You are on page 1of 2

1.

Khổng Tử:
- Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để
truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó.
- Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường.
- Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở -> thuyết phục các vua
chư Hầu chịu đem Đạo của ông ra ứng dụng để đem lại thái bình cho dân chúng.
- Nhưng Đạo của ông là Vương Đạo (đạo trị quốc) nên đi ngược ý đồ Bá Đạo (đạo chinh phạt) của các
vua chư hầu và quyền lợi của các quan Đại phu
 các vua chư hầu đều không dám dùng ông.
 Ông từng cảm thán "Ai mà không phải đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không có
ai đi theo đạo này ?[13]".
- Khi bị vây ở đất Khuông, Khổng Tử nói "Sau khi vua Văn Vương mất, tất cả mọi văn hóa, lễ nhạc đều
không phải ở nơi ta cả ư ? Nếu trời muốn cho nền văn hóa này mất đi, thì sao khi vua Văn Vương
chết, lại ủy thác cho ta nắm giữ nền văn hóa này làm gì ? Còn nếu trời đã không muốn để mất nền
văn hóa này, thì người Khuông kia làm gì được ta ?"[14].

Tài năng của Đức Thánh nhân ko đc vua chúa thời Xuân Thu trọng dụng => Thoái quan vi sư là cách
ứng xử của KT để giúp ích cho đời. Đạo làm quan của ông thể hiện qua lời ông nói với Nhan
Hồi "Dùng ta thì ta giúp làm nên sự nghiệp, không dùng thì ta ở ẩn. Chỉ có ta và ngươi có thể làm
được điều này mà thôi.”

2. Nhan Tử : Nhan Uyên


- Người học trò tài giỏi nhất trong 3000 môn sinh của Khổng Tử, nhưng sự nghiệp dở dang vì mệnh
yểu “Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh”

3. Gia Cát Khổng Minh: nhà quân sự thiên tài thời Tam quốc, ôm ấp chí nguyện khôi phục nhà Hán, thống
nhất đất nước nhưng không thành, qua đời lúc tuổi 54.
Trong bài Tam Quốc diễn ca cuối tác phẩm, La Quán Trung có mấy câu tả về quyết tâm bắc phạt nhưng
không thành của Gia Cát Lượng:
...Kỳ Sơn trở ngọn cờ đào,
Một tay mong chống trời cao nghìn trùng.
Ngờ đâu vận đã cùng khôn gượng,
Nửa đêm gò Ngũ Trượng sao sa...
Nhà thơ Đỗ Phủ có bài thơ ca ngợi lòng trung thành của Gia Cát Lượng khi đến thăm đền
thờ ông:
Miếu thờ thừa tướng là đây
Cấm thành rừng bách phủ đầy trước sau
Nắng xuân cỏ biếc một màu
Tiếng oanh trong lá toả vào không gian
Ba lần cầu kiến cao nhân
Hai triều đã tỏ lão thần tận tâm
Kỳ sơn giữa trận từ trần
Khách anh hùng để tần ngần lệ rơi.

4. Đổng Trọng Thư : Bậc đại nho đời Hán, học rộng tài cao, từng ra làm quan nhưng không đc trọng dụng,
ko thể thi thố tài năng
 Lui về mở trường dạy học “ Thương thầy Đổng Tử cao xa/ Chí thời có chí, ngôi mà không ngôi”
Còn bao nhân tài lỗi lạc, cao khiết mà ông Quán rất thương.
5. Nguyên Lượng Đào Uyên Minh (Đào Tiềm)
“ Thương người Nguyên Lượng ngùi ngùi
Lỡ bề giúp nước lại lui về cày”
Đào Uyên Minh truyện chép trong Tấn Thư (Sử nhà Tấn) kể chuyện Đào Tiềm làm Bành Trạch huyện
lệnh chưa đầy ba tháng, một hôm Thái thú quận Tầm Dương phái Đốc Bưu xuống huyện, nha lại
khuyên ông lễ phục cân đai chỉnh tề ra nghênh đón trước. Ông thạn: “Ta há lại vì 5 đấu gạo (lương
bổng chức huyện lệnh) mà phải khom lưng uốn gối trước đứa trẻ con thôn xóm”. Ngay hôm đó treo ấn
từ quan, về vườn hẳn, hái cúc, uống rượu, ngâm thơ, để lại bài “Quy khứ lai từ” nổi tiếng.
 Được người đời mệnh danh là thi nhân cày ruộng cuốc vườn.

6. Hàn Dũ:
- Đỗ tiến sĩ, có tài văn chương lỗi lạc, vì cương trực mà thất thế trên đường công danh.
- Câu thơ “Sớm dâng lời biểu, tối đày đi xa” nói về việc Hàn Dũ “cãi” lời vua mà bị đày.
- Chuyện là, Ðường Hiến Tông vào những năm cuối đời rất tin đạo Phật. Nghe nói trong ngôi chùa nọ
có thờ một đốt ngón tay của đức Phật, cứ 30 năm mới mở ra một lần cho mọi người vào chiêm bái,
Hiến Tông lập tức cho rước đốt xương đó vào cung thờ phụng, sau lại rước ra chùa cho mọi người
xem. Những cuộc đưa rước, chiêm bái của ông được quan viên hùa theo => hết sức linh đình, xa
xỉ...
- Hàn Dũ viết một bài biểu dâng lên can gián vua, lời lẽ rất đanh thép, khuyên vua nên ném xương
Phật vào nước lửa, Phật có giáng tội ông xin chịu hết. Hiến Tông nổi cơn thịnh nộ, truyền đem ông
ra chém, may nhờ có nhiều người can gián ông mới thoát chết, chỉ bị giáng chức, đày đi làm Thứ sử
ở Triều Châu, nay thuộc tỉnh Quảng Tây.

7. Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di (thầy Liêm, Lạc), những nhà triết học xuất chúng đời Đường, có làm
quan một thời gian ngắn nhưng không được tin dung.
 Lui về dạy học:
“Thương thầy Liêm, Lạc đã ra
Bị lời xua đuổi về nhà giáo dân”
 NĐC đã tạo ra phong cách ngôn ngữ trang trọng khi thể hiện tình thương của ông Quán:
+ “Thương” lặp nhiều lần
+ Đại từ nhân xưng: “đức”, “thầy”, “ông”, “người”…. => kính phục, cảm mến, trọng vọng.

- Họ là những người có tài, đức và có chí muốn hành đạo giúp đời, giúp dân, nhưng đều không đạt sở
nguyện.
- Bấy nhiêu con người ấy ít nhiều đều có những nét đồng cảnh với Nguyễn Đình Chiểu. Là một nhà
nho, ông cũng từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập nên sự nghiệp công danh, nhưng cuộc đời dồn
cho nhà thơ quá nhiều bất hạnh, thời buổi nhố nhăng, nên không thể đạt nguyện.
- Bởi thế, lẽ thương ở đây chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng nhà thơ Đồ Chiểu.
“ Gặp cơn Hán mạt, đã đành phôi pha”
- Chuyện sách vở mà cũng là chuyện cuộc đời, Nguyễn Đình Chiểu đã vì cuộc đời, vì sự an bình của
nhân dân mà thương, mà tiếc cho những người hiền tài không gặp thời vận để đến nỗi phải “đành
phôi pha”.
 THƯƠNG YÊU THA THIẾT, ĐẦY TÍNH NHÂN BẢN VÀ BÁC ÁI.
 Vậy, lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ tình cảm yêu thương nhân dân, mong
muốn nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc, những người tài đức có điều kiện thực hiện chí
nguyện bình sinh.