ Tổng tham mưu chủ trương từng bước đưa vũ khí khí tài phòng không
của các nước xã hội chủ nghĩa vào thay thế các loại vũ khí cũ.

Đầu năm 1959, được sự chi viện của Liên Xô, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu trang bị pháo
trung cao 100 mm thay cho pháo 88 mm, pháo tiểu cao 37 mm thay cho pháo 40 mm trước mắt cho
trung đoàn 220 ở Hà nội, rồi tiếp đến là các trung đoàn khác.

Do yêu cầu của việc bảo vệ các yếu địa trên miền Bắc, tháng 4 năm 1959 Bộ quốc phòng
quyết định thành lập hai trung đoàn pháo phòng không mới: trung đoàn 280 bào vệ thành phố Vinh và
cảng Bến Thuỷ (Nghệ An), trung đoàn 210 bảo vệ khu công nghiệp Thái Nguyên.

Giữa năm 1960, Bộ quyết định điều trung đoàn pháo phòng không 250 đi bảo vệ thành phố
Nam Định, đồng thời thành lập trung đoàn pháo phòng không 260 trang bị pháo 100 mm bảo vệ Hà
nội.

Cuối năm 1960 các yếu địa quan trọng trên miền Bắc như Hà nội - Hải Phòng - Nam Định
- Thái Nguyên - Vinh đều đã có các trung đoàn pháo phòng không thuộc lực lượng phòng không quốc
gia bảo vệ.

Riêng ở Hà nội, ngoài hai trung đoàn 220 (pháo 100 mm), 230 (pháo 57 mm) đang triển
khai sẵn sàng chiến đấu còn có trung đoàn 260 đang huấn luyện chuyển binh chủng. Bảo đảm cho các
lực lượng phòng không nói chung và lực lượng phòng không Hà nội nói riêng lúc này có hai trung
đoàn radar: 290 và 3001 (Trung đoàn radar 290 thành lập ngày 21 tháng 3 năm 1959. Trung đoàn
radar 300 đến tháng 6 năm 1961 đổi thành trung đoàn radar 291). Bộ Tổng tư lệnh đang có kế hoạch
chuẩn bị thành lập trung đoàn radar thứ ba.

Để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu, trong những năm -đầu của thập kỷ sáu mươi,
bộ đội phòng không bào vệ Hà nội liên tục được quán triệt nhiệm vụ cách mạng, học tập nâng cao
giác ngộ xã hội chủ nghĩa, quán triệt nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy,
hiện đại.
Đến năm 1960, phần lớn cán bộ phòng không đã được đào tạo và bổ túc tại trường, kết hợp
với kinh nghiệm chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp nên trình độ chỉ huy của cán bộ phòng
không đã tiến bộ nhiều so với thời kỳ đầu về tiếp quản Hà nội.

Năm 1963 phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang của quân và dân ta
ở miền Nam phát triển mạnh. Các chương trình, kế hoạch bình định hòng kiểm soát toàn bộ nông thôn
miền Nam của Mỹ - nguỵ bị phá sản. Trước tình trạng đó đế quốc Mỹ quyết định tăng cường và mở
rộng "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và chuẩn bị kế hoạch dùng không quân đánh phá miền Bắc
hòng gây sức ép buộc miền Bắc ngừng chi viện cho miền Nam.

Những hoạt động phá hoại miền Bắc như dùng máy bay thả dù, thả biệt kích dùng chiến
tranh tâm lý được đế quốc Mỹ tăng cường ráo riết. Chúng gia tăng các phi vụ trinh sát vào miền Bắc;
nhiều lần máy bay trinh sát tầng cao U.2 đã bay qua Hà nội và các vùng lân cận.

Nhận rõ âm mưu địch sẽ dùng không quân đánh ra miền Bắc để cứu vãn thất bại của chúng
ở miền Nam, ngày 20 tháng 5 năm 1963 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị cụ
thể về công tác phòng không nhân dân. Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương
đã thào luận một số vấn đề trong kế hoạch phòng thủ miền Bắc như phương án tác chiến, kế hoạch
động viên, mở rộng lực lượng vũ trang thời kỳ đầu chiến tranh và chuyển nền kinh tế miền Bắc từ sản
xuất thời bình sang sản xuất thời chiến.

Ngày 25 tháng 7 năm 1963, Hội đồng Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã
thông qua nghị quyết 112 về công tác phòng không nhân dân trên miền Bắc. Chấp hành nghị quyết
của Hội đồng Chính phủ và chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương, bộ đội phòng không Hà nội càng tích
cực chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, nghiêm túc. Do cảnh giác cao, ngày 11 tháng 8
năm 1963, đại đội 130 trung đoàn pháo phòng không 260 và đại đội 109 trung đoàn pháo phòng
không 220 đã phát hiện và kịp thời đánh trả tốp máy bay trinh sát RF-101. Đây là lần đầu tiên bộ đội
phòng không nổ súng bắn máy bay Mỹ trên bầu trời Hà nội.

Tuy chưa bắn rơi máy bay địch nhưng trận đánh đã để lại một số bài học kinh nghiệm về
sẵn sàng chiến đấu và xạ kích máy bay địch cho bộ đội phòng không ở Thủ đô.

Ngày 22 tháng 10 năm 1963, Bộ quốc phòng ra quyết định hợp nhất Binh chủng phòng
không và Cục Không quân, thành lập Quân chủng phòng không - không quân. Đồng chí Phùng Thế
Tài làm tư lệnh, đồng chí Đặng Tính làm chính uỷ quân chủng. Sự ra đời của Quân chủng phòng
không - không quân đánh dấu sự phát triển vượt bậc cả về tồ chức và sức mạnh chiến đấu của mặt trận
đất đối không trên miền Bắc. Từ đây, ngoài lực lượng pháo phòng không còn có thêm lực lượng
không quân chiến đấu bảo vệ bầu trời Thủ đô.

Ngày mùng một Tết Giáp Thìn (1964) Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đại đội 130, đơn vị
đã đánh trận đầu bảo vệ Hà nội. Sau khi ân cẩn thăm hỏi và chúc Tết bộ đội, Người căn dặn: "Các chú
phải luôn cảnh giác, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu, phải kiên quyết bắn rơi máy bay địch nếu chúng
liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bắc".

Sau thất bại ngày 5 tháng 8 năm 1964, không quân Mỹ càng ráo riết chuẩn bị chiến tranh
leo thang phá hoại miền Bắc, chúng liên tục trinh sát Hà nội, Hải Phòng. Ban Chấp hành Trung ương
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: địch sẽ dùng lực lượng không quân đánh phá quyết liệt
vào Hà nội, Hải Phòng. Vì vậy cần nhanh chóng phát triển các lực lượng phòng không để hoàn chỉnh
thế trận tác chiến phòng không trên miền Bắc. Vấn đề xây dựng lực lượng phòng không để bảo vệ Hà
nội ngày càng trở nên cấp thiết.

Hà nội là thủ đô của cả nước, nơi có Trung ương Đảng và Bác Hồ làm việc, có nhiều mục
tiêu chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, giao thông. Hà nội thực sự
là mục tiêu chiến lược số một của đất nước, có tính chất quyết định sự thành bại đối với sự nghiệp
chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Chính vì thế đây sẽ là nơi đọ trí,
đọ sức, đọ lực vô cùng quyết liệt giữa ta và địch để quyết định cuộc chiến tranh ở Việt nam

Ngày 7 tháng 2 năm 1965, đế quốc Mỹ huy động máy bay ra đánh phá Đồng Hới, Quảng
Bình mở đầu cho cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Từ ngày 18 tháng 2 năm 1965, đế quốc Mỹ liên
tiếp mở các chiến dịch mang tên "Sấm rền” dùng không quân đánh phá ra toàn miền Bắc. Ngày 3
tháng 4 năm 1965 chúng đánh ra Hàm Rồng (Thanh Hoá). Tiếp đó các bước leo thang đánh phá của
không quân Mỹ lan dần ra cả vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trước tình hình đó, Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh tiếp tục chỉ đạo cho Quân chủng phòng
không - không quân gấp rút xây dựng lực lượng hình thành một hệ thống phòng không hoàn chỉnh
gồm cả lưới lửa tầng thấp, tầng cao và tầng trung bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc.

Do có sự chuẩn bị từ năm 1963, ngày 7 tháng 1 năm 1965 trung đoàn tên lửa phòng không
thứ nhất - trung đoàn 236 đã ra đời và đang gấp rút huấn luyện chuyển binh chủng.

Ngày 22 tháng 4 năm 1965, trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai - trung đoàn 238 được
thành lập. Tiếp đó, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo chuẩn bị thành lập trung đoàn tên lửa thứ ba.

Cùng thời gian này hàng loạt các trung đoàn pháo phòng không được thành lập. Sự phát
triển nhanh chóng của các lực lượng pháo phòng không, tên lửa phòng không cùng các đơn vị bảo
đảm đặt ra cho Quân chủng một vấn đề lớn cần phải thay đồi tổ chức chỉ huy.

Trước đây, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân chỉ huy trực tiếp đến cấp
trung đoàn. Nhưng trong tình hình hiện tại, Quân chủng là cấp chiến dịch, chiến lược chỉ huy tới cấp
chiến thuật trung đoàn không còn thích hợp. Hơn thế nữa, trước yêu cầu cấp bách để bào vệ hai yếu
địa Hà nội- Hải Phòng cần phải hình thành các Bộ tư lệnh phòng không khu vực. Đó là tiền đề để xây
dựng Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội - tiền thân của sư đoàn phòng không 361 sau này.

Chương 1
Sự ra đời của sư đoàn phòng không Hà nội. nhanh chóng xây dựng lực lượng, từng bước
đánh thắng các thủ đoạn leo thang chiến tranh của không quân mỹ ở khu vực Hà nội (1965 - 1966)

Sau khi chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và hoạt động biệt kích phá hoại
miền Bắc bị thất bại, đầu năm 1965, Tổng thống Johnson và tập đoàn cầm quyền Mỹ quyết định đưa
quân viễn chinh Mỹ và một số nước chư hầu vào miền Nam tiến hành "chiến tranh cục bộ"; đồng thời
mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc nước ta.
Để tiến hành chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân đối với miền Bắc, Mỹ đã điều
từ 3 đến 4 tàu sân bay của hạm đội 7 với khoảng 350 đến 400 máy bay chiến đấu tới vịnh Bắc Bộ,
tăng lực lượng không quân ở miền Nam và Thái Lan lên tới gần 550 chiếc. Ngày 7 tháng 2 năm 1965,
không quân Mỹ bắt đầu mở rộng cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc.

Trong tháng 2 và tháng 3, máy bay địch tập trung đánh phá khu vực Quảng Bình, Hà Tĩnh.

Đầu tháng 4, địch đánh phá ra Thanh Hoá và tăng cường cho máy bay trinh sát khu vực Hà
nội, Hải Phòng.

Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt nam đã họp Hội nghị
toàn thể lần thứ 11 để đề ra đường lối và nhiêm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày
13 tháng 4 năm 1965, tại Hội nghị Quốc hội khoá III, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào và
chiến sĩ cả nước, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Miền Bắc thực hiện chuyển vào trạng thái thời chiến đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ
chiến lược vừa sản xuất vừa chiến đấu, kiên quyết đánh bại chiến tranh phá hoại của Mỹ và làm tròn
nhiệm vụ chi viện chiến lược của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn đánh bại hoàn toàn đế quốc
Mỹ xâm lược. Phong trào thi đua "mỗi người làm việc bằng hai "quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm
lược" trở thành cao trào ở các ngành và các địa phương. Các lực lượng bắn máy bay bay thấp của dân
quân tự vệ, hệ thống báo động phòng không, chuẩn bị phòng tránh và sơ tán được triển khai ở khắp
nơi. Cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ được phát động sâu rộng
trên toàn miền Bắc.

Vấn đề quan trọng có tính chất quyết định trong cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến
tranh phá hoại của không quân Mỹ là chúng ta khẩn trương phát triển lực lượng và hoàn chỉnh thế trận
tác chiến phòng không trên miền Bắc, đặc biệt là ở các mục tiêu trọng yếu như thủ đô Hà nội và thành
phố cảng Hải Phòng. Địch càng leo thang chiến tranh, đánh rộng ra các tỉnh trên miền Bắc, việc phát
triển lực lượng và hoàn chỉnh thế trận tác chiến phòng không trên miền Bắc, nhất là ở Hà nội càng trở
nên cấp thiết.

Quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Bộ quốc
phòng chủ trương nhanh chóng phát triển các lực lượng tên lửa phòng không, không quân tiêm kích
phòng không, pháo phòng không để hoàn chỉnh thế trận tác chiến phòng không bảo vệ miền Bắc và
tăng cường lực lượng tác chiến phòng không bảo vệ Hà nội, Hải Phòng.

Ngày 19 tháng 5 năm 1965, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Bộ tư lệnh Phòng không
Hà nội và Bộ tư lệnh Phòng không Hải Phòng(2) (Quyết định của Bộ quốc phòng số 67/QĐ-QP) trực
thuộc Quân chủng phòng không - không quân. Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội do đồng chí Nguyễn
Dương Hán làm tư lệnh, đồng chí Trần Văn Giang làm chính uỷ. Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội gồm
có năm trung đoàn pháo phòng không là 220, 260, 224, 230, 218 và một số cơ quan, đơn vị trực
thuộc.

Trung đoàn pháo phòng không 220 (đoàn Sông Đuống) được thành lập tháng 10 năm 1954.
Đầu năm 1955, sau khi huấn luyện, trung đoàn được trang bị pháo 88 mm, làm nhiệm vụ bảo vệ Hà
nội. Năm 1959 trung đoàn là đơn vị đầu tiên được trang bị pháo phòng không 100 mm, một loại vũ
khí phòng không tầm trung hiện đại nhất của ta lúc bấy giờ. Trong những năm hoà bình làm nhiệm vụ
xây dựng, huấn luyện, trung đoàn là đơn vị mạnh, ba năm liền được giữ cờ thưởng luân lưu "Học tập
khá nhất" của Bác Hồ. Năm 1962, trung đoàn đã được vinh dự đón Bác đến thăm.

Trung đoàn pháo phòng không 260 (đoàn Sông Thương) thành lập tháng 8 năm 1960, được
trang bị pháo phòng không 100 mm. Do có nhiều cố gắng vươn lên làm chủ vũ khí khí tài hiện đại
nên trung đoàn đã lập thành tích xuất sắc trong hội thao bắn đạn thật của Quân chủng. Ngày 13 tháng
8 năm 1963, đại đội 130 kịp thời phát hiện nổ súng bắn máy bay Mỹ, trở thành sự kiện đầu tiên trong
lịch sử chiến.đấu của trung đoàn. Trong hai năm 1963-1964 trung đoàn đã được vinh dự đón Bác Hồ
kính yêu về thăm. Đại đội 129 của trung đoàn là đại đội trưởng thành nhanh chóng trong phong trào
thi đua "ba nhất", trở thành đơn vị tiên -tiến và là lá cờ đầu của Quân chủng phòng không - không
quân. Kinh nghiệm xây dựng đơn vị mạnh của đại đội 129 đã được vận dụng trong trung đoàn và các
đơn vị trong Quân chủng.

Trung đoàn pháo phòng không 280 thành lập ngày 22 thảng 6 năm 1958 tại Lạng Giang
(Hà Bắc) gồm có sáu đại đội pháo 57 mm, trong đó có hai đại đội không có khí tài. Dây là trung đoàn
pháo phòng không 57 mm đầu tiên của Quân chủng, đã tham gia chiến đấu từ ngày đầu chống chiến
tranh phá hoài của không quân Mỹ. Trải qua bảy năm xây dựng và chiến đấu; trung đoàn đã có nhiều
thành tích, dược Quân chủng đánh giá là đơn vị có phong trào huấn luyện khá, có cơ cấu hoàn chỉnh
được huấn luyện cơ bản, có nhiều trận đánh tốt.

Trung đoàn pháo phòng không 218 và 224 được thành lập tháng 4 năm 1957 thuộc hai sư
đoàn pháo binh 465 và 469. Cả hai trung đoàn đều là lực lượng phòng không dã chiến trực thuộc Bộ
tư lệnh Pháo binh. Cuối năm 1962, hai trung đoàn được điều về Bộ tư lệnh Phòng không - không
quân. Thời gian này, trung đoàn pháo phòng không 218 có bốn đại đội với 32 khẩu 85 mm.

Tháng 1 năm 1965, trung đoàn được tổ chức thêm một đại đội pháo 85 mm. Trung đoàn
pháo phòng không thời kỳ mới thành lập có lúc trang bị pháo 90 mm. Tháng 2 năm 1961, theo yêu
cầu của bạn, trung đoàn được lệnh tổ chức hai tiểu đoàn pháo 37 mm sang chiến đấu ở chiến trường
Lào. Đơn vị đã chiến đấu nhiều trận, có trận đã bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Đầu năm 1962 trung
đoàn được trang bị pháo 100 mm và tổ chức thành trung đoàn pháo trung cao dã chiến. Cuối năm
1962, khi về Bộ tư lệnh Phòng không, trung đoàn có năm đại đội gồm 40 khẩu pháo 100 mm có trang
bị radar COH-9A. Cả hai trung đoàn đều là những đơn vị được huấn luyện công phu, cơ bản trong
thời bình. Trước khi về sư đoàn, hai trung đoàn đã trài qua nhiều lần cơ động chiến đấu nên trình độ tổ
chức chỉ huy của cán bộ và khả năng thực hành chiến đấu, chiến đấu của bộ đội đã được nâng lên rõ
rệt và có những kinh nghiệm nhất định.

Ngày 27 tháng 5 năm 1965, tại doanh trại tạm thời trong khu vực Bộ tư lệnh Quân chủng
phòng không - không quân ở Bạch Mai, Đàng uỷ sư đoàn Phòng không Hà nội đã họp phiên đầu tiên,
gồm các đồng chí Trần Văn Giang, Nguyễn Dương Hán, Đinh Đình Sành, Hoàng Văn Ngữ, Hoàng
Khoát, Phạm Liêm. Đàng uỷ đã nghiên cứu quán triệt nhiệm vụ bảo vệ thủ đô Hà nội và bàn chủ
trương lãnh đạo để nhanh chóng tiến hành có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của sư đoàn
trong thời gian tới. Đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ kiêm Bí thư Đảng uỷ Quân chủng đã đến dự và
đóng góp nhiều ý kiến về tình hình nhiệm vụ. Đồng chí nhấn mạnh: "Sư đoàn phòng không Hà nội ra
đời trong điều kiện cà nước ta đang dốc lòng, dốc sức đánh Mỹ trên cả hai miền Nam, Bắc. Hiện nay
không quân Mỹ đang ráo riết leo thang mở rộng đánh phá ra miền Bắc, có nhiều khả năng chúng sẽ
liều lĩnh đánh vào Hà nội. Nhiệm vụ của sư đoàn phòng không Hà nội là hiệp đồng với các lực lượng
vũ trang và nhân dân Thủ đô, các binh chủng bạn, chiến đấu ngoan cường dũng cảm, kiên quyết đánh
bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, bảo vệ yếu địa Hà nội, sân bay Nội Bài. Sư đoàn cần phát huy
cao độ tinh thần tích cực, chủ động tiêu diệt địch, kiên quyết đánh bại mọi thủ đoạn hoạt động của
không quân Mỹ; đồng thời tích cực huấn luyện bộ đội, xây dựng lực lượng vững mạnh toàn diện để
hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống".

Trên cơ sở những ý kiến chỉ đạo của đồng chí Bí thư Đảng uỷ Quân chủng, Ban chấp hành
Đảng uỷ sư đoàn đã thảo luận sôi nổi đề quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ và thống nhất nhận
định: Ra đời trong chiến tranh, vừa mới thành lập đã phải bước vào cuộc chiến đấu với không quân
hiện đại Mỹ sẽ là một thử thách lớn đối với sư đoàn, song được bào vệ Hà nội, mục tiêu, chiến lược số
một của đất nước, nơi có Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ. các cơ quan Nhà nước và nhân dân
thủ đô là một vinh dự lớn lao và là nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với sư đoàn.

Hà nội là thủ đô của cả nước, là thành phố lớn nhất có diện rộng và có số dân đông nhất
miền Bắc. Hà nội không những là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá mà còn là nơi có nhiều đầu mối
giao thông quan trọng có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ
nghĩa cũng như chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Căn cứ vào những đặc điểm cụ thể của địa bàn
hoạt động, sư đoàn nhất trí với Quân chủng phân chia Hà nội thành bốn khu vực mục tiêu để bố trí lực
lượng phòng không bảo vệ.

- Khu vực một gồm các cơ quan trung ương.

- Khu vực hai gồm các mục tiêu ở phía đông và đông bắc Hà nội.

- Khu vực ba gồm các mục tiêu ở phía nam và tây nam thành phố.

- Khu vực bốn gồm sân bay Nội Bài, trạm biến thế và khu công nghiệp Đông Anh.

Sau khi tổ chức nghiên cứu tình hình địch, Bộ tư lệnh và cơ quan tham mưu sư đoàn nhận
thấy: Để vào đánh phá các khu vực mục tiêu trên, ngoài việc sử dụng chiến thuật nghi binh, thu hút,
chế áp hoả lực phòng không, máy bay địch còn triệt để lợi dụng địa hình, địa vật để bất ngờ tiếp cận,
trinh sát hoặc đánh phá mục tiêu.

Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ tư lệnh Quân chủng, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn
còn tổ chức nghiên cứu đặc điểm địa hình, mục tiêu bảo vệ và tính năng của vũ khí, khí tài để xây
dựng phương án tác chiến và tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Hà nội rộng gần 500 ki-lô-mét vuông, địa
hình bằng phẳng, độ cao 50 mét (so với mực nước biển) hoàn toàn thuận tiện cho việc triển khai lực
lượng tác chiến phòng không của sư đoàn.

Trong những ngày chuẩn bị chiến đấu, dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Thành uỷ, uỷ ban
nhân dân thành phố, nhân dân nội thành và các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì đã
đóng góp hàng vạn ngày công để xây dựng trận địa.
Với sự cố gắng vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ, chỉ trong một thời gian ngắn, các đơn vị đã
hoàn thành nhiệm vụ triển khai chiến đấu, khẩn trương ổn định nơi ăn, chốn ở cho bộ đội, tổ chức
huấn luyện và trực ban chiến đấu.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn được bố trí bảo vệ các mục tiêu như sau:

- Trung đoàn pháo phòng không 260 có nhiệm vụ đánh địch để bảo vệ mục tiêu trọng yếu ở
khu vực một và khu vực hai.

- Trung đoàn pháo phòng không 224 có nhiệm vụ đánh địch để bảo vệ các mục tiêu trọng
yếu ở khu vực một và khu vực ba.

- Trung đoàn pháo phòng không 230 và 220 có nhiệm vụ đánh địch bào vệ các mục tiêu
trọng yếu ở khu vực một và khu vực ba.

- Trung đoàn pháo phòng không 218 có nhiệm vụ đánh địch bào vệ các mục tiêu trọng yếu
ở khu vực bốn.

- Cơ quan và sở chỉ huy sư đoàn tạm thời đặt trong khu vực Bộ tư lệnh Quân chủng.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn được bố trí cơ bản xung quanh mục tiêu bào vệ nhằm thực
hiện y định tác chiến là tập trung hoả lực đánh máy bay địch trên các hướng ở giai đoạn bay bằng
trước tuyến cắt bom, kiên quyết bắn rơi máy bay địch bảo vệ mục tiêu và bảo đảm chi viện được cho
nhau.

Sự ra đời của sư đoàn phòng không Hà nội cùng với bộ đội không quân, bộ đội radar và
hơn 5 vạn dân quân tự vệ trang bị súng máy phòng không, súng trường để bắn máy bay bay thấp đã
bắt đầu hình thành lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô, trong đó lực lượng phòng không của
sư đoàn làm nòng cốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc
của không quân Mỹ.

Sự ra đời của sư đoàn phòng không Hà nội đánh dấu một bước phát triển lực lượng phòng
không lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến phòng không bảo vệ
thủ đô Hà nội, trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Người Cha thân yêu của
các lực lượng vũ trang nhân dân ta, và cũng là ngày thành lập sư đoàn phòng không Hà nội. Trong
mười năm hoà bình, Bác đã bốn lần đến thăm các trận địa phòng không bảo vệ Hà nội. Cán bộ chiến
sĩ sư đoàn luôn luôn hướng về Bác, về Đảng và Nhà nước, không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn
thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự quan tâm và tình cảm cao quý của Người.

Mùa hè năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam và dùng không
quân mở rộng leo thang đánh phá tới các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hoà Bình, Sơn La, Lào Cai, Yên
Bái, Phú Thọ… nhằm phá huỷ hệ thống giao thông của ta, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào
miền Nam và sang Lào.

Trước tình hình đó, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh nhận định: có khả năng địch
sẽ đánh vào Hà nội. Tiếp đó, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho bộ đội phòng không - không quân
khẩn trương xây dựng lực lượng, điều chỉnh lại đội hình chiến đấu và tích cực chuẩn bị đánh địch.
Theo kế hoạch điều chỉnh lực lượng của Quân chủng đầu quý 2 năm 1965, trung đoàn pháo
phòng không 228 vê tăng cường bảo vệ Hà nội, trung đoàn pháo phòng không 230 vào Ninh Bình
thay cho trung đoàn pháo phòng không 234 về bào vệ Thủ đô. Đội hình chiến đấu bảo vệ Hà nội được
hoàn chỉnh thêm một bước. Các đơn vị nhanh chóng ổn định tổ chức, khẩn trương huấn luyện và sẵn
sàng ra quân chiến đấu.

Sau lần họp Đảng uỷ sư đoàn lẩn thứ nhất, Chính uỷ Trần Văn Giang và Phó tư lệnh Phạm
Văn Đôn đã đến gặp các đồng chí lãnh đạo Thành uỷ và uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội. Các đồng
chí lãnh đạo thành phố rất phấn khởi khi biết tin Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội ra đời, là nòng cốt
trong các lực lượng phòng không bào vệ Thủ đô. Các đồng chí đã hứa với đồng chí chính uỷ sư đoàn:
Chính quyền và nhân dân Hà nội sẵn sàng làm hết sức mình để chi viện sức người, sức của và động
viên bộ đội phòng không Hà nội hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Theo đề nghị của Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội, Thành uỷ Hà nội đã giao cho sư đoàn
địa điểm trường Đảng Lê Hồng Phong để làm doanh trại cho Bộ tư lệnh và các cơ quan. Uỷ ban hành
chính thành phố đã ra quyết định cấp đất để xây dựng sở chỉ huy và xây dựng thêm một số trận địa,
kho tàng của sư đoàn.

Khi tiễn các đồng chí đại diện của Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội, Chủ tịch Trần Duy
Hưng còn ân cần dặn dò: sư đoàn phòng không Hà nội là con em của nhân dân Thủ đô. Các đồng chí
có khó khăn, cần thành phố giúp đỡ cứ mạnh dạn báo cáo. Chính quyền và nhân dân Hà nội sẵn sàng
hiệp đồng chiến đấu, phục vụ chiến đấu để các đồng chí đánh thắng kẻ thù.

Tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của chính quyền nhân dân Thủ đô đã tiếp thêm sức mạnh
cho bộ đội vượt qua những khó khăn thử thách ban đầu, khẩn trương chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu.

Trong lúc đơn vị công binh của sư đoàn và Công ty kiến trúc khu nam Hà nội đang gấp rút
tổ chức sở chỉ huy để bảo đàm chiến đấu thì Đảng uỷ Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội tiến hành họp
phiên toàn thể lần thứ hai. Sau khi nghiên cứu đánh giá tình hình, nhiệm vụ, Đảng uỷ nhận định:
"Địch sẽ tập trung lực lượng và dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt để đánh phá Hà nội. Cuộc chiến đấu
bảo vệ Thủ đô sẽ diễn ra rất gay go, phức tạp và quyết liệt Trên cơ sở đó, Đảng uỷ đã ra nghị quyết
tập trung lãnh đạo bộ đội kiên quyết thực hiện nhiệm vụ bảo vệ yếu địa Hà nội.

Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã triệu tập hội nghị quân chính để quán triệt tinh thần
lãnh đạo của Đảng uỷ và thống nhất các chủ trương, biện pháp tổ chức chuẩn bị, thực hành chiến đấu
theo phương án tác chiến bảo vệ Hà nội.

Sau hội nghị quân chính, toàn sư đoàn đã tiến hành học tập Nghị quyết 11 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và tiến hành đợt sinh hoạt chính trì "khẩn trương xây dựng sư đoàn phòng
không Hà nội vững mạnh, bảo vệ vững chắc Thủ đô yêu quy". Đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng đã tạo
nên khí thế cách mạng mới trong sư đoàn. Tất cả cán bộ, chiến sĩ tranh thủ thời gian, hăng say thực
hiện nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu. Khẩu hiệu hành động của cơ quan và đơn vị là ngày không kể giờ
tuần không kể thứ. Mọi người đều làm việc với cường độ và năng suất cao chưa từng có. Thành phố
Hà nội đã huy động hàng vạn ngày công đào đắp và tu sửa trận địa chiến đấu của sư đoàn. Các cán bộ
của ban quân giới và các kỹ thuật viên ở đơn vị đã cùng các đoàn kỹ thuật của Quân chủng kiểm tra,
hiệu chỉnh lại pháo và khí tài để bảo đàm các tham số chiến đấu.

Chỉ trong thời gian ngắn, trên các trận địa, các khẩu pháo đã vươn cao nòng sẵn sàng nhả
đạn vào máy bay địch.

Mờ sáng ngày 25 tháng 6 năm 1965, một số tốp máy bay Mỹ vào trinh sát các tỉnh Ninh
Bình, Hoà Bình, Sơn La. 9 giờ 20 phút một tốp hai chiếc RF4.C bay thẳng vào vùng trời Hà nội. Các
đài radar cảnh giới Ấp Bắc, Mai Sơn, Sao Đỏ đã phát hiện địch từ xa. Được báo động kịp thời, các
trung đoàn pháo phòng không 220, 260, 234 nhanh chóng bắt được mục tiêu, đồng loạt nổ súng mãnh
liệt. Đại đội 3 trung đoàn pháo phòng không 220 do đại đội trưởng Trần Ngọc Thái chỉ huy là đơn vị
bắn tốt nhất. Do bắt được mục tiêu từ xa, bộ đội bình tĩnh đánh bằng phần từ tổng hợp, đạn nổ rất
chụm vào máy bay địch. Một chiếc RF4 trúng đạn, bùng cháy rồi vòng ra hướng Hoà Bình. Đây là
trận đánh thắng đầu tiên của sư đoàn phòng không Hà nội.

Chiến thắng trận đầu, từ loạt đạn đầu thể hiện quyết tâm chiến đấu cao, kết quả chuẩn bị
chiến đấu và trình độ chỉ huy, xạ kích của bộ đội. Chiến thắng đầu tiên làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ
trong sư đoàn và quân dân Thủ đô. Sư đoàn phòng không Hà nội đã ghi chiến công đầu tiên trong
cuốn sổ vàng thắng Mỹ của Hà nội và góp phần xây dựng truyền thống đánh thắng trận đầu cho bộ
đội phòng không Thủ đô.

Lễ mừng công chiến thắng trận đầu của quân và dân Thủ đô được tổ chức long trọng tại
trung đoàn pháo phòng không 220. Trong không khí dạt dào phấn khởi, đồng chí Trần Duy Hưng,
Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội đã trao tặng trung đoàn pháo phòng không 220 lá cờ
mang dòng chữ "Chiến công đầu" và trao tặng bằng khen, phần thưởng cho tập thể và cá nhân lập
thành tích trong trận chiến đấu. Đồng chí Chủ tịch đã hào hứng phát biểu: "Đồng bào Hà nội rất mừng
vì các đồng chí đã bắn rơi máy bay Mỹ trên vùng trời Thủ đô và mong rằng trong thời gian tới các
đồng chí lại đánh giỏi, bắt giặc Mỹ phải đến tội ngay trên đường phố Hà nội!".

Tất cả cán bộ, chiến sĩ dự lễ. mừng công đều xúc động, xác định rõ trách nhiệm và quyết
tâm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Hà nội, xứng đáng với niềm tin của chính quyền và nhân dân Thủ đô.

Cũng trong thời gian này, thực hiện mệnh lệnh của trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng phòng không - không quân đã tổ chức để thành lập trung đoàn tên lửa 236, đơn vị đầu tiên của
bộ đội tên lửa phòng không Việt nam.

Đầu tháng 7, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định cho trung đoàn tên
lửa 236 ra quân chiến đấu. Để bảo vệ tên lửa đánh thắng trận đầu, Bộ tư lệnh Quân chủng đã điều hai
trung đoàn pháo phòng không 224 và 234 của Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội tham gia chiến đấu.

Trước ngày các đơn vị pháo phòng không đi chiến đấu cùng với bộ đội tên lửa, ngày 19
tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm đại đội 1 trung đoàn pháo phòng không 234
(đoàn Tam Đảo). Cùng đi với Bác có Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Trung
tướng Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào, đại tá Tư lệnh quân chủng Phùng Thế Tài và đại tá
Chính uỷ quân chủng Đặng Tính.
Các cán bộ, chiến sĩ đại đội 1 vô cùng sung sướng và xúc động khi thấy Bác hồng hào
khỏe mạnh. Trong những ngày cả nước có chiến tranh, Bác bận trăm công ngàn việc, nhưng Người
vẫn theo dõi và quan tâm đến bộ đội phòng không, đến động viên các chiến sĩ trước giờ xuất trận.

Sau khi ân cần thăm hỏi khẩu đội 6, nhìn các chiến sĩ bằng ánh mất trìu mến, giọng Bác
hiền từ:

- Hôm nay, Bác đến thăm các chú, thấy chú nào cũng mạnh khỏe, vui vẻ, Bác mừng.

Tiếp đó, Bác khen ngợi bộ đội phòng không - không quân vừa qua đã chiến đấu giỏi, cùng
quân và dân miền Bắc bắn rơi gần 400 máy bay Mỹ. Bác nhấn mạnh "… Dù đế quốc Mỹ lắm súng,
nhiều tiền. Dù chúng có "B.57, B,52 hay "bê" gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy
lính Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh mà đã đánh là nhất định thắng…"

Lời dạy của Bác Hồ kính yêu chẳng những thể hiện quyết tâm giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta mà còn là chỉ thị đối với bộ đội pháo phòng
không: phải quyết tâm đánh thắng địch, bảo vệ bộ đội tên lửa an toàn trong những trận đánh sắp tới.
Niềm tin, sức mạnh từ trái tim vĩ đại của Bác đã truyền sang trái tim các chiến sĩ. Cả đơn vị bừng
bừng khí thế quyết chiến quyết thắng và nguyện xứng đáng với sự tin yêu của Người.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965, tại khu vực Suối Hai - Sơn Tây, hai tiểu đoàn 63 và 64 trung
đoàn tên lửa 236 đã đánh thắng trận đầu, bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Đó là chiếc máy bay thứ 400 bị
bắn rơi trên miền Bắc.

Thực hiện ý định tác chiến của Quân chửng, đêm 24 tháng 7, tiểu đoàn 63 và tiểu đoàn 64
cơ động sang rận địa mới, thay vào hai trận địa tên lửa là hai bộ khí tài tên lửa giả làm bằng tre và cót
nhằm nhử địch vào đánh để cụm pháo phòng không tiêu diệt chúng.

Đội hình chiến đấu của lực lượng pháo phòng không hình thành ba phân cụm liên hoàn bao
quanh trận địa tên lửa.

Phân cụm A bảo vệ trận địa tiểu đoàn 63 gồm hai đại đội 57 mm của trung đoàn pháo
phòng không 234, ba đại đội 57 mm của tiểu đoàn 3 và một số trận địa súng máy phòng không của
dân quân. Tự vệ Phân cụm A do trung đoàn trưởng Trần Trung

Tín và chính uỷ Hàn Nghị của trung đoàn pháo phòng không 284 chỉ huy, có nhiệm vụ tiêu
diệt máy bay địch khi chúng bay dọc theo trục sông Đà, sông Hồng và đỉnh núi Lưỡi Hái.

Phân cụm B bảo vệ trận địa tiểu đoàn 64 gồm có ba đại đội 57 mm của trung đoàn pháo
phòng không 234, đại đội 37 mm của trung đoàn pháo phòng không 224, tiểu đoàn pháo 37 mm của
Trường sĩ quan Phòng không, hai đại đội súng máy phòng không tự hành của Quân chủng và một số
trận địa súng máy phòng không của địa phương. Phân cụm B do trung đoàn phó Vũ Ý và phó chính
uỷ Nguyễn Thước trung đoàn pháo phòng không 234 chỉ huy có nhiệm vụ tiêu diệt máy bay địch từ
đỉnh núi Lưỡi Hái, Ba Vì bay vào.

Phân cụm trung tâm gồm năm đại đội 100 mm của trung đoàn pháo phòng không 224,
mười khẩu súng máy phòng không 14,5 mm loại bốn nòng và một số trận địa súng máy phòng không
của dân quân tự vệ địa phương. Phân cụm trung tâm do trung đoàn trưởng Đinh Đình Sành và chính
uỷ Nguyễn Thanh Liêm trung đoàn pháo phòng không 224 chỉ huy, có nhiệm vụ tiêu diệt địch từ xa
để bào vệ các lực lượng trong toàn cụm.

Các đại đội radar 26A, 37, 18, 21 có nhiệm vụ phát hiện và bám sát các tốp máy bay địch
trên vùng trời Tây Bắc bảo đảm cho toàn cụm chiến đấu.

Ngày 27 tháng 7, sau khi cho hai máy bay RF-101 vào trinh sát, địch đã sử dụng 50 máy
bay các loại, tổ chức đánh ba đợt vào các trận địa tên lửa giả của ta. Đại đội 1 trung đoàn pháo phòng
không 234 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Ngàn chỉ huy là đơn vị đầu tiên bắn rơi tại chỗ một máy
bay F105. Đại đội 2 trung đoàn pháo phòng không 234 do đại đội trưởng Cẩm Vân và chính trị viên
Lương Xuân Mới chỉ huy cũng bắn rơi tại chỗ một chiếc F105 khác. Bộ đội pháo 100 mm của trung
đoàn pháo phòng không 224 bắn rơi một chiếc AD.6. Tiểu đoàn 3 pháo 57 mm bắn rơi một máy bay
F105. Cuối trận đánh, đại đội 2 trung đoàn pháo phòng không 224 lại bắn rơi thêm một máy bay. Kết
quả trận đánh, các lực lượng phòng không đã bắn rơi năm máy bay địch.

Trong trận đánh, một quả bom na-pan rơi giữa trận địa đại đội 1 trung đoàn pháo phòng
không 224 làm hai chiến sĩ hy sinh, sáu chiến sĩ bị bỏng nặng, nhưng toàn đơn vị vẫn dũng cảm kiên
quyết chiến đấu và đã bắn rơi máy bay địch.

Trận đầu ra quân của bộ đội tên lừa đã vận dụng cách đánh cơ động phục kích để tạo yếu tố
bất ngờ, giành thắng lợi lớn. Đợt tác chiến từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 7 đã sớm hình thành cụm tác
chiến phòng không và là một bài học trong nghệ thuật tác chiến của bộ đội phòng không Việt nam.
Chiến thuật "phục kích nhử địch" đã phát triển thêm một bước mới cả về quy mô sử dụng lực lượng
và vận dụng sáng tạo trong tác chiến phòng không. Qua trận đánh, bộ đội phòng không Hà nội rút ra
được nhiều bài học quý báu về tổ chức chuẩn bị, thực hành tác chiến hiệp đồng binh chủng và các lực
lượng phòng không, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh bại thủ đoạn chiến thuật đánh trận địa tên
lửa phòng không của không quân Mỹ.

Tháng 8 năm 1965, không quân Mỹ đã tăng cường leo thang đánh phá các tỉnh trên miền
Bắc. Chúng dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt để đánh phá mục tiêu và đối phó với các lực lượng phòng
không của ta. Tuy nhiên địch đã và đang bộc lộ những mặt yếu:

- Quy mô sử dụng lực lượng và quy luật hoạt động đánh phá chưa có gì thay đổi.

- Do bị ràng buộc về chính trị và ngoại giao, chúng chưa thể đánh thẳng vào Hà nội, Hải
Phòng. Mục tiêu đánh phá chủ yếu của chúng vẫn là giao thông vận chuyển.

Trên cơ sở phân tích đó, Bộ Tổng tư lệnh có ý định đưa một số đơn vị pháo phòng không ở
Hà nội cơ động đánh địch nhằm: Góp phần bảo vệ giao thông vận chuyển. Đánh địch bảo vệ Hà nội từ
vòng ngoài. Cơ động phục kích, rèn luyện bộ đội, rút kinh nghiệm chiến đấu và xây dựng để nâng cao
khả năng đánh địch bảo vệ yếu địa Hà nội sau này.

Thực hiện ý định trên, Đàng uỷ Quân chủng chủ trương: tăng cường khả năng bảo vệ yếu
địa và các tuyến giao thông chiến lược, đồng thời tích cực tổ chức lực lượng kết hợp gồm tên lửa và
pháo phòng không cơ động đánh địch trên các hướng với quy mô thích hợp để tiêu diệt địch từ xa, uy
hiếp tinh thần giặc lái, từng bước hạn chế hoạt động của địch. Tích cực tranh thủ thời cơ đưa các đơn
vị pháo phòng không bảo vệ yếu địa, các tiểu đoàn tên lửa, pháo phòng không mới xây dựng cơ động
đánh địch để rèn luyện bộ đội".

Đầu tháng 8 năm 1965, được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Quân chủng tổ
chức cụm Tiền phương 1 ở khu vực Phú Thọ, Yên Bái. Lực lượng gồm có các trung đoàn pháo phòng
không 224, 212, 234, tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 6 độc lập và hai tiểu đoàn tên lửa 62, 64. Nhiệm vụ của
cụm Tiền phương 1 là đánh địch giải toả sự khống chế của không quân Mỹ trên vùng Tây Bắc, án ngữ
hướng quan trọng của địch vào đánh Hà nội.

Trung tuần tháng 8, trung đoàn pháo phòng không 230, hai đại đội súng máy phòng không
AM trung đoàn pháo phòng không 220 cùng hai tiểu đoàn tên lửa 61 và 63 được lệnh tham gia cụm
Tiền phương 2 ở Nam Hà, Ninh Bình.

Tháng 9, cụm Tiền phương 3 được tồ chức trên hướng đông bắc, trung đoàn pháo phòng
không 260 được lệnh tham gia chiến đấu cùng với đại đội của trung đoàn pháo phòng không 233 và
tiểu đoàn 4, tiểu đoàn 5 độc lập.

Trung đoàn pháo phòng không 220 chia thành hai cụm: cụm A đi bào vệ sân bay Thọ Xuân
(Thanh Hoá), cụm B gồm ba đại đội xuống bảo vệ nhà máy dệt và thành phố Nam Định.

Các cụm Tiền phương đều do Quân chủng chỉ huy chiến đấu Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Phòng
không Hà nội có nhiệm vụ quản lý và bảo đảm chiến đấu cho các đơn vị của mình. Do phải cơ động
chiến đấu xa Hà nội nên việc lãnh đạo, chỉ huy quàn lý, bảo đảm chiến đấu và đời sống bộ đội gặp
nhiều khó khăn. Để khắc phục những vấn đề đó Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã đề ra
những chủ trương, biện pháp toàn diện, cụ thể cho cơ quan và đơn vị trong tiến trình chuẩn bị và bảo
đảm chiến đấu. Các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của sư đoàn đã có nhiều cố gắng
bám sát các đơn vị, nắm chắc tình hình, thực hiện có nền nếp việc truyền đạt các nghị quyết, chỉ thị, tổ
chức bảo đảm hậu cần, sửa chữa vũ khí, khí tài và bổ sung, thay thế trang bị.

Sự quan tâm của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn, tác phong sâu sát, phục vụ kịp thời của
các cơ quan đã giúp đỡ động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị khắc phục khó khăn, vượt
qua thử thách và hoàn thành nhiệm vụ trên giao.

Rời yếu địa Hà nội, nơi có cuộc sống chiến đấu tương đối ổn định và đầy đủ, các chiến sĩ
bắt đầu làm quen với cuộc sống cơ động chiến đấu. Cuộc sống dã ngoại dầm mưa, dãi nắng, lại phải
thường xuyên triển khai, thu hồi khí tài cồng kềnh, phức tạp, xây dựng và luyện tập phương án tác
chiến, thực hành chiến đấu trong điều kiện khẩn trương, phức tạp, ác liệt là một thực tế sinh động để
xây dựng đơn vị, rèn luyện bộ đội và nâng cao bản lĩnh chiến đấu cho các binh đội và phân đội. Nắm
chắc đặc điểm đó, lãnh đạo chỉ huy đơn vị đã tập trung tổ chức động viên chính trị và tiến hành biện
pháp rèn luyện kỷ luật chiến. đấu của binh chủng kỹ thuật hiện đại Là những cán bộ, chiến sĩ có lòng
yêu nước nồng nàn, xác định trách nhiệm chính trị tốt, có quyết tâm chiến đấu cao và có ý chí vươn
lên, bộ đội nhanh chóng làm quen với cuộc sống cơ động chiến đấu, bản lĩnh của họ được nâng lên
nhanh chóng. Đó là yếu tố quan trọng tạo nên chiến thắng của các đơn vị.

23 giờ đêm 11 tháng 8 năm 1965, tiểu đoàn 61 do tiểu đoàn trưởng Hồ Sĩ Hưu và chính trị
viên Vũ Ngọc Thuỵ chỉ huy đã thực hiện ra quân đánh thắng trân đầu bắn rơi tại chỗ máy bay địch.
Phát huy chiến thuật "phục kích nhử địch" trong lần ra quân đánh thắng trận đầu của bộ đội tên lửa,
ngay đêm đó, tiều đoàn 61 đã rút khỏi trận địa và đã thay thế bằng tên lửa giả để nghi binh lừa địch.

Ngày 13 tháng 8 nhiều tốp A.4, F.8 liên tục vào đánh trận địa giả của tiểu đoàn 61 ở Xích
Thồ thuộc tỉnh Ninh Bình. 23 đại đội pháo phòng không của cụm Tiền phương 2 cùng các lực lượng
phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ Gia Viễn đồng loạt nổ súng đánh địch quyết
liệt. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Trần Quốc Dương và chính uỷ Lê Chí Hướng, đại đội 7
trung đoàn pháo phòng không 230 đã bắn rơi một chiếc A.4 bay thấp ở dãy núi Hoa Lư. Hai mươi
phút sau, một chiếc A.4 nữa lại bị bắn cháy. Tiếp đó trung đoàn pháo phòng không 230 và toàn. cụm
lại bắn rơi thêm một chiếc A.4 và một chiếc F.8. Buổi chiều, hai chiếc máy bay vào trinh sát kết quả
trận đánh cũng bị diệt gọn. Địch phải thú nhận: "Theo lệnh, ngày 12 và 13 tháng 8 năm 1965, 76 phi
vụ được phân công đi lùng sục các bệ phóng tên lừa ở độ cao thấp. Sáu chiếc máy bay và nhiều phi
công bị bắn hạ vì hoả lực phòng không. Bảy chiếc khác bị hỏng nhưng không phát hiện được bệ
phóng SAM nào. Ngày ấy là ngày thứ sáu đen tối nhất. của lực lượng xung kích 77".

11 giờ 30 phút ngày 16 tháng 8, cụm Tiền phương 1 tổ chức trận đánh phục kích ở khu vực
Phú Thọ. Khi năm tốp máy bay cường kích F105 vào đánh nhà máy hoá chất Phú Thọ, tiểu đoàn 62
phóng hai quả đạn vào tốp đi đầu mở màn trận đánh. Sau khi đội hình máy bay địch bị rối loạn, chúng
vẫn liều lĩnh lao vào đánh phá nhà máy và trận địa tên lửa. Các đơn vị pháo phòng không của sư đoàn
đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không khu vực bắn rơi ba máy bay F.105, bảo vệ được
nhà máy và trận địa tên lửa.

Tin chiến thắng từ các cụm Tiền phương tới tấp truyền về làm các đơn vị của sư đoàn ở Hà
nội càng thêm náo nức được đi chiến đấu lập công. Vào những ngày cả sư đoàn sôi nổi khí thế chiến
đấu, quyết tâm lập công thì tin vui truyền nhanh đến các cơ quan, đơn vị: ngày 29 tháng 8 năm 1965,
đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến thăm đại đội 1 trung đoàn
pháo phòng không 220. Quan tâm sâu sắc đến nhiệm vụ bảo vệ Hà nội, đồng chí Lê Quẩn đã nói:
"Cần phải nhận rõ thủ đô Hà nội là trái tim, là đầu não của cả nước. Nhiệm vụ của các đồng chí rất
nặng nề, rất quan trọng. Phải bảo đảm khi địch đến là đánh trúng, đánh thắng. Mong muốn lập công là
đúng nhưng không được nôn nóng hoặc cho rằng địch không dám đánh vào Hà nội. Dù một phút, một
giây cũng không lơ là mất cảnh giác".

Sự quan tâm của Bác Hồ kính yêu, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Bí
thư thứ nhất kính mến đối với sư đoàn phòng không Hà nội càng thúc giục cán bộ chiến sĩ giữ vững
lòng tin sắt đá, quyết tâm chiến đấu cao, kiên quyết chiến đấu bảo vệ Thủ đô yêu quý.

Từ tháng 7 năm 1965, sau khi phát hiện tên lửa phòng không ta xuất hiện, máy bay địch
thay đổi thủ đoạn hoạt động. Chúng thường bay thấp theo các trục sông, trục đường, khe núi để tránh
hoả lực tên lửa và giành yếu tố bất ngờ vào đánh phá mục tiêu và trận địa tên lửa. Chúng còn sử dụng
một số loại nhiễu tiêu cực và tên lửa Sơ-rai, Bun-bớp để gây khó khán và chế áp bộ đội phòng không
của ta. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân chủng đã ra chỉ thị về đánh máy bay địch ở tầng thấp.
Thực hiện chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã triển khai kế hoạch đánh máy
bay bay thấp của địch đến các đơn vị.
Sau chiến thắng. ngày 13 tháng 8, kinh nghiệm đánh máy bay bay thấp của đại đội 7 được
phổ biến sâu rộng trong các đơn vị của trung đoàn pháo phòng không 230. Tất cả các cơ quan và đơn
vị đã tập trung nghiên cứu quy luật bay thấp của địch và xây dựng phương án tác chiến đánh máy bay
địch bay thấp. Các đơn vị đều tổ chức cho bộ đội bạt thấp thành công sự để hạ thấp nòng pháo đánh
địch. Quy trình xử trí chỉ huy đánh máy bay địch bay thấp được bộ đội luyện tập thuần thục. Theo
phương án tác chiến mới cuối tháng 8, đại đội 1 và đại đội 3 trung đoàn pháo phòng không 230 ở cụm
Tiền phương 2 được bố trí ở những lõng núi dự kiến máy bay địch sẽ bay qua.

Sáng ngày 1 tháng 9, hai chiếc máy bay F.8 từ biển bay thấp vào trinh sát khu vực Thanh
Hoá. 9 giờ 30 phút, máy bay địch vào tới vùng hoả lực, đại đội 1 và đại đội 3 đã hiệp đồng chặt chẽ,
đồng loạt nổ súng mãnh hệt, tiêu diệt gọn tốp máy bay trinh sát củạ địch. Đại đội 1 bắn rơi chiếc RF.8
mang số hiệu 923. Đại đội 3 bắn rơi chiếc RF.8 mang số hiệu 928. Đây là trận đánh xuất sắc đạt hiệu
suất chiến đấu cao, khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng và vững chắc của trung đoàn pháo phòng
không 230 sau một tháng cơ động phục kích đánh địch.

Trung tuần tháng 9 năm 1965, địch tổ chức đánh lớn vào trục giao thông đường số 1 nam,
nhất là khu vực Thanh Hoá. Các lực lượng của cụm Tiền phương 2 được lệnh vào bắc Thanh Hoá, vừa
đánh địch bảo vệ giao thông vừa phối hợp với trung đoàn pháo phòng không 228 bảo vệ cầu Hàm
Rồng. Do cơ động qua cầu Đò Lèn gặp khó khăn, tối ngày 15 tháng 9, Bộ tư lệnh Tiền phương quyết
định cho bốn đại đội pháo 57 mm và tiểu đoàn pháo 37 dừng lại triển khai chiến đấu.

Trưa ngày 16 tháng 9, ba tốp máy bay F105 của liên đội không quân 18 vào đánh phá các
mực tiêu giao thông từ Thanh Hoá đến Nam Định. ở Đò Lèn, đại đội 2 trung đoàn pháo phòng không
230 đã nổ súng kịp thời, chính xác bắn rơi tại chỗ một chiếc "Thần sấm". Ở Vụ Bản, đại đội 1 của
trung đoàn cũng bắn rơi tại chỗ một chiếc F105. Buổi chiều, các lực lượng pháo phòng không của
cụm Tiền phương 2 lại bắn rơi tại chỗ một máy bay địch. Các trận đánh trên có tính chất 'tao ngộ
chiến", vừa đánh vừa điều chỉnh đội hình chiến đấu, đã thể hiện trình độ chiến đấu khá cao của bộ đội
phòng không Hà nội. Với những chiến thắng liên tiếp, trung đoàn pháo phòng không 230 trở thành
đơn vị dẫn đầu về bắn rơi tại chỗ máy bay bay thấp của địch, giành hiệu suất chiến đấu cao trong toàn
sư đoàn.

Những trận đánh thắng của các lực lượng phòng không trong sư đoàn ở các cụm Tiền
phương đã tích cực góp phần đánh giãn địch ra xa khu vực Hà nội và tích cực góp phần giải toả giao
thông vận chuyển trên các hướng, nhất là trên đường số 1 nam. Từ đây nhiệm vụ bảo vệ yếu địa Hà
nội và nhiệm vụ cơ động tác chiến vòng ngoài để bảo vệ Hà nội từ xa ngày càng được kết hợp chặt
chẽ và trở thành nhiệm vụ thường xuyên của sư đoàn phòng không Hà nội.

Trong quá trình cơ động phục kích đánh địch bảo vệ gian thông vận chuyển trong các cụm
Tiền phương, bộ đội phòng không Hà nội đã lập được nhiều chiến công xuất sắc và trưởng thành
nhanh chóng về mọi mặt. Tuy nhiên, bộ đội pháo 100 mm đã đánh nhiều trận nhưng hiệu suất chiến
đấu thấp. Theo thống kê của phòng tác chiến Cục Tham mưu quân chủng, trong năm 1965 bộ đội
pháo 100 mm toàn Quân chủng chỉ bắn rơi bốn máy bay địch, không có chiếc nào rơi tại chỗ. Sư đoàn
phòng không Hà nội có các trung đoàn pháo 100 mm là 260, 220, 224, đã được thừ thách trong chiến
đấu. Có đại đội đánh hàng chục trận mà không trúng, không rơi máy bay địch. Trong các trận chiến
đấu, bộ đội vẫn báo cáo xử trí thao tác đúng yếu lĩnh động tác, nguyên tắc xạ kích, nhiều lần bắn bằng
phần tử tổng hợp. Pháo 100 mm là pháo phòng không cỡ trung, phương pháp bắn chủ yếu bằng khí tài
radar và máy chỉ huy. Pháo có tầm bắn xa, uy lực lớn. Khi nổ mảnh đạn nhiều, có khả năng sát thương
trong khoảng không gian rộng. Mặc dù có hạn chế trong đánh máy bay phản lực tốc độ lớn, cơ động
cao nhưng những tính năng lý thuyết và khà năng thực tế vẫn cho phép pháo 100 mm có thể bắn rơi
máy bay địch.

Trước tình hình đó, Đảng uỷ sư đoàn đã ra nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo các đơn vị
pháo 100 mm chiến đấu. Sau khi đánh giá kết quà và phân tích nguyên nhan chưa bắn trúng, bắn rơi
máy bay địch, Đảng uỷ nhận định: Vấn đề tồn tại dẫn đến hiệu quả chiến đấu thấp, vừa thuộc phạm vi
tư tưởng vừa là những vấn đề kỹ thuật và chiến thuật.

Trên cơ sở đó, Đảng uỷ đã đề ra một số biện pháp cụ thể chỉ đạo các đơn vị và tập trung
xây dựng trung đoàn pháo phòng không 220 làm đơn vị đột phá đánh địch.

Trung đoàn pháo phòng không 220 là đơn vị được trang bị pháo 100 mm sớm nhất Quân
chủng. Trong những năm hoà bình trung đoàn là đơn vị vững mạnh toàn diện. Từ khi đi cơ động phục
kích đánh địch, trung đoàn đã được cấp trên công nhận bắn rơi máy bay địch, nhưng chưa có chiếc
nào rơi tại chỗ. Tâm tư của bộ đội có nhiều băn khoăn, day dứt. Trong hội nghị dân chủ quân sự bàn
cách đánh của trung đoàn, chính uỷ Phạm Văn Bời đã nói: "Các đồng chí hãy suy nghĩ đi? Suy nghĩ
để tìm ra cách đánh bắn rơi tại chỗ máy bay địch. Dù phải bạc đầu trong một đêm cũng không sợ?"
Đó cũng là quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ trong toàn trung đoàn.

Sư đoàn đã tập trung lãnh đạo và tổ chức cơ quan, đơn vị phát động tư tưởng bộ đội,
nghiên cứu địch, tích cực huấn luyện làm chủ kỹ thuật quân sự hiện đại và tìm cách đánh có hiệu quà.
Chủ nhiệm chính trị Hoàng' Khoát xuống các đơn vị trực tiếp chỉ đạo và động viên bộ đội. Những
cuộc rút kinh nghiệm, bàn cách đánh ở đơn vị đã làm cho bộ đội hiểu rõ nguyên nhân chưa bắn rơi
máy bay địch cà về tư tưởng và trình độ xử trí, thao tác chiến đấu, trên cơ sở đó bổ sung phương án
tác chiến. Các cần bộ kỹ thuật của quân chủng, sư đoàn, trung đoàn đã tập trung sửa chữa, kiểm tra
hiệu chỉnh pháo và khí tài, bảo đàm tham số kỹ thuật tốt nhất. Sư đoàn còn tổ chức cho trung đoàn
pháo phòng không 220 bán thừ để kiểm tra trình độ của bộ đội và kiểm nghiệm hiệu quả trong công
tác xây dựng, bảo đàm chiến đấu. Ngay trong loạt đạn đầu, bộ đội đã bắn trúng mục tiêu, quả bóng nổ
tan trên không.

Sau lần bắn thử, đại đội 2 ba lần nổ súng đánh địch nhưng vẫn chưa kết quả. Ngay sau trận
đánh thứ ba không thành công, ban chỉ huy đại đội đã tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu. Hầu hết cán
bộ, chiến sĩ đều cho rằng, một trong những nguyên nhân chưa bấn trúng, bắn rơi máy bay địch là do
trắc thủ, pháo thủ thao tác thiếu chính xác. Trung đội phó Nguyễn Huy Cấp là cán bộ trưởng thành từ
pháo thủ, trắc thủ máy chỉ huy lên, luôn ở bên các chiến sĩ trong chiến đấu, nên anh nêu rõ: trắc thủ số
1 đo cự ly thiếu chính xác. Trắc thủ số 1 Nguyễn Hồng Dương thành khẩn tự bộc lộ bản thân luôn hồi
hộp trong chiến đấu nên không lần nào để chấm đỏ trùng với mục tiêu.

Sáng sớm hôm sau, toàn đại đội tập trung huấn luyện để khắc phục những điểm yếu nêu ra
trong rút kinh nghiệm chiến đấu. Các trắc thủ radar học sóng về địa vật và các địa tiêu điểm, địa tiêu
tuyến ở các hướng địch thường xuất hiện; chiến sĩ máy chỉ huy tập phát hiện, bám sát, so kim thành
thạo trong các tình huống chiến đấu. Các pháo thủ luyện tập thao tác hiệp đồng khẩu đội và toàn đơn
vị để phát hiện, bám sát, xạ kích mục tiêu. Tổ "bắn trúng, bắn rơi" của đại đội tiến hành kiểm tra, hiệu
chỉnh bảo đàm các tham số kỹ thuật của pháo và khí tài ở trạng thái tốt nhất.

Sáng ngày 7 tháng 3 năm 1966, vùng núi phía tây Thanh Hoá sương mù dày đặc. 9 giờ 29
phút, bốn chiếc máy bay F105 lợi dụng dãy núi Nưa bay thẳng vào trận địa đại đội 2. Khi chúng còn
cách trận địa khoảng 22 ki-lô-mét thì bị radar của đơn vị phát hiện. Dưới sự chỉ huy của quyền đại đội
trưởng Lê Hoa Thắm, khi máy bay địch vào đến cự ly bắn có hiệu quả, cả tám khẩu pháo đều đồng
loạt nổ súng. Một chiếc F105 bị trúng đạn, bốc cháy, đâm đầu xuống bờ sông Chu cách trận địa chưa
đầy 2 ki-lô-mét. Đó là chiếc F-105 D của Mỹ sản xuất ngày 13 tháng 2 năm 1962. Với tám viên đạn,
bắn rơi tại chỗ máy bay địch, đại đội 2 trung đoàn pháo phòng không 220 đã lập chiến công xuất sắc.
Lần đầu tiên bộ đội pháo phòng không 100 mm đã bắn rơi tại chỗ máy bay phản lực hiện đại của Mỹ.

Từ ngày Bác Hồ đến thăm bộ đội phòng không Hà nội, định ra chỉ tiêu phấn đấu "hai mươi
viên đạn một máy bay" chưa có đơn vị pháo phòng không nào lập được kỷ lục bắn rơi tại chỗ máy bay
địch và tiết kiệm đạn như thế. Chiến thắng của đại đội 2 đã củng cố niềm tin vào khà năng bắn rơi
máy bay dịch cho các đơn vị pháo 100 mm trong toàn sư đoàn và Quân chủng.

Trên chiến trường miền Nam, Mỹ - nguỵ bị thất bại trong cuộc phản công chiến lược mùa
khô lần thứ nhất. Ở miền Bắc, quân và dân ta đã bắn rơi hơn 1.000 máy bay Mỹ. Bị thất bại liên tiếp
trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, từ trung tuần tháng 4 năm 1966, máy bay địch thay đổi thủ
đoạn hoạt động. Chúng tăng cường đánh lén ban đêm, cơ động tránh tên lửa và pháo phòng không,
tăng cường gây nhiễu ngoài đội hình, tiến hành trinh sát ở tầng thấp nhằm chuẩn bị cho những đợt
hoạt động lấn sâu. vào không phận Hà nội. Về phía ta, nhiều trận đánh của các đơn vị đạt hiệu suất
chiến đấu thấp. Ngày 17 tháng 4, trung đoàn pháo phòng không 223 không hoàn thành nhiệm vụ bảo
vệ trận địa tiểu đoàn 81 ở Văn Điển.

Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng ra nghị quyết chuyên đề về tăng
cường chỉ đạo cách đánh đối với các đơn vị phòng không: Ngày 26 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân chủng
đã hướng dẫn cụ thể cách đánh máy bay bay thấp cho các đơn vị.

Ngày 11 tháng 5, Tư lệnh Quân chủng Phùng Thế Tài chỉ thị bồ sung kế' hoạch bảo vệ khu
vực Hà nội, Hải Phòng và đường số 1 bắc.

Tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội: Lãnh đạo và
chỉ đạo mọi mặt các đơn vị pháo phòng không thuộc quyền nhanh chóng ổn định tổ chức, xây dựng,
tăng cường huấn luyện bộ đội, nâng cao trình độ chiến đấu, chỉ đạo chiến đấu chặt chẽ các trung đoàn,
đảm bào sẵn sàng tiêu diệt địch. Hiệp đồng chặt chẽ với Bộ tư lệnh Thủ đô và các lực lượng vũ trang
khu vực Hà nội tạo thành mạng lưới hoả lực dày đặc để tiêu diệt máy bay địch ở các độ cao, trong mọi
điều kiện thời tiết, bảo vệ an toàn khu vực Hà nội, đặc biệt là các mục tiêu chủ yếu: cơ quan trung
ương, cầu Long Biên, đài phát thanh Mễ Trì, khu Bạch Mai và các đoạn đê xung yếu ở khu vực Hà
nội. Chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt chiến đấu đối với các đơn vị khi Quân chủng tăng
cường cho sư đoàn. Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các tình báo về địch lên sở chỉ huy Quân
chủng.
Thực hiện nghị quyết của Thường vụ Đảng uỷ và mệnh lệnh của Bộ tư lềnh Quân chủng,
các lực lượng phòng không đang cơ động đánh địch lần lượt trở vê bảo vệ Hà nội. Lực lượng của sư
đoàn gồm có các trung đoàn pháo phòng không 260, 220, 212, 233, 224, 284, 232, với tổng số 18 đại
đội pháo trung cao 100 mm, 12 đại đội pháo tiểu cao 57 mi-li-mét, 29 đại đội pháo 37 mm, 30 trung
đội súng máy phòng không 14,5 mm, tiểu đoàn radar đèn chiếu và ba trạm radar nhìn vòng. Trung
đoàn tên lửa 236 đang cơ động đánh địch ở Khu 4.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn được bố trí: Trung đoàn pháo phòng không 220 bảo vệ
phía tây nam Hà nội. Trung đoàn pháo phòng không 260 chốt giữ phía tây thành phố. Trung đoàn
pháo phòng không 234 bảo vệ khu Trung ương. Trung đoàn pháo phòng không 212, 232 bảo vệ phía
đông. Trung đoàn pháo phòng không 224 bảo vệ phía bắc.

Tham gia bảo vệ Hà nội còn cả hai trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 923. Trung
đoàn radar 293 (mới thành lập ngày 29 tháng 4 năm 1966) và trung đoàn radar 291 trực tiếp bảo đảm
cho tác chiến phòng không bảo vệ Hà nội. Lực lượng dân quân tự vệ Thủ đô được tổ chức thành hai
lực lượng: lực lượng trực tiếp và lực lượng bảo đảm, giải quyết hậu quả chiến đấu. Trong lực lượng
trực chiến đã có 2.810 xạ thủ trung liên, đại liên và tổ trưởng đã được huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật
bắn máy bay, 2.255 tổ trưởng các tổ đội công binh, cứu thương, trinh sát đã được tập huấn chuyên
môn nghiệp vụ. Lực lượng trực chiến được bố trí trên các nóc nhà cao tầng và những nơi lực lượng
phòng không mỏng để đánh địch trên các hướng dự kiến địch bay thấp vào đánh phá mục tiêu.

Các lực lượng phòng không ở Thủ đô trong đó lực lượng của sư đoàn làm nòng cốt được
bố trí xung quanh Hà nội, có lực lượng đánh địch từ xa, có khả năng tập trung boả lực đánh địch trực
tiếp bảo vệ các mục tiêu chủ yếu và có thể đánh địch trên tầng cao, tầng trung và tăng thấp. Tuy nhiên,
khi các đơn vị mới trở về Hà nội, Đảng uỷ sư đoàn nhận định: Khà năng hoàn thành nhiệm vụ của ta
còn thấp. Trong điều kiện bình thường nếu cảnh giác tốt thì hoàn thành được nhiệm vụ. Nhưng trong
tình huống phức tạp thì chiến đấu còn gặp nhiều khó khăn, chưa loại trừ được khả năng bị bất ngờ, lỡ
thời cơ diệt địch.

Cuộc chiến đấu bảo vệ Hà nội sắp tới đặt ra cho sư đoàn những yêu cầu rất cao: phải tiêu
diệt được địch, bảo vệ an toàn mục tiêu. Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của Bộ tư lệnh Phòng không
Hà nội.

Đảngg uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã quyết định tổ chức đợt huấn luyện đột kích mang tên
"Tháng 5 đỏ". Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đều xác định đầy là đợt huấn luyện gấp' rút có
nhiều nội dung và phải phấn đấu gian khổ. Vì vậy, họ tranh thủ thời gian, vừa trực ban chiến đấu, sửa
sang công sự, nguỵ trang trận địa, vừa phấn đấu học tập ít nhất là 12 giờ trong một ngày. Để bảo đảm
sức khỏe bộ đội chất lượng huấn luyện các lãnh đào, chỉ huy các cấp đã có nhiều biện pháp cụ thể để
nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội. Sư đoàn còn tổ chức cụm chiến đấu ở khu vực Đông Anh đo
đổng chí Đinh Giang, tham mưu phó trung đoàn pháo phòng không 233 làm cụm trưởng, đồng chí
Đặng Văn Đạt, trợ lý tác huấn sư đoàn làm cụm phó, đồng chí Dinh Thế Linh phó chủ nhiệm chính trị
trung đoàn pháo phòng không 224 làm chính trị viên và đồng chí Nguyễn Văn Sức, phó chủ nhiệm
chính trị trung đoàn pháo phòng không 233 làm chính trị viện phó của cụm. Lực lượng của cụm gồm
có trung đoàn pháo phòng không 224 và hai đại đội pháo 57 mm của trung đoàn pháo phòng không
233. Nhiệm vụ của cụm là phục kích tiêu diệt máy bay trinh sát tầng thấp từ mọi hướng vào trinh sát
khu vực Đông Anh và đánh địch bào vệ an thân trạm biến thế, kho vật tư, nhà ga và xưởng cơ khí
Chiến Thắng.

16 giờ ngày chủ nhật, 12 tháng 6, trên bản đồ thu mạng tình báo quốc gia B1 trong sở chỉ
huy sư đoàn xuất hiện tốp máy bay C.130 đang hoạt động ở cửa sông Thái Bình. Phán đoán có triệu
chứng tình huống máy bay trinh sát không người lái tầng thấp hoạt động, chl huy sư đoàn ra lệnh báo
động cấp mệt cho các đơn vị. Được mạng radar cành giới chỉ thị mục tiêu, ít phút sau, các đài radar
COH.GA của hai trung đoàn pháo phòng không 260 và 220 bắt được mục tiêu. Khi máy bay địch vừa
vào đến vùng hoả lực, cả hai trung đoàn đều nổ súng mãnh liệt. Bị trúng đạn, chiếc máy bay cắm đầu
lao xuống vườn Chùa Thông thuộc thôn Hoà Mục, cách sở chỉ huy sư đoàn chưa đầy 100 mét. Đây là
chiếc máy bay không người lái đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ ở Hà nội. Đó còn là kết quả trực tiếp đợt
huấn ' luyện đột kích "Tháng 5 đỏ" và tinh thần cảnh giác sẵn sàng đánh địch để bảo vệ Thủ đô của bộ
đội phòng không Hà nội.

Tin chiến thắng nhanh chóng lan truyền khắp thành phố làm nức lòng quân và dân Hà nội.
Nhân dân ở khu vực Hoà Mục đến xem xác máy bay Mỹ đông như ngày hội. Các đồng chí trong Bộ
tư lệnh Quân chủng, Thành uỷ và uỷ ban hành chính thành phố đã đến tận sở chl huy sư đoàn chia vui
với bộ đội.

Nhận được báo cáo, đồng chí Trường Chinh, uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội đã
đến tận nơi để xem xác máy bay trinh sát của địch và chúc mừng chiến công của bộ đội phòng không
Hà nội. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ quốc phòng cũng
xuống sư đoàn nghe báo cáo trận đánh' thắng. Đại tướng nói với Bộ tư lệnh sư đoàn: "Các đồng chí
lần này đánh khá… Rất mong bộ đội phòng không Hà nội phát huy được kết quả, cảnh giác cao, kiên
quyết đập tan mọi thủ đoạn mới của địch… "

Đại đội 194 trung.đoàn pháo phòng không 260 và đại đội 1 trung đoàn pháo phòng không
220 là hai đơn vị được xác định bắn rơi chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp 147-J. Cả
hai đơn vị cũng được thưởng bức trướng mang dòng chữ: "Đơn vị bắn rơi máy bay không người lái
đầu tiên ở Hà nội".

Cuối tháng 6, Tổng tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương sử dụng một lực lượng không quân lớn
triển khai chiến dịch "Sấm rền 50 An-pha", tập trung đánh phá hệ thống kho xăng dầu trên miền Bắc
Việt nam.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, từ 12 giờ 8 phút đến 12 giờ 30 phút, 36 lần chiếc máy bay địch
trong đó có 24 chiếc F-105 D liên tiếp đánh vào kho xăng Đức Giang. Chúng chia thành nhiều tốp
bốn chiếc sử dụng chiến thuật "nhảy cừu" nghi binh, thu hút hoả lực của ta rồi sử dụng các tốp máy
bay cường kích F-105 D lần lượt bổ nhào đánh phá mục tiêu. Trung đoàn pháo phòng không 220 và
các lực lượng phòng không của sư đoàn cùng với không quân và các lực lượng dân quân tự vệ Gia
Lâm, Đông Anh đánh trả địch quyết liệt.

Giữa khói lửa mịt mùng của bom đạn, đại tá Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng và thượng
tá Phạm Đăng Ty chính uỷ sư đoàn đã có mặt ở trận địa phòng không Đức Giang kịp thời động viên
bộ đội chiến đấu. Tổ chiến đấu ba người của dân quân xã Việt Hưng do Lương Thị Mình chì huy, mặc
cho bom địch nổ cách trận địa 7 mét, công sự sạt lở, đất đá tung lên người, lên súng vẫn động viên
nhau tiếp tục chiến đấu. Nguyễn Thị Ngoan trong lúc di chuyển trận địa đã lấy thân mình làm giá
súng đại liên cho đồng đội tiếp tục nhả đạn vào máy bay địch. Hoàng Thị Phượng, chính trị viên trung
đội dân quân bị thương nặng vẫn không rời vị trí chiến đấu. Khi kho xăng bị trúng đạn bốc cháy, các
chiến sĩ cảnh sát huyện Gia Lâm, đội cứu hoả Sở Công an và đội dân phòng thị trấn Gia Lâm đã khẩn
trương triển khai phương án khắc phục hậu quả, làm nhiệm vụ chữa cháy và dũng cảm đào bới hầm
sập cứu đồng bào bị nạn.

Sau 40 phút chiến đấu, bộ đội phòng không Hà nội và bộ đội không quân đã bắn rơi bốn
máy bay địch trong đó bộ đội pháo phòng không bắn rơi hai chiếc. Nhưng mục tiêu đã bị tổn thất,
11.800 tấn xăng dầu bị chạy, 23 người chết, 53 người bị thương, một hệ thống lọc dầu, một số nhà
cửa, tài sản của cán bộ, công nhân và nhân dân bị phá huỷ(3).

Nguyên nhân bị tổn thất ở Đức Giang chủ yếu là do ta dự kiến thời gian, đối tượng tác
chiến đánh vào Hà nội của địch thiếu chuẩn xác, việc tập trung, sử dụng lực lượng bố trí đội hình và
nghiên cứu, vận dụng cách đánh bảo vệ yếu địa chưa kịp thời, thích hợp. Vì vậy, ta chưa kịp rút các
lực lượng đang cơ động đánh địch trên các hướng về tăng.cường bảo vệ Hà nội, chưa bố trí được đội
hình chiến đấu và vận dụng cách đánh máy bay bổ nhào ném bom của địch. Ở phía bắc Hà nội có đến
9 đại đội pháo 57, bảy đại đội pháo 37 nhưng chỉ có một đại đội pháo 37 cách Đức Giang khoảng
1.000 mét có khả năng đánh được máy bay địch bổ nhào ném bom vào mục tiêu.

Ngay sau trận đánh, Bộ Tổng tham mưu đã cử đoàn cán bộ do Phó tổng tham mưu trưởng
Vương Thừa Vũ dẫn đầu xuống kiểm tra và đánh giá lại khà năng chiến đấu của Bộ tư lệnh Phòng
không Hà nội.

Được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức bộ đội
nghiêm khắc kiểm điểm rút ra những bài học bổ ích và có những biện pháp khắc phục cụ thể.

Ngày hôm sau, địch lại đánh vào kho xăng H6 ở Đông Anh. Do có kinh nghiệm trận đánh
ở Đức Giang, trung đoàn pháo phòng không 224 và một số đơn vị pháo phòng không của sư đoàn ở
khu đông thành phố đã bắn rơi hai chiếc F105, chặn đứng các đợt đánh phá của địch, bảo vệ an toàn
mục tiêu.

Căn cứ vào sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức điểu chỉnh lại lực lượng để tăng
cường bảo vệ kho xăng Đức Giang và Đông Anh, đồng thời nghiên cứu bổ sung phương án tác chiến
và tổ chức huấn luyện bộ đội đánh máy bay bổ nhào ném bom của địch. Bộ tư lệnh Quân chủng đã
triển khai phương án bảo vệ Hà nội từ xa, tổ chức cụm phòng không mạnh ở khu vực Bắc Thái, Tuyên
Quang và cụm phòng không từ Bạch Mai đến Vạn Điểm để ngăn chặn hướng tập kích quan trọng của
địch vào Hà nội. Sư đoàn phòng không 367 đang làm nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận chuyển từ phủ
Lý đến Thanh Hoá được lệnh sẵn sàng cơ động tàng cường bảo vệ Hà nội. Một số biên đội của trung
đoàn không quân 923 được đưa về sân bay Gia Lâm để sẵn sàng đánh địch ngay trên vùng trời Thủ
đô.
Trước bước leo thang nghiêm trọng của không quân Mỹ vào Hà nội, thực hiện quyết tâm
chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 17 tháng 7 lăm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ra lời kêu gọi quân và dân cả nước: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn
nữa. Hà nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt nam
quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại
đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!".

Được sự chỉ đạo của Đảng uỷ Quân chủng, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết "thực hiện lời
kêu gọi của Hồ Chủ tịch, kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Phòng chính trị sư đoàn chỉ đạo
các đơn vị sinh hoạt chính trị, quán triệt sâu sắc ba văn kiện lớn: Lời kêu gọi của Bác, thông báo của
Hội đồng Quốc phòng và lệnh động viên của Quốc hội.

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hịch thiêng liêng thôi thúc, cổ vũ tinh thần
quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta. Làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô bộ đội phòng không Hà nội
càng thêm xúc động và càng thấm thía sâu sắc từng ý, từng lời của Bác. Toàn thể cán bộ chiến sĩ trong
sư đoàn nguyện phát huy truyền thống "quyết tử cho Thủ đô quyết sinh của các chiến sĩ cảm tử năm
xưa, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, bắt kẻ thù phải đền tội mỗi khi chúng lao vào đánh phá, kiên quyết
bảo vệ trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Gần trưa ngày 19 tháng 7 nhiều tốp máy bay của hải quân Mỹ vào đánh khu vực Phủ Lý,
Cầu Giẽ. Tiểu đoàn 61 đã bắn rơi một chiếc F.8-U. Đây là chiếc máy bay địch bị bắn rơi tại chỗ đầu
tiên sau lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Phát hiện trận địa tên lửa của ta. các tốp máy bay cường kích
địch lao vào đánh phá. Chờ cho địch vào tới cự ly 11 ki-lô-mét, đại đội trưởng đại đội 2 trung đoàn
pháo phòng không 220 Đoàn Xuân Quảng mới phất cờ. Tất cả các khẩu pháo đều nổ vang Một chiếc
A.4 trúng đạn rơi xuống gần nhà máy đường Vạn Điểm.

Phát huy chiến thắng của trung đoàn pháo phòng không 220, các đơn vị của sư đoàn đã chủ
động, tích cực đánh địch. Ngày 18 tháng 8, khi bốn chiếc máy bay F105 vào đánh cầu Đuống, các lực
lượng pháo phòng không của sư đoàn đã phát hiện địch từ xa, nổ súng mãnh liệt, buộc chúng phải
ném bom lệch mục tiêu khoảng 2.000 mét. Đêm 3 tháng 9, đại đội 194 trung đoàn pháo phòng không
260 bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh sát RF4-C. Dó là trận đánh thắng ban đêm đầu tiên của sư đoàn.
Ngày 4 tháng 9, trung đoàn pháo phòng không 224 bắn rơi tại chỗ một máy bay địch ngay từ loạt đạn
đầu.

Trong ba tháng 7, 8, 9 năm 1966, các đơn vị pháo phòng không bảo vệ Hà nội của sư đoàn
đã đánh 27 trận, trong đó có bảy trận bắn rơi bày máy bay địch, diệt và bắt sống một số giặc lái.

Những trận đánh hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh của sư đoàn ngày càng
có kết quả, giành hiệu" suất tương đối cao, vừa bắn rơi máy bay địch, vừa bảo vệ an toàn mục tiêu.
Đó là những thành công ban đấu trong lịch sử xây dựng và chiến đấu của bộ đội phòng không Hà nội.
Chiến thắng của sư đoàn đã góp phần cùng các lực lượng phòng không miền Bắc từng bước đánh
thắng các thủ đoạn leo thang chiến tranh của không quân Mỹ.

Bị thất bại trong các bước leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, Tống thống Mỹ
Johnson đã đồng ý với giới quân sự của Lầu Năm Góc là phải đánh mạnh vào Bắc Việt nam. Hải quân
Mỹ mở chiến dịch "Rồng biển", cho tàu chiến bắn phá các vùng ven biển từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến
18. Nghiêm trọng hơn, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã quyết định sử dụng không quân ném bom thủ
đô Hà nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Được sự chỉ đạo kịp thời của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tham mưu, trong kế hoạch
mùa khô tháng 10 năm 1966, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng xác định rõ nhiệm vụ trước mắt là
tập trung lực lượng bảo vệ Hà nội, Hải Phòng, nhất là Hà nội.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã xác định nhiệm
vụ của sư đoàn là:

- Nhanh chóng ổn định tổ chức, xây dựng, chấn chỉnh cơ quan, giảm quân số, tăng sức
chiến đấu ở đơn vị, tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh lực lượng, tăng cường chỉ đạo các đơn vị pháo
phòng không và tên lửa(4) thuộc quyền, kiên quyết bắn rơi nhiều máy bay địch ở mọi độ cao, mọi thời
tiết, bảo vệ an toàn các mục tiêu được giao.

- Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không ba thứ quân ở khu vực Hà nội, tạo
thành lưới lửa dày đặc bảo vệ an toàn các mục tiêu trọng yếu ở Thủ đô.

- Khi cần thiết sư đoàn có thể sử dụng một phần lực lượng pháo phòng không, tên lửa hoặc
tổ chức lực lượng hỗn hợp pháo và tên lửa cơ động đánh địch tên các khu vực Phủ Lý, Sơn Tây, Vĩnh
Phú, Bắc Ninh, Hải Hưng, Hưng Yên để tiêu diệt địch và bảo vệ Hà nội từ xa.

Thực hiện nhiệm vụ đó, Tư lệnh Nguyễn Dương Hán đã cùng các đồng chí trong Bộ tư
lệnh Phòng không Hà nội và các cơ quan tập trung nghiên cứu xây dựng phương án tác chiến bào vệ
Hà nội.

Ý định tác chiến của sư đoàn là: các trung đoàn pháo phòng không 212, 224, 232, 220, 260
và 234 là những lực lượng thường xuyên, trực tiếp được bố trí đội hình cơ bản vòng tròn và có trọng
điểm để bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở Thủ đô. Cơ động điều chỉnh tập trung lực lượng bảo vệ
những mục tiêu địch tập trung đánh phá. Các tiểu đoàn pháo phòng không độc lập 1, 2, 3, 27… và sáu
tiểu đoàn pháo phòng không của Bộ tư lệnh Pháo binh phối thuộc chiến đấu là lực lượng cơ động chủ
yếu của sư đoàn.

Hai trung đoàn tên lừa 236, 275 phối thuộc chiến đấu được bố trí ở hướng nam và hướng
tây nam Hà nội. Trong khi địch chừa đánh vào Hà nội, Quân chủng sử dụng hai tiểu đoàn tên lừa phối
hợp với lực lượng cơ động, co thể phối hợp thêm một số đơn vị pháo 100 và 57 mm làm nhiệm vụ cơ
động phục kích đánh địch. Khu vực cơ động phục kích đánh địch là Văn Điển, Phủ Lý, Sơn Tây, Việt
Trì, Vụ Bản, Chi Nê, Ba Thá, Hoà Bình, Hưng Yên, Hài Dương, Bắc Ninh.

Được sự chỉ đạo của Quân chủng, các đồng chí trong Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã
tập trung chỉ đạo phòng tham mưu và các đơn vị xây dựng triển khai phương án tác chiến bảo vệ Hà
nội.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn được bố trí:

Trung đoàn tên lửa 236 và hai tiểu đoàn của trung đoàn tên lửa 275 ở hướng nam, tây nam
cùng với ba trung đoàn pháo phòng không 260, 284, 220.
Trên hướng bắc, tây bắc có trung đoàn pháo phòng không 224 hiệp đồng chiến đấu với
trung đoàn tên lừa 274 và một phần trung đoàn tên lửa 257.

Trung đoàn pháo phòng không 232, 212 ở hướng đông, đông nam hiệp đồng chiến đấu với
các lực lượng còn lại của trung đoàn tên lừa 257.

Như vậy, đội hình chiến đấu bảo vệ Hà nội từ tháng 11 năm 19 66 đã ổn định và hình thành
thế trận vững chắc. Các lực lượng tên lửa và pháo phòng không bố trí kết hợp có vòng ngoài, vòng
trong, tập trung vào hướng chủ yếu là tây nam và các hướng quan trọng là bắc, tây bắc và đông nam.
Các trận địa chốt ở phía trong có thể đánh địch trên hướng chủ yếu và các hướng khác. Các lực lượng
cơ động chiến đấu sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu địch tập trung đánh phá và bổ sung,
thay thế các đơn vị bị tổn hao trong chiến đấu.

Tham gia bảo vệ Hà nội còn có hai trung đoàn không quân tiêm kích phòng không 921 và
923. Các trung đoàn radar 291, 293 kết hợp với các trung đoàn radar 290, 292 và hệ thống vọng quan
sát mắt có nhiệm vụ bào đảm cho các lực lượng phòng không - không quân chiến đấu bảo vệ Hà nội.
Trên tất cả các hướng đều có lực lượng phòng không địa phương và dân quân tự vệ Thủ đô triển khai
phối hợp chiến đấu.

Thực hiện cách đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng của Quân chủng phòng không -
không quân, bộ đội không quân có nhiệm vụ đánh địch từ xa, ngoài vùng hoả lực của tên lừa và pháo
phòng không. Tiếp đó, các lực lượng tên lửa và pháo trung cao đánh địch liên tục trên đường bay của
địch. Các lực lượng pháo tiểu cao và súng máy phòng không bố trí ôm sát mục tiêu có nhiệm vụ đánh
địch bay thấp và bố nhào ném bom vào mục tiêu. Trong thế trận đất đối không bào vệ Thủ đô, bộ đội
Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội là lực lượng nòng cốt, trực tiếp đánh địch bảo vệ mục tiêu.

Học tập kinh nghiệm phòng thủ các thành phố lớn trong chiến tranh thế giới thứ hai của
Liên Xô , được sự hướng dẫn của sư đoàn 305, một số đơn vị của Bộ tư lệnh Thủ đô đã thả hàng trăm
quả bóng phòng không ở độ cao trên dưới 1.000 mét tạo thành một tuyến dài ở các hướng địch thường
bay thấp để đánh phá Hà nội. Đây là vật chướng ngại trên không hỗ trợ cho các khu vực ít hoả lực
phòng không gây' trở ngại đối với máy bay bay thấp của địch.

Thành uỷ và uỷ ban hành chính thành phố Hà nội khẩn trương tổ chức nhân dân sơ tán và
phòng tránh máy bay định Sở chỉ huy phòng không nhân dân các cấp được triển khai. Hệ thống các
đài quan sát, còi điện loa đài phục vụ thông báo, báo động phòng không được triển khai rộng khắp và
kiểm tra thường xuyên.

Trước khi đánh vào Hà nội, địch cho máy bay táng cường đánh phá Hài Phòng, Thái
Nguyên, Tuyên Quang, Phủ Lý nhằm kéo lực lượng phòng không của ta ra xa thành phố, đồng thời
tăng cường cho máy bay vào trinh sát Thủ đô để thu thập tình báo chiến dịch, chiến thuật.

Trên vùng trời Hà nội, máy bay RF-101 và máy bay trinh sát không người lái tầng thấp liên
tục hoạt động. Ngày 4 tháng 11 năm 1966, hai máy bay RF-101 bay thấp liên tục cơ động ở độ cao
khoảng 1.000 mét vào trinh sát khu vực Hà nội. Tiểu đoàn tên lừa 61 chọn thời cơ phóng và phương
pháp bám sát đúng, bắn rơi một chiếc. Trận đánh đã mở đầu thời kỳ đánh thắng máy bay bay thấp cơ
động, tạo mềm tin vào khả năng chiến đấu và trình độ đánh máy bay bay thấp của các kíp chiến đấu
tên lửa bảo vệ Thủ đô.

Sau thời gian tiến hành trinh sát và thăm dò dư luận, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết
định mở chiến dịch "Sấm rền 52" đánh nhiều mục tiêu trên miền Bắc, tập trung là khu vực Hà nội.
Ngoài máy bay của không quân, chúng còn sừ dụng cả máy bay của hài quân để đánh phá Thủ đô.
Mục tiêu chủ yếu của chúng là những đầu mối giao thông quan trọng như ga xe lửa Yên Viên, nhà
máy xe lửa Gia Lâm, các xưởng sửa chữa ô tô ở Văn Điển, Tứ Kỳ. Đặc điểm của đợt leo thang này
của không quân Mỹ là đánh ngắn ngày, đánh ồ ạt và áp dần vào nội thành.

Phát hiện triệu chứng tập kích đường không của địch đêm 1 tháng 12, được lệnh của Bộ tư
lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã ra lệnh cho các đơn vị vào cấp một.

Từ 8 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút ngày 2 tháng 12, địch sử dụng 123 lần chiếc máy bay
chiến thuật, chủ yếu tập trung đánh phá một số mục tiêu ở ngoại thành Hà nội, đồng thời đánh phá
khu vực đường số 1 nam, số 1 bắc và Thái Nguyên. Quân dân Hà nội và một số địa phương trên miền
Bắc đã bắn rơi 12 máy bay địch, diệt một số giặc lái. Tuy bộ đội phòng không Hà nội bắn rơi một số
máy bay nhưng còn để địch đánh hỏng một số mục tiêu và đánh vào một số trận địa tên lửa, pháo
phòng không. Các đơn vị ở vòng trong còn bắn lãng phí đạn, hiệu suất chiến đấu kém hơn các' đơn vị
ở vòng ngoài. Không có chiếc máy bay nào bị rơi tại chỗ ở Hà nội.

Ngày 3 tháng 12, Tư lệnh và Chính uỷ Quân chủng đã xuống làm việc với Bộ tư lệnh và
một số đơn vị của sư đoàn để tìm hiểu tình hình và chỉ đạo bộ đội khắc phục những khuyết điểm, tìm-
biện pháp nâng cao hiệu suất chiến đấu.

Ngày 4 tháng 12 không quân địch sừ dụng 20 máy bay F105 có bốn máy bay F4 yểm hộ
vào đánh Hà nội. Các lực lượng phòng không Thủ đô đánh quyết liệt, bắn rơi sáu máy bay nhưng
không có chiếc nào rơi tại chỗ. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ tư lệnh và cơ quan tham mưu quân
chủng, sư đoàn đã tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu tìm ra nguyên nhân cụ thể. Về khách quan, địch
tăng cường gây nhiễu tích cực và tiêu cực làm cho bộ đội khó khăn trong việc phát hiện, bám sát mục
tiêu và xử trí thao tác xạ kích. Về chủ quan, chủ yếu là do trình độ chiến đấu và tổ chức chuẩn bị
chiến đấu của bộ đội chưa tốt. Trên cơ sở đó Bộ tư lệnh, cơ quan và các đơn vị đã tìm ra những biện
pháp cụ thể để bổ sung phương án tác chiến, huấn luyện bộ đội nhằm gấp rút nâng cao trình độ chiến
đấu, nhất là trình độ hiệp đồng chiến đấu cho các đơn vị.

Ngày 14 tháng 12, Mỹ huy động nhiều tốp máy bay vào đánh Hà nội. Bộ đội không quân
được lệnh cất cánh đánh địch ở ngoài vùng hoả lực tên lửa, bắn rơi ba chiếc F105. Cũng trong thời
gian này, các lực lượng phòng không Hà nội đã hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, nổ súng đánh địch
quyết liệt. Các tổ súng máy phòng không của nhà máy dệt 8-3, cơ khí Hà nội, thuốc lá Thăng Long,
xe đạp Thống Nhất và các tổ súng máy phòng không bố trí trên nóc nhà Ngân hàng Trung ương, nhà
máy cơ khí Quang Trung, phân lân Văn Điển… đã cùng các lực lượng phòng không Hà nội tạo nên
nhiều tầng hoả lực tiêu diệt máy bay địch. Kết thúc ngày chiến đấu ác liệt tám máy bay địch bị bắn
rơi, trong đó có chiếc thứ 1600 trên miền Bắc.
Đại đội 4 trung đoàn pháo phòng không 220 bảo vệ khu công nghiệp Văn Điển bị địch
đánh bom vào trận địa nhiều lần, đất cát tung lên mù mịt. Chính trị viên Nguyễn Trung Tấc vẫn băng
mình trong bom đạn động viên bộ đội bới đất cứu người, cứu máy. Đoàn viên Chu Xuân Đảng, hai lần
bị bom vùi, hai lần trở về vị trí chiến đấu. Đơn vị hỏng khí tài, các khẩu đội chuyển sang ngắm bắn
trực tiếp. Tiếng súng kiên cường của đại đội 4 trở thành mệnh lệnh thúc giục toàn cụm chiến đấu.

Giữa lúc bom đạn ác liệt, các lực lượng dân quân tự vệ, cán bộ các cơ quan huyện Thanh
Trì đã đến trận địa pháo phòng không kịp thời hiệp đồng chiến đấu với bộ đội. Đồng chí Lại Thị Bình,
phó chủ tịch huyện, các đồng chí bí thư đảng uỷ, chủ tịch xã Yên Sở đã đến trận địa chỉ huy lực lượng
dân quân tự vệ băng bó, cứu chữa thương binh và tiếp đạn cho bộ đội chiến đấu. Trung đội trưởng
Nguyễn Văn Đoan và một số chiến sĩ dân quân đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ phục vụ
chiến đấu.

Cuộc chiến đấu bảo vệ ga Yên Viên, cầu Đuống cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Khẩu đội 6
đại đội 73 bị thương vong gần hết. Trên ghế số 1, pháo thủ Lê Văn Pẩu chiến sĩ người dân tộc Nùng
vừa nhập ngũ, tay trái bóp chặt vết thương, tay phải quay nòng pháo theo ngọn cờ chỉ huy, chân đạp
cò, tiếp tục bắn mãnh liệt vào đội hình máy bay địch cho đến cuối trận đánh. Trong vòng hai tuần lễ,
dân quân Hà nội đã vượt qua thử thách quyết liệt đẩu tiền, bắn rơi 20 máy bay địch. Sau những chiến
công liên tiếp, Bác Hồ đã gửi thư khen quân và dân Thủ đô: "Mấy ngày qua, giặc Mỹ dã man liên tiếp
ném bom Thủ đô yêu quý của chúng ta. Quân và dân Hà nội cùng các nơi khác đã bắn rơi nhiều máy
bay địch, trừng trị chúng một cách đích đáng. Quân và dân Hà nội càng đánh càng giỏi, đã bắn rơi
chiếc máy bay Mỹ 1.600 trên miền Bắc. Hà nội vừa chiến đấu tốt, vừa sản xuất khá và giữ gìn trật tự
trị an tốt. Bác rất vui lòng thay mặt Trung lưỡng Đảng và Chính phủ khen bộ đội, đồng bào cán bộ Hà
nội và tặng Thủ đô lá cờ: Quyết tâm đảnh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Sáng ngày 15 tháng 12, đoàn đại biểu của phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
tại miền Bắc do ông Nguyễn Văn Tiến dẫn đầu đã thay mặt 14 triệu đồng bào, chiến sĩ miền Nam đến
thăm đại đội 2 trung đoàn pháo phòng không 220: Tham gia tiếp đoàn có đồng chí Thiếu tướng Phạm
Ngọc Mậu, Phó chù nhiệm Tổng cục Chính trị, đại tá Đặng Tính, chính uỷ, Thượng tá Văn Tân phó
chính uỷ Bộ tư lệnh Thủ đô và đồng chí Phạm Đăng Ty, chính uỷ sư đoàn… Chính uỷ trung đoàn
pháo phòng không 220 Phạm Văn Bời hướng dẫn đoàn đi thăm trận địa. Bên máy chỉ huy, đoàn chăm
chú lắng nghe chính uỷ kể về tấm gương Nguyễn Hồng Dương, người trắc thủ xuất sắc đã phục vụ
đắc lực cho đơn vị bắn rơi tại chỗ ba máy bay Mỹ và chiến đấu ngoan cường đến hơi thở cuối cùng.
Trước khi chia tay với đoàn, đống chí chính uỷ đã thay mặt bộ đội hứa: Học tập đồng bào và chiến sĩ
miền Nam, noi gương các cán bộ, chiến sĩ đã dũng cảm chiến đấu hy sinh quên mình trong những
ngày qua, bộ đội phòng không Hà nội nguyện chiến đấu kiên cường vì độc lập tự do của Tổ quốc và
Thủ đô yêu quý.

Sau khi rút kinh nghiệm đợt chiến đấu vừa qua, Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội đã tập
trung tổ chức khắc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu và tiếp tục chuẩn bị chiến đấu. Sư đoàn đã
đề nghị Quân chủng cho không quân tăng cường đánh máy bay gây nhiễu ngoài đội hình EB.66 để tạo
điều kiện cho bộ đội phòng không đánh địch.
Đêm 16 tháng 12, được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức điều chỉnh đội hình
chiến đấu. Trung đoàn pháo phòng không 220 từ tây nam thành phố vượt sông Hồng bố trí xen kẽ với
trung đoàn pháo phòng không 232. Trung đoàn pháo phòng không 260 từ tây nam thành phố hành
quân về phía bắc bố trí thành những cụm chiến đấu ở khu vực tiếp giáp giữa hai tỉnh Hà Bắc và Hà
nội. Toàn sư đoàn khẩn trương chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.

Trải qua gần hai năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng
không Hà nội đã tập trung lãnh đạo và chỉ huy bộ đội vượt qua những khó khăn thừ thách, hoàn thành
nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu, cùng các đơn vị bạn từng bước đánh thắng các thủ đoạn leo thang
chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Trong những trận đọ sức quyết liệt đầu tiên ở Hà
nội, các lực lượng phòng không ba thứ quân liên tiếp bắn rơi máy bay địch, lập công vê vang. Càng
chiến đấu, sư đoàn càng nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt và càng có thêm khả năng hoàn thành
nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô trong thời gian tới.

Chương 2: Năm 1967
Trước những thất bại nặng nề cả về chính trị và quân sự ở cả hai miền Nam, Bắc nước ta,
với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ vẫn đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt nam lên một bước mới.

Ở miền Nam, cuối năm 1966 đầu năm 1967, sau khi tăng quân đế quốc Mỹ mở cuộc phản
công chiến lược mùa khô thứ hai. Quân và dân miền Nam với những cố gắng vượt bậc đã giữ vững
quyền chủ động, liên tục tiến công địch ở khắp nơi đánh thắng cuộc phản công chiến lược của địch.
Cả hai mục tiêu "bình định" và "tìm diệt" địch đều không thực hiện được, chúng phải chuyển sang
chiến lược phòng ngự với biện pháp "quét và giữ".

Ở miền Bắc đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân với quy
mô ngày càng lớn, mức độ ác liệt ngày càng tăng. Âm mưu xuyên suốt của chúng nhằm ngăn chặn sự
chi viện của miền Bắc cho miền Nam, phá hoại tiềm lực kinh tế quốc phòng của miền Bắc và làm
lung lay ý chí quyết tâm cứu nước của nhân dân ta, với tham vọng trong một thời gian ngắn làm cho
các mục đích của cuộc chiến tranh này có hiệu quả hơn, tác động mạnh mẽ hơn đến cuộc đấu tranh
của nhân dân ta. ở cả hai miễn Nam, Bắc chúng gây sức ép cao hơn hòng giải quyết vấn đề Việt nam
trong những năm 1967 - 1968. Đặc biệt, năm 1967 là năm có tầm quan trọng rất lớn đối với địch cũng
như đối với ta. Địch sẽ leo những nấc thang ngày càng cao đánh thẳng vào thủ đô Hà nội để gây sức
ép tối đa.

Ở Hà nội, sau hai đợt đánh vào ngoại vi (hồi tháng 6 và tháng 12 năm 1966) không quân
Mỹ tạm ngừng đánh phá, chúng chừa lại một vòng tròn đỏ bao quanh Hà nội với bán kính 10 dặm
Anh. Các liên đội không quân thuộc tập đoàn 7 và lực lượng đặc nhiệm 77 được lệnh đánh phân tán
với quy mô nhỏ trên các tuyến giao thông. Tuy vậy chúng triệt để lợi dụng khi thời tiết tốt, bất ngờ
bay vào Hà nội trinh sát cả tầng cao, 'tầng trung và tầng thấp chuẩn bị sẵn sàng cho những đợt tập
kích lớn.

Âm mưu leo thang cao nhất đánh sâu vào Hà nội của không quân Mỹ không có gì thay đổi.
Hà nội vẫn là mục tiêu chiến lược số một của đế quốc Mỹ. Ngày 8 tháng 2 năm 1967, Tổng thống
Johnson gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm dò quan điểm, đồng thời rêu rao trò tìm kiếm hoà
bình nhằm xoa dịu dư luận trong nước Mỹ và trên thế giới.

Một tuần sau, ngày 15 tháng 2 năm 1967 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trà lời Tổng thống
Mỹ vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Mỹ. Người đòi Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam và ngừng đánh
phá miền Bác. Cuộc thăm dò ngoại giao bịp bợm của Mỹ đã thất bại.

Về phía ta, sau khi đánh trả hai đợt tiến công của không quân Mỹ vào ngoại vi Hà nội
tháng 6 và tháng 12 năm 1966 nhiều vấn đề bức xúc đặt ra đối với các lực lượng Phòng không. Quân
uỷ Trung ương nhận định: Lực lượng phòng không ở Hà nội tuy nhiều nhưng chất lượng thấp. Trình
độ chỉ huy của các cấp còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ, trong lúc đó nhiệm vụ bảo vệ Hà
nội rất nặng nề.

Sau hơn một năm xây dựng và chiến đấu, sư đoàn phòng không Hà nội đã có một số kinh
nghiệm bước đầu về chỉ huy lãnh đạo nhưng trình độ nhìn chung có nhiều điểm yếu. Trình độ chỉ huy
của cán bộ các cấp, vấn đề nghiên cứu nắm đối tượng tác chiến, trình độ. kỹ thuật, chiến thuật của bộ
đội còn phải phấn đấu gian khổ mới có thể hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Hà nội. Chất lượng chiến đấu
của các trung đoàn chưa đổng đều. Tuy có một số trung đoàn trước khi về bảo vệ Hà nội đã được rèn
luyện ở các chiến trường nhưng chưa có kinh nghiệm đánh không quân địch bảo vệ yếu địa.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân đã đề xuất nhiều
biện pháp đồng bộ để nâng cao trình đồ chiến đấu của Quân chủng phòng không - không quân, trong
đó có Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội. Ngày 24 tháng 3 năm 1967 Bộ trưởng Bộ quốc phòng quyết
định thành lập ba binh chủng: Binh chủng radar, Binh chủng Không quân và Binh chủng tên lửa. Lực
lượng pháo phòng không toàn quân chủng được tồ chức thành bốn sư đoàn. Đó là sư đoàn phòng
không 361, 363, 365 và 367. Ngày 16 tháng 3 năm 1967, Bộ Tổng tham mưu quyết định đặt phiên
hiệu cho các Bộ tư lệnh Phòng không khu vực.

1. Quyết định số 16/TM-OD do Thiếu tướng Trần Sâm - Phó tồng tham mưu trường.

Bộ tư lệnh Phòng không Hà nội có phiên hiệu là sư đoàn phòng không 361. Việc kiện toàn
các tổ chức trên đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Quân chủng phòng không - không quân
trước một nhiệm vụ hết sức nặng nề và khó khăn Đây là một bước chuẩn bị thiết thực cho cuộc chiến
đấu quyết liệt bầo ýệ Hà nội năm 1967.

Sư đoàn phòng không 361 do đồng chí Nguyễn Quang Bích làm tư lệnh sư đoàn, đồng chí
Trần Văn Giang làm chính uỷ. Các cơ quan gồm có phòng tham mưu do đồng chí Lê Huy Vinh làm
tham mưu trưởng, phòng chính trị do đồng chí Hoàng Khoát làm chủ nhiệm chính trị, phòng hậu cần
do đồng chí Trân Đình Di làm chủ nhiệm hậu cần.

Lúc này tuy hai trung đoàn tên lửa 236 và 275 tác chiến trên địa bàn của sư đoàn phòng
không 361 nhưng không thuộc biên chế của sư đoàn mà trực thuộc sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Binh
chủng tên lửa. Việc hiệp đồng tác chiến của sư đoàn 361 với 2 trung đoàn 236 và 275 do Quân chủng
chỉ đạo.

Lực lượng pháo phòng không của sư đoàn gồm có 6 trung đoàn.
Trung đoàn 212 do đồng chí Nguyễn Huy Hùng làm trung đoàn trưởng, đồng chí Doãn
Huy Chu làm chính uỷ.

Trung đoàn 232 do đồng chí Nguyễn Công Bảy làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn
Ngọc Cừ làm chính uỷ.

Trung đoàn 233 do đồng chí Nguyễn Đăng Tâng làm trung đoàn trưởng (đến giữa năm
1967 đồng chí Nguyễn Văn Đức lên thay), đồng chỉ Lê Trung Lạc làm chính uỷ.

Trung đoàn 234 do đồng chí Vũ Ý làm trưng đoàn trưởng (đến giữa năm 1967 đồng chí Đỗ
Văn Dĩnh lên thay), đồng chí Nguyễn Thước làm chính uỷ.

Trung đoàn 220 do đồng chí Dương Bửu làm trung đoàn trưởng, đồng chí Phạm Bời làm
chính uỷ.

Trung đoàn 260 do đồng chí Phạm Đôn làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đắc Thái
làm chính uỷ.

Căn cứ vào nghị quyết của Quân uỷ Trung ương và chỉ thị kế hoạch của Bộ Tổng Thảm
mưu, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân nêu quyết tâm kiên quyết đập
tan bước leo thang mới của địch, bảo vệ vững chắc Thủ đô, bảo vệ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, góp phần cùng quân và dân cả nước đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Thực hiện quyết tâm trên, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 đã nghiên cứu nhiễm vụ
Quân chủng giao cho và xác định những mục tiêu mà không quân Mỹ sẽ đánh phá ở Hà nội. Bộ tư
lệnh sư đoàn nhận định: Thủ đoạn chủ yếu của địch là bổ nhào ném bom, do vậy sư đoàn phân chia
các mục tiêu phải bảo vệ thành từng cụm mục tiêu, sau đó bố trí pháo cỡ nhỏ trực tiếp bắn máy bay
địch bổ nhào, pháo cỡ trung bắn máy bay địch bay bằng trước khi vào bổ nhào.

Để thực hiện ý định chiến thuật trên, Quân chủng chỉ đạo cho sư đoàn phòng không 361
điều chỉnh lại đội hình. Từ sau trận đánh của không quân Mỹ vào Đức Giang (ngày 29 tháng 6 năm
1966) các trung đoàn đã bố trí lại vị trí các trận địa pháo nhưng vẫn chưa thích hợp. Các trận đánh của
sư đoàn trong bốn ngày (2, 4 và 13, 14 tháng 12 năm 1966) vẫn chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch tại
Hà nội. Các trận địa pháo được bố trí tại các vị trí chưa phù hợp với đặc điểm hoạt động của không
quân địch và yêu cầu bảo vệ mục tiêu. Qua thực tiễn chiến đấu Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361
đã thấy rõ những nhược điểm trong việc bố trí đội hình.

Nhưng ở Hà nội, có những mục tiêu quan trọng lại nằm trong các khu vực dân cư, địa hình
thành phố cũng khó tìm được những vị trí đặt trận địa pháo 'tôm" lấy mục tiêu. Trước yêu cầu của
cuộc chiến đấu sắp tới, cần phải tiếp tục thay đồi cơ bản về bố trí đội hình. Các trung đoàn pháo tiểu
cao như 212, 232, 234 (trang bị pháo 57 và 37 mm) vẫn chốt giữ các mục tiêu như cầu Đuống, cầu
Long Biên, nhà máy điện Yên Phụ, khu Trung ương nhưng phải dịch chuyển và "ôm" lấy các mục tiêu
phải bảo vệ để đánh được máy bay địch bổ nhào.

Phải xây dựng hàng loạt các trận địa mới và cài tạo các trận địa cũ. Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ
thị cho các trung đoàn đồng thời triển khai trên tất cả các khu vực. Nhân dân bốn khu phố Ba Đình,
Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng đóng góp hàng vạn ngày công đào đắp, xây dựng hàng loạt các
trận địa chốt trong thành phố như trận địa Hàng Đẫy, Văn Chương, Cột đồng hồ, công viên Thống
Nhất… Nhiều trận địa bố trí trên những địa hình phức tạp tốn rất nhiều công sức cải tạo như trận địa
ven hồ Trúc Bạch, trận địa ở bãi rác Tam Đa, bãi than Yên Phụ.

Nhân dân khu phố Ba Đình đã cùng cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 đưa hàng
vạn mét khối đất đá đóng kè, cạp hồ, làm vững chắc mặt bằng đặt pháo 57 mm, bào đảm độ ổn định
khi pháo bắn.

Kỳ công hơn cả hai trận địa bảo vệ cầu Long Biên trên bãi cát nồi giữa dòng sông.

Phòng công binh Quân chủng thiết kế, trung đoàn công binh 28 cùng với cán bộ, chiến sĩ
trung đoàn pháo phòng không 234 trực tiếp xây dựng hai trận địa này. 80 vạn mét khối đá được vận
chuyển theo đường sông về tập kết ở trận địa để xây kè, tôn nền trận địa lên cao trên mức báo động số
3 (11 mét 50). Trên trận địa này bộ đội có thể đánh địch bảo vệ cầu Long Biên khi mùa nước lũ. Xây
dựng xong, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định dùng máy bay trực thăng Mi-6 cẩu 8 khẩu pháo 57mm
cùng radar, máy chỉ huy, máy nổ của đại đội 31 vào chiếm lĩnh trận địa.

Ở hai đầu cầu Long Biên, hai đầu cầu Đuống, các trận địa chốt của trung đoàn 284, 232,
212 cũng được xây dựng trong thời điểm này. Nhận dân các huyện Gia Lâm cùng các khu phố nội
thành đã đóng góp công sức rất lớn xây dựng các trận địa chốt ở đây.

Việc bố trí các trận địa bảo vệ nhà máy điện Yên Phụ, sư đoàn phòng không 361 đã triển
khai rất công phu. Sau khi cạp hồ Trúc Bạch, bố trí đại đội 34, xây dựng trận địa Nghĩa Dũng, cắm
chốt đại đội 33 đón các đường bay của địch vào đánh nhà máy từ hướng bắc vã hướng đông, sư đoàn
nghiên cứu cách đánh đường bay của địch qua Hồ Tây. Cơ quan tham mưu của sư đoàn đề xuất phải
xây dựng một trận địa nổi trên mặt Hồ Tây. Đồng chí Lê Huy Vinh tham mưu trưởng sư đoàn được
giao nhiệm vụ chỉ đạo thiết kế một bè nổi ở bến phà Phù Đổng và đưa một khẩu pháo 37 mm xuống
bắn thừ. Sau khi thử nghiệm thành công, sư đoàn chỉ đạo xây dựng trận địa nồi trên mặt Hồ Tây.
Được sự giúp đỡ của Bộ tư lệnh Công binh, phòng công binh Quân chủng, cán bộ chiến sĩ trung đoàn
234 đã hoàn thành bảy chiếc bè nổi bằng 20 vạn cây nứa. Một mặt phẳng nổi được liên kết chằng néo
và thả neo chắc chắc đủ bố trí được bốn khẩu đội pháo 37 mm.

Đại đội 64 trung đoàn 234 được giao nhiệm vụ chốt giữ trận địa đặc biệt này. Đây là một
sáng tạo độc đáo của sư đoàn phòng không 361 trong việc nghiên cứu bố trí đội hình đánh không quân
địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Ngoài việc xác định các đơn vị chốt bào vệ các mục tiêu và khu vực mục tiêu của Hà nội,
sư đoàn phòng không 361 còn sử dụng một số tiểu đoàn pháo 37 mm điều ra vòng ngoài bố trí ở Đông
Anh - Xuân Quan để đón lõng đánh địch bay thấp từ xa trước khi chúng bay vào Hà nội.

Đồng thời với cuộc "cách mạng đội hình" chuẩn bị đánh địch trên không phận Hà nội, Bộ
tư lệnh sư đoàn chỉ đạo các đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm các trận đánh chưa thành công trước đây,
phát động cán bộ, chiến sĩ hiến kế đảnh giặc. Công tác đảng - công tác chính trị tập trung vào nội
dung xác định quyết tâm chiến đấu và trách nhiệm chính trị cho cán bộ chiến sĩ được vinh dự bảo vệ
Thủ đô, bảo vệ Trung ương Đảng và Bác Hồ.
Đầu tháng 3 năm 1967 sư đoàn tổ chức huấn luyện đột phá khâu hiệp đồng đại đội ở đại
đội 2 trung đoàn 220 (đối với pháo trung cao 100 mm), ở đại đội 33 trung đoàn 234 (đối với pháo tiểu
cao 57 mí-li-mét), sau đó nhân rộng ra toàn sư đoàn.

Bộ tư lệnh sư đoàn liên tục cử các cán bộ tác chiến, huấn luyện xuống kiểm tra việc thực
hiện các chế độ trực ban chiến đấu ở các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội. Công tác sở chỉ huy các cấp
được nghiên cứu cải tiến cho phù hợp với việc chỉ huy đánh máy bay địch bổ nhào. Sở chỉ huy sư
đoàn tồ chức đài quan sát xa (ở Tiên Sơn - Hà Bắc), đài quan sát gần (ở nóc nhà Ngân hàng Trung
ương). Các sở chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn độc lập vừa sử dụng bản đồ (5 x 5) kết hợp với trực tiếp
quan sát máy bay địch để chỉ huy đơn vị. Các đơn vị thường xuyên luyện tập kíp chỉ huy để nâng cao
trình độ và hiệp đồng nhịp nhàng ăn ý trong mọi tình huống. Mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến
đấu của sư đoàn 361 đã hoàn tất. Cả thủ đô Hà nội cũng sẵn sàng.

Công tác phòng không nhân dân cũng được triển khai trên khắp các địa bàn nội ngoại
thành Hà nội. Hệ thống hầm trú ẩn, 'hố phòng tránh cá nhân, giao thông hào được xây dựng khắp các
đường phố, trong công viên, các bến xe, nhà ga Hà nội, ở các trường học, các nhà máy xí nghiệp. Một
bộ phận nhân dân trong nội thành đã được sơ tán. Hệ thống báo động phòng không được triển khai từ
năm 1966, nay được bổ sung hoàn thiện.

Từ Bộ Tổng tham mưu, từ sở chỉ huy Quân chủng phòng không - không quân, sở chỉ huy
sư đoàn phòng không 361 đến Bộ tư lệnh Thủ đô đều có đường dây liên lạc thông suốt. Trên nóc Nhà
hát lớn có trang bị một hệ thống loa báo động với công suất lớn, tiếp đó là hệ thống còi, kẻng báo
động của các cơ quan xí nghiệp. Một lưới lửa súng máy phòng không 12,7 mm và hàng trăm súng
trường được trang bị cho tự vệ nội thành và dân quân các huyện ngoại thành để bắn máy bay tầng
thấp.

Tuy vậy, trong những tháng đầu năm 1967 ở Hà nội không quân địch vẫn chưa đánh lớn,
một phấn vì thời tiết xấu một phấn vì tính hạn chế của cuộc chiến tranh leo thang.

Đầu tháng 3 năm 1967 tập đoàn không quận số 7 thực hiện chiến dịch "Sấm rền 54" đánh
phá vào các mục tiêu công nghiệp ở miền Bắc. Trong lúc các địa phương như Hòn Gai, Thái Nguyên
liên tục đánh trả các đợt đánh phá của địch, thì đột nhiên chúng vào đánh Hà nội. Ngày 12 tháng 3
năm 1967 không quân Mỹ tổ chức đánh khu công nghiệp Việt Trì, trong lúc đó chúng tách ra một tốp
nhỏ (bốn chiếc F105) bất ngờ đánh xuống cầu Long Biên.

Sở chỉ huy Quân chủng giao nhiệm vụ cho Binh chủng Không quân tiêu diệt địch nhưng
máy bay ta không đuổi kịp máy bay địch. Sở chỉ huy sư đoàn phòng không 36 1 do không theo dõi
nắm địch từ đầu, nên không kịp giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Tốp F105 bay thấp đánh lén, nhưng
bom rơi chệch ra khu bãi giữa sông Hồng.

Sau sự kiện này, Quân chủng chỉ thị cho các đơn vị bảo vệ Hà nội rà lại phương án tác
chiến chống máy bay địch bay thấp bất ngờ. Sư đoàn phòng không 361 bổ sung chế độ trực ban, trực
chiến của các đơn vị.

Tháng 4 năm 1967 cuộc phản công chiến lược mùa khô thứ hai ở miền Nam của đế quốc
Mỹ thất bại hoàn toàn. Nắm chắc quy luật khi thất bại nặng nề ở miền Nam chủng sẽ phản ứng đánh
ra miền Bắc, Bộ tư lệnh quân chủng chỉ thị cho toàn Quân chủng sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đánh
bại bước leo thang mới của không quân địch vào Hà nội - Hải Phòng.

Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 chủ động theo dõi những nguồn tin của địch và diễn
biến tình hình miền Nam để kịp thời chuẩn bị cho sư đoàn chiến đấu, đồng thời tích cực huấn luyện
theo phương án và không ngừng bồ sung vào phương án.

Ngày 20 tháng 4 năm 1967, mở đầu cho đợt đánh phá mới vào miền Bắc, không quân Mỹ
tổ chức tiến công Hải Phòng.

Ở sư đoàn phòng không 361, theo chỉ đạo của Quân chủng, mọi công tác chuẩn bị chiến
đấu được rà xét lại và bổ sung tỉ mỉ. Đồng chí Nguyễn Quang Bích sư đoàn trưởng cùng trưởng ban
tác chiến sư đoàn đã xuống từng trung đoàn kiểm tra lại các phương án chiến đấu và nhắc nhở bộ đội.

Ngày 23 tháng 4 năm 1967 Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương lệnh cho không quân Mỹ
thực hiện chương trình "Sấm rền 55" đánh thêm 10 mục tiêu mới, trong khu vực Hà nội - Hài Phòng.

Mở đầu đợt đánh phá, ngày 24 tháng 4 năm 1967 máy bay của hải quân tiến công sân bay
Kép, máy bay của không quân tiến công sân bay Hoà Lạc hòng gây khó khăn cho hoạt động của
không quân ta.

Ngày 25 tháng 4 năm 1967 không quân Mỹ tập trung đánh phá sâu vào Hà nội.

Toàn sư đoàn 361 đã vào cấp một. Bộ tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho các trung đoàn
khi không quân địch đang tập kết trên không phận dãy núi Tam Đảo. 9 giờ, 20 lần chiếc F-105 D từ
hướng Tam Đảo bay xuống đánh trạm biến thế Đông Anh. Các tiểu đoàn tên lửa bố trí trên hướng này
cùng với tiểu đoàn 15 (pháo 37 mm) của sư đoàn phòng không 361 đã hiệp đồng tốt bắn trúng 1 F105.
Máy bay bốc cháy rừng rực giữa trời đông bắc thành phố, giặc lái bị diệt. Đây là trận thắng mở đầu
cho đợt tác chiến bảo vệ Hà nội năm 1967. Trận đánh đã bước đầu thể nghiệm thành công việc bố trí
đội hình. Tận mất nhìn thấy cảnh máy bay Mỹ bốc cháy trên bầu trời Hà nội, quân và dân Hà nội rất
phấn khởi.

Tiếp đó, địch vào đánh cầu Đuống. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Huy
Hùng, cả sáu đại đội pháo 57 mm của trung đoàn pháo phòng không 212 đều nổ súng mãnh liệt. Đội
hình tiến công của các tốp F-105 D rối loạn, chúng vội ném bom vung vãi, bom không rơi trúng cầu,
nhưng trung đoàn chưa bắn rơi máy bay địch.

Ở khu vực Gia Lâm tình hình chiến đấu diễn ra phức tạp hơn. Địch vào đánh nhà máy xe
lửa Gia Lâm, hệ thống radar ngắm bắn của pháo 100 mm trung đoàn 220 không bắt được mục tiêu
nên trung đoàn không phát huy được hoả lực.

Trực tiếp bảo vệ nhà máy xe lửa Gia Lâm có hai đại đội pháo 57 mm (C40 và C41) của
trung đoàn 232. Ngay từ phút đầu trận đánh bom đã rơi trúng trận địa, đại đội 40 bị thương vong
nặng. Ba đại đội còn lại của trung đoàn đo bố trí xa, các tham số không cho phép xạ kích khi chúng bổ
nhào đánh mục tiêu. Nhà máy xe lửa Gia Lâm bị hư hại nặng.

Ngay từ đợt đầu bom đã rơi trúng trận địa, hai khẩu đội bị thương vong, đại đội trưởng Lê
Minh Sơn tiếp tục phất cờ bắn mạnh tốp thứ hai. Chính trị viên Lê Thế Ba nhảy lên thành công sự
động viên đơn vị quyết giữ vững trận địa bảo vệ Thủ đô. Hạ sĩ pháo thủ Nguyễn Tiến Bảo bị mảnh
bom găm vào sườn bên trái đã lấy tay bịt chặt vết thương tham gia bắn với khẩu đội đến kết thúc trận
đánh mới để cho quân y cấp cứu. Binh nhất Nguyên Văn Biên bị mảnh đạn cắm vào chân nhưng vẫn
gượng đau nạp đủ đạn cho khẩu đội nổ súng. Chiến sĩ trinh sát Nguyễn Văn Kim bị đất văng vào mặt
nhưng vẫn vững vàng hướng ống ảnh máy đo xa bám sát địch, chỉ thị mục tiêu cho đơn vị thao tác.

Theo kế hoạch hiệp đồng, tự vệ nhà máy xe lửa Gia Lâm, dân quân thôn Gia Quất vào
cùng chiến đấu với đại đồi 40. Các chiến sĩ tự vệ và dân quân đã vượt qua lừa đạn cứu thương, tiếp
đạn phục vụ chiến đấu và giải quyết hậu quả khi kết thúc trận đánh.

Ngày 25 tháng 4 năm 1967 quân và dân Hà nội bắn rơi năm chiếc máy bay Mỹ, trong đó
có sự đóng góp tích cực của sư đoàn phòng không 361. Kết quả bắn rơi máy bay địch và bảo vệ an
toàn cầu Đuống, chứng tỏ đội hình pháo tiểu cao đưa vào "ôm" lấy mục tiêu đánh máy bay địch bổ
nhào là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên trong thực tế chiến đấu cũng bộc lộ những thiếu sốt khuyết
điểm. Khi địch vào tù hướng Tam Đảo, các trung đoàn đã bị thu hút cả vào hướng tây bắc nên khi
địch bất ngờ đánh nhà máy xe lửa Gia Lâm từ hướng đông nam đã không kịp xử trí. Trung đoàn 220
với bảy đại đội pháo 100 mm đã không nổ súng được một lần nào. Các đại đội pháo 57 mm do radar
không bắt được mục tiêu phải chuyển sang đánh bằng phần tử kính ngắm trực tiếp thì rất cập rập, lúng
túng.

10 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1967 không quân Mỹ tiếp tục vào đánh cầu Đuống.

Rút kinh nghiệm ngày hôm trước, sở chỉ huy sư đoàn giao nhiệm vụ cho các trung đoàn từ
rất sớm nên các trung đoàn vào trận bình tĩnh hơn.

Trung đoàn 212 theo dõi rất chặt hai tốp F105 từ hướng tây bắc. Trung đoàn trưởng
Nguyễn Huy Hùng lệnh cho toàn trung đoàn đánh địch ở đường bay chủ yếu. Sáu đại đội hiệp đồng
rất đẹp. Khi tốp F105 đầu tiên chiếm đỉnh bổ nhào, gần như cùng một lúc sáu đại đội đều nổ súng.
Một chiếc F105 trúng đạn bốc cháy rừng rực, giặc lái nhảy dù. Những chiếc sau, tốp sau tiếp tục bổ
nhào cắt bom nhưng lưới lửa pháo 57 mm của trung đoàn 212 đã khiến chúng ném bom không chính
xác. Cầu Đuống được bảo vệ an toàn.

Trận đánh ngày 26 tháng 4 năm 1967 là một trận đánh hiệp đồng xuất sắc của các đại đội
pháo 57. Cấp trung đoàn giao nhiệm vụ kịp thời, cấp đại đội chỉ huy linh hoạt, bộ đội thao tác thuần
thục.

Trong ngày sư đoàn phòng không 361 bắn rời năm chiếc máy bay Mỹ. Đại đội 72 trung
đoàn 212 được công nhận bắn rơi tại chỗ chiếc F105 tại cầu Đường. Qua hai ngày đánh trả máy bay
địch vào đánh Hà nội, sư đoàn phòng không 361 hoàn toàn chủ động chiến đấu nhưng hiệu suất chiến
đấu chưa cao. Các đơn vị pháo tiểu cao đánh tốt hơn pháo trung cao.

Nhưng một khó khăn đã xuất hiện. Đó là hệ thống radar ngắm bắn của pháo đều bị nhiễu
nặng. Đây là khó khăn không chỉ của sư đoàn mà của cả quân chủng.

Ngày 28 và 29 tháng 4 không quân Mỹ tiếp tục vào đánh cầu Đuống. Các tiểu đoàn tên lửa
bị nhiễu nặng không đánh được. Hiệu quả tác chiến hiệp đồng giữa tên lừa và pháo phòng không kém.
Hai trung đoàn 212 (pháo 57 mm) và 220 (pháo 100 mm) bắn rất lãng phí đạn nhưng không tiêu diệt
được địch. Cầu Đuống bị sập hai nhịp. Đại đội 75 trung đoàn 212 bị địch rải bom bi dày đặc vào trận
địa. 12 chiến sĩ bị thương, hai chiến sĩ hy sinh nhưng không một ai nao núng vẫn giữ vững vị trí chiến
đấu. Vì radar không bắt được mục tiêu nên các đại đội pháo 100 mm của trung đoàn 220 đã cho dựng
màn đạn trên đỉnh cầu Đuống nhưng vẫn không bảo vệ được cầu. Trước tình hình đó Bộ tư lệnh Quân
chủng chủ trương cho máy bay ta liên tục xuất kích để hỗ trợ cho tên lửa và pháo phòng không đang
gặp khó khăn vì nhiễu.

Sau khi rút kinh nghiệm chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các đơn vị tranh thủ
huấn luyện nâng cao trình độ của bộ đội, tập trung vào khâu nắm địch, chỉ thị mục tiêu bắn, hiệp đồng
động tác của các khẩu đội Đối với radar pháo chủ yếu phải huấn luyện cách bắt mục tiêu trong trường
hợp bị nhiễu nặng.

Trong tháng 4 năm 1967, do tình hình tác chiến khẩn trương báo động nhiều, số giờ huấn
luyện được ít. Trình độ thao tác hiệp đồng từ khẩu đội đến đại đội chưa tốt, trình độ đánh đêm, đánh
mục tiêu trong nhiễu của các đơn vị còn yếu, do vậy đã dẫn đến hiệu quả đánh kém như ngày 28 và 29
tháng 4. Việc nghiên cứu nắm địch và chỉ huy của các cấp cần được rèn luyện nhiều hơn nữa.

Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo ban trinh sát và các trung đoàn kiện toàn công tác nghiên cứu
nắm địch. Ngoài vọng quan sát ở núi Neo, sư đoàn tổ chức thêm vọng quan sát trên nóc nhà ngân
hàng. Đồng chí Tham mưu trưởng sư đoàn Lê Huy Vinh chỉ đạo, đồng chí Nguyễn Điền - trưởng ban
trinh sát nghiên cứu tổ chức vọng quan sát ngân hàng. Đây là một vị trí lợi hại, nó đã phát huy tốt tác
dụng thông báo máy bay địch trong những năm không quân Mỹ đánh phá ác liệt vào Hà nội. Đồng
thời Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo các trung đoàn tổ chức các vọng quan sát gần để kịp thời nắm chắc số
lượng, kiểu loại, độ cao và đội hình địch khi chúng vào đánh phá Hà nội.

Ngày 2 tháng 5 năm 1967 Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ lệnh cho tập đoàn 7 và
lực lượng đặc nhiệm 77 thực hiện chương trình "Sấm rền 56", cho phép đánh thêm 10 mục tiêu mới ở
Hà nội trong đó có nhà máy điện Yên Phụ, khu vực Yên Viên, khu Văn Điển và khu công nghiệp
Thượng Đình. Để thực hiện kế hoạch đánh phá, Bộ tư lệnh Thái bình Dương điều thêm hai tàu sân
bay vào vịnh Bác Bộ, nâng tổng số tàu sân bay lên 4 chiếc. Chúng phối hợp cả máy bay của hài quân
và không quân đánh phá liên tục nhiều ngày hoặc nhiều đợt trong một ngày.

Ngày 5 tháng 5 năm 1967, không quân Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch "Sấm rền 56".

16 giờ sở chỉ huy sư đoàn phòng không 361 cho các đơn vị vào cấp một. 48 lần chiếc gồm
F-105 D và F4 của hai liên đội ở căn cứ Tắc Ly và Cò Rạt vào đánh Hà nội. Mục tiêu đánh phá nhằm
vào cầu Đuống, Yên Viên, Văn Điển và khu Thượng Đình.

Ở cụm cầu Đường, Yên Viên các đài radar pháo bị nhiễu nặng. Đồng chí Dương Bửu trung
đoàn trưởng trung đoàn 220 lệnh cho các đại đội triệt để tận dụng khí tài quang học để đánh địch. Đại
đội trưởng đại đội 1 Lê Minh Bội (trung đoàn 220) chỉ huy đơn vị bắn bốn loạt đạn pháo 100 mm
bằng phần tử máy đo xa tiêu diệt một F-105 D.

Các cụm pháo tiểu cao 57 mm của các trung đoàn 212, 234, 232 đánh máy bay địch bổ
nhào bằng kính ngắm trực tiếp. Hoả lực các đơn vị bắn rất tập trung. Các khu vực cầu Đường, Yên
Viên, nhà máy xe lửa Gia Lâm không bị thiệt hại gì thêm. Nhiều đơn vị đã lập công. Đại đội 34 trung
đoàn pháo phòng không 234 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Nái chỉ huy bắn cháy một F-105 D. Đại
đội 40 trung đoàn pháo phòng không 232 do đại đội trưởng Lê Minh Sơn chỉ huy bắn rơi một F105-D
khi chi viện cho đại đội 1 trung đoàn pháo phòng không 220.

Cụm pháo phòng không bảo vệ khu vực Thượng Đình đánh tốt. Phối hợp với hoả lực của
sư đoàn phòng không 367, trung đoàn pháo phòng không 233 đã cùng với các đơn vị bạn bắn rơi một
F-105 D. Trong 9 phút, hoả lực của hai sư đoàn pháo phòng không 361 và 367 đã bắn rơi ba F-105 D
tại chỗ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1967 là ngày đầy thử thách đối với sư đoàn phòng không 361. Hỗ trợ
cho hệ thống radar, các vọng quan sát mắt vừa được kiện toàn đã phát huy tốt tác dụng thông báo địch
cho các đơn vị hoả lực. Sư đoàn 361 đã bắn rơi năm chiếc, trong đó có ba chiếc rơi tại chỗ trong tổng
số tám chiếc rơi ở Hà nội. Các trung đoàn đã lập công là trung đoàn pháo phòng không 220 (pháo
trung cao 100 mm), trung đoàn pháo phòng không 232, 234 (pháo tiểu cao 57 mm).

Theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của quân và dân Hà nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký
lệnh thưởng huân chương Độc lập cho thủ đô Hà nội, đồng thời gửi thư khen đồng bào và chiến sĩ Hà
nội. Người viết: "Từ ngày 1 Toàn quân chủng trắn rơi 10 chiếc, tại Hà nội có 8 chiếc bị hạ. 25 tháng 4
đến nay, quân và dân Hà nội liên tiếp đánh thắng vẻ vang, trừng trị đích đáng từng bước leo thang mới
của giặc Mỹ. Ngày 5 tháng 5 Hà nội dã đánh giỏi, thắng lớn bắn rơi tám máy bay Mỹ… Bác rất vui
lòng thay mắt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô ta" (5).

Thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phần thưởng chung cho quân và dân Thủ đô, đồng
thời cũng là phần thưởng riêng cho sư đoàn phòng không 361, một trong những đơn vi nòng cốt làm
nên chiến thắng. Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các trung đoàn phổ biến rộng rãi thư khen của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đến cán bộ chiến sĩ. Khí thế chiến đấu, thi đua lập công hừng hực khắp các trận địa
bảo vệ Hà nội.

Đầu tháng 5 nam 1967, ở sư đoàn 361 có cuộc vận động "Tháng 5 đỏ" để hưởng ứng đợt
thi đua "Luyện hay đánh giỏi, lập công dâng Bác" lấy thành tích mừng thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh 77
tuổi do Quân chủng phát động. Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương gấp rút khắc phục tình trạng yếu kén)
của bộ đội, nâng cao trình độ chiến đấu của các đơn vị. Với phương châm "yếu gì học nấy, sai đâu sửa
đấy" tất cả các trung đoàn đều phải tranh thủ triển khai huấn luyện. Trong đợt huấn luyện này sư đoàn
phòng không 361 đã được sừ chỉ đạo trực tiếp và giúp đỡ rất tích cực của cơ quan quân chủng. Cơ
quan huấn luyện quân chủng và sư đoàn tổ chức các tổ giáo viên lần lượt xuống từng đại đội bồi
dưỡng cho các thành phần cán bồ, chiến sĩ theo kế hoạch của sư đoàn. Trong suốt tháng 5 các đơn vị
vừa trực ban chiến đấu vừa tranh thủ huấn luyện, một ngày các đại đội đều phấn đấu đạt được từ 12
đến 14 giờ học tập. Sau đợt này trình độ bộ đội có nhiều chuyển biến tiến bộ.

Từ ngày 8 tháng 4 năm 1967 Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch
đánh nhà máy điện Yên Phụ và giao nhiệm vụ này cho các tàu sân bay nhưng trong suốt tháng 4 địch
vẫn chưa thực hiện được. Để gây sức ép tối đa với tạ, vội âm mưu triệt phá nguồn điện duy nhất của
Hà nội, ngày 16 tháng 5 năm 1967 đích thân Tổng thống Johnson phê chuẩn việc tiếp tục thực hiện kế
hoạch đánh phá nhà máy nhiệt điện Hà nội.
Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương giao nhiệm vụ này cho lực lượng đặc nhiệm 77, chủ
yếu là liên đội máy bay của tàu sân bay Bon-hom Ri-sớc. Lần này không quân Mỹ đưa vào sử dụng
một loại vũ khí mới là bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình (Walleye). Đây là loại bom có xác
suất trúng đích khá cao. Đầu quả bom có gắn máy ảnh và hệ thống tự động điều chính cho bom rơi
đúng mục tiêu theo ảnh chuẩn đã chụp khi trinh sát. Sau khi thừ nghiệm thành công hồi đầu tháng 3,
không quân Mỹ đã sử dụng bom này đánh các nhà máy điện Uông Bí, nhà máy điện Cao Ngạn, giờ
đây chúng sử dụng đánh nhà máy điện Yên Phụ.

Ngày 12 tháng 5 năm 1967 không quân Mỹ tổ chức vào đánh khu Thượng Đình Hà nội
nhưng bị không quân ta đánh chặn từ vòng ngoài, bắn rơi máy bay, và lời khai của giặc lái về loại
bom này đã giúp ta chủ động chuẩn bị.

Ngày 18 tháng 5 năm 1967 Quân chủng điều thêm lực lượng về bảo vệ nhà máy điện Yên
Phụ. Như vậy, ngoài lực lượng của sư đoàn phòng không 361, chủ yếu là năm đại đội pháo 57 mm của
trung đoàn 234, còn có hai trung đoàn 280 và 241 của sư đoàn phòng không 367, tổng số lên đến 18
đại đội pháo 57, ba đại đội pháo tự hành, một số phân đội súng 14,5 mm, 12,7 mm và pháo tiểu cao
37 của các tàu của hải quân neo đậu trên sông Hồng.

Sáng ngày 19 tháng 5 năm 1967, trời nắng đẹp. Từ Phủ Chủ tịch có điện thông báo cho
Quân chủng phòng không - không quân: Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Người gửi tám lẵng hoa tặng cho các đơn vị lập công xuất sắc trong tháng 5 lịch sử. Sư đoàn phòng
không 361 có hai trung đoàn được nhận vinh dự này, đó là trung đoàn pháo phòng không 234 và trung
đoàn pháo phòng không 220.

Đồng chí Văn Giang chỉ thị cho cơ quan chính trị điện xuống tất cả các trung đoàn động
viên bộ đội, nếu địch vào phải đánh thật tốt, bắn rơi tại chỗ máy bay địch, bắt sống giặc lái. Đó là việc
làm thiết thực nhất mừng sinh nhật của Bác Hồ.

10 giờ sáng, các máy bay của hài quân Mỹ vào đánh khu ga Văn Điển - Thường Tín và sân
bay Bạch Mai. Ba trung đoàn tên lửa cùng với lực lượng pháo phòng không đã phát huy hoả lực đánh
tốt, bắn rơi bảy máy bay địch.

Địch vào đánh Hà nội từ phía tây nam nên các đơn vị ở phía bắc chưa có thời cơ nổ súng.
Buổi chiều, nhận được điện từ Quân chủng: thời tiết tốt, địch có nhiều khà năng đánh nhà máy điện
Yên Phụ và cầu Long Biên. Sở chỉ huy sư đoàn nhắc các trung đoàn sẵn sàng chiến đấu.

Quả nhiên, lúc 14 giờ 25 phút, lực lượng đặc nhiệm 77 đã huy động máy bay của tàu sân
bay Bon-hom Ri-sớc tiến công nhà máy điện.

Địch sử dụng 20 lần/chiếc gồm A.4, F.8, F4, A6 vào đánh các trận địa pháo phòng không
và chặn không quân ta ở vòng ngoài nhằm tạo điều kiện cho hai chiếc A4-E vào phóng bom điều
khiển bằng vô tuyến truyền hình.

Các tốp F4 lượn ở vòng ngoài liên tiếp phóng tên lửa Sơ-rai (6) vào các đài radar khiến cho
các đơn vị phao đánh bằng khí tài và các tiểu đoàn tên lửa gặp khó khăn. Nhưng bốn trung đoàn tên
lửa 236, 278, 257, 275 đã hoàn toàn chủ động liên tiếp phóng đạn phá vỡ đội hình địch từ vòng ngoài.
Trung đoàn pháo phòng không 234 của sư đoàn phòng không 361 cùng với hai trung đoàn
230 và 241 của sư đoàn phòng không 367 bắn rất mãnh liệt.

Do cuộc "cách mạng đội hình" từ những tháng trước, các trận địa pháo tiểu cao đã ở vị trì
"ôm" sát nhà máy điện, nên tất cả các đại đội đều phát huy được hoả lực.

Đại đội 34 ở ven hồ Trúc Bạch, đại đội 33 trước cửa nhà máy điện đánh rất tốt. Bom đạn
địch đều giạt ra ngoài nhà máy. Chỉ có một nhà nghỉ ca của công nhân bị sập. Hai chiếc A4-E liều lĩnh
vào phóng bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình, nhưng do hoả lực pháo phòng không bắn quá
mạnh, chúng không còn bình tĩnh để ngắm trúng mục tiêu. Do vậy hai quả bom đều rơi chệch ra ngoài
bãi cát sông Hống. Lúc này không quân ta đã cất cánh đánh địch ở vòng ngoài.

Gần kết thúc trận đánh một chiếc máy bay trinh sát A.3-J (tức RA.5-C) bay thẳng vào nhà
máy điện Yên Phụ. Đại đội 1, trung đoàn 241 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Tân chỉ huy và đại đội
33 trung đoàn 234 do đại đội trưởng Nguyễn Huy Cảnh chỉ huy đều nổ súng mãnh liệt. Chiếc A.3-J
trúng đạn bốc cháy giữa trời Hà nội rồi đâm xuống đường phố Lê Trực (7).

Ngày 19 tháng 5 năm 1967 là một ngày thắng lợi. Tại Hà nội 10 máy bay bị hạ, hầu hết là
rơi tại chỗ. Nhà máy điện Yên Phụ được bảo vệ an toàn. Dòng điện Hà nội vẫn được giữ vững. Đây là
trận đánh điển hình về hiệp đồng ba binh chủng (pháo phòng không, tên lửa, không quân). Nó chứng
tỏ trình độ chỉ huy và trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội có nhiều tiến bộ. Sư đoàn phòng không
361, đặc biệt là trung đoàn pháo phòng không 234 có công đóng góp xứng đáng. Đây là chiến công
thiết thực dâng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp ngày sinh của Người và kỷ niệm hai năm ngày
thành lập sư đoàn.

Buổi chiều, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuống sở chỉ huy sư đoàn. Cùng đi có đồng chí
Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng. Đồng chí Nguyễn Quang Bích, Sư đoàn trưởng đã báo cáo diễn
biến trận đánh và kết quả chiến đấu với đồng chí Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Đại tướng Võ Nguyên
Giáp biểu dương thành tích chiến đấu của sư đoàn và nhắc nhở sư đoàn phải rút kinh nghiệm chiến
đấu ngay sau trận đánh.

Âm mưu đánh phá nhà máy nhiệt điện Yên Phụ của không quân Mỹ không thực hiện được.
Hai ngày sau, ngày 21 tháng 5 năm 1967 các máy bay của hải quân Mỹ lại vào đánh tiếp nhà máy
điện.

Thủ đoạn của địch xảo quyệt hơn. Chúng cho một số tốp đánh phá nghi binh ở khu vực
Văn Điển, Ngã Tư Vọng, nhà máy dệt 8-3 rồi bất ngờ từ hướng tây bắc phóng bom vào nhà máy điện.
Lần này chúng sử dụng bốn chiếc A.4-E, mang bốn bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình.

Cùng với các đơn vị bạn, sư đoàn phòng không 361 đã tích cực đánh trả, ba máy bay Mỹ bị
bắn rơi. Nhưng nhà máy bị hư hại nhẹ. Một quả bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình rơi vào
phân xưởng tuốc-bin, một quà phá huỷ bức tường phòng không bảo vệ nhà máy, tổ máy điện số 4 bị
hỏng.

Cán bộ công nhân nhà máy nhanh chóng khắc phục hậu quả trận đánh, phục hồi sản xuất
và triển khai phương án dự bị, sử dụng 12 máy diesel phát điện phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân Thủ đô.
Tối 21 tháng 5 năm 1967 Hà nội vẫn sáng điện. Các nguồn tin trinh sát thu được khảng
định chưa phá huỷ được nhà máy nhiệt điện Hà nội khiến Lầu Năm Góc và Nhà Trắng không hài
lòng. Chúng lệnh cho không quân Mỹ đánh tiếp.

Ngày 10 tháng 6 năm 1967 các tốp máy bay của hài quân Mỹ tiếp tục đánh nhà máy điện
Yên Phụ bằng bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình.

Lưới lửa phòng không Hà nội trong đó có hoả lực mạnh mẽ của trung đoàn 234 sư đoàn
phòng không 361 khiến các máy bay A4-E không thể vào gần để phóng bom chính xác. Một quả bom
vô tuyến xuyên qua bức tường phòng không nằm tại nóc lò số 2 không nổ, còn hai quả khác rơi ra
ngoài. Một quả rơi sang nhà máy nước Yên Phụ, một quả phá sập ngôi chùa trên đường phố Phạm
Hồng Thái.

Đợt tiến công của không quân Mỹ vào nhà máy điện Yên Phụ tạm dừng. Âm mưu triệt phá
nguồn điện Hà nội của đế quốc Mỹ chưa thực hiện được. Trong chiến công chung bảo vệ nhà máy
điện Yên Phụ có sự đóng góp của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không 361.

Sau đợt này, tổng thống Mỹ ra lệnh ngừng ném bom khu vực Hà nội trong bán kính 10
dặm. Vòng tròn đỏ xung quanh Hà nội được thiết lập lại.

Từ trung tuần tháng 6 đến hết tháng 7 năm 1967, hoạt động đánh phá của không quân Mỹ
nhằm vào các tuyến giao thông đường 1 bắc, đường 1 nam, trọng tâm là đường 5. Chúng âm mưu cắt
đứt con đường vận tải chiến được số 5 ở hai cây cầu Phú Lương và Lai Vu. Trong lúc đó ở Hà nội,
chúng tiếp tục duy trì trinh sát đặc biệt ở tầng thấp và tầng cao.

Bộ tư lệnh sư đoàn 361 chỉ đạo các đơn vị ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
còn phải tranh thủ huấn luyện. Qua theo dõi các trận đánh của pháo phòng không trong hai tháng 4 và
5, cơ quan tham mưu sư đoàn đánh giá các đơn vị đánh máy bay bổ nhào có tiến bộ nhưng chưa vững
chắc và đồng đều. Vì vậy, sư đoàn chủ trương xây dựng huấn luyện đột phá mẫu mỗi trung đoàn một
đại đội, sau đó tổ chức cho các đơn vị đến tham quan học tập.

Trung đoàn pháo phòng không 234 xây dựng đột phá mẫu về huấn luyện động tác cơ bản
và cách làm dự án tác chiến ở đại đội 33. Trung đoàn pháo phòng không 212 xây dựng đại đội 73.
Trung đoàn pháo phòng không 220 xây dựng đại đội 2. Trung đoàn pháo phòng không 260 xây dựng
đại đội 198. Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các trung đoàn, mỗi đại đội trong một ngày bất cứ làm việc
gì đều phải đảm bảo huấn luyện hiệp đồng đại đội từ 1 đến 2 giờ.

Đợt huấn luyện đột phá tháng 7 năm 1967 tiếp tục nâng cao trình độ chỉ huy của các cấp và
trình độ chiến thuật kỹ thuật của bộ đội lên một bước.

Trong tháng 7 năm 1967 không quân Mỹ không vào đánh Hà nội. Bộ tư lệnh Quân chủng
chủ trương phải tăng cường lực lượng cho mặt trận bảo vệ giao thông. Chấp hành mệnh lệnh của
Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 điều lực lượng đi chiến đấu trên ba hướng:

Đại đội 33 và 34 trung đoàn pháo phòng không 234 cùng một tiểu đoàn pháo 37 mm (ba
đại đội) đi bảo vệ cầu Giẽ trên hướng đường 1 nam. Lực lượng tên lửa đi cùng có hai tiểu đoàn hoả
lực của trung đoàn tên lửa 236.
Ở hướng đường số 5, hai đại đội pháo 57 mm của trung đoàn 233 về Cẩm Giàng, Như
Quỳnh. Lực lượng của đơn vị bạn có trung đoàn pháo phòng không 210 của sư đoàn phòng không
367.

Ở hướng đường 1 bắc và đường số 2, trung đoàn 232 tham gia chiến đấu hiệp đồng với
trung đoàn tên lửa 274 và 275 ở khu vực Trung Giã.

Trong tháng 7 năm 1967 trên cả ba hướng bảo vệ giao thông các đơn vị của sư đoàn phòng
không 361 đều lập công, đánh 20 trận (gồm 17 trận ban ngày, ba trận ban đêm) bắn rơi năm chiếc máy
bay Mỹ.

Mùa hè năm 1967, thời tiết nóng nắng kéo dài. Các lực lượng phòng không đang chiến đấu
bảo vệ Hà nội nói chung và các chiến sĩ thuộc sư đoàn phòng không 361 nói riêng phải chiến đấu và
sinh hoạt trong những điều kiện rất khắc nghiệt. Trong một ngày thường báo động nhiều lần, bộ đội
phải liên tục ngồi trên mâm pháo nóng bỏng. Trong các đài radar nhiệt độ buồng máy lên đến 41, 42
độ C. Các đơn vị đều trang bị các nhà bạt ngay cạnh hầm pháo, hầm máy. Ban đêm bộ đội ngủ ít do
báo động và phải thay nhau trực ban. Phòng hậu cần sư đoàn do đồng chí Trần Đình Di phụ trách đã
chỉ đạo các trung đoàn đảm bảo chống nắng, nóng cho bộ đội.

Việc tổ thức ăn uống cho bộ đội được các cấp quan tâm, đảm bảo đủ ba món, thường xuyên
có canh. Một số đơn vị nấu cháo hoặc nấu chè cho bộ đội. Nước uống dùng nước gạo rang có thêm
muối. Các cửa hàng giải khát của các khu phố nội thành và các huyện ngoại thành chủ động mang
hàng vào trận địa phục vụ bộ đội.

Tháng 7 năm 1967 thời tiết ở Hà nội rất nóng. Trong những ngày này, Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn sống và làm việc tại Thủ đô. Người quan tâm nhiều đến bộ đội phòng không. Người thường
hỏi: Bộ đội phòng không có đủ nước uống không? Ngày tắm vào lúc nào? Đêm ngủ được mấy giờ?

Buổi trưa một ngày đầu tháng 7 Bác giao cho đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác leo
lên nóc hội trường Ba Đình kiến tra phân đội súng máy phòng không đang trực chiến. Ở đây, bố trí hai
khẩu đội 14,5 mm thuộc đại đội 12 của trung đoàn pháo phòng không 234 do trung đội trưởng Văn
Tiến Tình chỉ huy. Bộ đội phải trực chiến rất căng thẳng. Chỉ có một chiếc lán nhỏ. Công sự được cấu
trúc bằng bao cát xếp liền nhau. Các pháo thủ phải thay nhau ngồi ở vị trí ngắm bắn và đạp cò. Đã
chịu nóng nắng vì thời tiết lại phải chịu cái nóng hắt lên từ nền xi măng càng làm cho anh em thêm
vất vả. Bộ đội phải phân công nhau xuống lấy cơm và nước. Riêng nước uống bộ đội cho vào các bi
đông mang lên và phải uống dè sẻn. Đồng chí Vũ Kỳ báo cáo tất cả những điều mắt thấy tai nghe với
Bác. Bác lắng nghe rồi quyết định rút hết số tiền tiết kiệm trong nhiều năm (8) để chi cho bộ đội phòng
không có thêm nước giải khát. Bác dặn: "Tất cả các nơi bộ đội ngồi trên mâm pháo ngoài trời đều
phải chi đủ. Tiền của Bác chi thiếu thì bên Tổng cục Hậu cần phải chi tiếp đảm bão cho bộ đội phòng
không có đủ nước uống và nước giải khát".

Ngày 11 tháng 7 năm 1967, số tiền 25.000 đồng ở ngân hàng Hoàn Kiếm được chuyển qua
Tổng cục Hậu cần xuống Quân chủng phòng không - không quân theo ý kiến của Bác.

Sự quan tâm của vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ
trang thực sự là nguồn động viên vô tận đối với Quân chủng phòng không - không quân nói chung và
bộ đội phòng không Hà nội nói riêng trong những ngày chiến đấu gian khổ ác liệt bảo vệ bầu trời Thủ
đô.

Sau đợt chiến đấu với đối tượng máy bay của hài quân Mỹ sử dụng bom Walleye đánh nhà
máy điện Yên Phụ, Bộ tư lệnh sư đoàn cử các trợ lý xuống trung đoàn pháo phòng không 234 cùng rút
kinh nghiệm chiến đấu với các đại đội và lắng nghe ý kiến trong các hội nghị quân sự dân chủ của bộ
đội. Quyết tâm của Bộ tư lệnh sư đoàn là phải tìm cách đánh bằng được máy bay mang bom Walleye.
Phòng quân báo quân chủng đã gửi xuống sư đoàn những tin tức mới nhất về tính năng kỹ thuật và
nguyên lý hoạt động của bom.

Ở các trung đoàn 220, 232, 212, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo nghiên cứu cách đánh máy bay
bổ nhào, cách khắc phục nhiễu để đánh bằng phần tử tổng hợp.

Đầu tháng 8 năm 1967, Bộ tư lệnh Quân chủng nhận định: Không quân Mỹ vẫn tiếp tục
đánh phá trên các tuyến giao thông nên chủ trương tiếp tục duy trì các cụm phòng không cơ động trên
ba hướng: Cầu Giẽ, Trung Giã và Phú Lương, Lai Vu.

Các phân đội pháo phòng không của sư đoàn phòng không 361 trên các hướng này đang
phát huy được tác dụng. Đây cũng là một dịp rèn luyện bộ đội. Ngày 8 tháng 8 năm 1967 trong buổi
giao ban sáng tại sở chỉ huy quân chủng, phòng quân báo phát hiện những triệu chứng mới của địch.
Ba tàu sân bay ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ chuyển dịch vị trí xuống phía nam. Thông thường khi đánh
Hà nội các tàu đêu dâng lên trên vĩ tuyến 20. Tàu sân bay Ri-sớc là tàu duy nhất có trang bị bom
Walleye đột ngột kéo về cảng Su-bíc (Philippines). Có thể đây là một hành động nghi binh cấn tiếp
tục theo dõi.

Trong lúc đó, ngày 9 tháng 8 năm 1967, Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương đã thông qua
kế hoạch "Sấm rền 57" cho phép tập đoàn không quân số 7 và lực lượng đặc nhiệm 77 đánh thêm 16
mục tiêu, có sáu mục tiêu ở Hà nội, đặc biệt là cầu Long Biên.

Sáng ngày 10 tháng 8 năm 1967, vẫn như thường lệ không quân Mỹ cho máy bay của hải
quân đánh đường số 5 nhưng đột ngột sử dụng máy bay không người lái 147-J bay vào trinh sát Hà
nội. Các đơn vị phòng không không kịp nổ súng. Nghe đồng chí Nguyễn Điền trưởng ban trinh sát sự
đoàn báo cáo đường bay của chiếc 147-J, sư đoàn trưởng Nguyễn Quang Bích triệu tập phòng tham
mưu và nhận định: Có khả năng địch đánh lại Hà nội sớm hơn dự kiến, sư đoàn báo cáo Quân chủng
xin phép điều ba cụm phòng không đang cơ động về Hà nội. Đồng thời phân công đồng chí Tham
mưu trưởng sư đoàn xuống chỉ đạo và giúp đỡ trung đoàn pháo phòng không 212.

Bộ tư lệnh Quân chủng đống ý và đề nghị trên nhưng chưa được chấp nhận.

Ngày 11 tháng 8 năm 1967, thời tiết ở khu vực Hà nội tốt. Lúc 10 giờ 10 phút hai chiếc
RF-101 bay vào trinh sát hoả lực khu tây bắc Hà nội, sau đó trở lại yên tĩnh. Chủ tịch uỷ ban.hành
chính thành phố ký lệnh cho phép các phương tiện vận chuyển được đi cầu Long Biên (trước đó đã có
lệnh cấm đi cầu, qua lại sông Hồng phải đi phà).

Trời vế chiều, không khí rất nóng bức. Các đơn vị pháo phòng không theo dõi địch không
thấy động tĩnh gì tưởng như một ngày trực chiến sắp qua thì đột nhiên 16 giờ không quân địch xuất
hiện từ hướng Tam Đảo vào đánh cầu Long Biên (đường bay này không có trong dự kiến).
Các đơn vị pháo phòng không vào cấp một chậm, chỉ kịp bắn vào những tốp sau. Trung
đoàn 220 đánh theo phần tử khí tài tiêu diệt một F105, trung đoàn phòng không 232 bắn rơi một chiếc
khác. Nhưng một nhịp cầu Long Biên bị sập nhịp giữa dòng sông (mạn bên phía Gia Lâm), bốn nhịp
khác bị hỏng nặng. Đây là lần đầu tiên cầu Leng Biên bị đánh hỏng trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ.

Sau khi đánh cẩu bằng bom phá, địch rải bom bi vào các khu vực dân cư. 15 quả bom bi
mẹ rơi xuống thị trấn Gia Lâm và các xã lân cận như Gia Thượng, Ngọc Thuỵ, Gia Quất, Thượng Cát,
Thanh Am. Nhiều dân thường từ cụ già đến em nhỏ bị thiệt mạng.

Trận đánh của các lực lượng phòng không Hà nội chiều ngày 11 tháng 8 năm 1967 là một
trận đánh kém, hiệu suất chiến đấu thấp. Mục tiêu không bảo vệ được, số máy bay bắn rơi ít. Nguyên
nhân mất cầu được các cấp nghiêm khắc kiểm điểm. Ngoài việc phán đoán âm mưu địch không chính
xác, điều động lực lượng về Hà nội không kịp thời, các đơn vị thực hành chiến đấu còn nhiều thiếu sót
Việc thao tác bắt mục tiêu trên nền nhiễu của các đài điều khiển tên lửa, đài radar ngắm bắn của pháo
còn lúng túng. Phần lớn các đơn vị về cấp một chậm, hoả lực bắn lên không tập trung và mãnh liệt
nên không cản phá và tiêu diệt được địch. Các trận địa "chốt" trực tiếp bảo vệ cầu Long Biên ít, trong
khi đó cầu lại dài. Sự việc để cầu Long Biên tổn thất khiến tình hình chiến sự trở nên rất khẩn trương.

16 giờ cùng ngày, sau khi báo cáo Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Quân chủng lệnh cho sư
đoàn phòng không 361 điều gấp ba cụm cơ động về Hà nội. Đồng thời lệnh cho sư đoàn phòng không
367 cùng các tiểu đoàn hoả lực của các trung đoàn tên lửa 236, 274, 275 về Hà nội. Mật độ pháo
phòng không và tên lửa phòng không bảo vệ Hà nội trở nên dày đặc(9).

Ngày hôm sau 12 tháng 8 năm 1967 không quân Mỹ đánh cầu Đuống. Lực lượng địch sử
dụng khá lớn.

Buổi sáng 24 chiếc F105 và F4 vào đánh cầu từ hướng tây bắc. Do chỉ huy sư đoàn phòng
không 361 giao nhiệm vụ cho các trung đoàn từ sớm nên các đại đội pháo 100 mm của trung đoàn
220 đã chủ động bắn mạnh phá vỡ đội hình các tốp F105, F4 khi chúng còn bay bằng ở vòng ngoài.

Các trung đoàn pháo tiểu cao 212, 234, 232, 233 của sư đoàn đều phát huy được hoả lực.
Cả vùng trời phía đông bắc Hà nội rầm rầm tiếng súng đạn cao pháo. Đại đội 71 trung đoàn pháo
phòng không 212 chốt ở trận địa Tế Xuyên bắn đúng thời cơ hạ tại chỗ một F105.

Trong đợt tiến công của địch buổi sáng, cầu Đuống bị hỏng nhẹ, nhưng tàu xe chưa qua
được phải chờ sửa chữa khôi phục.

Buổi chiều, hơn 30 lần chiếc F105 và F4 lại vào đánh cầu Đuống. Pháo 100 mm của trung
đoàn 220 phát huy được vai trò đánh xa khi địch bay bằng. Ở trung đoàn 212 cả năm đại đội pháo 57
mm đều đánh máy bay địch bổ nhào bằng kính ngắm trực tiếp. Không quân Mỹ ném khá nhiều bom
xuống cầu và các trận địa chốt nhưng bộ đội vẫn trụ vững, bắn mãnh liệt.

Trong ngày sư đoàn phòng không 361 bắn rơi năm chiếc máy bay, nhưng không bảo vệ
được cầu Đuống.
Như vậy, trong hai ngày 11 và 12, hai chiếc cầu quan trọng nhất ở yếu địa Hà nội đã bị gãy,
sư đoàn phòng không 361 cùng các lực lượng phòng không Hà nội đã đánh rất tích cực, nhưng không
bào vệ được mục tiêu mặc dù trình độ chiến đấu của cấp cơ sở đã có nhiều tiến bộ hơn nhưng đợt
trước. Qua đây, lãnh đạo và chỉ huy các cấp có thêm bài học về nắm địch và nhận định về địch.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị từ trước, Trung ương và thành phố Hà nội cùng các ngành các
cấp đã nhanh chóng triển khai các phương án dự bị. Bộ đội công binh cùng Bộ Giao thông vận tài đã
bắc xong cầu phao Chương Dương, cầu phao Khuyến Lương, giải toả giao thông qua sông Hồng. Để
giải quyết thông tàu xe qua sông Đuống, cầu phao Đông Trù và cầu treo đã được triển khai; cầu
đường sắt phía nam cầu Đuống cũ chừng 800 mét cũng được nối thông.

Sau hai ngày chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 chỉ thị cho các đơn vị rút
kinh nghiệm nghiêm túc Vấn đề nổi lên là đánh máy bay bổ nhào của pháo phòng không và đánh máy
bay mang nhiễu của bộ đội tên lửa.

Binh chủng tên lừa đã có hướng phát triển tốt trong cách đảnh mục tiêu gây nhiễu dài.
Pháo phòng không (đặc biệt là pháo 57 mm) đã đánh được máy bay bồ nhào nhưng trình độ các đơn
vị không đồng đều. Hai trung đoàn 212 và 234 đánh khá, còn hai trung đoàn 232, 233 trình độ chưa
đồng đều. Trung đoàn 220 pháo trung cao đánh máy bay bay bằng ở vòng ngoài có tiến bộ, nổi lên là
đại đội 1 ở trận địa Gia Thượng.

Trước sự phát triển mạng lưới giao thông qua sông Hồng và sông Đống, phạm vi mục tiêu
bảo vệ của sư đoàn lại thay đổi và phát triển, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 chỉ đạo các trung
đoàn xây dựng lại phương án chiến đấu. Tham mưu trưởng sư đoàn Lê Huy Vinh cùng các trợ lý
Đoàn Khuê, Đoàn Ngọc Thiệt, Phạm Độ, Nguyễn Huy Trung, Phạm uý xuống từng trung đoàn, từng
đại đội chỉ đạo và giúp đỡ các đơn vì bổ sung vào phương án cho sát hợp với tình hình mới. Cơ quan
kỹ thuật sư đoàn cử các kỹ sư, thợ pháo, thợ khí tài xuống từng đại đội pháo hiệu chỉnh, sửa chừa vũ
khí đảm bảo đồng bộ và chính xác. Riêng vấn đề bảo vệ nhà máy điện Yên Phụ, một mục tiêu quan
trọng của Hà nội gần khu Trung ương, gần nơi làm việc của cơ quan Bộ quốc phòng được sự quan
tâm của nhiều ngành, nhiều cấp.

Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Cục 2 nghiên cứu lời khai của bọn giặc lái về tính năng và
nguyên lý làm việc của bom Walleye. Phòng tác chiến Quân chủng, ban tác chiến của sư đoàn phòng
không 361 nghiên cứu đánh máy bay A4-E của hải quân mang bom Walleye. uỷ ban hành chính thành
phố Hà nội chỉ đạo việc phòng tránh sơ tán của nhân dân các khu phố lân cận nhà máy điện. Bộ tư
lệnh Thủ đô(10) chỉ đạo việc làm hầm hào và giúp đỡ tự vệ nhà máy bố trí các trận địa súng máy phòng
không.

Từ sau trận đánh ngày 10 tháng 6 năm 1967 của máy bay hải quân Mỹ vào nhà máy điện
Yên Phụ, hàng loạt các biện pháp nhằm bảo vệ bằng được nguồn điện duy nhất của Thủ đô được tiến
hành.

Sau khi cho máy bay ta quan sát nhà máy từ hướng đông và hướng tây, Bộ tư lệnh Quân
chủng khẳng định hướng tây là hướng chủ yếu máy bay hải quân Mỹ vào đánh nhà máy điện Yên
Phụ.
Từ đó Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ đạo sư đoàn phòng không 361 củng cố hai trận địa Nghĩa
Dũng (bố trí đại đội 33) và trận địa ven hồ Trúc Bạch (bố trí đại đội 30). Trận địa nổi trên mặt Hồ Tây
(bố trí đại đội 64 - pháo 37 mm) được xác định là trận địa quan trọng đánh máy bay địch bổ nhào bổ
trợ cho hai trận địa Nghĩa Dũng và Trúc Bạch.

Phòng tác chiến Quân chủng cùng ban tác chiến sư đoàn phòng không 361 tiếp tục cử các
trợ lý xuống ba đại đội 33, 30, 64 trực tiếp huấn luyện đánh máy bay mang bom Walleye. Sư đoàn sử
dụng tiểu đoàn 20, trang bị súng máy phòng không trực sẵn trên đường Cổ Ngư sẵn sàng cơ động
đánh máy bay bay thấp.

Để phá nguyên lý điều khiển bằng cách đối chiếu hình ảnh của bom Walleye, các lực lượng
tự vệ của khu phố Ba Đình và nhà máy điện đã quét sơn đen toàn bộ các khu phố Cửa Bắc, phố Phó
Đức Chính, Hàng Bún, Nguyễn Trường Tộ, Châu Long.

Trên nóc các nhà cao tầng xung quanh nhà máy, tự vệ đặt nhiều vật thể nghi trang làm cho
không quân địch không thể nhận dạng nhà máy theo các ảnh chuẩn đã chụp từ trước.

Bộ Tổng tham mưu điều lữ đoàn dù 305 về thả khinh khí cầu trên toàn bộ hướng bắc và tây
bắc nhà máy ở độ cao từ 1 đến 3 ki-lô-mét.

Cục Tác chiến điều động đại đội 92 của Binh chủng Hoá học về bố trí hàng loạt các trận
địa thả khói cố định trên nóc các nhà cao tầng xung quanh nhà máy. Bổ sung vào các trận địa thả khói
cố định là hai xe thả khói di động, một chiếc trực sẵn ở đầu đường Cổ Ngư, một chiếc bố trí ở dốc đê
Yên Phụ.

Toàn bộ sáu ống khói nhà máy được hạ sát mặt đất. Các hầm bảng điện, phòng điều hành
được gia cố thêm các phụ kiện che chắn bằng vôi rơm. Bức tường phòng không (11) bảo vệ nhà máy
ngoài xây đá, trong đổ cát từ chiều cao 10 mét (hồi tháng 6 năm 1967) trước khi bước vào đợt chiến
đấu tháng 8 năm 1967 được xây cơi lên 13 mét.

Uỷ ban hành chính thành phố Hà nội, Bộ Điện Than, các lực lượng phòng không đã hiệp
đồng chặt chẽ mọi mặt chuẩn bị chiến đấu, phòng tránh đảm bảo hậu cần, phục vụ trung đoàn 234 và
giải quyết thương binh tử sĩ cho các lực lượng tham gia chiến đấu.

Các lực lượng tự vệ, bộ đội hoá học và các đại đội pháo phòng không của trung đoàn 234
sư đoàn phòng không 361 đã luyện tập hiệp đồng nhiều lẳn. Tất cả các nội dung chuẩn bị chiến đấu
bảo vệ nhà máy đều được tiến hành khẩn trương. Mặc dù trời nóng nắng kéo dài và căng thẳng do liên
tục báo động nhưng mọi thành phần, mọi lực lượng đã làm hết sức mình với quyết tâm "quyết tử giữ
vững nguồn điện cho Hà nội".

Để chuẩn bị cho đợt đánh phá thứ tư vào Hà nội, đế quốc Mỹ đưa tàu sân bay Oriscany
sang vịnh Bắc Bộ. Tàu này được trang bị bom Walleye và được Bộ tư lệnh Thái Bình Dương giao cho
nhiệm vụ đánh nhà máy nhiệt điện Hà nội.

Giữa tháng 8 năm 1967 cả ba tàu sân bay ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ đều dâng lên trên vĩ
tuyến 20. Triệu chứng của một đợt đánh lớn xuất hiện.
Ngày 21 tháng 8 nạm 1967 hơn 40 lần chiếc máy bay gồm F105 và F4-C của hai liên đội ở
căn cứ Tắc-ly và Cò-rạt vào đánh ga Yên Viên và cầu Đuống (bao gồm cả cầu cũ, cầu treo và cầu
đường sắt mới).

Đồng thời với đánh mục tiêu chúng thả bom bi, bom từ trường, bom nổ chậm vào 4 trận
địa của trung đoàn pháo phòng không 212 và 232.

Sư đoàn phòng không 361 vào trận rất đĩnh đạc. Mặc dù bị địch chế áp mạnh nhưng ba
trung đoàn pháo phòng không 220, 233, 212 đã lập công giòn giã, bắn rơi ngay từ đợt đầu ba chiếc
F105. Các đơn vị lập chiến công là đại đội 72 trung đoàn 212, đại đội 2 trung đoàn 220, đại đội 1
trung đoàn 233.

Thắng lợi của các đơn vị chứng tỏ nội dung huấn luyện nâng cao trong giai đoạn vừa qua
hoàn toàn đúng hướng và đáp ứng yêu cầu chiến đấu. Trình độ đánh máy bay bổ nhào của các đơn vị
pháo phòng không đã tiến bộ rõ rệt.

Đến 11 giờ ngày 2 1 tháng 8, các máy bay của tàu sân bay Ô-rít-ka-ny vào đánh nhà máy
điện. Khi các tốp F-8, A6, A4-E vừa bay vào Hà nội thì màn khói trắng của bộ đội hoá học đã trùm
phủ toàn bộ khu vực nhà máy.

Thủ đoạn đánh phá của địch có thay đổi. Chúng vừa lượn ở vòng ngoài phóng tên lửa Sơ-
rai vừa tiếp cận phóng bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình. Lần này tàu sân bay Ô-rít-ka-ny sử
dụng năm máy bay A4-E mang năm quả bom Walleye.

Cả sáu đại đội 33, 80, 31, 34, 36, 64 của trung đoàn 234 sư đoàn phòng không 36 1 đều nổ
súng mãnh liệt khiến địch không thể tiếp cận phóng tên lửa và bom Walleye chính xác. Phần lớn bom
đạn rơi ra ngoài nhà máy.

Tuy vậy, địch vẫn gây cho ta thiệt hại. Một góc của bức tường phòng không ở hướng bắc
và hầm tuốc-bin bị đổ sập. Hai máy phát điện số 3 và số 4 hư hại. Lò ngừng cháy, máy ngừng chạy,
điện mất toàn bộ, nhưng người an toàn.

Khi tiếng súng vừa dứt, cán bộ công nhân nhà máy lao vào khắc phục hậu quả, nhanh
chóng sửa chữa lò máy phục hồi sản xuất. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, Bí thư Thành uỷ Hà nội đã đến
động viên cán bộ công nhân nhà máy.

20 giờ nguồn điện từ 12 cụm máy diesel cung cấp điện cho thành phố. 21 giờ 5 phút, lò
máy được sửa chữa xong.

Nhà máy lại phát điện hoà vào lưới điện của thành phố Hà nội giữa tiếng reo vui của nhân
dân Thủ đô. Mọi người đều hồi hộp lo lắng khi địch vào đánh phá nhà máy nhưng ý chí của người thợ
điện, ý chí của quân và dân Hà nội đã giữ cho nguồn điện Hà nội. bất từ. Cuộc chiến đấu quyết liệt
giữ vững dòng điện của Hà nội là một bài ca bất tận về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân
Thủ đô. Nó phát huy được sức mạnh tồng hợp của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lực lượng. Trong
cuộc chiến đấu kiên cường ấy, bộ đội phòng không Hà nội, trực tiếp là trung đoàn pháo phòng không
234 của sư đoàn phòng không 361 đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đánh địch trên không,
kết hợp nhiều biện pháp phòng tránh đa dạng, phong phú của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối
không.

Ngày 22 tháng 8 năm 1967 lợi dụng trời mù, hơn 40 lượt chiếc F105 và F4-C vào đánh phá
cầu Đuống mới, ga Yên Viên và thị trấn Gia Lâm.

Vì gặp nhiễu nặng nên hệ thống radar ngắm bắn của pháo không bắt được mục tiêu. Theo
phượng án đã chuẩn bị các trung đoàn pháo phòng không 220, 232 và 212 phải dựng màn đạn đánh
chặn và sử dụng kính ngắm trực tiếp đánh gần. Cầu Đuống bị sập một nhịp phía bắc, nhịp giữa bị
hỏng, 24 mét đê sông Đống bị sạt lở.

Ngày hôm sau (23 tháng 8) gần 40 lần chiếc F105 và F4-C tiếp tục vào đánh cầu Đuống và
ga Yên Viên, đồng thời đánh mạnh vào các trận địa pháo. Vừa thả bom phá, bom bi không quân Mỹ
đã dùng tên lừa Sơ-rai phóng vào năm đài radar pháo ở Hà nội. Trung đoàn pháo phòng không 212 có
hai đại đội 71 và 73 chốt ở phía bắc cầu Đuống chặn đánh hai đường bay cơ bản của địch từ Tam Đảo
xuống đánh. Hà nội thì đại đội 78 bị thương vong nặng nhất. Bốn khẩu pháo bị hỏng nặng. Hai phần
ba quân số bị thương vong. Đại đội trưởng Nguyễn Trọng Mẫu bị hy sinh khi đang phất cờ chỉ huy
đơn vị. Chính trị viên Lê Văn Tấn bị thương khi đang động viên bộ đội. Tất cả số pháo thủ còn lại chỉ
đủ một khẩu đội. Đại đội còn hai khẩu pháo tốt. Đơn vị mất sức chiến đấu. Đồng chí chính trị viên
phó nhanh chóng tập hợp anh em, phân công người băng bó cứu chữa thương binh, cho người đi cứu
kho đại của đại đội đang bị cháy.

Theo phương án hiệp đồng, trung đội dân quân làng Cống Thôn và tự vệ ga Yên Viên cùng
anh em trong đơn vị tập trung giải quyết hậu quả.

Thường vụ đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn 212 quyết tâm phục hồi sức chiến đấu cho
đại đội 73. Ngay buồi tối ngày 23 tháng 8 trung đoàn trưởng.Nguyễn Huy Hùng lệnh cho các đại đội
71, 72, 74, 75 mỗi đơn vị điều một khẩu đội sang bồ sung cho đại đội 73.

Trạm sửa chữa trung đoàn cử các thợ sửa chữa pháo, thợ sửa chữa khí tài xuống dồn dịch
sửa chữa hiệu chỉnh bảo đàm cho đại đội 73 có đủ sáu khẩu đội đánh được bằng phần từ khí tài. Thợ
sửa chữa, nhân viên kỹ thuật cùng các pháo thủ thức trắng đêm lo sửa chữa vũ khí, củng cố công sự
và chuẩn bị chiến đấu. Sáng hôm sau đại đội 73 đã vươn cao nòng pháo trên bãi bom sẵn sàng đánh
địch.

Trong chiến đấu gian khổ ác liệt, trung đoàn 212 vẫn giữ vững nền nếp sinh hoạt. Đồng chí
Doãn Huy Chu chính uỷ trung đoàn động viên các đại đội làm vườn hoa cây cảnh ngay bên hầm pháo.
Các chiến sĩ trong lúc vào làng xin lá nguỵ trang xin luôn cả giống hoa và cây cảnh vệ trồng trên trận
địa.

Trong hai ngày 22 và 23 tháng 8, phạm vi đánh phá của không quân Mỹ lan rộng vào các
khu phố nội thành. Các phố Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, phố Huế đều bị địch phóng tên lửa, rải
bom bi đánh vào dân thường. Các làng ngoại thành từ Long Biên, Ngọc Thuỵ đến Gia Quất, Gia
Thượng, Thượng Cát, Thanh Am, thị trấn Yên Viên, thị trấn Gia Lâm đều bị bom đạn Mỹ tàn phá.

Trong tháng 8 năm 1967 sư đoàn phòng không 861 cùng với lực lượng phòng không Hà
nội dũng cảm chiến đấu kiên cường đánh trả các đợt tiến công của không quân địch, bảo vệ các mục
tiêu trọng điểm của Thủ đô. Các trung đoàn pháo phòng không đã giữ vững vị trí chiến đấu trên
những địa bàn ác liệt như trung đoàn 212 bảo vệ cầu Đuống, trung đoàn 234 bảo vệ nhà máy điện Yên
Phụ, trung đoàn 232 bảo vệ cầu Long Biên. Trên khắp các trận địa phòng không bảo vệ Hà nội, đâu
đâu cũng xuất hiện những tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tập thể và cá
nhân. Các đơn vị và cá nhân ấy đại diện cho tinh thần "quyết tử cho Thủ đô quyết sinh".

Ở đại đội 1 trung đoàn 220 pháo thủ số 1 Nguyễn Văn Khánh bị thương nặng ở ngực vẫn
không rời vị trí. Anh dồn hết sức lực quay khẩu pháo đã hỏng hệ thống điện hướng nòng về bắn cùng
đại đội. Bị thương lần thứ hài Khánh mới để cho nữ dân quân thôn Gia Quất Lê Thị Hạnh băng bó và
đưa về tuyến sau. Một quả bom nổ làm Lê Thị Hạnh bị thương, nhưng chị vẫn nén đau đưa thương
binh vê nơi cấp cứu an toàn.

Trận địa đại đội 2 cũng bị trúng bom địch. Pháo thủ số 2 Nguyễn Văn Ái cùng một lúc bị
bom bi xuyên vào ngực, bụng, thủng ba khúc ruột. Đồng chí cắn chặt môi gắng bê tiếp viên đạn pháo
100 nặng gần 20 ki-lô-gam đưa lên nòng tống đạn, kịp thời bắn đồng loạt với đại đội. Ở khẩu đội bên
cạnh, một quả bom bi nổ làm giập nát hai bàn chân pháo thủ Nguyễn Văn Hoan. Anh dựa người vào
máng tống đạn, nghiến răng dồn sức lên bàn tay phái ấn cần khởi động bắn viên đạn cuối cùng của
cuộc đời pháo thủ.

Trong những ngày tháng 8 ác liệt, chính uỷ trung đoàn 220 Phạm Văn Bời liên tục có mặt
ở các trận địa cùng chiến đấu với bộ đội của mình. Có lúc anh bàn bạc với cấp uỷ, với chính trị viên
các nội dung công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu, có lúc anh đứng bên cạnh pháo thủ số
2 (số có vị trí cao nhất trong khẩu đội) để động viên pháo thủ chiến đấu. Tinh thần tận tuỵ, sâu sát đơn
vị trong lúc bom đạn ác liệt của anh là tấm gương đầy sức cồ vũ với bộ đội.

Ở trung đoàn 232, sau một ngày chiến đấu đại đội 40 bảo vệ nhà máy xe lửa Gia Lâm bị
thương vong hai khẩu đội. Buổi tối, sau khi giải quyết thương binh tử sĩ đại đội vẫn tổ chức sinh hoạt
bình thường. Đồng chí Chính uỷ sư đoàn trực tiếp xuống đơn vì phát động căm thù và động viện bộ
đội.

Ở đại đội 6 trung đoàn 234 bảo vệ nhà máy điện Yên Phụ, trong một trận chiến đấu pháo
thủ số 5 Lê Việt Dũng hy sinh. Nhận được tin, mẹ Chu Thị Loan người làng Cổ Nhuế huyện Từ Liêm
nén đau thương dẫn người anh trai của Dũng là Lê Việt Hùng đến đơn vị xin các cấp chỉ huy cho
Hùng nhập ngũ thay vào vị trí của người em chiến đấu trả thù cho Dũng. Lòng yêu nước và sự hy sinh
lớn lao của mẹ đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, ý chí quyết tâm của bộ đội phòng không
Thủ đô.

Chịu đựng ác liệt hơn cả trong tháng 8 năm 1967 là các trận địa pháo của trung đoàn 212
bảo vệ cầu Đuống. Vừa bắn xong một điểm xạ dài vào tốp F-105 D đi đầu thì hàng trăm quả bom bi
nổ xối xả giữa trận địa đại đội 73. Một quả bom rơi trúng sở chỉ huy đại đội. Chiến sĩ tiêu đồ Nguyễn
Tiến Phố bị 6 viên bi vào ổ bụng. Anh nén đau đánh dấu mũi đường bay cuối cùng của địch trên bản
đồ rồi gục xuống. Kho đạn của đại đội bị trúng bom, đạn đang nổ, chính trị viên phó nhẩy lên thành
công sự động viên cán bộ chiến sĩ đi cứu đạn. Các chiến sĩ tự vệ ga Yên Viên theo phương án hiệp
đồng đã băng qua lửa đạn đến ứng cứu kịp thời.
Trung đội trưởng dân quân thôn Yên Viên Đỗ Thị Minh dẫn trung đội vượt qua bom đạn
vào hiệp đồng chiến đấu với đại đội 74. Vác băng đạn pháo 57 trên vai, Đỗ Thị Minh qua bãi bom nổ
chậm chạy vào hầm pháo. Một quả bom bi nổ dưới chân làm Minh khuy xuống, nhưng chị đã kịp thời
đưa băng đạn lên giá. Đỗ Thị Minh hy sinh, nhưng tấm gương của chị đã tiếp thêm sức mạnh cho các
pháo thủ đại đội 74 bắn rơi tại chỗ một máy. bay địch.

Giữa đợt chiến đấu các pháo thủ khẩu đội 3 đại đội 75 phát hiện một quả bom chưa nổ chui
xuống lòng đất, chỉ ló một mỏm đuôi đen sạm ngay bên càng chính của pháo. Một pháo thủ lấy hòm
đạn úp lên đuôi bom cho đỡ vướng rồi cả khẩu đội bình tĩnh tiếp tục chiến đấu. Khi về cấp hai, đại đội
trưởng Nguyễn Văn Đền trực tiếp chỉ huy trung đội 1 phá công sự, dùng xe xích tời pháo ra ngoài,
phá bom nổ, sửa lại công sự đưa pháo vào hầm chuẩn bị đợt đánh tiếp theo. Hoạ sĩ Nguyễn Đức Thọ
Phóng viên báo Phòng không - không quân đã lao xuống đại đội 75 ký hoạ được bức tranh sống động
"ngồi trên bom đánh địch".

Ở đại đội 76, bom bi rơi vào hầm pháo, khẩu đội trưởng Dương Triều Hướng dũng cảm
nhặt bom bi vứt ra ngoài công sự tiếp tục chỉ huy khẩu đội chiến đấu. Ở đại độ 73 khẩu đội trưởng
Nguyễn Văn Bí nhặt viên đạn 57 bị mảnh bom địch bắn hỏng đang phụt lửa vứt ra ngoài công sự bảo
vệ cho đồng đội. Đồng chí Nguyễn Bá Dũng pháo thủ số 5 khi bom nổ cát bụi bay mù mịt đã lấy thân
mình che cho máy nạp đạn.

Trên khắp năm trận địa của trung đoàn pháo phòng không 212, ở đâu cũng có những tấm
gương dũng cảm chiến đấu, cùng tập thể đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn
pháo phòng không 212 luôn luôn chiến đấu với tinh thần "bị thương nặng không rên la, bị thương nhẹ
không rời trận địa" và "đánh đến viên đạn cuối cùng bảo vệ bầu trời Thủ đô". Trong suốt tháng 8 năm
1967 hầu như ngày nào đơn vị cũng báo động và nổ súng. Gian khổ vất vả hy sinh nhưng không một
ai dao động, thoái thác nhiệm vụ. Bom đạn địch không làm cho các chiến sĩ trung đoàn 212 khuất
phục, họ vẫn ngẩng cao đầu bắn máy bay Mỹ. Từ những ngày khói lửa ác liệt này, đồng bào và đồng
chí ~ Thủ đô đã khen tặng trung đoàn pháo phòng không 212 danh hiệu "Trụ thép phía đông bảo vệ
Hà nội"(12).

Liên tiếp trong năm ngày 11, 12, 21, 22, 23 tháng 8 năm 1967, các lực lượng phòng không
Hà nội đã bắn rơi 22 máy bay Mỹ, trong đó sư đoàn phòng không 361 là lực lượng nòng cốt chiến đấu
bảo vệ bầu trời Thủ đô đã bắn rơi chín chiếc.

Đợt tiến công thứ tư vào Hà nội của không quân Mỹ đã phải trả giá đắt. Ngày 24 tháng 8
năm 1967 tổng thống Johnson ra lệnh cho không quân Mỹ ngừng ném bom Hà nội trong vòng tròn
bán kính 10 dặm Anh.

Từ ngày 24 tháng 8 đến 24 tháng 10, vừa tròn hai tháng không quân Mỹ ngừng đánh phá
Hà nội. Chúng chuyển trọng tâm đánh phá xuống Hải Phòng và các tuyến giao thông.

Rút kinh nghiệm của đợt chiến đấu tháng 8 năm 1967, Bộ tư lệnh Quân chủng không điều
các lực lượng phòng không cơ động ra vòng ngoài đánh địch bảo vệ giao thông, mà kiên trì bám trụ
tại Hà nội sẵn sàng đánh bại bước leo thang mới của địch tại Thủ đô.
Đầu tháng 10 năm 1967, Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân ra nghị quyết
lãnh đạo quân chủng khẩn trương nâng cao chất lượng bộ đội về. mọi mặt, phát huy sức mạnh chiến
đấu của toàn quân chủng, quyết tâm đánh bại bước leo thang mới của không quân Mỹ.

Sau khi kế hoạch tác chiến quý IV năm 1967 được Bộ Tổng tham mưu thông qua, Bộ tư
lệnh Quân chủng triệu tập hội nghị quân chính toàn quân chủng.

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 10, tất cả cán bộ từ trung đoàn trưởng, chính uỷ trung đoàn trở
lên đều dự họp. Hội nghị đề cập toàn diện các mặt chuẩn bị cho quân chủng bước vào cuộc chiến đấu
mới. Các nội dung lớn từ quyết tâm chiến đấu, sử dụng lực lượng, bố trí đội hình đến giải quyết cách
đánh của các Binh chủng Tên lửa, Không quân và các sư đoàn pháo phòng không đều được thống
nhất từ trên xuống dưới.

Tư tưởng nổi bật trong hội nghị là: muốn giành thắng lợi Quân chủng phải tổ chức nhiều
trận đánh tập trung, đánh tiêu diệt lớn không quân địch ngay trên yếu địa Hà nội. Đây là một nội dung
lớn được phổ biến và quán triệt sâu sắc.

Với yếu địa Hà nội, nơi sẽ diễn ra những trận chiến đấu quy mô lớn đối với không quân
Mỹ để triển khai kế hoạch tác chiến quý IV năm 1967, Bộ tư lệnh rất chú trọng đến việc sừ dụng lực
lượng.

Hầu hết lực lượng của Binh chủng Tên lửa, lực lượng của Binh chủng Không quân được
giao nhiệm vụ bào vệ Hà nội. Sư đoàn phòng không 361 được giao nhiệm vụ bảo vệ một số mục tiêu
cụ thể như nhà máy điện Yên Phụ, cầu Long Biên, cầu Đuống và khu Trung ương ở vòng trong. Sư
đoàn phòng không 361 sẽ chiến đấu trong thế trận hiệp đồng nhiều lực lượng, nhiều binh chủng cùng
làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa Hà nội.

Ngày 11 tháng 10 năm 1967 mệnh lệnh tác chiến của Quân chủng do Tư lệnh Lê Văn Tri
ký được truyền đạt đến Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361. Ngay sau đó, Đảng uỷ sư đoàn phòng
không 361 ra nghị quyết lãnh đạo toàn sư đoàn thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng và
mệnh lệnh tác chiến của Bộ tư lệnh Quân chủng. Đồng thời đề ra những biện pháp cụ thể để nâng cao
chất lượng chiến đấu của sư đoàn đối với cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong thời gian tới. Đảng uỷ
các cấp tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị quán triệt đến mọi cán bộ chiến sĩ nhiệm vụ tác chiến
quý IV.

Công tác đảng-công tác chính trị tập trung vào củng cố tổ chức, kiện toàn các cấp uỷ, bổ
sung cán bộ và giáo dục nhận thức chuẩn bị tư tưởng cho bộ đội trong tình hình mới.

Toàn sư đoàn sôi nổi hưởng ứng cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh
chiến đấu" của Quân chủng, quyết tâm đánh thắng không quân đế quốc Mỹ ngay từ trận đầu.

Công tác chuẩn bị chiến đấu của toàn sư đoàn rất khẩn trương, bừng bừng khí thế. Bộ tư
lệnh sư đoàn nghiên cứu bố trí hợp lý đội hình, đưa những đơn vị có kinh nghiệm chiến đấu vào "ôm"
sát các mục tiêu quan trọng, hình thành những cụm hoả lực mạnh trên hướng chủ yếu.

Năm trung đoàn pháo phòng không (220, 212, 232, 233, 234) và tiểu đoàn độc lập 22 của
sư đoàn được triển khai cụ thể như sau:
Trung đoàn 220 (pháo 100 mm) bố trí bên hữu ngạn sông Hồng thuộc địa bàn huyện Gia
Lâm, có nhiệm vụ bảo vệ cầu Long Biên, cầu Đuống, sân bay Gia Lâm.

Trung đoàn 212 (pháo 57 mm) hình thành các trận địa chốt bảo vệ khu vực Yên Viên, trọng
tâm là cầu Đuống, bao gồm cả cầu cũ và cầu đường sắt mới.

Trung đoàn 232 (pháo 57 mm) có nhiệm vụ chủ yếu là bào vệ cầu Long Biên và sân bay
Gia Lâm.

Trung đoàn 233 (pháo 57 mm) bảo vệ cầu Long Biên và sân bay Gia Lâm.

Trung đoàn 234 (pháo 57 mm) bố trí thành những trận địa chốt bảo vệ nhà máy điện Yên
Phụ, khu Trung ương và cầu Long Biên.

Tiểu đoàn 22 (gồm 3 đại đội pháo 57 mm) bào vệ khu vực biến thế điện Đông Anh.

Ngày 22 tháng 10 năm 1967 Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn phòng không 361 họp kiểm tra
lại lần cuối, mọi công tác chuẩn bị cho đợt chiến đấu sắp tới và bàn biện pháp lãnh đạo thực hiện tư
tưởng chỉ đạo của Quân chủng đánh tiêu diệt và tiêu diệt lớn không quân Mỹ, bắn rơi tại chỗ nhiều
máy bay địch, bảo vệ vững chắc mục tiêu, hạn chế thương vong ở mức thấp nhất. Đồng thời Thường
vụ Đảng uỷ sư đoàn động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ quyết tâm đánh bại cuộc tiến công mới của
không quân Mỹ trong bất kỳ tình huống nào.

Cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn đã xác định và ý thức được niềm vinh dự tự hào được chiến
đấu bảo vệ thủ đô Hà nội, bảo vệ Trung ương Đảng và Bác Hồ. Toàn sư đoàn đã chuẩn bị chu đáo, sẵn
sàng chấp nhận cuộc chiến đấu quyết tử bảo vệ thủ đô Hà nội.

Ngày 23 tháng 10 năm 1967 đích thân tổng thống Johnson lệnh cho tập đoàn không quân
số 7 và lực lượng đặc nhiệm 77 đánh lại Hà nội sau hai tháng tạm ngừng.

Đây là đợt đánh lớn thứ năm của không quân Mỹ với quy mô lớn vào Hà nội kể từ khi phát
động cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Chúng đã huy động năm liên đội không quân chiến
thuật (hai liên đội của không quân, ba liên đội của hải quân) cho đợt đánh phá này.

Trong hai tháng ngừng đánh phá (từ 23 tháng 8 đến 23 tháng lo), 27 tốp máy bay trinh sát
gồm SR.71 (tầng cao), RF4-C (tầng trung), 147-C (tầng thấp) đã bay qua Hà nội và các vùng phụ cận.
Chúng đã 10 lần trinh sát cầu Long Biên, ba lần qua cầu Đuống và bốn lần qua sân bay Nội Bài.

Không quân địch phát hiện quân và dân Hà nội đã sửa chữa xong cầu Long Biên, cầu
Đuống, nhà máy điện yên Phụ đã được phục hồi, giao thông trên địa bàn Hà nội vẫn thông suốt.

Kế hoạch đánh phá của không quân Mỹ vào Hà nội đợt năm đã được hội đồng tham mưu
trưởng liên quân rà xét kỹ lưỡng, chúng phải hoãn đi hoãn lại tới chín lần.

Về phía ta, sau khi nghiên cứu lại toàn bộ các đường bay trinh sát của địch, Quân chủng dự
kiến những mục tiêu chủ yếu không quân Mỹ sẽ đánh phá trong đợt tới là cầu Long Biên, cầu Đống
và nhà máy điện. Vì vậy ngày 23 tháng 10 năm 1967, sau khi báo cáo Bộ Tổng tham mưu, Quân
chủng điều toàn bộ sư đoàn phòng không 367 đang ở khu vực Yên Viên về tăng cường cho khu vực
phía bắc cầu Long Biên. Các trận địa dự bị đều kín các đại đội pháo phòng không. Như vậy, lực lượng
trực tiếp bảo vệ cầu Long Biên tăng từ 11 đến 17 đại đội pháo. Cùng ngày 23 tháng 10, chấp hành
mệnh lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 điều tiểu đoàn 22 (gồm ba đại đội
pháo 37 mm) về tăng cường cho cấu Đuống. Lực lượng pháo tiểu cao trực tiếp bảo vệ cầu Đường lên
tới sáu đại đội 57 mm và bốn đại đội 37 mm đều của sư đoàn phòng không 361.

Mục tiêu đầu tiên của đợt đánh phá thứ năm vào Hà nội, không quân Mỹ nhằm vào sân bay
Nội Bài. Từ 15 giờ 30 đến 16 giờ 30 ngày 24 tháng 10, 136 lần chiếc máy bay của hai liên đội Tắc-ly,
Cò-rạt và hai tàu sân bay chia làm bốn đợt đánh phá dữ dội vào hai đầu đường băng, khu sơ tán máy
bay, đồng thời chế áp tối đa các trận địa pháo phòng không bằng bom bi và rốc-két.

Các lực lượng phòng không - không quân tích cực đánh trả địch. Tham gia bắn chủ yếu là
các tiểu đoàn hoả lực tên lửa và sư đoàn phòng không 365.

Cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 liên tục ngồi trên mâm pháo chưa có điều kiện
nổ súng vì cự ly quá xa.

Đêm 24 tháng 10 năm 1967 Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361
họp phiên bất thường. Sau khi thông báo vắn tắt tình hình đánh 'phá của địch và kết quả chiến đấu của
các đơn vị bạn, Thường vụ Đàng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn nhận định: Sau khi đánh sân bay Nội Bài
để loại trừ không quân ta, địch sẽ đánh vào các mục tiêu trong Hà nội. Do vậy, sư đoàn phải chuẩn bị
thật.tốt để sẵn sàng đánh bại các đợt đánh phá của địch. Cuộc họp ngắn gọn, các nội dung được thông
báo ngay cho các đơn vị. Trung đoàn trưởng các trung đoàn 220, 212, 233, 234, 232, trực tiếp cầm
máy nhận lệnh của sư đoàn trưởng Nguyễn Quang Bích. Đồng chí sư đoàn trưởng chỉ thị cho các đơn
vị kiểm tra một lần nữa công tác chuẩn bị chiến đấu đúng giờ sáng ngày 25 tháng 10 tất cả các đơn vị
phải ở vị trí sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

Không khí chuẩn bị sôi sục cả đêm 24 tháng 10. Ngày 25 tháng 10 năm 1967 hai liên đội
không quân ở Tắc-ly, Cò-rạt (Thái Lan) và ba tàu sân bay Co-ran-xi, Con-sten-lây-sơn và ô-rít-ka-ny
chia làm bảy đợt vào đánh sân bay Nội Bài(13).

Cuộc chiến đấu bảo vệ sân bay Nội Bài của bộ đội phòng không diễn ra hết sức ác liệt.

Đến 16 giờ, trong lúc các tốp máy bay của hải quân vào đánh sân bay Nội Bài thì 56 lần
chiếc(14) của hai liên đội Tắc-ly và Cò-rạt chia làm hai đợt vào đánh cầu Long Biên từ hai hướng đông
bắc và tây nam.

Thủ đoạn của địch rất xảo quyệt. Chúng sử dựng các tốp nghi binh bay lượn ở vòng ngoài
phóng tên lửa Sơ-rai vào các đài radar pháo và đài điều khiển tên lửa. Chúng triệt để lợi dụng các máy
phát nhiễu trong đội hình và ngoài đội hình để vào công kích.

Đợt một, trung đoàn 220 đã chủ động đánh xa khi địch còn đang bay bằng. Ở vòng trong,
trung đoàn 232 bắn cháy một F-105 D ngay trên đỉnh cầu Long Biên.

Đợt hai, chúng bất ngờ vào đánh cắp từ hướng tây nam, các lực lượng phòng không đã bỏ
sót mục tiêu, không quản lý được hướng này. Các tốp F105 đã bỏ bom trúng cầu. Hai nhịp số 5 và số
9 bị sập. Đây là hai nhịp giữa dòng sông, khi bị hỏng rất khó sửa chữa.
Trong ngày toàn quân chủng bắn rơi tám chiếc, sư đoàn phòng không 361 bắn rơi một
chiếc (do trung đoàn 232).

Ngày 25 tháng 10 năm 1967 là một ngày chiến đấu rất căng thẳng. Địch sử dụng 164 lần
chiếc đánh hai mục tiêu lớn là sân bay Nội Bài và cầu Long Biên. Các đơn vị phòng không chiến đấu
cực kỳ dũng cảm nhưng cả hai mục tiêu đều bị tổn thất.

Buổi tối sau khi rút kinh nghiệm, Bộ tư lệnh sư đoàn nhắc nhở trung đoàn 212 và tiểu đoàn
22 chú ý bảo vệ cầu Đuống, trung đoàn 234' chú ý nhà máy điện Yên Phụ và khu Trung ương. Quân
chủng nhận định địch sẽ đánh nhà máy điện Yên Phụ, vì vậy lệnh cho sư đoàn phòng không 367 về
triển khai từ Nhật Tân lên Bưởi góp thêm lưới lửa bảo vệ nhà máy điện.

Cả đêm 25 tháng 10 năm 1967 quân và dân Hà nội nói chung và sư đoàn phòng không 361
nói riêng ráo riết chuẩn bị chiến đấu. Cán bộ, công nhân nhà máy điện yên Phụ đã long trọng làm lễ
tuyên thệ và lấy máu ký vào lá cờ quyết tử bảo vệ dòng điện của Thủ đô (15).

Sát với nhận định của Quân chủng, sáng ngày 26 tháng 10 năm 1967 địch tổ chức đánh nhà
máy điện Yên Phụ. Đây là lần thứ năm không quân Mỹ đánh lớn vào nhà máy điện (16).

11 giờ 30 phút, 20 lần chiếc gồm F.8, F4, A4-E của tàu sân bay Ô-rít-ka-ny chia làm ba đợt
vào đánh nhà máy điện.

Trung đoàn tên lửa 236 bảo vệ Hà nội ở hướng tây nam, đúng hướng tiến công của địch đã
phát huy hoả lực đánh tập trung, toàn trung đoàn bắn rơi năm máy bay địch.

Vượt qua lưới lửa vòng ngoài, các tốp cường kích của hạm đội Oriscany bay qua khu vực
đồi Bù. Chúng chia thành hai hướng:

- Hướng thứ nhất bay vòng qua Chương Mỹ, Hoài Đức, Từ Liêm.

- Hướng thứ hai bay qua Thanh Oai, La Khê, Từ Liêm.

Cà hai hướng đều nhằm vào nhà máy điện Yên Phụ phóng bom và bắn tên lửa. Hoả lực của
hai trung đoàn phòng không 234 và 241 làm chúng không dám sà xuống thấp. Thêm vào đó, màn khói
dày đặc của đại đội 92 bộ đội hoá học và tự vệ nhà máy đã che mắt bọn giặc lái khiến chúng không
thể điều khiển bom rơi trúng mục tiêu. Trong trận này, ngoài số bom phá, địch sử dụng đến 12 chiếc
A.4-C phóng 12 quả bom Walleye.

Trong lúc các đơn vị đang tập trung đánh máy bay mang bom Walleye thì hai chiếc F.8 vào
đánh trận địa pháo. Chúng bay theo trục sông Hồng qua cầu Long Biên và từ hướng đông bắc lén vào
ném bom xuống đại đội 33 trung đoàn 234 ở trận địa Nghĩa Dũng, cách nhà máy điện 600 mét về phía
bắc.

Từ lúc vào trận, đại đội trưởng Nguyễn Huy Cành đã chỉ huy đơn vị bắn bốn điểm xạ tiêu
diệt một A.4. Vừa lúc phát hiện hai chiếc F.8 thì bom phá đã rơi xuống trận địa. Hầm pháo khẩu đội 5
bị trúng bom, cả khẩu đội bị thương vong.

Ở khẩu đội 2, pháo thủ số 1 Nguyễn Văn Tuấn đang điều khiển máy tầm thì mảnh bom lia
trúng cánh tay trái. Một mành khác trúng ngực nhưng anh vẫn ráng sức nắm chặt vòng tay quay điều
khiển pháo cho khẩu đội bắn. Anh hy sinh khi khẩu đội bắn hết điểm xạ thứ tư tay vẫn nắm chặt vòng
quay tầm. Một mảnh bom đập vào lá chắn bật ra làm pháo thủ số 5 Nguyễn Văn Tôn bị thương ở cánh
tay trái. Khẩu đội trưởng Nguyễn Đạt Đại bị thương ở nánh trái. Tay trái Đại kẹp chặt vết thương cho
máu khỏi trào ra, tay phải vẫn giương cao lá cờ chỉ huy khẩu đội.

Ở giữa trận địa, trắc thủ máy đo xa Trần Quang Đắc bị thương ở mắt. Sau khi sơ cứu băng
bó, Trần Quang Đạc vẫn dán mắt vào ống kính máy đo xa, miệng dõng dạc thông báo phần tử máy
bay địch cho đại đội nổ súng. Các chiến sĩ pháo thủ đại đội 33 đã chiến đấu với tinh thần quyết tử để
giữ vũng dòng điện của thủ ~ đô Hà nội.

Trận đánh diễn ra hết sức dữ dội. Bom đạn địch rơi xuống một vùng rộng lớn xung quanh
nhà máy điện. Phố Cửa Bắc, chợ Châu Long, phố Nguyễn Trường Tộ, đường Quán Thánh, phố Hòe
Nhai… đâu đâu cũng bị bom đạn địch tàn phá.

Gần kết thúc trận đánh, tiểu đoàn 61 trung đoàn tên lửa 286 từ phía đông nam thành phố
Hà nội đã quay về đánh địch ngay trên đỉnh mục tiêu bảo vệ, bắn trúng chiếc A4-E do tên thiếu tá
John Sidny McCain đang lao xuống phóng bom vào nhà máy điện. Chiếc máy bay bị quả đạn tên lửa
của tiểu đoàn 61 bắn đuổi từ độ cao 4.500 mét đến 1.800 mét thì trúng đạn cứ thế đâm sầm xuống bể
xỉ của nhà máy điện Yên Phụ.

Trận thắng giòn giã của tiểu đoàn 61 đã kết thúc trận đánh bào bệ nhà máy điện Yên Phụ.
Lúc đó là 11 giờ 49 phút.

Ngày 26 tháng 10 năm 1967 là một ngày thắng lớn của quân và dân Hà nội. Mười chiếc
máy bay Mỹ bị hạ tại Thủ đô. Sư đoàn phòng không 361 bắn rơi 4 chiếc. Riêng trung đoàn pháo
phòng không 234, trung đoàn chốt bảo vệ nhà máy điện xứng đáng là đơn vị Anh hùng, dũng cảm
chiến đấu, lập công xuất sắc bắn rơi hai chiếc A.4. Nhà máy điện Yên Phụ bị hư hại không đáng kể.
Lò máy vẫn bình thường. Cán bộ công nhân nhà máy đã kịp thời khắc phục hậu quả trận đánh vận
hành nhà máy. Đêm 26 tháng 10 năm 1967, 36 phố phường Hà nội vẫn sáng bừng ánh điện.

Trận đánh ngày 26 tháng 10 năm 1967 là một trận đánh then chốt của các lực lượng phòng
không bảo vệ Hà nội trong đợt tác chiến tháng 10 nam 1967. Trận chiến đấu kiên cường bảo vệ nhà
máy điện của quân và dân Thủ đô nói chung và sư đoàn phòng không 361 nói riêng đã buộc không
quân Mỹ phải chững lại. Những thiệt hại liên tiếp trong ba ngày qua khiến địch phơi suy tính đến khả
năng bỏ dở kế hoạch đánh phá.

Cuộc chiến đấu giữ vững dòng điện của Hà nội là kết quả của sự nỗ lực vượt bậc của nhiều
lực lượng, nhiều ngành, nhiều cấp. Nhưng trọng trách đánh địch trên không có sự đóng góp to lớn của
Quân chủng phòng không - không quân, trong đó có vai trò của sư đoàn phòng không 361.

Sau trận tiến công của máy bay hải quân vào nhà máy điện Yên Phụ thất bại, tàu Ô rít-ka-
ny phải rời vịnh Bắc Bộ về Su-bíc sửa chữa và bổ sung lực lượng. Ngày 27 tháng 10 năm 1967 hải
quân địch giảm hẳn khả năng đánh phá. Đế quốc Mỹ phải giao cho hai liên đội không quân ở Tắc-ly
và Cò-rạt vào đánh phá cầu Đuống.

Đợt đầu vào lúc 8 giờ, 32 lần chiếc của liên đội Tắc-ly vào đánh cấu Đuống và khu vực
phía bắc cầu Long Biên.
Các trung đoàn tên lừa 236, 274, 257, 278 đã vận dụng tốt phương pháp, bắn mục tiêu trên
nền nhiễu dải bẻ gãy đợt tiến công của địch. Trong vòng một phút, sáu quả đạn của ba tiểu đoàn hoả
lực bắn vào đội hình mật tập của tốp F105 khiến cho chiếc bị trúng đạn, chiếc thì bị thương, phá vỡ
đội hình của địch. Cầu Đuống vẫn an toàn.

Đợt hai bắt đầu từ 8 giờ 20 phút. Các tốp máy bay của liên đội Cò-rạt vừa lao vào đã vấp
hoả lực tên lửa. Tiếp đó trung đoàn 220 (pháo 100 mm) của sư đoàn đã nổ súng bắn chặn từ vòng
ngoài. Đại đội 4 bắn rơi một F105 bằng phần tử máy đo xa.

Các trung đoàn pháo phòng không 232, 212 liên tiếp lập công. Riêng trung đoàn 212 xứng
đáng với danh hiệu "Trụ thép phía đông". Gắn bó với cầu Đuống gần hai năm, trung đoàn đã nắm
được quy luật đánh phá của địch. Sau lần bị thương vong nặng hồi tháng 8, ban chỉ huy trung đoàn đã
phục hồi sức chiến đấu cho đại đội 73.

Trung đoàn bố thành thành hai cụm lớn:

Cụm một gồm bốn đại đội (71, 73, 74,75) ở phía bắc sông Đống, cụm hai gồm đại đội (72,
76, 70) ở phía nam. Các trận địa đều chốt ở những vị trí thích hợp có khả năng đánh được cả bốn
đường bay khi địch vào đánh cầu.

Trước khi bước vào đợt chiến đấu, đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ kiệm Tư lệnh Quân
chủng xuống kiểm tra đơn vị thấy thời gian vào cấp một và thao tác của pháo thủ bị kéo dài. Rõ ràng
pháo đã nặng nề vì các phụ kiện, người nặng nề bởi áo giáp rơm. Đống chí trao đổi với trung đoàn
trưởng Nguyễn Huy Hùng và chính uỷ Doãn Huy Chu, tìm cách khắc phục. Đảng uỷ trung đoàn 212
lập tức họp và xác đính quyết tâm lãnh đạo đơn vị bỏ áo giáp rơm, tháo bỏ các phụ kiện năng nề trên
pháo. Bộ đội luyện tinh đánh giỏi sẽ tiêu diệt được địch, bảo vệ được mình.

Vào đợt chiến đấu tháng 10 năm 1967, toàn bộ trung đoàn đã tháo bỏ các phụ kiện trên
pháo, cởi bỏ áo giáp rơm trên người, ngẩng cao đầu đánh địch.

Đợt tiến công thứ hai của liên đội Cò-rạt xảo quyệt khôn khéo hơn. Chúng vừa nghi binh,
vừa đánh vào trận địa pháo và cầu.

Một tốp F-105 D xuất hiện ở hướng bắc. Từ sở chỉ huy, trung đoàn trưởng Nguyễn Huy
Hùng lệnh cho các đại đội chuẩn bị đánh đường bay một. Đại đội trưởng đại đội 74 Nguyễn Văn
Quyên lệnh cho toàn đại đội lắp phần tử đánh bồ nhào. Toàn đại đội ngắm vào chiếc thứ hai bên trái
nổ súng đồng loạt. Chiếc F.1O5-D trúng đạn bốc cháy dữ dội rơi về hướng tây nam.

Bị pháo phòng không các cỡ đánh trả quyết liệt lại mất tên chỉ huy, liên đội Cò-rạt phải kết
thúc trận đánh sớm hơn dự định. Cầu Đuống được bảo vệ an toàn.

1 giờ 52 phút máy bay hải quân Mỹ từ hướng đông nam bay dọc theo trục sông Hồng vào
ném bom xuống bến chuyển tải Khuyến Lương. Rất nhiều bom bi, bom phá, bom nổ chậm rơi xuống
khu vực này. Trung đoàn pháo phòng không 220 của sư đoàn phòng không 361 đã chủ động đánh tốt.
Toàn trung đoàn (các đại đội 1, 2, 3, 4, 5, 6) đều nổ súng đánh địch phá vỡ đội hình của chúng từ vòng
ngoài. Đại đội 6 bắn tốt hơn cả, được sư đoàn công nhận hạ một A.4.
Đợt thứ tư diễn ra vào lúc 16 giờ 15 phút. Các máy bay của không quân vào đánh khu vực
ga Giáp Bát, đoàn xe Bộ Nội thương khu vực Tương Mai và nhà máy cơ khí Quang Trung. Lần này
các đơn vị bạn đã nổ súng đánh địch.

Ngày 27 tháng 10 năm 196 7 là một ngày thắng lớn. Các lực lượng phòng không Hà nội
bắn rơi chín chiếc. Sư đoàn phòng không 361 bắn rơi hai chiếc. Cầu Đuống được an toàn. Các tiểu
đoàn tên lửa đánh thắng liên tiếp. Thủ đoạn dùng nhiễu QRC.160 của không quân Mỹ đã bị bộ đội tên
lửa tìm ra cách khắc phục đánh có hiệu quả.

Ngày 28 tháng 10 năm 1967 - ngày thứ năm trong đợt đánh tập trung quy mô lớn của
không quân Mỹ vào Hà nội, chúng chỉ huy động được một đợt đánh phá. 24 lần chiếc gồm F105 và
F4 của liên đội Tắc-ly vào đánh cầu Đuống bị trung đoàn pháo phòng không 212 bắn rơi hai chiếc.
Khác với trận đánh ngày 27 tháng 10, chúng tập trung phần lớn lực lượng đánh vào các trận địa pháo,
chỉ để lực lượng nhỏ phóng bom vào cầu. Hai đại đội 72 và 76 của trung đoàn pháo phòng không 212
(pháo 57 mm), đại đội 7 của trung đoàn pháo phòng không 220 (pháo 100) và hai tiểu đoàn 21 và 22
(pháo 37 mm) đều bị địch ném bom vào trần địa. Vì vậy, các đơn vị không phát huy được hết hoả lực
chán đánh các tốp vào đánh cầu. Cầu Đuống bị sập một nhịp phía bờ nam.

Trong năm ngày từ 24 đến 28 tháng 10 năm 1967 không quân Mỹ đã huy động gần 500 lần
chiếc của ba tàu sân bay, ba liên đội ở Cò-rạt, Tắc-ly, U-bon (Thái Lan) vào đánh Hà nội. Đây là đợt
huy động không quân chiến thuật lớn nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc
Mỹ và cũng là nấc thang cao nhất đánh thẳng vào các mục tiêu chủ yếu của thủ đô Hà nội.

Các lực lượng phòng không - không quân đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mưu trí bắn rơi
45 máy bay địch. Sư đoàn phòng không 361 đã bắn rơi chín chiếc.

Do bị thiệt hại đặng nề địch không thề đánh tiếp. Bước leo thang quy rhô lớn nhất của
không quân Mỹ vào Hà nội không thể kéo dài hết một tuần như kế hoạch ban đầu. Âm mưu gây sức
ép tối đa để buộc ta chấp nhận các điều kiện thương lượng của chúng không thực hiện được.

Theo dõi sát từng ngày chiến đấu của quân và dân Hà nội, ngày 27 tháng 10 năm 1967 Chủ
tịch Hỗ Chí Minh gửi thư khen đồng bào và chiến sĩ Thủ đô. Người viết: "Bác rất vui lòng khen ngợi
các lực lượng vũ trang, đổng bào và cán bộ Hà nội đã liên tiếp chiến thắng vẻ vang, 'trong bốn ngày
bắn rơi 30 máy bay Mỹ, bất sống nhiều giặc Mỹ lái máy bay. Một lần nứa giặc Mỹ lại liều lĩnh đánh
phá Thủ đô thân yêu của chúng ta. Chúng đã bị quân Và dân Hà nội anh hùng trừng trị đích đáng".

Cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 cùng với nhân dân Thủ đô phấn khởi đó.ri nhận
thư khen của Bác. Tiếp đó, đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân chủng chuyển lời biểu
dương của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đến sư đoàn.

Ngày 29 tháng 10 năm 1967, mặc dù tình hình chiến đấu còn rất khẩn trương nhưng Đảng
uỷ Quân chủng đã triệu tập hội nghị bất thường và nhất trí đánh giá: Các binh chủng, các đơn vị trong
khu vực Hà nội đã chiến đấu dũng cảm, mưu trí cùng với quân và dân Thủ đô tiêu diệt được nhiều
máy bay địch tại chỗ, bất sống nhiều giặc lái, bảo vệ được một số mục tiêu, giành được thắng lợi liên
tiếp có ý nghĩa lớn về quân sự, chính trị làm cho quân và dân cả nước nức lòng phấn khởi. Đảng uỷ
Quân chủng cũng chỉ ra những khuyết điểm của lực lượng phòng không bảo vệ Thủ đô trong đó có sư
đoàn phòng không 361. Đó là: mức độ hoàn thành nhiệm vụ chưa cao, chưa toàn diện, các đơn vị tiến
bộ chưa đồng đều. Khả năng chi.ấn đấu của các binh chủng, các sư đoàn chưa được phát huy đầy đủ
để tiêu diệt địch lớn hơn, bảo vệ mục tiêu tốt hơn, còn để địch đánh hỏng cầu Long Biên ngay từ đợt
đầu, sân bay Nội Bài hỏng nặng và thiệt hại một số máy bay.

Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 đã tiếp thu tinh thần nghị
quyết của Đảng uỷ Quân chủng và quán triệt đến toàn thể cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn.

Đồng chí Văn Giang Chính uỷ sư đoàn đã trực tiếp hướng dẫn các trung đoàn tổ chức học
tập thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quân dân Hà nội và thư khen của Quân uỷ Trung ương
đối với bộ đội phòng không - không quân.

Đồng chí Sư đoàn trưởng chỉ thị cho các trung đoàn khẩn trương rút kinh nghiệm đợt chiến
đấu tử 24 đến 28 tháng 10, nhanh chóng bổ sung vào công tác chuẩn bị và thực hành trước mắt. Đồng
chí Tham mưu trưởng sư đoàn cử các trợ lý của phòng tham mưu như Nguyễn Huy Trưng, Nguyễn
Cấp, Đoàn Khuê, Đoàn Ngọc Thiệt xuống các đơn vị cùng rút kinh nghiệm với bộ đội. Việc vận dụng
các quy tắc xạ kích đánh máy bay bổ nhào của các trung đoàn 212, trung đoàn 234 được phổ biến
rộng rãi đến với các đại đội pháo tiểu cao trong toàn sư đoàn.

Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 đã quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn: Mặc
dù đã thất bại trong đợt leo thang cao nhất vào Hà nội, nhưng âm mưu của đế quốc Mỹ vẫn chọn Hà
nội làm nơi đọ sức chính để gây sức ép mạnh hơn nữa đối với nhân dân ta nên chúng sẽ còn đánh tiếp
và ác liệt hơn nữa. Vì vậy mọi công tác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu bảo vệ Hà nội cắn được các cấp
làm khẩn trương, ti mỉ và sẵn sàng chiến đấu cao hơn nữa.

Đồng thời với việc rút kinh nghiệm, các trung đoàn đã lo củng cố công sự, bổ sung quân
số, bổ sung đạn dược đủ cơ số chiến đấu. Toàn bộ vũ khí khí tài được các nhân viên kỹ thuật kiểm tra
hiệu chỉnh với tinh thần: chuẩn xác là yêu cầu cao nhất của công tác đảm bảo kỹ thuật phục vụ chiến
đấu.

Sau đợt chiến đấu tháng 10 năm 1967, Quân chủng điều chỉnh lại đội hình bảo vệ Hà nội.
Sư đoàn chỉ đạo ba trung đoàn pháo tiểu cao 234, 232, 233 xây dựng các cụm chốt bảo vệ nhà máy
điện và các cụm pháo 57 ở hai đầu cầu Long Biên.

Các sư đoàn phòng không 367, 365 đều có sự dịch chỉnh đội hình. Toàn bộ sư đoàn phòng
không 367 chuyển sang hữu ngạn sông Hồng. Sư đoàn 365 điều trung đoàn 260 (pháo 100 mm) từ sân
bay Nội Bài về Yên Viên - cầu Đuống để phối hợp với trung đoàn 220 (pháo 100) của sư đoàn 361 để
chặn đánh một số đường bay của địch vào đánh cầu Long Biên và cầu Đuống từ hướng Tam Đảo
xuống.

Theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu, Quân khu 3 điều trung đoàn pháo phòng không
256 pháo 100 về bố trí ở phía nam Hà nội trực thuộc sự chỉ huy của sư đoàn phòng không 361. Quân
khu Việt Bắc điều trung đoàn pháo phòng không 272 về khu vực Trung Giã đón đánh các đường bay
từ hướng bắc xuống Hà nội. Đây là thời kỳ lực lượng phòng không bảo vệ Hà nội có quân số cao nhất
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hầu hết các trung đoàn pháo phòng không, trung đoàn
tên lửa phòng không tinh nhuệ đều được đưa về Hà nội.
Tổng tham mưu trưởng không quân Mỹ Mắc Jô-nen đã phải thừa nhận: "Hà nội - Hải
Phòng là nơi tập trung các cỡ súng phòng không mà không ta chưa hề thấy trong lịch sừ phòng không
của bất kỳ một thành phố hoặc một khu vực nào trên thế giới". Báo chí phương Tây bình luận: "Ở Hà
nội có thể bước trên nòng súng phòng không".

Sau đợt đánh phá tháng 10 năm 1967, tinh thần bọn giác lái Mỹ bắt đầu sa sút. Trong các
liên đội ở Thái Lan xuất hiện hiện tượng cáo ốm để nghỉ bay. Một số tên xin chuyển sang làm nhiệm
vụ ở mặt đất. Khi đi đánh phá, bọn giặc lái không hăng hái bay vào Hà nội như trước. Chúng ngại "toạ
độ lửa", ngại "khu 6"(17). Tâm lý chung của bọn giặc lái là mong cho chiến tranh sớm kết thúc, hoặc hy
vọng sống sót trở vê thì làm đơn xin chuyển qua hàng không dân sự để khỏi phải sang Việt nam lần
thứ hai.

Từ những thiệt hại của đợt đánh phá tháng 10 năm 1967, không quân Mỹ quyết định đưa
vào sừ dụng những trang bị kỹ thuật mới.

Chúng thiết lập ba đài radar dẫn đường cho không quân vào đánh phá miền Bắc khi thời
tiết xấu ở Đà Nẵng, Na Khom Pha Nom và Pa Thí (Lào). Chúng tiếp tục đưa vào sử dụng các loại tên
lửa không đối không, không đối đất, trang bị các máy phát nhiễu có công suất lớn hơn loại máy phát
nhiễu QRC.160 đang sử dụng.

Khắc phục tình trạng thiếu máy bay, Mỹ điều máy bay từ Nhật sang các căn cứ ở Thái Lan
và các tàu sân bay. Các trường huấn luyện ở Mỹ phải bổ sung gấp rút cho số giặc lái thiếu hụt do thiệt
hại trong các phi vụ bay vào Hà nội.

Sau tám ngày bổ sung và chuẩn bi, ngày 5 tháng 11 năm 1967 không quân Mỹ lại tổ chức
đánh phá Hà nội. Đây là đợt đánh xen kẽ giữa hai đợt lớn.

Chiều 5 tháng 11 năm 1967, phát hiện sân bay Nội Bài đã sửa chữa xong, gần 50 lần chiếc
máy bay của không quân vào đánh tiếp hai đầu cất cánh của sân bay. Sư đoàn phòng không 365 bắn
rơi ba máy bay Mỹ, sân bay lại hỏng tiếp. Trong lúc đó một máy bay trinh sát bay vào Hà nội đã bị sư
đoàn phòng không 361 bắn rơi.

Ngày 6 tháng 11 năm 1967 địch chuyển trọng tâm đánh phá vào Hà nội. Lần này chúng
đánh các chân hàng nhằm triệt phá kho tàng của ta ở mức độ cao.

Đợt một, 20 lần chiếc đánh vào trạm biến thế Đông Anh.

Đợt hai, 26 lần chiếc đánh vào cầu Đuống.

Chúng ném nhiều bom phá, bom bi trên một diện rộng. Từ nhà máy gạch chịu lửa, nhà máy
hoá chất Đức Giang đến xã Yên Thường vòng xuống khu vực Trâu Quỳ, Cầu Bây, xưởng may 10,
bom đạn địch tàn phá nặng nề các cơ sở kinh tế và khu dân cư ngoại thành Hà nội.

Sư đoàn phòng không 361 chủ động đánh địch rất đĩnh đạc. Trung đoàn pháo 220 bố trí ở
khu vực Gia Lâm do chuẩn bị tốt khâu hiệu chỉnh kỹ thuật cả sáu đại đội pháo 100 mm đều đánh được
bằng khí tài. Trung đoàn trưởng Dương Bửu giao nhiệm vụ cho các đại đội khi các tốp F-105 D đang
phân tốp ở phía nam dãy Tam Đảo. Đại đội 1 ở trận địa Gia Thượng bắn bốn loạt pháo 100 mm bằng
phần tử tổng hợp hạ tại chỗ một F-105 D.
Trung đoàn pháo phòng không 212 kiên cường bám các trận địa chốt ở quanh khu vực cầu
Đuống, Yên Viên. Đại đội 78 ở trận địa Tế Xuyên bắn bằng phần tử kính ngắm trực tiếp tiêu diệt một
F105 từ hướng Tam Đảo xuống đánh cầu Đuống khi chúng còn bay bằng.

Trong ngày tiểu đoàn 62 trung đoàn tên lửa 236 đã lập công xuất sắc, bắn rơi tại chỗ chiếc
máy bay thứ 2.500 của miên Bắc. Mảnh xác chiếc máy bay này được đổng chí Trần Duy Hưng, Chủ
tịch uỷ ban hành chính thành phố Hà nội gửi sang thành phố Lê-nin-grát làm quà tặng nhân dịp kỷ
niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười.

Khi được tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen ngợi bộ đội tên lửa và sáng kiến gửi tặng
nhân dân Liên Xô mảnh xác máy bay thứ 2.500 ở Hà nội. Người nói: đó là món quà thiết thực nhất.

Từ ngày 10 tháng 11 năm 1967 miền Bắc bắt đầu chịu ảnh hưởng của một đợt gió mùa
đông bắc. Thời tiết xấu làm cho hoạt động của không quân Mỹ giảm hẳn. Nhưng khi thời tiết tốt lên
chúng lập tức tổ chức trinh sát.

Tranh thủ thời gian này Bộ tư lệnh sư đoàn phòng không 361 chỉ thị cho các trung đoàn
tiếp tục rà soát lại phương án chiến đấu và chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh địch tại Hà nội.

Ngày 16 tháng 11 năm 1967 kết thúc đợt gió mùa đông bắc đầu mùa, thời tiết ở Hà nội ấm
lên. Vào lúc 16 giờ 5 phút, 44 lần chiếc máy bay của các liên đội không quân Mỹ từ Thái Lan bay vào
tiếp cận ngoại vi Hà nội. Chúng phân thành nhiều tốp nhỏ, bay lượn lởn vởn ở vòng ngoài phóng
nhiều tên lửa Sơ-rai vào các đài điều khiển tên lửa, đài ra 'đa pháo và các điểm dân cư trong thành
phố. Lần đầu tiên chúng cho máy bay trinh sát điện tử EB.66 váo sâu cách Hà nội 60 ki-lô-mét để gia
tăng cường độ nhiễu ngoài đội hình bổ trợ cho nguồn nhiễu QRC.160 phát từ các máy bay cường kích
gây khó khăn cho các lực lượng phòng không. Nhiều đơn vị báo cáo lên sư đoàn nhiễu rất nặng và
dạng nhiễu trên màn hiện sóng rất phức tạp.

Các trung đoàn thuộc sư đoàn phòng không 361 chưa có điều kiện xạ kích nhưng phải liên
tục canh trực ở trận địa nên bộ đội rất căng thẳng.

Buổi tối sau khi giao ban Sư đoàn trưởng chỉ thị cho các trung đoàn: tiếp tục theo dõi nắm
chắc các hoạt động của địch. Thời tiết tốt, địch sẽ đánh đợt mới vào Hà nội, quy mô sử dụng lực
lượng lớn nhất cũng chỉ bằng đợt tháng 10 vừa qua, nhưng thủ đoạn sẽ xảo quyệt hơn. Các đơn vị
phải sẵn sàng chiến đấu tốt hơn những ngày vừa qua.

Ngày 17 tháng 11 năm 1967, trong khi lực lượng máy bay của hải quân vào đánh Cẩm
Giàng và đường số 5 thì 44 lần chiếc máy bay của không quân vào đánh Hà nội.

Chúng sử dụng nhiều tốp F4 bay lượn vòng ngoài hoả lực của ta, vừa nghi binh vừa phóng
tên lửa bừa bãi vào các địa điểm như trường đại học Bách khoa, phố Nguyễn Công Trứ, khu Ba Đình.

Đợt một hơn 20 lần chiếc F105 và F4 từ hướng tây nam theo trục đường số 6 từ Xuân Mai
đến phía nam huyện Thanh Oai. Khi đến Thường Tín chúng nâng độ cao bay theo trục sông Hồng lên
phía bắc, đến đỉnh đầu Viện Quân y 108 chúng ngoặt trái bổ nhào ném bom vào sân bay Bạch Mai từ
hướng đông bắc.
Đợt hai, hơn 20 lần chiếc gồm F105 và F4 tiếp cận Hà nội theo hướng khác. Từ hướng tây
nam vào đến Xuân Mai chúng bay sang Quốc Oai, Đan Phượng vòng lên Chém, Xuân Tảo rồi lấy nhà
thờ Nam Đồng làm điểm cắt bom cho rơi vào sân bay Bạch Mai từ hướng tây bắc.

Các lực lượng phòng không Hà nội hoàn toàn chủ động, nhưng thực hành xạ kích khó
khán. Trung đoàn tên lửa 236 ở hướng tây nam, đúng hướng vào của địch nhưng lúng túng trước thủ
đoạn mới vừa cơ động đường bay, vừa phân tán đội hình của địch nên không tập trung được hoả lực
vào tiêu diệt từng tốp, khiến hiệu suất chiến đấu thấp. Chỉ có tiểu đoàn 61 bắn rơi tại.chỗ F105.

Sư đoàn phòng không 361 cũng lúng túng trong khi thực hành xạ kích. Sở chỉ huy trung
đoàn 220 phán đoán địch sẽ đánh cầu Long Biên, nên khi các đơn vị báo cáo bị nhiễu không bắt được
mục tiêu đã cho dựng màn đạn trên đỉnh cầu Long Biên, trong khi đó địch bổ nhào đánh sân bay Bạch
Mai. Riêng trung đoàn pháo phòng không 233 có đại đội 6 đánh đúng các tốp vào đánh sân bay Bạch
Mai, nhưng phần tử bắn không chính xác nên không tiêu diệt được địch. Trung đoàn pháo phòng
không 210 của sư đoàn phòng không 367 trực tiếp bảo vệ sân bay Bạch Mai đã không hoàn thành
nhiệm vụ vì phán đoán hướng bay của địch không đúng, để lỡ thời cơ thao tác.

11 giờ 55 phút, máy bay hải quân vào đánh cầu phao Khuyến Lương và hai bờ nam, bắc
bến chuyển tải Khuyến Lương. Hơn 50 lần chiếc gồm F.8, A.4, F4 thay nhau rải bom bi, bom phá,
bom nổ chậm, bom từ trường trên một diện tích rộng, nhằm gây khó khăn chầ ta trong việc phục hổi
sửa chữa.

Đợt này, các lực lượng phòng không đánh có tiến bộ. Các trung đoàn tên lửa bắn rơi năm
chiếc A.4. Trung đoàn pháo phòng không 232 do trung đoàn trưởng Nguyễn Công Bảy chỉ huy đã tập
trung hoả lực toàn trung đoàn bắn rơi một A.4.

Ngày 18 tháng 11 năm 1967 địch huy động 36 lần chiếc máy bay của không quân vào đánh
Hà nội. Nhưng hai biên đội không quân cửa ta đã bay lên đánh địch phá vỡ đội hình của chúng từ
vòng ngoài.

Chúng liên tiếp bay vào đánh sân bay Nội Bài. Ba trung đoàn tên lửa 274, 236, 257 đã tập
trung hoả lực đánh dồn dập, đánh tiêu diệt lớn không quân địch. Trong vòng 3 phút, sáu tiểu đoàn hoả
lực đã bắn 13 quả đạn tiêu diệt 4 chiếc F-105 D, trong đó có ba chiếc rơi tại chỗ.

Đây là trận đánh tập trung điển hình của Binh chủng Tên lửa trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứa nước. Với trận đánh này, nghệ thuật tác chiến phòng không đã có bước phát triển mới. Trận
đánh thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo: tập trung cao độ hoả lực để đánh tiêu diệt tốp máy bay chủ yếu trên
đường bay chủ yếu của địch là hoàn.toàn đúng đắn.

Ngày 18 tháng 11 năm 1967 còn là ngày thắng lợi của nghệ thuật hiệp đồng nhiều lực
lượng, nhiều binh chủng tham gia chiến đấu bảo vệ yếu địa Hà nội.

Do bị thiệt hại nặng sáng ngày 18 tháng 11 nên buổi chiều không quân Mỹ không thể tổ
chức đánh ga Hà nội như kế hoạch đã định.

Chưa cam chịu thất bại, ngày 19 tháng 11 năm 1967 không quân Mỹ tiếp tục đánh Hà nội,
Hải Phòng. Chúng huy động trên 120 lần chiếc nhưng chỉ có hai đợt vào Hà nội.
Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương phát huy sức mạnh tối đa của các binh chủng, các sư
đoàn đánh bại đợt đánh phá mới của địch.

Buổi sáng 19 tháng 11, từ sở chỉ huy sư đoàn đồng chí Sư đoàn trưởng thông báo kết quả
chiến đấu ngày 18 và nhắc nhở các đơn vị bình tĩnh, đánh đúng phương án tác chiến.

8 giờ sáng, 36 lần chiếc máy bay của không quân gồm F105 và F4 chia làm hai đợt vào
đánh cầu Đuống, Yên Viên và ga Dục Nội.

Thông thường địch vào Hà nội từ hướng Tam Đảo. Lần này để đạt yếu tố bất ngờ, chúng sừ
dụng một đường bay mới. Từ cửa Ba Lạt các tốp F105 và F4 bay lên Ninh Giang, Thanh Miện theo
trục đường số 5 qua Mỹ Hào, Văn Lâm vòng lên phía bắc Từ Sơn đánh vào cầu Đuống, Yên Viên.

Các tiểu đoàn hoả lực của trung đoàn tên lừa 236 đã đánh rất tốt, bắn rơi hai chiếc F105.
Trung đoàn trưởng trung đoàn pháo phòng không 212 Nguyễn Huy Hùng đã chỉ huy cả bảy đại đội
pháo (sáu đại đội 57 mm, một đại đội 85 mm) đánh bổ nhào đũng bài bản hạ một F105. Chiếc này
được sư đoàn công nhận cho đại đội 76 bố trí ở trận địa Thanh Am.

Cả hai ngày 18 và 19 tháng 11 năm 1967 Quân chủng phòng không - không quân đều
thắng lớn. Ngày 18 bắn rơi tám chiếc, ngày 19 bắn rơi 17 chiếc. Sư đoàn phòng không 361 đóng góp
hai chiếc do hai trung đoàn 212 và 232 đánh máy bay địch bổ nhào.

Những thất bại liên tiếp trong các ngày 17, 18, 19 khiến cho không quân Mỹ không thể tổ
chức đánh tiếp ngay vào Hà nội.

Ngày 20 tháng 11 năm 1967 chúng phải đánh giãn ra các mục tiêu ở Hải Phòng, Kiến An,
sân bay Cát Bi, đường số 5.

Ngày 21 tháng 11 năm 1967 địch chỉ còn huy động được một đợt 24 lần chiếc đánh Hải
Phòng, không có tốp nào vào Hà nội.

Đợt đánh phá thứ sáu của không quân Mỹ vào Hà nội - Hải Phòng đã thất bại. Với tổng số
1.094 lần chiếc vào đánh phá chúng đã bị bắn rơi 45 chiếc. Thời gian đánh phá địch dự kiến đến ngày
24 tháng 11 nhưng bị tổn thất nặng nề, chúng chỉ kéo dài đến ngày 21 tháng 11.

Các mục tiêu chúng dự định sẽ đánh phá lần thứ hai như cầu Long Biên, nhà máy điện Yên
Phụ, ga Hà nội, chỉ huy sở Quân chủng phòng không - không quân ở Bạch Mai đều không thực hiện
được.

Thiệt hại về số máy bay và giặc lái Mỹ trong hai tháng 10 và 11 năm 1967 lên đến con số
cao nhất tróng cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta. Chúng tính toán cứ 100 lần chiếc
xuất kích vào Hà nội, thời kỳ trước tháng 10 năm 1967 mất 2,5 chiếc thì trong hai tháng 10 và 11 năm
1967 đã lên tới 4,5 chiếc. Như vậy thiệt hại đã tăng gần gấp đôi.

Số lượng máy bay và giặc lái phải bổ sung thay thế vào số thiệt hại luôn luôn thiếu hụt so
với biểu biên chế chính thức. Các liên đội máy bay không quân ở Thái Lan và các liên đội máy bay
trên các tàu sân bay lúc nào cũng thiếu máy bay và người lái.
Số lượng máy bay bị hỏng phải nằm tại các xưởng sửa chữa thường xuyên có từ 25 đến 30
phần trăm làm cho việc huy động lực lượng đánh phá càng thêm khó khăn.

Tinh thần bọn giặc lái từ sau đợt đánh lớn tháng 10 năm 1967 vào Hà nội mỗi ngày một sa
sút. Việc các liên đội mất đi những tên giặc lái chỉ huy sừng sỏ, có nhiều giờ bay càng làm cho trạng
thái tinh thần của chúng thêm dao động. Sau mỗi ngày vào đánh phá Hà nội lại có thêm những tên
không trở về căn cứ khiến chúng thêm hoang mang.

Đã có hiện tượng từ chối không đi đánh khu vực Hà nội. Một số tên cáo ốm để nghỉ bay.
Số khác chịu cắt tiền phụ cấp bay đề được làm việc ở mặt đất. Lác đác đã có hiện tượng phản chiến.
Một số tên đã viết đơn xin ra khỏi không quân.

Thực tế đó khiến cho các cơ quan vạch kế hoạch đánh phá miền Bắc từ Hội đồng tham
mưu trưởng liên quân đến Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương, tập đoàn không quân 7, lực lượng đặc
nhiệm 77 phải tìm các phương sách đối phó. Chúng nhận định: các cụm mục tiêu đánh phá ở Hà nội
và Hải Phòng không còn nhiều. Sau khi đánh phá, quân và dân Hà nội - lại bắt tay vào khôi phục sửa
chữa ngay. Cầu Long Biên, cầu Đuống bị đánh hỏng thì nhiều cầu phao, cầu treo, cầu tạm đã kịp thời
thay thế. Giao thông vận tải Hà nội vẫn thông suốt.

Nhưng với bản chất ngoan cố, không quân Mỹ lai tiếp tục thay đổi trang bị vũ khí. Chúng
đã áp dụng những tiến bộ mới nhất về khoa học kỹ thuật quân sự phục vụ cho âm mưu đánh phá.
Chúng đưa máy bay F4-D (loại máy bay mới ưu việt hơn F4-C), đưa F111 (cánh cụp cánh xòe) sang
Thái Lan, đưa máy bay A7 (loại mới nhất của hải quân) sang vịnh Bắc Bộ. Về máy bay trinh sát,
chúng triệt để sừ dụng máy bay SR-71 (loại trinh sát tầng cao hiện đại nhất của không quân Mỹ).

Từ sau những thất bại của hai đợt đánh phá tháng 10 và tháng 11 năm 1967 chúng đã kịp
thời nghiên cứu thành công một loại máy nhiễu mới mang tên ALQ.71 trang bị cho các máy bay
cường kích của không quân.

Từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12 năm 1967 các đợt gió mùa đông bắc liên tiếp tràn về
vùng châu thổ sông Hồng. Các phi vụ đánh phá của không quân Mỹ giảm xuống nhưng chúng vẫn
duy trì thường xuyên mức độ đánh phá nhỏ lẻ trên các tuyến giao thông.

Chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn 361 hướng dẫn cho các trung đoàn
tổ chức rút kinh nghiệm hai đợt chiến đấu tháng 10 và tháng 11 năm 1967. Đồng thời, tiếp tục bổ sung
đạn dược, hiệu chỉnh vũ khí khí tài, củng cố công sự chuẩn bị đánh đợt tiếp theo.

Ngày 14 tháng 12 năm 1967 thời tiết tốt. Trời vừa hửng nắng; không quân Mỹ lập tức tổ
chức đánh phá đợt thứ bảy vào Hà nội.

68 lần chiếc (gồm 46 lần chiếc của không quân và 22 lần chiếc của hải quân) vào đánh các
mục tiêu: cầu Long Biên, cầu Đuống; phà Mễ Sở, phà Hồng Vân, Thường Tín qua sông Hồng.

Các tiểu đoàn tên lửa tiến hành xạ kích thao tác đúng quy trình nhưng hầu hết số đạn
phóng đều bị mất điều khiển, rơi xuống đất. Binh chủng Tên lửa đang gặp khó khăn lớn trước sự thay
đổi trang bị kỹ thuật mới của không quân địch. Trung đoàn pháo phòng không 220 sư đoàn phòng
không 361 chặn đánh tốp không quân vào đánh cầu. Đại đội 3 do đại đội trưởng Nguyễn Văn Tạm
bắn ba loạt đạn pháo 100 ly bằng phần tử máy đo xa tiêu diệt tại chỗ một F105. Trung đoàn 224 của
sư đoàn 367 cũng bắn rơi một chiếc khác. Nhưng cầu Long Biên vẫn bị trúng bom.

Ngày 15 tháng 12 năm 1967 không quân Mỹ tiếp tục vào đánh cầu Đuống, các tiểu đoàn
tên lửa vẫn gặp khó khăn. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hùng, sáu đại đội
pháo 57 của trung đoàn 212 đều bắn bằng kính ngắm trực tiếp hạ một F105.

Liên tiếp các ngày 17, 18 tháng 12 không quân. Mỹ tiếp tục vào đánh Hà nội. Trong khi
Binh chủng Tên lửa đang tập trung nghiên cứu cách đánh, Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương tăng
cường sử dụng không quân (trung đoàn 923 và trung đoàn 921) để hỗ trợ cho hai Binh chủng Tên lửa
và Pháo phòng không đang gặp khó khăn. Ở thời điểm này, Binh chủng Không quân đã phát huy được
tác dụng.

Trong bốn ngày 14, 15, 18 và 19 tháng 12 sư đoàn phòng không 361 bắn rơi mỗi ngày một
chiếc máy bay Mỹ. Các đơn vị lập công là trung đoàn 220, 212, 232, 233. Tất cả các đơn vị đều tiến
hành xạ kích bằng phần tử máy đo xa hoặc kính ngắm trực tiếp.

Đợt đánh phá thứ bảy của không quân Mỹ vào Hà nội kết thúc ngày 19 tháng 12 năm 1967.
So với đợt thứ sáu, số lượng máy bay chiến thuật được huy động tương đương (đợt sáu là: 1.094 lẩn
chiếc, đợt bảy là: 1.259 lần chiếc) nhưng phải tải ra đánh cả hai yếu địa Hải Phòng và Hà nội, nên số
lượng vào đánh phá Hà nội có ít đi. Đợt này ta cho không quân cất cánh nhiều, chúng phải tăng số
máy bay tiêm kích để đối phó nên số lượng máy bay cường kích vào đánh mục tiêu ít hơn. Quân và
dân miền Bắc bắn rơi 20 chiếc, trong số đó sư đoàn phòng không 361 bắn rơi bốn chiếc (18).

Trong năm 1967 không quân Mỹ đã tổ chức nhiều đợt đánh phá quy mô lớn vào Hà nội.
Cùng với quân và dân Hà nội, sư đoàn phòng không 361 đã phấn đấu vươn lên xứng đáng là lực
lượng nòng cốt đánh địch trên không. Trong năm 1967 sư đoàn phòng không 361 đã bắn rơi 35 máy
bay địch, có nhiều chiếc rơi tại chỗ ngay trên địa bàn Hà nội.

Âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ đánh vào thủ đô Hà nội - cơ quan đầu não của cả nước,
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giao thông… nhằm phá hoại tối đa tiềm lực kinh tế và quốc
phòng làm lung lay ý chí của nhân dân ta, hòng gây sức ép buộc nhân dân ta chấp nhận các điều kiện
thương lượng của chúng đã thất bại.

Trải qua cuộc chiến đấu quyết liệt gian khổ bảo vệ Hà nội năm 1967, sư đoàn phòng không
361 đã được tôi luyện thử thách và trưởng thành toàn diện. Từ thực tiễn chiến đấu, sư đoàn phòng
không 361 đã giải quyết thành công nhiều nội'dung về nghệ thuật tác chiến phòng không, từ công tác
nghiên cứu tìm ra quy luật đánh phá của địch, đến việc bố trí đội hình thích hợp bào vệ các mục tiêu
cụ thể.

Trên cơ sở phát huy trí tuệ của quần chúng, của mòi thành phần, mọi lực lượng, sư đoàn
phòng không 361 đã vượt qua nhiều khó khăn to lớn xây dựng được nhiều cách đánh sáng tạo, đánh
thắng các thử đoạn xảo quyệt của không quân Mỹ như bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình,
hoặc thủ đoạn sử dụng máy bay bay thấp đánh lén ban đêm.

Sư đoàn phòng không 361 là đơn vị đi đầu của Quân chủng vận dụng thành công cách
đánh máy bay bổ nhào đối với pháo tiểu cao hoặc đánh máy bay bay bằng đối với pháo trung cao.
Trong cuộc chiến đấu bào vệ thủ đô Hà nội, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ
chiến sĩ sư đoàn đã nảy nở và được phát huy cao độ, làm phong phú thêm vườn hoa ngát hương chủ
nghĩa anh hùng cách mạng của thế hệ trẻ Việt nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Song song với nhiệm vụ chiến đấu, sư đoàn đã liên tục xây dựng lực lượng, huấn luyện và
bổ sung cho các đơn vị bạn, cho các chiến trường.

Sau hơn hai năm vừa xây dựng vừa chiến đấu, sư đoàn phòng không 361 đã không ngừng
lớn mạnh, luôn luôn hoàn thành các nhiệm vụ Quân chủng giao cho.

Trong cuộc đọ sức, đọ mưu, đọ ý chí quyết liệt với không quân Mỹ bảo vệ yếu địa Hà nội
năm 1967, sư đoàn đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về xây dựng và chiến đấu làm tiền đề cho việc
hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề to lớn trong các giai đoạn sau này, xứng đáng là sư đoàn phòng
không cận vệ của thủ đô Hà nội.

Chương 3: (1968 - 1971)
Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1968, mảnh đất Tây Nguyên bất khuất và hùng vĩ đã nổ
tiếng súng mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử của quân và dân miền Nam. Tiếp đó cả
miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công. Tính đến ngày 4 tháng 2 năm 1968 đã
có 37 thành phố, thị xã, tỉnh lỵ tiến công và nổi dậy diệt hơn 50.000 tên địch, làm tan rã sáu trung
đoàn, 41 tiểu đoàn, phá huỷ 1.500 máy bay, 400 xe quân sự, 50 tàu thuyền, thu và phá huỷ hàng triệu
tấn bom đạn của địch. Đặc biệt, những cuộc tiến công và nồi dậy to lớn ở ba thành phố lớn là Huế, Đà
Nẵng, Sài Gòn đã làm cho địch vô cùng hoang mang, khiếp sợ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân ta là một đòn chiến lược
giáng vào quân xâm lược Mỹ và tay sai, tạo ra thảy đồi cục diện trên chiến trường và đưa cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước lên cao trào mới.

Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 vô cùng phấn khởi đón xuân mới trên mâm
pháo trực chiến. Bộ đội càng phấn khởi khi được đón đồng chí Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên
Giáp đến thăm và chúc tết sư đoàn. Cùng đi có Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn, đại biểu các đơn vị và cán bộ chiến sĩ thuộc phòng chính
trị, phòng tham mưu và phòng hậu cần đã tập trung đông đủ tại hội trường đón đồng chí Bộ trưởng và
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Trong không khí ngày xuân sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nhân dần thủ đô Hà nội ăn tết, mọi
người lắng nghe đồng chí Bộ trưởng nói chuyện:

- Tết năm nay, chúng ta đang đứng trước một nhiệm vụ rất to lớn. Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của chúng ta đã giành được những thắng lợi rất cơ bản. Trên cơ sở đó, toàn quân, toàn
dân ta đang tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác ngày càng to lớn cho đến thắng lợi hoàn toàn. Tôi
mong rằng bộ đội phòng không Hà nội nếu cao truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội
nhân dân, thường xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết giáng cho địch những đòn quyết liệt
hơn, giành những thắng lợi giòn giã hơn, bắn rơi nhiều máy bay địch hơn, góp phần vào thắng lợi vĩ
đại của dân tộc.
Đồng chi Bí thư Quân uỷ Trung ương còn ân cần chuyển đến sư đoàn lời của Bác Hồ kính
yêu: "Chú đi thăm bộ đội, chuyển lời thăm hỏi của Bác đến tất cả cán bộ, chiến sĩ. Chú nói với cán bộ,
chiến sĩ là Bác vẫn khỏe. Các cô, các chú muốn cho Bác khỏe thì đánh thắng to hơn nữa. Đánh càng
thắng thì Bác càng khỏe".

Cùng ngày, đồng chí Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, đống chí Nguyễn
Thị Thập, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt nam đến thăm đại đội 1 Anh hùng của trung đoàn pháo
phòng không 234, đoàn đại biểu của nhân dân miền Nam ruột thịt do ông Nguyễn Văn Tiến đến chúc
tết đại đội 194, trung đoàn 260.

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các 1 đồng chí lãnh đạo cao cấp của quân đội,
của các cơ quan đoàn thể và nhân dân Hà nội đã động viên cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361
đồng thời cũng nhắc nhở ý thức trách nhiệm bảo vệ bầu trời Thủ đô thân yêu.

Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác và đồng chí Bí thư Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ và Bộ
tư lệnh sư đoàn đã tổ chức sinh hoạt chính trị làm cho bộ đội nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa hai
nhiệm vụ chiến lược giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc. Trên cơ sở đó, lãnh đạo và chỉ huy sư
đoàn đã tổ chức cho cán bộ chiến sĩ nâng cao trình độ chiến đấu, kiên quyết bào vệ mục tiêu chiến
lược số một của đất nước để đền đáp tình thương yêu chăm sóc của Bác, Đảng, Chính phủ và nhân
dân Thủ đô.

Một không khí phấn khởi lạc quan hừng hực khí thế chiến đấu tràn ngập các đơn vị. 100
phần trăm số cán bộ chiến sĩ viết thư gửi lên Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn hứa quyết tâm chiến đấu
bảo vệ Thủ đô và sẵn sàng lên đường giải phóng miền Nam. Đại đội 33 trung đoàn pháo phòng không
284, đại đội 39 trung đoàn 233 tập báo động hành quân cơ động, luyện tập xử lý các tình huống, sẵn
sàng nhận mọi nhiệm vụ trên giao. Đồng thời các đơn vị tổ chức nhiều cuộc hội nghị dân chủ quân sự
nghiên cứu cách đánh máy bay bay thấp ban đêm.

Về phía địch, sau đợt tiến công thứ bảy vào Hà nội bị thất bại, không quân Mỹ buộc phải
thay đổi chủ trương. Vì nhiều khó khăn chúng không thể huy động lực lượng lớn vào đánh Hà nội như
các đợt trước. Chúng chuyển sang đánh phá với quy mô nhỏ dần. Ban ngày thi thoảng chúng cho máy
bay trinh sát SR.71 vào Hà nội, ban đêm chúng liên tục hoạt động. Các tốp máy bay A6-A từ một đến
ba chiếc từ các tàu sân bay thay nhau bay thấp đột nhập đánh lén Hà nội rồi nhanh chóng rút lui.

Các lực lượng phòng không Hà nội và sư đoàn phòng không 361 lại đứng trước một khó
khăn mới. Đã nhiều lần các đơn vị pháo phòng không lúng túng không kịp xừ trí bỏ lỡ thời cơ diệt
địch. Trên thực tế, với quy mô đánh phá nhỏ lẻ, số lượng bom đạn ít, tác hại gây cho ta không lớn
nhưng đêm nào địch cũng bay vào vài ba lần khiến cán bộ chiến sĩ phòng không phải liên tục báo
động, liên tục ngồi bên mâm pháo, có khi thức trắng đêm, bộ đội hết sức mệt mỏi, căng thẳng.

Các đài radar phải liên tục mở máy làm tiêu hao nhiên liệu và gây khó khăn cho công tác
bảo đảm kỹ thuật.

Trên thực tế, từ sau đợt đánh phá thứ năm vào Hà nội, không quân Mỹ đã áp dựng thủ đoạn
bay thấp đánh lén. Do cảnh giác cao và duy trì chế độ trực chiến nghiêm mật nên đêm 30 rạng ngày
31 tháng 10 năm 1967 sư đoàn phòng không 361 đã bắn rơi tại chỗ một máy bay A6-A bay thấp ban
đêm. Chiến công này do trung đội súng máy 14,5 mm bảo vệ đài radar nhìn vòng 513-K (đài Sao Đỏ)
thuộc trung đoàn pháo phòng không 212. Với 56 viên đạn 14,5 mm, trung đội súng máy phòng không
đã bắn rơi tại chỗ một máy bay A6-A. Đó là chiến công đầu tiên đánh máy bay bay thấp đánh lén ban
đêm vào Hà nội.

Bước sang năm 1968, các phi vụ dùng A6-A đánh lén ban đêm ngày càng tăng. Trước tình
hình đó, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn phát động toàn thể các đơn vị nghiên cứu đánh máy bay bay
thấp ban đêm.

Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo các đơn vị quyết tâm đánh máy bay bằng phần tử khí tài. Cơ
quan tham mưu sư đoàn cử các trợ lý giỏi như Nguyễn Huy Chung, Phạm uý: xuống các đơn vị cùng
cán bộ chiến sĩ nghiên cứu các phương pháp đánh địch. Hội đồng quân nhân các đại đội tổ chức thảo
luận dân chủ quân sự bàn về phương án tác chiến, xây dựng cách đánh, cách tổ chức trực ban ban
đêm.

Quân chủng cũng đã chỉ đạo Binh chủng Radar xây dựng lại quy trinh bắt thấp và thông
báo cho các đơn vị hoả lực.

Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung chỉ đạo trung đoàn pháo phòng không 220. Đây là một trung
đoàn mạnh, cà bẩy đại đội pháo 100 mm đều trang bị radar COH.9-A. Cơ quan kỹ thuật cử các kỹ sư
và chuyên viên kỹ thuật xuống từng đơn vi kiểm tra hiệu chỉnh radar máy chỉ huy và hệ thống pháo.
Tất cả các khâu đảm bảo kỹ thuật đều được kiểm tra chu đáo tỉ mỉ.

Chiều ngày 16 tháng 3 năm 1968 đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Quân chủng
cùng Chủ nhiệm chính trị Quân chủng Phạm Đăng Ty trực tiếp xuống kiểm tra và theo dõi trung đoàn
220 đánh đêm.

1 giờ 48 phút ngày 18 tháng 3 năm 1968 một tốp A6-A bay thấp xuất hiện từ hướng biển.
Trắc thủ Lê Đỗ Ngoạn của đại đội radar 25 ở Tiền Hải, Thái Bình (một đại đội bắt thấp giỏi) đã phát
hiện tốp A6-A này, ập tức báo cho toàn mạng radar. Các tin tình báo được truyền đến sở chỉ huy trung
đoàn 220. Trung đoàn trưởng Trịnh Duy Hậu lệnh cho toàn đoàn cấp 1 và sục sạo mục tiêu bay thấp ở
hướng đông nam.

Radar của đại đội 1 bắt được mục tiêu ở cự ly 28 ki-lô-mét. Đại đội trưởng đại đội 3
Nguyễn Văn Tạm đã lệnh cho trung đội radar sục sạo theo phần tử của đại đội 1 và các trắc thủ đã bắt
được mục tiêu ở cự ly 18 ki-lô-mét. Đại đội trưởng cho bắn hai loạt đạn pháo 100 mm (16 viên) tiêu
diệt tại chỗ chiếc A6-A. Cùng tham gia bắn còn có 3 đại đội 1, 2 và 6.

Đây là trận đánh xuất sắc của Binh chủng Pháo phòng không trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, đồng thời cũng là chiến công lớn nhất của sư đoàn phòng không 361 trong quý I
năm 1968. Trung đoàn 220 đã giải quyết thành công nhiều vấn đề như phương án tác chiến, bào đảm
chính xác vũ khí khí tài và có một đội ngũ trắc thủ, phất thủ điêu luyện.

Nhận được tin này, ngay buổi tối Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với Phó tổng tham mưu
trưởng Phùng Thế rai xuống sở chỉ huy sư đoàn ở Hoà Mục nghe báo cáo diễn biến trận đánh và khen
ngợi cán bộ chiến sĩ trung đoàn 220 đã lập công xuất sắc.
Cùng thời gian này nhiều đơn vị pháo, nhiều tiểu đoàn tên lừa cũng đã giải quyết thành
công phương án đánh đêm bắn rơi A6-A, như tiểu đoàn 87 trung đoàn tên lừa 274, tiểu đoàn 66, 67
trung đoàn tên lửa 275, tiểu đoàn 62 trung đoàn tên lửa 236, tiểu đoàn 44 trung đoàn tên lửa 263, tiểu
đoàn 52 trung đoàn tên lửa 267. Thủ đoạn dùng máy bay A6-A bay thấp đánh lén ban đêm của không
quân Mỹ đã thất bại.

Trong ba tháng đầu năm 1968, Quân chủng phòng không - không quân bắn rơi 78 chiếc
máy bay giặc Mỹ. Riêng số máy bay A6-A bị bắn rơi bằng một phần tư tổng số máy bay Mỹ bị hạ
trong thời gian đó trên miền Bắc.

Sau gần ba năm đưa quân vào trực tiếp xâm lược miền nam và mở rộng chiến tranh phá
hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ vẫn liên tiếp bị thất bại trên cả hai miền Nam Bắc nước ta. Đặc biệt, cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân của quân và dân miền Nam đã giáng một đòn
chiến lược lớn đối với Mỹ - nguỵ, làm rung chuyển cả nước Mỹ và báo hiệu "chiến tranh cục bộ"
đang đứng trước nguy cơ phá sản.

Trước tình thế đó, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Johnson buộc phải ra lệnh ngừrlg ném bom
miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, không ra tranh cử tổng thống trong nhiệm kỳ tới và chấp nhận đàm
phán với Chính phủ ta tại Paris.

Thực hiện ném bom hạn chế, đế quốc Mỹ âm mưu xoa dịu phong trào đấu tranh của nhân
dân Mỹ và lừa bịp nhân dân thế giới. Trên thực tế, chúng tập trung lực lượng không quân đánh phá ác
liệt từ Nghệ An trở vào hòng ngăn chặn triệt để sự vận chuyển của ta vào chiến trường miền Nam. Đối
với miền Bắc, địch tăng cường cho máy bay trinh sát hoạt động, vi phạm cam kết với ta và đe doạ
đánh "trả đũa" nếu lực lượng ta bắn rơi máy bay trinh sát, đe doạ đánh trở lại miền Bắc.

Trên miền Bắc hình thành hai khu vực tác chiến. Chiến trường A2 ở Khu 4 là nơi địch đang
tập trung đánh phá ác liệt. Chiến trường A1 từ vĩ tuyến 20 trở ra là nơi địch thường xuyên tiến hành
trinh sát và sẵn sàng đánh phá trở lại. Bộ tư lệnh Quân chủng đã điều sư đoàn phòng không 367 vào
A2 chiến đấu. Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, sư đoàn 361 đã cử nhiều cán bộ, chiến sĩ và
dành nhiều xe, pháo, khí tài tốt bồ sung cho sư đoàn phòng không 367 đánh địch bào vệ giao thông
vận chuyển ở Khu 4.

Thời kỳ này, địch thường dùng các loại máy bay SR.71, BQM 34-A và các loại máy bay
147-J, 147.S tiến hành trinh sát, thu thập tình báo chiến lược trên miền Bắc nước ta để chuẩn bị thực
hiện âm mưu lâu dài của chúng.

Máy bay SR.71 là máy bay trinh sát chiến lược của không quân Mỹ, có thể bay ở độ cao
tối đa là 30,5 ki-lô-mét, thường chụp ảnh ở độ cao 24 ki-lô-mét và có tốc độ lớn nhất là 4.200 ki-lô-
mét/giờ. BQM.34-A là máy bay trinh sát tầng cao, thường chụp ảnh ở độ cao 18 ki-lô-mét với tốc độ
220 đến 250 mét/giây. Để hạn chế tổn thất Mỹ còn sử dụng máy bay trinh sát không người lái tầng
thấp AQM.34-M, sau đó cải tiến thành các loại máy bay 147-J, 147.S, 147.SC, 147.SK và 147.SRE.
Loại 147.SRE có thể trinh sát cả ban đêm và thời tiết xấu.

Máy bay trinh sát không người lái tầng thấp có tốc độ từ 240 đến 250 mét/giây, độ cao
chụp ảnh thường khoảng 500 mét và sau đó tăng dần độ cao tới 18 ki-lô-mét. Loại máy bay này do
máy bay C.130 từ biển phóng vào và bay theo chu trình lập sẵn. Khi hoạt động, địch thường sử dụng
máy bay EB.66 hoặc EC.121 gây nhiễu ngoài đội hình, có tổ chức nghi binh, thu hút hoả lực có lúc
kéo dài gây căng thẳng mệt mỏi cho bộ đội phòng không của ta rồi bất ngờ phóng máy bay không
người lái.

Dựa vào tính năng, tác dụng và hiệu quả của máy bay trinh sát không người lái tầng thấp,
địch coi đây là phương tiện chủ yếu để tiến hành thu thập tình báo và khiêu khích miền Bắc nước ta.

Đối với bộ đội phòng không, đánh máy bay A6, A7 bay thấp đánh lén ban đêm đã khó,
nhưng đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp còn khó hơn nhiều. Bởi vì máy bay trinh sát
không người lái hoạt động ở độ cao thấp hơn, diện phản xạ nhỏ, liên tục thay đổi và tăng cường các
thủ đoạn chiến thuật để thực hiện ý định và tránh tổn thất. Vấn đề nan giải nhất đối với sư đoàn là
radar phát hiện rất gần, mục tiêu dễ lẫn với sóng về địa vật, thời gian lưu trong vùng hoả lực rất ngắn,
dễ lỡ thời cơ tiêu diệt địch. Đối với bộ đội tên lửa, khi đánh máy bay bay thấp, tên lửa dễ rơi xuống
đất gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là một trong những đối tượng tác chiến gây nhiều khó khăn trong
suốt tiến trình phát hiện, bám sát và tiến hành xạ kích của bộ đội tên lửa và pháo phòng không.

Được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã tập trung tổ chức sáu trung đoàn pháo phòng
không (220, 212, 232, 233, 234, 260) và ba trung đoàn tên lửa (236, 257, 2631 (Ngày 22 tháng 2 năm
1968, Bộ quốc phòng đã quyết định giải thể Binh chùng Tên lửa. Ba trung đoàn tên lửa 236, 257 và
263 trực thuộc sư đoàn phòng không 361. Trong thời gian này sư đoàn còn tiếp nhận lại trung đoàn
pháo phòng không 260) xây dựng, triển khai phương án tác chiến để bảo vệ các mục tiêu trọng yếu và
đánh các loại máy bay trinh sát của địch ở khu vực Hà nội, Phủ Lạng Thương và sân bay Nội Bài.

Các cơ quan và đơn vị đã tập trung nghiên cứu kỹ các đường bay, rút kinh nghiệm chiến
đấu. bổ sung phương án tác chiến và thi đua lập công sôi nổi, kiên quyết bắn rơi máy bay trinh sát của
địch. Các phân đội tên lửa đã tiến hành dân chủ quân sự tìm cách đánh, sử dụng ngòi nổ, loại đạn và
sử dụng phương pháp bám sát bằng tay quay để nâng cao chất lượng đánh máy bay trinh sát tầng thấp
của địch. Các đồng chí chỉ huy các cấp đã nghiên cứu sử dụng khẩu lệnh ngắn gọn, chính xác để chỉ
thị mục tiêu cho bộ đội. Cơ quan tham mưu sư đoàn tổ chức thu tình báo radar và tận dụng tình báo
các vọng quan sát mắt ở núi Chè, Đọi Điệp và trên núi Viên Nam để giúp người chỉ huy nắm chắc
địch. Sư đoàn đã cử đoàn kỹ thuật xuống từng đơn vị kiểm tra, hiệu chỉnh, sửa chữa vũ khí, khí tài và
bảo đảm đài P12 đồng bộ với khí tài tên lửa, giúp cho bộ đội phát hiện và bám sát hên tục máy bay
trinh sát tầng thấp, nâng cao hiệu suất chiến đấu. Các kíp chiến đấu ở tiểu đoàn hoả lực tên lửa tập
trung rèn luyện hiệp đồng đánh địch trong điều kiện đánh gấp và cách điều khiển tay quay để bám sát
mục tiêu có độ cao nhỏ hơn 1 ki-lô-mét tránh để đạn rơi xuống đất. Những buổi rút kinh nghiệm sau
trận đánh không thắng đã làm cho bộ đội thấy rõ những Khuyết điểm, tập trung hoàn chỉnh cách đánh,
tích cực huấn luyện, nâng cao hiệu suất chiến đấu.

Ngày 4 tháng 5 năm 1968, đơn vị pháo phòng không bảo vệ tiểu đoàn 62 trung đoàn tên
lừa 236 với 23 viên đạn 37 mm đã bắn rơi tại chỗ một chiếc 147-J tại thôn Dục Nội thuộc huyện Đông
Anh. Đây là chiến thắng mở đầu cho giai đoạn đánh máy bay trinh sát của sư đoàn.

Thi đua với bộ đội pháo phòng không, ngày 17 tháng 5 dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn
trưởng Trương Quang Lục, sĩ quan điều khiển Hoàng Công Khanh cùng kíp chiến đấu của tiểu đoàn
77 trung đoàn tên lửa 257 đã bắn rơi tại chỗ một chiếc không người lái tầng thấp ở ngã tư Canh. Đây
là chiến thắng đấu tiên của bộ đội tên lửa trong sư đoàn kể từ ngày Mỹ tuyên bố ngừng ném bom phía
bắc vĩ tuyến 20. Đó cũng là chiến công của bộ đội phòng không Hà nội mừng thọ Chủ tịch Hồ Chí
Minh 78 tuổi.

Từ trận đánh thắng của tiểu đoàn 77, sư đoàn đã rút ra một số bài học sâu sắc. Để nắm chắc
địch, người chỉ huy và cơ quan tham mưu phải tiếp tục nghiên cứu nắm chắc quy luật hoạt động của
máy bay C.130, phán đoán thời cơ phóng máy bay không người lái của địch. Đồng thời cơ quan tham
mưu cần tổ chức mạng thông tin để nắm chắc tình báo mạng radar cảnh giới và các vọng quan sát
mắt, giúp người chỉ huy nắm chắc, chỉ thị phần tử kịp thời, chuẩn xác cho các đơn vị. Đối với bộ đội,
ngoài việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo đánh máy bay bay thấp, cần phải tổ chức sẵn sàng chiến đấu tốt,
chấp hành kỷ luật nghiêm túc.

Những bài học đó được nhanh chóng truyền đạt cho bộ đội, giúp các đơn vị phấn đấu, rèn
luyện nâng cao bản linh đánh máy bay bay thấp của địch.

Được sự đồng ý của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức cho hai đại đội pháo 100
mm của trung đoàn pháo phòng không 260 cơ động xuống Thái Bình phục kích đánh máy bay trinh
sát tầng thấp. Ngày 8 tháng 6, nhận được tình báo của bộ đội radar cành giới, cả hai đại đội đã dùng
phần tử D.49 bắn rơi một chiếc 147-J ở cửa sông Thái Bình.

Thi đua với lực lượng cơ động phục kích đánh địch, ngày 23 tháng 6, các đại đội pháo 57
mm của trung đoàn pháo phòng không 234 và đại đội pháo phòng không bảo vệ tiểu đoàn 62 đã cảnh
giác cao, đánh địch chuẩn xác bắn rơi hai chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp ở khu vực
núi Lõm (chân dãy núi Tam Đảo). Ngày 28 tháng 8, tiểu đoàn 61 trung đoàn tên lửa 236 bắn rơi một
chiếc 147-J.

Những trận đánh thắng liên tiếp của sư đoàn đã tích cực góp phần với các lực lượng phòng
không trên miền Bắc bước đầu đánh bại thủ đoạn trinh sát của địch.

Ngày 8 tháng 9 năm 1968, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ nhất đã khai mạc. Vì
hoàn cành chiến tranh, sau ba năm thành lập, Đảng bộ sư đoàn mới tiến hành Đại hội đầu tiên. Gần
100 đại biểu của chín trung đoàn và các cơ quan đã về dự đại hội.

Trải qua ba năm vừa chiến đấu, vừa xây dựng, được sự quan tâm săn sóc của Trung ương
Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu, với sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Quân uỷ Trung
ương, Bộ quốc phòng, trực tiếp là Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng và sự giúp đỡ to lớn của quân và
dân Thủ dô, sư đoàn đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, càng đánh càng mạnh, ngày càng
trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Đặc biệt, sư đoàn đã cùng với quân và dân Hà nội đánh bại các
cuộc tập kích đường không quy mô lớn của không quân Mỹ trong năm 1967 để bảo vệ mục tiêu chiến
lược số một của đất nước.

Trong ba năm chiến đấu, sư đoàn đã bắn rơi 159 máy bay địch, phối hợp với các đơn vị
bạn bắn 323 chiếc khác. Các đơn vị trong sư đoàn còn có vinh dự đã bắn rơi những chiếc máy bay thứ
400, 900, 1.300, 1.600, 2.200, 2.500 và 2.800 của giặc Mỹ trên miền Bắc. Đánh giá chặng đường
chiến đấu vè vang của sư đoàn, Đạt hội đã nhất trí khẳng định: "Thành tích của sư đoàn là to lớn, tiến
bộ toàn diện. Sư đoàn đã thực hiện đúng đường lối phương châm, nguyên tắc xây dựng quân đội của
Đảng… Sư đoàn có đủ khả năng làm tròn nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Hà nội cũng như mọi nhiệm vụ
khác…". Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm các đồng chí Trần Văn Giang, Nguyễn Quang
Bích, Trần Quang Hùng, Vũ Xuân Vinh, Lê Huy Vinh, Ngô Văn Dì, Nguyễn Văn Khoá, Phạm Văn
Bời và Đinh Phúc Hải. Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ sư đoàn, tất cả cơ quan và đơn vị
hăng hái bước vào giai đoạn cách mạng mới với quyết tâm và nghị lực mới.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Mỹ buộc phải
tuyên bố ngừng nén bom trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Tháng 1 năm 1969,
tổng thống Mỹ Nixon chủ trương thực hiện chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" nhằm tiếp tục bám
giữ Nam Việt nam ngăn chặn phong trào cách mạng ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Để thực hiện chủ trương đó, địch thực hiện biện pháp "bình định nông thôn" ở miền Nam,
ra sức xây dựng quân nguỵ Sài Gòn thành đội quân hiện đại làm lực lượng chiến lược chủ yếu trên
chiến trường, thay dần quân Mỹ trong vai trò chiến đấu trên bộ và củng cố nguỵ quyền các cấp Đối
với miền Bắc, ngoài việc tăng cường đánh phá tuyến vận chuyển chiến lược 559, không quân Mỹ vẫn
tăng cường cho máy bay vào trinh sát, vi phạm cam kết với ta, và đe doạ đánh trả đũa" nếu lực lượng
phòng không của ta bắn rơi máy bay trinh sát của chúng.

Trước tình hình trên, để động viên quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta,
ngày 1 tháng 1 năm 1969, nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư "Chúc mừng năm
mới" tới đồng bào, chiến sĩ cả nước, khẳng định giặc Mỹ sẽ thất bại hoàn toàn và nhấn mạnh: "…Vì
độc lập vì tự do Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào…". Sáng mồng 1 Tết Kỷ Dậu (1969), Bác Hồ
đã đến thăm Quân chủng phòng không - không quân. Thủ trưởng sư đoàn cùng một số cán bộ, chiến
sĩ cũng có mặt ở Quân chủng để đón Bác. Sau khi ân cần thăm hỏi chúc tết bộ đội, Bác nói: "… không
tin được Mỹ đâu! Chúng nó xảo quyệt lắm. Chúng là bọn đế quốc xâm lược phải luôn sẵn sàng chiến
đấu để khi nó giở quẻ là mình đập lại được ngay".

Quán triệt quyết tâm chiến lược của Đảng, ghi sâu lời dạy của Bác và được sự chỉ đạo của
Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chùng chủ trương:
Kiên quyết đánh tiêu diệt máy bay trinh sát của địch và làm tốt mọi công tác chuẩn bị chiến đấu để
giành thắng lợi ngay từ trận đầu, đợt đầu khi địch đánh lại miền Bác…

Về đánh máy bay trinh sát, bộ đội pháo phòng không, bộ đội tên lừa trong từng sư đoàn và
bộ đội không quân đều phải bản rơi máy bay khi chúng vào phạm vi hoả lực của đơn vị1 (Nghị quyết
thường vụ Đảng uỷ Quân chủng phòng không- Không quân tháng 1 năm 1969, số 853/ĐU ngày 30
tháng 12 năm 1968). Căn cứ vào sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, ngày 16 tháng 12 năm 1968 Bộ tư
lệnh Quân chủng triển khai kế hoạch tác chiến bảo vệ miền Bấc với quyết tâm kiên quyết đánh bại âm
mưu tăng cường trinh sát của địch, nhất là ở khu vực Hà nội, Hải Phòng.

Thực hiện sự chỉ đạo của Quân chủng, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương: Tranh
thủ thời gian, dốc sức nâng cao chất lượng chiến đấu về mọi mặt, tăng cường khả năng sẵn sàng chiến
đấu, kiên quyết tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu bào vệ vững chắc các mục tiêu trọng yếu ở Hà
nội là khu Trung ương, nhà máy điện Yên Phụ, cầu Đường, sân bay Nội Bài, sân bay Gia Lâm, trong
đó mục tiêu quan trọng nhất là khu Trung ương; đồng thời, trước mắt tập trung tiêu diệt máy bay trinh
sát của địch.

Quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đều nhận thấy: Cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc chủ yếu bằng không quân là một bộ phận khăng khít trong cuộc "chiến
tranh cục bộ" của Mỹ ở miền Nam. Còn tiến hành chiến tranh xâm lược ở miền Nam, thì sẽ còn khả
năng Mỹ sử dụng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc. Thủ đô Hà nội sẽ là nói đọ trí, đọ sức, đọ
lực quyết liệt nhất giữa ta và địch. Trên cơ sở đó toàn sư đoàn khẩn trương tổ chức triển khai kế hoạch
tác chiến bảo vệ Hà nội và tiếp tục đẩy mạnh chiến đấu nhằm tiêu diệt máy bay trinh sát của địch.

Thời gian này, hiệu suất đánh máy bay trinh sát không người lái tầng thấp của sư đoàn sút
kém. Địch liên tục thay đổi thủ đoạn hoạt động và tăng cường nghi binh, thu hút gây khó khăn cho ta
trong việc chỉ huy và xạ kích. Trong khi đó, bộ đội chưa quán triệt đầy đủ tình hình, nhiệm vụ, quyết
tâm tiêu diệt máy bay trinh sát chưa cao, việc phấn đấu rèn luyện nâng cao trình độ đánh địch thiếu
sáng tạo và chưa công phu.

Chấp hành mệnh lệnh ngày 20 tháng 11 năm 1968 của Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh
sư đoàn kiên quyết dùng pháo phòng không 37 mm, súng máy phòng không và một số tiểu đoàn tên
lửa có khả năng chiến đấu tốt cơ động ra vòng ngoài kết hợp với các cụm phòng không bào vệ mục
tiêu để tiêu diệt máy bay trinh sát không người lái tầng thấp của địch. Thủ trưởng sư đoàn, cơ quan
tham mưu và các đơn vị đã dày công nghiên cứu, xác định quy luật đường bay trinh sát của địch và
tìm mọi cách khắc phục khuyết điểm nhằm phát hiện địch từ xa, hiệp đồng xử trí, thao tác tốt trong
điều kiện đánh gấp có hiệu quả. Phòng tham mưu sư đoàn cùng một số trợ lý tham mưu quân chủng
xuống các đơn vị kiểm tra và bổ sung phương án tác chiến, phổ biến kinh nghiệm chiến đấu của các
đơn vị bạn và tổ chức các đợt huấn luyện đột kích cho cán bộ, chiến sỉ nhất là kíp chiến đấu. Chỉ trong
thời gian ngắn phương án định gấp bám sát hỗn hợp hoặc bằng tay quay ở cự ly gần được các kíp
chiến đấu ở tiểu đoàn hoả lực tên lửa luyện tập thành thạo.

Ngày 21 tháng 12 năm 1968, cụm pháo phòng không của sư đoàn ở phía đông Hà nội đã
bắn rơi tại chỗ một máy bay không người lái tầng thấp ở Gia Lâm. 8 giở 38 phút ngày 2 tháng 1 năm
1969, tiểu đoàn 56 trung đoàn tên lửa 261, lần đầu ra quân đã bắn rơi một máy bay trinh sát tầng thấp
không người lái của địch. Một tuần sau, tiểu đoàn 77 trung đoàn tên lửa 257 tại trận địa phục kích
vòng ngoài ở Đặng Cầu thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hải Hưng cũng bắn rơi tại chỗ một máy bay trinh
sát không người lái tầng cao BQM.34-A.

Thấy rõ chiến thuật cơ động phục kích của sư đoàn phòng không 361 có kết quà, ngày 6
tháng 2 năm 1969, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định dùng không quân và một số lực lượng phòng
không của các sư đoàn cơ động phục kích đón lõng đánh các đường bay chủ yếu của địch. Trong lực
lượng phòng không đó có hai tiểu đoàn tên lửa của sư đoàn.

Ngày 10 tháng 3, lợi dụng lúc sẩm tối, địch cho máy bay C.130 hoạt động ngoài vịnh Bắc
Bộ rồi bất ngờ phóng máy bay không người lái vào trinh sát khu vực Hải Phòng, Hà nội. Phát hiện có
tình báo C.130 trên bản đồ thu tình báo quốc gia, Bộ tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho sở chỉ huy các đơn vị
vào cấp 1. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa 257 Nguyễn Đình Sơn, 19 giờ 7
phút đài một tiểu đoàn 77 phát hiện được mục tiêu ở cự ly 26 ki-lô-mét. Tiếp đó đài hai cũng phát
hiện được mục tiêu ở cự ly 22 ki-lô-mét. Tiểu đoàn trưởng Trương Quang Lục đã chỉ huy sĩ quan điều
khiển Hoàng Công Khanh và kíp trắc thủ liên tục bám sát mục tiêu. Với một quả đạn, tiểu đoàn 77 đã
bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay 147.SRE. Đây là ln đầu tiên máy bay trinh sát không người lái tầng thấp
ban đêm bị bắn rơi tại chỗ ở Hà nội.

Trong phong trào thi đua bắn rơi máy bay trinh sát của địch, tiểu đoàn 77 trung đoàn tên
lửa 257 đã bắn rơi máy bay địch nhiều nhất và trở thành lá cờ đầu của sư đoàn. Tiếp đó là tiểu đoàn 56
trung đoàn tên lửa 261 trong vòng 3 tháng đã bắn rơi ba máy bay trinh sát của địch. Để kịp thời động
viên bộ đội, Bộ tư lệnh. sư đoàn đã quyết định tặng một con bò cho đơn vị mỗi khi bắn rơi máy bay
địch. Trong thời gian này, trung đoàn tên lửa 257 là đơn vị được tặng thưởng nhiều bò nhất sư đoàn.

Tư lệnh Nguyễn Quang Bích đã cùng Phó tư lệnh Vũ Xuân Vinh và Phó tư lệnh Lê Huy
Vinh tổ chức, chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị tên lừa ở tiểu đoàn 77. Sau
khi trao đồi bàn bạc, hội nghị đã nhất trí rút ra một số bài học về kỳ công nghiên cứu tìm cách đánh và
huấn luyện kỹ năng, kỹ xảo đánh máy bay trinh sát tầng thấp trong điều kiện đánh gấp của tiểu đoàn
77. Những bài học bổ ích đó được cơ quan tham mưu sư đoàn tổng kết và phố biến cho các đơn vị
trong toàn sư đoàn.

Cuối tháng 5, máy bay trinh sát không người lái của địch thay đổi độ cao, từ 500 mét
xuống 300 mét, có lúc xuống thấp 200 mét. Trong một số trận đánh máy bay trinh sát, có đơn vị để
đạn tên lửa rơi xuống đất hoặc bắn vào vùng cấm, gây tổn thất về người và tài sản của nhân dân.

Trước tình hình đó, ngày 1 tháng 6 Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho các sư đoàn
phòng không:

- Giãn đội hình tên lửa và một lực lượng pháo phòng không ra bố trí đón đánh đường bay
chủ yếu để tiêu diệt máy bay trinh sát bay thấp của địch từ xa.

- Đơn vị đánh, đơn vị huấn luyện luân phiên nhau để. vừa chiến đấu vừa rèn luyện bộ đội.

- Đánh tiêu diệt địch, đánh chắc thắng, bảo đàm an toàn tuyệt đối. Tuyệt đối không bắn vào
vùng cấm Hà nội, Hài Phòng.

Thực hiện chỉ thị của Quân chủng, Đàng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trương:

- Đưa trung đoàn tên lửa 236 cơ động đánh địch trên hướng nam và đông nam Hà nội.

- Trung đoàn tên lửa 263 bố trí đánh địch ở phía nam và tây nam Hà nội.

- Trung đoàn tên lửa 257 đánh địch từ hướng đông nam vào.

Trên cơ sở đó, sư đoàn đã lập kế hoạch cơ động lực lượng ra vòng ngoài để phục kích đánh
máy bay trinh sát của địch, báo cáo lên Quân chủng và được Quân chủng thông qua. Tiếp đó toàn sư
đoàn đã nghiên cứu nắm chắc tình hình nhiệm vụ, đối tượng tác chiến, vận dụng tư tưởng chỉ đạo và
nghệ thuật tác chiến phòng không để triển khai thế trận đánh máy bay trinh sát không người lái tầng
thấp của địch.

Bộ tư lệnh sư đoàn đã tích cực chỉ đạo toàn diện các đơn vị về tác chiến và xây dựng, lãnh
đạo và tồ chức chỉ huy, cà chiến thuật, kỹ thuật và hậu cần nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các
lực lượng và phương tiện của sư đoàn kiên quyết bắn rơi nhiều máy bay trinh sát của địch, tích cực
góp phần với các lực lượng phòng không trên miền Bắc đánh bại âm mưu thu thập tình báo và khiêu
khích của địch. Trong những ngày này, đánh máy bay trinh sát của địch thực sự trở thành mặt trận
khẩn trương, sôi động, phức tạp và quyết liệt từ cơ quan đến đơn vị và đối với tất cả cán bộ, chiến sĩ.

Trong tháng 6, sư đoàn đã cử trợ lý tác huấn phòng tham mưu Phạm Trương Uy, đồng chí
Phương, trợ lý tác huấn trung đoàn tên lửa 257 và sĩ quan điều khiển tiểu đoàn 77 Hoàng Công
Khanh, là những cán bộ có nhiều kinh nghiệm lên Bộ Tham mưu quân chủng tham gia ý kiến bổ sung
tài liệu đánh máy bay trinh sát không người lái bay thấp" và tổ chức tập huấn cho các đơn vị tên lửa
trong Quân chủng.

Ngày 9 tháng 6, cụm hoả lực tiểu đoàn 10 trung đoàn tên lửa 236 đã bắn rợi tại chỗ một
chiếc 147-J bên bờ sông Nhuệ. Ngày 26 tháng 7, tiểu đoàn 3 trung đoàn pháo phòng không 212 bắn
rơi tại chỗ một chiếc máy bay trinh sát tầng thấp bên bờ sông Đuống.

4 giờ 15 phút ngày 6 tháng 8, trên bản đồ thu tình báo quốc gia B 1 xuất hiện tín hiệu máy
bay C.130. Lập tức sở chỉ huy sư đoàn cho hai trung đoàn tên lửa 257 và 236 vào cấp 1. Cả hai tiểu
đoàn 77 và 61 đều nhanh chóng phát hiện được mục tiêu. 4 giờ 24 phút, tiểu đoàn 77 phóng hai đạn
nhưng kíp trắc thủ thao tác điều khiển đạn không tốt nên không diệt được mục tiêu. 4 giờ 26 phút, tiểu
đoàn phó Đỗ Văn Tân chỉ huy kíp chiến đấu tiểu đoàn 61 phóng một quả đạn bắn rơi tại chỗ một
chiếc I47.SRE-16. Đây là chiếc máy bay trinh sát không người lái bay thấp ban đêm thứ hai bị bộ đội
phòng không Hà nội bắn rơi tại chỗ.

Trong tháng 7 và tháng 8, các tiểu đoàn 43, 441 (Trong thời gian này, tiểu đoàn 43 và 44
trung đoàn tên lửa 263 phối thuộc chiến đấu với trung đoàn tên lửa 236), 61 trung đoàn tên lửa 236 và
tiểu đoàn 76 trung đoàn tên lửa 257 đều lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay trinh sát tầng thấp của
địch. Ngày 28 tháng 8, tiểu đoàn 76 bắn rơi chiếc thứ hai trong tháng. Ngày 30 tháng 8, tiểu đoàn 56
bắn rơi chiếc máy bay trinh sát thứ tư của tiểu đoàn mình.

Trong một ngày cuối tháng 8, đang nằm trên giường bệnh, Bác Hồ kính yêu đã nghe tiếng
tên lửa phòng không nổ trên bầu trời Thủ đô. Bác hỏi các đồng chí túc trực bên giường bệnh: "Nó vào
đấy à? Có bắn rơi không?". Nghe tin bộ đội phòng không Hà nội bắn rơi máy bay trinh sát của địch,
Bác rất vui lòng. Mặc dù ốm nặng, ngày 30 tháng 8 Bác vẫn gửi tặng sư đoàn một lẵng hoa của
Người.

Nhận lảng hứa của Bác do Chính uỷ Quân chủng Đặng Tính trao tặng, Chính uỷ sư đoàn
Trần Văn Giang xúc động không cầm được nước mắt. Lẵng hoa của Bác Hồ được sư đoàn chuyển
tặng cho tiểu đoàn 56. Cả sư đoàn vui mừng, cảm động trước sự quan tâm đặc biệt cửa Người Cha
thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Tất cả cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn vô cùng bàng
hoàng khi nhận được tin: Hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập,
lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta qua đời.

Đây là một tổn thất vô cùng to lớn đối với Đảng Lao động Việt nam, dân tộc Việt nam và
các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Từ sở chỉ huy sư đoàn đến các trận địa phòng không bảo vệ Hà
nội, tất cà cán bộ, chiến sĩ đều hướng về Ba Đình lịch sử xúc động không cầm được nước mắt, vĩnh
biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cả tiểu đoàn 56 đứng lặng yên trước lẵng hoa của Bác vừa trao
tặng, nước mắt rưng rưng, có chiến sĩ đã khóc nấc lên khi vĩnh biệt Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Trong
nỗi đau thương lớn của toàn dân tộc, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không Hà nội vĩnh biệt Bác với
niềm tiếc thương vô hạn và sự biết ơn sâu sắc của những người con được may mắn ở gần Bác, được
Người tin cậy, thương yêu chăm sóc. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 đời đời nhớ
ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và nguyện tiếp tục sự nghiệp cách mạng của Người. Biến đau thương
thành hành động cách mạng, toàn sư đoàn đã nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, hướng dẫn của
Quân chủng, làm việc hết sức mình để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tang lễ Bác.

Trong tháng 9, sư đoàn đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị "Học tập và làm theo Di chúc
thiêng liêng của Hồ Chủ tịch".

Dưới ánh sáng nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Đảng uỷ Quân chủng
về cuộc vận động "Nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đàng viên lớp Hồ Chí Mình", sư đoàn
đã tập trung xây dựng Đàng bộ vững mạnh, rèn luyện nâng cao chất lượng đảng viên và làm tốt công
tác phát triển đảng. Năm 1969, toàn sư đoàn đã chuyển biến đồng đều, vững chắc. Trung đoàn pháo
phòng không 220 là đơn vị có truyền thống xây dựng và chiến đấu trong nhiều năm nay, vẫn giữ vững
lá cờ đầu của sư đoàn. Trung đoàn đã được Bộ tư lệnh Quân chủng tặng cờ "Cơ sở vững, trung đoàn
mạnh".

Tổng kết.một năm thực hiện phong trào hành động cách mạng "Làm theo Di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh", Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã đánh giá: "Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ của
sư đoàn rất năng nề. Nhưng cán bộ, chiến sĩ luôn luôn đoàn kết nhất trí, trung thành tuyệt đối với
Đàng, với nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc.
Sư đoàn đã và đang tiến bộ đống đều trên các mặt, hoàn thành nhiệm vụ trên giao, ngày càng có khả
năng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Hà nội và các ri hiếm vụ khác…".

Những chuyển biến tiến bộ của sư đoàn là bước chuẩn bị tích cực trước tình thế cách mạng
mới, nhiệm vụ mới, vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô của cả nước, vừa sẵn sàng hoàn thành mọi
nhiệm vụ khấc, góp phần thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược của Quân chủng, đánh thắng địch trên các
chiến trường.

Trong năm 1969, Bộ tư lệnh sư đoàn còn tổ chức hội nghị tổng kết bốn năm chống chiến
tranh phá hoại của không quân Mỹ ở khu vực Hà nội. Tới dự hội nghị có hàng trăm cán bộ chủ chốt ở
cơ quan và đơn vị. Đây là đợt tổng kết cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của không quân
Mỹ của bộ đội phòng không Hà nội, một cuộc tổng kết lớn chưa từng có trong lịch sừ của sư đoàn.
Hội nghị đã thống nhất đánh giá những âm mưu thủ đoạn của không quân địch, những chủ trương
biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng, tác chiến phòng không của sư đoàn trong cuộc chống chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Kết quả của việc tổng kết
của sư đoàn đã góp phần xây dựng tổng kết cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Quân
chủng và góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật xây dựng, tác chiến của bộ đội phòng không Việt
nam.

Đầu năm 1970, Quân uỷ Trung ương nhận định: "Do bản chất ngoan cố và xào quyệt, đế
quốc Mỹ sẽ còn tiếp tục kéo dài chiến tranh ở Việt nam âm mưu tăng cường lực lượng và mở rộng
chiến tranh xâm lược ở Cam-pu-chia, có thể cho lực lượng tay sai lấn chiếm vùng giải phóng Lào.
Chúng còn có thể dùng bộ binh đánh phá đường hành lang 559, kể cả khu vực nam, bắc đường số 9 để
ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam và dùng không quân đánh phá trở lại miền Bắc.

Ngày 24 tháng 3, Đảng uỷ Quân chủng họp bất thường ra nghị quyết về "tình hình, nhiệm
vụ trước mắt nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu thực hiện thắng lợi ba nhiệm vụ chiến
lược của Quân chủng là bảo vệ yếu địa, bảo vệ giao thông vận chuyển và chiến đấu trong đội hình
binh chủng hợp thành.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng, lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn đã tập trung
tổ chức 100 phần trăm lực lượng phòng không của sư đoàn triển khai chiến đấu, sẵn sàng đánh địch,
bảo vệ mục tiêu chiến lược số một của đất nước, trước mắt tiếp tục đánh máy bay trinh sát của địch.

Trong những tháng đầu năm 1970, ngoài việc sừ dụng máy bay trinh sát miền Bắc, không
quân Mỹ còn đánh phá một số mục tiêu trọng điểm ở nam Khu 4, khu vực đường 7, trên tuyến đường
Hồ Chí Minh và chuẩn bị mở cuộc hành quân sang Lào để cắt đứt đường dây vận chuyển chiến lược
của ta cho chiến trường miền Nam.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn tổ chức cơ động trung đoàn tên
lửa 236, hai tiểu đoàn pháo 37 mm của hai trung đoàn tên lửa 236, 257, ba đại đội súng máy phòng
không AM của tiểu đoàn 20 và trung đoàn pháo phòng không 220 vào Nghệ An chiến đấu nhằm tăng
cường và phối hợp với các lực lượng phòng không tại chỗ làm hậu thuẫn cho chiến dịch binh chủng
hợp thành đang diễn ra ở Cánh Đồng Chum. Lực lượng của sư đoàn chủ yếu triển khai ở khu vực
Đông Hiếu, Giang Sơn, đường số 7. Do địch không vào khu vực bố trí lực lượng phòng không của sư
đoàn nên các đơn vị chưa có dịp đánh địch. Tuy nhiên, bộ đội được rèn luyện toàn diện và sư đoàn có
thêm kinh nghiệm tổ chức chỉ đạo lực lượng tương đối lớn cơ động chiến đấu trên chiến trường xa.

Cuối tháng 4 năm 1970, liên quân Việt - Lào kết thúc chiến dịch thắng lợi, các đơn vị của
sư đoàn ở Nghệ An được lệnh cơ động ra Thanh Hoá tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mùa khô 1970 -
1971 của Quân chủng. Đến tháng 11 các đơn vị này cơ động hết về bảo vệ Hà nội. Đội hình chiến đấu
của sư đoàn gồm có 8 trung đoàn, trong đó có bốn trung đoàn tên lửa là 236, 261, 257, 263 và bốn
trung đoàn pháo phòng không là 212, 220, 232, 234. Trung đoàn pháo phòng không 212 và 220 được
tổ chức thành trung đoàn hỗn hợp gồm hai loại pháo 100 và 57 mm. Trung đoàn tên lửa 236 và trung
đoàn pháo phòng không 234 làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu. Trung đoàn pháo phòng không 232 làm
nhiệm vụ xây dựng kho tàng cho Quân chủng.

Giữa lúc toàn sư đoàn đang khẩn trương thực hiện nhiệm vụ mùa khô 1970 - 1971 thì sáng
sớm ngày 21 tháng 11 năm 1970, địch tiến hành thực hiện kế hoạch "Kin-pin" đổ bộ đường không để
giải thoát bọn giặc lái ở Sơn Tây.

2 giờ 8 phút, nhận được lệnh của Quân chủng, Phó tư lệnh sư đoàn Đinh Đình Sành ra lệnh
cho toàn sư đoàn vào cấp 1. Đến 2 giờ 26 phút, toàn sư đoàn đã sẵn sàng chiến đấu. Đrln vị chuyển
cấp chiến đấu nhanh nhất là tiểu đoàn 43 trung đoàn tên lửa 263. Đơn vị chậm nhất là trung đoàn tên
lửa 257.
Sư đoàn chuyển cấp chiến đấu xong thì máy bay địch vào cách Hà nội 30 ki-lô-mét. Một số
tiểu đoàn tên lửa và đơn vị pháo phòng không phát hiện được máy bay F4 ở trên cao nhưng không
phát hiện được máy bay trực thăng bay thấp của địch. 2 giờ 39 phút tiểu đoàn 43 phóng hai quả đạn
bắn rơi một máy bay địch. 2 giờ 52 phút, tiểu đoàn 44 phóng một quà đạn diệt thêm một máy bay nữa.
Tiểu đoàn 41 phát hiện được mục tiêu bay về hướng Sơn Tây, điều kiện có thể đánh được nhưng chỉ
huy tiểu đoàn cho rằng máy bay ta luyện tập nên không đánh. Sau đó đơn vị lại phát hiện được mục
tiêu ở cự ly 32 ki-lô-mét nhưng đồng thời lại phát hiện được tín hiệu tên lửa tự dẫn Sơ-rai của địch
nên không đánh được. Tiểu đoàn 64 ở trận địa Thanh Oai phát hiện được mục tiêu bay với tốc độ 5
mét 1 giây, xác định là máy bay trực thăng, báo cáo lên chỉ huy trung đoàn. Nhưng trung đoàn phó do
dự không hạ quyết tâm đánh vì cấp trên không xác định rõ máy bay ta hay địch. Một số đơn vị khác
do lơ là mất cảnh giác và bảo đảm kỹ thuật chưa tốt nên không đánh được địch.

Mặc dù bắn rơi 2 máy bay địch nhưng các đơn vị của sư đoàn đã không đánh được 6 chiếc
máy bay trực thăng bay thấp là lực lượng chủ yếu vào cướp giặc lái ở Sơn Tây. Đây là một khuyết
điểm nghiêm trọng của Quân chủng và sư đoàn. Nguyên nhân chủ yếu là tinh thần cảnh giác sẵn sàng
chiến đấu chưa cao, không dự kiến được tình huống đặc biệt địch sử dụng máy bay trực thăng vào sâu
yếu địa miền Bắc. Chính vì vậy khi tình huống xảy ra, chỉ huy các cấp đã xử lý bị động, lúng túng, bộ
đội quàn lý phát hiện và hiệp đồng thông báo địch trên các tầng không chưa tốt, không phát hiện và
đánh được tốp chủ yếu, thiếu phương án đánh địch mặt đất, tổ chức thông tin liên lạc không vững
chắc, hiệu suất chiến đấu chưa cao, chưa bắn rơi tại chỗ máy bay địch.

Trận đánh đã để lại nhiều bài học sâu sắc đối với sư đoàn, nhất là bài học về chuẩn bị và
thực hành đánh địch đổ bộ đường không ở khu vực Hà nội. Được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn
đã tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc và đề ra các biện pháp nhằm khẩn trương khắc phục có hiệu
quả những khiếm khuyết trên.

Bị thua đau ở miền Nam, Lào, Cam-pu-chia, Mỹ- nguỵ ngày càng bị động về chiến lược
trên toàn cõi Đông Dương.

Phân tích tình hình cách mạng và so sánh lực lượng giữa ta và địch, tháng 5 năm 1971 Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghí quyết về tình hình, nhiệm vụ trước mắt. Mục đích
là động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh. tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao,
đánh bại chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972,
đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đẩy mạnh khảng chiến trong trường hợp chiến tranh kéo dài.

Tháng 6 năm 1971, Hội nghị Quân uỷ Trung ương thông qua kế hoạch tác chiến năm 1972.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và kế hoạch tác chiến của Bộ,
Đảng uỷ và Bộ tư lệnh chủ trương: tăng cường chiến đấu bảo vệ miền Bắc chủ động đánh máy bay
trinh sát và sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch, bắn rời tại chỗ máy bay, bắt
sống giặc lái, bảo vệ an toàn mục tiêu; tích cực chuẩn bị kế hoạch tác chiến mùa khô 1971 - 1972.

Tháng 7 năm 1971 miền Bắc bị lụt lớn. Được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã tập
trung chỉ đạo các đơn vị phòng chống lụt tích cực và thu được nhiều kết quả Tuy nhiên do nước lên
nhanh, khí tài của tiểu đoàn 57 trung đoàn tên lửa 261 ở trận địa Đại Chu bị ngập nước. Được sự chỉ
đạo của sư đoàn trực tiếp là phòng kỹ thuật, ban kỹ thuật trung đoàn và cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 57
đã liên tục ngày đêm tháo dỡ từng khối, từng bộ phận của khí tài đưa về nơi sơ tán ở Đông Anh. Được
sự chỉ đạo động viên và giúp đỡ của toàn trung đoàn, nơi sơ tán thực sự trở thành một công trường tấp
nập liên tục ngày đêm nhằm thực hiện bằng được quyết tâm: khẩn trương tổng lau toàn bộ khí tài để
tiểu đoàn 57 tiếp tục chiến đấu. Mặc dù trời nóng bức, trong các căn nhà bạt, các cán bộ, kỹ sư, nhân
viên kỹ thuật và cán bộ chiến sĩ khác của tiểu đoàn và đơn vị vẫn miệt mài công việc tháo gỡ từng bộ
phận, lau chùi tỉ mỉ, tra dầu mỡ và hong sấy chu đáo. Đêm đến, dưới ánh đèn điện toả sáng, mọi công
việc lại tiến hành tới khuya. Sau hàng tháng liên tục miệt mài với công việc, toàn bộ khí tài của tiểu
đoàn 57 đã được lắp ráp kiểm tra tốt bào đảm chiến đấu. Đây là một điển hình về trách nhiệm và
quyết tâm rất cao nhằm giữ gìn, bảo quản tiết kiệm vũ khí. khí tài của các cán bộ, nhân viên kỹ thuật
trong việc khắc phục thiên tai, bảo đảm kỹ thuật trong toàn sư đoàn.

Tháng 8 năm 1971, Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho toàn sư đoàn: chủ yếu bảo
vệ khu vực Hà nội, phía tây bắc Hà nội, đường số 1 bắc và thành lập Bộ tư lệnh tiền phương của sư
đoàn tham gia chiến đấu bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở khu vực Thanh Hoá - Nghệ An.

Thực hiện nhiệm vụ trên, ngày 5 tháng 8, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức thành lập Bộ tư
lệnh tiền phương mang phiên hiệu sư đoàn phòng không 361B do Tư lệnh sư đoàn Trần Quang Hùng
trực tiếp làm tư lệnh, phó chính uỷ sư đoàn Nguyễn Đắc Thái làm chính uỷ. Tham gia tiền phương
của sư đoàn còn có Tham mưu trưởng Nguyễn Đình Sơn, Chủ nhiệm chính trị Đào Tiến, Chủ nhiệm
kỹ thuật Nguyễn Trung Lừ và Chủ nhiệm hậu cần Nguyễn Văng Thăng. Trung đoàn tên lửa 263 do
đồng chí Tư lệnh và Chính uỷ sư đoàn trực tiếp chỉ huy cơ động chiến đấu từ Thọ Xuân vào Nghệ An.
Phó tư lệnh Trần Xanh trực tiếp chỉ huy trung đoàn tên lửa 236 và trung đoàn pháo phòng không 234
từ Hà nội vào Thanh Hoá triền khai đội hình chiến đấu bảo vệ sân bay Thọ Xuân. Trung đoàn tên lừa
267 và trung đoàn pháo phòng không 213 thuộc sư đoàn phòng không 363 ở Hải Phòng được lệnh cơ
động vào Nghệ An phối thuộc chiến đấu với Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn. Trung đoàn pháo
phòng không 228 bào vệ cầu Hàm Rồng được lệnh phối thuộc chiến đấu với Bộ tư lệnh tiền phương
của sư đoàn.

Cũng trong thời gian này sư đoàn còn tồ chức bàn giao trung đoàn pháo phòng không 232
cho sư đoàn phòng không 377 và xây dựng bảy đại đội pháo phòng không 37 mm để bổ sung cho các
chiến trường. Các lực lượng của sư đoàn phòng không 361B được bố trí thành cụm chiến đấu kéo dài
từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh. Sau này, Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn còn chỉ huy chiến đấu các
lực lượng mới như trung đoàn pháo phòng không 222, 223 và tiểu đoàn 14 Nguyễn Viết Xuân của
Quân khu 4.

Mùa khô năm 1971 - 1972, ta tổ chức chiến dịch lớn đập tan cuộc hành quân "Chen-la 2"
của Mỹ ở Cam'pu-chia và mở chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Rạng sáng ngày 18 tháng 12 năm 1971, ta bắt đầu mở chiến dịch tiến công địch ở Cánh
Đồng Chum. 13 giờ 19 phút, địch sừ dụng ba tốp gồm sáu chiếc F4 hoạt động ở Mường Lát và một
tốp hai chiếc F4 vào hoạt động ở khu vực Lang Chánh - Hồi Xuân.

Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương cho không quân ta lên đánh máy bay địch và ra lệnh
cho sư đoàn vào cấp 1 sẵn sàng đánh địch. Sau khi không quân ta bắn rơi một chiếc F4, địch tổ chức
đánh máy bay ta, vào sâu khu vực Hà nội và các sân bay ở phía bắc. Trung đoàn tên lửa 263 đã bắn
rơi một chiếc F4.

15 giờ 48 phút, tiểu đoàn 57, trung đoàn tên lừa 261 phóng một quả đạn bắn rơi tại chỗ một
chiếc F4 ở Hoà Bình, 15 giờ 55 phút, tiểu đoàn 931 (Tiểu đoàn 93 trung đoàn tên lửa 278 thời gian
này phôi thuộc chiến đấu với trung đoàn tên lửa 261) trung đoàn tên lửa 261 phóng hai quà đạn không
trúng mục tiêu. 15 giờ 59 phút, tiểu đoàn 59 phóng ba quả đều mất điều khiển, đạn rơi xuống đất. 16
giờ 2 phút tiểu đoàn 41 phóng hai quả đạn bắn rơi tại chỗ một chiếc F4. Trong điều kiện mới, việc chủ
động phát hiện địch tập kích đường không và bắn rơi tại chỗ hai máy bay F4 là chiến công xuất sắc
của bộ đội phòng không Hà nội, hoàn thành nhiệm vụ của Quân chủng giao cho sư đoàn. Tuy nhiên
Bộ tư lệnh sư đoàn cũng chỉ thị cho tiểu đoàn 59, 93 rút kinh nghiệm chiến đấu nghiêm túc, tìm ra
nguyên nhân cụ thể và có biện pháp khắc phục kịp thời.

Tại buổi mít tinh trọng thể kỷ niệm ba ngày lễ lớn trong tháng 12,- Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã biểu dương chiến công của bộ đội phòng không Hà nội.

Bị thất bại liên tiếp trên các chiến trường, từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 12 năm 1971, địch
sử dụng hơn 1.000 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh trả đũa một số khu vực trên miền Bắc.

Ngày 26 tháng 12, được sự chỉ huy và chi viện hoả lực của sư đoàn, trung đoàn pháo
phòng không 228 bảo vệ cầu Hàm Rồng đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F4-C.

Ngày 29 tháng 12, địch sử dụng 205 lần chiếc chia làm năm đợt đánh nhiều mục tiêu ở
Quảng Bình, trong đó có tốp bất ngờ vào khống chế sân bay Anh Sơn. Được sở chỉ huy tiền phương
sư đoàn giao nhiệm vụ đánh địch, trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa 263 Nguyễn Hồng Quảng đã
chỉ huy tiểu đoàn 43 bắn rơi một chiếc F4.

Trong thời gian này, Bộ tư lệnh tiền phương của sư đoàn được lệnh cơ động sở chi huy từ
Rú Cuối về Nghi Long (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). 20 giờ 30 phút ngày 29 tháng 12, Tư lệnh sư
đoàn trực tiếp giao nhiệm vụ cho trưởng ban tác chiến Hoàng Bảo và trưởng ban thông tin Nguyễn
Văn Thìn: Đúng 24 giờ phải bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt với sở chỉ huy Quân chủng, sở chỉ
huy cơ bản của sư đoàn ở Hà nội, các lực lượng tiền phương của sư đoàn và đơn vị phối thuộc chiến
đấu là trung đoàn tên lửa 267.

Sau ba ngày đêm cơ động liên tục, tuy mệt mỏi và thiếu ngủ nhưng tất cà cán bộ, chiến sĩ
trong ban thông tin và đại đội 10 vẫn khẩn trương thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh sư đoàn. Trong
khi đó các trợ lý tác huấn như Đinh Văn Cao Mạnh Hùng… sau khi đi đốc chiến và chỉ đạo các đơn vị
hành quân lại tiếp tục nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu. Đúng 24 giờ ngày 29 tháng 12 các lực lượng của
tiền phương sư đoàn đã triển khai chiến đấu xong, sở chỉ huy tiền phương đã liên lạc thông suốt với
các đầu mối theo lệnh của Tư lệnh.

Ngày 30 tháng 12, lúc 6 giờ 41 phút, 50 lần chiếc máy bay hải quân Mỹ vào đánh Cửa Hội,
kho dầu Hưng Nhân, Hưng Thịnh, Nghi Thái. Từ 6 giờ 58 phút đến 7 giờ, các tiểu đoàn 51, 52, 53, 54
trung đoàn tên lửa 263 và cụm phòng không ở Bến Thuỷ - ga Vinh đã hiệp đồng chiến đấu với quân
dân huyện Nghi Lộc đánh địch quyết liệt bắn rơi tại chỗ một máy bay địch, giặc lái nhảy dù. Để cứu
giặc lái, nhiều tốp máy bay địch từ biển lao vào. Chúng ném bom, phóng tên lửa, bắn đạn 20 ly xối xả
vào các trận địa phòng không của ta. Cụm phòng không Bến Thuỷ - ga Vinh đã hiệp đồng chặt chẽ,
chiến đấu mưu trí dũng cảm, không để địch đánh vào trận địa và cứu giặc lái.

Trung đoàn pháo phòng không 213 đánh năm trận bắn rơi một máy bay địch. Trung đoàn
pháo phòng không 222 bắn rơi một chiếc khác. Quân và dân đảo Hòn Ngư bắn rơi một chiếc máy bay
trực thăng. Buổi chiều, tiểu đoàn 44 lại bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái.

Trận tập kích quy mô lớn vào thành phố Vinh với 200 lần chiếc máy bay của hải quân Mỹ
bị thất bại, tám máy bay địch bị bắn rơi.

Trong hai tuần lễ tháng 12 năm 1971, các lực lượng phòng không của sư đoàn đã đánh
tháng liên tiếp ba trận, tiêu diệt 12 máy bay Mỹ. Đây là đợt tập kích đường không lớn nhất vào miền
Bắc của không quân Mỹ kể từ ngày chúng tuyên bố ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc nước ta.
Đây cũng là chiến công xuất sắc của sư đoàn trong mùa khô 1971 - 1972. Thắng lợi đó thể hiện tinh
thần cảnh giác sẵn' sàng chiến đấu cao, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của bộ đội phòng
không Hà nội trên quê hương Bác Hồ kính yêu. Chiến thắng của sư đoàn đã tích cực góp phần với các
lực lượng phòng không tiêu diệt địch và bảo vệ giao thông vận chuyển ở Quân khu 4. Đó còn là đòn
đích đáng cảnh cáo âm mưu đánh trở lại miến Bắc của đế quốc Mỹ.

Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1972, ngày 11 tháng 3 năm 1972, Quân uỷ
Trung ương chính thức quyết định chuyển chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp thành hướng
tiến công chủ yếu trong cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên toàn chiến trường miền Nam.

Nhiệm vụ của chiến dịch tiến công Trị - Thiên là: tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, phối hợp
với phong trào nổi dậy của quần chúng đánh bại kế hoạch bình định" của địch, giải phóng phần lớn
địa bàn Trị - Thiên và phối hợp với các chiến trường khác góp phần giành thắng lợi trên toàn miền
Nam. Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ Bộ tư lệnh Quân chủng đã quyết định điều trung đoàn tên lửa
236B từ Thanh Hoá vào Quảng Bình phối hợp chiến đấu với sư đoàn phòng không 365, tham gia
chiến dịch Trị - Thiên.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lênh sư
đoàn phòng không 361 giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Bát trực tiếp chỉ huy trung đoàn tên lừa
236B gồm hai tiểu đoàn 62, 64, một dây chuyền sản xuất đạn của tiểu đoàn kỹ thuật 65 và sở chỉ huy
gọn hành quân vào phía nam Khu 4. Trong thời gian tham gia chiến dịch Trị - Thiên, lần lượt nằm
trong đội hình chiến đấu với các sư đoàn phòng không 363B, 365 và 367, trung đoàn tên lửa 236 đã
vượt qua mọi khó khăn thử thách quyết liệt, không ngại tổn thất hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm
vụ. Trung đoàn đã hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không đánh địch quyết liệt, yểm trợ và
bào vệ đắc lực cho bộ đội binh chủng hợp thành, bắn rơi 16 máy bay Mỹ, trong đó có bảy chiếc B52.
Những chiến công của trung đoàn tên lửa 236 đã góp phần xứng đáng vào thành tích chung của chiến
dịch. Những bài học kinh nghiệm của trung đoàn tên lửa 236 tham gia chiến đấu trong đội hình binh
chủng hợp thành ở chiến dịch Quảng Trị năm 1972 đã góp phần xây dựng sư đoàn và làm phong phú
thêm nghệ thuật tác chiến của bộ đội phòng không Việt nam.
Chương 4: (4-1972 đến 10-1972)
Cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn lần thứ hai của quân và dân ta trên chiến trường
miền Nam đầu năm 1972 làm cho chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" của Mỹ có nguy cơ bị thất
bại hoàn toàn.

Ngay sau khi ta bắt đầu mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, ngày 30 tháng 3, nhóm
"Hành động đặc biệt" (WSAG) gồm đại diện Bộ quốc phòng, Bộ Ngoại giao và cơ quan tình báo do
Kít-xinh-giơ đứng đầu được triệu họp để phân tích đánh giá tình hình và gấp rút tìm cách ngăn chặn
cuộc tiến công chiến lược của ta.

Ngày 2 tháng 4, Mỹ cấp tốc đưa hai tàu chờ máy bay Kít-ti-hốc ở Su-bích và Công-ten-la-
ti-ông ở Nhật về vùng biển Việt nam, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên bốn chiếc.

Ngày 3 và 4 tháng 4, địch lại điều thêm một đại đội máy bay ném bom chiến lược B52
gồm 20 chiếc từ Mỹ sang Utapao (Thái Lan), một đại đội F4-D gồm 21 chiếc từ Philippines đến Đà
Nẵng và Udon.

Ngày 6 tháng 4 năm 1972, tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh cho một lực lượng lớn không
quân và hải quân tham chiến ở miền Nam và tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với
miền Bắc nước ta.

Trong những ngày đầu, chúng tập trung đánh phá hậu phương chiến dịch hòng chặn đứng
cuộc tiến công của ta vào Đông Hà, Quảng Trị. Từ ngày 6 đến 9 tháng 4, địch sử dụng hàng trăm lần
chiếc máy bay tập trung đánh phá các đường giao thông, kho tàng, các trận địa phòng không, nhất là
các trận địa tên lửa ở khu vực Quảng Bình, Vĩnh Linh. Các lực lượng phòng không của ta đã đánh
địch kịp thời, mãnh liệt, bắn rơi 18 máy bay địch, trong đó có ba chiếc B52.

Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ trên miền Bắc nước ta đã diễn ra phức tạp,
quyết liệt ngay từ những trận đầu, ngày đầu.

Quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cùng với
quân dân cả nước, đồng bào và chiến sĩ Hà nội kiên định quyết tâm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền
Nam trong bất kỳ tình huống nào. Một lần nữa quân và dân Thủ đô lại bình tĩnh sẵn sàng chấp nhận
một cuộc thử thách đầy khó khăn ác liệt với niềm tin tất thắng.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, ngày 9
tháng 4, toàn sư đoàn phòng không 361 chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Bộ tư
lệnh sư đoàn đã tổ chức kiểm tra phương án tác chiến, các mặt bảo đảm chiến đấu và khẩn trương
triển khai huấn luyện bộ đội đánh địch trong điều kiện gây nhiễu điện từ phức tạp, đánh máy bay bay
thấp, chống tên lừa Sơ-rai bắn vào radar… Toàn sư đoàn khẩn trương chuẩn bị chiến đấu kiên quyết
thực hiện quyết tâm của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng: "Địch vào là biết, đánh trả mãnh liệt,
đánh thật trúng, đánh rơi tại chỗ nhiều máy bay, diệt nhiều giặc lái"(19)

Nghị quyết Đàng uỷ sư đoàn trong tháng 4 còn chỉ rõ: "Đánh bại bước phiêu lưu quân sự
của đế quốc Mỹ bào vệ an toàn Thủ đô là yêu cầu cấp bách và là trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ
vang của bộ đội phòng không Hà nội trong giai đoạn hiện nay".
Để phản ứng cuộc tiến công của ta ở Lộc Ninh, Hớn Quản đồng thời tăng cường sức ép với
ta và thăm dò dư luận, từ ngày 10 tháng 4 năm 1972, Nixon lại tiến hành một bước leo thang mới
nghiêm trọng ra miền Bắc nước ta.

Từ 2 giờ 30 phút đến 3 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4, khoảng 50 lần chiếc máy bay địch,
trong đó có 12 chiếc B52 vào đánh thành phố Vinh. Chúng tăng cường sử dụng các loại nhiễu, nghi
binh thu hút hoả lực và phóng tên lừa Sơ-rai vào các đài radar phòng không. Trong khi đó, các tốp nhỏ
bay ở độ cao thấp vào đánh các trận địa hoả lực phòng không rồi bất ngờ dùng B52 đánh vào các mục
tiêu. Trung đoàn tên lửa 236 tổ chức sẵn sàng chiến đấu ban đêm chưa tốt, chuyển cấp chậm, quản lý
địch và sử dụng hoả lực thiếu linh hoạt nên không kịp đánh máy bay cường kích và không đánh được
máy bay B52. Sau một ngày nghiên cứu vệt bom, bộ đội phòng không mới xác định được B52 vào
đánh Vinh.

Ngay sau khi B52 đánh Vinh, Bộ tư lệnh Quân chủng đã thông báo cho sư đoàn: Nhất định
B52 sẽ đánh Thanh Hoá. Tư lệnh sư đoàn Trần Quang Hùng cũng được lệnh vào chỉ huy trực tiếp các
lực lượng phòng không ở khu vực Hàm Rồng - Thọ Xuân.

3 giờ ngày 13 tháng 4, bảy mươi lần chiếc máy bay địch trong đó có sáu chiếc B52 vào
đánh khu vực Hàm Rồng và sân bay Thọ Xuân. Trung đoàn tên lửa 236 thu được tình báo B52,
chuyển cấp sớm, quyết định sử dụng hai tiểu đoàn đánh B52. Tiểu đoàn 61 đánh bằng phương pháp ba
điểm nhưng không kết quả. Tiểu đoàn 63 không thu được dải nhiễu B52 nên không đánh được. Trung
đoàn pháo phòng không 234 bắn lãng phí đạn, có lúc bắn không có mục tiêu.

Ngày 16 tháng 4, tiếp theo đợt đánh phá của 70 lần chiếc máy bay trong đó có chín chiếc
B52 vào đánh Hải Phòng lúc 3 giờ sáng, từ 9 đến 10 giờ, 60 lần chiếc máy bay của không quân chiến
thuật từ Thái Lan vào đánh Hà nội. Chúng bay ở độ cao gần 10 ki-lô-mét và gây nhiễu giống B52.
Dưới sự chỉ huy của sư đoàn, hai trung đoàn tên lừa 261 và 257 bắn 30 quả đạn, không chiếc máy bay
nào rơi tại chỗ. Kho xăng Đức Giang bị địch đánh thiệt hại nặng.

19 giờ ngày 21 tháng 4, hàng chục máy bay trong đó có sáu chiếc B52 vào đánh cầu Hàm
Rồng. Hoả lực của sư đoàn có ba tiểu đoàn tên lửa 66, 69, 632 (Hai tiểu đoàn 66, 69 của trung đoàn
tên lửa 275 phối thuộc chiến đấu với trung đoàn tên lửa 236. Tiểu đoàn 61 đã cơ động về Vụ Bản
(Nam Hà)) và trung đoàn pháo phòng không 228. Do địch gây nhiễu nặng, thông tin liên lạc không
thông suốt nên các tiểu đoàn tên lửa không đánh đúng đối tượng B52, chỉ bắn được hai lần với bốn
quả đạn vào các tốp cường kích nhưng không kết quả. Trung đoàn pháo phòng không 228 phát huy
hoả lực bắn hàng nghìn viên đạn, rơi một chiếc F4, bảo vệ được cầu nhưng bị địch đánh vào trận địa,
tổn thất khá nặng: hai khẩu pháo 57 mm, một máy chỉ huy, một máy nổ bị hỏng, 15 chiến sĩ hy sinh,
32 đồng chí bị thương.

2 giờ 43 phút ngày 24 tháng 4, được sự yểm trợ của hàng chục chiếc máy bay chiến thuật,
12 chiếc B52 vào đánh khu vực Hàm Rồng. Hai tiểu đoàn 66, 693 (Tiểu đoàn 63 đã cơ động về bảo vệ
Hà nội) đã tập trung đánh vào một tốp B52 nhưng không kết quả. Trung đoàn pháo phòng không 228
đánh địch quyết liệt bắn rơi hai chiếc F4.
Trước tình hình địch huy động một lực lượng lớn không quân trong đó có cả B52 đánh phá
ồ ạt, liên tục có tính chất "nhảy cóc" vào miền Bắc, được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, Thường vụ
Đàng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng đã quyết định tập trung lực lượng sư đoàn phòng không 361 về
khu vực Hà nội để bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở Thủ đô và đường số 1 nam, 1 bắc.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã rút Bộ tư lệnh tiền phương
về Hà nội, bàn giao khu vực Thanh Hoá, Nghệ An cho các đơn vị bạn đảm nhiệm. Sư đoàn đã tổ chức
bàn giao trung đoàn tên lửa 268, trung đoàn pháo phòng không 228 cho Quân chủng, bàn giao hai
trung đoàn pháo phòng không 222 và 223 cho Quân khu 4. Hai tiểu đoàn 61, tiểu đoàn 63 trung đoàn
tên lửa 236 và trung đoàn pháo phòng không 234 được lệnh cơ động về bảo vệ phía nam Hà nội.

Đầu tháng 5 năm 1972, lực lượng của sư đoàn có ba trung đoàn tên lửa là 261, 257 và 236
gồm mười tiểu đoàn hoả lực và bốn trụng đoàn pháo phòng không là 212, 220, 260 và 234. Các trung
đoàn tên lửa bố trí ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng để đánh địch trên các hướng, chủ yếu là hướng
tây bắc và tây nam Hà nội. Trung đoàn pháo phòng không 212 bố trí bảo vệ khu vực Yên Viên, Gia
Lâm. Trung đoàn pháo phòng không 220 bố trí bảo vệ khu Trung ương, nhà máy điện Yên Phụ và cầu
Long Biên. Trung đoàn pháo phòng không 260 bào vệ sân bay Nội Bài. Trung đoàn pháo phòng
không 234 bảo vệ khu nam Hà nội và là lực lượng cơ động của sư đoàn và của Quân chủng.

Tham gia bảo vệ Hà nội còn có ba trung đoàn không quân tiêm kích 921, 923 và 925. Lực
lượng của dân quân tự vệ Thủ đô có 56 trận địa súng máy phòng không 14,5 mm, mỗi trận địa có từ
hai đến bốn khẩu bố trí xen kẽ với bộ đội chủ lực đánh địch trên các hướng.

So với năm 1967, lực lượng phòng không bảo vệ Hà nội năm 1972 ít hơn nhiều, vì phần
lớn lực lượng phòng không quốc gia đã dồn vào phía nam làm nhiệm vụ bảo vệ giao thông vận
chuyển ở Khu 4 và tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành ở chiến dịch Quảng Trị.

Để tránh tổn thất cho nhân dân, Thành uỷ và uỷ ban hành chính thành phố Hà Nói đã quyết
định sơ tán khỏi nội thành từ 25 đến 30 vạn người. Đến ngày 25 tháng 4 năm 1972, do tình hình có
chiều hướng căng thẳng hơn, thành phố quyết định sơ tán thêm 10 vạn người. Một lần nữa, quân và
dân Thủ đô lại khẩn trương chuẩn bị một cuộc chiến đấu quyết liệt mới.

Cán bộ chiến sĩ sư đoàn đều thấy rõ: Hà nội sẽ là nơi đọ trí, đọ sức, đọ lực quyết liệt nhất
giữa ta và địch trong điều kiện lực lượng phòng không của ta còn ít hơn trước. Một số cán bộ, chiến sĩ
tỏ ra băn khoăn lo lắng trước nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu chiến lược số một của đất nước. Nắm chắc
tình hình đó, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã chủ trương nhanh chóng nâng cao hiệu suất chiến đấu
của các đơn vị và tìm cách đánh có hiệu quả, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ trái tim thiêng
liêng của cả nước. Vì vậy sư đoàn đã tập trung xây dựng phương án tác chiến đánh máy bay cường
kích và B52 để bảo vệ các mục tiêu tróng yếu ở khu vực Hà nội - Nội Bài.

Ngày 3 tháng 5, phương án tác chiến đánh địch bào vệ Hà nội của sư đoàn được Bộ tư lệnh
Quân chủng thông qua. Trên cơ sở đó, toàn sư đoàn khẩn trương triển khai kế hoạch sẵn sàng chiến
đấu. Những bài học sâu sắc trong các trận đánh không thành công tháng 4 được lãnh đạo, chỉ huy và
bộ đội tập trung khắc phục, quyết tâm lập công trong thời gian tới.
Để cứu vãn chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh", đến đầu tháng 5, Mỹ đã điều sang Đông
Dương 337 máy bay chiến thuật, 50 máy bay ném bom chiến lược B52, nâng tổng số lên đến 981 máy
bay chiến thuật và 140 máy bay B52. Chúng còn tăng số tàu chiến ở ngoài vịnh Bắc Bộ từ 18 chiếc
lên đến 58 chiếc, ngày cao nhất là 66 chiếc, chiếm 60 phần trám tổng số tàu chiến đấu và đổ bộ của
hạm đội 7.

Ngày 2 tháng 5, cuộc họp giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ không kết quả. Mỹ
đình chỉ không thời hạn Hội nghị Paris về Việt nam.

Ngày 8 tháng 5, tổng thống Mỹ Nixon chủ trương đánh một đòn hiểm độc có tính chất
quyết định bằng cách dùng thuỷ lôi phong toả các cảng, ném bom mạnh miền Bắc và kết hợp ngoại
giao tăng sức ép đối với ta.

Ngày 9 tháng 5, địch bắt đầu triển khai lực lượng lớn hải quân để thả thuỷ lôi và bom từ
trường ở các bến cảng, cửa sông thuộc 10 tỉnh và 43 khu vực trên miền Bắc.

Ngày 10 và 11 tháng 5, không quân địch từ các căn cứ ở Thái Lan bay qua Lào có máy bay
tiếp dầu, gây nhiễu ngoài đội hình EB.66 và máy bay tiêm kích phục vụ, yểm trợ chặt chẽ vào đánh
cầu Long Biên, Phà Đen, Yên Viên, Bách hoá tổng hợp, kho A. Ngoài các tốp tiêm kích F4 làm nhiệm
vụ đánh chặn không quân ta, địch con sử đụng từ 12 đến 16 chiếc F4 đánh treo đội hình có giãn cách
rộng từ 200 đến 800 mét, độ cao từ 4 đến 6 ki-lô-mét thả nhiễu tính cực dày đặc trên một khu vực
rộng từ 20 đến 40 ki-lô-mét để che giấu đội hình cường kích và gây kích nổ đầu đạn tên lửa phòng
không của ta. Trong khi đó khoảng 16 đến 24 chiếc máy bay cường kích F4-B có lực lượng chế áp
phòng không yểm hộ chặt chẽ vào đánh phá mục tiêu.

Trong hai ngày chiến đấu, các lực lượng phòng không của sư đoàn đã tích cực đánh địch,
riêng bộ đội tên lửa đã phóng 44 quả đạn, được công nhận bắn rơi tám máy bay nhưng không có chiếc
nào rơi tại chỗ. Cầu Long Biên bị bom điều khiển bằng tia la-de của địch đánh hỏng.

Ngày 18 tháng 5, 30 lần chiếc F4 và F105 trong đó có 12 chiếc cường kích vào đánh phá
kho xăng Đức Giang lần thứ hai. Bảy tiểu đoàn tên lửa và trung đoàn pháo phòng không 220 đã liên
tục đánh địch, riêng bộ đội tên lửa đã phóng 11 lần, 16 quả đạn, được công nhận bắn rơi ba máy bay
nhưng không có chiếc nào rơi tại chỗ.

Từ 11 giờ 50 phút đến 12 giờ ngày 20 tháng 5, ba mươi lần chiếc máy bay F4 bay ở độ cao
4,5 đến 5,5 ki-lô-mét, trong đó 26 chiếc làm nhiệm vụ nghi binh, chế áp các trận. địa phòng không,
chỉ có bốn chiếc lượn vòng chiếu tia la-de đánh hỏng trạm biến thế Đông Anh.

Như vậy, từ ngày đầu của cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai đến trung tuần tháng 5, các
lực lượng phòng không của sư đoàn đã đánh hàng chục trận, hiệu suất chiến đấu thấp, hàng chục đài
radar điều khiển tên lửa và radar dẫn đường ở khu vực Hà nội bị địch phóng tên lửa Sơ-rai gây tổn
thất, nhiều mục tiêu bị đánh hỏng trong một thời gian ngắn. Riêng bộ đội tên lửa của sư đoàn đánh
hàng chục trận, phóng hàng trăm quả đạn được công nhận bắn rơi một số máy bay nhưng không có
chiếc nào rơi tại chỗ. Tình hình đó dẫn tới một số cán bộ, chiến sĩ hoang mang, đánh giá địch cao,
thiếu tin tưởng vào vũ khí, khí tài và trình độ chiến đấu của bộ đội. Ở cơ quan và đơn vị, các cán bộ
tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật thiếu tin tưởng và đổ lỗi lẫn nhau, cấp trên thiếu tin tưởng vào
cấp dưới, cơ quan thiếu tin tưởng ở đơn vị, bộ đội pháo phòng không thiếu tin vào khả năng chiến đấu
của bộ đội tên lửa. Hiện tượng ngại phát sóng sợ chưa đánh được địch đã bị tổn thất xuất hiện trong
một số kíp chiến đấu tên lửa.

Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã ra nghị quyết và tổ chức một đợt sinh
hoạt chính trị nhằm tạo nên sự chuyển biến sâu sắc về tư tướng của bộ đội, đẩy lùi những nhận thức
chưa đúng và củng cố lòng tin vững chắc cho chiến sĩ.

Một đoàn cán bộ sư đoàn do phó chính uỷ Phạm Văn Bời dẫn đầu đã lên đường vào Hàm
Rồng, Thọ Xuân để nghiên cứu rút kinh nghiệm về công tác chính trị, công tác tư tưởng, tìm biện
pháp lãnh đạo các chi bộ đảng trong chiến đấu ác liệt trong đó có đánh máy bay B52 và tìm ra các bài
học kịp thời bồi dưỡng cho chính trị viên các cấp.

Trên các trận địa phòng không ở khụ vực Hà nội, được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ và
Quân chùng, các hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu để tìm ra nguyên nhân cụ thể và có biện pháp
khắc phục kịp thời đã diễn ra sôi nổi. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh và các cơ quan sư đoàn đã xác định rõ
những nguyên nhân gây ra tình trạng hiệu suất chiến đấu thấp trong thời gian vừa qua.

Về địch, chúng đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai một cách ồ ạt, nhảy cóc,
đánh dứt điểm từng mục tiêu. Đồng thời với việc sử dụng B52 để leo thang nhanh gây sức tàn phá lớn
trên miến Bắc, không quân địch đã cải tiến, thay đổi các trang bị vũ khí kỹ thuật và thủ đoạn chiến
thuật xảo quyệt, tàn bạo mang tính huỷ diệt cao. Về máy bay, không quân địch đã dùng loại F4-D và
F4-E thay F4-C và F105, dùng F105-G thay F105-F; hải quân sử dụng phổ biến loại F4-J thay F.8 và
dùng A6, A7 thay A.4. Về vũ khí trang bị, ngoài việc sử dụng hệ thống điều khiển ném bom bằng tia
la-de ZOT do một chiếc chiếu tia la-de, một chiếc bổ nhào ném bom như trước, chúng còn dùng hệ
thống KNAI do một chiếc máy bay kiêm cả hai nhiệm vụ trên. Ngoài việc sử dụng tên lửa tự dẫn
AGM.45 chúng còn kết hợp sử dụng loại mới Stăng-đa AGM.78 hiện đại hơn, có sức công phá lớn,
tầm bắn xa, có bộ phận tích nhớ để đánh phá các đài radar điều khiển tên lửa, radar dẫn đường và
radar ngắm bắn. Trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, một tốp bốn chiếc máy bay chiến thuật chỉ
có một chiếc mang một máy gây nhiễu, thì lấn này tất cả các chiếc trong một tốp đều mang hai máy
gây nhiễu mới, có công suất phát lớn gấp hàng chục lần. Đó là các loại máy gây nhiễu của không quân
từ ALQ.87 đến ALQ.101, của hài quân từ ALQ.51 đến ALQ.100 để gây nhiễu tên lừa phòng không,
máy gây nhiễu ALR.18 để gây nhiễu radar ngắm bắn của không quân; máy gây nhiễu ALQ.76 và
QLT.13 để gây nhiễu radar ngắm bán COH-9A của ta. Các loại máy bay gây nhiễu mới có chế độ tự
động điều khiến để thay đổi tần số rất nhanh, chọn phương án tối ưu để gây nhiễu đúng đối tượng
radar cần thiết với công suất phát lớn nhất dưới các dạng nhiễu quét, nhiễu chặn, nhiễu ngắm, hòng
làm cho radar phòng không của ta bị tê liệt. Chúng còn cài tiến các thiết bị thả nhiễu tiêu cực như loại
QLE-38, "bom" nhiễu M.121 có chứa nhiều sợi kim loại để nhiễu loạn radar và gây kích nổ đầu đạn
tên lửa phòng không trong quá. trình bay đến mục tiêu. So với thời gian trước đội hình máy bay địch
giãn rộng hơn cả về cự ly và giãn cách, gây khó khăn cho việc kích nổ của đầu đạn tên lửa phòng
không.

Về ta, do tư tưởng chủ quan, giản đơn, dừng lại sau cuộc chống chiến tranh phá hoại lần
thứ nhất, các biện pháp chuẩn bị chiến đấu chưa tốt, lực lượng bào vệ Hà nội lại ít nên trước bước leo
thang chiến tranh nhanh với những trang bị, thủ đoạn mới của địch đã làm cho hiệu suất chiến đấu của
sư đoàn còn thấp, chưa bắn rơi được B52, mục tiêu bảo vệ bị tổn thất, nhân dân bị thương vong nhiều.
Vấn đề rất quan trọng là lãnh đạo, chỉ huy và bộ đội chưa nhanh, nhạy, phát hiện ra những thủ đoạn
xảo quyệt tàn bạo mới của địch và chưa có biện pháp khắc phục hiệu quả.

Máy bay F4-B làm cả nhiệm vụ tiêm kích và cường kích đã làm cho việc xác định và xạ
kích đúng đối tượng chủ yếu là máy bay cường kích gặp nhiều khó khăn. Việc tăng cường số lượng
máy gây nhiễu với công suất lớn, đội hình bay giãn cách rộng hơn trước đã làm cho chỉ huy, kíp chiến
đấu của ta xác định, phát hiện chọn - dài nhiễu và xạ kích kém hiệu quả. Trong khi đó ta vẫn rập
khuôn cách đánh cũ, như cách đánh độ; hình cường kích mật tập trang bị nhiễu QRC.160 năm 1967.
Khi máy bay địch sử dụng hệ thống chiếu tia la-de KNAI thì chỉ huy và bộ đội lại tìm đánh chiếc máy
lượn vòng chiếu tia la-de như trước…

Điều quan trọng nhất là trình độ xử trí, chỉ huy và thao tác xạ kích của bộ đội còn yếu.
Đoàn kiểm tra của Bộ Tổng tham mưu cuối tháng 4 năm 1972 đã nhận xét: "Cán bộ cấp tiểu đoàn trở
xuống phần lớn mới đề bạt, ít kinh nghiệm trong chỉ huy có nhiều bỡ ngỡ, khó khăn. Chiến sĩ ở phân
đội sử dụng các phương tiện, vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật chưa thành thạo, trình độ hiểu biết về
địch và thực hành tác chiến còn yếu. Số sĩ quan điều khiển, trắc thủ, pháo thủ có kinh nghiệm đã
chuyển làm nhiệm vụ khác. Theo thống kê của sư đoàn phòng không 361 thì chỉ có hai trắc thủ cũ đã
trực tiếp đánh địch trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, số còn lại hoàn toàn mới".

Nắm chắc những nguyên nhân trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung lãnh đạo
tổ chức bộ đội đi sâu nghiên cứu địch và phát huy dân chủ quân sự tìm cách đánh có hiệu quả. Sư
đoàn đã tổ chức mạng lưới nghiên cứu địch rất công phu. Các sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn thường
xuyên thu tình báo mạng B.1 để cho người chỉ huy và cơ quan tham mưu nghiên cứu nắm chắc quy
luật hoạt động của địch. Các vọng quan sát của sư đoàn ở núi Đọi, Ba Vì, Tam Đảo, trên nóc nhà ngân
hàng… được tổ chức chặt chẽ để bổ sung tình báo radar giúp người chỉ huy nắm chắc địch và điều
chỉnh xạ kích. Những cán bộ tham mưu giỏi của Bộ Tham mưu quân chủng đã cùng các sĩ quan tham
mưu của sư đoàn như Tam Dinh, Văn Quỳnh, Mạnh Hùng, Huy Cáp, Hồ Tuấn thay nhau có mặt trên
các vọng quan sát để theo dõi từng đường bay, nghiên cứu đội hình, tính toán bán kính lượn vòng, góc
bổ nhào của máy bay địch và tìm ra sự sai lệch của đường đạn pháo và tên lửa của ta. Sau một thời
gian nghiên cứu tỉ mỉ, công phu, họ đã rút ra kết luận: các quả đạn tên lửa của ta đều đi vào giữa giãn
cách của các chiếc trong đội hình địch.

Sau khi nghe đoàn cán bộ tham mưu báo cáo và kiểm tra tình hình xừ trí thao tác của các
kíp chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn đã thống nhất: Cách đánh ba điểm cũ với đội hình cường kích mật
tập mang nhiễu QRC.160 đã không có hiệu quả khi địch mang nhiều máy gây nhiễu với công suất lớn
và có giãn cách rộng hơn trước. Được sự chỉ đạo, giúp đỡ tận tình của Cục Tình báo Bộ Tổng tham
mưu, Viện Nghiên cứu khoa học quân sự Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự và Bộ Tham mưu quân
chủng, sư đoàn đã biết cụ thể giãn cách đội hình của máy bay địch, số lượng, loại máy bay và công
suất các mẩy phát nhiễu của chúng. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ thị cho cơ quan tham
mưu và các đơn vị tập trung nghiên cứu cách đánh mới.
Các đơn vị tên lửa và pháo phòng không đã mở hội nghị dân chủ quân sự, sôi nổi bàn bạc,
xây dựng cách đánh mới. Từ chỉ huy đơn vị đến các sĩ quan điều khiển, trắc thủ, pháo thủ đều liên hệ
sâu sắc, thành khẩn bộc lộ những ưu khuyết điểm trong chiến đấu và mạnh dạn đề xuất cách đánh hay.

Ngày 11 tháng 5 năm 1972, khi đoàn cán bộ của sư đoàn do Phó tư lệnh Nguyễn Văn Hội
dẫn đầu đi kiểm tra trung đoàn pháo phòng không 260 về tới Đức Giang, mọi người đều nhìn rõ chiếc
máy bay địch lượn vòng chiếu tia la-de và một chiếc khác bổ nhào ném bom vào cầu Long Biên.
Trưởng ban tác huấn Hoàng Bảo bỗng phát hiện ra vấn đề: Thời tiết tốt địch mới có thể ném bom có
điều khiển bằng tia la-de. Dó cũng là thời cơ tốt để bộ đội tên lửa sử dụng kính ngắm quang học IIA-
OO bổ trợ cho đài radar điều khiển phát hiện máy bay địch trên nền nhiễu tích cực cường độ lớn.
Nhiều ý kiến trong sư đoàn tán thành với phát hiện đó. Nhưng cũng có một số người còn băn khoăn,
lo lắng vì một số khó khăn thực tế như sóng điện từ cao tần của radar ảnh hưởng đến sức khỏe trắc thủ
quang học, xen-xin cơ khí của trục quang, trục điện có sai số lớn khó có thể đồng bộ với đài radar…
Sau khi bàn bạc kỹ những vấn đề trên, ban tác huấn đã đi đến kết luận: sử dụng kính ngắm quang học
IIA-OO để chỉ chuẩn cho kíp chiến đấu đài điều khiển tên lửa đánh địch trong điều kiện có nhiễu tích
cực cường độ lớn là một biện pháp tốt, đúng với ý kiến chỉ đạo chiến thuật "kết hợp phương tiện thô
sơ với khí tài hiện đại để đánh thắng địch" của Phó tổng tham mưu trưởng Vương Thừa Vũ. Muốn sử
dụng kính ngắm quang học có hiệu quả phải giải quyết tốt ba nội dung là hiệu chỉnh chính xác xen-
xin trục quang, trục điện của IIA-OO đồng bộ với đài radar điều khiển, bảo đảm thông tin thông suốt
giữa trắc thủ IIA-OO với kíp chiến đấu.

Những ý kiến đó đã được trưởng ban tác huấn báo cáo trong hội nghị mở rộng của Thường
vụ Đàng uỷ sư đoàn. Sau khi nghiên cứu cân nhắc kỹ, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn nhất trí với ý kiến
của ban tác huấn và giao cho Bộ tư lệnh sư đoàn triển khai biện pháp đánh địch mới.

Vấn đề đó càng được sáng tỏ khi đồng chí Trần Xanh kết luận trong hội nghị dân chủ quân
sự sư đoàn lần thứ ba. Bài kết luận đã nêu rõ quy luật hoạt động của địch khi vào đánh phá Hà nội,
cách phân biệt tín hiệu thật, giả của mục tiêu, kinh nghiệm chọn dải nhiễu, thời cơ phát sóng, cách mở
ngòi nổ vô tuyến khi đánh bằng phương pháp ba điểm, cách sừ dụng và kết hợp tính năng của các
phương tiện, khí tài… Đặc biệt, sáng kiến dùng kính ngắm quang học chỉ chuẩn được chứng minh có
căn cứ khoa học đã củng cố lòng tin cho mọi người. Phát biểu trong hội nghị, đồng chí Chính uỷ sư
đoàn đã biểu dương tinh thần tích cực, kiên trì phát sóng, tìm cách đánh địch của các đơn vị, đồng
thời phê phán những hiện tượng chần chừ, ngại phát sóng trong một số cán bộ, chiến sĩ. Đồng chí
Chính uỷ sư đoàn đã nhấn mạnh ý chí chiến đấu, tinh thần dũng cảm làm cơ sở của mọi thắng lợi và
mưu trí, sáng tạo là những yếu tố hết sức quan trọng bảo đảm cho sự thành công. Đồng chí kết luận:
Phải sử dụng mọi thứ vũ khí có trong tay và đã đến lúc chúng ta phải mở to mắt nhìn thẳng vào máy
bay địch, kiên quyết vạch nhiễu tìm thù, bảo đảm đánh trúng đánh rơi tại chỗ máy bay địch để bào vệ
bằng được trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Sau hội nghị, dưới sự chỉ đạo của Tham mưu trưởng sư đoàn Nguyễn Đình Sơn, phòng
tham mưu tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp, chọn lọc những ý kiến hay và căn cứ vào kết luận của đồng
chí Phó tư lệnh sư đoàn biên soạn thành tài liệu "Một số quy định về cách đánh của bộ đội tên lửa sư
đoàn phòng không 361". Tài liệu này đã được sư đoàn tồ chức tập huấn cho tất cả các cán bộ chỉ huy
và kíp chiến đấu. Cán bộ và kíp chiến đấu còn được các trợ lý Bộ Tham mưu tập huấn các tài liều của
Quân chủng và nghiên cứu, học tập những kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị bạn.

Được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô và Cục Kỹ thuật Quân chủng, phòng kỹ
thuật của sư đoàn đã tổ chức kiểm tra các kính ngắm quang học, hoàn chỉnh hệ thống thông tin và
nghiên cứu lắp các động cơ điều khiển, hiệu chỉnh trục quang, trục điện của hệ thống IIA-OO. Đoàn
giáo viên gồm các tiểu đội trưởng, chiến sĩ trắc thủ kính chỉ huy TZK giỏi của các đơn vị pháo phòng
không tới từng tiểu đoàn tên lửa huấn luyện về sử dụng kính ngắm, cách bắt, bám sát và thông báo
mục tiêu. Được sự chỉ đạo của Cục Kỹ thuật, phòng kỹ thuật còn tổ chức triển khai radar K8.601 theo
sáng kiến của tổ nghiên cứu kỹ thuật quân chủng ở tiểu đoàn 78 và 93, để bổ trợ phát hiện địch cho
kíp chiến đấu. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến tích cực tiêu diệt địch của Quân chủng, vận dụng
kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, các tiểu đoàn tên lửa sôi
nổi triển khai phương án dùng khí tài quang học chỉ chuẩn IIA-OO, K8.601 (loại radar ít bị địch gây
nhiễu vô tuyến điện tử) để đánh địch bằng phương pháp ba điểm trong điều kiện có nhiễu nặng.
Những chiến sĩ dũng cảm, có năng lực được chọn làm trắc thủ kính ngắm quang học IIA-OO, chiến
đấu trên nóc xe thu phát và trở thành những Thái Văn A trên mặt trận đất đối không ở Hà nội. Chỉ
trong một thời gian ngắn, số lượng các tiểu đoàn tên lửa triển khai kính ngắm quang học IIA-OO bảo
đảm chiến đấu xuất hiện ngày càng nhiều trên bảng theo dõi đặt tại sở chỉ huy sư đoàn.

Ngoài việc huấn luyện theo kế hoạch, các trắn thủ kính ngắm quang học ở các tiểu đoàn
tên lửa còn lấy thực tế chiến đấu để huấn luyện phát hiện và thông báo mục tiêu tới xe điều khiển tên
lửa. Nhiều đồng chí ở các tiểu đoàn 57, 94, 76, 79 đã bắt được mục tiêu xa tới 40-50 ki-lô-mét.

Sư đoàn còn được Quân uỷ Trung ương, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tham mưu và Quân
chủng trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ nhiều vấn đề về chủ trương và biện pháp cụ thể. Phái đoàn thanh tra
của Quân uỷ Trung ương đã kịp thời phát hiện giúp Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn về xây dựng quyết
tâm, tổ chức và sử dụng lực lượng chiến đấu. Các đồng chí Lê Hiến Mai, Phạm Ngọc Mậu, Phó thủ
nhiệm Tổng cục Chính trị đã dành nhiều thời gian nghe báo cáo và chỉ đạo công tác tư tưởng, tổ chức.
Đồng chí Vương Thừa Vũ, Phó tổng tham mưu trướng phụ trách chỉ đạo chiến thuật toàn quân đã
xuống sư đoàn nghiên cứu và chỉ đạo sử dụng kính ngắm quang học ở tiểu đoàn 93.

Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Quân chủng đã thay phiên nhau xuống sư đoàn kiểm tra và
chỉ đạo đánh địch. Các cán bộ, chiến sĩ tên lửa vô cùng xúc động nhớ mãi lời kết luận của Tư lệnh
Quân chủng Lê Văn Tri trong lần phát biểu ở hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu của sư đoàn: "Thay
mặt Bộ tư lệnh Quân chủng, tôi thiết tha kêu gọi và yêu cầu các đồng chí hãy tích cực phát sóng đánh
địch. Sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ của cấp trên là nguồn động lực mạnh mẽ giúp cán bộ, chiến sĩ
trong sư đoàn quyết tâm nêu cao trách nhiệm trước Đảng, trước cấp trên và nhân dân Hà nội, nỗ lực
phấn đấu để đánh thắng địch".

Để thực hiện các mục tiêu chiến lược trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, cho đến
tháng 6, Mỹ đã tăng cường một lực lượng lớn không quân và hài quân ở Đông Dương. Lực lượng
không quân chiến thuật đã lên tới 1.077 chiếc, chiếm 81 phần trăm tổng số các lực lượng không quân
toàn nước Mỹ. Máy bay B52 đã lên tới 193 chiếc, chiếm 40 phần trăm tổng số máy bay ném bom
chiến lược Mỹ tàu sân bay đã lên tới sáu chiếc, chiếm 43 phần trăm tàu sân bay của Mỹ tham chiến ở
Việt nam. Khác với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất là tập trung các lực lượng không quân Mỹ
ở miền Nam, lần này các lực lượng đó chủ yếu tập trung ở Thái Lan và hạm đội 7. Riêng số máy bay
ở Thái Lan chiếm 47 phần trăm tổng số máy bay của chúng tham chiến ở Đông Dương.

Từ ngày 9 tháng 6, địch lại cho B52 đánh ra nam Quân khu 4; không quân chiến thuật đánh
các mục tiêu ngoài vĩ tuyến 20, trọng điểm là đường số 1 bắc, Quảng Ninh, Yên Bái, Việt Trì.

Quán triệt quyết tâm chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 30 tháng 5,
Quân uỷ Trung ương chủ trương: Gấp rút xây dựng, điều chỉnh lực lượng, bổ sung phương án tác
chiến, thực hiện chuẩn bị chiến đấu theo ba tình huống. Phải nhanh chóng rút kinh nghiệm các đợt
chiến đấu vừa qua, kịp thời chỉ đạo cách đánh thích hợp đạt hiệu suất cao, phải tranh thù huấn luyện
bộ đội, tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa các quân chủng binh chủng, giữa ba thứ quân.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng đã tổ chức xây dựng và
điều chinh lực lượng trên các khu vực để nâng cao chất lượng thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược là bảo
vệ yếu địa, bào vệ giao thông vận chuyển và chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, sư đoàn phòng không Hà nội đã tổ chức thành lập
tiểu đoàn 46 bổ sung cho trung đoàn tên lửa 261.

Cũng trong thời gian này, Trường sĩ quan Phòng không đã tổ chức tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn
6 với phiên hiệu tiểu đoàn pháo phòng không 141 và tiểu đoàn tên lửa 48 phối thuộc chiến đấu với sư
đoàn để tăng cường lực lượng bảo vệ Hà nội. Tiểu đoàn 48 được bổ sung cho trung đoàn tên lửa 257.
Đây là thời cơ và môi trường huấn luyện tốt nhất để nâng cao trình độ thực hành chỉ huy và chiến đấu
cho những sĩ quan tương lai của bộ đội phòng không.

Thực hiện chỉ thị ngày 6 tháng 6 của Bộ Tổng tham mưu, Cục Hoá học đã giao nhiệm vụ
cho tiểu đoàn 902 cùng với dân quân tự vệ Thủ đô chuẩn bị kế hoạch thả khói nguỵ trang các mục tiêu
trọng yếu nhằm đối phó với các loại bom điều khiển bằng tia la-de, vô tuyến truyền hình của địch.

Được sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và sự giúp đỡ của Quân chủng phòng không -
không quân, ngày 21 tháng 6 năm 1972, thành phố Hà nội quyết định động viên và tồ chức trung đoàn
pháo phòng không dự nhiệm mang tên "đoàn Quang Trung bảo vệ Thủ đô". Phần lớn cán bộ, chiến sĩ
trung đoàn là quân nhân chuyển ngành thuộc khối công nghiệp.

Bộ Tổng tham mưu còn quyết định cho Hà nội thành lập tám đại đội tự vệ tập trung thoát
ly sản xuất. Ở bốn huyện ngoại thành, mỗi huyện thành lập một đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ
súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện. Trong nội thành mỗi khu phố tổ chức
một đại đội pháo phòng không 100 mm gồm năm khẩu đội để tăng cường cho hệ thống bắn máy bay
tầm trung cao.

Được sự phân nhiệm của sư đoàn, trung đoàn trưởng trung đoàn pháo phòng không 220
Bùi Biếng đã chỉ đạo ban tham mưu cùng với đội huấn luyện của Bộ tư lệnh Thủ đô tổ chức tập huấn
nghiệp vụ chiến đấu cho bốn đại đội pháo 100 mm của tự vệ nội thành. Những cơ quan, xí nghiệp có
từ 70 tự vệ trở lên đều tổ chức đơn vị cơ động không thoát ly sản xuất trang bị súng máy bắn máy bay
tầm thấp. Ở ngoại thành dân quân tự vệ tổ chức thành ba lực lượng: lực lượng chiến đấu cơ động, lực
lượng chiến đấu tại chỗ, lực lượng phục vụ chiến đấu và lành nòng cốt trong lao động sản xuất. Một
lần nữa cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không ở Thủ đô lại được hình thành với quy mô lớn, có tổ
chức chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của các lực lượng phòng không ba thứ quân, trong đó sư đoàn
phòng không Hà nội làm nòng cốt. Đó là những điều kiện thuận lợi và là nguồn động viên cho cán bộ,
chiến sĩ sư đoàn hoàn thành sứ mạng thiêng liêng mà Đảng, Chính phủ và quân dân cả nước đã giao
cho là bảo vệ thủ đô - Hà nội, mục tiêu chiến lược số một của đất nước.

Tuy nhiên, sang tháng 6, sư đoàn vẫn còn lúng túng trong cách đánh nhưng đã thường
xuyên nghiên cứu địch, rút kinh nghiệm chiến đấu, phát huy được sáng kiến kết hợp khí tài quang học
IIA-OO với khí tài điện tử để đánh địch trong nhiễu nặng. Được sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân
chủng, sư đoàn đã sử dụng các tiểu đoàn 61, 59, 94 và đại đội 197 trung đoàn pháo phòng không 260
cơ động ra vòng ngoài vừa trực tiếp đánh địch bảo vệ mục tiêu vừa chủ động đánh địch từ xa để bảo
vệ Hà nội.

Đầu tháng 6, tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lừa 261 được lệnh cơ động từ Há Nội lên chiếm
lĩnh trận địa dã chiến ở Đức Ký (Yên Bái). Ngày 6 tháng 6, không quân địch vào đánh khu vực thị xã
Yên Bái. Tiểu đoàn 59 đã tích cực phát sóng và kết hợp với IIA-OO phát hiện được một tốp F4 có dải
nhiễu nhẹ. Tiểu đoàn trưởng hạ quyết tâm đánh bằng phương pháp mới. Với một quả đạn, tiểu đoàn
đã bắn rơi tại chỗ một chiếc F4. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị bộ đội tên lửa sư đoàn bắn rơi tại
chỗ kể từ ngày 16 tháng 4 năm 1972. Chiến công của tiểu đoàn 59 là bằng chứng sinh động sau gắn
hai tháng tập trung sức lực, trí tuệ của toàn su đoàn trong việc nghiên cứu địch và tìm cách đánh mới,
vượt qua được thừ thách quyết liệt phức tạp trong cuộc chiến tranh điện tử hiện đại giữa bộ đội phòng
không Hà nội và không quân nhà nghề Mỹ, bước đầu đánh thắng trang bị kỹ thuật và thủ đoạn mới
của chúng. Tuy nhiên, đây mới là chiếc máy bay bị bắn rơi tại chỗ ở vòng ngoài Hà nội.

Những kinh nghiệm chiến đấu nóng hổi của tiểu đoàn 59 được nhanh chóng phổ biến tới
các tiểu đoàn tên lửa ở Hà nội. Tất cả các đơn vị đã nghiên cứu để vận dụng vào phương án đánh đối
tượng chủ yếu là máy bay cường kích trên địa bàn Hà nội.

Từ 8 giờ 50 phút đến 9 giờ 25 phút ngày 27 tháng 6 36 lần chiếc F4 và F105 trong đó có 14
chiếc mang bom từ Thái Lan qua Lào theo hai hướng chia thành ba đợt vào đánh Bạch Mai, Trương
Định, xưởng 250 và nhà máy mì Chùa Bộc.

Thủ đoạn của địch là thay đổi hướng và đường bay để tiếp cận mục tiêu, đánh ồ ạt, đánh
nhanh, rút nhanh. Chúng còn phóng nhiễu tiêu cực tạo thành các đám mây sợi kim loại vào sâu trong
vùng hoả lực, kết hợp với nhiễu ngoài đội hình, trong đội hình cường độ lớn, đồng thời phóng hàng
chục quả tên lửa Sơ-rai để chế áp các trận địa phòng không của ta.

8 giờ 35 phút, chỉ huy sư đoàn ra lệnh vào cấp 1 và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị.
Phút thứ 43, đài 1 tiểu đoàn 76 bắt được mục tiêu. Một phút sau tiểu đoàn 78 cũng phát hiện được
địch. Cả năm tiểu đoàn tên lửa và trung đoàn pháo phòng không 220 đã nổ súng đánh địch quyết liệt.

Tiểu đoàn 57 ở trận địa chốt Cổ Loa đang luyện tập thì được lệnh chuyển vào cấp 1. Năm
phút sau đài 1 phát hiện được một số tốp mục tiêu cách phía tây - tây nam Hà nội khoảng 150 ki-lô-
mét. Rút kinh nghiệm trận chiến đấu ngày 26 tháng 6, do lúng túng khi chọn dải nhiễu để địch vào
gần không đánh được, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt mới được điều từ tiểu đoàn 93 vê đã ra
lệnh cho kíp chiến đấu chọn dải nhiễu từ xa 80 ki-lô-mét. Kíp trắc thủ Thi, Khay, Đài tập trung tinh
lực cùng bám vào một dải nhiễu trên màn hiện sóng có nhiều dải nhiễu tích cực và những đám nhiễu
tiêu cực Chờ địch đến gần, sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên mới bật công tắc phát sóng. Vì
nhiễu quá nặng, các trắc thủ không phát hiện được mục tiêu. Theo lệnh của tiểu đoàn trưởng, trắc thủ
IIA-OO Nguyễn Văn Sức đã phát hiện và thông báo địch kịp thời. Căn cứ vào phần tử mục tiêu của
trắc thủ kính ngắm quang học, kíp chiến đấu đã bám sát dải nhiễu có tốp máy bay địch do Sức phát
hiện. Khi tín hiệu mục tiêu vào tới vùng phóng, kíp chiến đấu hiệp đồng xử trí, thao tác chặt chẽ,
chính xác. Hai quả đạn được phóng lên bay về phía có máy bay địch. Một chiếc F4-E bốc cháy và lao
xuống cánh đồng xã Đại Kim thuộc huyện Thanh Trì.

Cùng lúc ấy, tiểu đoàn 79 ở trận địa Mậu Lương cũng dùng kính ngắm quang học IIA-OO
kết hợp với đài điều khiển bám sát địch, bắn rơi tại chỗ một chiếc F4-E khác ở Hoà Bình.

Ngày 27 tháng 6, quân và dân Thủ đô đã sẵn sàng chiến đấu cao, đoàn kết hiệp đồng chặt
chẽ, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, bắn rơi năm máy bay Mỹ.

Chiến công xuất sắc của tiểu đoàn 57 đã ghi thêm vào lịch sử vé vang của sư đoàn phòng
không Hà nội: bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 3.700 trên miền Bắc. Đó là chiến công vận dụng cách
đánh kết hợp kính ngắm quang học IIA-OO với đài radar điều khiển tên lửa. Đây cũng là chiếc máy
bay bị bộ đội tên lửa trong sư đoàn bắn rơi tại chỗ đầu tiên ở Hà nội kể từ ngày 16 tháng 4 năm 1972.

Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam đã gửi điện nhiệt liệt khen ngợi và tuyên
dương công trạng xuất sắc của quân và dân Thủ đô. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp gọi điện
xuống sư đoàn biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của bộ đội. Đồng chí còn
nhấn mạnh: đánh rơi tại chỗ máy bay địch, bộ đội phòng không Hà nội không những đã đánh thắng
địch về mặt chính trị mà còn chiến thắng cả về kỹ thuật và chiến thuật. Bộ tư lệnh Quân chủng nhiệt
liệt khen ngợi sư đoàn và trao bức trướng "bắn rơi tại chỗ đầu tiên" cho tiểu đoàn 57. Đoàn đại biểu
nhân dân Hà nội do đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch uỷ ban hành chính thành phố và đại tá Đoàn
Phụng, Chính uỷ. Bộ tư lệnh Thủ đô, dẫn đầu đã đến tiểu đoàn 57 chúc mừng chiến thắng. Đại sứ
Cuba tại Việt nam đã gửi thiếp chúc mừng và tặng lẵng hoa cho tiểu đoàn 57.

Học tập kinh nghiệm và thi đua với tiểu đoàn 57, ngày 1 tháng 7, tiểu đoàn 94 trung đoàn
tên lửa 261 bắn rơi tại chỗ một chiếc F4-D.

Ngày 8 tháng 7, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chiến, sĩ quan điều khiển
Nguyễn Văn Bách và kíp trắc thủ của tiểu đoàn 79 trung đoàn tên lửa 257 là Quý, Lập, Nhâm, với sự
hiệp đồng chặt chẽ của hai trắc thủ kính ngắm quang học Hoàng và Hùng, đã bắn rơi một chiếc F4-D.
Đó là chiếc máy bay Mỹ thứ 300 bị bắn rơi ở Hà nội.

Mùa hè năm 1972, các đơn vị tên lửa bảo vệ Hà nội đã có nhiều cố gắng vượt bậc, liên tiếp
đánh thắng thủ đoạn tăng cường gây nhiễu của địch. Hầu hết các tiểu đoàn đều bắn rơi máy bay địch,
được nhận bức trướng "bắn rơi tại chỗ, bắt sống giặc lái" của sư đoàn. Trong số các tiểu đoàn tên lửa,
tiểu đoàn 76 là một tấm gương tiêu biểu về quyết tâm chiến dấu cao, chiến đấu mưu rí, dũng cảm, có
cách đánh hiệu quả máy bay địch trong nhiễu tích cực cường độ lớn, bắn rơi nhiều máy bay địch.
Thực hiện chiến thuật cơ động ra vòng ngoài chủ động tiêu diệt địch của sư đoàn, cuối
tháng 5 năm 1972, tiểu đoàn 76 được lệnh vượt sông Hồng chiếm lĩnh trận địa Phú Thuỵ là trận địa
chốt có truyền thống lập công của trung đoàn tên lửa 257 trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần
thứ nhất. Nhiệm vụ của tiểu đoàn 76 là tiêu diệt máy bay địch đột nhập vào thành phố trên hướng
đông - đông nam và khi có điều kiện chi viện hoả lực trên hướng bắc - đông bắc thay thế một số đơn
vị của trung đoàn tên lửa 261 đã cơ động lên bảo vệ khu vực Kép. Ngày 28 tháng 6, tiểu đoàn đã bắn
rơi một máy bay địch. Trong hai ngày 1 và 2 tháng 7, tiểu đoàn lại bắn rơi liền hai máy bay Mỹ.

Đêm 10 tháng 7, tiểu đoàn được lệnh cơ động về trận địa Bạc Hạ thuộc huyện Văn Giang
tỉnh Hải Hưng để đánh được địch từ xa trên nhiều đường bay, đánh được nhiều đối tượng. Tiểu đoàn
còn thực hiện ý định chiến thuật là từ vòng ngoài đánh vào sườn cánh sóng nhiễu của máy bay địch,
chỗ yếu nhất của chúng trên đường bay vào Hà nội để tiêu diệt hoặc phá vỡ đội hình của địch, tạo
điều kiện cho các đơn vị ở vòng trong lập công. Để trả thù cho hơn 60 gia đình và hơn 100 người ở thị
xã Hưng Yên bị máy bay giặc Mỹ tàn phá, giết hại, tiểu đoàn đã khẩn trương chiếm lĩnh triển khai và
chuẩn bị chiến đấu trên trận địa mới.

11 giờ 59 phút ngày 11 tháng 7, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Cổn, sĩ quan điều
khiển và các trắc thủ Đồng, Pháo, Đức đã hiệp đồng xử trí thao tác chính xác, phát hiện được tín hiệu
mục tiêu trên nền nhiễu và phóng hai quả đạn bắn rơi tại chỗ một chiếc F4 trên cánh đồng huyện Kim
Động. Được tận mắt nhìn thấy máy bay Mỹ bị bộ đội tên lửa ta trừng trị, đồng bào thị xã Hưng Yên
vô cùng hả dạ, gánh nặng đầu thương như được vơi bớt trong lòng mọi người.

Những chiến thắng liên tiếp của các lực lượng phòng không sư đoàn đã khẳng định bước
tiến bộ rõ rệt trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và phương tiện, cùng các lực
lượng phòng không ba thứ quân đánh thắng thủ đoạn gây nhiễu tổng hợp, phức tạp trong chiến tranh
điện tử hiện đại với không quân Mỹ. Những thắng lợi đó đã nâng cao hiệu suất chiến đấu của sư đoàn
và tích cực góp phần bảo vệ Thù đô yêu quý.

Xác định cuộc chiến đấu còn kéo dài và ngày càng ác liệt, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư
lệnh Quân chủng đã đề nghị Bộ quốc phòng cho xây dựng thêm một số lực lượng mới để tang cường
bảo vệ miền Bắc, chi viện cho chiến trường miền Nam, nhất là bảo vệ Hà nội, Hải Phòng.

Theo quyết định 128-QĐ-QP ngày 10 tháng 7 năm 1972 của Bộ quốc phòng Bộ tư lệnh
Quân chủng tổ chức xây dựng thêm ba trung đoàn pháo phòng không, trong đó có hai trung đoàn là
244 và 245 trang bị pháo 57 mm để tăng cường cho sư đoàn phòng không Hà nội. Phần đông các
chiến sĩ trong hai trung đoàn này là các sinh viên Đại học Sư phạm, Giao thông, Xây dựng… mới
nhập ngũ.

Quán triệt tinh thần khẩn trương triển khai chiến đấu của quân chủng. Tư lệnh Sư đoàn
Trần Quuang Hùng đã giao nhiệm vụ cho phòng tham mưu và chỉ huy hai đơn vị pháo phòng không:
"Kể từ khi nhận đủ quân số và pháo, sau 24 giờ, hai trung đoàn pháo phòng không 244 và 245 phải
sẵn sàng nổ súng đánh địch".

Triển khai hai trung đoàn pháo phòng không với thời gian một ngày đêm trong điều kiện
pháo mới lĩnh đầy dầu mỡ và 80 phần trăm chiến sĩ mới là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Thấy rõ điều
đó, phòng tham mưu và các phòng chính trị, hậu cần, kỹ thuật đã cử hàng chục cán bộ trợ lý chủ chốt
tổ chức thành hai đoàn xuống chỉ đạo và giúp đỡ đơn vị phá niêm cất và triển khai chiến đấu. Tiếp đó,
với kinh nghiệm từng trài, các cán bộ tham mưu đã tập trung tổ chức huấn luyện những động tác cơ
bàn cho bộ đội theo đúng phương châm của tư lệnh sư đoàn là "huấn ít, luyện nhiều, chân chạy, tay
quay". Đúng 24 giờ sau, hai trung đoàn pháo phòng không đã báo cáo về sở chỉ huy sư đoàn: "Đơn vị
đã sẵn sàng chiến đấu". Đây là một cố gắng phi thường của cơ quan và đơn vị pháo phòng không
trong điều kiện nhận lệnh triển. khai chiến đấu gấp.

Căn cứ vào mức độ hoàn thành ba nhiệm vụ chiến lược của Quân chủng, ngày 24 tháng 7,
Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng ra nghị quyết về việc "khắc phục những khuyết điểm trước mắt để
nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội". Nghị quyết nêu rõ: "Trong tháng 7 vừa qua, toàn Quân
chủng đã bắt rơi 43 máy bay địch nhưng nhiều mục tiêu bị địch đánh hỏng, nhiều đoạn đường giao
thông bị tắc, nhiều khu đông dân bị địch đánh phá, gây cho ta những tổn thất về người và của, hiệu
suất chiến đấu của bộ đội phòng không kém và không hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Đối với các cấp
uỷ, trước hết là đảng uỷ và các sư đoàn, binh chủng và quân chủng, đây là một khuyết điểm nghiêm
trọng".

Trong đợt sinh hoạt chính trị quán triệt nghị quyết của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, tất
cả các cấp uỷ, chi bộ, cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên trong sư đoàn đều nghiêm túc kiểm điểm
và nhận thấy: Mặc dù sư đoàn đã có rất nhiều cố gắng phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực
lượng và phương tiện, vượt qua được khó khăn thử thách quyết liệt trong chiến tranh điện tử hiện đại,
bước đấu đánh thắng một số thủ đoạn mới của địch, bắn rơi được một số máy bay nhưng còn để cầu
Long Biên bị hỏng, một số mục tiêu như kho tàng, nhà máy, khu dân cư và trận địa bị địch đánh phá
gây tổn thất về người và của ở Hà nội. Đợt sinh hoạt chính trị đã làm cho bộ đội nhận thức rõ thêm
yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới, tích cực rèn luyện, phấn đấu để ổn định về tư tưởng và tổ chức,
chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh, kỷ luật chiến đấu, rèn luyện tác phong nhằm không ngừng nâng cao
hiệu suất chiến đấu, ngày càng bắn rơi nhiều máy bay địch, bảo vệ mục tiêu tốt hơn. Những biểu hiện
tư tưởng hữu khuynh, ngại khó, ngại khổ, có chuyển biến rõ rệt. Các đơn vị đã có nhiều tiến bộ trong
việc chấp hành nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết và chống tư tưởng chủ quan, thoả mãn, giản đơn.
Bộ đội tích cực tranh thủ nghiên cứu địch, phát huy cách đánh mới và thi đua huấn luyện chiến đấu.
Việc chấp hành chế độ bảo quản, sử dụng khí tài, đạn dược, trang bị từng bước đi vào nề nếp, bảo
đảm sẵn sàng chiến đấu cao hơn. Công tác giáo dục và rèn luyện kỷ luật, tác phong cũng nâng lên một
bước. Phòng hậu cần nắm chắc sự lãnh đạo, chỉ đạo của sư đoàn, bám sát nhiệm vụ, nắm vững trọng
tâm, trọng điềm phát huy chức trách của cán bộ chiến sĩ hậu cần ở cơ quan và đơn vị, chủ động sáng
tạo, khắc phục khó khăn bào đảm công tác hậu cần phục vụ thiết thực cho chiến đấu.

Cuối tháng 7, thực hiện chủ trương của Quân chủng, sư đoàn đã tích cực chuẩn bị tổ chức
hiệp đồng chiến đấu giữa bộ đội tên lửa và pháo phòng không để nâng cao hiệu suất diệt địch và bảo
vệ mục tiêu ở khu vực Hà nội. Để thực hiện ý định tác chiến đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức kiểm
tra, bổ sung phương án tác chiến, chú trọng sử dụng hoả lực tập trung của cả tên lửa và pháo phòng
không.
8 giờ 35 phút ngày 30 tháng 7, địch sử dụng 57 lần chiếc máy bay chiến thuật vào đánh
đường số 1 bắc, trọng tâm là cầu Đuống và cầu Đáp Cầu.

Ngay khi phát hiện được các tốp F4, F105 vào chặn kích, thả nhiễu tiêu cực và phóng tên
lừa Sơ-rai vào trận địa phòng không của ta, Bộ tư lệnh sư đoàn đã cho các đơn vị vào cấp 1 Khi xác
định tốp 883 là tốp máy bay cường kích gây nhiễu tạp, chỉ huy sư đoàn đã ra lệnh cho các tiểu đoàn
46, 79, 57 tập trung hoả lực tiêu diệt. Tiểu đoàn 46 ở trận địa vòng ngoài Phú Hoà (Khoái Châu) phát
hiện được tín hiệu mục tiêu nhưng hơi mờ trên nền nhiễu. Thấy kíp chiến đấu phát hiện và bám sát
mục tiêu tốt, tiểu đoàn trưởng Hà Thái ra lệnh phóng hai quả đạn vào sườn trái đội hình tốp 883. Cùng
lúc đó tiểu đoàn 79 ở phía tây nam Hà nội đã sử dụng kính ngàm quang học chỉ chuẩn phóng hai quả
đạn vào tốp máy bay địch. Tiểu đoàn 57 ở Đông Anh cũng sử dụng cách đánh sở trường là kết hợp
IIA-OO để phóng đạn diệt địch. Sáu quả đạn từ ba hướng đều lao thẳng vào tốp 883, bắn rơi tại chỗ
một chiếc F4-D có thiết bị ném bom điều khiển bằng tia la-de ở làng Đào Xá huyện Gia Lâm. Tiểu
đoàn 57 được công nhận là đơn vị lập công đầu. Hai tiểu đoàn 46 và 79 đã tích cực góp phần vào
chiến thắng.

Đây là trận đánh tập trung xuất sắc của sư đoàn do nắm chắc địch, phán đoán đúng thủ
đoạn của chúng, nhằm đúng đối tượng, kiên quyết, chủ động đánh tập trung, phát huy cao độ uy lực
của vũ khí khí tài với cách đánh sở trường là kết hợp kính ngắm quang học với khí tài điện tử để tiêu
diệt địch trong điều kiện có nhiễu nặng, hạn chế được những điểm mạnh của địch. Đó còn là trận đầu
tiên bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ máy bay ném bom có trang bị điều khiển bằng tia la-de trong cuộc
chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân Mỹ.

Để chế áp các lực lượng phòng không, trong mùa hè năm 1972, không quân Mỹ đã tăng
cường sử dụng tên lửa Sơ-rai. Tiểu đoàn 78 trung đoàn tên lửa 257 bị đánh tới bốn lần. Tiểu đoàn 59
có trận bị địch phóng tới bốn quả. Tiểu đoàn 59 và đại đội 194 cơ động phục kích ở Thác Bà cũng bị
địch phóng tên lửa Sơ-rai gây tổn thất.

Sơ-rai (Shriker) là loại tên lửa chiến thuật không đối đất được phóng từ máy bay F105-F,
F105-G và A7 rồi tự điều khiển quỹ đạo bay đến mục tiêu có bức xạ điện từ siêu cao tần như các đài
radar dẫn đường không quân, radar điều khiển tên lửa và radar ngắm bắn của pháo phòng không. Đây
là một thủ đoạn thâm độc trong cuộc chiến tranh điện tử hiện đại của không quân Mỹ nhằm huỷ diệt
khí tài radar và kíp chiến đấu của bộ đội phòng không ta. Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
nhất, địch đã sử dụng loại tên lửa Sơ-rai AGM.45. Đầu năm 1972, tên lửa Sơ-rai được cải tiến thành
loại AGM.45-M. Ngoài ra chúng còn sử dụng loại tên lửa mới Stadar AGM.78-M hiện đại hơn, tầm
bắn xa hơn có sức công phá lớn hơn. Thủ đoạn phóng tên lửa Sơ-rai ngày càng đa dạng như tăng số
lần phóng, phóng cả trước, trong và sau khi máy bay địch vào đánh phá nhằm tăng hiệu quả chế áp
các lực lượng phòng không của ta.

Ngày 11 tháng 3 năm 1972, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị về "Đánh địch chống tên lửa
Sơ-rai" cho các đơn vị. Bản chỉ thị đã hướng dẫn cách phòng tránh cụ thể đối với các loại radar để
nâng cao hiệu suất chiến đấu và giữ gìn lực lượng ta.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo tác chiến "Tích cực tiêu diệt tịch, giữ gìn, bồi dưỡng
lực lượng ta" và với những kinh nghiệm lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy bộ đội phòng tránh tên lửa Sơ-rai
trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung lãnh
đạo cơ quan và các đơn vị tích cực nghiên cứu, vận dụng và hoàn chỉnh biện pháp phòng tránh tên lửa
của địch.

Tuy nhiên, chống tên lửa Sơ-rai để đánh thắng địch và giữ gìn được lực lượng ta là một quá
trình đấu trí vô cùng khó khăn, phức tạp, quyết liệt giữa ta và địch trên các lĩnh vực ý chí, lòng dũng
cảm, cả về chiến thuật và kỹ thuật. Đây là một trong những hình thức phức tạp và quyết liệt nhất trong
cuộc đấu tranh điện tử hiện đại giữa bộ đội phòng không của ta với không quân Mỹ. Thời gian đầu,
một số cán bộ, chiến sĩ có tư tưởng sợ Sơ-rai, ngại phát sóng, khi thấy địch thì mải suy nghĩ đến động
tác phòng tránh dẫn đến không bám sát liên tục, bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Đó là nguyên nhân gây nên
hiệu suất chiến đấu thấp và gây tổn thất về người và khí tài. Yêu cầu cấp thiết đối với bộ đội phòng
không, nhất là bộ đội tên lừa trong thời gian này là phải kiên quyết chống bằng được tên lừa Sơ-rai,
làm thất bại thủ đoạn chiến thuật chế áp hoả lực phòng không của địch, bắn rơi tại chỗ máy bay của
chúng, nâng cao hiệu suất bảo vệ mục tiêu. Muốn vậy, bộ đội phải nêu cao tinh thần quyết đánh và
quyết thắng, phải dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, biết quyết đoán khoa học, chớp thời cơ diệt địch, vừa
tiêu diệt được địch vừa bảo vệ được lực lượng và phương tiện của ta.

Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo phòng chính trị tiến hành
công tác đảng - công tác chính trị nhằm khơi dậy trong mọi cán bộ, chiến sĩ tinh thần cách mạng triệt
để, ý chí chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì Thủ đô yêu quý Những tấm gương bám
máy, bám pháo mặc bom rơi, đạn nổ vẫn chủ động, kiên quyết phát sóng khi chiến đấu độc lập giữa
miền rừng núi của tiểu đoàn 59, đại đội pháo phòng không 194 và một số đơn vị khác là những nội
dung thiết thực trong các buổi toạ đàm nhằm xác đình quyết tâm ở các phân đội. Những biểu hiện sợ
thương vong, ngại phát sóng, thiếu quyết tâm, bỏ lỡ thời cơ diệt địch, để địch đánh vào trận địa, đánh
vào Hà nội được bộ đội tự phê bình nghiêm túc, coi đó là khuyết điểm to lớn trước Đảng và nhân dân
Thủ đô.

Công tác lãnh đạo chiến đấu của chi bộ đảng ở đại đội pháo phòng không và đảng uỷ tiểu
đoàn tên lửa chủ yếu là xây dựng nâng cao quyết tâm cho kíp chiến đấu, kịp thời biểu dương những
hành động chiến đấu tốt đồng thời chấn chỉnh những biểu hiện không đúng đắn trong quá trình phòng
chống tên lừa Sơ-rai. Đồng thời với những động tác trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã hết sức
chăm. lo đến công tác tổ chức và các biện pháp chiến thuật chống tên lừa Sơ-rai. Trên cơ sở phát huy
dân chủ quân sự bàn bạc, hiến kế tìm cách đánh, cơ quan và đơn vị đã từng bước xây dựng được
"phương án đánh địch trong điều kiện địch phóng tên lửa Sơ-rai". Các tiểu đoàn tên lửa đã thảo luận,
học tập và luyện tập những nội dung chủ yếu về nguyên tắc, thời cớ, thời gian và hướng phát sóng,
phương pháp thao tác phát hiện các loại mục tiêu trong nhiễu, phát hiện đúng đối tượng, cách sử dụng
kết hợp các phương pháp bắn, số lượng đạn phóng trong từng tình huống, thời cơ tránh tên lửa Sơ-rai,
cách phát sóng giả để nghi binh lừa địch.

Trong lần kiểm tra tiểu đoàn 76, khi về cách trận địa đơn vị khoảng 2 ki-lô-mét Phó tư lệnh
Trần Nhẫn và một số trợ lý tham mưu sư đoàn đã phát hiện từ bụng một chiếc máy bay F4 ở ngoài 20
ki-lô-mét bỗng lóe sáng xanh và chiếc máy bay địch dường như hơi chững lại. Đó là lần địch phóng
tên lừa Sơ-rai vào trận địa tiểu đoàn 76 làm khí tài bị hỏng, sĩ quan điều khiển Khánh hy sinh và một
số đồng chí khác trong xe "YT" bị thương. Từ tổn thất đau đớn đó, các sĩ quan ban tác huấn đã rút ra
bài học kinh nghiệm quý báu: sử dụng trắc thủ quang học IIA-OO để phát hiện máy bay phóng Sơ-rai,
tạo điều kiện cho chỉ huy và kíp chiến đấu phòng tránh tên lừa của địch.

Được sự phân công của phòng tham mưu, trưởng ban tác huấn và trợ lý xe "YT" đã biên
soạn tài liệu "Một số quy định về cách đánh của tên lừa trong điều kiện địch phóng tên lừa Sơ-rai".
Sau khi được Bộ tư lệnh sư đoàn thông qua, phòng tham mưu đã tổ chức huấn luyện thí điểm ở tiểu
đoàn 57 và 78. Cũng từ đó, các phân đội đã tổ chức luyện tập hiệp đồng quan sát, thông báo phần tử,
rút gọn khẩu lệnh quy ước và xử trí tình huống khi phát hiện có Sơ-rai theo đúng tài liệu của phòng
tham mưu sư đoàn. Để hạn chế tổn thất có thể xảy ra, được sự giúp đỡ của cơ quan kỹ thuật và hậu
cần, trên các trận địa, vũ khí khí tài của các đơn vị đều được che chắn bằng tre, nứa, bao trấu, mùn
cưa. Việc nguỵ trang, nghi binh các trận địa, nhất là các trận địa chốt được bảo đảm công phu, kín
đáo.

Những hoạt động tổ chức phòng tránh tên lửa Sơ-rai nhằm phát huy cao độ sức mạnh tổng
hợp của các lực lượng và phương tiện, thực hiện bằng được tư tưởng chỉ đạo tác chiến "Tích cực tiêu
diệt địch, giữ gìn lực lượng ta" đã trở thành phong trào sôi nổi, rộng khắp, thường xuyên, có nền nếp
ở các đơn vị. Đây là một bước phát triển mới trong việc chỉ đạo xây dựng và chiến đấu của đảng uỷ và
chỉ huy các cấp. Nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc từng bước đánh bại thủ đoạn chiến thuật
sử dụng tên lửa Sơ-rai để chế áp trận địa phòng không của địch.

Ngày 6 tháng 8, địch sử dụng nhiều tốp máy bay chiến thuật vào đánh xưởng sửa chữa
radar ở Cầu Diễn, nhà máy gạch Từ Liêm và một số mục tiêu khoe ở khu vực Ngã tư Canh. Tiểu đoàn
79 trung đoàn tên lừa 257 bố trí ở trận địa Thượng Thuỵ, trực tiếp án ngữ phía tây Hà nội là hướng
công kích chủ yếu của địch nên bị chúng dùng tên lừa Sơ-rai chế áp ngay từ đầu trận đánh. Quả đạn
thứ nhất vừa rời bệ phóng thì trắc thủ góc tà báo cáo có tín hiệu tên lừa Sơ-rai. Quan sát màn hiện
sóng, tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Chiến thấy tên lửa địch ít có khả năng bắn vào đơn vị mình. Anh hạ
lệnh cho kíp trắc thủ bám sát địch và phóng tiếp quả đạn thứ hai. Mấy giây sau, các trắc thủ phát hiện
tên lửa địch đang lao về phía trận địa. Vọng quan sát mắt và trắc thủ kính ngắm quang học IIA-OO
cũng dồn dập thông báo tên lửa địch đang lao vào trận địa. Hiểu được quyết tâm diệt địch của tiểu
đoàn trường, kíp chiến đấu đã bình tĩnh điều khiển đạn gặp mục tiêu nổ tốt mới xử trí tình huống
tránh tên lửa Sơ-rai gấp. Quả tên lửa Sơ-rai địch mất tín hiệu radar bay theo quán tính lao xuống đất
nổ tung cách trận địa khoảng 2 ki-lô-mét. Đây là lần đầu tiên trong cuộc chống chiến tranh phá hoại
lần thứ hai của không quân Mỹ, bộ đội tên lửa bảo vệ Hà nội của sư đoàn đã thực hiện thành công tư
tưởng chỉ đạo tác chiến của Quân chủng, vừa đánh được địch, vừa tránh được tên lửa Sơ-rai bảo đảm
an toàn cho lực lượng và phương tiện của ta. Trận đánh đã thể hiện trí thông minh, lòng dũng cảm của
bộ đội tên lửa phòng không Hà nội. Chiến công xuất sắc của tiểu đoàn 79 đã khẳng định tính hiệu quả
của cách chống Sơ-rai của bộ đội tên lửa Hà nội và củng cố niềm tin cho các đơn vị bạn thi đua lập
công.

Tiếp đó, các tiểu đoàn 77, 94 đều xử trí, chi huy và thao tác chống tên lừa Sơ-rai tốt, vừa
đánh thắng địch vừa bào vệ an toàn lực lượng ta. Một lần nữa bộ đội phòng không Hà nội đánh thắng
thủ đoạn chiến thuật dùng tên lửa không đối đất để chế áp lực lượng phòng không của ta.
Trong khi đó, tiểu đoàn 46 là đơn vị mới thành lập ngày 15 tháng 5 được lệnh cơ động từ
trận địa Phú Hoà về trận địa Đặng Cầu thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hải Hưng. Mặc dù phải vượt trên 40
ki-lô-mét đường lầy lội, mỗi chiếc xe kéo đã quay vòng bốn chuyến trong đêm đầy gian nan, vất và,
nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn quyết tâm đưa toàn bộ lực lượng và phương tiện đến trận địa mới bảo đảm
an toàn và triển khai sẵn sàng chiến đấu đúng thời gian quy định. Phát huy truyền thống ra quân đánh
thắng trận đầu, ngày 17 tháng 8, tiểu đoàn 46 đã hiệp đồng chiến đấu với cụm pháo phòng không tại
chỗ bắn rơi một chiếc A7 bên bờ sông Trà Lý.

Tuy nhiên, trong tháng 8 địch đã đánh ba lần vào Hà nội, các đơn vị tên lửa và pháo phòng
không đã đánh địch rất tích cực và quyết liệt, nhưng hiệu suất chiến đấu thấp. Bộ đội tên lừa của sư
đoàn đã đánh 16 trận, phóng 26 quả đạn nhưng không chiếc máy bay đích nào rơi tại chỗ. Các trung
đoàn pháo phòng không 260, 220, 212 bắn hàng nghìn viên đạn không kết quả. Nguyên nhân là do
địch thay đổi thủ đoạn hoạt động nhưng chủ yếu là do bộ đội chưa được chuẩn bị kỹ về tư tưởng và
cách đánh, trình độ chỉ huy và thao tán xạ kích địch trên nền nhiễu mạng chưa vững chắc, còn có hiện
tượng đánh bừa, đánh ẩu và vẫn còn một số trường hợp để đạn tên lửa rơi xuống đất hoặc nổ khi
không có mục tiêu.

Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo cho các đơn vị rút kinh nghiệm nghiêm
túc và có biện pháp khắc phục kịp thời. Một số khó khăn vượt quá khả năng của sư đoàn như địch gây
nhiễu tạp làm nổ đầu đạn tên lửa phòng không của ta và cách đánh mục tiêu trong nhiễu nặng… đã
được sư đoàn báo cáo, xin chỉ thỉ của Quân chủng.

Được sự chỉ đạo, giúp đỡ của Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân chủng, sư đoàn đã điều tất
cả các lực lượng cơ động đánh địch ở vòng ngoài về tập trung, co cụm bảo vệ khu vực Hà nội - Nội
Bài.

Theo lệnh của Quân chủng, trung đoàn pháo phòng không 240 thuộc Bộ tư lệnh Phòng
không 363 ở hải Phòng được lệnh cơ động lên bảo vệ sân bay Nội Bài cùng với hai tiểu đoàn 138, 139
pháo 37 mm của trung đoàn pháo phòng không 221 và trung đoàn pháo phòng không 260. Sư đoàn
còn tổ chức tiếp nhận trung đoàn pháo phòng không 226, 221 để tăng cường đội hình chiến đấu bào
vệ Hà nội. Để đảm bảo chiến đấu, phòng tham mưu sư đoàn đã cùng các đơn vị tổ chức xây dựng
củng cố hệ thống trận địa, thực hiện mỗi tiểu đoàn tên lửa có từ 2 đến 3 trận địa dự bị. Ban thông tin
còn tổ chức triển khai xây dựng và củng cố các đường dây thông tin với một số trận địa cơ bản của tên
lửa. Ban quân báo và ban thông tin cũng đã tổ chức thu mạng tình báo của đại đội dẫn đường 26 và
hai vọng quan sát ở Chùa Thầy và Ba Vì để giúp người chỉ huy nắm chắc địch.

Cũng trong thời gian này sư đoàn và các trung đoàn còn mở hàng chục lớp tập huấn cho
cán bộ chỉ huy, trợ lý cơ quan, kíp chiến đấu của tên lừa và pháo phòng không. Những lớp tập huấn
chuyên ngành đã giúp cho bộ đội trao đổi, tiếp thu những kinh nghiệm chiến đấu mới và nâng cao kỹ
năng, kỹ xào trong tiến trình chỉ huy, phát hiện, bám sát và xạ kích mục tiêu.

11 giờ 38 phút ngày 2 tháng 9, đúng lúc bộ đội nghỉ trưa thì 26 chiếc máy bay F4 và F105
bay thành hai tốp lớn vào đánh sân bay Nội bài. Do theo dõi và phán đoán liên tục, chính xác, chỉ huy
sư đoàn đã lệnh cho các lực lượng bảo vệ sân bay Nội Bài đánh địch kịp thời. Các tiểu đoàn tên lửa đã
bảy lần đánh địch, phóng 13 quả đạn vào đội hình địch. Tiếu đoàn 57 và tiểu đoàn 59, mỗi đơn vị bắn
rơi một chiếc F4. Đại đội 197 trung đoàn pháo phòng không 260 đã đánh địch bổ nhào tốt, lập công
xuất sắc, bắn rơi một chiếc F4. Những chiến công xuất sắc của bộ đội phòng không bảo vệ sân bay
Nội Bài là kết quả của quá trình rút kinh nghiệm và tích cực chuẩn bị, nâng cao khả năng chiến đấu
sau một số trận đánh không thành công trong tháng 8. Tin vui đó đã kịp thời động viên, củng cố lòng
tin vào khà năng diệt địch của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn và quân dân Thủ đô.

Sau khi nghiên cứu lời khai của giặc lái máy bay do ta bắt được trong tháng 7, các cấp
chiến lược và chiến dịch đã nhận định: trong thời gian tới, địch sẽ mở cuộc tập kích đường không quy
mô lớn bằng máy bay B52 và máy bay chiến thuật vào Hà nội. Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh Quân chủng
chỉ thị cho sư đoàn tổ chức nghiên cứu hoàn chỉnh phương án đánh B52 để bảo vệ Hà nội.

Tháng 9 năm 1972, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung nghiên cứu và bổ sung phương án đánh
B52. Đây là lấn thứ ba sư đoàn tổ chức xây dựng phương án đánh máy bay ném bom chiến lược của
địch để bảo vệ Hà nội.

B52 là máy bay ném bom chiến lược của không quân Mỹ, có thể mang được từ 17 đến 30
tấn bom, bay liên tục 21 giờ trên chặng đường dài hơn 20.000 ki-lô-mét, hoạt động được cả ban đêm,
trong điều kiện khí tượng phức tạp và bay ném bom ở độ cao từ 9 đến 11 ki-lô-mét. Đặc biệt B52 còn
được trang bị 15 máy gây nhiễu điện tử (nhiễu tích cực), hai máy gây nhiễu bằng những sợi kim loại
(nhiễu tiêu cực) có tên lửa nhử mồi để nhiễu loạn và đánh lừa radar đối phương. Nước Mỹ có khoảng
450 chiếc B52 được cải tiến nhiều lần từ B52-A đến B52-H. Báo chí Mỹ không ngớt quảng cáo, hù
doạ để gây ấn tượng loại "siêu pháo đài bay", một trong ba vũ khí tiến công chiến lược của Mỹ là "vô
địch", là "bất khả xâm phạm". Không ít người trên thế giới đã có tâm lý phục Mỹ, sợ Mỹ.

Ở Việt nam, ngày 18 tháng 6 năm 1965, lần đầu tiên Mỹ sử dụng 30 chiếc B52 từ đảo
Guam vào ném bom ở Bến Cát thuộc miền Đông Nam Bộ. Một tháng sau, ngày 19 tháng 7 năm 1965,
trong lần đến thăm đại đội 1 đoàn Tam Đảo ở sân bay Bạch Mai, với tầm nhìn chiến lược thiên tài,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57. B52 hay "bê"
gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy lính Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh mà
đã đánh là nhất định thắng". Lời dạy của Bác Hồ kính yêu chẳng những thể hiện quyết tâm giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong bất kỳ tình huống nào
mà còn là chỉ thị đối với bộ đội phòng không - không quân: Phải tìm cách tiêu diệt máy bay B52.

Ngay sau lần đầu B52 ném bom đèo Mụ Giạ trên miền Bắc, ngày 12 tháng 4 năm 1966,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức giao nhiệm vụ cho Quân chủng: Phải tìm mọi cách để đánh bằng
được B52.

Sau bước leo thang nhảy cóc nghiêm trọng và những trận đánh B52 không thành công
trong tháng 4 năm 1972 ở Vinh, Thanh Hoá, Hải Phòng, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho sư đoàn
làm phương án đánh B52 để bảo vệ Hà nội.

Sư đoàn phòng không 361 từng gắn bó với lịch sử chống chiến tranh phá hoại ở Hà nội từ
ngày đầu thành lập nay càng nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của mình trong việc đánh
máy bay địch, đặc biệt là B52 để bảo vệ Thủ đô nghìn năm văn hiến. Những chiến công hiển hách của
cha ông ở Đông Bộ Đầu, Chương Dương, Thăng Long, Đông Đô, Đống Đa… đã tiếp thêm sức mạnh
cho lãnh đạo, chỉ huy và bộ đội của sư đoàn trong quá trình chuẩn bị đánh máy bay ném bom chiến
lược của không quân Mỹ.

Để tập trung lãnh đạo bộ đội xây dựng phương án tác chiến, Đàng uỷ sư đoàn đã ra nghị
quyết chuyên đề về đánh B52. Sau khi phân tích, đánh giá đối tượng tác chiến, nghị quyết Đảng uỷ đã
nêu rõ tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: "kiên quyết, dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, bí mật,
bất ngờ, đánh tiêu diệt, đánh rơi máy bay B52 tại chỗ, bảo vệ an toàn mục tiêu, càng đánh càng thắng,
càng đánh càng trưởng thành".

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó, lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp đã
tổ chức giáo dục, quán triệt làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ hai vấn đề cơ bản. Một là, có nhiều
khả năng B52 sẽ vào đánh Hà nội. Hai là, ta quyết tâm sẽ bắn rơi được B52. Để thực hiện điều đó,
ngoài việc quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, các buổi sinh hoạt chính trị và quân sự ở các cấp cần
làm cho bộ đội hiểu rõ âm mưu thủ đoạn sử dụng B52 của Mỹ, những mặt mạnh và mặt yếu của B52,
trên cơ sở đó nêu cao quyết tâm bắn rơi tại chỗ B52 để bảo vệ mục tiêu chiến lược số một của đất
nước.

Được sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân chủng, kế thừa những tinh hoa trong phương án tác
chiến đánh B52 bảo vệ miền Bắc tháng 2 năm 1968 của Quân chủng và những kinh nghiệm trong quá
trình đánh B52 của bộ đội tên lửa, ngày 3 tháng 5 năm 1972, phương án đánh B52 để bảo vệ Hà nội
của sư đoàn đã được thông qua lần thứ nhất.

Phương án nêu rõ quyết tâm của Bộ tư lệnh sư đoàn:

- Hiệp đồng chặt chẽ với các binh chủng, kiên quyết tiêu diệt B52 và các loại máy bay
cường kích, bảo vệ an toàn mục tiêu. Phát huy cao độ sức mạnh của hoả lực, tận dụng mọi khà năng
của khí tài để tiêu diệt máy bay địch khi chúng chưa cắt bom.

- Đánh trúng tốp đầu, đánh liên tục, không để lọt mục tiêu. Kiên quyết tiêu diệt cả máy bay
B52 và máy bay cường kích. Chuẩn bị đánh nhiều đợt trong một ngày và liên tục trong nhiều ngày.

- Mưu trì, sáng tạo, linh hoạt vận dụng kinh nghiệm và truyền thống đánh thắng của sư
đoàn. Không để bị bất ngờ, lỡ thời cơ, không để địch nghi binh, thu hút hoặc phân tán hoả lực. Tập
trung đánh từng tốp, không bỏ sót, lọt các tốp sau.

Mặc dù quyết tâm chiến đấu cao nhưng do sư đoàn lúc này chỉ có hai trung đoàn tên lửa,
ba trung đoàn pháo phòng không tiểu cao và chưa có cách đánh hiệu quả nên việc triển khai kế hoạch
đánh B52 còn nhiều hạn chế.

Tháng tháng 7 năm 1972, sư đoàn tổ chức làm phương án đánh B52 lần thứ hai. Trên cơ sở
khẳng định đế quốc Mỹ trong thế thua, chúng có thể điên cuồng và liều lĩnh sừ dụng B52 đánh vào Hà
nội, phương án tháng 7 đã dự kiến khá đầy đủ quy mô, thủ đoạn hoạt động của B52 tập kích vào Hà
nội và đề ra những biện pháp tác chiến tương đối phù hợp với bôi cảnh cự thể của sư đoàn.

Về cơ bản đội hình chiến đấu đánh B52, đánh máy bay cường kích vẫn bố trí ổn định.
Trung đoàn tên lửa 251 bố trí hoả lực ở phía nam sông Hồng, trung đoàn tên lửa 261 bố trí ở phía bác
sông Hồng. Mỗi trung đoàn tên lửa đều có một số trận địa chốt có thể đánh B52 ở các hướng, có thể
phối hợp chi viện cho nhau, cùng tập trung hoả lực đánh vào một đường bay của địch.

Trong khi bàn về bố trí đội hình tên lửa đánh B52, có ý kiến cho rằng nên đưa một số đơn
vị ra vòng ngoài cơ động phục kích đánh B52 từ xa, từ bên sườn cánh sóng nhiễu trong đội hình địch
sẽ nâng cao được hiệu suất chiến đấu và bào vệ mục tiêu. Nhưng phần nhiều ý kiến lại cho rằng trong
khi toàn bộ lực lượng tên lửa bảo vệ Hà nội chỉ có hai trung đoàn thì việc bố trí đội hình trên các trận
địa chốt "ôm" sát Hà nội sẽ phát huy được hoả lực tập trung, đánh được nhiều đường bay của địch.
Mặc dù vẫn còn một số ý kiến qua lại nhưng cuối cùng Bộ tư lệnh Quân chủng và Bộ Tổng tham mưu
đều đồng ý với ý kiến thứ hai và bố trí lực lượng như trên.

Về cách đánh, phương án nêu rõ thứ tự xử trí, chỉ huy cụ thể trong từng giai đoạn bay của
B52, cách tận dụng các khí tài quang học, radar để phát hiện và xác định đúng đối tượng tác chiến.
Được cơ quan tham mưu cấp trên chỉ đạo giúp đỡ, các đơn vị tên lửa tích cực rèn luyện cách đánh ba
điểm, kiên quyết đánh B52 trong điều kiện có nhiễu tổng hợp, nhất là nhiễu tạp cường độ lớn.

Ngoài việc xác định lực lượng chủ yếu trực tiếp đánh B52 là bộ đội tên lửa có hiệp đồng
chặt chẽ với bộ đội không quân, sư đoàn còn phát huy sử dụng các đơn vị pháo 100 mm để tăng
cường hoả lực đánh B52.

Công tác bảo đảm chiến đấu được sư đoàn đề cập cụ thể, tỉ mỉ như bảo đảm đạn, hệ thống
trận địa phục kích bí mật để đánh B52 trên các tỉnh Hà Tây, Hà nội, Hà Bắc, Nam Hà, Ninh Bình, Hải
Hưng và Vĩnh Phú.

Một số ý kiến còn cho rằng phương án tháng 7 chưa nêu rõ quy mô tập kích đường không
chủ yếu bằng B52 vào Hà nội, lực lượng tên lửa chưa tập trung đúng mức để bảo vệ mục tiêu chiến
lược số một của đất nước, đội hình bố trí còn dàn trải và chưa có lực lượng dự bị chiến đấu.

Được sự chỉ đạo, giúp đỡ của Bộ tư lệnh và cơ quan Quân chủng, sau khi tiến hành nghiên
cứu, bổ sung phương án đánh B52 trong tháng 7, ngày 21 tháng 9. sư đoàn tổ chức thông qua phương
án đánh B52 bảo vệ Hà nội. Những thiếu sót trong phương án tháng 7 được sư đoàn bổ sung tương
đối hoàn chỉnh trong phương án đánh B52 tháng 9 năm 1972. Phương án lần này đã xác định rõ nét
B52 sẽ đánh vào Hà nội, quyết tâm đánh rơi tại chỗ B52 cao hơn, thế trận đã phát huy được sức mạnh
tổng hợp của lực lượng trong sư đoàn và Quân chủng, và đã có lực lượng dự bị chiến đấu là trung
đoàn tên lửa 267. Tuy nhiên, lực lượng chủ yếu đánh B52 của sư đoàn hiện tại vẫn chỉ có hai trung
đoàn tên lửa 261 và 257. Trung đoàn tên lửa 267 là lực lượng dự bị để tăng cường bảo vệ Hà nội vẫn
đang ở Khu 4.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn lần này cơ bản vẫn như trước nhưng đã được tăng cường
một số đơn vị pháo phòng không. Hai trung đoàn tên lửa được bố trí theo nguyên tắc mỗi trung đoàn
có từ ba đến bốn tiểu đoàn chiếm lĩnh trận địa chốt, có thể bảo đảm trên mỗi hướng, mỗi đường bay
B52 sẽ có từ hai đến bốn tiểu đoàn đánh được vào một tốp đồng thời bào đảm chi viện được cho nhau.
Các trung đoàn pháo phòng không làm nhiệm vụ đánh máy bay cường kích. Riêng trung đoàn pháo
phòng không 220 chỉ huy bốn đại đội pháo 100 mm của dân quân tự vệ Hà nội, còn có nhiệm vụ tích
cực phát huy hoả lực đánh B52.
Phương án tác chiến còn đặt ra một số tình huống cụ thể như cách đánh B52 vào một
hướng, hai hướng, vừa đánh B52 vừa đánh máy bay cường kích, đánh địch khi có tên lửa Sơ-rai, kế
hoạch hiệp đồng chiến đấu với bộ đội không quân và bộ đội radar…

Trong công tác bảo đảm chiến đấu nổi lên là các biện pháp tổ chức nắm địch, đài một của
các tiểu đoàn tên lửa được nối thêm đốt ăng ten, radar pháo phòng không K8-60 được sử dụng kết hợp
với radar điều khiển tên lửa, biện pháp sử dụng các hệ thống thông tin vô tuyến, tiếp sức, hữu tuyến
bảo đảm chỉ huy chiến đấu liên tục kể cả trong điều kiện bị nhiễu nặng.

Ngày 26 tháng 9, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chi thị về công tác chính trị trong chiến đấu đánh
B52 nhằm tiếp tục quán triệt tình hình, nhiệm vụ và nâng cao quyết tâm bắn rơi tại chỗ B52 cho bộ
đội. Chỉ thị này được nhanh chóng triển khai và có hiệu quả tốt trong các đơn vị toàn sư đoàn.

Vận đụng tài liệu tập huấn đánh B52 của Quân chủng và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội
tên lửa, phòng tham mưu sư đoàn đã tồ chức biên soạn tài liệu về cách đánh B52 và tiếp tục huấn
luyện cho cán bộ chỉ huy và kíp chiến đấu. Các kíp chiến đấu được ưu tiên luyện tập mỗi ngày hai giờ
về xử trí chỉ huy và thao tác đánh B52 với quyết tâm: kíp 1 đánh giỏi trong mọi tình huống, kíp 2
đánh được gần như kíp 1, kíp 3 đánh được tình huống địch đánh ban ngày.

Cũng trong thời gian này, trên các trận địa, trạm, xưởng, các bãi sản xuất đạn tên lửa, đội
ngũ cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, thợ sửa chữa đã phát huy trách nhiệm chính trị và trí tuệ kỹ thuật quân sự
phòng không tìm tòi sáng kiến cài tiến kỹ thuật, ngày đêm làm việc quên mình để tiến hành kiểm tra
hiệu chỉnh sửa chữa, sản xuất đạn và bảo đàm khí tài đạt hệ số chiến đấu cao nhất. Tấm gương sáng
của kỹ thuật viên Trần Đức Nhuần, Hoàng Thế Bình bám sát đơn vị sửa chữa khí tài bảo đảm chiến
đấu dưới làn bom B52 ngày 13 tháng 4 năm 1972 ở Hàm Rồng được sư đoàn biểu dương kịp thời và
trở thành nội dung học tập, rèn luyện trong sư đoàn. Những hoạt động chuẩn bị đánh B52 của sư đoàn
diễn ra sôi động, khẩn trương. Khả năng chiến đấu của đơn vị và trình độ đánh B52 của bộ đội được
nâng lên rõ rệt.

Ngày 25 tháng 9 năm 1972, địch điều thêm hai đại đội máy bay F111-A gồm 48 chiếc
thuộc liên đội không quân 47 sang sân bay Tắc-ly (Thái Lan) để tăng cường cho lực lượng A6, A7
hoạt động bay thấp đánh đêm trên miên Bắc nước ta. F111-A là loại máy bay cường kích, cánh của nó
có thể cụp, xòe để tăng, giảm tốc độ. Nó có thể mang được l~ỡ tấn bom, bằng số bom của năm chiếc
F4, bay với tốc đõ trung bình từ 250 đến 300 mét trong một giây. Đặc biệt, F111-A có thiết bị tự động
bay ở độ cao rất thấp trên các địa hình phức tạp, đến ném bom mục tiêu không cắn có sự hướng dẫn
của hệ thống dẫn đường Lo-ran của Mỹ.

Đến 28 tháng 9, lần đầu tiên địch sử dụng F111-A vào hoạt động ban đêm trên vùng trời
Tây Bắc. Cũng từ đó loại máy bay này ngày càng tăng cường hoạt động ban đêm trên miền Bắc nước
ta. Khi vào đánh phá mục tiêu, F111-A thường bay thấp, lợi dụng các sống núi, trục đường, triền sông,
các loại địa hình đặc biệt, bay theo đường bay đã định trước để tránh sự phát hiện của hệ thống radar
phòng không của ta. Do F111-A bay rất thấp nên radar phát hiện gần, dễ lẫn trong sóng về địa vật,
thời gian bám sát và phải tiến hành xạ kích trong thời gian rất ngắn dễ lỡ thời cơ chiến đấu. Khả năng
đánh máy bay bay thấp ban đêm của bộ đội phòng không, nhất là bộ đội tên lửa rất hạn chế. Thức đêm
nhiều, liên tục báo động chuyển cấp chiến đấu và thực hành chiến đấu nên bộ đội bị mỏi mệt, căng
thẳng, ảnh hưởng tới sức chiến đấu lâu dài.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung tổ chức bộ đội nghiên
cứu, kế thừa kinh nghiệm đánh máy bay A6, A7 và không người lái bay thấp để xây dựng phương án
và cánh đánh, quyết tâm đánh rơi máy bay F111-A của địch. Trong quý III năm 1972, sư đoàn đã đánh
gần 100 trận bắn rơi 26 máy bay địch, trong đó có bảy chiếc rơi tại chỗ. Trung đoàn tên lửa 261 bắn
rơi mười chiếc, có bốn chiếc rơi tại chỗ. Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi tám máy bay, có ba chiếc rơi
tại chỗ.

Những thành tích chiến đấu đó thể hiện sự cố gắng vượt bậc của bộ đội toàn sư đoàn trong
việc dày công nghiên cứu địch và vượt qua mọi khổ khăn thử thách quyết liệt từng bước đánh thắng
các trang bị kỹ thuật và thủ đoạn chiến thuật mới trên lĩnh vực chiến tranh điện tử hiện đại, tích cực
tiêu diệt địch và góp phần đắc lực bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở Hà nội.

Tuy nhiên, bộ đội quán triệt tình hình nhiệm vụ chưa thật tốt, hiệu suất chiến đấu chưa cao,
trình độ chiến đấu của đơn vị và các kíp chiến đấu chưa đồng đều. Bộ đội pháo phòng không chưa bắn
rơi tại chỗ máy bay địch, còn sáu lần bắn nhầm vào máy bay ta, một số trận không hoàn thành nhiệm
vụ. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng tránh tên lửa Sơ-rai còn chưa tốt nên để 11
lần địch bắn vào trận địa tên lửa và pháo phòng không gây tổn thất về người và khí tài. Công tác bảo
đảm kỹ thuật còn có lúc có đơn vị chưa bảo đảm chiến đấu. Đặc biệt, tiểu đoàn 78 khí tài đang có hiện
tượng hỏng hóc vẫn bắn đạn để mất điều khiển rơi xuống đất. Việc bảo đảm hậu cần để bộ đội đủ điều
kiện sức khỏe chiến đấu liên tục, ác liệt còn nhiều hạn chế. Đó cũng là những nội dung đòi hỏi lãnh
đạo, chỉ huy và bộ đội cần phải phấn đấu vươn lên hơn nữa để khắc phục, đáp ứng nhiệm vụ nặng nề
và vẻ vang của sư đoàn phòng không bảo vệ mục tiêu yếu địa chiến lược số một của đất nước.

Ngày 6 tháng 10, lộ tư lệnh Quân chủng triệu tập hội nghị quân chính để nghiên cứu thế
trận đánh B52 và các đối tượng khác nhằm bảo vệ miên Bắc, chủ yếu là bảo vệ Hà nội, Hải Phòng.

Thực hiện sự chỉ đạo của hội nghị Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ thị cho cơ quan
và đơn vị thực hiện nghiêm túc các chế độ quy định trực ban chiến đấu ở sở chỉ huy và trên các trận
địa để tăng cường khả nặng sẵn sàng chiến đấu, đồng thời tiếp tục chuẩn bị chiến đấu về mọi mặt, tích
cực rèn luyện bộ đội để nâng cao chất lượng bảo đảm chiến đấu và chiến đấu. Những kinh nghiệm
chiến đấu của các đơn vị mà Quân chủng đã tổng kết được sư đoàn tổ chức chỉ đạo cơ quan và đơn vị
bố sung hoàn chỉnh phương án tác chiến, nhất là phương án đánh B52, đánh trong điều kiện có tên lửa
Sơ-rai và đánh máy bay bay thấp ban đêm.

Được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn còn tổ chức các tiểu đoàn 94, 59, 78 và 46 cơ
động phục kích đánh địch. Công tác khôi phục, sửa chữa khí tài, sản xuất cải tiến đạn tên lửa, chấn
chỉnh hệ thống thông tin, trinh sát, phòng không sơ tán và hệ thống công sự hầm hào phòng tránh
được xúc tiến khẩn trương theo kế hoạch.

Ngày 6 tháng 10, hơn 40 lần chiếc F4 và F105 vào đánh khu vực Hà nội và đánh sáu trong
tổng số tám tiểu đoàn tên lửa. Khi vào tới khu vực hoả lực, máy bay địch bay thành các tốp nhỏ hai
chiếc bất ngờ hạ thấp độ cao ném bom phá, bom bi hoặc từ xa phóng tên lửa Sơ-rai vào trận địa. Tất
cả tám tiểu đoàn tên lửa và 15 đại đội pháo phòng không đồng loạt nổ súng mãnh liệt Tiểu đoàn 79
đánh liền hai trận, phóng bốn quả đạn, diệt hai máy bay địch. Vận dụng kinh nghiệm của tiểu đoàn 79,
hai tiểu đoàn 77 và 94 đang đánh địch thì phát hiện có tên lừa Sơ-rai đã kịp thời ngừng phóng quả thứ
hai, tiếp tục điều khiển quả thứ nhất bắn rơi 1 tại chỗ một chiếc F4 rồi nhanh chóng thao tác quy trình
chống tên lửa địch, bảo đảm an toàn. Trong khi đó tiểu đoàn 93 đang bắn thấy tên lửa địch đã kịp thời
xử lý làm cho Sơ-rai rơi cách trận địa gần 1.000 mét. Hai tiểu đoàn 57 và 79 cùng đánh trúng hai tốp
cường kích buộc địch phải bỏ ý đồ đánh phá khu vực Đông Anh, ném bom bừa bãi rồi vòng ra.

Hai ngày sau, ngày 8 tháng 10, khi không quân địch vào khống chế sân bay Nội Bài, ba
tiểu đoàn 59, 57 và 93 đã đánh địch quyết liệt bắn rơi ba máy bay địch, mỗi tiểu đoàn bắn rơi một
chiếc. Hai tiểu đoàn 57 và 93 đã thực hiện được trận đánh tập trung vào một tốp trong cùng một thời
gian khi chúng vừa vào vùng hoả lực. Tiểu đoàn 93 ở trận địa Song Mai phóng hai quả đạn vào tốp
tiêm kích mang ký hiệu 4r()9 với giãn cách 12 giây, nhưng trong giây đầu tiên kíp chiến đấu phát hiện
có tên lửa Sơ-rai liên ngừng phóng quả thứ hai, tập trung điều khiển quà thứ nhất bắn rơi một chiếc F4
rồi hạ cao thế máy phát. Tên lửa địch bay vọt qua đài radar điều khiển, nổ cách trận địa khoáng 500
mét.

Những trận đánh thắng liên tiếp của sư đoàn đã tích cực tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ an
toàn mục tiêu và bảo đàm an toàn lực lượng. Kết quả những trận đánh thắng xuất sắc trên còn thể hiện
trình độ tác chiến của bộ đội phòng không Hà nội đã có tiến bộ rõ rệt. Những chiến công của sư đoàn
đã tích cực góp phần cùng các lực lượng phòng không ba thứ quân từng bước đánh bại các thủ đoạn
mới trong chiến tranh điện tử hiện đại, góp phần đắc lực thực hiện ba nhiệm vụ chiến lược của Quân
chủng.

Đến giữa tháng 10 năm 1972, cuộc chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của quân và dân
Hà nội đã trải qua hơn sáu tháng đầy gian nan, thử thách quyết liệt và đã giành được những thắng lợi
nhất định. Các lực lượng phòng không ở Thủ đô trong đó lực lượng phòng không của sư đoàn làm
nòng cốt đã đánh hàng trăm trận, bắn rơi 63 máy bay Mỹ, tiêu diệt và bắt sống một số giặc lái, trong
đó lực lượng dân quân tự vệ bắn rơi năm chiếc.

Trải qua những thử thách quyết liệt của chiến tranh, quân và dân Hà nội ngày càng đoàn
kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
cho đến thắng.lợi hoàn toàn. Trong khi đó đế quốc Mỹ vẫn không đạt được những mục tiêu chiến lược
cơ bản của chúng. Đời sống nhân dân ta vẫn ổn định. Hàng hoá viện trợ từ hậu phương lớn miền Bắc
vẫn không ngừng được vận chuyển vào tiền tuyến lớn miền Nam.

Cuối tháng 8 năm 1972, cơ quan tình báo Mỹ đã báo cáo với Nixon: "… mặc dù ném bom
ác liệt nhưng vẫn không làm giảm được một cách có ý nghĩa việc ngăn chặn Bắc Việt nam đưa người,
vũ khí và trang bị vào miền Nam".

Đầu tháng 10 năm 1972, phái đoàn ta ở Hội nghị Paris chủ động đưa ra bản dự thảo hiệp
định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt nam.

Trước thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam, Bắc, trước dư luận quốc tế và trong nước
ngày càng lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt nam và để lấy lòng cử tri Mỹ trong cuộc
bầu cử tổng thống sắp tới, ngày 22 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ đã ra lệnh cho không quân
ngừng ném bom, bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Trên thực tế, cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ đối với miền Bắc nước ta đã bị
thất bại một bước nghiêm trọng. Trong thắng lợi chung đó, sư đoàn phòng không 361, lực lượng nòng
cốt của các lực lượng phòng không bảo vệ Hà nội đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách quyết liệt
từng bước đánh thắng các thủ đoạn mới vô cùng xào quyệt và tàn bạo của không quân Mỹ. Thực chất
là sư đoàn đã cùng quân và dân Hà nội phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và phương tiện
trên mặt trận chiến tranh nhận dân đất đối không ở Thủ đô, cơ bản đánh thắng các thủ đoạn tập kích
đường không của địch trong điều kiện chiến tranh điện tử phát triển. Những thắng lợi bước đầu và cơ
bản đó làm tiền đề cho những chiến công to lớn của sư đoàn sau này.

Chương 5: Đánh B52, tháng 12-1972
Ra lệnh ngừng ném bom ngoài vĩ tuyến 20 ngày 22 tháng 10 năm 1972, tập đoàn Nixon
nhằm những mục đích:

- Tranh thủ thời gian viện trợ ồ ạt vũ khí, máy bay, tàu chiến để củng cố nguỵ quân, nguỵ
quyền Sài Gòn và tích cực chi viện quân nguỵ đánh chiếm vùng giải phỏng, phá hoại cơ sở của ta
trong vùng chúng kiểm soát ở miền Nam.

- Tập trung không quân, hải quân đánh mạnh từ vĩ tuyến 20 trở vào đề cắt đứt sự chi viện
từ hậu phương ra tiền tuyến, ngăn chặn trước đợt tiến công lớn có thể xảy ra trên chiến trường miền
Nam, rồi bất ngờ mở cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 vào Hà nội, Hài
Phòng.

Tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược, địch nhằm phá huỷ tiềm lực kinh tế,
quốc phòng và gây hoang mang khủng khiếp đối với nhân dân ta hòng thực hiện âm mưu đàm phán
trên thế mạnh và kết thúc chiến tranh theo điều kiện có lợi cho Mỹ.

Để thực hiện mục đích trên, đối với miền Bắc, địch đã tập trung lực lượng không quân
trong đó có B52 đánh phá ác liệt từ nam Thanh Hoá trở vào. Mục tiêu đánh phá của chúng chủ yếu là
chân hàng, các mục tiêu giao thông và một số vùng dân cư, sân bay, trận địa phòng không.

Trước tình hình trên, Bộ Tổng tham mưu nhận định: Địch sẽ tập trung đánh phá rất ác liệt ở
Khu 4 nhưng vẫn có nhiều khả năng đánh trở lại các mục tiêu ngoài vĩ tuyến 20. Do đó, trong khi tiếp
tục chỉ đạo chặt chẽ cuộc chiến đấu bảo vệ giao thông vận chuyển ở Khu 4, ta phải đề cao cảnh giác,
tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến đấu để đối phó có hiệu quả khi địch đánh lại các mục tiêu
trọng yếu từ Thanh Hoá trở ra.

Chấp hành chỉ thị ngày 25 tháng 10 của Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng đã tăng cường
lực lượng và điều chỉnh đội hình bảo vệ giao thông vận chuyển từ nam Thanh Hoá trở vào. Đối với
các đơn vị ngoài vĩ tuyến 20, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương tập trung rút kinh.
nghiệm chiến đấu, đẩy mạnh huấn luyện và tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 26 tháng 10 năm 1972, Chính phủ ta đã ra tuyên bố "tình hình cuộc đàm phán về vấn
đề Việt nam hiện nay", nêu rõ lập trường chính nghĩa, thái độ thiện chí của ta, đồng thời vạch trần sự
lật lọng của chính quyền Mỹ, đòi chúng phải thực hiện nghiêm chỉnh những vấn đề đã thoả thuận
trong các ngày 8, 9 và 10 tháng 10 ở Hội nghị Paris. Tiếp đó, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị cho tất cả
các cấp uỷ phải lãnh đạo các lực lượng vũ trang đề cao cảnh giác, thường xuyên sẵn sàng chiến đấu
chống mọi biểu hiện ảo tưởng hoà bình.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của trên, ngày 27 tháng 10, Đảng uỷ Quân chủng họp
hội nghị bất thường ra nghị quyết "tập trung sự lãnh đạo nâng cao trình độ về mọi mặt của bộ đội để
đạt hiệu suất chiến đấu cao, chất lượng công tác tốt hơn, bảo đảm toàn quân chủng càng đánh càng
thắng, càng đánh càng mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống".

Sau khi triển khai công tác đàng, tổ chức sinh hoạt chính trị theo nghị quyết, chỉ thị của
Quân chủng, cán bộ và chiến sĩ trong sư đoàn đã hoàn toàn nhất trí với nghị quyết "Bốn khẳng định"
của Đảng uỷ sư đoàn:

- Dù khả năng nào xảy ra thì diễn biến tình hình cũng rất phức tạp.

- Địch nhất định đánh trở lại Hà nội với mức độ ác hệt.

- Máy bay B52 nhất định được dùng ném bom Hà nội.

- Đánh lại Hà nội, địch nằm trong thế thua, thế yếu, thế bị động, ta nhất định có điều kiện,
có khả năng bắn rơi tại chỗ B52.

Đó là nguồn sức mạnh tạo nên tinh thần cảnh giác cách mạng, nâng cao ý chí chiến đấu đối
với các chiến sĩ phòng không Hà nội và đánh bạt làn khói hoả mù "hoà bình trong tầm tay" của kẻ thù.
Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh sư đoàn kiên quyết chỉ đạo tổ chức chuẩn bị và rèn luyện nâng cao trình độ
sẵn sàng chiến đấu, chất lượng chiến đấu của các đơn vị. Những kinh nghiệm chiến đấu của quân
chủng được sư đoàn vận dụng, bồ sung và luyện tập phương án tác chiến nhất là phương án đánh B52,
đánh trong điều kiện địch phóng tên lửa Sơ-rai, đánh máy bay bay thấp ban đêm…

Từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 3 tháng 11, Bộ tư lệnh Quân chủng đã tồ chức hội nghị
chuyên đề bàn cách đánh B52 của bộ đội tên lửa tại hội trường của sư đoàn ở Hoà Mục. Cán bộ lãnh
đạo, chỉ huy của các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, một số kíp chiến đấu giỏi và một số cán bộ của
các Tổng cục, Viện Khoa học quân sự, Viện Kỹ thuật quân sự đã tới dự. Đại tá Lê Văn Tri, Tư lệnh
Quân chủng trực tiếp chủ trì hội nghị. Tham gia chỉ đạo hội nghị còn có Phó tư lệnh Quân chủng
Hoàng Văn Khánh, Viện trưởng Viện Khoa họe quân sự Nguyễn Hoàng và thủ trưởng các cục Tác
chiến, Quân huấn Bộ Tổng tham mưu.

Tại hội nghị, các đồng chí cán bộ chỉ huy, sĩ quan điều khiển và trắc thủ tên lửa đã sôi nổi
báo cáo và trao đồi kinh nghiệm cách đánh B52. Đồng chí Trần Xanh, Phó tư lệnh sư đoàn và các
đồng chí cán bộ, trợ lý phòng tác huấn đã trài qua thực tế nghiên cứu cánh đánh B52 ở Khu 4 và ở
chiến dịch Trị - Thiên đã cung cấp cho hội nghị những hiểu biết mới về địch và những kinh nghiệm
chiến đấu quý báu. Cán bộ chỉ huy và các trắc thủ các tiểu đoàn 81, 86, 59 thuộc trung đoàn tên lửa
274, 261 lần lượt báo cáo các chuyên đề: phương pháp tổ chức chỉ huy, chọn dải nhiễu, chọn thời cơ
phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu, cách chống tên lửa Sơ-
rai… Cuối cùng hội nghị đã thống nhất được tư tướng chỉ đạo, cách đánh, những động tác xử trí chỉ
huy và động tác thao tác cơ bản của kíp chiến đấu trong quá trình đánh B52.
Sau hội nghị, phòng khoa học quân sự và phòng tác huấn của Bộ Tham mưu quân chủng đã
hoàn thành tài liệu "Cách đánh B52". Tài liệu này đã giúp cho các đơn vị tên lửa của sư đoàn thống
nhất tư tưởng chỉ đạo và cách đánh, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện và trình độ đánh B52
cho bộ đội.

Để khảo nghiệm cách đánh, đầu tháng 11, Bộ tư lệnh Quân chủng tổ chức đoàn cán bộ và
một số kíp chiến đấu vào Nghệ An trực tiếp giúp trung đoàn tên lửa 263 đánh B52.

21 giờ 44 phút ngày 22 tháng 11, được đại đội 45 trung đoàn radar 291 trực tiếp bảo đảm
tình báo, tiểu đoàn 43 và tiểu đoàn 44 trung đoàn tên lửa 263 đã phóng bốn đạn, được cấp trên công
nhận bắn rơi hai chiếc B52, trong đó có một chiếc rơi ở phía tây Na-khom-pha-nom (Lào) 19 ki-lô-
mét, cách căn cứ Utapao (Thái Lan) 64 ki-lô-mét. Ngay tối hôm đó, Chính uỷ và một số cán bộ của sư
đoàn đã trực tiếp gọi điện qua máy điện thoại đường dài động viên và tìm hiểu trận đánh của trung
đoàn tên lửa 263. Trưởng ban tác huấn Hoàng Bảo đã gọi điện trực tiếp gặp trợ lý tác chiến trung đoàn
tên lửa 263 Nguyễn Đông Hải tìm hiểu rất cụ thể diễn biến trận đánh. Những đặc điểm về mục tiêu
xuất hiện trong nhiễu, kinh nghiệm nóng hổi của trận đánh được anh báo cáo ngay với lãnh đạo, chỉ
huy sư đoàn và chỉ đạo kịp thời cho các đơn vị.

Sau khi trúng cừ tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai, Nixon và bè lũ ráo riết chuẩn bị bước
phiêu lưu quân sự mới. Chúng gấp rút tăng thêm viện trợ quân sự cho nguỵ quyền Sài Gòn, đốc thúc
quân nguỵ. phản kích, lấn chiếm vùng giải phóng của ta ở miền Nam. Đối với miền Bắc, địch tăng
cường số phi vụ đánh phá giao thông vận chuyển ở Khu 4, đồng thời tăng cường cho máy bay trinh
sát tầng cao SR.71 và máy bay trinh sát không người lái tầng thấp 147-J hoạt động để chuẩn bị cho
âm mưu đánh lớn trở lại ngoài vĩ tuyến 20.

Nhận định vê âm mưu mới của địch, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ
rõ: "Sắp tới, địch sẽ ít bị ràng buộc hơn về chính trị vì cuộc tuyển ử ở Mỹ đã tiến hành, cho nên ta
phái đề phòng địch tăng cường hoạt động quân sự, tuyệt đối không được lơ là cảnh giác. Nhưng dù đế
quốc Mỹ có những hành động phiêu lưu như thế nào chúng cũng không đào ngược được tình thế hiện
nay. Trên đà thắng lợi và trong thời cơ thuận lợi, chúng ta nhất định đánh bại chiến lược Việt nam hoá
chiến tranh" giành thắng lợi to hơn nữa".

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và chỉ thị của Tổng cục Chính
trị, Bộ Tổng tham mưu, Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương: Phổ biến ngay kinh nghiệm trận
đánh ngày 22 tháng 11 của trung đoàn tên lửa 263 cho tất cả các đơn vị tên lừa, đồng thời tiếp tục chỉ
đạo nghiên cứu hoàn chỉnh cách đánh, tập trung huấn luyện phương án đánh B52 và ra sức chuẩn bị
về mọi mặt để triển khai kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà nội, Hải Phòng.

Thực hiện chủ trương của Quân chủng, một lần nữa Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức nghiên cứu
bổ sung phương án đánh B52 để bảo vệ Hà nội. Những cuộc hội thảo, tranh luận, hiến kế của phòng
tham mưu sư đoàn về hướng tập kích, đường bay chủ yếu của B52 vào Hà nội, bố trí đội hình chiến
đấu… đã diễn ra sôi nổi, có lúc gay gắt giúp cho Bộ tư lệnh sư đoàn hạ quyết tâm sử dụng lực lượng
và phương tiện đánh B52.
Về hướng tập kích và đường bay chủ yếu của B52 vào đánh Hà nội, hầu hết các ý kiến đều
thống nhất dự kiến năm đường bay cơ bản. Đó là B52 sẽ từ hướng tây bắc xuống, từ tây nam vào, từ
phía nam lên, từ hướng đông nam tới và từ hướng bắc đến. Có ý kiến cho rằng hướng tây nam sẽ là
hướng tập kích chủ yếu của B52. Nhưng phần đông đều thống nhất chúng sẽ tập kích chủ yếu từ
hướng tây bắc vào Hà nội.

Về đội hình chiến đấu, nếu như khi làm phương án đánh B52 trong tháng 9 còn có một số ý
kiến cho rằng nên cho một số tiểu đoàn tên lửa cơ động phục kích đánh địch ở vòng ngoài thì khi biết
rõ yếu điểm của B52 trong trận đảnh ngày 22 tháng 11 của trung đoàn tên lửa 263, hầu hết các cán bộ
tham mưu đều thống nhất việc bố trí đội hình tên lửa co cụm, ôm sát mục tiêu như hiện nay là đúng
đắn. Điều đó còn phù hợp với tình hình lực lượng tên lửa bảo vệ Hà nội chỉ có hai trung đoàn và cần
phải tập trung hoả lực để có thể đánh được nhiều đường bay B52.

Sau khi nghiên cứu kỹ những ý kiến của phòng tham mưu, Bộ tư lệnh sư đoàn đã thống
nhất nhận định hướng tập kích chủ yếu của B52 vào Hà nội là hướng tây bắc và khẳng định bố trí đội
hình tên lửa co cụm, ôm sát mục tiêu Hà nội như hiện nay là đúng đắn. Những ý kiến đó được báo cáo
lên Bộ tư lệnh Quân chủng.

Tuy nhiên từ lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn và phòng tham mưu đến bộ đội đều tỏ ra băn khoăn
lo lắng vì ngày 15 tháng 11 vừa qua trung đoàn tên lửa 267, lực lượng dự bị cho Hà nội đã được lệnh
cơ động vào chiến đấu ở Thanh Hoá. Trong khi đó trung đoàn tên lửa 274 vừa từ chiến trường Khu 4
ra, lực lượng, phương tiện tiêu hao, tổn thất, hỏng hóc chưa sẵn sàng chiến đấu. Khi xuống sư đoàn
thông qua phương án đánh B52, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri, Phó tư lệnh Hoàng Văn Khánh và
Phó chính uỷ Nguyễn Xuân Mậu đã cơ bản thống nhất những nội dung chủ yếu đã nêu ra. Những đề
nghị của sư đoàn được các đồng chí chỉ huy, lãnh đạo Quân chủng chấp thuận và nghiên cứu giải
quyết tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ.

Sau khi thông qua phương án tác chiến, các đồng chí chỉ huy, lãnh đạo Quân chửng đã
xuống các tiểu đoàn tên lửa để kiểm tra kế hoạch tác chiến và chỉ thị nhiều ý kiến quý báu.

Trên cơ sở chỉ đạo của Quân chủng, các đơn vị trong sư đoàn tiếp tục nghiên cứu, trao đổi
những kinh nghiệm mới nhất về đánh B52 và bổ sung hoàn chỉnh phương án tác chiến.

Đội hình chiến đấu của sư đoàn được bố trí theo đúng quyết tâm chiến đấu của Bộ tư lệnh
sư đoàn và sự chỉ đạo của Quân chủng.

Tất cả các trung đoàn không quân 921, 923, 925, 927 được Quân chủng giao nhiệm vụ
chiến đấu chủ yếu bảo vệ Hà nội.

Trung đoàn radar 293 và tiểu đoàn radar 8 dẫn đường ở Hà nội cùng với trung đoàn radar
290 ở Hà Tĩnh, trung đoàn radar 291 ở Nghệ An và trung đoàn radar 292 ở Tây Bắc có nhiệm vụ bảo
đảm radar cho các lực lượng phòng không và không quân chiến đấu bảo vệ Hà nội.

Lực lượng dân quân tự vệ ở Hà nội có bốn đại đội gồm 20 khẩu pháo 100 mm, 92 trận địa
súng máy phòng không 14,5 mm và hơn 100 trận địa súng máy phòng không 12,7 mm, đại liên, trung
liên. Cùng với đội ngũ bắn máy bay, đội ngũ dân quân tự vệ đông đảo được trang bị hơn bốn vạn khẩu
súng bộ binh đã sẵn sàng đánh địch đồ bộ đường không, giải quyết hậu quả chiến tranh và tham gia
bắt giặc lái.

Chấp hành lệnh sơ tán phòng không của Nhà nước, Hà nội đã tổ chức sơ tán 50 vạn trong
tổng số 60 vạn dân nội thành. Các hệ thống thông báo, báo động, hầm hào phòng không được củng cố
và triển khai rộng khắp cả nội, ngoại thành bảo đảm công tác phòng không nhân dân trên quy mô lớn.
Để bảo đảm vận chuyển ở trung tâm giao thông của cả nước, ngoài Sở Giao thông vận tài thành phố,
Nhà nước thành lập Ban Bảo đảm giao thông vận tài khu vực do Phó thủ tướng Đỗ Mười làm trưởng
ban. Các bến phà qua sông Hồng ở khu vực Chương Dương, Khuyến Lương, Chèm và một số cầu
phao, phà qua sông Đống được gấp rút củng cố. Ngành giao thông vận tải đường sắt đã vận dụng
thành tựu khoa học kỹ thuật mới lắp ráp thành công phà và cầu phao cho xe lửa trên tuyến Hà nội -
Thái Nguyên, bảo đảm vận chuyển một khối lượng lớn hàng hoá từ bờ bắc sang bờ nam sông Hồng.

Chỉ trong thời gian ngắn, thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không ở Hà nội đã được xây
dựng và phát triển nhằm phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp các lực lượng và phương tiện, kiên quyết
lành tròn nghĩa vụ thiêng liêng mà cả nước đã giao cho.

Thấy rõ lực lượng chủ yếu để đánh B52 là bộ đội tên lửa chỉ có hai trung đoàn, lãnh đạo,
chỉ huy sư đoàn đã thống nhất quyết tâm xây dựng toàn diện nhằm nâng cao hiệu suất chiến đấu, lấy
chất lượng bù số lượng, kiên quyết bắn rơi tại chỗ B52 trên bầu trời Hà nội.

Công tác đảng, công tác chính trị được sư đoàn triển khai rộng khắp từ cơ quan đến các
đơn vị đã làm cho bộ đội hạn chế ảo tưởng hoà bình, tập trung tinh lực vào nhiệm vụ chuẩn bị và sẵn
sàng đánh rơi tại chỗ máy bay B52. Hệ thống cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức quần chúng ở các cấp
được bổ sung đầy đủ và tồ chức sinh hoạt thường xuyên, chặt chẽ, phát huy được vai trò đầu tàu
gương mẫu của cán bồ, đảng viên, đoàn viên.

Về bảo đảm chiến đấu, ngoài việc tổ chức hiệp đồng với các lực lượng phòng không ba thứ
quân, Bộ tư lệnh sư đoàn còn tổ chức củng cố sở chỉ huy các cấp, các trận đia chiến đấu. Các sở chỉ
huy trung đoàn, tiểu đoàn tổ chức thu tốt mệnh lệnh chỉ huy một chiều từ sở chỉ huy sư đoàn bằng
mạng thông tin vô tuyến sóng ngắn có cà mật hiệu chỉ huy đánh B52 khi hệ thống thông tin bị nhiễu
nặng. Các đường dây thông tin hữu tuyến vượt cấp đến các tiểu đoàn tên lừa trên các trận địa chốt
được ban thông tin và các tiểu ban thông tin khẩn trương hoàn thành. Ban thông tin sư đoàn còn tổ
chức triển khai mạng thông tin chống nhiễu, vu hồi trên mạng FM của đài Tiếng nói Việt nam, đài tiếp
sức 405 và trên hệ thống đường dây của Tổng cục Bưu điện để phục vụ cho công tác chỉ huy trong
mọi tình huống. Sư đoàn còn tổ chức thành lập thêm ba vọng quan sát mắt mới ở Kẻ Sặt, Ba Lạt,
Thanh Sơn để tăng cường khả năng nắm chắc địch cho chỉ huy các cấp.

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ sư đoàn, trưởng phòng kỹ thuật Nguyễn Trung Lữ đã
tập trung tố chức đẩy mạnh tiến độ công tác kỹ thuật với quy mô lớn chưa từng có để bảo đảm chiến
đấu.

Đến tháng 11 năm 1972, khi chiến sự ở Hà nội tạm ngừng, được sự giúp đỡ của Cục Kỹ
thuật và các xưởng A31, A34, A30, A37, phòng kỹ thuật đã tổ chức một đợt tổng lau, bảo quản định
kỳ năm, bảo đảm 100 phần trăm khí tài tên lửa, pháo phòng không, vũ khí, đạn dược được kiểm tra,
hiệu chỉnh, thay thế bảo đảm chiến đấu.

Các tiểu đoàn kỹ thuật tên lửa được tập trung củng cố toàn diện. Các tiểu đoàn đã tổ chức
sinh hoạt chính trị, trọng tâm là xác định trách nhiệm chính trị, chống ngại khó, ngại khổ đã làm
chuyển biến tư tưởng, tồ chức, nền nếp và chất lượng công tác của các tiểu đoàn kỹ thuật. Các tiểu
đoàn kỹ thuật 80 và 95 đã sắp xếp lại quân số tổ chức thành hai dây chuyền sản xuất đạn, nghiên cứu
vận dụng cải tiến quy trình lắp ráp, giảm hời gian một số công đoạn nên mỗi dây chuyền sàn xuất đã
tăng từ tám quả đạn theo quy định lên tới 20 hoặc 22 quả đạn trong một ngày đêm.

Dưới sự chỉ đạo của Đàng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn, trưởng phòng hậu cần Nguyễn Văn
Thăng đã tranh thủ sự giúp đỡ của Cục Hậu cần Quân thủng. tổ chức cơ quan và đơn vị tập trung bảo
đàm chiến đấu. Việc bảo đảm sức kéo, xăng dầu cho chiến đấu được tiến hành thường xuyên theo
đúng kế hoạch cơ động chiến đấu và cơ số quy định. Riêng trong tháng 10 và tháng 11 năm 1972, hai
tổ sửa chửa xe đã phục hồi được 10 xe xích và sửa chửa được 139 xe vận tài. Các chiến sĩ lái xe còn
tranh thủ học tập nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, đạo đức, trách nhiệm và trình độ kỹ thuật,
nghiệp vụ. Cuối tháng 10, bảy mươi tư chiến sĩ lái xe vừa tốt nghiệp ở trường về được các đơn vị bổ
túc thêm tay lái để nhanh chóng phục vụ chiến đấu.

Trên mặt trận thầm lặng nhưng không kém phần gian khổ, các cán bộ, chiến sĩ quân nhu,
doanh trại, nuôi quân, quân y đã tích cực bảo đảm lương thực, thực phẩm, thuốc men đúng cơ số quy
định, luôn tích cực tăng gia sản xuất cài thiện đời sống để bảo đàm sức khoẻ cho bộ đội. Phòng hậu
cần còn tổ chức cấp phát trên 60 tấn lương khô và hàng chục tấn đồ hộp cho các đơn vị làm lượng dự
trữ để bồi dưỡng bộ đội chiến đấu lâu dài.

Vấn đề diễn ra sôi nổi, rộng khắp và tập trung nhiều tinh lực nhất của lãnh đạo, chỉ huy và
bộ đội trong thời gian này là công tác huấn luyện. Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, việc nghiên cứu
địch, xây dựng phương án tác chiến, biên soạn tài liệu… là những vấn đề quan trọng và cần thiết. Tuy
nhiên, những vấn đề đó mới chỉ là những vấn đề chung và rất cơ bản; để trở thành những hành động
thống nhất, đồng bộ và có hiệu quả của kíp chiến đấu còn một khoảng cách dài. Trải qua thực tế chiến
đấu đa dạng, phong phú, sinh động, sau nhiều bài học chưa thành công, có ìúc phải trả bằng máu, bộ
đội còn phải thường xuyên rút kinh nghiệm nghiêm túc, từng bước hoàn chỉnh phương án tác chiến và
nâng cao kỹ năng, kỹ xảo mới có thể bắn rơi được máy bay địch trong điều kiện chiến tranh điện tử
hiện đại phát triển và thủ đoạn hoạt động ngày càng xảo quyệt của địch. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa
quyết định để bắn rơi được máy bay địch đối với bộ đội phòng không là công tác huấn luyện.

Xác định rõ vấn đề trên, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung tinh lực vào việc tồ
chức bộ đội huấn luyện chiến đấu. Vấn đề này càng được đề cao khi lãnh đạo, chỉ huy các cấp thấy rõ
lực lượng chủ yếu đánh B52 chỉ có hai trung đoàn tên lửa 261 và 257. Vì vậy phong trào thi đua huấn
luyện nâng cao chất lượng chiến đấu, nhất là đánh B52 đã trở thành cao trào rộng kháp ở các đơn vị,
đặc biệt là các trung đoàn và tiểu đoàn tên lửa. Dưới sự chỉ đạo, tổ chức của phòng tham mưu, các cán
bộ ban tác huấn đã ngày đêm bám sát từng xe, từng kíp chiến đấu vừa giảng bài vừa tổ chức giúp đỡ
bộ đội huấn luyện. Trong thời gian này, sư đoàn đã tổ chức được 25 lớp học với 286 lượt cán bộ đại
đội, trung đội pháo phòng không và 249 lượt cán bộ, chiến sĩ tên vừa. Đặc biệt, trong tháng 11, sư
đoàn đã tổ chức 10 ngày huấn luyện đột kích chuyên đề về đánh B52 cho các kíp chiến đấu của bộ đội
tên lửa. Nội dung huấn luyện chủ yếu là cách đánh máy bay của không quân, hải quân, máy bay B52,
rút kinh nghiệm đánh máy bay trong các loại nhiễu, bối dưỡng sử dụng kính ngắm quang học chỉ
chuẩn IIA-OO, đánh địch trong điều kiện có tên lửa Sơ-rai, trắc thủ sử dụng tay quay để bám sát mục
tiêu. Khi có thông báo B52 vào đánh Nghệ An, Thanh Hoá, bất kể ngày đêm, các phân đội tên lửa đều
được lệnh báo động mở máy luyện tập thực hành phát hiện và bám sát mục tiêu. Nhiều lần đài một
các tiểu đoàn 93, 57, 76 phát hiện được tín hiệu B52 trên nền nhiễu nhẹ ở cự ly trên 300 ki-lô-mét.
Các sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn mỗi tuần ba lần tồ chức luyện tập hiệp đồng chiến đấu
vào những lúc nhận định có khả năng máy bay B52 vào hoạt động.

Nhận thức sâu sắc tư tưởng chỉ đạo "pháo phòng không 100 mm tích cực tham gia đánh
B52" trong phương án tác chiến, phó tư lệnh Lê Huy Vĩnh phụ trách pháo phòng không của sư đoàn
đã tổ chức cho trung đoàn pháo phòng không 220 huấn luyện cách đánh đúng chỗ yếu của địch từ cự
ly 50 ki-lô-mét trở vào. Đó là thời điểm các tốp B52 sử dụng radar chuẩn bị ném bom vào mục tiêu,
đường bay của chúng thường ổn định, khả năng cơ động kém dễ bị pháo phòng không bắn rơi. Đối
với các đơn vị pháo phòng không, nội dung huấn luyện chủ yếu là xử trí thao tác radar COH.9-A, máy
chỉ huy, hiệp đồng thao tác phát hiện bám sát và xạ kích mục tiêu của các khẩu đội pháo, thời cơ bắn,
phương pháp xạ kích mục tiêu trong các trường hợp bay bằng, bổ nhào, phương pháp chống nhiễu,
chống tên lửa Sơ-rai…

Nhân lúc địch ngừng ném bom ngoài vĩ tuyến 20; trong tháng 11, sư đoàn đã tổ chức kiểm
tra kết quả huấn luyện đánh B52 của các đơn vị. Tất cả các cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đều được
kiểm tra, đánh giá, phân loại, được biết rõ chỗ mạnh chỗ yếu trong quá trình xừ trí chỉ huy và biện
pháp khắc phục cụ thể. Các cán bộ, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ như thông tin, trinh sát, sở chỉ
huy… cũng được kiểm tra, đánh giá nghiêm túc.

Công tác huấn luyện của sư đoàn được triển khai toàn diện, trọng điểm là kíp chiến đấu của
bộ đội tên lửa. Các biện pháp tổ chức huấn luyện được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, có rút kinh
nghiệm nghiêm túc và được huấn luyện tới mức thuần thục những kỹ năng, kỹ xảo trong tiến trình xử
trí chỉ huy hiệp đồng thao tác cụ thế của kíp chiến đấu. Chính vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn trình độ
chiến đấu đặc biệt là trình độ đánh B52 của hai trung đoàn tên lửa 261 và 257 đã được nâng lên nhanh
chóng, vững chắc. Trên cơ sở những động tác xử trí chỉ huy cơ bản như trong tài liệu đánh B52 của
Quân chủng và sư đoàn, các phân đội đã kết hợp vận dụng và phát huy được cách đánh riêng của
mình. Đây là điều hết sức quan trọng có tính chất quyết định để giải thích vấn đề: vì sao hai trung
đoàn tên lửa 261 và 257 có trình độ chiến đấu trung bình trong cuộc chống chiến tranh phá hoại lần
thứ nhất, chưa từng tham gia trực tiếp đánh B52 lại lập được chiến công hiển hách trong chiến dịch
phòng không cuối năm 1972.

Ngày 24 tháng 11 năm 1972, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng
tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam đã cùng một số cán bộ cao cấp của Bộ Tổng tham
mưu, Tổng cục Chính trị trực tiếp thông qua lần cuối cùng phương án đánh B52 để bảo vệ Hà nội, Hài
Phòng. Sau khi nghiên cứu, kiểm tra toàn bộ thế trận đánh B52, đồng chí Tổng tham mưu trưởng đã
phê chuẩn kế hoạch và ra lệnh cho Quân chủng hoàn thành mọi công tác chuẩn bị trước ngày 3 tháng
12 năm 1972.

Ngày 25 tháng 11, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị về "tăng cường sẵn sàng chiến đấu"
trong đó có nhận định: "sắp tới địch có thể ném bom, bắn phá trở lại các mục tiêu ngoài vĩ tuyến 20
với mức độ ác liệt hơn trước, chúng có thể liều lĩnh dùng máy bay B52 đánh phá các trọng điểm Hà
nội, Hải Phòng". Tiếp đó, đồng chí Tổng tham mưu trưởng đã chỉ thị cho bộ đội phòng không - không
quân tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cách đánh, tích cực huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Chấp hành chỉ thị, mệnh lệnh của Quân chủng, sư đoàn đã kết hợp chặt chẽ việc chỉ đạo
tiến hành Đại hội Đảng nhiệm kỳ ở các cấp với việc quán triệt các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên và
tổ chức triển khai thực. hiện trong toàn sư đoàn.

Ngày 27 tháng 11, Bộ tư lệnh Quân chủng đã tổ chức kiểm tra kế hoạch triển khai đánh
B52 của sư đoàn. Đi tới đâu đoàn Quân chủng cũng thấy hài lòng trước trách nhiệm chính trị bảo vệ
trái tim thiêng liêng của Tổ quốc qua các hành động tích cực chuẩn bị chiến đấu của toàn thể cán bộ,
chiến sĩ.

Ngày 4 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho sư đoàn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh:
"Địch sẽ dùng B52 đánh rộng ra toàn miền Bắc, thủ đoạn có thể là bất ngờ, ồ ạt, đánh ngay vào Hà
nội, Hải Phòng. Phải gấp rút tăng cường kiểm tra công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu".

Cũng trong ngày 4 tháng 12, sau khi nắm chắc toàn bộ tình hình sẵn sàng chiến đấu trong
sư đoàn, đồng chí Tư lệnh sư đoàn Trần Quang Hùng đã báo cáo lên Quân chủng: Mọi mặt công tác
chiến đấu chuẩn bị xong, kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả máy
bay B52. Như vậy, cho đến thời gian này, những vấn đề cơ bản về nghệ thuật chiến dịch phòng không
như tổ chức nghiên cứu, phán đoán, âm mưu thủ đoạn của địch, xác định hướng và mục tiêu tiến công
của chúng, quyết định sử dụng lực lượng, cách đánh, huấn luyện bộ đội… đã được Quân chủng và sư
đoàn thống nhất thực hiện trên quy mô lớn và có chiều sâu. Trong những vấn đề trên, sư đoàn phòng
không 361 luôn luôn là binh đoàn phòng - không nòng cốt thực hành các ý định chiến thuật và chiến
dịch do cấp chiến lược vạch ra.

Cũng trong những ngày này toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đang say sưa chuẩn bị
chiến đấu theo mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên bỗng bàng hoàng khi nhận được tin: Trung đoàn tên lửa
261 được lệnh chuẩn bị lên đường vào phía nam Khu 4 chiến đấu. Phái đoàn của Tổng cục Chính trị
và Quân chủng đã xuống đơn vị giao nhiệm vụ và động viên bộ đội. Một số cán bộ, chiến sĩ ở khu vực
Hà nội được lệnh đi phép đợt một bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 và đợt hai từ ngày 14 tháng 12.

Sự chuẩn bị ra đi đột ngột của trung đoàn tên lửa 261 đã thực sự ảnh hưởng tới khí thế và
lực lượng đánh B52, gây không ít bản khoăn lo lắng tới trách nhiệm bảo vệ Thủ đô của hầu hết cán
bộ, chiến sĩ.

Ngày 13 tháng 12, do thái độ ngoan cố, lật lọng của chính quyền Mỹ, Hội nghị Paris bế tắc.
Kít-xinh-giơ, cố vấn đặc biệt của tổng thống Mỹ tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Paris về Việt
nam.
Ngày 14 tháng 12, Nixon chính thức thông qua kế hoạch tập kích đường không chiến lược,
chủ yếu bằng máy bay B52 vào Hà nội, Hải Phòng mang tên "Lai-nơ-bếch-cơ II" bắt đầu từ ngày 17
tháng 12 (theo giờ Hà nội là ngày 18 tháng 12 năm 1972).

Thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 được
thành lập để chỉ huy ba liên đội máy bay B52 gồm 193 chiếc máy bay và 250 tổ lái ở hai sân bay En-
đơn-xơn (Gu-am) và Utapao (Thái Lan). Địch còn điều thêm từ Mỹ sang Philippines 50 máy bay
KC.135 để tiếp dầu cho máy bay B52 và điều thêm hai tàu sân bay In-tơ-prai-dơ và Sa-ra-tô-ga từ
Hồng Công và Su-bích sang vịnh Bắc Bộ, nâng tổng số tàu sân bay ở đây lên năm chiếc. Tham gia kế
hoạch tập kích đường không chiến lược còn có hơn 1.000 máy bay chiến thuật ở vùng Đông Nam Á.

Mục đích của "Linerbacker II" là tàn phá nặng nề một số vùng dân cư ở Hà nội, Hải
Phòng, gây sức ép mạnh nhất về chính trị, quân sự và tâm lý, buộc chính phủ ta phải nối lại cuộc đàm
phán ở Paris và chấp nhận các điều kiện có lợi cho Mỹ; đồng thời phá hoại tiềm lực kinh tế quốc
phòng, ngăn chặn từ gốc nguồn tiếp tế của ta cho chiến trường miền Nam và răn đe các nước đang trỗi
dậy đấu tranh chống lại Mỹ. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc còn tính rằng, với cuộc tập kích đường
không chiến lược chủ yếu bằng B52 liên tục từ ba đến năm ngáy, với khối lượng bom đạn khổng lồ
trút xuống Hà nội, chúng sẽ đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Các chuyên gia quân sự của Mỹ đã có kế hoạch hoàn thiện và chặt chẽ nhằm hạn chế cao
độ khả năng chiến đấu của các lực lượng phòng không - không quân ta. Cho máy bay B52 tập kích
vào ban đêm, bay ở độ cao 11 ki-lô-mét, chúng loại trừ hoàn toàn hoả lực của các loại pháo phòng
không. Với hàng trăm máy phát nhiễu trên hàng chục tốp máy bay B52, máy bay không quân chiến
thuật các loại, kết hợp với nhiễu ngoài đội hình của EB.66, EC.121 và hàng chục ki-lô-mét vuông
nhiễu tiêu cực trên vùng trời, cùng với các lực lượng máy bay tiêm kích, máy bay cường kích tập
trung đánh phá toàn bộ hệ thống sân bay, chế áp quyết liệt các lực lượng phòng không chúng sẽ loại
trừ hoàn toàn sự uy hiếp của hai lực lượng chủ yếu có thể đánh được máy bay B52 là tên lửa phòng
không và máy bay ta.

Ngày 17 tháng 12, nhận được chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị, Bộ tư
lệnh Quân chủng ra lệnh cho sư đoàn tăng cường cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Trung đoàn
tên lửa 261 được lệnh tiếp tục ở lại chiến đấu bảo vệ Hà nội. Những cán bộ, chiến sĩ đang đi phép
được lệnh về ngay trung đoàn. Bộ tư lệnh sư đoàn còn ra lệnh cho tiểu đoàn 93 ngừng bảo quản định
kỳ, khẩn trương chuẩn bị chiến đấu.

Thực hiện kế hoạch của Quân chủng, sư đoàn đã khẩn trương tố chức cơ động tiểu đoàn 78
tới trận địa mới để tăng cường hoả lực đánh địch trên hướng chủ yếu là hướng tây bắc Hà nội. Toàn sư
đoàn đã cùng các lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đánh
bại bước phiêu lưu quận sự mới của đế quốc Mỹ.

Ngày 18 tháng 12 năm 1972, mức độ đánh phá của không quân địch ở Khu 4 giảm đột
ngột. Đặc biệt, không có một tốp B52 nào hoạt động. Tất cả các đài radar của mạng cành giới mở máy
trực ban đều không có nhiễu tích cực.
10 giờ 15 phút, một chiếc máy bay trinh sát không người lái tầng thấp từ hướng tây bắc
vào trinh sát Hà nội. 30 phút sau, lại có một chiếc máy bay không người lái vào trinh sát Hài Phòng.

16 giờ 30, Bộ Tổng tham mưu thông báo cho Quân chủng: Sẽ có một đợt hoạt động lớn
của B52 ra miền Bắc.

Sau giao ban chiều, Phó tư lệnh Quân chủng Nguyễn Quang Bích chỉ thị cho sư đoàn: từ
18 giờ hôm nay B52 sẽ vào đánh Hà nội, hướng đánh từ Tây Bắc xuống. Các đơn vị khẩn trương kiểm
tra, sửa chữa khí tài, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Mọi công tác chuẩn bị đánh B52 phải hoàn
thành trước 17 giờ.

Sau khi nhận chỉ thị của Quân chủng, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã họp phiên mở rộng
với sự tham gia của các đồng chí tham mưu trưởng, tham mưu phó sư đoàn và các trưởng ban tác
huấn, trưởng ban trinh sát Hội nghị đã tranh thủ thời gian quán triệt tình hình địch, mệnh lệnh cấp
trên, dự kiến một số tình huống có thể xảy ra và chỉ đạo cơ quan, đơn vị khẩn trương sẵn sàng chiến
đấu.

Ngay sau cuộc họp, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức ba đoàn cán bộ do Phó tư lệnh Lê Huy
Vinh, Trần Xanh và Tham mưu phó Đỗ Văn Phúc dẫn đầu lên đường đi kiểm tra đốc chiến các đơn vị.
Tiếp đó, Tư lệnh và Chính uỷ sư đoàn cũng đi dự hội diễn văn nghệ ở trung đoàn pháo phòng không
220. Thủ trưởng trực ban ở sở chỉ huy sư đoàn lúc này là Tham mưu trưởng Nguyễn Đình Sơn và Phó
chính uỷ Nguyễn Văn Địch.

18 giờ 15 phút, trung đoàn radar 290 ở Hà Tĩnh báo cáo về sở chỉ huy Quân chủng: Tất cả
các đài radar đang làm nhiệm vụ cảnh giới đều bị nhiễu tích cực, cường độ nhiễu tăng nhanh.

18 giờ 35 phút, sở chỉ huy Quân chủng được tình báo vượt cấp của đại đội 37 trung đoàn
radar 292 ở Tây Bắc: Hai tốp máy bay F111 từ bên kia biên giới Việt - Lào đang bay về phía tây bắc
Hà nội.

18 giờ 50 phút, Quân chủng ra lệnh cho sư đoàn vào cấp 1. Cũng từ 18 giờ 50 phút ngày 18
tháng 12 năm 1972, chiến dịch phòng không của ta chống lại chiến dịch tập kích đường không chiến
lược chủ yếu bằng B52 của Mỹ vào Hà nội bắt đầu.

Lúc này sở chỉ huy sư đoàn liên tiếp nhận được tình hình địch từ các đơn vị báo cáo về.

Tại Việt Trì, trung đoàn pháo phòng không 221 nghe thấy tiếng động cơ của máy bay bay
thấp. Vài phút sau, vọng quan sát đặt trên dãy núi Tam Đảo cũng báo cáo: có máy bay địch đang bay
vào Hà nội. Tiếp đó, trung đoàn pháo phòng không 260 bảo vệ sân bay Nội Bài đã nổ súng đánh máy
bay địch. Đó là những tiếng súng đánh địch đầu tiên trong ngày đầu của chiến dịch phòng không bào
vệ Hà nội.

19 giờ 16 phút, trung đoàn radar 291 ở Nghệ An phát hiện được một số tốp B52 và báo cáo
về sở chỉ huy Quân chủng: B52 đang bay vào Hà nội. Đó là những tối B52 cất cánh từ căn cứ Gu-am
và U ta-pao phối hợp với không quân chiến thuật của tập đoàn 7 đang trên đường bay đánh vào Hà
nội. Với kế hoạch chu đáo bọn giặc lái hí hửng sẽ tái diễn chiến thắng như trận ném bom ở Hài Phòng
trong tháng tư vừa qua.
19 giờ 20 phút, theo phương án tác chiến, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho hai chiếc
máy bay Mích.21 cất cánh từ sân bay Hoà Lạc và Vĩnh Phú lên khu vực Suối Rút để chặn đánh B52.
Cả hai người lái đều phát hiện được đèn chiếu sáng trên B52 nhưng khi bám theo và cách địch 10 ki-
lô-mét người lái mở radar thì bị nhiễu nặng, các máy bay B52 đều tắt đèn nên không phát hiện được
mục tiêu, phải bay về hạ cánh.

Khi Tham mưu phó Binh chủng Radar Hứa Mạnh rai trực chỉ huy ở Tổng trạm khẳng định
đúng B52 đang vào Hà nội thì Phó tư lệnh Quân chủng Nguyễn Quang Bích lại tiếp tục điện xuống sở
chỉ huy sư đoàn, thông báo cụ thể tình hình B52, toạ độ hoạt động của máy bay ta và động viên bộ đội
đánh địch. Lập tức, Tham mưu trưởng Nguyễn Đình Sơn liền hội ý với Phó chính uỷ sư đoàn Trần
Văn Địch rồi giao nhiệm vụ đánh địch cụ thể cho các đơn vị.

19 giờ 44 phút, khi ba tốp B52 mang ký hiệu 566, 567, 569 từ hướng tây bắc vào đánh sân
bay Hoà Lạc, tại trận địa G dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn, sĩ quan điều khiển
Nguyễn Văn Luyến cùng các trắc thủ Đinh Trọng Đức, Phan Mạnh Hiếu, Nguyễn Đình Áp của tiểu
đoàn 78 trung đoàn tên lửa 257 đã phóng hai quả đạn vào tốp 566. Đó là những quả đạn tên lửa đầu
tiên đánh vào đội hình B52 trong chiến dịch phòng không bảo vệ Hà nội.

Phát hiện cánh sóng đài hai của tiểu đoàn 77, ba chiếc F4 tới tấp phóng tên lửa Sơ-rai
nhưng không trúng trận địa.

Tiếp đó, chấp hành mệnh lệnh của sư đoàn, trung đoàn trưởng trung đoàn tên lửa 257
Nguyễn Ngọc Điển đã ra lệnh cho các tiểu đoàn 77, 78, 79 tập trung hoả lực tiêu diệt hai tốp B52 có
ký hiệu 567 và 569. Cùng lúc đó, dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Trần Hữu Tạo và chính uỷ
Dương Đình Thào, các tiểu đoàn 57, 59, 94 trung đoàn tên lửa 261 đã tập trung hoả lực đánh hai tốp
B52 này. Tất cả 6 tiểu đoàn đã phóng 11 quà đạn, nhưng không diệt được mục tiêu.

Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội lên lửa, trung đoàn trưởng trung đoàn pháo phòng không
220 Bùi Biếng đã chí huy bốn đại đội pháo 100 mm của dân quân tự vệ Hà nội bắn tám lần hết 52
viên đạn vào một tốp B52 theo phần tử tính sẵn, không kết quả.

20 giờ 13 phút, khi tốp B52 có ký hiệu 671 từ phía Tam Đảo vào đánh Đông Anh, dưới sự
chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng, sĩ quan điều khiển Dương Văn Thuận cùng với các trắc
thủ Nguyễn Xuân Linh, Lê Xuân Tứ, Nguyễn Văn Độ của tiểu đoàn 59 đã bình tĩnh hiệp đồng chặt
chẽ, mưu trí bám sát chính xác dải nhiễu, phóng hai quả đạn nổ trúng mục tiêu. Vừa lúc đó, trắc thủ
kính ngắm quang học IIA-OO Quang báo cáo ngay về sở chỉ huy tiểu đoàn: Máy bay cháy rồi, đám
cháy to lắm. Có khả năng B52 đã bị bắn rơi.

Tin "B52 cháy to lắm" được cả tiểu đoàn 59 và 57 báo cáo ngay về sở chỉ huy trung đoàn.
Để bảo đảm chính xác, ban chỉ huy trung đoàn 261 đã cử trung đoàn phó Võ Công Lạng đến chỗ máy
bay rơi để xác minh. Sau khi vượt chặng đường dài trong đêm tối dưới làn bom đạn và tiếng gầm rít
của máy bay địch đến cánh đồng Chuôm thuộc xã Phù Lỗ huyện Đông Anh, trung đoàn phó đã trở về
với mảnh xác máy bay có tấm huy hiệu của Bộ chỉ huy không quân chiến lược SáC và ký hiệu B52-G.
Giữa lúc cán bộ chiến sĩ trong sở chỉ huy vô cùng vui mừng phấn khởi, thì chỉ huy trung đoàn chính
thức báo cáo tin B52 bị bắn rơi tại chỗ lên sở chỉ huy sư đoàn. Tin vui đó được Chính uỷ sư đoàn báo
cáo lên Quân chủng và qua đường dây nối trực tiếp với Văn phòng Quân uỷ Trung ương báo cáo với
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng chí Đại tướng báo cáo với Bí thư thứ nhất Lê Quẩn và các đồng chí
trong Bộ Chính trị đang có mặt ở Văn phòng Quân uỷ. Bộ trưởng Bộ quốc phòng gọi điện xuống sở
chỉ huy sư đoàn biểu dương bộ đội đã bắn rơi tại chỗ B52 và động viên cán bộ chiến sĩ phòng không
Hà nội cần phát truy thành tích chiến đấu, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay B52 hơn nữa.

Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội tên lửa các trung đoàn pháo phòng không 260, 212, 220, các
tiểu đoàn 1, 4, 6 trung đoàn pháo phòng không 221, các đại đội pháo 100 mm và súng máy phòng
không của dân quân tự vệ Thủ đô đã bắn hàng nghìn viên đạn các loại, diệt một chiếc F4. Trong bom
rơi đạn nổ chát chúa, các cán bộ xã đội Đoàn Tấu, Trịnh Soi, Nguyễn Văn Lâm đã dẫn lực lượng dân
quân cơ động của hai xã Đồng Xuân và Phù Lỗ khẩn trương vây bắt giặc lái B52 giữa những tiếng
kẻng, tiếng trống, tiếng mõ thúc liên hồi của quân dân địa phương.

Phối hợp với bộ đội phòng không Hà nội, 20 giờ 16 phút, tiểu đoàn 52 trung đoàn tên lửa
267 sư đoàn phòng không 365 ở Nghệ An, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn phó Trần Ngọc Vinh, sĩ quan
điều khiển Hoàng Văn Nạm và kíp trắc thủ đã tiếp tục đánh bồi, đánh nhồi trên đường bay ra, bắn bị
thương nặng một chiếc B52. Chiếc máy bay này phải hạ cánh bắt buộc xuống sân bay Đà Nẫng.

Một số khu vực ở phía bắc Hà nội bị bom B52 rải thảm gây tổn thất về người và của. Riêng
ở xã Uy Nỗ đã có 17 người chết, phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trận địa tiểu đoàn 59 bị rung chuyển
dữ dội sau mỗi loạt bom B52. Tất cả các nóc xe thu phát, xe điều khiển, xe chia điện và máy nổ đều bị
đất đá tung lên bao phủ, khói bụi mịt mù. Nhưng tất cà kíp chiến đấu đều bình tĩnh bám máy tiếp tục
chiến đấu. Những đồng chí không trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu đêu được huy động dồn sức sửa
đường ra vào trận địa vừa bị địch đánh hỏng để đoàn xe tiếp đạn do chính trị viên phó trực tiếp dẫn
đầu từ từ tiến vào bệ phóng nạp đạn để đơn vị tiếp tục chiến đấu. Theo kế hoạch hiệp đồng, một số
chiến sĩ được lệnh cấp tốc vào xã Uy Nỗ cùng nhân dân khắc phục hậu quả do địch đánh phá.

Ở trung đoàn pháo phòng không 212, đại đội 71 gặp tình huống ác liệt ngay từ đầu. Bom
B52 rơi trúng trận địa vùi lấp nhiều khẩu đội pháo. Các đồng chí chính uỷ trung đoàn, đại đội trưởng,
chính trị viên ở trong hầm chỉ huy và một số cán bộ chiến sĩ bị sức ép của bom rất mạnh. Nhưng tất cả
cán bộ, chiến sĩ đều giữ vững ý chí chiến đấu. Những người còn khỏe đều khẩn trương cứu đồng đội
bị bom vùi lấp. Nắm chắc tình hình đơn vị, ban chỉ huy trung đoàn đã cử một đoàn cán bộ do đồng chí
Nguyễn Quốc Chính dẫn đầu xuống ngay đại đội 71 để chỉ đạo và giúp đỡ đơn vị giải quyết hậu quả
khôi phục sức chiến đấu. Một trợ lý chính trị trung đoàn được ban chính trị cử xuống thay thế chính
trị viên bị ngất vì sức ép của bom địch.

Máy bay địch còn ném bom trúng khu vực sở chỉ huy cơ bân K1 của sư đoàn. Trước đó sư
đoàn đã cho sở chỉ huy di chuyển sang vị trí dự bị cánh đó không xa. Tuy nhiên, bom địch đã ném
trúng khu nhà ở của các chiến sĩ văn nghệ vừa từ trung đoàn pháo phòng không 220 về làm một số
đồng chí bị thương vong. Lập tức, chiến sĩ gái thông tin Thân Thị Dinh quê ở Hà Bắc, mới nhập ngũ
đã không quản ác liệt, băng qua lửa đạn, lao tới khu vực bom nổ để cứu đồng đội bị sập hầm và tắm
rửa cho những chiến sĩ hy sinh.

Đợt chiến đấu đầu tiên vừa kết thúc, đồng chí Hoàng Phương, Bí thư Đàng uỷ, Chính uỷ
Quân chủng đã có mặt ở sở chỉ huy sư đoàn. Sau khi nắm tình hình chiến đấu, đồng chí Chính uỷ
Quân chủng đã chỉ thị cho sư đoàn nhanh chóng tổ chức bộ đội rút kinh nghiệm chiến đấu, tìm rõ
nguyên nhân chưa bắn rơi nhiều B52 và tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời bảo đảm trận sau đánh
thắng lớn hơn. Đồng chí còn chỉ đạo tiến hành công tác đảng - công tác chính trị bảo vệ Hà nội, dốc
sức khắc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu để tiếp tục đánh thắng địch.

Chấp hành chỉ thị của đồng chí Chính uỷ Quân chủng, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã tiến
hành cuộc họp khẩn trương ngay tại sở chỉ huy. Đồng chí Trần Quang Hùng và đồng chí Trần Văn
Giang vừa từ trung đoàn pháo phòng không 220 trở về đã tham gia hội nghị. Mặc dù thời gian rất
ngắn nhưng Thường vụ Đàng uỷ đã ra nghị quyết để kịp thời lãnh đạo bộ đội. Nghị quyết nhấn mạnh:
"Địch dùng B52 đánh ra Hà nội là ở thế thua, thế thất bại, bị động đối phó hòng gây tổn thất lớn để ép
ta phải theo điều kiện của chúng. Cần giáo dục cho bộ đội nhận thức rõ hơn nữa tình hình nghiêm
trọng trong bước leo thang tàn bạo mới của địch, phát động lòng căm thù giặc Mỹ, nêu cao tinh thần
quyết chiến quyết thắng, kiên quyết bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay B52 hơn nữa để bảo vệ Thủ đô yêu
quý".

Nghị quyết trên được nhanh chóng truyền đạt tới các đảng uỷ, chi bộ. Nhiều đoàn phái viên
được giao nhiệm vụ xuống các phân đội, binh đội phổ biến rõ chủ trương, chỉ thị, mệnh lệnh giúp đơn
vị tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội. Tất cả các cấp uỷ hội ý ngay tại vị trí người chỉ huy, các chi bộ đều
ra nghị quyết lãnh đạo, động viên bộ đội nêu cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên giữ
vững ý chí chiến đấu, tập trung toàn bộ tinh lực vào việc chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, nghiêm túc
bộ đội bắt tay ngay vào việc khấc phục hậu quả, khôi phục sức chiến đấu, hiệu chỉnh sửa chữa khí tài,
tiếp thêm đạn dược chuẩn bị cho trận đánh sắp tới.

22 giờ 10 phút, sở chi huy Quân chủng thông báo tin của Cục 2 Bộ Tống Tham mưu: 23
giờ sẽ có một đợt B52 tiếp tục vào đánh Hà nội.

23 giờ, hai chiếc máy bay F4 bay ở độ cao 5 ki-lô-mét vào chặn kích trên bầu trời Yên Bái.
Bộ tư lệnh sư đoàn cho trung đoàn tên lửa 257, tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa 261, tiểu đoàn 86
trung đoàn tên lửa 274 và các trung đoàn pháo phòng không vào cấp 1.

Đến 23 giờ 9 phút, một tốp máy bay F111 vào đánh khu vực Bạch Mai. Đại đội 61 tiểu
đoàn pháo phòng không 20 ở Không Thượng bị bất ngờ không đánh được địch.

23 giờ 35 phút, trên bản đồ thu tình báo B1 xuất hiện một số tốp B52, mỗi tốp ba chiếc, độ
cao 11 ki-lô-mét từ phía tây nam bay qua Lào hướng thẳng về phía tây bắc, đồng thời một số tốp máy
bay chiến thuật tiến hành thả nhiễu tiêu cực từ Việt Trì đến Tam Đảo. Trong đợt hai này địch sử dụng
21 chiếc B52, có 32 máy bay chiến thuật yểm trợ, vào đánh khu vực Đông Anh và Yên Viên. Rút kinh
nghiệm chiến đấu đợt một, các kíp trắc thủ ở tiểu đoàn tên lửa phân biệt dài nhiễu B52 với dải nhiễu
máy bay chiến thuật nhanh hơn, chinh xác hơn. Tuy vậy, các tiểu đoàn tên lừa đã đánh năm lần, phóng
11 quả đạn, không diệt mục tiêu. Các đơn vị pháo phòng không đã bắn 41 lần hết hàng nghìn viên đạn
các loại cũng không kết quả.

1 giờ sáng ngày 19 tháng 12, sau khi Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng họp đánh giá tình
hình chiến đấu, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho sư đoàn:
- Trong thời gian tới, địch sẽ tiếp tục cuộc tập kích đường không quy mô lớn chủ yếu bằng
máy bay B52 vào Hà nội, Hải Phòng để gây sức ép tối đa với ta ở Hội nghị Paris. Chúng còn chú
trọng đánh phá các trận địa phòng không, nhất là các trận địa tên lửa, radar, sân bay và sở chỉ huy để
hạn chế tồn thất và đạt những mục tiêu chiến lược của chúng.

- Biểu dương sư đoàn phòng không 361 và 363 đã sẵn sàng chiến đấu tốt, bắn rơi tại chỗ
máy bay địch, bắt sống và tiêu diệt một số giặc lái. Cần tiếp tục động viên bộ đội phát huy thắng lợi,
chống mọi biểu hiện lơ là mất cảnh giác, hoang mang dao động trước tình hình địch đánh phá ác liệt,
kiên quyết trừng trị đích đáng không quân Mỹ, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay kể cả B52, bắt sống và
tiêu diệt nhiều giặc lái, đánh bại các đợt tập kích đường không quy mô lớn của địch.

- Tranh thủ rút kinh nghiệm trận đánh vừa qua, bổ sung phương án tác chiến, tích cực huấn
luyện cho phân đội và sở chỉ huy các cấp. Nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ sẵn sàng chiến đấu và
chiến đấu để đánh địch liên tục và ngày càng đánh thắng lớn hơn.

- Tổ chức và kiểm tra, đôn đốc thường xuyên chu đáo việc phòng tránh ở các đơn vị cơ sộ,
hậu phương, kho tàng, tiểu đoàn kỹ thuật. Bảo đảm đạn dược, nhiên liệu, xe cộ cơ động để đánh địch
liên tục.

Từ 4 giờ 16 phút đến 4 giờ 21 phút, bộ đội radar đã lần lượt phát hiện được các tốp B52 có
ký hiệu 520, 522, 526… ở khu vực tây nam Xiêng Khoảng (Lào). Đó là những tốp máy bay địch vào
đánh Hà nội đợt thứ ba trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12. Tin tưởng vào tình báo của bộ đội radar,
Bộ tư lệnh sư đoàn khẳng định ngay đó là các tốp B52, ra lệnh cho các đơn vị vào cấp 1 và giao
nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị. Trong đợt này, địch đã sử dụng 30 chiếc B52 và 20 chiếc máy bay
không quân chiến thuật vào đánh đài phát thanh Mễ Trì, Gia Lâm, Hoà Mục và nhà máy cao su Sao
Vàng.

4 giờ 26 phút, tiểu đoàn 59 và 94 phát hiện có nhiễu B52 ở hướng tây - tây bắc.

4 giờ 35 phút, một tốp B52 rải một vệt bom từ khu vực Mễ Trì đến khu vực Hoà Mục. Các
tiểu đoàn 57, 59, 86 đã phóng sáu quả đạn vào một số tốp B52 từ phía tây bắc xuống nhưng không kết
quả. Một số quả bom B52 rơi trúng khu vực sở chỉ huy sư đoàn gây một số tổn thất.

4 giờ 39 phút, tiểu đoàn 77 trung đoàn tên lửa 257 đã phát hiện được tín hiệu B52 trên nền
nhiễu tích cực. Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn liền quyết đình sử dụng cách đánh mà kíp chiến đấu
cho là "chắc ăn" nhất để tiêu diệt B52 trong nền nhiễu tích cực cường độ lớn. Trong hai đợt chiến đấu
trước, kíp chiến đấu rất tích cực phát sóng và quyết tâm đánh theo cách đánh đó nhưng chưa thực hiện
được. Đợt một, kíp chiến đấu vừa phát sóng đã phải xử trí thao tác chống Sơ-rai, tên lửa địch nổ cách
trận địa 30 mét. Đợt hai, vì nhiễu quá nặng lại không phát hiện được mục tiêu nên tiểu đoàn trưởng
phải quyết định đánh bằng phương pháp T, không kết quả.

Lần này, ngay khi mới phát sóng, cả kíp chiến đấu không ngờ tín hiệu mục tiêu B52 lại nồi
rõ đến như vậy. Lập tức tiểu đoàn trưởng ra lệnh đánh bằng phương pháp P là cách đánh sở trường
của tiểu đoàn. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Đức và kíp trắc thủ Phạm Hồng Hà, Lưu Văn Mộc, Đỗ
Văn Tân đã bình tĩnh, tự tin chuyển sang chế độ bám sát tự động. Hai quà đạn gặp mục tiêu và nổ tốt.
Chiếc B52 bốc cháy rừng rực rơi xuống cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
Chiếc B52-D bị tiểu đoàn 77 bắn rơi là một trong 21 chiếc B52 xuất phát từ Utapao lúc 2 giờ sáng
ngày 19 tháng 12. Mục tiêu của đợt tiến công này là khu đài phát thanh Tiếng nói Việt nam.

Lúc 4 giờ 51 phút, bom B52 đã phá hỏng cột ăng ten và một số thiết bị làm đài phải tạm
ngừng hoạt động. Nhưng chỉ sau 9 phút, đài phát thanh dự bị được đưa vào hoạt động, tiếp tục chương
trình của đài phát thanh Tiếng nói Việt nam. Cùng lúc, bom địch còn phá huỷ một số trận địa của bộ
đội chủ lực và dân quân tự vệ đang chiến đấu bảo vệ Đài phát thanh. Xã đội trưởng Nguyễn Xuân
Cương và năm chiến sĩ dân quân xã Mễ Trì đã hy sinh anh dũng, hai khẩu súng máy phòng không
14,5 mm bị phá huỷ.

Suốt 9 tiếng đồng hồ trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12 năm 1972, địch đã sử dụng 90
lần chiếc B52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật, tổ chức thành ba đợt vào đánh phá khu vực Hà
nội. Nhưng chúng đã gặp phải sự đánh trả quyết liệt của các lực lượng phòng không - không quân bảo
vệ Thủ đô. Bốn máy bay Mích.21 xuất kích cùng với 64 quả đạn tên lửa, hơn 2.000 đạn pháo phòng
không và hàng vạn đạn súng máy, súng trường đã tạo thành lưới lửa phòng không dày đặc nhiều tầng,
nhiều hướng bủa vây bọn cướp trời Mỹ. Ngay đêm đầu tiên, các lực lượng phòng không bảo vệ Hà
nội đã bắn rơi bốn máy bay địch, có ba chiếc máy bay B52 trong đó có hai chiếc B52 bị bắn rơi tại
chỗ.

Cũng trong đêm đầu tiên Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc
thành phố, trong đó có 85 khu vực dân cư trúng bom làm thiệt mạng 300 người, 156 người khác bị
thương. Trong đêm 18 tháng 12 hàng chục vạn người Hà nội hầu như không ngủ. Hàng chục triệu
người ở các tỉnh, thành phố khác cũng hướng về Hà nội, lòng đầy xúc động, lo âu. Nhưng trái tim
thiêng liêng của cà nước vẫn đập nhịp nhàng. Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư
lệnh, Thành uỷ, Uỷ ban hành chính thành phố và Bộ tư lệnh Thủ đô đã đặc biệt chú trọng theo dõi, chỉ
đạo cuộc chiến đấu của quân dân Hà nội. Hà nội đứng vững sẽ giữ vững niêm tin cho cả nước. Hà nội
đánh thắng cuộc tập kích đường không quy mô lớn chủ yếu bằng B52 thì nhất định cả nước sẽ đánh
thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Tin Hà nội bắn rơi tại chỗ hai máy bay ném bom chiến lược B52 của không quân Mỹ qua
đài phát thanh Tiếng nói Việt nam nhanh chóng truyền lan ra cả nước. Cả nước reo vui trước thắng lợi
vạng dội của quân và dân Thủ đô. Đồng chí Thiếu tướng Trần Quý Hai, tư lệnh B5 (mặt trận Đường 9
- Bắc Quảng Trị), đồng chí đại tá Nam Long ở mặt trận Trị - Thiên và các đồng chí Trung tướng Trần
Văn Trà, Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thiếu tướng Trần Độ đang công tác ở B2 đã lần lượt gọi điện
về Bộ Tổng tham mưu hỏi thăm cụ thể tình hình đánh rơi B52 và chia vui với quân và dân Hà nội.
Thành uỷ Sài Gòn - Gia Định đã thông qua quyết định mở đợt tiến công quân sự và chính trị ở thành
phố Sài Gòn theo truyền thống "Hà nội gọi, Sài Gòn trả lời". 14 triệu đồng bào, chiến sĩ miền Nam
đều hướng về Hà nội, càng quyết tâm chiến đấu đập tan các cuộc phản kích của địch, giữ vững vùng
mới giải phóng và gửi gấm lòng tin son sắt vào hậu phương lớn miền Bắc.

Cả loài người tiến bộ trên thế giới đều phẫn nộ lên án tội ác của bè lũ Nixon. Nhân dân các
nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đều vui mừng trước
chiến công vang dội của quân và dân ta. Chính phủ Liên Xô lên án Mỹ trắng trợn xâm phạm thủ đô
một nước có chủ quyền. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Bun-ga-ri, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ba
Lan, Đảng Cộng sản Nhật Bản, Bộ Ngoại giao Trung Quốc… đã tuyên bố lên án tội ác của Mỹ, ủng
hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta. Nhiều nước trung lập và tư bản chủ nghĩa cũng tỏ thái
độ phàn đối hành động dã man của Mỹ. Tổng thống Ghi-nê, Thủ tướng Đan Mạch, các Bộ Ngoại giao
Ấn Độ, Pháp, Phần Lan, Thuỵ Điển, Hà Lan… đã ra tuyên bố hoặc gửi điện trực tiếp cho tồng thống
Mỹ yêu cầu chấm dứt ngay tội ác và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trong cuộc tàn sát đẫm máu ở
Thủ đô nước Việt nam dân chủ cộng hoà.

Ngay trong đêm 18 tháng 12, Thường trực Quân uỷ Trung ương đã họp nhận định âm mưu
địch và đề ra nhiệm vụ tập trung hiện nay của các lực lượng vũ trang, trong đó các lực lượng phòng
không làm nòng cốt là phải kiên quyết đánh bại bước leo thang mới rất nghiêm trọng của không quân
địch, phải kiên quyết tiêu diệt máy bay B52.

Sáng sớm ngày 19 tháng 12, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri được lệnh lên Bộ Tổng tham
mưu báo cáo tình hình chiến đấu của bộ đội phòng không - không quân trong đêm 18. Trên cơ sở đó,
Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho Quân chủng: Bộ đội tên lửa chiến đấu ban đêm, chủ yếu là đánh
B52, ban ngày hguỵ trang sơ tán. Bộ đội pháo phòng không phải thường xuyên sẵn sàng chiến đấu
cao, đánh địch liên tục. Bộ đội. không quân, mỗi sân bay tổ chức hai chiếc máy bay trực ban chiến
đấu, số còn lại tồ chức sơ tán, cất giấu kín đáo. Bộ đội radar phải thường xuyên theo dõi địch, quản lý
chặt chẽ vùng trời cả ngày lẫn đêm, cho bộ đội luân phiên nhau nghỉ vào các giờ không cao điểm.

Cũng trong buổi sáng ngày 19 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Phó tổng tham
mưu trưởng Phùng Thế Tài đã xuống kiểm tra tình hình chiến đấu của Quân chủng. Từ sở chỉ huy
Quân chủng, đồng chí Đại tướng đã gọi điện cho Tư lệnh sư đoàn Trần Quang Hùng: Địch đang tìm
cách ép ta. Đêm qua các đồng chí đánh thắng địch thế là tốt. Đêm nay phải đánh tốt hơn nữa. Bộ
Chính trị đã đồng ý có phần thưởng xứng đáng cho bộ đội tên lừa.

Trong buổi giao ban chiều, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị:

- Tập trung mọi việc để chỉ đạo tác chiến, rút kinh 1 nghiệm và trao đổi kinh nghiệm, nâng
cao hiệu suất chiến đấu.

- Làm tốt công tác sơ tán, phòng tránh địch.

- Chuẩn bị tăng cường thêm lực lượng bào vệ Hà nội: nhanh chóng đưa trung đoàn tên lửa
274, 237 ra chiến đấu. Điều trung đoàn pháo phòng không 240 về bảo vệ Yên Viên, cầu Đuống.

- Cục Kỹ thuật chịu trách nhiệm giải quyết đạn tên lửa và xe cộ bảo đảm cho bộ đội chiến
đấu.

- các mặt thông tin, công sự nguỵ trang, trận địa giả phải bảo đảm tốt.

Thường vụ Đàng uỷ Quân chủng đã gửi thư đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ động viên mọi
người chiến đấu giỏi, tập công xuất sắc hơn nữa, thiết thực chào mừng ba ngày kỷ niệm lịch sử là 19,
20 và 22 tháng 12.

Qua các ý kiến chỉ đạo của cấp trên và tình hình chiến đấu trong đêm 18, Đảng uỷ, Bộ tư
lệnh sư đoàn nhận thấy: Cuộc chiến đấu với máy bay B52 mới chỉ bắt đầu. Phải khẩn trương và tiếp
tục chuẩn bị cho toàn sư đoàn nâng cao hiệu suất chiến đấu, thực hiện được phương châm càng đánh
càng thắng, càng đánh càng mạnh, kiên quyết bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch, bảo vệ vững chắc
Thủ đô yêu quý.

Quán triệt sâu sắc tinh thần đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tập trung đôn đốc cơ quan và đơn vị
kiên quyết khắc phục mọi khó khăn, khẩn trương rút kinh nghiệm và tiếp tục chuẩn bị đánh địch.
Được sự giúp đỡ của Cục Kỹ thuật, sư đoàn đã tổ chức lực lượng đi lấy đạn ở kho dự bị chiến lược và
đôn đốc các tiểu đoàn kỹ thuật tích cực bảo đàm đạn cho các tiểu đoàn hoả lực.

Sau nhiều cố gắng của phòng kỹ thuật và trung đoàn tên lửa 274, tối ngày 19 tháng 12, tiểu
đoàn 88 đã sẵn sàng chiến đấu, tăng cường lực lượng bảo vệ Hà nội. Đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ
tịch uỷ ban hành chính thành phố cùng nhiều cán bộ đảng, chính quyền, Bộ tư lệnh Thủ đô đã tới các
trận địa pháo, đài phát thanh Mễ Trì, Yên Viên, Gia Lâm… để nghiên cứu, chỉ đạo tổ chức động viên
các chiến sĩ chiến đấu và khắc phục hậu quả. Hội đồng phòng không thành phố công bố lệnh sơ tán
cấp tốc trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bốn trận địa pháo phòng không 100 mm của tự vệ
được tiếp thêm đạn. Trận địa súng máy phòng không 14,5 mm của dân quân xã Mễ Trì và một số trận
địa khác bị bom phá huỷ được bổ sung người và thay thế bằng súng 12,7 mm.

Từ 19 giờ ngày 19 đến 5 giờ 40 phút ngày 20 tháng 12, địch sử dụng 250 lần chiếc máy
bay, trong đó có 87 chiếc B52 đánh ba trận vào các khu vực Mễ Trì, Đông Anh, Yên Viên, Uy Nỗ, Gia
Lâm, An Dương và nhà máy điện Yên Phụ. Xen kẽ các trận đánh của B52 có 17 lần chiếc F111 hoạt
động đánh phá các sân bay Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc nhằm khống chế máy bay ta xuất kích.

Mặc dù quy luật, thủ đoạn hoạt động của địch vẫn như đêm 18, các lực lượng phòng không
Hà nội đã đánh địch quyết liệt, nhưng hiệu suất chiến đấu sút kém. Bộ đội tên lửa phóng 50 quả đạn
chỉ bắn rơi hai chiếc B52, không có chiếc nào rơi tại chỗ. Bộ đội pháo phòng không và các lực lượng
dân quân tự vệ đã bắn hàng nghìn viên đạn không rơi máy bay địch.

Ngay sau đợt chiến đấu thứ ba, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã họp phiên bất thường, kiểm
điểm việc lãnh đạo chiến đấu trong đêm 19 và ra nghị quyết về đợt sinh hoạt chính trị trong toàn sư
đoàn. Cả hai nội dung trên đều xoay quanh vấn đề: vì sao đêm qua bộ đội tên lửa chưa bắn rơi tại chỗ
B52, bộ đội pháo phòng không chưa bắn rơi F111? Lãnh đạo sư đoàn yêu cầu các cấp, các đồng chí
đảng viên, đoàn viên và toàn thể cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh
thẳng thắn để tìm ra nguyên nhân cụ thể, chính xác kiên quyết khắc phục những biểu hiện chủ quan,
thoả mãn, dừng lại. Trong buổi giao ban sáng ngày 20 tháng 12, đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn
Tiến Dũng đã chỉ thị cho Quân chủng khẩn trương rút kinh nghiệm và tìm cách khắc phục những
khuyết điểm nhằm nâng cao chất lượng đánh B52. Đồng chí còn chỉ đạo: bộ đội tên lửa tập trung toàn
bộ vào nhiệm vụ đánh B52 ban đêm. Bộ đội pháo phòng không tập trung đánh các loại máy bay chiến
thuật. Rút một số đơn vị pháo và súng máy phòng không ra khỏi các trận địa chốt trực tiếp làm nhiệm
vụ bảo vệ các trận địa tên lửa.

Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng đã tổ chức cuộc họp rút kinh nghiệm chiến
đấu đêm 19 và quán triệt chỉ thị của Tổng tham mưu trưởng. Về chiến đấu, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ
tư lệnh Quân chủng đã nhận xét: Trong đêm 19, bộ đội tên lừa đã đánh kém. Nguyên nhân là do từng
tiểu đoàn đánh độc lập, lo thiếu đạn bắn từng quả một, chưa đánh xa, thiếu tập trung hoả lực, chưa
tranh thủ phát sóng tìm mục tiêu và chưa thực hiện đúng sự hướng dẫn về cách đánh của Quân chủng.
Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ đạo sư đoàn: Hà nội vẫn là mục tiêu trọng điểm địch sẽ
tăng cường đánh phá. Hướng công kích chủ yếu của máy bay B52 vẫn là hướng tây - tây bắc. Chúng
sẽ chú trọng đánh các trận địa tên lửa. Bộ đội tên lửa phải tích cực phát sóng để đánh địch trong nhiễu
tích cực cường độ lớn. Sử dụng lực lượng và hoả lực tên lửa thích hợp để bào đảm đánh địch liên tục.
Chủ yếu sử dụng tên lửa đánh B52 ban đêm. Tên lửa chỉ đánh ban ngày khi thật cần thiết và có lợi.
Tiếp đó Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh:

- Điều trung đoàn pháo phòng không 262 ở Thanh Hoá ra Hà nội cùng với sáu đại đội pháo
phòng không ở trận địa chốt làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu đến bố trí bảo vệ trực tiếp các trận địa tên
lửa.

- Đề nghị Bộ Tổng tham mưu cho điều tiểu đoàn 71, 72 trung đoàn tên lửa 285 ở Hải
Phòng lên tăng cường bảo vệ Hà nội.

- Điều một dây chuyền sản xuất đạn của trung đoàn tên lửa 268 về tăng cường cho tiểu
đoàn kỹ thuật trung đoàn tên lửa 261. Giao trách nhiệm cho Cục Kỹ thuật khẩn trương tìm biện pháp
giúp trung đoàn tên lửa 274 dồn ghép, sửa chữa khí tài, nhanh chóng đưa hai tiểu đoàn 87 và 89 ra
chiến đấu và tăng cường chỉ đạo sàn xuất đạn để bảo đảm cho bộ đội tên lửa chiến đấu liên tục.

Cùng ngày, Thường vụ Đàng uỷ Quân chủng lại tiếp tục gửi thư động viên đến sư đoàn để
cồ vũ khí thế tiến công, quyết chiến quyết thắng máy bay B52, bào vệ mục tiêu chiến lược số một của
đất nước. Quân chủng còn cử các đoàn cán bộ cơ quan, nhất là cơ quan tham mưu xuống sư đoàn để
kiểm tra, đôn đốc và giúp đỡ đơn vị tổ chức chỉ huy đánh tập trung và phương pháp xạ kích cụ thể.

Chiều ngày 20 tháng 12, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn họp phiên đặc biệt do đồng chí Bí
thư Đàng uỷ Trần Văn Giang chủ trì. Hội nghị đã nghiêm khắc chỉ ra những thiếu sót về chỉ đạo vận
dụng cách đánh chưa linh hoạt trong đêm 19 và đề ra các biện pháp lãnh đạo để khắc phục cụ thể.
Cuối cùng đồng chí Bí thư Đảng uỷ kết luận: yêu cầu cấp bách đối với sư đoàn hiện nay là phải có
nhiều tiểu đoàn đánh giòi, bắn rơi tại chỗ nhiều B52.

Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Quân chủng, những cuộc họp rút kinh nghiệm chiến đấu
mang tính chất một cuộc sinh hoạt chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình để tìm ra nguyên nhân
hiệu suất chiến đấu thấp đêm 19 đã diễn ra nghiêm túc, sôi nổi từ sở chỉ huy sư đoàn đến các trận địa
tên lửa và pháo phòng không. Các tiều đoàn tên lửa đều khẳng định nguyên nhân chưa bắn rơi B52
chủ yếu là chọn dài nhiễu, xác định thời cơ phát sóng và vận dụng phương pháp điều khiển chưa thích
hợp. Trên cơ sở đó các hội nghị đều tập trung nghiên cứu tìm cách đánh có hiệu quả nhất. Qua đêm
chiến đấu đầu tiên, các đơn vị tên lửa trong sư đoàn đã hình thành hai cách đánh cơ bản. Đó là
Phương pháp T và phương pháp P. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo các đơn vị: Mỗi
đơn vị có sở trường, sở đoản riêng. Không nhất thiết phải đánh theo một cách nhất định. Tuỳ tình hình
cụ thể mà sử dụng cách đánh thích hợp, có hiệu quả cao. Chú ý vận dụng kinh nghiệm, cách đánh của
trung đoàn tên lửa 263 trong trận 22 tháng 11 và kinh nghiệm hai trận bắn rơi tại chỗ B52 của tiểu
đoàn 59 và 77 trong đêm 18 rạng ngày 19 tháng 12 vừa qua.

Nhạy bén với tình hình trước mắt, sáng ngày 20 tháng 12, Đảng uỷ tiểu đoàn 77 đã họp
hoàn toàn nhất trí với những nhận định và chỉ đạo của trên, tập trung lãnh đạo bộ đội bắn rơi tại chỗ
nhiều B52, trả thù cho đồng bào Hà nội, lập thành tích chào mừng ba ngày lễ lớn của đất nước. Căn
cứ vào sáu quả đạn còn lại, hội nghị đã thống nhất chỉ đạo các kíp chiến đấu tích cực phát sóng, mau
chóng phát hiện và xác định đúng B52, đánh tiết kiệm đạn, mỗi lần phóng nhiều nhất là hai quả đạn,
đã phóng đạn là kiên quyết điều khiển đạn trúng đích và tiêu diệt địch. Sau khi quán triệt sự lãnh đạo
của Bộ Tổng tham mưu, sư đoàn, tiểu đoàn và nghe chính trị viên tiểu đoàn Đỗ Quý Dần đọc thư khen
của Bác lồn, thư động viên của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng và điện biểu dương của sư đoàn,
toàn thể cán bộ, chiến sĩ đã nhất trí gửi thư quyết tâm lên cấp trên. Trong thư quyết tâm đặc biệt nhất
mạnh: "Chúng tôi quyết vượt qua những thử thách lớn nhất, tìm ra cách tốt nhất, bắn rơi tại chỗ nhiều
máy bay B52, bào vệ vững chắc thủ đô Hà nội, xứng đáng với niềm tin yêu của đồng bào cả nước".

Cũng như tiểu đoàn 77, trên tất cả các trận địa khác ở Hà nội, tiếng thét căm thù, lời hứa
quyết tâm, những hành động chuẩn bị chiến đấu khẩn trương diễn ra sôi nổi, thiết thực góp phần vào
cuộc chiến đấu quyết liệt sắp tới.

Thực hiện chỉ thị của Quân chủng, ngày 20 tháng 12, Cục trưởng Cục Kỹ thuật Lương Hữu
Sắt cùng với Cục phó Phan Thái dẫn đầu hai đoàn cán bộ xuống hai tiểu đoàn kỹ thuật 95 và 80. Mặc
dù từ sáng ngày 19, các tiểu đoàn kỹ thuật bắt đầu tổ chức hai ca láp ráp đạn với quyết tâm "Tất cả để
sản xuất nhiều đạn!", nhưng sau đêm 19 rạng ngày 20 vấn đề thiếu đạn đã trở thành phổ biến ở các
tiểu đoàn hoả lực tên lửa. Sự giúp đỡ tích cực của các cán bộ, nhân viên xưởng A31 và sự cố gắng
vượt bậc của phòng kỹ thuật mà điển hình là trợ lý đạn Phan Thang vẫn không làm chuyển biến được
tình thế. Vì vậy, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Cục Kỹ thuật đã phải trực tiếp xuống các tiểu đoàn kỹ
thuật để nắm tình hình và chỉ đạo cụ thể nhằm đẩy mạnh khâu sàn xuất đạn bảo đảm cho các đơn vị
chiến đấu liên tục. Đoàn của Cục phó Cục Kỹ thuật, trưởng phòng kế hoạch Nguyễn Duy Ky và
trưởng phòng tên lửa Đỗ Đức Dục xuống tiểu đoàn 95 vào giữa lúc tiểu đoàn trưởng Dỗ Bình Khiêm,
tiểu đoàn phó Đàm Thanh Quang và đội trưởng Đỗ Văn Được cùng với các cán bộ, kỹ sư, nhân viên
kỹ thuật đang say sưa lắp đạn. Gương mặt mọi người đều hốc hác, xanh xao với đôi mắt thâm quầng.
Đó là kết quả của nhiều ngày đêm làm việc liên tục trong điều kiện thiếu ngủ và kém bối dưỡng. Đây
là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất sản xuất đạn chững lại. Đoàn của Cục trưởng Cục
Kỹ thuật xuống tiểu đoàn 80 còn phát hiện thêm: đơn vị thiếu cần cẩu K61, thiếu đèn pin để làm đêm,
thiếu vải bạt, ni-lông che mưa, ở xe kíp có trắc thủ cũ và trắc thủ mới, làm việc phải chờ nhau… Vì
vậy, mặc dù tiểu đoàn phó nguyễn Huy đã tổ chức phát động phong trào "thi đua quyết thắng B52",
100 phần trăm quân số, kể cả anh em đang yếu mệt đều công tác với quyết tâm cao nhưng năng suất
sản xuất đạn tên lửa vẫn thấp.

Những nguyên nhân dẫn tới năng suất lắp ráp đạn không cao được các đồng chí lãnh đạo,
chỉ huy Cục Kỹ thuật phát hiện và có biện pháp khắc phức kịp thời. Dây chuyền sản xuất đạn được tổ
chức lại hợp lý hơn. Những thiếu thốn về vật tư, phương tiện được bổ sung kịp thời. Công tác bảo
đảm kỹ thuật an toàn ở bãi lắp ráp đạn được chấp hành nghiêm túc. Theo đề nghị của Cục Kỹ thuật,
Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho quyền Cục trưởng Cục Hậu cần Mai Xuân Tiếu tổ chức cho cơ
quan mang đường sữa, lương khô và cả thuốc chống buồn ngủ xuống các tiểu đoàn kỹ thuật cấp phát
đến tận tay cán bộ, chiến sĩ. Chính vì vậy, phong trào thi đua "quyết thắng B52" ở các tiểu đoàn kỹ
thuật được đẩy mạnh hơn trước. Những quả đạn mang dòng chữ "Trả thù cho đồng bào Hà nội" bằng
sơn trắng lần lượt rời dây chuyền sản xuất theo' các xe TZM về các tiểu đoàn hoả lực tên lửa. Năng
suất, chất lượng lắp ráp đạn tên lửa tăng lên rõ rệt, bảo đảm đạn cho đơn vị chiến đấu.

Chiều tối ngày 20, nhiều đoàn cán bộ của Quân chủng và sư đoàn lần lượt xuống các đơn
vị. Phó tư lệnh sư đoàn Trần Nhẫn cùng một số cán bộ xuống trung đoàn tên lửa 257. Phó tư lệnh sư
đoàn Lê Huy Vinh xuống trung đoàn tên lửa 261 trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị trên hướng chủ yếu.

Đến đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12, đội hình chiến đấu của bộ đội tên lửa bảo vệ Hà nội
thiếu tiểu đoàn 59, vì cơ động từ C.L về trận địa X.D chưa sẵn sàng chiến đấu, tiểu đoàn 86 cơ động
từ M.L về trận địa TS khí tài hỏng, không đánh được địch. Như vậy trong đợt chiến đấu đầu tiên trong
đêm 20 ở khu vực Hà nội chỉ còn tám tiểu đoàn tên lửa với số lượng đạn hạn chế vì các xe chở đạn
chưa về kịp. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ đạo cách đánh cho sư đoàn: bộ đội tên
lửa cần phát sóng đúng lúc, phóng đạn ở thời cơ và cự ly phù hợp, đánh chắc thắng, tiết kiệm đạn,
triệt để vận dụng tính năng của khí tài để giảm bớt cường độ nhiễu khi phát hiện được mục tiêu, tranh
thủ bám sát tự động cà ba màn hiện sóng hoặc bám sát hỗn hợp, tạo điều kiện bắn rơi tại chỗ B52.

Từ 19 giờ 30 phút ngày 20 đến 4 giờ 33 phút ngày 21 địch sử dụng 243 lần chiếc trong đó
có 93 chiếc B52 vào đánh ba khu vực Hà nội, Thái Nguyên và Hài Phòng. Ở khu vực Hà nội máy bay
B52 và máy bay chiến thuật đánh hai trận.

19 giờ 20 phút, 33 chiếc B52 vào đánh Yên Viên, Tân Lạc và 32 chiếc máy bay không
quân chiến thuật vào đánh kho gạo ở Bạch Mai, cầu phao Bác Cổ, ga Gia lâm, Yên Viên, Nội Bài.
Thực hiện phương án tác chiến, 19 giờ 27 phút, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho một chiếc
Mích.21 cất cánh từ sân bay Nội Bài. 5 phút sau một chiếc Mích.21 nữa được lệnh cất cánh từ sân bay
Gia Lâm. Cả hai người lái của ta đều phát hiện được địch, nhưng do tất cả B52 đều tắt đèn chiếu sáng,
radar máy bay bị nhiễu nặng nên bộ đội không quân không đánh được B52 vào máy bay chiến thuật
rối loạn, cường độ nhiễu giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tên lửa đánh B52.

Căn cứ vào mệnh lệnh của Quân chủng và phương án hiệp đồng tác chiến với bộ đội không
quân, Bộ tư lệnh sư đoàn đã giao nhiệm vụ đánh địch cụ thể cho các đơn vị và chú ý bảo đảm an toàn
cho máy bay ta.

19 giờ 42.phút, khi một tốp ba chiếc máy bay có ký hiệu 387 ở độ cao 10.000 mét bay vào
trước, Bộ tư lệnh sư đoàn xác định là tốp giả B52 liền ra lệnh cho trung đoàn pháo phòng không 220
tập trung hoả lực đánh địch, tiểu đoàn 78, 79 phát sóng giả để kiểm tra, nhử địch. Các tiểu đoàn của
trung đoàn tên lửa 257 đều xác định rõ tốp giả B52 nên không đánh.

20 giờ 5 phút, đài trưởng đài một Trần Đức Tuyết và kíp trắc thủ tiểu đoàn 93 ở trận địa
T.T phát hiện được hai tốp sáu chiếc B52 vào đánh Gia Lâm. Được lệnh của trung đoàn "tiêu diệt tốp
383", tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh Hùng quyết định cho đài hai phát sóng để phát hiện địch từ cự
ly xa. Khi kíp trắc thủ Hương, Côn và Tấn bám sát dải nhiễu B52, anh ra lệnh cho sĩ quan điều khiển
Hoàng Đức Vinh phóng hai quả đạn bằng phương pháp T: Hai quả đạn vừa vượt mục tiêu, tự huỷ thì
kíp chiến đấu phát hiện được tín hiệu B52 trên nền nhiễu tích cực. Được sự giúp đỡ của trợ lý phòng
tên lửa Quân chủng Nguyễn Văn Minh, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho kíp chiến dấu chuyển sang
phương pháp P và bắn bồi, bắn nhồi thêm hai quả đạn nữa. Hai quả đạn vừa gặp mục tiêu nổ tốt thì
trắc thủ TZK ngồi trên nóc xe điều khiển báo cáo về sở chỉ huy: B52 bốc cháy?

Chiếc B52 bốc cháy rất to, gần như rơi thẳng đứng xuống xã Yên Thường ở gần ga Yên
Viên, cách trung tâm Hà nội hơn 10 ki-lô-mét. Trận thắng xuất sắc của tiểu đoàn 93 trung đoàn tên lửa
261 lúc 20 giờ 7 phút có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là trận đánh thắng đầu tiên trong đêm thứ ba
của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà nội, làm tan biến nỗi lo âu căng thẳng sau đêm 19 không bấn
rơi tại chỗ B52 trong sư đoàn. Về chiến thuật, trận đánh thắng xuất sắc đã kết hợp linh hoạt và sáng
tạo hai cách đánh của tiểu đoàn 59, tiểu đoàn 77 trong đêm 18 và cách đánh bồi, đánh nhồi theo chỉ
đạo của Quân chủng.

20 giờ 34 phút, bằng phương pháp phát sóng phát hiện được mục tiêu và dùng phương
pháp sở trường là điều khiển bám sát tự động, tiểu đoàn 77 đã phát hiện được mục tiêu từ xa, bám sát
chính xác tốp B52 có ký hiệu 618, phóng hai quả đạn, bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở xã Vạn Thắng,
huyện Ba Vì, tỉnh Hà rầy. Đây là chiếc máy bay B52 thứ hai bị tiểu đoàn bắn rơi tại chỗ trong chiến
dịch.

Từ 20 giờ 29 phút đến 20 giờ 38 phút, các tiểu đoàn 94, 79, 88 lại liên tiếp phóng bảy quả
đạn vào tốp B52 có ký hiệu 621, tiểu đoàn 94 được công nhận bắn rơi một chiếc B52. Do thiếu kinh
nghiệm phát hiện đối tượng tác chiến chủ yếu lại nôn nóng đánh địch, phát sóng phát hiện mục tiêu
lâu nên lúc 20 giờ 35 phút tiểu đoàn 76 bị địch phóng tên lửa Sơ-rai trúng trận địa hỏng khí tài.

Được tin tiểu đoàn 76 bị địch đánh vào trận địa, Phó tư lệnh sư đoàn Trấn Nhẫn đang chỉ
đạo tình hình chiến đấu ở trung đoàn tên lửa 257 đã xuống ngay đơn vị nắm tình hình, chỉ đạo và
động viên bộ đội khắc phục hậu quả chiến đấu. Nhận được báo cáo, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị
cho Cục Kỹ thuật cử tổ cơ động sửa chữa khí tài gồm các cán bộ kỹ thuật giỏi như Đào Minh Đạt,
Nguyễn Đăng Hồng, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Văn Thừa, Trần Mậu, Lê Anh Toán, Nguyễn Văn
Trường cùng một số cán bộ cục Chính trị, Cục Hậu cần kết hợp với các cán bộ chuyên ngành của sư
đoàn xuống ngay tiểu đoàn 76 để sửa chữa khí tài và khắc phục hậu quả.

Vừa kết thúc trận chiến đấu đầu tiên trong đêm, các đồng chí thủ trưởng Cục Kỹ thuật đã
cùng đồng chí phó phòng tên lửa, các cán bộ giỏi về đạn như Trần Thanh Hữu, Hà Đăng Tín, Phạm
Huy Quỳnh đã có mặt ở. bãi sản xuất đạn để chỉ đạo và động viên bộ đội. Sau ba ngày đêm liên tục
làm việc, cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn kỹ thuật vừa mệt mỏi vừa thiếu ngủ, mặt mày hốc hác, quần
áo ướt đẫm mồ hôi, có đồng chí bị ngất xỉu vì làm việc quá sức và nhiễm độc thuốc phóng lỏng. Tuy
nhiên, tất cả mọi người vẫn tích cực làm việc với quyết tâm rất cao.

Tin bắn rơi tại chỗ máy bay B52 từ các đơn vị được truyền tới công trường lắp ráp đạn và
sự quan tâm săn sóc về tinh thần, vật chất của cấp trên, của đồng đội đã tiếp thêm sức mạnh cho các
chiến sĩ. Vì vậy với hai dây chuyền sản xuất đạn, một ngày đêm bình thường chỉ lắp ráp được 16 quả
nay đã nâng lên tới gần 30 quả.

Cũng trong thời gian này, các chiến sĩ lái xe tiếp đạn TZM của các tiểu đoàn tên lửa đã
thức trắng đêm để túc trực ở bãi lắp ráp đạn và lái xe chở đạn về đơn vị dưới làn bom đạn của địch để
bảo đảm đạn cho tiểu đoàn tiếp tục chiến đấu.
Từ 23 giờ 30 phút ngày 20 đến 1 giờ sáng ngày 21 tháng 12, địch sử dụng 15 chiếc B52
vào đánh nhà máy điện Cao Ngạn, nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, thị xã Thái Nguyên, đồng thời có
21 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ và xen kẽ đánh các mục tiêu như nhà máy phân đạm Bắc
Giang, Cổ Loa, Văn Điển, Phú Thuỵ. Ở khu vực Hà nội, các tốp máy bay không quân chiến thuật như
F4, F111 sục sạo tìm trận địa tên lửa, nhử cho ta phát sóng để phóng tên lửa Sơ-rai. Nhưng theo
phương án tác chiến, bộ đội tên lửa của ta không đánh, chi có các đơn vị pháo phòng không và hoả
lực của dân quân tự vệ Hà nội nổ súng; đánh địch quyết liệt.

Từ đại bản doanh Bộ Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi điện cho Tư lệnh
Quân chủng để nắm tình hình chuẩn bị chiến đấu của bộ đội và tình hình bảo đảm đạn cho bộ đội tên
lửa. Tiếp đó, Đại tướng đã gọi điện xuống sư đoàn biểu dương bộ đội phòng không Hà nội đã đánh rơi
tại chỗ B52 xứng đáng với lòng tin của Đảng và nhân dân. Đồng chí Tổng tư lệnh đặc biệt nhấn
mạnh: "cả nước đang hướng về Hà nội, Toàn thế giới đang hướng về Hà nội. Từng giờ, từng phút Bộ
Chính trị và Quân uỷ Trung ương theo dõi và chi đạo chặt chẽ cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ
đô. Vận mệnh Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà nội".

Tất Cả Cán bộ chiến sĩ vô cùng xúc động trước lời nhắc nhở, động viên và giao trách
nhiệm nặng nề cho sư đoàn của đồng chí Bí thư Quân uỷ Trung ương. Từ sở chỉ huy đến các đơn vị
lại sôi nổi bắt tay vào công việc chuẩn bị chiến đấu. Các đồng chí Nguyễn Đắc Thái, Phạm Văn Bời,
Phó chính uỷ sư đoàn, Nguyễn Trung Lữ, chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn và Nguyễn Văn Thăng, chủ
nhiệm hậu cần sư đoàn đã cùng với các trợ lý phân công nhau xuống chỉ đạo, giúp đỡ các đơn vị
chuẩn bi chiến đấu và bảo đảm đạn cho bộ đội tên lửa. Đến rạng sáng ngày 21, đã bổ sung được hơn
20 quả đạn tên lửa cho các tiểu đoàn hoả lực.

Tuy nhiên, tình trạng thiếu đạn đã trở nên nghiêm trọng đối với các tiểu đoàn hoả lực tên
lửa. Do đó, vấn đề tích cực bắn rơi tại chỗ nhiễu B52 và tiết kiệm đạn trở thành nỗi băn khoăn lo lắng
đối với cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn, đặc biệt là đối với các đơn vị tên lửa.

4 giờ 10 phút, một số tốp B52 có ký hiệu 312, 317, 318… xuất hiện ở khu vực Pấc San
(Lào) trên bản đồ thu tình báo quốc gia B1. Trong trận đánh Hà nội lần thứ hai này, địch sử dụng 45
chiếc B52 vào đánh Yên Viên, Đông Anh, Gia Lâm. Bộ tư lệnh sư đoàn ra lệnh cho các đơn vị vào
cấp 1 và giao nhiệm vụ cho trung đoàn tên lửa 257 tiêu diệt tốp 312 và 317. Ban chỉ huy trụng đoàn
tên lửa 257 giao cho tiểu đoàn 78 bám sát tiêu diệt tốp 317, tiểu đoàn 79 bám sát, tiêu diệt tốp 312.

4 giờ 56 phút, tiểu đoàn 78 đã phóng hai quà đạn đầu tiên vào tốp 317 mở đầu trận đánh.

5 giờ, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chiến, kíp chiến đấu của tiểu
đoàn đã bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở Phả Lại huyện Chí Linh tỉnh Hải Hưng.

5 giờ 9 phút, tiểu đoàn 77 phóng hai quả đạn bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở thị xã Phúc
Yên tỉnh Vĩnh Phú. Đây là chiếc B52 thứ ba bị tiểu đoàn 77 bắn rơi tại chỗ.

Từ 5 giờ 4 phút đến 5 giờ 20 phút, ba tốp B52 có ký hiệu 318, 531, 532 vào đánh Gia Lâm.
Sư đoàn ra lệnh cho hai trung đoàn tập trung hoả lực của bốn tiểu đoàn 77, 78, 79, 57 tiêu diệt tốp
318. Tiểu đoàn 57, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt, sĩ quan điều khiển
Nguyễn Đình Kiên và các trắc thủ Thi, Địch, Đại đã bắn cháy một chiếc B52.
Càng về sáng, cuộc chiến đấu của bộ đội phòng không Hà nội và các lực lượng dân quân tự
vệ với máy bay B52, máy bay cường kích của địch càng quyết liệt.

Tiếp đó, chín chiếc B52 lại từ hướng tây bắc lao vào. Các tiểu đoàn 77, 94, 59 hết đạn. Ở
phía bắc Hà nội lúc này chỉ còn tiểu đoàn 57 với một quả đạn. Được lệnh của sư đoàn, trung đoàn
trưởng trung đoàn tên lửa 261 ra lệnh cho tiểu đoàn 57 tiêu diệt tốp B52 có ký hiệu 532. Nhận được
lệnh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 57 động viên kíp chiến đấu kiên quyết bắn rơi tại chỗ máy bay B52.
Năm giờ 11 phút, khi thấy kíp trắc thủ bám sát chính xác tín hiệu B52 anh mới ra lệnh cho sĩ quan
điều khiển phóng đạn. Chiếc B52 bốc cháy rơi xuống khu vực núi Đôi thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Đó cũng
là chiếc B52 bị bắn rơi cuối cùng trong đêm chiến đấu quyết liệt nhất kể từ ngày đầu chiến dịch.

Trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12, bộ đội tên lửa bảo vệ Hà nội đã đánh địch quyết liệt,
lập công xuất sắc phóng 35 quả đạn bắn rơi bảy máy bay B52 trong đó có 5 chiếc rơi tại chỗ. Trận
đánh tiêu biểu nhất là từ 5 giờ 2 phút đến 5 giờ 11 phút ngày 21, chỉ trong vòng 9 phút, các tiểu đoàn
57, 77, 79 đã phóng sáu quả đạn, bắn rơi bốn chiếc B52, trong đó có ba chiếc rơi tại chỗ. Riêng tiểu
đoàn 57, với hai quả đạn cuối cùng, trong vòng hai phút (từ 5 giờ 9 phút đến 5 giờ 11 phút) đã bắn rơi
hai máy bay B52 trong đó có một chiếc rơi tại chỗ. Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội tên lửa, các lực
lượng pháo, súng máy phòng không của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ Hà nội,
Hải Phòng, Bắc Thái đã bắn rơi bảy máy bay chiến thuật gồm một F111, một F105, hai F4, một A6,
một A7 và một máy bay không người lái. Trong chiến công này trung đoàn pháo phòng không 212
của sư đoàn đã bắn rơi một chiếc F4.

Hãng thông tin AFP ở Sài Gòn ngày 21 tháng 12 đã thừa nhận: "Ít nhất là sáu chiếc B52 đã
được đưa tin bị bắn rơi kể từ đêm 18 tháng 12. Bộ chỉ huy Mỹ còn báo tin mất tích 24 nhân viên
B52". Cũng ngày này, hãng thông tin Mỹ UPI ở Sai Gòn đưa tin thêm: "Các nhà chức trách ở Na-
khom-pha-nom nói rằng chiếc B52 rơi đêm qua ở trong vùng cách căn cứ không quân này 3 ki-lô-mét
trong khi đang cố hạ cánh bắt buộc xuống căn cứ này. Không rõ chiếc máy bay này bị trúng tên lửa
SAM hay là đạn pháo cao xạ".

Đòn quyết định trong đêm thứ ba của chiến dịch "Linerbacker II" hòng buộc ta phải trở lại
Hội nghị Paris đàm phán theo điều kiện của Mỹ đã bị thất bại nặng nề. Chẳng những thế, tinh thần
bọn giặc lái B52 đã bị suy sụp nghiêm trọng. Chúng không giấu nổi sự khiếp hãi và thất vọng trong
các câu lạc bộ sĩ quan ở Gu-am và Utapao. Nhiều tên đã lấy cớ máy bay bị trục trặc kỹ thuật hoặc cáo
ốm để trốn tránh những phi vụ tiếp theo.

Đối với các lực lượng phòng không bảo vệ Hà nội, trong đó lực lượng phòng không của sư
đoàn 361 làm nòng cốt, chiến thắng trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 12-1972 là chiến thắng to lớn
và rất vẻ vang. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, bộ đội phòng không Việt nam đã bắn rơi tại chỗ
nhiêu máy bay B52 như thế. Chiến công to lớn và hiển hách của bộ đội tên lửa phòng không Hà nội
đã làm cho chiến lược sử dụng "siêu pháo đài bay" B52 để "răn đe" thực tế bị phá sản thảm hại. Về
chiến thuật quân sự, đây là trận đánh dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, phát huy được sức mạnh tổng hợp
của con người và vũ khí, khí tài, thực hiện tư tưởng chỉ đạo tác chiến đánh tiêu diệt địch xuất sắc, đạt
hiệu suất chiến đấu cao.
Bị mất nhiều B52, địch thay đổi thủ đoạn đánh phá. Chúng tập trung máy bay không quân
chiến thuật để đánh các mục tiêu ở Hà nội và tăng cường đánh phá các trận địa tên lửa là đối tượng
chính đã gây thiệt hại cho B52.

Từ 13 giờ 3 phút đến 13 giờ 45 phút ngày 21, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay chiến
thuật vào đánh nhà máy điện Yên Phụ, ga Hàng Cỏ, Tổng Công đoàn, Bộ Giao thông vận tải, trường
đại học Nông Lâm, ga Giáp Bát, xưởng sửa chữa Ô tô Trương Định và kết hợp đánh các trận địa tên
lửa. Các lực lượng phòng không đã đánh địch quyết liệt, bắn hàng nghìn viên đạn nhưng không trúng
máy bay địch. Các đại đội 4, 5, 6 không kịp đánh bốn chiếc F4 ném bom có điều khiển bằng tia la-de
vào nhà máy điện Yên Phụ. Đại đội 12, đại đội 3 xử trí lúng túng, phần từ đánh không tốt. Chỉ có đại
đội 1 đánh máy bay bổ nhào nhưng không kết quả, mục tiêu bị địch đánh hỏng. Tiểu đoàn 78 được
lệnh bắn chi viện cho tiểu đoàn 77 cũng không trúng mục tiêu.

Trong bom rơi đạn nổ ác liệt, trắc thủ kính ngắm quang học TZK tiểu đoàn 77 Nghiêm
Xuân Danh đã chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng. Bom địch ném trúng ga Hàng Cỏ làm ngôi
nhà trung tâm bị sập, nhiều đoạn đường sắt bị phá huỷ. Nhà trung tâm đài phát thanh Tiếng nói Việt
nam cũng bị trúng bom địch. Hàng trăm quả bom ném xuống các khu vực trên đã gây thương vong
cho 130 người, hàng trăm nhà ở, công trình công cộng… bị phá huỷ. Bom địch trúng nhà máy điện
Yên Phụ làm 12 trong tổng số 22 lò bị phá hỏng.

Ngay sau trận đánh, Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ thị cho các trung đoàn pháo phòng không tổ
chức rút kinh nghiệm, nhanh chóng khôi phục sức chiến đấu và có biện pháp khắc phục những khiếm
khuyết để đánh thắng địch trong những trận tới.

Sau các đợt chiến đấu đêm 20, ngày 21 tháng 12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ thị
cho Bộ tư lệnh Quân chủng: thắng lợi của chúng ta trong những ngày vừa qua là rất lớn, cần cố gắng
phát huy chiến thắng hơn nữa. Từ hôm nay trở đi địch sẽ tìm đánh các trận địa tên lửa. Phải tìm mọi
cách để bảo vệ tên lửa, tiếp tục tiêu diệt B52. Phải chú ý bảo đàm đạn tên lửa để đánh địch liên tục.
Cố gắng phát huy tác dụng của không quân nhằm B52 mà đánh.

Cũng trong buổi sáng ngày 21, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã họp với Tư lệnh
Quân chủng Lê Văn Tri. Sau khi nêu rõ nguyên nhân đánh thắng trong những ngày vừa qua, các ưu
điểm, khuyết điểm của từng binh chủng, đồng chí Tổng tham mưu trưởng chỉ thị:

- Quân chủng phòng không - không quân đã tiến hành chiến dịch phòng không chống lại
chiến dịch tập kích đường không chiến lược của không quân Mỹ. Để giành thắng lợi lớn hơn, phải
phát huy được sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, tích cực tạo điều kiện cho không quân ta đánh
B52, phát huy hiệu suất chiến đấu của bộ đội pháo phòng không để đánh địch ở tầng thấp.

Đồng chí Tổng tham mưu trưởng còn chỉ đạo cụ thể các mặt công tác bảo đảm chiến đấu
nhất là chuẩn bị dự trữ khí tài, đạn dược để đánh địch liên tục, dài ngày và tăng cường lực lượng pháo
phòng không bảo vệ tên lửa để tiếp tục tiêu diệt máy bay B52.

Chấp hành chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng đã họp nhằm đánh giá kết quả chiến
đấu của các binh chủng, các sư đoàn phòng không và tiếp tục chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm,
chuẩn bị chiến đấu. Trong cuộc họp, Bộ tư lệnh Quân chủng đã biểu hương sư đoàn phòng không 361,
đặc biệt là bộ đội tên lừa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bắn rơi tại chỗ B52, tích cực góp phần bảo
vệ Hà nội; bộ đội radar đã phát hiện mục tiêu từ xa ngay từ trận đầu, ngày đầu, bảo đảm cho các lực
lượng phòng không đánh địch chính xác, liên tục và quán triệt nội dung tinh thần chỉ đạo của trên, tiếp
tục chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm và chuẩn bị chiến đấu.

Bộ tư lệnh Quân chủng còn quyết định một số chủ trương về tác chiến:

- Điều các trung đoàn pháo phòng không 262, 223 và chuẩn bị cho trung đoàn tên lửa 267
cơ động về tăng cường bảo vệ Hà nội.

- Sư đoàn phòng không 365 chuẩn bị một bộ phận trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy ba trung
đoàn trên và chuẩn bị chuyển đạn tên lửa tăng cường cho các đơn vị bảo vệ Hà nội.

- Đề nghị Bộ điều toàn bộ trung đoàn tên lửa 285 lên bố trí bảo vệ từ phía bắc Hà nội đến
khu vực Hà Bắc, Thái Nguyên.

- Tất cả các cơ quan phải tập trung mọi khả năng giúp cho lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng
hoàn thành tốt nhiệm vụ và chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị chiến đấu thắng lợi Đặc biệt, Cục Kỹ thuật cần
tăng cường thêm người, phương tiện, vật tư để sản xuất đạn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của các tiểu
đoàn tên lửa bảo vệ Hà nội.

Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho sư đoàn: Mục tiêu chủ yếu của địch vẫn là Hà nội.
Nhưng do bị tổn thất nặng nề về B52, chúng có thể tạm thời đánh giãn ra ngoài khu vực Hà nội và
đánh Hải Phòng.

Thực hiện sự chỉ đạo của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã khẩn trương tổ chức, chỉ đạo
các đơn vị nhất là các đơn vị tên lửa, điều chỉnh đội hình và chuẩn bị chiến đấu. Sư đoàn chuẩn bị tổ
chức tiếp nhận hai trung đoàn pháo phòng không 223, 262 từ Thanh Hoá ra và dây chuyền sản xuất
đạn, xe chở đạn Hai trung đoàn pháo phòng không 223 và 262 sẽ được bố trí bảo vệ các tiểu đoàn tên
lửa. Dây chuyền sản xuất đạn và xe chở đạn được bổ sung cho các tiểu đoàn kỹ thuật và các tiểu đoàn
hoả lực tên lửa.

Lúc này, sư đoàn chỉ còn bày tiểu đoàn hoả lực tên lửa sẵn sàng chiến đấu. Đó là bốn tiểu
đoàn của trung đoàn tên lửa 261, tiểu đoàn 78 của trung đoàn tên lửa 257, tiểu đoàn 86 của trung đoàn
tên lửa 274 và tiểu đoàn 72 phối thuộc chiến đấu. Hai tiểu đoàn 76, 77 bị địch đánh hỏng khí tài và
tiểu đoàn 59 đang cơ động nên không sẵn sàng chiến đấu. Để bảo đảm an toàn cho các tiểu đoàn hoả
lực, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các đơn vị ban ngày cất giấu vũ khí khí tài, chỉ để lại các bệ phóng
bảo đảm nguỵ trang tốt đề phòng bị địch đánh phá, tối đến kéo khí tài ra triển khai đánh B52. Đây là
một biện pháp chiến thuật tích cực, linh hoạt và sáng tạo của sư đoàn nhằm bào vệ an toàn lực lượng
tên lửa để dồn sức tiêu diệt B52 vào ban đêm.

Đang vui mừng, phấn khởi với chiến công to lớn, lại được cấp trên chỉ đạo, động viên, giúp
đỡ, các đơn vị đã cố gắng lại càng cố gắng hơn trong việc chuẩn bị đánh B52. Các tiểu đoàn 80, 95
thực sự trở thành công trường sản xuất đạn phát huy hết công suất. Những chiếc xe chở đạn tên lửa
mang cờ ưu tiên số một của uỷ ban hành chính thành phố được các cơ quan, đơn vị bạn nhường
đường, nhường bến, nhường cầu phà, mau chóng về tới đơn vị chiến đấu.
2 giờ 38 phút sáng 22 tháng 12, bộ đội radar đã phát hiện các tốp B52 và máy bay chiến
thuật ở phía tây nam. Lần này, địch sử dụng 24 chiếc B52 và 36 máy bay chiến thuật vào đánh sân
bay, bệnh viện Bạch Mai, Văn Điển, Giáp Bát, Gia Lâm và trận đia tên lửa ở M.L, kết hợp với 18 lần
chiếc F111 hoạt động xen kẽ ở độ cao thấp.

Được lệnh của Quân chủng, hai chiếc Mích.21 lần lượt cất cánh từ sân bay Nội Bài và
Miếu Môn lên đánh địch. Nhưng vì máy bay tiêm kích địch phát hiện, bám theo máy bay ta và do bị
nhiễu nặng, radar dẫn đường không phát hiện liên tục máy bay B52 nên bộ đội không quân không
đánh được địch.

Phát huy chiến thắng, các kíp chiến đấu của bộ đội tên lửa bảo vệ Hà nội đã bình tĩnh vận
dụng kinh nghiệm chiến đấu các đêm trước, hiệp đồng chặt chẽ và đánh địch chính xác.

3 giờ 42 phút, tiểu đoàn 57 bắn rơi tại chỗ một B52 ở chợ Bến thuộc huyện Mỹ Đức tỉnh
Hà Tây. Cũng thời điểm này tiểu đoàn 71 bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở Thanh Miện tỉnh Hải Hưng.

3 giờ 46 phút, tiểu đoàn 93 lại bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở Quỳnh Côi, Thái Bình.

Các lực lượng phòng không ở Thù đô đã hiệp đồng chất chẽ với bộ đội tên lửa, bấn rơi 5
máy bay chiến thuật của địch.

Lúc 3 giờ 45 phút, bệnh viện Bạch Mai - trung tâm y tế vào loại lớn nhất miền Bắc đã bị
trúng bom B52. Nhiều máy móc, thiết bị, thuốc men bị hư hại, 28 bác sĩ, y sĩ, y tá, nhân viên phục vụ
và bệnh nhân bị thương vong. Các thầy thuốc và nhân viên bệnh viện đã lao động hết sức mình tìm
cứu những người bị nạn. Nguyễn Thị Cúc nhân viên khoa da liễu bới gạch đến rớm máu tay cứu được
12 người. Trần Thị Xiêm, dược tá đã dẫn đầu chi đoàn thanh niên cùng cán bộ nhân viên xông vào các
khu vực đang còn khói lừa đề cứu người, cứu thuốc. Thành phố và khu phố Đống Đa cấp tốc điều
những đội cứu sập, cứu hoả đến giải quyết hậu quả của địch đánh phá.

Trận đánh sáng ngày 22 là trận đánh chủ động, bình tĩnh, tự tin của bộ đội phòng không
trong sư đoàn. Đó là trận đánh hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch chính xác đạt hiệu suất chiến đấu cao.
Trong thời gian hơn 10 phút, bộ đội tên lửa đã bắn rơi ba trong tổng số 24 máy bay B52 chiếm 12,5%
tổng số máy bay B52 vào đánh phá, cả ba máy bay B52 đều bị bắn rơi tại chỗ; với số lượng hoả lực
giảm một nửa so với những trận đánh trước, bộ đội pháo phòng không đã bắn rơi 3 máy bay địch.

Trong buổi giao ban chiều ngày 22 tháng 12, căn cứ vào hoạt động của máy bay trinh sát
không người lái của địch và nhận định của Bộ, Bộ tư lệnh Quân chủng nhấn mạnh khả năng địch đánh
giãn ra ngoài khu vực Hà nội. Trên cơ sở đó, Tư lệnh Quân chủng quyết định:

- Ra lệnh cho sư đoàn phòng không 363 chuẩn bị đánh B52. Để trung đoàn tên lửa 285 ở
lại bảo vệ Hải Phòng. Tiểu đoàn 71, 72 vẫn tiếp tục lên tăng cường bảo vệ Hà nội.

- Tổ chức các vọng quan sát và các đơn vị pháo 37 mm, súng máy phòng không 14,5 mm,
12,7 mm để quan sát phát hiện, đánh máy bay cường kích bay thấp F111, A7 trên những hướng chúng
có thế bay qua và kịp thời báo động phòng không nhân dân.
Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức cơ quan và
đơn vị chuẩn bi trận địa cho tiểu đoàn 71, bổ sung lực lượng súng máy phòng không bảo vệ các trận
địa tên lửa và tiếp tục chuẩn bị đánh B52.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Quán đội nhân dân (22 tháng 12) Thủ tướng Phạm Văn
Đồng, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Phó tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài đã đến
thăm sở chỉ huy Quân chủng. Sau khi biểu dương chiến công to lớn của bộ đội phòng không - không
quân trong những ngày vừa qua, Thủ tướng nhắc nhở Quân chủng nêu cao quyết tâm chiến đấu giành
thắng lợi to lớn hơn nữa, kiên quyết đánh bạo âm mưu đen tối và tàn bạo của đế quốc Mỹ.

Cùng ngày, tiểu đoàn 77 trung đoàn tên lửa 257 được vinh dự đón Đại tướng Võ Nguyên
Giáp tới thăm. Đại tướng đến đúng lúc các cán bộ, chiến sĩ đang khẩn trương làm công tác chuẩn bị
chiến đấu và nguỵ trang trận địa. Đại tướng khen ngợi thành tích chiến đấu của bộ đội phòng không -
không quân, đặc biệt là bộ đội tên lưa đã bắn rơi nhiều máy bay B52. Đại tướng nhấn mạnh:

- Giặc Mỹ tập trung lực lượng máy bay rất lớn nhất là lực lượng B52 đánh phá với quy mô
lớn và mức độ tàn ác chưa từng có. Thành tích bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay B52 là một chiến công
xuất sắc. Đặc biệt đối với tiểu đoàn 57 chỉ trong một đêm bắn rơi hai máy bay B52 là một chiến công
rất xuất sắc, rất xuất sắc.

Đồng chí Đại tướng còn chỉ thị cho tiểu đoàn: Tiếp tục chủ động đánh địch, thực hiện mưu
trí, sáng tạo, bí mật bất ngờ, phát huy hết sức mạnh của binh chủng. Đoàn kết hiệp đồng thật tốt với
quân và dân Hà nội, quyết tâm tiêu diệt nhiều máy bay địch hơn nữa, bảo vệ vững chắc Thủ đô.

Thành uỷ, uỷ ban nhân dân và các đoàn thể quần chúng đã cử nhiều đoàn đại biểu đến các
trận địa phòng không chúc mừng chiến thắng và tặng quà cho bộ đội nhân dịp các đơn vị phòng
không Hà nội vừa lập chiến công xuất sắc và nhân kỷ niệm 28 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân
Việt nam. Các mẹ, các chị còn thay nhau đến động viên, chăm sóc những cán bộ, chiến sĩ bị thương
đang nằm điều trị tại các bệnh viện và tổ chức mai táng cho các chiến sì anh dũng hy sinh trong chiến
đấu.

Tin Đại tướng Tổng tư lệnh đến thăm, chúc mừng chiến thăng tiểu đoàn 77 và sự quan tâm
săn sóc nhiệt tình của chính quyền, nhân dân Thủ đô trở thành niềm vui và là nguồn động viên chung
trên khắp cơ quan, trận địa phòng không bảo vệ Hà nội. Tất cả cán bộ chiến sĩ vừa trải qua nhiều đêm
thức trắng, chiến đấu quyết liệt dưới những làn bom địch càng mài sắc tinh thần cảnh giác cách mạng,
sẵn sàng bước vào đợt chiến đấu mới, quyết tâm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược chủ
yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào mục tiêu chiến lược số một của đất nước.

Cũng trong ngày 22 tháng 12, tiểu đoàn 71 cùng với sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn
tên lửa 285 do trung đoàn phó Nguyễn Đình Lâm và phó chính uỷ Lê Phương Châm chỉ huy rời Hải
Phòng lên tăng cường bảo về Hà nội. Ngay tối hôm đó, tiểu đoàn 71 đã triển khai chiến đấu ở trận địa
H.L thuộc tỉnh Hà Bắc. Sở chỉ huy tiền phương của trung đoàn tên lửa 285 được bố trí ở V.T gần sở
chỉ huy trung đoàn tên lửa 261. Theo kế hoạch, ngày hôm sau tiểu đoàn 72 sẽ hành quân lên và triển
khai chiến đấu ở trận địa Đ.C cung thuộc tỉnh Hà Bắc. Như vậy trên hướng đông bắc Hà nội được
tăng cường thêm hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn tên lửa 285 do sư đoàn 361 trực tiếp chỉ huy. Hai
trung đoàn pháo phòng không 262 và 223 của sư đoàn phòng không 365 ở Thanh Hoá bất chấp sự
khống chế thường xuyên của máy bay địch cấp tốc hành quân vượt qua cầu phà và trọng điểm giao
thông đầy nguy hiểm để tối ngày 22 tham gia chiến đấu bào vệ các trận địa tên lửa ở Hà nội.

Đêm 22 tháng 12, địch tập trung B52 và máy bay chiến thuật vào đánh Hải Phòng và sử
dụng máy bay F111 liên tục đánh phá một số mục tiêu ở Hà nội, Hà Bắc. Các lực lượng pháo và súng
máy phòng không ở Thủ đô đã liên tục đánh địch quyết liệt.

21 giờ, từ phía tây bắc Hà nội một chiếc F111-A bay sát mặt sông qua cảng sông Hồng. Tất
cả 5 khẩu đội súng máy 14,5 mm của tự vệ nhà máy gỗ Hà nội, cơ khí Mai Động và cơ khí Lương
Yên bố trí ở bãi cát Vân Đồn do đồng chí Hoàng Minh Giám, cán bộ ban huấn luyện Bộ tư lệnh Thủ
đô trực tiếp chỉ huy, đồng loạt nhả đạn. Chiếc F111 bốc cháy ngoặt sang hướng tây và rơi xuống
huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình.

Trận đánh diệt F111 đầu tiên của tự vệ Hà nội được cấp trên đánh giá cao. Chủ tịch Tôn
Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo thành phố, Bộ tư lệnh Thủ đô đã
xuống trận địa động viên tặng quà, chụp ảnh lưu niệm với các chiến sĩ.

Quân và dân Hà nội vô cùng phấn khởi khi nhận được thư khen của Bộ Tổng tư lệnh Quân
đội nhân dân Việt nam nhân ngày 22 tháng 12. Trong thư có đoạn: "Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân
dân Việt nam nhiệt liệt khen ngợi bộ đội tên lửa, cao xạ, không quân, radar, bộ đội địa phương và dân
quân tự vệ, đồng bào và chiến sĩ Thủ đô đã chiến đấu giỏi, đánh những trận tiêu diệt rất xuất sắc, liên
tiếp chiến thắng oanh liệt. Trong cuộc leo thang mới cực kỳ nghiêm trọng này, giặc Mỹ đã bị quân và
dân miền Bắc, quân và dân Thủ đô ta giáng cho nhưng đòn quyết liệt và tổn thất nặng".

Ngày 23 tháng 12, uỷ ban Thường vụ Quốc hội tuyên dương công trạng quân dân miền
Bắc và cán bộ, chiến sĩ Quân chủng phòng không - không quân. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đặc biệt
tuyên dương công trạng quân dân Hà nội chiến đấu oanh liệt, giành thắng lợi to lớn, bắn rơi tại chỗ
chiếc B52 là chiếc máy bay Mỹ thứ 4.100 bị bắn rơi trên miền Bắc.

Trong hai ngày đêm 23 và 24 tháng 12, chiến sự trên bầu trời Hà nội giảm xuống đáng kể.
Máy bay B52 chuyển sang ném bom Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Bắc.

Để củng cố lực lượng và tỏ ra "thiện chí" trong dịp lễ Nô-en, 24 giờ ngày 24 tháng 12, Mỹ
tạm ngừng chiến dịch đánh phá miền Bắc. Giai đoạn một của chiến dịch phòng không kết thúc. Trải
qua bảy ngày đêm cố gắng vượt bậc, băng qua những khó khăn thử thách quyết liệt nhất, các lực
lượng phòng không của sư đoàn đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, bắn rơi 19
máy bay đích trong đó có 14 chiếc B52 (có 10 chiếc bị bắn rơi tại chỗ) và năm máy bay cường kích
(có hai chiếc F111). Trong quá trình chiến đấu, sư đoàn luôn luồn xứng đáng là lực lượng nòng cốt
trong các lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ Thủ đô và góp phần đắc lực bước đầu đánh bại
cơ bản chiến dịch tập kích đường không chiến lược chú yếu bằng B52 của Mỹ vào thủ đô Hà nội.

Trong giai đoạn này, tiểu đoàn 78 trung đoàn tên lửa 257 là đơn vị đầu tiên trong chiến
dịch phòng không phóng đạn vào đội hình B52. Tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa 261 là đơn vị bắn rơi
tại chỗ chiếc B52 đầu tiên. Tiểu đoàn 77 trung đoàn tên lửa 257 và tiểu đoàn 57 trung đoàn tên lửa
261 là những đơn vị bắn rơi nhiều B52, mỗi tiểu đoàn bắn rơi bốn chiếc B52. Tiểu đoàn 77 bắn rơi tại
chỗ ba chiếc B52 và là đơn vị bắn rơi tại chỗ nhiều B52 nhất trong sư đoàn.

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của cấp trên và sự động viên to lớn, quý báu
của nhân dân Hà nội và quân dân cả nước, từ lãnh đạo chi huy các cấp đến bộ đội đều xác định rõ
trách nhiệm chính trị đoàn kết thống nhất, cùng có quyết tâm chiến đấu rát cao, luôn phát huy được
sức mạnh tổng hợp của các lực lượng và phương tiện, thực hiện các biện pháp chiến thuật mưu trí
sâng tạo, bảo đảm chiến đấu tốt về mọi mặt, liên tục lập công. Trải qua thực tế chiến đấu, bộ đội càng
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Tổng tư lệnh mã trực tiếp là
Đảng uỷ và Bộ tư lệnh quân chủng. Chiến đấu càng quyết liệt, phức tạp, cấp dưới càng tin tưởng ở
cấp trên, chiến sĩ thêm tin tưởng vào cán bộ. Đồng chí, đồng đội càng tin yêu nhau hơn và cùng nhau
chia sẻ khó khăn, thử thách. Vào những ngày đầu gian lao thử thách này, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 361
càng yêu quý Hà nội hơn bao giờ hết, càng thấy cuộc đời mình có thêm ý nghĩa và gần bó với Thử đô,
với đất nước. Vì vậy, họ sẵn sàng "quyết tử cho Thủ đô quyết sinh" vì thắng lợi to lớn của dân tộc.
Trong chiến đấu, nhiều cán bộ chiến sĩ đã nêu những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng. Đó là Trần Thị Dinh, chiến sĩ gái thông tin mới nhập ngũ đã sẵn sàng hy sinh bản thân mình,
băng qua lửa đạn đến cứu đồng đội bị thương vong. Đại đội trưởng Dương Minh Hòe luôn nêu cao
trách nhiệm làm việc quên mình để cùng các cán bộ, chiến sĩ đại đội thông tin bảo đảrn liên lạc của sư
đoàn thông suốt trong mọi tình huống. Thượng uý Hoàng Bảo, trưởng ban tác huấn, một cán bộ tham
mưu xuất sắc, đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc xây dựng cách đánh của sư đoàn. Đặc biệt là
trắc thủ IIA-OO Nghiêm Xuân Danh, sinh viên đại học vừa nhập ngũ một năm, giữa bom đạn ác liệt
quyết không rời vị trí chiến đấu và đã hy sinh anh dũng. Phát huy truyền thống vẻ vang của bộ đội
phòng không trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và những truyền thống vẻ vang gần 20
năm xây đựng, chiến đấu bảo vệ Hà nội, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, sư đoàn phòng không 361 kiên
quyết phát huy những thành tích to lớn đã giành được, tranh thủ rút kinh nghiệm và tích cực chuẩn bị
chiến đấu để đánh bại hoàn toàn chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay
B52 của Mỹ vào Hà nội.

Sau bảy ngày đêm liên tục tiến hành chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu
bằng máy bay B52 vào Hà nội, Hải Phòng, Nhà Trắng và Lầu Năm 'Góc vẫn không đạt được những
mục tiêu mà họ hy vọng. Trong khi đó nội bộ Bộ chỉ huy Không quân chiến lược Mỹ hoang mang vì
bị thiệt hại quá lớn. Trong hàng ngũ phi công B52 ở căn cứ An-đéc-xơn và Utapao lan tràn tâm trạng
hoang mang, chán ngán. Họ bắt đầu đả kích sự mù quáng của bọn chỉ huy và sĩ quan tham mưu là
những người lập kế hoạch và điều khiển chiến dịch "Linerbacker II". Một số phi công đã tìm lý do
hoặc cáo ốm để rút khỏi danh sách bay. Mai-cơn-hếch, đại uý phi công B52 từng tham gia 262 lượt
bay chiến đấu ở Đông Dương, được thưởng "huân chương phi hành xuất chúng" đã nộp đơn từ chức.
Anh tuyên bố trước đồng nghiệp trên sân bay: sẽ không nhận bất cứ nhiệm vụ chiến đấu nào ở Đông
Dương dù phải ngồi tù1 (Theo tài liệu của Newsweek ngày 22 tháng 11 năm 1973 dưới nhan đề "Một
phi công B52 nói Không").

Cùng với chính phủ, các chính khách, các tổ chức của nhiều nước trên thế giới và nước Mỹ
đã cực lực lên án cuộc tiến công dã man của chính quyền Mỹ vào Hà nội. Báo chí Mỹ và thế giới gọi
Nixon, Kít-xinh-giơ là tên lừa bịp, lật lọng, dã man, khát máu, phát xít… Chưa bao giờ đế quốc Mỹ bị
cô lập trên trường quốc tế đến thế. Kít-xinh-giơ thú nhận: đây là thời kỳ tệ hại nhất trong cuộc đời làm
chính trị của mình. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ ngoan cố và hiếu chiến, dựa vào Bức mạnh quân
sự, tổng thống Mỹ Nixon đã đích thân ra lệnh mở một trong những cuộc ném bom lớn nhất vào ngày
26 tháng 12 năm 1972 và 116 lần xuất kích của pháo đài bay B52 nhằm vào các mục tiêu ở khu vực
Hà nội và Hải Phòng"2 (Trích hồi ký Nixon). Kéo dài chiến dịch "Linerbacker II", Nhà Trắng và Lầu
Năm Góc nhằm dốc sức đánh một đòn quyết định buộc ta phải tới bàn Hội nghị ở Paris ký kết những
điều khoản có lợi cho họ.

Nắm chắc bản chất và âm mưu thâm độc của Mỹ, với thiện tài chỉ đạo chiến tranh chống
chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc hơn 40 năm qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã kịp
thời chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên định lập trường chống Mỹ, cứu nước, tập trung
sức lực và trí tuệ, kiên quyết đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.
Thường xuyên quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng, kế thừa truyền thống đánh giặc giữ
nước của cha ông ta và với kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của
không quân Mỹ, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng đã chủ động, nhạy bén chỉ đạo, tổ chức các lực
lượng phòng không trên miền Bắc, nhất là sư đoàn phòng không 361 và sư đoàn phòng không 363 ỏ
Hà nội, Hải Phòng tiếp tục chuẩn bị để đánh bại cuộc tiến công sắp tới của địch.

Sáng ngày 25 tháng 12, Bộ tư lệnh Quân chủng triệu tập hội nghị quân chính rút kinh
nghiệm chiến đấu giai đoạn một và phổ biến tình hình, nhiệm vụ giai đoạn tới. Hội nghị nhất tri đánh
giá: Cuộc chiến đấu của các lực lượng phòng không - không quân và các lực lượng vũ trang nhân dân
chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B52 của Mỹ vào Hà nội, Hải Phòng và
một số khu vực khác đã giành được thắng lợi to lớn. Thắng lợi đó có ý nghĩa cả về chính trị, quân sự
và ngoại giao, cả về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu. Hội nghị còn chỉ rõ những
khuyết điểm của các binh chủng, sư đoàn phòng không trong đó có những vấn đề như việc bảo đảm
đạn tên lửa chưa đáp ứng yêu cầu chiến đấu… Sau khi phân tích âm mưu, thủ đoạn của dịch và nhiệm
vụ sắp tới, Hội nghị nhất trí nhận định: Tuy bị thất bại nặng nề nhưng địch vẫn còn tiếp tục đánh phá,
mục tiêu chủ yếu vẫn là Hà nội. Chúng có thể tập trung lực lượng lớn máy bay B52 thay đổi đường
bay, đánh từ nhiều hướng, tăng cường gây nhiễu radar, nhiễu thông tin và tăng cường đánh phá các
trận địa tên lửa.

Trên cơ sở đó, Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương: tăng cường lực lượng từ Khu 4 ra và từ
Hải Phòng lên, điếu chỉnh lại đội hình chiến đấu báo vệ Hà nội. Tập trung lực lượng vào hướng tây
nam, tây bắc, đông bắc, chú ý hướng đông nam. Lực lượng tên lửa chủ yếu tập trung đánh B52. Tạo
điều kiện thuận lợi để không quân đánh rơi B52. Pháo phòng không và không quân tích cực bảo vệ
tên lửa. Tập trung bảo đảm kỹ thuật và đạn tên lửa để bộ đội đánh thắng địch liên tục. Tranh thủ rút
kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung phương án tác chiến và luyện tập thuần thục phương án tác chiến
mới.

36 tiếng đồng hồ trong thời gian Mỹ tuyên bố ngừng ném bom trong dịp lễ Nô-en là
khoảng thời gian vô cùng quý báu đối với bộ đội phòng không Hà nội. Tranh thủ thời gian đó, lãnh
đạo chỉ huy và bộ đội đã "phát huy hết công suất" để khắc phục những khiếm khuyết, khôi phục sức
chiến đấu và hoàn chỉnh thế trận đánh B52 bảo vệ Hà nội. Mặc dù tình hình khẩn trương, công việc
nhiều nhưng Bộ tư lệnh sư đoàn vẫn tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu nghiêm túc. Phó tư lệnh sư
đoàn Trần Xanh trực tiếp chủ trì hội nghị. Những kinh nghiệm về vận dụng cách đánh, phương pháp
điều khiển, chế độ bám sát phù hợp với từng tình huống của các tiểu đoàn 77, 57, 59, 94, 79 là những
kinh nghiệm quý báu để các đơn vị học tập vẫn nhau, hoàn chỉnh cách đánh sở trường của mình. Đó
là những bài học vô cùng quý báu và có hiệu quả thiết thực đối với những tiểu đoàn tên lửa chưa bắn
rơi B52.

Trong khi đó Tư lệnh Trấn Quang Hùng cùng với các Phó tư lệnh Trần Nhẫn, Lê Huy Vinh
và Tham mưu trưởng Nguyễn Đình Sơn tập trung chi đạo, tổ chức điều chỉnh lại đội hình chiến đấu
đánh B52, đánh máy bay cường kích để bảo vệ Hà nội theo kế hoạch của quân chủng. Như vậy, sư
đoàn có 13 trên tổng số 14 tiểu đoàn tên lửa triển khai sẵn sàng chiến đấu. Riêng tiểu đoàn 89 vẫn
đang giao nhận khí tài chưa xong.

Trung đoàn pháo phòng không 220 bố trí bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở nội thành.

Trung đoàn pháo phòng không 212: đại đội 72, 73 ở Thanh Am, Kim Quan, đại đội 71 ở
Tuyên Quang, đại đội 74 bố trí bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 93, đại đội 75 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 94.

Trung đoàn pháo phòng không 260: hai đại đội pháo 57 mm bố trí bảo vệ sân bay Nội Bài,
đại đội 14 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 57, đại đội 16 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 59, đại đội 18 bảo vệ tiểu
đoàn tên lửa 89.

Trung đoàn pháo phòng không 244: tiểu đoàn 150 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 79, đại đội 61
của tiểu đoàn 20 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 86, đại đội 62 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 87, đại đội 63 bảo vệ
tiểu đoàn tên lửa 88.

Trung đoàn pháo phòng không 221: tiểu đoàn 138 bảo vệ tiểu đoàn tên lừa 89. Trung đoàn
pháo phòng không 223: tiểu đoàn 141 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 77, tiểu đoàn 142 bảo vệ tiểu đoàn tên
lửa 78, tiểu đoàn 143 bảo vệ tiểu đoàn tên lửa 76.

Như vậy, chỉ có hai trung đoàn pháo phòng không 220 và một số lực lượng của trung đoàn
pháo phòng không 260, 212 trực tiếp bảo vệ các mục tiêu trọng điềm vế chính trị kinh tế, quân sự ở
Hà nội. Toàn bộ lực lượng pháo phòng không còn lại làm nhiệm vụ bảo vệ các tiểu đoàn tên lửa.

Tư tưởng chỉ đạo tác chiến của sư đoàn là "Tập trung hoả lực diệt tốp đi đầu, linh hoạt chỉ
huy hoả lực đánh được nhiều tốp B52, pháo 1.00 mm tích cực phối hợp với tên lửa đánh B52, pháo
57, 37 mm đánh các loại máy bay chiến thuật và máy bay trinh sát không người lái, tên lửa tập trung
đạn đánh B52". Cách đánh của bộ đội tên lửa là phân biệt và bám sát chính xác dải nhiễu B52 từ xa,
đánh ở cự ly hiệu quả nhất, hoàn chỉnh cách đánh T, tích cực tạo điều kiện sừ dụng cách đánh P, phát
huy đánh bồi, đánh nhồi, tận dụng kết hợp so kim với KS-60. Quyết tâm của sư đoàn là đánh tập
trung, đánh tiêu diệt nhiều máy bay B52 và máy bay chiến thuật, tạo nên những đòn quyết định đánh
bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược của địch.

Các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã cùng các cán bộ phòng tham mưu, chính trị, kỹ
thuật, hậu cần tổ chức thành nhiều đoàn xuống các đơn vị tên lửa dự các buổi rút kinh nghiệm và trao
đổi dân chủ bàn cách đánh B52. Tại đây, bên những sơ đồ đường bay vẽ vội trên giấy, trên bảng, các
tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt, Đinh Thế Văn, Lê Xuân Chiến, Trần Minh Thắng… và các sĩ
quan điều khiển Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Đình Kiêng Dinh Văn Tuyến… đã báo cáo những kinh
nghiệm, trình bày động tác xử trí và những khó khăn trong việc đánh B52 của đơn vị mình. Với tinh
thần phê bình, tự phê bình, khiêm tốn học tập lẫn nhau, những người quyết định cuối cùng đưa quả
đạn tên lửa trúng đích đã xác nhận có ba phương pháp đánh B52 có hiệu quả là cách đánh của tiểu
đoàn 77, cách đánh sáng tạo của tiểu đoàn 57 và cách đánh kết hợp nhiều loại khí tài của tiểu đoàn 79.
Vừa xong hội nghị, các kíp chiến đấu lại khẩn trương mơ máy luyện tập. Những tình huống phức tạp
được đặt ra để từng trắc thủ bàn bạc, tham gia ý kiến và xử lý thống nhất, đồng bộ. Trong quá trình
luyện tập, các kíp chiến đầu đều vận dụng những kinh nghiệm của đơn vị bạn để nâng cao kỹ năng, kỹ
xảo các cách đánh cơ bàn và hoàn thiện cách đánh sở trường riêng. Thông qua luyện tập, những tư
tưởng bảo thủ, kinh nghiệm chủ nghĩa bị đẩy lùi, tinh thần đoàn kết hiệp đồng lập cồng tập thề, tinh
thần trách nhiệm được nâng lên rõ rệt. Các cán bộ, chiến sĩ ở kíp hai đã chủ động đảm nhận các công
việc chuẩn bị và trực ban chiến đấu trong những ngày địch ngừng đánh phá và những ngày, giờ không
cao điểm để kíp một có thời gian nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe để tiếp tục đánh B52.

Phó tư lệnh Lê Huy Vinh cùng các cán bộ cơ quan tham mưu tiến hành theo dõi, đôn đốc
các đơn vị pháo phòng không triển khai chiến đấu bảo vệ tên lửa, rút kinh nghiệm đánh F111 và các
máy bay cường kích khác. Trừ các đơn vị pháo phòng không ở lại các trận địa chốt để bảo vệ mục tiêu
trọng điểm, đến đêm 25 tháng 12, tất cả các đơn vị pháo tiểu cao còn lại đã "ôm" sát 13 tiểu đoàn tên
lửa. Đó là thành công rực rỡ sau hơn một ngày đêm liên tục thu hồi vũ khí khí tài, cơ động chiến đấu
qua những đoạn đường lồi lõm hố bom và triển khai chiến đấu, đào đắp công sự vất vả của cán bộ,
chiến sĩ các đơn vị pháo phòng không trong sư đoàn. Để đánh máy bay cường kích F111 bay thấp ban
đêm, bộ đội pháo phòng không đã tập trung nghiên cứu kỹ đường bay quy luật của địch, bố trí xen kẽ
từng cụm radar ngắm bắn nhằm tăng cường khà năng chỉ huy, mật độ sục sạo phát hiện mục tiêu trên
cầu đường bay. Các tổ quan sát trang bị súng trường hoặc súng máy phòng không làm nhiệm vụ phát
hiện địch và bắn tín hiệu vạch đường được bố trí đón lõng trên các đường bay hoác điểm kiểm tra
cuối cùng của F111, sẵn sàng báo động cho các đơn vị pháo phòng không tập trung hoả lực diệt địch.

Phó tư lệnh Trần Nhẫn cùng trợ lý đạn Phan Thang tiếp tục bám sát các tiểu đoàn kỹ thuật
80, 95, chỉ đạo và động viên bộ đội tranh thủ thời gian triển khai lắp ráp đạn theo phương án mới.
Trong vòng 24 giờ, mỗi tiểu đoàn kỹ thuật đã lắp ráp, sửa chửa, kiểm tra được 24 quả đạn và tiếp
nhận hàng trăm quả đạn mới từ Lạng Sơn, Suối Hai đưa về. Được sự giúp đỡ của Cục Kỹ thuật Quân
chủng, phòng kỹ thuật sư đoàn đã cùng trưởng ban kỹ thuật Phạm Đình Hạnh và các cán bộ, nhân
viên kỹ thuật trung đoàn tên lửa 257 khôi phục tại chỗ khí tài của tiểu đoàn 76, 77 bị địch đánh hỏng ở
cuối giai đoạn một. Bộ khí tài của tiểu đoàn 57 bị ngập lụt năm 1971, có số giờ tích luỹ là 14.000 giờ,
đã có lệnh đổi khí tài mới, do yêu cầu chiến đấu vẫn tiếp tục làm việc tốt. Trong một ngày trung đoàn
pháo phòng không 212 đã khôi phục sức chiến đấu xong cho đại đội 71 đơn vị ba lần bị địch đánh phá
ác liệt trong cuối giai đoạn một vừa qua.

Nhận thấy bộ đội thấm mệt sau bảy ngày đêm chiến đấu liên tục, dưới sự chỉ đạo và giúp
đỡ của phòng hậu cần, các đơn vị đã có nhiều biện pháp năng cao định suất ăn, nhằm lấy lại sức khỏe
cho bộ đội tiếp tục chiến đấu. Ngày 25 tháng 12, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định trích quỹ tăng gia để
bồi dưỡng sức khỏe cho bộ đội. Ngoài việc tổ chức thêm bữa ăn đêm, các trung đoàn, tiểu đoàn, đại
đội còn chú trọng cải tiến món ăn, tạo điều kiện cho bộ đội ăn hết tiêu chuẩn, nhanh chóng hồi phục
và nâng cao sức khỏe. Mặc dù chiến đấu ác liệt, thực phẩm khó khăn, giao thông trở ngại, cơ động
nhiều, nhưng không có đơn vị nào đề bộ đội đói hoặc ăn uống thất thường, ảnh hưởng tới sức chiến
đấu.

Xác định trong giai đoạn tới địch sẽ tập trung lực lượng đánh phá ác liệt hơn, sư đoàn còn
tổ chức đợt sinh hoạt chính trị nhằm chuẩn bị đấy đủ tư tưởng và quyết tâm cho bộ đội. Các cơ quan
đơn vị tổ chức mít tinh, diễn đàn kể tội ác giặc Mỹ, phát động căm thù địch. Tiếng đòi nợ máu đối với
Uy Nỗ, Gia Lâm, Trung Văn, An Dương, Mai Hương, Bạch Mai… vang lên trên khắp các trận địa
thúc giục mạnh mẽ tình cảm và ý chí chiến đấu của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Tiểu đoàn 77 đã cất chiếc mũ sắt nhuộm máu của liệt sĩ Nghiêm Xuân Danh trong trận
chiến đấu chiều ngày 21 tháng 12 như cất giữ một kỷ vật thiêng liêng. Chiếc mũ sắt trở thành một
trong những động lực mạnh mẽ thôi thúc cán bộ, chiến sĩ kiên quyết tiêu diệt địch để trả thù cho đồng
đội.

Từ tấm gương kiên cường của đại đội 71, sau ba lần bị địch đánh chỉ vẻn vẹn còn hai khẩu
đội nhưng vẫn trụ vững bên cầu Đường, vừng vàng chuẩn bị bước vào đợt hai chiến dịch, đảng uỷ
trung đoàn pháo phòng không 212 đã phát động phong trào "Trụ vững trên tuyến đường như chiến sĩ
Trường Sơn trụ vững trên trọng điểm. Còn một mỗ cầu còn giữ. Còn một chân hàng còn bám. Không
ngừng nêu cao khí thế tiến công địch như Quân giải phóng ở Quảng Trị" trong toàn trung đoàn.

Tận dụng 36 tiếng đồng hồ địch tạm ngừng đánh phá, thành phố Hà nội đã tập trung giải
quyết hậu quả chiến đấu và khẩn trương chuẩn bị đối phó với tình huống mới. Cơ quan quân sự các
khu, huyện tăng cường kiểm tra, điều chỉnh lực lượng, bổ sung phương án tác chiến, tiếp thêm đạn
dược và rút kinh nghiệm chiến đấu. Để phù hợp với thực tế chiến đấu, Bộ tư lệnh Thủ đô quy định
cho các xạ thủ trên các trận địa súng máy phòng không phải xuống hầm ẩn nấp khi có B52 đánh phá,
sau đó nhanh chóng trở về vị trí sẵn sàng đánh máy bay bay thấp. Đến cuối ngày 25, nhiều hoạt động
của thành phố bị ngừng trệ được khôi phục. Lực lượng thông tin quân sự cùng lực lượng hữu tuyến
điện khôi phục hàng trăm ki-lô-mét đường dây điện thoại. Nhiều đường dây tải điện, còi, loa được sửa
chữa. Các máy phát điện dự phòng được bố trì thêm ở những trọng điểm. Hệ thống cấp nước cũng
được tu sửa lại bảo đảm tạm ồn định nhu cầu cho nhân dân. Thực hiện chủ trương sơ tán nhanh, gọn
đúng đối tượng là nhiệm vụ quan trọng khẩn cấp của thành phố, dù khó khăn, phức tạp đến mấy cũng
phái hoàn thành, Sở Giao thông vận tải được lệnh huy động hàng trăm xe Ô tô cùng các xe của cơ
quan, xí nghiệp chia đi các ngà chở người sơ tán. Hơn một vạn tự vệ được phân công ở lại nội thành
và các trọng điểm ngoại thành phối hợp với lực lượng kiểm soát quân sự, công an vũ trang, cảnh sát,
dân phòng bảo vệ cơ sở vật chất, trật tự trị an, góp phần chỉ dẫn giao thông trên các đường phố.
Thương nghiệp Hà nội tổ chức thêm hàng trăm quầy hàng lưu động, xuống tận cơ sở, trận địa phòng
không phục vụ nhân dân và bộ đội. Nhiều nhà văn, nhà báo, ca sĩ, diễn viên chuyên nghiệp và đoàn
văn nghệ của sư đoàn đã đến các trận địa phòng không nổi chuyện, biểu diễn phục vụ chiến sĩ. Lời ca,
tiếng hát của anh em văn nghệ sĩ hoà nhập với khí thế chiến đấu của chiến sĩ tạo nên "tiếng hát át
tiếng bom" tươi trẻ, hào hùng trên các trận địa ở Thủ đô.

Cũng trong những ngày này, bộ đội phòng không Hà nội vô cùng cảm động đón nhận sự cồ
vũ to lớn và quý báu của Đảng bộ nhân dân Hà nội và các tỉnh lân cận. Các đồng chí Nguyễn Văn
Trân, Trần Sâm, Bí thư và Phó bí thư Thành uỷ Hà nội đã trực tiếp gặp gỡ các thủ trưởng sư đoàn xem
xét, giúp đỡ, giải quyết từng đề nghị cụ thể. Các cụ già, em nhỏ, các mẹ, các chị đầu quấn khăn tang
đến từng trận địa kể tội ác giặc Mỹ, kêu gọi trả thù và khen ngợi bộ đội ta đánh giỏi, thắng lớn. Đồng
bào, chiến sĩ cả nước gửi gam tất cả niềm tin yêu và tình cảm của mình cho quân dân Hà nội, đặc biệt
là các chiến sĩ phòng không bảo vệ trái tim thiêng liêng của cả nước. Cả Hà nội tin tưởng, hy vọng và
dồn sức cho các lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô trong đó sư đoàn phòng không Hà nội là lực
lượng nòng cốt. Tất cả cán bộ, chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 đã được chuẩn bị đầy đủ về mọi
mặt, bình tĩnh bước vào trận chiến đấu mới với niềm tin tất thắng.

15 giờ 25 phút ngày 25 tháng 12, Bộ Tổng tham mưu ra lệnh cho Quân chủng phòng không
- không quân: từ 19 giờ ngày 25 tháng 12 năm 1972, tất cà các lực lượng, phương tiện, vũ khí, khí tài
phải sẵn sàng chiến đấu. Mệnh lệnh đó được truyền ngay xuống sở chỉ huy sư đoàn. Lập tức, Bộ tư
lệnh sư đoàn ra lệnh cho các đơn vị sẵn sàng đánh địch.

11 giờ ngày 26, máy bay trinh sát không người lái vào trinh sát khu vực Hà nội.

13 giờ, địch sử dụng 56 lần chiếc máy bay chiến thuật các loại vào đánh nhà ga, kho tàng
và trạm biến thế Đông Anh. Mỹ đùng máy bay cường kích đánh mở đầu giai đoạn hai hy vọng buộc
các đơn vị tên lửa của ta phải bộc lộ lực lượng để chúng nắm chắc tình hình hoả lực và tổ chức đánh
phá. Bộ tư lệnh sư đoàn kiên quyết giành tên lửa để đánh B52. Tiểu đoàn 72 mới được điều về tăng
cường bào vệ Hà nội chưa quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo đó nên đã phóng một quả đạn bắn rơi tại
chỗ một chiếc F4. Trận đánh của tiểu đoàn 72 chưa đúng với ý đố sử dụng lực lượng của sư đoàn,
nhưng vì lập được công đầu trong giai đoạn hai nên khuyết điểm đã được cấp trên châm chước và
được chấn chỉnh ngay.

Chiều ngày 26, Quân chủng chỉ thị cho sở chỉ huy sư đoàn: từ 18 giờ đến 23 giờ có B52
hoạt động. Sau khi thông báo cho các đơn vị, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các đơn vị tập trung sẵn
sàng chiến đấu cao nhất.

21 giờ 10 phút, nhiều tốp máy bay F4 vào thả nhiễu tiêu cực dày đặc từ hướng tây bắc
xuống hướng tây nam Hà nội, cách Thủ đô khoảng 50 ki-lô-mét. Chúng tính toán hướng và tốc độ gió
để máy bay B52 vào đến Hà nội thì các đám sợi kim loại sẽ trở thành mục tiêu giả gây kích thích ngòi
nổ vô tuyến làm cho đạn tên lửa nổ, hạn chế sự thiệt hại cho máy bay B52.

Từ 22 giờ 5 phút đêm 26 tháng 12 địch sử dụng 105 lần chiếc B52 có 110 lần chiếc máy
bay chiến thuật yểm hộ, từ nhiều hướng vào đánh liên tục, ồ ạt nhiều mục tiêu trên cả ba khu vực Hà
nội, Hải Phòng và Thái Nguyên.

Lúc 21 giờ 35 phút, trên bản đồ thu tình báo quốc gia B1 ở sở chỉ huy sư đoàn lần lượt xuất
hiện hàng chục tốp B52 và hàng chục tốp máy bay chiến thuật. Những tốp B52 có ký hiệu 595, 596,
599, 600, 602… từ Sa-va-na-khét (Hạ Lào) bay dọc theo sông Mê Công hướng thẳng về phía Bắc. Đó
là 66 lần chiếc B52 đang trên đường bay vào đánh Hà nội từ bốn hướng tây nam, tây bắc, đông nam,
đông bắc. Được sự nhất trí của Tư lệnh và Chính uỷ Quân chủng, Phó Tư lệnh Quân chủng Hoàng
Văn Khánh giao nhiệm vụ cho sư đoàn tập trung hoả lực tiêu diệt các tốp B52 từ hướng tây bắc và tây
nam vào đánh Hà nội. Tư lệnh sư đoàn Trần Quang Hùng đã lần lượt giao nhiệm vụ tiêu diệt các tốp
B52 cho các trung đoàn tên lửa 274, 257 và 261.

21 giờ 55 phút, các tốp B52 có số hiệu 595, 596 mở màn tiến công từ hướng tây nam đánh
thẳng vào hai trận địa tên lửa ở M.L và D.S.

Ba phút sau, tốp B52 có số hiệu 599 vòng lên Tam Đảo rồi từ hướng tây bắc đánh thẳng
vào Hà nội. Tiếp đó gắn như đồng thời, các tốp B52 từ hướng tây, đông nam, đông bắc đánh ập vào
Thủ đô.

Mặc dù các tốp B52 thay đổi đường bay, cùng lúc từ nhiều hướng ồ ạt tiến đánh Hà nội,
được sự yểm trợ của hàng trăm máy phát nhiễu trong đội hình công suất lớn, nhiễu ngoài đội hình của
EB.66 và những đám mây sợi kim loại rộng hàng chục ki-lô-mét vuông, nhiều đài radar nhìn vòng của
tên lửa và radar ngắm bắn của pháo phòng không đã phát hiện B52 ở cự ly ngoài 50 ki-lô-mét.

22 giờ 5 phút, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri ra lệnh cho sư đoàn: tên lửa đánh đúng B52,
tập trung hoả lực vào hướng tây, pháo phòng không tập trung đánh máy bay cường kích.

22 giờ 24 phút, các tốp máy bay địch vào gần, hệ thống thông tin tiếp sức của sư đoàn bị
nhiễu nặng. Trước tình hình đó Tư lệnh sư đoàn ra lệnh sử dụng mạng vô tuyến điện thoại FA để thay
thế, chỉ huy vượt cấp xuống các tiểu đoàn tên lửa. Đường dây thông tin liên lạc thông suốt.

22 giờ 25 phút, đội hình B52 phân tốp rồi từ hướng tây, tây bắc vào đánh khu vực Văn
Điển, Giáp Bát, khu công nghiệp Thượng Đình, Bạch Mai… Các tiểu đoàn 87, 86, 78 liên tục phóng
đạn vào các tốp B52.

22 giờ 27 phút, tiểu đoàn 86 phóng ba đạn vào tốp 602, bắn trúng một B52 nhưng không
rơi tại chỗ. Lúc này, các trắc thủ đài radar điều khiển của tiểu đoàn 76 đã bám sát một dải nhiễu B52.
Để đánh chắc thắng đúng đối tượng chủ yếu, tiểu đoàn trưởng Lê Văn Hệ vẫn cho phóng giả PIIK để
phân biệt chính xác đó là dải nhiễu B52 hay nhiễu của máy bay chiến thuật. Thấy dải nhiễu vẫn ổn
định, gọn, mịn, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho sĩ quan điều khiển phóng tiếp hai quả đạn vào tốp B52 có
số hiệu 599 từ bắc Tam Đảo tiến vào. Các tiểu đoàn 57, 88 hiệp đồng với tiểu đoàn 76, liên tiếp phóng
đạn vào tốp 599.

22 giờ 30 phút, một chiếc B52 bị tiểu đoàn 76 bắn rơi tại chỗ gần cửa hàng ăn uống Tương
Mai. Tiểu đoàn 76 đã thực hiện thành công trận đánh phục thù cho trận bị địch đánh vào trận địa trong
ngày 20 tháng 12 vừa qua. Khi các tốp B52 vào hướng tây bắc, tiểu đoàn 93 được lệnh cơ động hoả
lực từ hướng tây nam lên cùng với tiểu đoàn 79, mỗi tiểu đoàn phóng hai quả đạn vào tốp 602.

22 giờ 33 phút, tiểu đoàn 93 đã bắn rơi tại chỗ một B52 ở Đèo Khế thuộc tỉnh Tuyên
Quang.

22 giờ 40 phút, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn, sĩ quan điều khiển
Đinh Trọng Đức và các trắc thủ Hiền, Hà, áp đã linh hoạt chuyển cách đánh T sang cách đánh P khi
nhìn rõ tín hiệu B52 cùng các tiểu đoàn 76, 57, 88 liên tiếp phóng đạn vào các tốp B52 có số hiệu 602,
673, 683. Hai quả đạn của tiểu đoàn 78 được điều khiển tốt, nổ trúng tốp B52, bắn rơi tại chỗ một
chiếc ở xã Đình Công, huyện Thanh Trì. Ngay khi tiểu đoàn 78 diệt được mục tiêu thì tốp máy bay
cường kích ở khu vực Văn Lâm cũng phát hiện được trận địa phóng ngay một quả tên lửa. Phát hiện
có tín hiệu Sơ-rai, sĩ quan điều khiển lập tức thao tác phòng tránh. Quả tên lửa bay qua trận địa nổ
cách đài điều khiển hơn 300 mét. Đây là lần đầu tiên máy bay rơi gần trung tâm Hà nội nhất kể từ
ngày đầu của chiến dịch phòng không tháng 12.

Đêm nay, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 79 Nguyễn Xuân Chiến tiếp tục động viên trắc thủ
radar K.8-60 tìm bắt B52. Mấy phút sau, trắc thủ số một Đỗ Xuân Thu đã phát hiện được tín hiệu
B52. Tuy vậy, do bị nhiễu nặng, các trắc thủ Bùi Văn Lập, Bùi Trọng Quý, Nguyễn Xuân Nhâm của
đài điều khiển tích cực sục sạo vẫn chưa phát hiện được tín hiệu B52. Trong khi đó các tiểu đoàn 86,
88 đã phóng đạn đánh địch. Giữa lúc tưởng chừng lại lỡ thời cơ diệt địch thì trắc thủ Bùi Xuân Lập
nhìn thấy tín hiệu mục tiêu B52 đang lượn vòng bay ra. Trước tình huống đó, tiểu đoàn trưởng vẫn
quyết định đánh. Với cách đánh sở trường, sĩ quan điều khiển Đỗ Văn Bạch đã phóng một quả đạn,
bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở Sơn La.

Cũng trong tối 26, phóng viên nhiếp ảnh Quân chủng Xuân Ất đã chớp thời cơ chụp được
một bức ảnh tuyệt đẹp: Chiếc B52 trúng đạn đang cháy rừng rực trên bầu trời Hà nội.

Xen kẽ các đợt đánh của B52, các tốp máy bay F111 và các máy bay cường kích khác đã
đánh vào mục tiêu phụ và các trận địa tên lửa. Các đơn vị pháo phòng không đã nổ súng đánh địch
quyết liệt. Cùng với bộ đội tên lửa, 20 khẩu pháo 100 mm của tự vệ Hà nội cũng nổ súng đánh B52
quyết liệt. Một loạt bom rơi trúng trận địa pháo của tự vệ khu phố Hai Bà Trưng làm một khẩu đội bị
thương vong. Chỉ trong chốc lát tạm dừng để sửa chữa, thay thế, tiếng súng lại tiếp tục nổ vang trên
trận địa.

Cùng với các lực lượng phòng không đánh địch, các cơ quan quân sự khu phố, huyện chủ
động tổ chức chi viện và phục vụ cho các lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu. Công trường 57 làm
nhiệm vụ tiếp đạn pháo 100 mm cho trận địa khu Ba Đình. Trung đội nữ dân quân Thanh Mai tiếp đạn
cho trận địa pháo Hai Bà Trưng. Các trận địa ở khu Đống Đa, Hoàn Kiếm và nhiều trận địa pháo của
sư đoàn cũng được đông đảo dân quân tự vệ, học sinh, sinh viên, xã viên đến hỗ trợ. Mặc cho bom
đạn uy hiếp, chiến sĩ quan sát trên các nóc nhà Ngân hàng Trung ương, Học viện Thuỷ lợi, Đại học
Bách khoa, Cơ khí Quang Trung, khu Vân Hồ, Đại học Sư phạm… vẫn kiên quyết bám trụ, theo dõi
tình hình. báo cáo kịp thời cho chỉ huy. Ở chòi quan sát xã Giang Biên (Gia Lâm), bốn cô gái do
Nguyễn Minh Tý phụ trách bám trụ từ đầu chiến dịch, vẫn kiên cường buộc người vào thanh sắt để
khỏi rơi xuống đất khi bom nổ gần, đánh dấu từng khu vực bị bom, báo cáo về ban chỉ huy huyện đội.

Trên bầu trời Hà nội, cùng với những vạch lửa của đạn ta bay, nhiều đám cháy B52 bùng
lên dữ dội, rực sáng cả trời đêm. Chuông điện thoại đổ liên hồi, tới tấp thông báo tin máy bay cháy,
máy bay rơi, giác lái bị bắt về các sở chỉ huy trung tâm Hà nội. Những tin đó được truyền tới sở chỉ
huy sư đoàn làm cho tất cả cán bộ chiến sĩ vô cùng phấn khởi.

Lúc 22 giờ 47 phút, một tốp B52 ném bom rài thảm xuống khu phố Khâm Thiên, một trong
những khu phố có mật độ dân số đông nhất Hà nội. Mặc dù nhân dân đã đi sơ tán nhưng thiệt hại về
người và của vẫn rất lớn. Riêng phố Khâm Thiên chết 287 người, bị thương 290 người. Bom địch đã
phá hỏng, phá sập gần 2.000 ngôi nhà, đền chùa, trường học, trạm xá… Một số gia đình bị bom không
còn người nào sống sót. Gia đình bị chết nhiêu nhất là chín người.
Đồng chí Trần Vĩ, Phó chủ tịch uỷ ban hành chính, Chủ tịch Hội đồng phòng không thành
phố cùng các cán bộ lãnh đạo khu phố Đống Đa đã đến các khu vực bị sập đổ nặng chỉ đạo việc khắc
phục hậu quả. Tham mưu phó Bộ tư lệnh Thủ đô Đặng Ngọc Ban được lệnh đến nghiên cứu điều
động lực lượng kiểm soát quân sự, công binh giúp đỡ nhân dân Khâm Thiên. Bí thư chi bộ đường phố
Trần Quốc Thể, ông Nguyễn Tất Đạt, bà Nguyễn Thị Tuyến, Phùng Thị Tiệm phụ trách đội bảo vệ và
dân phòng cùng cán bộ, công an khối phố 45 soi đèn đến từng nơi có tiếng kêu để cứu người bị nạn.
Trong giờ đầu bằng sức người và dụng cụ đào bới thô sơ, gần 60 người bị thương, bị mắc kẹt trong
các nhà gạch, hầm hố được cứu thoát. Tiếp đó, các đoàn cứu sập, cứu thương, cứu hoả của thành phố,
của Trung ương và quân đội có tới hàng nghìn người cùng với máy móc chuyên dùng được gấp rút
điều tới tham gia khắc phục hậu quả địch đánh phá.

Cùng với ném bom Khâm Thiên, trong đêm 26, B52 đã rải bom xuống hơn 100 điểm ở
thành phố, trong đó có hai phần ba số điểm là khu dân cư, làm hơn một nghìn người bị thương vong.
Các khu vực Yên Viên, Gia Lâm, Uy Nỗ đã bị B52 ném bom đến lần thứ mười, thứ mười hai. Khu
vực Yên Viên bị khoảng 5.000 quả bom làm cho nhà ga cùng nhiều đoạn đường sắt, kho chứa hàng bị
bom Mỹ cày xới đến mức không còn dấu tích cũ.

Sáng ngày 27, trong buổi giao ban, Bộ tư lệnh Quân chủng nhân định: Địch tiếp tục đánh
Hà nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, mục tiêu chủ yếu vẫn là Hà nội. Chúng tập trung lực lượng, tổ chức
chặt chẽ, thủ đoạn hoạt động thay đổi nhưng do ta phán đoán đúng ý đồ, chuẩn bị tốt mọi mặt nên đã
giành chiến thắng to lớn. Bộ tư lệnh Quân chủng còn chỉ thị cho Binh chủng Không quân phải chuẩn
bị thật tốt để đánh B52 ban đêm và đánh máy bay cường kích ban ngày. Tiếp đó Bộ tư lệnh Quân
chủng đã chỉ thị cho sư đoàn tăng thêm lực lượng pháo, súng máy phòng không để bảo vệ các trận địa
tên lửa.

Cũng trong buổi sáng ngày 27, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến phố Khâm Thiên ân cần
thăm hỏi, động viên nhân dân, các lực lượng tích cực giải quyết hậu quả do địch đánh phá và biến đau
thương thành sức mạnh chiến đấu, kiên quyết bắn rơi nhiều máy bay địch hơn nửa để trả thù cho đồng
chí, đồng bào bị giặc Mỹ giết hại. Tiếp đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã đến thăm những nơi
bom đạn tàn phá nặng nề nhất ở Khâm Thiên. Trong quá trình quan sát những tội ác ghê tởm của
không quân Mỹ, thỉnh thoảng Đại tướng quay lại nói với những người đi cùng: "Dã man đến thế là
cùng!". Ngay sau đó, Đại tướng Tổng tư lệnh đã đến sở chỉ huy Quân chủng động viên, cổ vũ, biểu
dương cán bộ, chiến sĩ phòng không - không quân đã giành thắng lợi rất to lớn trong đêm 26 tháng 12.
Đồng chí nói: "Các đồng chí hãy đánh mạnh, bắn rơi nhiều máy bay B52 hơn nữa để trả thù cho đồng
bào Khâm Thiên và các nơi khác bị giặc Mỹ giết hại!".

Chiếu ngày 27, từ 13 giờ địch tập trung sử dụng 88 lần chiếc máy bay của không quân và
hài quân tổ chức thành hai đợt vào đánh phá dữ dội các trận địa tên lửa ở VD, T.S, P.T, D.T và các
mục tiêu như nhà máy dệt 8-3, Văn Điển, cầu Đuống, Gia Lâm, đài phát thanh Mễ Trì. Trên tất cà các
khu vực, các đơn vị pháo phòng không đã đánh trả mãnh liệt. Đại đội 61 tiểu đoàn 20 bảo vệ tiểu đoàn
tên lửa 86 ở T.S đã bắn rơi một máy bay F4. Tiểu đoàn 86 bị địch ném bom bi làm hỏng khí tài, một
pháo thủ bệ hy sinh, ba đồng chí bị thương. Trong ngày, bộ đội không quân ta cũng đã hiệp đồng chặt
chẽ với bộ đội phòng không bắn rơi hai máy bay F4.
Trong đêm 26 và ngày 27 tháng 12, các lực lượng phòng không ba thứ quân và bộ đội
không quân đã hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch dũng cảm, mưu trí, quyết liệt giành thắng lợi lớn, bắn
rơi 18 máy bay các loại, có tám chiếc B52. Quân chủng phòng không - không quân bắn rơi 10 chiếc,
có bảy chiếc B52. Sư đoàn phòng không Hà nội đã bắn rơi sáu máy bay địch, có năm chiếc B52, trong
đó có bốn chiếc B52 bị bắn rơi tại chỗ. Trong đêm 26, không quân Mỹ bị tổn thất nhiều máy bay B52
nhất trong chín ngày vừa qua. Trận đánh then chốt có tính chất quyết định trong chiến dịch tập kích
đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà nội đã bị thất bại nặng nề.

Ngày 27 tháng 12 năm 1972, hãng thông tấn Mỹ AFP ở Sài Gòn đã thú nhận:…"Chiếc B52
rơi gần Utapao sáng sớm hôm nay sau phi vụ ở Bắc Việt nam về là chiếc B52 thứ 12 mất trong thời
gian qua… Chiến dịch bằng máy bay và tàu chiến mở hôm 18 tháng 12 đã gây cho Mỹ những thiệt
hại nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh hơn tám năm qua…". Tướng Mo-mai-ơ, nguyên tư lệnh tập
đoàn không quân 7 Mỹ ở Sài Gòn, nguyên tư lệnh Bộ tư lệnh không quân chiến thuật Mỹ trong cuốn
sách "Không lực qua ba cuộc chiến tranh" đã thú nhận: "Đêm 26 tháng 12 năm 1972, các tên lửa
phòng không đã diệt một số đáng kể máy bay Mỹ bằng cách dựng hàng rào hoả lực đúng với thời
điểm mà máy bay tiến công giãn đội hình để ra khỏi khu vực mục tiêu. Trong lúc đang lượn máy bay
bị radar mặt đất phát hiện rõ nhất…".

Đối với bộ đội phòng không Hà nội, trận đánh đêm 26 tháng 12 năm 1972 là trận đánh tập
trung tiêu diệt địch xuất sắc trong điều kiện chiến tranh điện tử, vũ khí công nghệ cao phát triển và
trước đối tượng không quân chiến lược, chiến thuật nhà nghề của tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực, có
sức mạnh nhất thế giới. Trận đánh có hiệu suất rất cao đó thể hiện rõ vai trò nòng cốt của sư đoàn
phòng không 361 trong các lực lượng phòng không thứ ba quân ở khu vực Hà nội, thực hành thắng lợi
trận then chốt quyết định trong chiến dịch phòng không của ta đánh thắng chiến dịch tập kích đường
không chiến lược của Mỹ vào thời điểm quyết định, thực hiện xuất sắc mục đích mà cấp chiến lược đã
đề ra.

Cũng sau trận này, sự thất bại hoàn toàn của chiến dịch tập kích đường không chiến lược
của Mỹ đã được định đoạt. Chính vì vậy, sau những tồn thất nghiêm trọng trên bầu trời Hà nội, Mỹ
buộc phái "xuống thang", đề nghị Chính phủ ta nối lại cuộc đàm phán. Chiều ngày 28 tháng 12 năm
1972, phái đoàn ta do đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn dẫn đầu trở lại Hội nghị Paris với lòng tự tin
của một dân tộc chiến thắng.

Do dốc sức cao nhất vào đòn quyết địch trong đêm 26 mà vẫn bị thất bại nặng nề, khả năng
xuất kích của B52 đã suy giảm rõ rệt.

Từ 22 giờ đến 23 giờ 30 ngày 27 địch sử dụng 120 lần chiếc máy bay trong đó có 54 B52
vào đánh lại các khu vực chân hàng, đầu mối giao thông ở ngoại vi Hà nội như Đông Anh, Yên Viên,
Đa Phúc, Văn Điển, Khuyến Lương. Được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phó tổng tham mưu
trưởng Phùng Thế Tài, 22 giờ 20 phút, Bộ tư lệnh Quân chủng hạ quyết tâm cho không quân ta đánh
B52 và đã bắn rơi một máy bay B52. Trận đánh của không quân ta đã làm cho đội hình B52 rối loạn
tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa tiêu diệt địch. Khi các tốp B52 ở hướng tây bắc vòng lên hướng đông
bắc vừa nhô ra khỏi dãy núi Tam Đảo thì bốn quả tên lửa của tiểu đoàn 94 và tiểu đoàn 57 lao tới. Vừa
đánh xong tốp đầu, tiểu đoàn trưởng Trần Minh Thắng đã chỉ huy kíp chiến đấu chuyển ngay sang tốp
đi sau, phóng hai quả đạn bắn rơi tại chỗ một chiếc B52 ở Quế Võ (Hà Bắc). Lúc đó là 23 giờ.

Trên hướng đông bắc, 23 giờ 3 phút, bốn tiểu đoàn 71, 72, 76, 93 đã phóng đạn đánh tập
trung vào một tốp B52 từ hướng tây đang lao vào Hà nội. Do không phát hiện được mục tiêu, tiểu
đoàn trưởng tiểu đoàn 72 Phạm Văn Chắt ra lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng và các
trắc thủ Trần Đăng Khoa, Lê Dông Hướng, Nguyễn Văn Tuyền phóng hai quả đạn và bám chính xác
vào giữa dải nhiễu đậm mịn. Chiếc máy bay bốc cháy, rơi xuống làng Ngọc Hà và đường Hoàng Hoa
Thám. Đây là chiếc B52 duy nhất bị bắn rơi khi giặc lái chưa kịp cắt bom trong chiến dịch phòng
không cuối tháng 12 năm 1972. Đó còn là chiếc B52 duy nhất bị bắn rơi tại chỗ trên đường phố nội
thành Hà nội.

Ở hướng nam, ba tiểu đoàn 77, 78, 88 đồng thời phóng năm quả đạn vào một tốp B52.
Thấy chưa diệt được mục tiêu, tiểu đoàn 77 đánh bồi hai quả đạn bắn rơi một chiếc B52. Lúc đó là 23
giờ 4 phút.

23 giờ 6 phút, kíp chiến đấu của tiểu đoàn 59 đã hiệp đồng chặt chẽ, mưu trì, bám đúng
một chiếc B52 khi chúng vừa phân tốp, phóng hai quả đạn bắn rơi một chiếc B52.

Ba mũi tiến công của B52 từ ba hướng đông nam, tây, tây bắc vào Hà nội đêm 27 tháng 12
đều bị đánh trả quyết liệt và bị tổn thất. Bộ đội phòng không Thủ đô đã bắn rơi thêm năm máy bay
B52 trong đó có hai chiếc rơi tại chỗ. Đòn đánh bồi, đánh nhồi này của quân và dân Hà nội đã làm
phá sàn hoàn toàn ý đồ cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 vào Thủ đô
của tập đoàn hiếu chiến Nixon.

Sáng ngày 28, Mỹ lại huy động hơn 50 lần chiếc máy bay vào đánh phá một số mục tiêu ở
Hà nội. Các lực lượng pháo phòng không và dân quân tự vệ đã đánh trả. địch quyết liệt. Đại đội 4
trung đoàn pháo phòng không 220 đã tập trung hoả lực, đánh địch chính xác, bắn rơi tại chỗ một chiếc
máy bay RA.5-C.

Nhận được tin Bộ Tổng tham mưu thông báo phái đoàn ta đã lên đường đi Hội nghị Paris,
Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho sư đoàn tổ chức đánh địch quyết liệt, phát huy hết hoả lực, không
hạn chế số lượng đạn, giáng cho địch những đòn đau hơn, giành thắng lợi to lớn hơn. Bộ tư lệnh Quân
chủng còn phân công Phó tư lệnh Quân chủng Nguyễn Quáng Bích xuống trực tiếp chỉ đạo sư đoàn
chiến đấu.

Được lệnh Quân chủng, sư đoàn tổ chức cho các tiểu đoàn 57, 59, 71, 77 về vị trí mới
nhằm tập trung hoả lực đánh địch trên hướng tây bắc và tổ chức chuẩn bị tiếp nhận đạn tên lừa từ Khu
4 chuyển ra. Tiểu đoàn 57, 77 đang chuẩn bị cơ động thì bị địch đánh vào trận địa hỏng khí tài phải
đưa về trận địa dự bị khôi phục sức chiến đấu. Tiểu đoàn 76 sửa chữa khôi phục khí tài chưa xong.
Như vậy các tiểu đoàn 57, 59, 71, 77, 76 không sẵn sàng chiến đấu trong đêm 28. Lực lượng tên lừa
của sư đoàn chỉ còn các tiểu đoàn là 93, 94, 87, 88, 78, 79, 72 sẵn sàng chiến đấu.

Từ 21 giờ 40 phút đến 22 giờ 45 phút đêm 28, địch sử dụng 120 lần chiếc trong đó có 60
chiếc B52 vào đánh khu vực Đông Anh, Đa Phúc, cầu Đuống, Yên Viên, Gia Lâm và Đồng Mỏ; đồng
thời sử dụng một số tốp F111 đánh một số trận địa tên lửa phòng không. Phát huy chiến thắng đêm 27,
21 giờ 41 phút đêm 28, Vũ Xuân Thiều đã được lệnh lái máy bay Mích.21 cất cánh từ sân bay Cẩm
Thuỷ lên bắn rơi một chiếc B52 ở khu vực biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Sơn La. Ngay chập tối, tiểu
đoàn 94 ở trận địa T.S bị máy bay F111 đánh hỏng khí tài, bảy chiến sĩ hy sinh, năm đồng chí khác bị
thương.

Phát huy chiến thắng các đêm trước, bốn tiểu đoàn 78, 79, 87, 88 đã liên tiếp phóng tám
quả đạn vào các tốp B52. Tiểu đoàn 78 được công nhận bắn rơi một chiếc B52. Do lực lượng bố trí ở
vòng trong chỉ có hai tiểu đoàn (93, 76) lại bắn ít đạn, hiệu quà chiến đấu thấp, không thực hiện được
ý định đánh thắng lớn của cấp trên trong những trận kết thúc chiến dịch phòng không.

Từ 22 giờ 34 phút đến 24 giờ đêm 29 địch sử dụng 192 lần chiếc vào đánh các khu vực
Thái Nguyên, Đồng Mỏ, Xuân Hoà, đồng thời tiếp tục sử dụng các tốp máy bay F111 vào đánh các
trận địa tên lửa của ta. Đây là cố gắng cuối cùng của địch trong chiến dịch " Linerbacker II". Rút kinh
nghiệm trận đánh đêm 28, Bộ tư lệnh sư đoàn đã tổ chức theo dõi và nắm chắc địch, giao nhiệm vụ
đánh địch cụ thể cho các đơn vị. Khi một số tốp B52 vào đánh Thái Nguyên, được lệnh của sư đoàn,
hai tiểu đoàn 78, 79 đã phóng bốn quả đạn vào một tốp, bắn rơi một chiếc B52. Đây là chiếc máy bay
B52 cuối cùng bị bộ đội tên lửa của sư đoàn bắn rơi trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm
1972.

Mặc dù đã cố gắng cao nhất, nhưng do bị tổn thất nặng nề về máy bay, nhất là máy bay
B52 và giặc lái, trước sự phản đối ngày càng mạnh mẽ của dư luận trên thế giới, Mỹ không thể kéo
dài hơn nữa cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận. 7 giờ
30 phút ngày 30 tháng 12 năm 1972, tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20
trở ra và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta tại Paris để bàn việc ký kết hiệp định. Cuộc tập kích
đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã bị
thất bại hoàn toàn. Đó là một trong những thất bại lớn nhất của Mỹ từ trước tới nay ở Việt nam và trên
thế giới.

Trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ vào
Hà nội, Hải Phòng và các vùng phụ cận cuối tháng 12 năm 1972, không quân địch đã xuất kích 4.547
lần chiếc máy bay, bao gồm 663 lần chiếc B52, 1.459 lần chiếc máy bay không quân chiến thuật,
2.115 lần chiếc máy bay hải quân… Ngày xuất kích nhiều nhất của địch lên tới 415 lần chiếc, trung
bình từ 350 đến 400 lần chiếc. Ngày sử dụng B52 nhiều nhất tới 105 lần chiếc, trung bình từ 54 đến
60 lần chiếc. Riêng ở khu vực Hà nội địch đã sử dụng 444 lần chiếc B52, chiếm 60 phần trăm tổng số
lần xuất kích của B52 và hơn 1.000 lần chiếc máy bay chiến thuật các loại. Tất cả các trận tập kích
đường không của địch vào khu vực Hà nội đều được tổ chức chặt chẽ, sừ dụng đến mức cao nhất các
phương tiện chiến tranh điện tử, vũ khí công nghệ cao với các thủ đoạn xảo quyệt và tàn bạo nhất.
Địch hy vọng sẽ làm tê liệt các lực lượng phòng không của ta để thực hiện được những âm mưu chiến
lược của chúng.

Quán triệt sâu sắc quyết tâm chiến lược của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được sự chỉ
đạo của Bộ Tổng tư lệnh, các lực lượng phòng không ba thứ quân trong đó Quân chủng phòng không
- không quân làm nòng cốt đã tiến hành chiến dịch phòng không đánh bại chiến dịch tập kích đường
không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà nội, Hải Phòng. Trong chiến dịch phòng
không đó, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay địch trong đó có 34 B52, 5 F111, 21 F4, 12 A7, 1
F105, 4 A6, 2 RA5-C, 1 máy bay lên thẳng HH.53, 1 máy bay trinh sát không người lái 147-J, tiêu
diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ.

Trong quá trình tiến hành chiến dịch phòng không bảo vệ Hà nội, sư đoàn phòng không
361 là lực lượng nòng cốt trong các lực lượng phòng không ba thứ quân ở thủ đô đã bắn rơi 25 máy
bay B52, có 16 chiếc rơi tại chỗ và chín chiếc máy bay chiến thuật, có hai chiếc rơi tại chỗ. Chiến
thắng to lớn trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972 của quân và dân ta mà nòng cốt là
quân và dân Hà nội là thắng lợi to lớn nhất trong cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không trên miền
Bắc, quật một đòn trời giáng vào con chủ bài loại một trong sức mạnh "răn đe" của "học thuyết
Nixon", giành thắng lợi chính trị, quân sự và tâm lý hết sức to lớn.

Về chính trị, chiến thắng oanh liệt trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng
12 năm 1972 đã làm thất bại hoàn toàn âm mưu chiến lược của Mỹ là làm cho "Hà nội, Hải Phòng trở
lại thời kỳ đồ đá", gây hoang mang khủng khiếp trong nhân dân ta, hòng gây sức ép tối đa buộc ta
phải chấp nhận các điều khoản - giải quyết chiến tranh có lợi cho chúng. Các thống kê cho thấy: trong
12 ngày đêm tiến hành chiến dịch "Linerbacker II", không quân Mỹ đã "rải thảm" xuống Hà nội, Hải
Phổng và một số nơi khác trên miền Bắc khoảng 10 vạn tấn bom, có đương lượng bằng năm quả bom
nguyên tử ném xuống Hi-rô-si-ma trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ngoài việc phá hoại hàng trăm
cơ sở kinh tế, quân sự, giao thông… chúng còn ném bom vào các khu dân cư, giết hại 4.025 dân
thường, làm bị thương 3.327 người, phá huỷ hoàn toàn 5.480 ngôi nhà, phá hỏng nặng 4.917 ngôi nhà
khác. Riêng ở khu vực Hà nội, chúng đã ném khoảng 4 vạn tấn bom giết chết 2.380 người, làm bị
thương 1.355 người, phá huỷ 22 trường học, ba bệnh viện, một số rạp hát, chùa chiền, di tích bảo
tồn…

Quán triệt sâu sắc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Hà nội, Hải Phòng và một số
thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn
độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp
hơn", với truyền thống quật cường của dân tộc anh hùng, quân và dân ta đã phát huy cao độ sức mạnh
tổng hợp của chiến tranh nhân dân đất đối không, vừa thực hành thắng lợi chiến dịch phòng không,
vừa thực hiện sơ tán, phòng tránh tốt, hạn chế đến mức thấp sự thiệt hại về người và của. Chính vì
vậy, ta đã vượt qua được thử thách quyết liệt nhất và buộc địch phải trở lại bàn hội nghị, ký kết hiệp
định đã thoả thuận vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Trên cơ sở ký kết đó, Mỹ đã phải tuyên bố ngừng
ném bom hoàn toàn và vô điều kiện trên miền Bắc nước ta, rút toàn bộ quân Mỹ về nước, tạo nên thế
và lực vô cửng thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta và làm tiền đề
cho việc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc sau này. Bình luận về các cuộc ném bom của B52
vào Hà nội, tờ Thời báo Niu Oóc nhận xét: "Trong hành động này, nước Mỹ có nguy cơ trở thành dã
man, quay trở lại thời kỳ đồ đá, làm cho cà nền văn minh Mỹ sụp đổ". Phóng viên Mỹ Rai-bâu sau khi
đến Việt nam năm 1972 về đã viết trên báo Mỹ Tin nhanh: "… Những trận mưa bom hiện thời có lẽ
đã tiêu diệt một dân tộc khác, thì trái lại nó làm cho người Việt nam đứng vững, đồng thời làm nảy nở
những đức tính tốt đẹp nhất của con người". Cũng với quan điểm như vậy, dư luận thế giới đã coi Hà
nội là thủ đô của phẩm giá con người".
Về quân sự, trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, ta đã tiến hành chiến dịch phòng
không đạt mức tiêu diệt máy bay chiến lược hiện đại của địch cao nhất, oanh liệt nhất, đạt hiệu lực
chiến lược lớn nhất trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc nước
ta. Đó là chiến dịch tiêu diệt lớn máy bay chiến lược B52 của đế quốc Mỹ đầu tiên trên thế giới. Nghệ
thuật tiến hành chiến dịch phòng không 12 ngày đêm thể hiện rõ trong việc nhận định âm mưu, thủ
đoạn địch của các cấp chiến lược, chiến dịch, quá trình chuẩn bị chiến dịch bài bản, công phu, phát
huy cao độ sức mạnh tồng hợp của các lực lượng và phương tiện trong cuộc chiến tranh nhân dân đất
đối không; xác định rõ thời cơ chiến dịch, đối tượng tác chiến chủ yếu của chiến dịch, địa bàn chủ yếu
và những trận then chốt vào thời điểm quyết định của chiến dịch… Điều nổi bật nhất của nghệ thuật
chiến dịch là tạ đã thực hành thắng lợi chiến dịch phòng không trong điều kiện lực lượng của ta ít mà
tinh đánh thắng kẻ địch nhiều và mạnh, có trang bị kỹ thuật, vũ khí công nghệ cao, có điều kiện tiến
hành chiến tranh điện tử hiện đại và có nhiều thủ đoạn chiến thuật tinh vi, xảo quyệt. Chính vì vậy, chỉ
với các lực lượng phòng không hiện có, trong đó tên lửa là lực lượng chủ yếu để đánh B52 trong
chiến dịch phòng không bảo vệ Hà nội, ta đã bắn rơi 25 máy bay B52 trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ,
tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Số lượng 20 phần trăm máy bay B52 của Mỹ bị bộ đội phòng
không Hà nội bắn rơi là đòn tiêu diệt nặng nề nhất trong lịch sử xây dựng và xâm lược của lực lượng
không quân chiến lược Mỹ. Theo cách nói bóng bẩy của các quan sát viên Mỹ và phương Tây thì "toạ
độ lửa" của Hà nội những đêm vừa qua là "lò sát sinh" B52 và giặc lái "siêu pháo đài bay" Mỹ. Đến
nỗi có người còn ước tính nếu cứ cái đà tổn thất này thì chỉ ba tháng nữa B52 bị "diệt chủng", tức là
hết sạch máy bay B52 của toàn nước Mỹ. Như vậy, sư đoàn phòng không Hà nội, lực lượng nòng cốt
của các lực lượng phòng không bảo vệ Thủ đô trong chiến dịch phòng không cuối năm 1972 chẳng
những đã thực hành tốt nhiệm vụ chiến dịch mà còn thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chiến thuật và chiến
đấu để bảo vệ mục tiêu chiến lược số một của đất nước. Tướng Gioóc-giơ Gia-đa, phó tham mưu
trưởng phụ trách kế hoạch và tác chiến của không quân Mỹ đã phải thừa nhận: "Bắc Việt nam đã phát
triển được lực lượng phòng không giàu kinh nghiệm nhất thế giới. Rõ ràng họ có nhiều kinh nghiệm
hơn bất kỳ lực lượng nào trong việc phóng tên lửa đất đối không để hạ máy bay… Họ đã phát triển
được lực lượng phòng không dày đặc và chiến đấu có hiệu quà không kém hệ thống phòng không của
bất kỳ nước nào" (Trích tạp chí Sức mạnh không quân (Air Force) tháng 6 năm 1973, tr.37).

Thắng lợi của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ
mà đỉnh cao là chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà nội trước hết là thắng lợi về
đánh giá đúng âm mưu địch, về tổ chức chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và đạc biệt là thắng lợi về nghệ
thuật phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng phòng không ba thứ quân, của quân và dân Hà
nội, trong đó sư đoàn phòng không 361 là lực lượng nòng cốt. Đó còn là thắng lợi của sự kết hợp chặt
chẽ giữa lực lượng phòng không chủ lực với hệ thống phòng không dân quân tự vệ, giữa đánh địch
giỏi với công tác bảo đảm, phục vụ chiến đấu và sơ tán phòng tránh tốt. Thắng lợi đó còn là sự phát
huy thế mạnh của Thủ đô được Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ tư
lệnh Phòng không - không quân và thành phố Hà nội trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy, giúp đỡ vô cùng to lớn
và quý báu. Cả nước vì Thủ đô, Thủ đô vì cả nước là mối quan hệ máu thịt, là truyền thống và là yếu
tố cực kỳ quan trọng dẫn đến thắng lợi, đặc biệt là quân và dân các tỉnh kế cận đã đồng tâm hiệp lực
với Hà nội đánh bại sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của không lực Hoa Kỳ" tạo nên "Điện Biên
Phủ trên không" lịch sử.

Trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972 các lực lượng phòng không của sư
đoàn mà lực lượng chủ yếu là bộ đội tên lửa đã lập công xuất sắc, xứng đáng là binh chủng Anh hùng,
sư đoàn Anh hùng mà Nhà nước đã tuyên dương vào ngày 11 tháng 1 năm 1973. Kế thừa truyền thống
anh hùng của cha ông ta đánh giặc, giữ nước và truyền thống vẻ vang của bộ đội phòng không trong
chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, bộ đội tên lừa phòng không đã vượt qua những thử thách quyết
liệt không ngừng xây dựng, trưởng thành và giành thắng lợi ngày càng to lớn trong sự nghiệp chống
Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Bộ đội tên lửa phòng không của sư đoàn còn được tiếp thu những
bài học quý báu của các trung đoàn tên lửa 238, 236, 275, 268… trong quá trình đánh máy bay B52 ở
phía nam Quân khu 4, không ngừng học tập, rèn luyện và vận dụng để nâng cao bản lĩnh chiến đấu.
Vì vậy, bộ đội tên lửa của sư đoàn là lực lượng nòng cốt trong "chiến dịch Điện Biên Phủ trên không",
thực hành nhiều trận đánh tiêu diệt B52 xuất sắc, lập nên kỳ tích mang tầm vóc lịch sử của thời đại.
Tiểu đoàn 77 trung đoàn tên lửa 257 với tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm, ngoan cường đã phát
hiện sớm những chỗ yếu của địch, vận dụng cách đánh có hiệu quà, là một trong những tiểu đoàn tên
lửa bắn rơi nhiều B52 nhất. Tiểu đoàn đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân và được tặng thưởng huân chương Quân công hạng nhất. Tiểu đoàn 78
trung đoàn tên lửa 257, tiểu đoàn 57 trưng đoàn tên lửa 261 cũng được tặng thưởng huân chương
Quân công hạng nhất. Các tiểu đoàn 59, 93 trung đoàn tên lửa 261 được tặng thướng huân chương
Quân công hạng ba. Các tiểu đoàn 79, 80 trung đoàn tên lửa 257 và các tiểu đoàn 94, 95 trung đoàn
tên lửa 261 được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất. Tiểu đoàn 76 trung đoàn tên lửa
257 và tiểu đoàn 72 trung đoàn tên lửa 285 (phối thuộc chiến đấu với sư đoàn) được tặng bức trướng
thêu dòng chữ "Bắn rơi tại chỗ B52 ở Hà nội". Nổi bật trong các đơn vị tên lừa có rất nhiều cán bộ,
chiến sĩ đã nêu cao trách nhiệm chính trị, nắm chắc khoa học, kỹ thuật quân sự, dày công rèn luyện,
chiến đấu dũng cảm mưu trí, linh hoạt, sáng tạo và lập chiến công xuất sắc. Đó là tiểu đoàn trưởng
tiểu đoàn 57 Nguyễn Văn Phiệt được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân; tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 77 Đinh Thế Văn, sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dực được
tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất.

Bộ đội pháo phòng không của sư đoàn la lực lượng đông đảo trong chiến dịch phòng
không vừa làm nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, trực tiếp đánh địch bảo vệ các tiểu đoàn tên
lửa vừa trực tiếp tham gia đánh máy bay B52. Các đơn vị pháo phòng không đã nêu cao trách nhiệm
chính trị, chiến đấu quyết liệt, dũng cảm, đã bắn 858 lần đại đội, có 186 lần bắn bảo vệ mục tiêu, 215
lần bắn B52, 359 lần bắn máy bay cường kích F111 và 41 lần bắn bảo vệ tên lửa… bắn rơi chín máy
bay địch, có hai chiếc rơi tại chỗ. Hai đại đội thuộc hai trung đoàn pháo phòng không 212 và 220
được tặng bức trướng "Bắn rơi tại chỗ máy bay Mỹ".

Cùng tham gia chiến đấu lập công chung còn có hàng nghìn cán bộ chiến sĩ ở cơ quan và
các đơn vị bảo đảm chiến đấu. Họ đã không quản ngày đêm bám sở chỉ huy, bám đơn vị làm tham
mưu đắc lực cho Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn nghiên cứu nắm vững tình hình để lãnh đạo chỉ huy
bộ đội xây dựng đơn vị, tổ chức đánh địch hoặc trực tiếp gián tiếp bảo đảm phục vụ chiến đấu. Nổi
bật trong những tập thể ấy là trưởng ban tác huấn Hoàng Bảo, đại đội trưởng đại đội thông tin Dương
Minh Hòe và chiến sĩ gái thông tin Thân Thị Dinh. Cả ba đồng chí đều được tặng thưởng huân
chương Chiến công hạng ba.

Toàn thể cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn không bao giờ quên sự quan tâm, chỉ đạo và giúp
đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan cấp trên mà thường xuyên và trực tiếp là
Đảng uỷ, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân chủng, sư đoàn bạn, sự quan tâm động viên, giúp đỡ to lớn
vô cùng quý báu của quân và dân cả nước đặc biệt là quân dân thủ đô Hà nội. Đó là những yếu tố hết
sức quan trọng tạo thành nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ giúp đỡ và động viên sư đoàn hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12 năm 1972.

Chương 6: (1973 - 1985)
Ngày 27 tháng 1 năm 1973 Hiệp định Paris về Việt nam được ký kết. Chiến tranh đã chấm
dứt, hoà bình được lập lại Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được
những thắng lợi hết sức to lớn. Quân chủng phòng không - không quân nói chung và sư đoàn phòng
không 361 nói riêng vừa xây dựng vừa chiến đấu đã nhanh chóng trưởng thành và hoàn thành nhiệm
vụ rất vẻ vang. Đặc biệt, ở giai đoạn cuối của chiến tranh sư đoàn phòng không 361 đã có vai trò to
lớn trong cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược
bàng máy bay B52 vào Hà nội bảo vệ Thủ đô. Tuy nhiên, hoà bình chưa được củng cố. Ở miền Nam
mặc dù phải rút hết quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố, tăng cường viện trợ cho nguỵ
quân, nguỵ quyền Sài Gòn, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở vịnh Bắc Bộ chúng vẫn duy trì lực lượng
của hạm đội 7. Đối với miền Bấc, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay không người lái và có người lái (loại
tầng cao SR.71) vào trinh sát Hà nội và các vùng phụ cận. Do vậy, các lực lượng phòng không -
không quân vẫn phải hết sức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu đập tan mọi hành động phiêu lưu, khiêu
khích phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai. Sư đoàn phòng không 361 ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu
đánh bại các cuộc tập kích đường không bảo vệ Hà nội, đồng thời phải đẩy mạnh xây dựng đơn vị
theo phương hướng chính quy hiện đại, nhất là rèn luyện kỷ luật tác phong, nâng cao chất lượng bộ
đội về mọi mặt.

Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, làm nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu, tư tưởng của cán bộ chiến sĩ có nhiều diễn biến phức tạp. Phần lớn cán bộ chiến sĩ của sư
đoàn vẫn xác định được nhiệm vụ nhưng số ít đồng chí có biểu hiện mệt mỏi muốn nghỉ ngơi, hưởng
thụ. Trước tình hình đó, Đàng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn hướng dẫn các trung đoàn tổ chức một đợt
sinh hoạt chính trị, nhằm giáo dục cho cán bộ chiến sĩ thấy rõ thắng lợi của cách mạng và những âm
mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, trên cơ sở đó xác định nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô cho cán bộ
chiến sĩ trong sư đoàn.

Về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho cơ quan tham mưu xây
dựng lại phương án tác chiến chống không quân địch tập kích bất ngờ. Lực lượng của sư đoàn thời
gian này gồm ba trung đoàn tên lửa, bốn trung đoàn pháo phòng không và hai trung đoàn tên lửa phối
thuộc. Trung đoàn tên lửa 257 ở hữu ngạn sông Hồng, trung đoàn tên lửa 261 ở tả ngạn sông Hồng,
trung đoàn tên lửa 274 bố trì ở phía bắc Hà nội. Hai trung đoàn tên lửa phối thuộc thì trung đoàn 276
ở phía bắc, trung đoàn 277 ở phía nam Hà nội. Về pháo phòng không, trung đoàn 212 và trung đoàn
221 ở khu vực cầu Đuống, Yên Viên. Trung đoàn 220 ở Gia Lâm. Trung đoàn 244 bảo vệ khu nam Hà
nội. Trung đoàn 260 bảo vệ sân bay Nội Bài.

Chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, căn cứ vào tình hình cụ thể của đơn vị, sư
đoàn tổ chức các cơ sở chỉ huy rút gọn và quy định mỗi trung đoàn pháo phòng không thường xuyên
có một đại đội trực ban, mỗi trung đoàn tên lửa có hai tiểu đoàn trực ban1 (Chỉ có Sư đoàn phòng
không 361 có hai tiểu đoàn tên lửa trực ban. Các sư đoàn khác chỉ có một tiểu đoàn tên lửa), các đơn
vị còn lại làm nhiệm vụ huấn luyện và các công tác khác. Sư đoàn chỉ thị cho cơ quan tham mưu và
các trung đoàn thường xuyên theo dõi hoạt động của không quân địch, duy trì chặt chẽ chế độ trực
chiến, giao ban, chế độ báo cáo hàng ngày, giữ vững chế độ kiểm tra báo động chiến đấu. Cơ quan
tham mưu sư đoàn cụ thể hoá những quy định của Quân chủng về chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu
của sở chỉ huy các cấp từ sư đoàn xuống trung đoàn đến các tiểu đoàn tên lửa và đại đội pháo phòng
không. Để đảm bảo thuận tiện cho công tác chỉ huy trong tình hình mới, sau khi báo cáo Quân chủng,
sư đoàn quyết định chuyển sở chỉ huy sư đoàn về Đồi Bò - Vạn Phúc, sở chỉ huy trung đoàn 257 về
Kim Lũ, sở chỉ huy trung đoàn 221 về dốc Vân - cầu Đuống.

Ngày 7 tháng 2 năm 1973, sư đoàn ổ chức hội nghị mừng công. Hơn 200 đại biểu của cơ
quan và đơn vị đã về họp mặt. Đến dự còn có các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng, đại biểu
các cơ quan, đại biểu của Thành uỷ, uỷ ban hành chính, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà nội, Bộ tư
lệnh Thủ đô cùng các cơ quan đơn vị bạn. Trong không khí phấn khởi của những ngày hoà bình đầu
tiên sau chiến thắng điện Biên Phủ trên không", Chính uỷ Quân chủng Hoàng Phương đã long trọng
công bố quyết định của Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà tặng thưởng huân chương Quân
công hạng nhất cho sư đoàn phòng không 361. Đây là phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước
dành cho sư đoàn phòng không 361. Đồng chí Phạm Đăng Ty, Chính uỷ sư đoàn thay mặt cho cán bộ
chiến sĩ sư đoàn đọc diễn văn biểu lộ lòng biết ơn của sư đoàn đối với sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, đồng thời hứa quyết tâm làm tròn nhiệm vụ bào vệ bầu trời Hà nội và các nhiệm vụ đột xuất mà
Đảng và nhân dân giao phó. Ở hội nghị này, Bộ tư lệnh Quân chủng cũng công bố các đơn vị được
Nhà nước tặng thưởng huân chương. Đó là tiểu đoàn tên lửa 57, 77, 78 được tặng thưởng huân
chương Quân công hạng nhất, tiểu đoàn tên lửa 59, 93 được tặng thưởng huân chương Quân công
hạng ba, tiểu đoàn 79, 94, 80, 95 được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất. Cũng trong
hội nghị trọng thể này chín tiểu đoàn tên lừa của sư đoàn được trao tặng bức trướng mang dòng chữ
"Bắn rơi tại chỗ máy bay B52 ở Hà nội" và hai đại đội pháo phòng không được nhận bức trướng "Bắn
rơi tại chỗ máy bay Mỹ".

Cán bộ, chiến sĩ toàn sư đoàn hết sức phấn khởi chào đón những thành tích đã đạt được sau
cuộc chiến đấu gian khổ ác liệt đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ bảo vệ thủ đô
Hà nội.

Đầu năm 1973, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức tổng kết kinh nghiệm chiến đấu trong chiến
dịch phòng không tháng 12 năm 1972. Những kinh nghiệm nóng hổi đánh B52 của các tiểu đoàn tên
lửa được phổ biến và vận dụng vào nội dung huấn luyện của các kíp trắc thủ. Kinh nghiệm đánh máy
bay F111 bay thấp được phổ biến và huấn luyện cho các đại đội pháo phòng không.
Năm 1973, tổ chức biên chế của các trung đoàn tên lửa, trung đoàn pháo phòng không có
biến động lớn. Nhiều cán bộ có trình độ chỉ huy được cử đi học, cán bộ sơ cấp ở cơ sở hầu hết mới
được đề bạt. Trình độ chỉ huy, trình độ tổ chức quản lý của cán bộ các cấp còn nhiều mặt yếu. Trước
tình hình đó, sư đoàn đã mở nhiều lớp tấp huấn bồi dưỡng cán bộ tiểu đoàn tên lửa, đại đội pháo
phòng không. Công tác huấn luyện được sư đoàn tổ chức chu đáo chặt chẽ. Các trung đoàn giữ
nghiêm chế độ huấn luyện đúng phương hướng chỉ đạo của Quân chủng. Hầu hết các đơn vị trong sư
đoàn đều đảm bào đủ thời gian huấn luyện và quân số quy định. Được sự đồng ý của Quân chủng, sư
đoàn quyết định chuyển trung đoàn 221 thành trung đoàn huấn luyện. Mỗi trung đoàn (220, 212, 260)
đều tổ chức một đại đội pháo 57 mm làm khung huấn luyện.

Ngày 9 tháng 5 năm 1973 Quân chủng giao nhiệm vụ cho sư đoàn phòng không 361 thành
lập đoàn 61 làm nhiệm vụ chuyển giao pháo 37 mm chi viện cho Quân đội nhân dân Lào. Sau khi
nhận nhiệm vụ, sư đoàn đã tổ chức cho tiểu đoàn 20, trung đoàn 244 sử dụng 24 xe kéo 24 khẩu pháo
37 hành quân sang Lào. Mặc dù hành quân dài ngày qua nhiều địa hình phức tạp nhưng do chỉ huy
chặt chẽ, kế hoạch tỉ mỉ chu đáo nên đoàn 61 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Để bảo quản tốt vũ khí khí tài sau tám năm chiến đấu liên tục, sư đoàn điều đại đội 18
trung đoàn 260 về thành lập đại đội bảo quản trực thuộc phòng kỹ thuật sư đoàn, đại đội 14 của trung
đoàn 260 về thành lập đại đội công binh trực thuộc phòng tham mưu. Đồng thời sư đoàn chỉ thị cho
các trung đoàn làm nhiệm vụ điểm nghiệm toàn bộ trang bị vũ khí, đánh giá phân loại chất lượng vũ
khí. Phòng kỹ thuật sư đoàn lên kế hoạch tổng thể để hiệu chỉnh sửa chữa tại chỗ hoặc đưa đi trung
đại tu tại các xưởng của Quân chủng hoặc nhà máy của Tổng cục. Được sự chi viện của xưởng A31
thuộc Cục Kỹ thuật, phòng kỹ thuật sư đoàn đã chỉ đạo các trung đoàn tên lửa thực hiện nghiêm chỉnh
chế độ làm định kỳ tháng, mùa, năm, nhằm kéo dài tuổi thọ của khí tài. Cuối năm 1973 một khối
lượng đáng kể các phụ tùng vũ khí, xe hỏng nằm rải rác ở các nơi trên địa bàn cơ động của sư đoàn đã
được thu hồi, phân loại và cẩu kéo về tập trung tại kho và trạm sửa chữa của sư đoàn. Sau khi Hiệp
định Paris về Việt nam được ký kết, sư đoàn khẩn trương củng cố và xây dựng lại hệ thống doanh trại,
tổ chức nơi ăn ở sinh hoạt cho bộ đội. Phòng hậu cần sư đoàn làm kế hoạch phân phối xăng dầu cho
các trung đoàn để làm nhiệm vụ khai thác vật liệu. Các trung đoàn, trừ phân đội làm nhiệm vụ trực
chiến và huấn luyện, còn lại đều tồ chức bộ đội lên rừng khai thác tre nứa về xây dựng doanh trại. Các
đơn vị triển khai gấp trong ba tháng đã cơ bản hoàn thành hệ thống doanh trại xây nhà cấp 4, lợp bằng
tranh tre nứa lá đưa bộ đội vê doanh trại trước khi bước vào mùa mưa.

Cuối năm 1973, Đại hồi đại biểu Đàng bộ sư đoàn lần thứ tư được triệu tập. Sau ba ngày
làm việc, Đại hội đã thành công tốt đẹp. Đồng chí Phạm Đăng Ty được bầu làm Bí thư Đảng uỷ sư
đoàn.

Thực hiện nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam, chấp hành lệnh của Quân chủng,
sư đoàn phòng không 361 điều động cán bộ chiến sĩ gồm cán bộ chỉ huy, lái xe, nhân viên kỹ thuật,
trắc thủ, pháo thủ vào miền Nam chiến đấu. Tính riêng năm 1974, quân số của sư đoàn được huy uống
lên tới 158 người. Cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn được nhận nhiệm vụ đều hăng hái phấn khởi lên
đường. Ngoài việc bổ sung quân số, Bộ tư lệnh sư đoàn còn chỉ đạo cho phòng kỹ thuật sứa chửa hiệu
chỉnh tốt vũ khí, khí tài bổ sung cho các đơn vị đi chiến trường. Trong năm 1974, sư đoàn đã bàn giao
cho các đơn vị bạn 18 khẩu pháo 57 mm, 12 pháo 37 mm, 48 xe đại xa, bốn bộ khí tài pháo 57 mm.

Giữa năm 1974, biên chế tổ chức của sư đoàn tiếp tục biến động. Theo lệnh của Quân
chủng, sư đoàn bàn giao trung đoàn tên lửa 274 gồm bốn tiểu đoàn hoả lực, một tiểu đoàn kỹ thuật
cho sư đoàn phòng không 367. Đồng thời sư đoàn cũng tiếp nhận hai bộ khí tài tên lửa BA-70 của hai
trung đoàn tên lửa 236 và 276 gồm 12 tiểu đoàn hoả lực và hai tiểu đoàn kỹ thuật. Cũng trong năm
1974 sư đoàn còn tiếp nhận tiểu đoàn tên lửa A72 (tiểu đoàn 96) của sư đoàn phòng không 367 bàn
giao gồm một tiểu đoàn bộ và bốn đại đội.

Đầu năm 1975, tình hình cách mạng miền Nam phát triển rất khẩn trương. Thời cơ giải
phóng miền Nam, thống nhất Tố quốc đang tới gần. Đông xuân 1974 - 1975 sư đoàn được giao nhiệm
vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là bảo vệ yếu địa Hà nội.
Đồng thời sẵn sàng lên đường tham gia giải phóng miền Nam với phương châm: "Đi gọn, đến đủ,
đúng thời gian, đảm bảo bí mật an toàn, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ vùng giải phóng; phải tham gia tiến
công tiêu diệt địch và tiếp thu các cơ sở mới được giải phóng cấp trên giao cho"2(Nghị quyết Đảng uỷ
sư đoàn phòng không 361 - Hồ sơ lưu trữ Quân chủng năm 1975).

Lực lượng của sư đoàn phòng không 361 ở thời điểm này gồm năm trung đoàn tên lửa:
257, 261, 277, 236, 276 (mỗi trung đoàn tên lửa CA-75 gồm bốn tiểu đoàn hoả lực, một tiểu đoàn kỹ
thuật. Riêng hai trung đoàn tên lửa 236, 276 trang bị loại C.125, mỗi trung đoàn có sáu tiểu đoàn hoả
lực, một tiểu đoàn kỹ thuật). Lực lượng pháo phòng không của sư đoàn có sáu trung đoàn (237, 260,
212, 220, 244 và trung đoàn 248 trang bị pháo 57 mm, 37 mm và 23 mm (Trung đoàn 237 trang bị
pháo 3 Cy-23 mm).

Tháng 8 năm 1975, Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho sư đoàn 361 tổ chức hai
khối tên lửa và pháo phòng không tham gia duyệt binh ngày 2 tháng 9. Nhanh chóng chấp hành mệnh
lệnh, sư đoàn điều động hai khối vũ khí mới gồm 16 tên lửa C.125 của trung đoàn 236 và 16 khẩu
pháo 3Cy-23 mm của trung đoàn 237 thực hiện nhiệm vụ. Mặc dù thời gian rất ngắn nhưng cán bộ,
chiến sĩ của hai trung đoàn 236 và 237 đã tích cực huấn luyện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Vừa ổn định tổ chức, vừa bảo đảm công tác trực ban sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn vẫn duy
trì chặt chẽ việc thực hiện các kế hoạch huấn luyện. Trong năm 1975 sư đoàn đã mở 180 lớp bồi
dưỡng cán bộ và kỹ thuật viên, 12 lớp trắc thủ, 11 lớp cán bộ pháo phòng không; các trung đoàn đã tổ
chức tập huấn 1.899 lượt cán bộ. Nhờ những lớp tập huấn ngắn ngày nội dung sát với từng đối tượng,
trình độ chỉ huy, trình độ quản lý của cán bộ các cấp đã tiến bộ; trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ
đội đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà nội.

Để đánh giá kết quả huấn luyện, được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức bắn
thử loại tên lửa mới "BA-70". Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Hoàng Văn Thái, Thiếu
tướng Trần Sâm cùng các đồng chí trong Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không
quân trực tiếp đến trường bắn theo dõi trung đoàn tên lửa 236 diễn tập bắn đạn thật. Ba tiểu đoàn 61,
62, 177 đã lần lượt bắn trúng mục tiêu.
Trong không khí phấn khởi kết thúc mùa huấn luyện 1975 và chuẩn bị đón xuân Bính Thìn,
ngày 15 tháng 1 năm 1976 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ký quyết định tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho sư đoàn phòng không 361. Ngày 16 tháng 1
năm 1976 báo Quân đội nhân dân và đài Tiếng nói Việt nam đều đưa tin và bản tuyên dương công
trạng của Nhà nước đối với sư đoàn phòng không Hà nội: "Trải qua 11 năm xây dựng và chiến đấu,
làm nhiệm vụ bảo vệ thủ đô Hà nội và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc, sư đoàn đã vượt qua
nhiều khó khăn thử thách, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, sư đoàn đã hoàn thành tốt
nhiệm vụ bắn rơi 591 máy bay Mỹ các loại, trong đó có 35 máy bay B52". Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, tiêu biểu cho tinh thần quyết chiến, quyết thắng của sư đoàn là các đơn vị Anh
hùng và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là trung đoàn tên lửa 236, các tiểu đoàn 61, tiểu
đoàn 64 thuộc trung đoàn 236, tiểu đoàn 77 tên lửa thuộc trung đoàn 257, đại đội 1 của trung đoàn
pháo phòng không 234. Đó là các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Nguyễn Tuyên, Phạm
Trương Uy, Nguyễn Xuân Đài, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Văn Phiệt. Những tập thể và cá nhân anh
hùng đã tô thắm thêm lịch sử vẻ vang và truyền thống tốt đẹp của sư đoàn phòng không 361 anh hùng.
Phấn khởi và tự hào về những thành tích và sự cống hiến của sư đoàn phòng không 361 cho sự nghiệp
chống Mỹ cứu nước, cán bộ chiến sĩ sư đoàn càng ý thức được trách nhiệm lớn lao đối với sự nghiệp
bảo vệ bầu trời thủ đô Hà nội trong giai đoạn mới của cách mạng.

Sau khi thống nhất đất nước, thế trận phòng không trên các khu vực được thiết lập lại.
Nhiệm vụ của sư đoàn phòng không Hà nội được Quân chủng xác định: "Thường xuyên sẵn sàng
chiến đấu và bảo quản, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng quân đội tiến lên chính quy,
hiện đại, tích cực lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, khắc phục những khó khăn sau chiến tranh và
sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ quốc tế". Thực hiện chỉ thị của Quân chủng, sư đoàn tổ chức rút gọn các
đầu mối đơn vị. Bốn trung đoàn tên lửa, mỗi trung đoàn chỉ bố trí hai tiểu đoàn hoả lực, một tiểu đoàn
kỹ thuật (một dây chuyền sản xuất đạn), còn lại chuyển sang làm nhiệm vụ bảo quản. Các trung đoàn
pháo phòng không cũng rút bớt quân số và làm nhiệm vụ bảo quản. Trung đoàn 212 chuyển về trực
thuộc Cục Hậu cần tham gia làm kinh tế, trung đoàn 220 chuyển thành khung của trường nghiệp vụ
Cục Hậu cần.

Ngày 16 tháng 5 năm 1977 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ký sắc lệnh
số 34-LCT tách Quân chủng phòng không - không quân thành quân chủng phòng không và Quân
không Không quân. Sư đoàn phòng không 361 thuộc Quân chủng phòng không. Nhiệm vụ của sư
đoàn là tiếp tục bảo vệ Hà nội. Đồng chí Nguyễn Sinh Huy làm sư đoàn trưởng, đồng chí Hoàng
Khoát làm chính uỷ. Tổ chức biên chế của sư đoàn tiếp tục biến động. Trong kế hoạch xây dựng Quân
chủng ba năm (từ 1978 đến 1980), nhiệm vụ của sư đoàn được xác đinh: tập trung xây dựng nền nếp
sẵn sàng chiến đấu, chấp hành điều lệnh, rèn luỵ.ện kỷ luật, nhanh chóng xây dựng kho tàng, đưa vũ
khí, khí tài, đạn tên lửa vào bảo quản lâu dài.

Ngày 3 tháng 10 năm 1977, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định sử dụng trung đoàn 22 1
làm trung tâm huấn luyện tân binh của Quân chủng trực thuộc sư đoàn 361.
Ngày 24 tháng 10 năm 1977, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định tổ chức trung đoàn pháo
phòng không 220 kết hợp với tiểu đoàn huấn luyện lái xe của Quân chủng thành trường nghiệp vụ hậu
cần phòng không trực thuộc Cục Hậu cần.

Từ cuối năm 1977 đến giữa năm 1978 tình hình biên giới phía Tây Nam và biên giới phía
Bắc ngày càng căng thẳng, có nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh mới. Trước tình hình đó, Bộ
Tổng tham mưu chỉ thị cho Quân chủng phòng không chuyển về trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Từ
tháng 6 năm 1978 sư đoàn phòng không 361 đã ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Các trung
đoàn tên lửa được lệnh phá bỏ niêm cất, chuyển toàn bộ vũ khí khí tài sang trạng thái sẵn sàng chiến
đấu. Quân chủng giao nhiệm vụ cho sư đoàn phòng không 361 tiếp nhận tổ chức và xây dựng lực
lượng cho bốn trung đoàn về vị trí sẵn sàng chiến đấu. Tổng số lên tới 67 đầu mối đơn vị, trong đó có
20 tiểu đoàn tên lửa và 12 tiểu đoàn pháo phòng không. Một khối lượng lớn công việc từ tổ chức các
đơn vị, bố trí sắp xếp cán bộ, cấp phát vũ khí khí tài; xây dựng hệ thống trận địa, đảm bảo công tác
hậu cần, công tác kỹ thuật trang bị cho các trung đoàn được sư đoàn mau chóng triển khai.

Ngày 13 tháng 6 năm 1978, Bộ tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho trung đoàn tên lửa 261
đi nhận đạn và triển khai chiến đấu. Ngày 19 tháng 6 năm 19 78, trung đoàn 276 đã triển khai chiến
đấu và xây dựng xong các trận địa phía bắc thành phố Hà nội thành các trận địa cơ bản. Cùng thời
gian này sư đoàn đã chỉ đạo cho các trung đoàn triến khai địa điểm cho các tiểu đoàn kỹ thuật và các
trạm sửa chữa. Toàn sư đoàn đã bỏ ra 4.480 ngày công đào đắp 2.945 mét khối đất đá cho các công
trình này. Sở chỉ huy của bốn trung đoàn được xây dựng cơ bản, trong đó hai sở chỉ huy trung đoàn
236 và 261 được phòng công binh Quân chủng trực tiếp thiết kế và chỉ đạo xây dựng.

Tháng 7 năm 1978 được sự chỉ đạo của Quân chủng, sư đoàn tổ chức diễn tập sẵn sàng
chiến đấu ba cấp với mục đích chuyển toàn bộ sư đoàn vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu và tập dượt
cho cán bộ chỉ huy các cấp quen với các tình huống chiến đấu trước đối tượng tác chiến mới.

Ngày 30 tháng 9 năm 1978, toàn bộ lực lượng chiến đấu của sư đoàn đã ở vị trí sẵn sàng
chiến đấu cao nhất. Công tác đảng - công tác chính trị của sư đoàn tập trung vào nội dung giáo dục
cho bộ dội xác định kẻ thù của dân tộc và đối tượng tác chiến mới của sư đoàn, đồng thời xây dựng
quyết tâm chiến đấu bảo vệ Thủ đô trong bất cứ tình huống chiến tranh nào. Trong tình hình khẩn
trương như vậy, Quân chủng giao nhiệm vụ cho sư đoàn tổ chức ba đại đội có khí tài đồng bộ của
pháo 57 bàn giao cho bạn Lào và Quân khu 9. Sư đoàn đã nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ.

Đồng thời với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, để cải thiện đời sống cho bộ đội, phòng hậu
cần sư đoàn đã chỉ đạo các đơn vị tích cực tăng gia sản xuất. Trong năm 1978 bình quân sản lượng
lương thực, thực phẩm tính theo đầu người là 42 ki-lô-gam lương thực, 17 ki-lô-gam cá thịt, 130 ki-
lô-gam rau xanh.

Để không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, ngày 22 tháng 12
năm 1978 Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương ra nghị quyết mở cuộc vận động lớn
trong toàn quân "Phát huy bàn chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang
nhân dân". Sau khi được quán triệt nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương, đồng chí Hoàng
Khoát, Bí thư Đảng uỷ sư đoàn 361 đã trực tiếp hướng dẫn năm mục tiêu của cuộc vận động cho các
trung đoàn. Các trung đoàn đã triển khai giáo dục hướng dẫn cho cán bộ chiến sĩ trong toàn sư đoàn
tích cực thực hiện các nội dung của cuộc vận động. Toàn sư đoàn sôi nổi hưởng ứng cuộc vận động,
hướng vào nhiệm vụ trung tâm sẵn sàng chiến đấu cao kiên quyết chủ động đánh bại các cuộc tập kích
đường không của kẻ thù bảo vệ thủ đô Hà nội trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.

Mùa xuân năm 1979, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc ở biên giới. Ngày 7 tháng 3 năm 1979 Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị xác định rõ nhiệm vụ đối
với toàn quân trong tình hình mới: tiếp tục và khẩn trương củng cố, phát triển lực lượng, bổ sung
trang bị và dự trữ vật chất kỹ thuật, củng cố quốc phòng trong cả nước, xây dựng thế trận -chiến tranh
nhân dân trên từng địa phương, sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược…".

Chấp hành chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và Đảng uỷ Quân chủng, ngày 14 tháng 3 năm
1979 Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ: "Dốc sức
tranh thủ thời gian nâng cao chất lượng chiến đấu, quyết tâm bắn rơi máy bay địch, bảo vệ vững chắc
Thủ đô, cùng quân và dân cả nước đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của địch". Trong khí
thế chiến đấu chống chiến tranh xâm lược của quân dân các tỉnh biên giới, Bộ tư lệnh sư đoàn tiếp tục
triển khai các công tác chuẩn bị chiến đấu. Được sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương nơi đóng
quân, sư đoàn xây dựng mới năm trận địa tên lửa, bảy trận địa pháo phòng không, củng cố và sửa
chữa hầu hết các trận địa còn lại. Trong năm 1979 toàn sư đoàn đã đào đắp 3.019 công sự cá nhân,
1.130 công sự ba người, 10.607 mét giao thông hào với 32.234 mét khối đất 2.063 mét khối đá, sử
dụng 29.348 công của bộ đội, 14.076 công của dân công. Toàn bộ hệ thống sở chỉ huy của sư đoàn,
trung đoàn đều có vị trí dự bị.

Để đáp ứng với tình hình mới, sư đoàn chủ trương điều chỉnh đội hình chiến đấu. Hai tiểu
đoàn 164, 169 của trung đoàn tên lửa 236 cơ động lên tuyến trước. Các đơn vị gồm đại đội 4 của
trung đoàn pháo phòng không 280, đại đội 32, 33 của trung đoàn pháo phòng không 213 được điều
động lên khu vực gần biên giới phía Bắc. Để thống nhất chỉ huy quàn lý vùng trời và bảo vệ vững
chắc mục tiêu ở khu vực của sư đoàn, từ đầu năm 1979, sư đoàn phòng không 361 tiếp nhận trung
đoàn radar 293 về phối thuộc. (Đến ngày 4 tháng 1 năm 1980, theo Hồ sơ 208 - Lưu tại Quân chủng
phòng không, quyết định số 15/TC của Bộ tư lệnh Quân chủng, trung đoàn 293 mới trực thuộc sư
đoàn). Sư đoàn tổ chức cho các trung đoàn tên lửa, trung đoàn pháo phòng không trực tiếp nhận tình
báo của trung đoàn 293. Cũng thời điểm này, sư đoàn tổ chức hoàn thiện hệ thống vọng quan sát mắt.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng, sư đoàn phòng không 361 liên tục xây dựng lực lượng
bổ sung cho ba sư đoàn phòng không ở tuyến trước.

Song song với các công tác trên, sư đoàn phải tranh thủ mọi thời gian để huấn luyện. Sau
nhiều lần hội thao và kiểm tra, Bộ tư lệnh Quân chủng đánh giá: "Trình độ chung của các trung đoàn
tên lửa, trung đoàn pháo phòng không thuộc sư đoàn 361 đảm bảo đánh được không quân địch ở tình
huống tương đối phức tạp".

Từ ngày 6 đến 18 tháng 5 năm 1979, sư đoàn 361 tiến hành Đại hội Đảng bộ lần thứ năm.
Sau 12 ngày đêm làm việc, Đại hội đã ra nghị quyết, khẳng định phương hướng lãnh đạo sư đoàn
trong nhiệm kỳ tới: "Xây dựng sư đoàn vững mạnh, cơ bản, toàn diện và mẫu mực theo phương
hướng cách mạng, chính quy, hiện đại tinh nhuệ, thiện chiến, có ý chí mạnh, đoàn kết tốt, kỷ luật
nghiêm, phẩm chất trong sáng, tinh thần làm chủ tập thể cao, gắn bó thiết tha yêu mến đơn vị, dũng
cảm chiến đấu, tích cực học tập, cần cù lao động, có năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi, trình độ kỹ thuật
điêu luyện, chiến thuật thành thạo, nghiệp vụ chuyên môn giỏi, quản lý bảo quản tốt. Sử dụng thành
thạo vũ khí trang bị, có đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, giỏi đánh địch trên không, thạo
đánh địch mặt đất, biết đánh hiệp đồng quân binh chủng, đã đánh là thắng, đánh thắng ngay từ trận
đầu, bằng quả đạn đầu, đánh thắng liên tục, đánh tiêu diệt lớn, bảo vệ vững chắc Thủ đô và hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao". Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng uỷ mới của sư đoàn.
Đồng chí Đào Tiến được bầu làm Bí thư Đảng uỷ sư đoàn.

Năm 1980, năm có nhiều ngày kỷ niệm lớn: 50 năm ngày thành lập Đảng, 35 năm ngày
thành lập nước, 90 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 15 năm ngày thành lập sư đoàn. Vừa
duy trì sẵn sàng chiến đấu cao, vừa nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội, nhân dịp các ngày lễ lớn
sư đoàn phát động liên tiếp các đợt thi đua hướng các hoạt động của đơn vị vào hoàn thành nhiệm vụ
chủ yếu của sư đoàn. Trong đợt thi đua lập thành tích chào mừng lần thứ 90 ngày sinh của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, cũng là lần thứ 15 ngày thành lập sư đoàn, phòng chính trị đã hướng dẫn các trung đoàn
tổ chức cho bộ đội học tập các tài liệu về truyền thống của Đảng, thân thế, sự nghiệp, công lao của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành tích 35 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; truyền thống của sư đoàn và
binh chủng tên lửa. Các cán bộ sơ cấp và trung cấp trong sư đoàn đều được học tập về lịch sử Đảng.
Trong đợt 19 tháng 5 và 2 tháng 9 Đảng bộ sư đoàn có năm đảng bộ cơ sở được phát thẻ Đảng là đảng
bộ trung đoàn tên lửa 236, Đảng bộ hai trung đoàn pháo phòng không: 280, 237 và hai Đảng bộ cơ
quan phòng chính trị, phòng tham mưu sư đoàn. Được sự hướng dẫn của Cục Chính trị, sư đoàn chỉ
đạo cho 100 phần trăm các đại đội pháo phòng không, đại đội radar, tiểu đoàn tên lửa xây dựng phòng
"Bác Hồ với bộ đội phòng không".

Năm 1980, các mặt hoạt động của sư đoàn đều chuyển biến tiến bộ. Các chế độ trực ban
sẵn sàng chiến đấu từ sở chỉ huy sư đoàn xuống trung đoàn đến các tiểu đoàn tên lửa, đại đội pháo
phòng không đều được duy trì chặt chẽ nghiêm mật. Qua nhiều lần kiểm tra Bộ tư lệnh sư đoàn đã kết
luận: "Ba trung đoàn tên lửa 236, 276 và 261 có khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong các
tình huống phức tạp. Lực lượng pháo phòng không có trung đoàn 237, có khả năng hoàn thành nhiệm
vụ ở mức độ khá, hai trung đoàn 212, 280 có khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở những tình
huống tương đối phức tạp, trung đoàn 213 hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ trung bình"1 (Hồ sơ số 331
năm 1980, lưu trữ Quân chủng phòng không).

Ngày 31 tháng 10 năm 1980, sau khi hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện chuyển loại ở Sơn
Tây, trung đoàn tên lửa Volga 2772 (Trung đoàn tên lửa 277 thành lập ngày 25 tháng 11 năm 1978)
gồm bốn tiểu đoàn hoả lực và một tiểu đoàn kỹ thuật được điều về sư đoàn 361 nhận nhiệm vụ chiến
đấu. Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo các mặt công tác tác chiến đảm bào hậu cần kỹ thuật cho trung đoàn
277 và bố trí đội hình chiến đấu của sư đoàn.

Chấp hành chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và Đảng uỷ Quân chủng về chế độ một người
chỉ huy, từ cuối năm 1980, sư đoàn tổ chức thực hiện cơ chế mới. Đồng chí Bùi Biếng quyền sư đoàn
trưởng, đồng chí Trần Dinh làm phó sư đoàn trưởng về chính trị, kiêm bí thư Đảng uỷ sư đoàn, đồng
chí Nguyễn Tuyên làm phó sư đoàn trưởng - tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Bắc, phó sư đoàn
trưởng quân sự; đồng chí Nguyễn Ngọc Anh, phó sư đoàn trưởng về kỹ thuật - chủ nhiệm kỹ thuật sư
đoàn; đồng chí Nghiêm Liệu phó sư đoàn trưởng về hậu cần - chủ nhiệm hậu cần sư đoàn. Hệ thống
cán bộ chỉ huy từ các trung đoàn xuống tiểu đoàn tên lửa, đại đội pháo phòng không theo cơ chế một
người chỉ huy được biên chế sắp xếp lại.

Trong khi điều chỉnh đội hình bảo vệ Hà nội, Quân chủng điều hai tiểu đoàn hoả lực của
trung đoàn tên lửa 261 lên bổ sung cho sư đoàn phòng không 377 sẵn sàng chiến đấu ở biên giới.
Cũng thời gian này, Quân chủng quyết định điều trung đoàn tên lửa 276 của sư đoàn phòng không 361
lên sẵn sàng chiến đấu ở biên giới. Sau khi nhận lệnh hai trung đoàn đã nhanh chóng tổ chức hành
quân an toàn, chiếm lĩnh trận địa triển khai sẵn sàng chiến đấu.

Để nâng cao sức chiến đấu của đơn vị, Bộ tư lệnh sư đoàn chú trọng tổ chức thực hiện tốt
nhiệm vụ huấn luyện. Trong năm 1980, sư đoàn phòng không 361 tổ chức cho bốn tiểu đoàn hoả lực
của hai trung đoàn tên lửa 261 và 236 đi bắn đạn thật ở Đồng Châu - Thái Bình. Tiểu đoàn 63 trung
đoàn tên lửa 236 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập bắn đạn thật, tiêu diệt mục tiêu ngay từ
quả đạn đầu. Bộ tư lệnh Quân chủng đã chọn tiểu đoàn 63 là một trong bốn tiểu đoàn bắn báo cáo với
thủ trưởng Bộ quốc phòng. Tiểu đoàn 63 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chấp hành mệnh lệnh huấn luyện chiến đấu của Bộ và Quân chủng, trong các năm 1981,
1982, 1983 sư đoàn phòng không 361 thực hành các cuộc diễn tập lớn. Qua diễn tập, sư đoàn đánh giá
được khả năng tổ chức chỉ huy, khả năng hiệp đồng với Quân chủng Không quân với lực lượng phòng
không của Quân khu Thủ đô. Trên cơ sở đó, sư đoàn hoàn chỉnh lại phương án chiến đấu chống tập
kích đường không của địch vào Hà nội. Cũng qua các cuộc diễn tập lớn này, trình độ chỉ huy của các
cấp từ sư đoàn xuống trung đoàn đến các đơn vị cơ sở đều được nâng lên, trình độ thực hành chiến
đấu của bộ đội đã tiến bộ rõ rệt.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Tổ quốc và thực hiện
những phương hướng xây dựng Quân chủng phòng không cách mạng chính quy, hiện đại, ngày 12
tháng 4 năm 1982 Bộ quốc phòng quyết định nâng trung đoàn tên lửa 236 lên thành lữ đoàn tên lửa
hỗn hợp có trang bị khí tài chỉ huy tự động3 (Đến ngày 22 tháng 12 năm 1982 Quân chủng mới làm lễ
công bố quyết định thành lập lữ đoàn phòng không 236). Đồng chí Vũ Ngọc Diệp làm lữ đoàn trưởng,
đồng chí Ngô Văn Bích làm phó lữ đoàn trưởng về chính trị kiêm bí thư đảng uỷ lữ đoàn. Biên chế
của lữ đoàn 236 gồm tám tiểu đoàn hoả lực, hai tiểu đoàn kỹ thuật, một đại đội thông tin, một trạm
radar cảnh giới, một trạm sở chỉ huy tự động. Cơ quan lữ đoàn bộ gồm các phòng tham mưu, chính
trị, hậu cần, kỹ thuật. Đây là một bước chuyển biến về chất của tổ chức bộ đội phòng không, đánh dấu
một bước phát triển mới trên con đường hiện đại hoá quân đội nói chung và bộ đội phòng không nói
riêng.

Năm 1982, quân và dân ta tiếp tục phải đương đầu với một cuộc chiến tranh phá hoại nhiều
mặt của kẻ thù. Tình hình kinh tế xã hội tiếp tục biến động phức tạp đời sống của người hưởng lương
nói chung và cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn nói riêng tiếp tục gặp nhiêu khó khăn. Sư đoàn phòng
không 361 thực hiện những nhiệm vụ nặng nề trong điều kiện đơn vị tiếp tục biến động về tổ chức,
địa bàn đóng quân cửa sư đoàn trải rộng trên nhiều tỉnh. Trước tình hình đó, Đảng uỷ và chỉ huy sư
đoàn đã tập trung lãnh đạo sư đoàn phòng không 361 nâng cao chất lượng toàn diện. Trình độ sẵn
sàng chiến đấu, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của sư đoàn được nâng lên. Sư đoàn có khả năng đánh
thắng các cuộc tập kích đường không của không quân địch vào Hà nội và các mục tiêu được bảo vệ.
Tình hình chấp hành kỷ luật đặc biệt là chấp hành kỷ luật về sẵn sàng chiến đấu, chấp hành chỉ thị
mệnh lệnh của cán bộ chiến si có nhiều tiến bộ. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, chỉ huy sư đoàn đã
chỉ đạo các đơn vị đảm bảo ổn định ăn ở sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là các đơn vị tuyến trước,
từng bước có cải thiện như: ăn đủ tiêu chuẩn, cấp phát quân trang đúng vụ, đúng cỡ số, mặc không
rách, ở không dột, chống được rét, nóng, phấn đấu có đủ đồ dùng sinh hoạt chung cần thiết (xô, thùng,
chậu), đủ mỗi người một giường nằm (hoặc ván). Do làm tốt công tác nuôi quân, phòng bệnh nên sư
đoàn đảm bào quân số thường xuyên tham gia công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu là 98,5 phần
trăm.

Cuối năm 1982, nhân dịp kỷ niệm 10 năm đánh thắng B52, sư đoàn đã chỉ đạo các đơn vị
đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng, dứt điểm từng mặt yếu kém và giành nhiều thành tích tốt.
Phòng chính trị sư đoàn củng cố tu sửa nhà truyền thống, hoàn thành sa bàn đánh thắng B52 trong
chiến dịch phòng không tháng 12 năm 1972. Nhân dịp này, sư đoàn cũng chỉ đạo các đơn vị tổ chức
nhiều buổi tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho cán bộ chiến sĩ đơn vị và nhân dân địa phương nơi
đóng quân. Đợt tuyên truyền có tác dụng thiết thực nâng cao nhận thức cho cán bộ chiến sĩ và khơi
dậy lòng tự hào của bộ đội về truyền thống vẻ vang của sư đoàn.

Năm 1982, năm đầu thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự và Luật sĩ quan (mới được Quốc hội
thông qua). Về biên chế tổ chức của sư đoàn vẫn chưa ổn định, hàng năm thay quân đến một phần tư
quân số. Trước tình hình đó, sư đoàn chỉ đạo tập trung kiện toàn biên chế tổ chức và trang bị cho lữ
đoàn tên lửa 236; đồng thời chỉ đạo cho cán bộ chỉ huy và nhân viên kỹ thuật của lữ đoàn tên lửa 236
tích cực học tập để đưa vào sử dụng hệ thống sở chỉ huy tự động. Đối với các trung đoàn pháo phòng
không sư đoàn chỉ đạo các trung đoàn tổ chức theo mô hình biên chế rút gọn mỗi trung đoàn gồm ba
đại đội đủ quân số làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu một đại đội làm khung huấn luyện tân binh và
chuyển binh chủng cho trung đoàn, hai đại đội rút gọn làm nhiệm vụ bảo quản tại chỗ. Sư đoàn cũng
thành lập một tiểu đoàn huấn luyện đảm nhận việc mở những lớp huấn luyện cho sư đoàn và Quân
chủng về các chuyên ngành như tiêu đồ, báo vụ, khẩu đội trưởng pháo, nhân viên máy nổ, v.v.

Tháng 6 năm 1983, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, sư đoàn phòng không 361 bàn
giao tiểu đoàn 74 của trung đoàn 261 cho sư đoàn phòng không 377. Đồng thời bàn giao trung đoàn
pháo phòng không 237 cho sư đoàn bộ binh 320, thuộc Quân đoàn 3. Cũng thời gian này, sư đoàn
phòng không 361 đã tiếp nhận trung đoàn pháo phòng không 287 trang bị pháo 57 mm có khí tài của
sư đoàn phòng không 3774 (Trung đoàn pháo phòng không 287 được thành lập ngày 29 tháng 4 năm
1979). Tiểu đoàn pháo phòng không 32 (gồm ba đại đội) thành lập từ năm 1982, năm 1983 sư đoàn
tiếp tục đầu tư xây dựng và đẩy mạnh khâu huấn luyện để đảm nhận nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến
đấu. Cũng trong năm 1983, sư đoàn đã tổ chức trung đội phòng hứa trực thuộc phòng tham mưu và
chỉ thị cho các đơn vị tập trung xe vận tải, xe con thống nhất tổ chức quản lý ở trung đoàn hoặc lữ
đoàn bộ. Sự thay đổi này có tác dụng tốt trong việc quản lý xe và thợ sửa chữa, đồng thời đảm bào
thuận lợi khi cơ động.

Để thực hiện tốt chế độ một người chỉ huy trong quân đội và hoàn thiện chế độ lãnh đạo
của Đảng đối với quân đội, Quân chủng và sư đoàn lấy lữ đoàn tên lửa 236 triển khai đột phá trước để
rút kinh nghiệm, sau đó tổ chức thực hiện rộng khắp trong toàn sư đoàn. Trước sự phát triển của tình
hình và sự thay đổi của - nhiệm vụ, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định điều chỉnh đội hình cho thích
hợp với phương án tác chiến và trang bị vũ khí. Các sở chỉ huy của lữ đoàn tên lửa 236, sở chỉ huy
trung đoàn tên lửa 261, trung đoàn tên lửa 277, 12 tiểu đoàn hoả lực thuộc ba trung đoàn tên lửa được
cơ động về vị trí mới. Những công việc này, sư đoàn đã tập trung thực hiện một thời gian ngắn, đảm
bảo an toàn, đạt được các yêu cầu đề ra tạo nên thế trận mới của sư đoàn bảo vệ yếu địa Hà nội và các
mục tiêu được giao trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Năm 1983, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và xây dựng của sư đoàn vẫn còn nặng nề và phức
tạp, nhưng lãnh đạo và chỉ huy sư đoàn đã làm tốt công tác giáo dục tình hình nhiệm vụ cho cán bộ
chiến sĩ. Các mặt công tác của sư đoàn có chuyển biến tiến bộ. Trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị
được nâng lên, sư đoàn có khả năng đánh thắng địch trong tình huống ít phức tạp và có chuẩn bị
trước.

Cùng với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn phòng không 361 đã tích cực tăng gia sản
xuất, xây dựng doanh trại, từng bước cải thiện về ăn, mặc, ở và sinh hoạt của bộ đội, nhất là các đơn
vị ở tuyến trước. Mặc dù cung cấp của Nhà nước có hạn, giá cả tăng nhiều, nhưng công tác hậu cần
của sư đoàn đã cố gắng đảm bảo được yêu cầu của nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và đảm
bảo đời sống của bộ đội. Năm 1983 toàn sư đoàn đã khai thác được 1.750 tấn than, 43 mét khối gỗ,
216.930 cây tre nứa, sản xuất được 8.192.000 viên gạch, 47.000 viên ngói, xây dựng mới được 11.201
mét vuông nhà ở5 (Tổng kết công tác năm 1983 của sư đoàn Phòng không 361 - Hồ sơ lưu trữ tại
Quân chùng Phòng không).

Trong hai năm 1984, 1985 đất nước ta có những ngày kỷ niệm lớn: 30 năm chiến thắng
Điện Biên Phủ, 40 năm ngày thành lập Quân đội, 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam và 20 năm
thành lập sư đoàn, 40 năm ngày thành lập nước. Đây là những dịp tốt để giáo lục cán bộ, chiến sĩ nâng
cao lòng yêu nước, niêm tự hào vé truyền thống cách mạng của dân tộc, của quân đội, và sư đoàn.
Vào những dịp này, sư đoàn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng thực hiện
cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân
dân", hướng vào hoàn thành các nhiệm vụ của sư đoàn. Nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của sư đoàn là
thường xuyên cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động đánh địch trong mọi tình huống bảo vệ
vững chắc thủ đô Hà nội và các mục tiêu được giao, không bị bất ngờ, không để lỡ thời cơ. Muốn
hoàn thành tốt nhiệm vụ trên, lãnh đao và chỉ huy sư đoàn coi trọng công tác huấn luyện nâng cao sức
chiến đấu của đơn vị, với phương châm cơ bản, toàn diện, hệ thống, thống nhất, sát với yêu cầu nhiệm
vụ chiến đấu, sát với thực tế". Để thực hiện phương châm trên, sư đoàn chỉ đạo các trung đoàn kiên
quyết chấp hành kế hoạch và yêu cầu huấn luyện, phấn đấu để bộ đội có đủ khả năng chiến đấu trong
các tình huống phức tạp, đánh được các tốp nhỏ, chiếc lẻ, đánh địch bay thấp, đánh ban đêm, đối phó
với các thủ đoạn gây nhiễu, cơ động và dùng tên lửa tự dẫn. Sau từng khoá huấn luyện, các tiểu đoàn
tên lửa, các đại đội pháo phòng không phải thành thạo việc triển khai thu hồi, hành quân cơ động, giỏi
đánh độc lập và đánh hiệp đồng. Kết thúc khoá huấn luyện năm 1984, sư đoàn phòng không 361 được
Bộ tư lệnh Quân chủng công nhận là đơn vị huấn luyện giỏi.
Song song với nhiệm vụ trọng tâm là sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện, sư đoàn luôn chăm
lo xây dựng đơn vị toàn diện. Lãnh đạo chỉ huy sư đoàn chỉ đạo các đơn vị phát huy vai trò xung kích
của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong việc thực hiện các nhiệm vụ trung tâm. Phòng
chính trị sư đoàn tập trung chỉ đạo các hoạt động của thanh niên. Các phong trào "Tuổi trẻ lập công
dâng Đảng", "Vì bầu trời Thủ đô, tuổi trẻ cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, học tập làm chủ vũ khí, khí tài
xây dựng nếp sống văn minh được các chi đoàn trong toàn sư đoàn hưởng ứng. Từ năm 1980 đến
1984 sư đoàn thường xuyên có trên 75 phần trâm số chi đoàn đạt danh hiệu chi đoàn quyết thắng.
Trung đoàn tên lửa 261 là đơn vị có phong trào thanh niên khá nhất sư đoàn, được Trung ương Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng cờ thi đua. Liên tục trong 5 năm, sư đoàn đều đạt 5 mục tiêu
của cuộc vận động lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lương vũ
trang nhân dân. Năm 1983 sư đoàn đạt danh hiệu Đơn vị quyết thắng. Do những cố gắng vượt bậc và
thành tích đã đạt được cuối năm 1984, sư đoàn phòng không 361 được Nhà nước tặng thưởng huân
chương Quân công hạng nhất. Lữ đoàn tên lửa 236 của sư đoàn cũng được Nhà nước trao tặng huân
chương Quân công hạng nhất.

Đầu năm 1984, chấp hành chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng về việc xây dựng cơ quan ngoại
giao của Nhà nước tại khu vực Vạn Phúc, sở chỉ huy và sư đoàn bộ của sư đoàn phòng không 361
phải di chuyển về địa điểm mới. Đây là một công việc lớn, do vậy Bộ tư lệnh Quân chủng và Bộ tư
lệnh sư đoàn đã nhanh chóng tổ chức triển khai chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi công xây dựng khu
sở chỉ huy và cơ quan sư đoàn bộ.

Sư đoàn điều động một đại đội pháo của trung đoàn 213 về làm nòng cốt để tổ chức xây
dựng. Quân chủng điều bố sung cán bộ và nhân viên kỹ thuật để bảo đảm các khâu chuẩn bị vật tư,
thiết kế và gám sát thi công. Công trình cơ quan sư đoàn bộ sư đoàn 36 1 mang tên công trình 361-84
do Viện Thiết kế Bộ quốc phòng thiết kế, đảm bảo đủ chỗ chỉ huy làm việc, chỗ để khí tài xe máy, nơi
ăn ở của cơ quan sư đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu cho các đơn vị trong sư đoàn. Cuối
năm 1984, sư đoàn đã hoàn thành việc xây tường rào và làm được con đường tạm dẫn dài 400 mét để
chuẩn bị khởi công vào quý IV năm 1985. Theo kế hoạch công trình sẽ hoàn thành vào quý IV năm
1988.

Đồng thời với việc chỉ đạo xây dựng khu cơ quan sư đoàn bộ và sở chỉ huy, trong hai năm
1984 - 1985, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ đạo cho trung đoàn tên lửa 261 xây dựng xong sở chỉ huy. Để bảo
đảm thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn chỉ đạo cho cơ quan tham mưu, tác chiến tìm
thêm các trận địa cơ bản dự bị để sẵn sàng cơ động chuyển trạng thái chiến đấu. Toàn bộ hệ thống trận
địa tên lửa, pháo phòng không trong toàn sư đoàn tiếp tục được củng cố, tu sửa công sự, đường ra
vào, làm rào chắn nguỵ trang và trồng cây xanh.

Tháng 10 năm 1984, chấp hành mệnh lệnh điều chỉnh lực lượng chiến đấu của Quân
chủng, sư đoàn phòng không 361 bàn giao trung đoàn pháo phòng không 287 cho sư đoàn phòng
không 377, sư đoàn đồng thời cũng tiếp nhận tiểu đoàn pháo phòng không 33 gồm ba đại đội (C1, C2,
C22) của trung đoàn pháo phòng không 218 sư đoàn phòng không 377. Tiểu đoàn 33 trực thuộc trung
đoàn tên lửa 261 bảo vệ khu vực Việt Trì.
Tháng 5 năm 1985 Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho sư đoàn phòng không 361
tham gia duyệt diễu binh tại quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1985. Chấp hành mệnh lệnh
của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức ba khối diễu binh gồm pháo phòng không 57 mm, tên
lửa CA.75, tên lửa C.125. 16 khẩu pháo 57 mm cùng xe kéo của trung đoàn pháo phòng không 280,
32 bệ phóng và tên lửa phòng không của trung đoàn 261, lữ đoàn 236 được huy động cho nhiệm vụ
này. Sau ba tháng luyện tập vất và, cán bộ chiến sĩ đã tham gia duyệt diễu binh tại quảng trường Ba
Đình. Trong ngày lễ Quốc khánh 40 năm nước Việt nam dân chủ cộng hoà, các khối pháo phòng
không, tên lửa phòng không của sư đoàn đã cùng với đội hình lớn của toàn quân hùng dũng diễu qua
lễ đài. Sư đoàn phòng không 361 được Quân chủng đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trải qua 20 năm xây dựng và chiến đấu, sư đoàn phòng không 361 không ngừng lớn mạnh
và chiến thắng vé vang. Trong quá trình xây dựng sư đoàn đã rút được nhiều bài học kinh nghiệm
thiết thực cho nhiệm vụ xây dựng đơn vị trên những chặng đường tiếp theo. Những bài học về truyền
thống sẽ giúp cho sư đoàn vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Chương 7: (1986 - 1995)
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc hoàn thành, đất nước ta vừa
chuyển sang thời kỳ hoà bình, xây dựng cuộc sống mới, thì ngay sau đó lại chuyển sang tình huống có
chiến tranh. Quân và dân ta một lần nửa buộc phải cầm súng chiến đấu, bảo vệ độc lập chủ quyền.
Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên hai đầu đất nước của quân và dân ta đã giành được thắng lợi,
nhưng các thế lực đế quốc, phản động vẫn tiếp tục chống phá cách mạng nước ta. Cục diện mới nói
chung là hoà bình trên cả nước ta đã và đang được mở ra. Nhân dân ta đang đứng trước một thời cơ
lịch sử mới, đầy triển vọng, nhưng cũng đầy thử thách mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân
ta đã triển khai xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân
bảo vệ Tổ quốc ở các địa phương và trên phạm vi cả nước nhằm chống trả cuộc chiến tranh phá hoại
nhiều mặt và lấn chiếm biên giới của địch.

Trước tình hình đó, ngày 21 tháng 1 năm 1986, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng đã ra nghị
quyết đánh giá tình hình Quân chủng trong những năm tới. Về phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo,
Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng chủ trương:

1. Không ngừng hoàn thiện thế trận phòng không nhân dân trên cả nước, ra sức nâng cao
sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của Quân chủng, chủ động đánh thắng không quân địch
trong mọi tình huống.

2. Ra sức xây dựng nâng cao chất lượng của Quân chủng theo hướng chính quy ngày càng
hiện đại, tinh nhuệ, đánh thắng không quân địch trong bất kể tình huống nào, hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.

3. Thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế.

Quán triệt sâu sắc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng,
ngày 27 tháng 1 năm 1986, Đảng uỷ sư đoàn đã họp dưới sự chủ toạ của Bí thư Đảng uỷ Nguyễn
Xuân Cự. Sau khi phân tích đặc điểm tình hình, Đảng uỷ đã đề ra nhiệm vụ của sư đoàn trong năm
1986 là: đề cao trách nhiệm chính trị của lãnh đạo, chỉ huy và phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi
cấp, mọi ngành, mọi người để nâng cao bản lĩnh chiến đấu, sẵn sàng tiêu diệt địch bảo vệ Hà nội. Sẵn
sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ. Phát huy truyền thống anh hùng, tập trung xây dựng sư đoàn
theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, tinh nhuệ. Thực hiện toàn diện Nghị quyết 27 của Bộ
Chính trị, đẩy mạnh xây dựng cơ quan, đơn vị cơ sở theo nội dung trận địa phòng không quyết thắng,
tập trung khắc phục tình trạng yếu kém về kỷ luật, kỹ thuật và đời sống.

Trên cơ sở đó, Đảng uỷ sư đoàn đã đề ra những yêu cầu, biện pháp lãnh đạo cụ thể cho các
đơn vị. Kế thừa nghệ thuật tác chiến phòng không bảo vệ yếu địa lớn trong cuộc chiến tranh chống
Mỹ cứu nước, Sư đoàn trưởng Ngô Huynh đã tranh thủ sự chỉ đạo của Quân chủng, tổ chức điêu
chỉnh lại thế trận bảo vệ Hà nội cho lữ đoàn tên lửa và các trung đoàn pháo phòng không.

Chấp hành mệnh lệnh ngày 2 tháng 6 của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức triển
khai ba đại đội pháo phòng không trực tiếp bảo vệ mục tiêu mới ở Thủ đô là cầu Thăng Long.

Ngày 16 tháng 6 năm 1986, Tổng tham mưu trưởng ra lệnh cho Quân chủng điều trung
đoàn tên lửa 261 của sư đoàn trực thuộc sư đoàn phòng không 367. Cũng theo lệnh trên, sư đoàn đã tổ
chức chuyển đổi vũ khí, khí tài cho lữ đoàn tên lửa 236. Tiếp đó, sư đoàn còn tổ chức cho tiểu đoàn
171 trung đoàn tên lửa 277 cơ động, xây dựng trận địa mới để tăng cường bảo vệ sân bay Nội Bài.
Mặc dù lực lượng của sư đoàn được lệnh rút đi để góp phần hoàn chỉnh thế trận phòng không của cả
nước, nhưng thế bố trí của lực lượng phòng không Hà nội vẫn đủ sức tiêu diệt máy bay địch, bảo vệ
các mục tiêu trọng yếu ở Thủ đô.

Cùng với việc hoàn chỉnh thế trận, tăng cường chất lượng vũ khí khí tài, tích cực đẩy mạnh
huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn còn tập trung tố chức, chỉ đạo đẩy
mạnh hoạt động của công trường 361 - 84 nhằm khẩn trương di chuyển sư đoàn về vị trí mới.

Giữa lúc toàn sư đoàn đang tích cực đẩy mạnh sẵn sàng chiến đấu và xây dựng thì sáng
ngày 15 tháng 8 năm 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ sáu khai mạc. Tới dự Đại hội là
120 cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và đảng viên ưu tú của các đảng bộ cơ quan và đơn vị. Sau khi nghiêm
khắc kiểm điếm việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trong những năm qua, Đại hội đã nhất trí phương
hướng nhiệm vụ lãnh đạo Đảng bộ sư đoàn trong hai năm tới là: Phát huy truyền thống đơn vị anh
hùng, ra sức xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh làm nòng cốt xây dựng sư đoàn vững mạnh, có
chất lượng tổng hợp ngày càng cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức, chỉ huy và
trình độ nghiệp vụ chuyên môn khá, giữ gìn và sử dụng tốt vũ khí, khí tài, có nếp sống chính quy và
kỷ luật nghiêm, có đời sống tinh thần và vật chất từng bước được ổn định, hoàn thành thắng lợi mọi
nhiệm vụ trong mọi tình huống. Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra mục tiêu, chủ trương và biện pháp
lãnh đạo để chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra. 14 giờ ngày 22 tháng 8, Đại
hội đã tiến hành bầu cử Ban chấp hành Đảng bộ. Các đồng chí Ngô Huynh, Nguyễn Xuân Cự, Phạm
Trương Uy, Nguyễn Quang Hùng, Nghiêm Liệu, Phan Thang, Đào Xuân Dân, BùI Nguyên Tưởng,
Nguyễn Thế Kỷ, Trương Văn Vật và Nguyễn Xuân Minh đã được Đại hội bầu vào Ban chấp hành
Đảng bộ mới. Tất cà cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, công nhân viên trong sư đoàn
vô cùng phấn khởi trước sự thành công tốt đẹp của Đại hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ sáu. Không khí
thi đua nâng cao trình độ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng ở cơ quan, đơn vị được đẩy mạnh
với kết quả ngày càng tốt hơn. Càng về cuối năm, phong trào thi đua càng sôi nồi, tạo điều kiện cho
sư đoàn hoàn thành kế hoạch tác chiến và xây dựng năm 1986. Do có truyền thống thi đua sôi nổi, tổ
chức chặt chẽ, từ cơ quan đến các đơn vị, các hoạt động sẵn sàng chiến đầu và xây dựng được tiến
hành khẩn trương và kết quả Công tác đảng-công tác chính trị ở các cấp đã làm cho bộ đội thấy rõ bản
chất và âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động, thường xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến
đấu.

Trong năm 1986, Quân chủng và sư đoàn tổ chức kiểm tra chuyển cấp 74 lần sở chỉ huy sư
đoàn, trung đoàn thì có 98 phần trăm số lần bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, 116 lần báo động kiểm tra ở
phân đội thì có 96 phần trăm số lần sẵn sàng chiến đấu tốt. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, bộ đội
đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn trong tiến trình tổ chức bảo đảm sẵn sàng chiến đấu như bảo
đảm thông tin đến các phân đội ở trung đoàn pháo phòng không 280, 212, làm đường dây ACY của lữ
đoàn tên lửa 236, bảo đảm khí tài, đạn đống bộ, chất lượng cho các trung đoàn pháo phòng không và
bàn giao khí tài cũ, tiếp nhận, triển khai khí tài mới ở bốn tiểu đoàn hoả lực của lữ đoàn tên lửa 236.
Lãnh đạo, chỉ huy và bộ đội còn đóng góp nhiều công sức, vật tư đế xây dựng hệ thống trận địa chuẩn
bị tiếp nhận một trung đoàn tên lửa và hoàn thành cơ bản xây dựng sở chỉ huy sư đoàn. Việc tổ chức
luyện tập phương án tác chiến trên không, đánh địch mặt đất và chống cháy nổ sáu tháng cuối năm
được tiến hành tích cực, có nền nếp, từng bước khắc phục được khâu yếu về trình độ tổ chức chỉ huy
và bản lĩnh người chiến sĩ. Trong năm, đã tổ chức luyện tập hiệp đồng 1, 2, 3 cấp ở sở chỉ huy sư đoàn
37 lần, ở sở chỉ huy lữ đoàn, trung đoàn 118 lần, luyện tập với không quân 121 lần, đánh địch mặt đất
179 lần, diễn tập chỉ huy cơ quan, chiến thuật phân đội 7 lần và luyện tập đội ngũ chiến thuật tới 93,7
phần trăm tổng số các phân dội.

Ngoài việc tiếp nhận, bàn giao, thanh lý khối lượng lớn vũ khí, khí tài, đạn, sư đoàn còn
thường xuyên duy trì bảo quản, sửa chữa, niêm cất và kiểm kê khí tài, trang bị bảo đảm quản lý, sử
dụng ngày càng tốt hơn. Do tích cực khắc phục khó khăn về vật liệu nên việc che đậy khí tài, xe máy
tính đến cuối năm đạt 86,6 phần trăm kế hoạch. Dợn vị có nhiều cố gắng là trung đoàn tên lửa 277 và
lữ đoàn tên lửa 236. Để khắc phục khó khăn về ngân sách, giá cả không ổn định, sư đoàn đã phát
động phong trào "V.A.C" để tự túc một phần lương thực, thực phẩm kịp thời bảo đảm đời sống của bộ
đội. Bình quân đầu người trong năm về lương thực, thực phẩm tăng tia được đưa vào bữa ăn là 5,4 ki-
lô-gam thịt, 4,8 ki-lô-gam bột và 65 ki-lô-gam rau xanh. Trong phong trào thực hiện "ngói hoá" doanh
trại đạt 91 phần trăm diện tích nhà ở, trung đoàn pháo phòng không 212 đã làm vượt chỉ tiêu được
giao; đơn vị giao chỉ tiêu xây dựng ít nhưng đã làm được khối lượng lớn như trung đoàn pháo phòng
không 280, lữ đoàn tên lửa 236 và trung đoàn tên lửa 277.

Sư đoàn đã kiện toàn tổ chức, đẩy mạnh tốc độ xây dựng công trình 361-84 với hiệu quả
khá hơn, nhanh hơn. Kết quả năm 1986, sư đoàn đã xây dựng được năm trong tổng số chín đảng bộ
đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh. Đó là các Đảng bộ phòng chính trị, phòng kỹ thuật và đảng bộ
các trung đoàn pháo phòng không 212, 280, trung đoàn tên lửa 277. Tuy nhiên sư đoàn vẫn còn những
khiếm khuyết: sẵn sàng chiến đấu chưa thường xuyên vững chắc, huấn luyện cơ bàn chất lượng chưa
cao, đời sống bộ đội còn kham khổ hệ số kỹ thuật chưa bằng năm trước, chưa có trận địa phòng không
quyết thắng hoàn chỉnh. Những khiếm khuyết đó đã làm cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong sư
đoàn trăn trở và quyết tâm khắc phục trong thời gian tới.
Sau nhiều năm nghiên cứu về nghệ thuật tác chiến phòng không và căn cứ vào xu thế phát
triển của nghệ thuật quân sự trên thế giới, việc tác chiến phòng không khu vực đã trở thành hiện thực
trên các địa bàn chiến lược của Tổ quốc. Vì vậy đầu năm 1987, Binh chủng Radar được lệnh giải thể,
các trung đoàn radar trực thuộc các sư đoàn phòng không. Theo lệnh của Quân chủng, sư đoàn tổ
chức tiếp nhận trung đoàn radar 293. Trung đoàn radar 293 được thành lập ngày 29 tháng 4 nắm 1966.
Từ đó, trung đoàn làm nhiệm vụ quản lý và bảo đảm cho các lực lượng phòng không tác chiến bảo vệ
địa bàn chiến lược số một của đất nước là khu vực đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thủ đô Hà nội. Trải
qua cuộc chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, trung đoàn radar 293 thực sự trở thành một
trong những trung đoàn mạnh, được cấp trên tin cậy giao nhiệm vụ cận vệ cho trái tim thiêng liêng
của cả nước. Từ ngày 1 tháng 4 năm 1987, sư đoàn chính thức chỉ huy trung đoàn radar 293.

Cũng trong thời gian này, sư đoàn còn được lệnh tiếp nhận trung đoàn pháo phòng không
264 của sư đoàn phòng không 365 gồm trung đoàn bộ và 6 đại đội. Ngày 1 tháng 7 năm 1987, trung
đoàn pháo phòng không 264 hành quân từ Hà Bắc về triển khai bảo vệ địa bàn mới. Tháng 9 năm
1987 sư đoàn lại tiếp nhận trung đoàn tên lửa 258 của sư đoàn phòng không 377. Ngày 10 tháng 10
năm 1987, trung đoàn tên lửa 258 sẵn sàng chiến đấu. Từ nay sư đoàn phòng không 361 có hai nhiệm
vụ trong chiến đấu là quản lý và bảo vệ vùng trời phía bắc, trọng điểm là Hà nội.

Lần đầu tiên trong lịch sử, Hà nội có binh đoàn phòng không tương đối hoàn chỉnh, bao
gồm cả tên lửa, pháo phòng không, radar và chỉ huy một lực lượng không quân tiêm kích trực tiếp đặc
trách làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực Thủ đô. Vì vậy trách nhiệm của bộ đội phòng không Hà nội càng
nặng nề nhưng cũng rất vê vang. Điều quan trọng nhất trong tác chiến phòng không phòng thủ khu
vực là chống bị bất ngờ trước các cuộc tập kích đường không, nhất là tập kích đường không bằng máy
bay bay thấp của địch. Đây là điều mà các cấp chiến lược, chiến dịch trực tiếp là sư đoàn phòng
không Hà nội thường xuyên trăn trở, lo lắng và tìm cách khắc phục.

Để chống bất ngờ, kịp thời đánh nháy bay bay thấp của địch, sau khi bàn giao hai trạm
radar dẫn đường cho Quân chủng Không quân, trung đoàn đã điều động quân số, trang bị thông tin, cơ
yếu của hai đơn vị trên cho đại đội radar 70 lữ đoàn tên lửa 236 và đại đội radar thông tin trung đoàn
tên lửa 277. Sư đoàn còn củng cố các vọng quan sát đỉnh đầu của các sở chỉ huy trạm radar, tổ chức
hội nghị hiệp đồng chiến đấu với sư đoàn không quân 371, tập huấn cách đánh máy bay bay thấp, phát
quang công sự, trận địa bảo đảm xạ giới đối với máy bay bay thấp, điều chỉnh cách truyền tình báo
trên mạng TB.93 và luyện tập sở chỉ huy các cấp.

Sư đoàn đã tổ chức thực hiện các biện pháp đổi mới huấn luyện theo tinh thần nghị quyết
Đảng uỷ Quân chủng và kết luận ở hội nghị Đảng uỷ sư đoàn mở rộng về đổi mới công tác huấn
luyện.

Cơ quan và đơn vị, cả bộ đội tên lửa, pháo phòng không và radar đều tích cực chuẩn bị vẻ
tư tưởng và vật chất để sẵn sàng đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Trường Sa và làm nhiệm vụ quốc tế. Các
cơ quan và đơn vị tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy phong trào "V.A.C" để
nâng cao đời sống cho bộ đội. Trung đoàn pháo phòng không 213 và 264 đã tận dụng đất hoang ở trận
địa để trồng cây hương nhu xuất khẩu theo kế hoạch của huyện Từ Liêm, sửa sang các hố đào đất làm
gạch thành ao thả cá, thực hiện được chỉ tiêu mỗi trận địa có hai con trâu (bò) và mười người nuôi
một con lợn. Phòng kỹ thuật sư đoàn triển khai việc phân cấp quản lý kỹ thuật và chuẩn bị cải tiến
hoàn chỉnh khí tài tên lửa Von-ga. Phòng chính trị tổ chức triển khai tiếp bước hai của cuộc vận động
lớn "Phát huy bản chất tốt đẹp nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân"
trong toàn sư đoàn.

Xét thấy tiến độ xây dựng ở công trường 361 -84 tuy có tiến bộ nhưng chưa đáp ứng yêu
cầu kế hoạch, sau khi tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, chỉ huy và một số cán bộ, chiến sĩ, Sư đoàn
trưởng Ngồ Huynh quyết định: Toàn bộ cơ quan sư đoàn bộ chuyển vị trí mới, các cơ quan tự làm nhà
ở, tổng số là 80 gian nhà, khởi công ngày 5 tháng 8, hoàn thành ngày 7 tháng 11. Để động viên khí thế
thi đua xây dựng doanh trại, chỉ huy sư đoàn quyết định sẽ trao giải nhất là 10 nghìn đồng, giải nhì là
7 nghìn đồng và giải ba là 5 nghìn đồng (tiền lúc bấy giờ) cho những cơ quan hoàn thành công việc
nhanh và có chất lượng tốt. Đảng uỷ và chỉ huy các phòng chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật tập
trung lãnh đạo, tố chức bộ đội khẩn trương xây dựng doanh trại. Bộ đội tích cực tìm sáng kiến khắc
phục khó khăn, thiếu thốn về vật liệu và đời sống hiện tại, quyết tâm hoàn thành kế hoạch được giao.
Trong thời gian này các công trình xây dựng ở sư đoàn bộ cũng được xúc tiến khẩn trương. Cả công
trường 361 -84 thực sự trở thành công trường lớn. Bộ đội tấp nập, khẩn trương làm việc hết công suất
với quyết tâm hoàn thành kế hoạch cao nhất. Đến ngày 15 tháng 12 năm 1987, nhà truyền thống của
sư đoàn lấy tên là "Bảo tàng sư đoàn phòng không Hà nội" cơ bản hoàn thành. Ngày 20 tháng 12 năm
1987 toàn bộ sư đoàn bộ đã ổn định nơi ăn, chốn ở và làm nhiệm vụ trên vị trí mới. Kết quả đó vừa
bào đảm thực hiện quy hoạch của Nhà nước vừa tạo điều kiện cho các cơ quan sư đoàn nhanh chóng
thực hiện nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu thường xuyên, lâu dài. Kết quả trên còn tạo điều kiện cho
sư đoàn hoàn thành tốt đẹp lễ kỷ niệm 15 năm đánh thắng B52 ở Hà nội.

Trong ba năm, từ 1988 đến 1990 là những năm các lực lượng vũ trang phải phấn đấu tích
cực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị
về nhiệm vụ quốc phòng và nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân chủng lần thứ nhất. Căn cứ vào mệnh
lệnh của Tư lệnh Quân chủng và chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ sư đoàn về nhiệm vụ công tác
quân sự, sư đoàn xác định nhiệm vụ quân sự năm 1988 là:

1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn sư đoàn, nêu cao cảnh giác sẵn sàng chiến đấu,.
quản lý và bảo vệ vững chắc vùng trời được phân công.

2. Tập trung dốc sức xây dựng sư đoàn mạnh toàn diện, có chất lượng cao, tổ chức hợp lý,
kỷ luật nghiêm, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ.

3. Tích cực lao động sản xuất làm ra nhiều của cải vật chất, góp phần khắc phục khó khăn,
bảo đàm đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị và giải quyết chính sách hậu phương đúng quy định
và pháp luật của Nhà nước.

4. Tranh thủ sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô , tích cực huấn luyện nâng cao trình độ sẵn
sàng chiến đấu của bộ đội. Sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn đã tăng cường công tác giáo dục
chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng làm cho bộ đội hiểu rõ bàn chất, âm mưu của kẻ thù, xác định
rõ trách nhiệm chính trị quản lý và bảo vệ bầu trời được giao trong giai đoạn cách mạng mới.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng cục Chính trị và Cục Chính trị Quân chủng, phòng chính trị
sư đoàn tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động "làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ
chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội" theo ba bước. Bước một triển
khai quán triệt cuộc vận động trong toàn sư đoàn. Bước hai xây dựng cho các đơn vị thực hiện cuộc
vận động. Bước ba xây dựng cho các cơ quan thực hiện cuộc vận động. Mặc dù sắp đến Tết âm lịch,
công việc nhiều nhưng triển khai cuộc vận động vẫn được tiến hành nghiêm túc thực hiện được ba
đúng là đúng nội dung, đúng các bước và đúng thời gian. Kết quả đã tạo được sự nhất trí của đảng
viên, quần chúng đối với nghị quyết của Bộ Chính trị, thấy rõ thực hiện cuộc vận động là nhiệm vụ
cấp bách của toàn Đảng và của chính cơ sở Đảng mình; đánh giá đúng mức, đúng thực trạng đội ngũ
đảng viên; chỉ ra những việc, những người cụ thể và tạo được không khí cởi mở, thông cảm lẫn nhau
kể cả trong Đảng và ngoài Đảng.

Giữa lúc toàn sư đoàn đang sôi động triển khai kế hoạch thực hiện cuộc vận động lớn thì
Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ đột xuất: Điều trung đoàn pháo phòng không 213 đi làm nhiệm
vụ C88. Thực hiện mệnh lệnh của Quân chủng, lãnh đạo chỉ huy sư đoàn đã tập trung tiến hành công
tác tư tưởng, bổ sung và kiện toàn tổ chức, tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Sẵn có
truyền thống "có lệnh là đi, có địch là đánh, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành", từ trung đoàn trưởng
Trung, phó trung đoàn trưởng chính trị Hà đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn pháo phòng
không 213 và một số cán bộ chiến sĩ thuộc trung đoàn pháo phòng không 280, trung đoàn radar 293
được lệnh bổ sung cho trung đoàn đều phấn khởi sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang.
Ngày 28 tháng 2, khi phái đoàn của Tổng cục Chính trị xuống kiểm tra, toàn trung đoàn pháo phòng
không 213 đã chuẩn bị xong. Trung đoàn đã lên đường đi làm nhiệm vụ quốc tế sau buổi chia tay vui
vè và cảm động với cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn. Việc sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ quốc tế
trong điều kiện có nhiều khó khăn thử thách của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn pháo phòng không 213 là
một trong những điển hình cao đẹp về chủ nghĩa quốc tế vô sản của Quân đội nhân dân Việt nam.
Hình ảnh cao đẹp đố mãi mãi là bài học quý báu và góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của
sư đoàn phòng không 361 anh hùng.

Ngay sau khi tổ chức cho trung đoàn pháo phòng không 213 lên đường làm nhiệm vụ quốc
tế, lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn đã tập trung vào nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và chủ yếu là quản lý
và bảo vệ vùng trời được giao, trọng tâm là bảo vệ Hà nội. Theo chỉ đạo của Quân chủng, 100 phần
trăm lực lượng radar, tên lửa và 50 phần trăm các trung đoàn pháo phòng không thường xuyên trực
ban~và sẵn sàng chiến đấu. Để nâng cao trình độ tác chiến phòng không hiện đại sư đoàn tập trung tổ
chức bổ sung, tu sửa sớ chỉ huy sư đoàn, sở chỉ huy trung đoàn tên lửa 258, đổi mới trang bị sở chỉ
huy trung đoàn tên lửa 277, trung đoàn pháo phòng không 213, 280 và tổ chức kênh thông tin tải ba
để chỉ huy trung đoàn pháo phòng không 264.

Tháng 5, sư đoàn tổ chức tập huấn và diễn tập chiến thuật cho cơ quan tham mưu và người
chỉ huy sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn.

Tháng 6, sư đoàn tham gia diễn tập giữa Quân chủng phòng không và Quân chủng Không
quân.
Từ ngày 20 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8, sư đoàn tập trung chỉ đạo các lữ đoàn, trung đoàn
tên lửa và pháo phòng không diễn tập chỉ huy-tham mưu có thực binh. Đó là những biện pháp tích cực
và có hiệu quả để nâng cao trình độ chiến thuật của sư đoàn, nhất là đối với cán bộ chỉ huy và cơ quan
tham mưu trong tác chiến phòng không hiện đại. Trong hội thao bắn đạn thật cuối năm, 100 phần trăm
số phân đội tên lửa tiêu diệt mục tiêu. Tiểu đoàn 173 trung đoàn tên lửa 277 được xếp thứ nhất. Ba
trong tổng số năm đại đội pháo phòng không đi bắn đạn thật đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cả hai loại
pháo 37, 57 mm và tên lửa A.87 của trung đoàn pháo phòng không 212 đều bắn đạt hiệu suất cao. Đại
đội 53 trung đoàn radar 293 giành giải nhất trong hội thao cuối năm của sư đoàn.

Hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hổ Chí Minh đã tập trung vào hai trọng điểm:
Thực hiện nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về công tác thành niên và chương trình hoạt động của Đoàn
trong cuộc vận động lớn. Các tổ chức đoàn còn thực hiện "nghe đoàn viên nói và nói cho đoàn viên
nghe" của cấp uỷ, chỉ huy, tạo được không khí dân chủ, cởi mở, trực tiếp đối thoại, công khai về tiêu
chuẩn, công bằng trong xử lý trước quần chúng và góp phần xây dựng tinh thần làm chủ của quần
chúng ngày càng tốt hơn. Sư đoàn đã tập trung giải quyết được nhiều việc có tính cơ bản lâu dài như
hoàn thành khối lượng lớn nhà che khí tài, xe máy và hệ thống nhà kho, thực hiện được chế độ phân
cấp quản lý kỹ thuật, tích cực nâng cao chất lượng kỹ thuật, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu. Công tác hậu cần đã đáp ứng được yêu cầu về ăn, ở, sinh hoạt của bộ đội, thúc đẩy được
tốc độ nâng được chất lượng xây dựng đơn vỉ cơ sờ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, đầu tháng 11, Đảng uỷ sư đoàn
đã tập trung chì đạo tiến hành Đại hội Đảng bộ nhiệm vụ của các lữ đoàn, trung đoàn và các cơ quan,
chuẩn bị cho việc tổ chức Đại hội Đảng bộ của sư đoàn lần thứ bảy. Ngày 26 tháng 11 năm 1988, Dại
hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ bày được tiến hành với sự tham dự của 111 đại biểu thuộc các đảng bộ cơ
sở. Điểm nổi bật trong Đại hội lần này là tập trung lãnh đạo khắc phục ba khâu yếu về kỷ luật, kỹ
thuật và đời sống, nhăm nâng cao chất lượng và số lượng đơn vị mạnh, bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm
vụ quản lý và bảo vệ vùng trời được giao, đặc biệt là bảo vệ khu Trung ương, cầu Thăng Long và nhà
máy thuỳ điện Hoà Bình. Sự thành công tốt đẹp của Đại hội Đảng bộ sư đoàn lấn thứ bày là nhân tố
tiên quyết, chủ yếu góp phần đẩy mạnh tiến bộ xây dựng sư đoàn theo hướng chính quy từng bước
hiện đại, tinh nhuệ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời bình, Bộ Tổng Tư lệnh chủ
trương: Tổ chức biên chế lực lượng vũ trang thích hợp đủ sức hoàn thành nhiệm vụ, từng bước nâng
cao chất lượng chiến đấu toàn diện và tổ chức niêm cất bảo quản một số vũ khí, khí tài để có thể chiến
đấu lâu dài trong điều kiện đất nước còn khó khàn.

Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân chủng, ngày 24 tháng 3 năm 1989, sư đoàn được
lệnh giải thể hai trung đoàn pháo phòng không và thành lập tiểu đoàn pháo phòng không 213. Tiểu
đoàn có 5 đại đội, trong đó có hai đại đội pháo 37, hai đại đội pháo 57 và một đại đội làm nhiệm vụ
bảo quản. Tháng 5 năm 1989, tiểu đoàn lại được lệnh bàn giao khí tài pháo cho xưởng A.32 và tiếp
nhận trang bị khí tài mới. Cũng trong thời gian này, được sự chỉ đạo cửa cấp trên, Phó sư đoàn trướng
kỹ thuật Phan Thang đã tổ chức phòng kỹ thuật, một trung đoàn pháo phòng không và lữ đoàn tên lửa
niêm cất vũ khí khí tài. Để nâng cao chất lượng chiến đấu, Phó sư đoàn trưởng Tham mưu trưởng Vũ
Anh Thố đã tổ chức phòng tham mưu và các đơn vị làm vấn kiện chuyển trạng thái sẵn sàng chiến
đấu, hoàn chỉnh hồ sơ hệ thống trận địa, đôn đốc thực hiện mười chế độ sẵn sàng chiến đấu và tổ chức
huấn luyện bộ đội. Mỗi lần được trang bị vũ khí mới là mỗi lần lãnh đạo, chỉ huy phải tập trung huấn
luyện chuyển binh chủng và nghiên cứu xây dựng chiến thuật mới. Đó là cả một quá trình gian khổ,
công phu và cố gắng vượt bậc của bộ đội. Xác định rõ điều đó, phòng tham mưu đã xây dựng và tổ
chức thực hiện kế hoạch chuyển binh chủng cho tiểu đoàn pháo phòng không 213. Chỉ trong thời gian
ngắn, cán bộ chiến sĩ đã nắm được tính năng kỹ thuật, chiến thuật, sử dụng và bảo quản thành thạo vũ
khí mới.

Để lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn trong tháng 5, lãnh đạo chỉ huy các cấp trong
sư đoàn đã tập trung tổ chức ba chương trình hành động do sư đoàn đề ra. Kết quả là nền nếp sẵn sàng
chiến đấu được duy trì nghiêm túc thường xuyên, 100 phần trăm chiến sĩ mới đạt chỉ tiêu huấn luyện,
trong đó có 75 phần trăm đạt khá giỏi; công tác tăng gia cài thiện đời sống của bộ đội được thực hiện
nghiêm túc, giảm được khó khăn cho cơ quan và đơn vị. Trong công việc này phòng hậu cần, trung
đoàn tên lửa 277 và trung đoàn radar 293 là những đơn vị hoạt động khá. Ở trung đoàn tên lửa 277,
tiểu đoàn 172 tổ chức trực ban chiến đấu tốt được nhận cờ "trực ban chiến đấu khá nhất", bảo đảm
được nội dung, kế hoạch huấn luyện và quản lý kỷ luật nghiêm túc. Vấn đề nổi bật nhất của trung
đoàn là đã khai thác, phát huy triệt để thế mạnh trong công tác hậu cần tại chỗ như mở dịch vụ xay
xát, tăng gia rau, lợn, cá, khai thác gỗ, củi, nâng tổng thu nhập trong tháng được hơn hai triệu đồng.
trung đoàn radar 293 đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý vùng trời, hạn chế được sai sót, lọt, chậm
trong tiến trình làm nhiệm vụ cảnh giới, phát hiện và thông báo các mục tiêu trên không. Trong tháng
5, trung đoàn đã phát hiện được 792 tốp máy bay, có 678 tốp đạt loại tốt, thông tin, thông báo đạt 100
phần trăm. Mặc dù các trạm radar ở phân tán trên địa bàn rộng lớn, có nhiều khó khăn trong việc bảo
đảm hậu cần nhưng cơ quan và đơn vị đã phát huy tính chủ động và thế mạnh hậu cần tại chỗ đảm bảo
được kế hoạch lương thực, thực phẩm trong quý II năm 1989. Ngoài ra, các đơn vị còn đẩy mạnh tăng
gia, thu hoạch được 950 ki-lô-gam rau xanh, 320 ki-lô-gam thịt, đốt được năm tấn vôi, sản xuất được
2,5 vạn viên gạch, đóng thêm được 75 chiếc giường mới cho chiến sĩ, khai thác 15 mét khối gổ, 20 tấn
than. Tổng thu nhập trong tháng 5 của trung đoàn là 800.000 đồng.

Dưới sự chỉ đạo, tổ chức của Phó sư đoàn trưởng hậu cần Nguyễn Đình Hiệu, phòng hậu
cần đã hoàn thành được chức năng làm tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn, cố gắng khắc phục
khó khăn bảo đảm kinh phí hậu cần cho chiến đấu, chế độ tiêu chuẩn và đời sống cho bộ đội. Ngoài ra
phòng hậu cần còn tích cực góp phần xây dựng xong nhà bốn tầng thuốc công trường 361 -84. Phong
trào thực hiện ba chương trình lập thành tích chào mừng lễ kỷ niệm 25 năm thành lập sư đoàn đã
giành được thành tích to lớn. Trong bốn tháng đầu năm 1990, sư đoàn có 15 phân đội được nhận cờ
"phân đội trực ban sẵn sàng chiến đấu khá nhất" của Tư lệnh Quân chủng. Hệ số chiến đấu toàn sư
đoàn thường xuyên đạt 98, phần trăm. Về huấn luyện, sư đoàn đã mở ba lớp bồi dưỡng kỹ thuật, sáu
lớp bồi dưỡng cán bộ quân sự, hai lớp bồi dưỡng cán bộ chính trị và 22 lớp bồi dưỡng chuyên môn
cho tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng và chuyên môn kỹ thuật. Đặc biệt, trong lần bắn đạn thật từ ngày
8 đến ngày 11 tháng 1 năm 1990, xạ thủ Trần Hưng Mâu và kíp chiến đấu đại đội 56 tiểu đoàn 213 đã
bắn bốn quả đạn, tiêu diệt mục tiêu bằng quả đạn đầu. Sau khi lập thành tích xuất sắc này, xạ thủ Trần
Hưng Mâu được Sư đoàn trưởng Phạm Trương Uy tặng bằng khen và được phong vượt cấp quân làm
từ binh nhì lên hạ sĩ.

Lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn còn tập trung chỉ đạo, tổ chức bảo đảm đời sống và xây dựng
nền nếp chính quy cho các cơ quan và đơn vị. ở khu vực sư đoàn bộ đã hoàn thành và đưa vào sử
dụng nhà bốn tầng, sân bóng đá, đổ bê tông hệ thống đường trục, củng cố xây dựng nhà trú xá. Các
đơn vị đã thực hiện "phủ xanh trận địa", 100 phần trăm nhà ở được "ngói hoá" (trừ một số tiểu đoàn
của trung đoàn tên lửa 258 mới về sư đoàn). Mỗi đơn vị còn xây dựng được 25 công trình phục vụ
chiến đấu, bào đàm đời sống và sinh hoạt cho bộ đội. Các tiểu đoàn tên lửa, đại đội pháo, trận địa
radar đều có ti vi và ra-đi-ô cát-sét. Chỉ huy sư đoàn còn triển khai thực hiện có kết quả chỉ thị 135
của Hội đồng Bộ trưởng và kế hoạch của thành phố Hà nội về việc truy quét tội phạm hình sự và bào
đảm trật tự giao thông trong toàn sư đoàn. Sư đoàn đã đóng góp 18 triệu đồng cùng địa phương củng
cố hệ thống điện nước và bệnh xá của phường. Công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống vẻ vang
của sư đoàn cũng được đẩy mạnh chưa từng có. Phòng chính trị đã tổ chức và hoàn thành bộ phim
truyền thống "Vì bầu trời Hà nội" dài 50 phút, in được tuyển tập thơ và ca khúc "Pháo ta bảo vệ Ba
Đình", xây dựng tương đối cơ bản thư viện, củng cố và hoàn chỉnh một bước nhà bảo tàng của sư
đoàn.

Sáng ngày 19 tháng 5 năm 1990, lễ kỷ niệm 25 năm thành lập sư đoàn được tiến hành tại
sư đoàn. Tới dự buổi lễ có đầy đủ các cán bộ lãnh đạo chỉ huy sư đoàn qua các thời kỳ và đại biểu các
cơ quan và đơn vị. Dự buổi lễ còn có đại diện của lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng, thành phố Hà nội và
các cơ quan, đơn vị bạn. Tất cả các đại biểu đều vô cùng tự hào và phấn khối trước sự trưởng thành
vượt bậc và những chiến công, những thành tích to lớn trong chặng đường 25 năm xây dựng, chiến
đấu và trưởng thành của sư đoàn. Buổi lễ long trọng đã diễn ra trong bầu không khí đầy phấn khởi, tự
hào nhưng thân mật, ấm áp tình đồng đội tình quân dân cùng chung một chiến hào trong sự nghiệp
quản lý và bảo vệ bầu trời Thủ đô yêu quý.

Tình hình chính trị trên thế giới đã có những thay đổi lớn. Các nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông âu và Liên Xô đã và đang lâm vào cuộc khủng hoàng toàn diện và nghiêm trọng nhất từ trước
đến nay. Đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tăng cường chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Việt nam đã trở thành mục tiêu trọng tâm phá hoại của kẻ
thù.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, sự nghiệp đổi mới của Đảng đã thực
sự đi vào cuộc sống và thu được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Song tình hình kinh tế, xã
hội của đất nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn và chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng, đặc biệt là về giá cả,
tiền lương và việc làm. Trước tình hình đó, việc xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy,
từng bước hiện đại và tinh nhuệ ngày càng trở nên cấp bách.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh và Bộ tư lệnh Quân chủng, lạnh đạo và chỉ huy
sư đoàn đã tập trung chỉ đạo, tổ chức ổn định biên chế tổ chức và ra sức nâng cao trình độ chiến đấu
của bộ đội nhằm sẵn sàng đánh thắng các cuộc tập kích đường không và tích cực chống phá âm mưu
diễn biến hoà bình của địch. Ngày 8 tháng 1 năm 1991 sư đoàn được lệnh tiếp nhận trạm radar 55
thuộc trung đoàn radar 292 sư đoàn phòng không 377 và tổ chức hợp nhất trạm radar 55 với trạm
radar 37 thành trạm radar 37 trực thuộc trung đoàn radar 293.

Ngày 29 tháng 1 năm 1991, Bộ quốc phòng ra quyết định chấn chỉnh tổ chức lữ đoàn tên
lửa thành trung đoàn tên lửa 236. Sau chín năm thí nghiệm cơ chế tổ chức lữ đoàn tên lửa phòng
không trong tác chiến phòng thủ khu vực, những thực tế xảy ra đã cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc.
Việc nâng cấp từ trung đoàn thành lữ đoàn tên lửa 236 với vũ khí, khí tài hiện đại, đặc biệt là có trang
bị sở chỉ huy tự động là điều hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng của lực lượng nòng cốt trong tác
chiến phòng không bảo vệ Hà nội. Tuy nhiên, do quy chế, trực tiếp là chế độ quan liêu bao cấp và chế
độ chính sách không phù hợp nên việc bảo đảm kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Vũ khí, khí tài, nhất là
hệ thống sở chỉ huy tự động không thường xuyên bảo đảm chiến đấu. Trong khi đó ta chưa có nhiều
kinh nghiệm về xây dựng lữ đoàn tên lửa phòng không trong tác chiến hiện đại. Những điều đó đã làm
giảm đáng kể khả năng chiến đấu của lữ đoàn. Đây là bài học cần được lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiếp
tục nghiên cứu và vận dụng trong việc xây dựng những đơn vị phòng không mới có trang bị vũ khí,
khí tài hiện đại với những điều kiện lịch sử mới.

Ngày 22 tháng 2, Tư lệnh Quân chủng ra quyết định điều trung đoàn tên lửa 276 sư đoàn
phòng không 365 về trực thuộc sư đoàn.

Ngày 4 tháng 9, Tư lệnh Quân chủng Trần Nhẫn trực tiếp ra mệnh lệnh cho sư đoàn,
chuyển nhiệm vụ một số trung đoàn, thay phiên hiệu một số tiểu đoàn. Với kinh nghiệm sẵn có
Thường vụ Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn đã tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tỉ mỉ, chu đáo, giải
quyết dứt điểm từng việc có phân công, phân nhiệm và kế hoạch triển khai cụ thề, chính xác. Vì vậy
tất cả các nhiệm vụ Quân chủng giao đều được hoàn thành theo đúng kế hoạch và bảo đảm an toàn.
Sư đoàn còn hoàn thành nội dung, chương trình, thời gian huấn luyện các khoa mục có chất lượng cho
các đối tượng theo quy định trong năm 1991, đạt và vượt các chỉ tiêu chính. Nhiều đơn vị còn xây
dựng được các phân đội điểm có nền nếp huấn luyện. Tháng 9 năm 1991, tại trường bắn Cấm Sơn, xạ
thủ A.87 Võ Toàn Thắng tiểu đoàn 213 đã diệt mục tiêu M.5 bằng quà đạn đầu, đạt loại giỏi được Tư
lệnh Quân chủng tặng bằng khen.

Về chiến đấu, do tích cực sửa chữa đảm bảo đồng bộ khí tài nên hệ số sẵn sàng chiến đấu
của tên lửa, radar vượt từ 5 đến 12 phần trăm so với chỉ tiêu kỹ thuật trong năm. Sư đoàn còn tổ chức
xây dựng bốn sở chỉ huy mới… Vì vậy khả năng sẵn sàng chiến đấu của sư đoàn được nâng lên rõ rệt.

Được sự chỉ đạo của sư đoàn, các trạm radar của trung đoàn radar 293 được củng cố, tăng
cường các vọng quan sát mắt, cơ bản đã chấm dứt được hiện tượng sót, lọt hoang báo mục tiêu. Công
tác Đảng-công tác chính trị của các cấp đã thường xuyên giáo dục, quản lý kỷ luật, tích cực góp phần
xây dựng nền nếp chính quy kết hợp với việc xây dựng trung đoàn và cơ quan mạnh, tăng cường kiểm
tra, đôn đốc ở đơn vị cơ sở, kịp thời phát hiện, giải quyết những vướng mắc tư tưởng và những vấn đế
phát sinh, hạn chế các vụ việc xảy ra. Từng cấp trong sư đoàn đã làm tốt việc giáo dục nâng cao tinh
thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ và quan điểm phục vụ của cán bộ, nhân viên ngành hậu cấn,
phát huy thế mạnh của từng địa bàn, từng đơn vị, kết hợp tăng gia sản xuất tại chỗ với việc tìm nguồn
lao động, khai thác, tham gia làm kinh tế. Trong năm, toàn sư đoàn tự cân đỗi được từ 450 đến 500
triệu đồng, đạt 71 phần trăm chỉ tiêu rau xanh, 68,8 phần trăm chỉ tiêu lương thực và 115 phần trăm
chỉ tiêu thịt. Sư đoàn còn trợ cấp khó khăn làm nhà cho 145 cán bộ với số tiền hơn 100 triệu đồng, cấp
đất, cấp nhà cho 157 cán bộ với diện tích 12.700 mét vuông, cấp tiền doanh phụ cho 114 cán bộ với số
tiền là 15 triệu đồng. Về xây dựng Đảng, lãnh đạo các cấp đã kịp thời kiện toàn và củng cố các tổ
chức lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức quần chúng, nâng cao vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ,
đảng viên. Do làm tốt "hai trực tiếp", "ba dân chủ công khai" nên bầu không khí dân chủ được cởi mở
đã tạo cho đoàn viên, thanh niên hoạt động có chiều sâu và hiệu quả thiết thực hơn. Trong năm có
98,5 phần trăm tổ chức đoàn đạt vững mạnh; 93,7 phần trăm đoàn viên đủ tư cách.

Ngày 4 tháng 10 năm 1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ tám được tiến hành.
Toàn thể Đại hội đã nhất trí đánh giá: Trong nhiệm kỳ qua, toàn Đảng bộ luôn đoàn kết thống nhất, có
nhiều cố gắng lánh đạo sư đoàn từng bước nâng cao chất lượng về mọi mặt, thực hiện có kết quả ba
chương trình hành động về làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chấp hành kỷ luật và đảm bảo đời sống,
giữ vững và phát huy được thành tích xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, hoàn thành được các
nhiệm vụ trên giao, có nhiệm vụ hoàn thành tốt như công tác chính trị, tư tưởng, công tác xây dựng
Đảng, rèn luyện đội ngũ đảng viên. Tuy nhiên, vế khuyết điểm còn nổi lên là chuyển biến tiến bộ chưa
đồng đều vững chắc, nhất là kết quả xây dựng đơn vị điểm, chuyển biến tình hình kỷ luật và sức chiến
đấu của một số tổ chức Đảng, đặc biệt là chi bộ Đảng còn hạn chế.

Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra phương hướng trong 5 năm tới của sư đoàn là nâng chất
lượng tổng hợp cao hơn theo hướng cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại và tinh nhuệ, nắm
được lực lượng dự bị động viên, giữ tốt vũ khí, khí tài để sử dụng lâu dài; đồng thời tăng cường sự
lãnh đạo của các tổ chức Đảng, kiên định vững vàng trong mọi tình huống, nâng cao cảnh giác cách
mạng chống chiến lược diễn biến hoà bình của địch, tham gia bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn của sư đoàn. Sau khi đề ra nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp cụ thể, Đại hội đã
nhấn mạnh: trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cần quán triệt và nắm tư tưởng
chỉ đạo trong 5 năm tới là "đổi mới, ổn định, chất lượng, hiệu quả, đồng đều, vững chắc" nhằm phấn
đấu đạt được mục tiêu "Đảng bộ trong sạch vững mạnh, đơn vị mạnh toàn diện". Thành công nổi bật
trong Đại hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ tám là thực hiện tốt chủ trương đổi mới của Đảng về nhiều mặt
nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo trong nhiệm kỳ tới.

Năm 1992, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh chống phá chủ
nghĩa xã hội và mưu toan xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên phạm vi toàn cầu. Đối với
nước ta, địch âm mưu thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình, trước hết là trên mặt trận văn hoá, tư
tưởng nhằm làm cho quân và dân ta giảm ý chí chiến đấu, xói mòn lòng tin giảm uy tín lãnh đạo của
Đảng và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đấng và Bác Hồ đã lựa chọn, tiếp tục phát
huy những thành quả của sự nghiệp đổi mới, đoàn kết chặt chẽ cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử
thách, từng bước đưa đất nước tiến lên, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới, tháng 2 năm 1992, sư đoàn được lệnh tiếp nhận trung
đoàn radar 292 và trung đoàn pháo phòng không 218. Từ nay nhiệm vụ của sư đoàn đã tăng cường:
quản lý, bảo vệ một địa bàn rộng hơn, trọng tâm là Hà nội. Đảng uỷ và chỉ huy các cấp trong sư đoàn
đã chủ động nhạy bén bám sát nhiệm vụ chính trị, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn phong trào
thi đua quyết thắng vào việc thực hiện bốn chương trình hành động mà Đảng uỷ sư đoàn đã đề ra.
Toàn sư đoàn tập trung giáo dục, quán triệt nhiệm vụ chiến đấu, tích cực thực hiện 10 chế độ trực ban,
duy trì chặt chẽ hệ thống tổ chức chỉ huy, đồng thời kiện toàn, bồi dưỡng nâng cao trình độ tác chiến
cho mọi đối tượng trong tình hình mới. Phòng kỹ thuật sư đoàn đã cùng eác đơn vị tích cực kiểm tra,
sửa chữa, hiệu chỉnh khí tài, bảo đảm thường xuyên tên lửa, radar, pháo phòng không đạt hệ số chiến
đấu từ 97,1 đến 100 phần trăm, vượt chỉ tiêu từ 2,1 đến 14 phần trăm. Trong năm 1992, các trạm radar
đã mở máy trực ban cảnh giới 3.644 phiên, phát hiện 9.000 tốp mục tiêu, không có sai sót, nhiều lần
được Bộ tư lệnh Quân chủng biểu dương.

Song song với nhiệm vụ quản lý và bảo vệ vùng trời được giao, sư đoàn còn củng cố, bổ
sung các vãn kiện chiến đấu, tổ chức luyện tập phương án A.2 và tổ chức cho các trung đoàn thực
hành diễn tập chiến thuật đạt loại khá. Một số trận địa của các trung đoàn pháo phòng không được xây
dựng, cùng cố lại với tổng số hơn 7.860 mét khối đất đá, hàng vạn ngày công, trị giá hơn 200 nêu
đồng. Với phương châm giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm, ngành ky thuật đã có nhiều năng động,
sáng tạo thực hiện 5 tốt kỹ thuật, duy trì các chế độ chống xuống cấp của khí tài, thường xuyên bảo
đàm hệ số kỹ thuật từ 92,8 phần trăm trở lên, vượt chỉ tiêu 0,8 phần trăm. Phòng kỹ thuật còn tổ chức
che đậy 105 nhà khí tài, mua sắm vật liệu, linh kiện tự sửa chữa được 825 lần hỏng hóc. Do thực hiện
tốt công tác bảo đảm kỹ thuật và tổ chức huấn luyện bộ đội nên trong hội thao Quân chủng, tiểu đoàn
pháo phòng không 218 là lá cờ đầu của các đơn vị pháo phòng không trong toàn Quân chủng.

Tháng 9 năm 1992, toàn sư đoàn vô cùng tự hào phấn khởi vì đã giành được bốn bằng
khen trong lần bắn đạn thật của Quân chủng. Thượng uý Lê Quang Thắng và kíp chiến đấu đại đội 56
tiểu đoàn 213 đã bắn kết quả tốt, được Tư lệnh Quân chủng tặng bằng khen. Đặc biệt, đại đội 72 trung
đoàn pháo phòng không 280 tham gia bán đạn thao diễn toàn quân đạt xuất sắc, được tặng cờ thưởng
luân lưu khá nhất.

Trong chương trình xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật, toàn sư đoàn đã thực hiện
hành động theo điều lệnh và kỷ luật quân đội. Với quyết tâm, cố gắng cao, sư đoàn đã tập trung đầu tư
thống nhất thực hiện từng nội dung có trọng điểm, rút kinh nghiệm nghiêm túc nên đã có sự chuyển
biến mạnh mẽ, nhiều nhân tố mới xuất hiện, nhiều điền hình tiên tiến đã nổi lên. Trong năm toàn sư
đoàn đã xây dựng được 15 phân đội, trạm radar điển hình, tạo nên động lực mới từng bước đưa sư
đoàn tiến lên xây dựng chính quy đồng bộ, vừng chắc. Chính vì vậy, tỉ lệ vi phạm kỷ luật trong năm
đã giảm. Về chương trình bảo đảm và nâng cao đời sống, sư đoàn đã phát huy thế mạnh của các đơn
vị. đặc biệt là đẩy mạnh lao động. Chi tính riêng kết quả lao động VACR (vườn, ao, chuồng, rừng),
toàn sư đoàn đã thu được 457,7 triệu đồng để đưa vào bữa ăn và đảm bảo đời sống bộ đội. Các cơ
quan và đơn vị còn thu nhập thêm từ các nguồn lao động khác nâng tổng số thu của sư đoàn là 922,15
triệu đồng, vượt chỉ tiêu 23 phần trăm. Các tiểu đoàn tên lửa và trung đoàn pháo phòng không đã khắc
phục khó khăn, sửa chữa nâng cấp khí tài trị giá 170 triệu đồng. Các công trình xây dựng cơ bản nhà
hai tầng của sư đoàn bộ, bệnh xá trung đoàn radar trị giá 980 triệu đồng, tiết kiệm cho quỹ chung 21
triệu đồng đã được đưa vào sử dụng có hiệu quà. Sức khỏe bộ đội được nâng lên, thường xuyên bảo
đảm quân số huấn luyện và công tác trên 98 phần trăm.
Trong chương trình tự đổi mới chỉnh đốn Đảng, do thường xuyên quán triệt tình hình
nhiệm vụ, bộ đội đã hiểu rõ nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt
nam, bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề cấp thiết có tính chất sống còn của cách
mạng nước ta. Vì vậy, các cấp, các ngành đã thường xuyên quán triệt âm mưu thủ đoạn của địch, kịp
thời thông tin, định hướng tư tưởng cho bộ đội, giáo dục cảnh giác với mọi âm mưu diễn biến hoà
bình của kẻ thù, kiên quyết thực hiện có hiệu quả quy chế lãnh đạo của Đảng với quân đội. Các cấp
uỷ, cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng ngang tầm và đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Các đơn vị thực sự
coi trọng xây dựng mối đoàn kết quân dân, thực hiện quân dân một ý chi tạo nên sức mạnh tổng hợp
của chiến tranh nhân dân đất đối không trong địa bàn của sư đoàn.

Qua phong trào thi đua quyết thắng năm 1992, toàn sư đoàn có 586 tập thể và cá nhân
được khen thưởng, ba trung đoàn và ba chiến si đạt danh hiệu Quyết thắng. Sư đoàn được Quân chủng
tặng cờ "Đơn vị sẵn sàng chiến đấu khá", Đơn vị có công tác kỹ thuật khá" và bằng khen "Đơn vị có
nền nếp công tác đảng-công tác chính trị khá".

Phát huy truyền thống sư đoàn anh hùng, năm 1993 toàn sư đoàn tiếp tục vững bước đi lên
về mọi mặt, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Trong phong trào thi đua thực hiện bốn chương trình hành
động của sư đoàn, trung đoàn radar đã có nhiều cố gắng phấn đấu vươn lên trở thành đơn vị lá cờ đâu
trong toàn sư đoàn. Trưởng phòng kỹ thuật Nguyễn Văn Đăng đã tập trung tổ chức cơ quan và đơn vị
tích cực phấn đấu và trở thành đơn vị lá cờ đầu lần thứ hai trong toàn Quân chủng. Trong hội thao
cuối nam của cụm phía Bắc cả ba đơn vị đều đạt loại khá, đứng đầu ba khối tên lửa, pháo phòng
không và radar. Trung đoàn pháo phòng không 280 bắn đạn tốt được Tư lệnh Quân chủng tặng cờ
thưởng luân lưu "Đơn vị khá nhất". Về xây dựng chính quy, phòng tham mưu đã tổ chức cơ quan và
đơn vị duy trì nền nếp các chế độ, thực hiện tốt quy định về "21 chi tiết, 6 nhà, 3 phòng, 4 giá, 3 giây"
và đạt các tiêu chuẩn xây dựng. Trưởng phòng hậu cần Phan Văn Độ đã cùng cơ quan chỉ đạo và tổ
chức các đơn vị thường xuyên duy trì được tiêu chuẩn định lượng đưa vào bửa ăn thứ sáu hàng tuần ở
các bếp từ 500 đến 1.000 đống, xây dựng được 53 trong tổng số 63 bếp ăn khách không có bếp ăn
kém. Trong lao động V.A.C.R. đạt bình quân tính theo đầu người trong năm là 175.886 đồng, đạt
109,9 phần trăm kế hoạch. 100 phần trăm số phân đội trong toàn sư đoàn đều có đủ ba phương tiện
thông tin là báo chí, đài và vô tuyến truyền hình, trong đó 70 phần trăm đơn vị có vô tuyến truyền
hình màu, vượt chỉ tiêu 10 phần trăm.

Căn cứ vào kết quả phấn đấu trong năm 1993, lãnh đạo chỉ huy sư đoàn đã đề nghị lên
Quân chủng I.ắng cờ thưởng về sẵn sàng chiến đấu, công tác đảng-công tác chính trị, công tác huấn
luyện và công tác kỹ thuật cho sư đoàn. Sư đoàn còn đê nghị Quân chủng tặng cờ xây dựng chính quy
và môi trường văn hoá mới, đơn vỉ eo đời sống khá cho hai trung đoàn.

Đạt được những thành tích trên, ngoài sự nỗ lực vượt bậc của sư đoàn còn có sự quan tâm
chỉ đạo, giúp đỡ của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh và các cơ quan Quân chủng, sự đoàn kết gắn bó của chính
quyền, nhân dân các địa phương nơi đóng quân, nổi bật nhất là các cấp lãnh đạo, chính quyền nhân
dân Hà nội, huyện Từ Liêm và các xã Trung Hoà, Yên Hoà, Nhân Chính. Sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt
tình to lớn với tình cảm ưu ái đó là nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ, là nhân tố quan trọng tạo điều
kiện cho sư đoàn hoàn thành mọi nhiệm vụ.
Trong năm 1994, ngoài việc phát huy truyền thống xây dựng và sẵn sàng chiến đấu, lãnh
đạo và chỉ huy sư đoàn còn phát động thi đua để chuẩn bị ngày lễ kỷ niệm sư đoàn tròn 30 tuổi và lập
thành tích chào mừng 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam. Để chuẩn bị cho ngày lễ
lớn đó, sư đoàn đã ra sức chuẩn bị về mọi mặt. tập trung vào ba việc lớn là tổ chức viết lịch sử, làm
phim truyền thống và nâng cấp nhà bảo tàng của sư đoàn.

Nhân dịp này Hội Liên hiệp phụ nữ Hà nội đã tổ chức đoàn đại biểu lên Tây Bắc thăm và
tặng quà hai trạm radar 37 và 35 thuộc trung đoàn radar 292 của sư đoàn. Đoàn đại biểu Hội Phụ nữ
Hà nội gồm có Hội trưởng Kim Thanh, Hội phó Tô Phú và đại biểu hội phụ nữ các quận, huyện ở nội,
ngoại thành Hà nội. Tham gia đoàn có đồng chí Quế, trưởng phòng dân vận Quân khu Thủ đô. Cùng
đi với đoàn có đồng chí Sư đoàn trưởng, Phó tham mưu trưởng Nguyễn Đình Kiên, Phó chủ nhiệm
chính trị Lê Đức Đỗ, Phó chủ nhiệm hậu cần Đoàn Hữu Dực, trung đoàn trưởng, phó trung đoàn
trưởng chính trị trung đoàn radar 293 Lưu Văn Nghị, Nguyễn Văn Long và một số chiến sĩ văn công
Quân chủng.

Sáng ngày 19 tháng 12, sư đoàn tổ chức cuộc gặp mặt với các đồng chí Bí thư Đảng uỷ,
Chủ tịch uỷ ban nhân dân và Hội Cựu chiến binh của các địa phương đóng quân của các trung đoàn,
tiểu đoàn và ba xã Nhân Chính, Trung Hoà, Yên Hoà. Đại tá Vũ Anh Thố, sư đoàn trưởng, cùng các
đồng chí trong Đảng uỷ, chỉ huy và đại biểu các cơ quan sư đoàn đã trao đổi với các đại biểu về tình
hình quan hệ quân dân trong những năm vừa qua. Cuộc gặp gỡ đã diên ra trong bầu không khí thân
mật và thám tình đoàn kết quân dân.

Chiều ngày 19 tháng 12, đồng chí Phạm Thế Duyệt, Bí thư Thành uỷ Hà nội và đồng chí
Chu Duy Kính, Tư lệnh Quân khu Thủ đô đã đến thăm và chúc mừng sư đoàn nhân dịp kỷ niệm 50
năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam. Sau khi nghe đồng chí Sư đoàn trưởng báo cáo về
tình hình của sư đoàn, đồng chí Bí thư Thành uỷ đã nói chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ cơ quan,
thăm nhà bảo tàng và cùng các đồng chi lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn trồng cây lưu niệm. Một lần nữa,
toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn vô cùng cảm động và biết ơn trước sự quan tâm chu đáo và sự
cổ vũ to lớn của các đồng chí đại diện cho đồng bào và chiến sĩ Thủ đô.

Ngày 22 tháng 12, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cùng các đồng chí thủ trưởng cơ quan sư
đoàn tiếp tục đón tiếp các đại biểu của uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Thành hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hà nội và một số đại biểu chính quyền cơ quan ở địa phương. Đây
là một cái mốc lịch sử trong truyền thống đoàn kết nhân dân gắn bó của sư đoàn phòng không Hà nội
vời các lực lượng trong thế trận đất đối không trên địa bàn chiến lược số một cửa đất nước. Truyền
thống cao đẹp đó cân được tiếp tục giữ vững và phát huy trong mặt trận đất đối không bảo vệ Thủ đô
yêu quý. Sự động viên cổ vũ to lớn và quý báu của Quân chủng, đặc biệt là của quân và dân Hà nội đã
tạo điều kiện cho sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 1994.

Căn cứ vào kết quả thi đua, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định trao
cờ thưởng của Thủ tướng Chính phủ cho trung đoàn tên lửa 236 là lá cờ đầu của khối tên lửa trong
Quân chủng, tặng cờ thưởng cho sư đoàn vì đã ba năm liền làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật và tặng
bằng khen cho sư đoàn vì đã làm tốt công tác đảng-công tác chính trị. Đó là những món quà vô giá
góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻ vang trong lịch sử xây dựng, chiến đấu và trương thành của
sư đoàn. Nó còn là nguồn động lực mạnh mẽ giúp cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn hoàn
thành tốt nhiệm vụ và lập thành tích thiết chực. chào mừng ngày truyền thống vẻ vang của sư đoàn
phòng không Hà nội Anh hùng nhân dịp sư đoàn tròn 30 tuổi.

Kết luận
Ngày 19 tháng 5 năm 1995, sư đoàn phòng không 361 vừa tròn 30 tuổi.

Sinh ra lớn lên trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sư đoàn phòng
không 361 thời kỳ đầu gọi là Bộ tư lệnh phòng không Hà nội vừa xây dựng đã nhanh chóng trưởng
thành trong đội hình của Quân chủng phòng không - không quân trước đây và Quân chủng phòng
không ngày nay, lập nên những chiến công oanh liệt, xây dựng nên những trang sử vẻ vang và những
truyền thống tốt đẹp của một sư đoàn anh hùng.

Năm 1965, giữa lúc cuộc chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân của đế quốc Mỹ
lan rộng ra toàn miền Bắc, chúng đang ráo riết chuẩn bị để leo lên nấc thang cao nhất: đánh phá vào
thủ đô Hà nội thì sư đoàn được thành lập, nhằm đáp ứng một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng: bảo vệ Thủ
đô. Đây là mục tiêu chiến lược số một của cả nước, nơi trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến
chống Mỹ của dân tộc, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng làm việc, nơi trung tâm kinh
tế, quân sự, vãn hoá, giao thông của cả nước. Đó là một vinh dự lớn đồng thời cũng là nhột trách
nhiệm hết sức nặng nề đối với sư đoàn.

Ngay từ ngày đầu thành lập, đội ngũ cán bộ chỉ huy lãnh đạo của sư đoàn là những cán bộ
có trình độ, có kinh nghiệm lãnh đạo và tổ chức chỉ huy tác chiến phòng không trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp. Các trung đoàn pháo phòng không, tên lửa phòng không trước khi đứng
trong đội hình của sư đoàn đều là những đơn vị có chất lượng, có truyền thống xây dựng, có nhiều
thành tích, có kinh nghiệm về sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các chiến trường khác nhau.

Vừa thành lập sư đoàn đã bước ngay vào cuộc chiến đấu cực kỳ quyết liệt đánh trả không
quân nhà nghề của một tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực kinh tế và quân sự để bảo vệ Hà nội. Gay go,
gian khổ và đấu trí, đấu lực quyết liệt nhất là những đợt tác chiến năm 1967. Đối phương đã tổ chức
nhiều đợt đánh phá tập trung huy động tới năm liên đội không quân chiến thuật (tương đương năm sư
đoàn không quân) bao gồm cả lực lượng của không quân và hải quân với nhiều thủ đoạn thâm độc, vũ
khí luôn cải tiến, số lượng bom đạn rất lớn đánh vào thủ đô Hà nội và các vùng phụ cận. Sư đoàn
phòng không 361 dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng cùng với quân,
dân Thủ đô và các đơn vị bạn đã đánh bại nấc thang cao nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
nhất (1965 - 1968) của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh ném bom hạn chế ở
Khu 4 và chấm dứt ném bom không điều kiện trên miền Bắc vào cuối năm 1968.

Từ năm 1969 đến 1971 sư đoàn vừa sẵn sàng chiến đấu đánh máy bay trinh sát bảo vệ Hà
nội vừa xây dựng lực lượng bổ sung cho các chiến trường đồng thời đưa các đơn vị của mình vươn xa
tới Khu 4, tham gia chiến đấu bảo vệ giao thông vận chuyển chiến lược và chiến đấu trong đội hình
binh chủng hợp thành.

Năm 1972, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai với thủ đoạn xảo
quyệt hơn, vũ khí cải tiến hiện đại hơn đánh phá ồ ạt ra toàn miền Bắc. Đặc biệt tháng 12 năm 1972 ở
vào thời điểm cuối của cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ đã huy động gần 50 phần trăm số máy bay chiến
lược B52 và hàng nghìn lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào thủ đô Hà nội và các vùng phụ cận.
Sư đoàn phòng không 361, sư đoàn phòng không cận vệ của Thủ đô cùng với quân dân Hà nội và các
đơn vị bạn đã phải vượt qua nhiều khó khăn gian khổ đánh bại các đợt đánh phá vào Hà nội và đập
tan cuộc tập kích đường không quy mô lớn nhất của đế quốc Mỹ tháng 12 năm 1972 làm nên một
"Diện Biên Phủ trên không" lẫy lừng thế giới. Trong chiến dịch phòng không tháng 12 nam 1972, sư
đoàn phòng không 361 là lực lượng chủ công của Quân chủng phòng không - không quân đã bấn rơi
tại chỗ nhiều máy bay chiến lược B52, bẻ gãy cuộc tập kích của không quân địch. Thất bại trên bầu
trời Hà nội tháng 12 năm 1972 cùng với những thất bại trên chiến trường miền Nam buộc đế quốc Mỹ
phải trở lại bàn hội nghị trên thế yếu, phải ký Hiệp định Paris, ngừng ném bom miền Bác và rút quân
về nước.

Từ năm 1976, đất nước thống nhất, thế trận phòng không hình thành trên cả nước, sư đoàn
vẫn gắn bó với địa bàn Hà nội nhưng phạm vi quản lý vùng trời bào vệ không phận của sư đoàn rộng
hơn, nhiệm vụ cũng năng nề hơn. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước cuộc chiến tranh xâm
lược ở biên giới sư đoàn vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà nội, vừa tích cực
xây dựng lực lượng bổ sung cho các sư đoàn ở phía trước. Trong quá trình xây dựng và sẵn sàng chiến
đấu sư đoàn đã hình thành thế trận phòng không bảo vệ Thủ đô trong cuộc chiến tranh nhân dân bảo
vệ Tổ quốc.

Từ năm 1986 - 1995 đất nước chuyển sang thời kỳ mới, sư đoàn từng bước vững chắc đi
lên trên con đường xây dựng đơn vị theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại. Sư đoàn đã thành công trong việc xây dựng đơn vị mạnh toàn diện. Từ xây dựng tổ chức, xây
dựng con người đến duy trì các nền nếp chính quy nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ trực ban, trực
chiến, từ công tác huấn luyện đến tổ chức đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội. Liên tục trong 30
nam làm nhiệm vụ bảo vệ yếu địa quan trọng nhất của cả nước, sư đoàn đã từng bước hình thành và
hoàn thiện cách đánh địch trên không bảo vệ yếu địa. Nắm vững tư tưởng tiến công, được sự chỉ đạo
của Quân chủng sư đoàn đã đi đầu trong việc nghiên cứu không quân địch để đánh trả các thủ đoạn
bay thấp, cơ động, bổ nhào, ném bom hoặc các thủ đoạn dùng vũ khí kỹ thuật mới đánh vào Hà nội
như bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình, sử dụng nhiễu trong và ngoài đội hình trong cuộc
chiến tranh điện từ. Từ thực tiễn chiến đấu, sư đoàn đã vận dụng thành công các hình thức chiến thuật
như xây dựng trận địa chốt và cơ động quanh chốt, hình thành cách đánh tập trung, đánh tiêu diệt lớn
không quân địch bảo vệ yếu địa Hà nội.

Do vị trí quan trọng của mục tiêu chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà nội bao giờ cũng gồm nhiều
lực lượng, nhiều thành phần, sư đoàn đã giải quyết tốt mối quan hệ hiệp đồng với các sư đoàn bạn, với
các binh chủng radar, binh chủng không quân và lực lượng phòng không của địa phương tạo nên sức
mạnh tổng hợp đánh bại các đợt đánh phá của không quân địch. Đó là sự đóng góp của sư đoàn vào
kho tàng nghệ thuật quân sự phòng không, làm phong phú thêm nền nghệ thuật quân sự Việt nam
trong thời đại mới. Quá trình chiến đấu bảo vệ Hà nội, sư đoàn đã phát huy cao độ trí tuệ và sự sáng
tạo của cán bộ chiến sĩ tìm ra nhiều cách đánh mưu trí, bẻ gãy từng thủ đoan của không quân địch.
Cũng qua cuộc chiến đấu quyết liệt bảo vệ Hà nội, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cán bộ, chiến sĩ
trong sư đoàn được phát huy cao độ. Tinh thần "thà chết không rời mâm pháo", "Quyết tử bảo vệ bầu
trời Thủ đô" lả kế tục tinh thần "quyết từ cho Tổ quốc quyết sinh" năm xưa. Đó là một yếu tố làm nên
chiến thắng.

Trong 30 năm xây dựng và trưởng thành, ngoài nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ yếu địa Hà nội,
sư đoàn còn được giao nhiều nhiệm vụ đột xuất. Nổi bật là nhiệm vụ tổ chức xây dựng lực lượng
phòng không để bổ sung cho chiến trường miền Nam, làm nhiệm vụ quốc tế và chuyển giao cho các
đơn vị bạn. Sư đoàn phòng không 361 là cái nôi sinh ra nhiều đơn vị pháo phòng không, tên lửa
phòng không. Các đơn vị này chiến đấu trên chiến trường nào cũng lập được chiến công.

Đồng thời với nhiệm vụ huấn luyện, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà nội. sư đoàn
thường xuyên coi trọng việc chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội. Trong thời kỳ bao cấp
trước đây cũng như thời kỳ kinh tế thị trường ngày nay sư đoàn đều phát huy tốt khả năng cung cấp
của Nhà nước kết hợp với sức mạnh của địa phương và làm tốt việc tăng gia sản xuất để đảm bảo đời
sống cho cán bộ, chiến sĩ. Dù trong điêu kiện chiến đấu ác liệt hay xây dựng và huấn luyện trong thời
bình, sư đoàn thường xuyên giữ vững nền nếp sinh hoạt văn hoá văn nghệ. tổ chức tốt đời sống tinh
thần cho bộ đội.

Trong cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước ngoài nhiệm vụ chủ yếu bảo vệ thủ đô Hà nội
sư đoàn còn cơ động chiến đấu bảo vệ giao thông vận chuyển trên 20 tỉnh thành từ Lạng Sơn, Yên Bái
đến Vĩnh Linh - Quảng Trị. Sư đoàn đã đánh hơn 1.800 trận, bắn rơi 591 in áy bay Mỹ (pháo phòng
không bắn rơi 218 chiếc, tên lửa phòng không bắn rơi 273 chiếc trong đó có 220 chiếc rơi tại chỗ gồm
31 kiểu loại máy bay khác nhau. Trong năm 1972, sư đoàn đã bắn rơi 35 máy bay B52, là sư đoàn bắn
rơi tại chỗ nhiều máy bay B52 nhất trong số các sư đoàn phòng không của Quân chủng. Sư đoàn đã có
nhiều trận đánh phòng không điển hình đạt hiệu suất chiến đấu cao, bắn rơi tại chỗ máy bay địch, bắt
sống giặc lái, bẻ gầy các đợt tiến công của địch, bảo vệ an toàn mục tiêu. Nhiều tên giặc lái cao cấp
của không quân Mỹ có hàng nghìn giờ bay đã bị pháo phòng không, tên lửa phòng không của sư đoàn
bắn hạ tại Hà nội. Những chiến công xuất sắc trong chiến đấu, những thành tích rực rỡ trong xây dựng
của sư đoàn dã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận. Tháng 1 năm 1976, sư đoàn phòng không
361 được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiêu biểu cho bản chất cách mạng tài năng, trí tuệ, tinh hoa của nhiều thế hệ cán bộ chiến
sĩ trong sư đoàn là những tập thể và cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là tập thể các
đơn vị, trung đoàn tên lửa 236, trung đoàn tên lửa 261, trung đoàn pháo phòng không 234, tiểu đoàn
tên lửa 61, tiểu đoàn tên lửa 64 và tiểu đoàn tên lửa 771 (Trung đoàn pháo phòng không 213 xây dựng
và chiến đấu ở sư đoàn phòng không 363 nhưng khi tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân ngày 29 tháng 8 năm 1985 đảng trực thuộc sư đoàn phòng không 361. Hiện nay trong dội hình
của sư đoàn còn có các đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi tuyên dương thuộc các sư
đoàn khác. Đó là trung đoàn tên lửa 257, trung đoàn pháo phòng không 280, trung đoàn pháo phòng
không 218 và các đại đội ra da 45, 19, 37). Sáu cán bộ chiến sĩ của sư đoàn được tặng danh hiệu Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân là các đồng chí: Nguyễn Văn Phiệt, Phạm Trương Uy, Nguyễn
Tuyên, Nguyễn Huy Hồng, Nguyễn Xuân Đài, Nguyễn Văn Thực.

Trải qua 30 năm xây dựng và chiến đấu, sư đoàn phòng không 361 đã trưởng thành vững
mạnh và hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ của Quân đội, Quân chủng giao cho. Thắng lợi to lớn đó,
trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn của Đảng, bắt nguồn từ sự
lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương mà trực tiếp là Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng phòng không - không quân trước đây, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không ngày
nay. Sự quan tâm, giáo dục và lòng thương yêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sư đoàn cũng là
một động lực tinh thần to lớn khiến cán bộ, chiến sĩ sư đoàn vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để
hoàn thành nhiệm vụ Sinh thời, Bác Hồ đã nhiều lần xuống thăm chỉ đạo, động viên cán bộ chiến sĩ
trong sư đoàn. Đáp lại, cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 cũng hết sức kính yêu và tin tưởng
tuyệt đối vào vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, của quân đội. Luôn luôn làm theo lời Bác, xả thân chiến
đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc vì Thủ đô thân yêu là trách nhiệm, là tình cảm của cán bộ chiến sĩ sư
đoàn trong khi đảm nhận trọng trách bảo vệ bầu trời thủ đô Hà nội.

30 năm qua, sư đoàn phòng không 361 giành được những thành tích vẻ vang, những chiến
công xuất sắc còn do sự lãnh đạo nhạy bén, sáng tạo của các cấp uỷ, sự chỉ huy có bàn lĩnh của Bộ tư
lệnh sư đoàn qua các thời kỳ. Đó là một tập thể cán bộ có năng lực, thống nhất cao, luôn luôn nắm
vững đường lối chủ trương chính sách của Đảng chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, bám sát tình hình
thực tế của sư đoàn phát huy được sự sáng tạo của cơ quan và các đơn vị để hoàn thành thắng lợi
nhiệm vụ.

Thành tích và chiến công của sư đoàn trong 30 năm qua do lớp lớp cán bộ chiến sĩ đã
không tiếc sức lực, trí tuệ, mồ hôi và cả xương máu của mình xây dựng nên. Trong suốt 30 năm qua,
sư đoàn luôn gắn bó máu thịt với thủ đô Hà nội. Các tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân từ cấp
thành phố đến các quận, huyện, xã, phường đều dành cho sư đoàn sự giúp đỡ tận tình sự hiệp đồng
chặt chẽ và chăm sóc chu đáo. Đây thực sự là nguồn động viên to lớn và là một trong những nguyên
nhân làm nên chiến thắng của sư đoàn.

Xây dựng và chiến đấu trên địa bàn Hà nội, sư đoàn liên tục nhận được sự giúp đỡ tận tình
đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể của các sư đoàn bạn của các binh chủng và các lực lượng vũ
trang của Thủ đô. Sự đoàn kết hiệp đồng ấy chẳng những là một nét đẹp trong truyền thống của lịch
sử sư đoàn mà còn tạo nên những nét riêng của nghệ thuật tác chiến phòng không.

Bắt nguồn từ dòng máu đấu tranh bất khuất của dân tộc, từ bản chất truyền thống tốt đẹp
của quân đội, quân chủng, sư đoàn phòng không 361 trải qua quá trình xây dựng và chiến đấu đã xây
dựng nên những truyền thống vẻ vang của một sư đoàn anh hùng Với đặc điểm riêng của sư đoàn
phòng không bảo vệ một yếu địa quan trọng học nhất của đất nước, yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ rất
cao trong những điều kiện xây dựng rất khẩn trương chiến đấu hết sức quyết liệt, cán bộ chiến sĩ trong
sư đoàn bằng trí tuệ xương máu, mồ hôi công sức đã xây đắp nên những truyền thống quý báu, làm
phong phú và sinh động thêm kho tàng truyền thống của quân chủng, quân đội. Những truyền thống
đó đồng thời cũng là những kinh nghiệm, những bài học quý giá rút ra từ thực tiễn xây dựng và chiến
đấu của sư đoàn; nó có tác dụng thúc đẩy mọi tập thể và cá nhân vươn lên hoàn thành xuất sắc các
nhiệm vụ trong mọi giai đoạn cách mạng.

Những truyền thống của sư đoàn là:

1. Trung thành vô hạn với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng nhận vâ hoàn thành mọi nhiệm vụ
cấp trên giao cho.
2. Luôn luôn sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện, mọi tình huống không kể ngày đêm
thời tiết, khí hậu, kiên quyết giành thế chủ động đánh thắng định ngay từ trận đầu càng đánh càng
tháng, càng đánh càng trưởng thành.

3. Không ngừng học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật nắm vững khoa học kỹ
thuật làm chủ vũ khí, khí tài, phát huy cao độ tính năng tác dụng của vũ khí trong chiến đấu.

4. Dũng cảm chiến đấu, mưu trí sáng tạo khắc phục mọi khó khăn gian khổ đánh thắng mọi
kẻ thù.

5. Đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đoàn kết quốc tế, chủ động hiệp
đồng lập công tập thể.

6. Yêu quý giữ gìn vũ khí trang bị, luôn giữ tốt dùng bền, an toàn, tiết kiệm.

7. Kết hợp chắt chẽ giữa xây dựng và chiến đấu. Thường xuyên coi trọng công tác huấn
luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu.

Sau 30 năm xây dựng và trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng vẻ vang sư đoàn phòng
không 361 bước vào một thời kỳ mới. Đánh bại mọi cuộc tập kích đường không của mọi loại kẻ thù
giữ bình yên cho nhân dân thủ đô Hà nội lao động xây dựng cuộc sống mới, ấm no hạnh phúc là một
nhiệm vụ đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực rất cao. Cán bộ chiến sĩ sư đoàn phòng không 361 anh hùng
quyết vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, viết tiếp những trang sử vẻ vang của sư đoàn đóng góp
vào sự nghiệp xây dựng Quân chủng phòng không cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại.

Phụ lục
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN THUỘC SƯ ĐOÀN PHÒNG
KHÔNG 361

A. Đơn vị hiện đang ở trong đội hình sư đoàn:

1. Sư đoàn phòng không 361, tuyên dương ngày 15-1-1976.

2. Trung đoàn pháo phòng không 280 (đoàn Hồng Lĩnh), tuyên dương ngày 18-6-1969.

3. Trung đoàn pháo phòng không 218 (đoàn Hoa Lư), tuyên dương ngày 15-1-1976.

4. Trung đoàn pháo phòng không 213 (đoàn Trần Phú), đơn vị kế tục là tiểu đoàn tên lửa tự
hành 213, tuyên dương ngày 29-8-1985.

5. Trung đoàn tên lửa 236 (đoàn Sông Đà), tuyên dương ngày 11-1- 1973.

6. Trung đoàn tên lửa 257 (đoàn Cờ Đỏ), tuyên dương ngày 29-8-1985.

7. Tiểu đoàn 61, trung đoàn tên lửa 236, tuyên dương ngày 1-1-1967.

8. Tiểu đoàn 64, trung đoàn tên lửa 236, tuyên dương ngày 18-6-1969.

9. Tiểu đoàn 77, trung đoàn tên lửa 257, tuyên dương ngày 3-9-1973.

10. Trạm 19 trung đoàn radar 293. tuyên dương ngày 25-8-1970.
11. Trạm 37 trung đoàn radar 293, tuyên dương ngày 3-9-1973.

12. Trạm 45 trung đoàn radar 293, tuyên dương ngày 20-10-1976.

B. Những đơn vị được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi ở sư đoàn nay đã
chuyển sang đơn vị khác:

1. Trung đoàn pháo phòng không 234 (đoàn Tam Đảo), tuyên dương ngày 18-6-1969.

2. Trung đoàn tên lửa 261 (đoàn Thành Loa), tuyên dương ngày 30-10-1978.

3. Đại đội 1, trung đoàn pháo phòng không 234, tuyên dương ngày 1-1-1967.

C. Cá nhân:

1. Nguyễn Tuyên, đội trưởng tiểu đoàn 65, trung đoàn tên lửa 236 tuyên dương ngày 1-1-
1967.

2. Nguyễn Huy Hồng, khẩu đội trưởng đại đội 3, trung đoàn pháo phòng không 233, tuyên
dương ngày 18-6-1969.

3. Nguyễn Xuân Đài, sĩ quan điều khiển, tiểu đoàn 61, trung đoàn tên lửa 236, tuyên dương
ngày 25-8-1970.

4. Nguyên Văn Thực, sĩ quan điếu khiển, tiểu đoàn 63, trung đoàn tên lửa 236, tuyên
dương ngày 25-8-1970.

5. Nguyễn Văn Phiệt, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 57, trung đoàn tên lửa 261, tuyên dương
ngày 3-9-1973.

6. Phạm Trương Uy, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 64, trung đoàn tên lửa 236, tuyên dương
ngày 3-9-1973.

D. Những đơn vị, cá nhân dược phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ở các đơn vị
khác, nay trực thuộc sư đoàn phòng không 361:

1. Tiểu đoàn 105. trung đoàn pháo phòng không 280, sư đoàn phòng không 367, tuyên
dương ngày 3-9-1973.

2. Đinh Văn Rỳ, trung đội trưởng đại đội 13 tiểu đoàn 105 trung đoàn pháo phòng không
280 sư đoàn phòng không 367, tuyên dương ngày 25-8-1970.

3. Nguyễn Công Tường, đai đội 13 tiểu đoàn 105 trung đoàn pháo phòng không 280 sư
đoàn phòng không 367, tuyên dương ngày 31-12-1973.

4. Đỗ Văn Chuyền. khẩu đội trưởng đại đội 43 tiểu đoàn 5 trung đoàn pháo phòng không
218 Quân khu 4, tuyên dương ngày 25-8-1970.

______________________
1
Hồ Chí Minh, Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội.nhân dân, Hà
Nội, 1970, tr.299.
2
Quyết định của Bộ Quốc phòng số 67/QĐ-QP.
3
"Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975" Nxb Quân đội nhân dân.
Hà Nội. 1991. tr. 112.
4
Trung đoàn tên lửa 236 và 275 là hai đơn vị phối thuộc chiến đấu với sư đoàn.
5
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Sự thật. Hà nội, 1989. tr. 552.
6
Trong ngày 19 tháng 5 năm 1967 địch đã phóng đến 70 quả tên lửa Sơ-rai vào yếu địa Hà nội.
7
Sau khi cơ quan tham mưu đồ giải: Bộ tư lệnh Quân chủng công nhận chiếc máy bay này do đại đội
1 trung đoàn 241 bắn rơi.
8
Đồng chí Vũ Kỳ kể: gồm tiền lương và số liền nhuận bút của Bác. Ở thời điềm đô số tiền 25.000
đồng tương đương với 60 lạng vàng.
9
Thời điểm này ở Hà nội có 111 đại đội pháo phòng không và 20 tiểu đoàn tên lửa.
10
Nay là Quân khu Thủ đô.
11
Bức tường do Công ty kiến trúc khu nam thành phố Hà nội xây dựng đầu năm 1967.
12
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trung đoàn pháo phòng không 212 bắn rơi 41 máy
bay Mỹ; được thưởng 100 huân chương các loại cho lập thể và cá nhân (trong đó có 1 huân chương Quân công
hạng ba, 4 huân chương Chiến công hạng nhất), 53 bằng khen cho tập thể, có 2 bằng khen của Phủ Thủ tướng, 1
bằng khen của Tổng cục Chính trì. Tết Mậu Thân 1968 Bác Hồ đã gửi lẵng hoa tặng trung đoàn
13
Tính cả hai ngày 24 và 25 tháng 10 năm 1967 địch đã sử dụng 239 lẩn chiếc đánh phá sân bay Nội
Bài (theo tài liệu tổng kết của Quân chủng Phòng không)
14
Theo số liệu của sư đoàn 361 thì có 44 lần chiếc, nhưng theo cung giặc lái thì lực lượng vào đánh
cầu là 56 lần chiếc trong đó có 36 F105 trực tiếp vào công kích.
15
Lá cờ này đang lưu giữ lại Bảo tàng Cách mạng.
16
Các lần trước là vào các ngày 19-5, 21-5, 10-6 và 22-8
17
Khu 6 là mật danh bọn giặc lái gọi vùng Hà nội.
18
Tháng 10 năm 1967 liên đội ở Cò-rạt mất 20 chiếc trên tổng số 75 chiếc (28 phần trăm), liên đội
Tắc-ly mất 14 chiếc trên tổng số 60 chiếc (25 phần trăm). Tháng 11 năm 1967 liên đội Cò-rạt mất 13 chiếc trên
tổng số 60 chiếc (25 phần trăm), liên đội Tắc-ly mất 9 chiếc trên tổng số 54 chiếc (18 phần trăm)
19
Trích Nghị quyết Đảng uỷ Quân chủng ngày 13 tháng 4 năm 1972.