You are on page 1of 228

Sư đoàn không quân 371 (1967 - 2007

)

Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kí
quyết định số 014 /QĐ-QP thành lập Bộ tư lệnh không quân. Thi hành quyết định trên, ngày 1 tháng 5
năm 1967, đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân kí quyết định số
492/TM-QL ghi rõ: Bộ tư lệnh không quân mang phiên hiệu công khai là F371.

Đáp ứng nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Thăng Long, ngày 15 tháng 6
năng 2006, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng phòng không-Không quân ra quyết định số 516/QĐ- PK-
KQ lấy ngày 24 tháng 3 năm 1967 là ngày truyền thống của Sư đoàn không quân 371.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống (24-3-1967 - 24-3-2007), được sự chỉ đạo của
Thường vụ đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, Sư đoàn không quân 371
phối hợp với Ban Tổng kết Lịch sử Quân chủng tổ chức tái bản, bổ sung, nâng cao cuốn lịch sử của sư
đoàn đã xuất bản năm 1997 để làm tài liệu giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của
sư đoàn nói riêng và làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo ở cơ quan, học viện, nhà trường trong Quân
chủng.

Bốn mươi năm qua, lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Sư đoàn không quân
371 gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước. Ra đời vào những năm tháng ác liệt đầy gian nan,
thử thách của dân tộc, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc
Mỹ ra miền Bắc, các đơn vị của Sư đoàn không quân 371 tuy lực lượng ít, trang bị kém hiện đại, lại
chưa có kinh nghiệm chiến đấu và tổ chức chỉ huy trên không, trình độ bay, giờ bay chưa nhiều, phải
chiến đấu với lực lượng không quân và hải quân Mỹ có số lượng đông, trang bị mạnh, có kinh nghiệm
không chiến, trình độ và giờ bay cao, vì vậy không quân ta phải chiến đấu dũng cảm, thông minh và
chịu nhiều hi sinh tổn thất. Không quân ta vừa phải chiến đấu vừa xây dựng, phát triển lực lượng và
thường xuyên phải đánh trả không quân Mỹ trong thế ít đánh nhiều, vũ khí nào cũng đánh và loại hình
tác chiến nào cũng tham gia đánh thắng. Điển hình như tác chiến phòng không, vận chuyển, vận tải,
tiếp tế đường không và tiến công đường không. Sư đoàn đã tham gia đánh địch trên không, trên biển,
trên đất liền, đề bảo vệ miền Bắc, bảo vệ giao thông vận tải trên tuyến đường Hồ Chí Minh, bảo vệ
binh chủng hợp thành trong các chiến dịch lớn của ta và trên chiến trường của Lào và Cam-pu-chia,
đồng thời làm nhiều nhiệm vụ bảo đảm khác.

Các đơn vị của sư đoàn đã xuất kích chiến đấu hàng nghìn trận, bắn rơi hàng trăm máy bay
Mỹ, đánh chìm và bắn hỏng nhiều tàu chiến, tiêu diệt nhiều sinh lực và phá huỷ nhiều phương tiện
chiến tranh, thu hồi nhiều trang bị vũ khí, cơ sở vật chất kỹ thuật của địch. Đặc biệt đã sáng tạo, cải
tiên kỹ thuật, chuyển loại trang bị vũ khí, lấy vũ khí địch đánh thắng địch. Những chiến công vẻ vang
của sư đoàn đã góp phần vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là
trận đánh vào sào huyệt của địch ngày 28 tháng 4 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay,
cán bộ, chiến sĩ Đoàn không quân Thăng Long đã và đang phát huy truyền thông vẻ vang của mình, ra
sức huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cao, cùng các lực lượng vũ trang kiên quyết đánh thắng kẻ thù
trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành của mình, cán bộ, chiến sĩ sư đoàn rất tự
hào đã nhiều lần được vinh dự đón Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo đảng, Nhà nước đến thăm. Sư
đoàn được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không quân dành cho một tên gọi đầy ý nghĩa: “cái nôi” của
Không quân nhân dân Việt nam. Trên mảnh đất lịch sử của sư đoàn, năm 1995 Quân chủng quyết định
tổ chức xây dựng “Tượng đài không quân” nhằm ghi tạc và tôn vinh những đóng góp to lớn của các
thế hệ cán bộ, chiến sĩ không quân đã phục vụ trong những thời kì tại sư đoàn mà tiêu biểu là các
đồng chí anh hùng, liệt sĩ không quân; công trình có ý nghĩ chính trị, văn hoá, nhân văn sâu sắc. Từ
nơi đây, nhiều đồng chí cán bộ không quân đã trưởng thành và được giao, giữ nhiều trọng trách của
Quân chủng, của quân đội. Người công dân đầu tiên của Việt nam bay vào vũ trụ cũng được rèn luyện
và trưởng thành từ sư đoàn.

Do có những chiến công vẻ vang và thành tích to lớn trong 40 năm qua, sư đoàn được
Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: 8 tập thể, 33 cá nhân được tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 1 đồng chí được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động,
hàng nghìn huân chương, huy chương các loại như huân chương Độc lập, huân chương Quân công và
Chiến công các loại. Ngày 31 tháng 12 năm 1982, sư đoàn vinh dự được phong tặng danh hiệu “Đơn
vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống của mình là dịp cán bộ, chiến sĩ sư đoàn ôn lại một
chặng đường lịch sử đầy khó khăn, ác liệt nhưng rất đỗi vinh quang, tự hào, trong đó là cả sự hi sinh,
cống hiến của lớp lớp cán bộ, phi công, chiến sĩ sư đoàn đã không tiếc mồ hôi, công sức, xương máu
của mình, vì sự phát triển, trưởng thành của Không quân nhân dân Việt nam, vì sự thắng lợi của cách
mạng. Những trang sử vàng chói lọi của sư đoàn được viết bởi những chiến công hiển. hách, những
công việc thầm lặng của họ trong suốt mấy chục năm qua chính là nguồn sức mạnh to lớn động viên,
cổ vũ cán bộ, chiến sĩ sư đoàn hôm nay tiếp bước các thế hệ đi trước, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong
thời kỳ mới của đất nước.

Nhân dịp cuốn “Lịch sử Sư đoàn không quân 371 (1967-2007)” được xuất bản, Thường vụ
Đảng uỷ và Ban chỉ huy sư đoàn xin chân thành cám ơn Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh, Cục
Chính trị Quân chủng phòng không Không quân, Viện Lịch sử quân sự Việt nam, Nhà xuất bản Quân
đội nhân dân, Ban Tổng kết- Lịch sử và xưởng in Quân chủng đã quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ chúng tôi
hoàn thành cuốn sách này. Đặc biệt, trân trọng cám ơn các cán bộ lãnh đạo chỉ huy sư đoàn các thời
kỳ đã có nhiều ý kiến tâm huyết, những đóng góp quý báu, góp phần quan trọng vào sự thành công
của cuốn sách.
Trong quá trình biên soạn, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm tư liệu, thẩm định
sự kiện, nhưng do trình độ của ban biên soạn còn nhiều hạn chế, mặt khác, lịch sử 40 năm của sư đoàn
vô cùng phong phú, sinh động, trong đó công tác lưu trữ tài liệu, nhất là thời kỳ chiến tranh còn chưa
đầy đủ nên không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của các đồng chí để cuốn sách hoàn chỉnh hơn.

Thường vụ đảng uỷ và ban chỉ huy sư đoàn không quân 371

Chương 1

BỘ TƯ LỆNH KHÔNG QUÂN MANG PHIÊN HIỆU CÔNG KHAI F371, THAM GIA
CHIẾN ĐẤU CHỐNG CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1967 - 1968)

I. NHỮNG ĐƠN VỊ KHÔNG QUÂN ĐẦU TIÊN, Cơ SỞ ĐỂ THÀNH LẬP BỘ TƯ
LỆNH KHÔNG QUÂN (1949- 1967)

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng chủ yếu của quân
đội ta là các đơn vị bộ binh với trang bị còn thiếu thốn, thô sơ. Một số đơn vị tiền thân của các binh
chủng Công binh, Pháo binh, Thông tin được tổ chức và trang bị cũng rất hạn chế.

Đầu năm 1949, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh cùng
Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng và đồng chí Phan Phác, Cục trưởng Cục quân
huấn trực tiếp báo cáo xin chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương xây dựng cơ sở ban đầu
của không quân, hải quân và một số binh chủng. Sau khi nghe báo cáo về ý định thành lập "Đội huấn
luyện không quân", Bác hỏi cặn kẽ tình hình rồi ân cần nói: Ta đã làm cái gì thì phải làm cho được,
phải kiểm tra cơ sở thực tế các mặt xem có thực hiện được hay không. Còn hướng đi về mặt chiến
lược để đón trước thời cơ là như thế”

Chấp hành chỉ thị của Bác, ngày 9 tháng 3 năm 1949, Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết
định thành lập Ban nghiên cứu không quân thuộc Bộ Tổng tham mưu. Ban nghiên cứu không quân có
nhiệm vụ xây dựng cơ sở nghiên cứu bước đầu về không quân, tìm hiểu hoạt động của không quân
Pháp, tìm biện pháp chống lại chúng, chuẩn bị cơ sở vật chất, tài liệu và huấn luyện cán bộ… để đón
thời cơ. Phương châm hoạt động là từ nhỏ đến lớn, cụ thể, thiết thực, bí mật, phù hợp với tình hình.
Đồng chí Hà Đổng, cán bộ thuộc cơ quan Bộ quốc phòng được cử làm trưởng ban. Đồng chí Đoàn
Mạnh Nghi phụ trách công tác đảng. Đầu năm 1950, đồng chí Trần Hiếu Tâm, cán bộ tỉnh đội Hà
Giang, nguyên là học sinh trường kĩ nghệ được cử làm chính trị viên. Số đảng viên thuộc Ban nghiên
cứu không quân tổ chức thành một chi bộ Đảng, trực thuộc Đảng bộ Bộ Tổng tham mưu. Địa điểm
đóng quân của ban là thôn Ngòi Liễm, xã Hữu Lộc, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Thôn Ngòi
Liễm nằm bên tả ngạn sông Lô, gần cơ quan Bộ Tổng tham mưu. Để giữ bí mật, Ban nghiên cứu
không quân mang tên "Nông trường thí nghiệm".
Được chính quyền và nhân dân địa phương giúp đỡ, cán bộ, chiến sĩ Ban nghiên cứu không
quân khẩn trương xây dựng nhà ở, nhà làm việc, xưởng cơ khí, lớp học. Một số người được cử đến
các điểm có máy bay Pháp bị quân và dân ta bắn rơi để thu nhặt những phần còn lại của động cơ,
thân, cánh máy bay mang về nghiên cứu và sử dụng làm học cụ. Một số linh kiện được công nhân kỹ
thuật xưởng cơ khí dùng chế tạo "máy ngắm" bắn máy bay cho súng trường, súng máy. Cùng với việc
củng cố cơ sở vật chất, Ban nghiên cứu khẩn trương tổ chức lớp học không quân. Học viên được
tuyển chọn là những người có phẩm chất chính trị tốt, có sức khoẻ và trình độ văn hoá nhất định.
Khoá một có 29 người, khoá 2 có 81 người, phân thành ba ngành học là lái máy bay, thợ máy và khí
tượng. Giáo viên là những cán bộ quân sự đã có thời gian làm việc trong ngành hàng không Pháp
trước Cách mạng tháng Tám và một số hàng binh người Đức, Nhật Bản… Để có tài liệu học tập, giáo
viên đã tìm trong các tờ báo giữ từ vùng địch tạm chiếm những bài viết, tin quảng cáo về các loại máy
bay của Pháp rồi biên soạn lại. Những bài học về đường lối kháng chiến do cán bộ cơ quan Bộ quốc
phòng trực tiếp giảng.

Sau một thời gian học lý thuyết, học viên hành quân về Chiêm Hoá, nơi cất giữ hai chiếc
máy bay chuyển từ Huế ra sau Cách mạng tháng Tám (Vua Bảo Đại có hai máy bay. Chiếc Tiger
Moth là loại máy bay một động cơ, do Anh chế tạo, hai tầng cánh, hai chỗ ngồi, thân bọc vải, tốc độ
chậm, có thể hạ cánh ở sân bay ngắn, hẹp, kể cả trên đồng cỏ. Không quân Anh dùng để tập lái, liên
lạc. Chiếc Morane Saulnier do Pháp chế tạo là loại máy bay thể thao một động cơ, thân kim loại, một
tầng cánh, hai chỗ ngồi. Sau Cách mạng tháng Tám, Bảo Đại được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra làm
cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời. Bảo Đại đề nghị cho đưa hai chiếc máy bay từ Huế ra Hà nội.
Chính phủ ta chấp nhận với ý định thành lập một câu lạc bộ không quân cho thanh niên. Đồng chí Tạ
Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ quốc phòng giao nhiệm vụ cho đồng chí Phan Phác, Cục trưởng Cục
Quân huấn tổ chức đưa máy bay ra bằng tàu hoả (sau khi tháo cánh) và đưa lên Kim Đái, tỉnh Sơn
Tây. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, hai chiếc máy bay được tháo rời, chuyển bằng thuyền lên Bình
Ca, rồi lên Soi Đúng (phía nam huyện lị Chiêm Hoá 10km) để thực hành mở máy và điều khiển lăn.
Trong hoàn cảnh không có sân bay theo tiêu chuẩn, các giáo viên, học viên đã phát quang một bãi đất
bằng phẳng dài khoảng 400m, rộng 25m ở ven dòng sông Gâm để làm đường cất cánh và hạ cánh.
Xăng dầu được chuyển từ Cao Bằng xuống bằng cách lăn từng thùng phuy. Do nguỵ trang thiếu chu
đáo, địch phát hiện bãi đất trống đã cho máy bay đến đánh phá làm một số người thương vong. Sau
khi khắc phục hậu quả, nguỵ trang và sửa chữa đường lăn, kế hoạch thực tập bay tiếp tục được thực
hiện.

Ngày 15 tháng 8 năm 1949, chiếc máy bay Tiger Moth sơn cờ đỏ sao vàng do Nguyễn Đức
Việt(1) lái và đồng chí Đống thợ máy cùng bay đã cất cánh, bay được một vòng. Khi chuẩn bị hạ cánh
thì bộ phận điều khiển bị hỏng. Máy bay hạ tiếp đất lệch dốc theo bờ sông Gâm. Người lái và thợ máy
an toàn nhưng máy bay bị hỏng, không bay được nữa. Hai chiếc máy bay được cất giấu ở Chiêm Hoá
cho đến ngày kháng chiến thắng lợi.

Chuyến bay thử nghiệm không thành công là một thực tế chứng minh trong hoàn cảnh khó
khăn, thiếu thốn về cán bộ kỹ thuật, phương tiện và các mặt bảo đảm của những năm đầu kháng chiến,
chúng ta chưa có điều kiện xây dựng một lực lượng không quân chiến đấu hiện đại, yêu cầu cao, đồng
bộ và có những đặc điểm riêng khác hẳn với các lực lượng khác.
Đầu năm 1951, Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh quyết định giải thể Ban nghiên cứu không
quân. Lớp đào tạo không quân chuyển sang làm nhiệm vụ bổ túc cán bộ phòng không. 20 học viên lớp
không quân khoá 1 được Bộ Tổng tham mưu điều lên Thuỷ Khẩu (Cao Bằng) học chuyển loại về
phòng không, tiếp nhận vũ khí và trở thành nòng cốt xây dựng đại đội phòng không 612, đơn vị pháo
cao xạ 37mm đầu tiên của quân đội ta. Số học viên còn lại của khoá một và phần lớn học viên khoá
hai được chuyển sang các đơn vị pháo binh, công binh (Đại đoàn công pháo 351) và đi học chuyển
loại về phòng không. Cán bộ phụ trách Ban nghiên cứu không quân được điều về cơ quan Bộ nhận
nhiệm vụ mới. Tháng 10 năm 1952, đoàn cán bộ học viên đầu tiên gồm 33 người được cử sang Nam
Ninh (Trung Quốc) học về không quân cũng chuyển sang học về phòng không. Trong khi ta chưa có
máy bay, chưa có điều kiện xây dựng không quân, những quyết định trên đây là phù hợp với thực tiễn
tình hình lúc đó.

Việc thành lập Ban nghiên cứu không quân và tổ chức lớp học không quân từ năm 1949
chứng tỏ Tổng Quân uỷ và Bộ quốc phòng có ý định xây dựng không quân từ sớm. Chỉ thị của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về tổ chức một ban nghiên cứu có lớp học, vừa học vừa làm sát hợp với tình hình
và khả năng của ta, chỉ ra hướng đi đúng đắn cho việc xây dựng Không quân nhân dân Việt nam. Lớp
cán bộ, chiến sĩ đầu tiên được nghiên cứu về không quân đã rất cố gắng học tập, tìm mọi cách khắc
phục những khó khăn khách quan và mọi hạn chế về trình độ của bản thân để thực hiện quyết tâm lấy
vũ khí, phương tiện chiến đấu thu được của địch đánh địch. Kết quả nghiên cứu và hoạt động không
đạt được như ý định ban đầu, nhưng một số hiểu biết và kinh nghiệm thu được là cơ sở rất quý để
quân đội ta đề ra chủ trương, tính toán bước đi biện pháp phù hợp và chính thức bước vào xây dựng
không quân khi có đủ điều kiện.

***

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Ngày 10 tháng
10 năm 1954, bộ đội ta tiến về tiếp quản thủ đô Hà nội. Lực lượng tiếp quản và bảo vệ sân bay Gia
Lâm gồm một tiểu đoàn bộ đội chủ lực (đại đoàn bộ binh 308), một tiểu đoàn bộ đội địa phương (tỉnh
Bắc Ninh) và một tiểu đoàn phòng không (Trung đoàn pháo cao xạ 367). Đồng thời ta đã thành lập
một bộ phận làm nhiệm vụ tiếp thu cơ sở vật chất, kỹ thuật hàng không của đối phương tại sân bay,
chuẩn bị khôi phục, duy trì hoạt động bình thường của sân bay Gia Lâm sau khi quân Pháp rút.

Theo thoả thuận giữa ta và Pháp, trong những tháng cuối năm 1954, máy bay của hải quân
Pháp tiếp tục được hoạt động ở sân bay Gia Lâm và một số sân bay, đường bay khác trên miền Bắc.
Việc chỉ huy bay và bảo đảm mặt đất do phía Pháp đảm nhiệm. Sau ngày 31 tháng 12 năm 1954 - thời
hạn cuối cùng quân Pháp phải rút khỏi sân bay Gia Lâm, toàn bộ công tác này do ta thực hiện. Nhưng
do yêu cầu thực tế, một số máy bay và tổ bay của Pháp còn phải tiếp tục phục vụ Uỷ ban quốc tế kiểm
soát và giám sát việc thực hiện hiệp định đình chiến ở Việt nam thêm một thời gian.

Để thực hiện nhiệm vụ tiếp quản, phối hợp hoạt động của các lực lượng bảo vệ và phục vụ
ở khu vực sân bay, Tổng quân uỷ và Bộ quốc phòng quyết định thành lập đơn vị sân bay Gia Lâm và
cử đồng chí Trần Quý Hai, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 325 làm chỉ huy chung. 30 đảng viên
của đơn vị được tổ chức thành một chi bộ Đảng. Đồng chí Hoàng Bái được chỉ định làm bí thư chi bộ.
Nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu không quân trước đây và một số cán bộ có trình độ văn
hoá, biết tiếng Pháp, có chuyên môn về thông tin, khí tượng, công binh, xăng dầu… trong toàn quân
được Bộ Tổng tham mưu điều về sân bay Gia Lâm nhận nhiệm vụ. Đến cuối tháng 12 năm 1954, số
quân của đơn vị sân bay Gia Lâm lên tới 200 người. Cùng làm nhiệm vụ với quân đội trong khu vực
sân bay còn có một số cán bộ công an, hải quan, y tế. Đồng chí Nguyễn Văn Giáo, nguyên trung đoàn
trưởng thuộc Đại đoàn 325 được cử làm giám đốc sân bay Gia Lâm.

Vào tháng 11 năm 1954, trong phiên họp đầu tiên, chi bộ Đảng đơn vị sân bay đã thảo
luận, phân tích những khó khăn khách quan và hạn chế về trình độ chuyên môn của cán bộ, đảng viên
khi bước vào nhiệm vụ mới. Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ giao, chi bộ ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị
vừa làm, vừa học bằng nhiều hình thức để nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ. Đồng thời giáo dục
cán bộ, chiến sĩ ý thức cảnh giác đề phòng với các hành động phá hoại của địch, giữ vững bản chất
của một quân đội chiến thắng, có thái độ mềm dẻo, tránh va chạm khi tiếp xúc với đối phương.

Căn cứ vào nhiệm vụ trước mắt là tiếp quản tiến tới quản lý và điều hành hoạt động của
sân bay ở Thủ đô, đơn vị sân bay tổ chức bốn phòng: Hàng vụ (còn gọi là điều phái), trường vụ (đảm
bảo sân bay, đường), thông tin, khí tượng, ban chính trị và các bộ phận phục vụ như hành chính, phiên
dịch…

Đầu tháng 12 năm 1954, thực hiện hiệp định giữa hai chính phủ Việt nam dân chủ cộng
hoà và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc cử 70 chuyên gia hàng không thuộc các ngành
điều phái, thông tin, khí tượng, dẫn đường, cơ vụ mang theo một số phương tiện hàng không sang
giúp Việt nam. Đoàn chuyên gia hàng không Trung Quốc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp. Sau khi
tiễn các chuyên gia nước bạn, Bác căn dặn cán bộ đơn vị sân bay Gia Lâm: "Các chú phải cố gắng
học tập nhanh chóng nắm vững khoa học kỹ thuật để các đồng chí Trung Quốc có thể sớm về nước".
(Ghi theo lời kể của một số cán bộ đơn vị sân bay Gia Lâm).

Thực hiện chỉ thị của Bác, cán bộ, chiến sĩ đơn vị sân bay vừa tiếp tục củng cố tổ chức,
tiếp thu và bảo quản các cơ sở vật chất kỹ thuật, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của bạn, mở nhiều lớp học
ngắn ngày về nghiệp vụ hàng không.

Việc sửa, dọn sân bay, tháo gỡ bom mìn, thu xác máy bay, ô-tô, dây kẽm gai nhanh chóng
được triển khai với sự tham gia của du kích, nhân dân thị trấn Gia Lâm và vùng phụ cận.

Ngày 31 tháng 12 năm 1954, nghi thức tiếp quản được tổ chức tại sân bay có sự chứng
kiến của đại diện Uỷ ban quân quản Hà nội và tổ đại diện Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình
chiến. Các kíp trực ban, các bộ phận chuyên môn, kỹ thuật của ta bắt đầu làm nhiệm vụ. Đài phát
sóng sân bay Gia Lâm do ta điều khiển làm việc phiên đầu tiên với các đài, trạm của các sân bay trên
miền Bắc và một số nước có liên quan.

Ngày 1 tháng 1 năm 1955, cán bộ chiến sĩ đơn vị sân bay Gia Lâm cùng đồng bào và chiến
sĩ Hà nội vô cùng phấn khởi chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về
thủ đô.

Sáng ngày 2 tháng 1 năm 1955, chiếc máy bay B-307 của hãng hàng không Pháp (Air
France) chở một số nhân viên của Uỷ ban quốc tế từ sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) hạ cánh xuống
sân bay Gia Lâm (Hà nội) an toàn. Đây là chuyến bay đầu tiên do cán bộ, chiến sĩ hàng không Việt
nam chỉ huy. Quân đội ta đã hoàn thành tiếp quản, khôi phục sân bay Gia Lâm trong thời gian chưa
đầy 3 tháng, chứng tỏ khả năng bảo đảm hoạt động bình thường của sân bay sau khi không còn các
nhân viên kỹ thuật, điều hành của Pháp. Sự kiện này là một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển
của ngành hàng không dân dụng Việt nam.

Những tháng đầu năm 1955, hoạt động của sân bay Gia Lâm ngày càng trở nên nhộn nhịp.
Bên cạnh các chuyến bay thường xuyên phục vụ Uỷ ban quốc tế, đơn vị sân bay đã đảm bảo an toàn
cho một số chuyến bay chuyên cơ đưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi làm việc với các địa
phương trong nước, đi thăm các nước bạn và đón một số chuyến bay chở các đoàn đại biểu Đảng, Nhà
nước các nước bạn đến thăm Việt nam. Sân bay Gia Lâm trở thành trung tâm chỉ huy, điều hành mọi
công việc của ngành hàng không trên miền Bắc.

***

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng nước ta đã chuyển
sang một giai đoạn mới. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tiếp tục đấu tranh để hoàn thành sự
nghiệp giải phóng miền Nam, chống đế quốc Mỹ xâm lược đặt ra nhiều vấn đề mới về củng cố quốc
phòng.

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, từ đầu năm 1955, Tổng quân uỷ và Bộ
quốc phòng - Tổng tư lệnh xúc tiến nghiên cứu kế hoạch dài hạn xây dựng quân đội, tập trung vào các
vấn đề cơ bản như mục tiêu, nội dung, bước đi và một số biện pháp xây dựng trước mắt để trình lên
Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Kế hoạch xác định nhiệm vụ của quân đội ta trong bước đi đầu tiên
của công cuộc xây dựng chính quy, hiện đại (1955-1959) là xây dựng một lực lượng quân đội chính
quy, tương đối hiện đại; đặt cơ sở đầu tiên cho hai quân chủng Không quân và Hải quân; chuẩn bị
điều kiện để khi bước sang kế hoạch sau sẽ hoạt động hoá quân đội ở trình độ cao hơn.

Ngày 3 tháng 3 năm 1955, Bộ trưởng Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân
Việt nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu sân bay
(phiên hiệu C47). Quyết định của Bộ ghi rõ: Ban nghiên cứu sân bay có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý các
sân bay hiện có, tổ chức chỉ huy các chuyến bay hàng ngày, đồng thời giúp Bộ Tổng tham mưu nghiên
cứu những nội dung về tổ chức, xây dựng lực lượng không quân phù hợp với kế hoạch xây dựng quân
đội trong giai đoạn mới. Ban nghiên cứu sân bay trực thuộc Tổng tham mưu trưởng, phạm vi quyền
hạn tương đương cấp cục thuộc Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí Trần Quý Hai được giao nhiệm vụ làm
trưởng ban nghiên cứu sân bay.

Tháng 5 năm 1955, đồng chí Đặng Tính, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến được bổ nhiệm
làm trưởng ban nghiên cứu sân bay. Đồng chí Trần Quý Hai là phó tổng tham mưu trưởng trực tiếp
theo dõi, giúp Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo hoạt động của ban. Tháng 9 năm 1956, đồng chí Hoàng Thế
Thiện được bổ nhiệm làm chính uỷ.

Về tổ chức, căn cứ vào chức năng của một cơ quan nghiên cứu, quản lý và chỉ huy các sân
bay, Ban nghiên cứu sân bay tổ chức cơ quan gồm 4 phòng nghiên cứu (sau đổi là Phòng Kế hoạch),
chính trị, cung ứng, kiến trúc và một số ban (hành chính, quân lực). Lực lượng trực thuộc gồm các
đơn vị sân bay, công trình (công binh), vận tải, xăng dầu, bao vệ. Cuối năm 1955, số lượng cán bộ,
chiến sĩ cơ quan và các đơn vị trực thuộc lên tới 700 người.

Ngày 12 tháng 8 năm 1955, Tổng quân uỷ ra quyết định số 200/QĐ thành lập Đảng bộ Ban
nghiên cứu sân bay thuộc Đảng bộ Bộ Tổng tham mưu, chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ gồm 5 người
do đồng chí Đặng Tính làm bí thư. Tổng quân uỷ quy định nhiệm vụ, quyền hạn Đảng uỷ Ban nghiên
cứu sân bay như Đảng uỷ cấp đại đoàn. Một thời gian sau, do vị trí quan trọng của chủ trương xây
dựng không quân, cần phải lãnh đạo trực tiếp, Tổng quân uỷ quyết định Đảng bộ Ban nghiên cứu sân
bay trực thuộc Tổng quân uỷ.

Thành lập Ban nghiên cứu sân bay là bước đi đầu tiên trên con đường xây dựng Không
quân nhân dân Việt nam. Trong khi chưa có máy bay, chưa có cán bộ chỉ huy, kỹ thuật, người lái.
Trong khi nền kinh tế của đất nước còn lạc hậu, chúng ta bắt đầu từ nghiên cứu các sân bay, xây dựng
cơ sở hạ tầng và hệ thống bảo đảm trên mặt đất để từng bước xây dựng không quân là chủ trương
đúng đắn và bước đi phù hợp.

Ngày 3 tháng 3 năm 1955 đánh dấu sự ra đời và được xác định là ngày truyền thống hàng
năm của Không quân nhân dân Việt nam (Theo nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ không quân và đề
nghị của Đảng uỷ Bộ tư lệnh Quân chủng, ngày 18 tháng 9 năm 1990. Bộ quốc phòng ra quyết định
Số 220/QĐ xác nhận ngày 3 tháng 3 năm 1955 là ngày ra đời của Không quân nhân dân Việt nam và
ngày 3 tháng 3 hàng năm là ngày truyền thống của bộ đội không quân)

Ngay sau khi thành lập, Ban nghiên cứu sân bay đã tiếp quản và khẩn trương khôi phục,
đưa một số sân bay trên miền Bắc vào hoạt động. Thời gian này, cụm ba sân bay Cát Bi, Kiến An, Đồ
Sơn thuộc thành phố Hải Phòng còn nằm trong khu vực tập kết 300 ngày của đối phương. Đây là
những sân bay có vị trí quan trọng ở vùng đông bắc, trong đó Cát Bi là một sân bay quân sự lớn. Vận
dụng kinh nghiệm tiếp quản sân bay Gia Lâm, Ban nghiên cứu sân bay tổ chức sẵn lực lượng, tích cực
chuẩn bị để khi quân Pháp rút sẽ kịp thời vào tiếp quản. Ngày 13 tháng 5 năm 1955, trong đoàn quân
tiến vào tiếp quản thành phố Cảng có đoàn tiếp quản sân bay và một tiểu đoàn bộ binh thuộc Đại đoàn
320 tiến vào sân bay Cát Bi. Cờ đỏ sao vàng tung bay trên đài chỉ huy ở trung tâm sân bay. Ngày 14
tháng 5 và tiếp đó ngày 15 tháng 5, bộ đội ta tiếp quản hai sân bay Kiến An và Đồ Sơn. Cũng như ở
các sân bay khác, hầu hết trang thiết bị ở các sân bay Cát Bi, Kiến An, Đồ Sơn đã bị quân Pháp tháo
gỡ mang đi hoặc phá hỏng. Trước mắt bộ đội ta là cảnh tượng hoang tàn, đổ nát. Nhà cửa bị đập phá,
những thanh sắt cong queo nằm ngổn ngang trên đường băng. Hàng rào dây kẽm gai và hàng trăm quả
mìn lẫn trong cỏ dại. Nước chảy lênh láng và ứ đọng từng vũng vì cống rãnh bị tắc. Bộ đội ta phải mất
rất nhiều thời gian, công sức mới có thể đưa các sân bay này trở lại hoạt động.

Theo chỉ thị của Bộ và căn cứ vào khả năng thực tế, trong những tháng cuối năm 1955,
Ban nghiên cứu sân bay tập trung sửa chữa, khôi phục một số sân bay chính nhằm phục vụ nhiệm vụ
trước mắt, đồng thời tích cực chuẩn bị cho các bước phát triển của ngành hàng không trong những
năm sau. Ở sân bay Gia Lâm, công việc sửa chữa chính là mở rộng và kéo dài đường bảo hiểm, đường
lăn, bảo đảm cho máy bay có tốc độ lớn cất cánh và hạ cánh an toàn. Một số sân bay có đường băng
đất và dã chiến như Vinh. Đồng Hới, Lạng Sơn, Lào Cai, Tiên Yên cũng được sửa chữa gấp để phục
vụ hoạt động của Uỷ ban quốc tế. Trong quá trình khôi phục các sân bay này sẽ từng bước hình thành
hệ thống dẫn đường cho máy bay từ Trung Quốc đến Hà nội (sân bay Lạng Sơn), dẫn đường cho máy
bay từ Sài Gòn ra và từ Viếng Chăn (Lào), Phnôm Pênh (Căm-pu-chia) đến Hà nội (sân bay Vinh,
Đồng Hới). Riêng sân bay Cát Bi được sửa chữa để làm dự bị của sân bay Gia Lâm trong những ngày
thời tiết ở Hà nội không bảo đảm cho máy bay hoạt động bình thường.

Việc sửa chữa, đưa các sân bay vào hoạt động trong thời gian ngắn đòi hỏi nhiều lực lượng,
phương tiện và phải giải quyết nhiều vấn đề kỹ thuật. Có những sân bay địch đã bỏ lâu ngày hoặc
dùng làm nơi đóng quân nên sau khi chúng rút đi chỉ là một bãi đất hoang. Sân bay Đồng Hới, Đại
đoàn 325 và nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia hàng vạn ngày công cùng đơn vị sân bay san lấp mặt
bằng, tháo gỡ mìn, dây kẽm gai, sửa chữa đường lăn. Ở sân bay Tiên Yên, mặc dù các lực lượng sửa
chữa đã bỏ ra rất nhiều công sức, tiền của, nhưng do thiếu hiểu biết về kỹ thuật, sân bay sửa xong vẫn
không hoạt động được, gây lãng phí lớn. Đây là những thực tế giúp Ban nghiên cứu sân bay có thêm
kinh nghiệm, nhất là khả năng chuẩn bị, bảo đảm các chỉ tiêu kỹ thuật trong hoạt động của ngành
hàng không.

Ngày 20 tháng 6 năm 1955, chuyến bay đầu tiên do ta chỉ huy hạ cánh xuống sân bay Cát
Bi an toàn. Các sân bay Vinh, Lạng Sơn, Lào Cai cũng được khôi phục, hoạt động trở lại hình thành
một hệ thống sân bay trên các hướng, các đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc, trung tâm là
sân bay Gia Lâm.

Thời gian này, ta chưa có máy bay và tổ bay. Nhiệm vụ bay phục vụ Uỷ ban quốc tế kiểm
soát và giám sát đình chiến do máy bay và các tổ bay của Pháp thực hiện. Các nhiệm vụ bay khác do
máy bay và tổ bay Trung Quốc giúp. Ban nghiên cứu sân bay đảm nhiệm công tác tổ chức chỉ huy,
bảo đảm bay mặt đất và quản lý, điều hành hoạt động bay ở trên không. Mọi hoạt động trên không
đều mang hình thức hàng không dân dụng và do quân đội thực hiện. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
quốc phòng, ngày 22 tháng 12 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định thành lập Cục Hàng
không dân dụng Việt nam với những nhiệm vụ chính là:

1. Tổ chức và chỉ đạo vận chuyển hàng không ở trong nước và giữa nước ta với nước ngoài
về mặt dân dụng.

2. Nghiên cứu sử dụng đường hàng không phục vụ công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá
của đất nước.

Cục Hàng không dân dụng trực thuộc Phủ Thủ tướng. Đồng chí Đặng Tính, Trưởng ban
nghiên cứu sân bay đồng thời là Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng. Ban nghiên cứu sân bay được
tổ chức thêm một số phòng để thực hiện nhiệm vụ của một cơ quan hàng không dân dụng như Phòng
Thương vụ, Phòng Giao dịch quốc tế, Phòng Bán vé máy bay… Cán bộ, chiến sĩ Ban nghiên cứu sân
bay thống nhất trang phục dân sự của ngành hàng không. Nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng không quân
(Ban nghiên cứu sân bay) và hoạt động của ngành hàng không (Cục Hàng không dân dụng) mang hai
tên gọi khác nhau, nhưng thực chất là một tổ chức thuộc Bộ quốc phòng. Theo chỉ thị của Bộ, trong
quá trình hoạt động của Ban nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng, nếu có những vấn đề
ngoài phạm vi quyền hạn của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần giải quyết
thì Ban nghiên cứu sân bay báo cáo lên Tổng quân uỷ và Bộ trưởng Bộ quốc phòng để kiến nghị lên
Thủ tướng Chính phủ. Hình thức tổ chức và thống nhất quản lý hoạt động của không quân và hàng
không dân dụng tiếp tục được duy trì và phát huy hiệu quả trong nhiều năm sau.

Ban nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng được thành lập trong năm 1955
đánh dấu sự ra đời của không quân và ngành hàng không Việt nam. Từ nghiên cứu và thử nghiệm
bước đầu (Ban nghiên cứu không quân năm 1949) đến hình thành một tổ chức phù hợp với tình hình
và khả năng thực tế (Ban nghiên cứu sân bay năm 1955), Không quân nhân dân Việt nam đã đặt được
nền móng đầu tiên cho công cuộc xây dựng và phát triển một quân chủng hiện đại.

Ngay sau khi ra đời, Ban nghiên cứu sân bay một mặt tổ chức chỉ huy các chuyến bay hàng
ngày, tổ chức cải tạo, tu sửa một số sân bay cũ để đưa vào hoạt động, một mặt giúp Bộ Tổng tham
mưu nghiên cứu nội dung về tổ chức xây dựng lực lượng không quân. Trong bản dự thảo kế hoạch
xây dựng không quân 5 năm (1956- 1960) trình Tổng quân uỷ và Bộ quốc phòng, Ban nghiên cứu sân
bay đã lập kế hoạch dự kiến bước đầu sẽ xây dựng một trung đoàn không quân vận tải đồng thời
chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật và đào tạo cán bộ, người lái để chuẩn bị tổ chức các đơn vị không
quân chiến đấu và các đơn vị không quân bảo đảm, phục vụ chiến đấu trong những năm sau.

Thời gian này do ta chưa có máy bay, mọi công việc bay phục vụ Uỷ ban quốc tế vẫn do
máy bay và các tổ bay của Pháp đảm nhiệm. Đầu năm 1956, Trung Quốc viện trợ cho ta hai chiếc
máy bay Li-2 và ba chiếc máy bay AERO-45. Ngày 26 tháng 1 năm 1956, cả 5 chiếc máy bay đã hạ
cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm. Đây là những chiếc máy bay đầu tiên của Không quân nhân dân
và ngành hàng không Việt nam. Đến lúc này chúng ta vẫn chưa có các tổ bay nên máy bay do các tổ
bay Trung Quốc điều khiển. Năm ngày sau khi tiếp nhận, ngày 1 tháng 2 năm 1956, máy bay của Việt
nam bắt đầu thay thế máy bay Pháp phục vụ Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến trên
miền Bắc.

Được sự uỷ quyền của Tổng quân uỷ và Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Cục trưởng Cục Cán
bộ và Trưởng ban nghiên cứu sân bay đã trực tiếp tuyển chọn và gửi người đi đào tạo về không quân ở
nước ngoài. Năm 1956, ba đoàn cán bộ đầu tiên được cử đi học về không quân lên đường. Hai đoàn
học ở Trung Quốc gồm đoàn học về máy bay tiêm kích có 50 người do đồng chí Phạm Dưng làm
đoàn trưởng. Đoàn học về máy bay ném bom (Tu-2) có 30 người do đồng chí Đào Đình Luyện làm
đoàn trưởng (Chú thích Đồng chí Đào Đình Luyện sau đó được chuyển sang làm đoàn trưởng đoàn
học về máy bay tiêm kích, đồng chí Phạm Dưng chuyển sang làm đoàn trưởng đoàn máy bay vận tải).
Đoàn thứ ba học ở Liên Xô về máy bay vận tải quân sự (IL-14 và Li-2) có 30 người do đồng chí
Phạm Đình Cường làm đoàn trưởng. Tới giữa năm 1956 một đoàn gồm 12 người được cử sang Tiệp
Khắc học về máy bay thể thao Trener (trong đó có 8 người học lái và 4 người học thợ máy). Đoàn này
là nòng cốt để tổ chức câu lạc bộ hàng không vào cuối năm 1956.

Sau một thời gian phục vụ Uỷ ban quốc tế, từ giữa năm 1956, hai chiếc máy bay vận tải Li-
2 mang số hiệu VN-197 và VN-198 chuyển sang làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách và bay chở
các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đi công tác. Chỉ tính từ ngày 6 tháng 7 đến 30 tháng 8 năm
1957, các tổ bay đã hoàn thành xuất sắc những chuyến bay đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại
biểu Đảng, Nhà nước ta đi thăm chính thức 8 nước xã hội chủ nghĩa, tiếp đó đưa đoàn đại biểu Đảng
và Nhà nước ta đi dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng Mười Nga. Các chuyến bay đều được bảo
đảm an toàn tuyệt đối.

Đến năm 1958, sau khi Liên Xô viện trợ cho ta 5 máy bay vận tải (gồm 1 chiếc IL-14, hai
chiếc Li-2, một chiếc An-2 và một chiếc trực thăng Mi-4), ngành hàng không và không quân ta đã có
10 chiếc máy bay vận tải các loại. Số lượng máy bay được trang bị tăng lên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ,
nhân viên kỹ thuật hàng không và những cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ phải tăng thêm nhiều để kịp
thời đưa số máy bay này vào hoạt động có hiệu quả…

1. Trung đoàn không quân vận tải 919

Đầu năm 1959, đoàn học viên học về máy bay vận tải quân sự gồm các tổ bay IL- 14, Li-2,
An-2 và trực thăng Mi-4 tốt nghiệp về nước. Phần lớn các tổ bay đều đã có thể đảm đương được các
nhiệm vụ bay. Các đoàn học kỹ thuật máy bay vận tải cũng đã lần lượt về, đưa số thợ máy tăng lên, cơ
sở vật chất cũng tăng đáng kể. Được sự giúp đỡ của nhân dân các địa phương, các ngành, cùng với sự
cố gắng vượt bậc của các lực lượng công binh của Bộ quốc phòng và công binh không quân, một số
sân bay trên miền Bắc đã cơ bản được khôi phục và đưa vào sử dụng. Để đáp ứng nhu cầu hoạt động
và thống nhất chỉ huy, điều hành, phục vụ thuận lợi cho toàn bộ số máy bay cũng như các chuyến bay,
Bộ quốc phòng cho phép Cục Không quân tổ chức cơ quan trung đoàn đầu tiên trên cơ sở cơ quan
đơn vị sân bay Gia Lâm, gồm bốn ban (tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần). Trung đoàn được
mang phiên hiệu Trung đoàn không quân vận tải 919, đóng quân tại sân bay Gia Lâm, đồng chí
Nguyễn Văn Giáo, Giám đốc sân bay Gia Lâm được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng, đồng chí
Nguyễn Đàm được bổ nhiệm làm chính uỷ trung đoàn.

Thực hiện chủ trương của Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc phòng, ngày 1 tháng 5 năm
1959, tại sân bay Gia Lâm, Trung đoàn không quân vận tại 919 tổ chức trọng thể lễ thành lập. Thiếu
tướng Trần Văn Quang, Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt nam; đại tá Đặng Tính, Cục
trưởng Cục Không quân và nhiều đại biểu của thành phố Hà nội, các cơ quan đến dự. Các máy bay
vận tải sơn phù hiệu Việt nam do các tổ bay Việt nam điều khiển đã bay biểu diễn ra mắt nhân dân Hà
nội và các quan khách trong buổi lễ. Ngày 1 tháng 5 trở thành ngày truyền thống hàng năm của Trung
đoàn không quân vận tải 919 (Chú thích: ngày 1 tháng 5 năm 1959. Trung đoàn không quân vận tải
919 tổ chức lễ thành lập nhưng tới ngày 30 tháng 9 năm 1959, Bộ quốc phòng mới chính thức ra nghị
định số 429/NĐ thành lập Trung đoàn không quân vận tải 919. Cùng nghị định này, còn thành lập
Trung đoàn 910 - tiền thân của Trường Không quân sau này.

Chỉ trong một thời gian rất ngắn sau khi trung đoàn ra đời, tháng 7 năm 1959, các tổ bay
Việt nam đã dần dần thay thế các tổ bay Trung Quốc trong các nhiệm vụ bay ở trong nước.

Từ năm 1959, nhiệm vụ bay của không quân ngày càng tăng. Ngoài nhiệm vụ bay thường
xuyên, vận chuyển hành khách, hàng hoá trên các tuyến bay trong nước, còn phải bay chuyên cơ ở
trong nước và đi các nước bạn, nhiều chuyến bay của không quân được thực hiện theo yêu cầu xây
dựng, bảo vệ miền Bắc, chi viện cách mạng miền Nam và nhiệm vụ quốc tế.

Tháng 9 năm 1959, Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho Cục Không quân sử dụng máy
bay vận tải thả 60 tấn lương thực và một số hàng hoá khác tiếp tế cho các đơn vị đang mở đường
Trường Sơn vào chiến trường. Đây là nhiệm vụ quan trọng, phục vụ việc mở đường chiến lược nên
phải tuyệt đối bí mật. Không quân hoạt động ở vùng rừng già, nhiều núi cao, khí tượng không ổn
định. Bãi thả hàng là một thung lũng nhỏ hẹp, gần nhà dân. Đối với các tổ bay, mặc dù đã được học
khoa mục thả dù ở trường nhưng chưa được vận dụng trong thực tế. Cán bộ chiến sĩ các đơn vị mặt
đất, ngoài yêu cầu bảo đảm thường xuyên cho các chuyến bay còn phải tập gấp dù, thả dù, đóng gói
hàng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ, các mặt bảo đảm thông tin, dẫn đường cho máy bay đến mục tiêu và
thả dù trúng đích đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề kỹ thuật rất phức tạp. Để khắc phục các khó
khăn trên, Cục Không quân và Trung đoàn 919 đã cử một số cán bộ tham mưu đi khảo sát thực địa,
sau đó lập sa bàn cho cán bộ chỉ huy, thành viên các tổ bay, nhân viên bảo đảm mặt đất nghiên cứu.
Do yêu cầu khẩn trương của nhiệm vụ, Cục và trung đoàn chủ trương sử dụng sân bay Đồng Hới làm
căn cứ xuất phát chủ yếu và huy động cả ba loại máy bay vận tải hiện có là IL- 14, Li-2, An-2. Máy
bay sẽ thả hàng trực tiếp không có dù là chính. Một phần vì thiếu dù, một phần vì đặc điểm địa hình,
máy bay phải bay cao, việc thả hàng bằng dù trúng đích thấp hơn thả trực tiếp. Mặc dù vậy, các tổ bay
vẫn phải tập bay thấp qua các khe núi, bảo đảm độ cao khi thả hàng của máy bay IL- 14 khoảng
800m, máy bay Li-2 khoảng 600m và máy bay An-2 khoảng 300m. Để khắc phục một phần khó khăn
về dù, Cục Không quân đặt hàng với nhà máy dệt Nam Định và chỉ sau một thời gian ngắn, cán bộ
công nhân nhà máy đã nghiên cứu và chế thử thành công vải may dù hàng. Cán bộ, chiến sĩ đại đội kỹ
thuật (Trung đoàn 919) nghiên cứu và chế tạo thành công giá thả dù hàng lắp trên máy bay. Nhờ có
giá thả dù, số người làm nhiệm vụ giảm từ 4 người xuống còn 2 người, bảo đảm an toàn hơn, đỡ tốn
công sức và kết quả thả trúng đích cao hơn (Chú thích: Với sáng kiến này và một số thành tích khác,
đại đội kỹ thuật đã được thưởng huân chương Chiến công hạng ba). Sau một số chuyến bay, trung
đoàn kịp thời rút kinh nghiệm, chuyển sang sử dụng máy bay An-2 là chủ yếu vì so với các loại máy
bay khác, An-2 có thể bay chậm, bán kính lượn vòng hẹp, bay tốt ở tầm thấp nên có thể thả dù và
hàng trúng đích với tỉ lệ cao. Cùng một số đơn vị vận tải bộ, không quân vận tải vừa mới ra đời, tuy
lực lượng ít, phương tiện bảo đảm hạn chế, đã vinh dự tham gia ngay từ đầu nhiệm vụ chi viện cho
các lực lượng mở đường chiến lược vào chiến trường miền Nam.

Cuối năm 1959, Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn không quân vận tải 919
phối hợp với một số đơn vị bộ binh và lực lượng vũ trang địa phương tiễu trừ thổ phỉ, bảo vệ cuộc
sống yên bình của đồng bào và các dân tộc ít người ở vùng biên giới phía bắc, tây bắc. Nhiệm vụ cụ
thể là sử dụng máy bay An-2 trinh sát, phát hiện sào huyệt của bọn thổ phỉ, thả truyền đơn và dùng loa
phóng thanh kêu gọi những người lầm đường trở về với gia đình. Các tổ bay được giao nhiệm vụ này
phải tập cất cánh và hạ cánh ở các sân bay dã chiến, đường băng hẹp và ngắn. Đồng thời phải tập bay
thấp ở vùng núi cao, nhiều mây mù, tầm nhìn hạn chế trong điều kiện khí hậu mùa đông và phải tập
bay tránh hoả lực của bọn phỉ từ dưới đất bắn lên. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng chiến đấu và được
đồng bào các dân tộc giúp sửa chữa các bãi cất cánh, hạ cánh, nhiều tổ bay đã hoạt động trên các vùng
núi cao, hẻo lánh, dùng loa và thả truyền đơn tuyên truyền chính sách khoan hồng của Chính phủ,
phân hoá hàng ngũ thổ phỉ, cô lập bọn đầu sỏ hung ác, mở đường cho những người lầm lạc quay trở
về. Hoạt động của không quân tuy còn hạn chế nhưng đã góp phần tích cực vào việc diệt trừ thổ phỉ,
bảo vệ an ninh ở các vùng núi cao, mang lại niềm tin cho nhân dân các dân tộc.
Vào đầu năm 1960, sau một năm xây dựng tổ chức, huấn luyện và bay nhiệm vụ, trung
đoàn không quân vận tải đã có những bước trưởng thành rõ rệt. Đội ngũ phi công, dẫn đường, thông
tin, cơ giới trên không được bổ sung về số lượng và rèn luyện, nâng cao trình độ qua thực tế công tác.
Số tổ bay phát triển từ 8 lên 15 tổ, được xây dựng theo phương hướng đủ về thành phần, cân đối về
trình độ, ổn định về tổ chức. Các loại máy bay IL- 14, Li-2 và An-2 đều có tổ bay có thể bay nhiệm vụ
ban đêm. Phần lớn các tổ bay của các loại máy bay có thể bay trong điều kiện khí tượng phức tạp ban
ngày. Các đơn vị kỹ thuật, các bộ phận chuyên môn bảo đảm bay phát triển về số lượng và chất lượng
tương ứng với sự phát triển của lực lượng bay. Bên cạnh nhiệm vụ bay thường xuyên, trung đoàn bắt
đầu nhận và bảo đảm cao hơn. Từ đầu năm 1960, các chuyến bay chuyên cơ đi nước ngoài đều do các
tổ bay của Việt nam đảm nhiệm. Các tuyến bay dân dụng từ Hà nội vào Khu 4 và lên Tây Bắc từ 1
chuyến một tuần trong điều kiện khí tượng giản đơn tăng lên 3 chuyến một tuần trong điều kiện khí
tượng phức tạp.

Do yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước và củng cố quốc phòng,
không quân vận tải còn được giao nhiệm vụ bay chụp ảnh địa hình để xây dựng bộ bản đồ địa hình
miền Bắc, bay thăm dò địa chất và một số nhiệm vụ đột xuất khác. Các tổ bay chụp ảnh địa hình, bay
thăm dò địa chất phải huấn luyện rất công phu để có thể: bay thấp trên các loại địa hình, trong điều
kiện thời tiết thay đổi ở các khu vực, đồng thời phải học bay chuyên môn, biết sử dụng một số phương
tiện kỹ thuật, công tác chỉ huy và các mặt bảo đảm bay có yêu cầu cao, mỗi chuyến bay đều phải
nghiên cứu, tổ chức rất công phu, mới bảo đảm an toàn và thu được kết quả.

Mùa hè năm 1960, theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp, không quân vận tải được giao nhiệm
vụ phối hợp với Nha Khí tượng gây mưa nhân tạo, chống hạn cứu lúa ở một số khu vực thộc tỉnh Hải
Dương. Dưới nắng hè gay gắt, các tổ bay mặc quần áo công tác, trực dưới cánh máy bay. Khi nhận
được thông báo của Nha Khí tượng, máy bay lập tức cất cánh, bay đến vùng có mây tích điện, dùng
hoá chất làm ngưng đọng hơi nước và gây mưa. Sau khi đã phun hoá chất, tổ bay phải nhanh chóng
cho máy bay thoát khỏi khu vực có mây để tránh hiện tượng phóng điện có thể làm nổ máy bay. Với
sự tham gia tích cực có hiệu quả, không quân đã góp phần đẩy lùi hạn hán ở một số vùng. Hàng nghìn
mẫu lúa đang bị hạn hán đe doạ được cứu sống. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hải Dương
nhiệt liệt biểu dương và càng thêm tin yêu bộ đội không quân trẻ tuổi Việt nam.

Cùng thời gian trên, một số tổ bay An-2 hoạt động trên vùng trời Thanh Hoá, Nghệ An làm
nhiệm vụ phun thuốc trừ sâu góp phần cứu 720 ha rừng thông đang bị sâu tàn phá. Khi phun thuốc,
máy bay phải bay rất thấp (cách ngọn cây khoảng 5m đến 10m), một sơ suất nhỏ trong động tác điều
khiển máy bay cũng có thể gây tai nạn. Do đó, các tổ bay phải tập trung tinh lực rất cao. Có lần, một
máy bay va vào ngọn thông, nhưng tổ bay đã bình tĩnh xử trí, tránh được tai nạn.

Mùa mưa bão năm 1960, không quân còn được giao nhiệm vụ bay ra khơi, cách bờ biển
hàng chục hải lý báo cho thuyền đánh cá của nhân dân biết để kịp quay thuyền vào bờ hoặc ẩn nấp
tránh bão. Bay thấp trên biển nhất là trước cơn bão đòi hỏi kỹ thuật cao trong khi các tổ bay chưa
được tập luyện nhiều. Nhưng vì tính mạng và tài sản của nhân dân, các tổ bay đã dũng cảm vượt qua
mọi khó khăn và hạn chế về trình độ để thực hiện nhiệm vụ. Do thiếu phương tiện truyền tin, các
chiến sĩ phải sơn hàng chữ to "có bão về ngay" dưới cánh máy bay và dùng loa phóng thanh để báo
cho dân biết, đồng thời thả xuống biển hàng trăm chiếc phao, nhất là ở những nơi xa bờ và khi bão
đến gần. Bà con làm nghề đánh bắt cá ở các địa phương rất xúc động trước hành động quên mình vì
dân của bộ đội không quân. Nhiều chiếc phao đã được nhân dân thu lại, gửi về Cục Không quân cùng
những bức thư chứa chan tình nghĩa quân dân, tin yêu anh "bộ đội Cụ Hồ ", những chiến sĩ không
quân nhân dân "bay trên trời cao mà vẫn rất gần dân" (Chú thích Một đoạn trong thư của đồng bào
làm nghề đánh bắt cá gửi về Cục Không quân).

Thời gian này, do số lượng máy bay của ta chưa nhiều nên cường độ hoạt động của không
quân vận tải rất cao. Trường Không quân (trung đoàn 910) bên cạnh nhiệm v ụ huấn luyện là chủ yếu
cũng sử dụng các loại máy bay thể thao, du lịch, huấn luyện (Trener, AERO-15, YAK-18) bay phục vụ
các đơn vị bộ binh diễn tập chiến đấu; bay trinh sát, cấp cứu bay biểu diễn mừng ngày Quốc khánh 2
tháng 9, mừng thắng lợi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9 năm 1960) trên vùng
trời thủ đô, bay biểu diễn trong lễ khai mạc Đại hội thể dục thể thao toàn quốc trên vùng trời thành
phố Vinh…

Không quân nhân dân Việt nam trở thành niềm tự hào, tin yêu của nhân dân trong nước,
gây ấn tượng sâu sắc và để lại những, tình cảm tốt đẹp trong bạn bè quốc tế. Có lần một máy bay chở
khách của hãng hàng không In-đô-nê-xi-a cất cánh từ một sân bay của Thái Lan, do sự cố kỹ thuật đã
bị lạc sang không phận Việt nam. Nhận được tín hiệu cấp cứu, Trung đoàn 919 lập tức phát lệnh báo
động và cho một máy bay Li-2 cất cánh. Sau hơn một giờ tìm kiếm, tổ bay Li-2 đã phát hiện và dẫn
đường cho máy bay bạn hạ cánh an toàn xuống một sân bay của ta. Tổ bay của bạn và hành khách trên
máy bay vô cùng xúc động trước việc làm cao đẹp, sự giúp đỡ kịp thời của không quân Việt nam. Lần
khác, một tổ bay Li-2 của ta cùng cán bộ chiến sĩ sân bay Vinh kịp thời dẫn đường, bảo đảm cho máy
bay của Vương quốc Lào hạ cánh an toàn.

Tháng 10 năm 1960, Trung đoàn không quân vận tải 919 được giao nhiệm vụ tham gia cầu
hàng không cùng với Đoàn không quân vận tải Liên Xô với 44 máy bay vận tải, trực thăng các loại đổ
bộ lực lượng quân đội, vận chuyển vũ khí, đạn, lương thực, quân trang, quân dụng, đưa thương binh
về tuyến sau, bay trinh sát, liên lạc, cấp cứu phục vụ các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào và quân tình
nguyện Việt nam trên chiến trường Lào. Căn cứ vào nhiệm vụ và tình hình thực tế, trung đoàn đã huy
động và sử dụng tất cả các loại máy bay hiện có (gồm 20 chiếc Li-2, 14 chiếc IL-14, 10 chiếc trực
thăng Mi-1 và Mi-4) tham gia thả dù, thả hàng, đổ chuyển quân tới các sân bay, các bãi hạ cánh vùng
rừng núi. Cục Không quân được Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ chuẩn bị các cơ sở, căn cứ sân
bay, doanh trại, kho hàng tạo điều kiện bảo đảm vật chất, kỹ thuật cho đoàn không quân vận tải Liên
Xô. Song song với các đợt bay phục vụ các chiến dịch, các nhiệm vụ bay khác, trung đoàn đã thường
xuyên tổ chức tốt công tác huấn luyện, nhất là huấn luyện bay, bồi dưỡng lực lượng.

Trong quá trình tham gia bay phục vụ chiến trường Lào cùng đoàn bay Liên Xô, các tổ bay
của ta đã học tập được rất nhiều ở bạn. Đây cũng là một dịp cho các tổ bay của trung đoàn tiếp thu
kinh nghiệm, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy và thực hành nhiệm vụ bay của không quân vận tải
quân sự. Bước sang năm 1962, lực lượng của trung đoàn đã có 20 tổ bay các loại với trình độ bay giữa
các tổ và trong từng tổ khá đồng đều. Nhiều tổ đã đạt tiêu chuẩn bay trong điều kiện khí tượng phức
tạp ban đêm.
Nhằm mở rộng vùng giải phóng ở Thượng Lào, được sự hỗ trợ và phối hợp của quân tình
nguyện Việt nam, bộ đội Pa-thét Lào tập trung tiến công địch trong chiến dịch Nậm Thà. Trung đoàn
không quân vận tải 919 được giao nhiệm vụ cùng lữ đoàn không quân vận tải Liên Xô bay phục vụ
cho liên quân Việt - Lào ở chiến trường, vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn, cơ động
quân, cấp cứu vận chuyển thương binh. Nhiệm vụ của trung đoàn trong chiến dịch này đòi hỏi khẩn
trương, phạm vi hoạt động rộng, yêu cầu tổ chức hiệp đồng phức tạp. Ba sân bay Nà Sản, Điện Biên,
Vinh được sử dụng làm căn cứ xuất phát chính, trong đó đoàn không quân vận tải Liên Xô sử dụng
sân bay Vinh là chủ yếu. Tham gia chiến dịch này, lực lượng không quân vận tải của ta đã có kinh
nghiệm được đúc rút qua các đợt phục vụ trước. Lực lượng được bố trí phù hợp với tính năng của
từng loại máy bay cho từng chuyến bay. Các tổ bay IL-14 được giao nhiệm vụ vận chuyển hàng từ
Gia Lâm lên sân bay Nà Sản, Điện Biên. Từ Nà Sản, Điện Biên dùng Li-2 và An-2 vận chuyển tiếp tới
Mường Sài và Na Mo. Ngoài ra, ở sân bay Mường Sài sẽ có một số trực thăng trực thường xuyên
phục vụ Bộ chỉ huy chiến dịch.

Nhờ có kinh nghiệm và được chuẩn bị tốt, chỉ trong ít ngày đầu xuân 1962, bộ đội không
quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Điển hình là các đội bay Li-2 và An-2, chỉ trong
một ngày đã cơ động xong toàn bộ lực lượng bộ binh cùng các vũ khí, trang bị chiến đấu đến Mường
Sài. Trong thời gian bay phục vụ chiến dịch, máy bay ta nhiều lần gặp hoả lực địch từ mặt đất bắn lên
và máy bay địch khiêu khích từ trên không. Tổ bay Li-2 của đồng chí Đinh Tôn (Chú thích: Đồng chí
Đinh Tôn sau này chuyển loại sang bay MiG-21. Là một phi công có trình độ bay giỏi của Không
quân nhân dân Việt nam trong chiến đấu lập nhiều thành tích xuất sắc: đã được Nhà nước và Quốc hội
tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) trong một chuyến bay đã gặp máy bay
C47 của địch. Chúng giở trò khiêu khích, đồng chí Đinh Tôn đã đổi hướng bay, đối thẳng đầu máy
bay địch bay tới, buộc chúng phải rẽ theo hướng khác.

Ngoài nhiệm vụ bay phục vụ chiến trường Lào, các tổ bay của trung đoàn còn tham gia vận
chuyển chi viện cho miền Nam. Chỉ tính riêng năm 1962, trung đoàn đã bay phục vụ chiến trường
Lào và chi viện chiến trường miền Nam 1.069 chuyến với 2.699 giờ bay an toàn, vận chuyển được
316 tấn hàng và cơ động được 1.657 lượt bộ đội.

Đánh giá về thành tích của trung đoàn trong nhiệm vụ bay phục vụ chiến dịch tại hội nghị
tổng kết chiến dịch Nậm Thà, đồng chí Tổng tham mưu trưởng đã chuyển lời khen của Quân uỷ Trung
ương và Bộ quốc phòng, trong đó nêu rõ: "Không quân vận tải của quân đội ta tuy mới ra đời, lực
lượng còn non trẻ, nhưng rất mưu trí, dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến trường,
góp phần quan trọng tạo nên thắng lợi chung của chiến dịch".

Tại hội nghị tổng kết phong trào thi đua ba nhất của bộ đội không quân tổ chức vào tháng 6
năm 1962 ở Hà nội, đại đội không quân vận tải Li-2 và 12 cán bộ chỉ huy, phi công, thành viên các tổ
bay, nhân viên phục vụ mặt đất của trung đoàn được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhì
và hạng ba. Nhiều đại đội, ban, đội, trạm, được đề nghị cấp trên công nhận đơn vị đạt danh hiệu "Ba
nhất". Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được công nhận "Chiến sĩ thi đua" và danh hiệu "Chiến sĩ kỹ thuật
giỏi". Trong Đại hội thi đua toàn quân năm 1963, đại đội bay Li-2 của trung đoàn được vinh dự nhận
danh hiệu "Đơn vị ba nhất" của toàn quân.
Chỉ sau 3 năm kể từ ngày chính thức được thành lập, Trung đoàn không quân vận tải 919
đã có những bước trưởng thành vượt bậc. Ba năm trước, lực lượng vẻn vẹn chỉ có 10 máy bay và 8 tổ
bay các loại, nhiệm vụ bay lúc đầu vẫn do các tổ bay của bạn đảm nhiệm là chính, đến lúc này, lực
lượng trung đoàn đã có 4 đại đội bay của 4 loại máy bay với 30 tổ bay các loại hoàn chỉnh. Không
những chỉ thực hiện nhiệm vụ một cách xuất sắc, các phi công, nhân viên trong tổ bay còn có khả
năng kèm cặp, bồi dưỡng góp phần nhanh chóng hoàn thiện về số lượng và chất lượng cho các tổ bay
mới được hình thành của trung đoàn.

Lực lượng kỹ thuật từ vài chục người phục vụ cho số máy bay hiện có ban đầu, sau 3 năm
trung đoàn được thành lập đã lên tới hàng trăm người với đủ các bộ môn, các thành phần, đáp ứng
được tất cả các yêu cầu về mặt kỹ thuật của số máy bay hiện có. Không những thế, lực lượng thợ máy
còn nghiên cứu, tìm tòi, phát huy nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, phục vụ kịp thời và có hiệu quả
cho những máy bay tham gia nhiệm vụ. Có những sáng kiến cải tiến được đánh giá cao như giá thả dù
được lắp trên máy bay của đại đội kỹ thuật (tháng 9 năm 1959). Với sáng kiến này, đại đội kỹ thuật
của trung đoàn đã được Nhà nước tặng thương huân chương Chiến công hạng ba. Công tác hậu cần
lúc đầu còn chập chững, bỡ ngỡ trước tính đặc thù của ngành hậu cần không quân, chỉ sau một thời
gian ngắn đã nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt và hoàn toàn chủ động trong công tác phục vụ. Từ những
căn cứ chính, những sân bay dã chiến đến những bãi hạ cánh tạm thời, lực lượng hậu cần của trung
đoàn dần dần đã đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu tối thiểu. Nhiều bộ phận mới được hình thành
và đầu tư theo sự phát triển chung của lực lượng không quân. Trong tất cả các chiến dịch trung đoàn
tham gia cũng như trong công tác huấn luyện, xây dựng, hậu cần trung đoàn đều phục vụ kịp thời cho
nhiệm vụ bay. Đây cũng là nền tảng, là cơ sở cho công tác hậu cần không quân sau này khi lực lượng
không quân ngày một phát triển, ngày một lớn mạnh.

Tháng 9 năm 1963, một phi công trong lực lượng nguỵ quân Lào đã lái chiếc máy bay T-28
sang hàng ta. Chiếc máy bay này được niêm cất tại xưởng sửa chữa máy bay A33. Một thời gian sau,
theo yêu cầu nhiệm vụ ngăn chặn tiêu diệt máy bay thả biệt kích của không quân nguỵ Sài Gòn trên
vùng trời Tây Bắc, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân đã
quyết định sử dụng chiếc máy bay T -28 này và giao cho Trung đoàn 919 tổ chức huấn luyện. Sau một
thời gian nghiên cứu, tìm tòi, cải tiến, chiếc máy bay không có lý lịch đã được đưa vào trực ban chiến
đấu. Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 2 năm 1964, được sự dẫn dắt và chỉ huy từ mặt đất, tổ bay Nguyễn
Văn Ba và Lê Tiến Phước lái chiếc máy bay T-28 mang số hiệu 963 đã bắn rơi một chiếc máy bay vận
tải C -123 chở biệt kích của không quân nguỵ Sài Gòn đang hoạt động lén lút trên vùng trời Hồi
Xuân, Thanh Hoá. Đây là chiếc máy bay địch bị không quân ta bắn rơi đầu tiên trên miền Bắc.

2. Trung đoàn không quân tiêm kích 921

Cuối năm 1962, đầu năm 1963, các đoàn học bay máy bay chiến đấu ở nước ngoài đã xong
phần bay cơ bản của MiG-17 hiện đang tạm ghép vào một sư đoàn không quân của bạn để tiếp tục
huấn luyện ứng dụng chiến đấu. Chính phủ Liên Xô quyết định viện trợ cho ta 36 máy bay tiêm kích
trong đó có 3 chiếc huấn luyện hai chỗ ngồi UMIG-15, còn lại là MiG-17 để chuẩn bị cho Không
quân nhân dân Việt nam thành lập trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên. Tháng 3 năm 1963 các
máy bay đó đã được lắp ráp xong để phi công ta tập luyện trên sân bay nước bạn.
Ngày 30 tháng 5 năm 1963, thay mặt Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Trung tướng Hoàng Văn
Thái, Thứ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết định số 18/QĐ thành lập trung đoàn không quân tiêm kích
đầu tiên, mang phiên hiệu Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Lực lượng nòng cốt của trung đoàn
là đoàn học bay tiêm kích đợt đầu trong năm 1956 do đồng chí Đào Đình Luyện làm đoàn trưởng
(thời gian đầu do đồng chí Phạm Dưng làm đoàn trưởng) và đoàn học thợ máy do đồng chí Phan Lê
Dưỡng làm đoàn trưởng. Lúc này, số học viên bay tiêm kích đã chuyển loại xong MiG-17 và đang
huấn luyện các khoa mục chiến đấu trên đất bạn. Đoàn học thợ máy đã về nước, chuẩn bị mọi cơ sở
đảm bảo kỹ thuật và từng bước kiện toàn tổ chức cùng việc hoàn thiện các ngành bảo đảm sân bay
Nội Bài. Đồng thời cấp trên điều động trên 60 cán bộ và nhân viên kỹ thuật cần thiết sang nước bạn
để học tập, phục vụ và chuẩn bị cho ngày trung đoàn chính thức ra mắt.

Trung đoàn 921 là đơn vị không quân tiêm kích đầu tiên của bộ đội không quân. Theo sự
chỉ đạo của trên, trung đoàn phải bồi dưỡng, đào tạo cơ bản số cán bộ và phi công để đảm bảo sẵn
sàng chiến đấu và khi cần thiết, có khả năng làm nòng cốt để phát triển lực lượng lớn mạnh hơn nữa.
Chủ trương của trên về tổ chức biên chế là phải hoàn chỉnh cả cơ quan và các đơn vị, nhất là số cán bộ
chỉ huy, phi công, cán bộ tham mưu, chính trị và kỹ thuật.

Do chưa được phép công khai, Trung đoàn 921 vẫn trên danh nghĩa là đoàn học bay tiêm
kích đầu tiên, được bổ sung thêm một số cơ quan và cán bộ mặt đất. Mọi công tác huấn luyện và xây
dựng do không quân Trung Quốc trực tiếp giúp đỡ là chính. Những vấn đề thuộc chủ trương tổ chức
xây dựng lực lượng, phương hướng huấn luyện, ban chỉ huy trung đoàn phải báo cáo về nước xin chỉ
thị. Thời gian này, Đảng uỷ Cục Không quân từ sau ngày 22 tháng 10 năm 1963 là Đảng uỷ Quân
chủng phòng không- không quân lãnh đạo trực tiếp Trung đoàn 921, đã chỉ đạo kịp thời, sát với các
yêu cầu thực tế của một đơn vị còn đang hoạt động trên đất bạn. Lúc đầu, chủ trương thành lập trung
đoàn chỉ được thông báo cho Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện và Chính uỷ Đỗ Long. Anh em học
viên còn lại chưa được biết cụ thể. Đoàn cán bộ tham mưu, chính trị và một số bộ phận khác trong đó
có nhiều đồng chí được cử đi học tại Học viện chỉ huy Không quân của Trung Quốc do đồng chí Lê
Văn Thọ phụ trách được bổ sung tiếp cho đơn vị và còn tiếp tục được tăng cường. Tất cả đều tập trung
ở sân bay Mông Tự. Số người lái từ các đoàn được điều về lên tới 70 người, trong số này có 33 đồng
chí đã bay MiG-17 tương đối tốt. Số còn lại mới bay xong MiG-15 Bis, đang chờ chuyển loại.

Sau khi xảy ra những diễn biến phức tạp về chính trị ở Liên Xô năm 1963, ý định thành lập
trung đoàn không quân trực thăng theo như thoả thuận giữa ta và bạn không thành. Một số phi công
đào tạo bay trực thăng chuyển sang học máy bay tiêm kích và được điều tiếp về trung đoàn. Quân số
các bộ phận đưa sang đã tạm đủ cho một trung đoàn bay. Số còn lại tiếp tục được chuẩn bị ở trong
nước để khi trung đoàn về nước có thể hoạt động được ngay.

Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng đã ấn định ngày lễ ra mắt công khai của
trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên và được Bộ quốc phòng đồng ý.

Ngày 3 tháng 2 năm 1964, tại sân bóng đá của sân bay Mông Tự ở Trung Quốc, lễ ra mắt
công khai trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên của Không quân nhân dân Việt nam được tiến
hành. Thiếu tướng Trần Quý Hai, Tổng tham mưu phó thay mặt Bộ quốc phòng và các cán bộ Quân
chủng phòng không - không quân sang dự. Đồng chí Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh phó Quân chủng
phòng không - không quân phụ trách không quân đã có mặt tại trung đoàn từ trước, trực tiếp chỉ đạo
và điều hành công việc. Thiếu tướng Trần Quý Hai đọc quyết định của Bộ quốc phòng thành lập trung
đoàn không quân tiêm kích, mang phiên hiệu 921 và trao lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" cho trung
đoàn. Trung tá Đào Đình Luyện, nguyên Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 được bổ nhiệm làm trung
đoàn trưởng thay mặt toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn nhận lá cờ truyền thống từ Tổ quốc chuyển
tới và hứa trước Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội: Trung đoàn nguyện phát huy và xứng đáng với
truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt nam anh hùng. Ngày 3 tháng 2 năm 1964 được coi
là ngày ra đời và trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Trung tá Đỗ
Long được bổ nhiệm làm chính uỷ trung đoàn và đồng chí Lê Văn Thọ làm tham mưu trưởng kiêm
phụ trách công tác hậu cần.

Sau khi thành lập, trung đoàn vừa tiến hành xây dựng, ổn định về tổ chức, vừa khẩn trương
huấn luyện. Trong khi đó tình hình chiến sự trong nước ngày một căng thẳng. Máy bay Mỹ đã nhiều
lần do thám, máy bay nguỵ Sài Gòn đã bay rải truyền đơn, thả nhiều toán biệt kích phá hoại miền Bắc.
Những vụ khiêu khích trên biển, tại vùng giáp ranh giới tuyến tạm thời, thậm chí ở sâu trong đất liền
diễn ra thường xuyên hơn. Các lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội phòng không đã đánh trả
mạnh mẽ nhưng bọn chúng vẫn lén lút hoạt động, nhất là về ban đêm.

Miền Bắc đã thực sự bước vào cuộc chiến đấu trực diện với đế quốc Mỹ. Ngày 27 tháng 3
năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà nội. Hội nghị này được
đánh giá là "Hội nghị Diên Hồng" thời chống Mỹ. Tại hội nghị này, Hồ Chủ tịch đã đọc báo cáo chính
trị lên án âm mưu hành động xâm lược Việt nam của đế quốc Mỹ, khẳng định thất bại không thể tránh
khỏi của "chiến lược chiến tranh đặc biệt" và cảnh báo: Nếu Mỹ liều lĩnh động đến miền Bắc, nhất
định chúng sẽ thất bại thảm hại. Người kêu gọi: Quân dân miền Bắc làm việc bằng hai để đền đáp
đồng bào miền Nam ruột thịt.

Ngày 17 tháng 4 năm 1964, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ thông qua danh sách
94 mục tiêu cho không quân đánh ở toàn miền Bắc nước ta.

Tháng 6 năm 1964, tổng thống Mỹ tổ chức họp với các quan chức gồm McNamara, Bộ
trưởng Bộ quốc phòng Taylor, Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ; Dean Rusk, Bộ
Ngoại giao; Cabot Loge, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn; Westmoreland, chỉ huy lực lượng Mỹ tại miền Nam
Việt nam để bàn cách mở lọng chiến tranh xâm lược Việt nam.

Cùng trong tháng 6 năm 1964, đồng chí Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng dẫn đầu đoàn
cán bộ sang Quảng Châu (Trung Quốc) họp bàn với Bộ tư lệnh không quân Trung Quốc và hai quân
khu giúp ta về việc đưa Trung đoàn không quân tiêm kích 921 về Việt nam và hiệp đồng thông báo
tình báo radar cho 2 quân khu Quảng Châu và Côn Minh của bạn.

Trong hai ngày 2 và 3 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện vịnh Bắc Bộ. Sau
"sự kiện vịnh Bắc Bộ", người cầm đầu Nhà Trắng đã đẩy nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh mới. Đó
là cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt nam bằng không quân và hải quân. Tại các căn cứ không
quân Mỹ ở miền Nam Việt nam, ở Thái Lan, lực lượng máy bay của không quân chiến thuật Mỹ được
tăng cường. Ngoài biển Đông, tàu sân bay Mỹ đã tiến sâu vào vịnh Bắc Bộ. Ngày 5 tháng 8 năm 1964
đế quốc Mỹ đã mở màn cuộc chiến tranh leo thang đánh phá miền Bắc Việt nam bằng không quân và
hải quân với chiến dịch "Mũi tên xuyên" dùng không quân chiến thuật và không quân hải quân với 64
lượt chiếc máy bay đánh đánh phá đồng loạt vào nhiều mục tiêu nằm ở ven biển từ Quảng Ninh tới vĩ
tuyến 17 như Bãi Cháy, Bến Thuỷ, thành phố Vinh, sông Gianh…

Trong thời gian từ cuối tháng 6 và tháng 7 năm 1964, tại sân bay Mông Tự của Trung
Quốc, không khí chuẩn bị trở về nước của ta đoàn càng náo nức, khẩn trương hơn. Theo dõi sát diễn
biến tình hình đất nước, cán bộ, chiến sĩ đều nóng lòng chờ đợi ngày trở về Tổ quốc. Ai cũng muốn
sớm được về để trực tiếp tham gia chiến đấu.

Sau ngày 5 tháng 8 năm 1964, Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc phòng đã yêu cầu gấp rút
đưa Trung đoàn không quân tiêm kích 921 về nước tham gia chiến đấu cùng lực lượng phòng không.
Đồng chí Tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo Quân chủng phòng không - không quân chuyển
toàn bộ Trung đoàn không quân tiêm kích 921 về nước theo kế hoạch mang mật danh "X1".

Đồng chí Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh phó Quân chủng được cử sang đã truyền đạt mệnh
lệnh hành quân trở về Tổ quốc cho Trung đoàn 921 trong phiên họp bất thường của Đảng uỷ và ban
chỉ huy trung đoàn. Các biện pháp chuẩn bị, triển khai được trao đổi, bàn bạc kỹ càng. Mục tiêu và
yêu cầu đề ra là phải đưa được toàn bộ trung đoàn về nước bí mật, an toàn. Nhiệm vụ còn đặt ra, về
đến sân bay căn cứ, trung đoàn có thể vào trực ban chiến đấu được ngay.

Một ngày sau khi địch đánh phá miền Bắc, ngày 6 tháng 8 năm 1964, Trung đoàn không
quân 921 được lệnh trở về Tổ quốc.

Sân bay Nội Bài là sân bay quân sự đầu tiên của quân đội được khảo sát, thiết kế, thi công
một cách bài bản. Đây là công trình cấp Nhà nước do Trung Quốc giúp ta xây dựng từ đầu những năm
sáu mươi. Các đơn vị công binh quân đội, tiểu đoàn công binh 28 phòng không - không quân và nhiều
đơn vị, cơ quan, lực lượng của Nhà nước, quân đội và nhân dân hai huyện Kim Anh và Đa Phúc đã sát
cánh cùng lực lượng của Trung Quốc xây dựng căn cứ không quân chiến đấu này. Công trình gồm khu
vực sân bay như đường băng, đường lăn, sân đỗ và cơ sở bảo đảm sân bay, xưởng bảo dưỡng kỹ thuật,
hệ thống hầm ụ, khu vực sơ tán máy bay; doanh trại các đơn vị bay, thợ máy, hậu cần, thông tin, radar
dẫn đường và hệ thống sở chỉ huy các cấp. Cho tới thời điểm này sân bay Nội Bài đã được nghiệm
thu, sẵn sàng đón máy bay của ta về và vào trực ban chiến đấu, tăng cường huấn luyện để nâng cao
trình độ bay.

Đón trung đoàn bay tiêm kích phản lực đầu tiên của Không quân nhân dân Việt nam trở về
là một sự kiện trọng đại không chỉ riêng của Quân chủng phòng không - không quân mà còn của cả
lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ quốc phòng. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng
Quân đội nhân dân Việt nam và một số cán bộ cơ quan Bộ có mặt ở sân bay Nội Bài từ rất sớm. Đại tá
Phùng Thế Tài, Tư lệnh và đại tá Đặng Tính, Chính uỷ Quân chủng đã đến trước để kiểm tra, trực tiếp
chỉ đạo, điều hành công việc chuẩn bị và tổ chức lễ đón trung đoàn bay trở về.

Tại sân bay Mông Tự ở Vân Nam Trung Quốc, sáng ngày 6 tháng 8 năm 1964, bên cạnh
niềm vui sướng của những người sắp được trở về Tổ quốc sau những năm tháng đi xa là sự lưu luyến
của một cuộc chia tay. Cuộc chia tay giữa thầy trò và giữa những người đồng nghiệp, những người
đồng chí. Dù mọi người đã ngóng đợi từng phút, từng giây giờ phút lịch sử này song vẫn không tránh
được có chút nghẹn ngào trong cái bắt tay tiễn biệt.

Nhũng biên đội MiG-17 chuẩn bị cất cánh trở về Tổ quốc đã ở vị trí sẵn sàng. Các máy bay
được thợ máy chuẩn bị và kiểm tra rất kỹ. Nhiên liệu được nạp đầy. Mỗi khẩu súng trên máy bay đều
đủ cơ số đạn. Phi công gọn gàng trong bộ đồ bay, chờ đợi. Công tác chuẩn bị mọi mặt đã kỹ càng, chỉ
chờ có lệnh là từng biên đội lần lượt cất cánh bay về Tổ quốc.

Điện tiếp thu từ sân bay Nội Bài phát sang. Theo mệnh lệnh, các phi công vào khoang lái,
ít phút sau được lệnh cất cánh, từng máy bay trong biên đội nổ máy, nối nhau ra vị trí xuất phát sau đó
lần lượt cất cánh.

Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện dẫn đầu đội hình trung đoàn, bay ở biên đội thứ nhất,
là tham mưu trưởng sư đoàn bộ binh năm xưa được tuyển chọn đi học lái máy bay ném bom, sau
chuyển sang học máy bay tiêm kích, nay là trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích đầu
tiên, tuổi đã ngoài ba mươi vẫn trực tiếp bay dẫn cả trung đoàn trở về Tổ quốc sau 8 năm học tập rèn
luyện trên đất Trung Quốc. Phi công Phạm Ngọc Lan bay số 2, Tào Minh bay số 3 và Lâm Văn Lích
bay số 4. Các biên đội sau lần lượt cất cánh theo giãn cách thời gian quy định và cùng hướng bay trở
về Tổ quốc. Từ mặt đất, nhân dân các địa phương nơi có máy bay của ta bay qua không khỏi ngỡ
ngàng, khi lần đầu tiên nhìn thấy những chiếc máy bay phản lực vút qua.

Về đến sân bay Nội Bài, được phép vào hạ cánh, Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện dẫn
biên đội bay thông qua sân bay rồi lệnh cho biên đội giải tán đội hình, lần lượt vào hạ cánh. Phạm
Ngọc Lan, phi công bay số 2 được vinh dự cho máy bay tiếp đất đầu tiên. Các biên đội tiếp theo lần
lượt trở về hạ cánh an toàn. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện hạ cánh xong, chạy lên đài chỉ huy
xúc động báo cáo với Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng và Tư lệnh cùng Chính uỷ Quân chủng:
Trung đoàn không quân tiêm kích 921 đã hoàn thành nhiệm vụ học tập và trở về, có mặt đầy đủ sẵn
sàng nhận nhiệm vụ. Tổng tham mưu trưởng cảm động, ôm chặt người cán bộ nguyên là cấp dưới của
mình trước đây, nay là Trung đoàn trưởng trung đoàn không quân tiêm kích đầu tiên của Không quân
nhân dân Việt nam. Đồng chí rời khỏi đài chỉ huy đến trước hàng quân, thân mật bắt tay, thăm hỏi
từng phi công, vui vẻ hỏi chuyện và khen ngợi các chiến sĩ lái máy bay - những người con ưu tú đầu
tiên của trung đoàn đã về đến sân bay căn cứ đầy đủ, an toàn, đúng kế hoạch. Sau đó, Tổng tham mưu
trưởng thay mặt Bộ quốc phòng chính thức giao nhiệm vụ cho trung đoàn: Tranh thủ thời gian tích
cực huấn luyện, nhanh chóng nâng cao trình độ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, nếu có lệnh có thể
cất cánh được ngay, phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt nam,
đã ra quân là chiến thắng và phải quyết tâm đánh thắng từ trận đầu.

Sáu tháng sau ngày chính thức thành lập, Trung đoàn không quân tiêm kích 921 đã trở về,
sát cánh cùng các lực lượng pháo cao xạ, radar canh giữ bầu trời của Tổ quốc. Sau Trung đoàn không
quân vận tải 919, Trường Hàng không (e910), Không quân nhân dân Việt nam có thêm một trung
đoàn chiến đấu phản lực hiện đại hơn trong đội hình của mình. Sau khi chuyển sân xong, Đảng uỷ và
ban chỉ huy Trung đoàn 921 đã nhanh chóng lựa chọn và giao nhiệm vụ trực ban chiến đấu cho các
biên đội. Biên đội thứ nhất gồm Phạm Ngọc Lan, số 1; Lâm Văn Lích, số 2. Biên đội thứ hai gồm
Trần Hanh, số 1; Nguyễn Nhật Chiêu, số 2. Và cũng từ buổi chiều ngày 6 tháng 8 năm 1964, ngoài
việc tổ chức lực lượng trực ban chiến đấu, Trung đoàn 921 bắt đầu bay huấn luyện đề cao và ứng
dụng chiến đấu cho phi công.

Là đơn vị không quân chiến đấu đầu tiên nên công tác chỉ huy, chỉ đạo, bảo đảm có rất
nhiều khó khăn, phức tạp, bỡ ngỡ đối với các cấp các ngành, vì vậy trước mắt Bộ tư lệnh Quân chủng
phải trực tiếp chỉ huy lãnh đạo mọi mặt hoạt động của trung đoàn.

Nhiệm vụ đánh thắng trận đầu đặt ra nhiều vấn đề cần thống nhất như thời điểm xuất kích,
sử dụng lực lượng, cách đánh là những vấn đề trọng tâm gay cấn được thảo luận trong nhiều cuộc
họp, nhiều lần quân sự dân chủ. Phải thực hiện bằng được quyết tâm đánh thắng ngay từ trận đầu.
Phải tận dụng yếu tố bí mật bất ngờ và cả sự chủ quan coi thường của không quân Mỹ với không quân
Việt nam. Chúng coi MiG-17 của không quân Việt nam "chỉ như là muỗi mắt".

Lãnh đạo, chỉ huy Quân chủng và Đảng uỷ, chỉ huy trung đoàn đã nghiên cứu phân tích:
Không quân tiêm kích của ta mới ra đời, số lượng phi công ít (36 người kể cả cán bộ trung đoàn), cán
bộ chỉ huy tham mưu - kỹ thuật chưa có kinh nghiệm chỉ huy và bảo đảm chiến đấu. Trong cả hai đại
đội bay của Trung đoàn 921 khi về nước, mới chỉ có ba biên đội là có thể tham gia chiến đấu được. Vả
lại, số lượng máy bay chiến đấu còn ít (32 chiếc), tính năng kỹ thuật không bằng của địch. Nguồn bổ
sung lực lượng gặp nhiều khó khăn, nhất là về phi công. Đối tượng tác chiến của ta lại là không quân
đế quốc Mỹ, có tiềm lực mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự. Không quân Mỹ được trang bị những loại
máy bay hiện đại, số lượng lớn, thường xuyên có từ 700 đến 800 chiếc, nhiều chủng loại, tính năng
chiến đấu đều hơn hẳn MiG-17 của ta. Phi công Mỹ được đào tạo cơ bản, có tích luỹ giờ bay lớn.
Không quân Mỹ lại có kinh nghiệm về tác chiến không quân qua cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và
cuộc chiến tranh Triều. Tiên. Rõ ràng đây là cuộc chiến đấu không cân sức, do đó, ta phải tìm ra điểm
yếu của kẻ thù và nhìn rõ, phát huy được thế mạnh của mình. Có như vậy ta mới chiến thắng được kẻ
địch trong cuộc chiến đấu không cân sức và kéo dài này. Máy bay MiG-17 vẫn là phương tiện cơ
động và hiện đại nhất của không quân ta. Trên máy bay có pháo 37 li và 23 li, như 2 khẩu đội pháo
cao xạ cơ động trên không. Tuy không đánh được từ cự li xa và thua kém hoả lực tên lửa đối không
của địch nhưng nếu buộc địch đánh gần thì MiG-17 vẫn có cơ hội bắn rơi máy bay Mỹ.

Những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đã được rút ra từ cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp thắng lợi và có thể vận dụng sáng tạo để đánh địch trên không như: Lấy ít đánh nhiều,
phát huy yếu tố bí mật bất ngờ, biết chọn thời cơ có lợi, đánh có chuẩn bị, đánh chắc thắng, vừa đánh
vừa rút kinh nghiệm, tiến công dũng mãnh tiêu diệt địch, giữ gìn được lực lượng của ta. Ngoài ra
chúng ta còn có ưu thế là đánh địch trên vùng trời của mình, được sự giúp đỡ và hiệp đồng chiến đấu
của lực lượng phòng không, radar. Đội ngũ phi công của ta tuy còn ít về số lượng, trình độ bay chưa
giỏi, kinh nghiệm chiến đấu chưa có nhưng có quyết tâm chiến đấu và ý chí quyết chiến quyết thắng
rất cao. Trung đoàn 921 lại được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, quân đội trực tiếp là Bộ
Tổng tham mưu cùng các cơ quan Bộ và Quân chủng phòng không - không quân trực tiếp lãnh đạo
chỉ huy. Các cơ quan, các ngành, các địa phương đều ưu ái nhiệt tình giúp đỡ.

Được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Quân chủng, Đảng uỷ và ban
chỉ huy Trung đoàn 921 đã tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm chiến đấu.
Toàn trung đoàn sôi nổi thi đua "Tất cả cho chiến đấu”, "Quyết tâm đánh thắng trận đầu”. Ngoài các
biên đội trực ban chiến đấu, các phi công còn lại đều tranh thủ thời gian luyện tập. Trung đoàn trưởng
Đào Đình Luyện mặc dù là một phi công lớn tuổi, nhưng cường độ bay tập và kỹ thuật bay không
thua các chiến sĩ trẻ. Cán bộ trung đoàn, đại đội phần lớn là phi công. Vì vậy, việc chỉ huy điều hành
các hoạt động, nhất là huấn luyện khá thuận lợi.

Các bài tập chiến đấu phức tạp, tập đánh gần là trọng tâm của nội dung huấn luyện. Sau
mỗi ban bay, các phi công lại trao đổi, rút kinh nghiệm, uốn nắn cho nhau từng động tác. Chưa đầy 4
tháng từ ngày về nước, số giờ bay huấn luyện của toàn Trung đoàn 921 đã nhiều hơn số giờ bay cả
một năm khi còn học ở trường.

Không những chỉ thực hành ở những bài bay, các phi công còn được tổ chức nhiều buổi
quân sự dân chủ xung quanh một số vấn đề quan trọng về tổ chức, sử dụng lực lượng và cách đánh,
nhằm vận dụng các nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang vào hoàn cảnh cụ thể của không quân.
Làm thế nào để bắn trúng máy bay địch từ loạt đạn đầu, từ lần công kích đầu, từ trận xuất kích đầu?
Thế nào là đánh có yểm hộ? Khi phát hiện địch phóng tên lửa phải xử lý như thế nào? Làm thế nào để
thực hiện lấy ít thắng nhiều?… Đó là những câu hỏi được thảo luận rất sôi nổi, thu hút không chỉ cán
bộ chỉ huy, phi công mà cả cán bộ, nhân viên kỹ thuật.

Phi công Lê Trọng Long vốn trước là một chiến sĩ đặc công đề xuất ý kiến: Có thể vận
dụng cách đánh của đặc công dùng lực lượng nhỏ, bất ngờ tiếp cận địch, tìm cách đánh thọc sâu vào
đội hình của chúng, nhằm những mục tiêu quan trọng trong đội hình địch tiêu diệt rồi rút thật nhanh.
Đây là một hướng suy nghĩ độc đáo, một cách đánh táo bạo gây tranh luận rất hào hứng. Nhiều phi
công đã đưa ra những đề xuất, cách xử lý của mình trước những tình huống khó khăn như khi địch
phóng tên lửa, địch "bám đuôi". Từ tất cả những vấn đề trên, vấn đề lựa chọn thời cơ, địa điểm đánh
trận đầu, phương án, kế hoạch chiến đấu trận đầu và hoàn chỉnh công tác chuẩn bị chiến đấu cho trung
đoàn đã được bàn bạc kĩ.

Những ý kiến đưa ra trong các cuộc thảo luận về cách đánh đã làm sáng tỏ thêm nhiều vấn
đề về quan điểm, tư tưởng chiến thuật của không quân, góp phần nâng cao tinh thần quyết chiến quyết
thắng, củng cố thêm mềm tin cho không quân trẻ tuổi Việt nam có thể và nhất định sẽ đánh thắng
không quân hiện đại Mỹ. Cơ quan tham mưu quân chủng cũng đã giúp đỡ các phi công trung đoàn
nghiên cứu cách đánh rất kịp thời. Thông tin qua khai thác được từ phi công tù binh Mỹ đã giúp ta tìm
hiểu các vấn đề có liên quan trực tiếp đến hoạt động chiến đấu như tốc độ, độ cao, đội hình, cách
đánh, hướng bay, hướng công kích mục tiêu… mà không quân địch thường hay sử dụng. Phòng Quân
báo Quân chủng cung cấp cho trung đoàn những tấm ảnh chụp các loại máy bay Mỹ, tính năng kỹ
thuật từng loại, cùng trung đoàn làm mô hình một số loại máy bay địch đã sử dụng đánh phá miền Bắc
để các phi công tập nhận dạng. Phương án tác chiến của không quân tiêm kích từng bước được xây
dựng.

Được sự chỉ đạo của trên, Đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn đã nghiên cứu sắp xếp các
biên đội chiến đấu. Đây là vấn đề được lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn đặc biệt quan tâm nhằm phát huy
sức mạnh tổng hợp. Mỗi biên đội chỉ có hai hoặc bốn phi công, bố trí như thế nào để khi vào trận các
phi công bổ sung cho nhau tạo thành sức mạnh tập thể, phát huy được khả năng của mỗi người, vừa
tiến công kiên quyết, dũng cảm, táo bạo, có hiệu quả, vừa bảo vệ cảnh giới và yểm hộ tốt cho nhau.
Trong số những biên đội được sắp xếp, hai biên đội được chọn làm điểm. Một biên đội do đồng chí
Trần Hanh làm biên đội trưởng. Một biên đội do đồng chí Phạm Ngọc Lan làm biên đội trưởng. Các
phi công trong hai biên đội đều có trình độ bay tương đối vững và có khả năng tham gia chiến đấu.
Đây cũng là những biên đội dự kiến sẽ được xuất kích đánh trận đầu của lực lượng không quân tiêm
kích.

Ba tháng sau ngày về nước, một niềm vui lớn đến với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 921 nói
riêng và không quân nói chung: ngày 9 tháng 11 năm 1964, trung đoàn được vinh dự đón Chủ tịch Hồ
Chí Minh tới thăm. Cùng đi với Bác có đồng chí Lê Quẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương Đảng; đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bác đã đến tận các máy bay đang làm nhiệm vụ trực chiến, thăm hỏi động viên các chiến sĩ lái máy
bay tại sân bay, nơi cán bộ, chiến sĩ trung đoàn tập trung đón và chờ nghe Bác nói chuyện. Bác và các
đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã dành gần trọn một buổi chiều gặp gỡ, động viên các
chiến sĩ không quân trước giờ ra trận.

Trong không khí thân mật, gần gũi, Bác nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn rất vui
vẻ, thân tình. Qua những câu nói giản dị, nhưng những vấn đề Bác đặt ra cho không quân thật sâu sắc.
Sau khi khen ngợi quân dân miền Bắc lập công ngày 5 tháng 8 năm 1964, quân dân miền Nam thắng
lớn trong trận tiến công sân bay Biên Hoà đêm 31 tháng 10 năm 1964, Bác căn dặn: Nghệ thuật đánh
địch của Việt nam rất độc đáo, vũ khí trong tay người Việt nam dù thô sơ cũng giành hiệu suất cao.
Phải phát huy cách đánh truyền thống của ta, không ngại quân địch hiện đại. Hãy bắt chước các chiến
sĩ và đồng bào miền Nam, nắm thắt lưng địch mà đánh. Đặc biệt, Bác đã giao nhiệm vụ cho Không
quân nhân dân Việt nam phải "mở mặt trận trên không thắng lợi". Bác nói: Tổ tiên ta ngày xưa đã có
những chiến công oanh liệt trên sông, trên biển như Bạch Đằng, Hàm Tử; trên bộ như Chi Lăng, Vạn
Kiếp, Đống Đa. Ngày nay, chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm ấy trước hết
là của các chú. Trung đoàn trưởng Đào Đình Luyện thay mặt cán bộ, chiến sĩ trung đoàn hứa với Bác,
với Đảng, với nhân dân sẽ thực hiện tốt những lời Bác dạy, quyết tâm bắn rơi máy bay Mỹ từ lần công
kích đầu, từ trận chiến đấu đầu tiên để xứng đáng với sự quan tâm, chăm lo ân cần của Bác, của Đảng,
của nhân dân quyết tâm "mở mặt trận trên không thắng lợi" theo lời dạy của Bác. Đây là vinh dự và
cũng là trách nhiệm nặng nề mà các chiến sĩ lái máy bay tiêm kích Việt nam được giao phó phải làm
bằng được.

Mở mặt trận trên không, trận đầu ra quân thắng lợi

Từ ngày về nước, mặc dù điều kiện đảm bảo hạn chế hơn so với ở sân bay bên nước bạn,
trung đoàn đã nhanh chóng ổn định và tập trung vào huấn luyện. Các bài bay ứng dụng chiến đấu, các
phương án đánh địch được triển khai tập luyện. Qua hơn nửa năm, các phi công của trung đoàn đã
vững vàng. thuần thục các khoa mục chiến đấu trên không trong đội hình biên đội hai chiếc, bốn
chiếc. Đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn, nhất là những đồng chí là phi công sau khi nghiên cứu, cân
nhắc kỹ khả năng của từng phi công đã thống nhất nhận định: Với trình độ của mỗi người hiện tại, các
phi công của trung đoàn đã có đủ khả năng chiến đấu và đảm bảo chiến đấu thắng lợi với không quân
đế quốc Mỹ. Cấp trên cũng đã nắm chắc được điều đó. Thời cơ xuất kích của không quân tiêm kích
theo dự đoán của từng phi công trong trung đoàn chắc chắn không còn xa nữa.
Ngày 7 tháng 2 năm 1965, tổng thống Mỹ Johnson ra lệnh mở chiến dịch tiến công bằng
không quân mang tên “Mũi lao lửa" đánh phá miền Bắc Việt nam. Lúc này, tại Viện quân y 108, Khoa
không quân A6 tổ chức khám tuyển lớn tại các trường đại học, các trường cấp III và các trường sĩ
quan quân đội, đã tuyển chọn được trên 300 học viên học lái máy bay và trên 500 học viên học kỹ
thuật làm thợ máy. Số học viên này sau khi Thủ tướng Liên Xô Kosygin và Thủ tướng Trung Quốc
Chu Ân Lai sang thăm và kí kết các nghị định hợp tác, chi viện cho Việt nam đánh Mỹ, đã được gửi đi
đào tạo tại Liên Xô và Trung Quốc.

Ngày 2 tháng 4 năm 1965, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng kiểm tra một lần
nữa các mặt công tác chuẩn bị chiến đấu của không quân. Sau khi nắm tỉ mỉ tình hình chung, đặc biệt
là tình hình thực tế ở Trung đoàn không quân tiêm kích 921, một số vấn đề cụ thể được Đảng uỷ và
Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định chính thức. Lực lượng sử dụng chính thức trong trận đầu được
thông qua. Các cán bộ cơ quan Quân chủng nghiên cứu kỹ thời cơ cất cánh, báo cáo thủ trưởng Bộ tư
lệnh và tổ chức hiệp đồng với các lực lượng phòng không. Căn cứ vào các điều kiện và các mặt bảo
đảm, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định cho Trung đoàn không quân tiêm kích 921 xuất kích trận đầu.
Trước 5 giờ 30 phút ngày 3 tháng 4 năm 1965 nhiệm vụ chiến đấu đã được phổ biến đến các cán bộ,
chiến sĩ trung đoàn.

Phương án tác chiến đã được cấp trên duyệt, được trung đoàn tổ chức cho phi công thực
hiện, luyện tập kỹ càng và triển khai. Hai biên đội tham gia trận đầu tiên, trong đó biên đội trực tiếp
chiến đấu gồm Phạm Ngọc Lan số 1- chỉ huy biên đội, Phan Văn Túc số 2, Hồ Văn Quỳ số 3 và Trần
Minh Phương số 4. Biên đội làm nhiệm vụ nghi binh kiềm chế máy bay tiêm kích địch do Trần Hanh
làm biên đội trưởng - bay số 1 và Phạm Giấy bay số 2. Các máy bay của biên đội trực chiến đã ở vị trí
sẵn sàng.

Ngày 3 tháng 4 năm 1965, vào lúc 7 giờ, các đài radar của ta phát hiện một tốp máy bay
địch vào trinh sát khí tượng và trinh sát mục tiêu. Sở chỉ huy Quân chủng nhận định: có khả năng địch
sẽ huy động lực lượng lớn đánh phá cầu Hàm Rồng. Tại sở chỉ huy Quân chủng, đại tá Phùng Thế
Tài, Tư lệnh và đại tá Đặng Tính, chính uỷ đều có mặt theo dõi trận ra quân đầu tiên của lực lượng
không quân tiêm kích. Đồng chí Hoàng Ngọc Diêu được Bộ tư lệnh giao. trực tiếp chỉ huy trận đánh.

9 giờ 40 phút, 60 lần chiếc máy bay cường kích của hải quân địch cùng lúc bay vào đánh
phá cầu Tào, cầu Đò Lèn và cầu Hàm Rồng. 9 giờ 45 phút, sở chỉ huy lệnh cho hai biên đội trực chiến
vào cấp 1. Lúc 9 giờ 47 phút, biên đội làm nhiệm vụ nghi binh và yểm hộ được lệnh cất cánh, bay về
hướng tây nam thuộc vùng trời Hàm Rồng, Thanh Hoá. Một phút sau biên đội tiến công cất cánh
hướng 210 độ tiến về vùng trời Thanh Hoá theo đội hình sục sạo. Khu vực chiến đấu là vùng trời Hàm
Rồng. Được trung uý Trần Quang Kính, sĩ quan dẫn đường đã có kinh nghiệm sau khi dẫn máy bay T
-28 của Trung đoàn không quân vận tải 919 đánh địch thắng lợi trước đây dẫn vào đánh, lúc 10 giờ 8
phút biên đội tiến công chỉ còn cách địch 45km, trên hướng có lợi cho việc phát hiện mục tiêu. Sau đó
1 phút, biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan chỉ huy biên đội chuyển từ đội hình cảnh giới sang đội hình
công kích và phân làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm số 1 và số 2, tốp thứ hai gồm số 3 và số 4. Từng tốp
tạo thế có lợi tiếp cận, bám sát địch. Địch chưa phát hiện được máy bay ta, chúng vẫn bay theo đội
hình hàng dọc vào đánh mục tiêu. Sau khi phát hiện mục tiêu, theo lệnh biên đội trưởng, từng tốp
chọn mục tiêu lao vào tiến công. Số 1 và số 2 đã bám được một tốp hai máy bay địch. Địch vẫn không
ngờ có máy bay MiG chặn đánh. Vì lần đầu đi chiến đấu, chưa có kinh nghiệm, Phan Văn Túc bay số
2 nhằm một mục tiêu bắn một loạt đạn khoảng cách còn khá xa, nên không trúng mục tiêu. Phạm
Ngọc Lan lệnh cho số 2 bình tĩnh, giữ đúng vị trí yểm hộ rồi cho máy bay vào tới cự ly bắn có hiệu
quả và siết cò súng. Chiếc F-8U bị trúng đạn bốc cháy lao thẳng xuống đất. Đây là chiếc máy bay
phản lực Mỹ đầu tiên bị Không quân nhân dân Việt nam bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Phạm Ngọc
Lan là phi công đầu tiên của Không quân nhân dân Việt nam đã lập chiến công bắn rơi máy bay phản
lực Mỹ.

Bọn địch hoàn toàn bất ngờ trước sự xuất hiện của MiG và hoảng hốt khi đồng bọn bị bắn
rơi, không còn tập trung vào nhiệm vụ đánh phá, chúng buộc phải cơ động tìm cách đối phó. Cùng
trong thời điểm đó, tốp thứ hai của biên đội cũng bám được một tốp khác của địch. Được Trần Minh
Phương (số 4) yểm hộ, Hồ Văn Quỳ (số 3) lao vào công kích chiếc máy bay sau của tốp địch. Loạt
đạn bắn ở cự ly quá xa, không trúng, máy bay địch tăng tốc chạy thoát. Bọn địch bắt đầu quay lại
chống trả. Bốn chiếc MiG vẫn tiếp tục quần nhau với tốp F-8 với số lượng đông hơn nhiều lần. Lúc 10
giờ 15 phút, phát hiện thấy bên phải có một máy bay địch ở gần, số 2 báo cáo biên đội trưởng và xin
phép vào công kích. Tới cự ly có lợi, Phan Văn Túc bắn liền ba loạt. Chiếc F-8U lạng đi rồi bùng
cháy, rơi xuống. Biên đội được lệnh thoát ly chiến đấu về hạ cánh, lúc đó là 10 giờ 17 phút. Biên đội
yểm hộ cũng được

Năm chiếc máy bay của hai biên đội hạ cánh an toàn xuống sân bay Nội Bài. Máy bay của
biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan về gần đến sân bay thì hết dầu. Được phép nhảy dù nhưng phát hiện
thấy một bãi cát phẳng chạy dài bên sông Đuống, Phạm Ngọc Lan xin phép hạ cánh bắt buộc để giữ
máy bay. Với sự bình tĩnh, tự tin và khéo léo, Phạm Ngọc Lan đã điều khiển máy bay tiếp đất an toàn.

Hai chiếc F-8U của địch bị không quân ta bắn rơi trong trận đầu xuất kích. Những thước
phim gắn trên máy bay của các phi công đi chiến đấu đem về đã chứng minh rõ ràng điều đó. Không
quân nhân dân Việt nam đã thực hiện được quyết tâm đánh thắng trận đầu. Chiến công này có ý nghĩa
lớn, không chỉ với Trung đoàn không quân tiêm kích 921, với bộ đội không quân, mà còn góp phần cổ
vũ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân, dân cả nước. Đây là chiến thắng mở đầu cho một
trang sử mới của không quân nhân dân góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống vẻ vang của quân đội
ta và của cả dân tộc.

Ngày 3 tháng 4 năm 1965 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Không
quân nhân dân Việt nam.

Trung đoàn tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh ngay trong buổi tối ngày 3 tháng 4. Nguyên
nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm của trận đánh đã được trao đổi phân tích kỹ, đặc biệt là
sự chuẩn bị công phu, giữ được yếu tố bất ngờ tới lúc nổ súng, máy bay cất cánh và công kích đúng
thời cơ được đánh giá cao. Bên cạnh đó, các phi công thể hiện quyết tâm rất cao trong chiến đấu, vận
dụng tốt nguyên tắc chiến thuật tiêu diệt địch, giữ gìn lực lượng, thực hiện đánh gần có công kích, có
yểm hộ, đánh tập trung, phối hợp hiệp đồng tốt giữa các số trong biên đội, chủ động, cơ động, linh
hoạt trong xử trí tình huống. Cả hai biên đội chiến đấu và nghi binh đều hoàn thành nhiệm vụ. Trong
buổi rút kinh nghiệm, một số mặt còn yếu được các cán bộ lãnh đạo chỉ huy, cả các phi công tham gia
chiến đấu trở về chỉ ra, một cách rất nghiêm khắc, cụ thể, trong đó đặc biệt chú ý về mặt kỹ thuật,
chiến thuật như nổ súng ở cự ly xa, đạn tiêu thụ quá nhiều.

Sau khi rút kinh nghiệm, trung đoàn gấp rút chuẩn bị cho trận chiến đấu mới. Trong khi
Trung đoàn 921 tổ chức rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo, tại sở chỉ huy Quân
chủng, các đồng chí lãnh đạo và cơ quan tham mưu cũng tập trung nghiên cứu, nhận định tình hình.
Các ý kiến đều thống nhất nhận định: Địch sẽ còn tập trung đánh lớn khi chưa phá sập được cầu Hàm
Rồng, nhưng chúng sẽ thay đổi thủ đoạn. Sau khi phát hiện ta có không quân tiêm kích tham chiến
nhất định địch sẽ đề phòng và tìm cách đối phó. Tuy vậy, Bộ tư lệnh vẫn quyết tâm cho không quân
tiếp tục vào trận nếu máy bay Mỹ còn vào đánh cầu Hàm Rồng, bởi những nhận định cho rằng, dù
tiềm lực mạnh đến mấy, địch cũng không thể có những thay đổi đột biến về các thủ đoạn chiến thuật,
địch vẫn sẽ có những sơ hở mà chúng ta có thể lợi dụng để đánh chúng. Vả lại, các chiến sĩ không
quân ta chiến đấu ngay trên bầu trời quê hương mình, được sự hỗ trợ, hiệp đồng bảo vệ của các lực
lượng phòng không, được sự chỉ huy, dẫn dắt trực tiếp, liên tục, kịp thời, hiệu quả của sở chỉ huy
Quân chủng, của sở chỉ huy trung đoàn. Và dưới mặt đất là cả một sức mạnh to lớn của nhân dân hỗ
trợ, nếu địch vào, pháo phòng không bảo vệ cầu Hàm Rồng sẽ đánh trước, không quân sẽ xuất kích
đánh đợt hai để giành thêm yếu tố bất ngờ. Lực lượng không quân tham gia đánh ngày 4 tháng 4 gồm
3 biên đội, trong đó có một biên đội dự bị. Phương án chiến đấu và các số trong từng biên đội đã được
thông qua.

Đúng như dự kiến, sáng ngày 4 tháng 4 năm 1965 địch lại ồ ạt kéo vào. 50 lần chiếc máy
bay của không quân Mỹ tập trung đánh phá hai mục tiêu cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Thanh Hoá.
Lực lượng phòng không bảo vệ mục tiêu nổ súng đánh trả quyết liệt. Bộ tư lệnh Quân chủng cho
không quân xuất kích theo phương án.

10 giờ 20 phút, những biên đội trực chiến được lệnh cất cánh. Biên đội nghi binh cất cánh
trước gồm Lê Trọng Long số 1 biên đội trưởng, Phan Văn Túc số 2, Hồ Văn Quỳ số 3 và Trần Minh
phương số 4. Sau khi cất cánh, toàn biên đội được dẫn về khu vực Vụ Bản, Phủ Lý (Nam Hà) làm
nhiệm vụ thu hút tiêm kích địch, sẵn sàng yểm hộ biên đội công kích. Hai phút sau biên đội tiến công
gồm biên đội trưởng Trần Hanh số 1, Phạm Giấy số 2, Lê Minh Huân số 3 và Trần Nguyên Năm số 4
được lệnh cất cánh. Biên đội được dẫn bay thấp ra hướng đông rồi bất ngờ vào hướng đông -nam. Đến
khu vực chiến đấu, toàn biên đội được lệnh kéo lên chiếm độ cao.

Tại sở chỉ huy Quân chủng, thượng tá Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh phó được phân công chỉ
huy trận đánh của không quân, trung uý Đào Ngọc Ngư làm nhiệm vụ dẫn đường và toàn bộ kíp trực
vẫn đang tập trung theo dõi sát những diễn biến của tình hình.

10 giờ 30 phút, cùng một lúc các phi công trong biên đội đều báo cáo phát hiện máy bay
địch. Một tốp 4 chiếc F-105D đang kéo lên sau khi bổ nhào cắt bom, độ cao và tốc độ ở thế bất lợi.
Phát hiện được điều đó, biên đội trưởng lệnh cho số 2 yểm hộ rồi lao tới bám chiếc đi đầu. Đến cự ly
cách địch còn khoảng 400m, Trần Hanh siết cò, cả ba khẩu pháo cùng nhả đạn. Chiếc "Thần sấm"
trúng đạn, lật nghiêng rơi thẳng xuống.

Sau khi địch phát hiện máy bay ta, tiêm kích quay lại, lợi dụng ưu thế về số lượng, tốc độ
và hoả lực tập trung chặn đánh. Tình huống đã được dự kiến nhưng diễn biến quá nhanh và phức tạp.
Biên đội buộc phải phân làm hai tốp. Số 1 và số 2 ở phía nam Hàm Rồng, số 3 và số 4 ở phía bắc
Hàm Rồng, ít phút sau, được số 4 yểm hộ, Lê Minh Huân số 3 bắn rơi chiếc F-105 thứ hai. Bị đòn
đau, bọn địch kéo tới đông hơn. Trận không chiến diễn ra ác liệt. Tên lửa không đối không của chúng
phóng tới từ nhiều phía. Phi công Trần Nguyên Năm đã anh dũng hi sinh. Trần Hanh đã vượt được ra
ngoài vòng vây máy bay địch sau nhiều động tác xử lý phức tạp, để tránh những quả tên lửa của địch
nên bị mất phương hướng, không xác định được vị trí đang bay. Liên lạc với sở chỉ huy cũng không
được trong khi đó lượng dầu trên máy bay lại sắp cạn. Trần Hanh quyết định không nhảy dù và tìm
địa điểm hạ cánh bắt buộc. Vốn có bản lĩnh vững vàng cùng sự bình tĩnh, khéo léo Trần Hanh đã hạ
cánh an toàn xuống một thửa ruộng trong thung lũng thuộc bản Ké Tằm, phía tây tỉnh Nghệ An. Sau
phút nhầm lẫn ban đầu, nhân dân địa phương vô cùng xúc động, ân cần chăm sóc rồi đưa anh về cơ
quan huyện đội.

Tình huống trong trận chiến đấu thứ hai của không quân khá phức tạp vì không còn yếu tố
bất ngờ. Phải đương đầu với 24 máy bay của không quân Mỹ, tuy bắn rơi của chúng được 2 chiếc
nhưng ta cũng bị tổn thất. Ba trong số bốn phi công của biên đội tham gia trận đánh hi sinh. Ba máy
bay rơi, chiếc còn lại phái hạ cánh bắt buộc. Mặc dù vậy ý nghĩa của trận đánh vẫn rất lớn. Nó khẳng
định, nếu chúng ta dám đánh, quyết đánh thì sẽ đánh thắng kẻ thù cho dù chúng có loại vũ khí tối tân
đến đâu. Nó còn nói lên tinh thần anh dũng của các chiến sĩ không quân dám hi sinh cho nền độc lập
của dân tộc, vì cuộc sống của nhân dân. Qua trận đánh đã đúc rút được những bài học rất quý cho
công tác chỉ huy từ cấp Quân chủng đến trung đoàn, biên đội, trong các trận chiến đấu trên không và
công tác nắm địch, chỉ huy, dẫn dắt, hiệp đồng trong biên đội, giữa các biên đội với lực lượng phòng
không mặt đất. Tuy vậy, những tổn thất trong trận chiến đấu đối với trung đoàn không quân tiêm kích
đầu tiên mới được thành lập là khá nặng nề khiến mọi người phải suy nghĩ, càng phải củng cố quyết
tâm và nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật hơn nữa để tiếp tục giành thắng lợi trong những trận
chiến đấu tiếp theo.

Chiến thắng trong hai trận đánh đầu tiên của Không quân nhân dân Việt nam vào ngày 3 và
ngày 4 tháng 4 năm 1965 là những chiến thắng vang dội, làm xôn xao dù luận quốc tế, đặc biệt là ở
nước Mỹ. Ngày 4 tháng 4, trong cuộc họp báo ở Sài Gòn về trận ngày 3 tháng 4, tướng Moorer - Tư
lệnh tập đoàn không quân số 7 Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương trực tiếp chỉ huy lực lượng không
quân Mỹ đánh phá miền Bắc, đã thừa nhận: "Các máy bay MiG mang phù hiệu không lực Bắc Việt đã
dùng súng ca-nông để hạ những máy bay phản lực siêu âm của Mỹ. Chúng tôi không bắn rơi chiếc
MiG nào…". Về trận không chiến ngày 4 tháng 4 năm 1965, hãng tin Pháp AFP ngày 5 tháng 4 năm
1965 đưa tin: "Máy bay phóng pháo F-105 là loại máy bay hiện đại nhất của không quân Mỹ. Thế mà
hôm qua rõ ràng bị thua máy bay MiG lạc hậu hơn". Hãng tin Mỹ UPI ngày 5 tháng 4 bình luận:
"Việc máy bay MiG hạ những máy bay phản lực khổng lồ bay nhanh gấp hai lần tiếng động làm cho
Toà Bạch Cung phiền lòng, Ngũ Giác Đài đang tìm cách thay đổi chiến thuật trong cuộc oanh tạc Bắc
Việt nam" (Chú thích: Tin tham kháo đặc biệt của Việt nam Thông tấn xã các ngày 5,6 tháng 4 năm
1965).

Ngày 5 tháng 4 năm 1965, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng xuống
Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân nghe báo cáo trực tiếp về hai trận chiến đấu đầu
tiên của không quân. Tại sở chỉ huy Quân chủng, đại tá Phùng Thế Tài, Tư lệnh báo cáo tóm tắt diễn
biến hai trận chiến đấu của Quân chủng trong hai ngày 3 và 4 tháng 4, trong đó đã nêu lên một số vấn
đề chủ yếu đó là công tác tổ chức và chỉ huy tốt. Hiệp đồng giữa không quân và các lực lượng phòng
không, radar chặt chẽ. Các mặt bảo đảm chiến đấu đáp ứng yêu cầu. Đây là những trận chiến đấu đầu
tiên của không quân tiêm kích non trẻ, còn nhiều bỡ ngỡ, còn nhiều sơ hở, do vậy tuy có thắng lợi
nhưng vẫn không tránh được tổn thất.

Đại tướng đánh giá cao thành tích chiến đấu của Không quân nhân dân Việt nam. Hai trận
thắng có nhiều ý nghĩa, vừa có tác dụng rèn luyện bộ đội nhiều mặt vừa là tiền đề cho những chiến
thắng sau này. Đại tướng đã trân trọng chuyển lời khen của Quân uỷ Trung ương và Bộ tổng tư lệnh
đến các phi công, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 921 và toàn thể bộ đội không quân.

Cùng ngày 5 tháng 4 năm 1965, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng
xuống trung đoàn nghe báo cáo cụ thể diễn biến hai trận đánh của trung đoàn vừa qua. Trung tá Đào
Đình Luyện, trung đoàn trưởng đã báo cáo cụ thể, tỉ mỉ với Tổng tham mưu trưởng. Trong khi báo cáo
đồng chí đã phân tích kỹ về tinh thần dũng cảm, mưu trí của phi công, về công tác tổ chức, chỉ huy, về
vấn đề hiệp đồng. Trung đoàn trưởng cũng tự đánh giá, đây là những trận chiến đấu đầu tiên nên các
phi công còn nhiều bỡ ngỡ, sơ hở, còn có những lúng túng trong xử trí tình huống. Thượng tướng
Tổng tham mưu trưởng đã chỉ thị cho trung đoàn và bộ đội không quân nhiều vấn đề cụ thể về xây
dựng lực lượng và chiến đấu.

Cũng trong ngày 5 tháng 4 năm 1965, một niềm vinh dự lớn và xúc động đến với cán bộ,
chiến sĩ trung đoàn: Bác Hồ viết thư khen bộ đội không quân sau ngày đánh thắng. Bác viết:

Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện khẩu hiệu
“Đã đánh là thắng". Như thế là xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân và dân ta, Bác gửi lời
khen ngợi các chú và nhắc các chú phải luôn luôn:

- Nâng cao tinh thần "quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" thắng không kiêu, khó
không nản.

- Ra sức rèn luyện để tiến bộ mãi mãi.

- Đoàn kết chặt chẽ với các đơn vị bạn và với nhân dân.

Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa.

Chào thân ái và quyết thắng.

Ngày 5 tháng 4 năm 1965

Bác Hồ

(Chú thích: Hồ Chí Minh, Toàn tập. tập 10. Nxb Sự thật. Hà nội, 1989, trang 78)

Với hai trận đánh thắng không quân Mỹ ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời Hàm
Rồng Thanh Hoá. Không quân nhân dân Việt nam non trẻ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà Đảng,
Bác Hồ thay mặt cho cả dân tộc, nhân dân giao cho "Mở mặt trận trên không thắng lợi" nay lại nhận
được thư động viên của Bác, lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, học tập
thư Bác và cũng đồng thời chỉnh đốn lại tư tưởng, tâm lý, ý chí sau những trận thắng mở màn của mặt
trận trên không nhưng có tổn thất lớn, nặng nề đầu tiên của đơn vị.

Để xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Bác Hồ và nhân dân cả nước. trung đoàn vừa tập
trung xây dựng đơn vị ổn định tổ chức, vừa đẩy mạnh huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng đợi lệnh xuất
kích. Ngày 20 tháng 9 năm 1965. Bộ tư lệnh quân chủng tiếp tục cho trung đoàn vào trận. Biên đội 4
chiếc MiG-17 gồm Phạm Ngọc Lan số 1, Nguyễn Nhật Chiêu số 2, Trần Văn Trì số 3 và Nguyễn
Ngọc Độ số 4 cất cánh chiến đấu. Qua một số trận đánh, các phi công ta đã quen dần với đối tượng F-
4, phát hiện ra một số nhược điểm của chúng mà MiG-17 có thể lợi dụng trong các cuộc không chiến.
Trận này ta chủ động đánh máy bay tiêm kích địch.

Sau nhiều lần vòng lượn, ngoặt gấp vẫn không thoát được thế bị bám đuôi, bọn F-4 tự phá
vỡ đội hình tháo chạy theo nhiều hướng. Thấy một chiếc máy bay địch hơi nghiêng cánh về trái lẫn
vào đám mây trước mặt, đang ở thế công kích có lợi, số 2 của ta lao theo cắt đường phía ngoài đám
mây đón đầu. Bằng hai loạt đạn, Nguyễn Nhật Chiêu đã bắn rơi tại chỗ một F-4 của địch, biên đội về
hạ cánh an toàn.

Không được tiêm kích tiếp tục bay hộ tống, các máy bay cường kích địch sa vào lưới lửa
của mặt trận phòng không mặt đất. Ngay sau khi không quân vừa thoát ly chiến đấu, bộ đội tên lửa đã
bắn rơi một chiếc AD-6 và lực lượng phòng không thuộc tỉnh đội Hà Bắc bắn rơi một chiếc A-4E.

Đây là trận đánh đầu tiên hiệp đồng với lực lượng phòng không mặt đất của bộ đội không
quân. Trận đánh tuy không bắn rơi nhiều máy bay địch song là một thắng lợi có ý nghĩa, khẳng định
một điều: Nếu hiệp đồng tốt giữa các lực lượng phòng không mặt đất, chúng ta sẽ đánh thắng và đập
tan được mọi thủ đoạn của địch. Dù chúng bay ở độ cao nào cũng đều sẽ gặp lưới lửa phòng không
đón chúng. Bay lên cao sẽ gặp tên lửa, lao xuống thấp đã có MiG đón đánh, có hoả lực pháo phòng
không, xuống thấp nữa có các tay súng của lực lượng dân quân tự vệ. Trận đánh cũng mở ra hướng
mới cho các cấp lãnh đạo chỉ huy, đó là phải tổ chức nhiều trận đánh hiệp đồng giữa các lực lượng
phòng không. Hơn nữa, vừa để phát huy hiệu suất chiến đấu của các lực lượng, vừa để rèn luyện năng
lực chỉ huy của các cán bộ các cấp.

Ngày 6 tháng 11 năm 1965 biên đội Hanh - Nhung - Lan - Phương bắn rơi một trực thăng
địch ở vùng Chợ Bến, Hoà Bình. Thêm một loại máy bay Mỹ nữa bị không quân ta bắn rơi trên vùng
trời miền Bắc.

Cuối năm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất với 72 vạn
quân, có 18 vạn lính Mỹ, 2 vạn lính Nam Triều Tiên cùng lính nguỵ và 2.000 máy bay các loại trong
đó có 600 máy bay phản lực chiến đấu. Mục tiêu của chúng là bẻ gãy xương sống Việt cộng. Song vấp
phải sự đánh trả anh dũng kiên cường của ta, chúng bị thất bại và thiệt hại nặng nề buộc phải chấm
dứt đợt phản công. Ngày 24 tháng 12 năm 1965, Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc.

Cuối năm 1965, không quân ta được trang bị thêm một số máy bay MiG-17 mới đã được
cải tiến hệ thống tăng lực (MiG-17F). Đây là loại MiG-17 được lắp thêm radar phát hiện mục tiêu,
dùng để chiến đấu ban đêm. Số MiG-17 đánh đêm được điều về cho đại đội bay đêm của Trung đoàn
921. Cùng thời gian này, lớp phi công MiG-21 đầu tiên đào tạo ở Liên Xô về nước. Máy bay MiG-21
bạn viện trợ cho ta cũng được chuyển về cảng Hải Phòng rồi vận chuyển theo đường sắt về sân bay
Nội Bài, được các chuyên gia kỹ thuật Liên Xô và lực lượng thợ máy của ta khẩn trương tiến hành lắp
ráp. Theo chỉ thị của trên, các máy bay MiG-21 được trang bị cho Trung đoàn 921. Trung đoàn 921
được lệnh phối hợp cùng các cơ quan chỉ đạo tuyển chọn một số phi công MiG-17 chuyển loại sang
bay MiG-21.

Những phi công chuyển loại đợt đầu đều là những phi công bay khá của trung đoàn và đều
đã tham gia chiến đấu như Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc Độ, Nguyễn Nhật Chiêu nhanh chóng làm
quen với máy bay mới. Đây là loại máy bay đánh chặn hiện đại có tốc độ hơn 2 lần tiếng động, bán
kính hoạt động gấp đôi so với MiG-17. Ngoài súng 23 ly, trên máy bay còn được trang bị tên lửa
không đối không. So với những loại máy bay Mỹ đang sử dụng đánh phá miền Bắc, tính năng kỹ
chiến thuật của MiG-21 tuy không bằng nhưng cũng được đánh giá là "một chín một mười". Những
phi công bay khá và lý thuyết giỏi được chọn làm giáo viên. Lớp phi công mới tiếp tục huấn luyện và
lớp phi công chuyển loại được bố trí bay xen kẽ để giúp nhau nâng cao trình độ bay, rút ngắn thời
gian huấn luyện. Sau mỗi chuyến bay lại tổ chức rút kinh nghiệm, khắc phục các điểm yếu, giúp nhau
mau chóng làm chủ được phương tiện chiến đấu mới. Các cán bộ trung đoàn cũng tranh thủ thời gian
để bay tập chuyển loại cùng với các phi công.

Mặc dù chưa có máy bay huấn luyện (UMIG-21) 2 chỗ ngồi, nhưng trung đoàn đã dùng
máy bay huấn luyện MiG-15 (UMIG-15) để tổ chức bay huấn luyện và chuyển loại. Trong những
ngày này, cường độ bay huấn luyện của Trung đoàn 921 rất lớn, các loại máy bay MiG-17 (cả loại cũ
và loại mới được cải tiến), MiG-21, IL-28, UMIG-15 tranh thủ thời tiết tốt tăng cường huấn luyện.
Các phi công đều cố gắng để được bay hai hay ba chuyến trong ngày. Chỉ sau một thời gian luyện tập
ngắn, đầu năm 1966 phần lớn các phi công trung đoàn đã hoàn thành chương trình huấn luyện chuyển
loại, bắt đầu chuyển sang tập các khoa mục chiến đấu phức tạp. Đặc biệt, lớp phi công MiG-21 từ
ngày về nước đã trưởng thành rất nhanh, trình độ bay được nâng lên rất nhiều. Theo đề nghị của Đảng
uỷ và ban chỉ huy Trung đoàn 921, nhận thấy khả năng cũng như trình độ của phi công có thể đáp ứng
và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định cho
MiG-21 vào trực ban chiến đấu. Đến thời điểm này lực lượng phòng không lại được tăng cường thêm
một loại vũ khí hiện đại nữa cùng bảo vệ vùng trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh pháo phòng
không các loại, súng phòng không của dân quân tự vệ, hoả lực phòng không của hải quân, tên lửa
SAM, máy bay MiG-17 cùng với những chiếc MiG-21 đã sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ canh giữ bầu
trời đầy tự tin. Từ nay ở tầm cao, không quân ta lại càng có điều kiện để phát huy sức mạnh và ưu thế
đặc biệt của mình trong thế trận chiến tranh nhân dân. Đưa MiG-21 vào trực ban chiến đấu, tầm vươn
của không quân cao hơn, xa hơn rất nhiều.

Được chính thức làm nhiệm vụ trực chiến nhưng MiG-21 vẫn đang thời kỳ tăng cường
huấn luyện. Không quân ta đã sử dụng quen với MiG-17, mới tìm ra được cách đánh cho MiG-17. còn
MiG-21 cách đánh chưa được hình thành một cách cụ thể, cơ bản. Những bài tập ứng dụng chiến đấu,
cách tiếp cận mục tiêu chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở vận dụng cách đánh của MiG-17. Trong nghị quyết
của Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân về nhiệm vụ năm 1966, đối với lực lượng không
quân, đã chỉ rõ: Bộ đội không quân phải tập trung mọi cố gắng, nâng cao chất lượng và sức mạnh
chiến đấu, góp phần cùng các đơn vị bạn phát huy vai trò nòng cốt của Quân chủng trong cuộc chiến
đấu với không quân địch bảo vệ miền Bắc. Nhiệm vụ trước mắt của không quân là cùng các lực lượng
phòng không chiến đấu bảo vệ giao thông và những khu vực quan trọng.

Sau một thời gian ngắn tạm ngừng đánh phá miền Bắc nhằm trấn an và lừa bịp dư luận,
nhất là tại nước Mỹ, ngày 1 tháng 2 năm 1966, tập đoàn Johnson lại tiến hành chiến tranh leo thang
trở lại với phạm vi đánh phá rộng hơn. Ngoài các đợt đánh phá vào mục tiêu ban ngày, chúng tăng
cường các trận ném bom ban đêm. Đại đội bay đêm của Trung đoàn 921, sau mấy tháng huấn luyện,
các phi công đã có khả năng làm nhiệm vụ chiến đấu ban đêm. Máy bay MiG-17 đánh đêm được đưa
vào trực chiến đấu và bắn rơi máy bay Mỹ ngay trận xuất kích ban đêm đầu tiên.

Quán triệt phương châm tư tưởng chỉ đạo tác chiến của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng, trong những tháng đầu năm 1966, bộ đội không quân vừa đẩy mạnh các mặt xây dựng, vừa tổ
chức một số trận đánh bằng các loại máy bay mới được trang bị để rút kinh nghiệm. Đêm ngày 5
tháng 2 năm 1966, phi công Lâm Văn Lích lái máy bay MiG-17 bắn rơi 2 chiếc AD-6 trên vùng trời
chợ Bến (Hoà Bình). Đây là trận đánh đêm đầu tiên tiêu diệt máy bay địch của bộ đội không quân nói
chung và của lực lượng phi công tiêm kích Việt nam nói riêng.

Để các phi công có được thực tế chiến đấu, đúc rút kinh nghiệm và hình thành được cách
đánh phù hợp với MiG-21, Trung đoàn 921 dự định sẽ đưa MiG-21 đánh thử một vài trận. Được cấp
trên đồng ý, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho ban chỉ huy Trung đoàn 921 nên thận trọng khi đưa
MiG-21 vào đánh máy bay tiêm kích Mỹ. Phải chọn đối thủ trong trận đầu của MiG-21. Tốt nhất,
trong trận đầu tiên cho MiG-21 đánh vào các máy bay cường kích hoặc máy bay trinh sát.

Thời cơ cho MiG-21 xuất kích trận đầu đã đến. Vào lúc 14 giờ ngày 4 tháng 3 năm 1966,
đơn vị radar cảnh giới phát hiện được tín hiệu máy bay trinh sát không người lái địch hoạt động ở
vùng đông bắc. Đây là chiếc không người lái hoạt động ở tầng cao, MiG-21 sẽ gặp rất nhiều khó
khăn. Trước quyết tâm của trung đoàn cho MiG-21 lên đánh, Bộ tư lệnh Quân chủng đồng ý cho xuất
kích. Phi công Nguyễn Hồng Nhị được lệnh cất cánh và được dẫn tới vùng máy bay địch đang hoạt
động.

Sau 19 phút bay ở độ cao 16 km, Nguyễn Hồng Nhị báo cáo đã phát hiện mục tiêu cách 15
km, độ cao 18 km. Được phép tăng tốc độ, Nguyễn Hồng Nhị đã nhanh chóng bám sát mục tiêu và
đưa chiếc không người lái vào vòng ngắm. Đến cự ly bắn hiệu quả, để chắc ăn, anh ấn nút phóng liền
hai quả tên lửa. Chiếc máy bay không người lái trúng đạn, rơi tại chỗ.

Bắn rơi được máy bay trinh sát của địch trong trận đánh đầu tiên của máy bay MiG-21 là
trận thắng của loại máy bay mới, bằng vũ khí mới là tên lửa không đối không. Đây cũng là trận thắng
đầu tiên của không quân tiêm kích Việt nam tiêu diệt kẻ thù ở tầng cao (18 km). Qua trận này, cán bộ
chỉ huy và các phi công MiG-21 đã có được kinh nghiệm làm cơ sở cho những trận đụng đầu với máy
bay Mỹ sau này. Những vấn đề đã từng đặt ra như các động tác điều khiển máy bay khi tiếp cận mục
tiêu, giữ máy bay ổn định khi phóng tên lửa, giờ đây bước đầu được kiểm nghiệm qua thực tế, tới trận
này, thêm một loại máy bay nữa của Mỹ bị không quân ta bắn rơi.

Ngày 12 tháng 4 năm 1966, lần đầu tiên không quân Mỹ sử, dụng máy bay chiến lược B-
52 đánh ra miền Bắc, tại đèo Mụ Giạ. Ngày 19 tháng 4 năm 1966, Quân chủng ra lệnh cho không
quân sử dụng MiG-21 đánh máy bay địch ở độ cao trung bình và cao, tiếp tục đánh máy bay trinh sát
ở tầng cao, phối hợp với MiG-17 đánh máy bay địch ở độ cao trung bình.

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, lần đầu tiên không quân Mỹ dùng 24 chiếc F-105 tập trung
đánh vào khu vực nội ngoại thành Hà nội, làm cháy lớn ở kho xăng Đức Giang và kho xăng Thượng
Lý, Hải Phòng.

Sau một năm vừa xây dựng, huấn luyện, vừa tham gia chiến đấu, lực lượng không quân
tiêm kích của ta đã phát triển và trưởng thành. Từ lúc chỉ đánh ban ngày, không quân đã làm cả nhiệm
vụ đánh đêm. Từ những ngày đầu chỉ với những chiếc MiG-17 rồi cải tiến thành MiG-17 đánh đêm,
chúng ta đã có thêm MiG-21 rất hiện đại, rất ưu việt. Nhưng MiG-21 thời kì đầu đánh chưa có hiệu
quả, cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy, phi công, kĩ sư hàng không, thợ máy và các lực lượng khác đã tập
trung nghiên cứu để tìm ra các nguyên nhân ở mọi góc độ khác nhau của thực trạng trên. Nhất là ngày
29 tháng 6 năm 1966, khi máy bay F-105 ném bom kho xăng Đức Giang, nhìn cột khói khổng lồ và
ngọn lửa bốc cao, không riêng chỉ những người trực ở sân bay Nội Bài mà tất cả phi công MiG-21,
chỉ muốn được xuất kích đánh địch ngay nhưng chưa có lệnh của cấp trên, tất cả vẫn phải chờ đợi.

Thời kỳ này, MiG-21 tạm dừng xuất kích để tập trung nghiên cứu, rút kinh nghiệm tìm
nguyên nhân để đánh thắng. Trong các cuộc họp, các phim chụp từ máy bay chiến đấu trở về đều
được in tráng để đưa vào bình giảng. Những phi công trực tiếp thực hiện trận đánh dù thất bại hay
thành công cũng đều phải tường trình lại cụ thể, tỉ mỉ từng giai đoạn của trận đánh, tình huống xảy ra,
hiện tượng quan sát được cũng như cách xử trí của người lái. Qua các cuộc trao đổi rút kinh nghiệm
nghiêm túc, các cấp lãnh đạo và cơ quan chuyên môn đã đi đến kết luận bước đầu: Nguyên nhân
chính làm cho MiG-21 chưa đánh thắng là do chưa phát huy được tính năng kỹ thuật của máy bay để
có cách đánh phù hợp. Trong các trận đánh, phi công, nhất là số mới chuyển loại từ MiG-17 sang và
cả các cán bộ chỉ huy vẫn đều áp dụng chiến thuật của MiG - 17 cho MiG - 21. Trong khi đó, âm mưu
của địch vô cùng xảo quyệt, thủ đoạn lại luôn thay đổi. Vì vậy, chiến thuật cũ không thể áp dụng cho
loại máy bay mới được, muốn đánh thắng, MiG-21 phải có chiến thuật đánh của MiG-21. Phi công
không chỉ có dũng cảm, táo bạo, thông minh mà trước hết phải nắm thật chắc tính năng kỹ thuật của
máy bay. Đây là những yếu tố rất quan trọng để bảo đảm cho MiG-21 đánh thắng. Qua các cuộc
nghiên cứu, trao đổi, cơ quan lãnh đạo cũng rút ra được những kinh nghiệm bước đầu như chọn thời
cơ cất cánh, chọn mục tiêu, độ cao bay và chiến đấu thích hợp cho MiG-21, cách dẫn MiG-21 vào tiếp
cận mục tiêu. Trên cơ sở đó phương án chiến đấu của MiG-21 được bổ sung thêm nhiều nội dung
mới. Một đợt huấn luyện cho MiG-21 theo phương án chiến đấu mới được gấp rút tổ chức.

MiG-21, sau một thời gian rút kinh nghiệm và huấn luyện theo cách đánh mới lại tiếp tục
được vào trực chiến. Theo phương án, MiG-21 sẽ chặn đánh địch ngay tại vùng trời trên và khu vực
xung quanh sân bay là chủ yếu. Trung đoàn 921 sẽ tổ chức cho MiG-21 đánh một số trận theo phương
án mới để rút kinh nghiệm tiếp, bổ sung kịp thời cho các phương án, cách đánh đã được chuẩn bị.

Sau khi phát hiện một điều gần như thành quy luật máy bay Mỹ cất cánh từ Thái Lan sang
đánh khu vực Thái Nguyên đều bay theo hướng bay Phú Thọ, bắc Tam Đảo, thậm chí đã có những lần
chúng bay lướt qua cả khu vực sân bay Nội Bài, trung đoàn quyết định đón đánh địch ngay trên vùng
trời Nội Bài. Phương án được triển khai và được tập luyện khá chu đáo. Chọn đánh địch ngay tại vùng
trời sân bay sẽ phát huy được lợi thế, phi công ta thuộc địa hình sẽ giành được thế chủ động, bất ngờ.
Mặt khác, được đài chỉ huy cất, hạ cánh ở sân bay và các đài bổ trợ hướng dẫn quan sát địch, được
dẫn dắt, chỉ huy, xử trí khi xuất hiện các tình huống phức tạp.

Ngày 7 tháng 7 năm 1966, mạng radar phát hiện nhiều tốp máy bay Mỹ cất cánh từ Thái
Lan có hướng bay về phía Thái Nguyên. Được lệnh của Quân chủng, Trung đoàn 921 cho biên đội
MiG-21 trực chiến gồm Nguyễn Nhật Chiêu và Trần Ngọc Xíu cất cánh. Sau khi ổn định độ cao, hai
chiếc MiG-21 được dẫn vào khu chờ.

Đúng như dự kiến, những tốp F-105 từ Thái Lan sang đã xuất hiện sau dãy núi Tam Đảo.
Gần giống như những bọn đi đánh trước, những chiếc F-105 này khi bổ nhào cắt bom cũng bay qua
Nội Bài. Lập tức, từ khu chờ, hai chiếc MiG-21 lao tới bất ngờ, khiến địch kinh hoàng không kịp đối
phó, đội hình hỗn loạn. Ở thế thuận lợi, Trần Ngọc Xíu đưa ngay một chiếc gần nhất vào vòng ngắm
rồi ấn nút phóng tên lửa. Máy bay địch trúng đạn, bùng cháy, rơi ngay tại chỗ. Hai chiếc MiG-21 được
lệnh tăng tốc độ, thoát ly khỏi khu vực chiến đấu. Bọn tiêm kích Mỹ đi hộ tống cũng không kịp ứng
phó. Biên đội bay về sân bay Gia Lâm và hạ cánh an toàn.

Trận đánh đã thực hiện đúng theo phương án đề ra: Bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh,
bảo toàn lực lượng. Mặc dù trong trận này, ta chỉ bắn rơi một chiếc nhưng đây là trận đầu tiên MiG-21
bắn rơi máy bay có người lái của Mỹ bằng tên lửa. Do trận đánh diễn ra nhanh chóng đến mức bất
ngờ nên tuy có thể rút ra được một số kinh nghiệm nhưng cũng chưa có đủ điều kiện để khẳng định
cách đánh tương đối hoàn chỉnh cho MiG-21. Ví dụ, tên lửa tuy bắn trúng mục tiêu nhưng cự ly
phóng đã có thể xác định chắc chắn là ở tầm có hiệu quả chưa? Những thắc mắc nảy sinh sau trận
đánh đã được giải đáp phần nào khi biên đội MiG-21 gồm Vũ Ngọc Đỉnh, Đồng Văn Song bắn rơi
một chiếc F-105 trong trận đánh ngày 11 tháng 7 năm 1966, trên vùng trời Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nhưng dẫu sao đây cũng chỉ là những trận thắng ban đầu.

Vẫn còn những tranh cãi: Nên tiếp tục cách đánh quần vòng ở độ cao thấp như MiG-17 hay
dứt khoát phải thay đổi hoàn toàn bằng cách đánh mới, nhưng thay đổi như thế nào cho phù hợp thì
các cuộc tranh luận đều chưa đi đến thống nhất.

Ngày 12 tháng 7 năm 1966, trong tổng hợp kết quả chiến đấu 6 tháng đầu năm 1966 báo
cáo Bộ quốc phòng, Quân chủng phòng không- không quân đã bắn rơi 206 máy bay địch. Không quân
bắn rơi 14 chiếc, đánh chìm 3 tàu biệt kích; không quân vận tải thả dù tiếp tế cho các đơn vị trên các
mặt trận được 97 tấn hàng hoá vũ khí.

Trong khi MiG-17 của Trung đoàn 923 liên tiếp lập công thì MiG-21 vẫn còn gặp khó
khăn. Sau trận 14 tháng 7 năm 1966, biên đội hai chiếc MiG-21 đánh với bọn F-4 và F-105 không
thành công (không bắn rơi địch, hai phi công ta phải nhảy dù), trung đoàn chỉ tổ chức một trận cho
một chiếc MiG-21 đánh máy bay trinh sát không người lái tầng cao rồi tạm dừng để rút kinh nghiệm,
tìm cách đánh. Trong những ngày này, MiG-21 chủ yếu làm nhiệm vụ huấn luyện. Số phi công vừa
học ở Liên xô về nước cuối tháng 6 cũng đưa vào huấn luyện và làm nhiệm vụ trực chiến cùng các phi
công cũ.
Nhiều phương án được đưa ra để tổ chức huấn luyện, nhưng vẫn còn nhiều điều vướng
mắc. Có vấn đề đã được khẳng định là: MiG-21 tốc độ lớn không thể đánh quần vòng hẹp ở độ cao
thấp như MiG-17. Vậy đánh ở độ cao nào là thích hợp, là phát huy được tính ưu việt của MiG-21.
Muốn có được câu trả lời thuyết phục, phải có thực tế. Nhưng trước hết phải nghiên cứu kỹ những
phương án có tính khả thi để MiG-21 lại xuất kích, tiếp tục gánh vác nhiệm vụ cùng MiG-17 và
những lực lượng phòng không khác.

Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
trong đó khẳng định lập trường đanh thép của dân tộc và nhân dân Việt nam là: “Chiến tranh có thể
kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp
có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến
ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".

Những tháng cuối năm 1966, tình hình chiến sự càng trở nên ác liệt. Ngày 2 tháng 12 năm
1966, không quân Mỹ tiến hành đợt đánh phá lớn lần thứ 2 vào Hà nội và các vùng phụ cận với 123
lượt chiếc liên tục trong các ngày 2, 4 và 14 tháng 12. Lực lượng phòng không bắn rơi 26 chiếc máy
bay địch. MiG-17 của Trung đoàn 923 vẫn liên tục xuất kích và lập công. Số lượng máy bay Mỹ bị
không quân ta bắn rơi tăng nhanh nhưng hầu như đều do MiG-17 thực hiện, trong khi đó MiG-21 vẫn
gặp khó khăn. Số lần xuất kích khá nhiều nhưng mới bắn rơi được 1 chiếc máy bay không người lái.
Sau trận ngày 9 tháng 10 năm 1966 của biên đội Phạm Thanh Ngân - Nguyễn Văn Minh bắn rơi hai
chiếc F-4 ở Mỹ Đức, Hà Tây bằng rốc-két, ý tưởng dùng rốc -két đánh địch nổi lên khá mạnh trong
hàng ngũ phi công. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng chưa thể hiện rõ quyết tâm, chưa thực sự tin vào
tính ưu việt của tên lửa, đã đề nghị lên trên theo ý nguyện của một số phi công, trang bị rốc-két cho
MiG-21.

Trong các trận đánh, các số trong biên đội thường kết hợp vừa mang tên lửa vừa mang rốc-
két. Nhưng rồi hiệu quả của rốc-két cũng như tên lửa, trận trúng, trận không. Có trận tốn khá nhiều
rốc-két mà vẫn không trúng mục tiêu. Sau mỗi trận, đơn vị đều rút kinh nghiệm, giảng bình tỉ mỉ,
nhưng vấn đề cơ bản vẫn chưa có cách giải quyết. Đảng uỷ và ban chỉ huy Trung đoàn 921 vẫn quyết
tâm, kiên trì với phương hướng tìm cách đánh mới cho MiG-21. Chiến dịch "Sấm rền Alpha 52" của
địch ngày càng diễn ra dữ dội. Các mục tiêu ở ngoại vi Hà nội liên tiếp bị địch ném bom. MiG-21
xuất kích với số lượng ngày càng lớn tới hơn chục lần trong khi đó cách đánh thật sự cho MiG-21 vẫn
chưa tìm ra.

Thủ đoạn tác chiến của không quân Mỹ thay đổi liên tục. Lối đánh trên "sân nhà" trong
vòng bảo vệ của pháo phòng không, tên lửa của không quân ta không còn thích hợp. Đã có nhiều trận
đánh không thành công. Vả lại, không quân địch cũng rất xảo quyệt. Ngay ở độ cao và hướng bổ nhào
chúng cũng cơ động liên tục, thậm chí chúng còn cho những tốp lẻn nhanh vào vòng trong rồi từ trong
đánh ra. Chúng ta cũng đã lúng túng và bị thiệt hại. Sau nhiều lần trao đổi, rút kinh nghiệm, tìm tòi
với tinh thần sáng tạo tập thể, đơn vị đã đi đến nhận định rằng: MiG-21 là loại máy bay tiêm kích siêu
âm, nguyên tắc sử dụng cơ bản nhất của nó là làm nhiệm vụ đánh chặn. Phải đưa MiG-21 đi đánh xa,
bỏ hẳn lối đánh phần nào còn dè dặt, chờ sẵn, đánh ngay trên sân nhà. Lối đánh ấy qua thời gian kiểm
nghiệm rõ ràng không phải là của MiG-21. Bằng tính quyết đoán và được sự thống nhất của ban chỉ
huy trung đoàn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 Trần Mạnh báo cáo quyết tâm lên Bộ tư lệnh
Quân chủng xin được triển khai chuẩn bị cho một trận đánh thử nghiệm theo phương án mới. Dự định
của trung đoàn được Bộ tư lệnh chấp nhận.

Khu vực chiến đấu của MiG-21 được chọn là vùng trời Sơn Dương (Tuyên Quang). Khu
vực này có đặc điểm là khi máy bay địch từ Thái Lan sang đánh Hà nội thường bay qua đây với đội
hình ổn định trên một đường thẳng. Đúng như dự kiến, sáng ngày 5 tháng 12 năm 1966, mạng lưới
radar phát hiện 12 chiếc F-105D từ Thái Lan bay sang, thành ba tốp trên một đường thẳng, với độ cao
và tốc độ ổn định. Biên đội MiG-21 gồm Nguyễn Đăng Kính số 1, Bùi Đức Nhu số 2 được lệnh cất
cánh trực chiến và được dẫn về vùng trời Sơn Dương trước khi bọn địch bay đến khu vực này. Khi
vòng lại, các phi công đã nhìn thấy bằng mắt thường tốp F-105D đang bay thành dãy dài. Được lệnh
công kích, cả hai lao vào đội hình địch. Theo quyết tâm của ban chỉ huy trung đoàn, trận này các máy
bay chỉ mang theo toàn tên lửa.

Do bị bất ngờ, đội hình địch bị phá vỡ nhanh chóng, chúng quăng hết bom để tháo chạy,
một chiếc F-105D bị trúng tên lửa của ta và rơi tại chỗ. Biên đội được lệnh trở về và hạ cánh an toàn.
Trận đánh đã cản phá hoàn toàn được một mũi tiến công của địch, bắt chúng phải vứt bom từ xa,
không thực hiện được ý đồ vào đánh phá Hà nội. Buổi chiều, bọn địch lại vào và vẫn bay theo đường
cũ. Hai biên đội MiG-21 được lệnh cất cánh. Biên đội thứ nhất gồm Huyên số 1, Lương số 2, biên đội
thứ hai gồm Đỉnh số 1, Hiếu số 2. Cả hai biên đội được dẫn tới vùng trời nam Sơn Dương và đã nhanh
chóng phát hiện được địch. Biên đội thứ hai lao vào công kích. Số 1 Vũ Ngọc Đỉnh đã phóng tên lửa
chính xác, bắn rơi một chiếc F-105D. Đội hình địch tan rã, tất cả quăng bừa bãi bom tháo chạy. Hai
biên đội trở về an toàn. Hai trận đánh đều được chuẩn bị khá chu đáo, ta giữ được thế chủ động, đánh
chặn từ xa, đánh địch trên đường thẳng. Thắng lợi bước đầu đã mở ra cho MiG-21 một lối đánh mới
tuy chưa hoàn chỉnh kể cả chiến thuật và sử dụng vũ khí.

Sau hai trận thắng trong ngày 5 tháng 12 năm 1966, MiG-21 liên tiếp đánh thắng nhiều
trận khác cùng với lối đánh chặn từ xa, đánh trên đường thẳng và đánh bằng tên lửa. Bộ tư lệnh Quân
chủng chỉ thị đưa MiG-21 đi đánh xa hơn nữa. Yêu cầu đặt ra là phải cản phá được địch từ vòng
ngoài, kìm sức tiến công của chúng lại. Nhưng vấn đề đặt ra là MiG-21 đi đánh xa hơn, nhiệm vụ
radar dẫn đường sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Do địch gây nhiễu đủ loại, nhiễu khu vực rất dày, nên
radar bắt mục tiêu khó. Mặt khác, chọn mục tiêu thích hợp cho không quân đánh cũng không ít khó
khăn. Đại đội radar 43 có quyết tâm rất cao. Đây là đại đội được xây dựng từ lâu và cũng đã có kinh
nghiệm trong bảo đảm chiến đấu.

Được sự hỗ trợ trực tiếp của Sở chỉ huy Quân chủng, chiều ngày 14 tháng 12 năm 1966,
Trung đoàn 921 cho biên đội bốn chiếc MiG-21 cất cánh. Được dẫn tới khu chờ, chỉ vòng lượn có ba
lần, biên đội đã phát hiện được 20 chiếc F-105 đang bay theo đội hình bàn tay xoè, hướng về phía Hà
nội. Đang ở thế có lợi, từ độ cao hơn địch, biên đội lao vào công kích ngay.

Trận đánh diễn ra chỉ trong 2 phút 30 giây, ba chiếc F-105D bị bắn rơi tại khu vực bắc dãy
núi Tam Đảo, số còn lại hoảng loạn vội quăng bom tháo chạy. Biên đội trở về hạ cánh an toàn.

Trận đánh thắng này đã khẳng định thêm về chủ trương sử dụng MiG-21 đánh chặn từ xa
là đúng đắn. Phát huy khí thế chiến thắng, MiG-21 liên tiếp lập công. Chỉ trong 13 ngày đầu của tháng
12 (từ ngày 2 đến ngày 14), MiG-21 đã bắn rơi 4 chiếc máy bay Mỹ, cản phá nhiều đợt tiến công của
địch vào thủ đô Hà nội. Điều quan trọng là đã hình thành được cách đánh thích hợp cho MiG-21, đó là
cách đánh thọc sâu vào đội hình lớn của địch, đánh nhanh, rút nhanh, khiến chúng không kịp ứng phó.
MiG-17 cũng đánh thắng liên tục, mấy trận thắng trong tháng 12 năm 1966 của MiG-17 đã buộc địch
phải tìm đủ mọi cách để đối phó lại. Từ chủ động chọn mục tiêu, thời gian và lực lượng trong mỗi trận
đánh và đợt đánh phá, chúng buộc phải đề phòng, tăng thêm lực lượng và tìm cách đối phó lại với
MiG của ta. Từ chủ quan, ngạo mạn, phi công Mỹ đã không còn coi thường phi công ta. Bọn chúng đã
gọi vùng trời Việt Trì, Tam Đảo (Vĩnh Phú) là "Thung lũng MiG". Nhiều tên rất sợ khi phải bay vào
vùng này. Nhiều đợt vào đánh phá các mục tiêu ở Hà nội và khu vực xung quanh, chúng đã chọn
đường bay khác.

3. Trung đoàn không quân tiêm kích 923
Sau thời gian dài học tập ở nước bạn, giữa năm 1965 đoàn học bay thứ hai được lệnh về
nước. Lúc này, với số phi công được đào tạo ở Liên Xô và số học ở Trung Quốc về, lực lượng lái máy
bay của Trung đoàn 921 được bổ sung thêm 30 đồng chí. Số lượng máy bay và cơ sở vật chất kỹ thuật
cùng các mặt bảo đảm cũng tăng đáng kể. Căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, Bộ tư
lệnh Quân chủng đề nghị Bộ quốc phòng cho phép thành lập trung đoàn không quân tiêm kích thứ
hai. Chủ trương này cũng nằm trong dự thảo kế hoạch xây dựng không quân và đã có sự chuẩn bị lực
lượng. Theo quyết định của Bộ quốc phòng, ngày 4 tháng 8 năm 1965 Trung đoàn không quân tiêm
kích 923 được thành lập. Ngày 7 tháng 9 trung đoàn làm lễ công bố quyết định. Trung tá Nguyễn
Phúc Trạch được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng và trung tá Nguyễn Ngọc Phiếu được bổ nhiệm làm
chính uỷ trung đoàn.

Trên cơ sở đoàn học bay MiG-17 mới về nước cùng với lực lượng phi công, thợ máy và
các bộ phận bảo đảm được bổ sung từ Trung đoàn 921 sang, Trung đoàn 923 lúc đầu mới có 2 đại đội
bay. Về cơ sở vật chất và căn cứ đóng quân, Trung đoàn gặp nhiều khó khăn. Sân bay Kép, căn cứ
chính của trung đoàn thời gian qua chỉ dùng cho đơn vị trực thăng của Trung đoàn 919 sử dụng nay
được sửa chữa tu bổ cấp tốc để phục vụ cho hoạt động của trung đoàn. Đường bảo hiểm, đường hạ
cánh bắt buộc chưa có, nhà ở hầu như cũng chưa có.

Để chuẩn bị cho việc chuyển trường của trung đoàn, một đoàn khảo sát do đồng chí
Nguyễn Văn Tiên, Tư lệnh phó Quân chủng dẫn đầu cùng đồng chí Mai Đức Toại, đại đội trưởng đại
đội 2 của trung đoàn lên sân bay kiểm tra và quan sát chiếc máy bay Li-2 của Trung đoàn 919 hạ cánh
thử, hôm sau phi công Mai Đức Toại bay hạ cánh thử rồi dẫn các máy bay của trung đoàn rời căn cứ
Nội Bài về sân bay Kép hạ cánh an toàn.

Trung đoàn 923 cơ động toàn bộ về sân bay Kép trong điều kiện địa hình sân bay còn phức
tạp là một thử thách lớn đầu tiên, cũng là một thắng lợi bước đầu. Trung đoàn được giao nhiệm vụ bảo
vệ vùng trời đông bắc Thủ đô.

Sân bay Kép vẫn tiếp tục được tu sửa, mở rộng và xây dựng. Bên cạnh những chiếc máy
bay trực chiến và bay huấn luyện, một lực lượng hơn 4.000 người vẫn làm việc ngày đêm để nhanh
chóng hoàn chỉnh sân bay, tạo điều kiện thuận lợi cho các máy bay cất cánh chiến đấu. Bộ đội công
binh đã sử dụng tới 250.000KG bộc phá để san bằng bốn quả đồi với hơn nửa triệu mét khối đất đá.
Dòng sông Đào chảy qua phía đầu sân bay đã được nhân dân huyện Lạng Giang sửa nắn vòng ra phía
ngoài để đảm bảo an toàn khi máy bay hạ cánh. Chỉ trong một thời gian ngắn, các lực lượng tham gia
xây dựng sân bay cùng nhân dân địa phương đã xây dựng, tu bổ cho khu vực sân bay tương đối hoàn
chỉnh, đảm bảo mọi yêu cầu cho không quân ta hoạt động.

Sau khi Trung đoàn 923 được thành lập, lực lượng không quân tiêm kích được điều chỉnh
lại cho phù hợp. Ngoài số phi công mới về, một số phi công của Trung đoàn 921 đã qua chiến đấu
được tăng cường sang trung đoàn mới, trong đó có cả các cán bộ đại đội bay, cán bộ trung đoàn. Lực
lượng bay của Trung đoàn 921 cũng được biên chế lại thành 2 đại đội trong đó có 1 đại đội bay đêm.
Cũng trong thời gian này, 8 tổ máy bay ném bom được đào tạo ở Liên Xô về nước và được tổ chức
thành 1 đại đội trực thuộc Trung đoàn 921. Đại đội này mang phiên hiệu 929 (Chú thích: Đại đội 929
lúc đầu thuộc Trung đoàn 921. Sau khi thành lập Bộ tư lệnh không quân (24-3-1967) đại đội phát triển
thành tiểu đoàn không quân ném bom 919 và trực thuộc Bộ tư lệnh không quân) và được trang bị 12
máy bay IL-28 gồm 8 chiếc ném bom, 2 chiếc trinh sát và 2 máy bay huấn luyện. Trung đoàn không
quân vận tải 919 được trang bị thêm một số máy bay chở khách mới IL- 18 và máy bay vận tải quân
sự An-24. Theo chỉ thị của trên, Trung đoàn 919 chọn 15 đồng chí phi công và 8 cơ giới trên không
sang Liên Xô chuyển loại máy bay trực thăng Mi-6. Về phía lực lượng phòng không mặt đất, các đơn
vị tên lửa được triển khai và đã đánh thắng, bắn rơi máy bay địch ngay từ trận đầu ra quân.

Sáu tháng sau ngày thành lập, Trung đoàn 923 đã cơ bản ổn định về mọi mặt. Bên cạnh
việc huấn luyện nâng cao trình độ hàng ngày, các biên đội đều đã nhận nhiệm vụ trực chiến. Sau bao
ngày chờ đợi, trung đoàn mới chính thức được ra quân trận đầu.

Đó là ngày 4 tháng 3 năm 1966, sau trận đánh do MiG-21 của Trung đoàn 921 thực hiện
kết thúc được chừng một giờ, radar cảnh giới lại phát hiện có máy bay địch. Lúc. 15 giờ 42 phút, một
số tốp địch xuất hiện ở vùng Yên Bái. Theo lệnh của sở chỉ huy Quân chủng, Trung đoàn 923 cho biên
đội trực chiến cất cánh. Bốn chiếc MiG-17 nhanh chóng rời sân bay, theo hướng tây - tây bắc lao đi.
Số 1 là Phan Thành Chung, số 2 là Ngô Đức Mai, số 3 là Trần Minh Phương (người đã bay số 4 trong
trận ra quân đầu tiên của không quân tiêm kích) và số 4 là Nguyễn Thế Hôn. Hơn 10 phút sau, biên
đội đã phát hiện mục tiêu và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Bọn địch cũng phát hiện ra ta,
chúng lại giở trò phân tốp đối phó. Số 1 lệnh cho biên đội chia làm hai tốp bám địch và dẫn số 2 lao
vào đánh tốp địch gần nhất. Sau hai loạt đạn của số 1, tên địch bay sau vẫn cơ động tránh được, thấy
vị trí có lợi, số 2 xin phép tiến công rồi lao lên. Số 1 lùi lại sau làm nhiệm vụ yểm hộ. Cách chừng 500
m Ngô Đức Mai bắn loạt đạn thứ nhất. Chiếc F-4 vẫn bay. Ngô Đức Mai tăng tốc độ, vào tới khoảng
cách 200m, anh bắn loạt thứ hai rồi lao lên bắn tiếp loạt thứ ba. Máy bay địch trúng đạn, nổ tung. Bọn
địch hoảng loạn tháo chạy. Số 3 và số 4 sau khi đánh quần với bọn F-4, cơ động tránh những loạt tên
lửa chúng phóng tới, không tìm được cơ hội công kích, thấy máy bay địch bỏ chạy cũng thoát ly, tập
hợp đội hình cùng biên đội trở về căn cứ. Trên đường về, phát hiện có máy bay địch bám theo, số 2
quay lại phản kích, buộc chúng phải bỏ chạy. Về gần tới sân bay, máy bay số 2 sắp hết dầu. Thấy còn
đủ khả năng, mặc dù sẽ rất nguy hiểm, Ngô Đức Mai vẫn quyết định không nhảy dù và xin phép hạ
cánh khẩn cấp để cứu máy bay. Toàn biên đội đã hạ cánh xuống sân bay an toàn.
Trận đánh đầu tiên của Trung đoàn không quân tiêm kích 923 kết thúc thắng lợi sau nhiều
tình huống phức tạp, kéo dài. Ngay từ trận đầu, trung đoàn đã đương đầu với lực lượng tiêm kích Mỹ
và đánh thắng. Mặc dù chỉ bắn rơi một chiếc của địch nhưng trận đánh vẫn mang nhiều ý nghĩa. Đặc
biệt là xây dựng được truyền thống đánh thắng trận đầu của trung đoàn, không những thế, trung đoàn
vừa đánh thắng lại vừa bảo toàn được lực lượng.

Từ đó, ngày 4 tháng 3 năm 1966 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của
Trung đoàn không quân tiên kích 923.

Trong khi MiG-21 còn đang tìm cách đánh thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, leo những
nấc thang mới: Đánh thủ đô Hà nội, đánh hệ thống kho tàng, các chân hàng. Ngày 29 tháng 6 năm
1966, mở đầu cho những đợt đánh phá vào thủ đô Hà nội, Mỹ cho nhiều tốp F-105 ném bom kho xăng
Đức Giang. Lực lượng phòng không mặt đất đánh trả quyết hệt. Mặc đồng bọn bị bắn rơi, những tốp
khác của địch vẫn tiếp tục lao vào.

Để phối hợp với lực lượng phòng không mặt đất cản phá máy bay địch, một biên đội MiG-
17 của Trung đoàn 923 được lệnh cất cánh, chặn đánh địch từ vòng ngoài. Bốn chiếc MiG-17 gồm
Trần Huyền số 1, Võ Văn Mẫn số 2, Nguyễn Văn Bảy số 3 và Phan Văn Túc số 4 được dẫn về hướng
tây -bắc Thủ đô. Sau ít phút quần vòng với địch, Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc F-105 rồi Phan
Văn Túc bắn rơi chiếc F-105 thứ hai tại vùng trời Tam Đảo. 10 chiếc F-105 còn lại vội vàng quăng
bom tháo chạy. Biên đội trở về hạ cánh an toàn. Đây là trận đánh mở đầu cho một giai đoạn chiến đấu
mới: những đợt chiến đấu bảo vệ thủ đô Hà nội của bộ đội không quân.

Trung tuần tháng 7 năm 1966, Trung đoàn 923 đã tổ chức được nhiều trận đánh rất tốt. Đặc
biệt, chỉ trừ trận ngày 13 tháng 7, trung đoàn dùng biên đội bốn chiếc, các trận còn lại trong tháng 7
đều được sắp xếp theo đội hình hai chiếc. Bốn trận đánh của Trung đoàn 923 trong tháng 7 đã bắn rơi
7 máy bay các loại của địch, ta chỉ bị tổn thất một. Có những trận đánh xuất sắc, cả hai số đều bắn rơi
địch và an toàn trở về như trận của biên đội Phan Thành Chung, Ngô Đức Mai ngày 14 tháng 7 và
điển hình là trận ngày 19 tháng 7 năm 1966 của biên đội Nguyễn Biên và Võ Văn Mẫn.

Sau những trận đánh thắng liên tiếp, giòn giã của Trung đoàn 923, khí thế càng lên mạnh.
Ngày 20 tháng 7 năm 1966, bộ đội không quân vinh dự nhận được thư khen của Bác Hồ. Toàn văn thư
của Bác như sau:

"Thân ái gửi cán bộ và chiến sĩ Không quân nhân dân Việt nam.

Trong những trận chiến đấu vừa qua, các đồng chí lái máy bay đã chiến đấu rất dũng cảm,
mưu trí, lập nhiều chiến công, hạ nhiều máy hay giặc Mỹ.

Các đồng chí cán bộ và nhân viên không quân ta đều có tinh thần trách nhiệm cao, tất cả
đế chiến thắng.

Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương đảng và Chính phủ khen ngợi tất cả các đồng chí.

Các chú, các cô, phải luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu, chớ
chủ quan khinh địch, phải luôn luôn ra sức rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật và tư tưởng chính trị. Phải
có tinh thần tập thể lập công. Phải phối hợp tốt với nhân dân và các đơn vị khác của lực lượng vũ
trang nhân dân để lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa, góp phần xứng đáng trong việc đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược.

Chào thân ái và quyết thắng.

Bác Hồ"

Đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng cuộc chiến tranh leo thang, các mục tiêu xung quanh Hà
nội đã bị ném bom. Để giữ gìn lực lượng, Quân chủng phòng không - không quân đã chỉ thị cho các
đơn vị không quân tiến hành sơ tán và tổ chức làm hầm ụ cất giấu máy bay. Những máy bay chiến đấu
sẽ được kéo dắt hàng ngày ra vị trí trực ban chiến đấu. Được nhiều cơ quan đơn vị giúp đỡ tận tình,
đặc biệt là nhân dân địa phương xung quanh sân bay, các trung đoàn bay đã giải quyết được mọi khó
khăn, thực hiện sơ tán, phân tán triệt để. Nhân dân đã huy động hàng vạn ngày công, đóng góp vật
liệu làm hầm, ụ che giấu máy bay, xe công binh, kho tàng, khí tài và phục vụ chiến đấu. Nhiều khu
đồi bạch đàn đang lên đẹp được chặt đi và san ủi để sơ tán máy bay.

Đang trên đà chiến thắng, với khí thế thi đua lập công của bộ đội không quân thì một niềm
vui lớn đến. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước khai
mạc tại thủ đô Hà nội. Ba đại biểu ưu tú của không quân là phi công Trần Hanh, Lâm Văn Lích thuộc
Trung đoàn 921 và phi công Nguyễn Văn Bảy thuộc Trung đoàn 923 được Nhà nước và Quốc hội
tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hai đại đội bay điển hình, có nhiều
thành tích, đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ là đại đội 1 (Trung đoàn 921) và đại đội 4 (Trung đoàn 923)
cũng được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tính đến thời điểm này, kể từ
trận đầu ra quân thắng lợi (ngày 3 tháng 4 năm 1965), không quân tiêm kích đã xuất kích 1.179 lần
chiếc, đánh 196 trận, bắn rơi 54 máy bay địch gồm nhiều kiểu loại. Không quân vận tải đã đánh chìm
hai tàu biệt kích Mỹ -nguỵ trên biển, bay phục vụ chiến đấu và đặc biệt là bay chuyên cơ đảm bảo an
toàn tuyệt đối.

Vào cuối tháng 12 năm 1966, sau Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu
nước, Bác Hồ lại dành cho bộ đội không quân một vinh dự lớn. Lần này, ngoài số phi công chiến đấu
với số lượng đông hơn, còn có cả đại diện của phi công vận tải được Bác gặp mặt. Bác thân tình hỏi
từng phi công về sức khoẻ, những khó khăn trong sinh hoạt, trong chiến đấu và căn dặn nhiều điều,
đặc biệt, Bác lưu ý: không được tự mãn, chủ quan, khinh địch. Phải khiêm tốn và cố gắng rèn luyện
để bắn rơi nhiều máy bay hơn nữa.

II. THÀNH LẬP BỘ TƯ LỆNH KHÔNG QUÂN MANG PHIÊN HIỆU CÔNG KHAI
(F371), TIẾP TỤC THAM GIA CHIẾN ĐẤU CHỐNG CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN
THỨ NHẤT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1967 - 1968)

Sau những đợt đánh phá vào các khu vực ngoại vi Hà nội không đạt được kết quả, từ trung
tuần tháng 12 năm 1966, cường độ hoạt động của không quân Mỹ trên miền Bắc giảm xuống rõ rệt.
Các đợt đánh phá của chúng lui dần về phía từ vĩ tuyến 20 trở vào. Số lần xuất kích của không quân ta
cũng ít hơn trước. Cả hai trung đoàn tiêm kích, ngoài bộ phận trực chiến, số phi công còn lại được tập
trung tranh thủ huấn luyện. Do thời tiết mùa đông, mây nhiều và thấp nên việc huấn luyện bay của phi
công, nhất là số phi công mới gặp không ít khó khăn.
Trong tình hình địch tạm thời giảm hoạt động ở khu vực xung quanh Hà nội và chưa nắm
được ý đồ sắp tới của chúng, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho các đơn vị phòng không, không quân
làm nhiệm vụ bảo vệ thủ đô phải hết sức cảnh giác, luôn sẵn sàng nếu địch vào phải đánh được ngay
và quyết đánh thắng. Bộ tư lệnh Quân chủng cũng nhận định, năm 1967 địch có khả năng sẽ đánh phá
mạnh hơn, ác liệt hơn, thủ đoạn sẽ thâm độc hơn để hòng cứu vãn tình thế nguy ngập của chúng ở
miền Nam Việt nam. Khả năng chúng sẽ đánh mạnh vào các chân hàng, kho tàng, khu công nghiệp,
các đầu mối giao thông, thậm chí chúng có thể đánh cả vào trung tâm thủ đô, vào các thành phố lớn.
Quân chủng cũng đã điều chỉnh lại vị trí, bố trí một số đơn vị phòng không mặt đất cho phù hợp với
tình hình.

Để đối phó với lực lượng tiêm kích của ta, không quân địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn
chiến thuật mới. Do không nắm được ý đồ và thủ đoạn của không quân địch, lại có tư tưởng nóng vội
nên chỉ trong hai ngày 2 và 6 tháng 1 năm 1967, Trung đoàn 921 xuất kích ba biên đội không bắn rơi
địch, ta bị tổn thất 7 máy bay và 1 phi công hi sinh. Quân chủng quyết định Trung đoàn 921 tạm
ngừng xuất kích để nghiên cứu, rút kinh nghiệm.

Mồng một Tết Nguyên đán Đinh Mùi (ngày 9 tháng 2 năm 1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh
tới thăm và chúc tết Trung đoàn 921. Đây là niềm vui lớn chung cho bộ đội không quân, là nguồn
động viên kịp thời đối với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Cùng đi với Bác có Thượng tướng Văn Tiến
Dũng, Uỷ viên Bộ chính trị, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam và đồng chí Tố Hữu,
Bí thư Trung ương Đảng. Bác biểu dương thành tích chiến đấu và xây dựng của trung đoàn nói riêng
và của không quân nói chung. Sau đó Bác căn dặn: "Các chú phải chăm học tập, rèn luyện hơn nữa.
Càng học tập càng tiến bộ, càng tiến bộ thì đánh địch càng giành thắng lợi". Bác tặng quà tết cho cán
bộ, chiến sĩ trung đoàn, chúc trung đoàn: "Đoàn kết, học tập tiến bộ, đánh giỏi, đạt nhiều thắng lợi
mới".

Ngày 15 tháng 2 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời Tổng thống Mỹ Johnson
(Chú thích: Ngày 8 tháng 2 năm 1967, Tổng thống Mỹ Johnson gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
thăm dò quan điểm đồng thời rêu rao trò "tìm kiếm hoà bình" nhằm xoa dịu dư luận trong nước và
trên thế giới), vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Mỹ. Người đòi Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt
nam và ngừng đánh phá miền Bắc. Cuộc thăm dò ngoại giao bịp bợm của Mỹ thất bại. Không đạt
được ý đồ, dựa vào sức mạnh quân sự, những người cầm đầu Nhà Trắng, Lầu Năm Góc quyết định
đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, tăng cường các cuộc đánh phá bằng không quân nhằm
gây áp lực ngày càng tăng để miền Bắc chấm dứt chi viện cho miền Nam. Chúng đề ra ba nhiệm vụ:

- Triệt đường viện trợ bên ngoài vào Bắc Việt nam.

- Cắt đường tiếp tế từ Bắc Việt nam vào miền Nam Việt nam và Lào.

- Huỷ diệt tiềm lực kinh tế và quốc phòng của Bắc Việt nam.

Các chiến dịch đánh phá mang tên "Sấm rền" do Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ
vạch ra trong năm 1967 được bổ sung thêm nhiều mục tiêu mới. Tập đoàn không quân số 7 và lực
lượng đặc nhiệm 77 (Chú thích: Tập đoàn không quân số 7 chỉ huy các biên đội không quân Mỹ ở
Thái Lan. Lực lượng đặc nhiệm 77 chỉ huy các biên đội không quân của hải quân Mỹ trên các tàu sân
bay) được phép đánh vào toàn bộ 6 mục tiêu cơ bản: điện lực, công nghiệp, giao thông, cơ sở quân sự,
kho nhiên liệu và hệ thống phòng không ở miền Bắc Việt nam. Chúng cũng được phép đánh thẳng vào
các mục tiêu trong hai thành phố Hà nội, Hải Phòng.

Nắm được ý đồ của địch, Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho các lực lượng vũ trang, đặc biệt
là lực lượng phòng không - không quân: Kiên quyết đánh bại các bước leo thang đánh phá bằng
không quân, hải quân của địch. Việc bảo vệ các tuyến giao thông phải được coi là một trong những
nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang để đánh bại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc của đế quốc
Mỹ.

Quán triệt nghị quyết của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng chủ trương: Tập trung lực lượng
bảo vệ vững chắc và có trọng điểm các tuyến giao thông, các yếu địa quan trọng, nhất là Hà nội, Hải
Phòng, đê đập trong mùa nước, đồng thời các lực lượng dự bị mạnh sẵn sàng cơ động trên các hướng
chủ yếu để tăng cường bảo vệ yếu địa, bảo vệ giao thông.

Trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, các lực lượng phòng không phát triển rất
nhanh. Việc phân bổ lực lượng cho phù hợp với nhiệm vụ cũng được Quân chủng bố trí lại. Phần lớn
lực lượng các đơn vị hoả lực được tập trung bảo vệ Hà nội, Hải Phòng. Riêng ở Hà nội đã có tới 60%
tổng số các đại đội pháo phòng không, 52% tổng số các tiểu đoàn tên lửa. Bộ đội không quân được
giao nhiệm vụ bảo vệ thủ đô Hà nội là chủ yếu, ngoài ra, theo yêu cầu nhiệm vụ, sẵn sàng cơ động
đánh địch ở những khu vực mục tiêu khác. Lực lượng không quân lúc này ngoài 2 trung đoàn tiêm
kích và 1 trung đoàn không quân vận tải còn có thêm đoàn Z không quân tiêm kích, sử dụng máy bay
MiG-17. Đoàn Z cũng do Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân trực tiếp chỉ huy. Sân
bay được sử dụng xuất kích chính là Nội Bài, Kép, Hoà Lạc, Gia Lâm. Sân bay Kiến An được chuẩn
bị chu đáo, đầy đủ mọi mặt để sẵn sàng tiếp nhận máy bay khi có nhiệm vụ yêu cầu. Các sân bay khu
vực miền Trung bị địch đánh phá được khẩn trương tu sửa lại, mở rộng, kéo dài đường cất, hạ cánh
bằng đất nện hoặc lát ghi để khi cần thiết có thể sử dụng được ngay cho cả MiG-17 và MiG-21.

Căn cứ vào sự phát triển về lực lượng và phương tiện, để tạo điều kiện thuận lợi trong chỉ
huy, điều hành, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh đã báo cáo lên trên xin phép tổ chức hệ thống chỉ
huy riêng cho từng lực lượng dưới sự chỉ huy chung của Bộ tư lệnh Quân chủng. Ngày 24 tháng 3
năm 1967, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký quyết định số 014/QĐ-QP
thành lập Bộ tư lệnh không quân thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - không quân. Thượng tá Nguyễn
Văn Tiên, Phó tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân được giao kiêm giữ chức Tư lệnh
không quân. Thượng tá Phan Khắc Hy, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng được bổ nhiệm làm
chính uỷ Bộ tư lệnh không quân. Thượng tá Hoàng Ngọc Diêu được bổ nhiệm phó tư lệnh kiêm tham
mưu trưởng và đồng chí thượng tá Đào Đình Luyện làm phó tư lệnh huấn luyện. Trung tá Đỗ Long
được bổ nhiệm phó chính uỷ kiêm chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh không quân.

Thi hành quyết định của Bộ quốc phòng, ngày 1 tháng 5 năm 1967 đại tá Phùng Thế Tài,
Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân đã ký quyết định số 492/TM-QL. Quyết định ghi rõ:
Bộ tư lệnh không quân lấy phiên hiệu công khai là F371, tổ chức cơ quan gồm bốn phòng: Tham
mưu, Chính trị, Kỹ thuật và Hậu cần. Bộ tư lệnh không quân khi mới thành lập gồm các trung đoàn
921, 923, 919, đoàn Z và quản lý 7 sân bay: Nội Bài, Gia Lâm, Kép, Hoà Lạc, Kiến An, Thọ Xuân,
Vinh. Đội ngũ phi công tiêm kích MiG-17 và MiG-21 có 64 người và hơn 1.600 thợ máy các ngành.
Bộ tư lệnh không quân chính thức chỉ huy và điều hành các đơn vị không quân thuộc quyền từ ngày 1
tháng 6 năm 1967.

Từ những tháng đầu năm 1967, địch đã thay đổi thủ đoạn đánh phá. Chúng thường dùng
đội hình lớn, tăng cường tiêm kích bảo vệ cường kích. Qua nghiên cứu tìm hiểu quy luật hoạt động
của địch, Bộ tư lệnh quyết định huấn luyện MiG-21 dùng lực lượng nhỏ đánh vào đội hình lớn của
chúng bằng chiến thuật thọc sâu, chia cắt. Với cách đánh này, máy bay ta có thể giành được thế công
kích có lợi. Trung đoàn 921 được chỉ đạo khẩn trương tổ chức cho MiG-21 huấn luyện theo phương
án tác chiến mới.

Trong thời gian này, đặc biệt là tháng 4 năm 1967, Trung đoàn 923 liên tiếp lập công. Từ
ngày 19 đến cuối tháng 4, trong 6 ngày trung đoàn đã tổ chức 12 trận đánh, bắn rơi được 14 máy bay
địch các loại và bảo toàn được lực lượng ta. Có ngày ta đánh tới bốn trận (25 tháng 4), có biên đội
một ngày xuất kích hai lần (biên đội Toại - Hải - Chao - Kỷ). Ngày 19 tháng 4, vào lúc 17 giờ, biên
đội Chung - Túc -Dung - Tân cất cánh từ sân bay Hoà Lạc đã bắn rơi 3 máy bay địch ở vùng trời Mai
Châu (Hoà Bình) và trở về an toàn.

Đặc biệt là trận đánh sáng ngày 25 tháng 4 năm 1967. Lúc 10 giờ 20 phút, nhiều tốp máy
bay địch gồm các loại A-4, A-7, F-8 từ cửa sông Văn Úc kéo vào đánh Hải Phòng. Biên đội 4 chiếc
MiG-17 do Nguyễn Văn Bảy làm biên đội trưởng được lệnh cất cánh, vừa lên tới độ cao 1.500m đã
được thông báo "địch ở phía trước". Cùng lúc đó, biên đội cũng phát hiện mục tiêu. Biên đội được
lệnh thả thùng dầu phụ vào công kích. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của MiG, bọn cường kích rối
loạn quăng bừa bom tháo chạy ra biển. Bọn tiêm kích từ các phía quây lại phóng tên lửa về phía
những chiếc MiG. Nhưng bọn cường kích đã không chạy kịp. Hai chiếc A-4 bị bắn rơi tại chỗ. Bọn F-
8 vẫn lao vào. Đánh quần ở độ cao thấp là sở trường của MiG-17 Một chiếc F-8 bị bắn rơi. Bọn địch
còn lại hoảng loạn, lao ra phía biển, bị tên lửa và pháo phòng không bảo vệ Hải Phòng bắn rơi thêm 3
chiếc nữa.

Sau phút quần lượn, chiến đấu ngay trên bầu trời Hải Phòng, biên đội đã bắn rơi tại chỗ ba
máy bay địch, trở về sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn. Trận đánh kết thúc thắng lợi, bắn rơi nhiều
máy bay địch và bảo toàn được lực lượng. Nguyên nhân thắng lợi của trận đánh, trước hết là do
những người chỉ huy đã phán đoán, nhận định đúng tình hình, sử dụng lực lượng phù hợp, xuất kích
đúng thời cơ, giữ cho biên đội được yếu tố bất ngờ đánh địch. Sau đó là công sức của cán bộ, chiến sĩ
và nhân dân địa phương xung quanh khu vực sân bay đã không quản ngày đêm, không ngại hi sinh tập
trung sức người, sức của sửa chữa gấp sân bay. Và yếu tố hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định
trực tiếp đến thắng lợi đó là lòng dũng cảm, táo bạo, trí thông minh, dám đánh và quyết đánh, sẵn
sàng hi sinh của toàn biên đội trong đó có Nguyễn Bá Địch, người con của quê hương Hải Phòng đã
bắn rơi máy bay Mỹ ngay tại quê hương mình.

Sau một thời gian huấn luyện theo phương án tác chiến, MiG-21 tiếp tục xuất kích. Ngày
30 tháng 4 năm 1967, nhận thông báo có máy bay địch, từ sở chỉ huy sơ tán, Trung đoàn trưởng Trần
Mạnh báo cáo Bộ tư lệnh cho MiG-21 lên đánh. Được cấp trên đồng ý, theo phương án đã định, đúng
vào thời cơ có lợi, trung đoàn lệnh cho biên đội Nguyễn Ngọc Độ - Nguyễn Văn Cốc cất cánh và dẫn
tiếp cận địch từ độ cao cao hơn địch.

Hai chiếc MiG tiếp cận đội hình máy bay địch. Chớp thời cơ có lợi, Nguyễn Ngọc Độ ép
cần lái bám chiếc F-105 đang bay thứ hai trong tốp. Tới cự ly bắn hiệu quả, anh ấn nút phóng. Chiếc
F-105 trúng đạn bốc cháy. Cùng lúc đó, từ vị trí số 2, lợi dụng lúc bọn địch chưa phát hiện ra ta,
Nguyễn Văn Cốc tăng lực vọt lên, đưa một chiếc F-105 khác vào vòng ngắm. Giữ cho máy bay thật
ổn định và khi máy bay địch lọt hẳn vào giữa trung tâm kính ngắm, anh ấn nút phóng tên lửa. Chiếc
F-105 nữa trúng đạn bốc cháy. Bọn địch kinh hoàng trước sự xuất hiện bất ngờ của MiG, quăng bừa
bom để tháo chạy. Biên đội được lệnh trở về và hạ cánh an toàn.

Ngay sau đó, tám chiếc F-105 khác lập tức đến ném bom khu vực Thanh Sơn, Vĩnh Phúc.
Nhận thấy đây là thời cơ đánh rất tốt, vào lúc 16 giờ 29 phút, trung đoàn quyết định cho biên đội
MiG-21 thứ hai lên đánh. Lê Trọng Huyên và Vũ Ngọc Đỉnh lập tức được lệnh cất cánh. Trận đánh
diễn ra đúng một phút. Lê Trọng Huyên bắn rơi 1 chiếc và Vũ Ngọc Đỉnh cũng bắn rơi chiếc F-105
khác. Bọn địch tháo chạy tán loạn. Biên đội trở về sân bay hạ cánh an toàn.

Như vậy, trong một buổi chiều, hai biên đội, hai lần xuất kích bắn rơi 4 máy bay địch và
trở về an toàn. Cả hai trận đánh đều thắng lợi giòn giã.

Ngày 2 tháng 5 năm 1967, Tư lệnh tập đoàn không quân số 7 của Mỹ ra lệnh thực hiện
chiến dịch "Sấm rền 56", cho phép không quân Mỹ đánh phá thêm 10 mục tiêu mới ở Hà nội trong đó
có nhà máy điện Yên Phụ, ga chân hàng Yên Viên, Văn Điển, khu công nghiệp Thượng Đình.

Địch tập trung đánh mạnh vào thủ đô Hà nội. Cường độ xuất kích của không quân ta ngày
càng nhiều, nhất là vào tháng 5 năm 1967, thường từ 30 đến 40 lần chiếc một ngày. Thậm chí có ngày
cả hai trung đoàn xuất kích tới 78 lần chiếc. Cách đánh được bổ sung, công tác chỉ huy tốt, nắm địch
chắc. Những ngày đầu tháng 5 ta đánh thắng liên tục. Có ngày cả MiG-17 và MìG-21 cùng đánh, bắn
rơi 5 máy bay địch và trở về an toàn.

Chỉ riêng trong tháng 5 năm 1967, Trung đoàn 921 và Trung đoàn 923 đã bắn rơi 19 máy
bay Mỹ các loại, trong đó có chiếc máy bay Mỹ thứ 100 bị quân và dân Hà nội bắn rơi (đó là chiếc F-
4 do phi công MiG-21 Đặng Ngọc Ngự của Trung đoàn 921 bắn rơi ngày 22 tháng 5).

Từ ngày 24 tháng 4 đến ngày 22 tháng 5 năm 1967, một tháng trong đợt chiến đấu bảo vệ
thủ đô Hà nội, không quân đã xuất kích 469 lần chiếc, đánh 34 trận, bắn rơi 42 máy bay địch, cản phá
được 222 lần chiếc máy bay địch vào đánh phá mục tiêu.

Sau những thất bại liên tiếp trên vùng trời Hà nội, từ ngày 22 tháng 5, địch phải dàn ra, chủ
yếu đánh các mục tiêu giao thông và quân sự. Và cũng qua những trận bị tổn thất nặng, bọn địch lại
thay đổi thủ đoạn chiến thuật và thay đổi trang bị, vũ khí trên các loại máy bay hòng đương đầu và áp
đảo không quân ta. F-4C được trang bị thêm súng 20 ly để đánh quần vòng với MiG. Các loại máy
bay đều được trang bị máy gây nhiễu. Sau ít ngày tổ chức huấn luyện gấp, chúng được tung vào miền
Bắc với nhiệm vụ tiêu diệt MiG.

Liên tiếp bắn rơi địch trong những trận đánh nửa đầu tháng 5, khí thế chiến đấu, thi đua lập
công trong không quân dâng lên rất cao. Phong trào thi đua lập công giữa các trung đoàn, giữa các đại
đội bay, giữa các biên đội khá sôi nổi. Các phi công đều muốn được trực chiến và xuất kích. Bên cạnh
đó, cũng đã bắt đầu có những biểu hiện của tư tưởng chủ quan, coi thường địch, kể cả ở một số cán bộ
chỉ huy. Những ngày cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1967, do chưa nắm bắt được sự thay đổi về
chiến thuật và trang bị của địch, các biên đội vẫn được đưa vào trận với phương án đánh cũ. Do vậy,
chúng ta đã bị tổn thất liên tục, nhất là MiG-17. Đã có những trận hai, thậm chí ba phi công hi sinh,
đặc biệt, cuối tháng 5 và đầu tháng 6, MiG-17 tổ chức đánh 8 trận, bắn rơi 7 máy bay địch thì có tới 6
trận bị tổn thất, 10 phi công hi sinh trong đó phần lớn lại là những phi công khá dày dạn kinh nghiệm
và có thành tích trong chiến đấu. Không những thế, do chủ quan không sơ tán kịp thời, ngày 19 tháng
5 nhiều tốp máy bay địch đã đánh vào sân bay Kép, gây thiệt hại lớn cho Trung đoàn 923. Gần một
chục chiếc MiG-17 bị bom làm hỏng hoàn toàn. Trong những ngày đó, MiG-21 cũng tổ chức đánh
được 6 trận, bắn rơi 5 máy bay địch, ta cũng mất 3 máy bay, một phi công hi sinh. Tư tưởng cán bộ,
chiến sĩ, nhất là số phi công tham gia chiến đấu bị tác động mạnh. Đã có những hiện tượng lo lắng khi
nhận nhiệm vụ trực ban chiến đấu. Đã có những phi công, nhất là MiG-17 ngại đánh với tiêm kích
địch. Thậm chí đã có cán bộ sợ trách nhiệm khi nhận nhiệm vụ tổ chức chỉ huy chiến đấu.

Ngày 21 tháng 6 năm 1967, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân (Đảng uỷ được chỉ định khi
Bộ tư lệnh không quân mới thành lập) họp phiên đầu tiên dưới sự điều khiển của đồng chí Phan Khắc
Hy, Bí thư Đảng uỷ. Đảng uỷ nhận định, không quân ta mới được xây dựng, tất cả đều còn mới mẻ, tổ
chức chưa hoàn chỉnh, lực lượng và phương tiện kỹ thuật so với địch yếu kém hơn nhưng đã phải
bước ngay vào chiến đấu, phải đương đầu với một kẻ thù mạnh hơn ta nhiều mặt. Trong khi dó, cuộc
chiến đấu ngày càng khẩn trương, ác liệt, đã có những thời kỳ địch tập trung lực lượng nhằm tiêu diệt
không quân ta. Nhưng qua hai năm chiến đấu và xây dựng, bộ đội không quân đã có những bước
trưởng thành, thực hiện tốt phương châm lấy ít đánh nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông,
bắn rơi nhiều máy bay hiện đại của địch, bắn chìm tàu biệt kích Mỹ - nguỵ, góp phần bảo vệ mục tiêu,
hiệp đồng cùng các lực lượng vũ trang chiến đấu. Bên cạnh đó, lực lượng ngày càng trưởng thành về
số lượng và chất lượng. Đảng uỷ cũng chỉ ra những mặt hạn chế, những yếu kém trong thời gian vừa
qua của bộ đội không quân. Trong đó, nổi lên có những thời gian có đơn vị vận dụng phương châm, tư
tưởng chỉ đạo tác chiến chưa sáng tạo, cách đánh thiếu linh hoạt, nhất là những lúc nhiệm vụ chiến
đấu đòi hỏi cao, địch thay đổi thủ đoạn. Trong những trận chiến đấu, có trận không quân ta đã sử dụng
lực lượng quá lớn, đánh vào chỗ mạnh của địch. Có trận đánh không đúng thời cơ, không đúng đối
tượng làm ta bị tổn thất, lực lượng bị tiêu hao nhiều. Đảng uỷ cũng nhấn mạnh những điểm yếu về
trình độ chỉ huy và đảm bảo chiến đấu, việc nắm địch, tổ chức hiệp đồng, trình độ dẫn đường máy
bay, hạ quyết tâm chiến đấu. Vấn đề xây dựng Đảng và công tác chính trị tư tưởng chưa được chú
trọng thường xuyên nên trước tình hình bộ đội có tổn thất đã có biểu hiện dao động, giảm lòng tin, đề
cao địch hoặc nôn nóng, cay cú trong chiến đấu.

Về phương hướng trong thời gian tới, Đảng uỷ nhấn mạnh yêu cầu nắm vững tư tưởng chỉ
đạo tác chiến đối với không quân là lấy ít đánh nhiều, đánh đúng đối tượng, giữ gìn lực lượng để
chiến đấu lâu dài, vừa tiêu diệt địch góp phần bảo vệ mục tiêu chủ yếu là thủ đô Hà nội và đê đập
trong mùa nước, vừa kiên quyết đánh bại âm mưu đánh phá căn cứ, tiêu diệt không quân ta của chúng.
Cần căn cứ vào tình hình thực tế, chọn hướng, chọn đối tượng thích hợp cho máy bay ta lên đánh. Nếu
địch cố tình tập trung đánh tiêu diệt không quân ta, chúng ta sẽ tránh chỗ mạnh, tìm chỗ sơ hở của
chúng để tận dụng thế mạnh của ta đánh lại. Công tác nắm địch, nghiên cứu địch phải thật chắc, tuyệt
đối không để ta lâm vào thế bị động trong những lần xuất kích, không để bị tổn thất rồi mới rút kinh
nghiệm, mới phát hiện ra thủ đoạn mới của địch.

Đảng uỷ đã đặt ra vấn đề cơ bản trước mắt là tập trung nâng cao chất lượng bộ đội, nhất là
đội ngũ phi công chiến đấu. Nhiệm vụ tác chiến và xây dựng phải được coi trọng ngang nhau. Phải
tận dụng mọi thời gian, mọi hoàn cảnh tranh thủ huấn luyện. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải
tiến hành thường xuyên hướng vào việc xây dựng tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch, phát huy
tinh thần dũng cảm và sáng tạo, đi sâu nắm vững kỹ thuật, làm tốt các mặt bảo đảm. Với những tình
huống đột xuất, phải có những phương án chủ động và nhạy bén để đối phó kịp thời. Những biểu hiện
hữu khuynh, tiêu cực phải được khắc phục triệt để.

Đảng uỷ cũng quyết định củng cố lại tổ chức chủ yếu là các đơn vị cơ sở. Đơn vị sân bay
Nội Bài được tách khỏi Trung đoàn 921 và tổ chức thành trung đoàn căn cứ sân bay. Các đơn vị sân
bay đều được chuyển từ trực thuộc cơ quan tham mưu sang trực thuộc cơ quan hậu cần để tăng cường
các mặt bảo đảm vật chất kỹ thuật. Đảng uỷ cũng đề ra công tác chuẩn bị các mặt để tiến tới thành lập
trung đoàn không quân tiêm kích thứ ba trong thời gian tới.

Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân trong phiên họp đầu tiên đã nhanh chóng
được phổ biến triển khai tới các đơn vị. Đây là nghị quyết đầu tiên của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không
quân về lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng của các đơn vị không quân.
Từ nay, bộ đội không quân đã có một cơ quan lãnh đạo trực tiếp thống nhất, với thành phần bao gồm
chủ yếu là những cán bộ chỉ huy chủ chốt phần lớn đều trưởng thành từ không quân, am hiểu về
không quân. Và cũng từ nay Không quân nhân dân Việt nam nói chung và lực lượng không quân tiêm
kích, không quân vận tải nói riêng cũng bước sang một thời kỳ mới.

Cuối tháng 6 năm 1967, khi xuống kiểm tra tình hình chiến đấu của bộ đội không quân,
Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng chỉ thị: Lúc này địch đang tập trung đối phó
với không quân ta. Phải đặc biệt coi trọng giữ gìn lực lượng để không quân ta có thể chiến đấu lâu dài.
Quán triệt tù tưởng chỉ đạo của Tổng tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh Quân chủng và Bộ tư lệnh không
quân quyết định tạm thời hạn chế nhiệm vụ chiến đấu, đặc biệt là đối với MiG-17. MiG-17 chỉ được
tham gia đánh khi chắc thắng, đánh đúng đối tượng. Còn MiG-21 cấp trên giao phó cho một nhiệm vụ
mới: tìm đánh máy bay gây nhiễu điện tử EB-66.

Được sự chỉ đạo của Đảng uỷ Quân chủng, đầu tháng 7, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân
họp phiên bất thường để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, phân tích tìm nguyên nhân những trận đánh
không thắng và những trận tổn thất. Các đảng uỷ viên đã bình tĩnh nhìn nhận, rà soát lại một cách
khách quan, nghiêm khắc những diễn biến xảy ra trong tháng ngày qua. Sau khi phân tích kỹ, Đảng
uỷ đã tìm ra được nguyên nhân chính dẫn đến những tổn thất trong các trận đánh. Đó là thiếu sự nhạy
bén của chỉ huy các cấp trước những âm mưu mới của địch. Công tác nắm địch không chắc, nghiên
cứu địch không kỹ, chỉ huy còn lúng túng không hỗ trợ được kịp thời cho phi công khi tình huống
phức tạp xảy ra. Khi bị tổn thất, không kịp thời rút kinh nghiệm, thay đổi cách đánh dẫn đến bị tổn
thất liên tục. Nhiều phi công thiếu nhạy bén trong xử lý tình huống. Tư tưởng chủ quan, coi thường
địch chưa được phát hiện và uốn nắn kịp thời.
Đảng uỷ cũng phân tích rõ, thời kỳ đầu năm, MiG-21 đã bị tổn thất trong những trường
hợp tương tự khi địch thực hiện âm mưu "quét sạch bầu trời"; địch bay theo nhiều tầng, số lượng tiêm
kích tăng nhiều hơn, chủ động tổ chức những trận không chiến với ta. Chúng ta đã không rút được
kinh nghiệm, vẫn để MiG-17 lặp lại những sai lầm cũ, cụ thể là: Khi địch thay đổi thủ đoạn, không
quân ta, cả MiG-17 và MiG-21 vẫn giữ lối đánh cũ, vẫn dùng cách đánh quần, ghìm địch tại một khu
vực quá lâu. Chúng ta bị đánh lừa nhiều trận khi địch cho tiêm kích giả làm cường kích. Trong số
những phi công, nhiều đồng chí đã đánh quá lâu, không những đã không vận dụng tốt mà còn không
quán triệt phương châm đánh nhanh, rút nhanh. Trong công tác chỉ huy, có những biểu hiện nôn nóng,
lực lượng sử dụng không phù hợp (quá lớn), cường độ xuất kích quá cao, ảnh hưởng đến khả năng
chiến đấu và sức khoẻ của phi công. Đảng uỷ cũng chỉ rõ, vấn đề hiệp đồng giữa MiG-17 và MiG-21
chưa tốt. Cần phải tổ chức những trận đánh hiệp đồng giữa MiG-21 và MiG-17 để phát huy được vai
trò sức mạnh của từng loại, hỗ trợ được cho nhau.

Đảng uỷ đã chỉ đạo các đơn vị tổ chức đợt sinh hoạt chính trị với nội dung chủ yếu khắc
phục những tư tưởng tiêu cực, những biểu hiện hữu khuynh, dao động; củng cố ý chí và nâng cao
quyết tâm chiến đấu. Các trận đánh vừa qua cũng được Đảng uỷ chỉ đạo các đơn vị tổ chức tổng kết,
phân tích tìm rõ nguyên nhân những mặt mạnh, yếu, những hạn chế để tiến hành tập huấn cho cán bộ
và các thành phần tham gia chiến đấu trực tiếp. Trong đợt tập huấn, Bộ tư lệnh đã bồi dưỡng cho các
đối tượng tham gia một số nội dung về tư tưởng chỉ đạo tác chiến, công tác tổ chức chỉ huy và bảo
đảm chiến đấu, các vấn đề về kỹ thuật, chiến thuật và những tài liệu nghiên cứu mới về địch. Bộ tư
lệnh cũng chỉ thị cho các đơn vị tổ chức chăm lo tốt hơn nữa đời sống bộ đội, đặc biệt là đội ngũ phi
công và phải làm tốt công tác phòng tránh sơ tán để bảo vệ người, khí tài, phương tiện chiến đấu, hạn
chế thấp nhất những tổn thất khi địch đánh phá sân bay.

Thời kỳ này cả hai trung đoàn không quân tiêm kích đều đang đứng trước những khó khăn,
trong đó có khó khăn không thể giải quyết được trong ngày một ngày hai. Cuộc chiến đấu vẫn ngày
càng ác liệt. Số lượng địch vào đánh phá các mục tiêu càng nhiều hơn; trang thiết bị, vũ khí của địch
ngày càng hiện đại hơn. Về phía ta, lực lượng và phương tiện chiến đấu bảo đảm vật chất kỹ thuật qua
các cuộc đọ sức qua những trận đánh phá sân bay của địch đã giảm đáng kể. Nhiều phi công nòng cốt,
có kinh nghiệm chiến đấu đã hi sinh. Số phi công mới không đủ bổ sung cho các đơn vị, trong khi đó
trình độ bay còn yếu, chưa kinh qua chiến đấu, chưa đủ sức đảm đương những nhiệm vụ mà ngay
trước mắt đơn vị đang cần. Những ngày giữa năm 1967, số phi công còn lại của cả hai trung đoàn
không đủ biên chế cho một trung đoàn. Người lái đã thiếu, máy bay lại càng thiếu. Có những đợt chỉ
còn được hai chiếc MiG-21 trực ở sân bay. Có những phi công như Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Ngọc
Độ trực cả một tháng liền. Sự yên ắng ít hoạt động của máy bay ta không những chỉ tác động về tư
tưởng, tâm lý trong lực lượng không quân mà ngay cả đối với nhân dân địa phương các vùng xung
quanh sân bay. Đã có những ngày đơn vị phải cho máy bay trực chiến cất cánh, bay tập trung ở khu
vực xung quanh sân bay động viên tư tưởng chung. Trong thời gian này, MiG-21 vẫn tham gia một số
trận. Tháng 7, MiG-21 bắn rơi ba máy bay địch và bảo đảm an toàn.

Các máy bay đã được phân tán đề phòng địch đánh phá. Lực lượng thợ máy cũng được đưa
đi sơ tán ở nhiều nơi xung quanh khu vực sân bay. Vấn đề đảm bảo cho máy bay hoạt động gặp nhiều
khó khăn về mọi mặt. Xe điện, xe dầu, xe khí nén, xe kéo dắt máy bay mỗi thứ sơ tán một nơi, đường
sá không thuận lợi, công tác điều hành gặp nhiều trắc trở. Địch lại đánh cả ban đêm càng gây nhiều
khó khăn cho việc chuẩn bị chiến đấu ở mặt đất. Đảng uỷ và Bộ tư lệnh đã có những biện pháp chỉ
đạo kịp thời. Những tổ thợ máy, ngày đi sơ tán, đêm đến lại có mặt ở sân bay, ở khu vực giấu máy
bay, khí tài tiến hành sửa chữa, thay thế và lắp máy bay mới. Không thể để tình trạng thiếu máy bay
trực chiến. Lực lượng phòng không Hải Phòng, lực lượng phòng không bảo vệ đường 5 đã đánh trả
quyết liệt máy bay địch, giữ thông tuyến đường bộ, đường sắt để hàng từ cảng Hải Phòng về được an
toàn. Trong những chuyến hàng được bảo vệ về đến đúng địa điểm có hàng chục thùng chứa máy bay
và các loại khí tài, phương tiện chiến đấu của không quân. Các máy bay được sửa chữa, được lắp ráp
mới nối nhau xuất xưởng an toàn. đưa số máy bay trực chiến tăng nhanh, đáp ứng từng bước yêu cầu
chiến đấu.

Sau ít ngày tạm ngừng, địch lại tiếp tục đánh phá quy mô lớn vào Hà nội, với số lượng máy
bay từ 200 đến 300 lần chiếc một ngày. Có ngày lên tới hơn 400 lần chiếc. Chúng đánh làm nhiều đợt
trong ngày, đánh vào nhiều mục tiêu công nghiệp, giao thông, trận địa phòng không sân bay, thậm chí
chúng đánh cả vào những khu dân cư. Trong thời gian đó, chúng cũng tập trung phong toả cảng Hải
Phòng.

Ngày 9 tháng 8 năm 1967, đô đốc Grant Sharp, Tư lệnh quân Mỹ ở Thái Bình Dương đã
thông qua kế hoạch chiến đấu "Sấm rền 57". Tập đoàn không quân số 7 và lực lượng đặc nhiệm 77
được lệnh tấn công thêm 16 mục tiêu mới, trong đó có 6 mục tiêu quan trọng ở Hà nội.

Ngày 11 tháng 8, lúc 16 giờ 1 phút, địch cho 16 chiếc máy bay F-105 và 6 chiếc F-4 từ
hướng Tam Đảo vào đánh nhà ga và thị trấn Gia Lâm. Lúc 16 giờ 18 phút, 20 chiếc F-105 từ hướng
đông bắc vào đánh cầu Long Biên và kho hậu cần Gia Thượng. Cầu Long Biên bị sập 1 nhịp, 4 nhịp
khác bị hỏng nặng. Lực lượng phòng không của ta bắn rơi 2 chiếc máy bay địch.

Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân chủ trương tiếp tục thực hiện phương châm vừa chiến
đấu vừa xây dựng, vừa đánh, vừa giữ gìn và phát triển lực lượng. Nhiệm vụ chính của không quân vẫn
là bảo vệ Hà nội. Thường vụ Đảng uỷ cũng đánh giá khách quan những trận thắng vừa qua của không
quân là những trận đánh đã được chuẩn bị chu đáo, bắn rơi địch không nhiều nhưng có ý nghĩa lớn.
Những trận đánh ấy không chỉ có tác dụng động viên, lấy lại khí thế chung cho các đơn vị mà còn mở
ra một thời kỳ chiến đấu mới của bộ đội không quân, đặc biệt là MiG-21 với chiến thuật đánh nhanh,
rút nhanh, đánh thọc sâu, đánh vào đội hình lớn của cường kích, chẻ dọc từ cuối tới đầu đội hình của
chúng.

Ngày 22 tháng 8 năm 1967, không quân Mỹ đánh vào trung tâm thủ đô Hà nội. Chúng ném
bom, phóng tên lửa, rải bom bi vào các phố Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương và phố Huế. Khu vực
xung quanh Hà nội cũng bị thiệt hại nặng. Cầu Đuống mới bị sập nhịp phía bắc, nhịp giữa bị hỏng,
hơn 20m đê sông Đuống bị sạt lở; ga Yên Viên, thị trấn Gia Lâm, nhà máy điện Yên Phụ đều bị thiệt
hại.

Máy bay mang máy gây nhiễu QRC-160 của chúng hoạt động mạnh. Các đơn vị tên lửa
gặp nhiều khó khăn vì nhiễu quá dày. Các tiểu đoàn tên lửa bảo vệ Hà nội trong ngày 22 tháng 8 đã 19
lần phóng đạn nhưng chỉ bắn rơi được 2 chiếc F-4 và một chiếc không người lái. Các đơn vị pháo
phòng không cũng bị đánh mạnh, nhiều đơn vị bị thiệt hại nặng, nhiều pháo thủ hi sinh.
Trước tình hình lực lượng phòng không mặt đất gặp nhiều khó khăn, Mỹ lại tăng số lượng
máy bay và cường độ đánh phá vào Hà nội, Bộ tư lệnh Quân chủng đã chỉ thị cho Bộ tư lệnh không
quân phối hợp cả MiG-17 và MiG-21 quyết tâm đánh địch, cản phá chúng, quyết tâm bảo vệ Hà nội.

Ngày 23 tháng 8 năm 1967, trong đợt đánh lớn thứ 4 vào Hà nội, ngay từ sáng sớm địch đã
huy động lực lượng lớn vào đánh phá thủ đô Hà nội. Biên đội bốn chiếc MiG-17 trực ở Gia Lâm được
lệnh cất cánh, sau khi cất cánh được dẫn đến khu vực chiến đấu. Lúc 7 giờ 24 phút biên đội phát hiện
máy bay địch đang từ phía Tam Đảo về hướng Hà nội. Được lệnh công kích, toàn biên đội ném thùng
dầu phụ và lao vào bọn F-105 mang bom. Được đồng đội yểm hộ, biên đội trưởng Cao Thanh Tịnh
tăng tốc độ nhanh chóng đưa được chiếc F-105 bay số 3 vào vòng ngắm. Đến cự ly còn cách địch
300m, anh ấn nút bắn. Luồng đạn găm trúng giữa thân chiếc F-105. Chiếc máy bay địch bùng cháy,
rơi xuống địa phận huyện Đông Anh. Lê Văn Phong bay số 2, bắn rơi tiếp một chiếc F-105 khác,
nhưng máy bay của anh bị tên lửa địch bắn trúng, không kịp nhảy dù, Lê Văn Phong đã anh dũng hi
sinh.

Bị bắn rơi hai chiếc, đội hình địch bị tan vỡ, chúng ném bom bừa bãi để tháo chạy. Biên
đội được lệnh bay về sân bay Kép hạ cánh. Ba chiếc MiG-17 tập hợp lại đội hình về hạ cánh an toàn.
Tuy có bị tổn thất, biên đội vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bắn rơi được hai máy bay địch và cản
phá được một mũi tấn công của không quân Mỹ vào đánh phá Hà nội.

Buổi chiều, địch lại vào. Phát hiện một đội hình địch ở khu vực Sầm Nưa, phán đoán bọn
chúng sẽ vào đánh Hà nội theo hướng tây bắc, Bộ tư lệnh không quân quyết định sử dụng một biên
đội MiG-21 chặn đánh địch từ xa. Biên đội gồm Nguyễn Nhật Chiêu số 1 và Nguyễn Văn Cốc số 2
được lệnh cất cánh và được dẫn về hướng Tuyên Quang đánh vào phía sau đội hình địch. 13 phút sau,
cả hai đã phát hiện được mục tiêu. Bọn địch vẫn chưa hay biết gì, đội hình 40 chiếc F-105 và F4 vẫn
đang bay bằng trên một đường thẳng ở độ cao thấp hơn. Bằng động tác nhanh, dứt khoát, số 1 lao
xuống, phóng tên lửa trúng mục tiêu, chiếc F-4 bùng cháy. Từ vị trí yểm hộ, thấy thời cơ thuận lợi,
Nguyễn Văn Cốc băng lên phóng một quả tên lửa vào chiếc F-4 đang bay chếch ở bên phải. Máy bay
địch trúng đạn bốc cháy. Những máy bay phía trước vẫn chưa phát hiện ra máy bay ta. Một tốp F-4
vẫn đang ở thế bay bằng trong đội hình phía trước. Nguyễn Nhật Chiêu tăng tốc lao lên. Quả tên lửa
thứ hai phóng trúng chiếc bay sau. Chiếc F-4 bùng cháy, rơi xuống. Đến lúc này địch mới phát hiện bị
MiG tấn công. Chúng vòng lại quây lấy số 1. Thấy đám mây phía trước Nguyễn Nhật Chiêu bay lẫn
vào rồi lao xuống, thoát ly khỏi khu vực chiến đấu. Nguyễn Văn Cốc tăng lực định tiếp tục công kích
nhưng hệ thống tăng lực có sự cố. Không đuổi kịp được địch, Nguyễn Văn Cốc cũng lao xuống, thoát
ly, theo số 1 về sân bay hạ cánh.

Trận đánh diễn ra đúng 1 phút 30 giây. Biên đội hai chiếc MiG-21 đã bắn rơi 3 chiếc F-4
tại vùng trời Tuyên Quang. Đội hình địch tan vỡ. Bọn cường kích vội ném bừa bom tháo chạy. Biên
đội đã cản phá được một mũi tiến công của địch vào đánh phá Thủ đô.

Một ngày, hai trung đoàn tổ chức hai trận đánh, hai biên đội với 6 máy bay cả MiG-17 và
MiG-21 đã chiến thắng giòn giã, bắn rơi 5 máy bay địch, cản phá được hai đợt chúng vào ném bom
Hà nội. Trận đánh đã lấy lại khí thế cho không quân nhất là MiG-21, tạo đà, tạo thế cho những trận
thắng liên tiếp trong những ngày sau. MiG-21 với lối đánh thọc sâu, chẻ dọc đội hình địch, cả hai số
đồng thời công kích đã phát huy hiệu quả và càng được khẳng định. Một điều nữa chứng tỏ phương
án mà các cấp chỉ huy đã dày công tìm ra: đưa MiG-21 đi đánh chặn từ xa là hoàn toàn đúng, phát huy
được sức mạnh và sở trường của các loại máy bay.

Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 năm 1967 là những ngày chiến thắng rực rỡ của MiG-21.
Các trận đánh của MiG-21 đều liên tiếp lập công, bắn rơi máy bay địch. Những loại máy bay trinh sát
hiện đại có người lái đều đã bị MiG-21 bắn rơi như RF-4C. Trận đánh ngày 16 tháng 9 của biên đội
Nguyễn Ngọc Độ - Phạm Thanh Ngân không những chỉ bắn rơi được hai chiếc máy bay trinh sát có
người lái RF-101 mà còn là trận đầu tiên một biên đội với 2 chiếc MiG-21 vừa trang bị tên lửa, vừa
trang bị súng đã diệt gọn một tốp cả hai chiếc máy bay của địch.

Chiến thắng liên tục, bắn rơi nhiều máy bay địch, MiG-21 đã đi qua được chặng đường tìm
tòi đầy trắc trở. Trong 12 trận đánh từ cuối tháng 8 tới đầu tháng 10 năm 1967, 12 biên đội với 24
máy bay MiG-21 đã lập nên một kỷ lục bắn rơi 18 máy bay địch các loại, trong khi MiG-21 chỉ bị rơi
1 chiếc. Trong thời gian đó MiG-17 cũng liên tiếp tiến công, bắn rơi 8 máy bay địch và chỉ rơi 1
chiếc.

Do bị thất bại nặng nề trước những cuộc đụng độ với MiG, bị rơi nhiều máy bay, bị cản
phá hoàn toàn nhiều đợt tiến công mục tiêu, không quân Mỹ rất cay cú. Chúng bắt đầu ngừng các
cuộc ném bom vào thủ đô Hà nội. chuyển sang đánh phá vào các mục tiêu khác. Phần lớn thời gian
này chúng thường tập trung đánh vào các nút giao thông. Tranh thủ thời gian địch tạm ngừng ném
bom khu vực Hà nội, Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ đạo các đơn vị phòng không-không quân củng cố lực
lượng, khắc phục hậu quả do không quân Mỹ gây ra cho các đơn vị trong thời gian qua. Bộ tư lệnh
cũng điều chỉnh lại một số vị trí các đơn vị phòng không cho phù hợp. Các mục tiêu quan trọng được
tăng cường thêm những tiểu đoàn tên lửa, những đại đội pháo phòng không các loại như cầu Long
Biên, cầu Đuống, nhà máy diện Yên Phụ, ga Hà nội, cơ quan Trung ương, sân bay Gia Lâm, sân bay
Nội Bài, sân bay Kép, cầu Bắc Giang, cầu Thị Cầu. Đặc biệt, khu vực sân bay Nội Bài được tăng
cường lực lượng bảo vệ đáng kể. Trước đây chỉ có Trung đoàn 260, tiểu đoàn 21 và 2 đại đội pháo tự
hành của Bộ tư lệnh Thiết giáp bảo vệ. Từ đầu tháng 10 năm 1967, nhận định địch có thể tập trung
đánh huỷ diệt sân bay, Bộ tư lệnh Quân chủng đã lệnh cho Sư đoàn phòng không 365 điều Trung đoàn
pháo phòng không 226 về sân bay Nội Bài. Tính đến thời điểm này lực lượng pháo phòng không bảo
vệ sân bay Nội Bài đã lên tới 2 trung đoàn, cùng với 1 tiểu đoàn pháo 37 và 2 đại dội pháo tự hành, 21
đại đội pháo các loại bố trí tập trung ở hai đầu đường băng, nơi cất cánh, hạ cánh và khu vực bãi đỗ,
nơi cất giấu máy bay.

Để chuẩn bị chống trả có hiệu quả những đợt đánh phá ác liệt vào khu vực Hà nội tiếp
theo, ngày 2 tháng 10, Bộ tư lệnh Quân chủng triệu tập hội nghị cán bộ từ trung đoàn trưởng, chính uỷ
trở lên để phổ biến kế hoạch tác chiến quý IV năm 1967. Các nội dung lớn như quyết tâm chiến đấu,
cách đánh của lực lượng tên lửa, lực lượng không quân và các sư đoàn pháo phòng không được thống
nhất từ trên xuống dưới. Công tác đảng, công tác chính trị tập trung vào củng cố tổ chức, kiện toàn
cấp uỷ, bổ sung cán bộ và giáo dục nhận thức cho bộ đội thấy rõ vinh dự, tự hào được chiến đấu bảo
vệ thủ đô Hà nội, bảo vệ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng cho bộ đội tinh thần
chiến đấu dám hi sinh, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Một nội dung lớn được phổ biến và quán triệt
sâu sắc tới các đơn vị là Quân chủng phải tổ chức nhiều trận đánh tập trung tiêu diệt lớn không quân
địch ngay tại Hà nội. Vấn đề đánh tiêu diệt và tiêu diệt lớn không quân Mỹ được đặt lên hàng đầu.

Ngày 12 tháng 10 năm 1967, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân trực tiếp
truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu cho Tư lệnh không quân Nguyễn Văn Tiên. Mệnh lệnh chiến đấu
nhanh chóng được truyền đạt tới các đơn vị trong Bộ tư lệnh không quân. Bộ tư lệnh cũng chỉ thị cụ
thể cho từng trung đoàn bay triệt để sơ tán máy bay và hiệp đồng tốt với các địa phương chuẩn bị đầy
đủ phương tiện, vật liệu để sửa gấp sân bay khi bị địch đánh phá.

Cùng với các lực lượng bộ đội phòng không trong toàn quân chủng làm nhiệm vụ bảo vệ
Hà nội, trung tuần tháng 10 năm 1967, bộ đội không quân đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu cao nhất.

Chuẩn bị cho bước leo thang đánh vào Hà nội, Hải Phòng trong thời gian tới, đế quốc Mỹ
đã huy động một lực lượng không quân chiến thuật lớn, ở Thái Lan, lực lượng chủ yếu đánh phá miền
Bắc nước ta gồm hai biên đội 855 ở căn cứ Tắc-li và 388 ở căn cứ Cò-rạt. Số máy bay có khoảng 190
chiếc gồm F-105D, F-105f, F-4C, F-4D. Ngoài ra, địch còn huy động liên đội 8 ở căn cứ U-bon, liên
đội 428 ở Cam Ranh (miền Nam Việt nam), chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát cho các đợt đánh phá mới.
Còn ở vịnh Bắc Bộ, lực lượng đặc nhiệm 77 thường xuyên chỉ huy ba tàu sân bay gồm ba liên đội 14,
15 và 16. Số máy bay huy động đi đánh phá khoảng 180 chiếc gồm A-4E, A6, F-4B và F-8 (trong
tổng số 274 chiếc). Các liên đội ở Thái Lan, ở tàu sân bay tập trung đánh phá khu vực Hà nội, còn lực
lượng không quân Mỹ ở miền Nam Việt nam (Chu Lai, Đà Nẵng) được huy động ra đánh phá phía
nam Quân khu 4.

Một lực lượng không quân chiến thuật lớn với hơn 400 chiếc máy bay các loại (trong tổng
số 600 chiếc) của không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á được huy động cho đợt đánh phá thứ 5
của chúng vào thủ đô Hà nội.

Quán triệt chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không
quân đã chỉ đạo sâu sát từng đơn vị công tác phòng tránh, sơ tán và kế hoạch trực ban chiến đấu trong
thời gian tới. Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh cũng nhận định địch tập trung đánh lớn vào Hà nội,
chúng sẽ phải loại trừ hiểm hoạ MiG. Thời gian vừa qua do bị thất bại nặng nề trong các cuộc đụng độ
với máy bay MiG, chúng sẽ không từ bỏ ý định tập trung tiêu diệt. Những tháng trước, các sân bay
Kép, Kiến An, Gia Lâm, Hoà Lạc đều bị đánh hỏng nặng. Đợt này, khả năng chúng sẽ tăng cường hơn
nữa và tập trung đánh huỷ diệt sân bay Nội Bài. Bộ tư lệnh không quân yêu cầu Trung đoàn 921,
Trung đoàn 923 chỉ để các máy bay trực chiến làm nhiệm vụ ở sân bay số còn lại phải sơ tán triệt để,
phải phân tán và đưa vào nơi cất giấu. Những máy bay trực chiến cũng được phân tán, khi có lệnh đội
phục vụ sẽ kéo dắt ra tuyến xuất phát. Bộ tư lệnh cũng chỉ thị cán bộ các trung đoàn phải phân công
người thường trực và hiệp đồng chặt chẽ hơn nữa với địa phương xung quanh khu vực sân bay về
công tác bảo vệ, phòng tránh và đặc biệt là công việc chữa gấp sân bay khi địch đánh phá. Cơ quan
Bộ tư lệnh tổ chức những tổ phái viên xuống các trung đoàn chiến đấu, vừa kiểm tra, đôn đốc, vừa hỗ
trợ các đơn vị giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan.

Liên tục mấy ngày liền, không quân Mỹ vẫn tổ chức những tốp máy bay đánh phá các mục
tiêu giao thông. Bộ tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho các đơn vị phòng không phải đề cao cảnh giác.
Đây có thể chỉ là những thủ đoạn nghi binh. Mục tiêu chính của chúng vẫn là tập trung đánh phá Hà
nội. Các đơn vị phải sẵn sàng chiến đấu cao nhất, không để bị bất ngờ, bị động, lúng túng khi địch vào
đánh phá.

Sáng ngày 24 tháng 10 năm 1967, địch vẫn cho các tốp máy bay lẻ tẻ đánh một số mục tiêu
giao thông. Lúc 10 giờ, Bộ tư lệnh Quân chủng phán đoán địch sẽ đánh Hà nội. Sau khi thống nhất
nhanh chóng, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng điện khẩn cho các sư đoàn pháo phòng
không, Bộ tư lệnh Tên lửa, Bộ tư lệnh không quân sẵn sàng chiến đấu. Riêng Sư đoàn phòng không
365, Bộ tư lệnh Quân chủng nhắc nhở hết sức cảnh giác, sẵn sàng đánh địch kịp thời bảo vệ vững
chắc sân bay Nội Bài. Đúng như nhận định của Bộ tư lệnh Quân chủng, buổi chiều ngày 24 tháng 10
mở màn cho đợt đánh phá thứ 5 vào thủ đô Hà nội, địch đánh vào Hà nội và sân bay Nội Bài.

Với ý đồ không để cho MiG còn xuất hiện trên bầu trời, chúng chọn giải pháp cuối cùng là
đánh huỷ diệt các sân bay căn cứ của ta, nhằm tiêu diệt không quân Việt nam tận gốc. Một viên tướng
Mỹ đã tuyên bố. Sẽ đánh cho không quân Bắc Việt nam không còn một mảnh bê tông, không còn một
chiếc MiG nguyên vẹn. Và chúng đã thực hiện âm mưu ấy. Do công tác phòng tránh làm chưa triệt để,
chúng ta đã bị thiệt hại một số máy bay khi địch đánh phá sân bay.

15 giờ 10 phút ngày 24 tháng 10 năm 1967, tại sân bay Nội Bài, biên đội hai chiếc MiG-21
trực chiến cất cánh, hướng về phía tây bắc. 20 phút sau, lúc 15 giờ 30 phút, hàng loạt máy bay địch từ
hướng tây lao vào đánh phá sân bay. Các trận bom dữ dội, liên tục ném dọc theo đường cất hạ cánh,
đường kéo dắt máy bay, bãi đỗ, nhà xưởng sửa chữa, đài chỉ huy, khu nhà định kỳ, các ụ máy bay và
các trận địa pháo bảo vệ xung quanh sân bay. Suốt trong một tiếng đồng hồ, 136 lần chiếc máy bay
của các liên đội Tắc-li, Cò-rạt và tàu sân bay chia làm bốn đợt đánh phá dữ dội. Thủ đoạn của chúng
là đánh xen kẽ giữa máy bay của không quân và máy bay của hải quân. Mục đích là cố làm cho ta
lúng túng trong đối phó. Các đơn vị phòng không mặt đất đã chuẩn bị kỹ, sẵn sàng chiến đấu cao,
đánh trả quyết liệt, bắn rơi 8 máy bay địch. Tuy vậy, sự thiệt hại vẫn rất nặng: 32 quả bom ném trúng
đường cất hạ cánh, đường lăn, khu để máy bay; 5 trận địa pháo phòng không bị địch đánh trúng; một
số cán bộ, chiến sĩ thương vong. Biên đội chiến đấu được lệnh về sân bay Gia Lâm hạ cánh.

Ngay trong đêm, hai huyện Kim Anh và Đa Phúc (nay là huyện Sóc Sơn, Hà nội và một
phần huyện Mê Linh, Vĩnh Phú) đã huy động 1.600 dân công, chủ yếu là lực lượng thanh niên, dân
quân để với cùng bộ đội không quân và một số cơ quan, đơn vị khác tổ chức sửa chữa gấp sân bay.
Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phú Hồ Ngọc Thu, Tỉnh đội trưởng Nguyễn Văn Dật, bí thư và chủ tịch các huyện
Kim Anh, Đa Phúc đều có mặt.

Cũng ngay buổi tối ngày 24 tháng 10, trong buổi họp giao ban và rút kinh nghiệm chiến
đấu trong ngày, Bộ tư lệnh Quân chủng đã nhận định địch sẽ tiếp tục đánh phá huỷ diệt sân bay Nội
Bài. Bộ tư lệnh hạ quyết tâm bằng mọi giá phải tổ chức sửa chữa gấp sân bay để máy bay ta cất cánh
đánh địch. Sau buổi giao ban, một số cán bộ Quân chủng được cử xuống sân bay Nội Bài cùng Bộ tư
lệnh không quân và Trung đoàn 921 tổ chức và chỉ đạo công việc chữa gấp sân bay.

Ngày 25 tháng 10 năm 1967, Mỹ tiếp tục tổ chức đánh lớn vào sân bay Nội Bài. Từ 7 giờ
sáng tới 16 giờ 25 phút, hơn 100 lần chiếc máy bay của cả không quân và hải quân Mỹ đã đánh liên
tiếp 7 đợt vào khu vực hai đầu đường cất hạ cánh, khu sơ tán, các hầm chứa máy bay, các trận địa
pháo phòng không bảo vệ sân bay. Chúng đã huy động lực lượng lớn máy bay của cả hai liên đội ở
Thái Lan và ba liên đội ở tàu sân bay trên vịnh Bắc Bộ, quyết huỷ diệt bằng được khu vực sân bay
Nội Bài. Thủ đoạn đánh của chúng có thay đổi hơn so với chiều ngày 24, chế áp hệ thống radar cảnh
giới của ta bằng các máy phát nhiễu dày đặc, liên tục trên các máy bay EB-66, EC- 121 từ xa. Radar
điều khiển tên lửa và radar ngắm bắn của pháo phòng không bảo vệ sân bay bị ảnh hưởng nhiễu, đạn
phóng nhiều nhưng kết quả tiêu diệt mục tiêu thấp.

Lúc 16 giờ, trong khi sân bay Nội Bài bị các máy bay của hải quân Mỹ đánh phá dữ dội thì
máy bay của hai liên đội Cò rạt và Tắc-li ở Thái Lan bất ngờ vào đánh cầu Long Biên với 56 lần chiếc
liên tiếp trong hai đợt. Đến đợt thứ hai, cầu Long Biên bị đánh sập nhịp thứ 5 và nhịp thứ 9. Do nhiễu
quá dày, tên lửa phóng lên đều không trúng máy bay địch.

Vào lúc 16 giờ 20 phút, phán đoán bọn địch sau một ngày đánh lớn không thấy không quân
ta xuất hiện, lợi dụng dãn cách hai trận đánh của địch vào sân bay Nội Bài, Bộ tư lệnh không quân
cho một biên đội 4 chiếc MiG-17 trực ở Gia Lâm cất cánh và bay vòng về hướng Tam Đảo. Đúng như
dự kiến, không quân Mỹ từ Thái Lan bay sang, đến khu vực này vừa hạ độ cao để chuẩn bị vào đánh
sân bay thì bị MiG tấn công. Đội hình của chúng rối loạn. Tiêm kích quay lại đối phó. Trong điều kiện
chiến đấu hết sức khó khăn, biên đội vẫn bình tĩnh bám sát, yểm hộ chắc cho nhau. Sau ba phút quần
lượn trên vùng trời Tam Đảo, một chiếc F-4C bị số 2 của biên đội bắn rơi. Các máy bay cường kích
địch vội vứt bom tháo chạy. Biên đội được lệnh bay về và hạ cánh an toàn xuống sân bay Kép.

Ngày 25 tháng 10, sân bay Nội Bài tiếp tục bi đánh hỏng nặng. Thêm 98 quả bom rơi trúng
vào đường cất hạ cánh, khu để máy bay, khu sơ tán, các trận địa pháo và ngoài ra còn nhiều bom nổ
chậm địch ném rải rác trong khu vực sân bay. Để gây khó khăn cho ta trong khắc phục hậu quả chúng
còn ném xuống hàng nghìn quả bom bi, bom nổ chậm.

Tối 25 tháng 10, trong lúc Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng họp đánh giá, rút
kinh nghiệm tình hình chiến đấu trong ngày và nhận định tình hình trong những ngày tới, một số cán
bộ Bộ tư lệnh không quân đã có mặt tại sân bay Nội bài cùng cán bộ chỉ huy Trung đoàn 921, cán bộ
căn cứ sân bay và các cán bộ địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức khắc phục hậu quả và tiến hành
sửa gấp sân bay. Để nắm chắc tình hình cụ thể và có phương án tốt nhất, để thực hiện nhiệm vụ, theo
yêu cầu của đồng chí Nguyễn Văn Mài. cán bộ công binh Tỉnh đội Vĩnh Phú, một chiếc mô tô ba bánh
chở đồng chí Mài chạy dọc theo đường băng, quét đèn pha cả hai phía. Vị trí có bom nổ chậm được
đánh dấu. Bộ phận công binh tỉnh đội tổ chức cho lực lượng công binh thu nhặt bom bi, bom nổ
chậm. Các máy ủi được đưa vào san lấp hố bom trên đường cất hạ cánh. Hàng nghìn dân công chia
làm nhiều tốp, nhiều tổ, quang gánh, xẻng, cuốc, chổi tre khẩn trương làm việc theo sự chỉ đạo của
cán bộ không quân. Trong số lực lượng vào sửa chữa gấp sân bay, có nhiều cụ già, nhiều em thiếu nhi
quyết tâm được tham gia công việc cùng lực lượng thanh niên, dân quân. Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phú,
Tỉnh đội trưởng và các chủ tịch hai huyện Kim Anh, Đa Phúc đều có mặt ở sân bay.

Trong những trận địch đánh phá ác liệt, hàng trăm quả bom đã rơi trúng mục tiêu, trong đó
có 99 quả trúng vào đường cất hạ cánh, đường lăn, đài chỉ huy, sân đậu máy bay. Ngay sau khi chấm
dứt đợt đánh phá cuối trong ngày 26 tháng 10 vào sân bay Nội Bài, đế quốc Mỹ đã huênh hoang tuyên
bố. Con chủ bài của không quân Bắc Việt nam MiG-21 đã hoàn toàn bị tê liệt. Thời kỳ làm chủ bầu
trời của không quân Mỹ đã trở lại.
Những ngày sau, địch còn tiếp tục ném bom rải rác ở Nội Bài hòng không cho ta khôi phục
lại sân bay. Cùng khi đó, chúng đồng thời tổ chức đánh lớn huỷ diệt các sân bay Hoà Lạc, Kép, Kiến
An… nhằm làm tê liệt hoàn toàn sự hoạt động của không quân ta ở các sân

Những ngày sau khi địch đánh phá, công việc sửa gấp sân bay gặp không ít khó khăn do
bom nổ chậm còn nằm rải rác khắp nơi, khối lượng phải sửa chữa rất lớn, không thể giải quyết nhanh.
Sau khi kiểm tra nắm cụ thể tình hình thực tế sân bay Nội Bài, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh
không quân họp phiên bất thường để thống nhất hạ quyết tâm: bằng bất kỳ giá nào cũng không để
máy bay ta vắng bóng trên bầu trời. Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, cả về quân sự và vấn đề
tâm lý, tư tưởng bộ đội và nhân dân. Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh chỉ thị cho Trung đoàn 921 và
căn cứ sân bay Nội Bài phải khắc phục mọi khó khăn tổ chức sửa chữa gấp sân bay trong thời gian
ngắn nhất. Tại địa điểm sơ tán của sở chỉ huy Trung đoàn 921 ven sông Cà Lồ đã diễn ra cuộc họp
giữa ban chỉ huy Trung đoàn 921, căn cứ sân bay và các cán bộ Tỉnh đội Vĩnh Phú, huyện đội Kim
Anh, huyện đội Đa Phúc, bàn kế hoạch và hiệp đồng, phân công nhiệm vụ khôi phục, sửa chữa gấp
sân bay. Những ngày đó, khi có lệnh, thanh niên dân quân các địa phương được huy động vào phục vụ
sửa gấp sân bay theo sự hiệp đồng đã thống nhất tử trước giữa địa phương và sân bay. Thành quả lao
động của hàng nghìn dân công và bộ đội trong các đêm trước hầu như đã bị bom đạn Mỹ xoá sạch.
Không những thế, hố bom trúng vào đường cất hạ cánh lại tăng lên. Khối lượng công việc càng nhiều
lên. Lực lượng được huy động vào sửa gấp tăng thêm nhiều. Vì vậy yêu cầu phải có sự phân công cụ
thể để vừa bảo đảm an toàn, vừa không bị ùn việc.

Do địch tiếp tục cho các tốp máy bay lẻ tẻ đánh vào sân bay Nội Bài, đường cất hạ cánh bị
đánh hỏng nặng nên công việc sửa gấp chỉ được tiến hành trong ban đêm cho nên không thể sửa chữa
sân bay nhanh được. Máy bay địch vẫn tiếp tục vào đánh Hà nội và các mục tiêu xung quanh. Không
có MiG-21 hoạt động, chúng tăng số lượng máy bay cường kích và giảm máy bay tiêm kích trong đội
hình. Liên tiếp ba trận liền từ 26 tháng 10 đến 30 tháng 10, MiG-17 lên đánh không kết quả lại bị tổn
thất. Trước tình hình đó, ban chỉ huy Trung đoàn 921 đã thống nhất: Tiếp tục cho MiG-21 xuất kích và
sẽ cất hạ cánh trên đường lăn.

Bộ tư lệnh không quân sau khi nghiên cứu tình hình đã đồng ý với kế hoạch chiến đấu của
Trung đoàn 921.

Sáng sớm ngày 7 tháng 11, phi công Nguyễn Hồng Nhị và phi công Nguyễn Đăng Kính
đang trực ở sân bay Gia Lâm được một chiếc Mi-4 đưa về sân bay Nội Bài. Tại đây, Trung đoàn
trưởng Trung đoàn 921 Trần Mạnh và Chính uỷ trung đoàn Chu Duy Kính đã chờ sẵn. Trời còn chưa
sáng rõ. Hàng nghìn bó đuốc, đèn măng-xông, đèn bão vẫn bập bùng kéo dài suốt dọc theo đường cất
hạ cánh, đường lăn. Hàng nghìn người vẫn đang tiếp tục công việc sửa gấp sân bay. Trung đoàn
trưởng giao nhiệm vụ cho hai phi công ngay tại miệng hố bom vừa được lấp xong bên cạnh đường lăn
và phổ biến ngắn gọn phương án chiến đấu. Sau khi vào hiệp đồng với sĩ quan dẫn đường ở sở chỉ
huy dã chiến của trung đoàn, hai phi công tiếp tục hiệp đồng trong biên đội.

10 giờ sáng ngày 7 tháng 11 năm 1967, biên đội được lệnh cất cánh. Số 1 điều khiển máy
bay ra đường lăn, tăng dần tốc độ và cất cánh. Bụi bốc mù mịt sau đuôi chiếc MiG-21. Số 2 cất cánh
chậm hơn một chút vì phải chờ cho bụi tan.
Tới khu chờ, biên đội được lệnh tăng độ cao và mở rộng vòng lượn. Vừa kịp ổn định đội
hình, biên đội đã được trung đoàn trưởng trực tiếp thông báo địch đang ở phía trước, chếch 45 độ bên
phải, cự ly 15km. Cùng ngay sau đó, số 2 thông báo phát hiện địch. Biên đội lập tức tăng tốc độ vào
công kích.

Máy bay địch đang bay theo đội hình kéo dài. Phía trước và phía sau đội hình là F-4, F-105
đông hơn bay ở giữa. Biên đội trưởng báo cáo sở chỉ huy số lượng địch và xin phép công kích rồi dẫn
biên đội xông vào sườn bên trái đội hình địch. Trong khoảnh khắc một chiếc F-105 bị tên lửa từ máy
bay của Nguyễn Hồng Nhị phóng trúng, bùng cháy, rơi xuống. Tốp F-105 hoảng hốt quăng bom tháo
chạy. Tốp F-4 vòng lại định bám đuôi những chiếc MiG. Rất nhanh, số 2 băng lên lao theo chiếc F-4
gần nhất. Chiếc F-4 vừa chui ra khỏi mây đã bị tên lửa của Nguyễn Đăng Kính phóng trúng, bốc cháy.

Máy bay địch quây lại đông hơn, tình thế trở nên phức tạp. Số 2 phát hiện thấy tốp F-4
đang vây lấy biên đội trưởng đã tăng tốc độ, nhằm giữa đội hình chúng phóng nốt quả tên lửa còn lại.
Địch hốt hoảng toé ra, lao xuống tránh tên lửa. Biên đội thoát ly khỏi khu vực chiến đấu, tập hợp đội
hình trở về hạ cánh. Bằng sự bình tĩnh, tự tin và những động tác chuẩn xác, biên đội đã hạ cánh an
toàn xuống đường lăn nhỏ hẹp và mù mịt bụi đất.

Ngày 6 tháng 11, ba biên đội MiG-17 đánh 3 trận, bắn rơi 4 máy bay địch. Ngày 7, biên
đội MiG-21 dùng đường lăn để cất hạ cánh đã bắn rơi 1 F-4 và 1 F-105. Ngày 8 tháng 11, biên đội
gồm Đặng Ngọc Ngự và Nguyễn Văn Lý cũng cất cánh từ đường lăn sân bay Nội Bài, bắn rơi 2 chiếc
F-4 của Mỹ, hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm. Ba ngày liền không quân liên tiếp đánh thắng,
bắn rơi 8 máy bay địch, buộc chúng phải thay đổi thủ đoạn, tăng cường lực lượng tiêm kích bảo vệ
trong các đợt đánh phá.

Với sự cố gắng vượt bậc của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 921, căn cứ sân bay Nội Bài, lực
lượng công binh Quân chủng cùng sự giúp đỡ to lớn của nhân dân địa phương, vào trung tuần tháng
11, sân bay Nội Bài đã cơ bản được khôi phục. Đường cất hạ cánh được sửa chữa xong, MiG-21 lại
tiếp tục trực chiến tại sân bay căn cứ của mình. Những ngày cuối năm 1967, MiG-21 liên tục xuất
kích, bắn rơi máy bay địch, cản phá thành công nhiều đợt địch vào đánh Thủ đô. Ngày 18 tháng 11,
biên đội gồm Phạm Thanh Ngân và Nguyễn Văn Cốc, bắn rơi 2 chiếc F-105, ngày 20 tháng 11 bắn rơi
2 chiếc F-105 tại Hạ Hoà (Vĩnh Phú). Đặc biệt, ngày 19 tháng 11 năm 1967, biên đội MiG-17 và
MiG-21 bắn rơi 4 máy bay địch, về sân bay hạ cánh an toàn. Đây là một ngày đánh thắng lớn của bộ
đội không quân.

Sau khi đưa MiG-21 vào huấn luyện và tìm đánh máy bay gây nhiễu điện tử EB-66, Trung
đoàn 92 1 đã tổ chức nhiều trận đánh, nhưng đều chưa thành công. Do dẫn đường chưa có kinh
nghiệm dẫn đánh EB-66 nên các biên đội không những không tiếp cận được mục tiêu mà còn bị F-4
chặn đánh, nhiều phi công phải nhảy dù. Trung đoàn vẫn quyết tâm đánh bằng được EB-66 để tạo
điều kiện cho radar và tên lửa của ta hoạt động thuận lợi. Sáng ngày 19 tháng 11 phát hiện có EB-66 ở
khu vực Thanh Hoá, Bộ tư lệnh đồng ý cho MiG-21 lên đánh. Lúc 7 giờ, biên đội gồm Vũ Ngọc Đỉnh
và Nguyễn Đăng Kính được lệnh cất cánh. Sau nhiều lần nghiên cứu quy luật và đường bay của EB-
66, sĩ quan dẫn đường Nguyễn Văn Chuyên đã dẫn biên đội bám được mục tiêu, nhưng F-4 bảo vệ
không phát hiện được máy bay ta. Rất nhanh chóng, biên đội sau khi tiếp cận mục tiêu đã băng lên
bám sát. Do tốc độ máy bay lớn, số 1 đã vượt khỏi tầm công kích. Số 2 bay sau vội ép cần lái vòng
đón. Lúc cả hai máy bay ta và mục tiêu cải bằng thì máy bay địch đã ở ngay trước mặt. Bình tĩnh điều
chỉnh vòng ngắm, đến cự ly phóng tên lửa hiệu quả, số 2 ấn nút phóng liền hai quả. Chiếc EB-66
trúng đạn, bùng cháy và rơi xuống khu rừng thuộc Lang Chánh (Thanh Hoá). Tốp F-4 đi bảo vệ lúc
này mới phát hiện được MiG, quây lại. Số 1 vòng máy bay tấn công vào đội hình địch, yểm hộ cho số
2. Sau ít vòng quần lượn, bọn địch hoảng loạn, bỏ chạy. Biên đội trở về hạ cánh an toàn xuống sân
bay Nội Bài. Chỉ tính trong 4 ngày từ 17 đến 21 tháng 11 năm 1967, không quân Mỹ đã tổ chức đánh
lớn đợt thứ 6 vào thủ đô Hà nội với 1.094 lượt chiếc máy bay các loại tham gia. Lực lượng phòng
không bảo vệ Hà nội bắn rơi 45 chiếc máy bay địch.

Sân bay Kiến An bị địch đánh phá nhiều lần với tính chất huỷ diệt. Được nhân dân địa
phương hết lòng giúp đỡ, chỉ sau một thời gian rất ngắn sân bay được khôi phục để sử dụng cho MiG
cất cánh đánh địch. Ngày 17 tháng 11, địch lại tổ chức đánh lớn vào sân bay. Chín quả bom phá ném
trúng làm đường cất hạ cánh hỏng nặng. Trung đoàn công binh 28 huy động lực lượng và phương tiện
tiến hành sửa gấp. Sau hai đêm công việc đã cơ bản hoàn thành. Sáng 19 tháng 11, biên đội MiG-17
gồm Hồ Văn Quỳ, Lê Hải, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Phi Hùng được lệnh cất cánh từ sân bay Gia
Lâm, bí mật xuống hạ cánh tại sân bay Kiến An phục kích đánh địch. Đúng như dự kiến, địch chủ
quan cho là sân bay Kiến An bị đánh hỏng, MiG không thể hoạt động được chúng đã huy động lực
lượng lớn máy bay từ tàu sân bay vào đánh phá Hải Phòng. Lúc 11 giờ, biên đội được lệnh cất cánh
và được dẫn bay ra hướng Đồ Sơn. Mới ổn định được đội hình, vô tuyến điện trên máy bay biên đội
trưởng Hồ Văn Quỳ bị hỏng, không liên lạc với sở chỉ huy và trong biên đội. Sau một thoáng tính
toán, sĩ quan dẫn đường ở sở chỉ huy Nguyễn Vần Chuyên quyết định gọi Lê Hải số 2 lên dẫn biên
đội. Nguyễn Văn Chuyên đã dẫn nhiều trận nên rất hiểu khả năng của người phi công trẻ này.

Lên đến độ cao 3.000M, biên đội phát hiện được địch đang bay từ biển vào. Lê Hải dẫn
biên đội trưởng đánh thẳng vào tốp F-4 đi đầu. Bọn F-4 phát hiện có MiG, chúng liền tăng tốc độ,
vòng ra biển để kéo biên đội ra xa cường kích. Tốp A-4 bay sau nghe thông báo có MiG tấn công vội
vứt bom vòng hết ra biển. Tốp F-4 bay sau cũng băng lên, khép biên đội vào gần đội hình của cường
kích. Rất nhanh, Lê Hải bám được chiếc gần nhất. Với ba loạt đạn ngắn, Lê Hải đã hạ tại chỗ 1 chiếc
F-4. Ngay sau đó Nguyễn Phi Hùng bắn rơi chiếc F-4 khác. Trong lúc đó, Hồ Văn Quỳ đã vòng lại
phía sau yểm hộ cho Nguyễn Đình Phúc bắn rơi 1 chiếc F-4 nữa. Những chiếc còn lại vội phá đội
hình, tháo chạy ra biển. Biên đội được lệnh bay về sân bay Kép, hạ cánh an toàn.

Sau trận ngày 25 tháng 4 năm 1967 của biên đội do Nguyễn Văn Bảy chỉ huy, đây là trận
thứ hai Trung đoàn 923 tổ chức cho MiG-17 phục kích đánh địch ở sân bay Kiến An. Cả hai trận đều
chiến thắng giòn giã, mỗi trận bắn rơi 3 máy bay địch và bảo toàn lực lượng. Cả hai trận đều đánh trên
bầu trời Hải Phòng và bắn rơi máy bay địch tại khu vực Hải Phòng. Những trận đánh nói trên đã một
lần nữa khẳng định chủ trương và phương án đánh địch của các cấp chỉ huy, lãnh đạo là đúng đắn,
sáng suốt, phù hợp với thực tế.

Thời gian này, địch vẫn tiếp tục đánh vào Hà nội, các sân bay vẫn bị ném bom nhưng chỉ lẻ
tẻ, thiệt hại không đáng kể, máy bay MiG-21 của ta vẫn tiếp tục xuất kích và lập công. Điển hình là
trận ngày 17 tháng 12 năm 1967, trong khi cản phá đội hình 32 chiếc F-105 và F-4 trên đường đánh
vào Hà nội, biên đội Vũ Ngọc Đỉnh (số 1) và Nguyễn Đăng Kính (số 2) đã bắn rơi 2 chiếc F-105, cả
hai chiếc đều do Vũ Ngọc Đỉnh bắn rơi. Ngay lúc đó, trung đoàn cho Nguyễn Hồng Nhị đánh vào đội
hình địch đang rối loạn, bắn rơi chiếc F-105 thứ ba ở khu vực Thanh Sơn (Vĩnh Phú). Cả 3 chiếc
MiG-21 trở về sân bay, hạ cánh an toàn. Cùng thời gian đó, biên đội bốn chiếc MiG-17 của Trung
đoàn 923 chặn đánh địch ở khu vực Suốt Rút (Hoà Bình), bắn rơi hai chiếc đã đập tan ý định đánh vào
Hà nội từ hai hướng của địch.

Sáng 19 tháng 12 đã diễn ra một trận đánh hiệp đồng của biên đội bốn chiếc MiG-17 của
Trung đoàn 923 và biên đội hai chiếc MiG-21 của Trung đoàn 921 trên vùng trời Tam Đảo, bắn rơi 4
chiếc máy bay địch, cản phá đợt đánh vào Hà nội của không quân Mỹ. Ngày 19 tháng 12 năm 1967,
không quân Mỹ cũng chấm dứt đợt tiến công đánh phá thứ bảy vào thủ đô Hà nội với 1.289 lượt chiếc
và bị lực lượng phòng không của ta bắn rơi 20 chiếc.

Năm 1967, bộ đội không quân đã có những bước trưởng thành vượt bậc. Trong năm, lực
lượng không quân tiêm kích xuất kích 1.284 lần chiếc, đánh 94 trận. Mặc dầu so với năm 1966, số lần
xuất kích chiến đấu chỉ bằng 70% nhưng số máy bay địch rơi tăng gấp hai lần. MiG-17 và MiG-21
bắn rơi 97 máy bay địch các loại, trong đó có cả máy bay gây nhiễu điện tử EB-66. Trình độ, khả
năng chiến đấu của phi công và hiệu suất chiến đấu nâng cao rõ rệt. Đối với MiG-21, cứ 1,7 quả tên
lửa K-13, bắn rơi 1 máy bay địch. Có 5 phi công bắn rơi từ 5 máy bay địch trở lên, trong đó có đồng
chí bắn rơi 6 máy bay địch mà không bị địch bắn trúng lần nào. Trong năm 1967, lực lượng không
quân tiêm kích đã cản phá được 19 đợt tấn công của địch, góp phần bảo vệ các mục tiêu và hạn chế sự
thiệt hại do chúng gây ra.

Năm 1967, Trung đoàn không quân vận tải 919 đã vượt qua bao khó khăn, thử thách lập
nhiều thành tích. Các máy bay vận tải đã vận chuyển tiếp tế lên Tây Bắc được 275 tấn hàng hoá các
loại, phối hợp vận chuyển tiếp tế vào phía nam hàng trăm tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, vật
tư, khí tài. Bay 81 lần chuyến chuyên cơ bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đặc biệt, các tổ bay Mi-6 sau khi
về nước đã nhanh chóng ổn định, những tháng cuối năm 1967 bay 130 lần chuyến, cẩu các loại máy
bay MiG đi sơ tán. Đây là sự cố gắng rất lớn, cũng là thành công lớn của lực lượng bay Mi-6 trong
thời kỳ đầu.

Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân, Đảng uỷ và ban chỉ
huy Trung đoàn 919 đã tổ chức nghiên cứu, đề xuất những phương án cụ thể, chuẩn bị mọi mặt cho
các tổ bay và các máy bay vận tải làm nhiệm vụ đánh các mục tiêu mặt đất.

Những máy bay An-2, IL-14 được bộ phận kỹ thuật tiếp tục cải tiến phần khoang hàng để
lắp bom, đạn cối, cải tiến hệ thống thả cho phù hợp, thuận lợi cho người điều khiển… Những chuyến
bay thử, ném thử bằng những quả bom và đạn cối xi măng của các tổ bay đã giúp cho bộ phận kỹ
thuật nhanh chóng khắc phục những nhược điểm. Các máy bay sau khi được cải tiến, tính năng hoạt
động không bị ảnh hưởng, bom, đạn cối thả xuống đều rơi trong phạm vi bảo đảm yêu cầu về độ
chính xác.

Cuối tháng 11 năm 1967, nhận lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân giao nhiệm vụ
cho Trung đoàn 919 dùng máy bay vận tải mang bom, đạn cối đánh căn cứ Pa Thí trên đất địch. Đây
là một căn cứ radar lớn của Mỹ được đặt trên núi đá vôi có mặt bằng tương đối rộng, ở độ cao
1.667m. Từ căn cứ này, radar của chúng có thể quét hết toàn bộ vùng trời miền Bắc Việt nam. Máy
bay ta bay cao 4.000M đến 5.000M đều bị chúng phát hiện. Mỹ sử dụng căn cứ này để dẫn đường cho
các máy bay cất cánh từ Thái Lan sang đánh phá miền Bắc. Khu vực này xung quanh chủ yếu là núi
đất, nhưng hiểm trở, bộ đội tình nguyện Việt nam và bộ đội Pa Thét Lào đã nhiều lần tổ chức đánh
nhưng không thành công. Khu vực này cũng là nơi bọn phỉ Lào dùng làm căn cứ để hoạt động.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Trung đoàn 919 cử một tổ đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường, do
đồng chí Nguyễn Văn Ba, Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng phụ trách. Tổ có 11 người gồm các bộ
phận tác chiến, thông tin, khí tượng chủ yếu làm nhiệm vụ nắm địch, nhận dạng mục tiêu cho các tổ
bay, nắm vững quy luật hoạt động của địch ở trên không, mặt đất, nắm vững quy luật thời tiết, khí
tượng, tổ chức trạm quan sát và đài bổ trợ ngay gần đó để chỉ huy các máy bay ta đánh trúng mục
tiêu… Trung tuần tháng 12 năm 1967, căn cứ vào báo cáo tình hình mọi mặt của đồng chí Ngô Quang
Ngọc cùng bộ phận đi chuẩn bị chiến trường trở về, kết hợp với tin tức thu được từ nhiều nguồn,
Thường vụ Đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn họp thống nhất kế hoạch và phương án chiến đấu. Ít
ngày sau, ban chỉ huy trung đoàn khẩn trương cho các tổ bay huấn luyện theo phương án đã được Bộ
tư lệnh thông qua.

Đây là trận đánh mục tiêu mặt đất đầu tiên của không quân vận tải. Mục tiêu thuộc loại có
kích thước nhỏ, xa căn cứ xuất phát của ta, lại nằm ngay trong lòng địch; trên đường bay máy bay của
ta phải cơ động bay thấp luồn lách núi để tránh địch phát hiện, tạo thế bất ngờ. Mặt khác, lực lượng
đánh địch phải là những tổ bay có nhiều kinh nghiệm và đã qua chiến đấu. Được Bộ tư lệnh đồng ý,
trung đoàn chọn biên đội An-2 gồm bốn tổ bay do tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn làm biên đội
trưởng. Các tổ bay vừa tranh thủ huấn luyện theo phương án, vừa sẵn sàng có lệnh là cất cánh được
ngay.

Ngày 12 tháng 1 năm 1968, từ sáng sớm, các máy bay An-2 trực chiến đã được chuẩn bị
đầy đủ, kiểm tra kỹ. Các tổ bay hiệp đồng lại lần nữa trước khi xuất phát.

11 giờ 43 phút, biên đội được lệnh cất cánh. Bốn chiếc An-2 nối nhau rời sân bay Gia Lâm,
hướng về phía Hoà Bình. Máy bay số 1, với số hiệu 664 gồm các phi công Cẩn - Tâm - Tiêu. Máy bay
số 2 số hiệu 665 gồm các phi công Quý - Phan - Kịch. Máy bay số 3 số hiệu 666 gồm các phi công
Ngộ - Hùng - Kiểu - Trinh. Máy bay số 4 số hiệu 671 gồm các phi công Riềng - Liêm - Hùng. 30 phút
sau khi cất cánh, sở chỉ huy trung đoàn và đài bổ trợ ngừng liên lạc với biên đội để giữ bí mật.

Theo phương án, Phan Như Cẩn dẫn biên đội bay theo hướng bay đã được kẻ sẵn trên bản
đồ Gia Lâm - Hoà Bình - Mai Châu - Sốp Hào - Mường Hàm - Mường út - Pa Thí. Độ cao bay giữ
đúng theo quy định. Theo phương án đã định, sau khi công kích mục tiêu, các tổ bay sẽ bay theo các
hướng đã thống nhất để về các sân bay Gia Lâm, Hiệp Hoà, Nội Bài hạ cánh nhằm phân tán lực lượng
đề phòng máy bay địch đuổi theo sát thương máy bay ta.

Thời điểm đánh được chọn vào giữa trưa. Đây là thời điểm thuận lợi cho biên đội tấn công;
bởi vì lúc này máy bay địch ít hoạt động, bọn địch dễ bị bất ngờ, vả lại thời tiết buổi trưa thường tốt
hơn, mây đã tan hoặc lên cao hơn, các tổ bay sẽ dễ phát hiện mục tiêu.
Bốn chiếc An-2 bay theo đội hình hàng dọc, cự ly 500m theo đường bay đã được chuẩn bị
và vẫn giữ độ cao thấp bay về hướng mục tiêu. Vừa mới cải hướng bay, biên đội đã phát hiện khu vực
mục tiêu. Tổ quan sát và chỉ huy bổ trợ cũng đã nhìn thấy máy bay ta. Ngô Quang Ngọc liên lạc với
sở chỉ huy trung đoàn, Nguyễn Văn Ba liên lạc với các tổ bay và thông báo tình hình địch cho toàn
biên đội.

13 giờ 7 phút, biên đội trưởng Phan Như Cẩn báo cáo tình hình với sở chỉ huy trung đoàn
và đài bổ trợ rồi dẫn biên đội vào công kích mục tiêu. Bốn chiếc An-2 nối nhau vào công kích. Mỗi tổ
bay mang theo 32 quả rốc-két và 12 quả đạn cối 1201y. Tất cả được ném hết xuống khu vực trạm
radar rồi thoát ly, bay về.

Trên đường về, để tránh địch phát hiện, đuổi theo, các tổ bay vẫn bay thấp, luồn lách qua
các khe núi. Vì không thuộc địa hình, sau khi ra khỏi một khe núi, hai máy bay 664 và 665 đã đâm
vào nhau. Cả hai tổ bay đã hi sinh, trong đó có Phan Như Cẩn, người tiểu đoàn trưởng đầy năng lực,
người phi công giỏi đã có bề dày kinh nghiệm và thành tích trong chiến đấu.

Theo tổ quan sát báo cáo và các nguồn tin thu thập được kể cả của địch, trạm radar Pa Thí
đã bị biên đội An-2 đánh trúng, các đài radar lắp đặt trên đó bị phá huỷ, hai trực thăng địch bị thiêu
cháy, một số nhà cửa, kho tàng, các thiết bị đã bị phá, một số địch bị tiêu diệt. Trạm radar Pa Thí bị tê
liệt và sau đó ngừng hoạt động.

Trong thời gian các tổ bay An-2 huấn luyện đánh mục tiêu mặt đất, các tổ bay IL-14 cũng
chuẩn bị xong kế hoạch huấn luyện chiến đấu của mình. Thời gian này, địch tăng cường đánh phá khu
vực Hà nội, công tác huấn luyện của máy bay vận tải hết sức khó khăn. Phần lớn các máy bay phải đi
sơ tán. Theo sự chỉ đạo của trên, những tổ bay IL-14 đang sơ tán ở sân bay Tường Vân (Trung Quốc)
tranh thủ huấn luyện chiến đấu theo phương án đã được duyệt. Để giữ bí mật, các chuyến bay huấn
luyện chiến đấu vẫn được thực hiện như một chuyến huấn luyện bình thường. Phi công và các thành
viên trong tổ bay sẽ kết hợp tập "ngắm khan", "ném bom khan" và "thả dù khan".

Năm 1967, không quân ta cũng bị những tổn thất đáng kể, có những thời kỳ tổn thất nặng.
Những ngày đầu năm, chỉ hai trận đánh ta đã mất tới 7 máy bay MiG-21. Những ngày tháng 5, hơn
một chục MiG-17 bị rơi trong các trận không chiến. Riêng các trận địch đánh phá sân bay, một số máy
bay của ta đã bị phá huỷ và đánh hỏng nặng, trong đó có cả các máy bay được đưa đi sơ tán vẫn bị tổn
thất.

Công tác huấn luyện trong năm gặp nhiều khó khăn do máy bay địch liên tục xuất hiện, sân
bay bị đánh phá nhiều lần, đường cất hạ cánh phải sửa đi sửa lại, số lượng máy bay hạn chế. Có thời
kỳ, hai trung đoàn tập trung lại vẫn không đủ hai biên đội máy bay trực chiến. Mặc dù vậy, công tác
huấn luyện vẫn được duy trì tốt, thường xuyên. Trong năm đã tổ chức huấn luyện được 654 ban bay
(ngày và đêm) với 9.027 lần chiếc, 2.619 giờ bay, trong đó tiêm kích huấn luyện được 4.645 lần chiếc,
1.657 giờ 58 phút; đã kết hợp được huấn luyện tập trung với huấn luyện nhỏ, xen kẽ, tranh thủ làm
nhiệm vụ huấn luyện, tích cực bám sân, bám bãi, tận dụng điều kiện thời tiết, nắm quy luật địch để
chớp thời cơ huấn luyện. Năm 1967, cường độ bay huấn luyện xấp xỉ với năm 1966. Toàn bộ số phi
công mới cũng như số chuyển loại của máy bay tiêm kích đã được huấn luyện, đủ trình độ tham gia
chiến đấu. Các phi công MiG-21 đã được huấn luyện cất hạ cánh ở sân bay dã chiến với đường cất hạ
cánh lát ghi sắt, đường cất hạ cánh bằng đất nện với chất lượng tốt và an toàn.

Trong tình hình chiến đấu hết sức khẩn trương, khí tài thiếu, lại bị địch đánh phá nhiều lần
vào sân bay nên cơ sở định kỳ sửa chữa máy bay đều sơ tán, điều kiện bảo quản khó khăn, hỏng hóc
nhiều, lực lượng thợ máy phân tán đã ảnh hưởng rất nhiều tới công tác kỹ thuật. Vượt lên tất cả, trong
năm 1967, lực lượng kỹ thuật đã bảo đảm được số lượng máy bay đủ tiêu chuẩn phục vụ cho yêu cầu
chiến đấu. Thời gian sửa chữa định kỳ, lắp ráp máy bay đã rút ngắn chỉ còn một phần ba quy định;
chất lượng vẫn được đảm bảo. Tỉ lệ máy bay tốt tham gia nhiệm vụ chiến đấu luôn đạt trên 99%.
Trong năm, lực lượng kỹ thuật đã lắp ráp được 68 máy bay mới gồm cả MiG-17 và MiG-21; sửa chữa
hồi phục được hàng chục máy bay. Ngoài ra còn tham gia nghiên cứu, cải tiến thành công nhiều đề tài,
ứng dụng thiết thực cho nhiệm vụ như làm dây, giá cẩu móc các loại máy bay phục vụ kịp thời cho
Mi-6 cẩu MiG đi sơ tán; cải tiến giá đạn cối, giá bom, pháo sáng cho An-2, IL- 14 đánh các mục tiêu
trên mặt đất, mặt nước.

Công tác bảo đảm hậu cần cũng đạt nhiều thành tích đáng kể. Năm 1967, địch đánh phá
các sân bay tổng số 111 lần cả ngày lẫn đêm với số lượng gần 8.000 quả bom phá, không kể bom bi,
rốc-két, 17 lần đường cất hạ cánh các sân bay bị đánh hỏng. Lực lượng hậu cần đơn vị ở các sân bay
đã tổ chức phục vụ sửa chữa gấp được 78.282 ngày công của thanh niên, dân quân, 27.158 ngày công
của bộ đội. Tại các nơi sơ tán, phân tán, ngành hậu cần cũng tổ chức tốt, đảm bảo đầy đủ các mặt,
đảm bảo sức khoẻ, nhất là cho lực lượng. phi công, thợ máy luôn có sức khoẻ tốt, đảm bảo yêu cầu
nhiệm vụ. Các cơ sở hậu cần cũng đã nghiên cứu, cải tiến việc cung ứng cấp phát xăng dầu cho các
máy bay trực chiến đầy đủ kịp thời.

Bước vào năm 1968, không quân tiêm kích gặp khó khăn về khí tài, phương tiện chiến đấu.
Số máy bay mới được lắp ráp, một phần bị địch bắn rơi, một phần bị địch phá huỷ trong những ngày
sân bay bị ném bom. Một số máy bay hỏng hóc chưa sửa chữa kịp vì thiếu phụ tùng thay thế. Ngay từ
những ngày đầu năm, số máy bay trực chiến, nhất là MiG-21 còn rất ít. Mặc dù vậy, cả hai trung đoàn
vẫn tiếp tục trực chiến, sẵn sàng xuất kích đánh địch.

Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị nhất là hai trung
đoàn 921 và 923 khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Đối với lực lượng
không quân tiêm kích, Bộ tư lệnh chỉ rõ: Tập trung lực lượng cùng các đơn vị bạn tích cực tiêu diệt
máy bay địch bảo vệ mục tiêu chủ yếu Hà nội, các sân bay chính (Nội Bài, Kép, Yên Bái), cảng Hải
Phòng; tham gia bảo vệ các trục đường giao thông chiến lược quan trọng và bảo vệ hệ thống đê điều
trong mùa mưa; đồng thời cơ động đánh dịch trên chiến trường Khu 4 buộc địch phải phân tán đối
phó; tích cực chuẩn bị tổ chức đánh B -52 nếu chúng leo thang sâu hơn ra phía bắc. Với lực lượng
không quân vận tải, ném bom, Bộ tư lệnh cũng đề ra những nhiệm vụ cụ thể: Tổ chức chuẩn bị cho
IL-28, An-2, IL- 14 đánh các mục tiêu mặt đất trên các chiến trường miền Nam, Lào, các mục tiêu
trên biển; tiêu diệt một bộ phận sinh lực và trang bị khí tài, uy hiếp tinh thần của địch; tích cực phối
hợp với các chiến trường, thường xuyên sẵn sàng tiếp tế cho các chiến trường và hoàn thành các
nhiệm vụ bay khác. Lực lượng không quân vận tải đã phát huy tinh thần có gì đánh nấy, góp phần tích
cực nhất trong việc chi viện chiến trường miền Nam, cả nhiệm vụ vận tải, cấp cứu chi viện cũng như
trực tiếp tập kích các căn cứ địch.

Bộ tư lệnh cũng phân công cán bộ cùng các cơ quan vào Khu 4 chỉ đạo triển khai sở chỉ
huy tiền phương, sở chỉ huy dã chiến; kiểm tra tình hình các sân bay để chuẩn bị phương án cơ động
lực lượng không quân tiêm kích vào trực chiến. Phòng Kỹ thuật phối hợp với Cục Kỹ thuật Quân
chủng và lực lượng thợ máy các trung đoàn sửa chữa những máy bay hỏng, tổ chức tiếp nhận và lắp
ráp máy bay mới, đồng thời tiến hành triển khai các đề tài nghiên cứu, cải tiến trang thiết bị để nhanh
chóng đưa các máy bay vào hoạt động phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế trong chiến tranh
nhất là ở chiến trường Khu 4.

Nắm chắc tư tưởng chỉ đạo của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân, các trung
đoàn 921, 923 hạ quyết tâm khắc phục mọi khó khăn tiếp tục đánh địch. Dù máy bay còn ít, thậm chí
còn 1 chiếc vẫn tiếp tục đánh. Các phi công đều xung phong trực, quyết tâm bắn rơi máy bay địch
trong những lần xuất kích. Không quân ta chuẩn bị kế hoạch tác chiến đợt 8 bảo vệ Hà nội với 4 đến 6
chiếc MiG-21, 4 đến 6 chiếc MiG-17. Đơn vị bạn Z chuẩn bị 2 chiếc MiG-21 và 4 chiếc MiG-17.
Ngày 3 tháng 1 năm 1968, địch tổ chức vào đánh Hà nội. Nhận mệnh lệnh của trên, cả hai trung đoàn
921, 923 đều xuất kích, hiệp đồng đánh địch. Phát hiện địch vào từ hướng Mai Châu, Trung đoàn 921
lệnh cho biên đội hai chiếc MiG-21 gồm các phi công Kính và Nhu cất cánh từ sân bay Nội Bài và
được dẫn về vùng Thanh Sơn (Vĩnh Phú). Sáu phút sau, biên đội bốn chiếc MiG-17 gồm các phi công
Chao, Điệp, Sưu, Hải của Trung đoàn 923 cất cánh từ sân bay Gia Lâm và được dẫn về hướng Thái
Nguyên.

Được sự hỗ trợ của sở chỉ huy mặt đất, biên đội MiG-21 nhanh chóng vượt qua hàng rào
tiêm kích địch, tiếp cận và công kích tốp F-105 mang bom. Phát tên lửa đầu tiên của số 1 đã bắn cháy
1 chiếc F-105 khiến bọn địch rối loạn, quăng bom tháo chạy. Đang bị lạc đội hình vì điều kiện thời
tiết xấu, số 2 phát hiện tốp F-105 ở cự ly rất gần liền lao tới công kích chiếc gần nhất. Chiếc F-105
địch bùng cháy. Đội hình địch hoàn toàn tan rã. Biên đội được lệnh thoát ly chiến đấu. Số 2 hạ cánh
an toàn. Số 1 lúc hạ cánh tốc độ quá lớn máy bay xông ra ngoài đường băng, gãy càng, phần đầu máy
bay bị biến dạng. Anh em thợ máy phải đập nắp buồng lái máy bay để phi công thoát ra ngoài. Trong
lúc biên đội MiG-21 đang tiến công máy bay địch trên vùng trời Thanh Sơn, biên đội MiG-17 cũng
phát hiện được địch trên vùng trời Thái Nguyên. Sau ít phút quần nhau với máy bay F-4, Lưu Huy
Chao bắn rơi 1 chiếc, Bùi Văn Sưu bắn rơi 1 chiếc. Nguyễn Hồng Điệp bị tên lửa địch bắn trúng máy
bay, nhảy dù an toàn. Trên đường trở về, máy bay Lê Hải bị pháo phòng không bắn nhầm. Mặc dù
máy bay bị thương nhưng Lê Hải đã bình tĩnh, khéo léo xử lý, bay về sân bay Gia lâm hạ cánh an
toàn. Lưu Huy Chao và Bùi Văn Sưu cũng đã trở về hạ cánh an toàn xuống sân bay.

Trung đoàn 921 chỉ còn hai chiếc MiG-21 trực chiến sau trận đánh ngày 3 tháng 1 năm
1968, một chiếc đã bị hỏng sau khi hạ cánh xông ra ngoài đường băng, do vậy, lực lượng trực chiến
chỉ còn lại 1 chiếc. 15 giờ, địch lại vào đánh với 36 chiếc máy bay, vừa cường kích vừa tiêm kích từ
phía Yên Châu bay về hướng Hà nội. Được phép của Bộ tư lệnh, trung đoàn quyết định cho máy bay
MiG-21 xuất kích, chỉ còn 1 chiếc cũng quyết đánh.
Phi công Hà Văn Chúc được lệnh cất cánh. Bay tới vùng trời Yên Châu, anh vừa phát hiện
được 3 tốp địch đang bay phía trước thì một tốp F-4 lướt qua trên đầu. Một tốp F-4 từ phía khác phát
hiện ra máy bay ta liền lao tới đón đầu. Máy bay của Hà Văn Chúc và máy bay địch đã vượt qua
quãng đường dài quần lượn, bám đuổi nhau về tới vùng trời Tam Đảo. Phát hiện phía trước một tốp 8
chiếc F-105 đang dần khép vào đội hình, Hà Văn Chúc lao xuống. Đến cự ly có lợi, anh giữ máy bay
ổn định và ấn nút phóng tên lửa vào một máy bay địch. Chiếc F-105 bốc cháy. Đội hình địch tan vỡ
ngay lập tức. Hà Văn Chúc về sân bay hạ cánh an toàn. Bộ đội tên lửa bắn rơi thêm 2 chiếc F-105
ngay sau khi Hà Văn Chúc về hạ cánh.

Những ngày đầu xuân 1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của toàn miền Nam đánh vào
hàng loạt các mục tiêu của Mỹ - nguỵ. Quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi làm chủ được
nhiều vùng, nhiều thành phố lớn. Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
ở toàn miền Nam của ta buộc Mỹ, nguỵ phải chấp nhận đàm phán với Chính phủ ta tại Hội nghị Paris,
thủ đô nước Cộng hoà Pháp. Tình hình biến chuyển nhanh, đế quốc Mỹ và bọn tay sai hoàn toàn lúng
túng, bị động nhưng ta cũng gặp nhiều khó khăn. Mặt trận phát triển nhanh, rộng khắp, nên nhiều nơi,
nhiều mặt trận việc cung ứng, tiếp tế không kịp. Vũ khí, đạn dược, thuốc men thiếu. Quân địch sau
thời gian đầu bị động đã quay lại đối phó. Để kịp thời tiếp tế vũ khí, đạn dược cho bộ đội ta và trực
tiếp đánh địch ở một số vị trí trọng yếu hỗ trợ cho lực lượng ta trên chiến trường, cấp trên quyết định
sử dụng máy bay IL-14 làm những nhiệm vụ đó.

Ngày 7 tháng 2 năm 1968, một số máy bay IL-14 đang sơ tán ở Tường Vân được lệnh bay
về sân bay Gia Lâm. Bốn tổ bay được giao nhiệm vụ thực hiện chuyến tiếp viện đầu tiên trên chiến
trường miền Nam gồm tổ đồng chí Hoàng Ngọc Trung, Hoàng Liên, Phạm Kế và Nguyễn Văn Bang.
Bốn chiếc máy bay được chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm tổ đồng chí Hoàng Liên và Nguyễn Văn
Bang làm nhiệm vụ mang bom và đạn cối đánh mục tiêu Mang Cá (Huế). Tốp thứ hai gồm tổ đồng
chí Hoàng Ngọc Trung và Phạm Kế làm nhiệm vụ thả dù ở bãi Tam Giang, tiếp tế thuốc nổ, đạn
chống tăng và dây điện thoại cho mặt trận tây Thừa Thiên -Huế. Để đảm bảo bí mật, các tổ bay thực
hiện phương châm “tự đi, tự dẫn, tự đánh, tự về".

Từng tổ bay chuẩn bị kỹ đường bay, tính toán thời gian thật chính xác, đánh dấu trên bản
đồ bay và hiệp đồng kỹ trong toàn tổ. Sau bữa cơm chiều, các tổ bay đã sẵn sàng tại nhà trực chiến.

Trước giờ các máy bay cất cánh đi làm nhiệm vụ, Thiếu tướng Trần Văn Quang thay mặt
Bộ Tổng tham mưu đến sân bay động viên và trực tiếp giao nhiệm vụ cho các tổ bay. Cùng đi với
Thiếu tướng có thượng tá Nguyễn Văn Tiên, Phó tư lệnh Quân chủng kiêm Tư lệnh Bộ tư lệnh không
quân. Hai đồng chí đã ở lại sở chỉ huy trung đoàn theo dõi diễn biến và hoạt động của các tổ bay trong
thời gian tổ bay đi làm nhiệm vụ.

Thời tiết khu vực chiến trường rất xấu nhưng do không có những trạm theo dõi thông báo
kịp thời nên trung đoàn không nắm được. Các tổ bay căn cứ theo đồng hồ và thời gian bay xác định
khu vực mục tiêu, đến vị trí quy định, đã hạ độ cao xuống khá thấp nhưng mây dày, vẫn không nhìn
thấy mặt đất.

Quần lượn nhiều lần vẫn chưa thấy mục tiêu, không nắm chắc địa hình khu vực, tốp đi
đánh mục tiêu không dám xuống quá thấp sợ va vào núi. Tổ đồng chí Hoàng Liên và tổ đồng chí
Nguyễn Văn Bang phải quay về. Trên đường về, máy bay tổ đồng chí Hoàng Liên không còn đủ dầu
về tới sân bay Gia Lâm, phải hạ cánh xuống sân bay Thọ Xuân. Sân bay Thọ Xuân thời kỳ này chưa
được mở rộng, máy bay Mỹ lại đánh phá hên tục, máy bay tổ đồng chí Hoàng Liên đã xông ra ngoài
đường cất hạ cánh, bị hỏng.

Tổ bay Hoàng Ngọc Trung khi vòng lượn qua một chỗ mây mỏng đã loáng thoáng nhìn
thấy mặt đất, sau khi xác định vị trí lần nữa, tổ bay quyết định thả dù. Toàn bộ 15 thùng hàng rơi
xuống theo những chiếc dù. Sau khi thả xong, tổ bay Hoàng Ngọc Trung về sân bay Gia Lâm hạ cánh
an toàn. Riêng tổ bay của đồng chí Phạm Kế trong lúc hạ thấp độ cao tìm mục tiêu, máy bay đã va vào
núi, toàn bộ tổ bay hi sinh.

Tình hình chiến trường ngày càng ác liệt, việc tiếp tế, chi viện đòi hỏi càng khẩn trương,
đêm 12 tháng 2, trung đoàn tiếp tục tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Bốn máy bay IL- 14 gồm các tổ bay do các lái chính; Hoàng Ngọc Trung, Vũ Minh Chung,
Nguyễn Văn Bang và Phạm Thanh Ba phụ trách được giao nhiệm vụ. Hai tổ Hoàng Ngọc Trung và
Vũ Minh Chung bay thả dù hàng tiếp tế cho mặt trận Khe Sanh; tổ bay Nguyễn Văn Bang và tổ Phạm
Thanh Ba mang bom và đạn cối đánh mục tiêu Mang Cá nhưng nếu phát hiện được mục tiêu khác của
địch cũng cho phép đánh; trường hợp không phát hiện được mục tiêu thì bay ra biển, ném toàn bộ số
bom và đạn cối xuống biển.

Thời tiết khu vực mặt trận vẫn quá xấu, không tìm được mục tiêu Mang Cá, cũng không
phát hiện được mục tiêu khác của địch, tổ bay Nguyễn Văn Bang và tổ bay Phạm Thanh Ba vòng ra
biển theo phương án đã định. Hai chiếc máy bay đã không trở về được căn cứ, toàn bộ hai tổ bay đã hi
sinh (Chú thích: Tai nạn của hai tổ bay khi ấy do hoàn cảnh chiến đấu phức tạp nên nguyên nhân
không được làm rõ).

Hai tổ bay Hoàng Ngọc Trung và Vũ Minh Chung bay tới khu vực mục tiêu nhưng do thời
tiết xấu, chưa phát hiện được khu vực cụ thể sẽ thả dù. Vì xuống quá thấp, máy bay của Vũ Minh
chung đã va vào núi, tổ bay hi sinh, Hoàng Ngọc Trung sau nhiều vòng không phát hiện được địa tiêu,
căn cứ vào thời gian tính toán đã quyết định thả hàng theo toạ độ. Những chiếc dù hàng xuyên qua
mây rơi xuống mặt đất trong đêm. Hoàng Ngọc Trung cùng tổ bay về sân bay Gia Lâm hạ cánh an
toàn.

Trong những ngày cuối tháng 2, mật độ đánh phá của địch vào khu vực Hà nội có giảm.
Các biên đội MiG-17 và MiG-21 tiếp tục xuất kích và bắn rơi địch. Ngày 3 tháng 3 năm 1968, biên
đội MiG-21 bắn rơi 1 chiếc máy bay trinh sát không người lái của Mỹ. Đây là trận đánh cuối cùng của
không quân ta trước khi tổng thống Mỹ Johnson buộc phải tuyên bố "xuống thang" hòng xoa dịu dư
luận trong nước và trên thế giới bằng luận điệu "ném bom hạn chế” từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20.

Ngày 31 tháng 3 năm 1968, tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố "ném bom hạn chế "từ vĩ
tuyến 17 đến vĩ tuyến 20” nhưng thực chất cường độ đánh phá khu vực này lại lớn hơn, mật độ bom
đạn nhiều hơn, tập trung hơn, nhất là các nút giao thông. Lực lượng phòng không mặt đất ở Quân khu
4 đã được quân chủng tăng cường thêm nhiều đơn vị pháo phòng không, tên lửa. Ngày 20 tháng 4
năm 1968, Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị chống bão lụt, không quân được giao nhiệm vụ chuẩn bị 7
trực thăng Mi-4, 3 trực thăng Mi-6, 4 đến 6 máy bay An2 và IL- 14 để tham gia phòng chống bão lụt.

Tình hình trang bị của không quân gặp khó khăn, số lượng trang bị còn rất ít, phi công tổn
thất khá lớn nhưng do đã có công tác chuẩn bị từ trước nên từ cuối năm 1967 đến tháng 2 và tháng 5
năm 1968 liên tục các đoàn phi công mới tốt nghiệp ở Liên Xô và từ Trường Không quân Việt nam ở
Tường Vân, Trung Quốc về nước bổ sung cho các trung đoàn MiG-21 và MiG-17 (MiG-21 hơn 30
phi công, MiG-17 hơn 50 phi công). Đồng thời Liên Xô cũng viện trợ cho ta 36 chiếc MiG-21 F94
kiểu mới. Các nước xã hội chủ nghĩa cùng hợp nhau lại để viện trợ cho ta hàng chục chiếc MiG-17.

Với lực lượng, trang bị bổ sung mới và rất trẻ, Sư đoàn 371 đã khẩn trương tiến hành các
đợt huấn luyện đột kích để đưa phi công mới vào trực ban chiến đấu, thi đua lắp ráp máy bay nhanh
để làm nhiệm vụ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã thu được những thành công rất lớn, gây bất
ngờ cho cả thế giới, đẩy Mỹ vào thế lúng túng và buộc phải tìm giải pháp cứu vãn tình hình. Chính
phủ Mỹ tìm cách hoà hoãn trên phương diện ngoại giao, tham gia hội nghị Paris và tìm các giải pháp
quân sự để phản công lại. Chúng tăng cường ngăn chặn ta tiếp viện từ miền Bắc vào miền Nam bằng
không quân trên chiến trường Quân khu 4. Mặt trận đối không bảo vệ giao thông vận chuyển chiến
lược trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết, vì dải đất miền Trung nhỏ, hẹp, dễ bị đánh phá cả từ hướng
đông, hướng tây, địa hình hiểm yếu dễ bị chia cắt, lực lượng không quân chiến thuật và không quân
hải quân do không phải dàn trải đánh nhiều mục tiêu trên miền Bắc nên tập trung cả ở Khu 4.

Cuối tháng 4, Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân họp phân tích tình hình và
triển khai kế hoạch chiến đấu cho các trung đoàn tăng cường tác chiến ở Quân khu 4 nhằm bảo vệ tốt
nhiệm vụ giao thông vận tải. Đối với không quân vận tải, ném bom: Tích cực chuẩn bị tốt mọi điều
kiện đảm bảo cho lực lượng IL-28, IL-14, An-2 và cả Li-2 khi có yêu cầu có thể liên tục tham gia
đánh phá các mục tiêu trên đất địch, đồng thời nghiên cứu việc đánh khu trục hạm ở biển gần; cơ
động một số máy bay vào Khu 4 để hoạt động chiến đấu và vận tải tiếp tế được kịp thời. Lực lượng
không quân tiêm kích khẩn trương triển khai kế hoạch đánh địch bảo vệ giao thông khu vực Quân khu
4. Trước mắt, cơ động hai chiếc MiG-17 và hai chiếc MiG-21 vào sân bay Thọ Xuân. Bộ tư lệnh chỉ
thị tiến hành sửa gấp sân bay Thọ Xuân; đường cất hạ cánh bằng đất phải xử lý lại, kể cả những
đường cất hạ cánh phụ; sửa gấp sân bay Vinh, sân bay Anh Sơn, sân bay Đồng Hới; đồng thời phải
củng cố và triển khai thêm một số sở chỉ huy dã chiến và sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh. Các
trạm radar, các tổ quan sát phải được đưa vào sâu hơn, kể cả ở khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên.

Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên, Chính uỷ Phan Khắc Hy, Tham mưu trưởng Trần Mạnh cùng
đoàn cán bộ Bộ tư lệnh không quân vào kiểm tra, nắm thực trạng tình hình và trực tiếp chỉ đạo các
công việc cụ thể. Đầu tháng 4 năm 1968, Bộ tư lệnh quyết định đưa hai MiG-17 của Trung đoàn 923
vào sân bay Vinh trực chiến. Hai máy bay vừa hạ cánh, chưa kịp đưa đi cất giấu đã bị địch phát hiện,
đánh hỏng.

Bộ tự lệnh không quân vẫn quyết tâm đưa MiG vào chiến trường Quân khu 4. Đây là một
nhiệm vụ nặng nề và phức tạp. Vấn đề đầu tiên là các mặt bảo đảm, phục vụ, công tác chỉ huy, dẫn dắt
máy bay chiến đấu rất phức tạp. Với địa hình dài và hẹp, hoạt động của phi công cũng rất khó khăn.
Ngoài biển, các hạm tàu địch luôn thường trực, radar chúng rất dễ phát hiện máy bay ta, tên lửa từ
hạm tàu có thể bắn lên bất cứ lúc nào. Thời gian hoạt động trên không ở khu vực này không thể kéo
dài, mặt khác, các sân bay khu vực này lại liên tục bị địch đánh phá trong ngày.

Trước tình hình ấy, Bộ tư lệnh quyết định đưa một biên đội MiG-21 vào trực và đánh một
vài trận để rút kinh nghiệm. Tham mưu trưởng Trần Mạnh được giao nhiệm vụ vào trực tiếp chỉ đạo
và chỉ huy ở sở chỉ huy tiền phương. Đầu tháng 5, ba chiếc MiG-21 do Đặng Ngọc Ngự, Nguyễn Văn
Cốc và Nguyễn Văn Minh bay từ Nội Bài vào Thọ Xuân. Ngày 7 tháng 5 năm 1968, biên đội Đặng
Ngọc Ngự số 1, Nguyễn Văn Cốc số 2 được lệnh cất cánh chiến đấu. Để làm nhiệm vụ yểm hộ và
nghi binh, biên đội MiG-21 thứ hai được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài. Sau khi cất cánh khỏi sân
bay Thọ Xuân, biên đội Ngự - Cốc được dẫn đến vùng trời Đô Lương. Do hiệp đồng không tốt, máy
bay vào tới khu vực chiến đấu đang vòng tìm địch thì bị pháo phòng không của ta bắn lên. Cả hai phải
cơ động để tránh đạn và tiếp tục quan sát tìm địch. Sau vòng thứ ba, số 1 phát hiện một tốp F-4 đeo
bom từ biển bay vào. nhưng do trời nhiều mây biên đội không bám được mục tiêu.

Vừa lúc sở chỉ huy lệnh quay về thì Nguyễn Văn Cốc phát hiện có F-4 ở cự ly gần. Số 2
thông báo và xin vào công kích. Từ độ cao 3.000M, Nguyễn Văn Cốc tăng lực đuổi theo chiếc F-4
đang ở độ cao 2.500m. Đến cự ly 1.500m, NguyễnVăn Cốc phóng liền hai quả tên lửa, máy bay địch
bùng cháy, rơi xuống biển, biên đội trở về sân bay Thọ Xuân hạ cánh an toàn. Trận đánh thắng đầu
tiên của không quân vươn xa vào chiến trường Quân khu 4 đã khẳng định quyết tâm và ý định đưa
MiG vào chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 của trên là đúng đắn.

Tiếp theo trận đầu của MiG-21, Trung đoàn 923 được đánh một số trận. Ngày 14 tháng 6
năm 1968, biên đội Lưu Huy Chao, Lê Hải từ Gia Lâm cơ động bí mật vào Thọ Xuân, hiệp đồng với
biên đội 2 chiếc MiG-21 bắn rơi 2 chiếc F-4 của địch.

Bị một đòn bất ngờ, địch thay đổi thủ đoạn đối phó. Các sân bay từ Thanh Hoá tới Quảng
Bình bị đánh phá dữ dội hơn. Mạng lưới radar của địch khống chế vùng trời miền Bắc từ Ninh Bình
trở vào được địch tăng cường hơn. Ở một số trận tiếp theo các máy bay tiêm kích địch khi gặp MiG
thường bay ra biển, nhử ta theo để chúng phóng tên lửa Ta-lốt từ các hạm tàu vào máy bay ta. Ngày
23 tháng 5 năm 1968, biên đội Cốc - Hưng vào đánh, máy bay MiG-21 của đồng chí Hưng bị tên lửa
Ta-lốt bắn rơi, tiếp theo, ngày 26 tháng 6, máy bay của đồng chí Đỉnh cũng bị tên lửa Ta-lốt bắn rơi,
nhưng 2 đồng chí đều nhảy dù thành công.

Mặc dù nhiệm vụ bảo vệ giao thông chiến lược vẫn rất cấp thiết vì không quân Mỹ đã gia
tăng cường độ đánh phá ngày càng ác hệt, nhưng Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân vẫn
phải quyết định tạm cho MiG ngừng hoạt động một thời gian để rút kinh nghiệm, nghiên cứu quy luật
thủ đoạn hoạt động của địch và chuẩn bị lại cách đánh của ta cho phù hợp trước tình hình thực tế của
những sân bay miền Trung do địa hình phức tạp, hiểm trở, đường băng ngắn, hẹp, những phi công có
bản lĩnh và có trình độ lái chắc mới có thể hạ cánh an toàn. Trong khi ấy, yêu cầu phải đưa MiG-17
vào sâu hơn nữa, Bộ tư lệnh chỉ thị cho Phòng Kỹ thuật nghiên cứu cải tiến một số hệ thống thiết bị
trên máy bay để MiG-17 có thể hạ cánh an toàn ở những sân bay dã chiến. Dự án lắp dù giảm tốc cho
MiG-17 được cấp trên thông qua. Các cán bộ kỹ thuật, điển hình là đồng chí Trương Khánh Châu và
đồng chí Huỳnh Ngọc Ân đã nghiên cứu tính toán, với sự hỗ trợ đắc lực của những thợ cơ khí lành
nghề, một thời gian ngắn, dù giảm tốc cho MiG-17 đã được cải tiến thành công. Một số chiếc MiG-17
được lắp dù giảm tốc, cự ly chạy giảm đà khi hạ cánh giảm xuống chỉ còn 600m và đã được đưa vào
chiến trường Quân khu 4 làm nhiệm vụ.

Những trận đánh của MiG-21 sau ngày 7 tháng 5 không thành công bởi nguyên nhân chính
là ta không giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ. Máy bay ta vào đã bị địch phát hiện, đề phòng và có thủ
đoạn đối phó. Khi máy bay ta vào, chúng quay ra, lúc máy bay ta sắp hết dầu chuẩn bị về hạ cánh,
chúng lại kéo vào, radar của ta không bắt được địch, không hỗ trợ được cho các biên đội chiến đấu.
Những chiếc MiG-21 bị tên lửa Ta-lốt từ hạm tàu của chúng bắn rơi đều còn đang trên đường đi đến
khu vực tác chiến hoặc trên đường về, độ cao bay và tốc độ còn đang ổn định, phi công ít chú ý cảnh
giới. Sở chỉ huy mặt đất không phát hiện được tên lửa địch để thông báo kịp thời cho phi công. Có
đồng chí nhảy dù xuống vẫn còn chưa hiểu mình bị bắn từ đâu đến. Ngoài ra, thời gian đầu vào chiến
đấu ở Khu 4 do chưa thuộc địa hình nên MiG vẫn phải bay khá cao để radar ta bắt và dẫn vào đội hình
máy bay địch, trong khi radar địch từ biển cách 60 đến 80km cũng có thể bắt được máy bay ta và dẫn
tiêm kích vào đối phó, hoặc cho tên lửa hạm - đối không bắn.

Các cuộc hội nghị quân sự dân chủ đã chỉ rõ những mặt mạnh, yếu của địch, ta, từ tổ chức
chỉ huy dẫn dắt đến kỹ thuật, chiến thuật của các biên đội không quân, cũng như công tác bảo đảm kỹ
thuật hậu cần, sân bay.

Các trung đoàn không quân sôi nổi công tác nghiên cứu và chuẩn bị cho những trận đánh
tiếp theo ở chiến trường Quân khu 4. Các phi đội bay tổ chức học địa hình, đắp bản đồ nổi bằng đất
sét khu vực chiến trường Quân khu 4. Các trung đoàn tăng cường huấn luyện kỹ thuật bay thấp,
không chiến, đánh chặn ở độ cao thấp, thay đổi, điều chỉnh lực lượng đội hình chiến đấu từ 2 chiếc
thành 2 chiếc + 1 (đơn vị MiG-21). Khẩu hiệu "tự đi, tự đánh, tự dẫn, tự về" được đề cao làm tăng
tính chủ động của phi công và trách nhiệm thông báo chính xác địa điểm địch đánh bằng mật ngữ
riêng cho phi công.

Các biện pháp giữ bí mật thông tin liên lạc cũng được đề ra. Ví dụ báo động xuất kích
chiến đấu không dùng vô tuyến điện, trên đường bay hoàn toàn giữ im lặng. Máy vô tuyến điện chỉ để
ở chế độ thu. Phi công hiệp đồng trong biên đội bằng các động tác của máy bay chỉ đến khi vào cách
địch trong tầm nhìn 10 đến 15km hoặc có 1 người phát hiện địch, mới sử dụng vô tuyến diện để thông
báo chỉ huy, hiệp đồng.

Hệ thống sở chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 cũng được bổ sung, tăng cường.
Các kíp chỉ huy chiến đấu của Trung đoàn 921, 923 do các đồng chí cán bộ, chỉ huy trực tiếp vào tổ
chức tại các sân bay Thọ Xuân, Vinh, Anh Sơn, các đài bổ trợ, radar được tăng cường các cán bộ dẫn
đường tác chiến giỏi.

Ngày 9 và 29 tháng 7 năm 1968, không quân tổ chức cho Trung đoàn 923 hiệp đồng với
Trung đoàn 921 đánh tiếp 2 trận bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Nhưng 2 phi công là Nguyễn Phi Hùng và Lê
Sỹ Điệp cũng bị hi sinh trong chiến đấu. Ngày 10 tháng 7, biên đội Ngân - Thái- Ngự số 3 phát hiện
mục tiêu đối đầu, khi địch phát hiện trước đã chủ động bắn tên lửa uy hiếp. Số 3 chỉ kịp thông báo
"địch bắn tên lửa, cơ động gấp". Số 1, 2 cơ động tránh tên lửa thì quay lưng lại, tạo thuận lợi cho địch
bắn rơi số 2. Ngày 1 tháng 8, biên đội Nguyễn Hồng Nhị dẫn đầu vào đánh địch ở khu vực Anh Sơn -
Tân Kỳ, bắn rơi 1 F-8, nhưng máy bay đồng chí Nhị bị rơi vì động cơ hỏng tăng lực, phi công nhảy dù
lạc trong rừng 3 ngày sau mới về.

Ngày 17 tháng 8, biên đội Tôn - Minh đánh với 2 F-4, Minh bắn rơi 1 chiếc, biên đội Cốc-
Thái đánh với 4 chiếc F-8 ở khu vực Anh Sơn, máy bay Cốc bị 62 mảnh đạn tên lửa, Thái gần hết dầu
và các ngày tiếp theo 25 tháng 3, biên đội Ngân - Thiều, 19 tháng 9 biên đội Tôn - Rạng, ngày 22
tháng 9 các biên đội Lý, Rạng, Ngân đánh 3 trận nữa đều không thành công, còn bị tổn thất. Đồng chí
Lý, Rạng nhảy dù, máy bay đồng chí Ngân bị thương. Mãi ngày 26 tháng 10 biên đội Kính- Thiều
đánh 1 trận với 2 F-4 mới bắn rơi 1 chiếc.

Trong thời gian địch ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20, thì trinh sát có người lái
và không người lái tăng cường hoạt động ở ngoài vĩ tuyến 20.

Sư đoàn 371 liên tục xuất kích, ngày 20 tháng 9 biên đội Cương, Hoá, ngày 21 tháng 9
biên đội Kính, Ân, ngày 31 tháng 10 Ngân - Nam, ngày 8 tháng 11 Cốc - Thái, bắn rơi 4 chiếc trinh
sát.

Năm 1968 là năm thử thách quyết liệt và toàn diện với Sư đoàn 371 trong vai trò, nhiệm vụ
bảo vệ hành lang vận tải chiến lược ở chiến trường Khu 4. Hiệu suất các trận đánh không cao, nhưng
hiệu quả bảo vệ giao thông rất tốt. Mỗi lần máy bay ta xuất kích là giải phóng nhiều giờ liền ách tắc
giao thông do không quân Mỹ khống chế.

Chiến trường Khu 4, Sư đoàn 371 cũng là đơn vị không quân nhân dân Việt nam lúc đó là
nơi rèn luyện rất tốt cho công tác tổ chức, chỉ huy chiến đấu thực hành các trận đánh trong thế đối
kháng, cân bằng về điều kiện bảo đảm dẫn đường. Nhưng không quân ta thua kém địch về trang bị, số
lượng, kiểu loại máy bay nên chỉ có khả năng làm chủ vùng trời trong từng thời gian ngắn. Tuy nhiên
việc đưa máy bay chiến đấu vươn sâu, vươn xa vào tham gia chiến đấu ở Khu 4 bảo vệ giao thông vận
chuyển được ngay sau khi không quân địch phải xuống thang, ném bom hạn chế Khu 4, trong lúc lực
lượng ta gặp những tổn thất khá nặng nề trong chiến đấu bảo vệ Hà nội năm 1967 là quyết tâm rất lớn
của Đảng uỷ thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân chủng, binh chủng. Từ đó rút được nhiều kinh nghiệm để
huấn luyện, chuẩn bị bộ đội cho những năm tiếp theo và sẵn sàng đánh thắng cuộc chiến tranh phá
hoại bằng không quân lần thứ 2 ra miền Bắc.

Sau khi rút kinh nghiệm và huấn luyện bổ sung, Bộ tư lệnh lại quyết định đưa MiG vào
Khu 4. Các chuyến bay đều được thực hiện ở độ cao thấp để tránh radar địch phát hiện và được sự hỗ
trợ đắc lực của các sở chỉ huy mặt đất. Đến sân bay, các phi công vào hạ cánh trực tiếp luôn, không
lập vòng kín.

Sáng ngày 14 tháng 6 năm 1968, biên đội MiG-17 gồm Lưu Huy Chao và Lê Hải bí mật
bay từ Gia Lâm vào sân bay Thọ Xuân hạ cánh. Ngay buổi chiều, lúc 14 giờ 28 phút, biên đội được
lệnh xuất kích chiến đấu luôn và đã đánh thắng giòn giã, bắn rơi 2 máy bay F-4 của địch và trở về sân
bay hạ cánh an toàn.

Bộ tư lệnh không quân tiếp tục đưa MiG-21 vào Khu 4 trực chiến. Hai ngày sau trận đánh
thắng của MiG-17, ngày 16 tháng 6, một biên đội hai chiếc MiG-21 gồm Đinh Tôn và Nguyễn Tiến
Sâm cất cánh từ sân bay Nội Bài lúc 14 giờ, bí mật vào sân bay Thọ xuân hạ cánh. Lúc 16 giờ biên
đội được lệnh xuất kích. Sau khi lấy được độ cao quy định, biên đội phát hiện địch còn cách 15km
liền thả thùng dầu phụ lao vào công kích. Một chiếc F-4 bị trúng đạn rơi tại chỗ. Số F-4 còn lại bay
hết ra ngoài biển chạy thoát. Biên đội trở về sân bay hạ cánh an toàn. Bị ta đánh chặn trên đường, một
chiếc bị bắn rơi, đội hình tan vỡ, tốp máy bay địch phải quay về, bỏ ý định đánh phá mục tiêu. Biên
đội MiG-17 bay vòng ở khu chờ, không gặp địch đã theo lệnh của sở chỉ huy về sân bay hạ cánh.

Ngày 1 tháng 7 năm 1968, ta thành lập Bộ tư lệnh bảo đảm giao thông vận tải ở Quân khu
4. Đồng chí Phan Trọng Tuệ, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông. vận tải được cử
làm tư lệnh; đồng chí Đinh Đức Thiện làm phó tư lệnh, đồng chí Lê Quang Hoà làm chính uỷ, 3 đồng
chí chủ tịch của ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đồng chí Phó tư lệnh Quân chủng phòng
không - không quân Lê Văn Tri, Phó chính uỷ Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu làm uỷ viên.

Trong tháng 7 và tháng 8 theo yêu cầu của mặt trận bảo vệ giao thông vận tải ta tích cực bí
mật bay vào sân bay tiền duyên là Thọ Xuân - Thanh Hoá trực. Đã xuất kích hàng chục lần và đánh
hàng chục trận để bảo vệ giao thông chiến lược. Các trận đánh trên không diễn ra vô cùng ác liệt.

Cuối tháng 7 năm 1968, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng ra quyết nghị lãnh đạo bảo vệ
giao thông vận tải ở Quân khu 4. Sở chỉ huy tiền phương Quân chủng đóng ở Giang Sơn - Nghệ An
trực tiếp chỉ huy mở tuyến sông Lam.

Tháng 8 năm 1968, triển khai đợt mở tuyến sông Lam lần 1 với mục đích tiêu diệt không
quân địch, mở thông tuyến giao thông bắc sông Lam. Hai biên đội MiG-21 và MiG-17 của không
quân tham gia cùng 2 sư đoàn phòng không 365 và 367 và Trung đoàn phòng không 222 Quân khu 4.
Ngày 17 tháng 8 năm 1968 bắn rơi 3 máy bay địch. Toàn đợt 1 ta bắn rơi 10 chiếc máy bay địch có 3
chiếc rơi tại chỗ. Ngày 2 tháng 9 năm 1968 ta mở tuyến sông Lam đợt 2, cả đợt 2 bắn rơi 7 chiếc máy
bay địch.

Ngày 1 tháng 11 năm 1968, tổng thống Mỹ Johnson buộc phải đơn phương tuyên bố chấm
dứt mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc Việt nam và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán tại
hội nghị bốn bên ở Paris để giải quyết vấn đề Việt nam. Cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc
lần thứ nhất đã chấm dứt. 1.331 máy bay Mỹ các loại đã bị quân và dân ta bắn rơi trên miền Bắc.
Trong chiến công chung của quân và dân toàn miền Bắc, bộ đội không quân cũng góp phần đáng kể.
Hơn ba năm trực tiếp chiến đấu với kẻ thù, mặc dù còn non trẻ, còn nhiều mặt hạn chế, không quân
tiêm kích Việt nam đã đánh giỏi, bắn rơi hơn 200 máy bay các loại của Mỹ. Ngoài ra, lực lượng
không quân vận tải đã đánh cháy, đánh chìm, đánh bị thương nhiều tàu địch, phá huỷ một trạm radar,
nhiều căn cứ địch trên mặt đất. Sau khi đế quốc Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc, cùng với
toàn quân, toàn dân, bộ đội không quân bước sang một giai đoạn mới - vừa khẩn trương huấn luyện,
xây dựng lực lượng, khôi phục sửa chữa các sân bay, vừa sẵn sàng chiến đấu, theo yêu cầu nhiệm vụ
trong tình hình mới.

Chương 2
THAM GIA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC Ở CHIẾN TRƯỜNG
QUÂN KHU IV VÀ GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2
CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969 - 1972)
I. TIẾP TỤC THAM GIA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ GIAO THÔNG CHIẾN LƯỢC, ĐỒNG
THỜI TĂNG CƯỜNG HUẤN LUYỆN, NGHIÊN CỨU CHUẨN BỊ ĐÁNH B-52 VÀ THAM GIA
ĐÁNH ĐỊCH TRÊN CÁC CHIẾN TRƯỜNG (1969 - 1971)

Thời kỳ cuối năm 1968, không quân Mỹ phần lớn chỉ tập trung đánh phá khu vực từ vĩ
tuyến 20 trở vào. Ngoài Bắc, thỉnh thoảng có những tốp nhỏ lẻ tập kích bất ngờ vào một số mục tiêu,
còn chủ yếu là các loại máy bay trinh sát hoạt động.

Lúc này, đoàn học bay MiG-19 tại Trung Quốc đã hoàn thành chương trình huấn luyện cơ
bản, đang tiếp tục bay nâng cao và huấn luyện chiến đấu. Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân
chủng họp triển khai kế hoạch đưa MiG-19 về huấn luyện tiếp trong nước. Theo đề nghị của Thường
vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ quốc phòng đã ra quyết định thành lập trung đoàn không
quân tiêm kích thứ ba. Tại Trường Tuyên giáo Trung ương, một số cán bộ trong đó phần lớn của
Trung đoàn 923, được giao nhiệm vụ làm bộ khung thành lập trung đoàn không quân tiêm kích mới.
Trung đoàn được mang phiên hiệu Trung đoàn không quân 925, sử dụng trên 30 chiếc máy bay tiêm
kích MiG-19 và MiG-15. Trung đoàn có 37 phi công, đồng chí Lê Quang Trung được bổ nhiệm làm
trung đoàn trưởng, đồng chí Hồ Vinh làm chính uỷ. Đồng chí Mai Đức Toại làm trung đoàn phó và
đồng chí Trần Tấn Khẩn làm phó chính uỷ.

Trung đoàn 925 khi mới thành lập chỉ có một số cán bộ khung có mặt, số còn lại vẫn đang
làm nhiệm vụ huấn luyện bay ở Trung Quốc. Trung đoàn lúc đầu cũng chỉ có ba cơ quan: tham mưu,
chính trị, kỹ thuật; cơ quan hậu cần khi về nước mới thành lập.

Sau khi tổng thống Mỹ tuyên bố "xuống thang chiến tranh", Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư
lệnh Quân chủng quyết định đưa toàn bộ trung đoàn về nước. Bộ tư lệnh không quân được giao nhiệm
vụ triển khai thực hiện kế hoạch.

Căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ, đơn vị không quân hỗn hợp Bắc Triều
Tiên rút về nước. Đơn vị công binh của Quân chủng được sự phối hợp của các cơ quan và nhân dân
địa phương huyện Lạng Giang (Hà Bắc) khẩn trương sửa chừa, khôi phục sân bay Kép để đón Trung
đoàn 925 về. Đầu năm 1969, những chiếc MiG-19 đã được chuyển về sân bay Kép. Nhờ chuẩn bị chu
đáo và được sự giúp đỡ, chỉ đạo trực tiếp của Bộ tư lệnh và các cơ quan, chỉ trong một thời gian rất
ngắn, trung đoàn đã tiến hành xong việc chuyển trường.

Từ đầu năm 1969, các cuộc đánh phá của máy bay Mỹ ít hơn và lùi dần vào phía Nam. Tàu
chiến Mỹ cũng không còn khiêu khích nhiều ở ngoài khơi như trước. Mặc dầu vậy, Quân uỷ Trung
ương và Bộ quốc phòng nhận định địch vẫn chưa từ bỏ dã tâm và ý đồ đánh phá miền Bắc, nhất là sau
khi Nixon lên thay Johnson làm tổng thống nước Mỹ, sự răn đe và gây sức ép đối với miền Bắc càng
lộ rõ hơn. Theo chỉ thị của Bộ và quân chủng, lực lượng không quân tiêm kích trực sẵn sàng chiến đấu
ở Quân khu 4 được duy trì và tăng cường thêm.

Để bảo đảm cho công tác chỉ huy, dẫn đường và hiệp đồng giữa bộ đội phòng không với bộ
đội không quân, Bộ tư lệnh Quân chủng đã quyết định điều một số đơn vị radar phối thuộc chiến đấu
với bộ đội không quân. Đại đội 47 dẫn đường phối thuộc với Bộ tư lệnh không quân. Đại đội 45 phối
thuộc Trung đoàn không quân 923. Đại đội 42 phối thuộc Trung đoàn không quân 925. Đại đội 26
phục vụ cho Sở chỉ huy Quân chủng nay đảm nhiệm thêm việc phối thuộc chiến đấu với Bộ tư lệnh
không quân. Đại đội 42 dẫn đường cho sân bay Yên Bái. Đại đội 41 dẫn đường cho sân bay Vinh. Đại
đội 50 dẫn đường cho sân bay Thọ Xuân.

Một số phi công MiG-19 và MiG-17 đào tạo ở nước ngoài cùng một số phi công MiG-17
được đào tạo ở Trường Không quân được bổ sung về các trung đoàn 921, 923. Ngoài lực lượng trực
chiến ở Quân khu 4, các trung đoàn tập trung tranh thủ thời gian Mỹ ngừng ném bom, huấn luyện cho
số phi công mới. Những phi công cũ vừa làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu, vừa tiếp tục huấn luyện
nâng cao. Thời gian này, công tác huấn luyện được tiến hành rất thuận lợi. Số giờ bay huấn luyện của
Trung đoàn 921, Trung đoàn 923 tăng rất nhiều so với những năm trước. Trung đoàn 925 từ khi về
nước cũng đã nhanh chóng ổn định và bắt tay vào tổ chức bay huấn luyện. Theo yêu cầu nhiệm vụ
năm 1970, một số phi công MiG-17 được chuyển loại sang bay MiG-21. Trung đoàn 921 chọn thêm
một số phi công có kinh nghiệm chuyển sang bay đêm.

Được sự giúp đỡ của cấp trên, các đơn vị bạn và nhân dân địa phương, các trung đoàn và
căn cứ sân bay tiến hành sửa chữa, khôi phục lại phần sân bay bị đánh phá. Đường cất hạ cánh, đường
lăn, bãi đậu đều được làm lại cơ bản; những chỗ bị bom phá hoại trong thời gian sửa gấp làm tạm
thời, nay được sửa lại chắc chắn hơn.

Máy bay Mỹ tăng cường các hoạt động trinh sát hơn trước. Mục tiêu trinh sát chủ yếu là
các khu vực chân hàng, kho tàng, sân bay, cảng biển và các mục tiêu công nghiệp. Chúng thường sử
dụng máy bay trinh sát không người lái. Máy bay trinh sát có người lái chủ yếu là SR-71 và thỉnh
thoảng dùng U-2 trinh sát dọc biên giới Việt - Lào. Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, lực lượng
tên lửa và lực lượng không quân là hai lực lượng chủ yếu tiến hành đánh các máy bay trinh sát. Bộ tư
lệnh không quân đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 và Trung đoàn 923 tổ chức đánh máy bay
trinh sát không người lái. Ngày 4 tháng 2 năm 1969, biên đội MiG-21 Nguyễn Văn Cốc - Trần Văn
Hoá bắn rơi một chiếc không người lái ở vùng ven biển Thái Bình. Năm 1969, Trung đoàn 921 và
Trung đoàn 923 đã bắn rơi 10 máy bay không người lái cả tầng thấp và tầng cao của địch. Nhiều phi
công tham gia chiến đấu bắn rơi máy bay trinh sát không người lái của địch như Đặng Ngọc Ngự, Mai
Cương, Phạm Thành Nam, Nguyễn Đức Soát, Trần Cung, Võ Sỹ Giáp, Nguyễn Văn Lục, Lương Đức
Trường.

Cuối năm 1968, sau khi nhậm chức, tổng thống mới của Mỹ Nixon không chỉ răn đe và
gây sức ép mà đã có những hành động cho không quân ném bom, bắn phá trở lại miền Bắc. Phạm vi
hoạt động và phá hoại của không quân và tàu tuần dương ngoài biển của chúng đã bắt đầu rải rác
trong khu vực từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20. Thậm chí chúng đã sử dụng máy bay chiến lược B-52
trong một số lần đánh phá.

Trước những biến động của tình hình thực tế, Bộ tư lệnh không quân chỉ đạo Trung đoàn
921 và Trung đoàn 923 ngoài các trận đánh máy bay trinh sát không người lái, tiếp tục triển khai kế
hoạch và tăng cường lực lượng cơ động vào đánh cường kích và tiêm kích địch trên vùng trời Quân
khu 4. Các trận đánh của MiG-21 và MiG-17 đều gặp khó khăn. Mặc dù máy bay của ta bay rất thấp
nhưng vẫn bị ra -đa mặt biển của địch phát hiện. Các lần cất cánh từ Nội Bài, từ Thọ Xuân hay từ sân
bay Vinh vào khu vực chiến đấu đều bị chúng phát hiện. Khi phát hiện máy bay ta vào, chúng liền
quay ra biển. Khi máy bay ta về hạ cánh, chúng kéo tới đánh phá sân bay. Có lần khi hai chiếc MiG-
21 vừa mới hạ cánh xuống sân bay Anh Sơn, chưa kịp sơ tán, đã bị địch đánh hỏng. Có trận, khi máy
bay ta quay về, chúng cho tiêm kích đuổi theo chờ lúc máy bay ta sắp hết dầu mới dùng nhiều tốp
khống chế, buộc ta phải đối phó. Có trường hợp phi công phải nhảy dù vì máy bay hết dầu.

Trước những khó khăn của chiến trường Quân khu 4, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng và
Bộ tư lệnh không quân họp bàn tìm biện pháp khắc phục. Trong nội dung họp, vấn đề nghiên cứu, tìm
hiểu phát hiện quy luật hoạt động của B-52 và xây dựng cách đánh, quyết tâm tổ chức đánh B-52
được trao đổi, phân tích hết sức tỉ mỉ. Một số máy bay MiG-21 và MiG-17 được lệnh cơ động vào khu
vực Quân khu1. Số máy bay và phi công điều động vào được tổ chức thành một lực lượng hỗn hợp có
cơ quan chỉ huy lâm thời riêng. Quân chủng tổ chức sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng để chỉ
huy các lực lượng tên lửa, cao xạ ở chiến trường Quân khu IV. Đồng chí Trần Mạnh, Tham mưu
trưởng Bộ tư lệnh không quân được phân công trực tiếp phụ trách điều hành lực lượng không quân
MiG-21 và MiG-17 tại sở chỉ huy tiền phương. Các phương án chiến đấu của từng loại máy bay,
phương án hiệp đồng tác chiến giữa các loại máy bay, giữa không quân và phòng không được bàn bạc
kỹ và dặt ra những yêu cầu rất khắt khe đối với công tác tổ chức chỉ huy; dẫn đường cũng như trình
độ kỹ thuật, chiến thuật, khả năng tự dẫn đường của phi công. Các cao điểm quan trọng ở địa bàn Khu
IV như Rú Trọc, Đại Huệ, Tân Kỳ, Đô Lương đều được triển khai các tổ quan sát, chỉ huy dã chiến
bằng mắt.

Đầu năm 1969, Quân chủng phòng không - không quân triển khai kế hoạch tổ chức tác
chiến bảo vệ miền Bắc trong tình hình mới. Thời gian này, không quân ta đã mời phi công của Cuba
sang làm cố vấn huấn luyện đánh mục tiêu trên biển cho các phi công lái MiG-17 của Trung đoàn 923.

Ở miền Bắc, đại bộ phận lực lượng không quân được tăng cường huấn luyện, đặc biệt là
cho các phi công trẻ. Bộ tư lệnh không quân đã triển khai công tác chuẩn bị cho phương án chiến đấu
đánh địch leo thang đánh phá trở lại. Đặc biệt, ngay từ cuối năm 1968 đã dự đoán chính xác các
đường bay đánh Hà nội, Hải Phòng của B-52 trong đó có 3 đường bay chính được dự đoán là:

1. Đường bay từ Thái Lan qua Sầm Nưa lên khu vực Tuyên Quang xuống Tam Đảo vào
đánh Hà nội từ hướng Tây Bắc.

2. Đường bay từ Thái Lan qua Sầm Nưa sang Mộc Châu, Hoà Bình vào đánh Hà nội từ
hướng tây.

3. Đường bay từ Thái Lan sang tây Nghệ An lên Quan.Hoá, Bá Thước, Thanh Hoá vào
đánh Hà nội từ hướng tây nam.

Tháng 1 năm 1969, tổng thống Mỹ Nixon đã tiến hành thực hiện chiến lược "Việt nam hoá
chiến tranh" ở miền Nam Việt nam với mưu đồ phản kích chiến lược, củng cố và phát triển lực lượng
quân đội và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 16 tháng 2 năm 1969, nhân dịp Tết Kỷ Dậu, Bác Hồ đã đến thăm và chúc tết bộ đội
phòng không - không quân. Đồng chí Nguyễn Văn Cốc, phi công MiG-21 đã lập nhiều thành tích
trong chiến đấu được Bác gọi lên bắt tay khen ngợi với câu nói giản dị, mộc mạc nhưng đầy sức động
viên cổ vũ: "Chúc cho không quân có nhiều Cốc hơn nữa". Người chiến sĩ hiền lành, chất phác, người
phi công đã mở ra lối đánh tiến công ở vị trí số 2, được vinh dự thay mặt cho các chiến sĩ không quân
kính dâng lên Bác lòng kính yêu chân thành của lực lượng không quân Việt nam, tuy còn non trẻ
nhưng đã có bước trưởng thành nhanh chóng, lập được những chiến công xuất sắc góp phần bảo vệ
bầu trời, bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Ngày Trung đoàn không quân tiêm kích 921 mới về nước,
Bác đã đến tận sân bay, tận máy bay bắt tay từng người, xem khoang lái nhỏ hẹp trên máy bay, hỏi phi
công Hồ Văn Quỳ: "Trời nắng thế này chú có nóng lắm không”. Không quân chiến thắng trận đầu,
Bác gửi thư khen, Bác thưởng huy hiệu. Bác gặp mặt các phi công đánh giỏi ở Phủ Chủ tịch. Không
quân gặp khó khăn trong chiến đấu, bị tổn thất, Bác đến động viên. Trong các trận không quân đi
chiến đấu, Bác đều theo dõi quan tâm. Câu đầu tiên Người hỏi: "Đã về chưa?", "Có ai việc gì không?
". Không quân là đứa con sinh sau được Bác ưu ái và chăm sóc tận tình. Chính Bác là người đã giao
nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang cho Không quân nhân dân Việt nam là mở mặt trận trên không". Bộ đội
không quân đã tự hào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng đại mà Bác Hồ tin tưởng giao phó.

Hơn sáu tháng sau ngày Bác gặp bộ đội phòng không-không quân, ngày 2 tháng 9 năm
1969, Bác đã vĩnh viễn đi xa. Ngày 9 tháng 9 năm 1969, trên khoảng trời đau thương, mất mát của
quảng trường Ba đình Hà nội, một đội hình 24 chiếc máy bay tiêm kích MiG-21 và MiG-17 đã bay
chuyến bay vĩnh biệt Bác Hồ trong lễ tang truy điệu vĩnh biệt Người.

Sau hơn 4 năm từ ngày chiến thắng trận đầu và hơn 2 năm từ ngày thành lập Bộ tư lệnh
không quân, được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, của nhân dân, quân đội, không quân ta đã không
ngừng trưởng thành. Các thế hệ phi công nối tiếp nhau đều phát huy được truyền thống chiến đấu anh
dũng kiên cường của dân tộc và quân đội, xứng đáng với trọng trách được giao canh giữ bầu trời của
Tổ quốc. Đánh giá những thành tích không quân đã đạt được tháng 6 năm 1969, Nhà nước và Quốc
hội đã tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đại đội 3 thuộc Trung
đoàn 921 và đại đội 4 thuộc Trung đoàn 923, đây là lần thứ hai đại đội 4 của Trung đoàn 923 được
tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong dịp này, ba phi công ưu
tú Nguyễn Hồng Nhị, Phạm Thanh Ngân, Nguyễn Văn Cốc cũng được Nhà nước và Quốc hội tuyên
dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tháng 12 năm 1969, một mềm vui và một vinh dự lớn nữa lại đến với bộ đội không quân.
Trung đoàn 921 được tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các phi
công Mai Văn Cương, Lưu Huy Chao cùng được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.

Để phù hợp với tình hình nhiệm vụ và hoạt động có hiệu quả của các loại máy bay, Bộ tư
lệnh không quân đề nghị Bộ tư lệnh Quân chủng cho điểu chỉnh lại vị trí đóng quân của một số đơn
vị. Được Quân chủng đồng ý, Bộ tư lệnh không quân đã chuyển toàn bộ Trung đoàn 925 từ sân bay
Kép lên sân bay Yên Bái. Trung đoàn 921 được giao nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vùng trời Tây Bắc.
Trung đoàn 923 được điều động từ sân bay Hoà Lạc về sân bay Kép làm nhiệm vụ bảo vệ hướng
đông- bắc. Số máy bay trực thăng của Trung đoàn 919, trước mắt là Mi-6 bố trí ở Gia Lâm và các khu
sơ tán được đưa về sân bay Hoà Lạc. Các sân bay Thọ Xuân, Vinh, Anh Sơn được sửa chữa để cho lực
lượng hỗn hợp MiG-17 và MiG-21 làm nhiệm vụ trực chiến ở Quân khu 4. Sân bay Đồng Hới được
sửa lại và kéo dài phần đường cất hạ cánh lên 2.000M. Được sự giúp đỡ của đơn vị công binh Quân
chủng, công trình sân bay Khe Gát được tiến hành khảo sát để chuẩn bị thi công. Sở chỉ huy của Bộ tư
lệnh không quân ở Ba Đồn (Quảng Bình) được củng cố lại. Đồng chí Trần Mạnh và đồng chí Trần
Hanh trực tiếp điều hành và chỉ huy tại đây.

Cuối năm 1969, đồng chí Đào Đình Luyện được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Bộ tư lệnh
không quân. Đồng chí Phan Khắc Hy đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Đỗ Long được bổ nhiệm là
chính uỷ Bộ tư lệnh không quân. Đồng chí Trần Mạnh được bổ nhiệm giữ chức phó tư lệnh; đồng chí
Nguyễn Phúc Trạch làm tham mưu trưởng; đồng chí Trần Hanh, đồng chí Lê Oanh làm phó tham mưu
trưởng; đồng chí Chu Duy Kính làm phó chính uỷ Bộ tư lệnh không quân.

Trong lúc vừa phải cơ động lực lượng liên tục, tập trung xây dựng đơn vị, khắc phục hậu
quả sau các trận đánh phá của địch, vừa trực ban chiến đấu và tham gia các nhiệm vụ bay khác, các
trung đoàn vẫn tổ chức huấn luyện đạt kết quả cao. Trong năm 1969, các loại máy bay đã huấn luyện
được 21.446 lần chuyến. Riêng tiêm kích đã bay hơn 13.000 lần chuyến. Đặc biệt MiG-21 đã đạt
được số giờ bay huấn luyện bình quân một phi công trong năm là 46 giờ 17 phút. Trình độ bay được
nâng cao. Số phi công tham gia trực chiến và đã qua chiến đấu tăng 30% so với cuối năm 1968. Số
phi công mới về đầu năm 1968 vào bay đêm có 4 đồng chí của MiG-21 có thể làm nhiệm vụ chiến
đấu là Đinh Tôn, Vũ Đình Rạng, Phạm Văn Mạo và Đặng Xây cùng với số phi công cũ như Hoàng
Biểu, Phạm Ngọc Lan. Ngoài ra, trong năm còn đào tạo được nhiều giáo viên bay, chỉ huy bay, biên
đội trưởng của biên đội 2 chiếc, 4 chiếc, 8 chiếc và 12 chiếc.

Năm 1969, lực lượng kỹ thuật của Bộ tư lệnh không quân đã giải quyết một khối lượng
công việc khá lớn. Hầu hết các máy bay bị hỏng hóc từ năm trước (chủ yếu do địch đánh phá) đã được
phục hồi đưa vào làm nhiệm vụ. Các máy bay mới được lắp ráp đều đảm bảo thời gian và chất lượng.
Ngoài công việc sửa chữa, công tác nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật cũng được tiến hành tích cực. Trong
năm, các cán bộ kỹ thuật đã phối hợp cùng nhà máy cao su Sao Vàng nghiên cứu và sản xuất thành
công đệm thùng dầu cho máy bay MiG-17, đã giải quyết cơ bản vấn đề thiếu đệm bịt kín thùng dầu
trong những năm 1968- 1969.

Đầu năm 1970, địch vẫn liên tục cho máy bay trinh sát hoạt động. Mục tiêu trinh sát chủ
yếu vẫn là Hà nội, Hải Phòng, các sân bay, các chân hàng và một số khu công nghiệp. Khu vực từ vĩ
tuyến 20 trở vào, ngoài việc trinh sát, địch còn dùng pháo tầm xa đặt ở bờ nam sông Bến Hải và trên
hạm tàu bắn phá. Đêm ngày 16 tháng 1 năm 1970, nhiều tốp B-52 bay vào đánh phá khu vực tây nam
Vĩnh Linh. Từ tháng 2 trở đi, mật độ hoạt động của chúng nhiều hơn. Các máy bay AC -130 liên tục
bám theo tuyến đường 559 về ban đêm, cản trở rất nhiều việc vận chuyển tiếp tế của ta vào Nam.
Thực hiện nhiệm vụ trên giao, tuy không bắn rơi được máy bay địch, nhưng hoạt động tích cực của
các máy bay ta đã làm giảm cường độ hoạt động của AC -130 trên đường hành lang 559.

Bước sang năm 1970, để phối hợp với chiến trường Lào và Căm-pu-chia, làm giảm sức ép
của không quân Mỹ - nguỵ ở ngã ba biên giới, không quân ta gia tăng áp sát khu vực nam Khu 4.

Ngày 28 tháng 1 năm 1970, biên đội Vũ Ngọc Đỉnh và Phạm Đình Tuân bí mật vào trực
chiến ở sân bay Vinh và từ Vinh xuất kích bay qua Hồng Lĩnh, Hương Khê, Hà Tĩnh vào khu vực
đông đường Trường Sơn. Được sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh không quân dẫn vào đánh các
máy bay địch đang khống chế khu vực chân hàng lớn của ta ở Khe Ve, Tân Ấp. Biên đội đã phát hiện
cả 4 chiếc máy bay chiến thuật F-4 và cả máy bay trực thăng. Đồng chí Tuân bay số hai phát hiện F-4
trước đã bình tĩnh thông báo và chủ động đón đánh. Đồng chí Đỉnh ngay sau đó phát hiện thêm một
số máy bay trực thăng đã báo cho số 2 và lao vào công kích. Kết quả biên đội bắn rơi 1 F-4 và 1 trực
thăng CH-54. Tuy nhiên, do gặp lực lượng địch đông, lại phải phân tán thành hai mũi tiến công nên
đồng chí Phạm Đình Tuân sau khi bắn rơi một chiếc máy bay địch đã không rút khỏi khu vực chiến
đấu được. Anh liên tục phản kích địch và cuối cùng gặp tai nạn, máy bay va vào núi, đồng chí đã hi
sinh.

Trận đánh dũng cảm, táo bạo của không quân ta vào tận khu vực nam Khu 4 đã làm cho
không quân Mỹ bị bất ngờ và phải tạm ngừng hoạt động một thời gian.

Trên chiến trường Lào, từ cuối năm 1969 ta và bạn đã triển khai "chiến dịch toàn thắng" để
bảo vệ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Quân chủng phòng không -Không quân phối hợp
tác chiến bằng tổ chức lực lượng phục kích ở tây đường số 7. Bộ tư lệnh không quân được giao nhiệm
vụ phối hợp và triển khai lực lượng tham gia chiến dịch, cất cánh từ các sân bay tiền phương như Thọ
Xuân, Anh Sơn, các sân bay miền Bắc như Nội Bài, Gia Lâm…

Để ngăn chặn và không chế các hoạt động của không quân ta ở chiến trường Lào, bảo vệ
chiến dịch tiến công "Cù Kiệt" của quân đội phỉ Vàng Pao và Thái Lan, hạn chế hoạt động của không
quân ta trên biển vịnh Bắc Bộ, trong khi các phi công Cuba đang giúp ta huấn luyện các phi công của
Trung đoàn không quân 923 đánh tàu trên biển, không quân Mỹ đã bố trí thường trực ở phía tây Hồi
Xuân, Lang Chánh, Thanh Hoá và trên đất Lào 1 biên đội 4 chiếc F-4 và bố trí trên khu vực phía đông
cửa Ba Lạt cách khoảng 30 đến 40 km 1 biên đội 4 chiếc F-4 của không quân hải quân.

Đã có nhiều chuyến bay mang tính răn đe - cảm tử của các biên đội MiG-21. Trung đoàn
921 sang tới khu vực Sầm Nưa-Sầm Tơ để ngăn chặn B-52 theo yêu cầu của Bộ tư lệnh chiến trường
Lào. Nhiệm vụ được giao là sẵn sàng cất cánh trong mọi điều kiện thời tiết, lên độ cao 10 đến 12km
bay theo hướng Cánh Đồng Chum, nếu B-52 vẫn tiếp tục vào thì biên đội bỏ ngay dầu phụ, tăng tốc
độ vượt qua lực lượng tiêm kích bảo vệ để đánh (bắn) rơi B-52 trên chiến trường Lào. Nếu phải đánh
như vậy, xác xuất bay về hạ cánh ở sân bay ta là rất thấp, phải xác định tinh thần và chuẩn bị sẵn tư
tưởng quyết đánh dù có tổn thất. Đã có nhiều chuyến bay xuất kích làm nhiệm vụ và mỗi lần xuất kích
là B-52 lại buộc phải quay trở lại Thái Lan, không dám vào làm nhiệm vụ yểm trợ hoả lực ở khu vực
tác chiến nữa.

Tuy không quân chưa đánh được B-52 nhưng đã có hiệu quả rất tốt cho bảo vệ lực lượng
tác chiến của ta và bạn Lào trên chiến trường, đồng thời cũng là những lần tôi luyện cho đội ngũ phi
công ý chí chiến đấu, quyết tâm đánh thắng không quân Mỹ.

Vào những tháng đầu năm 1970, máy bay ta huấn luyện và xuất kích chiến đấu từ Kiến An
đã nhiều lần bị máy bay Mỹ từ phía cửa Ba Lạt vào đuổi đánh, nhất là khi ta đang trên đường về sân
bay hạ cánh sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Có những lần ta buộc phải cho xuất kích biên đội trực chiến
lên để bảo vệ các máy bay đang trên đường về sân bay hạ cánh.

Tình trạng như vậy cũng đã xảy ra vào ngày 28 tháng 3 năm 1970, khi biên đội MiG-21
Dũng- Long từ Kiến An xuất kích đến trước ở khu vực Hồi Xuân - Lang Chánh, trên đường về thì bị
F-4 đuổi theo đến gần sân bay Kiến An. Biên đội Thái - Nam đang trực chiến cao, không được lệnh
công kích đẩy lùi tốp máy bay địch ra biển mà bay vào phía tây bắc Thanh Hoá, sát biên giới Việt -
Lào. Trên đường quay về thì lại bị 4 chiếc F-4 của hải quân Mỹ chặn đánh. Trong thế bị động, khi dầu
liệu chỉ còn đủ về hạ cánh an toàn ở Kiến An, biên đội được sở chỉ huy dẫn ra nghênh chiến. Ta và
địch đều phát hiện ra nhau ở thế gần như đối đầu và lập tức vòng quấn lấy nhau. Sau cú lượn vòng
chiến đấu gấp lên độ cao quan sát, thấy không thể đánh được, biên đội chủ động xin rút khỏi chiến
đấu sau khi đội trưởng bắn 1 quả tên lửa chiến thuật về phía địch. Nhưng số 2 lại bị mất đội, không
theo kịp số 1 lên độ cao có lợi nên bị 2 F-4 bắn liên tục 4 quả tên lửa và bị trúng đạn ở quả thứ 4, phi
công Phạm Thanh Nam hi sinh. Trận đánh sau đó được rút kinh nghiệm kỹ cả ở khâu tổ chức - chỉ
huy, cả ở động tác kỹ thuật, chiến thuật và hiệp đồng của biên đội.

Tháng 8 năm 1970, trong dịp khen thưởng các đơn vị và cá nhân có thành tích trong công
cuộc chống Mỹ bảo vệ miền Bắc, Nhà nước và Quốc hội đã tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân cho đại đội 1 thuộc Trung đoàn 921 và đại đội 2 thuộc Trung đoàn 923.
Đây là lần thứ hai đại đội 2 được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhân
dịp này, các đồng chí Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Ngọc Độ được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Phan Như Cẩn được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.

Cuối tháng 10 năm 1970, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức cuộc tập huấn quân sự lớn nghiên cứu
về chống tập kích đường không của không quân Mỹ. Sau đó tổ chức diễn tập theo các phương án
đánh B-52 từ Thái Lan sang yểm trợ cho bộ binh quân Mỹ, nguỵ với 32 tiểu đoàn lấn chiếm Cánh
Đồng Chum. Địch sử dụng máy bay B-52, AC-130, các loại máy bay cường kích như AD-6 chi viện
và yểm trợ hoả lực. Không quân ta có nhiệm vụ tiếp tục đánh B-52, AC-130 và các loại máy bay khác
của địch. Đồng thời sẵn sàng tham gia đánh địch ở mặt đất.

Trên chiến trường nam Khu 4, nhiệm vụ nghiên cứu, tìm cách đánh B-52 vẫn gặp nhiều
khó khăn. Bộ tư lệnh đã tổ chức một đoàn nghiên cứu gồm các sĩ quan tham mưu, tác chiến, dẫn
đường, quân báo, các phi công có kinh nghiệm chiến đấu do Phó tư lệnh Trần Mạnh trực tiếp chỉ huy
vào Khu 4 khảo sát thực tế. Ban ngày, đoàn trèo lên cả đỉnh đèo Mụ Giạ quan sát B-52 hoạt động để
tìm cách dẫn máy bay lên đánh. Khó khăn lớn nhất vẫn là hàng rào tiêm kích dày đặc bảo vệ. Dẫn như
thế nào để MiG qua được hàng rào bảo vệ mà không phải đụng đầu vào quần nhau với chúng. Những
ngày đoàn ở Thanh Hoá cũng như khi ở Nghệ An, máy bay B-52 vẫn tiếp tục đánh phá. Được cấp trên
động viên, chỉ đạo, đoàn quyết tâm phải tìm bằng được cách đánh, phải dẫn máy bay ta tiếp cận được
B-52 của Mỹ. Để thực hiện kế hoạch, Bộ tư lệnh đã điều động đơn vị radar dẫn đường vào Ba Đồn
(Quảng Bình) và Vĩnh Linh. Từ tháng 9 năng 1971, các đài radar dẫn đường tăng cường mở máy phát
hiện mục tiêu. Sau nhiều lần tìm cách khắc phục có hiệu quả, các đài radar đã phát hiện được đội hình
máy bay B-52 trên màn hình có nhiễu dày đặc. Kết quả đó làm cơ sở cho cơ quan tham mưu và các
phi công nghiên cứu tìm cách dẫn, cách đánh. Bộ tư lệnh chỉ thị cho Trung đoàn 921 sẵn sàng thực
hiện nhiệm vụ.

Lực lượng MiG-17 và MiG-21 trực tại sân bay Vinh, sân bay Anh Sơn đều chưa có điều
kiện xuất kích vì các đêm trước, B-52 đều không vào. Có lần radar ta phát hiện có B-52, cho máy bay
ta cất cánh, địch lại vòng ra. Bộ tư lệnh quyết định thay đổi phương án và chọn phi công Đinh Tôn là
người trực tiếp thực hiện phương án mới. Đinh Tôn là phi công MiG-21 có trình độ bay giỏi, đặc biệt
là bay thấp trên các địa hình. Anh là người thường được bay cất hạ cánh thử tại các sân bay mới, sân
bay vừa được sửa gấp và các sân bay dã chiến. Ngày 4 tháng 10 năm 1971, Đinh Tôn được lệnh cất
cánh từ sân bay Nội Bài, bay trên địa tiêu 100m vào hạ cánh tại sân bay Anh Sơn. Tới 17 giờ 30 phút
được lệnh cất cánh bay tiếp vào sân bay Đồng Hới, Đinh Tôn cho máy bay hạ cánh trực tiếp và được
lệnh để máy bay ngay đầu đường băng, sẵn sàng cất cánh khi có lệnh.

Lúc 19 giờ 8 phút, đại đội radar 41 phát hiện tốp B-52 vào cách biên giới 275 km. Phán
đoán địch sẽ vào đánh đường 12 và đường 20, sở chỉ huy lệnh cho Đinh Tôn cất cánh. Lúc đó là 19
giờ 10 phút.

Do nhiễu quá dày, từ 19 giờ 24 phút, đại đội radar 41 không bắt được tín hiệu máy bay ta
và mục tiêu. Được dẫn đường thông báo khu vực mục tiêu, Đinh Tôn kéo máy bay lên độ cao
11.000M, vừa bay vừa tìm kiếm bằng radar trên máy bay và bằng mắt. Phát hiện một chiếc đang bay
đối đầu ở độ cao 9.000M có đèn màu nhấp nháy, phán đoán là B-52, Đinh Tôn báo cáo về sở chỉ huy
rồi lao xuống, khi máy bay vừa vòng xuống thì mất mục tiêu. Ngay lúc đó, tiêm kích địch từ nhiều
hướng lao đến. Lượng dầu trên máy bay còn 1.800 lít, Đinh Tôn được lệnh bay về sân bay Thọ Xuân
hạ cánh.

Sau trận đánh này, Bộ tư lệnh tổ chức rút kinh nghiệm. Rất nhiều điều bổ ích trong cách
dẫn, cách quan sát tìm mục tiêu thời cơ cất cánh, độ cao bay được rút ra cho cán bộ chỉ huy, dẫn
đường, phi công để hoàn thiện thêm về cách đánh, cách dẫn cho MiG-21 đánh B-52. Ngay sau đó, Bộ
tư lệnh chỉ thị cho Trung đoàn 921 cơ động tiếp hai biên đội, mỗi biên đội hai chiếc MiG-21, một biên
đội vào sân bay Vinh và một biên đội vào sân bay Anh Sơn trực chiến đánh B-52. Ngày 20 tháng 10
năm 1971, cả hai biên đội đã có mặt tại vị trí được phân công, sẵn sàng làm nhiệm vụ.

Sau cuộc gặp MiG đêm ngày 4 tháng 10, máy bay B-52 lảng hẳn ra, chỉ hoạt động ở những
khu vực MiG không vươn tới được và phải hơn một tháng sau, thấy MiG không xuất hiện, chúng lại
bay vào.

Ngày 20 tháng 11 năm 1971, lúc 20 giờ, phát hiện có B-52 ở bắc Sầm Nưa 60km, sở chỉ
huy cho phi công Vũ Đình Rạng trực chiến ở sân bay Anh Sơn vào cấp I. Căn cứ vào hướng bay và sự
di chuyển của tốp B-52, lúc 20 giờ 30 phút, sở chỉ huy lệnh cất cánh. Lần này do công tác chỉ huy, dẫn
đường, bắt mục tiêu được chuẩn bị chu đáo, nên 16 phút sau khi cất cánh, Vũ Đình Rạng chỉ còn cách
địch 100km. Chiếc MiG-21 được dẫn dắt chính xác, phi công liên tục được thông báo tình hình. Ít
phút sau, Vũ Đình Rạng được lệnh lên độ cao 10.000M và thả thùng dầu phụ. Mặt đất thông báo mục
tiêu cách 15km, Vũ Đình Rạng bật radar sục sạo. Trên màn hình, tín hiệu mục tiêu phía trước xuất
hiện. Vũ Đình Rạng tăng tốc độ, vượt qua bọn F-4 đi bảo vệ, lao về phía tốp B-52 trước mặt. Chiếc B-
52 bay sau đã nằm gọn trong vòng ngắm. Tín hiệu tên lửa bắt mục tiêu tốt. Vũ Đình Rạng giữ ổn định
máy bay và phóng một quả tên lửa rồi kéo máy bay lên, vòng lại. Phát hiện chiếc B-52 thứ hai đang ở
phạm vi công kích có lợi, anh lướt tới phóng tiếp quả tên lửa còn lại, sau đó lao xuống thoát ly, trở về
sân bay Anh Sơn hạ cánh an toàn.
Đến trận này, không quân Việt nam đã đối mặt trực tiếp và nổ súng vào B-52. Đây cũng là
một chiến thắng, một chiến công đáng ghi nhớ. Bước trưởng thành mới của không quân ta đã được
khẳng định. Cách đánh B-52 đã được tìm ra và được thử nghiệm. Trận đánh càng khẳng định thêm
rằng MiG-21 hoàn toàn có thể bắn rơi B-52 của Mỹ. Nó mở ra cho không quân khả năng thực hiện
nhiệm vụ nặng nề nhưng vẻ vang phải bắn rơi máy bay chiến lược B-52 và phải bắn rơi tại chỗ.

Cuối tháng 11 năm 1971, Bộ tư lệnh không quân 371 được giao nhiệm vụ đặc biệt là sử
dụng 4 máy bay ném bom IL-28 và 6 đến 8 MiG-21 gấp rút chuẩn bị để bí mật tập kích, tiêu diệt căn
cứ sở chỉ huy của phỉ Vàng Pao ở Buôn Loọng. Nhiệm vụ có mật danh là K -60. Sơ đồ bố trí lực
lượng của căn cứ địch do trinh sát của ta vào tận nơi vẽ lại còn chỉ rõ từng căn nhà, nơi ở của tướng
Vàng Pao, sở chỉ huy, kho tàng, đường băng, sân đỗ máy bay. Trong số trinh sát đó có 1 đồng chí
nguyên là phi công chiến đấu Nguyễn Cát A. Nhiệm vụ sau đó không thực hiện do nhu cầu của chiến
trường không còn. Lực lượng quân tình nguyện Việt nam và quân giải phóng Lào đã tự giải quyết
được căn cứ này, chưa cần dùng đến không quân.

Vào thời gian này, mức độ căng thẳng tình hình trên không tăng dần, nhất là sau khi địch
tập kích không cứu được giặc lái ở Sơn Tây và phải chịu tổn thất trước những đòn tiến công ác liệt
của ta để giải phóng Cánh Đồng Chum từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 12 năm 1971. Không quân địch
gia tăng khiêu khích, tăng cường trinh sát có người lái, chủ động đưa máy bay ngăn chặn không quân
ta hoạt động, nhiều lần vào sâu trong nội địa miền Bắc.

Ngày 18 tháng 12 năm 1971, không quân địch hoạt động mạnh, tốp trinh sát bất ngờ thọc
sâu vào tới bắc Hà nội 30 đến 50km. Không quân ta xuất kích liên tục. Biên đội MiG-21 Đạo - Giáp
của Trung đoàn 921 phát hiện 2 chiếc F-4 đang trên đường bay từ khu vực Quan Hoá, Bá Thước,
Thanh Hoá ra biên giới Việt - Lào, đã nổ súng bắn rơi 1chiếc, chiếc còn lại bị mất tích. Không quân
Mỹ sau này thừa nhận rơi 2 chiếc trong trận này. Biên đội Dũng - Tôn Trung đoàn 921 gặp địch, nổ
súng nhưng máy bay địch không rơi. Biên đội Khánh - Dương Trung đoàn 921 được dẫn chặn đánh
biên đội F-4 bay từ tây sang đông qua phía bắc Nội Bài, bị tên lửa ta ở khu vực Thái Nguyên bắn
nhầm hi sinh.

Kết thúc năm 1971, nguy cơ "Việt nam hoá chiến tranh" của Mỹ không thành công vì trên
chiến trường cả 3 nước Đông Dương, các hành động quân sự của Mỹ và tay sai đều thua. Thất bại
nặng nề nhất là ở Đường 9 - Nam Lào, tiếp theo là thất bại của cuộc leo thang chiến tranh sang Căm-
pu-chia sau khi lật đổ chế độ xi-la-míc nhằm triệt phá căn cứ chỉ huy, lãnh đạo của Trung ương cục
mà Mỹ gọi là "đất Thánh" của cộng sản và chặt đứt đường tiếp viện chiến lược qua Căm-pu-chia.
Cuối cùng là những thất bại liên tiếp của Mỹ và tay sai trên cả chiến trường Trung và Nam Lào. Mỹ
đã không cô lập được cách mạng miền Nam, không bịt được đường biên giới Căm-pu-chia, không phá
được hành lang vận chuyển chiến lược của ta. Đặc biệt, không làm thay đổi so sánh lực lượng đang
ngày càng có lợi cho ta trên các chiến trường. Sức chiến đấu của quân đội Nam Việt nam, tay sai ở
Lào, Căm-pu-chia đều sút kém so với ta. Cuối cùng Mỹ không giành lại được thế, quyền chủ động
chiến lược trên chiến trường như mong muốn để tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán ở Paris.

Để phát huy thắng lợi lớn của những năm 1969-1971, chủ trương của ta năm 1972 là đẩy
mạnh tiến công quân sự, ngoại giao, đánh bại chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" của Mỹ, hình
thành cuộc Tổng tiến công trên toàn miền Nam để tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng.
Hướng chủ yếu là miền đông Nam Bộ, Trị- Thiên, Tây Nguyên.

II. THAM GIA ĐÁNH THẮNG KHÔNG QUÂN MỸ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2 RA MIỀN BẮC NĂM 1972

Trong thời kỳ Mỹ ném bom hạn chế trên miền Bắc, không quân tiêm kích ngoài nhiệm vụ
chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 và đánh máy bay trinh sát, đã tập trung củng cố, xây dựng lực
lượng, tăng cường huấn luyện. Đến năm 1971, số đầu máy bay chiến đấu và số phi công phản lực nhất
là MiG-21 đã tăng hơn nhiều lần so với ngày Bộ tư lệnh không quân ra đời. Theo đề nghị của Thường
vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, để phù hợp với tình hình và yêu
cầu nhiệm vụ chiến đấu, Bộ quốc phòng ra quyết định số 226/QP do Thiếu tướng Trần Quý Hai, Thứ
trưởng ký ngày 1 tháng 12 năm 1971, thành lập Trung đoàn không quân chiến đấu 927. Trung đoàn
được trang bị và sử dụng máy bay MiG-21. Lực lượng để tổ chức trung đoàn chủ yếu được tách từ
Trung đoàn 921 và một số phi công mới từ nước ngoài về. Ngày 3 tháng 2 năm 1972, tại căn cứ sân
bay Nội Bài, Trung đoàn không quân tiên kích 927 chính thức được thành lập. Đồng chí Nguyễn
Hồng Nhị được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Ưng làm chính uỷ. Trung đoàn 927
sử dụng sân bay Nội Bài làm căn cứ đóng quân.

Sau khi Trung đoàn 927 được thành lập. Trung đoàn 921 được lệnh chuyển toàn bộ số phi
công sang sử dụng máy bay MiG-21 F96 (Chú thích: Máy bay MiG-21 F96 là loại MiG-21 đã được
cải tiến, có hoả lực mạnh hơn, với bốn giá tên lửa dưới cánh (MiG-21 F94 chỉ có 2 giá)). Số máy bay
MiG-21 F94 được chuyển giao sang Trung đoàn 927.

Tình hình chiến sự căng thẳng và khẩn trương ngay từ những ngày đầu năm 1972. Máy bay
trinh sát Mỹ hoạt động liên tục. Các cuộc đánh phá vẫn tập trung nhiều ở khu vực Quân khu 4. Qua
những cuộc trinh sát hàng ngày trên toàn miền Bắc, nhất là khu vực Hà nội, Hải Phòng, các sân bay,
bến bãi, kho tàng, các khu công nghiệp rõ ràng địch có ý đồ đánh phá trở lại miền Bắc. Nhận định rõ
điều đó và được sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên, Bộ tư lệnh không quân tổ chức bố trí lại lực lượng
cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ. Căn cứ vào khả năng hoạt động của các loại máy bay, Bộ tư
lệnh giao nhiệm vụ cụ thể cho từng trung đoàn.

Trung đoàn 921 với căn cứ chính là sân bay Thọ Xuân, sử dụng máy bay MiG-21 F96
được giao đánh địch trên vùng trời Quân khu 4 và sẵn sàng cơ động chi viện cho Trung đoàn 927.
Việc tổ chức chuyển loại sang F96 cho Trung đoàn 921 phải tiến hành trong điều kiện phân tán lực
lượng ở nhiều nơi, lại bắt tay ngay vào nên có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả chiến đấu bảo vệ
vùng trời phía Đông và Đông-Bắc, bên cạnh đó tổ chức tiếp lực lượng tập bay đánh mục tiêu trên
biển. Trung đoàn 925 chuyển hẳn sang sử dụng MiG-19 bảo vệ vùng trời phía Tây và Tây - Bắc.

Bước vào năm 1972, lực lượng của Quân chủng phòng không- không quân cả mặt đất và
trên không đã được tăng cường đáng kể. Trung đoàn 919 ngoài bay vận tải quân sự, cơ động lực
lượng bay chuyên cơ, tiếp tục huấn luyện đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước. Tiểu đoàn máy bay
ném bom 929 buộc giải thể chuyển về Trung đoàn 919, sau đó khi nhận nhiệm vụ mới triệu tập lại lực
lượng khôi phục máy bay để huấn luyện và sẵn sàng nhận nhiệm vụ đánh các mục tiêu trên mặt đất.
Bộ tư lệnh không quân, ngoài sở chỉ huy cơ bản ở Bạch Mai, đã tổ chức củng cố và trực sở chỉ huy dự
bị ở khu vực gần Chùa Trầm thuộc địa phận Hà Tây. Ngày 28 tháng 2 năm 1972, Bộ tư lệnh ra quyết
định thành lập thêm sở chỉ huy ở Mộc Châu để chỉ huy bổ trợ cho các máy bay ta chiến đấu ở khu vực
Tây Bắc. Sở chỉ huy Mộc Châu trực thuộc Trung đoàn 927.

Tháng 1 năm 1972, Quân chủng giao nhiệm vụ cho không quân tham gia đánh máy bay B-
52 và công kích yểm hộ cho chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với các phương án uy hiếp
và tiến công tiêu diệt B-52 khi chúng vượt qua biên giới Thái Lan - Lào.

Tháng 1 năm 1972, không quân ta chuẩn bị tham gia nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở
căn cứ Buôn Loọng, hiệp đồng với chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Phương án chiến
đấu là ta sử dụng từ 2 đến 4 chiếc máy bay IL-28, 4 đến 6 chiếc MiG-21 theo đường bay IL-28 (Nội
Bài-Nà Sản - Buôn Loọng), MiG-21 cất cánh từ Thọ Xuân làm nhiệm vụ yểm hộ cho biên đội IL-28.

Tháng 3 năm 1972, Thường trực quân uỷ Trung ương ra nghị quyết tiến hành cuộc tiến
công chiến lược năm 1972, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên và chỉ rõ: "Chiến dịch Trị -
Thiên là chiến dịch quy mô lớn, 1 chiến dịch hiệp đồng binh chủng, 1 chiến dịch tổng hợp cả quân sự
và chính trị (Chú thích: Tổng kết tác chiến, chiến lược trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ (1945- 1975). Nxb QĐND. Trang 560)

Ngày 2 tháng 3 năm 1972, Bộ tư lệnh quyết định điều động toàn bộ Trung đoàn 921 vào
đóng tại căn cứ sân bay Thọ Xuân. Sân bay Nội Bài do Trung đoàn 927 sử đụng và tiếp tục sửa chữa,
khôi phục phần bị đánh phá. Các sân bay dự bị, sân bay dã chiến cũng được sửa chữa, khôi phục và
triển khai để phục vụ các trung đoàn bay cơ động chiến đấu. Những tháng đầu năm 1972, lực lượng
không quân chiến đấu của ta đã khá mạnh, được bố trí phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

Ngày 3 tháng 3 năm 1972, một tổn thất lớn với bộ đội không quân đã xảy ra, đó là tai nạn
đúp của Bộ tư lệnh không quân. Máy bay Li-2 chở gần 20 cán bộ, phi công, thợ máy cơ động vào
Vinh để chuẩn bị tham gia chiến đấu chi viện cho chiến dịch Trị - Thiên đã bị tên lửa của ta bắn nhầm,
toàn bộ lực lượng trên máy bay hi sinh. Cùng ngày đồng chí Bùi Kim Long, phi đội phó, phi đội 1
Trung đoàn 921 hạ cánh, càng không ra hết, máy bay xông ra ngoài, đâm vào hố bom bốc cháy, phi
công hi sinh.

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, ta tổ chức tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam
phá vỡ tuyến phòng ngự chiến lược vòng ngoài ở Đông Hà, Quảng Trị. Chiến lược "Việt nam hoá
chiến tranh" của địch đứng trước nguy cơ bị phá sản. Tổng thống Mỹ Nixon với quan điểm sử dụng
sức mạnh đã quyết định huy động lực lượng lớn không quân và hải quân tiến hành cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc Việt nam. Mục đích của cuộc chiến tranh này là nhằm bao vây,
cô lập miền Bắc, chặn đứng sự viện trợ từ ngoài vào và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn
miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Đồng thời, chúng còn nhằm củng cố tinh thần cho quân nguỵ Sài Gòn và gây sức ép với ta ở Hội nghị
Paris.

Để thực hiện ý đồ đó, Mỹ đã điều động thêm hai tàu sân bay cùng 58 tàu chiến thuộc hạm
đội 7 vào vịnh Bắc Bộ, nâng tổng số tàu sân bay của Mỹ ở khu vực này lên 66 chiếc. Máy bay chiến
thuật được huy động tới 1.077 chiếc và 150 máy bay chiến lược B-52.
Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ 2 bằng không quân, địch có những
thay đổi về trang bị, thủ đoạn tác chiến so với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, trong đó nổi bật
là sử dụng tương đối đồng nhất chủng loại máy bay chiến thuật tham gia tiến công (F-4 các loại, C, B,
J, R của không quân và F-8, A-7 của không quân hải quân). Vũ khí không đối đất, không đối không
được cải tiến (tầm bắng tăng, độ chính xác cao hơn) nhất là đã đưa loại vũ khí chính xác vào đánh một
loạt cầu cống, nhà máy, kho tàng chiến lược của ta). Đưa tàu tên lửa lên rất cao, ngang với cửa biển
Diêm Điền, Trà Lý để từ đó khống chế các máy bay của ta ra hướng biển, có những quả tên lửa của
hạm tàu bắn với tới gần Hải Dương khi máy bay ta lên độ cao 4.000M. Đồng thời chế áp điện tử mạnh
trên các tần số hoạt động của radar cảnh giới, dẫn đường, radar trên máy bay của ta, radar điều khiển
tên lửa và cả các tần số liên lạc đối không của máy bay ta.

Địch giành ưu tiên đối phó quyết liệt với không quân và tên lửa ta bằng các thủ đoạn: Từng
đội hình tiến công không lớn (8 đến 12 chiếc, thay cho các đội hình 24 chiếc đến 36 chiếc trước đây).
Trong đó số máy bay tiêm kích trong đội hình tăng lên 1/2 đến 2/3, địch sử dụng nhiều biện pháp nghi
binh, đánh lừa (giả máy bay B-52, đội hình tiêm kích giả cường kích), nhất là trong những đợt, những
trận đánh để giành chiếc máy bay chẵn trăm, chẵn nghìn, số lượng tiêm kích tự do và tiêm kích chặn
đánh các khu vực, chế áp sân bay, phục kích các máy bay ta lúc lên, xuống sân bay hoặc đang bay
huấn luyện.

Ngày 6 và ngày 7 tháng 4 năm 1972, máy bay địch đánh phá dữ dội vào nhiều vùng thuộc
tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh.

Trước tình hình khẩn trương và quyết liệt, ngày 9 tháng 4, Bộ Tổng tham mưu ra lệnh cho
lực lượng vũ trang trên toàn miền Bắc chuyển vào trạng thái thời chiến. Thực hiện chỉ thị và mệnh
lệnh của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân ra lệnh chuyển toàn quân chủng
sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ.

Ngày 10 tháng 4, để thăm dò dư luận và mở màn cho bước leo thang mới của chiến dịch
mang tên "Linerbacker I” ra miền Bắc, đế quốc Mỹ đã huy động 50 lần chiếc máy bay, có 12 chiếc B-
52 đánh phá ác liệt khu vực Vinh - Bến Thuỷ. Ngay sau đó, ngày 13 tháng 4, chúng đánh Hàm Rồng,
sân bay Thọ Xuân.

Ngày 15 tháng 4, toàn quân chủng chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
Theo thông báo của Bộ, B-52 sẽ đánh vào Hải Phòng.

Đúng như dự đoán của cấp trên, ngày 16 tháng 4 năm 1972, đế quốc Mỹ leo tiếp nấc thang
mới. Từ 3 giờ sáng đến chiều, 270 lần chiếc máy bay địch, trong đó có nhiều lần tốp B-52 ồ ạt đánh
vào thành phố Hải Phòng. Đồng thời, pháo từ hạm tàu của chúng ngoài biển bắn vào khu vực Đồ Sơn
hơn 400 quả. Cùng ngày, từ 9 giờ 15 phút đến 10 giờ, 60 lần chiếc máy bay của không quân chiến
thuật từ Thái Lan bay sang đánh vào kho xăng Đức Giang.

Tuy đã có sự chuẩn bị và nhận định đúng tình hình nhưng chúng ta vẫn bị lúng túng, chưa
ứng phó kịp. 30 lần chiếc máy bay (10 lần chiếc MiG-21, 14 lần chiếc MiG-17, 6 lần chiếc MiG-19)
xuất kích từ các căn cứ không quân ở Nội Bài, Yên Bái, Kép, Gia Lâm, Thọ Xuân, Anh Sơn đuổi địch
sang cả Lào, nhưng không bắn rơi được chiếc nào, lại bị chúng bắn rơi ba chiếc của biên đội đồng chí
Dũng - đồng chí Thương Trung đoàn 921 và biên đội đồng chí Nghi Trung đoàn 927. Nguyên nhân
chính là phán đoán địch chưa đúng, dẫn đến đánh chưa đúng đối tượng. Mục tiêu của không quân ta
chủ yếu đánh B-52 nhưng F-4 tiêm kích đã bay ở độ cao 10km và gây nhiễu giả dạng B-52. Ta đã
không phát hiện được.

Ngay trong buổi tối ngày 16 tháng 4, đánh giá về các trận chiến đấu trong ngày của các
đơn vị bảo vệ Hà nội, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri kết luận: Nguyên nhân chưa đánh được B-52
không phải do lực lượng ta ít mà do địch đã đổi mới về trang bị nhiễu điện tử, nhưng chủ yếu là trình
độ tổ chức chỉ huy phán đoán, phát hiện và theo dõi quản lý địch chưa chắc. Bộ tư lệnh Quân chủng
cũng chỉ đạo kịp thời toàn quân chủng, đặc biệt là Sư đoàn phòng không 363, Sư đoàn phòng không
361, Bộ tư lệnh không quân và Bộ tư lệnh Radar khẩn trương rút kinh nghiệm đợt chiến đấu vừa qua.
Căn cứ vào kết quả rút kinh nghiệm chiến đấu của các đơn vị, Bộ tư lệnh Quân chủng nhận thấy sau
khi đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, tư tưởng chủ
quan, thoả mãn và dừng lại đã xuất hiện nhưng chưa được phát hiện để kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh,
do đó các biện pháp chuẩn bị chiến đấu chưa được tốt. Mặt khác, địch leo thang nhanh, ồ ạt, dữ dội,
thủ đoạn mới, ta chưa kịp thời ứng phó, do đó mục tiêu bảo vệ chưa được tốt, để tổn thất lớn và nhân
dân bị thương vong nhiều.

Ngày 17 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân chủng triệu tập hội nghị quân chính để triển khai công
tác quân sự trong thời gian tới và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị.

Sau khi nhận nhiệm vụ ở Quân chủng về, Tư lệnh kiêm Chính uỷ Không quân Đào Đình
Luyện tổ chức cuộc họp khẩn cấp gồm một số cán bộ chủ chốt Bộ tư lệnh và các trung đoàn, phổ biến,
quán triệt tình hình chung và kiểm tra cụ thể, tỉ mỉ một lần nữa phương án đánh địch trên biển đã
được triển khai. Đồng chí Tham mưu trưởng Nguyễn Phúc Trạch được Bộ tư lệnh phân công vào
Quảng Trạch (Quảng Bình) từ trước đã tổ chức xong sở chỉ huy tiền phương sẽ trực tiếp chỉ đạo
phương án đánh tàu chiến địch. Trung đoàn 923 được giao nhiệm vụ thực hiện phương án và đã phân
công, trung đoàn phó Lưu Huy Chao tổ chức sở chỉ huy trực tiếp ở Đồng Hới; Trung đoàn phó Cao
Thanh Tịnh tổ chức và chỉ huy máy bay cất, hạ cánh ở sân bay Gát (Quảng Bình). Để phối hợp thực
hiện phương án, Bộ tư lệnh bố trí một tổ chỉ huy bổ trợ tại sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh Hải
quân, một đài quan sát tại Cửa Dinh và đặt trạm radar 403 đối hải ở cửa Nhật Lệ, thu thập tin tình báo
trên biển cung cấp cho sở chỉ huy.

Phương án dùng máy bay tiêm kích mang bom đánh tàu chiến địch trên biển đã được thông
qua và tổ chức chuẩn bị từ cuối năm 1971. Một số phi công MiG-17 được tuyển chọn huấn luyện bay
biển và ném bom mục tiêu trên biển. Được sự giúp đỡ của phi công có kinh nghiệm do quân đội Cuba
cử sang, tới tháng 3 năm 1972, sáu trong số 10 phi công của trung đoàn tham gia huấn luyện đã thuần
thục động tác bay thấp trên biển và thành thạo kỹ thuật lúc vào công kích địch.

Sân bay Khe Gát do đơn vị công binh 28 bí mật thi công đã gấp rút hoàn thành và đảm bảo
yêu cầu cho máy bay MiG cất, hạ cánh. Đây là một sân bay dã chiến, chỉ có một đoạn đường băng
bằng đất nện và một khu vực cất giấu máy bay. Các đài bổ trợ, quan sát, sở chỉ huy tạm thời đều được
triển khai trên núi. Trong suốt thời gian thi công cho tới khi hoàn thành, sân bay Khe Gát giữ được bí
mật. Địch không phát hiện được, kể cả các trang thiết bị, phương tiện và các mặt bảo đảm cho máy
bay hoạt động đã được tập kết ở khu vực xung quanh sân bay.

Một số phi công sau khi huấn luyện khoa mục mới xong đã vào sân bay Khe Gát từ ngày
10 tháng 4 cùng các cán bộ sở chỉ huy dã chiến các cấp tập trung nghiên cứu quy luật hoạt động của
máy bay, tàu chiến dịch, chuẩn bị cho việc đưa máy bay vào trực chiến ở sân bay Khe Gát. Lực lượng
đảm bảo mặt đất cũng đã đưa khí tài các loại và một số cơ số bom tập kết ở vị trí an toàn, bí mật.

Sau một tuần quan sát, theo dõi, nghiên cứu quy luật hoạt động của địch, các cán bộ, phi
công đi chuẩn bị chiến trường báo cáo về Bộ tư lệnh thời điểm thuận lợi nhất cho máy bay bí mật cơ
động vào sân bay Khe Gát. Được Bộ tư lệnh trực tiếp chỉ đạo, vào lúc 15 giờ 45 phút, Trung đoàn 923
tổ chức cho phi công Lê Hồng Điệp và phi công Từ Đễ cơ động hai chiếc MiG-17 vào Quân khu 4.
Biên đội cất cánh từ Kép, bay về sân bay Gia Lâm rồi bay tiếp vào sân bay Vinh. Tới đây để đảm bảo
bí mật, sở chỉ huy điều hành từng chiếc máy bay một bay từ Vinh vào sân bay Khe Gát. Cả hai chiếc
MiG-17 đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Khe Gát và được các nhân viên kỹ thuật kiểm tra lại, chuẩn
bị đầy đủ các mặt bảo đảm cho máy bay trực chiến rồi đưa vào vị trí an toàn, sẵn sàng đợi lệnh.

Phi công Lê Xuân Dị và phi công Nguyễn Văn Bảy nhận nhiệm vụ trực ban chiến đấu. Từ
9 giờ 30 phút, các trạm radar quan sát đã phát hiện các tốp tàu địch vào nhưng chúng còn ở xa ngoài
khơi. Các sở chỉ huy cả không quân và hải quân, các đài bổ trợ. trạm quan sát liên tục theo dõi, bám
sát các hoạt động của địch. Tới 15 giờ, một tốp bốn chiếc tàu địch đã vào đến đông Lý Hoà 15km,
một tốp ba chiếc ở đông-nam Lý Hoà 18km, đặc biệt, một tốp hai chiếc đã tới đông Quảng Trạch 7
km. 16 giờ, một tốp tàu địch vào tới đông Nhật Lệ 16km. Nhận định đây là thời cơ thuận lợi, lúc 16
giờ 5 phút sở chỉ huy lệnh cho biên đội trực chiến cất cánh.

Hai chiếc MiG-17 được dẫn bay chếch về bên trái điểm cao 280, cách bờ biển 10km rồi
vòng phải, liên lạc trực tiếp với sở chỉ huy Đồng Hới. Được thông báo vị trí địch và công kích tốp tàu
đó, sau khi vượt qua cửa Lý Hoà, hai phi công giữ độ cao bay ổn định là 500m trên mặt biển, tốc độ
800km/giờ và tập trung quan sát tìm mục tiêu. Cách khoảng 10 đến 12 km, biên đội nhìn thấy hai vệt
sáng trắng trên mặt nước xanh, quan sát kỹ thấy đó là hai chiếc tàu đang chạy. Số 1 thông báo cho sở
chỉ huy đã phát hiện mục tiêu.

Được lệnh công kích, số 1 tiếp tục giữ ổn định độ cao, tốc độ bay hướng về phía tàu địch.
Còn cách mục tiêu 750m, Lê Xuân Dị chỉnh lại đường ngắm rồi cắt bom. Hai quả bom loại 250kg từ
máy bay rơi xuống. Sau khi chạm mặt nước, cả hai quả bom bật lên lao thẳng vào và nổ ngay sát thân
tàu địch. Vòng máy bay về, Lê Xuân Dị còn nhìn rõ cột nước vọt cao.

Giãn cách đội hình hơi xa, lúc được lệnh vòng lại, không nhìn thấy biên đội trưởng, số 2
tiếp tục vòng ra phía biển. Tới khi bay qua Cửa Dinh, phát hiện hai tàu địch phía dưới, Nguyễn Văn
Bảy lập tức vòng ngay lại công kích luôn. Cách mục tiêu 750m, anh báo cáo về sở chỉ huy và cắt
bom. Cũng đúng vào lúc cắt bom mới nghe thấy số 1 hỏi. Số 2 trả lời thấy cột nước vọt lên cạnh thân
tàu rồi vòng trở về. Biên đội được dẫn về hạ cánh xuống sân bay Khe Gát lúc 16 giờ 22 phút.
Sau 17 phút chiến đấu, biên đội đã trở về an toàn. Theo kết quả quan sát và sự thú nhận của
địch, cả bốn quả bom đều trúng mục tiêu. Hai tàu khu trục địch bị đánh hỏng, trong đó tàu Hegbee bị
hỏng nặng.

Ngay sau khi máy bay ta vừa về hạ cánh, địch đã vào đánh phá dữ dội sân bay Đồng Hới.
Hôm sau, ngày 20 tháng 4, chúng đánh sân bay Vinh. Và tới ngày 22 tháng 4 chúng mới phát hiện ra
và tập trung đánh phá huỷ diệt sân bay Khe Gát. Một chiếc MiG-17 bị đánh hỏng, chiếc còn lại bay về
được sân bay Gia Lâm hạ cánh an toàn.

Trận đánh đầu tiên của không quân tiêm kích mang bom tiến công tàu khu trục thuộc hạm
đội 7 Mỹ đã được Bộ tư lệnh chuẩn bị rất công phu. Trung đoàn 923 tổ chức triển khai thực hiện hoàn
chỉnh, đầy đủ, huấn luyện kỹ càng. Các đơn vị bổ trợ hiệp đồng đồng bộ, nắm địch chắc, phi công
dũng cảm, thông minh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy đã chọn đúng thời cơ, chọn mục tiêu công kích
cho phi công phù hợp. Trận đánh thắng đã khẳng định bước tiến mới, vững vàng của không quân nhân
dân, cả trên không, mặt đất, cả chỉ huy và các mặt bảo đảm. Trận đánh thắng cũng mở ra một hướng
mới trong việc xây dựng và phát triển một lực lượng mới trong không quân ta: Lực lượng không quân
tiêm kích-bom.

Mới chỉ những ngày đầu của cuộc chiến tranh đánh phá lần thứ hai ra miền Bắc, đế quốc
Mỹ đã phơi bày dã tâm và những thủ đoạn vô cùng thâm độc. Chúng tổ chức đánh phá ồ ạt ác liệt và
đồng loạt chứ không leo thang từng bước như thời Johnson. Vũ khí được cải tiến hiện đại hơn, các
phương tiện khống chế ta cũng hiện đại hơn. Không chỉ đánh phá các mục tiêu mặt đất, chúng còn thả
thuỷ lôi phong toả các cảng biển, cửa sông, đặc biệt là cảng Hải Phòng. Chúng ra sức khống chế bầu
trời. Bên cạnh đó còn khống chế cả đường biển nhằm ngăn chặn, cắt đứt sự liên hệ của ta với bên
ngoài, với các nước. Chúng định dùng sức mạnh cô lập ta hoàn toàn.

Để tập trung đối phó với ý đồ thâm độc và sự đánh phá ác liệt của chúng ở phía bắc, theo
chỉ thị của cấp trên, Trung đoàn 921 được lệnh cơ động về các sân bay ngoài Bắc trực-chiến. Một số
chiếc vẫn tiếp tục trực và chiến đấu ở chiến trường Khu 4, còn phần lớn được cơ động ra các sân bay
Kép, Yên Bái, Hoà Lạc, Nội Bài. Lực lượng trực ở sân bay Anh Sơn được rút ra sân bay Miếu Môn.
Các đại đội radar đều có các đài bổ trợ chỉ huy của trung đoàn không quân tiêm kích. Trung đoàn 921
tổ chức đài chỉ huy bổ trợ ở đại đội radar 45, Trung đoàn 927 tổ chức đài chỉ huy bổ trợ ở đại đội
radar 43. Đại đội radar 26 được tổ chức thêm một đài chỉ huy bổ trợ của Bộ tư lệnh không quân.

Sau khi cơ động lực lượng, Trung đoàn 921 tham gia xuất kích chiến đấu. Ngày 27 tháng 4
năm 1972, biên đội Hoàng Quốc Dũng - Cao Sơn Khảo cất cánh từ sân bay Nội Bài đánh địch trên
vùng trời Nam Hà. Sau ít phút chiến đấu phi công trẻ Hoàng Quốc Dũng đã bắn rơi một chiếc F-4 của
địch. Biên đội trở về an toàn.

Trung đoàn 925 từ ngày thành lập đã tập trung huấn luyện nâng cao và chuẩn bị mọi mặt
chu đáo cho trận ra quân đầu tiên. Ngày 8 tháng 5 năm 1972, trung đoàn tổ chức xuất kích trận đầu.
Hai biên đội trực chiến, một trực ở phía bắc và một trực ở phía nam sân bay Yên Bái. Mỗi biên đội
bốn chiếc MiG-19. Trung đoàn 925 sẽ đánh địch ngay trên khu vực đỉnh sân bay. Để tạo điều kiện cho
Trung đoàn 925 trận đầu ra quân đánh thắng và hiệp đồng chiến đấu bảo vệ mục tiêu, Bộ tư lệnh cho
Trung đoàn 921 cất cánh một biên đội hai chiếc, đánh địch ở khu vực Tuyên Quang nhằm thu hút một
phần lực lượng địch và yểm hộ cho MiG-19 của Trung đoàn 925 chiến đấu.

Bảy phút sau khi biên đội MiG-21 cất cánh, vào lúc 8 giờ 47 phút, biên đội MiG-19 trực
chiến ở phía bắc sân bay Yên Bái của Trung đoàn 925 được lệnh cất cánh. Biên đội trưởng Nguyễn
Ngọc Tiếp bay số 1, Nguyễn Đức Tiêm bay số 2, Phạm Hùng Sơn bay số 3 và Nguyễn Hồng Sơn bay
số 4.

Sau tám phút chiến đấu, bốn chiếc MiG-19 của Trung đoàn 925 đánh quần với 12 chiếc F-4
ngay trên vùng trời sân bay căn cứ, bắn rơi tại chỗ hai chiếc và trở về hạ cánh an toàn, mở đầu truyền
thống vẻ vang của mình - trận ra quân đầu tiên bắn rơi máy bay địch, bảo vệ an toàn lực lượng, thực
hiện đúng quyết tâm của trung đoàn và sự mong đợi tin tưởng của cấp trên, của các đơn vị bạn, đánh
thắng địch ngay từ trận đầu. Cũng từ ngày 8 tháng 5 năm 1972, cả MiG-17, MiG-21 và MiG-19 cùng
tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc. Cả bốn trung đoàn không quân tiêm kích 921, 923, 925,
927 cùng vào trận, cùng sát cánh bên nhau và cùng nhau chiến thắng. Sức mạnh của không quân tiêm
kích Việt nam được nâng lên đáng kể.

Từ ngày đầu tháng 5, những trận chiến đấu của không quân ta với bọn cướp trời Mỹ trở
nên ác liệt hơn. Bọn địch đánh phá với quy mô rộng hơn, số lượng máy bay đông hơn, vũ khí được cải
tiến, hiện đại. Mới chỉ ít ngày đánh phá trở lại miền Bắc, các loại khí tài, phương tiện đã được cải tiến,
máy bay các loại có tính năng không chiến ưu việt nhất của chúng được tung vào miền Bắc. Chúng ta
chưa kịp làm quen và phải đương đầu với chúng. Vừa đánh vừa rèn luyện, vừa đánh vừa rút kinh
nghiệm, vừa đánh vừa tìm cách đánh phù hợp nhất, hiệu quả nhất cho các loại máy bay tiêm kích hiện
có của ta.

Ngày 10 tháng 5 năm 1972 cả bốn trung đoàn không quân tiêm kích đều tham gia chiến
đấu với 64 lượt chiếc xuất kích. Hai biên đội MiG-21, hai chiếc của Trung đoàn 921, một biên đội bốn
chiếc MiG-17 của Trung đoàn 923, hai biên đội mỗi biên đội bốn chiếc MiG-19 của Trung đoàn 925
và một biên đội bốn chiếc MiG-21 của Trung đoàn 927 xuất kích trong ngày.

Năm biên đội với 16 máy bay các loại tham gia chiến đấu trong ngày, bắn rơi được 4 chiếc
F-4 của địch nhưng bị tổn thất 7 máy bay, 5 phi công hi sinh. Điều này càng nói lên tính chất ác liệt
trong những trận đánh của không quân ta với lực lượng tiêm kích Mỹ trong cuộc chống chiến tranh
phá hoại lần thứ hai trên miền Bắc.

Tối ngày 10 tháng 5, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng
Bộ quốc phòng đã trực tiếp nghe Tư lệnh không quân Đào Đình Luyện báo cáo tình hình chiến đấu
trong những ngày vừa qua. Đại tướng khen ngợi tinh thần chiến đấu mưu trí, dũng cảm của bộ đội
không quân và chỉ đạo: Bộ đội không quân cần tiếp tục chủ động tiến công, bí mật bất ngờ, đánh chắc
thắng và phê phán tư tưởng "một đổi một" mới nảy sinh là không đúng đắn, cần loại trừ ngay.

Ngày hôm sau, 11 tháng 5 năm 1972, địch ồ ạt vào đánh phá khu vực Hà nội. Trung đoàn
927 được lệnh tiếp tục xuất kích chặn đánh các tốp địch vào đánh Hà nội. Lúc 14 giờ 43 phút, biên
đội Ngô Văn Phú số 1 và Ngô Duy Thư số 2 được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài, đón đánh địch
trên vùng trời Hải Dương. Sau khi Ngô Duy Thư bắn rơi chiếc F-105 của địch, Ngô Văn Phú một phi
công còn rất trẻ đã bắn rơi chiếc F-4 do tên trung tá Kít-tin-gơ lái, một phi công đã có tới 7.300 giờ
bay trên các loại máy bay.

Sau khi bắn rơi máy bay địch, Ngô Văn Phú vòng thoát ly. Chưa kịp kéo lên, máy bay anh
bị tên lửa của bọn F-4 bám đuôi bắn trúng, không điều khiển được nữa. Ngô Văn Phú đã nhảy dù an
toàn. Bọn địch giãn ra. Ngô Duy Thư được lệnh bay về sân bay Nội Bài hạ cánh.

Ngày 12 tháng 5, Bộ tư lệnh không quân tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu.
Trước thực tế mặt trận trên không càng ngày càng ác liệt, các F-4 Mỹ được cải tiến, trang bị cả tên lửa
lẫn súng 20 mm, MiG-17 và MiG-19 gặp nhiều khó khăn trong các trận đánh quần. Mỹ lại đưa F-4B
thay thế dần F-105 làm nhiệm vụ cường kích. Chúng vừa mang bom đánh phá mục tiêu, lại vừa mang
tên lửa, nếu gặp MiG vứt ngay bom lao vào không chiến. Trong khi đó, phi công ta nhiều đồng chí
còn mới chưa qua chiến đấu, chưa có kinh nghiệm đã không tránh được những tổn thất. Cách đánh
của MiG-17 không còn phù hợp, đã bộc lộ những hạn chế. Cả MiG-19 cũng vậy, chưa tìm được cách
đánh phù hợp, bắn rơi được địch nhưng bị tổn thất nhiều. Hội nghị đã chỉ rõ những mặt được và chưa
được của hoạt động tác chiến không quân, nhất là trong tổ chức, chỉ huy. Nổi lên là: Có trận chủ
trương không rõ ràng, sử dụng lực lượng phân tán, nắm địch chưa chắc, đánh chưa đúng đối tượng
mục tiêu, chưa tổ chức được những trận đánh hiệp đồng, sử dụng lực lượng không hết (vì phát hiện
địch muộn do radar bắt gần) chưa phát huy được tính năng từng loại máy bay và cách đánh sở trường
của từng loại máy bay: MiG-19, MiG-17, chưa tìm được cách đánh có hiệu quả, tổn thất lớn. Đặc biệt,
MiG-19 tổn thất do tai nạn chiến đấu xấp xỉ bằng tổn thất do địch bắn. Trong 6 tháng đầu năm 1972,
không quân ta đã bắn rơi 41 chiếc máy bay, song cũng chịu nhiều tổn thất, hi sinh.

Trong hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh đã chỉ đạo các đơn vị kịp
thời quán triệt phương châm đánh chắc thắng, tiêu diệt địch bảo vệ mục tiêu nhưng phải giữ gìn, bồi
dưỡng lực lượng ta. Phải chấm dứt ngay tư tưởng cay cú, tư tưởng "một đổi một" đã nảy sinh ở một số
người, nhất là ở các phi công; phát huy yếu tố bí mật, bất ngờ, giành thế chủ động trong mọi tình
huống. Các sở chỉ huy, các đài bổ trợ được chấn chỉnh lại. Để đáp ứng tình hình thực tế chiến đấu
trong thời gian tới, phần lớn máy bay ta đã được chuyển ra ngoài vĩ tuyến 20.

Xuống làm việc và trực tiếp chỉ đạo hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ
quốc phòng đã nói chuyện, động viên và giao nhiệm vụ cụ thể cho bộ đội phòng không-không quân.
Sau khi quán triệt tình hình quốc tế trong nước, Đại tướng khẳng định: Quyết tâm giải phóng miền
Nam cửa ta là không gì lay chuyển nổi. Ta đang đánh mạnh và sẽ đánh mạnh hơn, thắng lợi to lớn hơn
ở các chiến trường. Bộ đội phòng không - không quân phải tìm hiểu và nắm đúng tính chất cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc kiểu Nixon như thế nào? nhiệm vụ là phải đánh thắng ròn rã, gây thiệt hại
nặng nề nhất cho không quân Mỹ. Đại tướng phân tích: "Cuộc chiến tranh giữa ta và Mỹ có sự chênh
lệch lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, vì vậy phải nỗ lực thật lớn đế nâng cao trình độ khoa học kỹ
thuật của chúng ta, địch nhất định dùng B-52 đánh miền Bắc. Phải thường xuyên nghiên cứu, nghiên
cứu kỹ, sâu sát không quân địch để hiểu rõ chúng. Không quân ta chỉ tương đối hiện đại nhưng nhìn
chung, tổng thể (nhất là tổ chức, chỉ huy) còn kém địch. Vì vậy, phải xem xét, cải tiến, hoàn chỉnh
cách đánh, rút kinh nghiệm kịp thời cả thắng, cả thất bại, phải luôn chủ động, tiến công áp đảo địch, tổ
chức chỉ huy phải chủ động hơn, quan tâm sớm đánh hay không đánh, phải có những sân bay bí mật
để phân tán lực lượng chủ động đánh, luôn thay đổi cách đánh; hạn chế “khu chờ" và không nên gọi là
“khu chờ" vì ta kiên quyết tiến công, không chờ mà phải chủ động tìm địch mà đánh. Sở chỉ huy phải
quyết đoán cao, không chần chừ, nhưng phải giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ. Quân uỷ Trung ương
luôn quan tâm đến chiến đấu của không quân, đến từng trận đánh, từng người lái. Một số trận đánh
vừa qua không thật tốt, mới rồi để tổn thất hi sinh là rất tiếc, phải rút kinh nghiệm".

Những ngày cuối tháng 5 năm 1972, MiG-19 của Trung đoàn 925 liên tiếp bị tổn thất trong
các trận không chiến. Từ ngày 18 đến hết tháng 5, MiG-19 đánh 4 trận, bắn rơi 3 chiếc F-4 nhưng bị
địch bắn rơi 4 chiếc, 1 phi công hi sinh. Trong những ngày đó, các trung đoàn 921, 923, 927 cũng tổ
chức đánh một số trận. Ngày 18, phi công Hán Vĩnh Tưởng Trung đoàn 923 bắn rơi một chiếc F-4,
phi công Nguyễn Ngọc Hưng, Trung đoàn 927 bắn rơi 1 F-4, phi công Nguyễn Đức Tiên, Trung đoàn
925 bắn rơi 1 chiếc F-4. Ngày 23 tháng 5 phi công Vũ Văn Đang, Nguyễn Văn Điển Trung đoàn 923
bắn rơi hai chiếc F-4, phi công Nguyễn Đức Soát bắn rơi một chiếc A-7. Phi công Đỗ Văn Lanh Trung
đoàn 921 ngày 20 tháng 5 bắn rơi một F-4 và ngày 24 trong lúc trở về sau trận chiến đấu máy bay bị
hết dầu, tắt máy khi còn cách sân bay 45km. Được phép nhảy dù, nhưng Đỗ Văn Lanh đã tận dụng lợi
thế máy bay đang ở độ cao 5.500m và tốc độ vẫn còn 760km một giờ, bình tĩnh đưa máy bay về sân
bay hạ cánh an toàn.

Sau hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu qua các trận đánh trong tháng 5 do Bộ tư lệnh triệu
tập trong hai ngày 22 và 23, các đơn vị nhanh chóng triển khai các phương án đã được vạch ra. Trong
tháng 6 năm 1972, MiG-21 của Trung đoàn 921 và 927 đánh tốt, liên tiếp lập công, trong tháng đã bắn
rơi gần 20 máy bay địch chủ yếu là F-4. Trong khi đó MiG-17 của Trung đoàn 923, MiG-19 của
Trung đoàn 925 hầu như không đánh được, còn bị tổn thất một số máy bay.

Ngày 24 tháng 6, phi công Phạm Phú Thái Trung đoàn không quân 921 bắn rơi 2 chiếc, 3
phi công Nguyễn Đức Soát Ngô Duy Thư, Nguyễn Văn Nghĩa, Trung đoàn 927 bắn rơi 3 chiếc F-4.
Các phi công Lanh, Đạo, Liêm, Nhu, mỗi đồng chí bắn rơi 1 chiếc. Trong đó có một số máy bay
không người lái.

Ngày 25 tháng 6, Trung đoàn 921 bắn rơi 1 chiếc A-7, ngày 26 bắn rơi 1 chiếc A-4. Trong
các trận đánh ta đều bắn rơi được địch và bảo đảm an toàn lực lượng của mình.

Ngày 27 tháng 6 là ngày không quân đánh xuất sắc bắn rơi 5 chiếc máy bay, từ sáng sớm
địch tiếp tục vào đánh phá Hà nội. Chúng cho tiêm kích vào trước khống chế các sân bay Gia Lâm,
Nội Bài và tổ chức phục đón đánh máy bay ta ở Nghĩa Lộ, Vĩnh Phú. Biên đội Bùi Đức Nhu - Hạ
Vĩnh Thành, Trung đoàn 927 cất cánh đánh rơi 1 chiếc, địch tổ chức cho nhiều chiếc F-4 đến tìm kiếm
ở khu vực Hoà Bình, Mộc Châu nhưng không cứu được phi công nhảy dù. Bộ tư lệnh quyết định tổ
chức đánh trận hiệp đồng giữa hai trung đoàn MiG-21. Lúc 11 giờ 53 phút, biên đội Nguyễn Đức
Soát- Ngô Duy Thư thuộc Trung đoàn 927 được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài bay về hướng Hoà
Bình, Vạn Yên, ít phút sau, biên đội Phạm Phú Thái - Bùi Thanh Liêm Trung đoàn 921 trực ở sân bay
Yên Bái được lệnh cất cánh đánh địch trên vùng trời Yên Bái, Nghĩa Lộ.

Biên đội Nguyễn Đức Soát - Ngô Duy Thư gặp địch trên vùng trời Hoà Bình. Sau ít phút
bám nhau, Nguyễn Đức Soát bắn rơi 1 chiếc F-4 rồi quay về sân bay Nội Bài hạ cánh. Cùng lúc đó,
Ngô Duy Thư bắn rơi 1 chiếc F-4 làm đội hình địch tan vỡ tháo chạy. Máy bay sắp hết dầu, Ngô Duy
Thư xin phép hạ cánh xuống sân bay Hoà Lạc.

Biên đội Phạm Phú Thái - Bùi Thanh Liêm bay tới vùng trời Nghĩa Lộ thì gặp địch nhưng
trong thế đối đầu. Bọn địch vòng lại, chui vào mây. Biên đội tiếp tục bay thẳng không bám theo. Ngay
sau đó phát hiện 4 chiếc F-4 phía bên trái, chúng đang phân tốp, biên đội thả thùng dầu phụ lao vào
công kích. Gần như một lúc, Phạm Phú Thái và Bùi Thanh Liêm ấn nút phóng tên lửa vào mục tiêu đã
chọn, hai chiếc F-4 bùng cháy, rơi xuống khu vực Nghĩa Lộ. Biên đội được lệnh thoát ly chiến đấu về
hạ cánh xuống sân bay Yên Bái.

Trận đánh hiệp đồng giữa hai biên đội của hai trung đoàn đã bắn rơi 4 máy bay địch, bảo
đảm an toàn lực lượng ta. Trong ngày, không quân ta cho 3 biên đội xuất kích bắn rơi 5 máy bay của
địch. Đây là một trong những ngày không quân ta tổ chức đánh địch xuất sắc, đạt hiệu suất chiến đấu
cao.

Để bảo đảm an toàn và thuận tiện cho công tác chỉ huy trong tình hình chiến sự ác liệt và
còn có thể kéo dài, Bộ tư lệnh quyết định chuyển sở chỉ huy Gia Lâm vào Ngọc Động; củng cố lại
thành sở chỉ huy hỗn hợp vận tải, tiêm kích và giao cho 'Trung đoàn 921 quản lý. Lực lượng sở chỉ
huy Quảng Bình rút về tăng cường cho sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh ở Thọ Xuân. Các sân
bay làm thêm hầm ụ cất giấu máy bay, tổ chức thêm nhiều điểm sơ tán. Các trung đoàn ngoài nhiệm
vụ trực chiến tiếp tục tổ chức huấn luyện, nhất là cho số phi công mới.

Tháng 7 năm 1972, mặt trận trên không càng trở nên ác liệt. Trung đoàn 925 không đánh
được phải đưa lực lượng về sân bay Gia Lâm trực cùng MiG-17. Trung đoàn 921, tổ chức bốn trận
đánh chỉ hạ được 1 chiếc F-4, do phi công Trần Việt bắn rơi, nhưng trung đoàn đã mất tới 5 máy bay,
5 phi công hi sinh. Trong số các phi công hi sinh có Đặng Ngọc Ngự - người phi công rất giàu kinh
nghiệm, chiến đấu dũng cảm, đầy mưu trí, sáng tạo, bắn rơi 7 máy bay Mỹ các loại, anh đã hi sinh
trong trận đánh ngày 8 tháng 7. Đó cũng là ngày tổn thất lớn của Trung đoàn không quân 921 và
Trung đoàn không quân 927. Đối với Trung đoàn 921, kể từ ngày đánh trận đầu, cùng với những ngày
đầu năm 1967, đây là thời kỳ trung đoàn lại phải chịu nhiều tổn thất nhất. Bộ tư lệnh cho Trung đoàn
921 tạm dừng xuất kích để rút kinh nghiệm chiến đấu.

Trung đoàn 923 cũng gặp rất nhiều khó khăn. Cả tháng 7, chỉ đánh có 1 trận (ngày 11), là
trận phi công Hán Vĩnh Tưởng và phi công Hoàng Thế Thắng bắn rơi 2 chiếc F-4. Biên đội đang bay
tập theo kế hoạch huấn luyện trên vùng trời sân bay Kép thì được sở chỉ huy thông báo có tiêm kích
địch ở khu vực Phả Lại và lệnh cho biên đội về sân bay Nội Bài hạ cánh. Biên đội Hán Vĩnh Tưởng-
Hoàng Thế Thắng mới kịp vòng lại đã phát hiện địch. Được phép đánh, biên đội nhanh chóng thả
thùng dầu phụ, chuyển từ bài bay huấn luyện sang đội hình tiến công. Sau ít phút bám địch, Hán Vĩnh
Tưởng bắn rơi 1 chiếc F-4 và ngay tiếp sau Hoàng Thế Thắng bắn rơi chiếc F-4 thứ hai trong đội hình
địch. Chưa kịp thoát ly, máy bay Hoàng Thế Thắng đã bị tên lửa địch từ phía sau bắn trúng, anh đã
anh dũng hi sinh.

Trong tháng 7, Trung đoàn 927 tiếp tục đánh và liên tiếp lập công. Nhiều phi công của
trung đoàn liên tục bắn rơi địch. Phi công Nguyễn Tiến Sâm, bắn rơi 3 chiếc F-4 trong 3 trận. Có trận
bắn quá gần, máy bay anh đã chui qua điểm nổ của máy bay địch, bị tắt máy, anh bình tĩnh xử lý, mở
máy lại và bay về sân bay hạ cánh an toàn với chiếc máy bay đen sì do muội khói từ điểm nổ bám
vào.

Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1972, lực lượng không quân tiêm kích của ta chỉ còn Trung
đoàn 921 và Trung đoàn 927 là đánh được. Từ cuối tháng 8 trở đi, MiG-17 của Trung đoàn 923 không
đánh được trận nào. MiG-19 của Trung đoàn 925 đánh được 1 trận, bắn rơi 1 chiếc F-4 và 1 chiếc F-
105 thì bị địch bắn rơi 3 chiếc. Trung đoàn 921 đã lấy lại được khí thế, tổ chức đánh một số trận đạt
hiệu suất tốt như trận ngày 9 tháng 9 của biên đội Lương Thế Phúc - Đỗ Văn Lanh bắn rơi 2 chiếc F-4
của địch. Ngày 30 tháng 9, phi công Trần Việt bắn rơi 1 chiếc F-4. Đây là chiếc F-4 thứ hai của địch
bị anh bắn rơi và là chiếc máy bay thứ 300 của Mỹ bị Không quân nhân dân Việt nam bắn rơi trên
miền Bắc kể từ khi mở mặt trận trên không ngày 3 tháng 4 năm 1965.

Trung đoàn 927 vẫn giữ vững và phát huy được truyền thống, liên tiếp chiến thắng, liên
tiếp lập công. Thời kỳ này, trung đoàn cũng đã chuyển loại từ MiG-21 F94 sang MiG-21 F96. Nhiều
trận đánh cả hai số trong biên đội đều lập công, đều bắn rơi máy bay địch. Trận đánh ngày 14 tháng 9
biên đội Lê Thanh Đạo - Trần Văn Năm bắn rơi hai chiếc F-4; trận ngày 12 tháng 9 biên đội Nguyễn
Văn Nghĩa - Trần Văn Năm cũng bắn rơi hai chiếc F-4 của địch. Trong những trận đánh này cả số 1
và số 2 đều bắn rơi máy bay địch và bảo đảm an toàn lực lượng ta. Theo yêu cầu nhiệm vụ và sự phát
triển chung của không quân, tháng 10 năm 1968, đại đội không quân ném bom phát triển thành tiểu
đoàn không quân ném bom mang phiên hiệu tiểu đoàn 929. Trang bị gồm 8 chiếc máy bay IL-28
trong đó có 4 chiếc trực tiếp chiến đấu, hai chiếc huấn luyện và hai chiếc sử dụng trinh sát đường
không. Trong những đợt không quân Mỹ đánh phá sân bay, một số chiếc đã bị phá hỏng vì không kịp
đưa đi sơ tán. Hiện tại chỉ còn 3 chiếc nhưng trong một chuyên ném bom tập, một máy bay bị tai nạn.
Hai chiếc IL-28 còn lại chỉ có 1 máy bay chiến đấu, còn chiếc kia là trinh sát. Tiểu đoàn ném bom
được lệnh giải thể vào đầu tháng 10 năm 1972. Các tổ bay và lực lượng thợ máy được điều động về
các trung đoàn khác.

Ngay từ thời kỳ đầu, tiểu đoàn không quân ném bom được thành lập, Bộ tư lệnh đã đề ra
kế hoạch huấn luyện IL-28 đánh các mục tiêu mặt đất. Công tác huấn luyện được triển khai tốt. Các tổ
bay đều có khả năng đảm đương nhiệm vụ được giao. Các ý định đánh địch chưa có điều kiện thực
hiện do phần lớn máy bay đã bị địch phá huỷ. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh vẫn quyết định phải sử
dụng IL-28 trong thời gian tới để đánh các mục tiêu mặt đất trong lòng địch. Để tăng cường thêm hoả
lực và sức mạnh chiến đấu, Bộ tư lệnh giao cho Phòng Kỹ thuật nghiên cứu cải tiến chiếc IL-28 trinh
sát để mang bom, kịp thời phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu trong thời gian tới.

Năm 1971, sau khi hoàn thành chương trình cải tiến lắp rốc-két cho máy bay huấn luyện L-
29 (Chú thích: Máy bay L-29 do Tiệp Khắc chế tạo dùng huấn luyện bay. Kỹ sư Trương Khánh Châu
được giao nghiên cứu cải tiến lắp rốc két cho L-29 để phi công có thể tự vệ trong trường hợp đang
huấn luyện bay gặp địch. Công trình đã thành công, không ảnh hưởng đến các tính năng của máy
bay), kỹ sư Trương Khánh Châu cùng với một số cán bộ kỹ thuật tiếp tục được giao nhiệm vụ nghiên
cứu thiết kế lại buồng hàng của máy bay IL-28 trinh sát cho phù hợp với chức năng mang bom tấn
công (Chú thích: Máy bay IL-28 chiến đấu mang theo 3 tấn bom được lắp trong buồng bom ở khoang
bụng, không treo bom bên ngoài. Máy bay IL-28 trinh sát, ở khoang bụng chỉ cấu tạo các giá treo nhẹ
để lắp hai máy ảnh khoảng 100kg). Kỹ sư Trương Khánh Châu cùng kỹ sư quân giới Đoàn Thanh, trợ
lý cơ khí Huỳnh Ngọc Ân, và lực lượng thợ máy tiến hành công việc đến cuối năm 1971 thì hoàn tất.
Khoang bụng chiếc IL-28 trinh sát sau khi được cải tiến, gia cố lại, treo được các loại bom 100kg,
200kg, 250kg.

Tổ bay do đồng chí Nguyễn Văn Trừ lái chính được giao nhiệm vụ bay thử chiếc IL-28
trinh sát vừa được cải tiến, các loại bom xi măng được lắp đúng trọng lượng quy định. Chuyến bay
thử đã thành công. Máy bay hoạt động ổn định, khi cắt bom tất cả bom đều ra và độ chính xác với sai
số trong giới hạn cho phép. Từ đầu năm 1972, chiếc IL-28 cải tiến được đưa vào phục vụ bay huấn
luyện ném bom các mục tiêu trên mặt đất. Tiểu đoàn 929 vừa được lệnh giải thể thì nhận được yêu
cầu của Bộ chỉ huy chiến dịch Cánh Đồng Chum- Xiêng Khoảng cần sự chi viện của không quân. Bộ
Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân và Bộ tư lệnh
không quân tổ chức sử dụng máy bay ném bom một số mục tiêu quan trọng của địch. Các tổ bay IL-
28 cùng lực lượng phục vụ được tập trung về. Mục tiêu địch được chọn cho các tổ bay ném bom tiêu
diệt là Buôn Loọng thuộc đất bạn Lào. Đây là căn cứ quân sự khá hiểm yếu của địch được xây dựng
trên độ cao 1.800m, cách Xiêng Khoảng 30km về phía đông bắc, có hệ thống phòng thủ chắc chắn,
bộ binh ta đã đánh nhiều lần nhưng vẫn không tiêu diệt được. Bộ tư lệnh quyết định sử dụng hai tổ
bay và cả hai chiếc máy bay hiện có cùng làm nhiệm vụ. Tổ thứ nhất gồm Bùi Trọng Hoan (lái chính),
Nguyễn Đình Nhẫn (dẫn đường trên không) và Nguyễn Văn Tá (thông tin trên không). Tổ bay thứ hai
gồm Nguyễn Văn Trừ (lái chính), Thân Xuân Hạnh (dẫn đường trên không) và Ngô Văn Trung (thông
tin trên không). Hai máy bay, một chiếc mang bom phá, một chiếc mang bom bi. Theo phương án, hai
tổ bay đi làm nhiệm vụ sẽ được một biên đội MiG-21 yểm hộ.

Theo thời gian đã chọn, vào lúc 17 giờ 7 phút ngày 9 tháng 10 năm 1972, hai chiếc máy
bay được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài. Do công tác chuẩn bị kỹ, công phu, mọi diễn biến hoạt
động của hai tổ bay hoàn toàn đúng như dự kiến. Đến khu vực quy định, nhận rõ mục tiêu, hai máy
bay lần lượt cắt bom. Trong lúc vòng ra, hai tổ bay còn nhìn rất rõ khói lửa bốc lên mù mịt trùm lên
khu vực căn cứ địch. Lúc hai máy bay trên đường trở về bọn địch mới biết không quân ném bom của
ta tiến công và cho một tốp tiêm kích đuổi theo. Đến biên giới Việt - Lào phát hiện có MiG hoạt động,
tốp tiêm kích vội vàng quay trở lại. Trận đánh thắng giòn giã của không quân đã tạo điều kiện cho mặt
trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng tiến đến toàn thắng nhanh chóng.

Sang đầu tháng 10 năm 1972, số lượng máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc đã lên gần
4.000 chiếc. Lực lượng phòng không ba thứ quân được phát động trên toàn miền Bắc đã bắn rơi chiếc
máy bay thứ 4.000 của Mỹ.

Ngày 9 tháng 10 năm 1972, 2 máy bay ném bom IL-28 xuất kích từ Nội Bài qua Sơn La
sang Buôn Loọng đã đánh bom trúng đích, phá tan nhiều mục tiêu, kho tàng, doanh trại của địch, góp
phần vào chiến công của bộ đội Việt - Lào trong chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Theo
phương án chuẩn bị trước sẽ có 4 MiG-21 mang bom (hoặc rốc-két) vừa tham gia đánh vừa yểm hộ
cho máy bay IL-28 ném bom nhưng do chớp được thời cơ có lợi, đảm bảo bí mật, bất ngờ để đánh
thắng, nên không sử dụng MiG-21 nữa.
Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1972, không quân ta tổn thất mỗi tháng 5 máy bay MiG-21.
Trong 3 ngày thi đua (ngày 13, 14, 15 tháng 10) đánh rơi chiếc máy bay thứ 4.000 của Mỹ trên miền
Bắc. Không quân ta bị bắn rơi 4 chiếc, phi công nhảy dù án toàn. Trong đó có những phi công giỏi, có
nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu là những phi đội trưởng, phi đội phó như Lê Thanh Đạo, Phạm
Phú Thái, Nguyễn Tiến Sâm…

Ngày 22 tháng 10 năm 1972, Mỹ tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở
ra nhưng lại ráo riết chuẩn bị những ý đồ thâm độc mới: Tăng số phi vụ B-52 đánh phá khu vực Quân
khu 4 và hoạt động của máy bay trinh sát tầng cao có người lái SR-71ở phía bắc.

Trước việc Mỹ dây dưa không chịu ký bản hiệp định do hai bên đã thoả thuận ở Hội nghị
Paris và tăng cường trinh sát các mục tiêu trên miền Bắc, ngày 25 tháng 11 năm 1972, Quân uỷ Trung
ương chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tăng cường sẵn sàng chiến đấu. Ngày 27 tháng 11, Bộ Tổng tư
lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định
địch có nhiều khả năng đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác hệt hơn, kể cả dùng B-52 đánh vào
Hà nội, Hải Phòng. Do đó, nhiệm vụ của Quân chủng phòng không - không quân là tập trung mọi khả
năng tiêu diệt cho được máy bay B-52.

Bộ tư lệnh Quân chủng tiến hành triển khai thực hiện chỉ thị của trên và giao nhiệm vụ cho
cơ quan tham mưu khẩn trương chuẩn bị phương án đánh B-52 để bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà
nội, Hải Phòng. Đối với không quân, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh căn cứ vào nhiệm vụ được giao và sự chỉ
đạo của trên đã lãnh đạo các cơ quan chuyên môn cùng các trung đoàn trực tiếp tham gia chiến đấu
hình thành phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà nội, được gọi là "Phương án năm
cánh sao". Đó là phương án của bộ đội không quân kết hợp chặt chẽ với hoả lực phòng không của các
đơn vị bạn, cả vòng trong và vòng ngoài, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất. Được sự
lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ
thuật đã bám sát các đơn vị triển khai phương án tác chiến và tổ chức chuẩn bị bảo đảm cơ sở vật
chất, kỹ thuật theo yêu cầu chiến đấu. Đội ngũ phi công của đại đội chiến đấu ban đêm được kiện toàn
và tăng cường huấn luyện. Mục tiêu đề ra cho toàn đại đội cũng như cho bộ đội không quân: bằng bất
kỳ giá nào cũng phải bắn rơi được máy bay B-52 nếu chúng liều lĩnh tấn công vào thủ đô Hà nội.

Ngày 24 tháng 11 năm 1972, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Tổng
tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam phê chuẩn kế hoạch tác chiến phòng không của Quân
chủng phòng không Không quân đánh trả cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của đế
quốc Mỹ vào Hà nội, Hải Phòng. Tổng tham mưu trưởng lệnh cho Bộ tư lệnh Quân chủng hoàn thành
mọi công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3 tháng 12 năm 1972 (Đó là ngày đồng chí Lê Đức Thọ,
Uỷ viên Bộ Chính trị, đại diện Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà sẽ gặp lại Kit-xinh-giơ, đại diện
Chính phủ Mỹ tại Paris)

Trong những ngày đầu tháng 12 năm 1972, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Hậu cần tổ chức
nhiều đoàn xuống các đơn vị, sân bay trong Quân chủng kiểm tra công tác chuẩn bị, nắm tình hình và
rà soát lại các phương án, kế hoạch chiến đấu. Tất cả các đơn vị, sân bay đoàn đến kiểm tra đều chuẩn
bị tốt, sẵn sàng, nếu địch đến có thể đánh được ngay. Riêng với không quân, lực lượng đánh đêm
được triển khai trực chiến ở nhiều sân bay. Trong những ngày này, chuẩn bị cho việc đánh và bắn rơi
B-52 được tập trung, coi trọng nhất.

Từ trung tuần tháng 12, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu và Quân chủng, Bộ
tư lệnh không quân đã chỉ thị cho các đơn vị sơ tán triệt để các máy bay trên sân bay. Những máy bay
trực chiến, bom đạn, các xe chuyên dùng được để trong hầm và cất giấu ở những nơi an toàn, nguỵ
trang kín đáo không để máy bay trinh sát địch phát hiện. Các trung đoàn bay cùng các đơn vị sân bay
hiệp đồng với địa phương tổ chức lực lượng ứng cứu, sửa gấp sân bay khi địch đánh phá. Bộ tư lệnh
Quân chủng phòng không-Không quân giao nhiệm vụ đặc trách chỉ huy khắc phục hậu quả khi địch
đánh phá sân bay Nội Bài cho đồng chí Lê Ngọc Tính, Trung đoàn trưởng Trung đoàn công binh 28.
Bằng bất kỳ giá nào, lực lượng ứng cứu, sửa gấp cũng phải khắc phục hậu quả địch đánh phá để đảm
bảo cho máy bay ta cất cánh chiến đấu và hạ cánh an toàn cả ban ngày và ban đêm.

10 giờ 30 phút ngày 17 tháng 12 năm 1972, Bộ tư lệnh Quân chủng trực tiếp chỉ thị cho Bộ
tư lệnh không quân và một số đơn vị trong Quân chủng trong đó nhấn mạnh: Tình hình rất khẩn
trương, cần chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu, thông tin liên lạc phải thường xuyên, thông suốt,
tổ chức báo động kiểm tra các đơn vị cấp dưới, cần cử cán bộ xuống theo dõi đôn đốc các đơn vị.

Ngày 18 tháng 12 năm 1972, ngay từ sáng, địch đột ngột giảm cường độ đánh phá vào khu
vực Quân khu 4. Lúc 10 giờ 15 phút, một máy bay trinh sát không người lái vào trinh sát Hà nội và 10
giờ 46 phút lại một máy bay trinh sát không người lái nữa vào trinh sát Hải Phòng. 16 giờ, Bộ Tổng
tham mưu thông báo có 32 máy bay B-52 cất cánh từ Gu-am vào đánh miền Bắc. Sở chỉ huy Quân
chủng thông báo ngay tới các đơn vị: Từ 18 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1972, B-52 sẽ vào đánh Hà nội
với hướng đánh từ tây - bắc xuống. Mọi công tác chuẩn bị đánh B-52 của các đơn vị phải hoàn thành
trước 17 giờ.

18 giờ 15 phút, tốp F-111 đầu tiên xâm phạm vùng trời miền Bắc được radar cảnh giới phát
hiện. 18 giờ 50 phút, các sở chỉ huy toàn Quân chủng phòng không - không quân báo động cấp I. Tại
Sở chỉ huy Quân chủng, Tư lệnh Lê Văn Tri, Chính uỷ Hoàng Phương, phó tư lệnh phụ trách không
quân Nguyễn Văn Tiên, Phó tư lệnh không quân Trần Mạnh, Tham mưu trưởng Không quân Nguyễn
Phúc Trạch cùng kíp trực gồm các cán bộ tên lửa, radar có mặt theo dõi tình hình diễn biến và chỉ huy
trực tiếp các đơn vị trong toàn Quân chủng. Tại sở chỉ huy không quân, Tư lệnh Đào Đình Luyện
cùng các cán bộ Bộ tư lệnh sẵn sàng ở vị trí.

19 giờ 10 phút, tổng trạm radar Quân chủng nhận được thông báo của đại đội 45 Trung
đoàn radar 291: "B-52 đang bay vào Hà nội". Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu kịp thời báo cáo lên
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Lệnh báo động B-52 vào đánh miền Bắc được phát lúc 19 giờ
15 phút cho toàn Hà nội, Hải Phòng và một số tỉnh trên miền Bắc.

19 giờ 25 phút, phi công Phạm Tuân trực chiến ở sân bay Nội Bài được lệnh cất cánh. Máy
bay còn đang nổ máy ở đầu đường cất hạ cánh thì 3 chiếc F-111 bay rất thấp vào đánh sân bay. Đạn
pháo phòng không bảo vệ xung quanh khu vực sân bay bắn lên tạo những vệt lửa đan chéo lên bầu
trời. Sở chỉ huy lệnh cất cánh. Phạm Tuân cho máy bay cất cánh, lấy tốc độ rồi kéo gấp máy bay lên
để tránh các luồng đạn phòng không vẫn đang bắn lên. Máy bay được dẫn đến khu vực Hoà Bình thì
Phạm Tuân phát hiện địch, anh bật tăng lực lướt tới. Tốp F-4 bay bảo vệ B-52 phát hiện có MiG liền
quây vào. Bốn quả tên lửa địch cùng phóng tới một lúc, Phạm Tuân phải thực hiện các động tác để
tránh tên lửa đồng thời đuổi tốp B-52 ở phía trước. Sau khi tránh tên lửa địch và kéo máy bay lên, anh
không còn nhìn thấy dãy đèn của tốp B-52. Bật radar, chỉ thấy toàn nhiễu, trong khi đó máy bay F-4
vẫn tiếp tục lao tới nhiều hơn. Không phát hiện được mục tiêu B-52 để tiếp cận, sở chỉ huy lệnh cho
Phạm Tuân về hạ cánh. Lượng dầu trên máy bay không còn đủ về sân bay khác, Phạm Tuân xin phép
hạ cánh xuống sân bay Nội Bài.

Lúc 19 giờ 40 phút, Mỹ huy động 90 lần chiếc B-52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật
ồ ạt tiến đánh cùng một lúc các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hoà Lạc, Yên Bái. Khi Phạm Tuân
thoát ly chiến đấu quay về xin phép hạ cánh, khu vực sân bay Nội Bài vừa bị B-52 ném bom và hiện
tại trên bầu trời sân bay, máy bay địch vẫn đang hoạt động. Sân bay tối om. Những luồng đạn phòng
không xung quanh sân bay vẫn đang bắn lên. Mặc dầu máy bay địch vẫn đang còn hoạt động xung
quanh và ngay trên đỉnh sân bay, Phạm Tuân vẫn quyết định hạ cánh. Đúng vào lúc đang hạ thấp độ
cao dần để vào hạ cánh thì trên bầu trời phía cuối đường băng một khối lửa khổng lồ bùng lên tạo một
vùng sáng rộng (Chú thích: 1 Đó là lửa từ chiếc B-52 bị tiểu đoàn 59 Trung đoàn tên lửa 261 bắn
cháy. rơi xuống cánh đồng thuộc xã Phù Lỗ ngay đầu sân bay Nội Bài. Đây là chiếc B-52 đầu tiên bị
bắn rơi tại chỗ ở Hà nội). Chớp thời cơ, Phạm Tuân chỉnh lại hướng cho chuẩn xác rồi vào hạ cánh.
Mới chạy được vài trăm mét thì máy bay lao xuống một hố bom giữa đường, bị gãy càng, lật nghiêng
và vọt lên miệng hố. Lúc dừng lại, máy bay bị lật ngửa, nhưng không bốc cháy vì đã hết dầu. Phạm
Tuân an toàn trở về đơn vị tiếp tục trực chiến. Một chiếc MiG-21 khác cũng bị hỏng khi hạ cánh
xuống sân bay Hoà Lạc sau một trận đánh B-52 không thành công.

Trong hai ngày đêm 18 và 19 tháng 12, các sân bay đều bị bom đánh hư hỏng nặng, trong
đó sân bay Nội Bài và sân bay Kép, đường cất hạ cánh bị đánh hỏng rất nặng. Nhân dân các địa
phương được huy động cùng bộ đội công binh sân bay vào ứng cứu, khôi phục ngay từ sau những đợt
đánh phá. Lực lượng chính vẫn là thanh niên, dân quân. Có sân bay huy động tới hàng nghìn người
vào sửa gấp. Khác với những lần sửa gấp trong cuộc chiến tranh phá hoại thứ nhất của địch, chúng
đánh chủ yếu ban ngày, ta tập trung sửa vào ban đêm, lần này chúng chủ yếu đánh đêm, ta tiến hành
sửa chữa cả ban ngày và những lúc chúng ngửng đánh phá ban đêm. Các sân bay nhanh chóng được
hồi phục tạm thời, máy bay có thể cất hạ cánh được. Riêng sân bay Nội Bài và sân bay Kép, đường
cất hạ cánh bị hỏng quá nặng, chưa khắc phục kịp, máy bay trực chiến sẽ phải sử dụng đường lăn đế
cất hạ cánh trong những lần xuất kích. Liên tục từ đêm 18, các máy bay ta vẫn bảo đảm được nhiệm
vụ trực và xuất kích chiến đấu trên các sân bay.

19 giờ 27 phút, đêm 20 tháng 12, theo lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, 1 chiếc MiG-21
cất cánh từ đường lăn sân bay Nội Bài, bay theo hướng Việt Trì, Phú Thọ. 5 phút sau, chiếc MiG-21
thứ hai được lệnh cất cánh từ sân bay Gia Lâm đi Mộc Châu, Suối Rút. Được dẫn đường tốt, cả hai
đều phát hiện được địch. Nhưng khi chỉ còn cách khoảng 6 đến 7km đều bị B-52 địch phát hiện,
chúng tắt hết đèn. Trong khi đó radar trên MiG phát sóng đều bị nhiễu rất nặng, cả hai phi công đều bị
mất mục tiêu phải quay về hạ cánh. Cả hai trận MiG-21 đều không công kích được địch nhưng đã làm
hàng rào máy bay tiêm kích địch bị rối loạn. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho các trắc thủ tên lửa
phân biệt dải nhiễu B-52 được dễ dàng hơn, chính xác hơn.
Cho tới ngày 23 tháng 12, đã nhiều lần xuất kích nhưng MiG-21 vẫn chưa tiếp cận công
kích được B-52. Ngày 23, MiG-21 của Trung đoàn 927 bắn rơi được 1 chiếc F-4. Trong đội ngũ cán
bộ và phi công đã nảy sinh những biểu hiện hữu khuynh, tiêu cực cho rằng MiG khó có thể tiếp cận
được B-52, không bắn rơi được B-52. Bên cạnh đó cũng đã xuất hiện những biểu hiện nôn nóng, đánh
ẩu. Trước những khó khăn của tình hình thực tế và những biểu hiện đã xuất hiện, ngày 25 tháng 12 Bộ
tư lệnh triệu tập hội nghị cán bộ rút kinh nghiệm chiến đấu trong những ngày vừa qua. Đợt một cuộc
chống tập kích đường không chiến lược của Mỹ vừa qua, không quân chưa thực hiện được quyết tâm
và mục tiêu đề ra; chưa tiếp cận và bắn được B-52. Gần một tuần chiến đấu chỉ bắn rơi được 1 chiếc
F-4, trong khi đó ta đã hỏng một số máy bay qua những lần xuất kích. Sau khi đánh giá kết quả chiến
đấu vừa qua, một số biện pháp mới được đề ra, khẩn trương chuẩn bị để bước vào chiến đấu đợt hai.

Từ đêm 18 đến ngày 26 tháng 12, các sân bay trên miền Bắc liên tục bị đánh bom. Đợt sửa
gấp này chưa xong địch đã đánh lại, phá lại. Những sân bay có MiG-21 trực chiến như Nội Bài, Kép,
Hoà Lạc bị hỏng rất nặng; thời gian sửa chữa hồi phục phải kéo dài. Nghiên cứu tình hình đánh phá
các sân bay, Bộ tư lệnh nhận thấy sau khi địch đánh liên tục sân bay Yên Bái bằng F-111 trong các
ngày 22, 23, 24 và 26 tháng 12, chúng đã cho rằng với sự hư hỏng nặng của sân bay, ta có tổ chức sửa
chữa cũng không thể xong nhanh được. Song trên thực tế nhân dân địa phương và bộ đội đã tập trung
sửa gấp. Sáng ngày 26, địch vừa dứt đánh phá, một phần sân bay đã được sửa tạm thời, có thể sử dụng
cho máy bay cất hạ cánh được. Bộ tư lệnh quyết định đưa MiG-21 lên trực ở sân bay Yên Bái.

Chiều ngày 27 tháng 12, phi công Phạm Tuân được lệnh cất cánh từ Nội Bài cơ động lên
sân bay Yên Bái. Được dẫn dắt, chỉ huy phối hợp của các sở chỉ huy trung tâm, sở chỉ huy trung đoàn,
sở chỉ huy Mộc Châu, sở chỉ huy Sơn La, Phạm Tuân đã bí mật hạ cánh an toàn.

Lúc 22 giờ 20 phút, phi công Phạm Tuân được lệnh cất cánh từ sân bay Yên Bái. Được dẫn
dắt tốt của sở chỉ huy trung tâm, sở chỉ huy trung đoàn, sở chỉ huy Mộc Châu và các đơn vị radar theo
dõi, bám sát, đến Sơn La, Phạm Tuân phát hiện được đội hình B-52 của địch. Vượt qua hàng rào F-4,
bay ngang đến chiếc B-52 ở sau cùng trong tốp, Phạm Tuân phóng liền hai quả tên lửa vào chiếc B-52
bay thứ hai rồi lao xuống, thoát ly chiến đấu, trở về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn.

Sân bay Yên Bái lại bị đánh bom. Các sân bay khu vực phía bắc không thể cho máy bay
trực chiến tiếp được, Bộ tư lệnh quyết định đưa MiG-21 vào trực tại sân bay Cẩm Thuỷ. Đây là sân
bay dã chiến mới được sửa chữa lại sau đợt ném bom ngày 22 tháng 12, địch chưa phát hiện và đánh
phá lại. Đêm 28 tháng 12, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay Cẩm Thuỷ. Sở chỉ huy Thọ
Xuân dẫn anh bí mật bay vòng đằng sau đội hình B-52. Đến vùng trời Sơn La, Vũ Xuân Thiều gặp
địch. Khoảng cách giữa máy bay anh và chiếc B-52 đã quá gần, nếu vượt qua rồi mới vòng lại công
kích thì địch sẽ phát hiện nên anh quyết định bắn ngay. Do cự ly quá gần nên khi mục tiêu bốc cháy
thì máy bay của anh cũng lao vào đám cháy, anh đã anh dũng hi sinh.

Trong ngày 27 và 28 tháng 12, các biên đội của các trung đoàn 921 và 927 xuất kích đã
bắn rơi 2 chiếc F- 4 và 1 chiếc RA-5C của địch.

Ngày 29 tháng 12, phi công Bùi Doãn Độ Trung đoàn 921 bắn rơi 1 chiếc F-4. Đây là chiếc
máy bay địch cuối cùng bị Không quân nhân dân Việt nam bắn rơi kể từ ngày mở mặt trận trên không
đến lúc đế quốc Mỹ phải ngừng ném bom hoàn toàn trên miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra (ngày 30
tháng 12 năm 1972) và tiến tới ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt
nam.

Bắn rơi máy bay chiến lược B-52, bộ đội không quân đã góp phần cùng toàn quân, toàn
dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược trong 12 ngày đêm của giặc Mỹ. Từ
ngày đầu thành lập, với một trung đoàn tiêm kích chỉ mới có mấy biên đội MiG-17, không quân nhân
dân đã mở mặt trận trên không thắng lợi, bắn rơi máy bay hiện đại của không quân Mỹ ngay từ những
trận đầu. Những bước thăng trầm qua gần 9 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, ngoài bắn rơi
320 máy bay địch gồm 19 kiểu loại, lực lượng không quân tiêm kích còn phát triển từ một trung đoàn
ban đầu lên tới 4 trung đoàn. Cả 4 trung đoàn đều đã trực tiếp tham gia chiến đấu và đều lập chiến
công. Bên cạnh đó, Trung đoàn không quân vận tải 919 sau hơn 10 năm xây dựng cũng đã đóng góp
những thành tích không nhỏ, từ ngày đầu đã tham gia vận tải quân sự cho chiến trường, phục vụ kịp
thời cho các chiến dịch, tạo điều kiện cho các chiến thắng ở mặt trận. Các tổ bay của trung đoàn đã
thực hiện hàng trăm chuyến chuyên cơ, an toàn tuyệt đối đưa Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, Chính phủ đi công tác. Trong những năm địch đánh phá ác liệt các tổ bay Mi-6 đã cẩu hơn
400 lượt máy bay đi sơ tán, phục vụ bảo toàn lực lượng cho các trung đoàn chiến đấu. Ngoài ra, MI-6
còn nhiều lần cẩu radar lên các vị trí cao bố trí để phát hiện theo dõi địch, cẩu pháo lên trận địa, cẩu
đường ống dẫn dầu… Không những chỉ bay phục vụ chiến đấu các tổ lái máy bay vận tải đã trực tiếp
tham gia chiến đấu đánh tàu địch trên biển, đánh căn cứ địch trên mặt đất và cả đánh địch trên không,
bắn rơi máy bay biệt kích địch.

Chương 3
(1973-1975)

1. TÁCH BỘ TƯ LỆNH KHÔNG QUÂN THÀNH BỘ TƯ LỆNH KHÔNG QUÂN
CHIẾN ĐẤU VÀ LỮ ĐOÀN KHÔNG QUÂN VẬN TẢI 919

Sau những thất bại liên tiếp trên các chiến trường ở miền Nam Việt nam, đặc biệt sau thất
bại thảm hại của đợt tập kích chiến lược bằng máy bay B -52 đánh vào Hà nội, Hải Phòng và một số
vùng trên miền Bắc, ngày 27 tháng 1 năm 1973 đế quốc Mỹ buộc phải ký hiệp định Paris về chấm dứt
chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta giành được thắng lợi quan trọng.
Cách mạng Việt nam chuyển sang thời kỳ mới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, thực
hiện lời kêu gọi của Bác Hồ kính yêu, quân dân ta đã "đánh cho Mỹ cút", đang tiếp tục "đánh cho
nguỵ nhào", hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam, đưa cả nước cùng tiến lên
thực hiện cuộc cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Qua hai cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ ra miền
Bắc, không quân ta vừa chiến đấu vừa xây dựng đã trưởng thành nhanh chóng. Lực lượng không quân
tiêm kích đã bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ, cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc. Không quân vận tải đã vận chuyển lực lượng và phương tiện cho
chiến trường hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Với tinh thần tự lực, tự cường, không quân ta đã khai thác
và sử dụng có hiệu quả nhiều loại máy bay phản lực từ MiG-17 đến MiG-21 cùng nhiều loại máy bay
vận tải như IL-14, Li-2, An-2, Mi-4… Hệ thống sân bay của ta được hồi phục, mở rộng và xây dựng
mới trên khắp miền Bắc. Ngoài các sân bay lớn như Vĩnh Phú, Kép, Yên Bái, Kiến An, Gia Lâm, Thọ
Xuân… Bộ tư lệnh không quân đã phối hợp với quân và dân nhiều địa phương xây dựng, mở rộng
thêm một số sân bay dã chiến phục vụ cho không quân cơ động chiến đấu như sân bay Đồng Hới, Gát,
Vinh, Anh Sơn, Cẩm Thuỷ, Miếu Môn, Phú Thọ, Nà Sản…

Qua chiến đấu, huấn luyện và xây dựng, không quân đã từng bước trưởng thành tương đối
toàn diện. Nhiều ngành, nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật, hậu cần, thông tin, radar, dẫn đường, khí
tượng… và hệ thống kho tàng xăng dầu, trang bị vũ khí ở các sân bay đã hình thành, ngày càng được
củng cố, đáp ứng yêu cầu, hoàn thành nhiệm vụ. Không quân ta đã bước đầu tự đào tạo huấn luyện
người lái, từ lái máy bay sơ cấp đến máy bay MiG-17. Đồng thời ta đã xây dựng được cơ sở huấn
luyện đào tạo thợ máy sơ cấp, bổ túc trung cấp kỹ thuật và đào tạo cán bộ tham mưu không quân. Từ
cơ sở sửa chữa nhỏ cho máy bay cánh quạt, ta đã xây dựng được hai xưởng sửa chữa lớn cho máy bay
vận tải và máy bay phản lực MiG-17.

Được sự lãnh đạo của Đảng và sự đùm bọc của nhân dân, quán triệt phương châm chỉ đạo
tác chiến và đường lối quân sự của Đảng, kế thừa tinh hoa truyền thống nghệ thuật quân sự của dân
tộc, không quân đã chiến đấu dũng cảm, sáng tạo ra cách đánh phù hợp để chiến thắng kẻ thù nhiều
hơn ta về số lượng, mạnh hơn ta về tiềm lực và hiện đại hơn ta về trang thiết bị; vừa đánh thắng địch
vừa bảo toàn được lực lượng, bảo đảm càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành.

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, đế quốc Mỹ bị thua đau buộc phải rút quân viễn
chinh về nước, nhưng chúng chưa từ bỏ âm mưu thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam nước
ta. Chúng cùng quân nguỵ phá hoại Hiệp định Paris, lấn chiếm vùng giải phóng và liên tục trinh sát
miền Bắc nước ta. Ở nam vĩ tuyến 20 và trên vùng trời Khu 4, chúng vẫn cho máy bay không người
lái và B-52 liên tục xâm phạm.

Ở miền Nam, Mỹ đang tập trung củng cố lực lượng không quân nguỵ, nhất là lực lượng
tiêm kích. Lực lượng không quân cường kích và vận tải của quân nguỵ hơn hẳn ta về số lượng. Nếu
địch gây chiến trở lại miền Bắc thì nhiệm vụ của không quân ta càng thêm nặng nề. Đối tượng tác
chiến của không quân ta không chỉ là không quân Mỹ mà còn cả không quân nguỵ.

Đứng trước tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta
yêu cầu nhanh chóng tập trung xây dựng quân đội nói chung và lực lượng không quân nói riêng, phát
triển mạnh mẽ theo hướng chính quy và từng bước hiện đại.

Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, đầu năm 1973, đảng uỷ và Bộ tư lệnh Phòng không -
không quân dự thảo kế hoạch xây dựng không quân nhân dân trong 3 năm (1973- 1975). Kế hoạch đã
đề ra nhiệm vụ và hình thức hoạt động của không quân cùng phương hướng chung xây dựng không
quân trong tình hình cách mạng mới. Để xây dùng không quân phát triển toàn diện, phải tập trung xây
dựng nhiều mặt, từ tổ chức lực lượng, kế hoạch huấn luyện đến kế hoạch xây dựng các mặt bảo đảm
cho không quân chiến đấu và rèn luyện; xây dựng cả lực lượng tiêm kích, cường kích và vận tải, trong
đó lực lượng tiêm kích là chủ yếu nhằm tạo cho không quân có thể thực hiện được nhiệm vụ tiêm kích
phòng không và tác chiến trong đội hình chiến đấu binh chủng hợp thành, tạo cho không quân có khả
năng hoạt động trên chiến trường miền Bắc và một phần chiến trường phía Nam. Về tổ chức lực
lượng, phấn đấu xây dựng không quân đồng bộ giữa không quân tiêm kích, tiêm kích - bom, trực
thăng và vận tải; giữa hoạt động trên không với khả năng tổ chức chỉ huy và bảo đảm vật chất kỹ
thuật ở mặt đất nhằm phát huy được sức mạnh tổng hợp trong chiến đấu, huấn luyện nâng cao chất
lượng toàn diện của bộ đội không quân.

Năm 1973 là năm mở đầu của kế hoạch 3 năm xây dựng lực lượng không quân. Không
quân ta vừa ra khỏi hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Về tổ chức, lực
lượng, không quân ta chưa hoàn chỉnh, số lượng phi công ít, khả năng bổ sung chậm. Trang bị chiến
đấu trừ MiG-21 là hiện đại còn lại MiG-17, MiG-19 đã sản xuất từ lâu, tính năng kém. Các mặt trang
thiết bị bảo đảm chiến đấu chỉ huy chiến đấu chưa cân đối và còn hạn chế so với yêu cầu hoạt động
tác chiến và huấn luyện của không quân, nhất là trong hoàn cảnh mới, không quân phải cơ động, phân
tán rộng ra nhiều sân bay theo yêu cầu của nhiệm vụ.

Trình độ kỹ thuật, chiến thuật của phi công ta, nhất là trình độ tác chiến chỉ huy hiệp đồng
còn nhiều hạn chế. Số phi công bay đêm tác chiến trên biển còn ít. Việc tạo nguồn người lái và cán bộ
chỉ huy tham mưu, thợ kỹ thuật của không quân còn nhiều khó khăn. Hệ thống sân bay bảo đảm cơ sở
cho không quân hoạt động hư hỏng nhiều, chất lượng kém, lại phân bố không đều. Từ Thanh Hoá trở
vào vĩ tuyến 17 sân bay ít, chất lượng xấu, mùa mưa không hoạt động được, vì vậy, việc cơ động
chiến đấu của không quân vào phía Nam rất hạn chế. Các cơ sở bảo đảm vật chất, kỹ thuật,hậu cần
phục vụ không quân chưa được hoàn chỉnh, khả năng sửa chữa phục hồi trang bị, vũ khí, khí tài chiến
đấu còn yếu. Việc sửa chữa định kỳ máy bay, tên lửa, các loại xe đặc chủng gặp nhiều khó khăn. Cơ
sở kiểm tra trung tu tên lửa chưa có. Việc bảo đảm khí tài, phụ tùng thay thế chủ yếu dựa vào các
nước viện trợ.

Nhiệm vụ của lực lượng không quân trong giai đoạn này rất nặng nề: vừa phải bảo vệ các
yếu địa trên miền Bắc, bảo vệ giao thông vận tải chiến lược, lại vừa phải triển khai vào khu 4 để đánh
máy bay trinh sát và B-52; chuẩn bị sẵn sàng tác chiến hiệp đồng binh chủng… Ngoài ra, không quân
còn làm nhiệm vụ tiếp tế chi viện cho chiến trường miền Nam, đồng thời làm nhiệm vụ quốc tế, bay
phục vụ nhiệm vụ chính trị và kinh tế, văn hoá…

Bộ tư lệnh và Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không
quân đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc nhanh chóng khắc phục hậu quả ở các sân bay, các khu vực bị
địch đánh phá; chuyển các đơn vị từ những nơi sơ tán trở về xây dựng lại doanh trại tập trung, bảo
đảm các chế độ sinh hoạt, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Bộ đội không quân đã hiệp đồng cùng bộ
đội công binh và nhân dân các địa phương huy động hàng vạn ngày công, sửa chữa đường băng, san
lấp hàng trăm hố bom, bồi đắp gần 10.000m3 đất đá, củng cố khắc phục hậu quả, mở rộng các sân bay
như Anh Sơn, Thọ Xuân, Tà Cơn, Nội Bài, Gia Lâm, Kiến An, Hoà Lạc, Yên Bái, Nà Sản, Điện
Biên… Các sân bay dã chiến cũng được tu sửa.

Các đơn vị đã thu hồi vận chuyển hàng nghìn tấn khí tài từ khu sơ tán về bảo dưỡng. Số
máy bay sơ tán và cất giấu trong hầm ụ được đưa về tập trung tại các sân bay. Các đơn vị kỹ thuật tập
trung lực lượng, phương tiện để kiểm tra, phân loại, phân cấp bảo dưỡng, sửa chữa, đồng thời tích cực
sửa chữa các máy bay bị hư hỏng trong chiến đấu hoặc tai nạn trong huấn luyện. Các đơn vị kỹ thuật
của Bộ tư lệnh không quân khẩn trương tiếp nhận và lắp ráp một số loại máy bay mới như An-24, IL-
18, Mi-6.

Năm 1971, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm huấn luyện, đào tạo chiến sĩ lái, tăng cường
lực lượng chiến đấu của không quân, Chính phủ Tiệp Khắc đã viện trợ cho không quân 8 máy bay L-
29. Bộ tư lệnh Phòng không -Không quân ra quyết định giao trách nhiệm cho Bộ tư lệnh không quân
lắp ráp và bay thử 8 máy bay tại sân bay Nội Bài trong thời gian 40 ngày.

Triển khai thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, ngày 13 tháng 2 năm 1973, Bộ
tư lệnh không quân ra chỉ thị 85/BTL-KT do Phó tư lệnh, thượng tá Nguyễn Phúc Trạch ký giao
nhiệm vụ cho các đơn vị bảo đảm lắp ráp và bay thử máy bay L-29. Ngày 23 tháng 2, Phó tư lệnh,
thượng tá Trần Mạnh ký lệnh của Bộ tư lệnh không quân điều toàn bộ quân số, trang bị của đại đội
thợ máy L-29 từ Trung đoàn 923 về trực thuộc Phòng Kỹ thuật để phòng chỉ đạo tổ chức lắp ráp máy
bay L-29. Bộ tư lệnh không quân giao nhiệm vụ cho hai trung đoàn 923 và 927 cùng phối hợp thực
hiện lắp ráp và bay thử. Từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 25 tháng 3 năm 1973, việc lắp ráp máy bay L-
29 đã hoàn thành và bay thử đạt kết quả tốt.

Năm 1973, biên chế, tổ chức lực lượng của Bộ tư lệnh không quân có sự điều chỉnh lớn.
Căn cứ vào thế bố trí chiến lược nhằm bảo vệ miền Bắc và tăng cường cho không quân vươn xa vào
Nam, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, ngày 19 tháng 4 năm 1973, Bộ tư lệnh không quân ra
quyết định số 52/TM-TE do đại tá Tư lệnh Đào Đình Luyện và thượng tá Chính uỷ Trần Văn Duy ký
điều Trung đoàn 927 vào sân bay Thọ Xuân và Anh Sơn làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hiệp đồng
với các lực lượng vũ trang khác đánh địch bảo vệ Khu 4 và tranh thủ huấn luyện nâng cao chất lượng
mọi mặt của đơn vị. Trung đoàn 927 bàn giao lại cho Trung đoàn 921 toàn bộ quân số, trang bị, cơ sở
vật chất của các đơn vị ở căn cứ sân bay Nội Bài. Tiếp đó, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định giao
đơn vị căn cứ sân bay Thọ Xuân cho Trung đoàn 927. Đầu năm 1973, các cơ quan, đơn vị trong Bộ tư
lệnh không quân thực hiện một bước điều chỉnh và củng cố tổ chức, đề bạt và gửi đi đào tạo những
cán bộ, phi công đã trải qua rèn luyện trong chiến đấu. Bộ tư lệnh không quân ra quyết định giải thể
các đơn vị như sở chỉ huy tiền phương, rút gọn lực lượng ở sân bay Hoà Lạc, Nà Sản, Miếu Môn để
tăng cường lực lượng cho sân bay Kiến An; thành lập một số đơn vị bảo quản máy bay ở một số sân
bay vùng mới giải phóng ở miền Nam như Tà Cơn, Đắc Tô, Lộc Ninh.

Để chuẩn bị cho không quân làm nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam, Bộ Tổng tham mưu
và Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định thành lập một đơn vị hỗn hợp gồm các loại máy bay phản lực
chiến đấu, vận tải và trực thăng, lực lượng hoạt động trên không và lực lượng hoạt động bảo đảm mặt
đất. Cán bộ, chiến sĩ của đơn vị được học tập tình hình nhiệm vụ, chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với vùng mới giải phóng. Các máy bay của đơn vị được sơn phù hiệu Quân giải phóng miền Nam.
Tháng 4 năm 1973, theo sự thoả thuận giữa hai nhà nước Việt nam và Lào, Bộ tư lệnh Quân chủng
phòng không - không quân ra quyết định thành lập hai đơn vị ở sân bay thuộc chiến trường C là
Nakay và Phum-xa-vẳn. Theo quyết định trên, Bộ tư lệnh không quân tăng cường cho sân bay Nakay
18 người và 2 máy bay An-2, 1 xe dầu và 1 xe tải.
Ngày 28 tháng 4, chấp hành chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh không quân tổ chức cho máy bay
An-2 bay thử tại sân bay Nakay. Tham dự chứng kiến cuộc bay thử có các đồng chí Phó tư lệnh Đoàn
959 và Cục trưởng Cục Tác chiến, Cục trưởng Cục Cán bộ thuộc Bộ chỉ huy quân đội nước bạn.

Ngày 1 tháng 5 năm 1973, Bộ tư lệnh không quân điều một số biên đội máy bay MiG-17
và MiG-21 tham gia bay diễu binh qua Quảng trường Ba Đình chào mừng thắng lợi to lớn của quân
dân ta vừa giành được.

Ngày 16 tháng 6 năm 1973, Bộ tư lệnh Phòng không Không quân ra quyết định số
432/TM-QL do đại tá Phó tư lệnh Hoàng Văn Khánh ký, tổ chức các ban quản lý bay ở các đơn vị
thuộc Bộ tư lệnh không quân. Các đơn vị quản lý bay có nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu bay của Bộ tư
lệnh không quân. Đồng thời, trên điều bộ phận quản lý bay của Cục Hàng không dân dụng về Trung
đoàn 919 để thành lập tiểu ban quản lý bay.

Ngày 24 tháng 6, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân ra quyết
định điều đại đội thợ máy 12B thuộc Trung đoàn 925 về Trung đoàn 923 để tổ chức đội bảo quản máy
bay thuộc tiểu đoàn thợ máy của Trung đoàn 923. Đồng thời thành lập đại đội bảo quản máy bay
thuộc tiểu đoàn thợ máy của Trung đoàn 925, trên cơ sở thành phần thợ kỹ thuật của đại đội 12B trước
khi bàn giao cho Trung đoàn 923.

Cuối tháng 6 năm 1973, để đảm bảo sức khoẻ cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị và bốn cơ
quan, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định điều toàn bộ quân số, trang bị của bệnh xá Trung đoàn 919
về Phòng Hậu cần và thành lập bệnh xá khu vực. Bệnh xá được tiếp thu và điều trị từ 40 đến 50
giường bệnh.

Đầu tháng 7 năm 1973, chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh không
quân lập phương án chuyển sân cho 8 máy bay MiG-17 và 2 máy bay UMIG-15 của Trung đoàn 923
từ Tường Vân (Trung Quốc) về nước. Cũng trong tháng 7, Bộ tư lệnh không quân lập kế hoạch cho
Trung đoàn 921 và các đơn vị có liên quan bay phục hồi và sau đó bay chuyển sân cho 8 chiếc L -29
từ sân bay Nội Bài sang sân bay Tường Vân. Các lực lượng chuyển sân đã được thực hiện đúng kế
hoạch và bảo đảm an toàn.

Cùng với việc điều chỉnh lực lượng, Bộ tư lệnh không quân chỉ đạo các đơn vị tham gia tác
chiến, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện nâng cao chất lượng chiến đấu của bộ đội. Ngay từ đầu năm
1973, không quân Mỹ tập trung đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở vào và tăng cường trinh sát từ vĩ tuyến 20
trở ra. Sáu tháng đầu năm, chúng tiến hành trinh sát và thường xuyên dùng EC -121 và EB-66 theo
dõi hoạt dộng của không quân ta. Các đơn vị không quân ta nhiều lần tổ chức đánh máy bay trinh sát
và tích cực tìm đánh máy bay B-52 hoạt động ở phía nam vĩ tuyến 20. Không quân đã cất cánh 75 lần
chiếc, đánh 3 trận, bắn rơi 3 máy bay không người lái. Đồng chí Nhượng và đồng chí Tưởng thuộc
Trung đoàn 927 bắn rơi 2 chiếc. Đồng chí Vượng thuộc trung đoàn 923 bắn rơi 1 chiếc. Không quân
ta hai lần cất cánh, song chưa tiếp cận máy bay B-52 đã bị F-4 địch bắn cháy, phi công nhảy dù an
toàn.

Nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu được thường xuyên củng cố và giữ vững. Hàng tháng, hàng
quý, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân đều có nghị quyết lãnh đạo các đơn vị; tổ chức báo động chuyển
cấp sở chỉ huy và tích cực bay tuần tiễu, diễn tập. Cuối tháng 8, đầu tháng 9, chấp hành chỉ thị của Bộ
Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân về việc không quân tham gia
diễn tập quân binh chủng hợp thành, Bộ tư lệnh không quân đã điều một bộ phận lực lượng tham gia
diễn tập chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong kế hoạch diễn tập hiệp đồng quân binh chủng mang
mật danh A9.

Các đơn vị tham gia diễn tập của Bộ tư lệnh không quân gồm: Trung đoàn 923 có 8 đến 12
lần chiếc MiG-17 chi viện cho bộ đội giữ chốt trong hai tình huống công kích tuyến xuất phát tiến
công địch và kết hợp hoả lực cùng các quân binh chủng bạn; Trung đoàn tiêm kích 921 tham gia diễn
tập 4 đến 6 lần chiếc làm nhiệm vụ yểm hộ Mi-6 cơ động đường không và trinh sát; Trung đoàn 919
tham gia diễn tập với 2 máy bay trực thăng Mi-6, cơ động một đại đội tăng cường, đổ quân sau lưng
địch, tạo điều kiện cho bộ đội tiêu diệt địch. Đồng thời dùng 2 máy bay Mi-4 tham gia diễn tập chở
thủ trưởng trung đoàn và sư đoàn đi thị sát và chỉ đạo tác chiến.

Cuối tháng 8, Bộ tư lệnh không quân đã tham gia hội nghị hiệp đồng cùng với Bộ tư lệnh
Sư đoàn phòng không 365, Bộ tư lệnh Radar tại sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 365. Đồng chí
Nguyễn Văn Tiên, đại tá Phó tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân chủ trì hội nghị. Hội
nghị đã thảo luận và thống nhất việc thông báo máy bay ta và việc sử dụng radar tác chiến và huấn
luyện. Ngày 24 tháng 9 năm 1973, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định số 532/BTL-QL thành lập đại
đội thợ máy trực thuộc tiểu đoàn thợ máy của Trung đoàn 921.

Trong năm 1973, Bộ tư lệnh không quân đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ cấp trên giao. Các
đơn vị đã bay gần 2.000 chuyến vận chuyển khí tài chiến đấu, diễn tập, quay phim, trinh sát, phục vụ
quốc tế, chở 134 tấn quế và 13 tấn hàng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, tổ chức tiếp thu 512
chuyến bay của nước ngoài.

Công tác huấn luyện bộ đội không quân được Bộ tư lệnh không quân tập trung lãnh đạo và
kiểm tra đôn đốc. Năm 1973, các đơn vị thuộc Bộ tư lệnh đã tổ chức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu
được 384 ngày bay, 124 đêm bay với 12.021 lần chiếc, đạt 4.363 giờ bay.

Qua tác chiến, huấn luyện, trình độ kỹ thuật, chiến thuật của phi công các loại được rèn
luyện và trưởng thành về mọi mặt nhất là về chiến thuật, ứng dụng chiến đấu, biên đội 4 chiếc, bay
đội hình lớn.

Máy bay MiG-17 chuyển sang huấn luyện bay cường kích là chủ yếu. Trong năm, Trung
đoàn 923 đã huấn luyện được 19 phi công MiG-17 bay cường kích đánh mục tiêu, 12 phi công bay
cường kích trên biển; đào tạo được 31 đồng chí biên đội trưởng bay các loại. Công tác biên soạn các
tài liệu phục vụ cho xây dựng và học tập, huấn luyện được triển khai đồng bộ và đạt kết quả tốt. Công
tác tổng kết chiến đấu năm 1972 được tiến hành đạt chất lượng cao. Việc huấn luyện đào tạo cán bộ
mặt đất, nhận viên kỹ thuật đều hoàn thành kế hoạch, kịp thời bổ sung cho các đơn vị.

Công tác bảo đảm kỹ thuật, hậu cần năm 1973 của Bộ tư lệnh không quân có những đóng
góp quan trọng. Các đơn vị kỹ thuật đã sửa chữa phục hồi toàn bộ số máy bay MiG-21 hỏng do chiến
đấu và huấn luyện. Trung đoàn 919 sửa chữa dồn lắp được 1 máy bay An-24, 2 máy bay IL- 14, 1máy
bay Li-2 và 3 máy bay An-2, ngành kỹ thuật đã có nhiều sáng kiến kỹ thuật như phương tiện để kiểm
tra bình khí nén. Dù hãm MiG-19 trước kia dùng dù trợ lực 1 nay không có dù trợ lực 1, phải dùng dù
trợ lực 5, khi thả dù thường hay bị xoắn, không mở được, ngành kỹ thuật đã nghiên cứu, cải tiến để sử
dụng tốt và an toàn dù trợ lực 5. Sáng kiến này được đánh giá cao và được tham gia triển lãm sáng
kiến cải tiến kỹ thuật toàn quân năm 1973.

Ngành hậu cần năm 1973 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm các mặt phục vụ huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Việc sửa chữa, xây dựng mới doanh trại, chăm lo nơi ăn ở của
bộ đội và đảm bảo chăm sóc sức khoẻ cho phi công cùng các đối tượng khác ở các đơn vị được quan
tâm thường xuyên.

Năm 1973, chấp hành nghị quyết của Thường vụ Đảng Bộ tư lệnh không quân về "Tăng
cường lãnh đạo bảo đảm an toàn, quản lý tốt cơ sở vật chất kỹ thuật và nghiêm chỉnh chấp hành kỷ
luật trong không quân", các đơn vị đã tiến hành 2 đợt tổng kiểm tra. Qua kiểm tra, các đơn vị đã rút ra
những bài học bổ ích trong công tác bảo đảm an toàn, quản lý cơ sở vật chất và chấp hành kỷ luật
trong đơn vị mình.

Do đặc điểm tình hình thay đổi, năm 1973, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của công tác chính trị tư tưởng. Các cấp uỷ Đảng đã có những nghị quyết chuyên đề
về công tác tư tưởng, đi sâu nghiên cứu tình hình tư tưởng bộ đội; cộng tác giáo dục chính trị tư tưởng
đã có bề sâu. Năm 1973, Đảng uỷ Trung đoàn 927 và Trung đoàn 919 được đánh giá là những Đảng
uỷ đạt vững mạnh toàn diện. Công tác phát triển Đảng của Đảng bộ Bộ tư lệnh không quân đạt kết
quả tốt. Toàn Đảng bộ đã kết nạp 221 đảng viên mới. Công tác cán bộ được kiện toàn về cơ cấu số
lượng, nâng cao về chất lượng. Công tác chính sách có chuyển hướng tốt. Các đơn vị anh hùng như
đại đội 4 Trung đoàn 923, đại đội 7 Trung đoàn 921, đại đội 12 Trung đoàn 919 đều phát huy được vai
trò tích cực của mình. Công tác chính sách đối với các gia đình thương binh hệt sĩ có rất nhiều cố
gắng. Trong năm, các đơn vị đã đón tiếp 20 gia đình với gần 150 người là thân nhân liệt sĩ đi thăm
mộ; cử 13 cán bộ đi bàn giao cho các địa phương 80 mộ liệt sĩ; kiểm tra sơ đồ mộ chí cho 275 đồng
chí. Các mặt công tác dân vận, bảo vệ, xây dựng căn cứ và các đơn vị điển hình trong Bộ tư lệnh được
quan tâm xây dựng và củng cố.

Sau gần một năm củng cố tổ chức, điều chỉnh lực lượng khôi phục các sân bay, các căn cứ
cơ sở hậu cần, kỹ thuật, Bộ tư lệnh không quân đã khắc phục một bước hậu quả chiến tranh, nâng cao
khả năng chiến đấu, vận tải, tạo cơ sở cho bước phát triển mới về tổ chức lực lượng và nhiệm vụ chiến
đấu của không quân sau này.

Theo phương hướng xây dựng các khối chủ lực cơ động mạnh của toàn quân trong 2 năm
1973- 1974, Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc phòng chủ trương thành lập một số quân đoàn chủ lực
và tăng cường xây dựng các đơn vị quân binh chủng. Bộ tư lệnh không quân được tổ chức theo chức
năng nhiệm vụ gồm không quân chiến đấu, không quân vận tải, trường huấn luyện và các cơ sở bảo
đảm kỹ thuật trực thuộc Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân.

Ngày 10 tháng 11 năm 1973, Bộ quốc phòng ra quyết định số 151/QĐ-QP do Thứ trưởng
Bộ quốc phòng, Thiếu tướng Trần Sâm ký, sáp nhập Cục Hàng không dân dụng và Trung đoàn không
quân vận tải 919 thành Lữ đoàn không quân vận tải 919 làm nhiệm vụ vận tải quân sự và dân dụng.
Bộ tư lệnh Lữ đoàn 919 lấy danh nghĩa là Cục Hàng không dân dụng để giải quyết các vấn đề về hàng
không dân dụng ở trong nước và nước ngoài. Căn cứ chính của lữ đoàn ở sân bay Gia Lâm và sân bay
Hoà Lạc. Đồng chí thượng tá Nguyễn Phúc Trạch được bổ nhiệm Tư lệnh lữ đoàn, đồng chí thượng tá
Đỗ Long làm chính uỷ.

Bộ tư lệnh không quân được gọi là Bộ tư lệnh không quân chiến đấu vẫn mang phiên hiệu
công khai là Sư đoàn 371 được kiện toàn. Lực lượng không quân chiến đấu lúc này gồm các trung
đoàn bay 921, 923, 925, 927 cùng 4 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực
thuộc. Đồng chí đại tá Đào Đình Luyện làm tư lệnh không quân chiến đấu, đồng chí thượng tá Trần
Mạnh làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, đồng chí Hồ Luật làm chính uỷ. Căn cứ chính của Bộ
tư lệnh chuyển từ Gia Lâm về Nội Bài, quản lý toàn bộ hệ thống các sân bay Kép, Yên Bái, Kiến An,
Thọ Xuân, Vinh, Anh Sơn.

Ngày 14 tháng 11 năm 1973, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu và mệnh lệnh của
Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân về việc cơ động Trung đoàn 923 vào hoạt động ở
Quân khu 4, Bộ tư lệnh không quân quyết định điều một đại đội MiG-17 của Trung đoàn 923 vào sân
bay Thọ Xuân làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu hiệp đồng với các lực lượng vũ trang khác đánh địch
bảo vệ các mục tiêu trên địa bàn Quân khu 4, xây dựng đơn vị chính quy. Đại đội gồm 12 phi công và
10 chiếc MiG-17 bố trí ở 4 sân bay Vinh, Anh Sơn, Thọ Xuân, Đồng Hới để cơ động chiến đấu và
huấn luyện. Sở chỉ huy phía trước của Trung đoàn 923 và lực lượng trực ban thường xuyên chiến đấu
của đại đội bố trí tại sân bay Thọ Xuân. Các sân bay Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới được tăng cường lực
lượng và trang bị bảo đảm cho một đến hai biên đội trực ban chiến đấu. Mạng thông tin liên lạc của
Bộ tư lệnh không quân được trang bị thêm một số khí tài mới để nâng cao chất lượng thu thập tin tình
báo, bảo đảm liên lạc thông suốt liên tục giữa sở chỉ huy trung tâm với sở chỉ huy các trung đoàn,
giữa các căn cứ phía bắc với phía nam, giữa sở chỉ huy không quân với sở chỉ huy các đơn vị phòng
không. Các sân bay Thọ Xuân, Vinh, Đồng Hới, Kiến An được trang bị thêm máy đối không, dẫn
đường, đèn chiếu sáng ban đêm. Để điều chỉnh và tăng cường cho lực lượng không quân chiến đấu,
ngày 13 tháng 12 năm 1973, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, đại tá Lê Văn Tri ký
quyết định điều đại đội 53 radar dẫn đường từ Bộ tư lệnh Radar về Trung đoàn 921 Bộ tư lệnh không
quân chiến đấu. Trang bị của đại đội có 4 máy Một П-35, một ПPB-11, một П-12 và một П-15…

Đến cuối năm 1973, một số đảng bộ của các đơn vị thuộc Đảng bộ sư đoàn đã lần lượt tiến
hành đại hội đại biểu Đảng bộ cấp cơ sở. Ngày 29 tháng 12 năm 1973, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không
quân đã ra nghị quyết do đồng chí bí thư Đào Đình Luyện ký triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ
Không quân lần thứ 3.

Nghị quyết nêu rõ mục đích yêu cầu nội dung của đại hội và quán triệt một số vấn đề về tư
tưởng và tổ chức trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội. Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ của
đại hội lần này: "Thực sự là một cuộc vận động chính trị lớn trong toàn Đảng bộ".

Đảng uỷ quyết định thành lập ban tổ chức chuẩn bị và tiến hành đại hội gồm các đồng chí:
Trung tá Hoàng Bái, Chủ nhiệm chính trị Bộ tư lệnh không quân chiến đấu làm trưởng ban và các
đồng chí Lê Liên uỷ viên, đồng chí Thẩm phụ trách mặt hậu cần, đồng chí Trọng phụ trách tổ chức,
đồng chí Dưỡng phụ trách kỹ thuật, đồng chí Châu phụ trách tham mưu.
Căn cứ vào những thành tích của các đơn vị và cá nhân thuộc Bộ tư lệnh không quân qua
hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và đặc biệt qua cuộc chiến đấu và chiến thắng đợt tập
kích chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ, trong năm 1973, Nhà nước ta đã ba lần xét và
phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho các tập thể và cá nhân thuộc Bộ tư
lệnh không quân, Quân chủng phòng không - không quân.

Đợt 1: Ngày 11 tháng 1, có đại đội 3 thuộc Trung đoàn 921 (tuyên dương lần 2) cùng các
đồng chí Đỗ Văn Lanh, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm được tuyên dương và
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Đặng Ngọc Ngự.

Đợt 2: Ngày 3 tháng 9, có Trung đoàn không quân 923 và các đồng chí Phạm Tuân,
Nguyễn Văn Nghĩa được tuyên dương.

Đợt 3: Ngày 31 tháng 12, có đại đội 2 thuộc Trung đoàn 923 (tuyên dương lần 2) đại đội 9
thuộc Trung đoàn 927 cùng các đồng chí Nguyễn Nhật Chiêu, Đinh Tôn và Trương Khánh Châu được
tuyên dương.

Phấn khởi trước sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các đơn vị và cá nhân vừa được
phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đều ý thức được trách nhiệm
của mình, nguyện phát huy hơn nữa ý thức trách nhiệm và nhiệt tình cách mạng xây dựng đơn vị vững
mạnh toàn diện, góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao cho.

II. THAM GIA CHIẾN ĐẤU GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Bước sang năm 1974, lực lượng không quân chiến đấu đã triển khai trên nhiều sân bay và
sẵn sàng làm nhiệm vụ. So với trước, điều kiện huấn luyện xây dựng đơn vị của Bộ tư lệnh không
quân chiến đấu đã ổn định theo hướng chính quy cơ bản, có hệ thống và toàn diện. Thi hành quyết
định của trên, trong quý I năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ
kiện toàn biên chế tổ chức. Bộ tư lệnh không quân chiến đấu có 4 trung đoàn không quân tiêm kích và
cường kích là các trung đoàn 921, 927, 925 và 923 cùng các đơn vị sân bay trực thuộc thực hiện sẵn
sàng chiến đấu và huấn luyện, chuẩn bị lực lượng tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc.

Ngày 12 tháng 1 năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định số 18/BTL-QL
do thượng tá, Phó tư lệnh Trần Mạnh ký, tách bộ phận ba trạm của các đại đội khí tài thuộc các trung
đoàn 921, 927, 925 và 923 tổ chức thành các đội riêng trực thuộc các tiểu đoàn kỹ thuật của các trung
đoàn.

Ngày 26 tháng 1, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định điều toàn bộ quân số,
trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có ở sân bay Kép, trước đây thuộc Trung đoàn 923 nay giao
cho Trung đoàn 927 quản lý.

Tháng 2 năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định thành lập đại đội cảnh
vệ thuộc Trung đoàn 921và quyết định thành lập bệnh xá sân bay Kiến An.

Ngày 25 tháng 2 năm 1974, Thường vụ Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân chiến đấu họp ra
nghị quyết lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết 228/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết
79/NQ-ĐU của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng về “Cuộc vận động tăng cường rèn luyện kỷ luật, tự
giác nghiêm minh của quân đội" và về nhiệm vụ "Tổng kiểm tra trang bị khí tài và vật tư" của các đơn
vị.

Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã thành lập ban chỉ đạo của Bộ tư lệnh để chỉ đạo thực
hiện Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị. Ban chỉ đạo gồm 5 đồng chí, do đồng chí Trần Mạnh, thượng
tá, Phó tư lệnh làm trưởng ban.

Ngày 28 tháng 2, nhằm củng cố và tăng cường lực lượng kỹ thuật để lắp ráp vũ khí mới,
Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định thành lập đội lắp ráp tên lửa thuộc tiểu đoàn thợ máy
của Trung đoàn 921.

Đội lắp ráp tên lửa bao gồm các tổ lắp ráp K13, K5 và bảo quản, thợ máy sử dụng máy nổ,
lái xe chở tên lửa…

Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân chiến đấu, đầu tháng 3 năm
1973 Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ tư lệnh không quân lần thứ 3 được tiến hành.

Đại hội bầu ban chấp hành Đảng bộ mới. Đồng chí Hồ Luật được bầu làm bí thư Đảng uỷ
Bộ tư lệnh không quân chiến đấu thay đồng chí đại tá Đào Đình Luyện. Đồng chí Đào Đình Luyện
được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh phó Quân chủng phòng không - không quân. Đồng chí thượng tá
Trần Hanh, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh không quân chiến đấu được bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Bộ tư lệnh
không quân chiến đấu. Sau đại hội, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân đã triển khai tổ chức học Nghị
quyết 21 của Trung ương Đảng cho đảng viên, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, đồng thời phổ biến quán
triệt Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

Để tăng cường khả năng chiến đấu, bổ sung lực lượng phi công sẵn sàng chiến đấu và huấn
luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu, tháng 2 năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu cử 42 phi
công MiG-21 sang Liên Xô bổ túc nâng cao trình độ, trong đó một nửa huấn luyện bay đêm, số phi
công còn lại tiếp tục huấn luyện ở trong nước, trong đó có 34 phi công được huấn luyện bay đêm. Do
thiếu máy bay huấn luyện, các đơn vị đều phải lập kế hoạch cụ thể, theo dõi tiến độ bay của từng phi
công, tổ chức huấn luyện xen kẽ với trực ban chiến đấu và giữa các khoa mục.

Đầu năm 1974, theo lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu chỉ thị cho
Trung đoàn 925 cơ động 3 đợt, chuyển 28 máy bay MiG-19 từ sân bay Nam Ninh (Trung Quốc) về
sân bay Yên Bái để huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.

Nhằm tăng cường thêm sức mạnh hoả lực cho máy bay MiG-19 trong không chiến, nhất là
đối với những loại máy bay địch có ưu thế về tốc độ, trong khi trên máy bay MiG-19 vũ khí chỉ có
pháo và rốc-két, đội ngũ cán bộ kỹ thuật gồm các kỹ sư và thợ máy lành nghề thông qua Phòng Kỹ
thuật báo cáo với Bộ tư lệnh phương án cải tiến lắp tên lửa không đối không K13 lên MiG-19.

Ngày 14 tháng 3 năm 1974, Bộ tư lệnh Phòng không -Không quân đã phê chuẩn cho phép
lắp tên lửa K13 lên máy bay MiG-19 mang số hiệu 6045. Với tinh thần dám nghĩ dám làm, với trí
thông minh và tài sáng tạo, với khí thế "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", đội ngũ cán bộ kỹ
thuật đã khắc phục khó khăn quyết tâm thực hiện bằng được nhiệm vụ này. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật
có nhiều vấn đề vượt quá khả năng và trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật của ta lúc bấy giờ. Ý tưởng lắp
đặt tên lửa K-13 lên MiG-19 để sử dụng trong không chiến còn một số vấn đề chưa giải quyết được
nhưng đây cũng là một bài học rất bổ ích và có ý nghĩa thực tiễn. Đối với công tác kỹ thuật, nhất là kỹ
thuật hàng không, vấn đề nghiên cứu cải tiến cho dù đó là một chi tiết nhỏ cũng phải hết sức thận
trọng, phải được nghiên cứu thật kỹ và có luận chứng khoa học, mặc dù tên lửa K-13 đã được lắp đặt
trên một máy bay MiG-19 và đồng chí Hoàng Ngọc Diêu, đại tá Phó tư lệnh Quân chủng phòng
không-Không quân đã ký phê duyệt kế hoạch bay thử và chuyến bay thử đã thành công. Tuy nhiên do
nhiều nguyên nhân về mặt kỹ thuật liên quan đến tính năng của máy bay nên không được đưa vào ứng
dụng chiến đấu.

Trong quý I năm 1974. Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tiến hành điều chỉnh lực lượng, di
chuyển vị trí đóng quân của các đơn vị. Ngày 26 tháng 3, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu chuyển cơ
quan Bộ tư lệnh từ sân bay Gia Lâm lên sân bay Nội Bài. Trung đoàn 921 dồn lực lượng vào đóng tại
khu E, nhường chỗ cho cơ quan Bộ tư lệnh.

Cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1974, chấp hành lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh giao
nhiệm vụ cho Trung đoàn 923 chuyển vị trí đóng quân từ sân bay Kép về sân bay Kiến An. Trung
đoàn 923 đã hoàn thành nhiệm vụ chuyển 25 máy bay MiG-17 và toàn bộ lực lượng, vũ khí, trang bị
về Kiến An an toàn, đúng thời gian. Cũng thời gian ấy, để chuẩn bị sửa chữa sân bay Nội Bài, theo
lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 huấn
luyện và sẵn sàng chiến đấu. Trung đoàn 921 đã chuyển 4 máy bay MiG-21 và 2 máy bay UMIG-21
lên sân bay Kép an toàn. Đầu tháng 4 tiến hành sửa chữa sân bay Nội Bài, đến ngày 13 tháng 5, việc
sửa chữa cơ bản hoàn thành.

Cuối tháng 4, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 927 chuyển
toàn bộ lực lượng từ Vĩnh Phú về Kép. Trung đoàn 927 đã chuyển 17 máy bay MiG-21 và toàn bộ
quân số, cơ sở vật chất kỹ thuật và hậu cần về sân bay Kép an toàn.

Đầu năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã chuẩn bị phương án đánh máy bay
trinh sát U-2 của Mỹ và giao nhiệm vụ cho các trung đoàn 921, 927 tiến hành luyện tập và có phương
án tác chiến phù hợp với vị trí đóng quân của mình.

Ngày 28 tháng 4, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không -
không quân ra quyết định số 366/TM-QL do đồng chí Tư lệnh Lê Văn Tri ký điều đại đội 53 radar dẫn
đường của Trung đoàn 921 thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến đấu về trực thuộc Sư đoàn 373 với
toàn bộ quân số trang bị.

Ngày 7 tháng 5 năm 1974, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định số 292/BTL lâm thời tổ
chức kho xe máy trực thuộc Phòng Hậu cần. Kho có nhiệm vụ bảo quản giữ gìn các loại xe máy của
các ngành còn để dự trữ chưa cấp phát cho các đơn vị hoặc các xe máy thu hồi từ các đơn vị lên. Địa
điểm đặt kho ở tại sân bay Miếu Môn.

Theo mệnh lệnh của Quân chủng, trong tháng 7, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tiếp tục
triển khai lực lượng MiG-21 và MiG-17 vào Quân khu 4; ngày 5, chuyển 20 máy bay MiG-17 và 4
máy bay L -29 từ Tường Vân (Trung Quốc) về sân bay Nội Bài để tăng cường lực lượng L-29 sẵn
sàng chiến đấu và huấn luyện nâng cao chất lượng, hoàn thành nhiệm vụ trên giao.
Ngày 11 tháng 7, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu chỉ thị cho Trung đoàn 921 tổ chức
chuyển 3 máy bay MiG-21 vào Vinh tham gia trực ban chiến đấu.

Ngày 1 tháng 8, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định số 334/BTL-QL điều toàn
bộ quân số trang bị, cơ sở vật chất và kỹ thuật của các sân bay Thọ Xuân, Vinh, Anh Sơn, Đồng Hới
trước đây trực thuộc Phòng Hậu cần nay trực thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến đấu quản lý. Cùng
ngày, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra quyết định số 335/BTL-QL điều toàn bộ quân số, trang thiết
bị của bệnh xá Trung đoàn 921 về trực thuộc Phòng Hậu cần và tổ chức thành bệnh xá của khu vực để
điều trị chung cho cơ quan Bộ tư lệnh và các đơn vị trực thuộc cơ quan Trung đoàn 921.

Ngày 12 tháng 8, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu chỉ đạo Trung đoàn 923 chuyển 2 máy
bay MiG-17 vào sân bay Đồng Hới. Ngày 21 tháng 8 chuyển tiếp MiG-17 vào Đồng Hới cho đủ số
lượng sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện.

Ngày 22 tháng 8, hai đồng chí Đinh Tôn và Phạm Phú Thái đã lái 2 chiếc MiG-21 bay hạ
cánh thử an toàn xuống sân bay Đồng Hới. Sau khi lực lượng MiG-21 và MiG-17 được triển khai ở
sân bay Vinh và sân bay Đồng Hới, lực lượng MiG-21 và MiG-17 của hai trung đoàn 927 và 923 ở
Thọ Xuân được lệnh rút về căn cứ ở Kép và Kiến An, chỉ để lại một lực lượng nhỏ làm dự bị ở sân
bay Thọ Xuân.

Trung đoàn không quân 923 tiến hành huấn luyện máy bay MiG-17, cơ động trên các sân
bay Kiến An, Thọ Xuân,Vinh, Đồng Hới để nâng cao trình độ tiêm kích phòng không và tiêm kích
bom, đánh các mục tiêu của địch ở mặt đất và trên biển.

Trung đoàn không quân 925 vừa được trang bị thêm 24 máy bay MiG-19 nên có đủ máy
bay cho phi công mới huấn luyện. Do khí tượng khu vực sân bay Yên Bái không ổn định, vì vậy kế
hoạch huấn luyện phải thường xuyên thay đổi. Các phi công mới được tranh thủ huấn luyện khi thời
tiết tốt Các phi công cũ được huấn luyện nâng cao trình độ bay chiến đấu trong điều kiện thời tiết
phức tạp.

Các trung đoàn 921 và 927 có tới 50% số phi công mới được đào tạo bổ sung, vì thế nhiệm
vụ huấn luyện rất quan trọng. Ngoài các biên đội trực ban chiến đấu, hai trung đoàn liên tục tổ chức
các đợt huấn luyện bay với cường độ lớn, ban ngày và ban đêm.

Nhiệm vụ tác chiến, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện nâng cao chất lượng phi công của
Bộ tư lệnh không quân chiến đấu năm 1974 hoàn thành tốt. Các đơn vị bay đã chuyển cấp 32 lần, cất
cánh 12 lần tốp; bay tuần tiễu 205 lần tốp với 388 lượt chiếc; bay nhiệm vụ được 283 lần chiếc các
loại; tổ chức bay chuyển quân cơ động nhiều lần. Đặc biệt, quý IV năm 1974, lực lượng không quân
chiến đấu đã cất cánh chiến đấu với 3 tốp 6 lần chiếc: 2 tốp với 4 chiếc của Trung đoàn 927 cất cánh
từ Kép và Đồng Hới, 1 tốp 2 chiếc của Trung đoàn 923 cất cánh từ Kiến An. Nhưng do công tác tình
báo, dự đoán đường bay của máy bay trinh sát không người lái thiếu chính xác nên các biên đội được
cất cánh đều không gặp địch.

Tháng 9 năm 1974, đồng chí Hồ Luật, Chính uỷ kiêm bí thư Đảng uỷ Bộ tư lệnh không
quân chiến đấu đi nhận công tác mới. Đồng chí Chu Duy Kính, Phó chính uỷ được bổ nhiệm giữ chức
chính uỷ kiêm bí thư Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân chiến đấu.
Căn cứ vào thế bố trí chiến lược bảo vệ miền Bắc và chuẩn bị vươn sâu vào phía nam của
lực lượng không quân chiến đấu, Quân chủng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 bảo vệ vùng trời
phía tây đường số 1 nam Hà nội đến đường số 3, đồng thời sẵn sàng cơ động vào sân bay Vinh, Đồng
Hới.

Trung đoàn 927 bảo vệ vùng trời phía đông bắc và đông nam Hà nội, sẵn sàng cơ động vào
sân bay Thọ Xuân.

Trung đoàn 923 cơ động chiến đấu ở độ cao trung bình trên tất cả các hướng, trọng điểm là
khu vực Hải Phòng.

Trung đoàn 925 bảo vệ vùng trời phía tây và tây bắc Hà nội.

Lực lượng trực ban chiến đấu ở sân bay Nội Bài thường xuyên có một biên đội 2 MiG-21,
ở sân bay Thọ Xuân có hai biên đội 2 MiG-21 và 2 MiG-17, ở sân bay Yên Bái có một biên đội 2
MiG-19.

Đến cuối năm 1974, tất cả các phi công mới đào tạo đã hoàn thành chương trình huấn
luyện và vào trực ban chiến đấu. Số phi công cũ đã có kinh nghiệm trong chiến đấu nay tiếp tục được
rèn luyện nâng cao trình độ theo yêu cầu của nhiệm vụ, 75% số lái cũ đã bay hồi phục tốt. Số lái mới
MiG-21 đã đưa được 85% số phi công vào trực ban chiến đấu. Số lái mới MiG-17 đã được huấn luyện
nâng cao trình độ kỹ thuật cường kích đánh mục tiêu mặt đất đạt trình độ 1 đến 2 chiếc lượn vòng
chiến đấu, bổ nhào bắn và ném bom, 19 đồng chí bay biên đã bắn đạn thật và ném bom thia lia. Năm
1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tổ chức 11 lớp đào tạo được 297 cán bộ nhân viên kỹ thuật
các ngành. Trung đoàn 925 tự tổ chức huấn luyện thợ máy sơ cấp MiG-19.

Công tác huấn luyện điều lệnh, rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị chính quy được triển
khai sâu rộng. Hầu hết cán bộ chiến sĩ của các đơn vị được học tập, giáo dục về điều lệnh quân đội.
Việc huấn luyện lý luận và rèn luyện thể lực cho phi công được tiến hành thường xuyên. Công tác
trang bị vũ khí, phương tiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, hậu cần của Bộ tư lệnh không quân chiến đấu
được coi trọng. Năm 1974, số lượng máy bay tăng 28 chiếc (có 24 MiG-19 và 4 MiG-17); xe máy các
loại tăng 51 chiếc.

Chấp hành chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, năm 1974, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu
đã triển khai hai đợt tổng kiểm kê tài sản, giúp cho cán bộ chỉ huy các cấp nắm chắc số lượng và chất
lượng các trang bị vũ khí, khí tài đơn vị mình quản lý.

Công tác đảng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng được tiến hành thành nền nếp. Trong
năm có hai trong số bốn đảng uỷ trung đoàn đạt 5 yêu cầu; 65 chi bộ trên tổng số 132 chi bộ đạt 3 tiêu
chuẩn; các chi bộ đã kết nạp được 195 đảng viên. Công tác đoàn thanh niên ở các đơn vị phát triển
mạnh mẽ: có 66 chi đoàn trong số 110 chi đoàn ở các đơn vị đạt chi đoàn quyết thắng.

Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tổ chức kiểm tra và vẽ sơ đồ mộ chí của các liệt sĩ trong
toàn đơn vị từ trước tới nay; làm sổ thương binh cho 20 đồng chí; thăm 150 gia đình liệt sĩ. Công tác
dân vận của bộ đội không quân được giáo dục và đôn đốc kiểm tra thường xuyên nhằm thắt chặt mối
quan hệ đoàn kết gắn bó trong tình cảm quân dân ở các địa phương có sân bay và các đơn vị không
quân đóng quân.
Công tác dẫn đường và thông tin liên lạc năm 1974 được củng cố và phát triển để phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình cách mạng mới. Ngành dẫn đường vừa bảo đảm trực ban sẵn
sàng chiến đấu vừa tranh thủ huấn luyện để nâng cao trình độ nghiệp vụ. Tích cực tham gia làm các
phương án tác chiến mới ở nam Khu 4 và bổ sung hoàn chỉnh các phương án cũ; tập trung nghiên cứu
phương án dẫn đường, huấn luyện nghiệp vụ hai đợt cho 65 đồng chí trợ lý trong ngành kịp thời bổ
sung lực lượng cơ động đi B1 và B2 để làm nhiệm vụ.

Ngành thông tin liên lạc năm 1974 đã tập trung bảo đảm xây dựng thiết bị thông tin cho sở
chỉ huy mới của Bộ tư lệnh, bảo đảm thông tin liên lạc cho di chuyển sở chỉ huy lên địa điểm mới
vững chắc, an toàn, bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và cơ động ra phía trước và nhiệm vụ huấn
luyện bay với cường độ lớn.

Trước đây việc bảo đảm thông tin cho Bộ tư lệnh không quân do Trung đoàn thông tin 26
của Quân chủng phòng không- không quân đảm nhiệm nay chủ yếu do lực lượng thông tin của Bộ tư
lệnh. Bộ tư lệnh không quân chiến đấu được lệnh thành lập đại đội thông tin sở chỉ huy trên cơ sở đại
đội 2 Trung đoàn thông tin 26 mới chuyển sang. Đơn vị đã chuẩn bị máy móc, lắp đặt thông tin vô
tuyến điện, hữu tuyến điện, điều chỉnh các mạng thông tin cho phù hợp; đã xây dựng được nền nếp
chế độ trực ban thông tin sở chỉ huy mới; tổ chức huấn luyện cấp tốc các thành phần trực ban của đại
đội thông tin sở chỉ huy. Ngành thông tin liên lạc đã cử cán bộ đi nghiên cứu nắm tình hình thông tin
liên lạc ở các sân bay phía Nam (B1, B2, B4, B5); đưa các phân đội thông tin vào các sân bay phía
Nam và bảo đảm thông tin cho các đợt diễn tập thực binh hiệp đồng quân binh chủng.

Ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân ta giải phóng tỉnh Phước Long. Với chiến thắng này, Bộ
Chính trị dự kiến thời cơ giải phóng miền Nam có thể đến sớm hơn do đó đã quyết định động viên
quân dân cả nước nỗ lực đẩy mạnh mọi hoạt động công tác để chuẩn bị đón thời cơ, một mặt chỉ đạo
tiến hành công tác chuẩn bị về mọi mặt để chi viện cho chiến trường miền Nam; mặt khác, để chủ
động đề phòng không quân Mỹ trở lại hoạt động trên chiến trường miền Nam và đánh phá miền Bắc,
Bộ tư lệnh không quân chỉ thị cho các trung đoàn bay cùng với các cơ quan nghiệp vụ nghiên cứu tính
năng kỹ thuật, chiến thuật một số loại máy bay mới của Mỹ như F-14, F-15, đồng thời tiến hành quân
sự dân chủ bàn cách đánh để đối phó khi có tình huống. Ngày 20 tháng 1, Bộ tư lệnh không quân
chiến đấu ra chỉ thị cho Trung đoàn 925 tổ chức chuyển 8 máy bay tiêm kích từ Nam Ninh (Trung
Quốc) về nước. Đồng chí Mai Đức Toại, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh không quân chiến đấu dẫn 9
đồng chí phi công và 4 đồng chí thợ máy sang Nam Ninh, sau đó dưới sự chỉ huy của sở chỉ huy Bộ tư
lệnh đã chuyển trường 8 máy bay tiêm kích từ Nam Ninh về sân bay Nội Bài và sân bay Gia Lâm an
toàn.

Đầu năm 1975, lực lượng cách mạng ở Đà Lạt chiếm được 1 chiếc UH- 1A, tháo rời và
chuyển ra miền Bắc, được lắp lại và bay thử tốt.

Tháng 2 năm 1975, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu được chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu
chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ lực lượng không quân chiến đấu. Mọi hoạt động thời
bình chuyển sang thời chiến, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và làm nhiệm vụ chi viện cho chiến
trường miền Nam.
Trung đoàn tiêm kích 927 cơ động về sân bay Nội Bài 17 máy bay để lực lượng công binh
không quân sửa chữa sân bay Kép. Trung đoàn cường kích 923 chuyển 26 máy bay trong đó có 2
UMIG vào sân bay Thọ Xuân để triển khai trực ban chiến đấu trên các sân bay Vinh, Đồng Hới, sẵn
sàng đánh địch.

Cuối tháng 2, để đảm bảo thống nhất chỉ huy lãnh đạo phục vụ kịp thời theo yêu cầu nhiệm
vụ, trên quyết định bàn giao sân bay Thọ Xuân cho Trung đoàn 923. Trung đoàn 923 bàn giao sân bay
Kiến An cho Trung đoàn 910.

Tại sân bay Đồng Hới, Bộ tư lệnh không quân tổ chức một đoàn cán bộ đi B gồm 38
người, đồng thời lập kế hoạch chuẩn bị lực lượng phục vụ cho nhiệm vụ chi viện chiến trường.

Ngày 4 tháng 3. quân và dân ta nổ súng đánh địch ở chiến trường miền Nam, Tây Nguyên.
chặn đánh địch trên đường 19, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trên
toàn miền Nam.

Ngày 8 tháng 3, Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân chiến đấu họp ra nghị quyết về "Tăng
cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ Bộ tư lệnh không quân chiến đấu để thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 1975" (Trích hồ sơ nghị quyết Đảng uỷ Bộ tư lệnh không quân
chiến đấu)

Ngày 10 tháng 3, quân dân ta tiến công và giải phóng Buôn Ma Thuột, tiến công tiêu diệt
làm tan rã phần lớn lực lượng Quân đoàn 2 và Quân khu 2 của địch, giải phóng hoàn toàn Tây
Nguyên. Nhờ chuẩn bị trước, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã kịp thời tổ chức lực lượng cán bộ,
nhân viên kỹ thuật vào tiếp quản các sân bay Buôn Ma Thuột, PLây Cu cùng toàn bộ cơ sở không
quân địch trong vùng mới giải phóng.

Ngày 25 tháng 3, quân dân ta giải phóng thành phố Huế, ngày 29 tháng 3 ta giải phóng Đà
Nẵng. Lực lượng không quân chiến đấu kịp thời tiếp quản sân bay Phú Bài, lập trạm radar dẫn đường
cho không quân ta ở Thuận An và tiếp quản sân bay Đà Nẵng.

Ở sân bay Đà Nẵng, lực lượng không quân ta được tổ chức thành đơn vị kỹ thuật tương
đương cấp trung đoàn làm nhiệm vụ quản lý sân bay; khôi phục hệ thống thông tin dẫn đường, các
mạng điện nước và xăng dầu ở sân bay và trạm radar dẫn đường ở bán đảo Sơn Trà.

Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng, ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị
Trung ương Đảng ta họp và khẳng định cuộc cách mạng ở miền Nam nước ta đã và đang có bước tiến
nhảy vọt. Thời cơ chiến lược để tổng tiến công và nổi dậy "đánh cho nguỵ nhào", giải phóng miền
Nam đã đến.

Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Đồng chí Văn Tiến Dũng, Uỷ viên
Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam được cử làm tư lệnh; đồng chí
Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam được cử làm chính uỷ mặt trận.

Từ cuối tháng 3, cả miền Bắc bừng bừng khí thế chi viện lực lượng về người, vũ khí, của
cải vật chất cho miền Nam đánh thắng Mỹ - nguỵ. Các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thuỷ tấp
nập xe cộ, tàu thuyền chở quân và vũ khí, lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến.
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, phi công Nguyễn Thành Trung, người của ta cài vào hoạt động
trong không quân nguỵ Sài Gòn, đã lái chiếc máy bay F-5E ném bom dinh Độc Lập, sau đó bay hạ
cánh an toàn xuống sân bay Phước Long trong vùng giải phóng.

Ngày 19 tháng 4, Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lệnh sơ bộ cho Bộ tư lệnh Quân
chủng phòng không - không quân chuẩn bị tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Được lệnh của trên,
Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh không quân chiến đấu họp thảo luận khả năng và phương án đánh
địch, đã quyết định sử dụng máy bay mới thu được của địch để đánh địch. Quân chủng giao nhiệm vụ
cho Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tổ chức chuẩn bị thực hiện. Đây là một nhiệm vụ quan trọng,
khẩn trương, đòi hỏi bộ đội không quân phải nỗ lực cao, phát huy tính chủ động sáng tạo và quyết tâm
lớn để thực hiện.

Ngày 20 tháng 4 năm 1975, tại doanh trại Sư đoàn 1 không quân nguỵ ở Đà Nẵng, Tư lệnh
Lê Văn Tri và Chính uỷ Hoàng Phương đã họp giao nhiệm vụ và tổ chức tổ đặc nhiệm Phòng Máy
bay Cục Kỹ thuật Không quân nhanh chóng vào sân bay Phù Cát vừa giải phóng để tìm tiếp, sửa chữa
và bảo đảm tốt trạng thái bay được một số máy bay cường kích A-37 của Sư đoàn 6 không quân Sài
Gòn. Tổ đặc nhiệm được thành lập gồm thiếu tá Hồ Thanh Minh, thượng uý Nguyễn Văn Soạn, trung
uý Nguyễn Đình Thuỷ, thiếu uý Nguyễn Anh Tuân, kĩ sư chuyên ngành của Phòng Máy bay -Động
cơ, cùng một số nhân viên kỹ thuật của Sư đoàn 1 không quân nguỵ. Tổ đã sửa chữa và bàn giao 2
chiếc A -37 số 778 và 980 cho xưởng A32 bảo đảm kỹ thuật chuẩn bị cho số phi công MiG-17 ở Đà
Nẵng học tập và bay chuyển loại A-37 của Mỹ mà ta thu được.

Tại Đà Nẵng, các phi công Từ Đễ, Hoàng Mai Vượng, Nguyễn Văn Lục được chọn từ phi
đội 4 - đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Trung đoàn 923, bay từ Thọ Xuân ra Hà nội,
Sau đó cùng một số cán bộ thợ máy của Trung đoàn không quân 923 đi máy bay IL-18 vào Đà Nẵng.
Tại đây, máy bay cường kích A-37 thu được của địch đang được tổ đặc nhiệm khôi phục dưới sự chỉ
đạo của thiếu tá Hồ Thanh Minh để tiến hành bay chuyển loại máy bay A-37.

Các đồng chí Trần Mạnh, Phó tham mưu trưởng Quân chủng và đồng chí Phạm Ngọc Lan
trực tiếp xây dựng kế hoạch và tổ chức huấn luyện cho các phi công ta bay chuyển loại máy bay A-37.

Ngày 21 tháng 4, quân dân ta giải phóng thị xã Xuân Lộc. Tình hình chiến sự diễn biến rất
nhanh. Toàn phi đội tập trung chuyển loại. Bộ tư lệnh Quân chủng cho phép ta sử dụng hai phi công
của quân đội Sài Gòn đã ra trình diện và tự nguyện xin phục vụ cách mạng làm người hướng dẫn kỹ
thuật, cách sử dụng máy bay A-37.

Chỉ sau 5 ngày huấn luyện chuyển loại, các phi công Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Văn
Lục, Hoàng Mai Vượng, Trần Cao Thăng đã có thể độc lập sử dụng loại máy bay A-37 để thực hiện
nhiệm vụ.

Ngày 26 tháng 4, đồng chí Nguyễn Thành Trung được Bộ chỉ huy chiến dịch điều ra Đà
Nẵng để tăng cường cho phi đội.

Ngày 27 tháng 4, theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, phi đội 4 chuyển từ Đà Nẵng vào
sân bay Phù Cát. Tại Phù Cát, phi đội tiếp nhận 4 máy bay A-37 vừa được khôi phục, kiểm tra. "Phi
đội quyết thắng" được thành lập trên cơ sở phi đội 4 Trung đoàn không quân 923 gồm phi công
Nguyễn Văn Lục phi đội trưởng, phi công Trần Cao Thăng làm chính trị viên cùng các phi công Từ
Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Hoàng Mai Vượng, Âu Văn Hùng, Tạ Đông Trung và
Trần Văn Toán. Nhiệm vụ chủ yếu của phi đội là khẩn trương huấn luyện chuyển loại từ MiG-17 sang
lái máy bay A-37, là loại máy bay vừa thu được của địch để đánh địch với tinh thần "thần tốc, táo bạo
và bất ngờ nhất".

A-37 là loại máy bay cường kích nhẹ do Mỹ chế tạo, tự đo lường và thiết bị trong khoang
lái khác hẳn với máy bay MiG-17, có hai chỗ ngồi bên trái và bên phải hoàn toàn độc lập nhau. Khi
vận hành hệ thống điều khiển vũ khí cũng hết sức phức tạp. Ngày 24 tháng 4 tại Đà Nẵng, ta tổ chức
cho phi công Từ Đễ bay thử và chuyển loại đầu tiên thành công cùng phi công nguỵ là Trần Ngọc
Xanh từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4 chuyển loại cho toàn bộ phi đội.

Trưa ngày 27 tháng 4 phi đội được lệnh chuyển vào sân bay Phù Cát bằng máy bay An-24.
Tại Phù Cát ta tiến hành bay thử thắng lợi 5 chiếc A-37 vừa được ta sửa chữa kiểm tra. Tối đó chi bộ
phi đội họp ra nghị quyết lãnh đạo phi đội quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị trên phê
chuẩn các phi công của phi đội tham gia trận đánh. 8 giờ sáng ngày 28 tháng 4, tại sân bay Phù Cát,
Tư lệnh Quân chủng phê chuẩn lực lượng chiến đấu của phi đội.

9 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4, phi đội quyết thắng bay chuyển sân A-37 từ sân bay Phù
Cát vào sân bay Thành Sơn. Tại đây, mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh đã được hoàn tất.

13 giờ ngày 28 tháng 4, đại tá Lê Văn Trị, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân
cùng các đồng chí Trần Hanh, thượng tá Tư lệnh Bộ tư lệnh không quân chiến đấu, đồng chí thượng tá
Trần Mạnh, đồng chí trung tá Nguyễn Hồng Nhị, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã
trực tiếp giao nhiệm vụ chiến đấu cho phi đội tại sân bay Thành Sơn. Mục tiêu oanh tạc là sân bay
Tân Sơn Nhất, phi đội tập trung đánh bom khu vực để máy bay chiến đấu của không quân nguỵ.

14 giờ 30 phút, Tư lệnh Quân chủng hạ mệnh lệnh chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Thành
Trung thay mặt phi đội hứa với trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập chiến công và trở về an toàn.

Tổ đặc nhiệm với bộ phận kỹ thuật tại sân bay Phan Rang đã sử dụng xe nâng bom MJ-1
của Mỹ để lắp bom vào máy bay A-37, theo phương án mỗi A-37 mang 4 quả bom và 2 quả MK-82.
Đến 15 giờ 25 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975, mọi công tác chuẩn bị kỹ thuật, lắp bom, nạp đạn cho
5 máy bay đã hoàn tất, máy bay đã sẵn sàng đợi lệnh cất cánh. Cả sân bay mong chờ giây phút lịch sử
đó.

16 giờ 25 phút ngày 28 tháng 4, phi đội cất cánh. Đồng chí Tư lệnh không quân chiến đấu,
thượng tá Trần Hanh trực tiếp chỉ huy trận đánh tại đài chỉ huy sân bay Thành Sơn. Nguyễn Thành
Trung bay số l, Từ Đễ bay số 2, Nguyễn Văn Lục số 3, Hoàng Mai Vượng số 4, Hán Văn Quảng số 5.

Phi đội bay đến Hàm Tân được sở chỉ huy lệnh cho điều chỉnh hướng bay, tăng độ cao,
chuẩn bị tiếp cận mục tiêu. Khi thấy rõ sân bay Tân Sơn Nhất, các máy bay lần lượt bổ nhào cắt bom.
Bị đánh bất ngờ, địch hoang mang, không kịp phản ứng. Sau khi đánh trúng mục tiêu, phi đội tập hợp
đội hình bay về. Nguyễn Thành Trung bay sau cùng sẵn sàng chặn đánh máy bay tiêm kích địch, yểm
hộ đồng đội. 18 giờ 15 phút, cả phi đội 5 chiếc A-37 đã lần lượt hạ cánh an toàn xuống sân bay Thành
Sơn.
Tiếng bom của phi đội quyết thắng là đòn đánh phối hợp của lực lượng không quân chiến
đấu với các cánh quân của ta đang ồ ạt tiến vào giải phóng Sài Gòn. Trận đánh của không quân Việt
nam vào thẳng sân bay Tân Sơn Nhất, một trong những sào huyện cuối cùng của nguỵ quân nguỵ
quyền Sài Gòn khiến cho địch vốn đã hỗn loạn, hoang mang lại càng suy sụp tinh thần, mau chóng tan
rã.

Trận đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất của không quân phối hợp với pháo binh ta dồn dập
công kích đã làm tê liệt cầu hàng không di tản của địch, buộc chúng phải di tản bằng máy bay trực
thăng vào ngày 29 tháng 4 trong chiến dịch di tản mang tên "Người liều mạng".

Chiến công của phi đội quyết thắng thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng cao của
Không quân nhân dân Việt nam, là thành quả đáng tự hào của quá trình chuẩn bị, tổ chức huấn luyện
công phu, táo bạo của ta. Đó cũng là chiến công của tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết triệt để
và sự hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng phi công, thợ máy, nhân viên kỹ thuật và các bộ phận bảo
đảm khác.

Tổng kết hoạt động chiến đấu của lực lượng phòng không- không quân trong cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng đã đánh giá về trận
đánh này: Là sự phát triển mới về nghệ thuật sử dụng quân binh chủng của quân đội ta. Trận đánh
không chỉ có giá trị lớn về tiêu diệt một phi đoàn không quân chiến đấu của địch mà còn có ý nghĩa
lớn về chiến dịch chiến lược.

Trận đánh ngày 28 tháng 4 của không quân Việt nam đã góp phần đẩy nhanh sự sụp đổ
hoàn toàn của dịch, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 1 tháng 5 năm 1975, chiếc máy bay đầu tiên mang phù hiệu Không quân nhân dân
Việt nam đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Tân Sơn Nhất, mở ra trang sử mới với nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc Việt nam thống nhất và đánh dấu thời kỳ phát triển mới của quân đội ta nói chung và lực
lượng không quân ta nói riêng.

Ngày 15 tháng 5, giữa thành phố rực rỡ cờ hoa mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, bộ
đội không quân vinh dự và tự hào được đưa Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng nhiều đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước ta vào dự lễ mừng chiến thắng giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam thân yêu của
Tổ quốc.

Ngay sau khi Sài Gòn và các tỉnh miền Nam giải phóng, theo chỉ thị số 126/QU-TW của
Quân uỷ Trung ương, bộ đội không quân đã khẩn trương tổ chức lực lượng tiếp quản các sân bay và
cơ sở không quân của địch; thu hồi và quản lý các cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị, phương tiện không
quân của địch trên toàn miền Nam.

Tại Sài Gòn, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã tiếp quản trung tâm chỉ huy không quân
nguỵ và toàn bộ máy bay cũng như các phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật không quân thu được của
địch.

Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã điều động gần 2.000 cán bộ và chiến sĩ thuộc đủ các
ngành chỉ huy, chính trị, kỹ thuật, hậu cần và phi công từ các đơn vị không quân phía Bắc vào phía
Nam làm công tác tiếp thu, tiếp quản các cơ sở không quân, các trang thiết bị vũ khí hàng không của
địch.

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ của không quân ta càng thêm nặng nề. Không
quân phải vươn lên để thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi cả nước, cùng các lực lượng vũ trang nhân
dân bảo vệ vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo từ Bắc đến Nam, tham gia củng cố giữ gìn trật tự
trị an và chính quyền cách mạng ở các tỉnh mới giải phóng. Không quân phải bảo quản và nhanh
chóng sử dụng được những cơ sở thu được của địch để kịp thời xây dựng và phát triển lực lượng.

Ngày 8 tháng 5 năm 1975, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra chỉ thị về công tác chính trị
đối với các đơn vị và cá nhân đi làm nhiệm vụ ở miền Nam. Chỉ thị nhấn mạnh việc thường xuyên
giáo dục chính trị, động viên tư tưởng làm cho mọi đơn vị, cá nhân quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm
vụ cách mạng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang và của không quân trong tình hình mới; tự hào về
truyền thống tốt đẹp của bộ đội không quân anh hùng, xây dựng bản lĩnh chính trị và ý chí quyết tâm
hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao.

Ngày 14 tháng 5, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng phòng không - không quân về việc
tổ chức điều chỉnh lực lượng trong tình hình hiện tại, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra chỉ thị số
268/BT-TC giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 923 tập trung lãnh đạo tổ chức cho đơn vị chuyển toàn bộ
máy bay từ Thọ Xuân ra sân bay Kép. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển sân tiến hành tách Trung
đoàn 923 làm 2 trung đoàn 923A và 923B.

Trung đoàn 923A tiếp tục chuyển số khí tài còn lại từ Thọ Xuân ra Kép, ổn định đơn vị
bước vào sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện xây dựng đơn vị về mọi mặt để hoàn thành các nhiệm vụ
trên giao.

Trung đoàn 923B có nhiệm vụ tổ chức hành quân vào Cần Thơ an toàn, tiếp quản các sân
bay Bình Thuỷ và Lộ Tẻ, tiến hành huấn luyện chuyển loại máy bay A-37 để sẵn sàng nhận nhiệm vụ
mới.

Ngày 14 tháng 6 năm 1975, chấp hành lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân chiến
đấu ra chỉ thị cho các đơn vị phục vụ cho Trường Hàng không 910 chuyển sân từ Tường Vân và
Mông Tự (Trung Quốc) về nước. Theo kế hoạch, việc chuyển sân cho Trường Hàng không 910 được
tiến hành làm hai bước. Bước một, chuyển máy bay từ Mông Tự về Nội Bài tiếp dầu và cất cánh về
Kiến An. Bước hai, chuyển 42 máy bay từ Kiến An vào Phan Rang và Nha Trang. Sở chỉ huy Bộ tư
lệnh không quân chỉ huy dẫn đường cho 910 từ biên giới Việt - Trung về Nội Bài. Trung đoàn 921 chỉ
huy bay trong khu vực Nội Bài, thay mặt Trung đoàn 910 giải quyết các công việc liên quan đến
chuyển sân. Đồng thời Trung đoàn 921 còn đảm bảo về phương tiện ba trạm và cẩu dắt máy bay bảo
đảm xăng dầu cho máy bay MiG-17 và L-29.

Cùng với việc tiếp thu, tiếp quản các sân bay phía Nam, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu
thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, các đơn vị thực hiện Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị. Cán bộ và
chiến sĩ các đơn vị đã nêu cao tinh thần trách nhiệm giữ gìn và bảo quản tốt tài sản của quân đội.
Công tác hồi phục máy bay, khí tài xe máy được tiến hành kịp thời.
Việc tiếp thu, tiếp quản các cơ sở sân bay và trang bị của địch ở các sân bay phía Nam gặp
nhiều khó khăn vì cơ sở vật chất, kỹ thuật rất lớn, nhiều chủng loại do Mỹ và các nước phương tây
sản xuất ta chưa sử dụng. Các tài liệu hướng dẫn sử dụng không đầy đủ và phần lớn bằng tiếng Anh,
trong khi đó vốn tiếng Anh của cán bộ, chiến sĩ ta quá ít ỏi

Theo chủ trương của trên, ta đã tuyển chọn một số phi công, nhân viên kỹ thuật của không
quân nguỵ đã ra trình diện cách mạng để hướng dẫn ta sử dụng máy bay, vũ khí khí tài của địch. Nhờ
thế, mọi loại máy bay, vũ khí, khí tài của dịch, ta thu hồi được đã nhanh chóng được phân loại, phục
hồi để quản lý và sử dụng.

Do có sự chuẩn bị chu đáo từ trước nên trong tháng 5 các sân bay lớn thu được của địch đã
đi vào hoạt động trở lại. Ta đã hồi phục hàng trăm máy bay các loại thu được của địch. Đường hàng
không trong nước từ Hà nội vào Sài Gòn và từ Sài Gòn đi các tỉnh phía Nam được hồi phục và đi vào
hoạt động.

Ngày 22 tháng 5, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu đã báo cáo lên Bộ tư lệnh Quân chủng
tình hình tiếp quản các cơ sở không quân và hàng không ở các tỉnh phía Nam. Ta đã thu hồi được khá
nhiều máy bay các loại.

Không quân ta tập trung khôi phục hệ thống thông tin chỉ huy, kiểm tra hồi phục các máy
bay, xe máy và các cơ sở trang bị phương tiện bảo đảm bay.

Trên cơ sở thế bố trí chiến lược bảo vệ đất nước và chuẩn bị cho kế hoạch xây dựng phát
triển không quân nhân dân trong tình hình đất nước thống nhất, Bộ quốc phòng giao cho Bộ tư lệnh
không quân chiến đấu quản lý các sân bay Phú Bài, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Phù Cát,PLây
Cu, Biên Hoà, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ…

Tại sân bay Biên Hoà, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tiếp tục khôi phục được 83 máy
bay các loại. Tại hai sân bay Bình Thuỷ và Lộ Tẻ (Cần Thơ) khôi phục được 117 máy bay các loại,
đưa các sân bay này vào hoạt động trở lại. Không quân ta đã kịp thời xây dựng hai sân bay ở Cần Thơ
thành căn cứ chỉ huy tiền phương của không quân chiến đấu, chỉ huy các đơn vị không quân mới
thành lập chiến đấu giải phóng các đảo ở vùng biển phía Nam và bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ
quốc.

Tháng 7 năm 1975, Quân chủng phòng không - không quân sơ kết đợt đầu công tác tiếp
quản các sân bay và cơ sở không quân của địch. Do lực lượng không quân ta mỏng, lại phải triển khai
lực lượng trên nhiều sân bay toàn miền, cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ chưa được học tập đầy đủ, thiếu
hiểu biết về kỹ thuật nên việc thu hồi chưa được triệt để. Một số cơ sở vật chất kỹ thuật thu hồi không
đồng bộ nên khó đưa vào sử dụng. Sau đợt sơ kết, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định giao nhiệm vụ
cho không quân chiến đấu tổ chức tiếp đợt thu hồi và quản lý triệt để mọi trang thiết bị, cơ sở vật chất
kỹ thuật của không quân địch và coi đây là một nhiệm vụ quan trọng của Quân chủng trong năm
1975. Quân chủng nhấn mạnh việc thu hồi ở từng sân bay, từng ngành phải thực hiện triệt để, đồng
bộ. Thu hồi đến đâu phải thực hiện ngay việc phân loại chất lượng giao cho các đơn vị bảo vệ và lập
kế hoạch sử dụng, dự trữ.
Miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, phạm vi hoạt động bảo vệ của không quân mở
rộng trên địa bàn cả nước. Việc phát triển lực lượng không quân lớn mạnh, tạo thế bố trí lực lượng
mới để hoàn thành mọi nhiệm vụ của cách mạng đặt ra rất khẩn trương. Theo đề nghị của Bộ tư lệnh
Quân chủng phòng không - không quân, Bộ quốc phòng quyết định giữ nguyên tổ chức lực lượng
không quân trên miền Bắc và điều động một số lớn phi công, cán bộ chỉ huy, nhân viên kỹ thuật và
các ngành nghiệp vụ thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến đấu và Lữ đoàn không quân vận tải 919 vào
tiếp thu; tiếp quản các cơ sở không quân của địch ở miền Nam và làm lực lượng nòng cốt để xây dựng
những đơn vị không quân mới.

Ngày 30 tháng 5 năm 1975, Bộ quốc phòng ra quyết định thành lập Trung đoàn không
quân tiêm kích 935, sử dụng máy bay F-5 và máy bay MiG-21 do một phi đội của Trung đoàn 921
thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến đấu bổ sung. Đơn vị đóng quân tại sân bay Biên Hoà. Cùng ngày,
Bộ quyết định thành lập Trung đoàn không quân cường kích 937 sử dụng máy bay A-37 thu được của
địch và đặt căn cứ tại sân bay Cần Thơ.

Ngày 5 tháng 7 năm 1975, Trung đoàn không quân vận tải 918 được thành lập, sử dụng các
loại máy bay vận tải C130, C-47, C-119 đặt căn cứ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày 20 tháng 7 năm
1975, Trung đoàn trực thăng 917 được thành lập, sử dụng các loại máy bay trực thăng UH-1, CH-47
và một số máy bay khác, cũng đặt căn cứ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị phía Nam vừa mới
được thành lập với các loại máy bay và vũ khí trang bị thu được của địch đã phải bước ngay vào cuộc
chiến đấu mới chống bọn phản động Pôn-pốt - Iêng Xa-ri lấn chiếm biên giới Tây Nam và chiếm một
số đảo thuộc vùng biển phía Nam Tổ quốc.

Cuối tháng 5 đầu tháng 6, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho các lực lượng không quân, hải
quân và các lực lượng vũ trang khác hiệp đồng chiến đấu, đánh địch lấn chiếm biên giới và giải phóng
các đảo ở vùng biển phía Nam.

Chấp hành chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu tổ chức lực lượng chiến đấu
gồm các loại máy bay mới thu được của địch, hiệp đồng chiến đấu cùng các tàu chiến của hải quân và
lực lượng bộ binh của Sư đoàn 1 Quân khu 9 cùng tham gia chiến dịch.

Đồng chí thượng tá Trần Hanh, Tư lệnh không quân chiến đấu được cử làm phó tư lệnh
chiến dịch, chỉ huy lực lượng không quân tham gia tác chiến. Căn cứ xuất phát của không quân đặt tại
sân bay Bình Thuỷ thành phố Cần Thơ. Đồng chí Lê Hải, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 937 trực tiếp
chỉ huy các trận đánh của không quân tham gia chiến dịch. Phi đội quyết thắng đã làm nên thắng lợi
trong trận đánh ngày 28 tháng 4 của không quân ta vào Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, nay
lại vinh dự được đánh trận đầu tiên. Phi đội do Nguyễn Văn Lục chỉ huy bay số 1, Hán Văn Quảng
bay số 2 và một phi công nguỵ đã trình diện tự nguyện phục vụ cách mạng bay số 3 đã đánh trúng
mục tiêu trên đảo Phú Quốc lập chiến công đầu, tạo điều kiện cho không quân ta tiếp tục chiến đấu
hiệp đồng với bộ đội các quân binh chủng bạn giải phóng đảo vào ngày 14 tháng 6 năm 1975.

Ở biên giới Tây Nam, lực lượng không quân của ta đã tham gia, hiệp đồng chiến đấu với
Quân đoàn 4, Quân khu 9 đánh trả mạnh mẽ bọn địch lấn chiếm biên giới vùng Tịnh Biên, An Giang.
Những trận đánh thắng đầu tiên của không quân ta trên biển và biên giới Tây Nam Tổ quốc
là cơ sở hình thành cách đánh của các loại máy bay trong chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng. Đây
là những kinh nghiệm và bài học bổ ích để sau đó tham gia chiến đấu hiệp đồng với bộ đội Quân khu
5 quét và đánh tan bọn FULRO, góp phần xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ở Tây Nguyên.

Các đơn vị không quân ở phía Bắc được sự chỉ huy của Bộ tư lệnh không quân chiến đấu
tiếp tục thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh,
bảo vệ vững chắc miền Bắc và thường xuyên hiệp đồng chi viện cho các đơn vị không quân ở phía
Nam hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng.

Đầu quý III năm 1975, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không- không quân giao nhiệm vụ
cho Bộ tư lệnh không quân chiến đấu chuẩn bị lực lượng, huấn luyện và tham gia bay duyệt binh kỷ
niệm ngày Quốc khánh 2-9 của nước Việt nam dân chủ cộng hoà và chào mừng miền Nam giải phóng,
đất nước thống nhất. Ngày 11 tháng 7 năm 1975, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu ra mệnh lệnh số
400/BTL-TC điều động một phần lực lượng của Trung đoàn 923 từ sân bay Thọ Xuân ra sân bay Kép
và một bộ phận lực lượng của Trung đoàn 925 từ sân bay Yên Bái về sân bay Vĩnh Phú để huấn luyện
và tham gia duyệt binh.

Ngày 10 tháng 8 năm 1975, chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng, Bộ tư lệnh không quân
chiến đấu điều toàn bộ Trung đoàn 923 từ sân bay Thọ Xuân về sân bay Kiến An (kể cả lực lượng
đang tham gia huấn luyện duyệt binh, khi duyệt binh xong cũng chuyển về Kiến An), chỉ để lại ở Thọ
Xuân một bộ phận nhỏ để quản lý sân bay và làm nhiệm vụ dự bị trong những trường hợp cần thiết.
Trung đoàn 923 đã lãnh đạo đơn vị chuyên sân đúng thời gian, bảo đảm an toàn. Cuối tháng 9, trung
đoàn đã ổn định về nơi ăn ở sinh hoạt trên địa bàn mới và bước vào huấn luyện.

Ngày 2 tháng 9 năm 1975, trong lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập nước, chào mừng
những chiến công lớn của quân dân cả nước và khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vinh dự, tự
hào cho lực lượng không quân chiến đấu được tham gia bay duyệt binh qua Quảng trường Ba Đình
lịch sử. Đội hình tham gia duyệt binh của lực lượng không quân chiến đấu gồm 36 máy bay các loại
của các trung đoàn không quân trực thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến đấu.

Nửa cuối năm 1975, đất nước ta từ điều kiện chiến tranh chuyển sang thời bình, song
nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang nói chung và không quân nói riêng không kém nặng nề phức tạp.
Cơ cấu tổ chức của Bộ tư lệnh không quân chiến đấu phải thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ phát triển
của lực lượng không quân trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước ta
thực hiện một số chính sách lớn trong quân đội nhằm phát triển và nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước trong điều kiện mới.

Ngày 3 tháng 10 năm 1975, căn cứ vào quyết định của Bộ Tổng tham mưu về tổ chức lực
lượng Quân chủng phòng không và Quân chủng Không quân, căn cứ vào yêu cầu xây dựng và chiến
đấu, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không -Không quân đã ra quyết định số 841/TM-QL do Tư lệnh
Quân chủng, Thiếu tướng Lê Văn Tri và Chính uỷ Quân chủng Thiếu tướng Hoàng Phương ký, chấn
chỉnh tổ chức Bộ tư lệnh không quân chiến đấu, sáp nhập với Lữ đoàn không quân vận tải 919 thành
Sư đoàn không quân hỗn hợp 371 trực thuộc Quân chủng phòng không - không quân do thượng tá
Trần Hanh làm tư lệnh, thượng tá Chu Duy Kính làm chính uỷ.

Cơ quan sư đoàn có 4 phòng: Tham mưu, Chính trị, Hậu cần và Kỹ thuật và ban tài vụ trực
thuộc Bộ tư lệnh sư đoàn, Phòng Hậu cần quản lý về mặt hành chính. Các đơn vị trực thuộc sư đoàn
có hai trung đoàn không quân tiêm kích 921 và 927, Trung đoàn không quân cường kích 923, Trung
đoàn không quân vận tải 919 và Trung đoàn không quân trực thăng 920. Mỗi trung đoàn không quân
tiêm kích và cường kích có 3 ban: Tham mưu, chính trị, kỹ thuật và 3 phi đội bay.

Trung đoàn không quân cường kích 923 biên chế 3 ban và 3 phi đội với 40 máy bay MiG-
17 chiến đấu và huấn luyện.

Trung đoàn không quân vận tải có cánh cố định 919 có 3 ban và 3 phi đội: 1 phi đội máy
bay chuyên cơ, 1 phi đội vận tải đường dài, 1 phi đội trinh sát chụp ảnh và quan sát liên lạc. Mỗi phi
đội có 1 đại đội thợ máy bảo đảm kỹ thuật.

Trung đoàn trực thăng 920 có 2 phi đội. Một phi đội máy bay Mi-6, một phi đội máy bay
Mi-8. Mỗi phi đội có một đại đội thợ máy bảo đảm kỹ thuật, trang bị 48 trực thăng các loại.

Trực thuộc sư đoàn có các tiểu đoàn thông tin, công binh, bảo quản máy bay và xưởng
trung tu máy bay.

Trực thuộc cơ quan sư đoàn có các đại đội kho khí tài, xe, khí tượng, đội sửa chữa doanh
trại, trạm sửa chữa xe máy, trạm sửa chữa thông tin, bệnh xá sư đoàn và hai đội chiếu bóng lưu động.

Sư đoàn không quân hỗn hợp 371 quản lý và sử dụng các sân bay Nội Bài, Kép, Yên Bái,
Kiến An, Hoà Lạc, Nà Sản, Thọ Xuân, Vinh và Đồng Hới.

Cùng với việc tiếp nhận các đơn vị mới bàn giao, sư đoàn tích cực điều chỉnh lực lượng, ổn
định biên chế. Sư đoàn đã tiến hành giải thể đơn vị sân bay Anh Sơn, đại bộ phận lực lượng ở Anh
Sơn chuyển vào bổ sung cho các đơn vị phía Nam, còn lại bổ sung cho sân bay Vinh. Sư đoàn lâm
thời tổ chức tiểu đoàn xây dựng kiến thiết, khung đại đội huấn luyện xe và đại đội huấn luyện thông
tin.

Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã nhanh chóng tiếp nhận các trung đoàn 919 và 920 cùng
các đơn vị mới bổ sung để kịp thời chỉ đạo, kiện toàn tổ chức các cơ quan và đơn vị trực thuộc cho
phù hợp với nhiệm vụ và đặc điểm của sư đoàn không quân hỗn hợp.

Sư đoàn đã tích cực lãnh đạo các đơn vị đẩy mạnh việc rèn luyện kỷ luật xây dựng đơn vị
chính quy, đưa đơn vị phát triển một bước. Toàn sư đoàn đã hoàn thành việc tổng kết phong trào thi
đua và công tác đảng, công tác đoàn…cùng nhiều mặt công tác khác của năm 1975. Sư đoàn phát
động phong trào thi đua quyết thắng lấy thành tích kỷ niệm ngày thành lập quân đội và chào mừng
những ngày lễ lớn đầu năm 1976 với nội dung sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành các nhiệm vụ xây
dựng đơn vị vững mạnh; đẩy mạnh huấn luyên toàn diện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy lao
động có năng suất chất lượng và quản lý chặt chẽ cơ sở vật chất, kỹ thuật của đơn vị.

Cùng với thời gian chấn chỉnh không quân chiến đấu thành Sư đoàn không quân 371, để bố
trí lực lượng phòng thủ đất nước trong tình hình mới, để bảo vệ vững chắc vùng trời miền Trung từ
Trị Thiên đến Nha Trang, từ biên giới phía tây ra biển, đồng thời hỗ trợ cho nhiệm vụ trấn áp bọn
phản cách mạng và lùng quét bọn phỉ FULRO bảo vệ trật tự trị an vùng giải phóng và làm nòng cốt để
xây dựng sư đoàn không quân ở miền Trung, chấp hành mệnh lệnh của Bộ quốc phòng, Bộ tư lệnh
Phòng không - không quân đã ra quyết định số 931/TM-QL do đại tá Phó tư lệnh Nguyễn Quang Bích
ký, điều Trung đoàn không quân 925 ở sân bay Yên Bái chuyển vào đóng quân tại sân bay Phù Cát
tỉnh Bình Định.

Chương 4
(1976-1985)

1. KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, TIẾP TỤC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ SẵN SÀNG
CHIẾN ĐẤU

Sau hơn 20 năm bị chiến tranh chia cắt, năm 197'6, đất nước được thống nhất, toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết 23 và 24 của Trung ương. Đại hội đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ IV được tiến hành tại thủ đô Hà nội. Quốc hội mới của cả nước họp tại thành
phố Hồ Chí Minh.

Cách mạng Việt nam chuyển sang giai đoạn mới, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.

Không quân chấp hành nhiệm vụ chung của quân đội là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thành
quả cách mạng, độc lập chủ quyền của Tổ quốc, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tự do hạnh
phúc và lao động hoà bình của nhân dân trong phạm vi cả nước.

Sư đoàn không quân 371 là sư đoàn được thành lập đầu tiên của không quân, có truyền
thống chiến đấu và xây dựng, được trang bị máy bay và phương tiện kỹ thuật hiện đại có nhiệm vụ
bảo vệ những mục tiêu quan trọng như thủ đô Hà nội và các khu công nghiệp, thành phố lớn trên một
phạm vi rộng lớn của miền Bắc.

Nhiệm vụ của sư đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: tập trung mọi cố gắng nỗ lực xây
dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện theo hướng chính quy hiện đại; nâng cao trình độ khả năng và sức
mạnh chiến đấu của bộ đội, sẵn sàng chiến đấu cùng với lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ
vững chắc vùng trời phía Bắc, kịp thời tác chiến tiêu diệt mọi máy bay trinh sát, khiêu khích; tác
chiến hiệp đồng quân binh chủng và thực hiện các nhiệm vụ khác.

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, sư đoàn được xây dựng và rèn luyện trong hoà bình
có điều kiện thuận lợi để tập trung xây dựng đơn vị theo hướng chính quy hiện đại.

Tháng 2 năm 1976, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn họp để triển khai nghị quyết của sư
đoàn năm 1976 đến toàn thể các đơn vị, các cán bộ đảng viên toàn sư đoàn nhằm tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng uỷ các cấp và chỉ huy các đơn vị tạo ra khí thế thi đua mới trong toàn sư đoàn, thực
hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trên giao.

Chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không- không quân về việc sửa chữa
sân bay Gia Lâm và chuyển một bộ phận của Tổng cục Hàng không dân dụng và Trung đoàn không
quân vận tải 919 lên hoạt động ở sân bay Nội Bài trong thời gian sân bay Gia Lâm đóng cửa (từ ngày
25 tháng 2 đến ngày 25 tháng 4 năm 1976), ngày 14 tháng 2, Bộ tư lệnh sư đoàn chủ trì cuộc họp hiệp
đồng tại sân bay Nội Bài giữa 4 cơ quan Bộ tư lệnh sư đoàn với thủ trưởng ban giám đốc sân bay Gia
Lâm, thủ trưởng Trung đoàn 919 và 921. Hội nghị đã thống nhất quán triệt nhiệm vụ Bộ tư lệnh Quân
chủng giao và làm văn bản hiệp đồng cùng thực hiện nhiệm vụ.

Sư đoàn 371 chịu trách nhiệm tổ chức các đường liên lạc giữa sở chỉ huy sư đoàn với Tổng
cục Hàng không, ban giám đốc sân bay Gia Lâm, bộ phận cơ động của Gia Lâm ở sân bay Nội Bài,
bảo đảm phương tiện chỉ huy cho Tổng cục Hàng không tại sân bay và sở chỉ huy sư đoàn.

Ngày 20 tháng 2 năm 1976, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chỉ thị số 89/BTL do thượng tá Trần
Hanh, Tư lệnh ký triển khai kế hoạch huấn luyện quân sự năm 1976 của sư đoàn. Chỉ thị nêu rõ nhiệm
vụ huấn luyện cho các đối tượng không quân phản lực và không quân vận tải nhằm củng cố, hoàn
chỉnh các biên đội, các tổ bay, nâng cấp khí tượng cho các tổ bay, tạo điều kiện cho phi công phản lực
có đủ khả năng sẵn sàng chiến đấu tiêm kích phòng không và tiêm kích bom. Với phi công vận tải, có
đủ trình độ hoàn thành tốt các nhiệm vụ bay chuyên cơ, vận tải quân sự và các nhiệm vụ khác.

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng, ngày 27 tháng 2 năm 1976, Bộ tư lệnh sư
đoàn ra quyết định số139/TM do Phó tư lệnh, trung tá Nguyễn Nhật Chiêu ký tổ chức cụm sân bay Nà
Sản, Điện Biên, trực thuộc Sư đoàn.

Cùng thời gian này, Bộ tư lệnh ra quyết định thành lập cụm sân bay Vinh, Thọ Xuân và
Anh Sơn.

Để tăng cường lực lượng thông tin phục vụ nhiệm vụ huấn luyện xây dựng và chiến đấu
của sư đoàn, ngày 25 tháng 3, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định tổ chức tiểu đoàn thông tin thuộc
Phòng Tham mưu, biên chế 40 sĩ quan và 318 hạ sĩ quan, chiến sĩ. Ngày 26 tháng 4, xét yêu cầu xây
dựng lực lượng, Bộ tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân ra quyết định số 242/TM-QL do
đại tá Phó tư lệnh Đoàn Huyên ký, lâm thời tổ chức một khung đại đội huấn luyện trợ lý dù trực thuộc
Sư đoàn 371 với lượng học viên là 30 người. Ngày 29 tháng 4, sau khi nghiên cứu nghị quyết của Bộ
Chính trị Trung ương Đảng về quân đội làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, Đảng uỷ sư đoàn đã họp ra
nghị quyết số 319/ĐU do đồng chí Bí thư Đảng uỷ sư đoàn Chu Duy Kính ký về việc sư đoàn làm
nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Nghị quyết đảng uỷ sư đoàn đánh giá tình hình lao động sản xuất của sư
đoàn và đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng kinh tế của sư đoàn. Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm
vụ bảo quản, giữ gìn, sử dụng tốt, an toàn, tiết kiệm mọi khí tài, trang bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật
tư, tài chính, tài sản của đơn vị, đẩy mạnh việc tăng gia tự túc lương thực, thực phẩm và sản xuất
nguyên vật liệu xây dựng cơ bản như sản xuất gạch ngói, vôi, khai thác gỗ, than…

Ngày 3 tháng 6 năm 1976, Quốc hội và Chủ tịch nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã ra
quyết định tuyên dương danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Không quân
nhân dân Việt nam. Đây là sự đánh giá cao thành tích xây dựng và chiến đấu của không quân, một
phần thưởng quý báu của Đảng và nhân dân tặng cho Không quân nhân dân Việt nam trẻ tuổi, anh
hùng. Các đơn vị của Sư đoàn không quân 371 là lực lượng chính làm nên thành tích xây dựng và
chiến đấu của Không quân nhân dân Việt nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cùng với các
đơn vị không quân khác, sư đoàn vinh dự và tự hào đón nhận phần thưởng cao quý này, từ đó càng nỗ
lực phấn đấu để tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng đáp ứng những yêu cầu mới của nhiệm vụ
cách mạng mà Đảng và nhân dân giao cho.

Ngày 18 tháng 6, căn cứ vào sắc lệnh số 121/SL ngày 11 tháng 7 năm 1950 về quy định tổ
chức Bộ quốc phòng, xét đề nghị của Bộ Tổng tham mưu và đồng chí Tư lệnh Quân chủng phòng
không - không quân, Bộ quốc phòng ra quyết định do Thứ trưởng quốc phòng, Thượng tướng Hoàng
Văn Thái ký, tổ chức ở các sân bay N, Đ, B, T, mỗi sân bay một đơn vị phụ trách với quyền hạn tương
đương cấp trung đoàn. Sư đoàn 37 1 được lệnh tổ chức thành lập trung đoàn căn cứ sân bay N.

Ngày 19 tháng 6, Bộ quốc phòng ra quyết định số 242/TN-QL do Thứ trưởng Bộ quốc
phòng, Thượng tướng Hoàng Văn Thái ký, điều Trung đoàn không quân vận tải 919 (gồm tổ chức
quân số, trang bị hiện có) thuộc Sư đoàn 371 Quân chủng phòng không - không quân về trực thuộc
Tổng cục Hàng không dân dụng Việt nam.

Cùng với việc bàn giao Trung đoàn 919, sư đoàn tiếp tục điều chỉnh lực lượng, bố trí nơi
đóng quân mới để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ trên giao. Ngày 3 tháng 7, Bộ tư lệnh Phòng không -
không quân ra quyết định số 34/BTL do đại tá Phó tư lệnh Hoàng Ngọc Diêu ký, uỷ quyền cho Sư
đoàn 371 và Cục Chính trị Quân chủng tổ chức bàn giao toàn bộ khu gia đình cán bộ sân bay Gia Lâm
cho Tổng cục Hàng dân dụng Việt nam quản lý.

Chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh về việc sửa chữa cơ bản sân bay Nội Bài, ngày 17 tháng 6
năm 1976, Bộ tư lệnh sư đoàn ra mệnh lệnh số 64/BTL do Phó chính uỷ sư đoàn Ngô Văn Ry và Tư
lệnh phó Phạm Đình Cường ký cơ động Trung đoàn 921 vào Đà Nẵng và lên Yên Bái. Bộ tư lệnh sư
đoàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 lãnh đạo đơn vị cơ động một phi đội vào Đà Nẵng để huấn
luyện. Khi vào Đà Nẵng, Trung đoàn 921 nhận 14 máy bay cùng 1 đại đội định kỳ, trạm tên lửa và
một số khí tài thay thế cần thiết của Sư đoàn không quân 372 bàn giao, đủ đảm bảo cho trung đoàn
hoạt động ở sân bay Đà Nẵng. Số máy bay của Trung đoàn 921 còn lại bàn giao cho Trung đoàn 927.

Cùng ngày, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định số 65/BTL giao nhiệm vụ cho trung đoàn căn
cứ Nội Bài tổ chức cơ động một phần lực lượng lên sân bay Yên Bái để phục vụ cho Trung đoàn 921
hoạt động và huấn luyện. Lực lượng còn lại ở sân bay Nội Bài tiếp tục xây dựng hệ thống nhà kho,
tham gia lao động sản xuất tăng gia và quản lý khu doanh trại.

Giữa tháng 7 năm 1976, chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng về việc di chuyển
tiểu đoàn sân bay Yên Bái vào Cam Ranh, Bộ tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho ban chỉ huy sân bay
Yên Bái tổ chức di chuyển tiểu đoàn sân bay Yên Bái vào sân bay Cam Ranh để phục vụ sẵn sàng
chiến đấu và chiến đấu.

Ngày 20 tháng 7 năm 1976, chấp hành chỉ thị của Quân chủng về việc bảo đảm một phi đội
của Trung đoàn 921 vào huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu tại sân bay Đ, thủ trưởng hai đơn vị đã tổ
chức hội nghị hiệp đồng tại sân bay Đ. Về phía Sư đoàn 370 có đồng chí Lê Oanh, Tư lệnh sư đoàn;
đồng chí Mai Đức Toại, Tư lệnh phó; đồng chí Lăng Khánh Văn, Chính uỷ sư đoàn và đồng chí Lê
Trung, Trung đoàn. trưởng Trung đoàn sân bay Đà Nẵng. Về phía Sư đoàn 371 có đồng chí Nguyễn
Nhật Chiêu, Phó tư lệnh sư đoàn; đồng chí Đinh Tôn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 và một số
đồng chí khác. Hai bên đã họp bàn, nhất trí về nhiệm vụ và các mối quan hệ để một phi đội của Trung
đoàn 921 vào huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trong 3 đến 4 năm. Sư đoàn 371 và Trung đoàn 921
chịu trách nhiệm lãnh đạo, tổ chức chỉ huy quản lý huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật và xây dựng phi đội.
Trung đoàn căn cứ sân bay Đ thuộc Sư đoàn 370 bảo đảm phục vụ hậu cần, sân đường, xăng xe phục
vụ phi đội của Trung đoàn 921 hoạt động. Việc hiệp đồng với Quân khu 5, hải quân khi làm nhiệm vụ
bay biển do Trung đoàn 921 tự liên hệ hiệp đồng.

Sau hội nghị hiệp đồng của hai sư đoàn, phi đội máy bay MiG-21 của Trung đoàn 921 đã
nhanh chóng ổn định bước vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn mới.

Tháng 8 năm 1976, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 4 tiến hành trọng thể và
thành công tốt đẹp. Đồng chí Chu Duy Kính, Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ sư đoàn được bổ nhiệm chức
vụ mới ở Bộ tư lệnh Quân chủng. Đồng chí Ngô Văn Ry, Phó chính uỷ được trên giao giữ chức chính
uỷ sư đoàn. Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn nhất trí bầu đồng chí Ngô Văn Ry làm bí thư Đảng uỷ
sư đoàn.

Tháng 8 năm 1976, thượng tá Trần Hanh, Tư lệnh sư đoàn được bổ nhiệm giữ chức vụ
mới; thượng tá Nguyễn Ngọc Độ, Phó tư lệnh sư đoàn được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh sư đoàn, đồng
chí thượng tá Mai Đức Toại được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng sư đoàn.

Năm 1976 là năm có khó khăn về đảm bảo xăng dầu cho nhiệm vụ huấn luyện bay và sẵn
sàng chiến đấu, đồng thời cũng là năm sư đoàn có biến động lớn về tổ chức biên chế và thuyên
chuyển vị trí đóng quân của các đơn vị. Tuy có những ảnh hưởng không thuận lợi cho việc thực hiện
nhiệm vụ nhất là nhiệm vụ trung tâm tác chiến, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện nâng cao chất lượng
bay. Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã lãnh đạo tổ chức động viên các đơn vị, cá nhân cán bộ, chiến
sĩ toàn sư đoàn khắc phục khó khăn để hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu được duy trì thường xuyên. Nhiệm vụ huấn luyện năm 1976
tuy có giảm số giờ bay so với năm 1975, song trong điều kiện cụ thể, kết quả huấn luyện của sư đoàn
là sự cố gắng lớn. Toàn sư đoàn đã bay được 160 ngày, có 147 lần bay ngày và 13 lần bay đêm với
6.415 lần chiếc và số giờ bay là 1.432 giờ.

Trong năm, sư đoàn đã đào tạo được một số cán bộ biên đội trưởng, giáo viên bay, cán bộ
chỉ huy bay các loại và một số phi công trực thăng chuyên cơ.

Công tác bảo đảm an toàn bay và huấn luyện cán bộ bảo đảm mặt đất có nhiều tiến bộ. Sư
đoàn hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ như bay thử máy bay, chuyên cơ, bay biển, bay chuyển sân. Sư
đoàn tổ chức ba lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ trung cấp và sơ cấp; tổ chức hai lớp tập huấn cán
bộ cao xạ, tên lửa về không quân. Ngoài ra, sư đoàn còn đào tạo huấn luyện dù cho các học viên sĩ
quan phòng không. Đào tạo nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ thông tin radar và thợ cơ khí, sửa chữa xe,
mở 12 lớp nhân viên sơ cấp kỹ thuật máy bay với tổng số học viên là 405 người, các loại máy bay
MLG-17 và MiG-21.

Cuối tháng 10, đầu tháng 11, sau cuộc đảo chính ở Thái Lan, tình hình cách mạng Lào trở
nên phức tạp. Bọn phản cách mạng tăng cường hoạt động ở các khu vực Viêng Chăn, Xa-va-na-khẹt
và Pắc-xế với âm mưu cấu kết với bọn phản động ở nước ngoài và yêu cầu viện trợ của Mỹ hòng làm
đảo chính lật đổ chính phủ Lào. Trên không phận của Lào, bọn phản động được một lực lượng không
quân nước ngoài có các loại máy bay F-5, A-37, F-86, AC-47 hoạt động, vừa trinh sát chỉ điểm vừa
cường kích, tiêm kích chi viện, yểm hộ cho bọn phản động hoạt động ở mặt đất.

Theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ Lào, cấp trên chỉ thị cho sư
đoàn tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu chi viện cho bộ đội lục quân Lào chiến đấu. Ngày 4 tháng
11, Bộ tư lệnh sư đoàn ra mệnh lệnh số 97/BTL-TM do thượng tá Tư lệnh Nguyễn Ngọc Độ và
thượng tá Chính uỷ Ngô Văn Ry ký, lệnh cho các đơn vị thuộc quyền và các lực lượng tăng cường
làm nhiệm vụ giúp bạn bảo vệ chính quyền cách mạng. Sư đoàn được tăng cường một số máy bay các
loại như A-37, C-130, C-119, L-19,UH-1 có nhiệm vụ trong từng thời điểm khống chế trên không, uy
hiếp mạnh mẽ địch, chặn không quân từ nước ngoài sang yểm hộ cho bọn phản động Lào, đồng thời
chở quân và phương tiện chiến đấu của bạn cơ động lực lượng và thực hiện các nhiệm vụ khác.

Ngày 10 tháng 11, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định số 720/BTL do thượng tá Tư lệnh phó
Phạm Đình Cường ký, tổ chức đài chỉ huy bổ trợ của sư đoàn tại Tương Dương và lâm thời tổ chức sở
chỉ huy tiền phương của sư đoàn tại Vinh với quân số 60 người, đồng thời tổ chức một bộ phận chỉ
huy tại sân bay Anh Sơn, trực thuộc sở chỉ huy tiền phương ở Vinh. Sau hai ngày vừa hành quân vừa
ổn định tổ chức tại địa điểm mới, các bộ phận đã đi vào hoạt động. Cùng ngày, Đảng uỷ sư đoàn kịp
thời ra chỉ thị về công tác chính trị phục vụ nhiệm vụ chiến đấu chi viện cho cách mạng Lào.

Sang năm 1977, tình hình biên giới và hải đảo của đất nước nhất là ở phía Nam có diễn
biến phức tạp, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu càng khẩn trương. Các đơn vị của sư đoàn
luôn đề cao cảnh giác, theo dõi chặt chẽ hoạt động của địch để chủ động đối phó và hoàn thành mọi
nhiệm vụ trên giao.

Ngay trong những tháng đầu năm, Đảng uỷ và Bộ tư lệnh sư đoàn đã triển khai nghị quyết
công tác quân sự năm và lãnh đạo các đơn vị hoàn thành nhiều nhiệm vụ. Sư đoàn đã thường xuyên
lãnh đạo sẵn sàng chiến đấu cả về tư tưởng và tổ chức, tăng cường máy bay trực chiến ở các sân bay;
duy trì nghiêm chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu ở các sở chỉ huy, các phân đội trực. Sư đoàn tổ
chức xong lực lượng, chuẩn bị phương án chiến đấu và giao nhiệm vụ cho các trung đoàn 916, 927
sẵn sàng làm nhiệm vụ ở chiến trường C. Sư đoàn đã đưa một tổ máy bay MI-8 và một tổ hoá nghiệm
xăng dầu tham gia làm nhiệm vụ thăm dò khai thác dầu khí ở phía Nam, đồng thời triển khai nhiều
nhiệm vụ khác bảo đảm an toàn các chuyến bay riêng, bay làm nhiệm vụ cấp cứu.

Quý I năm 1977, sư đoàn tập trung lãnh đạo Trung đoàn 923 xây dựng đơn vị mẫu làm hạt
nhân thúc đẩy phong trào xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh, đồng thời tập trung củng cố sở chỉ huy
các cấp, thống nhất chế độ báo cáo, thay ban, tổ chức báo động bay tuần tiễu.

Tháng 2 năm 1977, chấp hành nhiệm vụ Quân chủng giao, sư đoàn tổ chức lực lượng sửa
chữa lớn sân bay Kép. Sư đoàn vừa tổ chức sửa chữa vừa tiến hành bay huấn luyện. Các lực lượng
nòng cốt như tiểu đoàn 20 mới chuyển từ pháo phòng không sang, đại đội 4 Trung đoàn công binh 28
phối thuộc còn ít kinh nghiệm thực tế, xe máy công trình quá cũ và hỏng hóc nhiều. Một số vật liệu
chính sư đoàn phải tự lo. Trong điều kiện đó, sư đoàn hạ quyết tâm hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị
phối thuộc, tận dụng nhân lực của sư đoàn, phát huy sự nhiệt tình năng động của cán bộ chiến sĩ trực
tiếp là lực lượng thi công.
Qua gần hai tháng thi công, cuối tháng 3 công trình hoàn thành đạt chất lượng tốt.

Tháng 4 năm 1977, thượng tá Nguyễn Ngọc Độ, Tư lệnh sư đoàn được bổ nhiệm chức vụ
mới; thượng tá Nguyễn Nhật Chiêu, Phó tư lệnh sư đoàn được bổ nhiệm làm tư lệnh sư đoàn.

Ngày 6 tháng 5 năm 1977, Bộ Chính trị Trung ương Đảng phê chuẩn nghị quyết của
Thường vụ Quân uỷ Trung ương và đề nghị của Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức lực lượng phòng
không và không quân thành hai quân chủng phòng không và Không quân. Bổ nhiệm đại tá Đào Đình
Luyện, Phó tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân làm tư lệnh kiêm chính uỷ Quân chủng
Không quân.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Tôn Đức Thắng ký sắc
lệnh số 34/LTC tổ chức Quân chủng phòng không - không quân thành hai quân chủng phòng không
và Không quân. Ngày 30 tháng 5 năm 1977, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra quyết định về tổ chức biên
chế của Quân chủng Không quân, giao cho các cơ quan chức năng của Bộ triển khai thực hiện. Trong
đội hình các sư đoàn không quân, Sư đoàn không quân hỗn hợp 371 trực thuộc Quân chủng Không
quân tiếp tục nhiệm vụ đóng quân trên địa bàn các sân bay ở phía Bắc.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ quốc phòng và Bộ tư lệnh không quân, sư đoàn đã chỉ thị cho
Trung đoàn 921 và Trung đoàn 916 triển khai cơ động một phi đội MiG-21 và một lực lượng trực
thăng vào Biên Hoà tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc.

Ngày 7 tháng 9, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chỉ thị tổ chức sở chỉ huy dã chiến của sư đoàn để
đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn giao nhiệm vụ cho bốn cơ quan tham mưu, hậu cần, chính trị và
kỹ thuật cùng hiệp đồng thực hiện nhiệm vụ này.

Để đảm bảo nâng cao trình độ huấn luyện hai trung đoàn 921 và 927, ngày 20 tháng 9 năm
1977, Bộ tư lệnh sư đoàn làm kế hoạch xin trên tăng cường 11 đồng chí chuyên gia Liên Xô làm giáo
viên cho nhiệm vụ bay đêm phức tạp, bay biển và bay cường kích trên đất liền, trên biển, bảo đảm kỹ
thuật dẫn đường và sửa chữa đài hạ cánh PCN-7.

Trong năm 1977, các chuyên gia Liên Xô đã giúp đào tạo phi công của sư đoàn trong huấn
luyện cụ thể là: bay kèm 75 lần chiếc đạt 33 giờ 30 phút; bồi dưỡng được 2 giáo viên bay và hồi phục
được 8 phi công bay đêm; lên lớp lý thuyết bay và các phương tiện dẫn đường cho một lớp gồm 25
người, đạt 118 giờ, biên soạn tài liệu bay…

Công tác huấn luyện của sư đoàn trong năm 1977 đạt 107%. Các phi công bay ngày được
291 ngày với 5.586 lần chiếc, đạt 2.120 giờ 40 phút; bay đêm được 40 đêm với 468 lần chiếc, đạt 169
giờ 50 phút. Phi công tiêm kích bình quân một người bay 59 lần chiếc, đạt 25 giờ; phi công trực thăng
bay bình quân 77 lần chiếc, đạt 15 giờ. Nhiệm vụ huấn luyện bay được củng cố và tăng cường, đáp
ứng được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành tốt các nhiệm vụ bay khác.

Công tác kỹ thuật của sư đoàn trong năm 1977 đã bảo đảm tỉ lệ máy bay tốt là 78%, định
kỳ máy bay được 75 lần, thay động cơ được 15 lần. Trung đoàn 916 có thành tích lớn trong công tác
kỹ thuật. Trong vòng hai tháng đã khắc phục khó khăn, tích cực sủa chữa xong toàn bộ số máy bay bị
tai nạn do bão lốc gây ra, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức định kỳ Mi-8 và Mi-6. Năm 1977,
ngành kỹ thuật Trung đoàn 916 đã phát huy được hai sáng kiến cải tiến kỹ thuật như bọc đuya-ra thay
vải đuôi và làm thăng bằng ngang cho Mi-6 được Cục Kỹ thuật Quân chủng công nhận và đề nghị
khen thưởng.

Công tác xây dựng kinh tế của sư đoàn đạt hiệu quả đáng khích lệ. Trong năm, sư đoàn đã
nhanh chóng củng cố các cơ sở sản xuất, mạnh dạn đưa một phần cơ giới vào lao động thay cho lao
động thủ công bước đầu đạt kết quả phấn khởi.

Cuối năm 1977, chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, ngày 7 tháng 12, Bộ tư lệnh
sư đoàn ra mệnh lệnh số 615/TM-TC cơ động một phi đội MiG-21 của Trung đoàn 927 từ sân bay
Kép vào sân bay Đà Nẵng làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thay cho lực lượng của Trung đoàn 921
tại Đà Nẵng.

Ngày 8 tháng 12 năm 1977, căn cứ vào mệnh lệnh của quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn ra
mệnh lệnh 616/TM-TC do Tư lệnh phó, trung tá Phạm Thanh Ngân ký, cơ động lực lượng của Trung
đoàn 921 từ sân bay Đà Nẵng ra sân bay Yên Bái.

Năm 1978. quân dân cả nước ta đứng trước những thử thách lớn. Tình hình biên giới Tây
Nam phức tạp, ở phía Bắc chúng ta phải tập trung chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng chiến đấu đối phó với
mọi tình huống có thể xảy ra. Cả nước bị bão lụt, mất mùa nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến đời sống
của nhân dân và bộ đội. Cùng với các đơn vị trong Quân chủng Không quân, sư đoàn đã vượt lên mọi
khó khăn, có cố gắng lớn, triển khai nhiều công việc, chuyển sư đoàn vào trạng thái sẵn sàng chiến
đấu cao, tạo được chuyển biến tiến bộ rõ rệt về nhiều mặt.

Ngày 16 tháng 2, căn cứ vào mệnh lệnh điều động của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh
không quân ra quyết định số 42/QL do Thiếu tướng Đào Đình Luyện, Tư lệnh Quân chủng ký, tổ chức
một phi đội An-2 thuộc Trung đoàn 916. Máy bay của phi đội được chuyển từ Tổng cục Hàng không
về. Ngày 20 tháng 2, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu và của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư
đoàn ra mệnh lệnh chuyển Trung đoàn 927 từ sân bay Kép vào sân bay Đà Nẵng làm nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu và huấn luyện. Trung đoàn để lại ở sân bay Kép tiểu đoàn hậu cần và đại đội bay đêm,
đại đội thông tin, khí tài. Thi hành quyết định của Bộ Tổng tham mưu về việc điều chỉnh và bố trí lực
lượng chiến đấu, ngày 1 tháng 3, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Đào Đình Luyện ký quyết định số
148QL điều Trung đoàn 927 từ Sư đoàn 371 về trực thuộc Sư đoàn 370. Để thống nhất tổ chức các
trung đoàn bay trong Quân chủng, ngày 1 tháng 3, Bộ tư lệnh không quân quyết định tổ chức thành
lập các phi đội bay trực thuộc các trung đoàn và tổ chức biên chế các biên đội bay, các phân đội bảo
đảm kỹ thuật.

Ngày 7 tháng 3, chấp hành chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức chuyển
toàn bộ lực lượng của hai phi đội thuộc Trung đoàn 921 từ sân bay Yên Bái về sân bay Kép (một phi
đội bay ngày và một phi đội bay đêm). Lực lượng còn ở lại Yên Bái gồm một phi đội bay ngày, xưởng
định kỳ C14 và một số cán bộ cơ quan. Sở chỉ huy trung đoàn và ban chỉ huy trung đoàn cũng chuyển
về Kép.

Cùng với việc lãnh đạo các đơn vị cơ động bố trí lực lượng để sẵn sàng chiến đấu và xây
dựng, sư đoàn triển khai cho cán bộ chiến sĩ các đơn vị học tập và hưởng ứng cuộc vận động "Nâng
cao kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" trong toàn quân. Đồng thời sư đoàn đã chỉ đạo và
kiểm tra đôn đốc các đơn vị đẩy mạnh công tác tăng gia sản xuất làm kinh tế.

Thực hiện nghị quyết xây dựng đơn vị cơ sở năm 1978 của Đảng uỷ sư đoàn, đầu tháng 6,
Bộ tư lệnh sư đoàn triển khai thực hiện kế hoạch tập trung xây dựng Trung đoàn 921 và xây dựng tiểu
đoàn căn cứ sân bay Kép thành những đơn vị vững mạnh toàn diện.

Từ giữa năm 1978, ngày càng có nhiều hoạt động quân sự gây rối, phá hoại xảy ra ở phía
Bắc và trong nội địa nước ta nên nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, tăng cường huấn luyện của sư đoàn
yêu cầu rất khẩn trương. Sư đoàn đã tiến hành nhiều việc trong một thời gian ngắn nhằm đưa đơn vị
vào sẵn sàng chiến đấu để có thể tác chiến được ngay. Sư đoàn khẩn trương quán triệt nghị quyết
Trung ương, nghị quyết Quân uỷ Trung ương về tình hình nhiệm vụ mới, đưa hoạt động của sư đoàn
từ thời bình sang thời chiến.

Sư đoàn tiến hành điều chỉnh bố trí lại lực lượng, phổ biến cho bộ đội phương án tác chiến
trên không và mặt đất, sơ tán máy bay và tổ chức các "đội đặc nhiệm" bảo vệ máy bay; tích cực tham
gia sửa chữa xong các sân bay Kiến An, Hoà Lạc, Miếu Môn và Thọ Xuân; củng cố một bước các
mạng thông tin và radar, làm hiệp đồng tác chiến với các đơn vị bạn, các lực lượng vũ trang địa
phương, tích cực chuẩn bị, kiểm tra các mặt vũ khí, khí tài và các mặt công tác bảo đảm phục vụ chiến
đấu ở cả tuyến sau, tuyến trước.

Ngày 15 tháng 7, chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn chuyển toàn bộ
lực lượng vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất.(Chú thích: Trích Hồ sơ số 46. Hồ sơ: Chỉ thị,
mệnh lệnh, kế hoạch công tác quân sự của Sư đoàn 371 (lưu tại Phòng Lưu trữ Bộ Tham mưu Phòng
không-Không quân)

Ngày 20 tháng 7, thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn chuyển Trung
đoàn 921 từ sân bay Kép về sân bay mới.

Ngày 22 tháng 7, căn cứ vào nhiệm vụ và lực lượng tăng cường của Quân chủng giao cho
sư đoàn; căn cứ vào vị trí đóng quân và lực lượng của Trung đoàn 916, Bộ tư lệnh sư đoàn giao nhiệm
vụ cho Trung đoàn 916 tổ chức tiếp nhận lực lượng máy bay trực thăng UH-1.

Cuối tháng 7, theo lệnh của Quân chủng, Trung đoàn 927 tổ chức cơ động một lực lượng
gồm 6 chiếc MiG-21 ra sân bay Kép làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu.

Ngày 5 tháng 8, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu cao, Bộ tư lệnh Quân
chủng Không quân ra chỉ thị số 668/TM-QL do Thiếu tướng Đào Đình Luyện, Tư lệnh Quân chủng
ký về chấn chỉnh tổ chức lực lượng Sư đoàn 371. Sư đoàn gồm có 4 cơ quan sư đoàn, 3 tiểu đoàn
công binh, thông tin và huấn luyện trực thuộc, 1 đại đội bảo quản máy bay.

Sư đoàn. tiếp nhận lại Trung đoàn 927 từ Sư đoàn 370 điều về. Lúc này sư đoàn có 4 trung
đoàn bay chiến đấu 921, 927, 923, 916 và các căn cứ sân bay.

Tháng 8 năm 1978, thượng tá Nguyễn Nhật Chiêu, Tư lệnh sư đoàn nhận công tác mới,
thượng tá Mai Đức Toại, Tư lệnh phó sư đoàn được bổ nhiệm làm tư lệnh Sư đoàn không quân 371.
Cùng với việc củng cố tổ chức lực lượng, bố trí thế đóng quân của các đơn vị thuộc sư
đoàn, để có thể tăng cường huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, trong các tháng cuối quý III đầu quý IV
năm 1978, Bộ tư lệnh sư đoàn đã lãnh đạo các đơn vị tổ chức các cuộc diễn tập hiệp đồng chiến đấu
giữa các đơn vị trong sư đoàn, giữa sư đoàn với các đơn vị quân khu và các sư đoàn phòng không, hải
quân và lục quân cùng các lực lượng vũ trang và dân quân tự vệ các địa phương.

Trong tháng 8 và tháng 9, chấp hành mệnh lệnh diễn tập do Quân chủng giao, Bộ tư lệnh
sư đoàn tổ chức cuộc diễn tập thực binh xử trí máy bay vi phạm quy tắc bay trên vùng trời nước cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Cuộc diễn tập này có lực lượng máy bay C-130 của Trung đoàn không
quân vận tải 918 tham gia.

Cuối tháng 9, đầu tháng 10, Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức triển khai kế hoạch diễn tập đổ bộ
đường không. Các đơn vị tham gia diễn tập theo chức năng nhiệm vụ của mình: Trung đoàn 916 bay 4
chiếc trực thăng chở quân đến địa điểm đổ bộ; Trung đoàn 923 bay 2 biên đội 2 chiếc MiG-17 tiêm
kích bom đánh phá mục tiêu mặt đất để cản địch; Trung đoàn 921 bay 2 biên đội MiG-21 yểm trợ,
dưới sự chỉ huy của sở chỉ huy sư đoàn và sự chỉ huy trực tiếp của Phòng Tham mưu tại địa điểm diễn
tập đổ bộ.

Ngay từ đầu năm, sư đoàn đã tham gia lập kế hoạch hiệp đồng chiến đấu làm nhiệm vụ
tiêm kích phòng không bảo vệ yếu địa và đội hình chiến đấu của Quân khu 1.

Ngày 1 tháng 9, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu, tại sở chỉ huy Sư đoàn
phòng không 361, thượng tá Phạm Ngọc Lan, Phó tư lệnh sư đoàn, trung tá Nguyễn Văn Chuyên, Phó
tham mưu trưởng đã tham gia hội nghị hiệp đồng chiến đấu với Sư đoàn phòng không 361 về nhiệm
vụ đánh địch bảo vệ thủ đô Hà nội.

Ngày 3 tháng 9, tại sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 363, thiếu tá Nguyễn Mạnh Thành,
Tham mưu phó Sư đoàn 371 và thượng uý Nguyễn Ngọc Duyên, Tham mưu trưởng Trung đoàn 923
đã tham dự hội nghị thống nhất kế hoạch hiệp đồng chiến đấu phòng không đánh địch tập kích đường
không, đổ bộ đường biển, bảo vệ Hải Phòng, Quảng Ninh. Cùng tham dự hội nghị có đại tá Võ An
Đông, Tư lệnh Sư đoàn 363, trung tá Triệu Xuân Lan, Trưởng phòng Tác chiến đại diện cho Bộ Tham
mưu quân chủng phòng không.

Chấp hành chỉ thị số 184/QĐ-TM ngày 26 tháng 9 năm 1978 của Bộ Tổng tham mưu,
được sự uỷ quyền của hai quân chủng phòng không và Không quân, Sư đoàn 371 và Bộ tư lệnh Binh
chủng Radar đã tổ chức hội nghị hiệp đồng chiến đấu. Thượng tá Mai Đức Toại, Tư lệnh Sư đoàn 371
chủ trì hội nghị. Thượng tá Đào Văn Khánh đại diện cho Binh chủng Radar đã ký văn bản hiệp đồng
chiến đấu. Bộ tư lệnh Binh chủng Radar quyết định phối thuộc 7 đại đội radar dẫn đường cho Sư đoàn
không quân 371.

Năm 1978, trong tình hình khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để chuyển đơn vị vào trạng thái
sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn đã lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền lập được nhiều thành tích về nhiều
mặt. Sư đoàn tổ chức báo động chiến đấu 1.101 lần; cơ động chuyển lực lượng vào Nam, ra Bắc được
58 lượt chuyến máy bay, chuyên chở 390 tấn hàng; tổ chức bay nhiệm vụ, chuyên cơ phục vụ nhiệm
vụ quân sự, kinh tế và chống bão lụt được 2.050 lượt chuyến, vận chuyển 6.300 lượt người…
Cuối năm 1978, để nắm chắc tình hình đối phương và tổ chức chỉ huy chiến đấu hiệp đồng
chặt chẽ, phát huy sức mạnh của các trang bị vũ khí trong chiến đấu hiệp đồng, bảo đảm an toàn cho
máy bay ta, Bộ tư lệnh sư đoàn đã ra chỉ thị cho các đơn vị tổ chức các đại diện không quân ở các
quân khu và các đài quan sát chỉ thị mục tiêu. Các đơn vị của sư đoàn đã tổ chức 3 tổ đại diện: Một tổ
của sư đoàn hiệp đồng với Quân khu 1, một tổ của Trung đoàn 923 hiệp đồng với Quân khu 3, một tổ
của Trung đoàn 921 hiệp đồng với Quân khu 2; đồng thời tổ chức một số đài quan sát: một đài của cơ
quan tham mưu, 1 đài của Trung đoàn 927, một đài của Trung đoàn 921. Ngoài ra, ở các sư đoàn
phòng không 361, 363, 365, Sư đoàn không quân 371 đều có một sĩ quan tác chiến làm đại diện của
sư đoàn để nắm tình hình và làm công tác hiệp đồng chiến đấu.

Ngày 11 tháng 12, chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chỉ
thị số 161/BTL do thượng tá Mai Đức Toại, Tư lệnh Quân chủng ký về việc tổ chức bay thử sân bay
Cánh Đồng Chum của nước Lào. Sư đoàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 sử dụng 2 máy bay
MiG-21 F96 và hai phị công giỏi tiến hành bay thử hai lần tại sân bay Cánh Đồng Chum, xác định
chất lượng mặt đường cất hạ cánh để Bộ Tổng tham mưu bàn giao cho bạn sử dụng. Trung đoàn 921
cử một bộ phận kỹ thuật chuẩn bị cho bay thử. Sư đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị: trung đoàn căn
cứ bảo đảm ba trạm và lương thực, thực phẩm cho Trung đoàn 921 đi làm nhiệm vụ; tiểu đoàn 21 bảo
đảm thông tin liên lạc; Phòng Hậu cần bảo đảm xăng dầu; tiểu đoàn sân bay Thọ Xuân làm sân bay dự
bị. Các phòng Chính trị, Kỹ thuật, Tham mưu cùng tổ chức đôn đốc chỉ huy bảo đảm về khí tượng, kỹ
thuật cho bộ đội hoàn thành nhiệm vụ.

Đồng chí Phó tư lệnh sư đoàn, thượng tá Phạm Ngọc Lan được giao nhiệm vụ trực tiếp đi
nắm tình hình sân bay và tổ chức lực lượng thực hiện. Trung đoàn 921 và các đơn vị được giao nhiệm
vụ đã tổ chức và thực hiện tốt nhiệm vụ bay thử sân bay Cánh Đồng Chum.

II. THAM GIA CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ SẵN SÀNG CHIẾN
ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC

Cuối năm 1978, tình hình biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc căng thẳng
và phức tạp. Ở biên giới Tây Nam, bọn phản động Pôn-pốt - Iêng Xa-ri đã điều động 19 sư đoàn trong
tổng số 23 sư đoàn quân chủ lực của chúng áp sát biên giới Việt nam - Cam-pu-chia và có đơn vị tinh
nhuệ của chúng đã tiến công vùng Bến Sỏi (Tây Ninh), mở đầu cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam.

Ở phía Bắc, tình hình khu vực biên giới cũng căng thẳng về nhiều mặt. Trước tình hình đó,
Quân uỷ Trung ương đã ra nghị quyết về nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Tây Nam với quyết
tâm đánh trả mạnh mẽ, phản công kiên quyết nhằm giành thắng lợi trọn vẹn, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Bộ quốc phòng đã mở các hội nghị, giao nhiệm vụ chiến đấu cho các quân khu, quân đoàn,
quân chủng. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nam được thành lập (Mặt trận 479). Đại tướng Lê Trọng Tấn,
Tư lệnh chiến dịch đã đến kiểm tra và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn không quân 372, là đơn vị được
Quân chủng Không quân giao nhiệm vụ trực tiếp tác chiến trong lực lượng quân binh chủng hợp
thành bảo vệ biên giới.
Ở biên giới Tây Nam, địch cho một lực lượng máy bay MiG-19 (khoảng một trung đoàn)
hoạt động chi viện, yểm hộ cho bộ binh của chúng đánh sang biên giới nước ta. Trước tình hình đó,
quân chủng ra chỉ thị cho sư đoàn chuyển một phi đội MiG-21 vào tăng cường cho Sư đoàn 372 làm
nhiệm vụ chiến đấu. Ngày 12 tháng 12, Bộ tư lệnh sư đoàn ra mệnh lệnh cơ động chiến đấu số
767/BTL do thượng tá, Tư lệnh phó Phạm Ngọc Lan ký, giao nhiệm vụ cho các đơn vị; Trung đoàn
921 chuyển phi đội 7 vào Biên Hoà phối thuộc với Sư đoàn 372 làm nhiệm vụ chiến đấu.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng và sư đoàn, Trung đoàn 921 đã cử một phi đội gồm
cả lực lượng bay ngày và bay đêm cơ động vào sân bay Biên Hoà. Phi đội do đồng chí Hoàng Quốc
Dũng, Trung đoàn phó Trung đoàn 921 và đồng chí Dương, Phó chính uỷ phụ trách các bộ phận: lực
lượng bay ngày, lực lượng bay đêm, tiểu đoàn kỹ thuật, bộ phận định kỳ C14. Phi đội đã tham gia
chiến dịch và làm các nhiệm vụ: Tiêm kích yểm hộ cho các lực lượng máy bay ném bom và tiêm kích
bom, trực thăng vận tải của ta hoạt động vừa trinh sát, vừa yểm hộ vừa thị uy. Ngày 18 tháng 12, lực
lượng MiG-21 của Trung đoàn 921 chuyển trường. Ngày 25 tháng 12 đã triển khai trực chiến phi đội
chiến đấu.

Cùng tham gia chiến đấu với lực lượng MiG-21 của Trung đoàn 921 ở mặt trận Tây Nam
còn có 4 chiếc Mi-6 của Trung đoàn 916 trực thuộc sư đoàn.

Đảng uỷ, Bộ tư lệnh Sư đoàn 371 thường xuyên chỉ đạo đôn đốc và kiểm tra tạo điểu kiện
tốt cho lực lượng chiến đấu của sư đoàn làm nhiệm vụ.

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, chiến dịch phản công và tiến công của quân ta ở mặt trận Tây
Nam bắt đầu. Tất cả các lực lượng hải, lục, không quân nhất loạt chiến đấu trong đội hình hiệp đồng.
Từ ngày 25 tháng 12 năm 1978 đến cuối chiến dịch, lực lượng MiG-21 của sư đoàn đã cất cánh chiến
đấu yểm hộ chiến đấu hàng chục lần, tạo điều kiện cho bộ đội không quân và bộ đội binh chủng hợp
thành hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt, trong ngày 7 tháng 1 năm 1979, biên đội MiG-21 của đồng chí
Dũng và đồng chí Tư yểm hộ tích cực cho biên đội của đồng chí Lê Thương chiến đấu đánh vào các
trọng điểm của địch, tạo điều kiện cho bộ đội hải quân, thiết giáp, bộ binh cơ động chiến đấu và giành
thắng lợi.

Máy bay MiG-21 của sư đoàn còn tham gia trinh sát phát hiện máy bay T-28 của địch và
làm nhiệm vụ thông báo cho sở chỉ huy tiền phương của mặt trận tại Tây Ninh dẫn đường chính xác.
Máy bay MiG-21 bay yểm hộ cho các máy bay C-130 làm nhiệm vụ.

Ngày 17 tháng 1 năm 1979, toàn bộ lực lượng hải, lục, không quân của địch bị ta tiêu diệt
và tự tan rã, chiến dịch phản công và tiến công địch trên mặt trận Tây Nam của ta hoàn toàn thắng lợi.

Phi đội tham gia chiến dịch của Trung đoàn 921 Sư đoàn 371 được đồng chí Nguyễn Ngọc
Độ phụ trách không quân của mặt trận giao nhiệm vụ mới. Ngày 28 tháng 1 năm 1979, phi đội được
lệnh cơ động chuyển lực lượng ra làm nhiệm vụ sẵn sàng bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Đầu tháng 1 năm 1979, tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng, nguy cơ một cuộc chiến
tranh có thể nổ ra, Bộ tư lệnh không quân đã ra mệnh lệnh chiến đấu giao nhiệm vụ cho sư đoàn
chuyển một phần lực lượng của Trung đoàn 927 vào làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu và huấn luyện.
Bộ tư lệnh sư đoàn đã chỉ đạo Trung đoàn 927 tổ chức chuyển máy bay và phi công cùng các cán bộ
chỉ huy, thợ máy phục vụ trực ban chiến đấu và huấn luyện.

Trung đoàn 921 đã bàn giao sở chỉ huy và các kế hoạch hiệp đồng với đại đội radar 52 và
các trung đoàn phòng không bảo vệ sân bay cho Trung đoàn 927.

Tháng 1 năm 1979, chấp hành chỉ thị về việc triển khai kế hoạch kỹ thuật sủa chữa đột
xuất máy bay của Quân chủng, sư đoàn đã lãnh đạo và tổ chức các đơn vị kéo dài niên hạn sử dụng
cho 8 máy bay MiG-21 F-94 tại Trung đoàn 921 với sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô. Cùng thời
gian, tại xưởng A-39, sư đoàn tổ chức đại tu 10 chiếc máy bay MiG-17.

Ngày 5 tháng 1, chấp hành chỉ thị của đồng chí Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ
quốc phòng và chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng Không quân, Bộ tư lệnh sư đoàn ra mệnh lệnh sơ
tán máy bay MiG-21.

Cũng trong tháng 1, chấp hành chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức cho
Trung đoàn 921 và các đơn vị có liên quan tiến hành bay thử MiG-21 tại hai sân bay Hoà Lạc và Miếu
Môn. Sư đoàn đã tổ chức cho Trung đoàn 927 và các đơn vị tiểu đoàn sân bay Thọ Xuân tiến hành
bay thử thành công.

Ngày 8 tháng 1, Thường vụ quân uỷ Trung ương đã chỉ thị cho các đơn vị trong toàn quân,
giao nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang ta sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, củng
cố vững chắc thắng lợi giành được ở phía Nam, bảo vệ toàn vẹn đất đai của Tổ quốc. Thường vụ quân
uỷ Trung ương nhấn mạnh: "Các quân chủng phòng không, Không quân, Hải quân phải ở trong tư thế
sẵn sàng chiến đấu cao nhất" (Chú thích: Trích thư "gửi các đơn vị" của Thường vụ quân uỷ Trung
ương số 03/QU-TW-A ngày 8 tháng 1 năm 1979 (Hồ sơ lưu số 93 /HS)

Đầu tháng 2, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chấp hành chỉ thị của Quân
chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định tổ chức biên chế vọng quan sát trực thuộc đại đội 2 tiểu đoàn
thông tin 21, đồng thời thành lập đội bảo đảm bom đạn thuộc trung đoàn căn cứ Nội Bài.

Để kịp thời triển khai kế hoạch bảo đảm chiến đấu ở phía Bắc, theo lệnh của Bộ tư lệnh
Quân chủng, sư đoàn đã tổ chức cho bay thử thành công giá cải tiến mang bom của máy bay MiG-21.

Tết năm 1979, toàn Quân chủng Không quân khẩn trương triển khai thực hiện nghị quyết
của Đảng uỷ Quân chủng đẩy mạnh cuộc vận động "Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh
chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân" do Ban Bí thư Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương
phát động. Sư đoàn đón Tết với tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, phấn khởi, vui tươi, an
toàn và tiết kiệm.

Ngày 7 tháng 2, theo lệnh trên, sư đoàn đã tổ chức tiếp thu một phi đội 12 máy bay F-5 và
một phi đội gồm 12 máy bay trực thăng UH-1 của Sư đoàn không quân 372 ở phía Nam ra phối thuộc
tăng cường chiến đấu với Sư đoàn không quân 371 bảo vệ biên giới phía Bắc.

Sư đoàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 921 và trung đoàn căn cứ sân bay N tạo điều kiện
thuận lợi giúp đỡ phi đội F-5 nhanh chóng thực hiện được nhiệm vụ trực ban chiến đấu dưới sự chỉ
huy của sư đoàn.
Sư đoàn giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 916 đảm bảo nơi ăn ở và các phương tiện giúp lực
lượng phi đội UH-1 nhanh chóng thực hiện được nhiệm vụ.

Ngày 17 tháng 2, cuộc chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đã diễn ra. Chấp hành
mệnh lệnh của Bộ, Bộ tư lệnh Quân chủng ra lệnh chuyển toàn quân chủng vào trạng thái sẵn sàng
chiến đấu cao nhất.

Để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang, bảo vệ
vững chắc các mục tiêu chiến lược, Sư đoàn 371 được lệnh trên đã bố trí lực lượng trực ban chiến đấu
trên các sân bay.

Ngày 23 tháng 2, đoàn kiểm tra của Quân chủng Không quân đã kiểm tra tình hình sẵn
sàng chiến đấu của sư đoàn. Đoàn kiểm tra đánh giá sư đoàn đã khắc phục khó khăn, tiến hành công
tác chuẩn bị chiến đấu tốt. Sư đoàn đã xây dựng được phương án tác chiến trên không, phòng thủ mặt
đất hiệp đồng tác chiến với các đơn vị phòng không, tổ chức trực ban sẵn sàng chiến đấu ở sở chỉ huy
sư đoàn và sở chỉ huy trung đoàn…

Công tác chuẩn bị chiến đấu suốt cả quý I năm 1979 diễn ra khẩn trương. Toàn sư đoàn tập
trung chuẩn bị mọi mặt tiếp nhận hàng nghìn tấn bom đạn, xăng dầu; tiếp thu các lực lượng của Sư
đoàn 372 ra tham gia chiến đấu; sơ tán máy bay; điều động lực lượng đi tuyến trước, tuyến sau; làm
sở chỉ huy dự bị; củng cố hầm hào; tổ chức chiến đấu; phòng thủ ở mặt đất; lập phương án quyết tâm
đánh thắng trận đầu

Sư đoàn tiến hành nhiều hội nghị dân chủ bàn bạc thống nhất phương án đánh địch. Cán bộ
chỉ huy các cấp thường xuyên ở những vị trí khó khăn, ở sở chỉ huy ngày đêm để chuẩn bị mọi mặt
cho chiến đấu. Các đơn vị đã tập báo động chiến đấu cho phi công. Lực lượng trực thăng của Trung
đoàn 916 tập hạ cánh nơi khó khăn. Thợ máy, lái xe, nhân viên thông tin, quân y, hậu cần làm việc,
luyện tập thường xuyên với quyết tâm sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chỉ mấy tháng đầu năm,
toàn sư đoàn đã báo động chuyển cấp 250 lần, bay tuần tiễu trên 100 lần, cơ động 48 lượt chiếc và bay
nhiệm vụ hơn 200 lần.

Đảng bộ sư đoàn đã tập trung lãnh đạo các đơn vị dấy lên cao trào hành động cách mạng
mạnh mẽ với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, khí thế sôi nổi đều khắp, tranh thủ từng ngày gấp rút chuẩn bị
chiến đấu, huấn luyện đưa sư đoàn tiến lên một bước, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong
bất kỳ tình huống và quy mô nào, tích cực xây dựng sư đoàn tiến nhanh, tiến mạnh và toàn diện trên
các mặt.

Trong khi chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu khẩn trương, sư đoàn theo lệnh của Bộ và Quân
chủng đã cử các đoàn đi chuyển loại máy bay MiG-21 Bis làm cơ sở để sau này chuyển toàn bộ sư
đoàn sang loại máy bay MiG-21 hệ mới.

Trong quý I, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần
thứ 5 để tiếp tục quán triệt đường lối nhiệm vụ chính trị và các nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của
Quân chủng, của sư đoàn trong tình hình cách mạng mới nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của sư
đoàn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao.
Do nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện ngày càng khẩn trương, năm 1979, sư đoàn
đã thực hiện một bước về chấn chỉnh biên chế tổ chức, thường xuyên điều động lực lượng và tổ chức
thành lập những đơn vị mới. Được sự lãnh đạo và giúp đỡ chặt chẽ của Quân chủng, cùng với sự nỗ
lực lớn của sư đoàn, nhiệm vụ xây dựng, phát triển lực lượng của sư đoàn đã giành được thành tích
lớn.

Ngày 19 tháng 3, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định số 130/BTL lâm thời tổ chức phi đội
bay Ka-25 trực thuộc Trung đoàn 916. Thực hiện quyết định của Bộ tư lệnh Quân chủng trong tháng
4, sư đoàn đã tổ chức thành lập đại đội không ảnh và trinh sát điện tử thuộc Phòng Tham mưu sư
đoàn, tổ chức hai bộ phận bảo đảm sở chỉ huy công tác trên không sử dụng máy bay Mi-8 KP thuộc
Trung đoàn 916.

Ngày 3 tháng 4, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định số 199/BTL do Thiếu tướng, Tư lệnh
Đào Đình Luyện ký tạm thời điều động một phi đội MiG-21 Bis thuộc Sư đoàn 371 vào Đà Nẵng để
bay phục hồi và huấn luyện.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng ngày 20 tháng 4, sư đoàn tổ chức chuyển 4 chiếc F-5A
của Trung đoàn 937 vào Biên Hoà và chuyển 4 chiếc F-5E của Trung đoàn 935 từ Biên Hoà ra.

Ngày 25 tháng 4, sư đoàn tổ chức và chỉ đạo Trung đoàn 923 cơ động 25máy bay MiG-17
và toàn bộ khí tài, dụng cụ của 25 máy bay trên bàn giao cho Trường sĩ quan không quân làm nhiệm
vụ huấn luyện. Trung đoàn 923 giữ lại 10 máy bay gồm 8 MiG-17 và 2 UMIG để sẵn sàng chiến đấu
và huấn luyện.

Ngày 6 tháng 5, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định điều động 2 phi đội Ka-25 và U-17 bao
gồm toàn bộ quân số, trang bị máy bay khí tài của Trung đoàn 916 vào trực thuộc Trung đoàn 923
(Trung đoàn 916 chịu trách nhiệm mọi mặt định kỳ sửa chữa bảo đảm kỹ thuật cho máy bay Ka-25).
Sau đó, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định giải thể phi đội MiG-21 Bis đi huấn luyện ở Đà Nẵng để
thành lập phi đội bay chiến đấu và trinh sát thuộc Trung đoàn 921. Đồng chí đại uý Nguyễn Văn Toàn
được bổ nhiệm làm phi đội trưởng.

Từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 6, Đại hội đại biểu Đảng bộ Sư đoàn 371 lần thứ 5 đã được
tiến hành trọng thể trong không khí khẩn trương, quyết tâm sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Các đồng chí
Ngô Văn Ry, Thân Đức Đệ được đại hội bầu làm bí thư và phó bí thư Đảng uỷ sư đoàn.

Căn cứ biểu biên chế của Quân chủng, ngày 11 tháng 7, Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định
số 141/ BTL do thượng tá Mai Đức Toại, Tư lệnh ký tách các trung đoàn 916, 923, 927 thành các đơn
vị trực thuộc sư đoàn. Các tiểu đoàn căn cứ sân bay được thành lập riêng trực thuộc sư đoàn.

Ngày 31 tháng 7, Thiếu tướng Đào Đình Luyện thay mặt Bộ tư lệnh Quân chủng ký quyết
định số 452/BTL tổ chức phi đội U-17 trực thuộc Trung đoàn 916 Sư đoàn 371. Phi đội có nhiệm vụ
quan sát phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu của quân chủng, thường xuyên huấn luyện nâng cao trình độ
cho nhân viên bay và nhân viên kỹ thuật. Phi đội gồm 34 đồng chí.

Từ tháng 7, toàn sư đoàn đã thống nhất biên chế ở các trung đoàn bay gồm 3 cơ quan và 3
phi đội, 1 đại đội định kỳ, ở các căn cứ sân bay biên chế các đại đội xe và xăng dầu, đội cảnh vệ, đội
cứu hoả riêng. Tách các đội tên lửa của đại đội định kỳ đưa về căn cứ sân bay.
Trong tháng 7, chấp hành chỉ thị của Quân chủng, Bộ tư lệnh sư đoàn chỉ thị cho các đơn
vị 921, 923, 927 và phi đội A-37 của Trung đoàn 937 phối thuộc bay phục vụ cho Quân chủng phòng
không luyện tập sẵn sàng chiến đấu và kiểm tra radar.

Trung đoàn 921 thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh sư đoàn tổ chức tiếp thu một phi đội MiG-
21 Bis từ Đà Nẵng chuyển ra gồm 12 phi công, 12 máy bay MiG-21 Bis, 2 máy bay MiG-21 trinh sát
để sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện.

Trung đoàn 921 tiến hành sáp nhập 2 phi đội bay ngày thành một phi đội có 12 phi công,
10 máy bay MiG-21. Phi đội bay đêm của trung đoàn sử dụng cả 2 loại máy bay MiG-21 và MiG-21
Bis.

Trong tháng 8, Bộ tư lệnh sư đoàn căn cứ vào nhiệm vụ và ý định sử dụng lực lượng trong
chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Tư lệnh Quân chủng, đã lần lượt ra mệnh lệnh chiến đấu cho các
đơn vị 921, 923, 927 và 916 nhằm chuyển sư đoàn vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo quy định
của Quân chủng.

Ngày 8 tháng 8, Viện Kỹ thuật Không quân và sư đoàn phối hợp làm xong 4 giá treo hàng
cải tiến để treo bom trên máy bay MiG-21 số hiệu 5150 và tiến hành kiểm tra thông điện 10 lần đều
tốt. Hội đồng bay thử được thành lập. Ngày 28 tháng 8, phi công Nguyễn Mạnh Hải đã bay thử thành
công, được hội đồng bay thử kết luận nghiệm thu 4 giá cải tiến đủ tiêu chuẩn kỹ thuật và đề nghị đưa
vào ứng dụng.

Từ kết quả bay thử này, Bộ tư lệnh không quân chỉ thị cho sư đoàn sử dụng giá bom cải
tiến và giao cho sư đoàn triển khai tháo giá treo ở 13 máy bay của trung đoàn bay thuộc sư đoàn để
lắp giá treo bom cải tiến.

Trong năm 1979, các đơn vị bay đã cất cánh chiến đấu 117 lần, hướng Tây Nam, 78 lần
chiếc; hướng Bắc 39 lần, chủ yếu yểm hộ cho IL-14 thả dù tiếp tế.

Công tác chuẩn bị chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu đã có bước chuyển biến tốt. Sư đoàn
làm 4 phương án chiến đấu cơ bản và chỉ đạo các đơn vị làm kế hoạch chiến đấu theo nhiệm vụ được
giao.

Trong năm, sư đoàn gửi đi chuyển loại phi công lái MiG-21 Bis và Su-22 ở Liên Xô. Phi
đội Ka-25 qua huấn luyện làm dược nhiệm vụ trên đất liền, trên biển, có 3 tổ làm được nhiệm vụ ban
đêm.

Công tác kỹ thuật, hậu cần đã bảo đảm các mặt cho sư đoàn tham gia chiến đấu và xây
dựng, huấn luyện nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu. Ngành kỹ thuật đã định kỳ các loại máy
bay, bảo dưỡng các loại xe máy, chuyển loại thợ kỹ thuật máy bay MiG-21 Bis. Ngành hậu cần đảm
bảo xăng dầu, xây dựng kho bể và cơ sở bảo quản sửa chữa khí tài ở nhiều sân bay đảm bảo phục vụ
sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác bảo đảm đời sống nuôi dưỡng phi công và nhiều mặt khác
đều đạt được những thành tích góp phần hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu của sư đoàn.
Để đáp ứng yêu cầu đủ khả năng hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao, ngày 2 tháng 9 năm
1979, Bộ quốc phòng ra quyết định cho phép Bộ tư lệnh không quân và Sư đoàn 371 tổ chức thành
lập một trung đoàn không quân tiêm kích mới lấy Phiên hiệu là Trung đoàn 931. Trung đoàn gồm 3 cơ
quan tham mưu, chính trị và kỹ thuật: 1 phi đội bay mang phiên hiệu là phi đội 12 do đồng chí Trần
Tuấn Việt làm phi đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đức Chấn làm chính trị viên, đồng chí Nguyễn Huy
Đãng làm phi đội phó huấn luyện, đồng chí Nguyễn Văn Hải làm phi đội phó kỹ thuật. Xưởng định kỳ
bảo dưỡng kỹ thuật hàng không do đồng chí Tô Văn Tụ làm xưởng trưởng, đồng chí Đỗ Hà Điển làm
chính trị viên và đồng chí Nguyễn Văn Bé làm xưởng phó kỹ thuật. Đại uý Nguyễn Công Huy được
bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Xuân Tùng làm chính uỷ và được chỉ định làm bí thư
Đảng uỷ trung đoàn.

Cùng với việc chỉ đạo và tiến hành tổ chức thành lập Trung đoàn 931, trong tháng 9, sư
đoàn tiến hành bàn giao Trung đoàn 916 về trực thuộc Quân chủng.

Tháng 10 năm 1979, chấp hành mệnh lệnh điều động lực lượng của Quân chủng Không
quân, sư đoàn tổ chức bàn.giao toàn bộ quân số, trang bị của sân bay Thọ Xuân và sân bay Vinh về
trực thuộc Sư đoàn không quân 372.

Ngày 19 tháng 10, chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng về việc tổ chức bảo đảm tiếp
nhận máy bay An-26 do Liên Xô viện trợ, Bộ tư lệnh sư đoàn ra chỉ thị số 626/BTL giao nhiệm vụ
cho trung đoàn căn cứ sân bay tổ chức nơi ăn ở và làm việc cho lực lượng máy bay An-26, tạo điều
kiện thuận lợi cho lực lượng của Sư đoàn 376 nhận máy bay An-26 chuyển vào thành phố Hồ Chí
Minh.

Tháng 10 năm 1979, thượng tá Mai Đức Toại, Tư lệnh sư đoàn được bổ nhiệm chức vụ
mới, thượng tá Phạm Thanh Ngân, Tư lệnh phó được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng Sư đoàn không
quân 371.

Ngày 13 tháng 10 năm 1979, Bộ tư lệnh không quân ra mệnh lệnh tác chiến số 646/BTL do
đại tá quyền tư lệnh quân chủng Trần Mạnh ký, giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 371: với toàn bộ lực
lượng hiện có và được phối thuộc một trung đoàn tiêm kích bom và cường kích 937, hiệp đồng chặt
chẽ với các sư đoàn 372, 376, Trung đoàn 916 và các quân khu 1, 2, đặc khu Quảng Ninh, vùng duyên
hải I và các sư đoàn phòng không để thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, hiệp đồng chặt chẽ với
các lực lượng vũ trang, kiên quyết đánh bại mọi cuộc tập kích đường không của địch, bảo vệ vững
chắc các mục tiêu chính trị, kinh tế, quốc phòng trọng yếu thực hành tác chiến hiệp đồng quân binh
chủng.

Tháng 11 năm 1979, thượng tá Chính uỷ kiêm bí thư Đảng uỷ sư đoàn Ngô Văn Ry nhận
nhiệm vụ mới, đồng chí phó chính uỷ Thân Đức Đệ được bổ nhiệm làm chính uỷ sư đoàn. Thượng tá
Phạm Thanh Ngân, Sư đoàn trưởng được chỉ định làm bí thư Đảng uỷ sư đoàn.

Ngày 25 tháng 11, thượng tá Nguyễn Ngọc Độ, Tham mưu trưởng Quân chủng Không
quân ký quyết định điều toàn bộ tổ đại diện không quân Mặt trận 379 thuộc Sư đoàn 371 về Trung
đoàn 916.
Cuối tháng 12, Bộ tư lệnh không quân ra quyết định số 836/BTL do đại tá Trần Mạnh,
quyền Tư lệnh ký điều toàn bộ quân số, trang bị của Trung đoàn 923 thuộc Sư đoàn 371 về trực thuộc
Sư đoàn 372 và đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 933.

Ngày 22 tháng 12, thực hiện chỉ thị số 714 của Bộ tư lệnh Quân chủng về tổ chức lực
lượng không quân tham gia lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam, Bộ tư
lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho các đơn vị tổ chức bay 12 máy bay MiG-21, 3 máy bay A-37, 3 máy
bay F-5 và 3 máy bay Ka-25 cùng với 3 UH-L, 3 Mi-8 và 2 An-2 của Quân chủng bay dự lễ kỷ niệm
ngày 22 tháng 12 năm 1979 tại sân vận động Hàng Đẫy và ngày 23 tháng 12 bay tham dự ngày hội
khoẻ toàn quân trên khu vực Hồ Tây.

Đầu năm 1980, tình hình biên giới phía Bắc vẫn căng thẳng. Đất nước ta ở trong hoàn cảnh
vừa có hoà bình, vừa có thể xảy ra chiến tranh, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị chiến đấu của
các lực lượng vũ trang, của không quân nói chung, của Sư đoàn 371 nói riêng rất nặng nề. Là sư đoàn
không quân chịu trách nhiệm canh giữ vùng đất, vùng trời, vùng biển và hải đảo ở phía Bắc, ý thức
được trách nhiệm và vị trí của mình, sư đoàn luôn coi trọng công tác tổ chức huấn luyện bảo đảm sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu

Ngày 11 tháng 2 năm 1980, Bộ tư lệnh Quân chủng Không quân ra mệnh lệnh diễn tập
giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 371 hiệp đồng cùng Trung đoàn không quân trực thăng 916, Trung đoàn
917 và Trung đoàn 933 của Sư đoàn 372 chuẩn bị thực hành diễn tập. Sư đoàn tạm điều 2 máy bay
MiG-21 của Trung đoàn 931 tăng cường cho Trung đoàn 927 tham gia làm quân xanh diễn tập.

Ngày 7 tháng 3, Quân chủng bổ sung cho sư đoàn một số máy bay MiG-21 Bis tại sân bay
Đà Nẵng. Bộ tư lệnh sư đoàn ra quyết định chuyển sân điều động số máy bay trên tăng cường cho
Trung đoàn 921, Trung đoàn 927. Số máy bay trên đã lắp ráp và bay thử. Hai trung đoàn 921 và 927
được lệnh tiếp nhận và di chuyển máy bay MiG-21 Bis về căn cứ an toàn.

Ngày 14 tháng 5, chấp hành mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu của Tư lệnh
Quân chủng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371 ra quyết định gửi các trung đoàn bay và các tiểu đoàn căn
cứ sân bay giao nhiệm vụ cho các đơn vị chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên
tăng cường. Cùng ngày, Sư đoàn trưởng ra lệnh cơ động lực lượng theo chỉ thị của Tư lệnh Quân
chủng.

Trong năm 1980, sư đoàn thực hiện chế độ bốn trạng thái sẵn sàng chiến đấu mới theo chỉ
lệnh của Bộ, đồng thời tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu.

Sư đoàn tổ chức 6 cuộc diễn tập cấp phi đội, 5 cuộc diễn tập chiến thuật cấp trung đoàn,
kiểm tra đánh giá lại thực lực phi công, máy bay, bom đạn ở các đơn vị. Sư đoàn hiệp đồng với hàng
không dân dụng bảo đảm hệ thống đèn đêm ở sân bay, đồng thời tiến hành củng cố và xây dựng hệ
thống hầm hào ở sân bay, làm các ụ để máy bay và sửa chữa các đường kéo dắt máy bay…

Mùa hè năm 1980, đồng chí Phạm Tuân là phi công MiG-21 của Trung đoàn 921, Sư đoàn
371 trong thời gian đang học tập tại Liên Xô được tuyển chọn và huấn luyện thành phi công vũ trụ, đã
cùng đồng chí Gor-bát-cô thực hiện chuyến bay vào vũ trụ thành công. Sau chuyến bay trở về đồng
chí Phạm Tuân được Hội đồng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam phong tặng danh hiệu
Anh hùng Lao động.

Năm 1979 và 1980 công tác bảo đảm an toàn bay của sư đoàn có nhiều biện pháp để hạn
chế các vụ việc mất an toàn.

Đầu năm 1980, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về bảo đảm an toàn bay. Song do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan, số vụ mất an toàn bay của sư đoàn vẫn còn xảy ra làm ảnh
hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Đảng uỷ, Bộ tư lệnh sư đoàn tập trung lãnh đạo các
đơn vị đẩy mạnh cuộc vận động chống tiêu cực, rèn luyện kỷ luật, xây dựng sư đoàn chính quy, tiến
tới đảm bảo mọi hoạt động của sư đoàn theo một quy chế thống nhất, xây dựng sư đoàn ngày càng
vững mạnh.

Cuối năm 1980, tình hình biên giới phía Bắc lại trở nên căng thẳng. Chấp hành mệnh lệnh
cấp trên, ngày 9 tháng 12, Sư đoàn trưởng, thượng tá Phạm Thanh Ngân ra các mệnh lệnh chiến đấu
số 83/SĐ, 84/SĐ, 85/SĐ giao nhiệm vụ cho các trung đoàn trực thuộc. Sư đoàn sử dụng toàn bộ lực
lượng ba trung đoàn hiệp đồng với các lực lượng trong Quân chủng và lực lượng phòng không để sẵn
sàng đánh bại cuộc tập kích đường không và đổ bộ đường không của đối phương, bảo vệ an toàn các
mục tiêu. Các đơn vị của sư đoàn sẵn sàng tập kích vào các mục tiêu trọng yếu của đối phương khi có
lệnh để bảo vệ và chi viện cho các đơn vị vũ trang dọc biên giới phía Bắc.

Nhận nhiệm vụ sư đoàn giao, toàn bộ các đơn vị trong sư đoàn thể hiện quyết tâm cao,
khẩn trương quán triệt nhiệm vụ, nỗ lực chuẩn bị để sẵn sàng chiến đấu cao nhất, khi có lệnh chiến
đấu là cất cánh đánh bại kẻ thù, bảo vệ toàn vẹn biên giới lãnh thổ, vùng biển, vùng trời và vùng đảo
của Tổ quốc.

Đầu năm 1981, sư đoàn tiếp nhận và tổ chức lắp ráp, cơ động về các trung đoàn nhiều máy
bay mới và xe máy các loại thuộc các ngành kỹ thuật máy bay, tên lửa, quân giới, radar, thông tin và
xăng dầu… Việc hoàn thiện và chuyển loại máy bay, khí tài trang bị mới để huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu ở các trung đoàn đặt ra cấp thiết. Ngay từ đầu năm, các trung đoàn đã được Đảng uỷ và Bộ
tư lệnh sư đoàn quán triệt nhiệm vụ. Trên cơ sở đó, các đơn vị đã tích cực chỉ huy tổ chức đơn vị khắc
phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ trên giao.

Ngày 21 tháng 3 năm 1981, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng ra chỉ thị về triển khai rộng
rãi chế độ một người chỉ huy trong Quân chủng. Trước đó, năm 1980 chấp hành nghị quyết của
Thường vụ Quân uỷ Trung ương về thực hiện chế độ 1 người chỉ huy trong quân đội, Quân chủng
Không quân đã triển khai thực hiện thí điểm chế độ 1 người chỉ huy ở Sư đoàn 371, đồng thời sắp xếp
cán bộ cấp sư đoàn, cấp trung đoàn và tiểu đoàn theo chế độ 1 người chỉ huy ở một số đơn vị. Kết quả
1 năm thực hiện chế độ mới ở Sư đoàn 371 bước đầu thu được kết quả tốt. Nay Thường vụ Đảng uỷ
Quân chủng ra nghị quyết thực hiện trong toàn quân chủng.

Quý I năm 1981, sư đoàn kết hợp thực hiện từng bước các nhiệm vụ vừa huấn luyện, vừa
diễn tập, vừa hoàn thiện chuyển loại máy bay và trang bị khí tài mới, vừa kiện toàn tổ chức xây dựng
lực lượng, thường xuyên sẵn sàng chiến đấu. Để thực hiện kế hoạch huấn luyện bay biển cho phi công
Trung đoàn 921, sư đoàn chỉ đạo và tổ chức cho trung đoàn chuyển lực lượng một phi đội MiG-21
xuống sân bay Kiến An để huấn luyện. Đồng chí Lương Thế Phúc, Phó trung đoàn trưởng được giao
nhiệm vụ cùng chuyển sân với phi đội và trực tiếp chỉ huy phi đội huấn luyện tại sân bay Kiến An.
Ngày 10 tháng 4, phi đội bắt đầu huấn luyện.

Căn cứ vào chỉ thị số 48/CTQĐ ngày 16 tháng 10 năng 1980 của Bộ trưởng Bộ quốc
phòng về việc chấn chỉnh tổ chức biên chế trong toàn quân; căn cứ vào yêu cầu chiến đấu của quân
chủng Không quân và Sư đoàn không quân 371, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Đào Đình Luyện
đã ký quyết định số 169/BTL chấn chỉnh tổ chức trung đoàn căn cứ sân bay N thành tiểu đoàn bảo
đảm kỹ thuật sân bay. Tiểu đoàn trực thuộc Sư đoàn 371, chịu sự chỉ huy của đồng chí trung đoàn
trưởng trung đoàn bay hoạt động trên sân bay về các mặt bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, phục vụ cho bay.
Tiểu đoàn có nhiệm vụ đảm bảo sinh hoạt và phục vụ mọi mặt cho trung đoàn bay đóng quân ở sân
bay hoàn thành tốt nhiệm vụ bay và nhiệm vụ xây dựng đơn vị; sẵn sàng tiếp nhận và phục vụ các loại
máy bay và các đơn vị bay cơ động đến hoạt động ở sân bay theo yêu cầu nhiệm vụ, đồng thời ra sức
xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và tổ chức tốt công tác phòng thủ sân bay.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng về luyện tập và kiểm tra các trạng thái sẵn sàng chiến
đấu trong nhiệm vụ diễn tập năm 1981, ngày 14 tháng 7, sư đoàn ra mệnh lệnh số 57/SĐ và bổ sung
các mệnh lệnh số 56/SĐ, 44/SĐ giao cho các trung đoàn không quân tiêm kích 924 (phiên hiệu diễn
tập) 930 (diễn tập) và 934 (diễn tập) mệnh lệnh chiến đấu trong chiến dịch phòng không của Sư đoàn
không quân tiêm kích 374 (phiên hiệu diễn tập). Cùng tham gia hiệp đồng luyện tập chiến dịch phòng
không với Sư đoàn không quân tiêm kích 374 có các sư đoàn và các đơn vị trong Quân chủng Không
quân như Sư đoàn không quân 375 (phiên hiệu diễn tập) Trung đoàn 916 và một phần lực lượng của
Sư đoàn không quân 373 (phiên hiệu diễn tập) từ phía Nam sẵn sàng cơ động. Ngoài ra, các sư đoàn
phòng không 364, 366, 372 và 380 được trang bị các loại tên lửa phòng không cùng tham gia diễn tập.
Nhiệm vụ của sư đoàn và các lực lượng tham gia là kiên quyết đánh chặn tiêu diệt các loại máy bay
ném bom, tiêm kích bom, máy bay trinh sát để bảo vệ vững chắc các mục tiêu trọng yếu và đội hình
chiến đấu của bộ đội binh chủng hợp thành.

Trong năm 1981, sư đoàn còn tiến hành tham gia và tổ chức các cuộc diễn tập thực binh
khác. Qua diễn tập, người chỉ huy và các cơ quan nắm được nhiệm vụ và các bước tiến hành triển
khai tổ chức các giai đoạn chiến đấu. Trình độ, khả năng chiến đấu của phi công tiêm kích, tiêm kích
bom, trên biển, trên đất liền và trong hiệp đồng quân binh chủng được nâng lên. Sư đoàn đã có 35
đồng chí phi công làm được nhiệm vụ chiến đấu ban đêm, 39 đồng chí làm được nhiệm vụ tiêm kích
phòng không trên biển, 24 đồng chí làm được nhiệm vụ tiêm kích bom trên biển. Trong năm, sư đoàn
tổ chức báo động chuyển cấp cho các đối tượng được 1.502 lần chiếc, bay nhiệm vụ được 1.912 lần
chiếc.

Kết quả năm 1981, sư đoàn bay huấn luyện được 5.334 lần chiếc ban ngày, 1.036 lần chiếc
ban đêm. Có nhiều phi công bay trên 100 giờ như đồng chí Lê Tuấn, Trung đoàn 927; đồng chí
Nguyễn Đức Soát, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 bay trên 80 giờ.

Công tác huấn luyện và đào tạo cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ cho các ngành bảo đảm kỹ
thuật, hậu cần, quân y có kế hoạch, chương trình cụ thể. Sư đoàn đã huấn luyện bồi dưỡng cho đội
ngũ cán bộ chủ trì, trợ lý cơ quan và phi công những nội dung cơ bản về điều lệnh, những kiến thức
chung về công tác tham mưu, chỉ huy bay, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chiến đấu và
huấn luyện.

Tháng 7 năm 1981, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu và chỉ thị của Quân chủng, sư đoàn
tổ chức rút gọn biên chế sân bay Nà Sản, bàn giao 4 đại đội radar thuộc 4 sân bay về Bộ tư lệnh
Phòng không, đồng thời thành lập 4 tiểu đoàn thông tin radar ở 4 sân bay.

Năm 1981, ngành kỹ thuật đã tích cực chủ động phấn đấu bảo đảm 98% máy bay biên chế
của sư đoàn được đưa vào sử dụng. Tỉ lệ máy bay tốt đạt 85,07%. Trong năm, ngành bảo đảm phục vụ
cho bay huấn luyện, bay thử, bay chuyển sân được 8.405 lần chiếc bảo đảm an toàn chất lượng.
Ngành kỹ thuật có nhiều biện pháp tích cực bồi dưỡng và đào tạo được nhiều khoá thợ sơ cấp máy
bay, khí tài; mở nhiều lớp tập huấn bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, chuyển loại máy bay mới cho cán
bộ, nhân viên kỹ thuật hai trung đoàn 921 và 927.

Để học tập nghiên cứu trang bị loại máy bay mới, sư đoàn tích cực tổ chức biên soạn, dịch
tài liệu về quy trình kỹ thuật, các chế độ bảo quản sử dụng máy bay mới; bồi dưỡng kỹ sư, thợ trung
cấp kỹ thuật, chuyển loại thợ máy trung sơ cấp. Ngành đã xây dựng nền nếp chế độ, kế hoạch bảo
đảm kỹ thuật phục vụ cho kế hoạch 4 trạng thái sẵn sàng chiến đấu; tích cực củng cố, tu sửa các trạm
xưởng; xây dựng lại các quy trình công nghệ; đã trung tu lại xưởng bảo dưỡng kỹ thuật Trung đoàn
921, chuyển xưởng mới cho Trung đoàn 927, củng cố lại xưởng của Trung đoàn 931; chuyển xưởng
cơ khí trung tâm của sư đoàn về vị trí mới.

Cuối năm 1981, Phòng Kỹ thuật sư đoàn thực hiện chỉ thị về việc tổng kết phong trào sáng
kiến cải tiến kỹ thuật 5 năm (1976 - 1980) và phát động phong trào sáng kiến, sáng chế 5 năm (1981-
1985) trong ngành kỹ thuật và các cơ sở sản xuất.

Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá công tác kỹ thuật hàng không và quân giới của sư đoàn, đề
ra các biện pháp phòng tránh hư hỏng mất an toàn cho ngành kỹ thuật của sư đoàn hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.

Vấn đề bảo đảm an toàn bay được cán bộ các cấp ngành của sư đoàn quan tâm coi trọng.
Sư đoàn lấy kết quả an toàn và chất lượng làm thước đo về tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức
chỉ huy của cán bộ đơn vị. Trong các năm 1979, 1980, 1981 hoạt động bay của sư đoàn còn để xảy ra
nhiều vụ mất an toàn đáng tiếc. Năm 1981 có 9 vụ tai nạn có cấp, đặc biệt Trung đoàn 921 có 2 vụ tai
nạn cấp 1, ảnh hưởng đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ.

Chấp hành chỉ thị số 145/TC-TM ra ngày 30 tháng 10 năm 1981 của Bộ Tổng tham mưu
về việc tổ chức diễn tập thực nghiệm đối kháng với sư đoàn bộ binh cơ giới, ngày 26 tháng 12 năm
1981, sư đoàn quyết định sử dụng lực lượng của Trung đoàn 921 và Trung đoàn 927 tiến hành diễn
tập với sư đoàn "quân xanh" theo khoa mục "Không quân hiệp đồng với sư đoàn bộ binh cơ giới tiến
công quân địch phòng ngự", nhằm rèn luyện nâng cao trình độ chiến đấu của không quân tiêm kích
MiG-21 hiệp đồng với sư đoàn bộ binh cơ giới trong tiến công. Sư đoàn huy động 1 phi đội tiêm kích
bom, 1 phi đội tiêm kích, 1 máy bay trinh sát chụp ảnh và trinh sát bằng mắt của Trung đoàn 921, một
phi đội tiêm kích bom của Trung đoàn 927 cùng diễn tập với sư đoàn bộ binh cơ giới. Cuộc diễn tập
kéo dài trong 6 ngày từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 1 năm 1982 và đã đạt được kết quả tốt.
Đầu năm 1982, toàn sư đoàn thực hiện nghiêm chế độ trực ban sẵn sàng chiến đấu, chấp
hành các nhiệm vụ tác chiến, cùng các lực lượng vũ trang khác sẵn sàng đánh bại kiểu chiến tranh phá
hoại nhiều mặt của địch. Công tác chuẩn bị để chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu của các đơn
vị đã được củng cố có nền nếp hơn trước, thời gian chuyển trạng thái nhanh hơn.

Nhiệm vụ tổ chức diễn tập và tham gia diễn tập cùng các đơn vị bạn được sư đoàn thường
xuyên coi trọng. Nhận rõ vị trí và mục đích của công tác huấn luyện chiến dịch, theo lệnh của Quân
chủng năm 1982, sư đoàn khắc phục nhiều khó khăn, tham gia nhiều đợt diễn tập huấn luyện theo kế
hoạch.

Công tác phòng thủ sân bay, phòng chống cháy nổ, cướp phá máy bay và trang bị vũ khí,
khí tài kỹ thuật và hậu cần được sư đoàn quan tâm củng cố đẩy mạnh thêm một bước.

Ngày 18 tháng 3, căn cứ yêu cầu chiến đấu, xây dựng, để thống nhất phiên hiệu trong toàn
quân chủng, Tư lệnh Quân chủng Thiếu tướng Đào Đình Luyện ra quyết định số459/BTL, ban hành
phiên hiệu cho các phi đội trong các trung đoàn không quân gồm phi đội 1, 2 và 3. Ở các trung đoàn
không quân vận tải có thể thêm phi đội 4.

Phi đội 1, tổ chức và biên chế hoàn chỉnh có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất trong
trung đoàn. Phi đội 2, tổ chức và biên chế chưa hoàn chỉnh và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ thấp
hơn. Phi đội 3 là phi đội huấn luyện gồm các phi công mới ra trường và còn ít giờ bay.

Tháng 4 năm 1982, thượng tá Thân Đức Đệ nhận nhiệm vụ mới, trung tá Lê Xuân Dị, Chủ
nhiệm chính trị sư đoàn được bổ nhiệm chức vụ chính uỷ sư đoàn và được Đảng uỷ Quân chủng chỉ
định làm bí thư Đảng uỷ sư đoàn. Tháng 8 năm 1982, đại tá Phạm Thanh Ngân, Sư đoàn trưởng nhận
nhiệm vụ mới ở Bộ tư lệnh Quân chủng, đại tá Nguyễn Văn Cốc phó sư đoàn trưởng được bổ nhiệm
chức vụ sư đoàn trưởng.

Tháng 11 năm 1982, chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn tổ chức
cho Trung đoàn 927 diễn tập chiến thuật trung đoàn đánh mục tiêu trên không và phi đội đánh mục
tiêu mặt đất. Qua đợt diễn tập, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ trung đoàn và phi đội cùng trình độ
kỹ thuật, chiến thuật của đội ngũ phi công Trung đoàn 921 được nâng lên một bước, tạo điều kiện
thuận lợi để trung đoàn hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Quân chủng và sư đoàn kiểm tra phân cấp kỹ
thuật phi công, đánh dấu bước trưởng thành mới của Không quân nhân dân Việt nam. Đơn vị đầu tiên
tiến hành phân cấp là Trung đoàn 927.

Cuối tháng 12, sư đoàn điều một lực lượng máy bay MiG-21 bay diễu hành qua Quảng
trường Ba Đình nhân dịp lễ kỷ niệm 10 năm đánh thắng B-52 Mỹ.

Ngày 31 tháng 12 năm 1982, căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt nam, Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ra quyết nghị
số 259/KT-HĐNN 7 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam,
Trường Chinh ký tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Sư đoàn 371 thuộc Quân
chủng Không quân.

Đón nhận phần thưởng cao quý của Nhà nước trao tặng, cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn không
quân 371 càng phấn khởi và tự hào, càng ý thức được trách nhiệm của sư đoàn trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng là sư đoàn có truyền thống vẻ vang và bề dày lịch sử của Quân
chủng Không quân.

Trên cơ sở phát huy thành tích đã đạt được năm 1982, sang năm 1983, chấp hành nghị
quyết của Đảng uỷ và mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, toàn sư đoàn đã nỗ lực vượt bậc. tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ vững chắc trên tất cả các mặt công tác, duy trì chặt chẽ chế độ trực ban sẵn
sàng chiến đấu, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống ở trên không và tăng cường phòng thủ ở mặt đất,
bảo đảm an toàn các lực lượng và phương tiện được trang bị, cùng với quân và dân cả nước chủ động
làm thất bại mọi âm mưu và hành động trong chiến tranh phá hoại về nhiều mặt của địch, đồng thời
sẵn sàng thắng địch trong mọi tình huống có thể xảy ra. Sư đoàn đã tích cực triển khai nhiều nhiệm
vụ, đặc biệt là nhiệm vụ tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, giữ tốt dùng bền mọi cơ sở vật chất, kỹ
thuật.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng về thực hiện kế hoạch huấn luyện chiến dịch
năm 1983, để rút kinh nghiệm về phương pháp tổ chức chuẩn bị tiến hành diễn tập trung đoàn, đồng
thời nghiên cứu thực hiện một số vấn đề về chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị và thực
hành chiến đấu chỉ huy của một trung đoàn không quân tiêm kích, ngày 7 tháng 3, đại tá Nguyễn Văn
Cốc, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị 42/SĐ tổ chức diễn tập cho Trung đoàn 927. Cuộc diễn tập theo khoa
mục "diễn tập chỉ huy- tham mưu một cấp, một bên có phương tiện thông tin hên lạc và một phần
thực binh về hoạt động chiến đấu của trung đoàn không quân tiêm kích trong chiến dịch phòng
không". Cuộc diễn tập của Trung đoàn 927 tiến hành từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4 tại khu
vực sân bay Kép, Kiến An, Nà Sản với sự tham gia của các lực lượng tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật sân
bay, tiểu đoàn thông tin radar sân bay Kép và một bộ phận làm quân xanh của Trung đoàn 921 đã đạt
kết quả tốt.

Ngày 26 tháng 4, Bộ tư lệnh Quân chủng ra chỉ thị số 211/BTL do đại tá Trần Hanh, quyền
Tư lệnh ký về việc tổ chức chuyển loại máy bay cho Trung đoàn 931 Sư đoàn 371.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, ngày 19 tháng 4, đại tá Phạm Tuân, Phó sư
đoàn trưởng chỉ thị cho Trung đoàn 931 tiến hành chuyển loại 21 máy bay.

Trong thời gian 29 ngày từ ngày 2 đến ngày 31 tháng 5, với cố gắng nỗ lực lớn và tinh thần
khắc phục khó khăn, Trung đoàn 931 vừa tổ chức sẵn sàng chiến đấu vừa huấn luyện chuyển loại lý
thuyết cho phi công, nhân viên kỹ thuật máy bay bảo đảm thời gian và chất lượng.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng về việc cơ động một phần lực lượng phi công
và máy bay xuống sân bay Kiến An làm nhiệm vụ huấn luyện bay biển và diễn tập đánh mục tiêu trên
biển, ngày 16 tháng 6, đồng chí sư đoàn trưởng đã chỉ thị cơ động một lực lượng của Trung đoàn 921
xuống Kiến An để thực hiện nhiệm vụ Quân chủng giao.

Năm 1983, mặc dù thời tiết xấu kéo dài so với những năm trước, các đơn vị bay đều tranh
thủ ngày thời tiết tốt để huấn luyện. Tổng số lần bay mà sư đoàn đạt được là 5.442 lần chiếc, bình
quân mỗi phi công bay được 85 lần chiếc. Đội ngũ phi công được huấn luyện nâng cao về trình độ
đánh mục tiêu trên không tầng trung, tầng thấp các đội hình biên đội, đội bay. Sư đoàn đã tổ chức bay
chuyển loại cho 17 đồng chí phi công. Ngoài nhiệm vụ huấn luyện bay, sư đoàn tổ chức 3 lớp tập
huấn chỉ huy bay, công tác tham mưu, điều lệnh kỹ thuật, chiến thuật bộ binh cho 158 người; đào tạo
huấn luyện 480 nhân viên kỹ thuật các ngành.

Đến cuối năm 1983, nhiệm vụ hoàn thiện và chuyển loại máy bay, trang bị khí tài mới cho
các trung đoàn bay 921, 927 của sư đoàn cơ bản hoàn thành. Riêng Trung đoàn 931 mới chuyển loại
về mặt lý thuyết và thực hành bay được một số phi công. Ngày 7 tháng 12, căn cứ vào yêu cầu chiến
đấu và xây dựng lực lượng, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra quyết định số 579/BTL chuyển trang
bị cho Trung đoàn 931 Sư đoàn 371. Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 931 theo
kế hoạch kiện toàn tổ chức 3 phi đội máy bay mới hoàn chỉnh.

Đầu năm 1984, sư đoàn được tăng cường 21 máy bay mới. Số máy bay đó được bổ sung
cho Trung đoàn 931. Sau khi được bổ sung, Trung đoàn 931 đã tổ chức chuyển loại. Trung đoàn 931
nhận thêm 7 phi công mới. Theo lệnh của trên, sư đoàn quyết định điều hầu hết lực lượng Trung đoàn
931 vào Đà Nẵng để hoàn chỉnh nhiệm vụ chuyển loại máy bay mới.

Trong thời gian Trung đoàn 931 cơ động lực lượng vào sân bay Đà Nẵng chuyển loại,
Trung đoàn 921 được lệnh của sư đoàn đã cơ động một lực lượng lên sân bay Yên Bái làm nhiệm vụ
trực ban chiến đấu. Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn tiếp tục lãnh đạo sư đoàn kịp thời tổ chức biên chế lại
các cơ quan sử dụng theo biểu biên chế mới của Bộ Tổng tham mưu. Ở các sân bay, các đơn vị cảnh
vệ được tăng cường lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ máy bay, khí tài, trang bị an toàn.

Ngày 27 tháng 3 năm 1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định từ ngày 1 tháng 4
năm 1984, toàn quân bắt đầu thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW của Bộ Chính trị.

Ngày 23 tháng 4 năm 1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thành lập hội đồng
quân sự Quân chủng Không quân (Chú thích: 1 Quyết định số 770/NQ-NS-TW ngày 23 tháng 4 năm
1984. Hồ sơ lưu trữ số 39. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị năm 1984 của Quân chủng
Không quân) gồm 5 đồng chí do đồng chí Đào Đình Luyện, Tư lệnh Quân chủng làm chủ tịch. Cùng
thời gian này hội đồng Cục Chính trị Quân chủng Không quân được thành lập do đồng chí Chu Duy
Kính, Phó tư lệnh về chính trị làm chủ tịch.

Theo quyết định của cấp trên, hội đồng quân sự Sư đoàn không quân 371 được thành lập
do đại tá Nguyễn Văn Cốc Sư đoàn trưởng làm chủ tịch. Hội đồng chính trị sư đoàn được thành lập do
đại tá Nguyễn Trọng Yêng, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm chủ tịch.

Ở cấp trung đoàn trực thuộc sư đoàn cơ chế bí thư Đảng uỷ chuyên trách đã được tổ chức
biên chế và đi vào hoạt động.

Ngày 25 tháng 5, căn cứ vào chỉ thị số 215/BTL của Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn trưởng
ký quyết định số 152/TCĐV, thành lập đại đội phòng hoá trực thuộc sư đoàn.

Đại đội phòng hoá có nhiệm vụ: thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm tổ chức quan
sát, trinh sát, phát hiện và thông báo kịp thời cho đơn vị tổ chức phòng tránh khi địch sử dụng vũ khí
hoá học, sinh học, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị công binh, quân y tiến hành tiêu độc, tẩy trùng cho
khu vực và trang bị khí tài.
Để đối phó với tình hình ở biên giới phía Bắc, theo lệnh của Bộ tư lệnh Quân chủng, Sư
đoàn không quân 371 sẵn sàng chiến đấu và duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao từ 30 tháng 4
đến 15 tháng 9. Lực lượng trực ban có ngày cao điểm lên tới 28 lần chiếc trực cấp 2

Đầu tháng 5, chấp hành mệnh lệnh của trên, Sư đoàn không quân 371 cùng Sư đoàn phòng
không 377 đã tiến hành các hội nghị hiệp đồng tác chiến thông qua kế hoạch chỉ huy chiến đấu của
không quân tiêm kích thuộc Trung đoàn không quân 931 phối thuộc chiến đấu với Sư đoàn phòng
không 377 bảo vệ các mục tiêu ở biên giới phía Bắc.

Ngày 27 tháng 7 năm 1984, sư đoàn ra mệnh lệnh số 283 về nhiệm vụ tác chiến 1984-
1985. Nhiệm vụ chính của sư đoàn là: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không và lực
lượng vũ trang kịp thời, kiên quyết đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch, bảo vệ vững
chắc mục tiêu trọng yếu được giao, chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng trong các loại hình chiến
dịch. Trước khi nhận mệnh lệnh tác chiến của Tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã làm kế hoạch chiến
đấu trong tình huống 1 để trình Quân chủng. Tham mưu trưởng Quân chủng, đại tá Nguyễn Ngọc Độ
thay mặt Tư lệnh Quân chủng phê duyệt kế hoạch chiến đấu của sư đoàn. Theo kế hoạch, sư đoàn sử
dụng toàn bộ lực lượng hai trung đoàn 921, 927 và sẵn sàng cơ động một phi đội của Trung đoàn 931
hiệp đồng với các sư đoàn phòng không và các quân khu biên giới đánh bại các cuộc tập kích của đối
phương.

Sau khi nhận nhiệm vụ, sư đoàn thành lập ban nghiên cứu viết tài liệu chiến thuật phục vụ
cho kế hoạch tác chiến 1984 - 1985, tổ chức quân sự dân chủ nghiên cứu cách đánh ở các trung đoàn
và cơ quan sư đoàn. Nhận nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện chiến dịch do sư đoàn giao, các
cơ quan đã quán triệt đầy đủ tình hình nhiệm vụ, tích cực nghiên cứu cách đánh, huấn luyện các khoa
mục ứng dụng chiến đấu ở địa hình rừng núi.

Chấp hành quyết định số 689/BTL ngày 6 tháng 12 năm 1984 của Tư lệnh Quân chủng về
việc phục hồi Trung đoàn công binh 28 trực thuộc Quân chủng, ngày 8 tháng 2 năm 1985, Tham mưu
trưởng Quân chủng Không quân ra quyết định số 34/BTM do đại tá Hà Văn Chấp, phó tham mưu
trưởng kí điều động toàn bộ tổ chức, quân số, trang bị, tài sản hiện có của tiểu đoàn công binh 20
thuộc Sư đoàn 371 về trực thuộc Trung đoàn công binh 28 không quân.

Cuối tháng 4, đầu tháng 5 năm 1985, với sự phối hợp thực hiện của Trung đoàn công binh
28, việc sửa chữa đường băng sân bay Yên Bái đã hoàn thành.

Ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, năm 1985, sư đoàn còn bay nhiều nhiệm vụ khác,
trong đó có nhiệm vụ diễn tập kéo dài 3 tháng, từ cuối quý II đến hết quý III.

Sư đoàn đã trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 927 tham gia các cuộc diễn tập, lãnh đạo các đơn
vị thực hiện nhiệm vụ bay diễu binh cho các tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc, Yên Bái, Thái Nguyên, Vĩnh
Phú, Hải Phòng… phục vụ Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ nhất.

Công tác phòng thủ sẵn sàng chiến đấu ở mặt đất năm 1985 được các cấp chỉ huy của sư
đoàn quan tâm, thường xuyên chỉ đạo đơn vị mình tiến hành nhiều biện pháp thiết thực chống chiến
tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Các đơn vị từng bước củng cố khả năng phòng thủ, làm lại các
phương án bố phòng phù hợp; tích cực tổ chức báo động đánh đích tập kích, bảo vệ sân bay, kho
xưởng.

Tháng 8 năm 1985, đại tá Nguyễn Trọng Yêng, Phó sư đoàn trưởng chính trị nghỉ hưu, đại
tá Phạm Tuân, Phó sư đoàn trưởng được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng về chính trị.

Sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về " Đổi mới, hoàn thiện cơ chế
lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt nam, sự nghiệp quốc phòng và thực hiện chế độ
một người chỉ huy trong quân đội" có một số vấn đề mới nảy sinh cần bổ sung, hoàn chỉnh. Ngày 4
tháng 7 năm 1985, Bộ Chính trị ra nghị quyết 27/NQ-TW "tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của
Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt nam và sự nghiệp quốc phòng". Một số nội dung cơ bản của
Nghị quyết 07 được sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn.

Theo tinh thần Nghị quyết 27/NQ-TW, Bộ Chính trị ra quyết định tổ chức Đảng uỷ quân sự
Trung ương. Hệ thống Đảng uỷ các cấp được tổ chức lại. Bộ quốc phòng ra quyết định giải thể các hội
đồng quân sự và hội đồng chính trị các cấp trực thuộc.

Ngày 4 tháng 10 năm 1985, Ban Bí thư Trung ương ra quyết định thành lập Đảng uỷ Quân
chủng Không quân và chỉ định 9 đồng chí vào Đảng uỷ. Đồng chí Đào Đình Luyện, Tư lệnh Quân
chủng được chỉ định làm bí thư, đồng chí Chu Duy Kính, Phó tư lệnh về chính trị làm phó bí thư,
đồng chí Trần Hanh, Phó tư lệnh thứ nhất làm uỷ viên thường vụ.

Ngày 15 tháng 11, Đảng uỷ Quân chủng Không quân ra quyết định kiện toàn ban chấp
hành các đảng bộ 5 cơ quan Quân chủng, 3 sư đoàn không quân 371, 370, 372 và Trường sĩ quan chỉ
huy kỹ thuật Không quân. Theo quyết định của cấp trên, Ban Chấp hành Đảng bộ sư đoàn được kiện
toàn. Đồng chí Phạm Tuân, Phó sư đoàn trưởng về chính trị được chỉ định làm bí thư Đảng uỷ sư
đoàn.

Từ năm 1980 đến năm 1985 là giai đoạn sư đoàn vừa tích cực huấn luyện và sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc, vừa tiếp tục nhận và hoàn thiện, chuyển loại máy bay và
trang bị khí tài mới. Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn đã lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên của sư
đoàn đoàn kết, tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, có quyết tâm và ý chí khắc phục khó
khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ trên giao. Sư đoàn đã trưởng thành về nhiều mặt,
xứng đáng là sư đoàn không quân đầu đàn của Quân chủng Không quân, canh giữ tuyến biên cương
phía Bắc của Tổ quốc, cùng các lực lượng vũ trang khác bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ và cuộc
sống hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân.

Với những thành tích toàn diện to lớn đã đạt được trong 5 năm qua, sư đoàn đã được tặng
nhiều phần thưởng cao quý. Năm 1982, sư đoàn được Nhà nước tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được Bộ quốc phòng, Quân chủng tặng thưởng nhiều cờ thưởng
luân lưu. Năm 1984, sư đoàn vinh dự được Nhà nước tặng huân chương Độc lập hạng nhất. Các địa
phương nơi sư đoàn có các sân bay và các trung đoàn bay đóng quân đã quan tâm giúp đỡ, tạo thuận
lợi nhiều mặt cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Mối quan hệ đoàn kết gắn bó của cán bộ chiến sĩ và
nhân dân các địa phương có căn cứ đóng quân của sư đoàn ngày càng được củng cố và phát triển tốt
đẹp trên cơ sở tình đoàn kết từ trong chiến đấu chống Mỹ cứu nước. Các tỉnh Yên Bái, Hà Bắc, Hải
Phòng, Vĩnh Phú đã nhiều lần tặng thưởng bằng khen, lẵng hoa và cờ luân lưu cho các đơn vị của sư
đoàn.

Chương 5
SƯ ĐOÀN KHÔNG QUÂN 371 TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC (1986 - 1998)

I. SƯ ĐOÀN NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986-1990)

Năm 1986 là năm tiến hành Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đại hội mang ý nghĩa trọng
đại đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới, năm đầu thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ 4 (1986 -
1990). Đối với quân đội là năm triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương và
Nghị quyết 27 về việc "tiếp tục kiện toàn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và sự nghiệp
quốc phòng".

Tình hình kinh tế đất nước sau khi triển khai thực hiện các nghị quyết 6, 7, 8 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá V "Xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa" tuy có được cải thiện một bước nhưng do hậu quả của thiên tai, bão
lụt một phần do mới chuyển đổi cơ chế nên vẫn gặp nhiều khó khăn. Về mặt quân sự, địch tăng cường
các hoạt động nhằm thực hiện chiến tranh phá hoại nhiều mặt, tiếp tục lấn chiếm biên giới và tranh
chấp trên các vùng biển, hải đảo. Trước tình hình đó, Thường vụ Đảng uỷ và ban chỉ huy sư đoàn tập
trung mọi nỗ lực nhằm nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và khả năng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu
của nhiệm vụ.

Ngày 18 tháng 1 năm 1986, Đảng uỷ sư đoàn đã họp dưới sự chủ toạ của Bí thư Đảng uỷ
Phạm Tuân. Hội nghị kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ năm 1985, ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ năm 1986. Nghị quyết nêu rõ: "Tập trung sự lãnh đạo nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu
của sư đoàn, triển khai huấn luyện toàn diện để sử dụng có hiệu quả vũ khí trang bị kỹ thuật, làm
chuyển biến tình hình kỷ luật của bộ đội, nâng cao sức mạnh tổng hợp, góp phần đánh bại kiểu chiến
tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Tích cực lao động sản xuất, tiết kiệm tham gia xây dựng kinh tế có
hiệu quả".

Để triển khai nghị quyết của Đảng uỷ, lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn cử các đoàn xuống kiểm
tra, giúp đỡ các đơn vị trong việc nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện toàn diện trong
đó huấn luyện bay là nhiệm vụ trung tâm.

Cuối tháng 1 năm 1986, đoàn của Bộ Tổng tham mưu kiểm tra Trung đoàn 921. Đoàn đánh
giá cao sự cố gắng của cán bộ, chiền sĩ trung đoàn trong việc thực hiện nhiệm vụ năm 1985, triển khai
nhiệm vụ quân sự năm 1986, đồng thời chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại mà lãnh đạo, chỉ huy đơn vị
cần khắc phục trong việc thực hiện chỉ lệnh sẵn sàng chiến. đấu, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ,
vai trò chỉ đạo của cơ quan chức năng.

Ngày 18 tháng 2 năm 1986, đại tá, Sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Cốc ký quyết định số
59/HL về việc công nhận phi công cấp 3 cho 21 đồng chí. Đây là sự ghi nhận tinh thần cố gắng học
tập, làm chủ khoa học kỹ thuật, đánh dấu bước trưởng thành trong thực tiễn của số phi công mới trước
khi bước vào mùa huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu năm 1986.
Đội ngũ cán bộ trong sư đoàn thời gian này có thay đổi. Ngày 28 tháng 2 năm 1986, Đại
tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ quốc phòng đã ký quyết định bổ nhiệm trung tá Phạm phú
Thái, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 làm phó sư đoàn trưởng phụ trách huấn luyện, trung tá Đinh
Văn Bồng, Phó trung đoàn trưởng làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 927.

Ngày 1 tháng 3 năm 1986, toàn sư đoàn đồng loạt ra quân huấn luyện với phương châm
"toàn diện, đồng bộ, bảo đảm an toàn, tiết kiệm". Thời gian này trên các sân bay do đơn vị quản lý,
khí tượng không ổn định đã ảnh hưởng lớn đến việc triển khai công tác huấn luyện cả ngày và đêm.
Sư đoàn đã quán triệt vận dụng phương châm chỉ đạo huấn luyện: "Tích cực tổ chức bay các khoa
mục ứng dụng chiến đấu trong các điều kiện khí tượng khác nhau”.

Đầu tháng 6 năm 1986, đoàn kiểm tra của Bộ quốc phòng do Thượng tướng Phùng Thế
Tài, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam đến kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của
Trung đoàn 931. Đoàn tiến hành kiểm tra các phương án chiến đấu, việc chấp hành các chế độ quy
định ở sở chỉ huy, ý thức sẵn sàng chiến đấu của kíp trực.

Thực hiện chỉ thị của sư đoàn trưởng, từ ngày 15 tháng 8 đến ngày 30 tháng 9 năm 1986,
hai trung đoàn 921 và 927 đã tổ chức bay biển. Lãnh đạo, chỉ huy hai đơn vị xác định đây không phải
là nội dung mới, nhiều đồng chí đã tham gia bay, nhưng với một số đồng chí, đây là lần đầu tiên nên
các cơ quan chức năng nắm lại trình độ bay, tâm lý tư tưởng của từng đồng chí, động viên bộ đội hoàn
thành nhiệm vụ. Ngoài ra, các đơn vị phải làm tốt công tác hiệp đồng, dự kiến các phương án tìm
kiếm cấp cứu, bảo đảm thông tin liên lạc với sân bay dự bị Kiến An. Qua hơn hai tháng huấn luyện,
đối với nhiệm vụ đánh mục tiêu mặt biển, Trung đoàn 927 đạt 20% kế hoạch, với nhiệm vụ tiêm kích
phòng không trên biển, Trung đoàn 921 đạt 90% kế hoạch; Trung đoàn 927 đạt 100% kế hoạch, đảm
bảo an toàn tuyệt đối.

Ngày 23 tháng 8 năm 1986, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Thứ trưởng Bộ quốc phòng đã ký
quyết định bổ nhiệm đại tá Đồng Văn Song làm tham mưu trưởng sư đoàn. Ngày 29 tháng 9 năm
1986, Đảng uỷ sư đoàn họp kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng bộ quý III, đề ra chủ trương biện pháp
lãnh đạo những tháng còn lại của năm 1986. Hội nghị nhất trí đánh giá: "Các cấp uỷ Đảng và người
chỉ huy đã lãnh đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Đảng uỷ và chỉ thị mệnh
lệnh của cấp trên, xây dựng được ý chí quyết tâm cao của cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trong sư
đoàn nên cơ bản hoàn thành được các chủ trương công tác trong quý".

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, tháng 10 năm 1986, Tư lệnh Quân chủng quyết định giải thể phi
dội 402 của Trung đoàn 921, sáp nhập vào các phi đội 1, 2, 3. Số phi công, cán bộ và nhân viên kỹ
thuật được phân về các phi đội trên theo nhiệm vụ.

Ngày 15 tháng 11 năm 1986, sư đoàn tiến hành tổng kết công tác huấn luyện. Năm 1986,
trong điều kiện khí tượng xấu kéo dài từ đầu quý I đến đầu quý II, nhiều phi công mới được bổ sung
về đơn vị, việc bảo đảm chống gián cách gặp nhiều khó khăn. Song cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đã
quán triệt sâu sắc nghị quyết Đảng uỷ, mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng, khắc phục khó khăn, tổ
chức huấn luyện, trọng tâm là huấn luyện bay đạt kết quả tốt, đã thực sự nâng cao trình độ sẵn sàng
chiến đấu cho đội ngũ phi công. Sư đoàn thường xuyên quán triệt nhiệm vụ, phương châm tư tưởng
chỉ đạo công tác huấn luyện, từng thời gian và từng thời kỳ vận dụng vào thực tế từng đơn vị, tổ chức
huấn luyện với đặc điểm tình hình khí tượng và điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất khó khăn. Trong
năm, toàn sư đoàn đã tổ chức bay được 6.793 lần chiếc (3.390 giờ 45 phút), hoàn thành 89,2% kế
hoạch năm cả về thời gian và tiến độ mà Quân chủng giao cho. Nổi lên là huấn luyện tiêm kích phòng
không ngày đơn giản, đánh chặn 2 chiếc đạt 91,1% kế hoạch; bay khí tượng phức tạp tối thiểu đạt
103,l%, bay tiêm kích phòng không trên biển dạt 82,8%; bồi dưỡng đào tạo giáo viên bay được 60%,
biên đội trưởng 53%, chỉ huy bay 81%. So với năm 1985, nội dung huấn luyện bay cho phi công mới
trong các nhiệm vụ được sư đoàn chú trọng một cách toàn diện, huấn luyện bay các khoa mực mới
được quan tâm đúng mức

Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng năm 1986, Trung đoàn không quân tiêm kích 921
được Quân chủng công nhận là đơn vị quyết thắng. Nhiều năm liên tục đoàn không quân Sao Đỏ luôn
phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đã lập được nhiều thành tích
xuất sắc, đặc biệt là trong huấn luyện bay đảm bảo chất lượng, an toàn tuyệt đối. Nhiều tập thể được
Quân chủng, sư đoàn tặng bằng khen, giấy khen, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ được công nhận chiến sĩ thi
đua.

Bước vào năm 1987, năm đầu thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, đối với quân
đội thực hiện đổi mới theo phương hướng: "Xây dựng quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện
đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt
chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu cao, tổ chức tốt việc bảo vệ chủ quyền và giữ vững an ninh các
tuyến biên giới, vùng trời, vùng biển và hải đảo…".

Để hoàn thành nhiệm vụ của quân đội mà Đại hội VI của Đảng đề ra, ngày 7 tháng 1 năm
1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân, Thiếu tướng Trần Hanh căn cứ vào mệnh lệnh của Bộ quốc
phòng và tình hình nhiệm vụ của Quân chủng đã giao nhiệm vụ cụ thể cho Sư đoàn 371. Đảng uỷ sư
đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ công tác quân sự năm 1987. Đại tá, Sư đoàn trưởng
Nguyễn Văn Cốc giao cho các đơn vị với 2 nhiệm vụ chủ yếu.

Để thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu trên, các đơn vị đã tiến hành hội nghị quân sự dân chủ
nhằm thảo luận, bàn bạc, tìm ra các giải pháp tốt nhất, với không khí thẳng thắn, cởi mở và dân chủ,
cán bộ các cấp đã đóng góp nhiều ý kiến về các phương án tác chiến, chỉ tiêu giờ bay, công tác bảo
đảm an toàn và rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy. Nhiều phi công mạnh dạn đề xuất những ý kiến
về công tác tổ chức, chỉ huy bay, về sự quan tâm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho bộ đội nói
chung và phi công nói riêng để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ.

Ngày 20 tháng 4 năm 1987, Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Quyết đã
ký quyết định bổ nhiệm trung tá Trần Việt, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 làm phó sư đoàn
trưởng; trung tá Đinh Văn Bồng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 làm phó sư đoàn trưởng-tham
mưu trưởng Sư đoàn 370; thiếu tá Lê Văn Tuấn, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 931 làm trung
đoàn trưởng Trung đoàn 927; trung tá Đinh Trọng Kháng, Phó trung đoàn trưởng-Tham mưu trưởng
Trung đoàn 921 làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 921.

Thực hiện nhiệm vụ quân sự năm 1987, ngày 25 tháng 6 năm 1987, sư đoàn tổ chức đoàn
kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của Trung đoàn 921 do đại tá Sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Cốc
làm trưởng đoàn. Nội dung kiểm tra gồm 2 phần. Phần 1 nghe trung đoàn báo cáo tình hình thực hiện
nhiệm vụ 6 tháng đầu năm, sau đó các ngành chức năng kiểm tra lý thuyết theo ngành dọc của mình.
Tại hội nghị giảng bình rút kinh nghiệm, đồng chí sư đoàn trưởng đánh giá cao sự cố gắng của cán bộ,
chiến sĩ Trung đoàn 921 trong việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị, trình độ tổ chức
chỉ huy của cán bộ, vai trò chỉ đạo của cơ quan… đồng thời cũng chỉ ra một số nhược điểm mà trung
đoàn cần khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ 6 tháng cuối năm. Kết quả trung đoàn xếp loại khá.

Ngày 14 tháng 7 năm 1987, Trung đoàn 921 tiến hành chuyển sân phi đội 1 xuống Kiến An
bay biển theo kế hoạch huấn luyện quân sự năm. Đoàn do đồng chí Trần Tuấn Việt, Phó trung đoàn
trưởng-Tham mưu trưởng phụ trách.

Để thực hiện nhiệm vụ, ngày 22 tháng 7 năm 1987, sư đoàn tổ chức thành lập một tổ tìm
kiếm cấp cứu gồm 7 người do một đồng chí sĩ quan dù của Phòng Huấn luyện phụ trách, có nhiệm vụ
thường xuyên sẵn sàng, tìm kiếm cấp cứu mỗi khi có tai nạn xảy ra trong huấn luyện, chiến đấu và các
hoạt động bay khác trong vùng trách nhiệm được giao. Cũng trong thời gian này, sư đoàn trưởng ra
chỉ thị bổ sung một số quy định trong công tác huấn luyện. Đây là một số biện pháp cấp bách, trước
mắt để đưa công tác huấn luyện vào nền nếp, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Trong chỉ thị ngày 30 tháng 7
năm 1987, quy định thực hiện một ngày chuẩn bị, một ngày bay, một đêm bay. Các đơn vị tổ chức bay
gọn nhẹ, dưới 25 lần chiếc. Thực hiện chỉ huy bay chuyên nghiệp trong toàn sư đoàn. Trung đoàn 921
có 4 đồng chí: Đinh Trọng Kháng, Nguyễn Khánh Duy, Đặng Vân Đình, Trịnh Bá Tư; Trung đoàn
927 có 3 đồng chí Trần Anh Mỹ, Bùi Văn Tập, Trần Văn Chiến; Trung đoàn 931 có 3 đồng chí
Trương Tôn, Trần Văn Thi, Nguyễn Văn Miên.

Ngày 29 tháng 8 năm 1987, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị tổ chức bắn, ném bom nhằm kiểm tra
đánh giá kết quả công tác huấn luyện năm 1987. Thời gian chia làm 2 đợt: Đợt 1 từ ngày 10 tháng 9
đến ngày 12 tháng 9, đợt 2 từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 18 tháng 9. Ngày 20 tháng 9, sư đoàn tiến
hành rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả bắn, ném bom thật đạt yêu cầu, nhiều đồng chí bắn đạt khá
giỏi.

Thực hiện chỉ thị số 296/BTL ngày 4 tháng 8 năm 1987 của Quân chủng về tổ chức diễn
tập tham mưu-chỉ huy cho Sư đoàn 371, ngày 4 và 5 tháng 10, sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy-tham
mưu hai cấp một bên dưới sự chỉ đạo của Quân chủng. Đại tá, Sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Cốc làm
trưởng ban chỉ đạo diễn tập, trung tá Nguyễn Công Huy làm tham mưu trưởng. Với khoa mục "Hoạt
động chiến đấu của sư đoàn không quân tiêm kích trong tình huống địch mở rộng chiến tranh lấn
chiếm biên giới", cả hai giai đoạn sư đoàn đều thực hiện đúng nội dung yêu cầu, tốt nhất là giai đoạn
chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường và lên cao, giai đoạn chuẩn bị
chiến đấu đánh dấu một bước trưởng thành của các cán bộ chỉ huy các cấp trong việc điều hành cơ
quan theo các bước. Sau đó ban. chỉ đạo diễn tập tiến hành họp đánh giá kết quả. Mặc dù giai đoạn
thực hành chiến đấu có sự cố xảy ra, song cuộc diễn tập cơ bản thực hiện được mục đích, yêu cầu đề
ra, đã kiểm tra thực chất trình độ khả năng sẵn sàng chiến đấu cả trên không và mặt đất của sư đoàn,
luyện tập cho người chỉ huy và cơ quan các cấp nắm được và hành động đúng thứ tự, nội dung các
bước trong công tác tổ chức, chuẩn bị và thực hành chiến đấu.

Ngày 15 tháng 10 năm 1987, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết
định bổ nhiệm đại tá Phạm Tuân, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm phó chủ nhiệm chính trị Quân
chủng. Đại tá Hán Vĩnh Tưởng, Chủ nhiệm chính trị được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng về chính
trị và được chỉ định làm bí thư Đảng uỷ sư đoàn. Ngày 2 tháng 10 năm 1987, Trung tướng Đặng Vũ
Hiệp ký quyết định bổ nhiệm trung tá Nguyễn Mạnh Hải làm phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Ngày
14 tháng 10 năm 1987, Thượng tướng Bùi Phùng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết định bổ nhiệm
trung tá Cao Thạch Khanh, Chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn làm phó sư đoàn trưởng - chủ nhiệm kỹ thuật;
đồng chí Phạm Phú Thái, Phó sư đoàn trưởng-Trưởng phòng huấn luyện làm phó sư đoàn trưởng-
tham mưu trưởng. Ngày 9 tháng 11 năm 1987, trung tá Lại Trọng Kha được bổ nhiệm làm phó chủ
nhiệm chính trị Sư đoàn 371.

Cuối tháng 11 năm 1987, sân bay Yên Bái tiến hành sửa chữa lớn. Chấp hành mệnh lệnh
của Tư lệnh quân chủng, để bảo đảm cho huấn luyện bay, Trung đoàn 931 cơ động lực lượng về sân
bay Nội Bài. Sư đoàn đã ra chỉ thị quy định rõ trách nhiệm của từng đơn vị trong công tác huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu, quy định rõ hiệp đồng phân chia ngày bay. Các phi công bay đêm Trung đoàn 921
kèm cặp giúp đỡ các phi công Trung đoàn 931 bay hồi phục.

Cuối tháng 12 năm 1987, sư đoàn tổng kết nhiệm vụ quân sự năm, báo cáo đánh giá khách
quan những việc làm được và khuyết điểm, hạn chế. Báo cáo chỉ rõ trong năm qua, sư đoàn đã duy trì
lực lượng trực ban sẵn sàng chiến đấu trên các sân bay, làm tốt phương án chiến đấu trên không và
mặt đất; tổ chức trực ban chiến đấu đêm, báo động chuyển cấp sở chỉ huy và biên đội, bay nhiệm vụ
và hoàn thành nhiều nhiệm vụ đột xuất khác: Coi trọng công tác huấn luyện toàn diện, lấy huấn luyện
bay là nhiệm vụ trung tâm thường xuyên, đạt và vượt chỉ tiêu giờ bay về một số khoa mục quan trọng,
đưa nhiều phi công vào làm nhiệm vụ trực ban chiến đấu. Công tác kỹ thuật hàng không, hậu cần kỹ
thuật khắc phục nhiều khó khăn, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, xây dựng và bảo đảm đời sống
bộ đội.

Phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên năm 1987 đã nêu bật được sự cố gắng
vươn lên trong việc thực hiện nhiệm vụ. So với năm 1986, số đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh
vẫn giữ được, số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh tăng 8,1%, không còn chi bộ kém.

Ngày 9 tháng 1 năm 1988, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về việc thực hiện nhiệm vụ năm 1988.
Chỉ thị nêu rõ: "phải duy trì chặt chẽ các chế độ sẵn sàng chiến đấu, khi có tình huống chuyển cấp cất
cánh kịp thời. Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng không và hải quân ngăn chặn xử lý có hiệu
quả đối với các hoạt động bay xâm phạm và sẵn sàng đánh bại các cuộc tập kích bằng đường không
của địch… kịp thời hiệu chỉnh các phương án chiến đấu cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ hiện nay
khi có lệnh trên. Tổ chức huấn luyện bay thường xuyên toàn diện, sát với thực tế nhằm đáp ứng yêu
cầu sẵn sàng chiến đấu trong các điều kiện thời tiết và địa hình".

Chấp hành nghị quyết Đảng uỷ Quân chủng và mệnh lệnh của Tư lệnh, chỉ thị của sư đoàn
trưởng, tổ chức Đảng và chỉ huy các cấp tiến hành sinh hoạt nhằm khắc phục những mặt yếu kém của
năm 1987, quyết tâm làm chuyển biến mạnh mẽ đơn vị mình, ngành mình trong năm 1988.

Ngày 26 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ an ninh trong tình hình mới. Thời gian vừa qua, Đảng uỷ
sư đoàn đã nghiên cứu quán triệt Nghị quyết 120 của Thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương, Nghị
quyết 352 của Đảng uỷ Quân chủng Không quân và hướng dẫn của Cục Chính trị Quân chủng, thống
nhất nhận định đánh giá tình hình, đề ra chủ trương biện pháp về công tác bảo vệ an ninh trong thời
gian tới. Nghị quyết nêu lên 4 chủ trương công tác lớn về công tác bảo vệ an ninh, tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ và cơ chế hoạt động của công tác bảo vệ an ninh trong sư đoàn.
Cùng với chủ trương là các biện pháp lớn trong đó xác định chi bộ là nơi trực tiếp tiến hành công tác
bảo vệ, quản lý cán bộ, đảng viên, phải duy trì chặt chẽ các chế độ quy định, kiên quyết đấu tranh
chống những biểu hiện tiêu cực, khắc phục tình trạng hữu khuynh, đưa công tác bảo vệ đáp ứng tình
hình nhiệm vụ trong sự nghiệp đổi mới.

Để phát huy sức mạnh tổng hợp phục vụ cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện bay
ngày càng hiệu quả, ngày 28 tháng 4 năm 1988, Bộ quốc phòng quyết định giao 4 đại đội radar thuộc
Quân chủng phòng không cho Sư đoàn 371 trực tiếp quản lý. Việc giao các đơn vị radar cho không
quân quản lý giúp cho công tác chỉ huy, điều hành được thuận lợi, hạn chế các trường hợp để lỡ thời
cơ phát hiện mục tiêu.

Ngày 25 tháng 5 năm 1988, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết
định bổ nhiệm đại tá Nguyễn Văn Cốc, Sư đoàn trưởng làm phó tham mưu trưởng Quân chủng Không
quân; trung tá Phạm Phú Thái, Phó sư đoàn trưởng-Tham mưu trưởng làm sư đoàn trưởng Sư đoàn
371. Ngày 27 tháng 5 năm 1988, Thượng tướng Bùi Phùng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết định
bổ nhiệm trung tá Nguyễn Công Huy, Phó tham mưu trưởng sư đoàn làm phó sư đoàn trưởng - trưởng
phòng huấn luyện; đại tá Đồng Văn Song về làm trưởng phòng thanh tra Quân chủng. Theo quyết
định của trên, đồng chí Trương Tôn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 931 về Trường trung cao Không
quân nhận công tác, thiếu tá Trần Văn Thi được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng trung đoàn 931.

Ngày 25 tháng 9 năm 1988, Thượng tướng Hoàng Cầm, Tổng thanh tra quân đội dẫn đầu
đoàn kiểm tra của Bộ đến kiểm tra toàn diện Trung đoàn 931. Thay mặt đơn vị, Trung đoàn trưởng
Trần Văn Thi đã báo cáo toàn bộ quá trình thành lập, nhiệm vụ, lực lượng và phương tiện của đơn vị,
kết quả thực hiện nhiệm vụ 9 tháng đầu năm 1988, đồng thời cũng đề nghị Quân chủng và Bộ một số
vấn đề nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà cấp trên giao cho. Thay mặt đoàn, đồng chí
Hoàng Cầm đánh giá cao sự cố của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Mặc dù thành lập chưa đầy 10 năm,
đóng quân trên địa bàn rừng núi, khí tượng phức tạp, nhiệm vụ nặng nề song những năm qua các thế
hệ cán bộ, chiến sĩ đơn vị đoàn kết nhất trí hoàn thành được nhiệm vụ. Đồng thời Thượng tướng cũng
chỉ ra những vấn đề mà lãnh đạo chỉ huy đơn vị phải làm tốt, lấy nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu là
nhiệm vụ số 1, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để lỡ thời cơ tiêu diệt địch, phải
quan tâm đầy đủ đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội.

Với không khí đổi mới, dân chủ và thẳng thắn, ngày 28 tháng 9 năm 1988, Đại hội đại biểu
Đảng bộ sư đoàn lần thứ 9 khai mạc. 134 đại biểu đại diện cho đội ngũ đảng viên trong đảng bộ về
dự. Đại hội vinh dự được đón đồng chí Phạm Thanh Ngân, Bí thư Đảng uỷ Quân chủng về dự và chỉ
đạo. Đại hội kiểm điểm sự lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của sư đoàn và xây dựng Đảng bộ
nhiệm kỳ 1986-1988, đề ra phương hướng nhiệm kỳ tới. Đại hội nhận định, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo
trực tiếp của Thường vụ Đảng uỷ và Bộ tư lệnh Quân chủng, sư đoàn đã phấn đấu thực hiện các chỉ
tiêu mà đại hội lần thứ 8 của Đảng bộ sư đoàn đề ra; Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng về mọi mặt,
xây dựng. Đảng bộ trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt xây dựng sư đoàn xứng đáng là đơn vị tuyến
1 của quân chủng. Đại hội cũng chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thành công và thiếu sót,
khuyết điểm, đề ra những mục tiêu tổng quát mà sư đoàn phải phấn đấu trong 2 năm tới (1989- 1990).
Đại hội bầu ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ mới. Đồng chí Hán Vĩnh Tưởng được bầu làm bí thư,
các đồng chí Phạm Phú Thái, Trần Việt, uỷ viên thường vụ và 7 đảng uỷ viên chính thức gồm:
Nguyễn Mạnh Hải, Nguyễn Công Huy, Cao Thạch Khanh, Đinh Trọng Kháng, Lê Nguyên, Lê Văn
Tuấn, Trần Văn Thi. Hai uỷ viên dự khuyết là Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Xuân Ty. Qua 3 ngày làm
việc khẩn trương, nghiêm túc, đại hội đã thành công tốt đẹp.

Ngày 15 tháng 10 năm 1988, Trung tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Mạnh Hải làm chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 371.

Cuối tháng 11 năm 1988, các đơn vị tiến hành tổng kết phong trào thi đua quyết thắng năm
1988. Trung đoàn 927 là một trong những đơn vị được giao nhiều nhiệm vụ và có sự chuyển biến
mạnh mẽ trong năm 1988. Rút kinh nghiệm công tác lãnh đạo chỉ huy năm 1987, từ tập thể đảng uỷ
trung đoàn đến người chỉ huy đều có quyết tâm, nỗ lực lớn, tập trung giải quyết các khâu yếu, điểm
yếu nên tổng kết phong trào thi đua, mỗi cán bộ, chiến sĩ tự hào với thành tích trong năm, tiến hành
tốt các nhiệm vụ trên giao, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Đánh giá hoàn thành nhiệm vụ năm 1988, nghị quyết Đảng uỷ sư đoàn ngày 27 tháng 1
năm 1989 khẳng định: “Qua 1 năm thực hiện nghị quyết Đảng uỷ Quân chủng và mệnh lệnh của Tư
lệnh về nhiệm vụ quân sự năm 1988, Đảng uỷ sư đoàn và các cấp uỷ Đảng đã có nhiều cố gắng tích
cực, năng động, có chủ trương biện pháp lãnh đạo sát, đúng, bảo đảm cho sư đoàn cơ bản hoàn thành
được các nhiệm vụ. Giữ được tình hình chung ổn định, nhiều mặt công tác chuyển biến tiến bộ làm cơ
sở và niềm tin cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm 1989 đạt kết quả cao hơn".

Đối với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, sư đoàn luôn luôn coi đây là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu trong mọi hoạt động, đã tăng cường các biện pháp lãnh đạo về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
động viên giáo dục bộ đội đề cao trách nhiệm chính trị cho mọi người. Qua các lần báo động, kiểm tra
sẵn sàng chiến đấu, diễn tập và chấp hành các nhiệm vụ đột xuất sư đoàn đều hoàn thành tốt, không
để lỡ thời cơ cất cánh tiêu diệt địch.

Năm 1988 đánh dấu một bước trưởng thành trên nhiều mặt của sư đoàn. Trong các phong
trào thi đua quyết thắng xuất hiện nhiều nhân tố mới, tiêu biểu là các trung đoàn 927 và 921 được trên
công nhận là đơn vị quyết thắng. Nhiều đơn vị, cá nhân đề nghị trên tặng bằng khen, giấy khen, hàng
trăm cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên được bầu là chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua.

Bước vào năm 1989, đất nước ta sau hơn 2 năm đổi mới đã có những chuyển biến tích cực,
song nảy sinh nhiều vấn đề gay gắt. Trước những thay đổi của tình hình, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành
trung ương Đảng đã có những kết luận quan trọng về một số vấn đề trước mắt của công tác tư tưởng.
Ngày 9 tháng 1 năm 1989, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết “Một số vấn đề về công tác tư tưởng đối
với bộ đội trong tình hình hiện nay". Nghị quyết nêu rõ: "Trong tình hình khó khăn phức tạp, nhưng
hầu hết cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân viên trong sư đoàn đã phát huy được bản chất, truyền
thống cách mạng của mình, đã thể hiện rõ nét lòng trung thành với Đảng, với nhân dân, tạo được sự
tin cậy và ổn định về chính trị". Nghị quyết phân tích tình hình tư tưởng các đối tượng, tập trung vào
cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ phi công và đề ra 6 chủ trương, 5 biện pháp tiến hành công tác tư
tưởng trong tình hình hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi 4 nhiệm vụ của năm 1989.

Ngày 18 tháng 5 năm 1989, Thượng tướng Bùi Phùng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng ký
quyết định bổ nhiệm đồng chí Cao Thạch Khanh làm phó chủ nhiệm kỹ thuật Quân chủng Không
quân, đồng chí Võ Minh Cẩm được bổ nhiệm làm chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn.

Ngày 27 tháng 5 năm 1989, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ký quyết
định bổ nhiệm đại tá Nguyễn Mạnh Hải làm phó sư đoàn trưởng chính trị thay đồng chí Hán Vĩnh
Tưởng làm phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Không quân. Đồng chí Lại Trọng Kha được bổ
nhiệm làm chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Đồng thời Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng Không quân chỉ
định đồng chí Nguyễn Mạnh Hải làm bí thư Đảng uỷ.

Nhằm kiểm tra trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của các trung đoàn, luyện tập cho
người chỉ huy và cơ quan nắm vững và hành động đúng các bước công tác trong tổ chức chuẩn bị và
thực hành chỉ huy chiến đấu, từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 9 năm 1989, sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ
huy - tham mưu hai cấp, một bên ở cả ba trung đoàn với khoa mục "Hoạt động chiến đấu của trung
đoàn không quân tiêm kích trong chiến dịch phòng ngự của quân khu. Đại tá Trần Việt, Phó sư đoàn
trưởng - Tham mưu trưởng làm phó trưởng ban chỉ đạo diễn tập. Ngày 21 tháng 8 năm 1989, sư đoàn
tổ chức hội nghị nhận xét: Cuộc diễn tập được chuẩn bị chu đáo, chất lượng khá hơn năm 1988, nhiều
thiếu sót năm trước được khắc phục nhanh, có hiệu quả, thực hiện được mục đích đã đề ra trong ý
định diễn tập, xây dựng lòng tin của các đồng chí chỉ huy vào khả năng bản thân trong điều hành
nhiệm vụ của đơn vị. Đánh giá chung, Trung đoàn 921 được 8 điểm, Trung đoàn 927: 7 điểm, Trung
đoàn 931 không thực hành giai đoạn 3 nên đánh giá giai đoạn 1 và 2 là 8 điểm.

Tháng 10 năm 1989, đại tá Phạm Phú Thái, Sư đoàn trưởng được cử đi học ở học viện
quân sự cấp cao, đại tá Trần Việt, Phó sư đoàn trưởng - tham mưu trưởng được bổ nhiệm làm sư đoàn
trưởng.

Năm 1989, sư đoàn tích cực tổ chức bay huấn luyện, đạt 78% kế hoạch. Đặc biệt, đã tổ
chức cho 21 phi công bay tập chuyển sân hạ cánh ở sân bay trong mạng sân bay chính của sư đoàn,
bay chặn kích khu vực cho phi công cũ; đưa 11 phi công bay ngày, 2 phi công bay đêm vào làm nhiệm
vụ trực ban chiến đấu khí tượng giản đơn đạt 100% kế hoạch. Huấn luyện mặt đất: Sư đoàn đã mở 13
lớp tập huấn với 624 lượt người đạt 90% kế hoạch năm. Mặt yếu là chưa đạt chỉ tiêu về giờ bay và
tiến độ, đấu tranh với tai nạn bay hiệu quả chưa cao.

Báo cáo khẳng định năm 1989 tuy có một số mặt chưa thành công, kết quả chưa tương
xứng với công sức của cán bộ, chiến sĩ đã bỏ ra nhưng đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ, sư đoàn hoàn
thành ở mức khá. Sức mạnh chiến đấu được củng cố và duy trì thường xuyên. Một số mặt yếu kém
năm 1988 cơ bản khắc phục được, có mặt tiến bộ rõ nét như: công tác bảo đảm kỹ thuật hàng không,
tinh thần đoàn kết được giữ vững có chiều hướng phát triển tốt. Đó là cơ sở để sư đoàn bước vào thực
hiện nhiệm vụ năm 1990 được tốt hơn.

Phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên, năm 1989 có 57% số đảng bộ cơ sở đạt
trong sạch vững mạnh, 43% đạt khá, 51,6% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, tăng 3,3% so với năm
1988, số chi bộ yếu kém giảm 3,2%. Có 26,4% số đảng viên phấn đấu tốt toàn diện, số đảng viên
không đủ tư cách giảm 0,4%. Kết nạp được 116 đảng viên.

Tổng kết phong trào thi đua quyết thắng năm 1989, Trung đoàn 927 được công nhận là đơn
vị quyết thắng. Đây là năm thứ hai liên tục trung đoàn giữ vững danh hiệu đơn vị quyết thắng.

Phát huy thành tích đạt được trong năm 1989, ngay từ đầu năm 1990 toàn sư đoàn dấy lên
phong trào thi đua sôi nổi quyết tâm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu yêu cầu mà sư đoàn trưởng đã
giao, lập thành tích xuất sắc chào mừng 100 năm ngày sinh của Bác Hồ vĩ đại và 45 năm Quốc khánh
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam.

Ngày 1 tháng 3 năm 1990, cả ba trung đoàn đều ra quân huấn luyện bay với chỉ tiêu đưa
100% phi công chiến đấu trong điều kiện khí tượng giản đơn và phức tạp ban ngày.

Căn cứ vào yêu cầu chiến đấu, huấn luyện và xây dựng của Quân chủng, ngày 2 tháng 3
năm 1990, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Phạm Thanh Ngân ký quyết định số 120/BTL về việc
sáp nhập tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật thông tin radar và tiểu đoàn bảo đảm sân bay Kiến An thành tiểu
đoàn kỹ thuật sân bay Kiến An trực thuộc Sư đoàn 371. Theo quyết định này, tiểu đoàn kỹ thuật sân
bay Kiến An thực hiện các nhiệm vụ được giao của 2 tiểu đoàn trước đây.

Ngày 19 tháng 4 năm 1990, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê
Xuân Cẩm, Phó chủ nhiệm kỹ thuật làm chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn thay đồng chí Võ Minh Cẩm
được trên bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm kỹ thuật Quân chủng Không quân.

Với khẩu hiệu "Xứng danh anh bộ đội Cụ Hồ", tuổi trẻ đoàn không quân Thăng Long đã
dấy lên phong trào thi đua sôi nổi lập thành tích mừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ vĩ đại.
Ngày 19 tháng 5 năm 1990, Phòng Chính trị sư đoàn tiến hành đợt sơ kết thi đua từ 3 tháng 2 đến
ngày 19 tháng 5. Phong trào thi đua đã thể hiện tình cảm, lòng biết ơn sâu sắc của tuổi trẻ đoàn không
quân Thăng Long đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo
gương của Người. Các hoạt động mang nhiều hình thức, nội dung phong phú, nhiều bông hoa người
tốt, việc tốt nở rộ từ cơ quan đến đơn vị. Đoàn cơ sở các đơn vị tổ chức các cuộc diễn đàn thanh niên,
tổ chức tuần, ngày bay mẫu "Những cánh bay tháng Năm". Đội ngũ phi công có phong trào "Luyện
hay, say học". Cán bộ và nhân viên kỹ thuật có phong trào "Tất cả vì các chuyến bay thắng lợi mà
phục vụ”, phong trào "Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm"dấy lên sôi nổi ở ngành hậu cần xe máy.
Hàng trăm công trình thanh niên như vườn hoa cây cảnh, xây dựng doanh trại sạch đẹp, khôi phục sửa
chữa máy bay khí tài, xe máy…làm cho phong trào thêm thiết thực và hiệu quả. Tiêu biểu là tuổi trẻ
các trung đoàn 927, 921, tiểu đoàn bảo đảm hậu cần, kỹ thuật sân bay Yên Bái, Phòng Hậu cần.

Ngày 4 tháng 6 năm 1990, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định số 265/BTL về việc điều
động toàn bộ mặt bằng đất đai, doanh trại, kho tàng, trạm xưởng sân bay Cát Bi từ Trung đoàn 954,
Sư đoàn 372 về trực thuộc Sư đoàn 371. Đại đội bảo đảm sân bay Cát Bi có nhiệm vụ thường xuyên
bảo đảm cho lực lượng trực thăng thăm dò và khai thác dầu khí của Tổng công ty bay dịch vụ, sẵn
sàng tiếp thu và bảo đảm các hoạt động khác.

Để đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ năm 1990 của các đơn vị, từ ngày 12 đến ngày 19
tháng 11 năm 1990, đoàn cán bộ của Quân chủng do Tư lệnh, Thiếu tướng Phạm Thanh Ngân chủ trì
tiến hành kiểm tra Trung đoàn 921 và Trung đoàn 927. Nội dung kiểm tra toàn diện các mặt công tác
gồm nền nếp chế độ sẵn sàng chiến đấu, công tác tổ chức huấn luyện bay, thực hiện chỉ tiêu kế hoạch
công tác bảo đảm… Sau đó đoàn kiểm tra việc tổ chức huấn luyện bay ngày và đêm theo các khoa
mục chiến đấu. Qua 6 ngày làm việc, đánh giá chung của đoàn là các đơn vị đã chuẩn bị đầy đủ các
nội dung kiểm tra. Các mặt công tác của hai đơn vị có chuyển biến tốt, cơ bản thực hiện được nhiệm
vụ năm 1990. Hai đơn vị trong huấn luyện bay không để mất an toàn, trong đó, Trung đoàn 921 tiến
bộ rõ nét so với năm 1989. Trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp tiến bộ nhanh, điều hành cơ
quan đơn vị nhịp nhàng. Bên cạnh đó, đoàn cũng chỉ ra một số những điểm còn hạn chế, khuyết điểm
mà hai đơn vị phải nhanh chóng khắc phục để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Cuối tháng 11 năm 1990, theo quyết định của trên, đồng chí Lê Nguyên, Chủ nhiệm hậu
cần sư đoàn được điều về Trường trung cao Không quân nhận công tác, đồng chí Lê Ngọc Khang
được bổ nhiệm thay đồng chí Nguyên.

Ngày 26 tháng 11 năm 1990, sư đoàn tiến hành tổng kết công tác quân sự năm. Năm 1990
tuy không có sự thay đổi lớn về nhiệm vụ nhưng phạm vi trách nhiệm của sư đoàn rộng hơn. Tình
hình thế giới và trong nước có diễn biến phức tạp, tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến
sĩ trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Đảng uỷ
Quân chủng, cộng với sự cố gắng nỗ lực vươn lên không ngừng của toàn thể cán bộ chiến sĩ nên sư
đoàn đã hoàn thành cơ bản các nhiệm vụ trên giao.

Công tác huấn luyện bay tích cực chủ động, bay có tiến bộ so với năm 1989. Giờ bay của
phi công tăng 6,3% so với năm trước. Đặc biệt huấn luyện cho phi công mới bay đêm khí tượng giản
đơn của Trung đoàn 921, bay biển của Trung đoàn 927, Trung đoàn 921. Toàn sư đoàn đạt 80% kế
hoạch đề ra. Trung đoàn 927 đạt 93,8%, Trung đoàn 921 đạt 91,4%, Trung đoàn 931 đạt 69,3%, sư
đoàn bộ đạt 60%. Tuy nhiên, trong huấn luyện bay, sư đoàn còn để xảy ra một số vụ tai nạn và uy hiếp
an toàn bay.

Công tác kỹ thuật hàng không đã phục hồi và đưa vào sử dụng 2 máy bay, cùng với Cục
Kỹ thuật tiến hành tăng hạn cho 13 động cơ. Trong điều kiện khó khăn về khí tài phương tiện, các chỉ
số bảo đảm đều đạt hoặc vượt, hệ số sử dụng tăng 0,06%, hệ số bảo đảm tăng 0,07% so với chỉ tiêu.

Công tác hậu cần có nhiều cố gắng trong việc xây dựng doanh trại, phục vụ cho công tác
sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện bay. Bảo đảm tỉ lệ sức khoẻ phi công vượt 0,63%, bộ đội mặt đất
vượt 0,48%.

Công tác đảng, công tác chính trị đã kịp thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề phát sinh về tư
tưởng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng có 66,33% số chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, tăng 11,7%
so với năm 1989. Không còn chi bộ yếu. Đảng viên phấn đấu toàn diện tăng 10,7%. Công tác thanh
niên có nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực, hiệu quả. 100% tổ chức đoàn cơ sở đạt vững mạnh, trong
đó có 40% đạt vững mạnh xuất sắc, 82/83 chi đoàn đạt vững mạnh, tăng 4,97%, kết nạp 67 đoàn viên.

Chấp hành chỉ thị của Sư đoàn trưởng, từ ngày 16 đến ngày 17 tháng 12 năm 1990, đơn vị
tổ chức hội nghị tổng kết rút kinh nghiệm phong trào thi đua quyết thắng năm 1990. 240 đồng chí tiêu
biểu cho phong trào thi đua của các đơn vị cùng các đồng chí trong ban chỉ huy sư đoàn về dự hội
nghị. Phong trào thi đua quyết thắng năm 1990 của sư đoàn đã dấy lên khí thế sôi nổi, gắn với việc
hoàn thành nhiệm vụ trung tâm, mang tính thiết thực, hiệu quả cao. Xuất hiện nhiều nhân tố mới,
nhiều bông hoa tiêu biểu cho phong trào.

Năm 1990 Trung đoàn 927 được công nhận là đơn vị quyết thắng. Đây là năm thứ ba liên
tục đơn vị giữ vừng và phát huy danh hiệu của mình và được tặng thưởng cờ thi đua luân lưu "Đơn vị
bảo đảm cơ sở vật chất tốt" của Quân chủng. Trung đoàn 921 được công nhận danh hiệu đơn vị quyết
thắng. Ngoài ra còn 29 đơn vị và 5 chiến sĩ quyết thắng, 119 chiến sĩ thi đua; 82 tập thể, 153 cá nhân
được tặng bằng khen, 87 tập thể và 245 cá nhân được tặng giấy khen.

Cùng với sự đổi mới của đất nước, 5 năm qua (1986-1990) đoàn không quân Thăng Long
đã lập được nhiều thành tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với khí thế đổi mới của đất
nước, cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 371 quyết tâm lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong giai đoạn mới
của cách mạng.

II. PHÁT HUY TINH THẦN TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, VƯỢT QUA MỌI KHÓ KHĂN
THỬ THÁCH, HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ (1991-1998)

Năm 1991 với sự kiện chính trị quan trọng: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, năm đầu
thực hiện kế hoạch 5 năm 1991- 1995, đất nước ta những năm đầu đổi mới đã có nhiều khởi sắc,
nhưng tình hình kinh tế xã hội vẫn còn nhiều khó khăn phức tạp.

Ngày 30 tháng 1 năm 1991, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm
vụ quân sự năm 1991. Nghị quyết khẳng định thành tích của đơn vị trong năm 1990 là to lớn, những
thành công đó là cơ sở để xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện trong giai đoạn tiếp theo.

Ngày 31 tháng 1 năm 1991, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về nhiệm vụ công tác quân sự năm
1991, trong đó, đối với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đẩu phải duy trì chặt chẽ các chế độ khi có tình
huống cất cánh kịp thời, không để bị bất ngờ, lỡ thời cơ. Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng phòng
không và hải quân ngăn chặn và xử lý có hiệu quả đối với các hoạt động bay (phương tiện bay lạ) xâm
phạm.

Chấp hành chỉ thị của cấp trên về việc chấn chỉnh tổ chức biên chế nhằm tiếp tục kiện toàn
tổ chức, ổn định biên chế phù hợp với tổ chức cơ bản để xây dựng quân đội theo hướng "cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” mà Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra, ngày 3
tháng 5 năm 1991, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về xây dựng lực lượng năm 1991. Nghị
quyết nêu rõ, hơn một năm sau khi triển khai thực hiện chấn chỉnh biên chế, tổ chức, sư đoàn đã thu
được một số kết quả, nhưng còn bộc lộ hạn chế trên một số mặt. Năm 1991, các cấp cần phải lãnh đạo
chặt chẽ, triển khai kiên quyết trên 5 nội dung để đưa lại hiệu quả cao trong việc phát huy sức mạnh
tổng hợp của đơn vị.

Từ ngày 11 đến 12 tháng 9 năm 1991, sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy tham mưu một cấp
một bên không có thực binh cho 3 trung đoàn. Ngày 13 tháng 9 sư đoàn tiến hành nhận xét đợt diễn
tập. Đánh giá chung, Trung đoàn 927 đạt khá, Trung đoàn 921 và 931 đạt trung bình khá. Khuyết
điểm nổi lên là kíp trực ban khi xử lý tình huống chiến thuật trên không, mặt đất, trình độ nhân viên
tiêu đồ xa còn yếu các văn kiện diễn tập chưa thống nhất và đúng quy định.
Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 10 năm 1991, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 10
được tiến hành và thành công tốt đẹp. 97 đồng chí, trong đó có 95 đại biểu chính thức đại diện cho đội
ngũ đảng viên trong Đảng bộ về dự. Đại hội đánh giá cao sự lãnh đạo của Đảng bộ trong việc thực
hiện nhiệm vụ chính trị của sư đoàn: Hai năm qua trong điều kiện tình hình thế giới biến động, kinh tế
xã hội, đất nước trên đà đổi mới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn phức tạp, tình hình bảo đảm máy bay,
vật tư khí tài, kinh phí gặp nhiều khó khăn song toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ với tinh thần chủ
động sáng tạo, tự lực tự cường, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao. Đại hội cũng chỉ ra
những thiếu sót, khuyết điểm trong lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, nên đối chiếu với mục tiêu, yêu
cầu xây dựng Đảng còn chưa đáp ứng, chưa ngang tầm với nhiệm vụ.

Qua 3 ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần đổi mới, Đại hội bầu ban chấp hành Đảng
bộ nhiệm kỳ mới (1991-1995) gồm 11 đồng chí: Lê Xuân Cẩm, Nguyễn Duy Chung, Đặng Vân Đình,
Nguyễn Mạnh Hải, Nguyễn Công Huy, Lại Trọng Kha, Lê Ngọc Khang, Nguyễn Xuân Mùa, Bùi
Minh Tiến, Lê Văn Tuấn, Trần Việt. Ngày 3 tháng 10 năm 1991, Hội nghị lần thứ nhất Đảng uỷ họp
bầu 3 đồng chí Nguyễn Mạnh Hải, Trần Việt, Lại Trọng Kha vào Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn. Đồng
chí Nguyễn Mạnh Hải được bầu làm bí thư, đồng chí Trần Việt làm phó bí thư.

Ngày 30 tháng 11 năm 1991, sư đoàn tiến hành tổng kết công tác quân sự. Báo cáo khẳng
định, năm 1991 sư đoàn đã có sự tiến bộ đồng đều của một số đơn vị. Công tác xây dựng đảng được
quan tâm đầy đủ, theo hướng đổi mới nội dung hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng. 100%
đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh và khá; 63 chi bộ đạt trong sạch vững mạnh, số chi bộ khá
tăng 4,3%, hai năm liền 1990- 1991 không có chi bộ yếu kém, số đảng viên phấn đấu tốt toàn diện
tăng 9,1% số đảng viên không đủ tư cách giảm 2,2%.

Phong trào thi đua năm 1991 có hai trung đoàn là 927, 921 được trên công nhận đơn vị
quyết thắng, như vậy Trung đoàn 927 bốn năm liền giữ vững danh hiệu. Có 33 đơn vị phòng, ban
được công nhận đơn vị quyết thắng; tặng bằng khen cho 89 tập thể, 161 cá nhân, giấy khen cho 87 tập
thể và 277 cá nhân, tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cho 224 đồng chí, 3 chiến sĩ quyết thắng. Sư đoàn
vinh dự được Bộ quốc phòng tặng cờ thi đua luân lưu đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua quyết thắng
toàn quận năm 1991. Trung đoàn 921 được Bộ tư lệnh tặng cờ đơn vị dẫn đầu các trung đoàn bay
phản lực.

Năm 1992, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kỳ triển khai thực hiện nghị
quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII. Đối với Quân chủng và sư đoàn là năm có nhiều thử thách
gay gắt hơn. Sau sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và sụp đổ của Liên Xô, nguồn
cung cấp khí tài gặp nhiều khó khăn, công tác bảo đảm kỹ thuật hàng không đã khó khăn càng khó
khăn hơn. Ngày 4 tháng 1 năm 1992, Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ quân sự cho Sư đoàn 371
trong đó nhấn mạnh: "Phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, khắc phục khó
khăn, duy trì khả năng bảo đảm kỹ thuật hàng không, chủ động bảo đảm hậu cần cho các hoạt động
bay và ổn định đời sống bộ đội, đẩy mạnh lao động sản xuất, làm kinh tế có hiệu quả triệt để tiết kiệm,
chống thất thoát vật tư, khí tài, tài chính tài sản".

Ngày 17 tháng tháng 1 năm 1992, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ
năm 1992. Đối với công tác huấn luyện quân sự, Đảng uỷ đề ra phương châm "Cơ bản thiết thực vững
chắc, chất lượng an toàn, tiết kiệm", phấn đấu thực hiện chỉ tiêu 2.850 giờ bay, bình quân một phi
công 30 giờ/năm. Trong công tác kỹ thuật hàng không phải chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn,
khai thác khả năng trang bị hiện có, thực hiện " Giữ tốt, dùng bền, an toàn, tiết kiệm".

Ngày 16 tháng 10 năm 1992, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định số 25/DQC bổ nhiệm
trung tá Phương Minh Hoà làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 thay đồng chí Trần Tuấn Việt được
bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng huấn luyện.

Cuối tháng 11 năm 1992, sư đoàn tiến hành tổng kết nhiệm vụ quân sự năm. Đối chiếu với
mệnh lệnh của Tư lệnh Quân chủng giao đầu năm, toàn sư đoàn chuyển biến tiến bộ trên nhiều mặt.
Qua khó khăn thử thách, các đơn vị khẳng định được mình, trong đó Trung đoàn 931 hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ, Trung đoàn 927 vẫn giữ được đơn vị mạnh toàn diện từ nhiều năm nay.

Ngày 5 tháng 1 năm 1993 sư đoàn tiến hành hội nghị thi đua quyết thắng năm 1992. Về dự
có hơn 100 đồng chí đại diện phong trào thi đua của các đơn vị. Đại tá Trần Việt, Sư đoàn trưởng-
trưởng ban thi đua đọc báo cáo khẳng định: Năm 1992, lãnh đạo chỉ huy các cấp thể hiện tinh thần
đoàn kết, nhất trí cao, chủ động tích cực giải quyết khó khăn, động viên mọi người thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ được giao, nhiều: nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Phong trào thi đua quyết thắng năm 1992
chọn được 31 đơn vị quyết thắng. Trung đoàn 927 năm năm liền đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng.
Trung đoàn 931 sau nhiều năm cố gắng đã được công nhận đơn vị quyết thắng và được Bộ tư lệnh
Quân chủng tặng cờ dẫn đầu các trung đoàn bay phản lực. Hai đồng chí được tặng danh hiệu chiến sĩ
quyết thắng; 80 đồng chí được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua.

Năm 1992, sư đoàn được Bộ quốc phòng tặng cờ thi đua luân lưu dẫn đầu phong trào thi
đua quyết thắng toàn quân. Đây là năm thứ hai liên tục đơn vị giữ vững danh hiệu này. Phần thưởng
này ghi nhận thành tích to lớn của cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Thăng Long.

Căn cứ vào nghị quyết Đảng uỷ sư đoàn, ngày 7 tháng 1 năm 1993, Sư đoàn trưởng ký
mệnh lệnh công tác quân sự và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Mệnh lệnh nhấn mạnh: "Tình hình thế
giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, các thế lực phản động đang ra sức chống phá các nước xã hội
chủ nghĩa còn lại bằng âm mưu "diễn biến hoà bình". Đất nước tuy có nhiều chuyển biến sâu sắc
nhưng còn nhiều khó khăn. Vật tư, trang bị, khí tài của sư đoàn cũ và xuống cấp nghiêm trọng, quyết
tâm của đơn vị là tổ chức quản lý giữ gìn và khai thác, sử dụng có hiệu quả cao nhất, tận dụng mọi
khả năng mua sắm trang bị bảo đảm giữ vững khả năng sẵn sàng chiến đấu, vì vậy đòi hỏi các đơn vị
phát huy cao độ ý thức tự lực, tự chủ vượt qua khó khăn thử thách thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên
giao".

Đầu tháng 3 năm 1993, thượng tá Nguyễn Công Huy, Phó sư đoàn trưởng-tham mưu
trưởng được trên điều về Tổng cục Hàng không dân dụng nhận công tác, thượng tá Lê Văn Tuấn, Phó
sư đoàn trưởng phụ trách huấn luyện được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng-tham mưu trưởng. Ngày
22 tháng 4 năm 1993, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định bổ nhiệm trung tá Nguyễn Đình Loan làm
phó trung đoàn trưởng về chính trị Trung đoàn 927 thay đồng chí Phạm Xuân Rũ được bổ nhiệm làm
phó trưởng phòng Cán bộ.
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII về "Đổi mới và chỉnh đốn Đảng" và kế
hoạch công tác đảng, công tác chính trị năm 1993, ngày 10 tháng 3 năm 1993, Thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn tiến hành kiểm tra chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức
cách mạng của đảng viên, chấp hành quy chế làm việc đối với Đảng uỷ Trung đoàn 921. Kết luận đã
đánh giá: Những năm qua tập thể Đảng uỷ trung đoàn đã quán triệt sâu sắc chỉ thị nghị quyết, mệnh
lệnh của trên, phát huy dân chủ, đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, thực hiện các nhiệm vụ
trọng tâm là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện bảo đảm an toàn bay, rèn luyện kỷ luật, xây
dựng chính quy… Nhiều năm liền Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt nguyên tắc tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, duy trì nghiêm chế độ phê bình và tự phê bình, giữ vững sự đoàn kết
thống nhất trong Đảng uỷ… Kết luận cũng chỉ ra một số mặt còn hạn chế của Đảng uỷ trung đoàn như
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ trung tâm chưa vững chắc, chưa đổi mới phương pháp, phong cách lãnh
đạo.

Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, ngày 14 tháng 6 năm 1993, Đảng
uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo về việc đẩy mạnh xây dựng chính quy. Nghị quyết đề ra 3 yêu
cầu, 4 nội dung, 3 biện pháp, giao cho các đơn vị lập kế hoạch triển khai thực hiện. Đến ngày 30
tháng 6 năm 1993, 100% các đơn vị mở hội nghị dân chủ bàn biện pháp thực hiện chu trương của
trên, tạo ra không khí thi đua người người "làm đúng như điều lệnh"; xây dựng các cơ quan sư đoàn,
trung đoàn mẫu mực làm gương cho đơn vị. Tăng cường các đoàn kiểm tra, nhận xét, đánh giá, chấm
điểm thi đua để phong trào xây dựng chính quy tạo thành khí thế sôi nổi.

Trong hai ngày 28 và 29 tháng 6 năm 1993, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của sư đoàn, Trung
đoàn 921 tổ chức diễn tập chỉ huy-tham mưu một cấp, một bên có sử dụng một phần lực lượng thực
binh, với đề mục "Hoạt động chiến đấu của trung đoàn không quân tiêm kích bảo vệ an ninh chính
trị". Thượng tá Lê Văn Tuấn, Phó sư đoàn trưởng-tham mưu trưởng làm trưởng ban đạo diễn. Trung
đoàn 921 đã có nhiều cố gắng trong việc chuẩn bị, nghiên cứu kỹ ý định cuộc diễn tập, công tác tổ
chức chặt chẽ nên cuộc diễn tập đạt được mục đích yêu cầu, bảo đảm an toàn.

Ngày 24 tháng 8 năm 1993, thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo công tác
quân y, bảo vệ sức khoẻ bộ đội và thực hiện công tác dân số kế hoạch hoá gia đình. Để góp phần hoàn
thành nhiệm vụ của sư đoàn trong thời gian tới, nghị quyết đề ra chủ trương, biện pháp trong công tác
quân y, giữ gìn sức khoẻ bộ đội, dân số-kế hoạch hoá gia đình. Ngay sau khi có nghị quyết, lãnh đạo
chỉ huy các đơn vị đã tổ chức tốt việc quán triệt đến cán bộ đảng viên, chiến sĩ tổ chức các hoạt động
thiết thực nhằm đưa các nội dung này vào nền nếp, có hiệu quả.

Đầu tháng 10 năm 1993, trung tá Nguyễn Duy Chung, Phó trung đoàn trưởng về chính trị
Trung đoàn 931 được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Trung tá Bùi Văn Tâm, trưởng
ban tổ chức được bổ nhiệm làm phó trung đoàn trưởng về chính trị Trung đoàn 931. Đồng chí Bùi
Minh Tiến, Phó trung đoàn trưởng chính trị Trung đoàn 921 được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm chính
trị sư đoàn. Đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Chủ nhiệm chính trị được bổ nhiệm làm phó trung đoàn
trưởng chính trị Trung đoàn 921.

Thực hiện chỉ thị của sư đoàn, từ ngày 8 đến ngày 27 tháng 11 năm 1993, sư đoàn tổ chức
bay kiểm tra phân cấp kỹ thuật bay cho phi công, thành lập hội đồng do đại tá Trần Việt làm chủ tịch,
thượng tá Lê Văn Tuấn làm phó chủ tịch và 6 uỷ viên. Ngày 13 tháng 12 năm 1993; sư đoàn đã ký
quyết định công nhận phi công quân sự cấp 3; đề nghị Tư lệnh Quân chủng Không quân xét phong và
giữ cấp kỹ thuật bay phi công quân sự cấp 1, cấp 2; phong danh hiệu phi công quân sự cấp 1, cấp 2 và
giữ danh hiệu phi công quân sự cấp1, cấp 2. Ngoài ra, sư đoàn trưởng còn ký quyết định giữ danh
hiệu phi công quân sự cấp 3 cho 27 đồng chí.

Ngày 30 tháng 12 năm 1993, sư đoàn tiến hành tổng kết nhiệm vụ quân sự năm 1993.
Đánh giá chung, cấp uỷ và người chỉ huy các cấp tích cực tổ chức thực hiện, động viên được bộ đội
phát huy tinh thần "độc lập, tự chủ, tự cường", khắc phục mọi khó khăn xây dựng sư đoàn tiến bộ trên
nhiều mặt.

Cũng trong tháng 12 năm 1993, đơn vị tổng kết các hoạt động thi đua quyết thắng. Phong
trào thi đua năm 1993 đạt được hiệu quả thiết thực, tạo được sự chuyển biến tiến bộ đối với các nhiệm
vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện bảo đảm kỹ thuật hàng không, thông tin, hậu cần, củng cố tình hình
kỷ luật, ổn định đời sống và xây dựng đơn vị tiến bộ. Trên 4 mục tiêu thi đua quyết thắng, sư đoàn tự
đánh giá tổng cộng 42 điểm. Trung đoàn 921 đạt 41,7 điểm, xếp thứ nhất cụm trung đoàn. Tiểu đoàn
thông tin sân bay Kiến An đạt 41,7điểm, xếp thứ nhất cụm. Tiểu đoàn căn cứ Nà Sản đạt 41,5 điểm
xếp thứ nhất cụm. Phòng Tham mưu đạt 41,5 điểm xếp thứ nhất cụm. Phòng Chính trị đạt 41,8 điểm
xếp thứ nhất cụm.

Trong phong trào thi đua đã bình chọn ra được 38 đơn vị quyết thắng. Sư đoàn vinh dự
được Bộ quốc phòng tặng cờ thi đua luân lưu đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua trong toàn quân. Đây
là lần thứ ba liên tục sư đoàn giữ vững danh hiệu này.

Ngày 12 tháng 1 năm 1994, Tư lệnh quân chủng ký quyết định tặng cờ thưởng thi đua luân
lưu đơn vị dẫn đầu khối sư đoàn, nhà trường năm 1993 cho sư đoàn. Những phần thưởng cao quý trên
thể hiện sự quan tâm của Bộ quốc phòng, của Quân chủng, ghi nhận sự cố gắng to lớn của toàn thể
cán bộ, chiến sĩ của đơn vị năm 1993.

Ngày 22 tháng 1 năm 1994, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quân sự
năm 1994. Căn cứ vào nghị quyết Đảng uỷ Quân chủng, mệnh lệnh của Tư lệnh, tình hình thực tế của
đơn vị, nghị quyết đề ra nhiệm vụ quân sự năm 1994 của sư đoàn là: Tập trung sức tạo nên một bước
chuyển biến cao hơn về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của sư đoàn, trọng tâm là nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, trình độ và bản lĩnh chính trị của bộ đội,
chất lượng đội ngũ cán bộ; đẩy mạnh xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật, xây dựng đơn vị vững
mạnh toàn diện; bảo đảm tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội.

Trong không khí phấn khởi chào mừng 64 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt nam,
ngày 3 tháng 2 năm 1994, Trung đoàn không quân tiêm kích 921 long trọng kỷ niệm 30 năm ngày
thành lập. Trung đoàn vinh dự được đón các đồng chí: Phạm Thế Duyệt, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam - Bí thư Thành uỷ Hà nội; Thượng tướng Đào Đình
Luyện, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt nam - nguyên
trung đoàn trưởng đầu tiên của trung đoàn; đồng chí Lê Thanh Đạo, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao; Trung tướng Chu Duy Kính, Tư lệnh Quân khu Thủ đô và Trung tướng Phạm Thanh
Ngân, Tư lệnh Quân chủng cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh đến dự. Về dự còn có các đồng chí cán
bộ lãnh đạo, các cơ quan ban ngành của địa phương, đại diện các anh hùng, thương binh và gia đình
liệt sĩ cùng hơn 700 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên trung đoàn qua các thế hệ. Trung tá Phương
Minh Hoà, Trung đoàn trưởng đọc diễn văn ôn lại truyền thống vẻ vang 30 năm qua của trung đoàn và
biểu lộ quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho trong
thời kỳ mới.

Từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 4 năm 1994, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ
sư đoàn được tiến hành và thành công tốt đẹp. Thiếu tướng Phạm Tuân. Phó tư lệnh về chính trị, Bí
thư Đảng uỷ Quân chủng tham dự và chỉ đạo hội nghị.

Hội nghị khẳng định: Hai năm qua trong điều kiện sư đoàn khó khăn nhiều mặt, các
phương tiện bảo đảm xuống cấp nghiêm trọng; đời sống của bộ đội và gia đình cán bộ còn nhiều khó
khăn, tác động trực tiếp đến bộ đội và hoạt động của đơn vị. Đảng bộ đã thường xuyên quán triệt sâu
sắc các nhiệm vụ, các chỉ thị, nghị quyết và tích cực triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ
sư đoàn lần thứ 10, động viên bộ đội phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường với ý thức
trách nhiệm cao, khắc phục khó khăn, xây dựng sư đoàn tiến bộ trên nhiều mặt. Hội nghị thông qua
nghị quyết xác định những chủ trương nhiệm vụ hai năm còn lại của nhiệm kỳ (1995- 1996): "Xây
dựng sư đoàn luôn ổn định về chính trị, có bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi tình huống. Củng
cố giữ vững và nâng lên một bước toàn diện hơn sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của
sư đoàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững
mạnh, đội ngũ cán bộ có số lượng hợp lý, chất lượng cao, làm nòng cốt xây dựng sư đoàn vững mạnh
toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị và chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng và nhân dân. Góp
phần xây dựng không quân nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại". Hội nghị
giữa nhiệm kỳ bầu bổ sung hai đồng chí đảng uỷ viên sư đoàn gồm đồng chí Phương Minh Hoà và
Bùi Văn Tâm.

Do yêu cầu nhiệm vụ, cuối tháng 6 năm 1994, đồng chí Đặng Vân Đình, Trung đoàn
trưởng Trung đoàn 927 được điều đi nhận nhiệm vụ khác. Ngày 27 tháng 6 năm 1993, Thượng tướng
Nguyễn Trọng Xuyên ký quyết định bổ nhiệm trung tá Bùi Minh Tiến, Phó chủ nhiệm chính trị sư
đoàn làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927. Trung tá Trần Văn Thanh, Phó trung đoàn trưởng-Tham
mưu trưởng Trung đoàn 931 được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 931 thay đồng chí
Tăng Nguyên Ân được điều đi nhận nhiệm vụ mới. Chấp hành chỉ thị 262/TC-TTR của Chánh thanh
tra Bộ quốc phòng, ngày 14 tháng 9 năm 1994, Sư đoàn trưởng báo cáo với Bộ quốc phòng tình hình
thực hiện nhiệm vụ 9 tháng đầu năm 1994 của sư đoàn.

Chín tháng qua, sư đoàn luôn duy trì nghiêm lực lượng trực ban sẵn sàng chiến đấu ở trạng
thái thường xuyên ngày đêm. Đánh giá chung về công tác sẵn sàng chiến đấu, báo cáo khẳng định,
trình độ và khả năng chiến đấu của đội ngũ phi công toàn sư đoàn được củng cố và giữ vững, có thể
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ theo kế hoạch và các nhiệm vụ đột xuất khác. Về công tác huấn luyện
bay, các đơn vị đã nắm vững phương châm chỉ đạo huấn luyện, tổ chức bay tích cực, vững chắc. Các
mặt bảo đảm có nhiều cố gắng trong việc phục vụ nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, đặc biệt
là ngành kỹ thuật hàng không luôn đạt và vượt các chỉ tiêu hệ số kỹ thuật. Công tác rèn luyện kỷ luật,
xây dựng chính quy triển khai đồng bộ, tập trung xây dựng đơn vị điểm, rút kinh nghiệm tại Trung
đoàn 921. Sư đoàn tổ chức tập huấn điều lệnh cho cán bộ chủ trì các cấp theo nội dung quy định của
Bộ Tổng tham mưu.

Nhằm đấu tranh có hiệu quả với tai nạn, uy hiếp an toàn bay, nâng cao chất lượng công tác
huấn luyện, ngày 26 tháng 9 năm 1994, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo về huấn luyện-
bảo đảm an toàn bay. Nghị quyết nêu rõ: Thời gian qua lãnh đạo, chỉ huy các cấp tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo, quán triệt sâu sắc phương châm chỉ đạo huấn luyện bay; tích cực tổ chức huấn luyện giữ được
sức chiến đấu bảo đảm đủ lực lượng làm nhiệm vụ, song công tác bảo đảm an toàn bay là khâu yếu,
hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện bay còn thấp. Nghị quyết đề ra 6 chủ
trương biện pháp cần tập trung lãnh đạo trong đó nhấn mạnh: Bằng nhiều hình thức, biện pháp tạo
được sự chuyển biến về nhận thức và hành động về huấn luyện và bảo đảm an toàn bay. Củng cố, xây
dựng các tổ chức Đảng, trọng tâm là nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức
đảng, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh
toàn diện, trước hết là chính quy trong huấn luyện bay, gắn với phong trào thi đua kỷ niệm 50 năm
ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam.

Với khí thế thi đua sôi nổi, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị nhanh chóng triển khai nghị quyết
của Đảng uỷ sư đoàn xong trước ngày 30 tháng 9 năm 1994 với quyết tâm cao, biện pháp cụ thể để
đấu tranh có hiệu quả với tai nạn và uy hiếp an toàn bay.

Chấp hành nghị quyết của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, hướng dẫn số 120/HD-BTD
ban thi đua quân chủng và chỉ thị của Sư đoàn trưởng, ngày 4 và 5 tháng 11 năm 1994, sư đoàn tổ
chức hội nghị điển hình tiên tiến năm 1994. Hội nghị vinh dự đón Trung tướng Phạm Thanh Ngân, Tư
lệnh Quân chủng dự và chỉ đạo. Hơn 130 đại biểu đại diện cho các đơn vỉ, tập thể và cá nhân điển
hình tiên tiến trong toàn sư đoàn về dự. Đồng chí Nguyễn Mạnh Hải, Phó sư đoàn trưởng về chính trị,
Bí thư Đảng uỷ, trưởng ban thi đua đọc báo cáo nêu bật những thành tích mà mỗi cán bộ, chiến sĩ,
công nhân viên toàn sư đoàn đã làm được trong 4 năm qua, trong đó có phần đóng góp của các tập
thể, đơn vị và cá nhân điển hình tiên tiến. Đồng chí đánh giá cao hiệu quả của các điển hình tiên tiến
bằng các hoạt động bình thường hàng ngày của mình đã góp phần hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, cơ
quan; trách nhiệm của tổ chức Đảng, người chỉ huy là phải động viên bộ đội, nhân điển hình tiên tiến
thành phong trào quần chúng rộng khắp. Đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Phó trung đoàn trưởng về chính
trị Trung đoàn 921 báo cáo thành tích của trung đoàn trong 4 năm qua, trong đó nêu bật những cố
gắng lớn của đơn vị trong năm 1994, kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống đoàn không quân Sao Đỏ
anh hùng.

Chiều ngày 5 tháng 11, Tư lệnh phát biểu ý kiến nêu bật sự tiến bộ của sư đoàn trong thời
gian qua: Các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến thực sự là tấm gương để mọi người chúng ta trân
trọng học tập và phát huy trong thời gian tới. Hội nghị điển hình tiên tiến kết thúc tốt đẹp, đánh giá
một chặng đường 4 năm phấn đấu đầy vất vả khó khăn với những thành công và hạn chế, nhưng qua
hội nghị này mở ra một giai đoạn mới của phong trào thi đua xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn
diện".

Phong trào thi đua quyết thắng năm 1994 đánh dấu một bước phát triển mới. Cả 3 trung
đoàn đều đạt danh hiệu quyết thắng. Ngày 20 tháng 1 năm 1995, Bộ quốc phòng ký quyết định số
118/QĐ-KT tặng bằng khen cho sư đoàn vì có thành tích thực hiện tốt nhiệm vụ năm 1994. Trung
đoàn 921 được Bộ tư lệnh Quân chủng tặng cờ thi đua luân lưu.

Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng và truy tặng danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sư đoàn 371 có 4 liệt sĩ được truy tặng: Nguyễn Phi
Hùng, Lê Quang Trung, Nguyễn Văn Bảy (B), Vũ Xuân Thiều.

Căn cứ vào kế hoạch công tác quân sự năm 1995, ngày 15 tháng 6, sư đoàn tổ chức hội thi
"Phi công tính toán dẫn đường giỏi, dẫn đường dẫn đánh chặn giỏi và tiêu đồ gần giỏi" cấp sư đoàn.
Thượng tá Lê Văn Tuấn, Tham mưu trưởng sư đoàn làm trưởng ban chỉ đạo, trung tá Trương Thanh
Lương, Phó tham mưu trưởng làm trưởng ban tổ chức. Ban giám khảo gồm các đồng chí trưởng tiểu
ban dẫn đường các trung đoàn và 3 cán bộ dẫn đường của sư đoàn. Trước đó ngày 30 tháng 5, các đơn
vị đã tổ chức hội thi cấp trung đoàn. Với tinh thần làm việc khẩn trương, khách quan, ban giám khảo
đã chọn ra các cá nhân xuất sắc, phi công tính toán giỏi, dẫn đường giỏi và tiêu đồ gần giỏi cấp sư
đoàn.

Ngày 15 tháng 7 năm 1995, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo thực
hiện cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm" trong sư
đoàn.

Để khắc phục nhanh chóng các khuyết điểm, nâng cao chất lượng bảo đảm kỹ thuật hàng
không, kỹ thuật hậu cần, thông tin radar trong thời gian tới, Thường vụ Đảng uỷ yêu cầu cấp uỷ chỉ
huy các đơn vị thực hiện tốt 5 nội dung. Bên cạnh công tác giáo dục, tuyên truyền các đơn vị phải duy
trì nghiêm ngặt, đầy đủ, chính quy các điều lệ, chế độ quy định.

Trong 4 ngày, từ 18 đến ngày 22 tháng 7 năm 1995, tại Trung đoàn 927, sư đoàn tiến hành
hội thao chiến thuật tổng hợp. Hội thao nhằm thử nghiệm và hoàn thiện một bước hình thức tổ chức
huấn luyện chiến thuật tổng hợp, chuẩn bị cho các trung đoàn trưởng tham gia hội thi trung đoàn
trưởng giỏi toàn quân và đánh giá kết quả huấn luyện toàn diện của trung đoàn trong sư đoàn. Nội
dung hội thao gồm 2 phần: lý thuyết và thực hành đối với tất cả các đối tượng, các ngành do Trung
đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Quốc khánh nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, ngày 28
tháng 8 năm 1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký lệnh phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân. Sư đoàn 371 có 3 liệt sĩ được truy tặng Hà Văn Chúc, Lê Minh Huân,
Ngô Đức Mai.

Với ý thức trân trọng lịch sử và truyền thống đạo lý của dân tộc Việt nam "Uống nước nhớ
nguồn ", đời đời nhớ ơn, tôn vinh công lao của các anh hùng, liệt sĩ, phi công, cán bộ, chiến sĩ không
quân đã hi sinh anh dũng qua các thời kì, Đảng uỷ Quân chủng ký quyết định việc xây dựng tượng đài
không quân tại Sư đoàn không quân 371. Sóc Sơn chính là cái nôi của không quân xuất kích, mở mặt
trận trên không thắng lợi. Ngày 4 tháng 4 năm 1995 công trình được khởi công với sự giúp đỡ có hiệu
quả về vật chất, tinh thần của nhiều cơ quan đơn vị trong và ngoài Quân chủng, trong đó có sự đóng
góp tích cực, lao động hăng say của cán bộ, chiến sĩ Đoàn không quân Thăng Long.
Tượng đài được xây dựng trên một quả đồi cao 65m, gồm đường bay thẳng đứng và đường
lượn cao 27m, nhóm tượng hai nhân vật phi công và em bé cao 11m, 2 bức phù điêu nhà bia tưởng
niệm bằng đá khắc tên 353 anh hùng, liệt sĩ không quân.

Sau gần một năm lao động, đầy khó khăn vất vả, với tình cảm sâu nặng đền ơn đáp nghĩa,
ngày 30 tháng 8 năm 1996 công trình được khánh thành vào dịp kỷ niệm 51 năm Cách mạng tháng
Tám và Quốc khánh 2-9. Tượng đài không quân được xây dựng trên mảnh đất lịch sử, nơi có đền thờ
"Đức Thánh Gióng". Đây là một công trình mang nhiều ý nghĩa. Với nét khắc hoạ hình tượng người
chiến sĩ không quân, tượng đài góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá dân tộc Việt nam nói
chung, có tác dụng giáo dục sâu sắc cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không quân và truyền thống Đoàn
không quân Thăng Long anh hùng. Công trình được Quân chủng giao cho sư đoàn trực tiếp quản lý.
Từ ngày khánh thành đến nay đã đón hàng trăm đoàn đại biểu trong và ngoài Quân chủng, cán bộ và
nhân dân địa phương, các đoàn khách nước ngoài đến viếng thăm và tưởng niệm.

Chấp hành chỉ thị số 490/CT-QCKQ của Tư lệnh Quân chủng, từ ngày 10 đến ngày 11
tháng 9, sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy-tham mưu hai cấp một bên. Đại tá Trần Việt, Sư đoàn
trưởng làm trưởng ban chỉ đạo. Đối chiếu với mục đích yêu cầu, đợt diễn tập lần này đạt kết quả khá
về phần chuẩn bị văn kiện, chuyển trạng thái. Phần thực hành chiến đấu với 13 lần chiếc máy bay cất
cánh làm nhiệm vụ thực hiện tốt theo phương án, bảo đảm an toàn. Nhận xét chung của phái đoàn chỉ
đạo diễn tập của Quân chủng, đợt diễn tập đạt kết quả khá.

Tháng 9 năm 1995, sư đoàn hoàn thành việc tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
khoá VII về "một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng".

Ba năm qua, các cấp bộ Đảng toàn sư đoàn xác định ''xây dựng Đảng bộ vững mạnh về
chính trị là tiền đề vững chắc để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện". Trong đó trọng tâm là nâng
cao nhận thức về tình hình nhiệm vụ. Bên cạnh giáo dục chính trị thường xuyên theo chương trình
quy định, các cấp uỷ Đảng hết sức quan tâm đến giáo dục truyền thống, rèn luyện đạo đức, lối sống
tốt đẹp của "anh bộ đội Cụ Hồ". Báo cáo tổng kết cũng chỉ ra một số vấn đề tồn tại và đề ra 6 nội
dung biện pháp để thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình
mới.

Nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện
cho các đơn vị, đầu tháng 10 năm 1995, sư đoàn tổ chức triển khai trực ban chiến đấu thí điểm ban
đêm cho Trung đoàn 927. Lãnh đạo và chỉ huy trung đoàn đã tổ chức quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đến
từng đối tượng, thành phần có liên quan, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, niềm vinh dự và trách
nhiệm lớn của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Công tác chuẩn bị đã được tiến hành một cách tỉ mỉ, chu đáo và
đầy đủ nội dung. Qua 3 lần báo động kiểm tra thử, các thành phần, phương tiện đều đạt chỉ tiêu về
thời gian. Qua đó cho thấy Trung đoàn 927 hoàn toàn có khả năng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm
vụ trực ban chiến đấu ban đêm trong thời gian tới.

Ngày 21 tháng 11 năm 1995, sư đoàn tổng kết công tác hậu cần. Một năm qua, hưởng ứng
phong trào thi đua Ngành hậu cần làm theo lời Bác Hồ dạy", ngành hậu cần đã chủ động triển khai
ngay từ ngày đầu với phương châm tự lực tự cường, kết hợp trên dưới cùng làm nên đã cơ bản hoàn
thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, có nhiều cố gắng trong xây
dựng củng cố đơn vị về mọi mặt. Tổ chức nhiều cuộc thi, hội thao, xây dựng nhiều tập thể và điển
hình tiên tiến. Kết quả chấm điểm thi đua: nhất Trung đoàn 927, nhì Trung đoàn 921; khối các tiểu
đoàn căn cứ: nhất tiểu đoàn căn cứ Kiến An; khối các phòng: nhất Phòng Tham mưu, nhì Phòng Huấn
luyện và Phòng Hậu cần.

Trong tháng 11 năm 1995, một số vị trí cán bộ có thay đổi. Theo quyết định của trên,
thượng tá Lại Trọng Kha, Chủ nhiệm chính trị sư đoàn được bổ nhiệm làm phó sư đoàn trưởng về
chính trị và được chỉ định làm bí thư Đảng uỷ thay đồng chí Nguyễn Mạnh Hải được bổ nhiệm phó
chủ nhiệm chính trị Quân chủng. Đồng chí Nguyễn Văn Nghề, Phó trưởng phòng Tổ chức Quân
chủng được bổ nhiệm làm chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Trung tá Nguyễn Duy Bảo, Chủ nhiệm chính
trị Trung đoàn 921 được bổ nhiệm làm phó trung đoàn trưởng về chính trị thay đồng chí Nguyễn Kim
Sơn được bổ nhiệm làm phó trưởng phòng Tuyên huấn Quân chủng.

Năm 1995, toàn thể cán bộ và chiến sĩ sư đoàn với khí thế thi đua chào mừng các ngày lễ
lớn trong năm, thực hiện tốt nghị quyết của Đảng uỷ và chỉ thị của Sư đoàn trưởng, đã tạo ra được sự
chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trên mọi lĩnh vực, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Qua phân tích
chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên năm 1995, có 4/5 số đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh,
1 đảng bộ khá. 5/6 Đảng bộ bộ phận đạt trong sạch vững mạnh, 1 đảng bộ khá. Đảng bộ Trung đoàn
921 được tặng cờ "Đảng bộ cơ sở trong sạch vững mạnh tiêu biểu 1991- 1995" của Đảng uỷ quân sự
Trung ương.

Trong phong trào thi đua quyết thắng năm 1995, Trung đoàn 921 được Bộ tư lệnh Quân
chủng tặng cờ luân lưu "Đơn vị chấp hành kỷ luật, xây đựng nền nếp chính quy tốt nhất", Trung đoàn
931 được tặng cờ thưởng thi đua toàn diện năm 1995. Quân chủng công nhận danh hiệu đơn vị quyết
thắng năm 1995 cho 2 trung đoàn: 931 và 927. Sư đoàn công nhận danh hiệu đơn vị quyết thắng cho
hàng chục đơn vị, gần 100 chiến sĩ thi đua, chiến sĩ quyết thắng; tặng bằng khen, giấy khen cho hàng
trăm tập thể và cá nhân.

Năm 1996, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII sẽ quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh quốc
phòng từ nay đến năm 2000. Đối với sư đoàn là năm chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống.
Ngày 13 tháng 1 năm 1996, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quân sự năm 1996.
Nghị quyết nêu rõ: "Cấp uỷ đảng và người chỉ huy các cấp phải quán triệt sâu sắc nghị quyết của
Đảng uỷ và mệnh lệnh công tác quân sự của Tư lệnh Quân chủng, phát huy tinh thần độc lập tự chủ,
tự lực, tự cường, tập trung mọi nỗ lực cố gắng của toàn Đảng bộ; xây dựng sư đoàn toàn diện theo
hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đạt tiêu chuẩn sư đoàn vững mạnh toàn
diện theo 5 yêu cầu của Bộ, hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống". Đảng uỷ xác định
có 4 nhiệm vụ chủ yếu và đề ra những chủ trương biện pháp cụ thể, trong đó 100% phi công bay ngày
khí tượng phức tạp, 35% bay đêm khí tượng giản đơn. Tiếp tục triển khai sâu rộng, toàn diện, đồng bộ
cuộc vận động xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, phấn đấu 100% trung đoàn, tiểu đoàn, cơ quan
sư đoàn đạt khá, 80% phi đội đại đội khá, không có đơn vị yếu kém.

Trong không khí thi đua lập thành tích chào mừng ngày thành lập Đảng cộng sản Việt nam,
từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 2 năm 1996, Đại hội đại biểu đảng bộ sư đoàn lần thứ 11 được tiến
hành và thành cồng tốt đẹp. 97 đại biểu tiêu biểu cho đội ngũ đảng viên trong Đảng bộ đã về dự.
Đồng chí Phạm Tuân, Phó tư lệnh về chính trị-Bí thư Đảng uỷ Quân chủng đến dự và chỉ đạo đại hội.

Năm năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ Quân chủng và hướng dẫn của các cơ quan
ban ngành, sư đoàn cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ, chỉ tiêu mà đại hội đảng bộ sư đoàn lần thứ
10 đề ra. Đảng bộ đã tạo được sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, lòng tin của bộ đội vào
sự nghiệp đổi mới, mục tiêu chủ nghĩa xã hội ngày càng vững chắc. Khả năng, trình độ sẵn sàng chiến
đấu của sư đoàn được củng cố, giữ vững và có mặt được nâng lên, chất lượng huấn luyện, bảo đảm an
toàn bay được tốt hơn, xây dựng nền nếp chính quy tiến bộ rõ. Đời sống vật chất tinh thần của bộ đội
được cải thiện một bước.

Đại hội xác định phương hướng xây dựng Đảng bộ 5 năm tới (1996- 2000) là: "Xây dựng
các tổ chức trong Đảng bộ sư đoàn thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trọng tâm là
nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các cơ sở Đảng, chi bộ. Củng cố trận địa
tư tưởng của Đảng trong đơn vị, lãnh đạo xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng
lợi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Phấn đấu 3 đảng bộ trung đoàn bay, có hơn 80% số chi
bộ trong sạch vững mạnh, không có tổ chức Đảng yếu.

Đại hội bầu ban chấp hành đảng bộ mới gồm 11 đồng chí: Lại Trọng Kha, Trần Việt, Lê
Văn Tuấn, Trần Tuấn Việt, Nguyễn Văn Nghề, Lê Ngọc Khang, Lê Xuân Cẩm, Bùi Minh Tiến, Bùi
Văn Tâm, Phương Minh Hoà. Đồng chí Lại Trọng Kha được bầu làm bí thư, đồng chí Trần Việt làm
phó bí thư đảng uỷ sư đoàn. Đại hội bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng
Không quân lần thứ 3 gồm 28 đồng chí chính thức, 1 đồng chí dự khuyết.

Để triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn và nghị quyết chuyên
đề của đảng uỷ khoá 10 ngày 19 tháng 8 năm 1994 về lãnh đạo kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống
của sư đoàn, ngày 2 tháng 3 năm 1996 Thường vụ đảng uỷ sư đoàn họp ra chỉ thị về việc tổ chức kỷ
niệm 30 năm ngày truyền thống (24-3-1967 - 24-3-1997).

Chỉ thị nêu ra 6 nội dung mà lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cán bộ chiến sĩ, công nhân viên
toàn sư đoàn quán triệt và thực hiện. Trong đó mở một đợt tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong đơn
vị và nhân dân địa phương nơi đóng quân về truyền thống chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của sư
đoàn, đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng thành cao trào sôi nổi liên tục, rộng khắp với mục tiêu
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 1996, lập thành tích cao nhất mừng kỷ niệm 30 năm ngày truyền
thống sư đoàn. Tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, các cuộc hội thi, hội thao, tích cực củng cố
doanh trại, các công trình văn hoá có ý nghĩa thiết thực và giao cho Phòng Chính trị chủ trì lập kế
hoạch, tổng hợp báo cáo. Chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ về việc tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày
truyền thống đoàn không quân Thăng Long được các đơn vị, cơ quan trong sư đoàn nhiệt liệt hưởng
ứng.

Cùng ngày, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện Nghị định 87/CP
Và chỉ thị 814/TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc "Tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá và
dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng".
Trong những năm qua, chấp hành chỉ thị của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về xây dựng
môi trường văn hoá, nhất là từ năm 1995, sư đoàn đã có những bước tiến bộ rõ rệt về các hoạt động
văn hoá, văn nghệ, đảng uỷ, cơ quan chính trị các cấp có nhiều chủ trương biện pháp tổ chức để đưa
phong trào văn hoá, văn nghệ trở thành phong trào quần chúng rộng khắp và thường xuyên. Các cuộc
vận động xây dựng chi đoàn văn hoá mới, xây dựng nền nếp chính quy xây dựng đơn vị vững mạnh
toàn diện đã thực sự đi vào cuộc sống của mọi người. Qua các lần hội thi, hội thao, hội diễn và kiểm
tra thực tế của Quân chủng, của Cục Tư tưởng Văn hoá đều đánh giá sư đoàn có phong trào văn hoá
tốt. Tuy vậy, phong trào văn hoá, công tác quản lý chỉ đạo hoạt động văn hoá, xây dựng môi trường
văn hoá trong sư đoàn chưa đồng đều và rộng khắp, chưa thực sự liên kết chặt chẽ với các cuộc vận
động khác.

Để thực hiện nghiêm chỉnh nghị định và chỉ thị trên của Thủ tướng Chính phủ, Thường vụ
đảng uỷ sư đoàn đề ra 5 chủ trương, biện pháp. Trước hết, các cấp uỷ chi bộ, chỉ huy các đơn vị và
các tổ chức quần chúng phải quán triệt nghiêm túc và triển khai thực hiện tốt. Sư đoàn thành lập ban
chỉ đạo do Sư đoàn trưởng làm trưởng ban, các đơn vị, phòng ban đều thành lập ban chỉ đạo và do
đồng chí chỉ huy trưởng làm trưởng ban.

Đầu tháng 4 năm 1996, sư đoàn làm kế hoạch chuyển sân 6 máy bay từ sân bay Yên Bái
vào sân bay Đà Nẵng và chuyển một số máy bay đại tu xong từ nhà máy về Yên Bái. Ngày 5 tháng 5
năm 1996, sư đoàn giao cho Trung đoàn 931 tổ chức chuyển sân 6 máy bay vào sân bay Đà Nẵng đảm
bảo an toàn và tiếp nhận 6 chiếc bay ra sân bay Yên Bái đúng kế hoạch.

Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 10 năm 1996, tại hội trường Cục Chính trị, Quân chủng tổ
chức hội diễn nghệ thuật quần chúng lần thứ 10. Qua 7 ngày đua tài, đội văn nghệ sư đoàn giành được
kết quả tốt đẹp, là một trong 5 đơn vị xuất sắc của phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng năm 1996
của Quân chủng Không quân; được tặng 5 huy chương vàng, 1 huy chương bạc.

Nhằm quán triệt một bước nghệ thuật tác chiến, đặc điểm chiến tranh tương lai, phương
châm, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của không quân nói chung và không quân tiêm kích nói riêng,
từng bước hoàn thiện lý luận, thực hành phương pháp hoạt động chiến đấu của trung đoàn không quân
tiêm kích, luyện tập cho người chỉ huy, cơ quan tổ chức thực hành chiến đấu đánh địch trong giai
đoạn tập kích hoả lực từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 11 năm 1996, sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy
tham mưu một cấp, một bên có sử dụng thực binh cho Trung đoàn 921.

Sư đoàn thành lập ban chỉ đạo do đại tá, Sư đoàn trưởng Trần Việt làm trưởng ban; đại tá,
Phó sư đoàn trưởng về chính trị Lại Trọng Kha làm phó ban; thượng tá Lê Văn Tuấn, Tham mưu
trưởng sư đoàn làm tham mưu trưởng cuộc diễn tập đạo diễn cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921.
11 giờ ngày 22 tháng 11, kết thúc cuộc diễn tập. Đánh giá chung: Trung đoàn 921 hoàn thành nhiệm
vụ, diễn tập đạt được mục đích yêu cầu đề ra.

Với cuộc diễn tập này, một lần nữa sư đoàn khẳng định phương châm chỉ đạo diễn tập đã
bám sát tình hình nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ chủ trì, các cơ quan chức năng có bước tiến bộ trong việc
chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo. Các trung đoàn trong sư đoàn nói chung và Trung đoàn 921 có thể hoàn
thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Ngày 14 tháng 10 năm 1996, đồng chí Nguyễn Văn Mậu, Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn
927 được bổ nhiệm làm phó trung đoàn trưởng về chính trị Trung đoàn 927 thay đồng chí Nguyễn
Đình Loan đi nhận nhiệm vụ mới.

Cuối tháng 11 năm 1996, thượng tá Phương Minh Hoà, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921
được bổ nhiệm phó sư đoàn trưởng phụ trách công tác huấn luyện thay thượng tá Trần Tuấn Việt được
điều về Quân chủng nhận công tác. Trung tá Đỗ Minh Tuấn, Phó trung đoàn trưởng-Tham mưu
trưởng Trung đoàn 921 được bổ nhiệm quyền trung đoàn trưởng.

Trở thành cuộc thi truyền thống hàng năm, từ ngày 9 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm
1996, sư đoàn tiến hành hội thi "máy bay, xe máy, đài trạm thông tin tốt, kho xưởng kiểu mẫu, nền
nếp chính quy, doanh trại sạch đẹp". Để hội thi đạt chất lượng, hiệu quả, sư đoàn thành lập hội đồng
thi gồm 7 người do đại tá, Sư đoàn trưởng Trần Việt làm chủ tịch.

Hội thi bắt đầu từ Trung đoàn 931 ngày 9 và 10, Trung đoàn 921 ngày 11 và 12, Trung
đoàn 927 ngày 13 và 14, căn cứ Kiến An ngày 15, 16 và sư đoàn bộ trong hai ngày 17 và 18 tháng 12.

Qua 10 ngày làm việc khẩn trương, hội đồng thi đã chọn ra Trung đoàn 927 nhất toàn diện,
giải nhất máy bay thuộc về Trung đoàn 921, giải nhất xe máy thuộc về Trung đoàn 931, nhất đài trạm
thông tin: Trung đoàn 927, giải nền nếp chính quy thuộc về cơ quan sư đoàn bộ, nhất kho khí tài hàng
không: Trung đoàn 927, nhất kho phương tiện sát thương: Trung đoàn 931, nhất kho hậu cần: Trung
đoàn 927, nhất xưởng định kỳ: Trung đoàn 921.

Năm 1996 đã kết thúc. Toàn thể cán bộ chiến sĩ sư đoàn tự hào trong năm qua đơn vị đã
quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quân sự của đảng uỷ sư đoàn. Thấy rõ
những thuận lợi, khó khăn của đơn vị, các cấp uỷ chỉ huy đơn vị đã đề ra các chủ trương, biện pháp cụ
thể triển khai tổ chức thực hiện, vì vậy năm 1996 sư đoàn cơ bản hoàn thành kế hoạch nhiệm vụ công
tác quân sự mà cấp trên giao cho.

Cấp uỷ Đảng và người chỉ huy thường xuyên quan tâm lãnh đạo, tổ chức triển khai thực
hiện nghiêm túc nên đạt kết quả tốt trong công tác tham mưu tác chiến. Nền nếp trực ban sẵn sàng
chiến đấu ở các sân bay, sở chỉ huy đài trạm được duy trì chặt chẽ. Các lần báo động, chuyển cấp và
kiểm tra của trên đều đạt yêu cầu. Qua kiểm tra đánh giá của quân chủng 2 đợt (6 tháng đầu năm và
cuối năm) sư đoàn đều đạt khá.

Tích cực, chủ động tranh thủ thời cơ tốt tổ chức huấn luyện bay. Đến ngày 10 tháng 11
năm 1996, toàn sư đoàn bay đạt 94,22% kế hoạch năm. Một số nội dung chỉ tiêu hoàn thành tốt. Mặc
dù trong huấn luyện bay còn để xảy ra tai nạn có cấp nhưng Đảng uỷ kịp thời ra nghị quyết lãnh đạo
tổ chức rút kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện và bảo đảm an toàn bay
nên bước đầu có những chuyển biến tiến bộ.

Công tác kỹ thuật hàng không có rất nhiều cố gắng, tích cực sửa chữa định kỳ, tăng hạn
đáp ứng cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, nền nếp công tác kỹ thuật hàng không được
duy trì nghiêm túc. Các hệ số sử dụng, bảo đảm và kỹ thuật đều đạt và vượt chỉ tiêu quy định.

Luôn bảo đảm các mặt hậu cần cho nhiệm vụ theo chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu. Các công
trình sân bay được tu bổ, xây dựng và đưa vào sử dụng một số công trình phục vụ sẵn sàng chiến đấu,
huấn luyện và mừng kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống sư đoàn. Bảo đảm đời sống bộ đội có nhiều
chuyển biến, chất lượng bữa ăn nâng lên, đưa cuộc vận động “Ngành hậu cần làm theo lời Bác Hồ
dạy" vào thực tế hàng ngày của bộ đội.

Gắn công tác rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy với việc xây dựng môi trường văn hoá.
Triển khai đồng bộ, có hiệu quả các chỉ thị hướng dẫn của trên, xây dựng đơn vị điểm, qua kiểm tra
thực tế của Quân chủng sư đoàn và Trung đoàn 921 đều đạt khá.

Qua phân tích chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên năm 1996 có 4/6 đảng bộ cơ sở đạt
trong sạch vững mạnh, 3/5 chi bộ cơ sở đạt trong sạch vững mạnh, 4/6 đảng bộ bộ phận đạt trong sạch
vững mạnh, 65/68 chi bộ đạt trong sạch vững mạnh. Đảng viên đủ tư cách đạt trên 98%. Kết nạp được
59 đảng viên mới, đạt 84,2% kế hoạch.

Trong phong trào thi đua quyết thắng năm 1996, Trung đoàn 921, Phòng Tham mưu,
Phòng Hậu cần, Phòng Kỹ thuật được Quân chủng công nhận danh hiệu đơn vị quyết thắng. Trung
đoàn 921 được tặng cờ "Đơn vị dẫn đầu các đơn vị bay phản lực". 15 đơn vị của sư đoàn đạt quyết
thắng, 4 chiến sĩ quyết thắng; 47 tập thể, cá nhân được tặng bằng khen, giấy khen.

Hơn 10 năm (1986-1996) đánh dấu một thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước. Cùng với
sự phát triển chung, đoàn không quân Thăng Long luôn phát huy truyền thống vẻ vang của mình, ra
sức xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cao,
cùng các lực lượng vũ trang quyết bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng là
đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân có bề dày truyền thống 30 năm.

Ngày 23 tháng 12 năm 1996, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ năm 1997,
kiểm điểm việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 1996, nghị quyết đánh giá: Lãnh đạo, chỉ huy các
cấp đã đoàn kết nhất trí, triển khai nghiêm túc toàn diện, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cơ bản đã hoàn
thành những nội dung, chương trình kế hoạch, một số mặt đạt kết quả khá, chất lượng tổng hợp và sức
mạnh chiến đấu được củng cố, nâng cao. Về lãnh đạo nhiệm vụ năm 1997, nghị quyết chỉ rõ: “Tập
trung nâng cao chất lượng tổng hợp của sư đoàn, xây dựng đơn vị theo hướng cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức,
bảo đảm cho sư đoàn luôn là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
được giao; cùng với các lực lượng trong Quân chủng và các đơn vị bạn sẵn sàng chiến đấu đập tan âm
mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của địch, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân”.

Bước vào năm 1997, một sự kiện có ý nghĩa to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ Đoàn không
quân Thăng Long là hoạt động kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống Sư đoàn không quân 371 ((24-3-
1967 - 24-3-1997). Kế hoạch kỷ niệm được xây dựng công phu với nhiều nội dung và các hoạt động,
trong đó việc kỷ niệm ngày truyền thống được tổ chức trong các đơn vị của sư đoàn vào ngày 20
tháng 3 và được tổ chức trọng thể tại sư đoàn vào ngày 22 tháng 3 năm 1997. Về dự lễ mít tinh kỷ
niệm có hàng chục đoàn đại biểu của các đơn vị cơ quan Bộ quốc phòng, Quân chủng, các cơ quan
ban ngành chính quyền địa phương. Đọc diễn văn tại buổi lễ, đồng chí đại tá Trần Việt, Sư đoàn
trưởng nêu bật quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng hành của đơn vị trong sự nghiệp chống Mỹ
cứu nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, được kế thừa từ
Bộ tư lệnh không quân, Bộ tư lệnh không quân chiến đấu, Sư đoàn 371 chuyển dần từ nhiệm vụ hỗn
hợp sang nhiệm vụ tiêm kích phòng không là chủ yếu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững
chắc bầu trời phía Bắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, luôn xứng đáng là "cái nôi" của Không quân nhân
dân Việt nam. Đồng chí cũng nhấn mạnh, nhiệm vụ sắp tới của sư đoàn rất nặng nề, cán bộ, chiến sĩ
hãy phát huy truyền thống anh hùng, nêu cao tinh thần đoàn kết, không được chủ quan, thoả mãn
dừng lại, quyết tâm xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện trong thời kỳ đổi mới của đất nước.

Kết quả của đợt hoạt động kỷ niệm nhân dịp 30 năm ngày truyền thống sư đoàn không
những mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc mà còn cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ hăng hái
vượt lên khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trong năm 1997 và các năm tiếp theo.

Ngày 10 tháng 4 năm 1997, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về công tác thanh niên trong
tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: "Trong 5 năm qua (1992- 1997) thanh niên Sư đoàn 371 được sự
quan tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, phối hợp với cơ quan chức năng, thanh niên luôn khẳng định
được vị trí của mình trong thực hiện nhiệm vụ. Là lực lượng đông đảo chiếm 50% quân số, ở các đơn
vị, đoàn viên thanh niên chiếm tỉ lệ cao, trên 60%, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực nhưng năm vừa
qua, thanh niên đã làm tốt các nhiệm vụ trung tâm của đơn vị như huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu đã
có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng khai thác sử dụng kỹ thuật hàng không, kỹ
thuật hậu cần… Song cũng còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục, đó là tinh thần và
khả năng làm chủ tập thể, làm chủ bản thân ở một số đồng chí còn thấp, nhiều đồng chí chưa xác định
mục tiêu phấn đấu đúng đắn, nhiều trường hợp vi phạm kỷ luật. Nghị quyết chỉ rõ những nguyên nhân
của khuyết điểm trên, trước hết là nhận thức chức năng, vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh
niên của một số cấp uỷ chỉ huy chưa đúng mức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên
chưa đổi mới nhất là trong đánh giá thanh niên còn chủ quan. Nghị quyết đề ra các quy đỉnh và chủ
trương, giải pháp trong đó nhấn mạnh cần tiếp tục quán triệt và nắm vững nội dung chủ yếu, những
quan điểm trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) và Nghị quyết Thường vụ Đảng uỷ quân sự
Trung ương về công tác thanh niên trong thời kỳ mới, tăng cường công tác giáo dục thanh niên ở các
cơ sở đẩy mạnh các phong trào, phát huy tính tự chủ, sáng tạo của họ trong thực hiện nhiệm vụ.

Ngày 30 tháng 5 năm 1997, Phòng Chính trị sư đoàn có hướng dẫn thực hiện nghị quyết
của Đảng uỷ sư đoàn. Hướng dẫn này được triển khai đầy đủ, nhanh chóng xuống đến các đơn vị mở
ra một giai đoạn mới trong việc phát huy vai trò công tác vận động quần chúng nói chung và công tác
thanh niên nói riêng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.

Căn cứ vào chỉ thị số 08/CT-QCKQ ngày 25 tháng 2 năm 1997 của Tư lệnh Quân chủng và
hướng dẫn của ban chỉ đạo Quân chủng về việc tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện phong trào thi đua
"Ngành hậu cần làm theo lời Bác Hồ dạy", ngày 16 tháng 4 năm 1997, sư đoàn tổ chức hội nghị sơ
kết. Báo cáo sơ kết chỉ rõ: "Qua 2 năm thực hiện phong trào, ngành hậu cần đã tạo nên bước chuyển
biến mạnh mẽ và sâu rộng ở khắp các đơn vị và thu được nhiều kết quả tốt đẹp trên tất cả 3 mục tiêu
thi đua, "Trong đó mục tiêu 1 hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho các hoạt động thường
xuyên cũng như đột xuất Ngành hậu cần tích cực chủ động, sáng tạo phát huy sức mạnh tổng hợp của
các ngành chuyên môn cho sẵn sàng chiến đấu: Xây mới 1 sở chỉ huy, nâng cấp 1 sở chỉ huy dự bị,
sửa chữa nhỏ hầm K12, xây dựng mới 1 đài chỉ huy, xây 16 vọng gác, lắp ráp, hoàn chỉnh 19 vòm để
máy bay bằng vật liệu Composite. Chăm sóc sức khoẻ cho bộ đội được quan tâm hơn. Tỉ lệ quân số
khoẻ: phi công 95,5%, mặt đất 98,5%. Các đơn vị đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, các bếp đã
đưa vào bữa ăn cho bộ đội từ 150 đến 200 đồng/ngày/người. Tiêu biểu cho phong trào là ngành hậu
cần Trung đoàn 921, 931, ngành công binh sư đoàn, 4 đại đội và hàng chục cá nhân. Báo cáo cũng chỉ
rõ: Trong tổ chức thực hiện, biện pháp còn hình thức, đơn giản, hiệu quả còn thấp ở một số mặt, còn
để xảy ra 6 vụ tai nạn giao thông, trong đó có 2 vụ gây chết người, để cháy 1 xe và 2 máy nổ…

Ngày 4 tháng 5 năm 1997, sư đoàn mở hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện cuộc vận động
"Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp lành mạnh, phong phú”. Báo cáo. đã đánh giá sâu sắc sự quan
tâm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cơ quan chính trị, cán bộ chính
trị để đưa cuộc vận động mang lại hiệu quả thiết thực. Toàn sư đoàn đã xây dựng được môi trường
văn hoá tốt đẹp, lành mạnh, hình thành được một tập thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng
phấn đấu rèn luyện theo tiêu chuẩn con người mới Việt nam, góp phần xây dựng, bồi dưỡng phẩm
chất nhân cách người quân nhân cách mạng, nó đã trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu và
khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Với 5 nội dung của cuộc vận động, bộ mặt các đơn vị thay
đổi khang trang và đẹp đẽ hơn, đời sống văn hoá tinh thần của bộ đội phong phú và lành mạnh. Đã
khắc phục những biểu hiện quân phiệt, gia trưởng, xâm phạm nhân cách, giảm 2,2% vụ việc vi phạm
kỷ luật so với năm 1992 và 1,4% so với năm 1996. Xây dựng và duy trì 4 phòng truyền thống cấp
trung đoàn và sư đoàn. Năm 1992 chỉ có 20 đến 30% đơn vị có môi trường văn hoá khá, năm 1997 đã
có trên 80% đơn vị khá, tiêu biểu là Trung đoàn 921, Phòng Tham mưu, Phòng Hậu cần. Tổ chức
đoàn đã làm nòng cốt trong việc thực hiện cuộc vận động, tổ chức 93 cuộc giao lưu văn hoá, thể thao
với các địa phương nơi đóng quân.

Bên cạnh đó, báo cáo tổng kết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế cũng như một số
nguyên nhân và đề ra các giải pháp cần phải khắc phục như trong xây dựng con người là cần đề cao
và phát huy ý thức tự giác, tính tự chủ của mỗi quân nhân, vai trò quản lý các sản phẩm văn hoá ngoài
luồng, văn hoá phẩm độc hại của lãnh đạo, chỉ huy các cấp.

Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng, ngày 8 tháng 5 năm 1997, Đảng
uỷ sư đoàn ra chỉ thị thực hiện trong đơn vị hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày thương binh hệt sĩ (27-7-
1947 - 27-7-1997). Chỉ thị nêu rõ: "Phát huy truyền thống đạo lý, nhân nghĩa, thuỷ chung "uống nước,
nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc, trong những năm qua cán bộ, chiến sĩ sư đoàn
đã tham gia nhiều phong trào đền ơn đáp nghĩa như: Chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, phụng
dưỡng các bà mẹ Việt nam anh hùng, phối hợp chặt chẽ với các địa phương và đưa các hoạt động này
phát triển cả bề rộng và chiều sâu.

Thông qua hoạt động kỷ niệm, các đơn vị tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền giáo
dục cho cán bộ, chiến sĩ thấy được sự đóng góp to lớn, sự hi sinh cao cả của các anh hùng, hệt sĩ,
thương binh đã cống hiến xương máu, mồ hôi và công sức cho sự nghiệp của Đảng, từ đó giáo dục
truyền thống, xây dựng và bồi dưỡng tình cảm cách mạng tốt đẹp, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm
vụ theo cương vị chức trách. Sư đoàn thành lập ban chỉ đạo cuộc vận động gồm 7 đồng chí, do đại tá
Lại Trọng Kha, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm trưởng ban. Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày
thương binh, liệt sĩ, khắp các đơn vị trong sư đoàn đều tổ chức mít tinh kỷ niệm 50 năm ngày thương
binh-liệt sĩ. Riêng tại sư đoàn bộ, ngoài lễ mít tinh còn tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ tại
"Tượng đài không quân" và tổ chức gặp mặt các thương binh, thân nhân các gia đình liệt sĩ.

Ngày 26 tháng 7 năm 1997, Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kí quyết
định số 154/QPĐ bổ nhiệm đại tá Trần Việt, Sư đoàn trưởng làm Phó tham mưu trưởng Quân chủng
Không quân; đại tá Trần Văn Thi, Phó sư đoàn trưởng-Tham mưu trưởng Sư đoàn 370 về làm sư đoàn
trưởng; điều thượng tá Phương Minh Hoà, Phó sư đoàn trưởng huấn luyện làm phó sư đoàn trưởng-
tham mưu trưởng, bổ nhiệm trung tá Trần Văn Thanh, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 931 làm phó sư
đoàn trưởng huấn luyện.

Cùng thời gian này, Quân chủng kí quyết định điều động đại tá Lê Văn Tuấn, Phó sư đoàn
trưởng-Tham mưu trưởng làm phó trưởng phòng Quân huấn Bộ Tham mưu; bổ nhiệm thượng tá Mai
Ngọc Hùng, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 làm phó trưởng phòng Quân huấn sư đoàn thay
thượng tá Bùi Văn Tập nhận nhiệm vụ mới tại Học viện Không quân.

Căn cứ vào quyết định của Tư lệnh Quân chủng, ngày 16 tháng 5 năm 1997, Sư đoàn
trưởng Sư đoàn 371 đã ký quyết định số 268/QĐ-SĐ371 về việc điều ban công binh từ trực thuộc
Phòng Hậu cần về trực thuộc Phòng Tham mưu sư đoàn trên cơ sở nguyên canh hiện có về quân số,
trang bị, các đồ dùng phục vụ cho làm việc, học tập, sinh hoạt. Ngày 20 tháng 5 năm 1997 việc giao
nhận được tiến hành xong.

Ngày 29 tháng 5 năm 1997 sư đoàn tiến hành báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện nhiệm vụ
phòng, chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá.

Báo cáo nêu rõ: 7 năm qua, Đảng uỷ sư đoàn cùng các cấp uỷ người chỉ huy quán triệt sâu
rộng đến mọi cấp, mọi ngành, đến từng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ công nhân viên trong toàn sư đoàn
về nhiệm vụ phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch
trên mặt trận tư tưởng, văn hoá, đặc biệt là chỉ thị 23-25/CT-TW của Bộ Chính trị, Chị thị 116 của
Đảng uỷ Quân chủng về tăng cường bảo vệ an ninh quân đội, tăng cường công tác bảo vệ, chính trị
nội bộ trong tình hình mới; tổ chức học tập chính trị hàng năm cho các đối tượng, kiểm tra 100% đạt
yêu cầu, 65,75% khá giỏi, giáo dục 4 nội dung mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, 5
tình huống chiến lược mà Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) đã xác định; hoàn thiện các phương án
A2, các trung đoàn, sân bay có đội công tác dân vận được trang bị vũ khí, phương tiện. Từ đó, cán bộ,
đảng viên, chiến sĩ có bước chuyển biến về nhận thức tư tưởng, hiểu rõ hơn về âm mưu thủ đoạn của
địch, hàng năm không có vụ việc nghiêm trọng xảy ra. Cùng với cuộc vận động xây dựng môi trường
văn hoá tốt đẹp, lành mạnh phong phú đang được đẩy mạnh, việc thực hiện tốt nhiệm vụ phòng,
chống "diễn biến hoà bình" đã góp phần xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện, nhất là vững mạnh
về chính trị.

Trước đó, ngày 1 tháng 4, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ an toàn bầu
cử, nhấn mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu duy trì ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, hiệp
đồng chặt chẽ với chính quyền địa phương, công an và các lực lượng vũ trang để nắm bắt tình hình
hình an ninh khu vực, bảo đảm an toàn căn cứ, xử lý kịp thời mọi âm mưu hành động phá hoại của
địch, không để bất ngờ, duy trì lực lượng A2, điều chỉnh bổ sung kế hoạch A, BM-B. Ngày 24 tháng
6, sư đoàn tổ chức kiểm tra các đơn vị về việc tổ chức triển khai kế hoạch trên.
Ngày 11 tháng 6, Phòng Chính trị đã có hướng dẫn công tác chuẩn bị tiến hành bầu cử ở sư
đoàn, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, cổ động, coi đây là một đợt sinh hoạt chính trị lớn để mọi
cử tri thấy được quyền lợi, nghĩa vụ của mình bầu ra các đại biểu có đủ đức, tài gánh vác nhiệm vụ to
lớn của đất nước, lấy ngày 20 tháng 7 năm 1997, ngày bầu cử thực sự là ngày hội lớn của dân tộc nói
chung và Sư đoàn không quân 371 nói riêng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1997, sư đoàn tiến hành sơ kết 2 năm thực hiện cuộc vận động
"Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm".

Hai năm qua, đơn vị đã tiến hành quán triệt nghiêm túc mục đích, yêu cầu nội dung, thành
lập ban chỉ đạo ở các cấp. Đảng uỷ sư đoàn đã kịp thời có nghị quyết chuyên đề, chú trọng công tác
tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng, nhất là cán bộ, chiến sĩ công nhân viên làm công tác kỹ
thuật. Từng cấp, ngành đề ra chương trình hành động và có kế hoạch triển khai từng thời kỳ phù hợp.
Đối chiếu với 4 mục tiêu, đơn vị đều hoàn thành tốt, nhờ đó mà chất lượng, số lượng vũ khí trang bị
kỹ thuật đã được nâng lên rõ rệt, góp phần tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Các
nền nếp chế độ công tác kỹ thuật được duy trì thường xuyên, nghiêm túc, bộ mặt của ngành kỹ thuật
được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tiêu biểu của đợt vận động là Trung đoàn 921, tiểu đoàn
thông tin radar, Trung đoàn 927, tổ máy bay 5292 (trung đoàn 931) và 3 cá nhân.

Nhằm giữ lực lượng chiến đấu và làm nòng cốt cho nhiệm vụ bay không chiến của sư đoàn
cho năm 1997 và làm cơ sở cho những năm sau, căn cứ tình hình bảo đảm các mặt của đơn vị, ngày 8
tháng 9 năm 1997 sư đoàn tiến hành triển khai kế hoạch hồi phục bay không chiến. Đây là những
khoa mục, bài bay, phức tạp, ứng dụng chiến đấu trong tiêm kích phòng không, rèn luyện cho phi
công có bản lĩnh và trình độ bay, mưu trí dũng cảm sáng tạo trong cách đánh, mà trước đây do nhiều
yếu tố như trang bị kỹ thuật, xăng dầu… chưa có điều kiện để rèn luyện, nâng cao trình độ. Nhiệm vụ
bay hồi phục cho những giáo viên và đào tạo thêm 6 phi công, Trung đoàn 927 là đơn vị chủ trì, máy
bay điều từ 2 trung đoàn 921, 931, thành phần phi công gồm 12 đồng chí. Từ ngày 8 tháng 9 đến ngày
11 tháng 9, làm công tác chuẩn bị mặt đất, từ ngày 12 tháng 9 bắt đầu bay huấn luyện đến hết ngày 31
tháng 10 năm 1997.

Ngày 16 tháng 9 năm 1997, đoàn thanh tra Bộ quốc phòng đã có kết luận thanh tra về việc
thực hiện nhiệm vụ quân sự năm 1996 và 9 tháng đầu năm 1997 đối với Sư đoàn không quân 371.

Đoàn thanh tra Bộ quốc phòng do Trung tướng Nguyễn Kiệm, Chánh thanh tra làm trưởng
đoàn tiến hành thanh tra đơn vị từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 9 năm 1997, với 7 nội dung. Đối với
nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã nhận thức rõ tình hình nhiệm vụ, âm mưu,
thủ đoạn của các thế lực thù địch nên đã thường xuyên coi trọng công tác giáo dục, quán triệt tình
hình nhiệm vụ, Nhất là diễn biến tình hình khu vực, tình hình trong nước. nhằm nâng cao ý thức cảnh
giác và trình độ sẵn sàng chiến đấu cho bộ đội. Thường xuyên duy trì nghiêm túc nền nếp, chế độ trực
ban sẵn sàng chiến đấu ngày và đêm. Thực hiện tốt quản lý vùng trời, quản lý điều hành bay. Làm tốt
việc tổ chức huấn luyện ứng dụng chiến đấu, thực hiện tốt nền nếp việc luyện tập báo động kiểm tra
lực lượng A2. Kết quả công tác sẵn sàng chiến đấu, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội
và phương tiện bảo đảm của sư đoàn từng bước được củng cố, giữ vững và nâng lên, có khả năng
hoàn thành các nhiệm vụ trên giao trong các tình huống thông thường, ít phức tạp. Đối với công tác
giáo dục chính trị-tư tưởng, sư đoàn đã coi trọng và phát huy vai trò công tác đảng, công tác chính trị,
xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên có phẩm chất đạo
đức và năng lực công tác, đây là cơ sở để xây dựng sư đoàn vững mạnh toàn diện. Quan hệ quân dân
và đơn vị bạn tại các nơi đóng quân được củng cố giữ vững và phát triển, bảo vệ an ninh đạt tiêu
chuẩn "đơn vị an toàn".

Năm 1996 và 9 tháng đầu năm 1997 Sư đoàn không quân 371 đã nghiêm chỉnh chấp hành
mọi chỉ thị nghị quyết của cấp trên, tạo được sự nhất trí cao trong chấp hành nhiệm vụ, phát huy được
sức mạnh tổng hợp, khắc phục khó khăn, các mặt công tác đều được triển khai và thực hiện có hiệu
quả, kết quả sư đoàn đạt khá. Bên cạnh đó, đoàn kiểm tra cũng chỉ ra 5 khuyết điểm, tồn tại, kiến nghị
đối với sư đoàn để có chủ trương, giải pháp khắc phục những mặt hạn chế hiện nay.

Chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ, chỉ thị công tác quân sự quý IV năm 1997 của sư đoàn,
để tiếp tục duy trì và phát huy hơn nữa các cuộc vận động, ngày 6 tháng 10 năm 1997, Sư đoàn trưởng
ra chỉ thị về tổ chức hội thi "Máy bay, xe máy, đài trạm tốt, kho xưởng kiểu mẫu, nền nếp chính quy
doanh trại sạch đẹp" năm 1997 với ban chỉ đạo gồm 6 đồng chí và hội đồng chấm thi 7 đồng chí. Chỉ
thị nêu rõ nội dung, thứ tự các bước tiến hành, quy định giải thưởng hội thi, giao nhiệm vụ cụ thể cho
từng cơ quan. Hội thi trở thành thường xuyên một năm hai lần, lần thứ nhất tiến hành vào dịp khai
giảng huấn luyện, lần thứ hai vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 do hội đồng thi sư đoàn tổ chức. Hội thi
lần này bắt đầu từ Trung đoàn 927 và kết thúc vào ngày 7 tháng 11 tại các cơ quan sư đoàn. Ngày 12
tháng 11, hội đồng thi đánh giá, tổng kết, nhấn mạnh điểm nổi bật của hội thi năm nay là nâng cao
tính tự giác và ý thức trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ trong công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa
chữa máy bay, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện; nhận thức
của bộ đội về xây dựng chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng môi trường văn
hoá có tiến bộ hơn. Kết quả Trung đoàn 921 đoạt giải nhất toàn diện.

Ngày 9 tháng 10, sư đoàn ra chỉ thị tổ chức kiểm tra phân cấp kỹ thuật bay năm 1997 do
đại tá Trần Văn Thi, Sư đoàn trưởng làm chủ tịch hội đồng. Hội đồng có nhiệm vụ kiểm tra phân cấp
kỹ thuật đối với phi công Trung đoàn 927, Trung đoàn 921, riêng Trung đoàn 931 do Quân chủng
kiểm tra. Qua 6 ngày làm việc khẩn trương, với tinh thần trách nhiệm cao, khách quan, chính xác, hội
đồng đánh giá kết quả như sau: Trung đoàn 927: 100% phi công đạt khá, giỏi, trong đó có 52,3% giỏi;
Trung đoàn 921: 100% đạt khá, giỏi, trong đó 70% đạt giỏi.

Từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 10, đoàn công tác của Quân chủng tổ chức kiểm tra Trung
đoàn không quân 927 theo nội dung 5 yêu cầu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, do đại tá Mai
Văn Công, Phó tham mưu trưởng Quân chủng làm trưởng đoàn. Qua hai ngày làm việc, đoàn đã đánh
giá đơn vị có nhiều cố gắng, vượt qua nhiều khó khăn, phức tạp, nhiều nhiệm vụ đột xuất, lực lượng
chiến đấu thường xuyên cơ động phân tán… Nhưng trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ khá tốt, phát
huy được bản chất truyền thống, giữ vững là đơn vị vững mạnh toàn diện năm 1997 với điểm chung là
7, 9. Đoàn kiểm tra cũng đã chỉ ra 3 vấn đề mà trung đoàn cần chấn chỉnh để hoàn thành tốt hơn
nhiệm vụ trong thời gian tới.

Ngày 9 tháng 12, sư đoàn báo cáo kết quả huấn luyện năm 1997. Trong năm, khí tượng
không ổn định, thời tiết thay đổi thất thường. Về nhân sự, có sự thay đổi lớn cán bộ, chỉ huy, phi công,
mặt khác nhiệm vụ bay so với các năm trước không giảm, yêu cầu huấn luyện cao hơn, máy bay, khí
tài, đặc biệt là UMIG vẫn trong tình trạng thiếu, xuống cấp thường xuyên phát sinh hỏng hóc, từ đó
làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác huấn luyện bay nói riêng và huấn luyện toàn diện nói chung của
sư đoàn. Song do được quán triệt tốt phương châm chỉ đạo huấn luyện, chỉ huy lãnh đạo các cấp đã
quan tâm sâu sát nên kế hoạch thực hiện trên tất cả các nội dung đạt khá cả về tiến độ và giờ bay. So
với năm 1996, giờ bay bình quân thấp hơn 2,44%, nhưng tỉ lệ phi công có giãn cách bay ít. Trình độ
và chất lượng bay ổn định vững chắc hơn, xử lý bất trắc thuần thục, do vậy đã hạn chế nhiều vụ việc
xấu có thể xảy ra. Công tác tổ chức bay tiến bộ rõ, chấp hành tốt mọi quy định, hiệp đồng dự báo chặt
chẽ, tỉ mỉ, chính xác. Các ngành bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, thông tin radar có nhiều cố gắng, kịp thời
khắc phục khó khăn để phục vụ cho công tác huấn luyện. Qua kiểm tra của Bộ quốc phòng và Quân
chủng đều đánh giá sư đoàn đạt khá cả về nội dung, kế hoạch và chất lượng. Tuy nhiên, còn một số
nhiệm vụ thực hiện ở tỉ lệ thấp cả về chỉ tiêu người tham gia và tiến độ như bay không chiến đạt
19,2% kế hoạch, bắn ném bom đạn thật 75%, bay kỹ thuật phức tạp tối thiểu đạt 39,4%, bay bài tập
chiến thuật đạt 33,3%… Trong năm còn để xảy ra 1 vụ tai nạn bay cấp 2 ở Trung đoàn 927, 10 vụ uy
hiếp an toàn bay, trong đó có 2 vụ nghiêm trọng.

Ngày 29 tháng 12 năm 1997, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Nguyễn Đức Soát ký quyết
định số 483/QĐ-QCKQ về việc giải thể phi đội 2 thuộc Trung đoàn không quân tiêm kích 921. Quyết
định nêu rõ quân số hiện có của phi đội giao cho sư đoàn tự điều chỉnh trong nội bộ trung đoàn và sư
đoàn theo số lượng máy bay hiện có. Sư đoàn thực hiện quyết định trên trong tháng 1 năm 1998.

Năm 1997, sư đoàn triển khai thực hiện nhiệm vụ rất nặng nề với nhiều tác động chi phối
ảnh hưởng, nhiệm vụ đột xuất tăng, trong đó dành nhiều công sức kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống.
Song Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn và các cấp đã quán triệt sâu sắc nghị quyết chỉ thị của trên, có kế
hoạch cụ thể sát sao, luôn bám sát thực tế đơn vị, triển khai thực hiện kiên quyết đồng bộ nhiều biện
pháp nên cơ bản đã hoàn thành được chỉ tiêu kế hoạch đề ra, có nhiều nội dung triển khai thực hiện tốt
và đạt kết quả khá như thực hiện các nhiệm vụ diễn tập chỉ huy tham mưu, thanh tra và kiểm tra toàn
diện đối với các trung đoàn, tổ chức tất cả các phương án bảo vệ bầu cử, mở hội thi, hội thao nên có
tác dụng thiết thực đến hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị.

Trong năm 1997, lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang khu vực huyện Sóc Sơn luôn coi
trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác
chống âm mưu "diễn biến hoà bình" của địch; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn
chính trị an toàn, trong đó Sư đoàn không quân 371 đã hoàn thành tốt chức năng là trưởng cụm trung
tâm huyện Sóc Sơn.

Sư đoàn tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị định và chỉ thị của Chính phủ
như: Nghị định 36/CP, Chỉ thị 137/TTG và các nghị định 39/CP, 40/CP, chỉ thị 404/TTG về đảm bảo
an toàn giao thông đường bộ, đô thị nội bộ, đặc biệt là chỉ thị 814/TTG của Thủ tướng Chính phủ về
bài trừ tệ nạn xã hội. Kết quả 100% đơn vị an toàn, không có đột biến xảy ra, 100% cán bộ chiến sĩ
đều được quán triệt các nghị định, chỉ thị và cam kết thực hiện nghiêm túc. Tiêu biểu Trung đoàn 921.

Kết quả phân loại tổ chức Đảng, đảng viên năm 1997. Đảng bộ cơ sở đạt trong sạch vững
mạnh = 66,6%, Đảng bộ bộ phận đạt trong sạch vững mạnh = 83,3%, tăng 16,7% so với năm 1996,
chi bộ đạt trong sạch vững mạnh = 87,2%, tăng 11,7%, đảng viên đủ tư cách mức 1 đạt 86,6% tăng
2,3%, mức 2: 12,2% giảm 1,2%, mức 3: 1,2%, giảm 0,4% so với năm 1996.

Kết quả của phong trào thi đua quyết thắng năm 1997 có 121 tập thể và 367 cá nhân được
khen thưởng, trong đó 41 đơn vị đạt danh hiệu quyết thắng, 72 chiến sĩ thi đua. Tiêu biểu cho phong
trào thi đua quyết thắng năm 1997 là Trung đoàn 921, tiểu đoàn thông tin thuộc trung đoàn 927, tiểu
đoàn hậu cần Trung đoàn 931, Phòng Hậu cần, Phòng Kỹ thuật.

Ngày 12 tháng 1 năm 1998, Thiếu tướng Nguyễn Đức Soát Tư lệnh Quân chủng kí quyết
định số 01/BBĐ bổ nhiệm trung tá Nguyễn Tất Lượng, tốt nghiệp Học viện Hậu cần (lớp cao học) về
làm phó chủ nhiệm hậu cần sư đoàn. Cùng thời gian này, thượng tá Lê Ngọc Khang, Chủ nhiệm hậu
cần sư đoàn về làm trưởng phòng tham mưu, Cục Hậu cần Quân chủng; thượng tá Bùi Quang Phan,
Chủ nhiệm hậu cần Sư đoàn 370 về làm chủ nhiệm hậu cần sư đoàn. Thượng tá Trần Xuân Lai, Phó
trung đoàn trưởng-Tham mưu trưởng Trung đoàn 297 làm phó tham mưu trưởng sư đoàn.

Ngày 3 tháng 3 năm 1998, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị 126 /CT-SĐ371 về việc thành lập ban
quản lý đất quốc phòng và ban quản lý khu gia đình thuộc Sư đoàn 371. Theo chỉ thị này, ban quản lý
đất quốc phòng gồm 7 thành viên do Phó sư đoàn trưởng-Tham mưu trưởng làm trưởng ban, đồng chí
Phó tham mưu trưởng tác chiến và phó chủ nhiệm hậu cần làm phó ban. Ban quản lý khu gia đình
gồm 6 thành viên do đồng chí phó chủ nhiệm hậu cần làm trưởng ban, đồng chí phó chủ nhiệm chính
trị làm phó ban.

Cùng thời gian này, Sư đoàn trưởng ký quyết định số 114 /QĐ-SĐ371 về việc thành lập
ban thường trực chống tham nhũng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Ban gồm có 7 đồng chí do
đại tá Lại Trọng Kha, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm trưởng ban, thượng tá Phương Minh Hoà,
Phó sư đoàn trưởng-Tham mưu trưởng làm phó trưởng ban. Ban thường trực có nhiệm vụ giúp Đảng
uỷ và ban chỉ huy sư đoàn thực hiện các nhiệm vụ phòng chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận
thương mại trong phạm vi sư đoàn.

Ngày 8 tháng 4 năm 1998, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra chỉ thị về lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ chuyển sân, chuyển trường, tổ chức bay biển và bay hồi phục giáo viên không chiến của
trung đoàn 921, 927. Chỉ thị yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải nhanh chóng triển khai quán triệt
sâu sắc nghị quyết, kế hoạch công tác quân sự quý II năm 1998 của sư đoàn một cách đầy đủ tính khả
thi cao. Trong đó làm tốt việc tổ chức chuyển trường 1 máy bay UMIG của Trung đoàn 931 bàn giao
cho Trường huấn luyện bay-kỹ thuật không quân; đặc biệt lãnh đạo thực hiện công tác chuẩn bị
chuyển sân để tổ chức bay biển, bay hồi phục giáo viên không chiến tại sân bay Kiến An của trung
đoàn 921, 927, 931; chú trọng công tác bảo đảm, hiệp đồng, sắp xếp lực lượng, cơ động chuyển sân
trên không và mặt đất đến quá trình tổ chức bay huấn luyện trên biển và kết thúc về đơn vị phải được
kiểm tra, chỉ đạo chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc, đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Ngày 4 tháng 6 năm 1998, Thượng tướng Phạm Văn Trà ký quyết định số 121/QPQ bổ
nhiệm thượng tá Bùi Minh Tiến, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 làm phó sư đoàn trưởng về chính
trị. Cùng thời gian này, thượng tá Nguyễn Khắc Thanh, Phó tham mưu trưởng sư đoàn được Quân
chủng điều động về làm phó hiệu trưởng Trường dự bị bay sơ cấp kỹ thuật nghiệp vụ Không quân.
Ngày 6 tháng 7 năm 1998, Tư lệnh Quân chủng Không quân, ký quyết định số 318, 319,
320/QĐ-QCKQ về việc tách lực lượng kỹ thuật hàng không ra khỏi các phi đội bay để tổ chức thành
tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật hàng không trực thuộc trung đoàn và chấn chỉnh tổ chức biên chế Trung
đoàn không quân tiêm kích 921, 927, 931 thuộc Sư đoàn không quân 371. Theo quyết định này, ở các
trung đoàn bay của sư đoàn, lực lượng kỹ thuật được tách ra để tổ chức thành tiểu đoàn bảo đảm kỹ
thuật hàng không trực thuộc trung đoàn. Tổ chức gồm: Chỉ huy trung đoàn, ban tham mưu, ban quân
huấn, ban chính trị, phi đội 1, phi đội 2, tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật hàng không, tiểu đoàn đảm bảo kỹ
thuật sân bay, tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật thông tin radar.

Căn cứ nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng, ngày 25 tháng 7 năm 1998, Đảng uỷ sư đoàn
ra nghị quyết về tăng cường lãnh đạo bảo đảm an toàn bay và đấu tranh phòng ngừa tai nạn bay, đây
là nghị quyết có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của sư đoàn.

Trong nhiều năm qua, công tác tổ chức chỉ huy bay có nhiều tiến bộ, đổi mới nội dung,
phương pháp huấn luyện sát với đặc điểm đối tượng và yêu cầu thực tế của sư đoàn. Lãnh đạo, chỉ
đạo chặt chẽ công tác phòng ngừa tai nạn bay và đảm bảo an toàn bay nên đã có tiến bộ nhất định, 6
tháng đầu năm 1998 không để xảy ra tai nạn bay và uy hiếp an toàn bay. Các mặt công tác bảo đảm kỹ
thuật hàng không, kỹ thuật hậu cần có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn khách quan, hoạt động công
tác đảng, công tác chính trị trong lĩnh vực này được chú trọng hơn.

Song so với yêu cầu nhiệm vụ, công tác đấu tranh phòng ngừa tai nạn và đảm bảo an toàn
bay hiệu quả còn thấp, còn để xảy ra 3 vụ tai nạn bay có cấp, 1 vụ cấp 1 (Trung đoàn 931), 2 vụ tai
nạn cấp 2 (trung đoàn 927) và đáng lưu ý hơn các vụ trên đều rơi vào tháng 7 của các năm 1996,
1997, 1998 và vào thời điểm chuẩn bị hội nghị quân chính sư đoàn, ngoài ra còn để xảy ra 15 vụ uy
hiếp an toàn, trong đó có vụ nghiêm trọng. Nghị quyết cũng chỉ ra nguyên nhân khách quan và 7
nguyên nhân chủ quan.

Trong phương hướng, nghị quyết đề ra 7 nội dung và biện pháp chủ yếu, trong đó nhấn
mạnh: Phải tổ chức quán triệt và triển khai nghiêm túc các nghị quyết chỉ thị của Đảng uỷ Quân
chủng, sư đoàn, làm cho mọi người có nhận thức đúng đắn về bảo đảm an toàn bay "Phát huy nội
lực", tự lực tự cường" khai thác và sử dụng có hiệu quả các trang bị, kỹ thuật hiện có, nâng cao trách
nhiệm cá nhân, ý thức tự giác trong chấp hành chế độ, điều lệnh, điều lệ, tích cực chủ động đấu tranh
phòng ngừa tai nạn bay và uy hiếp an toàn bay.

Ngày 6 tháng 8 năm 1998, sư đoàn trưởng ký quyết định kiện toàn ban chỉ đạo cuộc vận
động "Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông".
Theo quyết định này, hợp nhất ban chỉ đạo cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí, kỹ thuật tốt,
bền, an toàn tiết kiệm" và ban chỉ đạo an toàn giao thông thành 1 ban gồm có 12 đồng chí do thượng
tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng quân huấn làm trưởng ban; thượng tá Vũ Xuân Bình, Chủ
nhiệm kỹ thuật làm phó ban thường trực; thượng tá Nguyễn Đình Loan, Phó chủ nhiệm chính trị sư
đoàn làm phó trưởng ban.

Từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 28 tháng 8 năm 1998. Hội nghị đại biểu Đảng bộ Sư đoàn
371 lần thứ XI (giữa nhiệm kì), tiến hành và thành công tốt đẹp…
Về dự đại hội có 89 đại biểu chính thức, 5 đại biểu dự khuyết. Mục đích của hội nghị là
kiểm điểm, đánh giá kết quả làm rõ ưu khuyết điểm, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ sau 2 năm rưỡi thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ sư
đoàn lần thứ XI (1996-2000). Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tiễn để bổ sung, điều
chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu biện pháp nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ còn lại mà nghị quyết đại
hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ X đã xác định.

Báo cáo chính trị của Đảng uỷ sư đoàn tại hội nghị đại biểu Đảng bộ lần này đã đánh giá
"Qua 2 năm rưỡi thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ XI, Đảng bộ đã lãnh đạo khá
tốt nhiệm vụ quân sự, tạo được sự chuyển biến tiến bộ về trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng chiến
đấu được nâng lên, huấn luyện bay có chất lượng, tiến độ, sát với yêu cầu chiến đấu. Các mặt bảo đảm
cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy có chuyển biến tốt, đời sống
bộ đội ngày càng được cải thiện".

Báo cáo cũng chỉ ra những khuyết điểm tồn tại trên các lĩnh vực sẵn sàng chiến đấu, huấn
luyện, duy trì các chế độ quy định và quản lý kỷ luật bộ đội, công tác đảm bảo kỹ thuật hàng không,
kỹ thuật hậu cần nhất là lãnh đạo đảm bảo an toàn bay chưa hiệu quả, để xảy ra nhiều vụ tai nạn bay
và uy hiếp an toàn bay, so với nhiệm kỳ trước tăng cả tỉ lệ số vụ uy hiếp an toàn bay và tai nạn bay.
Hội nghị đề ra 4 mục tiêu, nhiệm vụ và 5 chủ trương giải pháp để lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt các
chỉ tiêu còn lại từ 1998-2000 và tiến hành bầu bổ sung 5 đồng chí vào ban chấp hành Đảng bộ sư đoàn
nhiệm kỳ mới: Nguyễn Duy Chung, Bùi Quang Phan, Phan Hồng Quân, Đỗ Đức Minh, Đỗ Trọng
Đạt.

Ngày 26 tháng 9 năm 1998, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định số 452/QĐ-QCKQ về việc
chấn chỉnh tổ chức biên chế cơ quan và trực thuộc cơ quan Sư đoàn Không quân 371. Theo quyết định
này, cơ quan sư đoàn bao gồm chỉ huy sư đoàn, 5 phòng: Tham mưu, Chính trị, Quân huấn, Kỹ thuật,
Hậu cần. Trực thuộc Phòng Tham mưu gồm: tổ văn thư bảo mật, đại đội thông tin sở chỉ huy, đại đội
phòng hoá, trung đội cảnh vệ. Trực thuộc Phòng Chính trị có bộ phận câu lạc bộ, trực thuộc Phòng
Hậu cần gồm đại đội xe vận tải, tổ điện nước, tổ công vụ, nhà ăn cơ quan sư đoàn, nhà trẻ, trạm xá sư
đoàn, kho xăng dầu F.A.

Cùng ngày, Tư lệnh Quân chủng Không quân ký quyết định về việc chấn chỉnh tổ chức
biên chế tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật sân bay Kiến An trực thuộc Sư đoàn không quân. Theo quyết
định này, tổ chức của tiểu đoàn bao gồm: Chỉ huy tiểu đoàn, trợ lý nhân viên trực thuộc, đội khí
tượng, tài chính, quân nhu, quân y, xây dựng quản lý nhà đất 3 đội: Xe tổng hợp, công binh sân bay,
cảnh vệ sân bay, 3 đại đội kho vũ khí hàng không, thông tin, sân bay Cát Bi.

Ngày 15 tháng 9 năm 1998, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị 895/CT-SĐ về việc tham gia diễn tập
HĐ-98 với Vùng I hải quân. Theo chỉ thị này, sư đoàn tổ chức 3 lần/chuyến bay khu vực trên biển
theo nội dung bài bay, đúng giáo trình huấn luyện và thực hiện tại không vực quy định.

Để làm tốt nhiệm vụ này, sư đoàn cử đoàn cán bộ trực tiếp xuống Hải Phòng chỉ đạo, giúp
đỡ Trung đoàn 927, căn cứ Kiến An thực hiện nhiệm vụ, thành phần gồm thủ trưởng sư đoàn, các
phòng Quân huấn, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật, các trưởng ban tác chiến, dẫn đường, thông tin.
Ngày 22 tháng 10 năm 1998, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về tổ chức hội thi "Máy bay, xe
máy, đài trạm tốt, kho xưởng kiểu mẫu, nền nếp chính quy, doanh trại sạch đẹp, môi trường văn hoá "
năm 1998 và quyết định thành lập hội đồng chấm thi gồm 9 đồng chí, 1 đồng chí chủ tịch, 2 phó chủ
tịch. Cũng như mọi năm, hội thi lần này đã trở thành một hoạt động mang tính thường xuyên nhằm
động viên cán bộ, chiến sĩ đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để
nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và các việc khác nhằm một lần
nữa quán triệt quan điểm tự lực, tự cường "giữ tốt, dùng bền, an toàn tiết kiệm" và "phát huy nội lực"
của các đơn vị. Đánh giá đúng thực trạng những ưu khuyết điểm các đơn vị, cá nhân trong công tác
quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật trong xây dựng chính quy, xây dựng doanh trại và môi trường văn
hoá, lựa chọn những điển hình tiên tiến để nêu gương học tập.

Tham gia hội thi gồm các đơn vị trực thuộc sư đoàn, Trung đoàn 931 là đơn vị làm điểm.
Sau một thời gian tiến hành theo kế hoạch, ngày 18 tháng 12 năm 1998, hội đồng thi đánh giá kết quả:
Về máy bay: nhất Trung đoàn 921, nhì Trung đoàn 931, ba Trung đoàn 927. Về xe máy: nhất Trung
đoàn 931, nhì căn cứ Kiến An, ba Trung đoàn 927. Về kho: nhất Trung đoàn 927, nhì căn cứ Kiến An,
ba Trung đoàn 921, 931. Về xưởng: nhất Trung đoàn 931, nhì Trung đoàn 927, 921. Nền nếp chính
quy: nhất Trung đoàn 921, nhì căn cứ Kiến An, ba Trung đoàn 931. Doanh trại sạch đẹp: nhất căn cứ
Kiến An, nhì Trung đoàn 931, ba Trung đoàn 921. Môi trường văn hoá: nhất căn cứ Kiến An, nhì
Trung đoàn 931, ba Trung đoàn 921. Xếp loại toàn diện: Nhất Trung đoàn 931, nhì Trung đoàn 921,
ba căn cứ Kiến An, Trung đoàn 927.

Năm 1998, sư đoàn thực hiện nhiệm vụ quân sự trong điều kiện thời tiết diễn biến phức
tạp, trái quy luật hàng năm, tổ chức biên chế có thay đổi, hầu hết máy bay đã qua trung tu, đại tu, bảo
đảm khí tài thay thế khó khăn, phát sinh hỏng hóc ngày càng nhiều. Tuy nhiên, sư đoàn đã có nhiều cố
gắng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.

Đã duy trì nghiêm chế độ nền nếp sẵn sàng chiến đấu từ sở chỉ huy đến các biên đội trực
ban, các phân đội mặt đất. Trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu được củng cố, nhất là lực lượng
mũi nhọn cho từng nhiệm vụ như bay không chiến, bay đêm, bay biển, bay bài tập chiến thuật. Ý thức
cảnh giác của bộ đội và khả năng xử lý tình huống của các thành phần có tiến bộ hơn. Giờ bay huấn
luyện đạt 79,2% kế hoạch năm, đã tích cực tổ chức bay không chiến, bay bài tập chiến thuật, bay biển
với chất lượng khá, góp phần nâng cao trình độ của phi công và chỉ huy các cấp.

Năm 1998, sư đoàn tổ chức quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của trên đạt 95,5% quân số.
Kết quả kiểm tra chính trị 100% đạt yêu cầu, sĩ quan, quân nhân hưởng lương có 79,1% khá giỏi.
Đảng viên đủ tư cách 100%, trong đó mức I đạt 87,5%; 66% Đảng bộ cơ sở; 77% Đảng bộ bộ phận và
84,2% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh. Dẫn đầu các cụm thi đua là Trung đoàn 931, tiểu đoàn thông
tin Trung đoàn 931, tiểu đoàn căn cứ Kiến An, tiểu đoàn huấn luyện.

Tuy nhiên, năm 1998, sư đoàn còn bộc lộ những điểm yếu sau: Công tác quản lý chính trị
nội bộ chưa chặt chẽ, ý thức cảnh giác chưa cao nên còn để xảy ra vụ việc nghiêm trọng; huấn luyện
bay đạt thấp, nhiều nội dung chưa hoàn thành, còn để xảy ra 2 vụ tai nạn bay cấp 2, bảo đảm kỹ thuật
hàng không chất lượng chưa cao, tình trạng máy bay phát sinh hỏng hóc nhiều.
Sư đoàn đưa ra một số nhiệm vụ quân sự chủ yếu năm 1999, mục tiêu công tác huấn luyện
bay là giữ trình độ sẵn sàng chiến đấu và các mũi nhọn của các khoa mục chủ yếu, giờ bay toàn sư
đoàn 1.848 giờ, trong đó bay huấn luyện 1.748 giờ, bình quân một phi công bay 24 giờ 24 phút.

Căn cứ vào chỉ thị của Quân chủng về đổi mới công tác thi đua khen thưởng, ngày 17
tháng 12 năm 1998, đại tá Trần Văn Thi, Sư đoàn trưởng ký quyết định về việc thành lập hội đồng thi
đua khen thưởng gồm 9 đồng chí do Sư đoàn trưởng làm chủ tịch hội đồng, Phó sư đoàn trưởng về
chính trị làm phó chủ tịch thường trực. Hội đồng có nhiệm vụ quyền hạn thực hiện sự phối hợp giữa
các cơ quan, sư đoàn trong việc tổ chức phong trào thi đua quyết thắng, đảm bảo cho phong trào phát
triển mạnh mê, rộng khắp, đúng hướng, có hiệu quả.

Ngày 17 tháng 12 năm 1998, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về công tác kỹ thuật hàng
không. Nghị quyết nêu rõ: Từ sau khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, không
còn nguồn viện trợ. Vũ khí trang bị đều phải mua bằng ngoại tệ mạnh. Sư đoàn được trang bị và sử
dụng thống nhất một loại máy bay, hầu hết đều đã qua trung tu tại nhà máy A32 hoặc phải tăng hạn sử
dụng, do đó qua nhiều năm sử dụng, máy bay đã cũ, hỏng hóc phát sinh nhiều. Đội ngũ cán bộ, nhân
viên kỹ thuật hàng không có đủ số lượng, kinh nghiệm chỉ huy, điều hành tổ chức cấp tiểu đoàn chưa
nhiều.

Nhưng với sự phấn đấu nỗ lực của ngành kỹ thuật hàng không nên hàng năm đã cơ bản
hoàn thành được chỉ tiêu về hệ số kỹ thuật và năm 1998 khó khăn nhất vẫn đạt Ksd = 0,80/0,87, Kkt =
0,88/0,8; Kbđ = 0,71/0,74; đã có nhiều biện pháp để đảm bảo số lượng, chất lượng kỹ thuật hàng
không, thực hiện tốt 4 giai đoạn bay và duy trì có nền nếp các chế độ bảo quản vũ khí, trang bị, kỹ
thuật. Triển khai tích cực có hiệu quả cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt,
bền, an toàn tiết kiệm". Riêng năm 1998 sửa chữa 470/500 hỏng hóc, hồi phục 2 máy bay, 2 động cơ.

Bên cạnh những thành tích, ưu điểm, nghị quyết cũng chỉ ra 5 thiếu sót, khuyết điểm tồn
tại, trong đó nhấn mạnh công tác bảo đảm kỹ thuật hàng không chưa thật vững chắc, duy trì nền nếp
công tác kỹ thuật có lúc có nơi còn lỏng lẻo, vài trò trách nhiệm, năng lực chỉ đạo, chỉ huy của cán bộ
kỹ thuật các cấp và ý thức kỷ luật của cán bộ nhân viên có lúc, có nơi chưa được đề cao.

Trong phần phương hướng, nghị quyết đề ra 10 chủ trương và giải pháp chủ yếu, trong đó
nhấn mạnh: Tập trung làm chuyển biến căn bản về nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, lãnh
đạo, chỉ huy các cấp. Tăng cường các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng lòng tin cơ sở
khoa học, làm cho mọi người thấy hết vai trò trách nhiệm đi sâu nghiên cứu, học tập nâng cao kiến
thức, trình độ chuyên môn kỹ thuật.

Giai đoạn 1986- 1998, đánh dấu một giai đoạn mới của đất nước. Với các nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII cán bộ chiến sĩ Sư đoàn không quân 371 càng tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam. Trong những năm đầu
thập niên 90, trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, nguồn viện trợ
về trang bị vũ khí, khí tài kỹ thuật hàng không không còn nữa đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực
hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, nhưng với tinh thần tự lực, tự cường, cán bộ, chiến sĩ
Sư đoàn không quân 371 vượt qua khó khăn, thử thách, tiến hành nghiên cứu, tăng hạn sửa chữa, phát
huy hàng trăm sáng kiến cải tiến kỹ thuật đảm bảo máy bay, khí tài phục vụ các nhiệm vụ. Nhiều năm
liền Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, sư đoàn được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý.

Chương 6
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ĐƠN VỊ ANH HÙNG, RA SỨC XÂY DỰNG SƯ ĐOÀN
VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN, QUYẾT TÂM BẢO VỆ VỮNG CHẮC BẦU TRỜI TỔ QUỐC VIỆT
NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1999- 2007)

I. SƯ ĐOÀN TRONG ĐỘI HÌNH QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
(1999- 2001)

Những năm cuối thế kỷ XX, công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo đã thu được nhiều
thành tựu to lớn. Kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng cao, thoát ra khỏi khủng hoảng, nhưng vẫn
thiếu bền vững. Tình hình kinh tế, xã hội tuy ổn định nhưng còn nhiều mặt bức xúc, tiềm ẩn nguy cơ.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ
và nhiều thủ đoạn, hình thức chống phá cách mạng nước ta. Trên thế giới, nhiều cuộc chiến tranh và
xung đột vũ trang giữa các quốc gia, các vùng nóng, điểm nóng diễn ra và tồn tại nhiều nơi.

Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều vấn đề mới về tăng
cường quốc phòng và an ninh quốc gia. Nhằm xây dựng Quân đội nhân dân Việt nam theo hướng
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương
chấn chỉnh, sắp xếp lại tổ chức lực lượng để tăng cường và nâng cao sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng
chiến đấu của Quân đội nhân dân trong điều kiện mới.

Đứng trước tình hình đó, Đảng uỷ và ban chỉ huy sư đoàn tập trung mọi nỗ lực nhằm nâng
cao khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong tình hình mới. Trước hết, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 94/NQ-ĐUQSTW của Đảng uỷ
quân sự Trung ương về "Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới", Đảng uỷ sư đoàn đã
nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các nội dung, quan điểm nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương,
chương trình hành động của Đảng uỷ Quân chủng, phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ trong
những năm qua, xác định chương trình hành động đến năm 2000 nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới.

Ngày 11 tháng 1 năm 1999, Đảng uỷ sư đoàn đã ra chương trình hành động về nội dung
này. Trong phần đánh giá thực trạng, chương trình hành động chỉ rõ những mặt mạnh của công tác cán
bộ và đội ngũ cán bộ. Phần lớn được đào tạo cơ bản trong và nước ngoài, được rèn luyện, trưởng
thành trong hoạt động thực tiễn, một số đồng chí đã trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đội ngũ cán
bộ nói chung, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung
thành với Tổ quốc, với nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và xây
dựng đơn vị. Đội ngũ phi công tuy có số lượng nhỏ, chiếm 9,6% trong toàn đội ngũ nhưng là lực
lượng tiêu biểu cho ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của đơn vị. Đội ngũ cán bộ tham mưu, chính
trị, chuyên môn kỹ thuật đã hoàn thành tất nhiệm vụ của mình. Bên cạnh những mặt mạnh, chương
trình hành động cũng chỉ ra những mặt hạn chế, khuyết điểm về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ
như công tác quy hoạch bồi dưỡng, quản lý sử dụng cán bộ và đề ra những nội dung trọng tâm xây
dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của sư đoàn năm 1999-2000, trong đó chỉ ra mục tiêu yêu cầu
dạt được, tiêu chuẩn và 5 chủ trương biện pháp thực hiện.

Chương trình hành động của Đảng uỷ sư đoàn về xây dựng đội ngũ cán bộ có ý nghĩa và vị
trí rất quan trọng thể hiện việc quán triệt sâu sắc, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, phương
hướng xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ đã được xác định trong nghị quyết Trung
ương 3 (khoá VIII) và nghị quyết 94 của Đảng uỷ quân sự Trung ương nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ
có số lượng hợp lý, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng sư đoàn trước mắt
và lâu dài.

Ngày 15 tháng 3 năm 1999, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết số 63/NQ-ĐU về
công tác phụ nữ trong thời kỳ mới. Phụ nữ sư đoàn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong biên chế đơn vị. Chị
em phụ nữ có mặt ở hầu hết các cơ quan, đơn vị. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, phụ nữ của sư đoàn
luôn phát huy phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt nam, của "Bộ đội Cụ Hồ", thường
xuyên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi
mới, mong muốn được cống hiến sức lực và trí tuệ của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, xây dựng đơn vị, cơ quan, xây dựng gia đình: "no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc".

Trong những năm qua, quán triệt và thực hiện Nghị quyết 04 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 34
của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) về công tác phụ nữ, Đảng uỷ, người chỉ huy, cơ quan các
cấp trong sư đoàn đã có bước chuyển biến về nhận thức, quan điểm, trách nhiệm đối với công tác phụ
nữ, nhưng còn bộc lộ những nhược điểm, hạn chế như phong trào phụ nữ triển khai chưa đồng đều,
phương thức hoạt động còn lúng túng, đơn điệu, nghèo nàn, hiệu quả giáo dục chưa cao. Nghị quyết
đề ra phương hướng và 5 nhiệm vụ chủ yếu công tác phụ nữ những năm tới, trong đó nhấn mạnh cần
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và cơ quan chính trị các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
bồi dưỡng nâng cao kiến thức toàn diện cho phụ nữ.

Cuối quý I năm 1999, có một sự kiện quan trọng của bộ đội phòng không - không quân. Để
thực hiện chủ trương điều chỉnh, sắp xếp lại tổ chức lực lượng Quân đội nhân dân Việt nam của Đảng
và Nhà nước, ngày 3 tháng 3 năm 1999, Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Trần Đức
Lương ký sắc lệnh số 03/L-CTN hợp nhất Quân chủng phòng không và Quân chủng Không quân
thành Quân chủng phòng không - không quân. Tiếp đó, Đảng uỷ quân sự Trung ương ra nghị quyết số
33/NQ-ĐUQSTW về việc hợp nhất hai quân chủng. Cuối tháng 6, Bộ quốc phòng công bố quyết định
và ngày 1 tháng 7 năm 1999 Quân chủng phòng không - không quân chính thức hoạt động. Cán bộ,
chiến sĩ sư đoàn Không quân 371 phấn khởi tự hào, sau 22 năm tách ra để thực hiện nhiệm vụ, những
người lính bảo vệ bầu trời về lại với mái nhà chung là Quân chủng phòng không - không quân. Đối
với thực hiện nhiệm vụ của sư đoàn, công tác hiệp đồng sẽ nhanh chóng, tăng khả năng bảo vệ và sức
mạnh tổng hợp của đơn vị trong phạm vi vùng trời trách nhiệm.

Ngày 24 tháng 6 năm 1999, sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm công tác bảo đảm an
toàn bay (1994- 1999). Thông qua hội nghị này, sư đoàn đánh giá đúng thực trạng tình hình bảo đảm
an toàn bay trong 5 năm qua và đề ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp với điều kiện thực tế của
đơn vị nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an toàn bay trong thời gian tới, qua đó phát hiện
những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc để biểu dương, khen thưởng nhân điển hình cho toàn sư
đoàn.

Trong 5 năm qua, công tác đảm bảo an toàn bay của sư đoàn có nhiều thuận lợi, nhưng
cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là máy bay có trong trang bị đã qua trung tu hoặc tăng hạn sử dụng,
máy bay cũ, hỏng hóc phát sinh nhiều, khí tài thay thế thiếu, từ đó phải dồn dịch, chuyển đổi mất tính
đồng bộ. Năm 1994 có 47 chiếc tốt/59 thì đến năm 1999 là 41 chiếc tốt/57. Có 2.164 lần hỏng hóc kỹ
thuật hàng không, trong đó có 407 lần hỏng hóc trên không. Mặt khác sư đoàn có sự thay đổi lớn về
nhân sự. Riêng phi công, so với năm 1994 giảm 28 đồng chí. Tuy nhiên, lãnh đạo, chỉ huy các cấp
thường xuyên quán triệt và vận dụng tốt nghị quyết lãnh đạo của Quân chủng, phương châm huấn
luyện của trên, có quyết tâm và tích cực tổ chức huấn luyện, hoàn thành chỉ tiêu giữ vững trình độ bay
cho phi công. Công tác đảm bảo an toàn bay đặc biệt được các cấp quan tâm, nhận thức của tuyệt đại
đa số cán bộ, chiến sĩ được nâng lên, trách nhiệm được đề cao, công tác đảm bảo an toàn bay ngày
càng đi vào nền nếp vững chắc hơn.

Bên cạnh đó, trong 5 năm toàn sư đoàn còn để xảy ra 42 vụ trong đó tai nạn bay cấp 1: 1
vụ; tai nạn bay cấp 2: 4 vụ; uy hiếp an toàn bay nghiêm trọng: 10 vụ; uy hiếp an toàn bay 27 vụ. Về
nguyên nhân có 80% số vụ tại nạn bay mà nguyên nhân xảy ra có liên quan đến yếu tố con người. Hội
nghị tìm ra các bài học kinh nghiệm và đề ra chủ trương, phương hướng và những giải pháp chủ yếu
để đấu tranh phòng ngừa, bảo đảm an toàn bay trong những năm tiếp theo.

Trong hội nghị này, sư đoàn trưởng ký quyết định tặng bằng khen cho 6 tập thể, 5 cá nhân,
tặng giấy khen 4 tập thể, 4 cá nhân. Cuối tháng 12 năm 1999, Tư lệnh Quân chủng ký quyết định tặng
bằng khen cho 3 tập thể, 4 cá nhân của sư đoàn có thành tích xuất sắc trong thực hiện công tác bảo
đảm an toàn bay.

Chấp hành nghị quyết và chỉ thị của cấp trên, ngày 1 tháng 7 năm 1999, Đảng uỷ sư đoàn
đã có báo cáo tổng kết công tác dân vận trong 10 năm đổi mới (1990-1999). 10 năm qua, sư đoàn thực
hiện nhiệm vụ trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Khu vực đóng quân
phân tán trên nhiều địa bàn dân cư, hầu hết các căn cứ sân bay từ thành phố đến miền núi đều tiếp cận
các nút giao thông thuỷ bộ và đường không. Tình hình văn hoá xã hội có nhiều vấn đề phức tạp, các
thế lực thù địch triệt để khai thác thế lợi của từng địa bàn để thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình",
bạo loạn lật đổ và những mặt trái của cơ chế thị trường và tình hình tiêu cực xã hội thường xuyên tác
động đến các tầng lớp dân cư và cán bộ, chiến sĩ công nhân viên của đơn vị.

Với truyền thống "Đi dân nhớ, ở dân thương", các cấp uỷ Đảng, chỉ huy đơn vị luôn xác
định xây dựng, củng cố " trận địa được lòng dân" vững chắc là khâu then chốt trong công tác xây
dựng địa bàn trong sạch vững mạnh về chính trị, vấn đề quan trọng, xuyên suốt trong công tác dân
vận của sư đoàn. Tử định hướng chung đó đã khơi dậy được tình cảm cách mạng, phát huy tốt những
thành quả hơn 30 năm quan hệ quân dân của các đơn vị, cơ quan trong sư đoàn để xây dựng nên tình
nghĩa quân dân "như cá với nước".

Tham gia làm thuỷ lợi với nhân dân khu vực các sân bay 1.800 ngày công; khám chữa
bệnh 1.120 lượt người. Chiếu phim phục vụ nhân dân 108 buổi, thi đấu thể thao, bóng đá, bóng
chuyền 193 lần. Toàn sư đoàn đã tích cực hưởng ứng và tham gia các cuộc vận động "xoá đói giảm
nghèo", "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa", "toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở
khu dân cư", tham gia phòng chống và giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai với tổng số tiền
178.303.000Đ, các hoạt động tình nghĩa là 131.818.000Đ, các hoạt động ủng hộ thiếu nhi, học sinh là
21.326.000Đ.

Từ những hoạt động trên, công tác dân vận của sư đoàn 10 năm qua đã góp phần quan
trọng xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
của các đơn vị xứng đáng là những người lính "bộ đội cụ Hồ" trong thời kỳ mới. Với những thành tích
đó, ngày 6 tháng 12 năm 1999, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kí quyết định số 2380/QĐ-BQP tặng cờ
thưởng "Đơn vị có thành tích xuất sắc trong 10 năm (1990- 1999) thực hiện công tác dân vận". Ngày
16 tháng 12 năm 1999, Tư lệnh Quân chủng kí quyết định số 364/QĐ - PK-KQ tặng cờ thưởng thi đua
"Đơn vị dẫn đầu về công tác dân vận 5 nărn (1994- 1999)" cho Sư đoàn 371.

Ngày 9 tháng 8 năm 1999, Đảng uỷ sư đoàn ra chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII ra nghị quyết về "Một số vấn đề
cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay". Đây là một nghị quyết quan trọng
chuyên bàn về công tác xây dựng Đảng, tập trung 3 vấn đề lớn, nhận thức tư tưởng chính trị, đạo đức
lối sống; một số vấn đề tổ chức cán bộ đồng thời mở rộng cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quán triệt và thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Đảng và chương trình hành động của
Đảng uỷ Quân chủng, từ tình hình thực tỏ, Đảng uỷ sư đoàn xác định chương trình hành động của
Đảng bộ sư đoàn từ nay đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Chương trình xác định phương
hướng, mục tiêu gồm 4 nội dung và đề ra 5 nhiệm vụ và biện pháp thực hiện.

Trong phương hướng, mục tiêu, chương trình hành động của Đảng uỷ nhấn mạnh phải tập
trung xây dựng Đảng bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành và kiên định mục tiêu
lý tưởng của Đảng, lãnh đạo sư đoàn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao. Phòng chống có hiệu
quả chiến lược "diễn biến hoà bình", kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mất cảnh giác,
dao động, thiếu lòng tin, giảm sút ý chí. Xây dựng sư đoàn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức,
sẵn sàng nhận và hoàn thành lợi nhiệm vụ được giao. Đối với các nhiệm vụ, biện pháp, chương trình
hành động của Đảng uỷ xác định: Phải làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong
sáng, lành mạnh, đấu tranh khắc phục và ngăn chặn có hiệu quả với những biểu hiện tham nhũng, lãng
phí vi phạm đạo đức lối sống.

Ngày 24 tháng 8 năm 1999, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra chỉ thị số 72/CT-ĐUE về lãnh
đạo nhiệm vụ cơ động lực lượng bay huấn luyện bắn, ném bom đạn tại trường bắn Thọ Xuân.

Chỉ thị nhấn mạnh: Các cấp uỷ Đảng, chỉ huy các đơn vị cơ quan tổ chức quán triệt sâu
sắc, đầy đủ mệnh lệnh của sư đoàn trưởng cho các cán bộ, phi công, chiến sĩ công nhân viên, nhất là
các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ phục vụ và thực hành cơ động bay bắn, ném. Đây là một nội
dung công tác quan trọng của sư đoàn trong tháng 9.
Quán triệt, tổ chức thực hiện chỉ thị của cấp trên, lãnh đạo chỉ huy các cấp đã hoàn thành
tốt nhiệm vụ. Kết quả: Ném bom đạt 58% giỏi; 25% khá; 16,5% đạt yêu cầu. Bắn rốc-két 50% giỏi,
50% khá. Bắn súng 83,4% giỏi, 16,6% khá.

Trong không khí tưng bừng của cả nước vừa kỷ niệm 54 năm cách mạng tháng 8 và Quốc
khánh 2 tháng 9, với niềm tin tưởng hưởng ứng cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngày 23
tháng 9 năm 1999, Sư đoàn 371 tổ chức đại hội thi đua quyết thắng 5 năm (1994-1999).

Đại hội thi đua quyết thắng đánh giá kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng
đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng, bồi dưỡng và nhân các điển hình tiên tiến, từ đó rút ra những
kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào thi đua quyết thắng, xây dựng điển hình tiên
tiến năm 2000 và các năm tiếp theo.

Năm năm qua, sư đoàn thực hiện phong trào thi đua quyết thắng với nhiều sự kiện chính trị
quan trọng. Đó là thành công của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, bầu cử Quốc hội khoá X, kỷ
niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ kính yêu. Sư đoàn tổ chức kỷ niệm 30 năm ngày truyền
thống, 35 năm thành lập trung đoàn 921, 25 năm thành lập Trung đoàn 927, 20 năm thành lập trung
đoàn 931. Đó là nguồn cổ vũ động viên cán bộ chiến sĩ toàn sư đoàn vượt qua khó khăn, hoàn thành
nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho.

Quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng, lãnh đạo chỉ huy các cấp đặc biệt coi trọng công tác
giáo dục chính trị tư tưởng, đã quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và
các nghị quyết của Trung ương nên đã làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần những quan điểm, tư
tưởng, chủ trương đường lối của Đảng, từ đó lòng tin vào sự nghiệp đổi mới được củng cố vững chắc
hơn. Vì vậy, sư đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, trình độ và khả năng chiến đấu
được nâng lên. Trong huấn luyện, các đơn vị đã bám sát phương châm coi trọng cả tiến độ, chỉ tiêu
chất lượng, hiệu quả và an toàn, phát huy được trách nhiệm của cán bộ đảng viên, quần chúng, đẩy
mạnh phong trào xây dựng chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng môi trường
văn hoá lên một bước với chất lượng mới.

Cụ thể: Tổ chức trực ban chiến đấu trên cả 3 sân bay có thời kỳ 4 sân bay với 16.728
lần/chiếc, chuyển cấp sở chỉ huy 1.003 lần, bay nhiệm vụ 415 lần/chuyến. Tổ chức hơn một nghìn ban
bay ngày đêm với hàng chục nghìn chuyến, riêng năm 1995 đạt 113,6%, có 206 lượt phi công hàng
năm bay vượt giờ. Trung đoàn 921 phấn đấu bảo đảm 4 năm an toàn bay.

Với kết quả và thành tích đạt được trong phong trào thi đua quyết thắng, 5 năm sư đoàn đã
có 193 lượt đơn vị quyết thắng, 168 lượt đơn vị tặng bằng khen, 198 lượt đơn vị tặng giấy khen, 7
đồng chí đạt danh hiệu chiến sĩ quyết thắng, 361 cá nhân đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua, 569 cá nhân
được tặng bằng khen. Tiêu biểu cho phong trào thi đua quyết thắng 5 năm qua là 11 tập thể và 14 cá
nhân, trong đó có Trung đoàn 921 ba năm liền đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng.

Ngày 12 tháng 11 năm 1999 sư đoàn báo cáo kết quả thực hiện cuộc vận động "Quản lý,
khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm" và "an toàn giao thông" trong 2 năm
1998- 1999. Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, hướng dẫn của Ban chỉ đạo về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện cuộc vận động trên, trong 2 năm, Sư đoàn 371 đã tiến hành sơ kết ở tất cả các cấp từ
cơ sở (đại đội tiểu đoàn…) đến sư đoàn. Qua sơ kết, đã đánh giá một cách toàn diện kết quả thực hiện
và đề ra phương hướng hoạt động đẩy mạnh cuộc vận động giai đoạn 2000-2002.

Kết quả như sau: Đối với kỹ thuật hàng không, sư đoàn cơ bản bảo đảm đạt chỉ tiêu trên
giao. Ksd: 0,75/0,86, Kkt 0,90/0,78. Kbđ 0,68/0,65. Chuẩn bị bay: 16.562 lần/chiếc, sửa chữa hỏng
hóc 922 lần/chiếc. Hồi phục cho 60 lần/chiếc, thay thế lớn 20 lần chiếc. Huấn luyện tập trung 4.422
lượt/người, học tập tại chức 7.356 lượt/người. Đào tạo sơ cấp kỹ thuật cho 158 người, thi nâng bậc,
kiểm tra tay nghề cho 380 người.

Triển khai phổ biến, quán triệt nghiêm túc các nghị định 36/CP, 49/CP của Chính phủ và
các chỉ thị của cấp trên về an toàn giao thông, có những biện pháp ngăn ngừa hữu hiệu nên số vụ tai
nạn giao thông giảm so với trước đây. Nhân dịp này sư đoàn biểu dương 4 tập thể và 5 cá nhân có
nhiều thành tích trong cuộc vận động.

Trong những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 1999, các tỉnh miền Trung nước ta từ
Quảng Bình đến Bình Định có lũ, lụt lớn, làm thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, để lại hậu quả
lâu dài cho nhân dân các địa phương trên.

Thực hiện lời kêu gọi của Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, đoàn Chủ tịch mặt trận Tổ quốc Việt nam, chỉ thị của Bộ trưởng
Bộ quốc phòng, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân, hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp
trên với tinh thần tương thân, tương ái "lá lành đùm lá rách" hướng về miền Trung ruột thịt, cán bộ,
chiến sĩ, công nhân viên trong toàn sư đoàn đã tham gia tích cực hai đợt vận động giúp đỡ ủng hộ
đồng bào miền Trung. Đợt 1 toàn sư đoàn ủng hộ hai ngày lương cơ bản của những người hưởng
lương và chiến sĩ được 84.620.000Đ; đợt 2 ủng hộ bằng tấm lòng tự nguyện được 11.560.000Đ. Tổng
cộng 2 đợt được 96.180.000Đ.

Với số tiền gần một trăm triệu đồng mà cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên sư đoàn Không
quân 371 ủng hộ, thể hiện trách nhiệm, tình cảm của người lính "Bộ đội Cụ Hồ", thể hiện tình quân
dân thắm thiết, góp phần làm vơi đi nỗi đau và khó khăn của đồng bào miền Trung thân yêu

Căn cứ chỉ thị số 326/CT-SĐ371 ngày 17 tháng 9 năm 1999 của phó sư đoàn trưởng về
chính trị về việc tổ chức thi "Cán bộ chính trị giỏi toàn năng năm 1999", ngày 26 tháng 11 năm 1999
Phòng Chính trị thông báo kết quả cuộc thi này. Đánh giá chung: Lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ các cấp
đã tham gia thi đều quán triệt và nhận thức đúng đắn mục đích, yêu cầu cuộc thi, có trách nhiệm cao
trước đơn vị mình, xây dựng được ý chí quyết tâm, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm. Quá trình tổ chức thi
bảo đám chặt chẽ, nghiêm túc khách quan, trung thực, đánh giá đúng thực tế và khả năng tiến hành
công tác đảng, công tác chính trị trong đội ngũ cán bộ chính trị cơ sở.

Về tập thể: Điểm trung bình cả 4 nội dung thi (quân số, số bài dự thi, môi trường văn hoá,
kết quả kiểm tra toàn diện), giải nhất Trung đoàn 931: 8,60; giải nhì: Trung đoàn 921: 8, 55. Về cá
nhân điểm trung bình của 2 môn thi (phần lý thuyết và thực hành), giải nhất đồng chí Nguyễn Hữu
Quân (trung đoàn 921): 8,18; giải nhì đồng chí Phạm Hồng Lan (trung đoàn 927): 8,06, đồng chí Tố
Xuân Mã (Trung đoàn 931): 8,06; giải ba đồng chí Kiều Xuân Dương (trung đoàn 921), Nguyễn Đình
Thành (trung đoàn 931), Lê Văn Thái (trung đoàn 927).
Thực hiện chương trình hành động của sư đoàn về công tác kỹ thuật hàng không năm
1999, ngành kỹ thuật đã đưa nội dung học tập tiếng Nga vào kế hoạch huấn luyện năm. Để đánh giá
kết quả học tập ở các đơn vị, sư đoàn đã tổ chức kiểm tra đối tượng là kỹ sư và tương đương bằng
hình thức viết chuyên đề kỹ thuật bằng tiếng Nga. Ngày 3 tháng 12 năm 1999 Phòng Kỹ thuật có
thông báo kết quả kiểm tra như sau: Số lượng tham gia kiểm tra toàn sư đoàn là 29 đồng chí, trong đó
Trung đoàn 921 có 11 đồng chí, điểm trung bình 7,7. Trung đoàn 927 có 7 đồng chí, điểm trung bình
7,4. Trung đoàn 931 có 11 đồng chí, điểm trung bình 7,9.

Chấp hành chỉ thị của Sư đoàn trưởng về tổ chức hội thi và kiểm tra xây dựng đơn vị vững
mạnh toàn diện năm 1999, ngày 9 tháng 12 năm 1999 sư đoàn có nhận xét kết quả về nội dung này.
Năm nay, sau khi tổ chức hội thi "Máy bay, xe máy, đài trạm tốt, kho xưởng kiểu mẫu, nền nếp chính
quy, doanh trại sạch đẹp", sư đoàn sẽ tiến hành kiểm tra toàn diện các đơn vị, cơ quan.

Các cơ quan, đơn vị đã xây dựng nội dung, chương trình, quy chế thi, nội dung yêu cầu của
kiểm tra toàn diện, thành lập hội đồng thi, các thành viên ban giám khảo hội thi và thành phần đoàn
kiểm tra bảo đảm tinh gọn, hợp lý, đúng cơ cấu thành phần. Các nội dung thi và kiểm tra toàn diện
được chuẩn bị công phu, kỹ càng và có sự hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể, đi vào chiều sâu và thực chất
hơn. Công tác giáo dục, tuyên truyền cổ động cho hội thi được các cơ quan, đơn vị tiến hành tốt.

Xếp loại về hội thi, nhất toàn diện Trung đoàn 931, nhì Trung đoàn 927, ba Trung đoàn
921, căn cứ Kiến An. Điểm kiểm tra toàn diện các đơn vị: Trung đoàn 931: 8,39; Trung đoàn 927:
8,26; Trung đoàn 921: 8,25; căn cứ Kiến An: 8, 15. Điểm kiêm tra toàn diện các cơ quan sư đoàn do
Quân chủng chấm, kết quả như sau: Công tác tham mưu: 8,36; công tác đảng, công tác chính trị: 8,75;
công tác quân huấn: 8,30; công tác kỹ thuật hàng không: 8,40; công tác hậu cần: 8, 30. Điểm trung
bình 8, 39. Sư đoàn trưởng ký quyết định tặng bằng khen cho Trung đoàn 931, tiểu đoàn kỹ thuật hàng
không, Trung đoàn 921, ngành xe máy Trung đoàn 931, tiểu đoàn thông tin radar ánh sáng Trung đoàn
927 và 5 bằng khen, 3 giấy khen cho các ngành ở các đơn vị đạt kết quả cao.

Căn cứ hướng dẫn số 493/HD-CT ngày 19 tháng 8 năm 1998 của Tổng cục Chính trị về
khen thưởng tổ chức Đảng và đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt nam; căn cứ vào quyền hạn
khen thưởng của Đảng uỷ sư đoàn và kết quả phấn đấu xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh
của các đảng viên, ngày 6 tháng 1 năm 2000, Bí thư Đảng uỷ sư đoàn Bùi Minh Tiến ký quyết định số
03/QĐKT- ĐUF về việc khen thưởng đảng viên năm 1999. Theo quyết định này, 68 đảng viên trong
toàn Đảng bộ được tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Đảng.

Ngày 14 tháng 12 năm 1999, Trung tướng Nguyễn Đức Soát Tư lệnh Quân chủng phòng
không - không quân ra mệnh lệnh số 410/ML- PK-KQ, giao nhiệm vụ công tác quân sự năm 2000 cho
sư đoàn. Nhiệm vụ của sư đoàn được Quân chủng giao là tổ chức lực lượng trực ban chiến đấu, duy
trì nghiêm lực lượng trực ban sẵn sàng chiến đấu theo chỉ lệnh sẵn sàng chiến đấu và theo chế độ sẵn
sàng chiến đấu đã được Tư lệnh Phòng không - không quân ban hành năm 1999.

Hiệp đồng chặt chẽ với các sư đoàn phòng không 361, 363, 365 và các đơn vị bạn có liên
quan tổ chức quản lý chặt chẽ vùng trời, quản lý điều hành bay trong khu vực trách nhiệm, không để
lỡ thời cơ cất cánh chiến đấu, khai thác hiệu quả các trạm radar cảnh giới cho dẫn đường. Tổ chức
trinh sát và bay trinh sát tuần tiễu, nghiên cứu nắm chắc địch, tích cực đối phó kịp thời với các thủ
đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, các hoạt động lấn chiếm chủ quyền trên biển đảo và biên
giới của các thế lực phản động và đối tượng khác. Duy trì nghiêm nền nếp chế độ trực ban nội vụ, lực
lượng sẵn sàng chiến đấu A2, thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ, làm văn kiện A3. Tham gia diễn
tập thực nghiệm chỉ huy - tham mưu cho cụm lực lượng tác chiến phòng không - không quân phía bắc
do Quân chủng tổ chức.

Sư đoàn tổ chức diễn tập chỉ huy - tham mưu cho một đến hai trưởng đoàn…

Ngày 31 tháng 12 năm 1999, Thượng tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kí
quyết định số 265/QPĐ điều động đại tá Trần Văn Thi, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 371 về làm sư đoàn
trưởng Sư đoàn 370; bổ nhiệm đại tá Phương Minh Hoà, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng làm
sư đoàn trưởng Sư đoàn 371; thượng tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng huấn luyện làm phó sư
đoàn trưởng - tham mưu trưởng; thượng tá Đỗ Minh Tuấn, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 làm
phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 371.

Năm 2000 là năm chuẩn bị bước sang thế kỷ mới, tình hình thế giới tiếp tục có những biến
động phức tạp, đầy bất trắc. Khu vực Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động song tiềm ẩn nhiều
nhân tố gây mất ổn định. Đất nước ta chuẩn bị vào thế kỷ XXI với thế và lực mới nhưng cũng đang
đứng trước những thử thách lớn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại và diễn biến khó lường.

Quân chủng phòng không - không quân vừa sáp nhập đang trong quá trình chấn chỉnh tổ
chức biên chế, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy tinh nhuệ và từng bước
hiện đại nhưng còn nhiều khó khăn.

Sư đoàn tuy có tổ chức biên chế và nhiệm vụ ổn định, những kết quả, thành tích mà sư
đoàn lập được đã tạo niềm tin tưởng và tự hào, phấn khởi trong toàn Đảng bộ và đơn vị. Tuy vậy sư
đoàn cũng đang đứng trước những thử thách gay gắt. Đó là: Sư đoàn được trang bị đồng nhất một loại
máy bay MiG-21, nhưng đã qua hơn 20 năm sử dụng đang tiếp tục xuống cấp, dễ phát sinh hỏng hóc
phức tạp. Lực lượng phi công tuổi trung bình ngày càng cao, trong khi đó nhiệm vụ được giao khá
nặng nề. Sư đoàn phải tổ chức huấn luyện bay ngày, bay đêm trên các sân bay miền Bắc là khu vực có
điều kiện khí hậu rất phức tạp và không ổn định, tổ chức trực ban chiến đấu ban ngày ở tất cả các
trung đoàn và trực ban chiến đấu ban đêm ở Trung đoàn 921.

Căn cứ vào mệnh lệnh quân sự của Tư lệnh Quân chủng giao, ngày 7 tháng 1 năm 2000,
Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về nhiệm vụ công tác quân sự năm 2000 giao cho các đơn vị: Các trung
đoàn không quân 921, 927, 931; các tiểu đoàn căn cứ Kiến An, Nà Sản và tiểu đoàn huấn luyện.

Ngày 8 tháng 1 năm 2000, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết số 05/NQ-ĐU về lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ. Nghị quyết đã đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 1999 và đề ra phương
hướng nhiệm vụ năm 2000 nhằm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và xây dựng Đảng bộ sư đoàn
trong sạch vững mạnh.

Đảng uỷ sư đoàn yêu cầu các cấp uỷ Đảng, chỉ huy đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên, chiến
sĩ, công nhân viên quốc phòng phát huy kết quả đạt được của năm 1999, quán triệt sâu sắc tình hình
nhiệm vụ năm 2000, kiên quyết thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng uỷ sư đoàn.
Căn cứ vào kết quả hội nghị Đảng uỷ về việc kiện toàn Đảng uỷ sư đoàn, ngày 11 tháng 2
năm 2000, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân ra quyết nghị chỉ định bổ
sung đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng vào Đảng uỷ sư đoàn; chuẩn y kết quả bầu cử đồng
chí Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng làm phó bí thư Đảng uỷ, đồng chí Trần Văn Thanh, Phó sư
đoàn trưởng - Tham mưu trưởng làm uỷ viên thường vụ.

Tháng 2 năm 2000, căn cứ vào quyết định của Tư lệnh Quân chủng về việc thành lập ban
vì sự tiến bộ và bảo vệ chăm sóc trẻ em trong Quân chủng, Sư đoàn trưởng ra quyết định số 21/QĐ-
SĐ371 thành lập ban "Vì sự tiến bộ của phụ nữ và bảo vệ chăm sóc trẻ em" để giúp cấp uỷ, người chỉ
huy tiến hành công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bảo vệ chăm sóc trẻ em trong sư đoàn. Ban gồm 10
đồng chí thành viên do đại tá Bùi Minh Tiến, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm trưởng ban. Ban đã
ra quy chế hoạt động và phương hướng nhiệm vụ công tác.

Cũng trong tháng 2 năm 2000, trong sư đoàn liên tiếp xảy ra các vụ vi phạm kỷ luật, mất
an toàn giao thông của cán bộ, chiến sĩ, vì vậy, ngày 28 tháng 2, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về tháng
hành động chấm dứt các vi phạm kỷ luật tính từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 31 tháng 3 năm 2000.

Ngày 30 tháng 3 năm 2000, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 99/CT-SĐ về tổ chức huấn luyện
bay biển, bay hồi phục giáo viên không chiến tập trung tại sân bay Kiến An. Theo chỉ thị của Sư đoàn
trưởng, từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2000, sư đoàn tổ chức cơ động một phần lực lượng của Trung
đoàn 921 và Trung đoàn 927 tiến hành huấn luyện bay biển tập trung ở sân bay Kiến An trong thời
gian từ tháng 5 đến tháng 8. Đợt huấn luyện chia làm hai giai đoạn.

Giai đoạn 1: Tổ chức huấn luyện bay biển, giai đoạn 2: tổ chức lực lượng giáo viên bay
không chiến của hai trung đoàn để bay hồi phục. Kết thúc đợt huấn luyện các lực lượng tham gia bay
biển và bay hồi phục hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra, đáp ứng được mục đích yêu cầu huấn
luyện và đạt chất lượng tốt.

Thực hiện kế hoạch huấn luyện chiến dịch năm 2000 đã được Tư lệnh Quân chủng phê
duyệt, ngày 27 tháng 4, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về tổ chức diễn tập chỉ huy - tham mưu 1 cấp, 1 bên
trên bản đồ tại sở chỉ huy và có thực hành cơ động một đại đội kỹ thuật ra khu làm việc tập trung bí
mật cho Trung đoàn không quân tiêm kích 927. Đề bài diễn tập là: "Hoạt động chiến đấu của trung
đoàn không quân tiêm kích trong tổ chức phòng tránh đánh trả tiến công đường không của địch".

Thực hiện chỉ thị diễn tập của Sư đoàn trưởng, các cơ quan phòng, ban sư đoàn và Trung
đoàn không quân 927 đã triển khai nghiêm túc, tổ chức thành công cuộc diễn tập mang mật danh ĐB
-2000 cho Trung đoàn không quân 927 đúng kế hoạch, thời gian và đạt kết quả tốt.

Chấp hành quyết định số 54/QĐ- PK-KQ của Tư lệnh Quân chủng, trong quý I năm 2000,
sư đoàn đã quy hoạch, chấn chỉnh tổ chức biên chế 4 trạm radar: đại đội 42 thuộc Trung đoàn 921, đại
đội 43 thuộc Trung đoàn 927, đại đội 52 thuộc Trung đoàn 931 và c46 thuộc căn cứ Kiến An, Cát Bi
với nhiệm vụ xuyên suốt là dẫn đường cho các máy bay từ ngoài vòng kiểm soát của radar hạ cánh
trên tuyến, cách sân bay 50km.

Ngày 6 tháng 5 năm 2000, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về lãnh đạo nhiệm
vụ bảo vệ biên giới, vùng biển, vùng trời trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã
hội chủ nghĩa. Các đảng bộ, chi bộ trực thuộc sư đoàn đã tiến hành quán triệt nghị quyết của thường
vụ Đảng uỷ sư đoàn đến từng cán bộ, đảng viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2000, sư đoàn tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm công tác tư tưởng - văn
hoá trong giáo dục, quản lý rèn luyện kỷ luật bộ đội từ năm 1996 đến năm 2000. Hội nghị đã đánh giá
đặc điểm tình hình và kết quả công tác tư tưởng - văn hoá trong giáo dục, rèn luyện kỷ luật cho bộ đội
trong 5 năm (1996-2000) và vạch ra những chủ trương biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công
tác tư tưởng văn hoá trong giáo dục, quản lý, rèn luyện kỷ luật bộ đội trong tình hình mới.

Ngày 19 tháng 6 năm 2000, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Rinh kí quyết định số
67/QPĐ bổ nhiệm thượng tá Bùi Quang Phan, Chủ nhiệm hậu cần sư đoàn giữ chức phó chủ nhiệm
hậu cần Quân chủng. Cùng thời gian này, Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Tư lệnh Quân chủng kí
quyết định số 15/BAĐ bổ nhiệm trung tá Nguyễn Tất Lượng, Phó chủ nhiệm hậu cần sư đoàn làm chủ
nhiệm hậu cần sư đoàn; trung tá Đinh Quang Ổn, Chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn 916 làm phó chủ
nhiệm hậu cần sư đoàn; trung tá Lê Văn Ái, tốt nghiệp Học viện Phòng không - không quân giữ chức
phó tham mưu trưởng sư đoàn. Trước đó, trung tá Nguyễn Quang Hiệp, tốt nghiệp Học viện Phòng
không -Không quân được Tư lệnh Quân chủng bổ nhiệm phó tham mưu trưởng sư đoàn.

Ngày 30 tháng 6 năm 2000, sư đoàn tổ chức hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện nghị quyết
Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân và Đảng uỷ sư đoàn về kỹ thuật hàng không (1999-
2000).

Hội nghị đã đánh giá thực trạng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện nghị
quyết của các cấp, chỉ rõ ưu khuyết điểm và rút ra kinh nghiệm, bài học bổ ích cho công tác kỹ thuật
hàng không. Hội nghị tập trung thảo luận đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết và chương trình hành
động về công tác này của sư đoàn.

Từ năm 1999 đến năm 2000, sư đoàn đã giáo dục tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ các cấp,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên và hạ sĩ quan chiến sĩ ý thức tự giác tích cực tham gia các
cuộc vận động "Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao
thông". Với quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, sư đoàn đã phát động các phong trào thi đua,
các phong trào thanh niên tham gia làm tốt công tác kỹ thuật hàng không như phong trào “máy bay
thanh niên", "kho xưởng thanh niên", "tuần bay thanh niên". Các hội thi và các phong trào: "Phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khai thác sử dụng có hiệu quả vũ khí trang bị kỹ thuật hiện có", "Rèn
luyện tay nghề, rèn luyện tác phong công nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đảm bảo
kỹ thuật hàng không” đã có kết quả tốt góp phần khắc phục và làm giảm bớt được những khó khăn
gay gắt của thực trạng kỹ thuật hàng không để đảm bảo cho hoạt động bay.

Hoạt động khoa học công nghệ, môi trường và thông tin quân sự có cố gắng tìm tòi các
phương pháp sáng kiến cải tiến kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu bảo quản, bảo dưỡng và sử dụng vũ khí
trang bị kỹ thuật của sư đoàn. Các hoạt động khoa học tiêu biểu như: Nghiên cứu khắc phục hiện
tượng hỏng tăng lực hàng loạt trên kỹ thuật hàng không, sửa chữa nắp buồng lái, máy phát điện 1
chiều, ứng dụng thử tụ điện của Hàn Quốc thay thế tụ hoá của Nga… đã diễn ra sôi nổi và có kết quả
tốt.
Qua hội nghị sơ kết, sư đoàn đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích về xây dựng ngành
kỹ thuật hàng không của đơn vị, từ đó vạch ra phương hướng tiếp tục thực hiện nghị quyết Đảng uỷ
sư đoàn về công tác kỹ thuật hàng không.

Chấp hành chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương, chỉ thị của Thường vụ
Đảng uỷ Quân chủng phòng không - không quân về tiến hành đại hội Đảng các cấp trong Đảng bộ
quân đội, Quân chủng, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, ngày 1 tháng 7 năm 2000, Đảng uỷ
sư đoàn ra nghị quyết số 56/NQ-ĐU về lãnh đạo tiến hành đại hội Đảng các cấp trong sư đoàn tiến tới
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ các. đảng bộ và chi bộ trong
Đảng bộ đã lần lượt tiến hành tổ chức đại hội Đảng cấp mình.

Ngày 6 tháng 7 năm 2000, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 225/CT-SĐ về việc diễn tập động
viên và huấn luyện quân dự bị năm 2000 và giao nhiệm vụ diễn tập chỉ huy - tham mưu- động viên 1
cấp có tiếp nhận và huấn luyện quân dự bị cho Trung đoàn không quân 931 trong thời gian 15 ngày.
Quân số động viên gồm 100 người là lực lượng quân dự bị động viên của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ. Thực hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng, các cơ quan phòng ban của sư đoàn và Trung đoàn 931 đã
tổ chức tốt đợt diễn tập quân dự bị động viên theo kế hoạch.

Ngày 20 tháng 7 năm 2000, chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn trưởng ra
chỉ thị tổ chức cơ động lực lượng và vũ khí trang bị tham gia bay kỹ thuật ứng dựng chiến đấu bắn
rốc-két C5-KO cho ba trung đoàn tại trường bắn Như Xuân, Thanh Hoá nhằm đánh giá trình độ tổ
chức chỉ huy, kết quả huấn luyện của các đơn vị, kiểm tra trình độ bay ứng dụng chiến đấu có sử dụng
vũ khí của phi công và khả năng đảm bảo của loại máy bay MiG-21.

Ngày 1 tháng 8 năm 2000, Thiếu tướng Phạm Phú Thái, Phó tư lệnh- Tham mưu trưởng
Quân chủng đã phê chuẩn kế hoạch cơ động lực lượng của sư đoàn vào Thọ Xuân huấn luyện bắn,
ném bom. Lực lượng của sư đoàn tham gia có 130 đồng chí do đại tá Phương Minh Hoà, Sư đoàn
trưởng chỉ huy. Sư đoàn tổ chức cơ động chuyển sân cho 5 chiếc máy bay MiG các loại vào sân bay
Thọ Xuân an toàn. Trong đợt bay bắn và ném bom, lực lượng của sư đoàn bay 48 lần chiếc, 12 phi
công tham gia bắn ném. Kết quả 100% đạt yêu cầu có nhiều đồng chí đạt giỏi, ưu tú và khá.

Từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 10 năm 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ XII
nhiệm kì 2001- 2005 được tiến hành gồm 98 đại biểu được triệu tập đại diện cho l.639 đảng viên của
11 tổ chức cơ sở Đảng trong toàn Đảng bộ. Đại hội đã nghe báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm và
báo cáo kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần2) của Đảng uỷ sư đoàn nhiệm kì
1996- 2000.

Đại hội đã tập trung thảo luận và thống nhất đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm kì 11 (1996-
2000) của Đảng bộ và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, những chủ trương biện pháp chính của nhiệm
kì 2001- 2005. Phương hướng nhiệm vụ chung của sư đoàn mà đại hội Đảng bộ sư đoàn nhiệm kì mới
đề ra là: "Thường xuyên củng cố và nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng chấp hành các
nhiệm vụ trong các tình huống phức tạp. Tạo cho được một bước chuyển biến cơ bản, vững chắc về
chất lượng chính trị, trình độ chính quy, năng lực lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, quản lý, ý thức chấp hành
kỷ luật và các chế độ quy định của bộ đội. Xây dựng sư đoàn ngày càng vững mạnh theo hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến
đấu trung thành tin cậy của Đảng, nhà nước, nhân dân; góp phần cùng các lực lượng vũ trang trên địa
bàn đóng quân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa".

Đại hội đã bầu ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kì mới gồm 11 đồng chí: Bùi Minh Tiến,
Phương Minh Hoà, Trần Văn Thanh, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Duy Chung, Vũ Xuân Bình, Nguyễn Tất
Lượng, Đặng Văn Tráng, Nguyễn Bá Công, Đỗ Trọng Đạt, Phan Hồng Quân. Tại hội nghị lần thứ
nhất, Đảng uỷ bầu đồng chí Bùi Minh Tiến làm bí thư, đồng chí Phương Minh Hoà làm phó bí thư.
Đảng uỷ bầu Uỷ ban kiểm tra gồm 5 đồng chí.

Ngày 21 tháng 10 năm 2000, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về việc tổ chức hội thao điều lệnh,
thể thao sư đoàn năm 2000 và việc tổ chức đăng cai hội thao điều lệnh thể thao Quân chủng khu vực
phía Bắc năm 2000 nhằm đánh giá công tác huấn luyện điều lệnh, thể lực của các cơ quan, đơn vị
trong toàn sư đoàn, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra những biện pháp cho công tác chỉ đạo
tổ chức nâng cao chất lượng huấn luyện điều lệnh thể thao và triển khai thực hiện chỉ thị liên ngành
tham mưu - chính trị về việc tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao nhằm tăng cường quản lý bộ đội
trong những ngày nghỉ, giờ nghỉ. Hội thao bao gồm các môn bóng chuyền nam, nữ, bóng đá, bóng
bàn, bóng rổ và tennis. Ban tổ chức hội thao điều lệnh, thể dục thể thao sư đoàn và đội tuyển điều lệnh
thể dục thể thao khối sư đoàn được thành lập. Ban tổ chức hội thao gồm 6 đồng chí do thượng tá Mai
Ngọc Hùng, Phó trưởng phòng huấn luyện sư đoàn làm trưởng ban.

Ngày 26 tháng 10 năm 2000, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 328/CT-SĐ về tổ chức hội thi
"Máy bay, xe máy, đài trạm tốt, kho xưởng kiểu mẫu nền nếp chính quy, doanh trại sạch đẹp môi
trường văn hoá" năm 2000 trong toàn sư đoàn. Hội thi được tổ chức chặt chẽ, sôi nổi đạt kết quả tốt là
thành tích chào mừng thắng lợi của Đại hội đại biểu Đảng bộ sư đoàn lần thứ 12.

Năm 2000, sư đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, đã tổ chức trực ban sẵn
sàng chiến đấu trên cả 3 sân bay được 1.312 lần chiếc. Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ
thường xuyên lên cao 2 lần trong 2 cuộc diễn tập ở Trung đoàn 927 và Trung đoàn 931, làm tốt công
tác huấn luyện bay. Trong năm, toàn sư đoàn tổ chức bay huấn luyện được 130 ban có 105 ban bay
ngày, 25 ban bay đêm với tổng số 2.955 lần chiếc = 1.483 giờ 21 phút.

Trong năm, sư đoàn đã tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết 08/BCT cho tất cả các đối
tượng. Toàn Đảng bộ kết nạp 51 đảng viên mới, kiểm tra 37 tổ chức đảng và 594 đảng viên đúng thủ
tục, nguyên tắc. Ngoài ra, sư đoàn đã tổ chức thăm viếng 56 lượt nghĩa trang liệt sĩ, ủng hộ các cháu
bị chất độc da cam 11.700.000 đồng, phụng dưỡng 4 bà mẹ Việt nam anh hùng 4.300.000Đ. Tổ chức
làm nhà tình nghĩa trị giá 21.600.000 tặng thương binh, làm một nhà trẻ, tặng xã nghèo trị giá
25.000.000Đ… Sư đoàn làm tốt công tác đối ngoại quân sự, tiếp 3 đoàn Ma-lai-xi-a, Nga và Xinh-ga-
po.

Qua phân tích tổ chức đảng, đảng viên năm 2000, Đảng bộ sư đoàn đạt trong sạch vững
mạnh. Đảng bộ các trung đoàn bay đạt trong sạch vững mạnh. 100% đảng viên đủ tư cách.

Ngày 23 tháng 11 năm 2000, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Rinh kí quyết định
số 197/QPĐ bổ nhiệm thượng tá Nguyễn Đình Loan, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn làm chủ nhiệm
chính trị thay đồng chí Nguyễn Duy Chung nghỉ hưu.
Ngày 17 tháng 11 năm 2000, máy bay của Lí Tống xâm phạm vùng trời lãnh thổ nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam.

Quán triệt chỉ thị của Quân chủng, ngày 25 tháng 11 năm 2000, Thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn ra chỉ thị về sẵn sàng chiến đấu chống cướp, phá máy bay của bọn không tặc là người Việt nam
lưu vong ở nước ngoài có sự hỗ trợ của các thế lực phản động nước ngoài và tiến hành đợt sinh hoạt
chính trị sâu rộng với nội dung: Nâng cao cảnh giác với những âm mưu thủ đoạn chống phá cách
mạng nước ta của các thế lực thù địch phản động; kiên quyết đánh bại các cuộc đột nhập phá hoại của
chúng trong giai đoạn hiện nay, nhằm đáp ứng kịp thời công tác giáo dục bộ đội thường xuyên nêu
cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống để không bị bất ngờ lỡ thời cơ.

Đứng trước tình hình kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng đất nước có diễn biến phức tạp
đòi hỏi các lực lượng vũ trang ta phải thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, đánh trả kịp thời kẻ thù khi
chúng liều lĩnh xâm phạm lãnh thổ của Tổ quốc, ngày 2 tháng 12 năm 2000, đoàn cán bộ Bộ Tổng
tham mưu Quân đội nhân dân Việt nam do Trung tướng Lê Hải Anh, Phó tổng tham mưu trưởng làm
trưởng đoàn đã xuống kiểm tra nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và kết quả thực hiện các nhiệm vụ đột
xuất trên giao của sư đoàn.

Thay mặt sư đoàn, đại tá Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng báo cáo với đoàn kiểm tra về
tổ chức biên chế của sư đoàn, về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, nguyên tắc sử dụng lực lượng và
nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu cùng các mặt công tác đảng, công tác chính trị, công tác kỹ
thuật và hậu cần của sư đoàn năm 2000. Đồng thời sư đoàn cũng kiến nghị với trên một số vấn đề: Tổ
chức hệ thống thông báo, báo động thống nhất từ dưới lên trên và từ cấp trên xuống qua các nguồn tin
tình báo quốc gia; tổ chức huấn luyện kĩ chiến thuật sử dụng vũ khí bộ binh và chiến thuật bắn máy
bay cánh quạt, cánh bằng vận tốc nhỏ, độ cao thấp; đề nghị trên trang bị cho các vọng quan sát mắt
của sư đoàn như ống nhòm, súng bộ binh và các phương tiện thông tin hiệp đồng, thông báo báo
động.

Ngày 8 tháng 12, sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm công tác giáo dục chính trị tại
đơn vị từ năm 1996 đến 2000. Hội nghị đã tổng kết đánh giá kết quả công tác giáo dục chính trị tại
đơn vị trong 5 năm, rút ra nhiều bài học ưu khuyết điểm, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và những
giải pháp nhằm đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong 5 năm từ 2001 đến năm 2005.

Bước sang năm 2001, ngay từ đầu năm, Đảng uỷ sư đoàn đã ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị
quán triệt sâu sắc và quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ Quân chủng giao, tích cực thực hiện các
phong trào thi đua quyết thắng với chủ đề "phát huy truyền thống bộ đội Cụ Hồ, ra sức xây dựng Sư
đoàn không quân 371 cách mạng, chính quy tinh nhuệ và từng bước hiện đại". Sư đoàn phát động các
đợt thi đua với nhiều nội dung phong phú, bám sát đặc điểm nhiệm vụ của sư đoàn, thi đua lập thành
tích để mừng Đảng, mừng Xuân, chào mừng Đại hội Đảng toàn quân lần thứ 7 và Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX.

Sư đoàn đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị hiệu chỉnh, bổ sung kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
quân sự năm cho phù hợp với tình hình và thực trạng của từng đơn vị, từ đó đề ra các chủ trương, chỉ
tiêu cụ thể và các biện pháp để thực hiện nhiệm vụ.
Năm 2001, tình hình an ninh, chính trị xã hội các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên có nhiều
diễn biến phức tạp, không ổn định. Bọn phản động ở nước ngoài đã tổ chức lôi kéo, tiếp tay cho một
số tổ chức và phần tử phản động nổi dậy chống phá cách mạng, vượt biên trái phép, biểu tình kích
động, gây rối loạn trật tự, trị an và đời sống của đồng bào các dân tộc ở khu vực này. Trước tình hình
đó, Đảng và nhà nước, quân đội ta đã có những biện pháp, hành động cụ thể để tiêu diệt bọn phản
cách mạng, tuyên truyền giáo dục những thành phần bị lôi kéo giác ngộ trở về, lập lại trật tự, trị an,
đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngày 7 tháng 2 năm 2001, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân ra chỉ thị về
sẵn sàng chiến đấu giao nhiệm vụ cho các đơn vị tích cực đẩy mạnh công tác sẵn sàng chiến đấu đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Căn cứ vào chỉ thị của Tư lệnh thông báo về tình hình Tây Nguyên, Thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn họp định hướng những nét chính trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệmvụ. Sư đoàn ra chỉ
thị số 37/CT-SĐ cụ thể hoá từ Chỉ thị 08/CT-PK-KQ giao nhiệm vụ cho các cơ quan đơn vị thuộc sư
đoàn đồng bộ triển khai tổ chức quán triệt tình hình trên, tình hình địa bàn đóng quân và nhiệm vụ của
cơ quan đơn vị đến từng cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Các đơn
vị đã tổ chức hiệu chỉnh, bổ sung các kế hoạch, quyết tâm chiến đấu A, A2, A3, BMB phù hợp với
nhiệm vụ và thực trạng đơn vị. Cơ quan sư đoàn và các đơn vị đã lập kế hoạch xử lí ba tình huống để
luyện tập cho người chỉ huy, kíp trực ban và các phân đội trực ban chiến đấu.

Căn cứ vào quy định của Bộ quốc phòng và Quân chủng, sư đoàn đã cụ thể hoá việc sử
dụng lực lượng vũ trang, sử dụng vũ khí bộ binh trong các tình huống, trường hợp cụ thể, vị trí canh
gác cụ thể, đến từng chiến sĩ cảnh vệ làm nhiệm vụ. Các cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị quân sự dân
chủ bàn cách đánh máy bay xâm nhập vận tốc nhỏ, độ cao thấp; tổ chức soạn thảo, làm mới kế hoạch
chiến đấu bảo vệ cơ quan, đơn vị phù hợp nhiệm vụ A2; triển khai các ụ, điểm tựa chiến đấu bảo vệ
các mục tiêu "KĐM". Ngoài các vị trí lợi dụng địa hình, địa vật, sư đoàn đã chỉ đạo các trung đoàn,
tiểu đoàn cải tạo 26 ụ, làm mới 32 ụ, điểm tựa tạo thành thế cụm điểm tựa bảo vệ. Sư đoàn tổ chức
huấn luyện chiến thuật bộ binh cho lực lượng A2, các trạm quan sát mắt và bắn máy bay tầm thấp.

Ngày 20 tháng 2 năm 2001, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thân, Phó tư lệnh Quân chủng
xuống kiểm tra công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2001 và tổ chức thực hiện chỉ thị sẵn sàng
chiến đấu của Tư lệnh Quân chủng. Thay mặt Đảng uỷ và chỉ huy sư đoàn, đại tá Phương Minh Hoà,
Sư đoàn trưởng báo cáo với đoàn kiểm tra kết quả tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác
quân sự năm 2001 của sư đoàn; kết quả thực hiện nhiệm vụ hai tháng đầu năm 2001 và kết quả triển
khai và thực hiện chỉ thị số 08/CT- PK-KQ về sẵn sàng chiến đấu của Tư lệnh Quân chủng. Thay mặt
đoàn kiểm tra, đồng chí Phó tư lệnh Quân chủng biểu dương những thành tích sư đoàn đã đạt được và
chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm cần sửa chữa, khắc phục.

Sau đợt kiểm tra của Quân chủng, ngày 26 tháng 2 năm 2001, đoàn kiểm tra của sư đoàn
do thượng tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng làm trưởng đoàn đã tiến hành
kiểm tra kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2001 và tổ chức thực hiện chỉ thị sẵn sàng chiến
đấu của Sư đoàn trưởng đối với Trung đoàn 931. Đoàn đã tiến hành kiểm tra các mặt công tác: tham
mưu, huấn luyện, kỹ thuật, hậu cần, công tác đảng, công tác chính trị của trung đoàn.
Qua đợt kiểm tra, đoàn kết luận: Trung đoàn 931 đã thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Sư
đoàn trưởng trong sẵn sàng chiến đấu và triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ hai tháng đầu năm 2001,
tuy nhiên, cũng còn một số khuyết điểm còn tồn tại mà Trung đoàn 931 phải khắc phục để hoàn thành
nhiệm vụ tốt hơn nữa.

Cùng ngày, đoàn kiểm tra của sư đoàn do đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng quân
huấn làm trưởng đoàn đã tiến hành kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2001 và tổ chức thực
hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng về sẵn sàng chiến đấu đối với Trung đoàn 927. Sau khi kiểm tra đánh
giá ưu, khuyết điểm của các mặt công tác của trung đoàn, đoàn kiểm tra của sư đoàn đã chỉ đạo một
số vấn đề về đảm bảo an toàn bay, luyện tập phương án chiến đấu; cơ động lực lượng chiến đấu A2
đối với trung đoàn.

Ngày 26 tháng 4 năm 2001, Trung tướng Nguyễn Đức Soát Tư lệnh Quân chủng kí quyết
định số 15/BAĐ bổ nhiệm thượng tá Nguyễn Duy Bảo, Phó trung đoàn trưởng về chính trị Trung
đoàn 921 làm phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Thượng tá Đinh Văn Tuỳ, Phó trung đoàn trưởng
-Tham mưu trưởng Trung đoàn 927 làm phó trưởng phòng Quân huấn sư đoàn. Điều thượng tá Lê
Văn Ái, Phó tham mưu trưởng về làm phó trưởng phòng Tác chiến Bộ Tham mưu quân chủng;
thượng tá Mai Ngọc Hùng, Phó trưởng phòng Quân huấn sư đoàn về công tác ở Phòng Thanh tra bay
Bộ Tham mưu quân chủng.

Ngày 27 tháng 4 năm 2001, căn cứ vào chỉ thị của Tham mưu trưởng Quân chủng, Sư đoàn
trưởng ra chỉ thị về tổ chức hội thi hoá học kiêm nhiệm năm 2001 cho các đơn vị trong sư đoàn. Thực
hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng, tháng 5 năm 2001, sư đoàn ban hành quy chế hội thi này và ra quyết
định thành lập ban chỉ đạo tổ chức hội thi gồm 6 đồng chí do đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn
trưởng quân huấn làm trưởng ban. Các đồng chí Đinh Văn Tuỳ, Phó trưởng phòng Quân huấn,
Nguyễn Quý Trung, Phó tham mưu trưởng sư đoàn; Phan Tiến Việt, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn
làm phó ban.

Chấp hành mệnh lệnh của Tham mưu trưởng Quân chủng ngày 20 tháng 5 năm 2001, sư
đoàn tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển sân 3 chiếc máy bay MiG-21 Bis từ Nhà máy A32, Đà Nẵng
ra sân bay Nội Bài và sân bay Kép bảo đảm an toàn, đúng yêu cầu kế hoạch.

Ngày 25 tháng 5 năm 2001, đại tá Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng ra quyết định số
190/CT-SĐ tổ chức diễn tập cho Trung đoàn 931 với đề bài diễn tập là: "Hoạt động chiến đấu của
trung đoàn không quân tiêm kích trong phòng chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của Mỹ và
các thế lực thù địch", mang mật danh TB-01. Đây là cuộc diễn tập chỉ huy tham mưu một cấp, một
bên trên bản đồ tại sở chỉ huy theo quyết tâm chiến đấu A2 và quyết tâm chiến đấu đánh địch đột nhập
đường không bảo vệ Hà nội, Hải Phòng và các mục tiêu quan trọng. Cuộc diễn tập nhằm kiểm tra
năng lực, trình độ và phương pháp tổ chức của người chỉ huy, cơ quan trong các giai đoạn chuẩn bị
chiến đấu và thực hành chỉ huy chiến đấu; đồng thời luyện tập cho người chỉ huy, cơ quan trong tổ
chức chỉ huy, điều hành và hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng đánh địch trong giai đoạn thực hành
chiến đấu bảo vệ căn cứ sân bay khu vực đóng quân và các mục tiêu (KĐM). Sư đoàn đã thành lập cơ
quan điều hành diễn tập gồm ban chỉ đạo và ban đạo diễn diễn tập. Ban chỉ đạo gồm Sư đoàn trưởng
là trưởng ban, hai đồng chí phó trưởng ban là Phó sư đoàn trưởng về chính trị và Phó sư đoàn trưởng -
Tham mưu trưởng cùng các đồng chí uỷ viên là thủ trưởng các phòng tham mưu, quân huấn, kỹ thuật,
hậu cần, chính trị. Ban đạo diễn gồm 7 đồng chí do Sư đoàn trưởng làm trưởng ban.

Ngày 18 tháng 6, Sư đoàn trưởng phê chuẩn kế hoạch điều hành diễn tập gồm ba giai đoạn
là chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu; chuẩn bị chiến đấu và thực hành chỉ huy chiến đấu tại sở chỉ
huy thường xuyên.

Cuộc diễn tập chỉ huy tham mưu một bên, một cấp trên bản đồ tại sở chỉ huy xử lý tình
huống A2 cho Trung đoàn 931 do sư đoàn tổ chức đã diễn ra trong 2 ngày 27 và 29 tháng 6 năm 2001.
Cuộc diễn tập đã đạt được mục đích yêu cầu đề ra. Qua diễn tập trình độ tổ chức, chỉ huy diễn tập các
mặt công tác chuẩn bị diễn tập các giai đoạn diễn tập được rèn luyện và nâng cao lên một bước. Các
mặt thiếu sót khuyết điểm trong diễn tập cũng được chỉ rõ và rút ra những bài học kinh nghiệm và
biện pháp khắc phục.

Ngày 28 tháng 6, căn cứ vào kế hoạch huấn luyện chiến đấu năm 2001, Sư đoàn trưởng ra
chỉ thị về tổ chức huấn luyện bay biển tập trung tại sân bay Kiến An từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2001
của Trung đoàn 921 và Trung đoàn 927. Chỉ thị của Sư đoàn trưởng đã giao nhiệm vụ cho các phòng
ban của sư đoàn có liên quan và tiểu đoàn căn cứ Kiến An chuẩn bị các mặt bảo đảm cho hai trung
đoàn 921 và 927 cơ động chuyển sân một phần lực lượng xuống sân bay Kiến An tổ chức huấn luyện
bay biển từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 9 năm 2001. Thực hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng, các
phòng, ban sư đoàn, tiểu đoàn căn cứ Kiến An và hai trung đoàn 921, 927 đã phối hợp hiệp đồng tổ
chức thực hiện đợt huấn luyện bay biển cho một phần lực lượng của hai trung đoàn đạt kết quả tốt.

Chấp hành chỉ thị của Tham mưu trưởng Quân chủng về việc Sư đoàn 371 đăng cai hội
thao thể dục thể thao các môn cầu lông, việt dã, bóng bàn, chiến sĩ khoẻ, ba môn quân sự phối hợp,
bắn súng ngắn, súng trường quân dụng tổ chức tại tiểu đoàn huấn luyện từ ngày 7 tháng 7 đến ngày 14
tháng 7 năm 2001, ngày 29 tháng 6 năm 2001, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị giao nhiệm vụ cho các cơ
quan đơn vị trong sư đoàn và thành lập đoàn vận động viên thể dục thể thao, thể thao quân sự gồm 30
đồng chí để tham gia hội thao.

Sau một tuần tham gia đua sức, đua tài, đoàn vận động viên của sư đoàn đã lập thành tích
xuất sắc ở nhiều môn như: ba môn quân sự; chiến sĩ khoẻ, việt dã và bắn súng K54. Sư đoàn đã hoàn
thành tốt nhiệm vụ đăng cai hội thảo được Quân chủng biểu dương, khen ngợi.

Ngày 16 tháng 7 năm 2001, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị tổ chức cơ động lực lượng vào sân
bay Thọ Xuân tham gia bay bắn rốc-két C5-KO cho ba trung đoàn và bảo đảm máy bay cho các đơn
vị bạn bắn, ném bom tại trường bắn Như Xuân, Thanh Hoá. Chấp hành chỉ thị của Sư đoàn trưởng các
đơn vị phòng, ban cơ quan sư đoàn và ba trung đoàn đã tổ chức thực hiện tốt đợt tham gia bay, bắn tại
trường bắn Như Xuân trong tháng 8 năm 2001.

Cũng trong thời gian này, sư đoàn phê chuẩn kế hoạch bay bắn tên lửa cảm giác và bia bay
trên không cho 18 phi công tại trường bắn trung tâm huấn luyện I Cấm Sơn - Bắc Giang. Sau 4 ngày
từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 8 tổ chức thực hiện huấn luyện, tất cả phi công đều bay bắn tên lửa cảm
giác và bia bay trên không đạt yêu cầu kế hoạch đề ra.
Ngày 6 tháng 8 năm 2001, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị tổ chức bay hồi phục không chiến tập
trung cho giáo viên của sư đoàn tại Trung đoàn 931, gồm 7 đồng chí. Sau đợt huấn luyện bay này
trình độ tổ chức bay không chiến của các đồng chí giáo viên các đơn vị được nâng cao lên một bước.

Cuối tháng 8 năm 2001, đại tá Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng được cử đi học; thượng
tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng được giao phụ trách sư đoàn. Tháng 11
năm 2001, trung tá Nguyễn Văn Đài, trưởng ban tác chiến được bổ nhiệm Phó tham mưu trưởng sư
đoàn.

Ngày 8 tháng 9 năm 2001, sư đoàn ra chỉ thị tổ chức diễn tập cho Trung đoàn 921 với nội
dung "Hoạt động chiến đấu của Trung đoàn không quân tiêm kích trong nhiệm vụ A2 đánh địch đột
nhập đường không và tiến công đường không". Đây là cuộc diễn tập chỉ huy tham mưu một cấp một
bên trên bản đồ tại sở chỉ huy có một phần thực binh mặt đất theo quyết tâm chiến đấu A2, quyết tâm
chiến đấu đánh địch đột nhập đường không và giai đoạn đầu đánh địch tiến công đường không bảo vệ
Hà nội, Hải Phòng và các mục tiêu quan trọng khác. Cuộc diễn tập có mật danh NB-01. Trong hai
ngày 15 và 16 tháng 10 năm 2001, cuộc diễn tập NB-01 đã được tổ chức đạt kết quả theo đúng mục
đích và yêu cầu đề ra đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các lực lượng và phương tiện tham gia diễn tập.
Qua đợt diễn tập trình độ tổ chức chỉ huy và các mặt diễn tập của cán bộ lãnh đạo chỉ huy của đơn vị
đã được huấn luyện và nâng cao hơn.

Ngày 10 tháng 9 năm 2001, chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Thường vụ Đảng uỷ
Quân chủng về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII trong Đảng bộ Quân
chủng, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết triển khai thực hiện chỉ thị của trên nhằm tăng
cường thực hiện cuộc vận. động "Xây dựng, chỉnh đốn Đảng" trong Đảng bộ sư đoàn. Thường vụ
Đảng uỷ chỉ đạo chương trình hành động bổ sung thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc
vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng ở mỗi cấp phải gắn với việc quán triệt thực hiện nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VII, nghị quyết Đảng bộ
Quân chủng lần thứ VI và nghị quyết đại hội cấp mình gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn
vị và xây dựng cấp uỷ, tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh.

Trong thời gian này, sư đoàn tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động
công tác dân vận (1996- 2000). Hội nghị đã tập trung đảnh giá những mặt mạnh, mặt yếu của công tác
dân vận của sư đoàn trong 5 năm và khẳng định những kết quả cụ thể công tác dân vận là to lớn.
Trong 5 năm (1996- 2000), sư đoàn đã làm và tặng 2 nhà tình nghĩa, làm 1 nhà trẻ tặng xã nghèo, ủng
hộ và tham gia xây dựng 5 nghĩa trang liệt sĩ và tượng đài các địa phương, phụng dưỡng 4 bà mẹ Việt
nam anh hùng, tặng 60 sổ tiết kiệm tình nghĩa, thăm viếng 348 lượt các nghĩa trang liệt sĩ với tổng số
tiền chi cho các hoạt động trong 5 năm trên 900 triệu đồng. Hội nghị đã chỉ ra những thiếu sót, khuyết
điểm của công tác dân vận và đề ra phương hướng công tác dân vận trong sư đoàn trong những năm
tiếp theo.

Ngày 9 tháng 10 năm 2001, sư đoàn tổ chức hội thi "Máy bay, xe máy, đài trạm tốt, kho
xưởng kiểu mẫu, nền nếp chính quy doanh trại sạch đẹp, môi trường văn hoá" năm 2001 và quyết
định thành lập hội đồng gồm 10 đồng chí do đại tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu
trưởng làm chủ tịch. Cuộc thi được tổ chức trong 10 ngày từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 10 tháng 11
tại các đơn vị. Kết quả hội thi Trung đoàn 921 đạt nhất toàn diện khối trung đoàn và căn cứ Kiến An,
Trung đoàn 931 nhất về máy bay, Trung đoàn 927 nhất bảo đảm kỹ thuật và môi trường văn hoá…

Ngày 10 tháng 11 năm 2001, Quân chủng tổ chức hội thảo chuyên đề: "Tổ chức tác chiến
phòng không - không quân đánh trả các hình thức tiến công đường không của địch, bảo vệ các mục
tiêu trọng yếu của đất nước". Đại tá Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng thay
mặt sư đoàn báo cáo tham luận tại hội thảo: "Một số vấn đề về tổ chức bố trí lực lượng và cách đánh
của không quân tiêm kích bảo vệ các mục tiêu trọng yếu trên địa bàn miền Bắc Việt nam trong điều
kiện mới của Sư đoàn không quân 371". Bản tham luận được hội nghị đánh giá cao.

Năm 2001, công tác tư tưởng văn hoá của sư đoàn thường xuyên được duy trì trở thành nền
nếp. Công tác giáo dục và tuyên truyền thi đua đã đi vào chiều sâu. Các hoạt động văn hoá văn nghệ,
thể dục thể thao đã được tổ chức thường xuyên, sôi nổi. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có
nhiều diễn biến phức tạp, nhất là sau sự kiện ngày 11 tháng 9 ở Mỹ, tình hình tư tưởng của cán bộ,
chiến sĩ công nhân viên của sư đoàn ổn định. Tư tưởng của đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, phi công, sĩ
quan và các đối tượng khác đều kiên định vững vàng, giữ vững được phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, hoàn
thành tốt nhiệm vụ.

Đảng bộ sư đoàn đạt trong sạch vững mạnh. 84/84 chi bộ thuộc Đảng bộ cơ sở, Đảng bộ bộ
phận đã tiến hành đại hội nhiệm kì đúng thời gian và đảm bảo nguyên tắc, kết nạp được 78 đảng viên
mới, 1.746 đảng viên dự bình, đủ tư cách 100 %. Các mặt công tác cán bộ, bảo vệ an ninh chính trị
nội bộ, chính sách dân vận đều được lãnh đạo, chỉ đạo và chăm lo xây dựng thường xuyên.

II. RA SỨC XÂY DỰNG SƯ ĐOÀN VỮNG MẠNH THEO HƯỚNG CÁCH MẠNG,
CHÍNH QUI, TINH NHUỆ VÀ TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI (2002-2007)

Năm 2002, tình hình thế giới, khu vực và trong nước vẫn diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ chống phá độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta với chiêu bài "dân chủ', "nhân quyền", "tự do tôn giáo".
Tình hình chính trị xã hội cua nước ta cơ bản là ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, quan
hệ đối ngoại được mở rộng, tạo ra điều kiện và khả năng phát triển của đất nước song cũng nảy sinh
những khó khăn, thách thức mới. Năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ VII, nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân chủng phòng
không - không quân lần thứ VI, năm thứ 2 thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ XII.

Sau hơn hai năm hợp nhất, chất lượng tổng hợp của Quân chủng được tiếp tục nâng lên
nhưng cũng còn nhiều khó khăn về trang bị kỹ thuật và trình độ kiến thức toàn diện của đội ngũ cán
bộ so với yêu cầu còn hạn chế. Để góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng uỷ Quân chủng
năm 2002, nhiệm vụ của Sư đoàn 371 được Quân chủng giao cho là hiệp đồng chặt chẽ với các sư
đoàn phòng không 361, 363, 365 các trung đoàn không quân 918, 916, cụm cảng hàng không miền
Bắc, các quân khu 1, 2, 3 và Quân khu Thủ đô, các quân đoàn 1, 2, Vùng 1 hải quân và các lực lượng
vũ trang địa phương để tổ chức tốt lực lượng trực ban chiến đấu ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu
thường xuyên theo chỉ lệnh số 65/CL- PK-KQ ngày 8 tháng 10 năm 2001 của Tư lệnh Quân chủng
tiếp tục học tập để nắm chắc, chỉ lệnh của Tổng tham mưu trưởng về xử trí tình huống tác chiến
phòng không, duy trì nghiêm các chế độ nền nếp trực ban sẵn sàng chiến đấu từ sở chỉ huy các cấp
đến biên đội tổ chức bay trinh sát, tuần tra, tuần tiễu, sẵn sàng ngăn chặn và xử lí các phương tiện bay
lạ xâm phạm vùng trời Tổ quốc. Sư đoàn phải hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, huấn
luyện chiến đấu, xây dựng lực lượng; quản lý kỹ thuật, xây dựng chính quy và làm tốt công tác bảo
đảm kỹ thuật và hậu cần cho tổ chức thực hiện hoàn thành nhiệmvụ.

Ngày 2 tháng 1 năm 2002, Đảng uỷ sư đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quân sự
năm 2002. Nghị quyết phân tích tình hình quốc tế, khu vực, trong nước và đề ra phương hướng chung,
yêu cầu nhiệm vụ cụ thể cũng như những chủ trương và biện pháp chính nhằm thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ trên giao.

Chấp hành chỉ thị của Đảng uỷ quân sự Trung ương, của Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng
về tổng kết công tác tổ chức và công tác cán bộ theo các nghị quyết Trung ương 3 và 7 (khoá VIII),
ngày 21 tháng 2 Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn chỉ thị số 20/CT-TV về việc tiến hành tổng kết các nội
dung trên. Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn, các cấp uỷ các cơ quan, đơn vị, sư đoàn
đã tiến hành tốt đợt tổng kết công tác cán bộ và công tác tổ chức trong đơn vị.

Nhằm tiếp tục thực hiện các nghị quyết Trung ương và Quân chủng về việc tổng kết 10
năm xây dựng môi trường văn hoá gắn với thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết. xây dựng đời
sống văn hoá" ở các cấp, ngày 23 tháng 2 năm 2002, thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn, Phòng Chính trị đã hướng dẫn các đơn vị trong sư đoàn tiến hành tổng kết đạt hiệu quả thiết
thực, đánh giá đúng thành tích và sự đóng góp mang ý nghĩa to lớn của cuộc vận động.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, ngày 12 tháng 3 năm 2002 sư đoàn đã tổ chức
tốt đợt phục vụ lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh của lớp quốc phòng 07 của Học viện
Quốc phòng đến học tập nghiên cứu thực tế tại sư đoàn. Tại khu trực chiến của Trung đoàn 921 ở sân
bay Nội Bài, đoàn nghe giới thiệu về máy bay MiG-21 Bis và xem thực tế báo động chuyển cấp chiến
đấu của biên đội trực ban chiến đấu cấp 2 ban ngày, tham quan khu vực hầm, ụ sơ tán và hầm cất giấu
máy bay của đơn vị, sau đó đoàn đến thắp hương thăm và tưởng niệm các liệt sĩ tại tượng đài không
quân.

Ngày 20 tháng 3 năm 2002, đại diện Sư đoàn 371, Trung đoàn 921 và đại diện Trung tâm
quản lý bay miền Bắc họp để thống nhất thực hiện phê duyệt của Tổng giám đốc Trung tâm quản lý
bay dân dụng Việt nam về việc triển khai đầu cuối giám sát tại đài chỉ huy K4. Các bên tham dự họp
đã thống nhất các nội dung: Trung tâm quản lý bay miền Bắc sẽ bàn giao cho Trung đoàn 921 một số
máy thu phát cầm tay để đảm bảo yêu cầu chỉ huy hiệp đồng, quản lý điều hành và đảm bảo an toàn
bay tại đài chỉ huy K4.

Ngày 24 tháng 3 năm 2002, sư đoàn đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 35 năm ngày truyền
thống vẻ vang của sư đoàn tại cơ quan sư đoàn bộ. Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí đại diện lãnh đạo
chỉ huy Quân chủng, các đại diện lãnh đạo chính quyền thành phố Hà nội và huyện Sóc Sơn, đại diện
các bà mẹ Việt nam anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ, các đồng chí cán bộ cựu chiến binh các
thời kì của sư đoàn cùng đông đảo cán bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và công nhân viên của sư đoàn.

Đọc diễn văn kỷ niệm, đại tá Trần Văn Thanh, quyền Sư đoàn trưởng đã chào mừng các
đại biểu dự lễ kỷ niệm và ôn lại 35 năm truyền thống lịch sử anh hùng vẻ vang với bề dày chiến công
và thành tích của sư đoàn. Thay mặt sư đoàn, đồng chí khẳng định quyết tâm rèn luyện, phấn đấu, xây
dựng sư đoàn ngày càng chính quy, vững mạnh, từng bước tinh nhuệ và hiện đại, xứng đáng với sự tin
cậy của Đảng và nhân dân.

Ngày 1 tháng 5 năm 2002, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thân, Tư lệnh Quân chủng phòng
không - không quân kí quyết định số 24/BAĐ bổ nhiệm thượng tá Nguyễn Văn Mậu, Phó trung đoàn
trưởng về chính trị Trung đoàn 921 làm phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn; điều động thượng tá Phan
Tiến Việt, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn về làm phó chủ nhiệm chính trị Bộ Tham mưu quân
chủng.

Căn cứ vào kế hoạch hiệp đồng huấn luyện năm 2002 giữa Quân chủng phòng không -
không quân và Quân chủng Hải quân, ngày 24 tháng 5 năm 2002 tại căn cứ sân bay Kiến An đại diện
các đơn vị phòng không - không quân và hải quân đã tham gia hội nghị hiệp đồng tổ chức và bảo đảm
bay huấn luyện trên biển vịnh Bắc Bộ cho Sư đoàn không quân 371, Trung đoàn 916, 918. Đại tá Trần
Tuấn Việt, Trưởng phòng Quân huấn đại diện Bộ Tham mưu quân chủng phòng không - không quân,
đại tá Lê Văn Kiền, Trưởng phòng Phòng không - không quân đại diện Bộ Tham. mưu Quân chủng
Hải quân, đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng quân sự đại diện Sư đoàn không quân 371 và các
đồng chí cản bộ các đơn vị có liên quan đã họp hội nghị hiệp đồng và thống nhất nhiều nội dung về
mục đích yêu cầu nhiệm vụ các đơn vị để củng cố thực hiện tốt nhiệm vụ theo kế hoạch.

Ngày 11 tháng 6 năm 2002, căn cứ vào kế hoạch công tác quân sự năm 2002 và kết quả
công tác huấn luyện chiến dịch sau ba năm hợp nhất của Quân chủng phòng không - không quân,
Thiếu tướng Nguyễn Văn Thân, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân ra chỉ thị về việc tổ
chức diễn tập chỉ huy - tham mưu có một phần thực binh cho các đơn vị phòng không, không quân
trên chiến trường miền Bắc.

Chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng giao cho Bộ Tham mưu cùng các cơ quan Quân chủng
chuẩn bị và tổ chức diễn tập chỉ huy - tham mưu có một phần thực binh cho 3 sư đoàn phòng không:
361, 363, 365 và Sư đoàn không quân 371. Đề mục cuộc diễn tập là; "Bộ đội phòng không - không
quân trên chiến trường miền Bắc hiệp đồng với lực lượng vũ trang trên địa bàn thực hành tác chiến
đánh bại tiến công đường không của địch bảo vệ vững chắc các mục tiêu trên khu vực trách nhiệm
được giao".

Mục đích cuộc diễn tập nhằm nghiên cứu công tác tổ chức chỉ huy tác chiến phòng không
cho cụm lực lượng phòng không không quân trên một chiến trường, luyện tập nâng cao trình độ công
tác tham mưu chỉ huy, cơ quan tham mưu cho 4 sư đoàn trong quá trình tổ chức và thực hành tác
chiến đánh trả tiến công đường không của địch trên hướng chiến lược miền Bắc, đồng thời kiểm tra
khả năng tổ chức chỉ huy cơ động, sơ tán, phân tán và thực hành chiến đấu của một số đơn vị phòng
không - không quân trên chiến trường miền Bắc. Qua cuộc diễn tập đã rút ra được những mạnh yếu để
kịp thời bổ sung, hoàn thiện phương án tác chiến cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu chiến
đấu trong giai đoạn hiện nay của Quân chủng và các đơn vị.

Cuộc diễn tập được tiến hành theo 3 giai đoạn: Chuyển cấp tổ chức chuẩn bị và thực hành
tác chiến, rút kinh nghiệm diễn tập. Khu vực diễn tập; chiến trường miền Bắc từ vĩ tuyến 18 trở ra.
Quân chủng thành lập ban chỉ đạo và chỉ huy diễn tập do Tư lệnh Quân chủng làm trưởng ban và các
phó trưởng ban chỉ đạo là Phó tư lệnh - tham mưu trưởng Quân chủng, Phó tư lệnh chính trị; phó
trưởng ban chỉ đạo tham mưu trưởng diễn tập là đồng chí Trần Việt. Các uỷ viên gồm thủ trưởng các
cơ quan Quân chủng. Ngoài các đơn vị tham gia diễn tập, Tư lệnh chỉ thị cho các đơn vị Lữ đoàn
thông tin 26, Trung đoàn không quân trực thăng 916, Trung đoàn không quân vận tải 918 cử lực lượng
tham gia phục vụ.

Ngày 20 tháng 6 năm 2002, sư đoàn ra chỉ thị về việc tham gia cuộc diễn tập này. Lực
lượng tham gia diễn tập gồm toàn bộ lực lượng hiện có của sư đoàn theo chức năng nhiệm vụ trong tổ
chức biên chế và lực lượng được tăng cường. Sư đoàn thành lập tổ trung tâm chuẩn bị văn kiện diễn
tập do thượng tá Nguyễn Quý Trung, Phó tham mưu trưởng tác chiến làm tổ trưởng. Cuộc diễn tập
mang mật danh "Đối kháng không gian l/2002" kí hiệu “ĐK 1/02".Cuộc diễn tập ĐK 1/02 đã được tổ
chức từ ngày 17 tháng 6 năm 2002 đến ngày 26 tháng 7 năm 2002. Cuộc diễn tập đạt được mục đích,
yêu cầu đề ra, riêng Sư đoàn 371 có nhiều cố gắng, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chấp hành chỉ thị của Quân chủng, ngày 30 tháng 7 năm 2002 Sư đoàn 371 ra chỉ thị về tổ
chức thực hiện nhiệm vụ cơ động lực lượng bắn, ném tại trường bắn Như Xuân năm 2002.

Từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 8 năm 2002, sư đoàn cơ động lực lượng bằng đường bộ và
đường không. Toàn bộ lực lượng gồm 12 xe các loại, 7 máy bay MiG-21 có 2 UMIG-21 và 10 phi
công vào Thọ Xuân để tham gia bắn, ném. Trung đoàn không quân 923, Sư đoàn không quân 372
được Quân chủng giao nhiệm vụ tạo điều kiện giúp đỡ sư đoàn thực hiện nhiệm vụ. Trong đợt bắn,
ném bom lần này, Trung đoàn không quân 931 đạt kết quả bắn, ném giỏi, chấp hành nghiêm kỷ luật và
bảo đảm an toàn bay tốt nhất. Các đơn vị khác đạt yêu cầu đề ra.

Hai tháng sau, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 10 năm 2002, sư đoàn tổ chức bay bắn tên lửa
cảm giác trên không cho phi công tại Trung tâm huấn luyện I Cấm Sơn - Bắc Giang. Tổng số phi công
tham gia 25 đồng chí, trong đó tham gia bắn 12 đồng chí, phối bay 6 đồng chí, dự bị bắn 6 đồng chí,
và 1 đồng chí dự bị phối bay. Kết quả đợt bắn, ném bom, các phi công bắn tên lửa cảm giác đều đạt
yêu cầu đề ra.

Ngày 5 tháng 11 năm 2002, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thân kí quyết
định số 53/AĐ bổ nhiệm thượng tá Trần Trung Kiên, Phó trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng
Trung đoàn 931 làm phó tham mưu trưởng sư đoàn, điều động thượng tá Nguyễn Quý Trung, thượng
tá Trần Xuân Lai về làm phó trưởng phòng Tác chiến và phó trưởng phòng Quân huấn Bộ Tham mưu
quân chủng.

Năm 2002, sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Trong năm, sư đoàn đã tổ chức học
tập Nghị quyết Trung ương 5 và kết luận của Hội nghị Trung ương 6 cho các đối tượng đạt kết quả
100% có 85% khá giỏi, đã kết nạp 79 đảng viên mới, bồi dưỡng 193 đối tượng Đảng. Qua kết quả
phân tích chất lượng tổ chức đoàn và đoàn viên có 8/9 đoàn cơ sở đạt vững mạnh, 1/9 đoàn cơ sở đạt
khá, 1.097 đồng chí đoàn viên tham gia bình xét, đủ tư cách 1.097 đồng chí có 533 đồng chí đạt xuất
sắc. Sư đoàn đã đón 2 đoàn quân sự nước ngoài của Thuỵ Điển và Xinh-ga-po.

Năm 2003 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2001-2005 và có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc thực hiện nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ IX. Đây là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị
quan trọng cũng như các hoạt động kinh tế, xã hội, đối ngoại, du lịch văn hoá, thể thao trên phạm vi
cả nước trong điều kiện tình hình quốc tế và khu vực vẫn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch vẫn
tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình" trên nhiều lĩnh vực: chính trị tư tưởng, kinh tế, văn
hoá xã hội, nhằm đạt mục tiêu chiến lược của chúng là xoá bỏ Đảng cộng sản Việt nam và chế độ xã
hội chủ nghĩa ở nước ta.

Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng uỷ quân sự Trung ương về nhiệm vụ
quốc phòng, chỉ thị của Bộ quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân chủng
lần thứ VI và nghị quyết Đảng uỷ Quân chủng năm 2003, ngày 11 tháng 12 năm 2002, Thiếu tướng
Nguyễn Văn Thân, Tư lệnh Phòng không - không quân ra mệnh lệnh và giao nhiệm vụ quân sự năm
2003 cho Sư đoàn.

Nhằm tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự năm 2003 do Quân chủng giao, ngày 22
tháng 12 năm 2002, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về lãnh đạo nhiệm vụ năm 2003. Sau khi đánh giá
kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2002, nghị quyết Đảng uỷ sư đoàn đã chỉ ra phương hướng
nhiệm vụ năm 2003, đó là: Giữ vững quan điểm xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại; phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí cao, tập trung lãnh đạo sư đoàn vững
mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu cao,
hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến
đấu trung thành, tin cậy của Đảng, của nhân dân, góp phần bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc Việt
nam xã hội chủ nghĩa và lập thành tích chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Quân chủng phòng
không - không quân. Nghị quyết của Đảng uỷ sư đoàn đánh giá tình hình kết quả công tác xây dựng
Đảng bộ năm 2002 và đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ năm 2003. Phương hướng
biện pháp xây dựng Đảng bộ năm 2003 là thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững
sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện,
sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, trọng tâm là cơ sở chi bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên có
đạo đức phẩm chất tốt thực sự tiền phong gương mẫu trên mọi hoạt động, nhất là cấp uỷ viên, cán bộ
chủ trì. Xây dựng các tổ chức đảng, cấp uỷ trong sạch vững mạnh làm hạt nhân chính trị, hạt nhân
lãnh đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Phấn đấu xây dựng Đảng uỷ sư
đoàn đạt trong sạch vững mạnh, 10/11 tổ chức cơ sở Đảng và cấp uỷ cơ sở (trong đó có 3/3 đảng bộ,
đảng uỷ trung đoàn) đạt trong sạch vững mạnh…

Chấp hành Điều lệ Đảng cộng sản Việt nam khoá IX và chỉ thị, hướng dẫn của Quân
chủng, ngày 10 tháng 1 năm 2003, thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra chỉ thị số 314/CT-TV về đại hội các
tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ sư đoàn nhiệm kì 2003-2005.

Đây là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng bộ và đơn vị nhằm tiếp tục quán
triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng và nghị quyết đại hội Đảng bộ sư đoàn lần thứ XII.
Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn, các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ sư đoàn đã
lần lượt tổ chức đại hội cấp mình để tổng kết việc thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kì 2000- 2002;
đề ra phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu chủ trương biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh nhiệm kì 2003-
2005. Bầu cấp uỷ khoá mới có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực và trình độ tín nhiệm cao đáp ứng yêu
cầu lãnh đạo của Đảng bộ và đơn vị.

Ngày 19 tháng 2 năm 2003, đoàn của Quân chủng do Tư lệnh làm trưởng đoàn đến kiểm
tra tiểu đoàn căn cứ Kiến An - Cát Bi. Trung tá Đỗ Trọng Đạt, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn căn cứ Kiến
An báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Tư lệnh tiến hành kiểm tra việc triển khai nhiệm
vụ năm 2003 và việc chuẩn bị ra quân huấn luyện đầu năm của tiểu đoàn, đồng thời kiểm tra việc
chuẩn bị bảo đảm mọi mặt cho huấn luyện bay của các đơn vị trong sư đoàn và Quân chủng. Đoàn
kiểm tra đã kiểm tra sân bay Cát Bi. Kết thúc kiểm tra, Tư lệnh đã biểu dương những mặt tiểu đoàn đã
làm tốt và nhắc nhở tiểu đoàn một số mặt cần khắc phục để đảm bảo phục vụ các đơn vị sẵn sàng
chiến đấu và huấn luyện tốt hơn nữa.

Ngày 22 tháng 3 năm 2003, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 552/CT-SĐ về tổ chức diễn tập
chỉ huy - tham mưu có một phần thực binh mặt đất cho Trung đoàn không quân tiêm kích 931 trong
phòng tránh đánh trả địch tấn công hoả lực bảo vệ các mục tiêu chủ yếu được giao.

Mục đích cuộc diễn tập nhằm kiểm tra khả năng tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng, triển
khai phân tán, phòng tránh của Trung đoàn không quân tiêm kích 931 trong nhiệm vụ chống tấn công
hoả lực của địch; luyện tập cho cán bộ chỉ huy và cơ quan, đơn vị thứ tự các bước công tác trong giai
đoạn chuẩn bị, phòng tránh và đánh trả địch, rèn luyện bản lĩnh cho người chỉ huy và các thành phần
trong triển khai chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công
nghệ cao. Qua diễn tập giúp cho người chỉ huy và các cơ quan có điều kiện kiểm nghiệm việc nghiên
cứu lý luận và thực tiễn phương pháp triển khai phòng tránh đánh trả địch tấn công hoả lực ở trung
đoàn không quân để rút kinh nghiệm củng cố bổ sung thêm kiến thức và lý luận.

Cuộc diễn tập được tiến hành theo 3 giai đoạn: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và tổ
chức chuẩn bị chiến đấu; thực hành chiến đấu; rút kinh nghiệm diễn tập. Địa điểm diễn tập trong khu
vực đóng quân và hoạt động chiến đấu của Trung đoàn không quân 931.

Thực hiện chỉ thị của sư đoàn trưởng, sư đoàn thành lập ban chỉ đạo diễn tập gồm đại tá
Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng làm trưởng ban; đại tá Bùi Minh Tiến, Phó sư đoàn trưởng về
chính trị làm phó trưởng ban; đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng quân sự làm phó trưởng ban
-tham mưu trưởng diễn tập. Ban đạo diễn gồm các đồng chí phó tham mưu trưởng sư đoàn và tổ soạn
thảo các văn kiện cho diễn tập.

Cuộc diễn tập chỉ huy - tham mưu có một phần thực binh mặt đất của Trung đoàn không
quân 931 được tiến hành trong 3 ngày từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 4 năm 2003 đã đạt được kết quả
theo kế hoạch và mục đích yêu cầu đặt ra.

Ngày 10 tháng 4 năm 2003, Tư lệnh Quân chủng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thân kí quyết
định số 15/BĐA điều động thượng tá Nguyễn Quang Hiệp, Phó tham mưu trưởng sư đoàn về làm phó
trưởng phòng Quân lực Bộ Tham mưu quân chủng, bổ nhiệm trung tá Nhâm Tuấn Anh, trưởng ban
quân lực sư đoàn làm phó tham mưu trưởng sư đoàn.

Tháng 4 năm 2003, chấp hành mệnh lệnh của Sư đoàn trưởng và chỉ thị của Tham mưu
trưởng sư đoàn, để chuẩn bị lực lượng tham gia hội thao chỉ huy dẫn đường do Quân chủng tổ chức
năm 2003, các trung đoàn không quân 921, 927, 931 đã tiến hành tổ chức hội thi phi công - dẫn
đường giỏi cấp trung đoàn.

Lực lượng tham gia thi của Trung đoàn 921 gồm 16 đồng chí; Trung đoàn 927: 19 đồng
chí; Trung đoàn 931: 20 đồng chí. Thượng tá Trương Thanh Lương, Phó trưởng phòng Dẫn đường
Quân chủng đã trực tiếp xuống kiểm tra và chỉ đạo cuộc thi. Kết quả hội thi cả ba trung đoàn đều đạt
khá, giỏi, qua hội thi đã tuyển chọn được những phi công dẫn đường giỏi để tham gia dự thi cấp sư
đoàn và Quân chủng.

Ngày 6 tháng 6 năm 2003, sư đoàn thành lập 4 đội tuyển: cơ quan trung đoàn thành lập 1
đội, ba trung đoàn thành lập 3 đội, sử dụng và cơ động 6 máy bay MiG vào sân bay Thọ Xuân và
mang theo số rốc-két C5-KO.

Ban chỉ đạo hội thao do Phó sư đoàn trưởng- Tham mưu trưởng làm trưởng ban. Sau khi
các đội tuyển được thành lập sư đoàn đã tổ chức tập huấn (huấn luyện) cho đội tuyển. Trong tháng 8,
lực lượng của Sư đoàn không quân 371 tham gia hội thao của Quân chủng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
và được tặng thưởng nhiều giải thưởng cho các tập thể và cá nhân. Tiêu biểu như: Giải nhất khối các
trung đoàn tiêm kích, tiêm kích bom là Trung đoàn không quân 931, nhì là Trung đoàn không quân
921 cùng nhiều giải cá nhân cho cán bộ chỉ huy và phi công của sư đoàn.

Ngày 29 tháng 5 năm 2003, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Thượng tướng Phạm Văn Trà kí
quyết định số 68/QPĐ bổ nhiệm đại tá Bùi Minh Tiến, Phó sư đoàn trưởng về chính trị làm phó chủ
nhiệm chính trị Quân chủng, điều động đại tá Khổng Kim Bằng, Phó sư đoàn trưởng về chính trị Sư
đoàn 372 về làm phó sư đoàn trưởng về chính trị sư đoàn. Bổ nhiệm thượng tá Đỗ Đức Minh, Trung
đoàn trưởng Trung đoàn 931 làm phó sư đoàn trưởng quân huấn. Cùng ngày, Thứ trưởng Bộ quốc
phòng, Trung tướng Nguyễn Văn Rinh kí quyết định số 69/QPĐ điều đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư
đoàn trưởng quân huấn làm phó sư đoàn trưởng-tham mưu trưởng sư đoàn. Tháng 6 năm 2003, đại tá
Trần Văn Thanh, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng đi nhận công tác mới.

Ngày 5 tháng 7 năm 2003, đại tá Khổng Kim Bằng, Phó sư đoàn trưởng chính trị được bầu
làm bí thư Đảng uỷ, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ sư đoàn. Đồng chí Đỗ Minh Tuấn, đảng uỷ
viên được bầu bổ sung vào ban thường vụ Đảng uỷ sư đoàn thay đồng chí Thanh. Đồng chí Phạm Văn
Thái, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 và đồng chí Lương Quốc Cường, Phó trung đoàn trưởng về
chính trị Trung đoàn 931 được đề nghị bổ sung vào Đảng uỷ sư đoàn.

Ngày 15 tháng 7 năm 2003, chấp hành chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương khoá IX và
hướng dẫn của Cục Chính trị Quân chủng, sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện chỉ thị
30/CT-TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong Sư
đoàn 371.

Ngày 22 tháng 7 năm 2003, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị về việc các cơ quan đơn vị trong sư
đoàn tiến hành chuẩn bị tốt mọi mặt cho nhiệm vụ tổ chức hội thao điều lệnh, thể dục thể thao. Mục
đích hội thao nhằm đánh giá công tác huấn luyện, rèn luyện thể lực và các hoạt động thể thao quần
chúng, tuyển chọn vận động viên xuất sắc thành lập đội tuyển của sư đoàn tham gia hội thao điều lệnh
- thể dục thể thao của Quân chủng vào tháng 11 năm 2003.
Nội dung đợt hội thao rất phong phú gồm các môn như duyệt đội ngũ, bóng đá, bóng
chuyền nam, nữ, bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, điền kinh; thể thao quân sự, bắn súng. Thực hiện chỉ thị
của Sư đoàn trưởng, các đơn vị trong sư đoàn đã tăng cường công tác luyện tập, chuẩn bị hội thao ở
các trung đoàn, tiến tới tham gia hội thao ở sư đoàn và ở Quân chủng.

Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng về việc tham gia diễn tập tác chiến phòng không
trên hướng chiến lược miền Bắc, ngày 15 tháng 9 năm 2003, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 1617/CT-
SĐ về tổ chức tham gia diễn tập chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch một bên, hai cấp có một
phần thực binh đánh địch tiến công hoả lực bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa do Bộ tổ chức
cho các lực lượng phòng không - không quân trên hướng chiến lược miền Bắc.

Cuộc diễn tập mang mật danh PK-03 với đề mục: "Lực lượng phòng không - không quân
trên hướng chiến lược miền Bắc đánh trả tiến công hoả lực của địch trong chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc" nhằm kiểm tra phương án, khả năng cơ động triển khai lực lượng và sẵn sàng chiến đấu của lực
lượng phòng không - không quân trên hướng chiến lược miền Bắc, đồng thời luyện tập công tác tổ
chức chỉ huy, hiệp đồng của người chỉ huy và cơ quan các cấp theo chức trách trong quá trình tổ chức
thực hành tác chiến đánh địch tiến công hoả lực, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh bổ sung vào các
phương án tác chiến của đơn vị.

Cuộc diễn tập được chia làm 3 giai đoạn gồm: Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu; tổ
chức chuẩn bị chiến đấu và thực hành đánh trả tiến công hoả lực của địch. Lực lượng sư đoàn tham
gia diễn tập gồm chỉ huy và cơ quan sư đoàn…các trung đoàn không quân 921, 931, 927 và tiểu đoàn
Kiến An- Cát Bi.

Lực lượng thực binh gồm: Cơ động sở chỉ huy sư đoàn ra vị trí sở chỉ huy tham chiến
(K12); tổ chức cơ động sơ tán chiến đấu (chuyển sân) 2 máy bay MiG đến sân bay dự bị; tổ chức bay
2 lần chiếc MiG-21 làm quân xanh để kiểm tra khả năng phát hiện mục tiêu bay thấp.

Cuộc diễn tập PK-03 đã được tổ chức thực hiện từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 10 năm 2003.
Lực lượng tham gia diễn tập của sư đoàn đã chấp hành nghiêm, thực hiện tốt ý đồ đạo diễn chiến dịch
và hoàn thành được mọi yêu cầu nhiệm vụ đúng kế hoạch đề ra.

Ngày 18 tháng 9 năm 2003, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về việc nghiên cứu quán triệt
và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về "Chiến lược bảo về Tổ quốc trong tình
hình mới" và đề ra mục tiêu, nhiệm vụ của sư đoàn trong chiến lược này đến năm 2010 là: "Chủ động
tích cực khắc phục khó khăn, khai thác có hiệu quả vũ khí trang bị kĩ thuật, tích cực tổ chức huấn
luyện, lấy huấn luyện bay là trung tâm, huấn luyện cán bộ là then chốt, không ngừng nâng cao sức
mạnh chiến đấu của sư đoàn, giữ vững ổn định về chính trị, xử lí linh hoạt, hiệu quả, kịp thời mọi tình
huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao".

Ngày 25 tháng 9 năm 2003, Đảng uỷ sư đoàn họp để kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị
quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc (1998- 2003). Cũng trong thời gian này, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết về tiếp
tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận của sư đoàn trong tình hình mới. Nghị quyết của đảng uỷ
sư đoàn tập trung đánh giá tình hình công tác dân vận của sư đoàn trong thời gian hơn 10 năm từ năm
1991 đến năm 2003 và chỉ ra những thành công cùng những thiếu sót, khuyết điểm, trên cơ sở đó đề
ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và những chủ trương giải pháp tiến hành công tác dân vận trong
tình hình mới của sư đoàn.

Căn cứ vào Điều lệ Đảng cộng sản Việt nam (khoá IX), và quy định của Bộ Chính trị về tổ
chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt nam, ngày 30 tháng 12 năm 2003 Thường vụ Đảng uỷ sư
đoàn ra quyết nghị thành lập Đảng bộ Phòng Chính trị trực thuộc Đảng bộ sư đoàn, đồng thời chỉ định
5 đồng chí vào ban chấp hành Đảng bộ và giữ các chức vụ: Đồng chí Nguyễn Duy Bảo, Bí thư Đảng
uỷ; đồng chí Mai Đình Khanh, Phó bí thư. Các đồng chí Nguyễn Đình Loan, Nguyễn Văn Tứ,
Nguyễn Trọng Du là đảng uỷ viên. Trên cơ sở tổ chức biên chế các ban của Phòng Chính trị, Đảng uỷ
Phòng Chính trị thành lập các chi bộ trực thuộc để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của cơ quan.

Năm 2003, Đảng uỷ và ban chỉ huy sư đoàn, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã phát huy được trí
tuệ tập thể, tập trung mọi nỗ lực lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện kiên quyết có trọng tâm,
trọng điểm để giải quyết dứt điểm từng nội dung công tác, những mặt còn hạn chế của năm 2002. Cán
bộ, đảng viên, chiến sĩ trong sư đoàn đã nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí, độc lập, tự chủ, tự lực,
kiên quyết khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

Trong năm 2003, sư đoàn đã có nhiều biện pháp tích cực trong tổ chức huấn luyện bay, bảo
đảm đủ lực lượng trực ban sẵn sàng chiến đấu; huấn luyện mặt đất, huấn luyện chuyên, ngành, huấn
luyện tân binh hoàn thành tốt kế hoạch năm. Công tác đảm bảo an toàn bay được quan tâm, có nhiều
tiến bọ, kết quả huấn luyện bay năm 2003 đạt yêu cầu kế hoạch, đã bay được 146 ban có 114 ban ngày
và 32 ban đêm với 2.942 lần chiếc = 1.426 giờ 18 phút.

Đảng bộ đã tổ chức tốt đại hội 11 cơ sở Đảng, 12 Đảng bộ bộ phận nhiệm kỳ 2003- 2005,
91 chi bộ đại hội nhiệm kì 2003. Kết quả công tác xây dựng Đảng năm 2003 của Đảng bộ sư đoàn
tiến bộ hơn năm 2002, đã làm chuyển biến tiến bộ được 3 đảng bộ, 2 đảng uỷ cơ sở, 2 đảng bộ, đảng
uỷ bộ phận, 5 chi bộ, 8 chi uỷ. Xét kết nạp được 81 đảng viên mới đạt 115,71% theo kế hoạch năm,
bảo đảm đúng nguyên tắc thủ tục và chất lượng.

Bước vào năm 2004, Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết xác định phương hướng, nhiệm vụ của
sư đoàn là: Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nhất là
Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về "chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới". Tập trung
lãnh đạo xây dựng sư đoàn vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến
đấu và sức mạnh chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Chấp hành chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và chỉ thị của Thường vụ Đảng uỷ
Quân chủng về việc đổi thẻ đảng viên trong toàn Đảng, ngày 16 tháng 1 năm 2004, Thường vụ Đảng
uỷ sư đoàn ra chỉ thị số 04/CT-TV về việc đổi thẻ đảng viên trong Đảng bộ sư đoàn. Chỉ thị nêu rõ,
việc đổi thẻ đảng viên ở sư đoàn được tiến hành trong 5 đợt vào dịp các ngày lễ lớn: 19-5, 2-9, 7-11,
3-2-2005 và cơ bản hoàn thành vào dịp kỷ niệm 115 ngày sinh của Bác Hồ 19 tháng 5 năm 2005.
Thường vụ Đảng uỷ quyết định thành lập ban chỉ đạo đổi thẻ đảng viên gồm 6 đồng chí do Thượng tá
Nguyễn Đình Loan, chủ nhiệm chính trị sư đoàn làm trưởng ban. Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng đã
chọn Đảng bộ Sư đoàn không quân 371 làm đơn vị điểm làm trước để rút kinh nghiệm cho toàn quân
chủng.
Ngày 16 tháng 2 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải kí quyết định số
190/QĐ-TTG bổ nhiệm đại tá Phương Minh Hoà, Sư đoàn trưởng làm phó tư lệnh Quân chủng phòng
không - không quân. Ngày 22 tháng 2 năm 2004, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Rinh kí
quyết định điều đồng chí Đỗ Đức Minh, Phó sư đoàn trưởng làm phó sư đoàn trưởng - tham mưu
trưởng. Ngày 27 tháng 2năm 2004, Đại tướng Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kí quyết định
bổ nhiệm đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó sư đoàn trưởng - Tham mưu trưởng làm sư đoàn trưởng Sư đoàn
371, thượng tá Đặng Văn Tráng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 921 làm phó sư đoàn trưởng.

Ngày 22 tháng 4 năm 2004, Tư lệnh Quân chủng kí quyết định số 13/BAĐ bổ nhiệm
thượng tá Đinh Văn Ổn, Phó chủ nhiệm hậu cần sư đoàn làm chủ nhiệm hậu cần sư đoàn; trung tá
Ngô Tôn Quyền, Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 927 làm phó trưởng phòng Quân huấn sư đoàn.
Trung tá Lê Quang Lựu, Phó chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn làm chủ nhiệm kỹ thuật. Trung tá Nguyễn
Quốc Lương, chủ nhiệm - tiểu đoàn trưởng kỹ thuật hàng không Trung đoàn 927 làm phó chủ nhiệm
kỹ thuật sư đoàn; trung tá Đỗ Trọng Đạt, tiểu đoàn trưởng căn cứ Kiến An làm phó chủ nhiệm hậu cần
sư đoàn. Điều động thượng tá Nguyễn Tất Lượng, Chủ nhiệm hậu cần sư đoàn về làm trưởng phòng
tham mưu Cục Hậu cần Quân chủng, thượng tá Nguyễn Văn Đài, Phó tham mưu trưởng sư đoàn làm
trực ban trưởng sở chỉ huy Bộ Tham mưu quân chủng.

Ngày 15 tháng 7 năm 2004, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Rinh kí quyết định số
123/QPĐ bổ nhiệm thượng tá Vũ Xuân Bình, Chủ nhiệm kỹ thuật sư đoàn làm phó chủ nhiệm kỹ
thuật Quân chủng.

Để kiện toàn tổ chức đơn vị phòng hoá của Sư đoàn không quân 371 trong tình hình mới,
ngày 9 tháng 2 năm 2003, Trung tướng Nguyễn Văn Thân, Tư lệnh Quân chủng ra quyết định số
91/QĐ- PK-KQ về việc thành lập tiểu đoàn phòng hoá 23 thuộc Sư đoàn không quân 371. Theo quyết
định của Tư lệnh Quân chủng, Sư đoàn 371 được tiếp nhận toàn bộ đại đội 15 phòng hoá của Sư đoàn
phòng không 361 để cùng với đại đội phòng hoá của sư đoàn thành lập tiểu đoàn phòng hoá 23.

Đầu tháng 3 năm 2004, sư đoàn đã tổ chức tiếp nhận đại đội 15 phòng hoá của Sư đoàn
phòng không 361 và tổ chức thành lập tiểu đoàn phòng hoá 23 đóng tại xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà nội. Tiểu đoàn được tổ chức gồm ban chỉ huy có 3 đồng chí. Thiếu tá Nguyễn Hữu
Chuyển được bổ nhiệm làm tiểu đoàn trưởng; thiếu tá Nguyễn Tiến Sỹ làm phó tiểu đoàn trưởng về
chính trị. Tiểu đoàn gồm 2 đại đội là đại đội tiêu tẩy và đại đội trinh sát, cơ quan tiểu đoàn. Cơ sở vật
chất, doanh trại của tiểu đoàn còn nghèo phải xây dựng, tu bổ sửa chữa nhiều.

Ngày 15 tháng 3 năm 2004, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra quyết định thành lập Đảng bộ
cơ sở tiểu đoàn phòng hoá 23 trực thuộc Đảng bộ sư đoàn và lâm thời chỉ định ban chấp hành Đảng
bộ do đồng chí Nguyễn Tiến Sỹ, phó tiểu đoàn trưởng về chính trị làm bí thư; đồng chí Nguyễn Hữu
Chuyển làm phó bí thư.

Ngày 13 tháng 2 năm 2004, chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng và hướng dẫn của
Bộ Tham mưu phòng không - không quân về việc tổ chức huấn luyện đêm cho các lực lượng phòng
không - không quân năm 2004, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị cho các đơn vị trong sư đoàn tổ chức huấn
luyện.
Nội dung huấn luyện cho các đơn vị cụ thể là: Các trung đoàn không quân 921, 927 tích
cực huấn luyện kỹ thuật lái, dẫn đường ứng dụng chiến đấu ban đêm cho các phi công. Tổ chức hội
thảo chuẩn bị cho bay tập hạ cánh đường băng ngắn, hẹp ban đêm, hạ cánh bằng đèn pha, bay kết hợp
các khoa mục để duy trì tốt lực lượng trực ban chiến đấu ban đêm. Trung đoàn không quân 931 huấn
luyện chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, kéo dắt phân tán, sơ tán, nguỵ trang, nghi binh máy bay
vào nơi trú ẩn. Các cơ quan sư đoàn huấn luyện hiệp đồng chỉ huy và bảo đảm huấn luyện trong điều
kiện đêm. Huấn luyện cơ quan và sở chỉ huy chuẩn bị di chuyển ra khu vực thời chiến…

Sư đoàn tăng cường huấn luyện chiến thuật, diễn tập chiến thuật, huấn luyện đội thông tin
radar, thông tin C2 (đài cất hạ cánh dẫn đường gồm K1, K2, K3, K6 và thông tin radar C3), các đơn vị
diễn tập chiến thuật phân đội chuyển trạng thái chiến đấu làm văn kiện chiến đấu, thu hồi, cơ động
nhanh một phần khí tài hoặc toàn bộ khí tài, vật chất trang bị của trạm đến trận địa mới chiếm lĩnh,
triển khai làm công tác chuẩn bị chiến đấu và luyện tập phương án chiến đấu.

Sư đoàn huấn luyện chung cho các đối tượng về kĩ chiến thuật bộ binh, huấn luyện về hậu
cần, hoá học, khí tượng…Tiểu đoàn huấn luyện tổ chức huấn luyện hành quân dã ngoại. Tiểu đoàn
căn cứ Kiến An huấn luyện đội A2, dân vận, triển khai sở chỉ huy thời chiến mạng liên lạc vô tuyến,
sơ tán khí tài, phương tiện ra khu làm việc thời chiến… Qua đợt huấn luyện đêm các đơn vị đã hoàn
thành các nội dung huấn luyện theo kế hoạch, tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc và đề ra biện pháp
cụ thể để khắc phục những thiếu sót trong quá trình chuẩn bị và thực hành huấn luyện đêm tại sư
đoàn.

Ngày 10 tháng 3 năm 2004, đại tá Đỗ Minh Tuấn, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 481/CT-SĐ
về tổ chức diễn tập chỉ huy- tham mưu có một phần thực binh cho Trung đoàn không quân 927 theo
quyết tâm chiến đấu A với đề mục "Tổ chức sử dụng bố trí lực lượng của không quân tiêm kích trong
phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực, bảo vệ các mục tiêu chủ yếu trên hướng Đông Bắc".

Cuộc diễn tập do Sư đoàn trưởng làm trưởng ban chỉ đạo và ban đạo diễn tổ chức ra trong
2 ngày từ 16 đến ngày 17 tháng 4. Qua diễn tập trình độ tổ chức chỉ huy tham mưu chiến đấu, công
tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, chuyển trạng thái chiến đấu và thực hành chiến đấu cùng các mặt bảo
đảm khác của các lực lượng tham gia được nâng lên một bước. Các cơ quan sư đoàn và Trung đoàn
không quân 927 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập và rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích
trong sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị, thực hành chiến đấu.

Trong nhiều năm qua, tình hình công tác huấn luyện bay biển và đào tạo phi công mới của
sư đoàn được lãnh đạo chỉ huy sư đoàn và các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo chỉ đạo đúng
mức. Chấp hành nhiệm vụ kế hoạch quân sự năm 2004, ngày 12 tháng 4 năm 2004, sư đoàn tổ chức
huấn luyện bay biển và đào tạo phi công mới tại sân bay Kiến An.

Thực hiện chỉ thị của Sư đoàn trưởng, các trung đoàn không quân 921, 927, 931 đã cơ
động 8 máy bay MiG-21 đến sân bay Kiến An và cơ động toàn bộ lực lượng, phương tiện thiết bị
mang theo để thực hiện huấn luyện bay biển và đào tạo phi công mới. Lực lượng của cơ quan sư đoàn
tham gia đợt huấn luyện gồm 10 đồng chí do thượng tá Đặng Văn Tráng, Phó sư đoàn trưởng quân sự
chỉ huy chung. Lực lượng của Trung đoàn không quân 921 gồm 14 đồng chí do thượng tá Bùi Văn
Khánh, Phó trung đoàn trưởng quân huấn chỉ huy, lực lượng của Trung đoàn không quân 927 gồm 32
đồng chí do trung tá Ngô Tôn Quyền, Phó trung đoàn trưởng - Tham mưu trưởng chỉ huy; Trung đoàn
không quân 931 tham gia 10 đồng chí do trung tá Nguyễn Văn Vinh, Phó trung đoàn trưởng quân sự
chỉ huy.

Đợt huấn luyện bay biển và huấn luyện phi công mới năm 2004 của sư đoàn đã đạt được
kết quả tốt. Trình độ bay và khả năng thực hiện nhiệm vụ của các thành phần tham gia huấn luyện của
sư đoàn không quân 371 được nâng lên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2004, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị số 661/CT-SĐ về việc tăng cường
công tác rèn luyện kỷ luật, xây dựng chính quy để chấp hành nghiêm túc và triển khai thực hiện có
hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Quân chủng, sư đoàn về công tác rèn luyện kỷ luật, xây dựng
chính quy.

Trong thời gian qua, cấp uỷ các cơ quan đơn vị đã có nghị quyết chuyên đề về rèn luyện kỷ
luật xây dựng chính quy và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, coi đó là nhiệm vụ trung tâm,
thường xuyên của đơn vị mình. Các đơn vị đã có nhiều biện pháp tích cực thực hiện các chỉ thị 85,
quy định 2530 của Bộ quốc phòng, hướng dẫn 168 của Tổng cục Chính trị về đẩy mạnh công tác rèn
luyện kỷ luật trong quân đội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, từng
bước hiện đại, chỉ thị 1392/CT-TM của Bộ Tổng tham mưu về việc tổ chức quản lý hoạt động của đơn
vị trong ngày nghỉ. Sư đoàn đã tổ chức học tập cho cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và công
nhân viên quốc phòng về luật đất đai, luật hình sự sửa đổi, luật giao thông đường bộ…

Các cơ quan, đơn vị trong sư đoàn đã tích cực làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng
và quản lý rèn luyện kỷ luật xây dựng chính quy, duy trì nghiêm kỷ luật, làm tốt công tác quản lý về
con người, kho tàng, vật tư, vũ khí, vật liệu nổ và các phương tiện kỹ thuật sát thương. Tăng cường
công tác kiểm tra bảo vệ, công tác phòng chống trộm cắp, cháy nổ, đặc biệt là các kho xăng dầu, vũ
khí, quân lương, quân trang, nhà xưởng sân bay… Vì vậy, tình hình vi phạm kỷ luật của đơn vị đã
được khắc phục từng bước giảm dần. Các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, HIV không xảy ra trong
sư đoàn. Sư đoàn đã thành lập ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, gọi tắt là BCĐ-138.

Qua 3 năm thực hiện nhiệm vụ, ban chỉ đạo phòng chống tội phạm (BCĐ-138) của sư đoàn
đã hoạt động nghiêm túc, thường xuyên và đạt được hiệu quả tốt, góp phần hạn chế, ngăn chặn tội
phạm không để xảy ra vụ việc nghiêm trọng.

Ngày 18 tháng 6 năm 2004, Tham mưu trưởng sư đoàn, đại tá Đỗ Đức Minh chỉ thị cho các
cơ quan đơn vị trong sư đoàn quán triệt và thực hiện nghiêm túc "Luật phòng cháy và chữa cháy" đã
được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 12 tháng 7 năm 2001, Nghị định 35/2003/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy, chữa cháy, các quy định quản
lý vật liệu nổ, xử lý bom đạn thuốc nổ cấp 5, chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng và của Sư đoàn trưởng
về công tác phòng cháy, chữa cháy, phòng chống bão lụt, phòng chống sét đến từng cán bộ chiến sĩ
trong sư đoàn.

Các cơ quan đơn vị đã tăng cường tổ chức kiểm tra an toàn phòng chống chữa cháy tại các
mục tiêu trọng yếu như sở chỉ huy, khu bay, kho xăng dầu, bom dạn, quân lương, quân trang… tổ
chức xây dựng lực lượng chữa cháy chuyên ngành và lực lượng chữa cháy tại chỗ, luôn thường trực
24/24 giờ sẵn sàng chữa cháy kịp thời khi có sự cố và cơ động khi có lệnh của sư đoàn và Quân
chủng. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm tra số lượng chất lượng phương tiện chữa cháy
tại chỗ, sửa chữa bổ sung kịp thời phương tiện chữa cháy và tổ chức luyện tập các phương án chữa
cháy thường xuyên, vì vậy, tình hình cháy nổ tại sư đoàn trong nhiều năm hầu như không xảy ra…

Căn cứ vào chất lượng bảo đảm và số lượng phi công ra trường tồn đọng không được huấn
luyện đề cao dẫn đến tình trạng còn nhiều phi công sau ra trường trên 3 năm chưa vào trực ban chiến
đấu được, ngày 11 tháng 6 năm 2004, Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân ra chỉ thị về
việc huấn luyện đề cao tập trung cho phi công mới của Sư đoàn 371. Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh,
Sư đoàn 371 chủ động chuẩn bị tốt mọi mặt cho đợt huấn luyện tập trung phi công chưa trực ban
chiến đấu kết hợp với huấn luyện các phi công cũ.

Ngày 24 tháng 6 năm 2004, sư đoàn cử đoàn cán bộ do trung tá Trần Hậu Thiết, Phó tham
mưu trưởng sư đoàn phụ trách đi tiếp nhận phi công mới tại trung tâm huấn luyện của Trường sĩ quan
Không quân.

Ngày 1 tháng 7 năm 2004, tại trung tâm huấn luyện của Trường sĩ quan Không quân, dưới
sự chủ trì của đại tá Phương Minh Hoà, Phó tư lệnh Quân chủng, chủ tịch hội đồng kiểm tra, họp và
tiến hành các thủ tục bàn giao 6 phi công sau bay đề cao tại trung tâm huấn luyện Trường sĩ quan
Không quân về Sư đoàn không quân 371.

Thực hiện quyết định của Tham mưu trưởng Quân chủng về việc kiểm tra sẵn sàng động
viên quân dự bị năm 2004, ngày 15 tháng 7 năm 2004, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị, giao cho Trung đoàn
không quân 921 tổ chức diễn tập chỉ huy tham mưu, động viên có thực hành tiếp nhận huấn luyện và
kiểm tra sẵn sàng động viên quân dự bị vào huấn luyện theo kế hoạch. Đề mục diễn tập là: chuyển
trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên cao, tổ chức tiếp nhận kiểm tra sẵn sàng động viên
và huấn luyện, kiểm tra tổ chức biên chế thời chiến của một trung đoàn.

Sư đoàn thành lập ban chỉ đạo diễn tập do đại tá Đỗ Đức Minh, Phó sư đoàn trưởng - Tham
mưu trưởng làm trưởng ban và các tổ đạo diễn cho Trung đoàn 921. Dưới sự chỉ đạo và đạo diễn của
sư đoàn, cuộc diễn tập đã diễn ra tại tiểu đoàn huấn luyện Sư đoàn 371 trong 10 ngày từ 18 tháng 8
đến 28 tháng 8, với 3 giai đoạn diễn tập là: chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên
cao; tổ chức chuẩn bị và tiếp nhận quân dự bị động viên; thực hành huấn luyện quân dự bị động viên.

Cuộc diễn tập phối hợp giữa các lực lượng cơ quan sư đoàn, ban chỉ huy quân sự huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà nội và Trung đoàn không quân 921, tiểu đoàn huấn luyện của sư đoàn đã kết
thúc thắng lợi. Các lực lượng tham gia diễn tập huấn luyện quân dự bị động viên đã rút ra được nhiều
bài học kinh nghiệm tốt.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân về việc tổ chức bắn,
ném bom của các đơn vị không quân tại trường bắn Như Xuân, Thanh Hoá, ngày 14 tháng 7 năm
2004, Sư đoàn trưởng ra chỉ thị cho các cơ quan đơn vị tổ chức chuẩn bị tốt mọi mặt tham gia bắn,
ném bom. Nội dung nhiệm vụ của các đơn vị là: Thực hành bay bắn rốc-két C5-KO, ném bom П-50-
75 đánh mục tiêu mặt đất; thực hành bay bắn tên lửa P-60 đánh mục tiêu nhiệt ở mặt đất. Lực lượng
phi công của sư đoàn tham gia bắn ném gồm 8 đồng chí: Trung đoàn 921: 2; Trung đoàn 927: 2;
Trung đoàn 931: 4. Lực lượng cơ động bắn ném của các đơn vị tập trung tại sân bay Kép.

Sư đoàn đã tổ chức chuyển trường 7 máy bay MiG-21 từ Kép vào sân bay Thọ Xuân -
Thanh Hoá. Từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 8, các lực lượng của sư đoàn đã tham gia bắn tên lửa và
ném bom tại trường bắn Như Xuân. Kết thúc đợt kiểm tra bắn ném tại trường bắn Như Xuân do Quân
chủng tổ chức các lực lượng tham gia của Sư đoàn không quân 371 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đảm
bảo an toàn. Trong đợt bắn ném này, hai trung đoàn 927 và 931 đạt loại giỏi và được nhận cờ "Đơn vị
bắn ném giỏi năm 2004".

Ngày 24 tháng 8 năm 2004, trong khi bay huấn luyện tại sân bay Kiến An, máy bay số
5321 của Trung đoàn 931 đã bị tai nạn bay cấp 1, máy bay rơi xuống địa phận huyện Kim Thành, tỉnh
Hải Dương, phi công hi sinh. Đây là một tổn thất, ảnh hưởng đến tình hình huấn luyện, bảo đảm an
toàn bay của sư đoàn, tác động đến công tác tâm lý, tư tưởng của bộ đội.

Sau khi tai nạn xảy ra, Quân chủng thành lập hội đồng điều tra tai nạn bay do Thiếu tướng
Trần Việt, Tham mưu trưởng Quân chủng làm chủ tịch. Sau khi xem xét nghiên cứu tại hiện trường,
đoàn kiểm tra đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến tai nạn bay và báo cáo Bộ tư lệnh Quân chủng. Tư lệnh
Quân chủng đã có ý kiến kết luận về kết quả điều tra và kết luận về nguyên nhân gây tai nạn bay, các
biện pháp khắc phục hậu quả và phòng ngừa tai nạn bay trong thời gian tới. Quân chủng yêu cầu lãnh
đạo, chỉ huy các cơ quan đơn vị phổ biến đến tất cả các thành phần có liên quan và tổ chức rút kinh
nghiệm chú ý luyện tập xử lý bất trắc, nâng cao khả năng phát hiện hỏng hóc phát sinh của kỹ thuật
hàng không trong khi bay để có biện pháp xử lí kịp thời chặt.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng phòng không - không quân về việc bổ sung
nhiệm vụ bảo vệ máy bay chuyên cơ tại sân bay quân sự Nội Bài và công tác phục vụ bảo đảm cho
hội nghị diễn đàn Á-Âu lần thứ 5 (ASEM-5), ngày 27 tháng 8 năm 2004, Sư đoàn trưởng chỉ thị cho
các cơ quan, đơn vị của sư đoàn xây dựng kế hoạch bảo vệ chuyên cơ của các nguyên thủ quốc gia
các nước đến dự hội nghị ASEM-5 đỗ tại sân đỗ quân sự Nội Bài, chỉ đạo Trung đoàn không quân 921
xây dựng kế hoạch bảo vệ cụ thể và tổ chức luyện tập xử lý các tình huống theo kế hoạch đã được phê
chuẩn. Cùng thời gian trên, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn ra chỉ thị về tăng cường lãnh đạo nhiệm vụ
sẵn sàng chiến đấu tham gia bảo vệ ASEM-5. Chỉ thị nêu rõ: Cấp uỷ, chỉ huy các cấp nghiên cứu quán
triệt kĩ chỉ thị của Sư đoàn trưởng và hướng dẫn của trên để xây dựng chuyên đề và kế hoạch sẵn sàng
chiến đấu bảo vệ hội nghị cấp cao ASEM-5, đưa vào luyện tập thường xuyên nghiêm túc, sát đúng với
yêu cầu nhiệm vụ được giao và tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Bộ Tham mưu quân chủng đã tổ chức hội nghị hiệp đồng bảo
vệ chuyên cơ tại sân đỗ quân sự sân bay Nội Bài giữa Quân chủng phòng không -Không quân với Cục
Bảo vệ, Binh chủng Đặc công, Binh chủng Thông tin, Binh chủng Công binh, Cụm cảng hàng không
miền Bắc và sở chỉ huy Trung đoàn không quân 921, Sư đoàn không quân 371.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, ngày 1 tháng 11 năm 2004, Sư đoàn trưởng ra
chỉ thị về việc sơ kết 5 năm công tác bảo đảm an toàn bay của đơn vị. Chỉ thị của sư đoàn nêu rõ mục
đích, yêu cầu và nhiệm vụ của các cơ quan đơn vị trong sư đoàn qua đợt sơ kết để đánh giá đúng thực
trạng tình hình bảo đảm an toàn bay của đơn vị, chỉ ra điểm mạnh, yếu và nguyên nhân của tai nạn
bay, uy hiếp an toàn bay trong 5 năm (từ năm 2000 - 2004) để đề ra chủ trương biện pháp khắc phục
các khuyết điểm tồn tại để bảo đảm an toàn bay trong thời gian tới. Từ đó động viên được các tập thể,
cá nhân có thành tích trong đảm bảo an toàn bay.

Đợt sơ kết 5 năm công tác bảo đảm an toàn bay của sư đoàn được tổ chức chặt chẽ, tỉ mỉ và
thực hiện ở tất cả các cơ quan đơn vị trong sư đoàn. Đây thực sự là đợt sinh hoạt có ý nghĩa sâu sắc,
thông qua đó từng cơ quan, đơn vị đánh giá đúng đắn tình hình đảm bảo an toàn bay trong những năm
qua và đề ra được những giải pháp cơ bản phù hợp với điều kiện thực tế của sư đoàn nhằm nâng cao
hiệu quả công tác bảo đảm an toàn bay trong thời gian tới. Qua đợt sơ kết, sư đoàn đề nghị Quân
chủng khen thưởng cho Trung đoàn không quân 927, phi đội 1 Trung đoàn không quân 921, tiểu đoàn
kỹ thuật hàng không Trung đoàn không quân 927, tiểu đoàn thông tin radar Trung đoàn không quân
931 và một số đồng chí cán bộ chỉ huy các đơn vị có thành tích cao trong công tác bảo đảm an toàn
bay.

Ngày 21 tháng 12 năm 2004, Tư lệnh Quân chủng kí quyết định số 50/BAĐ bổ nhiệm
trung tá Nguyễn Đình Thìn, chủ nhiệm - tiểu đoàn trưởng hậu cần Trung đoàn 931 làm phó chủ nhiệm
hậu cần sư đoàn. Trước đó, Tư lệnh Quân chủng kí quyết định điều động thượng tá Trần Hậu Thiết,
Phó tham mưu trưởng sư đoàn; thượng tá Đinh Văn Tuỳ, Phó trưởng phòng Quân huấn sư đoàn về
làm phó trưởng phòng Tác chiến và trợ lý Phòng Thanh tra Bộ Tham mưu quân chủng.

Năm 2004, công tác tham mưu - tác chiến, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện bay của sư
đoàn đã đạt được kết quả tốt. Sư đoàn đã duy trì lực lượng trực ban chiến đấu ở trạng thái sẵn sàng
chiến đấu thường xuyên với 2.335 lần chuyến, đã tổ chức huấn luyện bay được 176 ban gồm 150 ban
ngày 26 ban đêm và bay hỗn hợp. Tổng số giờ bay huấn luyện và nhiệm vụ mà sư đoàn đã tổ chức
thực hiện là 1.572 giờ. Riêng công tác bảo đảm an toàn bay còn để xảy ra 2 vụ tai nạn bay cấp 1 và 2
vụ uy hiếp an toàn bay.

Các cấp uỷ đã tổ chức quán triệt sâu sắc các chỉ thị nghị quyết của Đảng gắn với chương
trình hành động nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX; 100% quân số tham gia thi tìm hiểu truyền
thống 50 năm Điện Biên Phủ và 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam; hoàn thành tốt
tổng kết công tác tổng kết lý luận thực tiễn trong 20 năm đổi mới theo chỉ thị của Ban Bí thư và
Thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương. Sư đoàn tổ chức đón trên 50 đoàn khách trong đó có 3 đoàn
khách quốc tế, phục vụ 6.000 lượt người thăm sư đoàn, viếng tượng đài không quân, phòng truyền
thống sư đoàn và các đơn vị.

Năm 2004, Đảng uỷ sư đoàn đạt trong sạch vững mạnh, có 7/8 đảng uỷ cơ sở đạt trong
sạch vững mạnh. Sư đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ theo đúng chỉ tiêu, kế hoạch năm đã đề ra.

Năm 2005 là năm có nhiều sự kiện chính trị quan trọng: Kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng,
115 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 30 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, 60 năm Quốc
khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, là năm tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X, ngày 14 tháng 12 năm 2004 Đảng uỷ sư đoàn ra nghị quyết lãnh đạo
thực hiện nhiệm vụ, lập thành tích cao nhất chào mừng những sự kiện trọng đại trên.
Nghị quyết xác định phương hướng trong năm 2005 là phải quán triệt và tổ chức thực hiện
nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết cấp trên, nhất là chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
Trung ương 8 khoá IX "Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", nghị quyết của Đảng uỷ
quân sự Trung ương về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tập trung xây dựng sư đoàn theo hướng: cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến
đấu ngày càng cao, góp phần bảo vệ vũng chắc vùng trời trách nhiệm. Sư đoàn thực sự là lực lượng
chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong
mọi tình huống. Nghị quyết đề ra 6 yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và 6 chủ trương, biện pháp chính.

Năm 2004, tình hình tai nạn bay trong Quân chủng là hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại
về người và tài sản, ảnh hưởng tới sức chiến đấu của Quân chủng. Tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2003
đến ngày 15 tháng 12 năm 2004 toàn quân chủng để xảy ra 4 vụ tai nạn bay, trong đó 3 vụ cấp 1, 1 vụ
cấp 2, uy hiếp an toàn 57 vụ. Riêng Sư đoàn 371 để xảy ra 2 vụ tai nạn bay cấp 1, 2 vụ uy hiếp an
toàn bay. Nguyên nhân của các vụ việc trên đều do các sai sót về công tác tổ chức chỉ huy, điều hành
của các tổ chỉ huy bay, sở chỉ huy, sai lầm của kỹ thuật lái, dẫn đường và phát sinh hỏng hóc của kỹ
thuật hàng không.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng, ngày 20 tháng 1 năm 2005 Sư đoàn trưởng ra
chỉ thị số 94/CT-SĐ về việc kiểm điểm các vụ tai nạn của sư đoàn trong năm 2004.

Chỉ thị gồm 5 điểm trong đó nhấn mạnh: Tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn sư đoàn
phải nghiêm túc kiểm điểm để tìm ra những nguyên nhân và xác định trách nhiệm, tiến hành xem xét
xử lý kỷ luật nghiêm túc, chính xác những tập thể, cá nhân liên quan trách nhiệm đúng qui định
2530/QĐ-BQP ngày 2 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

Thực hiện kế hoạch đã được sư đoàn trưởng phê chuẩn, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 1
năm 2005 sư đoàn tổ chức tập huấn chỉ huy bay cho 62 đồng chí là cán bộ chỉ huy bay, phi công ở các
trung đoàn. Kết quả 18 đồng chí được kiểm tra đều đạt khá, giỏi (trung đoàn 921: 7; Trung đoàn 927:
5; Trung đoàn 931: 6 đạt giỏi). Đây là lần tập huấn chỉ huy bay tiến tới đợt tập huấn do Quân chủng tổ
chức có ý nghĩa nâng cao trình độ, kiến thức chỉ huy bay cho các cán bộ, phi công các cấp góp phần
nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động bay, đảm bảo an toàn bay của sư đoàn trong thời gian tới.

Ngày 24 tháng 1 năm 2005, Thượng tướng Phùng Quang Thanh, Tổng tham mưu trưởng
Quân đội nhân dân Việt nam ký quyết định số 92/2005/QĐ-TM về việc thành lập trạm bảo đảm kỹ
thuật mặt đất cho trung đoàn không quân thuộc các sư đoàn không quân và Trường sĩ quan Không
quân, Quân chủng phòng không - không quân. Chấp hành quyết định của Thủ trưởng Bộ Tổng tham
mưu và hướng dẫn của Bộ Tham mưu quân chủng, ngày 31 tháng 3 năm 2005, Phó sư đoàn trưởng -
Tham mưu trưởng, đại tá Đỗ Đức Minh đã có báo cáo về việc thành lập trạm bảo đảm mặt đất của ba
trung đoàn 921, 927, 931. Theo quyết định của trên, mỗi trạm bảo đảm kỹ thuật mặt đất có 14 người,
trong đó có 1 sĩ quan, vị trí đóng quân của các trạm theo bố trí, sắp xếp của các đơn vị. Trang bị thực
hiện theo biên chế của ngành kỹ thuật.

Căn cứ vào kế hoạch công tác quân sự năm 2005 và kết quả huấn luyện quân sụ quý I năm
2005, từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 16 tháng 4 năm 2005 sư đoàn tổ chức diễn tập cho trung đoàn
không quân 921. Với hình thức: Tổ chức diễn tập chỉ huy - tham mưu một cấp, một bên (có phần thực
binh mặt đất) đánh địch tiến công hoả lực thời kỳ đầu chiến tranh theo quyết tâm A.

Cuộc diễn tập chia làm 3 giai đoạn; Chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho các lực
lượng của Trung đoàn không quân 921 làm nhiệm vụ A; tổ chức chuẩn bị chiến đấu và thực hành
chiến đấu đánh trả tiến công hoả lực bảo vệ các mục tiêu chủ yếu. Với công tác chuẩn bị tỉ mỉ, chặt
chẽ, từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 16 tháng 4 năm 2005 cuộc diễn tập “ĐN-05" do sư đoàn tổ chức cho
Trung đoàn 921 thực hành giai đoạn 3 đạt kết quả tốt. Cuộc diễn tập đã kiểm tra, bồi dưỡng khả năng
và trình độ của cán bộ, góp phần nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành của cán bộ, chỉ huy, cán bộ cơ
quan Trung đoàn 921 trong điều kiện tác chiến hiện đại.

Ngày 23 tháng 4 năm 2005, Thử trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Văn Được kí quyết định
điều đại tá Nguyễn Đình Loan, Chủ nhiệm chính trị sư đoàn về làm chủ nhiệm chính trị Tổng công ty
bay dịch vụ Việt nam, bổ nhiệm thượng tá Nguyễn Duy Bảo, Phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn làm
chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Ngày 20 tháng 5 năm 2005, Tư lệnh Quân chủng, Trung tướng Nguyễn
Văn Thân kí quyết định số 165/BAĐ bổ nhiệm thượng tá Ngô Doãn Tạo, Phó trung đoàn trưởng về
chính trị Trung đoàn 921 làm phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Quân chủng về tổ chức bay tổng nghiệm thu dự án VQ98
-01, ngày 2 tháng 3 năm 2005 sư đoàn lập kế hoạch tham gia bay tổng nghiệm thu dự án. Theo đó, lực
lượng tham gia bay gồm 8 máy bay MiG-21 của 3 trung đoàn (trung đoàn 927: 4; Trung đoàn 921: 2;
Trung đoàn 931: 2) trên 3 đường bay và bảo đảm hệ thống thông tin chỉ huy từ sư đoàn đến các trung
đoàn, căn cứ Kiến An.

Trung tuần tháng 6, đợt bay tổng nghiệm thu dự án kết thúc. Sư đoàn không quân 371 chấp
hành tốt nhiệm vụ bay VQ98-01 Quân chủng giao, điều hành các đơn vị thực hiện nhiệm vụ bay đúng
kế hoạch đã phê chuẩn. Hệ thống thông tin chỉ huy, ra~đa dẫn đường cơ bản bảo đảm tốt cho quản lý,
chỉ huy dẫn dắt. Các đơn vị chấp hành nghiêm lệnh bay và bảo đảm nhiệm vụ từ sở chỉ huy sư đoàn,
chủ động triển khai tổ chức thực hiện cất cánh đúng giờ, chỉ huy, quản lý chặt chẽ, xử lý tránh mây
nguy hiểm kịp thời, chính xác.

Với việc trang bị mạng thông tin chỉ huy, radar dẫn đường hiện đại vừa được nghiêm thu,
Sư đoàn không quân 371 cùng các đơn vị bạn có điều kiện chỉ huy vững chắc, chặt chẽ mọi hoạt động
bay trong sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và các nhiệm vụ đặc biệt.

Thực hiện kế hoạch tổng kết 5 năm công tác khoa học công nghệ - môi trường Quân chủng
phòng không - không quân (2001- 2005), ngày 14 tháng 7 năm 2005 sư đoàn tiến hành báo cáo tổng
kết công tác khoa học công nghệ - môi trường. Năm năm qua, lãnh đạo, chỉ huy các cấp các ngành đã
quán triệt sâu sắc chỉ thị số 57/CT - PK-KQ ngày 10 tháng 9 năm 2001 của Tư lệnh Quân chủng về
việc triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộ quốc phòng về
nhiệm vụ công tác khoa học công nghệ - môi trường trong thời kỳ mới, vận dụng có hiệu quả trong tổ
chức thực hiện. Hoạt động khoa học công nghệ - môi trường được triển khai sâu rộng ở các cơ quan,
đơn vị. Hàng năm, các cơ quan, đơn vị đều tiến hành rà soát, điều chỉnh và xây dựng chương trình
hành động phù hợp với tình hình nhiệm vụ, thực trạng vũ khí trang bị kỹ thuật; động viên, khuyến
khích các tập thể cá nhân nghiên cứu khoa học, tham giá các phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật
trong quản lý khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông.

Toàn sư đoàn đã hoàn thành và đưa vào áp dụng 17 sáng kiến, đang triển khai thực hiện 8,
trong đó có 8 sáng kiến được khen thưởng; tổ chức biên soạn và phát hành trong nội bộ tài liệu "Sổ
tay công tác quân sự - chính trị không quân". Hoạt động công tác môi trường đã có chuyển biến tích
cực trong việc xây dựng quy hoạch, nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc của các cơ
quan, đơn vị cơ sở. Báo cáo chỉ ra một số khuyết điểm, hạn chế, nguyên nhân và một số định hướng
chung công tác khoa học công nghệ - môi trường 5 năm 2005- 2010.

Thực hiện hướng dẫn của trên, ngày 10 tháng 9 năm 2005 Đảng uỷ sư đoàn đã có báo cáo
kết quả hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII trong Đảng bộ sư đoàn.

Báo cáo chỉ rõ: Trong thời gian qua, Thường vụ Đảng uỷ sư đoàn đã quán triệt, kiện toàn
và triển khai hướng dẫn đến tất cả các đầu mối trong toàn Đảng bộ. Kết quả triển khai, tổ chức thực
hiện được đánh giá trên các nội dung: chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống: chấp hành nguyên tắc tập
trung dân chủ và lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tính đến quý III năm 2005, toàn Đảng bộ kiểm tra được 235 đảng viên về lập trường, quan
điểm, phẩm chất đạo đức lối sống, đã kiểm tra được 5 đảng viên có dấu hiệu vi phạm kỷ luật. Sau
kiểm tra kết luận 3 trường hợp vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý. Kết quả phân tích chất lượng đảng
viên: 100% đủ tư cách, trong đó có 86,7% hoàn thành tốt nhiệm vụ, tăng 2,45% so với quý III năm
2004. Đối với đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, Đảng uỷ sư đoàn, cấp uỷ và chỉ huy các cấp đã
có nhiều biện pháp thiết thực lãnh đạo và tổ chức thực hiện nên có nhiều chuyển biến tiến bộ trong
nhận thức và ý thức chấp hành của mỗi người tốt hơn, không khí dân chủ được mở rộng, những biểu
hiện tiêu cực, thói hư tật xấu được loại trừ, kết quả trên góp phần giữ gìn cho sư đoàn thường xuyên
ổn định, thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Trong không khí hào hùng của đợt kỷ niệm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, từ ngày 14 đến ngày 15 tháng 9 năm 2005, Đại hội đại biểu
Đảng bộ Sư đoàn 371 lần thứ XIII nhiệm kỳ 2005 - 2010 tiến hành và thành công tốt đẹp.

Về dự đại hội gồm 109 đại biểu của 12 tổ chức Đảng trực thuộc, tiêu biểu cho trí tuệ, ý chí,
nguyện vọng của toàn thể cán bộ đảng viên, đoàn viên, chiến sĩ của sư đoàn. Đại hội vinh dự đón
Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hải, Phó tư lệnh về chính trị - Bí thư Đảng uỷ Quân chủng; Thiếu tướng
Lê Hữu Đức Phó tư lệnh Quân chủng đến dự và chỉ đạo.

Đại hội có nhiệm vụ thảo luận báo cáo tổng hợp kết quả tham gia đóng góp ý kiến vào các
văn kiện của Trung ương ở đại hội cơ sở Đảng, đề xuất vấn đề cần thảo luận dự thảo báo cáo chính trị
của Đảng uỷ Quân chủng phòng không -Không quân lần thứ VII; báo cáo chính trị của Đảng uỷ sư
đoàn nhiệm kỳ 2005- 2010; bầu ban chấp hành Đảng bộ và đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ Quân
chủng.

Báo cáo chính trị của Đảng uỷ sư đoàn trước đại hội đã khẳng định: Trong điều kiện có
nhiều khó khăn, Đảng bộ đã luôn đoàn kết, chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cơ
bản đã hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu mà Đại hội lần thứ XII đề ra, có nhiều nhiệm vụ hoàn
thành tốt. Trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu được củng cố, có nhiều nội dung được nâng cao.
Lãnh đạo khắc phục khó khăn, bảo đảm đủ số lượng, chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các
nhiệm vụ, ý chí quyết tâm và trách nhiệm của bộ đội với nhiệm vụ được giao có bước chuyển biến tốt.
Tình hình tư tưởng ổn định, góp phần xây dựng sư đoàn ngày càng vững mạnh theo hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới.

Về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong nhiệm kỳ tới, báo cáo chính trị chỉ rõ: Phải
quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của trên… thường xuyên củng cố và
nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng chấp hành nhiệm vụ trong các tình huống. Tạo một
bước chuyển biến cơ bản, vững chắc về chất lượng chính trị, trình độ chính quy, năng lực lãnh đạo, tổ
chức chỉ huy, quản lý ý thức chấp hành kỷ luật và các chế độ quy định. Phấn đấu hàng năm Đảng uỷ
sư đoàn đạt trong sạch vững mạnh, có trên 90% Đảng bộ, chi bộ cơ sở, Đảng bộ bộ phận, chi bộ đạt
trong sạch vững mạnh, không có tổ chức Đảng, cấp uỷ yếu kém. 100% đảng viên đủ tư cách trong đó
có 80 đến 85% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đại hội bầu ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2010 gồm 13 đồng chí: Khổng Kim
Bằng, Đỗ Minh Tuấn, Đỗ Đức Minh, Nguyễn Duy Bảo, Đặng Văn Tráng, Ngô Doãn Tạo, Nhâm Tuấn
Anh, Lê Quang Lựu, Đinh Quang Ổn, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Văn Thái, Lương Quốc Cường,
Nguyễn Song Tùng. Tại hội nghị lần thứ nhất, Đảng uỷ bầu 4 đồng chí làm uỷ viên thường v