You are on page 1of 117

1

Tây Dương Gia Tô bí lục .


Ghi chép những chuyện kín của đạo Gia Tô Tây Dương .
Nguồn: Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1981. Bản điện tử do talawas thực hiện.

Nam Lục lão tẩu: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hoà Đường
Hải Châu hậu tẩu: Nguyễn Bá Am, Trần Trình Hiên
Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu

Bản tiếng Việt của tác phẩm này ra đời cách đây 26 năm, do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành, với dòng ghi
"Lưu hành nội bộ". Từ đó đến nay, cuốn sách này đã là đối tượng, nguyên nhân, hay xuất phát điểm của rất nhiều
cuộc tranh cãi, thường là gay gắt và thậm chí đau đớn. Đưa Tây Dương Gia Tô bí lục lên mạng lần này, chúng tôi
tin tưởng ở sự trưởng thành trong kiến thức, nhận thức và văn hoá tranh luận của độc giả sau gần ba thập niên đầy
biến chuyển của Việt Nam. Trong những ngày tới, chúng tôi sẽ giới thiệu một số bài tranh luận xung quanh cuốn
sách này.
talawas

Lời giới thiệu


Vài nét về tác giả, tác phẩm và văn bản

Tây Dương Gia Tô bí lục là một tác phẩm truyện ký dã sử bằng chữ Hán về đề tài tôn giáo với quan điểm tư tưởng
yêu nước chống đế quốc xâm lược. Theo những chi tiết đã được ghi trên sách từ tác phẩm này do Phạm Ngộ Hiên,
Nguyễn Hoà Đường, Nguyễn Bá Am và Trần Đình Hiên cùng soạn. Cả bốn người đều là giáo sĩ Thiên Chúa giáo
dòng Tên sống vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Sách có bài tựa, mục thứ, lược dẫn, nguyên dẫn và phần chính, chia làm 9 quyển, nội dung tóm tắt như sau:

Quyển I: Huyền thoại về sự ra đời và tiểu sử Jêsu; thuyết phần hồn phần xác, chúa Trời ba ngôi, v.v.

Quyển II: Cách thức Jêsu đã làm để thuyết phục người Jiuđê theo các tín điều nghi lễ do mình đề xướng: phép nước
thánh, bánh thánh, rửa tội, giải tội, lễ Misa, v.v.

Quyển III: Jêsu đến giảng đạo ở Jêrusalem và sự phản ứng của dân chúng. Đầu đuôi việc Jiuđa phản bội và cuộc
hành hình trên núi Gôgôtha.

Quyển IV: Huyền thoại về việc Jêsu sống lại truyền phép kín cho các môn đồ trên núi Ôlivêtê.

Quyển V: Huyền thoại về việc Jêsu chỉ huy đội quân Lâm Bô đánh phá Jêrusalem. Những biện pháp của vua Jiuđê
nghiêm cấm “tả đạo”.

Quyển VI: Môn đồ của Jêsu do Phêrô cầm đầu lánh ra ngoài cõi Jiuđê, sang kinh đô Tây Dương (La Mã) được nhà
vua trọng dụng. Vua Tây Dương tôn đạo của Jêsu làm quốc giáo, cho vẽ ảnh, đúc tượng Jêsu, thu thập các di vật và
phỏng tạo các nơi lưu niệm, v.v.

Quyển VII: Các Giáo hoàng sắp đặt các phép tắc nghi lễ để nâng đạo Jêsu (Gia Tô) lên địa vị độc tôn (trước đó dân
Tây Dương theo đa thần giáo).

Quyển VIII: Đạo Gia Tô bành trướng sang các nước láng giềng và biện pháp của một số nước cấm đạo để đối phó
với âm mưu thôn tính của người Tây Dương.

Quyển IX: Quá trình đạo Thiên Chúa truyền vào Việt Nam. Sự thức tỉnh đầu tiên của những người Thiên Chúa giáo
yêu nước trước nguy cơ nạn ngoại xâm nấp sau danh nghĩa truyền giáo.
2

Về quá trình hình thành tác phẩm và vài nét liên quan đến tiểu sử tác giả:

Vào cuối thế kỷ XVIII, giám mục khâm mạng toà thánh ở Việt Nam phán quyết giải tán dòng Tên, sáp nhập giáo đồ
vào dòng Đôminic (tức Đômingô). Giáo đồ trấn Sơn Nam Hạ không chịu mất dòng, đã trích quỹ nhà thờ và quyên
góp thêm được một số tiền tạm đủ, khẩn thiết khẩn cầu hai giám mục địa phận Nam Chân (nay là vùng Hải Hậu, Hà
Nam Ninh) là Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hoà Đường sang Tây Dương đưa đơn khiếu nại lên Giáo hoàng. Hai ông
sợ giáo đồ đồng loạt bỏ đạo, đã nhận lời ra đi. Qua Ma Cao, đi thuyền biển mất sáu tháng, hai ông đến La Mã
khoảng giữa năm 1793, đưa đơn khiếu nại và được vào bệ kiến Giáo hoàng. Hai ông được đón tiếp ân cần trang
trọng như lời thỉnh cầu khôi phục dòng đạo thì không được giải quyết. Cũng trong dịp đó, hai ông được Giáo hoàng
đặc cách cho đọc một tập tài liệu mật của giáo hội. Qua đó, từ mặt trái của vấn đề, hai ông đã nhận ra rằng từ lâu
người Tây Dương đã có ý đồ lợi dụng việc truyền đạo để xâm lược các nước ngoài, trong đó có nước ta. Về nước
vào năm 1794, hai ông cùng nhau ôn trí nhớ, ghi lại nội dung cuốn sách đã được đọc trong điện Giáo hoàng, đặt tên
là Gia Tô bí pháp (phép kín đạo Gia Tô), cất kín trong tráp để đợi thời, rồi bỏ chức giám mục mà ra khỏi đạo.

Hai chục năm sau, hai thầy cả trẻ quê ở Hải Dương là Nguyễn Văn Hoằng (hiệu Bá Am) và Trần Đức Đạt (hiệu
Trịnh Hiên), tuy chưa ra nước ngoài, nhưng bằng vào kinh nghiệm riêng của mình cũng rút ra được kết luận tương
tự. Hai ông tìm đến Nam Chân thăm hai giám mục già. Bấy giờ là năm 1806, Phạm Ngộ Hiên qua đời, Nguyễn Hoà
Đường gặp người cùng chí hướng, vui mừng đem sách Gia Tô bí pháptrao cho Văn Hoằng, Đức Đạt. Họ cũng lấy ra
một tập sách đã khởi thảo đưa nhờ cụ Nguyễn đọc giúp. Nguyễn Hoà Đường xem xong, sốt sắng đóng góp ý kiến
sửa chữa thêm bớt “khiến cho người ta xem xong đều biết những thủ đoạn lừa bịp của bọn giặc Tây Dương”. Sau
lần ấy, Văn Hoằng ở lại Thăng Long, Trần Đức Đạt về quê chưa được bao lâu thì chết vì bị đầu độc bởi kẻ xấu tay
sai của bọn đội lốt thầy tu nước ngoài. Đau xót trước cái chết của bạn, Văn Hoằng đóng cửa không ra khỏi nhà, biên
tập lại Tây Dương Gia Tô bí lục một lần nữa rồi thuê người viết chữ khắc in. Sách in xong năm Gia Long 11 (1812),
bày bán ở các phố chợ Thăng Long. Không ngờ Toà Tổng giám mục biết chuyện, xuất tiền sai người đi lùng mua
hết số sách đã in ra, lại mua luôn cả ván in đem về tiêu huỷ. Văn Hoằng vô cùng căm giận, tìm cách cất giấu một
bản chép tay để lưu lại cho đời sau.

Chưa rõ bản sách do Nguyễn Văn Hoằng cất giữ đó có còn đến ngày nay hay không. Chỉ biết rằng về sau sách đó đã
được lưu truyền và một truyền bản của nó đã đến với chúng ta. Đó là cuốn sách hiện lưu giữ tại Thư viện khoa Sử
Trường đại học Tổng hợp Hà Nội mang ký hiệu HV26. Từ bản đó, năm 1962, Thư viện Khoa học trung ương (nay
là Viện Thông tin khoa học xã hội) đã sao chép thêm một bản để tại thư viện ấy (ký hiệu VHv 2137).

Bản HV26 là một cuốn sách chép tay có nguồn gốc trong nhân dân. Toàn bộ có 103 tờ giấy dó loại tốt khổ rộng (21
x 30cm). Gáy sách bả sơn, bìa dẻo phủ đầu sơn bóng màu cánh gián; ba mép quét son, trên dưới có chừa khoảng
trắng đủ đề 4 chữ “Dương tả bí lục”, đó là tên gọi tắt của tác phẩm này. Chữ chép trong sách là lối chữ thảo rất có
thể cách, đều đặn từ đầu chí cuối. Theo thực trạng của sách cùng với việc các chữ huý của Tự Đức được kiêng tránh
đầy đủ, chúng tôi ước đoán sách này có thể được sao chép vào khoảng cuối thế kỷ trước hoặc những năm đầu thế kỷ
này.

Cuối bài tựa tên Nguyễn Bá Am và Trần Trình Hiên, nhưng trong bài lại có lời khiêm tốn nói: “bốn người quê mùa
chúng tôi”, có lẽ vì vậy mà dòng lạc khoản đề là “Tân Lê Giáp dần niên đào nguyệt ký” (ghi vào tháng Hoa đào –
tức tháng hai, năm Giáp Dần thời nhà Lê đã suy tàn). Đó là năm Giáp Dần niên hiệu Cảnh Thịnh 1 triều Tây Sơn
(1794), cũng là năm hai ông Phạm, Nguyễn đi La Mã về (chép ở Q. IX, đã nói ở trên). Thực ra đó không phải là năm
thực sự bài tựa đã được viết ra. Đọc bài tựa ấy, chúng ta thấy vai trò của hai ông Phạm, Nguyễn rất được đề cao. Hai
ông sau, vì muốn thay lời cho cả bốn người, cho nên có thể họ đã lấy năm tháng của bài tựa cũ nhưng tránh không
ghi niên hiệu Cảnh Thịnh, chỉ nói phớt qua bằng hai chữ “tàn Lê”.

Tiếp sau tựa, có mục thứ, lược dẫn, nguyên dẫn và phần chính gồm 9 quyển, đầu mỗi quyển có hai câu thơ mào đầu
như đã được chép giới thiệu ở mục thứ. Phần chính văn, ngoài một vài đoạn ngắn bị thiếu phải bỏ cách, nói chung
các phần đều hoàn chỉnh. Trong sách có khá nhiều chữ phiên âm tên người, tên đất và danh từ tiếng nước ngoài (chủ
yếu là tiếng Latinh) ra chữ Hán. Ngoài một bộ phận phiên âm khá có quy tắc như KhuDiêu = Jiuđê, KhuSa = Jiuse,
KhuDa = Jiuda, NhiệtSiMaNê = Gêtsêmani, v.v. số còn lại phần nhiều chỉ ở mức độ gần sát chênh lệch nhau, như
BaLinh = Bêtlehem, ThiLinh = Bêtani, v.v. Điều đáng chú ý là có một số trường hợp chép nhầm, ví dụ KhuDa chép
nhầm thành KhuDiêu, CôngSàMaSong = Confirmatio (lễ kiên đạo) nhầm ra CôngSàAnSong hoặc CôngSàMaNô,
CôMôNhung = Cômmuni (phép thánh thể) nhầm ra CôMô là thánh pháp, v.v. Lại có một vài tên địa lý dùng không
3

chính xác, như YthiTô là chữ phiên âm tên nước Ai Cập (Egipto) có khi lại dùng để chỉ cả nước Italia, v.v. (có thể
nghĩ rằng những trường hợp này sai chuyền từ các văn bản trước đó). Những lầm lẫn như vậy ít nhiều gây trở ngại
cho việc theo dõi tác phẩm. Dẫu sao đó cũng là những sai sót có thể tránh khỏi trên con đường truyền bản, nhất là
vấn đề phiên âm chữ nước ngoài quả thật có khó khăn đối với các tác giả là người chép sách Hán Nôm.

Ngoài phần chính văn, trong sách còn có nhiều ghi chú viết chữ nhỏ lưỡng cước. Những điều ghi chú này, theo nhận
xét của chúng tôi, gồm hai loại: một loại là những điều ghi thêm với ý chưa nói đến trong chính văn và chú giải một
số chi tiết liên quan đến việc đạo. Loại chú thích này có lẽ chủ yếu là của các tác giả nhưng cũng thấy có bóng dáng
của người khác tham gia chú thích thêm ở một ít trường hợp. Loại thứ hai là những lời bình luận của một vài người
khác nữa tỏ ý tán thưởng ở những chỗ đắc ý. Theo cách ngày trước, những ý kiến đó thường ghi bên cạnh ở phần
trắng giữa các dòng chữ, đến các truyền bản tiếp theo, người sao chép đều tôn trọng đưa vào phần lưỡng cước như
các nguyên chú khác.

Điều đó cho thấy rằng trước đây Tây Dương Gia Tô bí lục đã được dư luận chú ý và từng có một vài người khác
tham gia vào việc chú thích bình luận tác phẩm. Hơn thế, phải chăng trong định bản hiện nay phần nào còn có vai
trò nhuận sắc, bổ sung của một trong những người khuyết danh, chẳng hạn ở đoạn nói về sự kiện chiến tranh thuốc
phiện ở Trung Quốc? Điều đó hiện còn chưa rõ. Dẫu sao thì việc có một vài người khác đã tham gia bình luận chú
thích, một bộ phận hợp thành của tác phẩm, là điều đã rõ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng về tác giả Tây Dương Gia Tô
bí lục, ngoài bốn người đã nói trên, nên kể thêm sự đóng góp của một vài người khuyết danh ở nửa cuối thế kỷ XIX
nữa.

Tiếng vang của một cuộc đấu tranh tư tưởng

Đọc Tây Dương Gia Tô bí lục, chúng ta thấy đề tài chung của tác phẩm có thể nói là rộng lớn, cả về không gian và
thời gian. Tác phẩm không chỉ nói về cuộc đời của Jêsu từ khi ra đời cho đến khi tử nạn, mà còn kể lại cả những
huyền thoại về sự hiển hoá của Chúa Cứu Thế trong đức tin của giáo đồ. Con đường truyền đạo không chỉ dừng lại ở
những chuyến đi không mấy thuận lợi đến các làng xung quanh Jêrusalem, mà còn theo chân các sứ đồ đến các tiểu
vương quốc miền Tiểu Á, sang kinh đô của đế quốc La Mã. Rồi từ đó, nhiều thế hệ giáo sĩ lại mở những hành trình
truyền giáo đầy gian nan nguy hiểm: phía tây đến tận các nước bờ đông Đại Tây dương, phía đông sang tận Trung
Quốc, Việt Nam đầu thế kỷ XVI.

Tuy vậy, tác phẩm này không phải là một tập đại thành ca ngợi ơn cứu chuộc của chúa Jêsu và chiến công của các
nhà truyền giáo. Trái lại, toát lên trong toàn bộ tác phẩm là một tâm trạng thất vọng sâu sắc, có phần cay đắng, hãy
còn nóng hổi của những người vừa bước qua biên giới của lòng tin.

Với lối văn kể chuyện sinh động, khi cần thiết có kê cứu tài liệu tham khảo đối chứng, các tác giả Tây Dương Gia
Tô bí lục đã đề cập đến hầu hết những vấn đề cơ bản của đạo Gia Tô. Không hoài nghi gì về sự có thật của một
người tên là Jêsu, các ông cũng nhận thấy rằng, ngay từ khi mới ra đời, người đó là một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lớn
lên thông minh hiếu động, có bản lĩnh cứng cỏi, về sau trở thành đặc điểm của con người Jêsu, có khả năng chinh
phục khiến cho người xung quanh tuân theo ý nghĩ của mình, v.v. Tuy vậy, các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục bác
bỏ quan niệm cho Jêsu như một đấng tiên tri siêu nhiên, phê phán tính chất huyền hoặc hoang đường của các thuyết
chúa Trời ba ngôi, Jêsu là Chúa ngôi hai chịu nạn để chuộc tội cho thiên hạ, cho rằng tất cả những lời răn đe về thiên
đường, địa ngục, ngày tận thế, toà phán xét, v.v. đều là những lời lẽ lòe bịp, ngu dân; mười điều răn “điều nào cũng
tựa như khuyên người ta làm điều thiện, nhưng cái ý lớn là cốt làm cho người ta kiên lòng theo đạo mà thôi”.

Trong cuộc đối đầu trong lãnh vực tư tưởng giữa một luồng tư tưởng tôn giáo từ phương xa tới với tư tưởng tín
ngưỡng cổ truyền của người bản địa, có thể nói các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục là những người Việt Nam đầu
tiên đã đưa ra một tác phẩm bày tỏ quan điểm phê phán của mình đối với những tín điều Thiên Chúa giáo [1] . Nói
chung các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục đã trình bày ý kiến của mình bằng những lập luận duy lý, dùng lôgic của
đời sống hiện thực để chứng minh những gì là phi lý, hoang đường. Những lý lẽ của các ông có thể nói là sắc bén,
bởi vì phần nhiều nói đúng vào những điểm mà đối phương khó hoặc không thể giải thích được. Nhưng do bị hạn
chế bởi ý thức hệ Nho giáo (trước khi vào trường dòng, các ông đều là những người theo Nho học) nhiều khi các
ông đã đưa cả những giáo điều của Khổng Mạnh vào ý kiến của mình.

Ngày nay, đọc tác phẩm của các ông, nếu chỉ xét theo góc độ tranh biện tư tưởng, chúng ta không khỏi cảm thấy lập
4

luận của các ông có phần sơ lược, so với các nhà tư tưởng lớn thế kỷ XVIII ở châu Âu phê phán Thiên Chúa giáo thì
không thấm vào đâu. Nhưng đó chính lại là một khía cạnh góp phần tạo nên giá trị độc đáo của Tây Dương Gia Tô
bí lục, qua đó chúng ta tìm hiểu được cách suy nghĩ của đông đảo người nước ta trước đây trước vấn đề Thiên Chúa
giáo. Vì vậy, Tây Dương Gia Tô bí lục là một tài liệu có giá trị, giúp ích cho công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng
Việt Nam.

Giá trị văn học và sử liệu

Để diễn đạt những vấn đề tư tưởng trên đây, các tác giả Tây Dương Gia Tô bí lụcđã lựa chọn một hình thức văn học
có thể nói là khá sinh động. Nếu đối tượng đề tài của tác phẩm có một nhân vật lịch sử thì có thể xếp Tây Dương
Gia Tô bí lục vào loại truyện ký lịch sử. Nhưng vì bản thân đối tượng đó đã bao hàm nhiều yếu tố truyền kỳ, trong
tác phẩm lại dựng lại những huyền thoại qui mô lớn như cuộc phục sinh truyền phép kín trên núi Ôlivêtê (Q. IV),
cuộc chiến giữa quân LâmBô của Jêsu với quân Jiuđê có sự tham gia của các đạo “thần binh” (Q. V), v.v. cho nên,
xét về thể loại thì Tây Dương Gia Tô bí lục là một tập truyện ký dã sử.

Với một lối kể chuyện ít nhiều có phong cách dân gian, tác phẩm lại có dáng dấp như một tập sưu khảo bình luận,
lại có chỗ dùng bút pháp của người chép sử, v.v. Chúng tôi cho rằng dung hợp được những đặc điểm đó một cách
thích đáng và sinh động có lẽ cũng là một nét độc đáo của Tây Dương Gia Tô bí lục về phong cách nghệ thuật.

Mặc dù những tên sách ghi tắt theo kiểu xưa như Thực lục, Ngoại lục, Giảng tục, v.v. cả Bí lục nữa, không đủ cho
chúng ta xác định đó là những tài liệu nào, nhưng qua tác phẩm chúng ta thấy quả thật các tác giả đã sưu tập tài liệu
từ những nguồn tham khảo khá phong phú. Điều đáng kể là ngay cả phần nói về cuộc đời Jêsu, tác giả cũng không
lặp lại nguyên vẹn theo một cuốn tiểu sử nào đã từng xuất bản trước đây. Những đoạn nói về tích lễ Lá, lễ Tro, lễ
Ném đá, v.v. quả là những điều ghi chép mà ngoài Tây Dương Gia Tô bí lục chúng tôi chưa dám nói chắc là có thể
tìm được ở một tài liệu nào khác hay không. Dẫu sau thì đối với một tác phẩm văn học dã sử thì tiền đề đã chấp
nhận mọi cách trình bày của tác giả như là những biện pháp nghệ thuật.

Tuy vậy, trong Tây Dương Gia Tô bí lục cũng có một số điều ghi chép ít nhiều có chứa lượng thông tin lịch sử. Ví
dụ tác giả cho biết cách đọc kinh chia là hai bè nam nữ là mới đặt ra về sau bởi dòng Đôminic; đám hội diễn thuật sự
tích Jêsu chịu nạn nguyên ở phương Tây làm ban ngày, khi đạo mới truyền vào nước ta tuy chưa bị cấm nhưng vẫn
có ý né tránh nhà chức trách nên làm vào bao đêm, v.v. Còn nhiều những đoạn mô tả khá tỉ mỉ về các nghi thức như
phép rửa tội, xưng tội, xức dầu thánh, lễ kiên đạo, v.v. khi thầy cả và con chiên phải làm gì, đám rước ngày lễ phục
sinh có ý nghĩa ra sao, v.v. là những điều ghi chép có thể có ý nghĩa đối với những người nghiên cứu, sáng tác có
yêu cầu tìm hiểu nó.

Đáng kể về sử liệu, có thể nêu điều ghi chép sau đây của Tây Dương Gia Tô bí lụcvề thời điểm có người đạo trưởng
Tây Dương đầu tiên đến Việt Nam. Các nhà truyền giáo phương Tây có nhiều tài liệu cho biết những giáo sĩ đến
Việt Nam từ khá sớm. Nhưng về cái mốc đầu tiên đó thì có lẽ bị thiếu, vì vậy có người muốn đẩy sự việc đó lên đầu
công nguyên: Pedro Ordonez de Cevallos (đến Việt Nam năm 1590) nói rằng thánh Thomas sang truyền đạo ở xứ
Bắc kỳ từ hồi Bắc thuộc (!) Điều đó đã sớm bị một giáo sĩ khác là Chritoforo Borri (đến Việt Nam năm 1618) bác
bỏ, cho là “chuyện bịa đặt không có căn cứ” [2] . Thế mà sau này những cuốn như Sử ký Hội Thánh (xuất bản năm
1944) và một số tài liệu khác vẫn nhắc lại mãi.

Chính sử nước ta, Đại Việt sử ký toàn thư không nói gì đến việc này, chỉ ghi một việc về năm Cảnh Trị 1 (1663)
cấm dân theo đạo Hoa Lang. Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì có chép rõ: “Năm Nguyên Hoà thứ 1
(1533) đời Lê Trang Tông có người Tây Dương là Ynêkhu (Ingatio) đi đường biển lẻn vào giảng đạo Gia Tô ở các
làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ huyện Nam Chân” [3] .

Căn cứ vào đâu mà Cương mục ghi thêm được sự việc đó? Hai ông Chu Thiên và Đinh Xuân Lâm cho rằng đó là do
Cương mục đã dựa vào tài liệu trong Tây Dương Gia Tô bí lục [4] . Liên quan đến vấn đề này, năm 1944 Hồng Lam
có dẫn cuốn Les debuts du Christianisme en Annam (Khởi đầu đạo Cơ đốc ở Việt Nam) của Bonifacy trong đó tác
giả nói rằng M. Delloustal đã đọc thấy sự việc này ghi trong một cuốn dã lục hay gia lục [5] . Hồng Lam không biết
đến sách Tây Dương Gia Tô bí lục, nhưng cách dẫn tư liệu như vậy cho thấy tác giả cũng cho rằng người soạn
Cương mục đã được tham khảo một tài liệu như cuốn “dã lục” mà M. Delloustal đã được xem. Nếu cách giải thích
của các tác giả nói trên được xác nhận thì điều ghi về sự việc nói trên (xem Q. IX) là một sử liệu có giá trị, đồng thời
5

điều đó cũng cho thấy một truyền bản của Tây Dương Gia Tô bí lục vào thời điểm biên soạn Cương mục (bắt đầu
biên soạn 1856, xin xong 1884).

Tấm lòng của những người Thiên Chúa giáo yêu nước

Qua những điều ghi chép có tính chất tự truyện rải rác trong tác phẩm, chúng ta thấy các ông đều là những người
ngoan đạo. Hai ông Phạm, Nguyễn tận tuỵ với chức đạo cho đến lúc tuổi già, được thăng làm giám mục. Hai ông Bá
Am và Trình Hiên theo học đạo từ lúc còn nhỏ, rời trường dòng đều được phong thầy cả từ lúc mới trên dưới hai
mươi tuổi, như thế không thể nói các ông không có lý tưởng tu hành. Vậy điều gì đã khiến cho các tác giả Tây
Dương Gia Tô bí lục phải đi đến những ý kiến hoài nghi và phủ nhận những giáo điều mà mình đã tuân theo? Đó
phải là một diễn biến tư tưởng sâu sắc mà phần nào ta có thể tìm thấy nguyên nhân trong lịch sử của bổn đạo.

Vào thời kỳ đầu, giáo sĩ phương Tây kẻ trước người sau đến Việt Nam rồi ra đi không đạt kết quả gì. Các giáo sĩ
dòng Tên (Jésuites) là những người đã đặt được cơ sở bước đầu cho việc truyền đạo ở nước ta. Để làm được điều đó,
có thể thấy rằng các nhà truyền giáo thời đó phải châm chước ít nhiều để cho các phép tắc nghi lễ của đạo Thiên
Chúa trở nên đơn giản dễ chấp nhận đối với những người nước ta đầu tiên chịu phép rửa. Nói về một điều cấm trong
luật đạo, thầy cả Philipphê Bỉnh ghi trong sổ tay của mình: “Sự ấy (phép kiêng thịt trong tuần chay) chẳng có cần,
chẳng có trọng cho bằng ba ngày đến Annam có nhiều kẻ chẳng mấy khi được ăn thịt, một trông cho đến ngày Tế
mà lại chẳng được ăn. Dù mà những kẻ thường ăn thịt mặc lòng, song thói trong nước lấy ba ngày ấy làm trọng thì
phải đi mừng nhau mà thết đãi ăn uống (…), thấy bổn đạo chẳng được ăn thịt thì lấy làm gương xấu mà chẳng muốn
đi đạo” [6] , vì thế “có kẻ cùng chèo thuyền sang bên kia sông mà ăn”. Những dòng ghi chép trên đây cho thấy đến
cuối thế kỷ XVIII, đối với các giáo sĩ dòng Tên, việc dung hoà giữa luật đạo và luật đời (phong tục tập quán dân tộc)
vẫn là một yêu cầu cấp thiết của việc truyền đạo. Nhưng tình hình lúc bấy giờ đã thay đổi. Mặc dù dòng Tên (của
các giáo sĩ Bồ Đào Nha) có nhiều công lao trong buổi đầu, nhưng về sau dòng này kém phát triển vì vấp phải sự cản
trở của Hội truyền giáo ngoại quốc của các giáo sĩ Pháp. Cuối cùng, do thế lực của tư bản Pháp, Toà thánh La Mã đã
phán quyết giải tán dòng Tên ở Việt Nam, sáp nhập giáo đồ vào dòng Đôminic [7] . Từ năm 1773 cho đến hết thế kỷ
ấy là thời kỳ kèn cựa gay gắt giữa dòng Đôminic và cả dòng Phêrô với dòng Tên đang thất thế. Sau khi các giáo sĩ
dòng Tên người phương Tây ra đi hết vào năm 1788 thì những cha cố dòng Tên người Việt Nam ở lại trong nước
phải chịu đựng những áp lực thô bạo nhất. Thầy cả Sen (dòng Đôminic) nói với giáo dân làng Kẻ Sắt rằng: “Cụ
Bỉnh (tức Philipphê Bỉnh) mới lìa khỏi gốc rạ”, khi đến làm phép cho người ốm thấy bát nước phép của thầy cả Bỉnh
thì bảo người nhà đem đổ xuống ao, v.v.

Cuộc tranh chấp đó gần 20 năm, đến 1793 thì các xứ đạo ở Sơn Nam Hạ phải thi hành phán quyết của bề trên về
việc giải tán dòng Tên. Và vì việc ấy, hai ông Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hoà Đường nhận uỷ thác của giáo đồ lên
đường đi La Mã như tác phẩm đã cho biết [8] .

Sau khi lời thỉnh cầu khôi phục dòng Tên bị bác bỏ, điều gì xảy ra đối với hai giám mục già từ đây sẽ trở về quê
hương chịu sự khinh rẻ của các thầy dòng Đôminic? Từ việc bị tước mất con chiên đến việc đánh giá lại ý nghĩa
cuộc đời tu hành là một bước phát triển có thể hiểu được. Qua câu nói bóng gió của người đứng đầu giáo hội lúc bấy
giờ về một “cuộc đại khánh hạ” của người phương Tây trên đất nước Việt Nam, hai ông suy nghĩ gì? Lại những gì
hai ông đã được xem trong căn phòng thâm nghiêm ấy, kể cả tấm bản đồ nước Nam đủ chi tiết núi sông đường sá?
Trong con mắt của người xưa thì việc một nước này am hiểu quá sâu tình hình một nước khác không phải là một tin
lành cho người bản quốc. Từ chỗ đó mà tiến tới nhận ra âm mưu các nước đế quốc phương Tây lợi dụng việc truyền
giáo nhằm mục đích xâm lược lại là một bước phát triển nữa, rất có ý nghĩa và phù hợp với quy luật tư tưởng. Đó là
những điều trong tác phẩm tường thuật rất rõ ràng. Hai ông tâm sự với nhau: “Xem ra thì từ lâu người Tây Dương
chỉ mượn danh chúa Jêsu để đi cướp nước người. Chúng ta vì bọn họ mà xua đuổi dân ta theo bọn họ chỉ là làm
công việc vô ích mà thôi”.

Có thể nói đó là ý tưởng đầu tiên đã thức tỉnh tinh thần yêu nước trong lương tâm của hai vị giám mục già. Hai ông
Nguyễn Văn Hoằng và Trần Đức Đạt về sau cũng trải qua một tâm trạng tương tự, từng thốt lên: “Bọn ta chìm vào
đảng giặc đã lâu quá rồi!” Tỉnh ngộ ra điều đó, cả bốn ông trước sau đều muốn viết ra ngay những gì mình nghe
thấy, mục đích là để cho người đọc “sau khi xem qua sách này một lần, thực trạng của bọn giặc Tây Dương sẽ
không còn điều gì có thể gọi là kín đối với quí vị nữa” (Tựa). Chuyện kín của người Tây Dương thì có nhiều, nhưng
điều kín lớn nhất như các ông đã nêu lên, là âm mưu lợi dụng việc truyền giáo để mưu đồ thực dân xâm lược: “Sai
bề tôi lẻn vào nước ngoài, rồi dùng người nước đó sai họ đi quyến dụ người trong nước”, khiến cho họ “cam tâm
6

làm đầy tớ trung thành cho bọn người Tây Dương, lén lút bán rẻ đất đai con dân nước ta cho chúng”.

Nếu kể từ hai ông Phạm, Nguyễn đi Tây Dương về thì bấy giờ đế quốc Pháp cũng chưa tiến xa hơn các nước đế
quốc phương Tây khác trong âm mưu xâm chiếm nước ta, chỉ mới đạt được một mối tiếp xúc giữa Pingeau de
Béhen với Nguyễn Ánh trên đất Xiêm.

Ngày nay chúng ta có đủ tài liệu cho thấy, từ rất lâu trước Béhen, một số người phương Tây đến Việt Nam với danh
nghĩa truyền giáo nhưng đã hoạt động như gián điệp, có kẻ đã gợi ý hoặc chính thức đề nghị chính phủ nước mình
đem quân sang xâm lược Việt Nam. Sau khi ở Việt Nam về A. de Rhodes viết: “Đây (Nam kỳ) là một vị trí cần phải
chiếm lấy và nếu chiếm được vị trí này thì thương gia châu Âu sẽ nắm được một nguồn lợi lớn, vì tài nguyên ở đây
rất dồi dào” [9] . Thành viên của Hội truyền giáo ngoại quốc nếu không phải trước hết thì cũng đồng thời thực hiện
nhiệm vụ do Napoléon I giao cho: “Tôi sẽ cử các giáo sĩ đi điều tra tình hình các xứ. Tấm áo của họ sẽ che chở cho
họ và sẽ dùng để che giấu mưu đồ chính trị và thương nghiệp” [10] .

Đó là việc phát hiện của ngày nay, còn suốt thời kỳ lịch sử cận đại thì những tài liệu như vậy chưa hề được phanh
phui trước công luận trong nước. Trước thời điểm tàu chiến bắn vào cửa biển Đà Nẵng (1847), sắc dụ của các vua
chúa, điều trần của sĩ phu nước ta liên quan đến việc cấm đạo không phải là ít, nhưng phần nhiều những tài liệu ấy
đều nói đến cái hại đạo Gia Tô làm rối loạn tập tục, phá hoại luân thường, nhiều nhất là nói người Tây Dương mưu
đồ lợi lớn. Chưa thấy tài liệu nào vạch rõ mối lợi đó của chúng là cái lợi xâm lược nước ta.

Điều đó tác giả Tây Dương Gia Tô bí lục đã làm được, kể cả ở quyển IV là phần đã được cho biết là khởi thảo từ
1794.

Nhận ra âm mưu của kẻ thù, lo lắng cho vận mệnh đất nước, các ông quay về cầm ngọn bút lông viết ra cuốn Tây
Dương Gia Tô bí lục để lưu hành ở đời. Với ý nghĩa đó, phải chăng có thể coi các tác giả Tây Dương Gia Tô bí
lục là những người Thiên Chúa giáo yêu nước đầu tiên đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ ngoại xâm từ phương Tây?
Hơn là một lời cảnh báo, các ông đã chân thành mong muốn cuốn sách sẽ thay lời các ông dâng đặng lên “các bậc
thánh nhân ở ngôi, các bậc hiền tài giúp nước”, mong lựa chọn trong sách của các ông những lời đúng đắn “làm
thành phép riêng của ta, xét sự thực để diệt trừ giặc Tây, khiến cho non sông nước Nam thì vua Nam ở, xã tắc vững
âu vàng, cho muôn đời được nhờ cậy”.

Ngày nay nhìn lại, chúng ta dễ thấy rằng các ông đều có nhiệt tâm yêu nước, nhưng tư tưởng yêu nước của các ông
là chưa hoàn thành. Dường như trong một trạng thái cực đoan, các ông nhất loạt gọi là “nguỵ Tây”, “tà đạo” mà
chưa có cách nhìn thích đáng dùng để phân biệt những tu sĩ và con chiên thành thật tìm đức tin cứu rỗi với những kẻ
khoác áo thầy tu nước ngoài. Các ông vạch trúng âm mưu của kẻ thù, nhưng biện pháp đối phó thì không ngoài
những kinh nghiệm cấm đạo ở những nước xa xôi khác. Đó là những hạn chế sai lầm có tính lịch sử mà chúng ta
đều biết các chính quyền nhà Nguyễn đã phạm phải, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Phải đợi đến đầu thời kỳ
hiện đại, đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời mới có một chính sách đúng đắn để đoàn kết đồng bào lương
giáo cùng thực hiện nhiệm vụ chung giải phóng dân tộc.

Kết luận

Trong quá trình nghiên cứu và phiên dịch tác phẩm này, chúng tôi có chú ý tìm hiểu tiểu sử của bốn tác giả. Nhưng
có lẽ vì thời gian đã xa, các vị tuy đã được phong các chức vụ trong bổn đạo, nhưng cuối đời do nhận ra âm mưu của
bọn đội lốt thầy tù nước ngoài đã bỏ các chức đạo trở về cuộc sống của người dân bình thường, cho nên tên tuổi và
hành trang của các vị không khỏi bị những kẻ thiếu thiện chí làm cho lu mờ, thanh danh mai một. Ngay cả tác phẩm
của các vị cũng chỉ mới sưu tầm được cách đây không lâu.

Ngày nay đọc Tây Dương Gia Tô bí lục, chúng ta thấy rõ ràng những vấn đề tư tưởng tôn giáo đề cập đến trong tác
phẩm đã lùi hẳn vào quá khứ cùng với những điều kiện lịch sử – xã hội trong đó các sự kiện và tác phẩm đã ra đời.
Cái quý nhất trong người Thiên Chúa giáo yêu nước đầu tiên đã gắn bó đức tin với truyền thống yêu nước của dân
tộc. Chính là với sức mạnh của truyền thống đó, tác phẩm của các ông ngùn ngụt nhiệt tình yêu nước, vạch trần âm
mưu thâm độc của kẻ thù lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để xâm lược nước ta. Đó là chủ đề xuyên suốt tác phẩm,
và chúng tôi nghĩ rằng đó cũng là giá trị tư tưởng chủ yếu của Tây Dương Gia Tô bí lục.
7

Vì vậy, mặc dù có những hạn chế nhất định, Tây Dương Gia Tô bí lục đáng được ghi nhận là một tác phẩm văn học
yêu nước có phong cách nghệ thuật độc đáo, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị đối với công tác nghiên cứu
lịch sử, nhất là lịch sử tư tưởng Việt Nam.

Bản dịch của chúng tôi mặc dù đã có chú ý trong việc dịch và chú thích văn bản [11], nhưng có lẽ cũng không tránh
khỏi sai sót. Kính mong bạn đọc vui lòng chỉ giáo cho.

Ngô Đức Thọ

Lời tựa

Kín đây là chuyện kín của riêng người Tây Dương. Nay người nước ta phát hiện những chuyện kín ấy ra, khiến cho
người Tây Dương không còn giữ riêng được, mà thành ra những chuyện kín công khai cho cả người nước ta biết
nữa.

Chúng tôi nghĩ rằng: Đạo của tiên vương đều là quang minh chính đại, cho nên không có gì phải gọi là kín. Đã gọi
là kín, ắt có sự gian dối không dám để lộ ra. Các đời tiên vương cấm dân theo tà đạo, những người nói khác tiếng
mặc khác kiểu đều bị xét hỏi. Đó là cách rất chu đáo để phòng ngừa mưu gian của bọn địch. Từ khi phép tắc của tiên
vương bị lỏng lẻo thì việc chống dị đoan, trừ tà thuyết đã làm cho các bậc thánh hiền phải bàn nói đến nhiều. Đó là
các vị lo cho đời sau sẽ mắc phải nạn dị đoan càng thêm nặng. Nhưng từ đời Hán trở về sau không ai làm được việc
ấy nữa [12] . Vì bỏ phong tục ra ngoài mà chỉ bàn luận chính sự, cho nên bọn rợ Hồ [13] được dịp vào trước, rồi bọn
quỷ Tây được dịp vào sau, biến đổi (nước) lễ nghĩa thành hang ổ của quỷ yêu ma [14] . Các bậc tiên nho vì thế phải
làm thinh mà than thở.

Nhưng mà đạo Thích Ca dạy người chỉ truyền giảng kinh bằng sách miệng. Còn đạo Gia Tô thì dám công nhiên sai
bề tôi lẻn vào nước ngoài, rồi dùng người nước đó sai họ đi quyến dụ người trong nước.

Bọn họ nhằm mục đích gì? Xét ra thì người Tây Dương bản tính xảo quyệt nham hiểm, các nước láng giềng từng gọi
vua nước chúng là vua quỷ [15] , xua đuổi bọn chúng như loài cú vọ, chứ không ai muốn thân gần. Cứ xem như việc
bọn chúng lừa phỉnh người ta, dẫu phải dụ dỗ nghìn vạn lời cũng không nản, cốt làm cho người ta nghe mãi lâu ngày
cũng phải chìm đắm. Bọn chúng rắp tâm hiểm ác thì không kể muôn nghìn quỷ quái, khiến cho quan quân [16] lùng
xét gắt gao cũng không tìm được hình tích. Bọn chúng lôi kéo người nước ngoài, cho làm giám mục là cốt để rộng
lắp nanh vuốt, dùng mưu giữ kín không cho đọc các sách Bí lục, Thực lục để họ kiên tâm theo phép tắc của Giáo
hoàng [17] , vinh hạnh được phong chức hưởng lợi riêng mà quên công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ, vui thích vì riêng
mình được tôn vinh nơi giáo đường mà quên việc thờ cúng tổ tiên, cam tâm làm đầy tớ trung thành cho bọn người
Tây Dương, ngấm ngầm bán rẻ đất đai con dân nước ta cho chúng. Bọn ấy tuy mang danh là người nước ta nhưng
kỳ thực đã vụng lén nhận lĩnh bằng sắc của giặc, chính là muốn rằng sau khi đạo chúng đã truyền bá rộng rãi thì sẽ
đem cả nước nhà trao cho bọn giặc Tây Dương, các thuật của Jêsu há chẳng thâm độc lắm ru? Than ôi, thế lực của
bọn giặc ngoại dương mạnh lớn, há phải một sớm một chiều mà có thể trừ bỏ đi được!

Kìa như nguyên do của sự việc Jiuđa phản bội, những thần hiến kế lạ, sách Bí lục không cho ban hành, việc hai ông
Cảm Hợi và Chân Bình trình bày mưu kế [18] , xem đó thì những người bất mãn với chúng kể cũng nhiều. Mà sách
càng giữ kín thì hành động của bọn chúng càng càn bậy, dù phải lâu đến năm bảy mươi năm nhưng chưa nuốt chửng
được nước nhiều thì chúng chưa chịu thôi.

Người ta thấy đạo ấy làm đồi bại phong tục, thương tổn luân thường [19] , chứ không biết bọn chúng trước hết làm
cho dân trở thành ngu dốt rồi sau mới chiếm lấy nước. Cần phải đọc các sách truyện ký của nước Tây Dương [20] thì
mới biết được lại do của bọn giặc Tây Dương. Than ôi, từ xưa đến nay chưa có giặc nào hung ác như bọn giặc này!

Ngày nay dân chúng thì ngại phải nghe nói những chuyện rườm rà mà không biết xét kỹ, kẻ ra lệnh cấm thì chỉ nêu
lên đại khái chứ không nói rõ những chỗ mập mờ. Do đó, nhiều đời nghiêm cấm, mà bọn giặc Tây Dương vẫn cứ
còn nguyên đó.
8

Than ôi! Thánh vương các đời quên ăn quên mặc, chỉ lo không giáo hoá được dân. Thế mà bè đảng bọn chúng vẫn
lén lút ẩn náu ở dưới, gần thì tụ tập, dần dần làm biến đổi hết phong tục nước ta. Cái tội gian hiểm xấc ngạo của
chúng lẽ nào có thể dung tha được!

Nay bọn chúng lén vào ẩn náu ở nước Nam ta từ thời Hậu Lê, trải đến đời Cảnh Hưng (1740-1786) đã ba trăm năm
rồi [21] , vậy mà các giám mục, hào trưởng chẳng ai hay biết âm mưu của bọn chúng. Tuy nhiên, người sâu hiểm há
lại không có trời biết hay sao? Những sự bí hiểm của trời đất thánh nhân còn biết trước được, huống chi là những
chuyện bí mật của nhân gian lẽ nào lâu ngày mà không lộ ra? Dù không lộ ra nữa, há lại không bị người đời khinh
ghét hay sao?

Cho nên, trời giúp nước Nam ta, thánh phù cõi Việt, mới sinh ra hai cụ Phạm (Ngộ Hiên) và Nguyễn (Hoà Đường),
phú cho bản tính thông minh cường kỳ. Hai cụ nhập bọn với chúng rồi được sang Tây Dương, khôn khéo chiếm
được lòng tin để Giáo hoàng lấy cho xem cuốn sách ghi chép chuyện kín của đạo Gia Tô. Về nước, hai cụ nhớ lại
mà chép ra, cất kín trong tráp để đợi thời. Thế là từ đó chuyện kín của giặc Tây Dương đã bị lộ.

Hai người chúng tôi trước theo học đạo Nho, kiêm học các phép đạo của người Tây Dương, từ khi mới chịu phép
niệm chú bắt quyết [22] đã thấy ngay đó là thủ đoạn hại người. (Sau) chúng tôi thấy hết những sách ghi chép các
chuyện kín để trong mật phòng của tu viện, đem xuống thuyền xem lén. Chúng tôi lại tìm hỏi được tập sách do hai
cụ Phạm, Nguyễn viết ra, nhờ đó mới biết rộng thêm mọi việc của bọn rợ Tây, bèn dịch làm thành sách [23] , trước
sau mất 4 năm, phát giác hết mọi sự tình bí ẩn, không dám tiếc sức. Những chuyện kín của người Tây Dương tới đây
mới thật bộc lộ ra hết! Chúng tôi chân thành mong muốn rằng sau khi quý vị xem qua sách này một lần, tình trạng
của bọn giặc Tây Dương sẽ không còn điều gì gọi là “kín” được nữa.

Cái gọi là “kín” là những chuyện mà bọn chúng phải giữ kín để náu thân, phải giữ kín để che đậy âm mưu của
chúng. Nay cái mà chúng tôi gọi là “kín” là những chuyện kín công khai cho cả nước ta đều biết, lưu lại cho muôn
đời sau cùng giữ lấy. Như vậy, những chuyện kín nói đây há chẳng rộng lớn hay sao?

Chúng tôi đã già rồi, biết làm thế nào, chỉ trông cậy các bậc thánh nhân ở ngôi, các bậc tài giỏi giúp nước, những khi
rảnh rỗi sau muôn công nghìn việc, không vứt bỏ những lời dông dài này. Trong sách của chúng tôi cũng có những
điều khác biệt này khác, mong quý vị lượng thứ những chỗ sai trái, lựa chọn lấy những chỗ nghe được để đặt thành
phép của ta, nắm lấy thực chất sự việc để trừ diệt giặc Tây, khiến cho non sông nước Nam thì vua nước Nam ở, xã
tắc vững âu vàng [24] , muôn đời được nhờ cậy. Đó là ý nguyện thành thực canh cánh bên lòng của bốn người quê
mùa chúng tôi vậy. Nay làm tựa.

Viết vào tháng Hoa đào [tức tháng Hai] năm Giáp Dần, thời nhà Lê suy tàn [25] .

Nguyễn Bá Am – Trần Trình Hiên Kính cẩn vái đề

Dương tặc khi chúng thuyết lược dân


(Chỉ dẫn tóm tắt về những lời lẽ lừa bịp của bọn giặc Tây)

Những lời lẽ dối trá và những thủ đoạn lòe bịp của bọn giặc Tây rất nhiều, trong sách có ghi chép đầy đủ cả. Ở đây
chỉ sơ lược nêu lên những nét đại khái như sau:

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta rằng các phép thiên văn, địa lý, bói toán tướng số, âm dương ngũ hành,
đoán mộng, đều là nhảm nhí không đáng tin, kỳ thật thì vua tôi bọn chúng phần nhiều đều dùng những
phép ấy.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta bỏ thờ cúng, kỳ thực vua tôi bọn chúng đều có đền miếu thờ phụng, đến
ngày giỗ ngày kỵ thì đốc thúc dân chúng đến vái lạy.
9

 Bọn chúng lừa dối bảo rằng người chết chôn cho sâu, kỳ thực thì vua quan bọn chúng khi chết đều chôn
nông cả.

 Bọn chúng lừa dối bảo rằng thể xác người ta do đất vắt nên, không đáng quý trọng. Kỳ thực thì đối với vua
quan bọn chúng, sau khi chết còn chuộc hồn về để phong thần, lấy tóc và máu trát vào tượng để thờ. Làm
như thế lại còn một ý nữa là: khiến cho người ta coi thường cái chết mà tin theo bọn chúng.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta không được thờ cúng ông bà cha mẹ cùng là các thần, kỳ thực chỉ là để cho
người ta thờ cúng riêng Jêsu cùng vua tôi chúng nó.

 Bọn chúng lừa dối bảo rằng những món người ta vẫn thường ăn thì không được dùng để cúng tế. Kỳ thực
thì bọn chúng cũng vẫn dùng bánh và rượu để tế Jêsu.

 Bọn chúng lừa dối người ta rằng có tội thì được giải tội. Kỳ thực thì ở nước chúng, những kẻ trộm cướp,
gian dâm đều bị giết không tha. Nếu những tội ấy mà không bị xét xử, chỉ cần xưng tội rồi được tha thì
nước chúng làm sao còn đứng vững được đến ngày nay?

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta chỉ được lấy nhau một vợ một chồng, kỳ thực thì vua tôi bọn chúng phần
nhiều đều có thiếp hậu vợ lẽ để được đông con cháu kế tự.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta không được tham lam của cải, kỳ thực thì bọn chúng bày đặt ra các lễ, thu
tiền muôn bạc vạn.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta chớ nên vun vén tài sản riêng, kỳ thực khi bọn chúng đã thu được nhiều
tiền bạc thì cưỡng ép người ta để mua vườn ruộng, giám mục ít nhất cũng không dưới trăm mẫu, thầy cả ít
cũng không kém ba chục mẫu, thảy đều không phải nộp tô nộp thuế gì cả.

 Bon chúng giả dối khuyên người ta giúp đỡ kẻ nghèo thì được phúc, kỳ thực bọn chúng chẳng hề cứu giúp
một ai.

 Bọn chúng lừa dối người ta rằng kẻ nào khuyên được một người cùng theo đạo thì cả hai cùng được lên
thiên đường. Kỳ thực bọn chúng muốn người ta quyến rũ nhau theo đạo, khiến cho đạo chúng được đông
dân.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta kiêng thịt, kỳ thực vua tôi bọn chúng ngày nào cũng ăn thịt cả. Việc này
hai ông Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính khi sang Tây Dương đã được tận mắt nhìn thấy.

 Bon chúng lừa dối bảo người ta đừng theo Nho học, kỳ thực cốt khiến cho dân chúng không hay biết mưu
mô của bọn chúng.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta rằng người cùng một huyết thống lấy nhau cũng không hề gì, kỳ thực đó là
âm mưu của bọn chúng cốt làm cho kẻ đồng loại trở nên ngu đần đi.

 Bọn chúng lừa dối bảo người ta không được xem địa lý, kỳ thực bọn chúng muốn cắt yểm long mạch khiến
cho dân chúng ngu dần đi.

 Bọn chúng lừa dối người ta rằng chúa Jêsu chuộc tội cho loài người, kỳ thực là khuyên người ta dẫu gặp
phải tại hoạ cực khổ cũng phải chịu đựng như thế, không được hai lòng với chúa Jêsu.

 Bọn chúng đem thiên đường ra để lòe bịp người ta, kỳ thực ở nước chúng chẳng qua cũng chỉ lấy đền miếu
làm thiên đường.

 Bọn chúng đem địa ngục ra mà doạ người ta, kỳ thực chẳng qua cũng là lấy hình phạt làm địa ngục.
10

 Bọn chúng lừa dối người ta rằng Chúa Trời có ba ngôi, kỳ thực là muốn người ta chỉ tôn thờ một mình Jêsu
mà thôi.

 Bọn chúng lừa dối người ta về việc làm phép, trường thọ, kỳ thực là để trấn áp người ta.

 Jêsu đem Chúa Trời ra lòe bịp người ta, kỳ thực là để tỏ ra rằng chính mình là Chúa Trời.

 Bọn chúng lừa dối là phép rửa tội cho người sắp chết, kỳ thực là cốt để yểm áp khiến cho hồn người chết
mất thiêng.

 Bọn chúng lừa dối người ta rằng bọn chúng thương con chiên cũng như thương bản thân mình, kỳ thực là
cốt dụ dỗ dân nước khác tuân theo để bọn chúng chiếm lấy thiên hạ. Bọn chúng chưa thôn tính được nước
ngoài thì còn đem chuyện phép tắc khoan nới mà dụ dỗ người ta, đến khi lấy được nước rồi thì nhất thiết thi
hành hình pháp thảm khốc.

[Lời ghi riêng trong nguyên thư]

Tiếng nói của bọn rợ Tây viết ra bằng chữ Hán thì không có chữ. Trong sách này, phàm những tên người, tên đất
đều chỉ chọn dùng những chữ có âm đọc na ná mà thôi, trong đó ắt có nhiều sai lạc. Kính mong quý vị hiểu nhiều,
biết rộng sửa chữa giúp cho. Được như thế thật may mắn lắm.

Tây Dương Gia Tô bí lục nguyên dẫn


(Lời dẫn nguyên cớ của sách Tây Dương Gia Tô bí lục)

Các sách truyện ký của người Tây Dương thì có nhiều, chỉ chọn nêu lên 7 bộ quan trọng sau đây:

1. Bí lục, tức là sách Gia Tô bí pháp chỉ các Tổng giám mục mới được đọc.

2. Thực lục, tức là sách do môn đồ của Jêsu ghi lại những điều tai nghe mắt thấy.

3. Ngoại lục, ghi những lời vua tôi Tây Dương khoe khoang khoác lác để mê hoặc dân chúng.

4. Giảng lục, soạn những lời dối trá, lừa bịp.

5. Ngâm lục, lược trích từ sách Thực lục, chia làm 15 đoạn ngâm, nay giáo dân vẫn dùng để tụng niệm.

6. Quốc ký, ghi chép về vua tôi các đời của nước Tây Dương.

7. Nhất thống, ghi về những nước bị Tây Dương thôn tính.

Nay xin thâu góp ở các sách nói trên lược soạn thành một sách, gọi chung là Bí lụcđể tiện xem đọc.

Từ Q. I đến Q. IV chủ yếu dựa vào sách Thực lục và Bí lục. Từ Q. V về sau thì tham khảo sử dụng sách Nhất
thống và Quốc ký, rải rác giữa các đoạn có những lời phụ chú căn cứ vào sách Ngoại lục và Giảng lục để cho rõ
thêm những lời lẽ lừa dối bịp bợm.

Nước Tây Dương cũng gọi là nước Italia [26] . Nước ấy ở tận cuối trời Tây, cách miền Tây Vực không biết đến mấy
nghìn vạn dặm. Tiếng nói chữ viết của nước ấy khác hẳn với nước Tây Trúc [27] . Nước ấy cũng nhiều núi, dân
chúng tựa vào núi mà ở. Người và ma quỷ chung lẫn với nhau, nhà thờ nhan nhản [28] .

Người nước ấy, đàn ông thì cao to, đàn bà cũng cao như mà thon, đầu tóc quăn, mũi to, mắt đỏ. Đàn ông từ năm
mươi tuổi trở lên bụng phệ dần ra, cho nên phải dùng dây da thắt lại. Áo của họ không may cổ cao, chỉ có một
11

đường xẻ cài khuy và luồn dây để buộc thắt lại như chiếc váy, khi mặc thì lồng qua đầu mà thả xuống rồi buộc dây ở
cổ. Đó là kiểu áo do Jêsu chế ra.

Giọng nói của họ “xì xồ”, chữ viết lằng nhằng như thừng rối, mà lại đọc ngang, khi ra nước ngoài mà muốn học
tiếng và dịch chữ của nước khác cho được thì thật là rất khó. Chẳng hạn muốn dạy cho họ tiếng “đông” thì phải
chuyển lưỡi qua các vần “đổng, đống, động” rồi mới đến “đông”, có khi phải chuyển năm sáu lần mới nói được
tiếng “đông”.

Ở cung vua nước ấy không có ghế ngai, chỉ xếp ván gỗ mà ngồi, mà cũng không có qui định thứ bậc gì cả. Riêng có
một bục gỗ phủ gấm buông hình chữ môn, đó là chiếc ghế của vua ngồi. Bề tôi vào chầu, lúc đầu chỉ mặc thường
phục, khi nghe tiếng chuông thì xếp hàng trước vua rồi mới mặc áo chầu, không lạy, chỉ cúi đầu xuống; khi đứng,
khi quỳ, lâu mau đều tuỳ theo tiếng chuông làm hiệu. Vua ngự buổi chầu khi thì ngồi, khi thì ghé tựa vào ghế, hoặc
cũng có khi lơ mơ ngủ. Khi vua ngủ thì các quan được ngồi, khi nào vua tỉnh thì các quan đứng dậy. Triều phục thì
áo trong có tay, áo ngoài không tay, hình dáng đại khái như chiếc mai rùa. Đó cũng là kiểu áo do Jêsu chế ra, tức là
kiểu áo lễ mà ngày nay các cố đạo thường mặc.

Nước ấy không đủ năm loài ngũ cốc, chỉ trồng được giống lúa mạch mà thôi. Sản vật thì có nhiều phục linh, sơn trà,
đương quy và xác các loài thú dùng để nấu cao ăn hằng ngày.

Phong tục nước ấy khi trước vua tôi đều thờ chúa Trời. Mỗi làng lập một đạo trưởng để cai quản dân chúng. Quy
định bảy ngày là một tuần, gọi tên từng ngày từ thứ nhất đến thứ bảy. Hằng năm lại luân phiên đổi ngày kế tiếp làm
ngày thứ nhất, gọi ngày thứ nhất là ngày thờ chúa Trời. Trước đó một ngày, các nhà đem lễ vật hoa quả đến nạp cho
đạo trưởng để nấu nướng cỗ bàn tế chúa Trời. Khi làm lễ, đàn ông ngồi gian trên, đàn bà ngồi gian dưới, san sát rập
đầu vái lạy. Rồi đó đạo trưởng đọc lời răn giảng, nghe xong thì tan lễ ra về. Cho đến khi Jêsu ra đời, tục lệ thờ cúng
chúa Trời như thế mới bãi bỏ, duy về cách chia tuần lễ 7 ngày thì nước Tây Dương vẫn còn dùng.

Người Tây Dương không dùng bốn con vật thiêng (long, ly, quy, phượng) làm hàng trang sức các đồ dùng, mà hoạ
theo hình dạng cỏ cây hoa lá. Bởi vì họ sợ rằng vẽ tứ linh thì quỷ thần sẽ nương nhờ vào đó mà trở thành linh thiêng,
người ta sẽ mượn cớ đó mà nói là còn có những đạo khác nữa.

Nước ấy có nhiều vàng bạc báu lạ, lại còn mua nhặt thêm quý vật của nước khác để khoe khoang nhiều của. Cho nên
bọn họ đã quyến rũ ai thì chẳng mấy người không yếu mềm chìm đắm.

Hình phạt ở nước ấy rất nặng. Người có tội thì hai tay hai chân đóng đinh trên chiếc giá gỗ dựng hình chữ thập, gọi
là hình phạt đóng đinh câu rút.

Nước Tây Dương khi xưa là một nước phụ thuộc của nước Jiuđê [29] , từ chữ viết đến các việc chính sự hình pháp
đều phỏng theo nước Jiuđê. Đến khi nước Tây Dương dùng phép thuật của Jêsu thì mới dứt hẳn quan hệ với nước
Jiuđê.

[1]
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không nêu lại những vấn đề lịch sử và tư tưởng Thiên Chúa giáo đã từng
gây tranh luận. Bạn đọc có thể xem thêm ở tác phẩm của giáo sư Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt
Nam… Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1975 (chương III: Bước đầu của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam).
[2]
Chritoforo Borri. Relation de la Nouvelle Mission des Pères de la compangie de Jesus au royaume de la
Cochinchine (Ký sự của Tân hội Thừa sai dòng Tên ở Đàng Trong) Roma, 1631. Chuyển đăng Revue indochinoise
(tạp chí Đông Dương). 1905, số 4, tr.348.
[3]
Cương mục, Chính biên
[4]
Chu Thiên Đinh và Xuân Lâm, Tây Dương Gia Tô bí lục, một tài liệu quý giá. Nghiên cứu lịch sử.
[5]
Theo Hồng Lam, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, L. Cadière và Nguyễn Văn Tố chú giải, Huế, Đại Việt,
1944.
[6]
Philipphê Bỉnh, Sách sổ sáng chép các việc (thủ bút của tác giả viết bằng chữ Quốc ngữ, lưu trữ tại Toà thánh
Roma), Thanh Lãng sưu tầm. Viện đại học Đà Lạt xb. 1968, tr. 49-50. Xem chú thích 1
[7]
Philipphê Bỉnh cho biết chính xác việc này xảy ra ngày 22/7/1773 do phán quyết của Giáo hoàng Clément XIV,
sđd, tr.1.
12

[8]
Đây không phải là trường hợp duy nhất giáo đồ dòng Tên cử bên trên của họ sang La Mã khiếu nại việc mất dòng.
Hơn hai năm sau, cũng với mục đích và nhiệm vụ ấy, Philipphê Bỉnh và ba người khác là thầy Nhân, thầy Ngần,
thầy Trung cũng đã đi Tây Dương vào năm 1796. Nhưng đoàn này không đến được La Mã vì sau khi theo thuyền
của người Bồ sang Lisbon thì biết tin Giáo hoàng Clément XIV đã có phán quyết dứt khoát về việc giải tán dòng
Tên. Cả bốn người đều phải ở lại Lixbon và qua đời tại đó. Xem Sách sổ sang chép các việc (sđd).
[9]
Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.304.
[10]
Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, tr.386.
[11]
Các tên người, tên đất và danh từ bằng tiếng nước ngoài, những từ nào có thể tra cứu được thì chúng tôi phiên âm
theo nguyên ngữ hoặc qua chuyển ngữ và có chú thích chữ phiên âm dùng trong nguyên thư. Những từ không biết rõ
xuất xứ thì phiên theo nguyên thư và ghi bằng chữ liền với các chữ đầu viết hoa, ví dụ: ĐôSaNùng.
[12]
Tác giả nhắc lại sự kiện đạo Phật truyền vào Trung Quốc vào đời Hán Minh đế (58-76).
[13]
Nguyên văn: Hồ quỷ. Hồ là từ chỉ nước Hung Nô (phía bắc Trung Quốc) nhưng cũng dùng để chỉ người Ấn Độ
(xem chuyện Sĩ Nhiếp trong Tam quốc chí, Ngô chí: cũng xem Đại Việt sử ký toàn thư, Sĩ vương kỷ). Ở đây dùng
theo nghĩa thứ hai chỉ các tăng sĩ Ấn Độ.
[14]
Nguyên thư chép: “biến lễ nghĩa chi tục nhi vi quỷ lỗi chi hương”. Ý vẫn có thể hiểu được, nhưng ngữ nghĩa
không chuẩn vì “tục” không thể biến thành “hương” được; hợp nghĩa có lẽ là: “biến lễ nghĩa chi quốc nhi vi… chi
hương”.
[15]
Tác giả nhắc lại câu nói của vua Juiđê: “Hiểm ác thay tên vua quỷ Tây Dương” (xem Q. VIII, tr. 264).
[16]
Nguyên văn: bổ giả (những người đi lùng bắt), chỉ quan quân triều đình đi lùng bắt kẻ truyền đạo trái phép.
[17]
Nguyên thư phiên là “BaBa”, tức là phiên âm tiếng Latinh: Papa = Giáo hoàng.
[18]
Tác giả nhắc lướt mấy sự việc có nói đến trong sách này: việc Jiuđa phản bội Jêsu (xem Q. III), nữ thần hiến kế lạ
(Q. V, tr. 194), hai tu sĩ Cảm Hợi và Chân Bình đều trần mưu kế cấm đạo (Q. VIII, tr. 263).
[19]
Nguyên thư chép: “…hại tục nhi luân”, đã có dấu son đánh đỏ móc sót. Chữ sót đó chắc là chữ “thương” (bại tục
nhi thương luân).
[20]
Nguyên thư chép: Hoa Lang. Cần sửa lại là nước Tây Dương (Italia), lý do xin xem chú 1 bài Nguyên dẫn (tr.39).
[21]
Thời điểm giáo sĩ phương Tân đầu tiên đến Việt Nam, xin xem Q. IX (tr. 291), cũng xem Lời giá trị (tr. 18).
[22]
Tứ là lễ thụ phong Thầy cả.
[23]
Nguyên văn: “dịch lại bất lục”. Ý tác giả muốn nói dịch phẩm Bí lục từ tiếng nước ngoài ra chữ Hán, phần đó là
tài liệu tham khảo chính để soạn thành sách này; xem thêm Lời giới thiệu (tr. 17).
[24]
Dẫn câu thơ của Lý Thường Kiệt và một phần câu thơ của Trần Nhân Tông: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn
hà thiên cổ diện kim âu”.
[25]
Về dòng lạc khoản “Tàn Lê Giáp Dần”, xin xem ở lời giới thiệu (tr. 13).
[26]
Nguyên thư chép: “Tây Dương giả diệc hiệu Huê Lan quốc, diệc hiệu Y Thi Tổ Quốc” (nước Tây Dương cũng
gọi là nước Huê Lan, cũng gọi là nước Y Thi Tô). Lời giải thích đó không chính xác, vì:
Y Thi Tô là chữ phiên âm tên nên Egipto, tức là những Ai Cập. Các sách của bổn đạo xuất bản trước đây cũng
thường phiên tên nước Ai Cập là Y Thi Tô, hoặc I Chi Tô. Còn nước Tây Dương dùng trong sách này là để chỉ nước
Ý (Italia).
Nước Hà Lan (Holland) phiên âm chữ Hán là Hoa Lan hoặc Hoà lan, sau vì kiêng huý mẹ Thiệu Trị, đọc chệch âm
là Huề Lan. Người nước ta thường gọi đạo Thiên Chúa là đạo Tây Dương. Các giáo sĩ Hà Lan từng đến nước ta khá
sớm, người đương thời do đó cũng gọi đạo Thiên Chúa là đạo Hoà Lan. Ví dụ câu hỏi sau đây do E. Busomi (đến
Việt Nam năm 1615) ghi lại: “Con ngoo muon bau lom la Hoa Laom chia? = Con nhó muốn vào trong lòng Hoa
Lang không? Có thể vì thế mà có sự nhầm lẫn Hoà Lang là Tây Dương (Italia) chăng?
[27]
Tây Trúc, tức Ấn Độ.
[28]
Thế mà về sau đạo Gia Tô Tây Dương cấm người ta thờ cúng quỷ thần.
[29]
Chưa rõ người viết bài Nguyên dẫn nói đến thời kỳ lịch sử nào của nước Jiuđê? (vì câu tiếp theo có nói đến chữ
viết của người Jiuđê, tức chữ cổ của người Hébréus, thì có thể hiểu là tác giả có ý nhắc lịch sử một thời kỳ rất xa
trước khi xuất hiện đế quốc La Mã?). Còn vào đầu Công nguyên, tương ứng với thời điểm của câu chuyện đầu tiên
trong Tây Dương Gia Tô bí lục thì lúc đó nước Jiuđê là tiểu vương quốc chư hầu của đế quốc La Mã đời vua
Ogustus, tiếp đó là Tiberlus.
Quyển I

Nước Jiuđê, Jêsu ra đời


Được môn đồ Jêsu thêm kiêu ngạo

Ngày xưa ở phía đông [1] nước Tây Dương có nước gọi là Jiuđê [2] . Nước ấy có một làng gọi là làng Bêtlehem [3] .
13

Từ ngọn núi ngoài làng ấy thường bay ra một đám mây đỏ chở hai thầy trò con quỷ bộ dạng xem ra có vẻ đẹp đẽ
đàng hoàng. Đời này qua đời khác người ta vẫn thấy thế, lâu ngày quen dần, không ai lấy làm sợ nữa. Đến thời
Hêrôt [4] làm vua thì trong dân ở ngoài làng ấy có một cô gái tên là Maria [5] mồ côi từ năm lên mười tuổi, được ông
trùm đạo trong làng đem về nuôi, đến mười sáu tuổi thì gả cho bác thợ mộc tên là Jiuse [6] . Khi hai người đã thành
vợ thành chồng, thì thấy đám mây đỏ thường che toả phía bên trên nhà, cho đến khi Maria có mang thì không thấy
thầy trò con quỷ ngồi trên đó nữa.

Sách Ngoại lục kể rằng: Ông trùm đạo muốn kén chồng cho Maria, hẹn với trai làng hễ ai chưa vợ đến ngày nọ mỗi
người cầm theo một chiếc gậy tre tới nhà ông, ông sẽ cầu nguyện chúa Trời, chúa bảo gả cho ai thì sẽ cho hoa nở
trên gậy người ấy. Trai làng đúng hẹn kéo đến, bỗng trên đầu gậy của Jiuse bật nở một bông hoa. Bấy giờ Jiuse đã
hơn 110 tuổi, nhưng cũng là người chưa vợ, ông trùm đạo bèn gả Maria cho.

Thành vợ chồng rồi, Jiuse bảo Maria rằng: “Tôi muốn ở một mình để tu hành”. Maria nói: “Thiếp mồ côi từ nhỏ,
cũng muốn giữ đạo đồng trinh” [7] .

Rồi đó, hai người đem tình thực nói với thầy cả. Được thầy cả cho phép, hai người bèn đến làm lễ thề trước bàn thờ
chúa Trời. Thầy cả nói: “Khi làm lễ cưới, hai người đã yết kiến chúa Trời, hứa sẽ chăm sóc nuôi nấng nhau. Nếu
không làm được như thế, về sau xảy ra chuyện gì thì tội to lắm đấy”. Hai người bèn viết mỗi người một tờ cam
đoan, hứa sẽ chăm sóc nuôi nấng nhau, nhưng xin giữ riêng lòng trinh, gọi là “vợ chồng thiêng liêng”, nói “thiêng
liêng” nghĩa là cùng ở chung với nhau nhưng không tơ hào tình chăn gối [8] .

Một hôm đã khuya, Jiuse đã đi nằm, Maria còn ngồi bên đèn đọc cuốn sách Sấm truyền [9] , thấy có câu: chúa Trời
nói có con quỷ sẽ sinh làm vị thánh để cứu giúp người. Maria thầm cầu nguyện xin cho vị thánh ấy sớm ra đời.
Bỗng thấy một người khắp mình đầy lông và có cánh như chim đi tới nói rằng: “Tôi là thiên sứ Gabơrien [10] ”.
Maria kinh sợ, gọi Jiuse dậy. Vị thiên thần trịnh trọng nói: “Avơ Maria gratia plena [11] (đẹp thay bà Maria đầy ơn
phúc), Chúa Dêu [12] sẽ ở cùng bà”.

Từ hôm đó Maria có mang. Bác thợ mộc Jiuse rất lo sợ nghĩ đến tờ cam đoan khi trước. Rồi một hôm nhân lúc đêm
tối bỏ nhà chạy trốn. Nhưng vừa tới cổng làng thì thấy thiên thần hiện lên ngăn lại, bảo rằng: “Chớ chạy! Hãy ở lại
chăm sóc chúa Dêu!”. Nói xong thiên thần biến khuất trong đêm tối.

Xem sách Ngoại lục ghi chép như trên thì đại khái người Tây Dương muốn cho Jêsu trở thành con chúa Trời, cho
nên phải đặt ra câu chuyện Jiuse đã quá già để đánh tan lòng ngờ vực của người đời về sự vợ chồng Jiuse không ăn
nằm với nhau. Bởi vậy cái thuyết ấy rất mập mờ, gượng ép, thật nực cười. Cho đến ngày nay vẫn còn giữ kín, chỉ
thấy bắt đầu bằng lễ thiên thần báo tin [13] mà thôi.

Jiuse nhà nghèo, phải lấy nghề thợ mộc nuôi thân, vợ khâu vá thuê, nhà không có phải đi ở nhờ. Bấy giờ người dì
của Maria là bà Isave [14] từ khi còn trẻ không sinh đẻ lần nào, năm ấy tuổi đã năm mươi bỗng thấy có mang. Maria
đến thăm dì, bà Isave nói thật việc ấy cho nghe. Maria nói mình cũng bất ngờ có mang như thế [15].

Maria có mang đủ tháng, sắp đến ngày ở cữ, bác thợ mộc Jiuse xin nhà chủ cho vợ được ở lại sinh nở tại nhà, nhưng
chủ nhà không cho. Đến khi Maria trở dạ sắp đẻ, nhà chủ tức giận chửi bới thậm tệ. Lúc ấy đang giữa đêm khuya rét
buốt, Jiuse đành phải đưa vợ vào đẻ trong lũng núi ở ngoài làng Bêtlêhem. Lũng núi này khá rộng, người ta phần
nhiều buộc lừa ngựa ở đấy. Maria nằm sinh trong chiếc máng bỏ cỏ cho lừa ngựa ăn. Một đứa bé khỏe mạnh, xinh
xắn ra đời, cất tiếng khóc vang động như sấm [16] . Chim bầy bỗng cất tiếng hót vang, lừa ngựa cũng vùng cả
dậy [17] .

Nay xem hai sách Ngoại lục và Bí lục thì thấy nói rằng: khi Maria vào lũng núi đã thấy một cậu bé nằm trong máng
cỏ rồi. Lại nói rằng lúc bấy giờ vang lên muôn lời ca hát chúc mừng Thiên Chúa giáng sinh. Lại nói lừa ngựa xúm
đến hà hơi sưởi ấm cho cậu bé. Lại nói vợ chồng Jiuse bế cậu bé lên mà nói rằng: “Sao Ngài không đến chốn lâu đài
mà lại tìm đến cửa kẻ nghèo hèn chúng tôi?” [18] .

Cùng ngày hôm ấy, bà Isave cũng sinh con trai [19] dáng mạo cũng tựa như con của Maria, về sau đặt tên là
Juan [20] .

Sách Ngoại lục nói: Năm ấy vua ba nước phương Đông là nước Thiên Trúc, nước ManSa và nước NhuGia [21] nghe
14

tin Thiên Chúa giáng sinh đều đem phẩm vật địa phương tìm sang yết kiến. Vì vậy ngày nay, sau lễ Truyền tin tiếp
đến là lễ Ba vua. Nguyên là người Tây Dương biết nước Thiên Trúc thờ đạo Phật cho nên mới đặt ra những lời lẽ
trịch thượng như vậy.

Lại ở sách Giảng lục có nói: Bác thợ mộc Jiuse thấy vua nước ManSa mặt mũi xấu xí bèn ngăn lại không cho vào.
Nhưng đã là vua nước ManSa thì kẻ thợ mộc nghèo hèn kia làm sao mà dám ngăn cản? Huống chi còn nói vua nước
ManSa phải quỳ lạy Jiuse!

Khi đứa bé chẵn năm, vợ chồng Jiuse đem một đôi chim bồ cầu làm lễ đến biếu thầy cả, xin đến ngày hôm sau làm
lễ xin chúa Trời đặt tên cho con. Thầy cả nhận lời và thấy đứa bé xinh đẹp, thầy bèn đặt cho tên là Jêsu [22] , theo
tiếng nước ấy có nghĩa là thông minh tốt đẹp. Vì vậy, ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ Mệnh danh (đặt tên).

Năm ấy quan chiêm tinh nước Jiuđê tâu vua rằng: “Nay trong dân gian có con quỷ mới sinh làm người. Mười lăm
năm nữa nó sẽ làm ngu muội huyễn hoặc dân chúng, kẻ a tòng sẽ đông đến mấy vạn người”. Vua nước Jiuđê lấy làm
lo, sai quân lính ngày ngày đi vây xét các làng, hễ thấy đứa bé nào mặt vuông tai lớn vào trạc tuổi ấy thì bắt giết đi.
Dân chúng ai nấy đều oán ghét căm giận, giặc giã nổi lên khắp nơi.

Thế là, vợ chồng Jiuse phải bế Jêsu chạy trốn sang nước Êgiptô [23] . Sách Giảng lục nói: Khi vợ chồng Jiuse đi trốn
vào tháng Sáu, lúa ngoài đồng đang xanh. Quan quân đuổi theo đến nơi thì thấy một đám ruộng bỗng nhiên lúa chín
vàng. Bọn chúng hỏi người đàn bà đang gặt lúa ở đó có thấy ai bế con chạy qua không? Người đàn bà ấy đáp: “Có
thấy từ dạo mới đi cấy”. Quan quân bảo nhau: “Từ khi cấy đến khi gặt, lâu quá rồi!”, bèn không đuổi theo nữa, nhờ
vậy cả nhà Jiuse thoát nạn.

Một hôm Maria bế Jêsu đi xem lễ ở nhà thờ, thầy cả Ximêôn [24] trông thấy, bế Jêsu mà nói rằng: “Cậu bé xinh quá!
Nhưng xem ra không phải là người ở thế gian. Đời cậu này rồi chỉ vì biện thuyết mà phải chuốc lấy tai vạ đây. Đến
năm 33 tuổi, thế nào cha mẹ cũng phải một phen nguy khốn”. Do sự tích này cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ
Nhập điện (Đức Bà vào đền).

Sách Ngoại lục nói: “Thầy cả Ximêôn đã biết trước rằng sau này sẽ có con chúa Trời giáng sinh, cầu mong mình sẽ
được gặp con chúa. Đêm ấy thấy có điềm lạ, sáng hôm sau thầy ra đứng chờ ở cửa nhà thờ, vừa thấy Jêsu liền chạy
tới bế và reo to: “Đúng là con chúa Trời đây!”, rồi quỳ xuống mà vái lạy”.

Jêsu cùng sống với cha mẹ ở nước Êgiptô, đến năm lên 8 tuổi bắt đầu trổ tài lạ khiến cho người ta phải kính sợ. Một
hôm Jêsu lấy đồ nghề thợ mộc của cha mầy mò đục đẽo một con thú bằng gỗ, dưới chân có lắp bánh xe, chuyển
động đi lại được theo lời hô gọi của người, ai nấy đều lấy làm kinh lạ. Từ đó, Jêsu ngày càng tỏ ra thông minh lanh
lợi, không cần phải học mà cái gì cũng biết. Từ đó, Jêsu bắt đầu lòe bịp lừa người. Về sau thì y làm nhiều sự việc kỳ
dị không tài nào ghi chép xuể.

Năm Jêsu lên 12 tuổi, nhân có ngày lễ lớn, Jêsu cùng với cha mẹ đi lễ ở nhà thờ. Tan lễ, mọi người ra về cả, Jêsu
không nói cho cha mẹ biết, một mình vào chơi nhà riêng của thầy cả. Thầy cả thấy Jêsu còn nhỏ bèn hỏi xem đã học
những sách nào, Jêsu liền đáp: “Tôi đã đọc biết hết mọi sách kinh truyện [25] , thuộc hết sử ký các đời”. Thầy cả và
các môn đồ lớn xúm lại cùng hỏi thử Jêsu. Jêsu ngồi chính giữa đối đáp chan chát [26] , nhưng khi hỏi tên cha mẹ thì
không chịu nói. Thầy cả hỏi học với thầy nào, Jêsu đáp: “Có trời ắt là có ta, cần gì phải học mới biết như người
thường?”. Thầy cả thấy lời lẽ ngạo ngược lấy làm ghét, bảo rằng: “Thằng bé này vô lễ lắm!”.

Bấy giờ cha mẹ Jêsu thấy con mất hút không biết đi đâu, vội chia nhau đi tìm, gặp ai cũng hỏi có thấy con mình hay
không. Jiuse vừa đi vừa gọi to: “Con đâu? Mau ra cùng với bố mẹ!”. Nghe người ta nói có thằng bé lạ đang ở trong
nhà thầy cả, khi ấy cha mẹ mới tìm được Jêsu, xin phép thầy cả cho đón về [27] .

Về đến nhà, Jêsu bảo bố mẹ rằng: “Tôi đây là con chúa Trời, sinh xuống trần gian để giảng đạo, nhờ ơn chăm nuôi
của ông bà, nay xin lấy đạo Cha để tôn thờ ông, xin lấy đạo Mẹ để tôn thờ bà” [28] . Jêsu và Maria hai người thấy
mình là kẻ nghèo hèn, không dám nhận. Jêsu lấy có phải ngồi cho nghiêm trang để làm lễ, rồi lên ngồi giữa giường
cao, gọi Jiuse là Ông Già, gọi Maria là Bà Già. Thực ra thì khi ấy cả hai cha mẹ vẫn ngồi giữa đất, Jêsu nào có vái
lạy cung kính tôn thờ gì đâu!

Mười bốn tuổi, Jêsu theo bố mẹ trở về nước Jiuđê sống ở làng Nagiarét [29] , nói rằng từ đây dứt hẳn lòng dục để
15

theo việc tu hành, sống độc thân không lấy vợ. Rồi đó, Jêsu tự cắt đầu ngọc hành để tỏ cho mọi người tin. Bà Maria
thương xót, bỏ ăn mất hai ngày, nhưng Jêsu vẫn không chịu đổi ý [30] .

Tới năm 18 tuổi thì phép kỳ, thuốc lạ của Jêsu đã có nhiều lắm. Nào là khi đi thì có mây che trên đầu, chữa cho
người ốm chỉ cần chỉ trỏ lập tức khỏi bệnh. Jiuse không dám nhận là “bố già” nữa, chỉ xin được làm môn đồ mà
thôi. Jêsu cũng bằng lòng như thế. Từ đó Jêsu đi khắp hết miền này sang miền khác để chữa bệnh cứu người, dân
chúng đồn nhau lấy làm kinh lạ. Phàm được tặng biếu vật gì, Jêsu cũng đem chia phát cho người nghèo khổ, khiến
họ phải mang ơn mình, nhờ vậy mà thu phục được 12 môn đồ. Đó là Phêrô, Jiuse, Damian, Nicôsamô, Juan,
Giacôbê, Philipphê, Ximông [31] . Môn đồ thứ 12 là Jiuđa, Nicôsamô là hai gã thầy lang nghèo khó. Philipphê là mộ
tên kẻ cướp. Juan là con bà Isave, dì của mẹ Jêsu, v.v, Bọn họ đều là những người hàm ơn Jêsu hoặc là hâm mộ
phép thuật kỳ lạ của Jêsu cho nên chịu theo làm môn đồ. Còn Jiuđa nguyên là một tên du đãng ở làng
Ghêtsêmanê [32] . Jêsu từ nhỏ đã là kẻ xấc xược, ngang ngạnh, nay có được chừng ấy môn đồ, lại càng càn rỡ chẳng
coi ai ra gì, tự xưng là thầy cả mà chẳng phải do dân làng bầu ra [33] .

Đến đâu Jêsu bày bái vị thờ chúa Trời đến đó, từ đứng ra làm lễ, dõng dạc nói rằng: “Nước ta từ xưa tới nay thờ
phụng chúa Trời, mà chưa ai biết chúa Trời ra sao, chỉ riêng mình ta được biết rõ. Chúa Trời chỉ một nhưng có ba
ngôi: ngôi thứ nhất là ngôi đức chúa Cha, ngôi thứ nhì là ngôi đức chúa Con, ngôi thứ ba là ngôi chúa Phiritô
Santô [34] . Ba mà là một vậy. Ở dưới đất có địa ngục, nơi đó chúa Trời nuôi quỷ dữ để trừng phạt tội nhân trong
thiên hạ. Phàm người ta kiếp trước làm những điều ác gì, quỷ đều có sổ ghi chép hết, dẫu bé mọn cũng không bỏ sót
tội nào. Nay ta vâng mệnh đức chúa Trời dạy cho các ngươi, ai biết theo phép của ta thì sau khi chết sẽ được lên
thiên đường. Nếu không, Chúa ngôi Ba sẽ phạt đày xuống địa ngục, mãi mãi chịu cực hình”. Nghe Jêsu nói như vậy,
chẳng ai không cho là lạ lùng [35] .

Jêsu lại làm ra hai bổn kinh gọi là kinh Bởi trời [36] và kinh Lạy cha [37] , và làm ra chuỗi hạt gọi là chuỗi con niệm để
cho những kẻ ngu dốt sử dụng khi làm lễ đọc kinh: cứ đọc xong một câu hai lần đếm một hạt con niệm, hết mười hạt
là xong một chầu kinh. Nay theo tiếng nước ta thì kinh Bởi trời niệm rằng: “Chúng tôi lạy thiên địa chân Chúa ở trên
trời là cha chúng tôi, chúng tôi nguyện danh cha cả sáng, nước cha [38] trị đến vâng ý cha, làm dưới đất bằng trên trời
vậy…”. kinh Lạy cha niệm rằng: “Chúng tôi xin cha rằng cho chúng tôi thường nhật dùng đủ, hãy tha tội cho chúng
tôi, bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi vậy. Xin chớ để chúng tôi sa chưng (= vào) cám dỗ, biện trợ (= phân
biệt giúp) chúng tôi chưng dự dữ, Amen!”. Về sau người Tây Dương thay đổi cách đọc, dụng ý sâu xa của việc ấy
xin xem ở phần sau [39] .

Jêsu lại làm ra kinh Mười điều răn, bắt những kẻ ngu đần làm theo những lời răn ấy, lấy đó làm cái đích để tự xét tội
lỗi của mình, ai phạm điều gì thì phải tự xưng ra, gọi là “cầu phép chúa Trời” [40] .

Khi làm lễ, Jêsu nói: “chúa Trời sinh ra người, coi linh hồn là cao quý. Những ai theo đạo thì sau khi chết chúa Trời
sẽ cho linh hồn người ấy được lên thiên đàng. Còn thể xác thì chỉ là chất đất, sau khi chết lâu ngày cũng biến thành
cát bụi cả, ấy là vật thấp hèn không có gì đáng quý mà luyến tiếc. Người ta tuy sống lâu hay chết non có khác nhau,
nhưng cũng đều không tránh khỏi một lần chết. Còn phải mang phần xác ngày này là còn ưu phiền đau khổ ngày ấy.
Cái phần xác như thế có để làm gì đâu?”. Sau này đạo Gia Tô Tây Dương nói “phần xác là cục đất hèn mọn”, tức là
gốc ở đó.

Jêsu lại nói: “Chúa Trời đã hạn định cho trời đất phải có lúc chung tận, từ khi tạo thiên lập địa cho đến lúc chung tận
gọi là tận thế. Đến ngày ấy, trời sẽ đổ mưa dầu, hạn lửa, người và mọi súc vật đều phải chết hết. Lúc ấy giữa trời
hiện lên một thiên thần cầm chiếc ống sắt mà thổi lửa xuống, thiêu cháy hết nhân gian, chỉ còn lại trên trời dưới đất
mà thôi” [41] . Bấy giờ tất cả người chết, không kể là mới chết hay chết đã lâu, đều hiện lên thành hình người. Thiên
thần cầm một chiếc cân lớn để cân từng người xem phúc, tội nặng nhẹ ra sao. Người phúc nhiều được ban thưởng áo
mũ, cho lên thiên đường. Kẻ nào lắm tội bị ném xuống địa ngục cho lửa thiêu hoặc làm mồi cho rắn rết ma quỷ ăn.
Những ai bên thiện bên ác đều một nửa thì đem lên giữa lưng chừng trời để chờ phán xét”.

Môn đồ của Jêsu nghe xong kinh sợ hỏi rằng: “Cái ngày tận thế ấy còn bao lâu nữa, thầy có biết trước chăng?”. Jêsu
đáp: “Chỉ có cha ta mới biết được, còn ta thì không biết, mà nếu biết cũng không thể tiết lộ được [42] . Nhưng các
ngươi cần phải biết rằng: Hễ khi nào thấy mặt trăng mặt trời bỗng dưng tối sầm, sao rơi đất chuyển thì đó là điềm
báo hiệu ngày tận thế”.

Jêsu lại nói: “Khi tất cả mọi người đều chết hết thì gọi là tận thế chung, nếu chỉ một người chết thì gọi là tận thế
16

riêng. Dịch bệnh lớn thì gọi là tiểu tận thế. Ta xem tượng trời thì thấy không đầy ba mươi năm nữa”.

Những kẻ ngu ngốc nghe nói vậy thì kinh hoàng lo sợ, mặt xanh như chàm, tranh nhau xin theo đạo của Jêsu.
Thuyết tận thế của đạo Gia Tô Tây Dương bắt đầu từ đó. Về sau người Tây Dương vẽ bức ảnh “Ngày phán xét’
cũng là gốc ở đấy.

Xưa ở nước Êgiptô có người thợ mộc tên là Nôê có tài đóng thuyền biển rất giỏi. Vua nước ấy lo về sau thuật ấy thất
truyền, nhân ở trong dãy núi MiĐông ở gần kinh đô có một hang đá rộng có thể để lọt chiếc thuyền, bèn sai Nôê
đóng một chiếc thuyền lớn đem đặt vào trong hang đá ấy, rồi làm mái che lên để lưu truyền lại diệu thuật cho đời
sau. Đến nay chiếc thuyền ấy vẫn còn.

Khi đến xứ ấy, Jêsu bảo dân chúng [43] rằng: “Các ngươi không biết chiếc thuyền này có từ thời thượng cổ. Ngày ấy
chúa Trời đã giáng nạn hồng thuỷ khiến cho muôn loài phải tận thế. Chỉ có Nôê là bậc thánh nên được chúa Trời
cho biết trước để đóng chiếc thuyền này, cho chọn các loài vật, mỗi loài một con đực và một con cái để lưu truyền
nòi giống. Qua nạn hồng thuỷ, nước rút, các loài vật lại được ra ngoài, sinh đẻ, truyền mãi cho đến ngày nay. Chúa
Trời có chủ ý vị diệu nên mới cho chiếc thuyền ấy giạt đậu ở núi này để tỏ cho muôn đời sau biết sự tận thế là có
thật để mà kiên tâm theo đạo. Nay ta nói về ngày tận thế, đâu phải là đặt chuyện lừa dối các ngươi! Lại nói chuyện
Nôê ngày ấy có một trăm con trai, sinh ra ngàn vạn con cháu đều khôn lớn cả. Bỗng một hôm, mỗi người nói một
thứ tiếng khác nhau, không ai hiểu nhau nữa! Thế là hàng vạn con cháu của Nôê lìa nhau đi khắp mọi nơi trong thiên
hạ, mỗi người làm ăn sinh sống một nơi, cho nên các nước ngày nay mỗi nước đều nói một thứ tiếng khác nhau là vì
thế”.

Cả bọn ngu khờ xiết đỗi kinh ngạc mà nói rằng: “Đúng là con chúa Trời, nếu không thì làm sao mà biết được việc
vạn năm về trước!”.

Jêsu đi đến đâu cũng leo lên giường cao ngồi chễm chệ, dẫu đối với ông già bà cả cũng chỉ xấc xược gọi bằng
ngươi, bằng mày, không có tí gì khiêm tốn, vì vậy mọi người đều ghét. Chỉ có những kẻ ngu khờ nghèo khổ hàm ơn
mới kính nể tin lời, chịu chứa chấp che chở, nhờ vậy Jêsu mới được dung thân [44] .

Môn đồ của Jêsu là bọn Phêrô, Jiuđa thường kín đáo khuyên can Jêsu hãy nên nhũn nhặn hơn để lấy lòng dân,
nhưng bị Jêsu mắng rằng: “Bọn các ngươi làm sao hiểu được ý ta! Nếu thân ta chịu khuất thì đạo ta làm sao có thể
vươn ra được? Không làm cho tôn nghiêm thì đạo không tôn lên được, người ta chẳng ai theo”. Jiuđa nói: “Chỉ sợ
xảy chuyện không hay, điếm luỵ đến tôn danh”. Jêsu nói: “Việc gì mà phải luỵ? Ngày sau ta sẽ có diệu kế khiến cho
mọi người phải chịu luỵ với ta!”. Jiuđa nói: “Thầy có phép diệu thì tốt được cho một mình thầy, còn hàng vạn môn
đồ thì làm sao mà tốt được? Vả lại, nói như thầy thì chẳng hoá ra cả nước này đều ngu dốt cả sao?”.

Jêsu gạt đi mà nói rằng: “Như thế là ngươi cũng không tin đạo ta rồi”. Từ đó Jiuđa âm thầm nảy sinh ý định phản
bội Jêsu [45] .

[1]
Nguyên thư chép là phía “tây”. Trong bài Nguyên dẫn đã nói nước Tây Dương là nước Ý Đại Lợi (Italia), vậy
nước Jiuđê ở về phía đông nước Tây Dương, chúng tôi sửa sai.
[2]
Jiuđê (Judéa), tức nước Do Thái. Bây giờ Do Thái là một tiểu vương quốc chư hầu của đế quốc La Mã.
[3]
Nguyên thư là BaLinh thành, có ghi chú: “Người phương Tây gọi làng là thành”, tức là những làng quân sự hoá
thời cổ có hào luỹ bên ngoài.
[4]
Hérodes I (79 tcn - 4 scn): vua Do Thái từ 39 tcn – 4 scn. Nguyên thư phiên là ÊviGia.
[5]
Nguyên thư phiên MaDiA và chép là “nhị nữ danh…” (hai người con gái tên là…) nhằm chữ “nhất” thành chữ
“nhị”.
[6]
Nguyên thư là KhuSa.
[7]
Về sau người Tây Dương cũng có phép tu đồng trinh. Xem ra thì chỉ giả dối mà thôi.
[8]
Thật nực cười!
[9]
Sấm truyền, cũng có nghĩa là Sấm ký.
[10]
Nguyên thư phiên là CaBiDiÊ.
17

[11]
Nguyên thư phiên: “Avê MaDiA đài gia ca sa” tức là phiên câu nói của thiên sứ Gabơrien ghi bằng tiếng Latinh
(xem Evang, Luca, I.3:28).
[12]
Nguyên thư phiên: Diêu chúa, tức là chúa Trời (phiên theo tiếng Latinh = Dei). Sách của bổn đạo trước đây, đối
với câu nói của thiên sứ Gaborien chỉ phiên là chúa Dêu mà không dịch là chúa Trời, bởi lẽ Gabơrien đã là người
trời rồi, cho nên không gọi Dei là chúa Trời nữa, chỉ phiên âm mà thôi.
[13]
Thường gọi là lễ Truyền tin.
[14]
Nguyên thư phiên ISaVê.
[15]
Đích thị là con quỷ Tây sắp ra đời!
[16]
Không tin được!
[17]
Thì ra cũng có chút “linh thiêng” thật chứ chẳng nên nói là toàn không!
[18]
Những lời nói khoe khoang đều tỏ ra ngu ngốc, dối trá.
[19]
Chỗ này nguyên thư chép một câu chuyện chú: “Dì còn chẳng chịu chứa, huống chi người ngoài!”. Có lẽ câu này
ghi liền sau đoạn nói nhà chủ chửi bới Maria, bị chép lạc vào đây.
[20]
Nguyên thư phiên: KhuAn.
[21]
Thiên Trúc tức là Ấn Độ, còn ManSa và NhuGia chưa biết chắc chắn là phiên tâm từ chữ gì. Theo Macus Gispert:
“Không ai biết cho tỏ ba đấng ấy làm vua về nước nào… Lại có kẻ nói rằng ba vua ấy có tên là Gaxpa, Menstor,
Banthasa” (Bốn quyển sách Phúc âm của Đức chúa Jêsu Kirixitô”, Phú Nhai đường, 1926, tr. 10). Như vậy có lẽ
ManSa và NhuGia phiên âm chữ Mensior và Banthasa (Melchior, Balthasar).
[22]
Sách Giảng lục nói: Jêsu nghĩa là Chúa cứu thế , an dân. Nếu tin như vậy thì người thầy cả sao dám tự tiện đặt
tên? Và kẻ thường dân sao dám nhận gọi tên mình như thế? Về sau tả đạo thêm một chữ “phụ” (cha) bên trên chữ
Gia (Da) để tỏ ý tôn kính.
Nguyên thư phiên là ChiThu và có chú thích: người Trung Hoa phiên là Gia (Da). Các giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam
phiên Jêsu là ChiThu, không theo cách phiên của Trung Quốc. Nguyên thư dùng cả hai cách phiên ấy.
[23]
Êgiptô, nguyên bản phiên là YthiTo tức là nước Ai Cập, đúng với các sách của bổn đạo viết về tiểu sử Jêsu.
(Cũng có khi phiên là IChiTô). Nhưng tiếp đó, trong nguyên thư lại có câu: YThiTô tức là nước ngày nay gọi là Tây
Dương, lại còn gọi là nước Huề Lan (Hoà Lan). Ghi như vậy là sai. (Có lẽ người chép sách nhầm với Ý Đại Lợi, mà
trong sách này tác giả cũng gọi Italia là nước Tây Dương, cho nên mới ghi sai như vậy).
[24]
Nguyên thứ phiên: SaMiAn.
[25]
Nguyên văn viết là: “Thư, lục”. Thư và lục nói đây là các sách kinh, sách sử của đạo Do Thái.
[26]
Theo Phúc âm của Luca: “Khỏi ba ngày tròn mới thấy người đang ngồi trong đền thờ ở giữa các thầy tiến sĩ…, và
các kẻ nghe các lời sâu nhiệm khôn ngoan của thầy thưa hỏi thì lấy làm kinh khiếp”. (Phúc âm, Luca, II, 4.46,47).
Nhưng Luca nói việc này khi Jêsu đã về Jêrusalem.
[27]
Jiuse đã gọi như thế, chẳng phải cha con là gì? Vậy mà nay người Tây Dương vẫn giấu kín chuyện ấy.
[28]
Nay Kinh Thánh có câu “Chịu khuất đức mẹ cùng ông thánh Jiuse cho đến ngày nay…”.
[29]
Nazareth: nguyên bản phiên là NaSaLiệt.
[30]
Từ trước, các thầy cả (đạo Do Thái) vẫn lấy vợ. Từ khi Jêsu đặt cái phép ấy, được người Tây Dương làm theo.
Thầy tu phải cắt đầu dương vật, không lấy vợ là bắt đầu từ đó. Phép ấy đến nay vẫn còn. Ngày trước, khi tả đạo mới
truyền ra nước ngoài, có bản kinh gọi là kinh Sáng bỉ, bởi lẽ phần nhiều mập mờ che giấu chuyện ấy. Về sau các
giám mục khâm mạng sợ lôi chuyện xấu, bèn lừa dối rằng: “Giáo hoàng ở Tây Dương thấy Chúa hiện phép lạ , cho
nên ra lệnh không cho đọc kinh ấy nữa”. Đại phàm người Tây Dương khi ấy muốn lòe doạ điều gì thường bảo “thấy
chúa Trời hiện phép lạ”, nay cũng vẫn nói như thế.
[31]
Nguyên thư phiên: PhêLô, KhuSa, DaMian, NêCôSaMô, KhuAn, GiaCôBa, BảoLộc, SaMông, KhuDa; cộng 9
người, thiếu 3. Về 12 môn đồ của Jêsu, các sách Phúc âm chỉ có Mathêu ghi đủ, nhưng so với các bản khác thì có
trường hợp tên gọi khác nhau. Sau đây là tên gọi mà bổn đạo vẫn dùng: Ximôn (tức Phêrô), Andrê (André, em
Ximôn), Jăc và Jăng (con của Xêbêđê), Philip (tức Philipphê), Bathêlêmi, Mathiơ, Thôma, Jăc (con của Andrê),
Ximôn (Ximôn nhiệt thành), Jiuđa (con của Jăc), Jiuđa Ichcariôt (Judas Iscariot, kẻ phản bội Jêsu). Trong 9 người
nguyên thư đã ghi ở trên, Jiuse, Damian, Nicôsamô không có tên trong bảng đã dẫn. Có tài liệu cho Jiuse (cha Jêsu)
cũng là 1 trong 12 môn đồ, có tài liệu nói đó là Jêsu khác ở làng Arimathea đã cùng với Nicôsimô táng xác Jêsu
(Xem Phúc âm, Juan, XIX, 8: 38-39).
18

[32]
Nguyên thư: NhiệtSiMaNê.
[33]
Tục nước ấy, chức thầy cả phải do dân làng bầu ra.
[34]
Tiếng Latinh: Spiritu Sancto = đức chúa thánh thần. Nguyên thư phiên: PhiDiTu SanTô.
[35]
Bởi vì từ trước dân nước ấy chỉ biết có một chúa Trời, nay nghe nói Chúa có ba ngôi thì ai cũng phải lấy làm lạ.
Đạo Gia Tô Tây Dương nói Chúa ba ngôi là bắt đầu từ đó.
[36]
Chữ Hán: Tại thiên kinh. Đặt tên kinh như vậy là do kinh này ở câu đầu có câu: “Tại thiên thần đẳng phụ” (Cha
của chúng tôi ở trên trời). Sách kinh bằng chữ Nôm dịch là kinh Bởi trời (Cha của chúng con bởi trời mà xuống…).
[37]
Chữ Hán: Thỉnh phụ kinh.
[38]
Nguyên thư chép: “nhân cha trị đến…”.
[39]
Theo Thánh giáo kinh nguyện (chữ Nôm) thì cả hai đoạn trích trên đây đều là thuộc về kinh Lạy cha , không có
đoạn nào ở kinh Bởi trời.
[40]
Nay giáo đồ tả đạo nước ta đọc lời kinh này bằng quốc âm rằng: “Đạo chúa Trời có mười sự răn. Thứ nhất thờ
đấng chân chúa của trời đất. Thứ hai là chớ gọi tên chúa Trời mà hư thệ (= thề nhảm). Thứ ba giữ ngày lễ bái. Thứ
tư hiếu kính cha mẹ. Thứ năm chớ giết người. Thứ sáu chớ làm tà dâm. Thứ bảy chớ làm trộm cướp. Thứ tám chớ
nói chứng dối. Thứ chín chớ muốn em con (= vợ con) người. Thứ mười chớ tham của người. Trước mười sự răn rút
về hai nơi mà chừa, kính dám Thiên Chúa trên hết mọi sự, chưng yêu người như yêu mình ta vậy. Amen!”. Về sau
người Tây Dương lại đọc thêm câu đầu với câu cuối. Ẩn ý sâu xa xem ở sau sẽ rõ.
[41]
Trời, đất vẫn còn thì làm sao lại gọi là “tận” (hết)?
[42]
Đại phàm người Tây Dương lòe doạ người ta thường vẫn hay nói kiểu ấy.
[43]
Nguyên bản chép nhầm một chữ “vị chúng viết” (nói với dân chúng rằng…), nhầm chữ “chúng” thành chữ “tôi”
(hai chữ này viết thảo hơi giống nhau, dễ lầm).
[44]
Nay thầy tu Tây Dương thường hay tìm người nghèo mà bố thí ơn huệ để gây chỗ nương thân là bắt đầu từ đấy.
[45]
Tên du đãng (Jiuđa) nói nghe cũng có lý.

Quyển II

Lên khỏi nước, Jêsu đặt bày lắm phép


Bị hỏi vặn, Jêsu nguy khốn nhiều phen

Jêsu muốn thay đổi hết phong tục trong nước khiến cho chỉ một mình được độc tôn, bèn nghĩ ra lắm phép bịp để lừa
người. Khi có ai vặn hỏi, Jêsu đều khéo miệng trả lời biến báo để xoa lấp sự dối trá.

Trước hết Jêsu thử làm phép nước thánh: múc một bình nước trong, đổ muối vào, đem cất kín chừng 10 ngày rồi lấy
ra bày lên bàn thờ chúa Trời. Khi làm lễ, Jêsu áp miệng vào bình lẩm nhẩm đọc lời cầu khấn, xin chúa Trời ban
phép cho để bình nước này diệt trừ ma quỷ. Xong đó, Jêsu bảo mọi người rằng: “Phàm những ai bị tà ma ám ảnh
hoặc gặp tai nạn hoả hoạn, lấy nước bình thánh này rảy vào thì đều qua khỏi cả”. Có người hỏi: “Nước gì mà hay
như thế?”. Jêsu đáp: “Đó là nhờ phép thần thông biến hoá, ví như trời mưa thì không đâu không khắp”. Phép nước
thánh bắt đầu như vậy [1] .

Chừng một năm sau, thấy người ta tin phép nước thánh, Jêsu bèn dụ dỗ dân chúng bỏ lệ tế trời bằng các đồ tế thịt,
chỉ dùng hương nến [2] mà thôi. Người ta hỏi: “Làm sao biết chúa Trời không hưởng đồ tế thịt?”. Jêsu đáp: “Những
thức chúa Trời đã cho phép chúng ta ăn đều là những vật nhỏ mọn, đem những thức ăn nhỏ mọn ấy mà tế chúa Trời
là bất kính”. Từ đó dân nước ấy bỏ không dùng thịt làm đồ tế chúa Trời [3] .

Lại một năm sau, thấy người ta đã nghe lời bỏ việc dùng thịt tế chúa Trời, Jêsu lại muốn bỏ nốt việc thờ cúng quỷ
thần, bèn gọi dân đạo đến bảo rằng: “Quỷ thần là kẻ có tội với chúa Trời. Ngày xưa, chúa Trời gọi chín hạng thiên
thần chia phiên chầu thiên đường, mỗi hạng có đến hơn vạn thiên thần. Năm ấy, chúa Trời thường vắng mặt ở triều,
vị thiên thần đệ nhất tên là Lusaphê tự xưng là chúa Trời, các hạng thiên thần đều nghe theo cả. Chúa Trời nổi giận,
phạt đày tất cả xuống địa ngục, bắt phải làm quỷ, khiến cho bọn quỷ ác kia biết tôn trọng chúa Trời rồi sau mới cho
19

hưởng niềm vui trên thiên đường. Vì vậy lũ quỷ ác ấy đi khắp nơi trong thiên hạ, tìm trăm đường cám dỗ khiến cho
những ai trót nghe lời bọn chúng thì phải làm môn đồ cho chúng. Các ngươi nên bỏ hẳn tục thờ cúng quỷ thần đi”.
Mọi người đều nghe theo. Từ đó dân nước ấy bỏ tục thờ cúng quỷ thần [4] .

Qua năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã tin lời bỏ thờ cúng quỷ thần. Jêsu lại doạ rằng: “Trên trời có thiên đường để
thưởng công, dưới đất có địa ngục để phạt tội, giữa lưng chừng có toà phán xét. Tất cả những người thiện, chúa Trời
sẽ cho lên thiên đường, kẻ ác thì chúa Trời bắt đày xuống địa ngục. Những kẻ thiện ác không rõ lắm thì chờ toà phán
xét, không một hồn nào được về nhà nữa. Vì thế phải bỏ việc thờ cúng người chết”. Dân nước ấy bỏ tục thờ cúng
người chết từ đó.

Có người hỏi: “Làm sao biết được người chết không hưởng đồ tế lễ”, Jêsu đáp: “Cứ xem người ta khi nhỏ thì biết
bú, lớn lên thì không bú nữa, khi còn khoẻ thì răng cứng gặm được xương, đến lúc tuổi già răng yếu thì không gặm
được nữa. Do đó mà biết rằng người ta khi còn sống thì ăn, chết rồi thì không ăn được nữa”. Những lời biện bạch lắt
léo mê hoặc người ta như thế không biết bao nhiêu mà kể hết được. Đó là nguyên do của cái thuyết thiên đường, địa
ngục và toà phán xét.

Qua năm sau nữa, Jêsu thấy những kẻ ngu khờ đã nghe mình mà bỏ việc thờ cúng tổ tiên ông bà, Jêsu lại doạ rằng:
“Phàm người chết ai cũng muốn chôn xác cho sâu, các người đến đào huyệt sâu 6 thước [5] để âm hồn được thoả.
Sau khi chôn rồi không được đào mồ lên nữa, như thế mới thật là chí hiếu”. Từ đó có phép chôn sâu không cải táng.
Đáp lại câu hỏi của dân chúng, Jêsu nói: “Mồ mả cũng ví như chỗ cần kiêng giấu của cha ông, lẽ nào lại muốn cho
con cháu bới móc ra? Huống chi hài cốt lại có mùi hôi thối mà đào lên tức là bất hiếu. Ta chỉ muốn lấy đạo hiếu dạy
người, không dám làm trái lại”. Dân chúng đều nghe theo.

Qua năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã theo phép chôn sâu, nhưng vẫn còn mặt đồ tang và khóc lóc thảm thiết,
Jêsu lại bảo rằng: “Người chết là kẻ được trời cho giải thoát khỏi nỗi khổ ở thế gian để lên chốn thiên đường vẻ
vang, vì vậy không nên khóc lóc làm cho âm hồn quyến luyến không nỡ dứt bỏ cõi khổ để lên chỗ vẻ vang. Từ nay
về sau khi có người chết thì các người nên cùng nhau tụ họp đọc kinh cầu nguyện chúa Trời, như thế mới là chí
hiếu”, bèn bỏ thủ tục khóc người chết và tục chôn tạm [6] . Từ đó dân nước ấy khi chết không có người khóc, người
chôn tạm nữa [7] .

Lại một năm sau, thấy những kẻ ngu khờ đã nghe mình mà bỏ tục khóc người chết, Jêsu lại bảo rằng “Người chết
được chúa Trời cho thoát khỏi mọi nỗi khổ cực ở thế gian, thể xác chôn vùi cùng đất đen, chôn ở đâu mà chẳng
được, cần gì phải lựa chọn phương hướng? Sống chết khác nhau, ví như cái rễ khô, há lại có ích hơn cái rễ sống
chăng?”, bèn bỏ tục chọn đất đặt mồ mả. Dân nước ấy bỏ tục xem đất đặt huyệt từ đó.

Về phép xem thiên văn, Jêsu loè bịp người ta rằng: “Chúa Trời sinh ra mặt trời để toả ánh sáng, tiện cho ta làm việc,
sinh ra mặt trăng để làm dịu mát cho ta, ban đêm cho ta được nghỉ ngơi. Ấy đều là hậu ý của chúa Trời cả. Mưa to
gió lớn cũng là do Chúa làm ra để trừng phạt loài người. Năm, tháng, ngày, giờ là những hạn độ thời gian mà người
chưa đặc biệt định ra để cho tiện ghi nhận. Nguyên từ thời thượng cổ chưa chia ra năm tháng, định ngày tốt ngày
xấu mà vẫn sinh sôi nảy nở phồn vinh, không vì thế mà tôn giảm”. Có người hỏi: “Do đâu mà có các ngôi sao trên
trời?”. Jêsu đáp: “Ấy là cái diệu ý của chúa Trời, nhân gian không thể biết được”. Từ đó lại bỏ việc xem thiên văn.

Lại một năm nữa, thấy dân chúng đã theo tục không khóc người chết, Jêsu mừng thầm bảo các môn đồ rằng: “Thế là
dân đã chịu tin, đạo ta bắt đầu được thi hành rồi vậy”. Jêsu bèn đặt ra phép rửa tội, loè bịp mọi người rằng: “Khi mới
tạo thiên lập địa, chưa có loài người, chúa Trời bèn lấy đất sét vắt thành một hình người đàn ông, bẻ cành cây làm
xương. Lại lấy đất vắt một hình người đàn bà, bẻ một đoạn que thừa ở xương sườn người đàn ông phụ thêm vào. Hai
hình người đã vắt xong, chúa Trời bèn truyền linh hồn cho. Thế là hai hình đất kia bắt đầu chuyển động thành người.
Người đàn ông là Ađam người đàn bà là Evà [8] . Rồi chúa Trời cho phép hai người phối hợp với nhau thành vợ
chồng. Từ đó Ađam và Evà sinh ra không biết bao nhiêu là con trai con gái. Chúa Trời đặc biệt yêu quý vợ chồng
20

Ađam, chẳng sót thứ gì không ban cho, duy có thứ quả gọi là “quả cấm” thì không cho đụng tới. Bấy giờ có bọn quỷ
dữ ghen ghét vợ chồng Ađam được chúa Trời yêu quý, rắp tâm vu cáo cho hai người. Nhân khi Evà đi qua cây cấm,
bọn quỷ hái trộm quả cấm mà ăn và dụ dỗ Evà rằng: “Thứ quả này ngọt lắm”. Bà Evà cắn vụng một miếng, còn nửa
quả đem về cho chồng. Ađam sợ phép chúa Trời không dám ăn, Evà nài mời mãi Ađam mới cắn một miếng. Nhưng
vừa nuốt đến cổ thì hối, bèn bóp tay chặn cổ để khạc nhổ ra. Vừa lúc ấy chúa Trời biết chuyện, đày vợ chồng Ađam
xuống địa ngục, bắt mãi mãi phải chịu tội lỗi cực khổ. Từ đó người ta sinh ra đã phải mang tội tổ tông. Nay ta phải
lấy nước mà rửa sạch tội lỗi ấy đi”. Rồi đó Jêsu bảo người ta khi đẻ con ra thì lấy nước vẩy lên đỉnh thóp và nói: “Ta
rửa tội cho mày nhân danh Cha và Con và Phiritô Santô”, miếng khấn nhẩm một đoạn rồi đến quỳ lạy trước bàn thờ
chúa Trời. Lễ xong thì nói: “Vậy là rửa sạch tội tổ tông, từ nay về sau nếu làm điều ác là mày gây nên tội”.

Có người hỏi về việc chúa Trời lấy đất vắt nên người, Jêsu đáp: “Cái quý báu đối với chúa Trời là linh hồn, cho nên
sau khi người ta chết, linh hồn không mất, còn thể xác thì nát rữa thành đất. Các người há chẳng thấy ngày nay
xương sườn của đàn ông chỉ có 29 chiếc mà của đàn bà thì đủ cả 30 chiếc đó sao?”.

Người ta lại hỏi rằng nói Ađam nuốt quả cấm là căn cứ vào sách nào? Jêsu đáp: “Cứ xem ngay ở cổ họng đàn ông có
cục xương trồi ra, mà ở đàn bà thì không có”. Jêsu khéo viện dẫn những chứng cớ như thế, cho nên những kẻ ngu
khờ lại càng thêm tin [9] .

Lại qua năm sau nữa, thấy người ta đã tin phép rửa tội, Jêsu lại đặt ra phép giải tội, lừa phỉnh dân chúng rằng: “Tội
tổ tông đã có phép rửa, còn tội lỗi do mình gây ra thì phải dùng phép giải tội. Phép chúa Trời rất nghiêm khắc nhưng
cũng rất khoan dung. Những ai biết thú nhận tội lỗi đã phạm phải thì đều được chúa Trời tha thứ, mà cũng được xoá
tội trong sổ ghi của quỷ”. Rồi Jêsu vào ngồi trong buồng kín ngăn cách với bên ngoài bằng một cửa sổ bí mật, bảo
đàn ông đàn bà lần lượt vào quỳ trước cửa sổ ấy, khẽ tiếng kể lại những lầm lỗi phạm phải trong đời, nhất nhất phải
nói đúng sự thật, không được giấu giếm. Xưng tội xong thì gục đầu ngoài cửa sổ mà kêu khóc, tự đấm vào ngực
mình để tỏ ý ăn năn hối lỗi. Jêsu ngồi trong buồng kia mà khấn nhẩm, rồi nói: “Con đã được xá tội”. Từ đó Jêsu bảo
dân đạo người giàu nên ba tháng xưng tội một lần, người nghèo thì một năm một lần cũng được. Có người hỏi: “Đã
có tội thì làm sao mà giải được?”. Jêsu đáp: “Chúa Trời đối với người ta cũng như cha mẹ đối với con cái. Con cái
đã thú tội, cha mẹ lẽ nào lại không thương?”.

Qua năm sau, thấy người ta đã tin phép xưng tội, giải tội, nhưng vẫn lo còn có kẻ nghi ngờ. Phải nghĩ cách trấn áp
tâm trí họ. Jêsu bèn đặt ra phép “rượu thánh, bánh thánh”. Rượu thì lấy quả nho ép ra nước, đựng vào chén thuỷ tinh
gọi là chén “calixa” có chân đế cao 1 thước. Bánh thánh thì làm bằng bột mì, hình dáng như chiếc bánh bẻ [10] . Thứ
bột thật trắng và mịn, bỏ vào lò sấy khô, khi ăn vào miệng là tan ngay. Lấy kéo cắt vài miếng tròn như miệng chén,
còn mấy chục miếng khác thì nhỏ vừa bằng đồng tiền, bỏ cả vào một chiếc chén bạc. Khi làm lễ, Jêsu tay nâng chén
rượu ngẩng mặt lên trời khấn nhẩm, rồi cầm lấy chén bánh hai tay ốp sát thành chén, cúi đầu áp miệng mà khấn
nhẩm. Khấn xong, trước hết Jêsu giơ chén “rượu thánh” lên trước bàn thờ chúa Trời. Môn đồ lắc chuông tay làm
hiệu cho mọi người quỳ lạy. Jêsu giơ lên hạ xuống mấy lần rồi ngửa cổ uống hết chén rượu. Sau đó Jêsu dùng ngón
cái và ngón trỏ nhón chiếc bánh tròn to nhất giơ lên, môn đồ lại nhắc chuông ra hiệu cho mọi người quỳ lạy như
trước. Bốn, năm thiếu nữ được chọn đứng dưới bàn thờ ngân giọng hát rằng: “Con kính lạy mình thánh chúa Trời”.
Ngâm hát như thế ba lần [11] . Jêsu ngẩng đầu bẻ bánh mà nuốt, xong lại đứng ngay ngắn. Một lát sau Jêsu cầm chiếc
bánh giơ lên, nghi lễ cũng như trước. Rồi đó Jêsu bảo những người xưng tội bước lên quỳ một hàng ngang, hai môn
đồ giăng một tấm vải trắng ra phía trước, mọi người giơ tay đỡ, còn hai đầu thì do hai môn đồ đứng cầm. Bấy giờ
Jêsu đi bỏ bánh vào miệng cho từng người, bảo phải nuốt trửng không được nhai. Ai nhai bánh là phạm tội phải đày
xuống địa ngục. Giải quyết bảo mọi người rằng: “Bánh thánh đã vào lòng dạ các ngươi, từ nay lòng dạ các ngươi
được sáng láng” [12] . Tiếp đó lại ra hiệu cho các thiếu nữ đọc rằng: “Lạy ơn Đức chúa Trời cao cả từ nay đã soi tỏ
ngôi nhà linh hồn con”. Lễ xong, Jêsu lại bước lên bệ đứng chính vị. Những kẻ ngu khờ thấy thế lại càng tin là mình
đã được miễn tội. Phép “rượu thánh, bánh thánh” bắt đầu có từ đó.

Qua năm sau, thấy lòng người đã tin phép bánh thánh rượu thánh, Jêsu lại đặt ra phép xức dầu cho người ốm và
21

người chết, doạ dân chúng rằng: “Phàm những ai ốm nặng đều cần phải ghi dấu trên mình để sau khi chết chúa Trời
tiện nhận dấu vết mà cho lên thiên đường, những ai không có dấu thì phải đày xuống địa ngục làm mồi cho quỷ ăn”.
Thế là nhà nào có người ốm nặng, con cháu đều phải mời Jêsu đến làm lễ xưng tội một lần cuối cùng. Jêsu an ủi
rằng “Mọi sự trên thế gian này đều như giấc mộng trong chớp mắt, xưa nay đều thế cả, chẳng nên luyến tiếc làm
chi”. Jêsu bỏ bánh thánh vào miệng cho người ốm rồi bí mật lấy cao bạc hà hoà với dầu bôi lên trán người ốm một
vết, ngực và mỏ ác đều một vết. Mỗi lần bôi điểm như thế đều chỉ trỏ làm phép [13] . Sau cùng, Jêsu nhìn người ốm
mà khấn nhẩm rồi ra về.

Khi người ốm đã chết, Jêsu quày chiếu xung quanh tử thi, bảo con cháu người chết quỳ lạy ở ngoài cầu nguyện chúa
Trời. Trong khi đó Jêsu vào trong chiếu đi vòng quanh tử thi ba lần, chỉ trỏ làm dấu trên mặt, chân và tay người
chết. Rồi đó Jêsu bảo con cháu mở chiếu ra làm lễ đọc kinh nhập liễm. Nếu có người chết bất thình lình không kịp
mời Jêsu đến làm phép xưng tội thì khi tới nơi Jêsu chỉ khấn nhẩm một lần, rồi cũng bảo quây chiếu xức dầu thánh,
chỉ bỏ phép cho ăn bánh thánh mà thôi. Từ đó có phép xức dầu cho người ốm.

Được một năm, thấy người ta đã tin phép xức dầu thánh cho người ốm, Jêsu lại đặt thêm phép chuộc tội. Tuỳ theo
tội lỗi của từng người nặng hay nhẹ mà định mức độ nhiều ít, Jêsu bảo: “Đã xưng tội thì phải thật tâm, phải tự đấm
vào ngực cho đau thì chúa Trời mới tha tội. Tội nặng hơn thì phải đọc kinh hết 2 lần con niệm [14] để chuộc tội. Nặng
hơn nữa thì phải đọc kinh từ 3 đến 7 lần. Kẻ nào phạm vào tội bội nghịch thì phải cáo lỗi với quỷ ở âm phủ bằng
cách quỳ rạp xuống đất thè lưỡi liếm đất 3 lần hoặc 4 lần” [15] .

Sau vài tháng, Jêsu gọi những người phạm tội phải liếm đất tới, không phân biệt đàn ông đàn bà, đuổi hết những
người xung quanh rồi hỏi từng người: “Việc liếm đất thế nào rồi?” Ai nấy đều trả lời: “Đã liếm rồi”, Jêsu mừng
thầm, cười mà bảo riêng với các môn đồ rằng: “Bảo liếm đất mà bọn họ cũng làm thì chẳng còn việc gì mà họ không
theo”.

Rồi đó Jêsu đặt ra phép chuộc tội bằng tiền, mỗi người nhiều ít tuỳ mức độ nặng nhẹ như đã định trước: kẻ 5 đồng,
kẻ 10 đồng, cũng có người phải nộp một nén bạc [16] . Tiền đó giao cho một chức sắc cẩn thận thật thà cất giữ, bảo
rằng: “Đó là tiền để dùng chung vào việc thờ phượng chúa Trời”. Lại doạ rằng: “Kẻ nào dám ăn cắp tiền ấy, dù chỉ
một đồng, sau khi chết chúa Trời sẽ bắt trị trọng tội liền 40 ngày”. Ai nấy đều sợ hãi, cho nên số tiền ấy được gìn
giữ rất nghiêm. Ấy việc Jêsu lừa dối người ta để lấy tiền bắt đầu từ đó.

Qua năm sau, thấy người ta đã tin phép nộp tiền chuộc tội, Jêsu lập mưu chiếm đoạt tiền của để dùng riêng, bèn doạ
rằng: “Linh hồn ông bà tổ tiên các ngươi hiện vẫn còn đợi ở toà phán xét, chưa thoát được cõi âm. Ta có thể giúp
cho ông bà tổ tiên các ngươi được lên thiên đường, các người nghĩ sao?”. Nghe vậy ai nấy đều lấy làm mừng, đáp
rằng: “Xin vâng lời thầy”. Jêsu bèn cho cắm nhiều thập giá khắp bốn phía bên trong nhà thờ, trên rộng dưới hẹp
thành nhiều tầng nối nhau, gọi đó là những phần mộ. Xung quanh mỗi tầng mộ đều cắm nến. Sau khi giơ bánh thánh
lạy chúa Trời, Jêsu đi khắp một vòng, lần lượt thắp nến ở các tầng mộ. Rồi đó, giải quyết cùng một môn đồ bỏ bột
nhũ hương vào đỉnh đồng châm lửa đốt. Tiếp đó đi vòng rắc hương lên các ngôi mộ.

Sau khi Jêsu đi hết một vòng từ trên xuống dưới thì có hiệu truyền cho các thiếu nữ đồng trinh có mặt trong cuộc lễ
đồng thanh đọc lời cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời [17] , chúng con nguyện danh Cha thành thánh. Cha
dựng nước Lâm Cách [18] , ý Cha được thừa hành ở dưới đất cũng như ở trên trời vậy. Chúng con mong Cha rày cho
chúng con đủ miếng ăn hằng ngày và miễn tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho người có nợ chúng con.
Lại giữ chúng con khỏi sa cám dỗ và cứu chúng con ra khỏi chốn hung ác. Amen!” [19] .

Mỗi lần cầu nguyện xong lại đi quanh ba vòng, Jêsu nhìn khắp các tầng mộ rồi hướng về phía bàn thờ chúa Trời
khấn nhẩm hồi lâu. Lại đi tiếp ba vòng khác, hết lượt, các trinh nữ lại đọc lời cầu nguyện như trên. Một môn đồ
đứng bên cạnh đọc bài văn cầu hồn, lời lẽ bi ai thống thiết, khiến cho họ hàng người chết nghẹn ngào cảm thương,
ném tiền vào như mưa, tiền ấy gọi là tiền lễ phần mộ. Lễ xong, Jêsu bảo họ hàng người chết rằng: “Ta vì các ngươi
22

cầu nguyện cho linh hồn tổ tiên ông bà các ngươi được lên thiên đường. Các ngươi cũng vì tổ tiên mà cúng tiền cho
ta, nếu không thì các ngươi là kẻ bất hiếu”. Thế là cứ đi một vòng lại thu được một quan. Những kẻ ngu khờ thương
tiếc tổ tiên ông bà, nay mừng vì linh hồn tổ tiên ông bà được lên thiên đường, chẳng ai lại không chịu bỏ tiền ra. Cứ
như thế, ở mỗi làng Jêsu đều thu được bạc trăm. Lễ mồ bắt đầu có từ đó.

Lại qua năm sau, thấy người ta đã tin phép nộp tiền làm lễ mồ, Jêsu lại nghĩ cách để kiếm cho được nhiều tiền hơn
của những nhà giàu có, bèn phỉnh họ rằng: “Tổ tiên ông bà các ngươi ăn ở phúc đức nên chúa Trời mới cho các
người giàu có, sao các người không nghĩ báo đáp ơn đức ấy?”. Nhà phú hào có người hỏi lại: “Tôi nghe thầy nói
người chết rồi thì linh hồn [20] không trở về nhà nữa. Vậy biết báo đáp thế nào?”. Jêsu liền át đi mà nói: “Đúng là
hồn không về nữa, nhưng ta có phép cầu nguyện, gọi là lễ Misa, muốn cầu cho ai cũng đều được”. Người nhà giàu
hỏi: “Có lẽ cũng như lễ mồ chăng?”. Jêsu đáp: “Đâu phải thế! Lễ mồ là lễ nhỏ, làm sao mà sánh được!”. Thấy họ đã
chịu tin, Jêsu mới bảo: “Các ngươi muốn báo đáp công ơn tổ tiên ông bà thì lễ phải hậu hơn người nghèo, như thế
mới là hiếu kính. Có thể chung nhau ba bốn người cùng làm một lễ cũng được”.

Thấy đám nhà giàu do dự, Jêsu bèn gọi các bà vợ của họ đến, chê trách họ không biết báo hiếu cho tiên linh. Các bà
vợ cả tin, nhớ kỹ lời khuyên của Jêsu rồi về nhà thúc giục chồng con phải lo việc báo hiếu, vì thế chẳng ai là không
nghe theo. Từ đó Jêsu đặt ra nghi thức lễ phục sang trọng hay bình thường tuỳ theo từng cuộc lễ [21] .

Trong lễ Misa, về nghi thức đèn nến thì có thêm mâm hương để phân biệt với lễ mồ. Lại mời họ đạo các làng đến
giúp đọc kinh. Đám nhà giàu vì thế lấy làm hãnh diện vẻ vang lắm. Xong lễ, cứ mỗi hồn phải nộp 5 quan, thêm tiền
đèn nến 3 quan nữa. Trong một năm, cứ mỗi làng Jêsu thu được của đám nhà giàu ít nhất cũng được 50 quan. Từ đó
bắt đầu có lễ Misa [22] .

Có người phàn nàn với Jêsu rằng: “Chỉ thấy thầy đọc nguyên danh Cha thành thánh với những là “tha nợ”, chứ có
nhắc nhở gì đến linh hồn ông bà chúng tôi đâu? Sau lại lắm tiền thế?” Jêsu đành phải chống chế rằng: “Tất phải
tuyên xướng ơn Đức chúa Trời rồi sau mới có thể cầu nguyện cho âm hồn được, cũng ví như vào cửa quan thì phải
thác ra một cớ gì rồi sau mới có thể kêu xin việc oan riêng của mình. Còn như cầu mật những gì thì ta đã nói hết
rồi”. Người nhà giàu cũng tin là đúng.

Jêsu còn muốn lấy nhiều tiền hơn nữa của các nhà giàu, bèn lập mưu nói rằng: “Lễ Misa chỉ để cầu truy cho hồn
cũ [23] , lên cho được thiên đường cũng còn chậm. Nếu cầu cho người mới chết lên tác dụng được mau hơn”. Người
ta hỏi lại: “Lễ ấy thế nào?” Jêsu đáp: “Kẻ làm con có lòng hiếu thì không nên tiếc của. Làm việc hiếu mà tiếc của thì
chúa Trời không dung”. Mọi người nghe nói thế đều lấy làm sợ. Jêsu lại nói: “Nếu các ngươi làm lễ cầu nguyện cho
linh hồn tổ tiên mau lên thiên đường thì tổ tiên sẽ cầu xin Chúa cho các ngươi càng được thêm phúc đức”. Dân đạo
đều lấy làm vui, xin nghe lời chỉ giáo, Jêsu nói: “Lễ này mỗi ngày phải 20 quan, muốn làm bao nhiêu ngày thì nộp
bấy nhiêu lần tiền”. Mọi người hỏi: “Lễ ấy là lễ gì?” Jêsu đáp: “Đó là lễ Quy lăng”. Thế là từ đó mỗi khi có người
nhà giàu nào chết, Jêsu đều sai môn đồ đến thúc giục con cháu nhà ấy đành phải đi mời. Jêsu gửi giấy báo cho dân
đạo biết ngày làm lễ, ai đến thì được phúc lành, được chúa Trời thưởng công.

Tới ngày làm lễ Quy lăng, Jêsu đến nhà người chết cho lập bàn thờ, quây trướng mộ như đã nói ở trước, chỉ khác
một điều là trên thi hài người chết thắp 5 ngọn nến ở 5 phương [24] . Jêsu mặc y phục đại lễ, làm phép chầu chúa Trời
rồi đi đọc kinh xung quanh trướng mộ. Đọc xong lại đi quanh thi hài ba vòng, sai môn đồ đọc kinh cầu nguyện xin
chúa Trời cho người chết được lên thiên đường. Jêsu lẩm nhẩm cầu khấn, giơ tay bắt quyết bốn phía, rồi tuyên bố:
“Lễ xong!” Sau đó tang chủ đem tiền đến nộp như đã định trước [25] .

Lễ Quy lăng đã xong, Jêsu bảo tang chủ rằng: “Người thân của nhà ta là bậc phú quý, chẳng lẽ lại đem ra chôn ngoài
đồng như các nhà thường dân? Ngươi nên xin làng cho mai táng ngay trong nhà thờ, như thế mới thật là đắc phúc!”
Tang chủ xin với làng, làng bảo là không được, bèn đến hỏi Jêsu. Jêsu nói: “Ấy là việc làm phúc tốt nhất cho người
ta, nhưng bảo phải nộp tiền lệ phí để bỏ vào quỹ chung của nhà thờ”. Dân làng nói: “Nhờ thầy định cho mức lệ phí
23

bao nhiêu?” Jêsu đáp: “Chôn ngay trong điện thì phải 30 quan, chôn bên ngoài thì tuỳ chỗ gần hay chỗ xa mà châm
chước”. Dân làng nghe theo lời Jêsu. Thế là đám nhà giàu lấy làm tin, lại nạp lệ phí điện táng để lấy tiền chi tiêu
việc chung trong làng. Từ đó bắt đầu có lễ Điện táng.

Được một năm, thấy dân chúng đã tin theo các lễ Misa, Quy lăng, Điện táng, Jêsu lại loè phỉnh rằng: “Người chết có
phép của người chết, người sống cũng có phép của người sống. Vợ chồng lấy nhau là do chúa Trời định trước, cho
sinh con đẻ cái để ngày sau có nhiều người cùng lên thiên đường làm bạn với Chúa [26] . Ta có một phép gọi là
Matrimôniô [27] . Sau khi trình với chúa Trời, vấn đề được chung sống đến già, sinh con đẻ cháu đông đúc”. Rồi đó
Jêsu đặt lệ: hễ trai gái lấy nhau thì trước ngày đón dâu, con trai phải đến nhà thờ xưng tội để được nghe lời răn kín.
Con gái cũng phải làm như thế. Ngày hôm sau đến lễ nhà thờ, cô dâu chú rể đều được ăn bánh thánh. Hôm sau nữa
mới làm lễ cưới. Cha mẹ dẫn con trai, con dâu ra quỳ lạy trước bàn thờ chúa Trời. Jêsu hỏi: “Bên nam tên là…
muốn lấy bên nữ tên là… làm vợ, hai người có thuận chung sống trọn đời hay không?” [28] . Chú rể đáp: “Bẩm thầy,
có ạ”. Jêsu lại hỏi cô dâu, cô dâu cũng trả lời như vậy. Tiếp đó Jêsu bảo chú rể giơ bàn tay trái úp trên bàn tay phải
của cô dâu rồi rảy nước thánh lên tay hai người. Tiếp theo là nghi thức trao tặng nhẫn cưới. Jêsu cầm nhẫn đeo vào
ngón tay cho chú rể, rồi bảo chú rể đeo vào cho cô dâu. Một môn đồ đội bức thư quỳ bên cạnh, Jêsu trông vào đó mà
đọc, đại khái cũng là những lời cầu phúc chúc thọ mà thôi. Lễ xong, gia chủ tuỳ mức giàu nghèo đem biếu tiền lễ
cho Jêsu, thưởng cho cả người môn đồ đội thư nữa, nhiều ít tuỳ ý. Xong lễ, hai người đưa nhau về nhà. Đó là phép
tiểu hôn lễ.

Nếu là lễ cưới của con cái nhà giàu, Jêsu phỉnh cha mẹ họ rằng: “Nhà ta là hạng có vai vế, chẳng lẽ lại tiếc con cái
không cho chúng được làm đại lễ Matrimôniô?” Nhà giàu đua danh, nghe nói thế lấy làm mừng. Jêsu lại bảo làm lễ
xưng tội ăn bánh thánh như đã nói trên. Trước khi làm lễ một ngày, Jêsu sai môn đồ đi báo cho mọi người biết đến
ngày nào mời đến nhà thờ làm lễ cưới cho đôi trai gái nào. Đến hôm nấy, đàn ông đàn bà hội họp đông đủ, nghi thức
cũng như đã nói trên. Chỉ khác là thầy trò Jêsu mặc áo lễ màu sắc rực rỡ, người môn đồ đội thư hát một bài, ấy là để
phân biệt với lễ cưới của nhà nghèo. Lễ xong, theo lệ, cả nhà trai và nhà gái mỗi bên đem 5 quan tiền ra tặng Jêsu.
Người đội thư và người lĩnh xướng được nhận 5 quan chung nhau. Jêsu bảo gia chủ rằng: “Nếu có hảo tâm thì
không câu nệ theo số ấy”. Gia chủ muốn tỏ ra cao thượng, thường biếu tiền nhiều hơn định lệ. Với cách làm phép
cưới như thế, trong một năm Jêsu thu được ở làng lớn không dưới trăm quan, làng nhỏ ít nhất cũng được năm chục
quan. Đó là phép đại hôn lễ. Từ đó bắt đầu có hôn lễ Matrimôniô.

Nếu có đôi trai gái nào ưng ý nhau, Jêsu lựa lúc vắng người bảo họ nói thật cho biết. Sau đó, Jêsu chẳng kể gì đẳng
cấp sang hèn, tộc thuộc thân sơ của đôi bên trai gái, cứ gọi cha mẹ họ đến để thu xếp tác thành. Nếu cha mẹ họ
không ưng thuận, Jêsu nổi giận không cho làm lễ xưng tội nữa [29] . Cha mẹ sợ không được làm lễ xưng tội thì sau
khi chết, linh hồn bị đày xuống địa ngục, nên cũng đành phải nghe theo. Từ đó người bên đạo lấy nhau không phân
biệt huyết thống [30] .

Một năm sau, dân đạo đã chịu phép cưới Matrimôniô, những người lấy vợ lẽ cũng đến xin Jêsu làm lễ cưới. Jêsu
muốn đặt phép một vợ một chồng, nhưng sợ người ta khó tin theo, bèn nghĩ cách nói trước rằng: “Hôn lễ chỉ được
làm khi cưới vợ cả, còn đối với vợ lẽ thì dẫu là người thứ mấy cũng không được làm lễ cưới nữa”. Mọi người cũng
lấy làm tin. Hễ đi đến đâu, Jêsu cũng nói: “Sinh làm thân con gái mà đi lấy lẽ, không được làm lễ cưới thì thật là xấu
hổ”. Đàn bà con gái sợ xấu hổ không chịu làm vợ lẽ nữa.

Nghe ngóng thấy lòng dân đã thuận, Jêsu lại dọa rằng: “Chúa Trời sinh ra đàn ông đàn bà bằng nhau, một nam và
một nữ là vừa đủ số. Từ đời thượng cổ, chúa cũng chỉ cho ông Ađam lấy một bà Evà. Nay có người lấy hai vợ, thế là
không đúng bản ý của chúa Trời. Ta thấy được địa ngục, phàm những ai lấy hai vợ đều bị quỷ cưa người ra làm đôi.
Vì vậy đừng lấy hai vợ là hơn”. Mọi người cả sợ, chẳng ai dám trái lời. Phép hôn thú một vợ một chồng bắt đầu từ
đó.

Mỗi khi đặt ra một phép bịp nào, Jêsu đều nghĩ sẵn sách biện bạch quỷ quyệt để giải thích, cho nên khi có nhiều câu
24

hỏi thì lời lẽ Jêsu đối đáp như vang, ít bị lúng túng. Những kẻ ngu khờ lại càng khen Jêsu là người thông minh sáng
suốt. Khi mọi người đã thuận theo phép cưới Matrimôniô và tục một vợ một chồng, Jêsu nói: “Một lần đã trình với
Chúa rồi, suốt đời không được thay đổi nữa. Kẻ nào làm trái thì bị trừng phạt đày xuống địa ngục”. Mọi người tranh
nhau nói: “Nghiêm khắc quá như thế thì bao nhiêu người góa vợ góa chống khi còn ít tuổi biết nương tựa vào đâu?
Ắt lại sinh ra nhiều chuyện bậy bạ”. Jêsu đáp: “Chúa Trời đặt ra phép tắc rất nghiêm mà cũng có chỗ khoan nới, đã
có phép xử trí riêng!”. Người ta hỏi phép xử trí riêng như thế nào, Jêsu đáp: “Kẻ nào đã trót làm bậy thì cứ thú thật
với ta, rồi đem nhau đến yết kiến ta ở nhà riêng, ta sẽ trình với chúa Trời cho, sau khi chết đã có ta làm chứng”. Mọi
người nghe nói cả mừng. Bấy giờ có người hỏi: “Nếu như thế thì những ai trước đây đã trót lấy hai vợ đều bị đày
xuống địa ngục cả hay sao? Nếu quả thế thì ta cứ làm phứa đi cho đã đời!”. Jêsu liền đáp: “Trước đây chưa biết thì
Chúa tha cho hết. Từ nay về sau đã biết phép rồi mà vẫn cố tình phạm thì Chúa không dung!” Bấy giờ dân chúng
mới yên tâm. Từ đó đã có lễ Matrimôniô, lại có thêm phép riêng nữa.

Xét sách Ngoại lục [31] chép rằng: Bấy giờ trong đám dân đạo có đứa trẻ chừng 14 tuổi, tên là NaCô [32] đứng bên
cạnh cười nói rằng: “Thầy có cách cầu nguyện chúa Trời cho loài người được trường thọ thì làm gì có ai phải góa vợ
chồng mà còn phải đặt ra phép riêng nữa?”. Jêsu quắc mắt mắng rằng: “Sống chết là do ý kín của chúa Trời, ta biết
cả, nhưng vì sự phép Chúa không nói ra mà thôi. Sao mi lại dám bắt bẻ? Thật là xấc ngạo!”. Người xung quanh đều
tôn sợ Jêsu, thấy vậy bèn đuổi thằng bé đi chỗ khác. Từ đó Jêsu lấy làm ghét đứa bé thông minh sắc sảo ấy, gọi cha
mẹ nó đến mà dọa rằng: “Hình phạt dưới địa ngục hễ kẻ nào xấc ngạo thì bị cắt lưỡi. Nhà ngươi sinh phải đứa con
hư, ngày sau xuống địa ngục, vợ chồng người ắt bị trừng phạt vì tội không chịu dạy dỗ con cái” [33] . Thế là cha mẹ
thằng bé NaCô không dám thưa hỏi gì nữa.

Lại có người thân hào là Xari và Annô vốn không tin những lời thuyết giáo của Jêsu, nhưng vì muốn lợi dụng cái tài
chữa bệnh nên mới phải làm thân với y. Một hôm Xari ngồi đối diện với Jêsu, nhẩn nha bảo rằng: “Thầy nói thức ăn
hoa quả là những vật nhỏ mọn không thể đem làm lễ vật tế Trời, thế thì bánh rượu, đèn nến, màn trướng há chẳng là
vật nhỏ mọn là gì? Sao thầy vẫn dùng?” Annô cũng nói: “Thể xác người ta do chất đất tạo thành, là thứ hèn kém,
vậy thì khi sống phải mặc quần áo làm gì? Khi chết cũng cần gì phải khâm liệm? Mà trộm cướp, tà dâm làm hại cái
thể xác chất đất ấy thì có gì đáng tội? Thầy bảo không thờ cúng người chết, thế thì sau khi thầy chết cũng chẳng ai
thờ cúng thầy. Thầy lại nói người chết phải chôn cho sâu, thế là còn quý nó, chi bằng cứ quẳng đi mặc cho nó hôi
thối! Cứ như ý tôi thì những lời thầy nói đó chỉ cốt lừa dối người ta, chẳng được câu nào đáng nghe!” Jêsu chịu cứng
không đáp lại được.

Biết làng ấy có hai người tài giỏi, Jêsu bèn bỏ không đến truyền đạo nữa. Về sau thằng bé NaCô bị ốm, Jêsu đến
chữa không khỏi, nói với mọi người rằng: “Nó phạm tội xấc ngạo với bề trên thì tránh sao khỏi chết non!” Bốn năm
sau, Xari và Annô kẻ trước người sau qua đời, Jêsu càng thêm đắc ý, bảo dân làng rằng: “Không tin chúa Trời thì tai
họa liền ngay trước mắt”.

Từ đó mỗi khi có người quyền hào nào chết, Jêsu đều nhắc lại câu nói đó để người ta kinh sợ, càng kiên lòng theo
đạo của mình.

Con cái của hai người thân hào kia nghe lời đồn đại như vậy, bèn kéo đến hỏi Jêsu: “Nhà ngươi nói thể xác chẳng có
gì đáng quý, mà chết tức là được thoát khỏi mọi cực khổ ở thế gian. Thế thì chết là một sự vui vẻ đắc phúc. Nay sao
ngươi lại nói chết là tai họa? Lời nói của ngươi chẳng khác gì lỗ gỗ [34] !”

Từ năm 18 tuổi đến bấy giờ, Jêsu đi giảng đạo khắp nơi, dựng đặt lời gian phép bịp để mê hoặc lòng người, lại thi
thố nhiều thuật là làm cho mọi người kinh sợ, cho là lạ đời, gọi y là thần nhân trên trời, rồi từ đó nhất nhất nghe lời
Jêsu, Jêsu thường nói: “Chúa Trời [35] chỉ là một, nhưng có ba ngôi: ngôi thứ nhất là ngôi Đức chúa Trời, ngôi thứ
hai là ngôi Đức chúa Con, ngôi thứ ba là Phiritô Santô [36] ”. Bản ý Jêsu muốn tự xưng là con chúa Trời, nhưng chưa
dám nói ra. Đến bấy giờ ngầm sai [37] môn đồ trước tiên đi rỉ tai từng người nói rằng: “Vị thầy thiêng liêng của
chúng ta chính là Chúa ngôi hai, con chúa Trời đấy, nhưng vì khiêm tốn nên thầy ta không muốn nói thật, chỉ thi thố
25

phép thuật huyền diệu để cứu người mà thôi. Nếu không thì những phép lạ biến hiện kỳ ảo kia người thường làm thế
nào được?” [38] rồi đó Jêsu kín đáo dò hỏi môn đồ lòng dân thế nào. Môn đồ đều nói: “Những kẻ ngu dốt đều tin
phục cả, còn những người cao minh thì hãy còn cứng lòng” [39] . Jêsu mắng rằng: “Ta đây đâu phải là kẻ lừa người?
Các ngươi hằng ngày chung sống với ta mà còn không biết ta là ai, huống chi là người khác!” [40] Các môn đồ đều tạ
lỗi, hứa từ nay xin dốc lòng đi dụ đạo. Đến bấy giờ Jêsu thấy dân chúng phần nhiều đều gọi mình là thần thánh trên
trời, vả lại năm ấy phép cưới Matrimônitô thi hành đã rộng, đi đến đâu cũng thấy nét mặt của dân đạo đã trở nên ngu
thộn [41] , Jêsu biết cõi tâm của họ đã mê đắm, bị dọa nạt lừa phỉnh đã sâu, Jêsu bèn bảo rằng: “Chúa Trời thương xót
người đời phạm nhiều tội lỗi, sau khi chết ắt bị đày xuống địa ngục, cho nên sai ta giáng thế đặt định các phép tắc để
dạy bảo. Ta quả thật là Ngôi hai, con chúa Trời đây”. Đàn ông đàn bà đều xuống vái lạy, hô to: “Con chúa Trời gián
sinh!” Jêsu ngồi ở trên cả mừng. Đó là năm Jêsu 30 tuổi [42] .

Sau khi tự xưng là con chúa Trời, Jêsu nói năng ra dáng dõng dạc, quát mắng dân chúng rằng: “Từ nay trở đi, đàn
ông đàn bà các ngươi không phân biệt tuổi tác cao thấp, tới ngày nọ đều phải đến đông đủ để bái yết chúa Trời
(…) [43] . Đức chúa Con sẽ làm Confirmaxông [44] cầu nguyện cho các ngươi được hưởng trường sinh”.

Đến khi ấy, Jêsu đã giàu có lắm, bèn tự làm ra một chiếc mũ hình sao, gọi là mũ triều thiên. Chiếc mũ ấy nhọn mà
cao, bốn phía đều có dải tua. Lại may một chiếc áo choàng màu đỏ có đính ngọc châu. Áo này là kiểu áo thụng,
không có tay, đằng trước đằng sau đều có đính những hạt ngọc xanh biếc, ánh lấp lánh như sao. Lại làm một cây gậy
bạc gồm nhiều đoạn ngắn lồng với nhau mà thành [45] . Jêsu lại ngầm lấy lá bạc hà sắc thành cao rồi hòa với dầu, gọi
là “dầu thánh sống” [46] . Đến ngày lễ, Jêsu họp dân đạo ở nhà thờ, bảo mọi người đứng cả ở phía sau [47] . Jêsu mặc
áo đỏ đội mũ triều thiên, tay cầm cây gậy bạc ngồi trên chiếc ghế cao đặt trước bàn thờ chúa Trời quay lưng lại phía
mọi người, tự xưng là thay Chúa hành đạo. Hai môn đồ, một người bưng bát dầu thánh đứng gần bên phải, một
người cầm tấm khăn lụa đứng hơi xa về phía bên trái. Dân đạo theo thứ tự bước lên chắp tay quỳ ở trước. Jêsu giơ
tay phải quệt dầu bôi lên trán từng người, miệng khấn nhẩm ba bốn tiếng, đưa tay trái thoa nhẹ lên má người ấy rồi
bảo đi ra phía bên trái. Người môn đồ đứng bên trái cầm khăn lau vết dầu trên trán người vừa làm lễ. Xong lễ, Jêsu
báo cho mọi người biết phép ấy chỉ làm một lần cho một đời người, nếu nhầm lẫn làm lại lần nữa thì linh hồn bị đày
xuống địa ngục. Phép lễ Confirmaxông bắt đầu từ đó, và cũng từ đó Jêsu công nhiên tự xưng là con chúa Trời.

Sau khi đặt danh hiệp tôn quý, thấy phong tục trong nước thờ chúa Trời [48] , nhưng chỉ làm lễ vào ngày đầu tiên
trong tuần, Jêsu bèn đặt ra phép ngày nào cũng làm lễ cầu nguyện [49] , nhưng lấy ngày đầu tuần làm ngày lễ trọng.
Rồi đó, muốn cho các nơi khác mau chóng nhận biết mình là con chúa Trời, một hôm Jêsu dẫn môn đồ đến làng
Bêtani [50] lén vào xem trộm thầy cả [51] đang làm lễ ở làng ấy. Thấy trên mâm bày đồ tế thịt mà ở bên ngoài bày
nhiều chảo xúp lớn [52] , Jêsu giơ chân đá nhào chiếc ghế có đặt nồi xúp, cất tiếng mắng rằng: “Chỗ ngự của cha ta,
bọn các ngươi sao dám bày trò bất kính?” Đoạn lại quát: “Cha ta đâu phải hạng quỷ thần tạp nhạp các ngươi đem đồ
thịt đến tế lễ như trò đùa vậy?” Bấy giờ hơn hai trăm dân làng dự tế ầm ầm tức giận ùa tới tóm cổ Jêsu mà hỏi: “Mi
là người ở đâu?” Jêsu đáp: “Ta là con chúa Trời” [53] . Mọi người đều reo to: “Thì ra là tên yêu quái Jêsu! Nay thấy
mặt yêu quái Jêsu đây rồi!” Thầy cả sai nọc Jêsu ra đánh và bắt luôn cả hai môn đồ của y trói gô lại đem giam trong
nhà thờ, đợi giải lên huyện trình quan. Sau đó, dân các làng theo đạo Jêsu nghe tin chạy tới khóc lóc van xin, sau
một ngày chung nhau được 30 nén vàng đem đến nộp chuộc, thầy trò Jêsu mới được tha về.

Con chúa Trời đi qua làng Pruxơ [54] , đàn ông đàn bà trong làng tranh nhau ra đón, Jêsu ân cần thăm hỏi mọi người.
Tối hôm ấy dân làng hơn trăm người kéo đến xưng tội với Jêsu [55] . Người các làng gần đó cũng đem lễ vật đến
biếu. Hào trưởng làng ấy vốn ghét Jêsu, bèn đi báo với quan sở tại rồi dẫn tuần phu cùng đi với quân lính về làng
vây bắt được thầy trò Jêsu. Quan sở tại thấy Jêsu thân hình to béo, mặt mũi phì nộn, râu rậm xồm xoàm thì bật cười
mà nói rằng: “Tiếng đồn quả không sai!” Nói đoạn bèn hỏi tội Jêsu, sai lính nọc ra đánh một trận đòn no chán, rồi
nhân lúc trời tối khiêng vứt lên đống phân tro ngoài đồng. Đã thế, Jêsu còn cười gượng nói với môn đồ: “Đời người
ta quý nhất là phần hồn, còn phần xác thì sau khi chết dẫu sang hay hèn cũng thành tro tất cả, chẳng cần phải động
lòng” [56] . Do tích ấy cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ Tro [57] . Hôm làm lễ ấy, cố đạo lấy bát đựng đầy tro rưới
nước phép vào, truyền cho con chiên vào quỳ phía trước rồi lần lượt rắc lên đầu mỗi người một nhúm tro, khấn
26

nhẩm rằng: “Thuở trước chúa Trời lấy đất vắt thành người, sau khi chết thể xác lại trở về với tro đất”. Các cố đạo
nói và làm như thế để cho người ta không quên phần xác sau khi chết vậy. Nhưng sự thật việc ấy thì bọn họ giữ kín
không nói ra. Đời sau làm lễ Tro là theo tích chuyện ấy.

Lại xét: lời khấn nhẩm chẳng phải là lời của Jêsu, mà do Giáo hoàng của người Tây Dương đời sau đặt ra. Mỗi lần
rắc tro lên đầu con chiên, cố đạo lại niệm rằng: “Tro đè đầu người, lòng người được nguội lạnh”. Lễ xong lại lấy
một bát lớn đựng đầy tro, đọc lời niệm rằng: “Rắc tro này, lòng người được nguội như tro đất”, rưới nước thánh vào
rồi bảo: “Người ở nhà không đến được thì những ai hiện có mặt ở đây sẽ lĩnh về một ít bảo họ tự rắc lấy để được
nhiều may mắn”. Mọi người xúm đến lĩnh tro đem về. Cho nên ngày nay, trong ngày lễ ấy, dân đạo dẫu đến nhà thờ
hay ở nhà đều bị tro đè đầu. Đó là cái phép của bọn cha cố Tây Dương nhân sự việc mà đè nén người ta. Nếu không
phải vậy thì cái chuyện người ta sau khi chết trở thành tro bụi ai mà chẳng biết, hà tất phải rắc tro làm gì? [58] .

Lại một lần khác, Đức chúa Con cùng với môn đồ đến một làng gọi là làng Liễu [59], dân làng tranh nhau đem chiếu
vải ra rải đường nghênh đón [60] . Ai nấy đều cầm một cành liễu như cầm cờ, hô to: “Vua trời đã tới, chúng tôi xin
vác cờ liễu ra nghênh đón!” Jêsu cả mừng giơ tay vẫy chào rồi nói: “Ngồi xuống, ngồi xuống, ta sẽ làm phép
Confirmaxông cầu thọ cho các ngươi”. Quan bản hạt hay tin, bí mật sai quân về bắt, dân làng biết tin vội đến báo
cho Jêsu biết. Ngay đêm ấy, con chúa Trời tìm đường tẩu thoát. Quan bản hạt nổi giận cho bắt trói hào trưởng làng
để tra hỏi, người làng phải xuất quỹ chung 50 quan để lo lót, quan mới cho thôi tra khảo. Thế là dân tả đạo tụm năm
tụm ba nói rủa quan hạt rằng: “Hạng người ấy chết xuống địa ngục cũng chẳng ai thương!” Viên quản hạt nghe biết
cả giận nói: “May cho vua trời con chúa nhà bay!” Lại nói: “Nếu có xuống địa ngục cũng chẳng khiến chúng mày
phải thương xót”. Ngày nay sau lễ Tro kế đến là lễ Lá liễu [61] là vì vậy.

Trong ngày lễ Lá liễu, các cha cố bẻ lá liễu ban cho con chiên đàn ông đàn bà mỗi người một cành bảo rằng: “Đó là
để kỷ niệm về việc chúa Jêsu chiếm được cảm tính của dân làng Liễu, con nên cắm vào thánh giá mà đeo ở phía bên
trái, Chúa sẽ phù hộ cho con bình yên vô sự”. Cha cố chỉ nói thế, còn chuyện Jêsu đến làng Liễu bị quan dân vây bắt
thì giấu biệt đi không nói tới [62] .

Một hôm con chúa Trời đến làng SaNa kê bục giảng đạo, lời lẽ lưu loát. Dân làng trông tướng mạo Jêsu, ai cũng cho
là lạ, những người có học thức trong làng cũng đến nhìn lén xem y là người thế nào. Lúc ấy Jêsu đang thao thao
thuyết giáo xưng tao xưng mày với dân làng, nhiều lần nêu tên những người tài giỏi các nơi [63] mà chê bai, cho là
còn kém mình. Bốn mươi năm trước, ở làng SaNa có Ingatiô và 8 người khác có công đức, được dân làng lập miếu
thờ phụng. Mấy người có học nhân đó hỏi Jêsu: “Thầy có biết tiên thánh làng chúng tôi là Ingatô không?” Jêsu đáp:
“Các ngươi chẳng hiểu ta chút nào! Nay ta bảo các ngươi: Từ khi chưa có Ingatiô thì đã có ta rồi, sao ta lại chẳng
biết?” Nghe Jêsu trả lời như vậy, mấy người kia bừng giận mắng rằng: “Gã yêu tà điên rồ kia, người mới ba mươi
tuổi, sao dám bảo là sinh trước Ingatiô của chúng ta?” Nói đoạn bèn gióng trống hô người vây bắt. Thầy trò Jêsu
tháo thân bỏ chạy tán loạn. Dân chúng nhặt gạch đá tới tấp ném theo.

Jêsu bị thương rách mặt, máu me đầm đìa. Dân làng đuổi theo không kịp, Jêsu chạy thoát [64] , chỉ tóm được bốn gã
môn đồ. Dân làng xúm lại đánh cho một trận đòn nhừ tử rồi trói giam. Dân tả đạo các làng nghe tin bèn bảo nhau
chung tiền, trong chốc lát được 560 quan đem đến xin chuộc mạng. Vì vậy ngày nay, sau lễ Lá liễu kế đến là lễ Ném
đá. Các cố đạo bảo rằng: “Các ảnh và tượng Chúa đều phải che bằng khăn vải”, còn việc Jêsu bị ném đá rách mặt thì
tránh không nói đến.

Người làng Bêtani [65] là ĐồNgôNa và DựNô [66] bắt trói Jêsu ở chợ vừa đánh mắng vừa bài bác các thuyết giáo của
y. Tugôna là con của Xari, Đunô là con của Annô, cả hai người đều căm tức Jêsu vì lúc trước y đã rủa cha mình là
“không tin Chúa thì tai họa liền ngay trước mắt”. Nay nghe tin Jêsu trốn tránh trong bản hạt, hai người luôn đêm dẫn
tuần đinh đi khám xét, bắt được Jêsu và bốn môn đồ, trong đó có cha Jêsu là Jiuse và Jiuđa. Sáng hôm sau bọn họ
trói Jêsu đem ra giữa chợ lần lượt nêu lên các thủ đoạn của Jêsu, giơ gươm chỉ vào mặt mà bài bác cho mọi người ở
chợ cùng hay biết. Rồi đó bảo Jêsu rằng: “Tội ngươi thì quá lắm, chẳng riêng gì hai tội tiếm xưng và phế bỏ thờ
27

cúng. Nay bọn ta bảo cho ngươi biết: ngươi bảo chúa Trời có ba ngôi, vậy ngươi đã từng trèo lên trời chưa mà biết
được? Đã có con thì có cháu, cho đến ngươi hẳn đã có hàng ngàn đời con cháu rồi. Nhưng chúa Trời chết bao giờ
mà con cháu dám nhảy lên thay? Những cái tên như Phiritô Santô, Ađam, Evà, thiên thần Lusaphê đều là do ngươi
bịa ra để lừa dối mê hoặc dân ngu. Cha ngươi là thợ mộc, mẹ ngươi là kẻ khâu vá thuê, hai người ăn nằm với nhau
sinh ra ngươi, sao ngươi lại dám nhận là con chúa Trời? Giá phỏng ngươi là con chúa Trời thì sao ngươi không bay
xuống thế gian giữa ban ngày ban mặt [67] mà lại phải nhờ vào hai người kia sinh ra? Còn như việc có sống thì có
chết, ấy là lẽ xưa nay vẫn thế. Sống thì phải nuôi, chết không phải nuôi thì phải có tế lễ thờ cúng, như thế là để phân
biệt với loại chó má vậy. Nay theo ý ngươi thì sống không nuôi dưỡng, chết không thờ cúng, người đúng là loài chó
má cho nên không biết người thân. Ngươi đã bỏ thờ cúng tổ tiên ông bà, lại muốn người khác cũng theo ngươi mà
bỏ việc thờ cúng người thân của họ ư? Chỉ có những kẻ ngu dốt quá lắm mới a tòng theo loài chó má như vậy.
Ngươi lại nói thể xác người ta là vật hèn mọn, vậy sao ngươi cũng phải mang cái thể xác ấy? Lại còn làm lễ Liệm
xác [68] , Quy lăng, Điện táng làm chi? Ngươi nói cuộc đời trần thế chỉ là vui giả, sao ngươi chẳng chết quách đi cho
thoát kiếp trần gian? Ngươi lại nói thiên văn địa lý đều là chuyện vu vơ chăng? Đó là công việc của những người có
học thức, ngươi làm sao mà ngăn trở được [69] . Ngươi nói chúa Trời lấy đất vắt nên người cho nên sau khi chết
người ta lại trở lại thành đất, thế thì tại sao cây cỏ súc vật không do đất vắt nên mà sau khi chết cũng biến thành đất?
Thiên đường nếu có thật thì nên cho những người làm điều thiện đàng hoàng bay lên giữa ban ngày ban mặt để làm
gương khuyến khích kẻ khác, tại sao lại phải đợi sau khi chết mới cho lên? Địa ngục nếu có thì phải dùng để trừng
phạt kẻ ác, hất cho rớt xuống đó trước mắt mọi người để răn đe những kẻ cùng bè đảng, cần gì phải đợi sau khi chết
mới đày xuống? Ngươi nói ai theo đạo của ngươi thì được giàu có, sống lâu. Cứ như ta thấy thì nhiều người không
theo đạo của ngươi mà vẫn giàu có, sống lâu. Ngươi nói mọi việc đều do chúa Trời sai khiến, vậy thì người ốm đau
bệnh tật cũng là do chúa xui khiến phải thế, sao ngươi lại dám bốc thuốc chữa bệnh để làm trái ý chúa Trời? Ngươi
nói xưng tội thì được giải tội, vậy chỉ cần đứng trước bàn thờ xưng thầm với chúa là đủ, cần gì phải có mặt ngươi để
cho ngươi cùng nghe những chuyện bẩn thỉu nữa? Ngươi đặt ra phép một vợ một chồng, chẳng may người ta không
có con nối dõi cũng không được lấy vợ khác. Ấy là cái tội của ngươi dứt tuyệt nòi giống của người ta, ắt phải đày
ngươi xuống địa ngục. Ở giữa nơi đông người, ngươi bảo đôi vợ chồng mới cưới úp tay vào nhau, sao ngươi không
bảo họ úp hẳn người lên nhau để ngươi xem cho khoái? Ngươi nói thần thánh không ăn được, sao tế chúa Trời
ngươi lại dùng bánh, dùng rượu? Ngươi cấm không cho người ta cúng bái, vậy ngươi làm lễ há chẳng phải là cúng
bái hay sao? Ngươi nói trên trời có thiên đường (nhà của trời) vậy ngôi nhà ấy lấy gỗ ở rừng nào? Do bọn thợ nào
dựng lên từ năm nào?”

Bấy giờ Jêsu mới trả lời rằng: “Phép của chúa Trời tự nhiên mà thành, không cần đến sức người”. Tugôna và Đunô
lại hỏi: “Nếu là tự nhiên thì tại sao vắt ra người lại phải dùng đất? [70] Đã phải dùng đất thì chưa phải là thần linh”.
Jêsu bí lẽ, không thể trả lời được.

Hai người kia lại hỏi: “Người nói chúa Trời có một vị, nhưng lại nói có ba ngôi. Đã một vị, lại ba ngôi, đã nói chết
là được giải thoát mọi nỗi cực khổ ở thế gian, lại nói chết do chúa Trời trừng phạt. Thật là đảo ngược xoay xuôi, rặt
những lời xảo trá lắt léo. Loài chó má thế mà còn thật thà, chứ như ở mồm ngươi thì không được một chút gì là sự
thật! Những điều bọn ta nói đây là cốt để cho những kẻ ngu khờ nghe thấy mà tự tỉnh ngộ” [71] .

Rồi đó, bọn họ trói giam 5 ngày đêm, cứ mỗi ngày đem ra bài bác một lẽ, lại cho nếm một trận đòn, sau mới thả
ra [72] .

Xét sử ký nước Jiuđê nói rằng: Jêsu căm giận người làng Bêtani, cho rằng dân làng ấy khó dụ dỗ mê hoặc, bèn xúi
giục dân làng Samông [73] đào giếng cắt yểm mạch đất quý của làng ấy đi. Tugôma và Đunô xét hỏi, biết việc ấy là
do Jêsu xúi giục, cho nên mới đánh Jêsu một trận cho biết nhục.
28

[1]
Sau đây phần nhiều là những lời Jêsu nói khi làm lễ.
[2]
Hương nói đây là nhũ hương (nhựa của một loài cây có chất thơm).
[3]
Mỗi năm thêm một trò bịp, thế mới biết Jêsu dụ dỗ người ta rất bợm.
[4]
Phàm các tên riêng đều do Jêsu đặt ra cả. Ở dưới cũng thế. Bịa chuyện, bịa tên để cho người ta tin là có chứng cớ.
[5]
Nguyên thư: lục xích (6 thước ta = 3m).
[6]
Nguyên thư: quải táng (hung táng) = chôn tạm. Sau 3 năm, bốc hài cốt vào tiểu sành, chôn vĩnh viễn (cát táng)
[7]
Các phép nói trên đều đã thi hành ở nước Nam ta, nhưng tục khóc người chết và chôn tạm vẫn chưa bị bỏ hẳn.
Nay thấy các cha cố đã bắt đầu cấm sự khóc lóc thảm thương, đó là cách thi hành từ từ vậy.
[8]
Nguyên thư phiên là ADung và ÊBà (Và)
[9]
Cho nên ngày nay dân đạo đều tự xưng là con cháu của ông Ađam và bà Evà. Xét: Quả cấm về sau người Tây
Dương gọi là quả “manna” là do trích chuyện này. Thuyết ấy nói thuở đầu trời sinh ra hai thứ quả là mặt trời và mặt
trăng để nuôi sống thiên hạ, gọi là là quả “manna”.
Thường gọi là “Quả cây hằng sống”.
[10]
Nguyên văn viết chữ Nôm, bánh bẻ, tức là bánh đa.
[11]
Lễ ấy gọi là lễ Chầu mình thánh.
[12]
Gọi là lễ Thụ bánh mình thánh.
[13]
Người Tây Dương gọi bắt quyết là làm phép.
[14]
Nguyên văn: “niệm tử”, chuỗi hạt để lần đếm khi đọc kinh.
[15]
Như thế mà kẻ ngu cũng chịu nghe theo!
[16]
Người Tây Dương không có tiền, cắt vàng bạc ra từng mảnh nhỏ để trao đổi với nhau.
[17]
Nguyên văn: “Tai thiên thần đẳng phụ…”, chữ “thần” ở đây đúng nghĩa là chữ “thần” (= tôi), nguyên thư chép
nhầm thành chữ “thần” (= thần thánh).
[18]
Nước Lâm Cách, tức nước Thiên đường.
[19]
Amen có nghĩa là “cẩn cáo” (kính thưa).
[20]
Nguyên thư chép là “tử giả phách” đáng viết “hồn” thì hợp nghĩa hơn.
[21]
Lễ mồ làm cho người nghèo thì Jêsu mặc áo có tay, môn đồ mặc áo thường, để đầu trần, gập mũ vào trong áo.
Đến lễ Misa, Jêsu đội mũ vuông đen, bốn góc nhô lên như bốn chiếc sừng, môn đồ mặc thường phục, bên ngoài
khoác áo hoa.
[22]
Misa có nghĩa là “bi vong” (đau buồn việc tử vong).
[23]
Hồn của người chết đã lâu.
[24]
Năm phương: đông, tây, nam, bắc và chính giữa.
[25]
Ngày nay cố đạo khi làm lễ này thường cho thắp rất nhiều đèn nến để được tang chủ thưởng nhiều tiền.
[26]
Chữ “bạn” (hữu) thật nực cười!
[27]
Matrimôniô có nghĩa là phối hợp.
Matrimôniô: phép cưới. Nguyên thư phiên MaSaMôDiô. (nd)
[28]
Về sau người Tây Dương định ra phép đặt tên thánh, người trong nước lấy tên thánh là tên gọi của mình. Khi làm
lễ, cố đạo hỏi đôi trai gái, đại khái như: “Phêrô muốn lấy Dusa làm vợ?” v.v.
Lời chú giải này, trong nguyên thư chép lùi ra sau 1 trang, chúng tôi điều chỉnh lên vị trí này cho hợp ý. (Nd).
[29]
Cái phép ấy lúc đầu cũng đáng sợ thật!
[30]
Nguyên văn “hỗn thú”.
[31]
Nguyên văn viết là Bị lục ngoại kỷ. Theo bản kê các sách tham khảo (nguyên dẫn) thì có lẽ đó là sách Ngoại lục.
[32]
Nguyên thư phiên là NaCô, nhưng một trường hợp ở đây ghi là MaCoo, đã đính chính lại.
[33]
Người Tây hễ không dụ dỗ được con cái thì dọa nạt cha mẹ, không dụ dỗ được chồng thì doạ nạt vợ khiến cho họ
tự kiềm chế nhau.
[34]
Nguyên văn: “mộc khổng”. Hiểu theo nghĩa lóng trong câu chửi tục.
[35]
Thiên Chúa, cũng có nghĩa như Thiên đế.
[36]
Mặt biểu hiện thứ ba của chúa Trời: coi về việc hình án ở địa ngục, cũng gọi là đức chúa Thánh Thần.
[37]
Nguyên thư chép: “… chỉ thị dương sử môn đồ”. Có lẽ đúng ra là “âm sử …” (ngầm sai, lén sai …). Đây là hai từ
trái nghĩa thường do liên tưởng mà chép nhầm.
29

[38]
Đoạn này bắt đầu lừa bịp người ngoài.
[39]
Nhà đạo gọi những ai không nghe lời dạy bảo của Jêsu là “cứng lòng”.
[40]
Đoạn này lại mắng cả môn đồ; chính là muốn họ dốc lòng đi dụ đạo.
[41]
Ngày nay, nét mặt dân tả đạo đều ngu thộn. Nguyên là họ đã bị Jêsu chơi xỏ, cho nên mới giống nhau như thế.
Điều tinh vi bí mật sẽ xem ở sau.
[42]
Sách Giảng lục và các sách khác nói: “Chúa Jêsu vui mừng, vì thấy con chiên đã nhận ra Chúa, như thế sau khi
chết khỏi bị đày xuống địa ngục”. Giải thích thật là khéo!
[43]
Nguyên thư đến đoạn này bỏ cách một quãng chừng 9 chữ.
[44]
Tiếng Latinh: Confirmatio = lễ kiên đạo. Nguyên thư phiên CôngSaMaSong.
[45]
Sau khi làm lễ xong thì tháo rời ra bỏ vào hộp, người Tây Dương về sau thường hay dùng kiểu gậy ấy.
[46]
Nguyên văn: hoạt thánh du.
[47]
Nguyên thư chép chữ “hậu” (phía sau), rồi lại xóa đi, mà viết chữ “hữu” (bên phải); để hợp với sự việc đang mô
tả, chúng tôi chọn chữ hậu. Có lẽ người chép sách sơ ý xóa nhầm.
[48]
Chỉ đạo Do Thái: đạo này cũng thờ chúa Trời nhưng với hệ thống huyền thoại và tín điều khác hẳn đạo Gia Tô
mà đặc điểm nổi bật nhất là đạo này không hề quan niệm có chúa Trời giáng sinh.
[49]
Nguyên thư chép: “nãi lập pháp nhật giai hành lễ”, đúng phải là: nhật nhật giai hành lễ (sót một chữ nhật).
[50]
Nguyên thư phiên là “ThiLinh”. Sách bổn đạo có ghi sự việc này, và ghi tên làng Béthani.
[51]
Nguyên văn: đạo câu (người đạo trưởng cao tuổi), có thể dịch là cố đạo, nhưng để phân biệt với các chức sắc của
đạo Gia Tô, chức đạo câu của đạo Do Thái, chúng tôi thống nhất dịch là thầy cả (theo cách dịch truyền thống của
các bản dịch sách đạo ngày trước).
[52]
Nguyên văn; “chữ tương vật” (tương = món canh hầm).
[53]
Đúng là thằng điên.
[54]
Nguyên thư phiên: PhủLỗ hương.
[55]
Có tội gì mà xưng?
[56]
Hãi chữ “cũng thành” (diệc thành) chính là để nói gộp cả mình với viên quản binh và người hương trưởng, lời lẽ
thật rất kiêu ngạo.
[57]
Nguyên văn “khôi lễ”, những chữ “khôi” (tro) dùng ở trang này có một vài chữ nguyên thư chép không chuẩn, có
thể coi là viết sai thành ra chữ “yếm” (chán ghét): hai chữ này tự dạng gần giống nhau.
[58]
Chỉ vì tiếng nói của người Tây Dương “xì xà xì xỏ” cho nên người ta không hiểu ra sao. Câu này trong nguyên
thư chép liền vào chính văn. Chúng tôi nhận thấy câu này là lời của người bình giải, vì vậy chuyển xuống vị trí của
nguyên chú.
[59]
Làng ấy có nhiều cây liễu, cho nên đặt tên như vậy.
[60]
Sách Ngoại lục và các sách khác đều nói chiếu không đủ, dân bèn cởi cả áo mà rải đường, đó là cách khoe khoang
cốt để nói Jêsu được lòng người.
[61]
Thường gọi tắt là lễ Lá.
[62]
Lại bảo dân tả đạo rằng: “Trong vị thuốc bắc thần hoàn có chất tro lá liễu”. Dọa người ta rằng: “Thứ thuốc này
của nhà đạo vốn có công hiệu của lá liễu giúp sức”.
[63]
Nguyên văn: “chư bộ”, có thể hiểu là “các bộ lạc …”, nhưng ở đây không thấy có phân biệt chính xác cho nên chỉ
dịch chung là “các nơi”.
[64]
Hai sách Giảng lục và Ngoại lục đều chép: Jêsu chỉ cầm một chiếc khăn tay mà che đỡ được hết. Có tài như thế,
nhưng nếu có tài như thế thì Jêsu làm gì bị nguy vào ngày hôm sau?
[65]
Nguyên thư phiên: ThiMi.
[66]
DựNô, ở đây thấy ghi là DựSong, nhưng các chữ sau đều viết là DựNô (Nô và Song dễ viết lầm).
[67]
Nguyên thư chép: “… hà nhật bạch nhật giáng thế”, thừa một chữ nhật và thiếu một chữ bất, đúng ra là: “hà bất
bạch nhật giáng thế”.
[68]
Nguyên văn: chú thi, tức là nghi thức đọc lời chú (niệm nhẩm) và xức dầu thánh cho người chết, đã nói ở trên.
[69]
Ngày nay các cố đạo sợ người ta hiểu rõ các môn ấy (thiên văn, địa lý), cho nên bảo rằng: “Làm những việc ấy là
có tội, vì vậy chúa Trời cấm làm”.
[70]
Nguyên thư chép: “… giả công” (… sao chúa Trời lại phải mượn thợ?) sau câu trả lời: chúa Trời không cần đến
30

sức người, thì câu hỏi tiếp theo như vậy không có nghĩa. Đây là do chữ thổ chép nhầm thành chữ công. Xem tiếp
câu sau thấy rõ: “Kỳ do giả thổ thị vị thần linh”. Giả thổ = mượn đất, dùng đất.
[71]
Nguyên thư chép: “linh ngu giả tự khoan” (khiến cho những kẻ ngu khờ tự khoan thứ) (?). Chúng tôi thấy rằng
chữ “khoan” ở đây có phần chắc là do chữ “giác” chép nhầm (lối viết thảo, hai chữ này rất dễ đọc và viết nhầm). Tự
giác = tự tỉnh ngộ.
[72]
ĐồNgôNa và DựNô quả là hai nhà giảng đạo bậc thầy.
[73]
Nguyên thư phiên: ThượngLong hương.

Quyển III

Về Jiuđê, Jêsu bị án tử hình


Bừng sáng núi, xác Jêsu sống lại

Từ năm ba mươi tuổi trở về trước, Jêsu cùng sống với mẹ, nhưng vì việc giảng đạo nên đi về nhiều lúc thất
thường [1] . Phép đạo của Jêsu phần nhiều chỉ thi hành được ở Êgiptô và Jiuđê. Nhưng Jiuđê là nơi Jêsu sinh ra thì
dân chúng lại hung tợn cứng đầu, khó mê hoặc họ bằng những điều trái lẽ, cho nên Jêsu nhiều phen phải nhục nhã,
lấy làm căm giận lắm.

Năm ấy Jêsu 31 tuổi, một mình về truyền đạo ở Jiuđê, dặn kỹ các môn đồ phải cố làm cho được việc. Sau 3 năm đã
thuyết phục được 5 huyện [2] , nhưng cũng chưa phải là toàn tòng. Jêsu càng ra oai hách dịch. Mỗi khi làm lễ, Jêsu
đều đội mũ triều thiên, mặc áo đỏ đính cườm ngọc, tay trái cầm gậy bạc, tay phải cầm cờ phép, từ sắc mặt đến giọng
nói đều có vẻ gay gắt, cốt để đàn áp tâm trí những kẻ ngu khờ. Mỗi khi nhắc đến chúa Trời, Jêsu đều nói là “Cha ta”,
khiến cho người ta phải biết mình là con chúa Trời. Jêsu lại bắt mọi người phải lạy mình mà gọi là cha. Nếu có ai
dám hỏi lại điều gì thì Jêsu cả tiếng quát mắng. Môn đồ của Jêsu thấy vậy lấy làm lo, nhưng mỗi khi bọn họ khuyên
bảo thì Jêsu đều nói: “Ai dám hỏi lại là kẻ đầu óc có chút trí tuệ, tất phải mắng át đi khiến tâm trí kẻ ấy rối lên không
kịp suy nghĩ phải trái gì nữa. Đó không phải là chuyện bọn người biết được!” [3]

Tiếng tăm Jêsu đồn đại khắp gần xa, ai ai nghe nói đến cũng lấy làm ghét. Các quan chức thân hào ở kinh thành
Jêrusalem [4] bảo nhau rằng: “Hắn gọi gái trinh vào quỳ trong phòng kín, rồi lại bắt người ta gọi bằng cha, chẳng
phải chuyện ấy thì là gì?” Nói đoạn nhìn nhau mà cười. Một thân hào ở thành ấy hắng giọng nói rằng: “Hắn xưng là
con chúa Trời ắt là muốn làm chúa Trời. Từ xưa đến nay những tên phản nghịch quá lắm cũng chỉ dám tự xưng
“pape” (vua) mà thôi [5] , chưa có tên nào dám xưng là vua trời như hắn. Xem bộ dạng thì biết hắn mưu đồ tiếm
ngụy, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Nay ta phải đến tận nơi bắt tên giặc ấy xem sao!” Rồi mọi người cùng nhau bàn
bạc tìm mưu kế.

Thầy trò Jêsu sau khi xảy ra sự việc ở làng Prut, tự biết có nhiều người căm ghét mình. Vì vậy phải lẩn tránh, ngày
nghỉ đêm đi. Các môn đồ cũng phải chịu khổ lây, trong lòng sinh ra nghi sợ. Jêsu tự biết mình là kẻ lắm mưu mô
giảo quyệt, thâm hiểm, sợ môn đồ sinh lòng ly tán, cho nên từ đó không cho ai về thăm nhà, đến nay đã 3 năm [6] .
Jiuđa từ trước đã nảy sinh nhị tâm, đến bấy giờ lại càng oán giận Jêsu. Các môn đồ khác bàn riêng với Jêsu nên đuổi
Jiuđa đi, nhưng Jêsu nói: “Làm thế không được, đuổi nó ra bây giờ thì mọi chuyện của ta sẽ lộ hết, tai họa chẳng
phải nhỏ! Chi bằng cứ nén lòng giữ hắn ở lại, nhưng hắn đi đến đâu cũng phải có người kèm sát là được”. Từ đó
Jêsu thường đánh mắng làm nhục Jiuđa để thử bụng hắn xem thế nào. Jiuđa vẫn một mực kính vâng như trước, vì
thế Jêsu không còn để ý nghi ngờ. Nguyên là vì Jêsu phần nhiều dạy các môn đồ những âm mưu gian giảo, cho nên
Jiuđa cũng lấy âm mưu gian giảo mà đối đãi lại, nhưng Jêsu chẳng hề hay biết.

Năm ấy Jêsu vừa đúng 30 tuổi [7] lấy làm lo vì gặp nhiều gian nan thì môn đồ sẽ thay lòng đổi dạ. Để củng cố lòng
tin cho các môn đồ, Jêsu đưa bọn họ lên núi Ôlivêtê [8] thi thố nhiều thuật lạ. Một vùng núi non khe suối bỗng bừng
ánh hồng rực rỡ, hoa cỏ lung linh như giữa vườn thượng uyển chốn thần tiên. Núi rừng cao ráo, khí lành ấm áp như
mùa xuân. Quang cảnh ấy tiếp diễn đến hơn 30 ngày. Chừng muốn cho dân chúng xung quanh vùng núi ấy phải kinh
31

lạ, còn đám môn đồ thêm vững lòng, Phêrô vui mừng nói rằng: “Cảnh cây đẹp quá, con xin dựng nhà cho thầy [9] ở
trên núi này, cần gì phải khó nhọc theo đuổi hạng dân chúng ngu khờ ngang ngạnh kia”. Jêsu cười đáp rằng: “Nếu
theo đạo ta thì cảnh tượng còn nhiều kỳ lạ nữa, đâu phải chỉ có thế”.

Thầy trò Jêsu ở trên núi đã lâu mà dân các làng quanh núi từ lâu vẫn không mộ đạo Jêsu, bảo nhau rằng: “Jêsu muốn
dùng phép lạ làm mồi nhử chúng ta đây. Thoắt có thoắt không, chẳng qua chỉ vô ích mà thôi” [10] . Jêsu nghe nói lại
như vậy, biết khó mà lừa dối nổi hạng trí hào nước Jiuđê. Rồi đó Jêsu đưa môn đồ xuống núi trở về. Về nhà, Jêsu an
ủi mẹ rằng: “Số mệnh giảng đạo của tôi ra chuyến này là cuối cùng, về sau khó gặp lại nữa, bà già đành lòng
vậy” [11] .

Năm nấy bà Maria đã 49 tuổi, Jêsu nói như vậy chột dạ sinh nghi, nhưng không hiểu sao cả, gặng hỏi thì Jêsu không
nói rõ.

Ngày hôm sau, Jêsu dẫn 12 môn đồ đến một làng gần Jêrusalem. Tại đây Jêsu giảng đạo càng hăng, tay phất cờ,
miệng quát nạt dân chúng [12] . Có ba viên quản giáp ở thành Jêrusalem biết tin Jêsu đến giảng đạo lấy làm ghét lắm,
cùng nhau chích máu ăn thề quyết không tham lam tiền của hối lộ, rồi bàn việc bí mật vây bắt, chỉ khó một điều là
chưa biết chắc chắn Jêsu hiện ở chỗ nào. Bọn họ bảo nhau: “Trong vùng ta có tên Jiuđa là kẻ du đãng hám tiền, lâu
nay đã lén theo làm môn đồ cho Jêsu thì ắt là hắn phải biết rõ [13] . Nay chúng ta đem điều lợi mà dụ dỗ hắn, lại dọa
nạt cho hắn sợ uy thì công việc thế nào cũng xong [14] . Đêm ấy Jêsu sai môn đồ làm thịt chiên để mở hội tế lớn [15]

Chiên thui xong, thịt xả ra từng mảnh bày trên chiếc nong. Jêsu chỉ tay vào nong thịt, bảo các môn đồ: “Thân ta nay
rồi cũng sẽ như vậy đấy”. Các môn đồ thấy Jêsu nói gở, ai nấy cả kinh. Các sách đạo của người Tây tuy nhiều, duy
có hai sách Thực lục và Bí lục phần nhiều nói đúng sự thật. Đoạn văn trên đây nói Jêsu có phép lạ biết trước sự việc
sắp xảy ra, nhưng lại không thể tránh được tai họa, dường như có chỗ đáng ngờ, như thế thì không thể nói là không
có. Cứ xem trong sử Trung Quốc có chuyện Quách Phác [16] đoán trước được số mệnh của mình mà cuối cùng cũng
không tránh khỏi bị Thạch Lặc làm hại. Ngay như sự việc của Jêsu thì lời nói ngày trước của thầy cả
Ximêôn [17] cũng chính là lời nói tiên tri rồi vậy. Jêsu kiếp trước là sơn thần thì có lẽ cũng biết phép tiên tri, điều đó
không có gì lấy làm lạ lắm. Nhưng mà phép ấy hết sức nghiêm mật, không thể cho biết quá rõ một ngày trước khi sự
việc xảy ra. Điều ấy thì lạ thật!

Jiuđa từ khi biết Jêsu đã làm nhiều việc can phạm quốc cấm thì ắt sẽ có ngày chuốc lấy tai họa, sợ làm môn đồ của y
lâu ngày rồi cũng vị vạ lây. Vì vậy, Jiuđa đã nghĩ trước mưu kế để giữ cho mình được yên thân [18] . Đêm hôm ấy
đang giữa đám hội, Jiuđa lẻn trốn về về nhà, lấy làm mừng vì được nghe bàn tán về âm mưu của ba viên quản giáp.
Vừa lúc ấy có người nhà của quản giáp sai đến gọi, Jiuđa lập tức đi ngay. Ba viên quản giáp bảo Jiuđa rằng: “Thầy
ngươi là một tên tà ngụy, ắt không được lâu, ngươi nên tính kế trước đi. Nay vì ngươi là dân trong bản hạt, nên
chúng ta báo trước cho ngươi biết. Công việc chúng ta đã sắp xếp sai phái đâu ra đó cả rồi. Nay cho ngươi ba chục
đồng bạc hoa, chỉ cần ngươi báo cho bọn ta biết Jêsu hiện ở chỗ nào? Xong việc ngươi đứng ra làm chứng về mưu
mô tiếm loạn của hắn. Tiền này ba ta cấp cho ngươi làm kế sinh nhai, còn như việc tố giác kẻ làm giặc thì ngươi còn
được ban quan tước nữa. Có điều lợi nào hơn thế nữa?”.

Jiuđa nghe nói càng lấy làm mừng. Ba viên quản giáp lại nói: “Đêm nay cử sự, ắt phải bắt cho bằng được Jêsu. Nếu
ngươi không nghe lời bọn ta thì ngươi sẽ bị liên lụy đấy, chớ trách bọn ta không cho biết sớm”. Jiuđa nói: “Cứ xem
hắn ta áo mũ nghênh ngang, công nhiên tụ tập dân chúng thì chẳng bao lâu hắn sẽ làm giặc. Các quan hội họp ở đây
thật có lòng tốt với tôi” [19] . Viên quản ti nói: “Đồ đảng của hắn rất đông, làm thế nào để nhận diện cho đúng hắn?”.
Jiuđa hẹn rằng: “Khi các quan đến vây hắn, thấy tôi hôn má ai thì kẻ ấy chính là Jêsu [20] . Thầy tôi là tay lắm phép
thuật, thường giỏi chạy trốn ban đêm, lúc biến lúc hiện như thần, các quan phải nên thận trọng chớ để sơ xuất rồi sau
lại bắt tội tôi”. Ba viên quản giáp hứa sẽ làm đúng theo lời Jiuđa [21] .

Jiuđa nhận bạc rồi ngay đêm ấy trở về đám hội. Jêsu chột dạ bèn gọi các môn đồ họp lại mà bảo rằng: “Trong số các
32

con đây, có người bán ta đấy!”. Môn đồ đưa mắt nhìn nhau rồi theo lệ thường lần lượt quỳ xuống hôn chân Jêsu để
bày tỏ lòng trung thành [22] .

Jêsu muốn dùng mưu thuật để chế ngự, bèn bảo môn đồ ngồi thành hai hàng, mỗi bên 6 người. Rồi đó Jêsu bưng
chiếc chậu gỗ đựng nước lần lượt rửa chân cho từng người. Các môn đồ đều lấy làm lạ, không dám giơ chân cho
Jêsu rửa, Jêsu một mực bảo rằng: “Các con cứ để thầy rửa cho, như thế mới là có nghĩa với thầy”. Phêrô nói: “Nếu
để cho thầy rửa là có nghĩa xin thầy cứ tắm luôn cả người cho con!”. Jêsu nói: “Không phải thế đâu, ta chỉ rửa làm
dấu một chút là để các con nhớ mãi ơn thầy”. Đến lúc ấy, các môn đồ mới thuận theo. Đến lượt rửa cho Jiuđa, Jêsu
nhận thấy ở bàn chân y có triệu chứng bất an, lấy làm ngờ lắm [23] .

Rồi đó Jêsu ngồi ghế chính, gọi môn đồ lại để truyền thụ đại pháp Santi [24] , cầm bút lông ngỗng viết mấy chữ lớn
“Sacramentô” [25] , rồi nói: “Lấy tấm lòng thành thật để mà hộ thân, giữ linh hồn thì nuôi được chí khí cứng
mạnh” [26] . Các môn đồ ai nấy đều lĩnh thụ huấn pháp. Vì thế cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ Truyền phép.

Xét các sách Giảng lục, Ngoại lục và Ngâm Lục đều nói rằng: “Nguyên có tên Jiuđa mà môn đồ của chúa Jêsu, chúa
đã nuôi dưỡng hắn nhiều năm và dạy dỗ cho hắn những điều nhân từ lương thiện, chẳng dè ma quỷ vẫn cám dỗ lòng
hắn, cho nên hắn mới bán Đức chúa Jêsu cho quân Jiuđê để lấy 30 đồng bạc. Chúa Jêsu từ trước đã muốn rời bỏ xứ
ấy mà đi, nhưng lại thương xót thiên hạ phạm nhiều tội lỗi, cho nên chúa mới xả thân chịu chết để chuộc tội cho
thiên hạ. Chúa bèn từ biệt đức mẹ đến giảng đạo ở kinh thành Jêrusalem”.

“Đêm trước hôm bị nạn, Jêsu bưng nước rửa chân cho hết thảy các môn đồ. Đến lượt Jiuđa, chúa Jêsu không rửa
bằng nước thường mà hòa thêm nước mắt mình, có lẽ chúa lo cho linh hồn của hắn bị phạt tội phải đày xuống địa
ngục, cho nên mới làm như vậy.”

Nếu Jêsu đã là con chúa Trời thì ma quỷ nào còn dám đến gần dụ dỗ môn đồ của y? Vả lại nếu Jêsu đã không biết
thương thân mình thì làm sao còn thương được người khác? Lại còn xảy ra đoạn nói về việc rửa chân, thật rất vô
nghĩa lý. Nay tra cứu trong sách Thực lục mới hay rằng đó là cách Jêsu dùng để dò xét các môn đồ.

Đại để người Tây Dương tôn Jêsu là con chúa Trời, sợ người ta ngờ rằng tại sao đã là con chúa Trời mà lại còn bị
người bán? Cho nên mỗi khi ghi chép việc ấy lại phải đặt ra một cách giải thích để che lấp đi, thật là nực cười.
Chẳng hạn như nói rằng: “Jêsu chịu nạn là để chuộc tội cho thiên hạ”. Theo lý mà suy, Jêsu là con kẻ thợ mộc mà
dám tiếm lễ chế ra áo mũ đế vương, nhận xằng là con chúa Trời, thế là phạm tội. Tội mình mình chịu, sao lại bảo là
tội của thiên hạ? Vả lại quân lính nước Jiuđê há chẳng phải là người thiên hạ đó sao? Thế là Jêsu bị người thiên hạ
hành hình, lại còn chuộc tội cho thiên hạ nào?

Lại nói về phép SanTi (Sacramentô) là điều răn lớn của Jêsu mà chữ nghĩa rất lờ mờ hiểm hóc. Ngày nay sách đạo
của người Tây Dương đều giải thích rằng đó là phép nuôi giữ linh hồn cho thiên hạ, khiến cho thiên hạ được miễn
tội. Đó là lời nói che đậy, những điều khác suy ra cũng có thể biết được.

Jêsu truyền phép rửa chân xong, chợt nghe xa xa có tiếng trống thúc và tiếng kèn loa rất gấp. Dân làng bảo rằng:
“Không biết có việc gì mà rất nhiều quân lính kéo về bủa vây làng ta?”. Jêsu liền chọn ba môn đồ là Phêrô, Jacôbê
và Juan đi theo mình, còn lại thì cho phân tán. Rồi đó Jêsu cùng bọn Phêrô ba người vội thoát ra ẩn nấp trong một
lùm cây rậm, thường gọi là vườn Gêtsêmani [27] ở phía xa ngoài làng. Jiuđa chạy theo sau, dò biết chỗ Jêsu trốn rồi
lẻn ra ngoài báo cho viên quản giáp biết.

Bấy giờ Jêsu quỳ trên tảng đá trong lùm cây cầu khấn chúa Trời phù hộ cho thoát nạn [28] . Bọn Phêrô sợ run như cầy
sấy. Thấy vậy Jêsu bèn trổ phép lạ, cho mây mù đen kịt tỏa che khắp lùm cây, đứng cách gang tấc không trông thấy,
khiến cho quân Jiuđê rối loạn. Bỗng đâu thấy toán quân bí mật của ba viên quản giáp ập tới, tiếng trống, tiếng kèn
inh ỏi, bốn cây đuốc bốc sáng rực trời. Jêsu biết phép của mình không thiêng, sợ hãi vã mồ hôi như tắm [29] . Ngoảnh
33

lại nhìn mới hay bọn Phêrô đều đã tìm đường tẩu thoát. Một lát sau, Jêsu thấy Jiuđa xách gậy chạy đến cứu [30] . Jêsu
cả mừng tỏ lời an ủi [31] . Vừa lúc đó hơn 10 tên lính chĩa gươm soi đuốc xông vào, Jêsu toan chạy trốn. Quân lính
còn do dự chưa biết ai là Jêsu, Jiuđa bèn sấn đến ôm hôn lên má Jêsu [32] . Lúc ấy các viên quản giáp cũng vừa tới
nơi hô quân ập bắt. Bấy giờ Jêsu mới biết Jiuđa phản mình, đành phải chịu đứng yên. Ba viên quản giáp xốc tới, xỉa
giáo giơ gươm tận mặt Jêsu, quắc mắt quát lớn: “Chạy đằng trời!” Jêsu thong dong chịu nạn. Từ bấy giờ trở đi sắc
mặt bình thản như thường. Quân lính và tuần đinh xông vào bắt trói [33] .

Chịu trói xong, Jêsu ngoảnh lại bảo Jiuđa: “Này Jiuđa, sao mi nhẫn tâm phản thầy?” Jiuđa đáp: “Theo thầy để học
đạo chứ không theo thầy để làm việc xấu”. Jêsu đành phải làm thinh.

Hai sách Giảng lục và Ngâm lục nói rằng: “Đức chúa Con thấy thiên hạ mắc phải quá nhiều tội lỗi mà hồn dữ của
tên Jiuđa thì sẽ bị đày xuống địa ngục trước nhất. Chúa Jêsu bèn vào [34] trong vườn Gêtsêmani đưa theo môn đồ
cùng đi [35] . Rồi chúa Jêsu sụp quỳ cầu xin Thiên Chúa ba điều [36] . Đang lúc cầu nguyện, bỗng thấy một vị thiên
thần, do chúa Trời sai xuống an ủi rằng: “Chúa Trời đặc cách truyền mệnh cho một mình con phải chịu cực khổ để
giải tội cho thiên hạ. Việc ấy đã định trước rồi, chúa Con phải dốc một lòng, không nên quá lo sợ”. Jêsu bèn quỳ dậy
mà lĩnh mệnh. Xong đó vị thiên thần biến mất”.

Chao ôi! Ngay đến con mình mà chúa Trời cũng không thương yêu gì nữa, thì làm sao còn thương yêu đến người
khác?

Lại ở sách Ngoại lục chép rằng: “Lúc bấy giờ [37] chúa Trời cho hiện ra các thứ hình cụ như dây trói bằng da, gông
cùm, khóa sắt để tỏ ý trừng phạt cho chúa Con trông thấy, vì thế Đức chúa Con càng thêm run sợ”. Chao ôi! Chúa
Trời đối với người trong thiên hạ có tội đều tha cho, vậy mà sao lại làm khổ con mình như thế?

Hai sách Ngoại lục và Ngâm lục còn chép: “Chúa Jêsu nghe biết quân dữ [38] đang kéo tới gần, bèn ra đón trước,
nghiêm hỏi rằng: “Các ngươi tìm ai?” Quân lính cũng đáp to rằng: “Tìm Jêsu ở Nazarét” [39] . Jêsu quát đáp: “Chính
ta đây”, tiếng vang như sấm [40] . Hơn hai chục quân lính và đinh phu đều khiếp sợ ngã lăn [41] . Nhưng Jêsu vẫn
đứng yên, lại ban cho bọn tuần phu và binh lính kia được đứng dậy, rồi lại quát hỏi to như đã nói trên, binh lính
cũng đáp lại như thế… Đến lúc đó Jêsu mới nộp mình cho quân Jiuđê bắt đi”.

Chao ôi, Jêsu tụ tập bè đảng bị quan quân đến bắt, xét theo lý là có điều khuất tất rồi. Vậy mà lại nói “ban cho bọn
tuần phu và binh lính kia được đứng dậy”, chẳng khác gì kẻ đang có quyền thế, thiệt là vô lý quá chừng! Lại nói
Jêsu tự nộp mình cho quân Jiuđê, lúc ấy dầu Jêsu không muốn nộp cũng chẳng được nào!

Ba viên quản giáp bắt được tên phiến loạn Jêsu bèn dẫn về giam ở nhà riêng. Sợ Jêsu trổ phép lạ tẩu thoát, bọn họ
liền lấy dây thừng trói chặt cả 10 ngón tay, đóng gông vào cổ và đặt người canh gác rất nghiêm ngặt [42] .

Jêsu thấy môn đồ chẳng có kẻ nào đến cứu mình [43] nghĩ bụng càng thêm tức giận. Chợt thấy Jiuđa đem hết những
thứ thực tích tang vật như áo mũ, cờ gậy đến nộp cho quản giáp. Viên quản giáp liền thu nhận để làm biên án.

Jêsu thường ngày bị người ta căm ghét quá nhiều, nay bắt được y, hết thảy tuần đinh và binh lính đều hả hê đắc chí.
Bọn họ sợ chỉ trói tay chưa đủ, bèn lấy xiềng sắt khóa vào cổ, dùng dây da trói cuộn từ mồm trở xuống hơn 30 vòng
mà kéo đi. Jêsu bị kéo đi như thế suốt đêm, ngã dúi ngã dụi đến 7 lần. Mỗi phen bị ngã lại bị quân lính đạp bồi thêm,
lóp ngóp bò dậy lại bị bọn chúng thúc bao kiếm vào đít mà giục đi cho nhanh. Kẻ thì khua đuốc vung trước mặt, kẻ
cầm cả bó đuốc mà đánh sau lưng, lại có tên túm tóc lôi đi, có tên vặt râu cho đau đớn. Bấy giờ đang giữa mùa đông
rét căm căm, khi qua sông, quân lính đi trên cầu, thòng dây bắt Jêsu lội qua dòng nước buốt mà đi. Viên quản ti cười
bảo rằng: “Con chúa Trời thì sợ rét gì?” Đến khi trời sáng, quan ti ra lệnh đem bêu ngoài điếm trạm để cho dân
chúng xem. Trăm người đều chỉ mặt Jêsu mà mắng chửi, lột hết quần áo, bắt y phải ngồi xo trần truồng. Có người
bêu riếu rằng: “Lạy tôn sư, xin tôn sư truyền cho con phép diệu!” Có người chỉ tay mắng rằng: “Nghe nói mi cắt đầu
34

ngọc hành rồi mà sao còn kham nổi hơn trăm gái tơ?” Có người nói: “Tôi cũng nghe người ta nói hắn cắt đầu…, nay
mới tin là thật”. Có người cười mà bảo: “Đó mới đúng là phép lễ riêng kỳ diệu!” Có kẻ lại nói: “Mi nói đất vắt ra
người, sao mi không bảo vắt cái ấy của mi cho to thêm chút nữa” [44] .

Bấy giờ môn đồ của Jêsu bỏ trốn cả, duy có Phêrô còn ẩn lại nghe ngóng. Đêm hôm sau [45] , người nhà trọ túm lấy y
mà kêu lên rằng: “Tên này chính là đồ đệ của Jêsu. Bắt ngay! Bắt ngay!” Phêrô sợ cuống, líu lưỡi chối rằng: “Thật
tôi từ thuở bé chẳng biết người ấy là ai!” Người nhà trọ vặn hỏi ba lần thì cả ba lần Phêrô đều chối phăng đi cả. Mọi
người cũng phải nghi là nhầm. Lúc ấy Jêsu nghe tiếng xôn xao bên ngoài quay ra nhìn thì thấy Phêrô. Phêrô xấu hổ
lủi đi.

Đến khi trời sáng, ba viên quản giáp cùng tốp quân lính và tuần đinh áp giải Jêsu đến giao cho thầy cả Anne [46] phán
xử. Anne là bố vợ của quản giáp Caipha [47] . Thầy cả Anne nói: “Mi là hạng người nào mà dám tự xưng là thầy cả?
Lại còn tìm cách mê hoặc dân chúng, thật là can phạm phép nước, huống chi còn tụ tập dân chúng làm nhiều việc
quái ác khác nữa”.

Jêsu im lặng không đáp câu nào. Các viên quản giáp cùng quân lính, tuần đinh đều đồng thanh nói: “Chẳng những
thế, hắn còn tự xưng là con chúa Trời giáng thế nữa!” Anne nghe nói bất giác nổi xung, cả tiếng mắng rằng: “Tự
xưng là con chúa Trời tức là muốn làm chúa Trời! Thật rất ngạo mạn, phải mau kết án để giết phăng đi”. Rồi đó
quản giáp dẫn Jiuđa đến làm nhân chứng tố cáo tội trạng tiếm ngụy của Jêsu. Jiuđa khai hết mọi việc: Jêsu họp dân
chúng ở những nơi nào, đứng phất cờ ở chỗ nào, v.v. Viên quản giáp cứ theo thứ tự ghi lại cả. Thầy cả Anne liền
thưởng cho Jiuđa ba tấm áo rồi tha cho về.

Sách Ngoại lục chép rằng: “Lúc bấy giờ quân Jiuđê xỏ tay vào cái bao bằng sắt mà tát vào má Jêsu mỗi bên 10 tát,
mỗi lần tát lại nói: “Chớ tự xưng bậy bạ!” Thế nhưng có cái bao nào mà lại làm bằng sắt? Đại để đều là khoa trương
để nói Jêsu chịu nạn thảm thiết, những chuyện tiếp sau cũng như vậy cả, không có gì đáng tin.

Sách ấy lại nói: “Jiuđa thực tâm không định bán Jêsu, nhưng vì thấy đức chúa Con lắm phép thuật biến hiện kỳ lạ,
chắc chẳng ai bắt nổi nên giả vờ báo cho quân Jiuđê biết để lấy tiền xài. Jiuđa tưởng rằng khi quân Jiuđê kéo đến thì
Jêsu tất sẽ làm phép biến hóa mà trốn đi. Khi ấy mình đã nhận tiền rồi, chẳng lẽ bọn chúng đòi lại hay sao? Đến khi
thấy Jêsu thong dong chịu nạn, chẳng làm phép biến hóa trốn tránh, Jiuđa lấy làm hối hận, biết mình mắc tội phản
đạo bán thầy, bèn tự thắt cổ mà chết”. Chao ôi! Nếu Jiuđa là người xem nhẹ mạng sống của mình biết hối hận mà tự
ải như thế thì chắc là y đã không tham tiền để đến nỗi phải bán thầy! Sách ấy lại nói rằng: Phêrô về sau mỗi khi trời
sáng nghe gà gáy lại nghĩ đến tội lỗi của mình, đấm tay vào ngực đau đớn mà khóc lóc thảm thiết. Chúa Trời khen
Phêrô là người biết hối lỗi, đến khi chết vẫn cho phép lên thiên đường [48] . Về sau người ta cũng theo cách đó mà
xét đoán rằng: “Kẻ tự sát cũng có tội như kẻ giết người, cho nên về sau thánh Phêrô được lên thiên đường, còn Jiuđa
thì không được lên thiên đường”. Thật là vô lý, nực cười!

Lại nữa, cả ba sách Ngoại lục, Giảng lục và Ngâm lục đều nói rằng đêm hôm Jêsu bị dẫn về nhà Anne, Phêrô xông
vào cứu nạn cho thầy, vung đao chém một tên đạo trưởng bị thương ở bên tai [49] . Jêsu bèn mắng Phêrô, không cho
Phêrô cứu mình mà phải lo chạy chữa cho người bị thương. Phêrô tìm thuốc băng bó cho người kia xong xuôi đâu
đấy rồi mới ra đi. Theo lẽ mà suy thì dân chúng đều cho thầy trò Jêsu là những tên giặc phạm tội, đang lúc quan
quân dân bình canh phòng cẩn mật, Phêrô làm sao mà lọt vào được? Giả sử có vào được cũng phải có nhiều người,
huống chi lại chỉ một mình chống chọi với cả trăm người thì làm sao mà vào cho nổi? Phêrô đã chém người bị
thương, lẽ nào quân lính lại điềm nhiên để yên không bắt gông cả thầy trò mà lại còn để cho Phêrô thong dong cứu
chữa, mà kẻ bị thương há lại chịu nằm yên cho Phêrô băng bó hay sao? Những chuyện bịa tạc ấy chính là do vua tôi
người Tây Dương nặn ra để nói về cái nghĩa khí của Phêrô. Nhưng mà kẻ đã bỏ thầy chạy thoát thân khi xảy ra sự
việc ở vườn Gêtsêmani, kẻ đã ba lần chối không nhận thầy khi người ta cật vấn ở quán trọ há lại có thể coi là kẻ có
nghĩa khí được chăng?
35

Bọn quản giáp Caipha cùng với quân lính, dân binh được lời phán xử của Anne liền khoác còng sắt kéo con chúa
Trời ra ngoài đường cho dân chúng làm nhục đủ điều, lột truồng hết quần áo làm trò cười cho thiên hạ [50] .

Rồi đó bọn họ sửa dọn lại bản cáo trạng nạp lên cho tổng trấn Philatô [51] . Cáo trạng đại lược như sau: “Bọn chúng
tôi cùng với kẻ tố giác tên là Jiuđa đã bí mật bắt được đầu sỏ đảng giặc quê quán ở Nazarét tên là Jêsu. Tên này tự
chế ra mũ triều thiên, mặc áo đính cườm ngọc, chống gậy bạc, cầm cờ đỏ, tự xưng là con chúa Trời, đến đâu tụ họp
làm giặc ở đấy, kích động dân chúng đến hơn vạn người. Có kẻ gọi y là Thần trời, người thì gọi y là Thiên Chúa
con, có kẻ gọi y bằng “Cha”, có những người vác cờ lá liễu, già trẻ trai gái đón đường mà nghênh rước y. Hiện nay
đã thu được tang vật là các thứ áo mũ cờ gậy của y. Tên các làng mà y đã thuyết phục được, các phép tắc mà y đã
cho thi hành xin kể ra sau đây, v.v.”

Tổng trấn Philatô phán hỏi Jêsu rằng: “Tội trạng của ngươi bấy nhiêu điều, phải ngươi muốn làm giặc không?”. Jêsu
ngồi xếp chân vòng tròn ưỡn lưng đáp: “Nếu quả tôi làm giặc thì tại sao không thấy tang chứng khí giới cung
kiếm?”.

Philatô nói: “Những thứ áo mũ ấy há chẳng phải chứng tích của ngươi thì còn ai vào đấy nữa?”. Rồi đó vặn hỏi Jêsu
đủ mọi điều. Những người có mặt ở đó cũng góp lời tố cáo thêm nữa. Nhưng tổng trấn Philatô là người nhân đức
khoan thứ, cho rằng Jêsu chẳng qua phạm tội lừa dối mê hoặc dân chúng, bèn hạ lệnh nọc ra phạt đòn rồi tha cho về.
Nhưng ba viên quản giáp và phủ ti thì một mực xin phải khép án, cùng thưa rằng: “Chúng tôi bắt được tên này có
âm mưu tiếm loạn đến đây, chẳng lẽ ngài lại vì ý riêng mà tha bổng cho hắn ư?” Tổng trấn Philatô sợ làm trái lòng
dân đành phải làm tờ tâu kèm theo bản biên án, giao cho dân chúng áp giải Jêsu lên kinh đô chờ xét xử [52] .

Tục lệ nước Jiuđê vua quan chẳng có thể thống gì cả [53] . Bấy giờ là thời vua Hêrôtê Antipa [54] đang trị vì. Vua tự
xem tờ tâu rồi phán rằng: “Điển chế của nước nhà trải qua các đời đã thành quy pháp; kẻ thất phu dụ dỗ dân chúng
thay đổi phong tục, tiếm chế áo mũ, tự đặt danh hiệu xưng hô lếu láo thì đáng tội gì?” Jêsu ngồi im không đáp. Vua
Hêrôtê thấy Jêsu xấc ngạo càng thêm tức giận, bèn giả cách quát mắng trung sứ rằng: “Tổng trấn Philatô phạm
thượng hết chỗ nói: Bắt một đứa ngu si điếc lác như thế kia giải lên cho ta thì làm thế nào mà tra xét được?” Tiếp đó
vua truyền rằng: “Hắn là kẻ điếc thì cứ cho mặc áo trắng [55] rồi giao trả về cho quan bản trấn”. Rồi vua gọi sứ giả
vào căn dặn mật chỉ. Sứ giả nghe xong lạy chào lui ra áp điệu Jêsu trả về cho tổng trấn Philatô xét hỏi lại.

Theo quốc sử của nước Jiuđê thì Jêsu tự làm ra xe lọng tiếm lạm nghi lễ thiên tử, thi hành các lề phép hòng thay đổi
phong tục trong nước. Triều đình biết chuyện đã xuống mật lệnh cho các quan trấn, quan phủ trùy lùng gắt gao. Đến
khi bắt được y, vua Hêrôtê và các triều thần muốn xem mặt mũi Jêsu thế nào, và truyền áp giải về kinh đô. Tuy việc
này không thấy ghi trong Thực lục, nhưng sử ký nước Jiuđê chép như thế có thể tin được. Có lẽ môn đồ của Jêsu
không biết việc triều đình hạ lệnh lùng bắt khắp nơi, cho nên không ghi vào Thực lục chăng?

Theo hai sách Ngoại lục và Giảng lục thì nói: Jêsu biết chuyện vua Hêrôtê Antipa bắt cả chị em con cô con cậu đưa
vào hậu cung làm tì thiếp, cho nên khinh ghét mà không trả lời.

Theo lý mà suy thì Hêrôtê là vua, Jêsu là tên giặc, sao lại có thể nói là Jêsu “ghét” vua Hêrôtê? Những sự việc hỏi
đến, Jêsu đều có phạm vào cả, giả sử có trả lời thì Jêsu cũng khó nói cho xuôi được. Vì vậy người Tây Dương viết ra
đoạn nào lại tìm cách che đậy đoạn ấy để người đời sau khỏi ngờ.

Bấy giờ trong điện của vua Hêrôtê bỗng có tiếng nói vang lên: “Kẻ mà ngươi đang buộc tội kia ngày sau sẽ phán xét
ngươi”. Theo lý mà suy, thì nếu có tiếng nói như thế thật thì vua Hêrôtê hẳn đã sai người tìm kiếm cho ra kẻ vừa nói
câu ấy. Nếu đã tìm kiếm mà không thấy thì hẳn phải kính lạ xuống dưới thềm mà vái lạy Jêsu rồi, há lại còn phải
giao về quan bản trấn xét hỏi nữa? Những lời lẽ ngu dân lắt léo như thế thật là quá quắt! Vậy mà những kẻ ngu khờ
chẳng biết phân biệt!
36

Quan quân áp giải Jêsu về trấn. Dọc đường quân lính đua nhau vung roi rút giày mà đánh chan chát vào mặt Jêsu.
Tổng trấn Philatô thấy Jêsu mặc áo trắng thì biết ý vua ngầm bảo phải giết Jêsu. Đến khi mở xem mật chỉ thấy viết
rằng: “Tên này vào giữa sân triều vẫn còn kiêu ngạo thì khi ở ngoài thế nào cũng đủ biết. Muốn giết hay tha chỉ cần
hỏi ý nguyện của dân chúng, cho khanh được tùy nghi xử trí, không cần phải tâu lại nữa”.

Hôm sau vừa gặp ngày lễ chúa Trời đầu tuần. Tục lệ nước này cứ vào ngày chủ nhật chọn tha cho một người tù tội
nhẹ. Bấy giờ có một kẻ can án ăn cướp, tên là Baraba [56] . Tổng trấn Philatô cho đem cả Baraba và Jêsu ra hỏi dân
chúng rằng: “Hoặc là Jêsu, hoặc là Baraba, các người muốn tha tội cho kẻ nào?” Dân chúng đồng thanh đáp:
“Baraba chẳng qua chỉ giết hại một, hai người. Jêsu thì làm hại cả một nước. Nếu muốn cứu một người thì xin quan
tha cho Baraba, còn tên Jêsu thì nên giết!”

Philatô thấy lòng dân căm ghét Jêsu còn sâu sắc hơn đối với tên ăn cướp, nếu tha bổng cho y sợ dân chúng lại tâu
lên vua lần nữa thì mình mắc tội. Nghĩ vậy, Philatô bèn sai một cơ lính gồm 666 tên [57] lôi Jêsu ra thay nhau mà
đánh cho thỏa ý dân.

Thế là binh lính cùng dân chúng ai nấy đều xắn áo xoa tay, kéo Jêsu ra giữa chợ, tháo gông, trói quặt chân tay vào
một cột đá. Trói xong, đám đông hò reo: “Nay thì mi được chết! Nay thì mi được chết!” Rồi xúm nhau vào hô đánh.
Đầu tiên một người đánh, lần thứ hai, hai người cùng đánh, lần thứ ba, ba người cùng đánh, v.v.

Jêsu vốn là kẻ to béo, da thịt dày dặn rắn chắc, chịu đòn một ngày vẫn chưa hề gì. Binh lính mỗi lần đánh lại một lần
giễu cợt: “Đích thị là con chúa Trời này! Đích thị là con chúa Trời này!” Thế là Jêsu bị đánh đấm tới tấp chẳng còn
phân biệt chân đầu gì nữa [58] , cánh tay sưng húp [59] như chiếc nồi.

Bấy giờ dân chúng đi xem đứng chật xung quanh, dân đạo cũng có nhiều người lén đến trà trộn đứng xem trong số
đó. Trong đám binh lính, dân đinh có người nói: “Nước thánh nhiều lắm, có ai giúp đi lấy cho không?” Có người
đùa rằng: “Có mấy đôi trai gái đến xin làm lễ cưới!” Có người khom lưng thưa rằng: “Kính xin tôn sư làm lễ
Cônfirmaxông cho con ạ”. Đám đông lại tung lên reo cười. Bỗng trong quân có tiếng quát đánh, quân lính xáp vào
đứng kín như bức tường. Tiếng hò la ầm ầm như sấm, đứng ngoài chỉ thấy đầu roi rít gió quất xuống đen đét. Chỉ
trong chốc lát, toàn thân Jêsu máu me đầm đìa, vết roi lằn kín khắp lưng. Cả đội lính thay nhau đánh mỏi tay ngồi
nghỉ sức giữa chợ [60] . Bọn họ cởi trói tha cho Jêsu được ngồi, giờ chỉ thấy máu me bê bết đầy thân, nom chẳng
nhận ra hình thù Jêsu khi trước nữa.

Vừa mới ngồi nghỉ được một lúc, chợt thấy một ả gái điếm mặc váy đỏ [61] lạch bạch chạy tới, vén thốc váy lên quỳ
trước mặt Jêsu mà nói rằng: “Con có nhiều tội quá, may có thầy giải rửa cho, đáng con phải tạ ơn thầy nhiều lắm”.
Quân lính cười ồ lên. Có người đùa rằng: “Có tội thì rửa đi, có tội thì giải tội đi! Mỗi tội mỗi rửa, mỗi giải thì còn lo
gì nữa?” Một người khác nói: “Đang lúc mỏi mệt được một cuộc cười cũng hay”. Lúc ấy có viên quan úy đội khăn
đỏ ngồi trên ghế nói đùa rằng: “Nghe nói mi có tài giải tội, bây giờ hãy “giải” cho con này một “giải” để chúng ông
xem thế nào?”

Phong tục nước Jiuđê nói năng chẳng kiêng dè gì cả. Qua ngày hôm sau, binh lính bảo nhau rằng: “Hắn từng chế ra
mũ triều thiên, áo cườm ngọc, tự xưng là hoàng đế. Nay ta hãy đội mũ mặc áo cho hắn xem sao?”. Nói đoạn bọn họ
lấy gai nhọn cắm vào sợi dây thừng, tất cả 72 que gai, quấn vòng lại chụp lên bờm tóc rồi lấy búa đóng cho gai nhọn
cắm chặt vào đầu Jêsu, bảo rằng: “Mũ triều thiên của mi phải làm như thế mới đẹp!”.

Rồi đó bọn chúng lại khoác còng sắt vào cổ Jêsu, trói khoanh hai tay vào giữa ngực, bắt ngồi bệt xuống đất. Rồi đó
bọn họ lấy mảnh vải trắng trùm lên đầu Jêsu, lột chiếc váy đỏ của ả gái đĩ Alina trùm lên vai Jêsu mà nói: “Chiếc
hồng bào này cũng đẹp đấy!” Có người nói tiếp: “Áo liên châu của mi như thế đẹp chưa?” [62] Tiếp đó lại có người
lấy một que tre nhọn nhét vào tay cho Jêsu mà bảo rằng: “Rìu búa [63]của vua phải như thế mới đúng!”
37

Ăn mặc làm dáng cho Jêsu xong, binh lính giả bộ quỳ trước mặt y mà nhạo rằng: “Kính tâu quốc vương nước
Jiuđê!” Dứt lời bèn tháo giày cầm tay mà vụt tới tấp vào Jêsu tiếp không biết bao nhiêu mà kể, máu miệng chảy ròng
ròng. Có những người nhổ nước bọt vào mặt, hoặc bứt râu vặt ria khiến cho Jêsu càng thêm đau đớn. Tiếp đó viên
giám binh dùng ống loa gọi to: “Hãy để hắn ngồi đó cho thiên hạ đến xem mặt con chúa Trời”.

Dân chúng xa gần lâu nay nghiến răng căm ghét Jêsu tận xương, bấy giờ cùng nhau kéo đến nhà giám ti đồng thanh
thưa rằng: “Các quan binh đã được thỏa chí, vậy cũng xin cho dân chúng tôi được hả lòng!” Viên giám ti căn dặn
rằng: “Làm cho hắn biết nhục thì được, chứ không được đánh nữa”. Đám đông đồng thanh dạ ran hứa hẹn rồi lui ra;
kéo đến chỗ Jêsu đang ngồi. Bọn họ lần lượt thuật các phép đạo của Jêsu bêu riếu, xách đến trước mặt Jêsu một vò
nước tiểu mà bảo rằng: “Nước phép của mi đây! Nước phép của mi đây! Hãy uống cho hết nước phép của mi đi!”.
Nói đoạn bọn họ đổ nước tiểu vào mồm vào mặt Jêsu. Toàn thân Jêsu ướt dầm, buốt xót đau đớn. Có người bưng cứt
đến, nói rằng: “Nay phải cho mi được ăn bánh phép!” Nói đoạn nhét phân vào mồm Jêsu. Lại có người xúc cứt đổ
hết trên đầu Jêsu mà nói: “Để ta làm phép Côngfirmaxông cho mi”. Dân chúng đứng xem reo cười khoái trá. Hết
người này đến người khác đọc các câu niệm phép của Jêsu, có điều là vừa đọc vừa chêm vào những câu khôi hài. Có
người nói: “Phép Matrimôninô đây lạ lắm! Lạ lắm! Xưa nay chưa có ai biết cách dạy nam nữ động phòng như
mi!” [64] Có người cười nói: “Dạy chuyện trong chốn buồng the, biết đâu hắn ta lại chẳng làm trước chuyện ấy?” Thế
là đám đông xúm lại vả vào mặt Jêsu, nghiến răng mà đánh đập.

Lại nữa, thường ngày Jêsu vẫn khuyên răn người ta không nên dâm dục, bảo bộ phận sinh dục của người ta là cái
cục tội. Đến bây giờ có người hỏi Jêsu: “Sao mi không cắt hẳn cái “cục tội” của mi đi?” Lại mắng rằng: “Không có
cái “cục tội” ấy thì làm gì mà có mi? Biết đâu cái ấy lại chẳng phải là “cục phúc” của mi?” Lại một người khác nói:
“Nay ta hỏi mi: nếu bảo cái ấy là “cục tội” thì trời sinh nó làm chi?” Có người phú hào ở thị trấn giả cách an ủi Jêsu
mà nói rằng: “Thật tội nghiệp, tội của người thì mi giải cho, đến tội của mi thì chẳng có ai chịu giải. Nay nếu mi bảo
được hai đứa gái trinh bên dân đạo chịu về với ta thì ta sẽ giải tội cho mi”. Lúc ấy Jêsu bị ngứa ở tay, vừa cựa nhích
một chút liền bị tên lính đứng canh quát hỏi: “Làm gì thế?” Đám tuần đinh ùa reo: “Hắn làm phép Confirmaxông để
cầu thọ cho ông chánh đấy!” Viên giám binh cười mà rằng: “Cầu tiếp lần nữa xem sao!”

Jêsu chỉ ngồi im chịu nhục, không dám nhúc nhích động cựa. Sau trận đòn, quân lính cho Jêsu thay áo. Thấy chiếc
áo Jêsu đang mặc vết máu khô cứng đã dính bết vào người, bọn họ bèn cầm mà giật ra khiến cho Jêsu lại một phen
đau đớn.

Bấy giờ dân tả đạo thấy Philatô là người còn có lòng nhân đức khoan thứ, bèn bí mật đem 5 vạn quan tiền đến đút
lót xin chuộc mạng cho Jêsu. Philatô thấy mật chỉ của vua truyền bảo giết hay không chỉ cần thuận dân tình là được,
cho nên cũng muốn tha cho Jêsu để kiếm món tiền hối lộ làm lợi riêng. Xem chừng quân dân được đánh mắng chán
chê, ai nấy đều đã hả lòng hả dạ thì ắt cũng động lòng thương hại, bèn sai đóng gông dẫn Jêsu vào trại giam.

Sáng hôm sau, Philatô sai dẫn Jêsu lên một gò cao, họp dân chúng lại mà hỏi rằng: “Đã đến thế này ắt cũng đủ cho
hắn phải sống dở chết dở rồi. Ta muốn tha cho hắn, chưa biết ý dân thế nào?”. Dân chúng nhao nhao nói to rằng:
“Phải đem đi đóng đinh câu rút!” [65] Philatô thấy lòng dân nhất quyết muốn giết Jêsu, bèn không nhận tiền hối lộ
nữa. Rồi đó Philatô căn cứ theo mật chỉ giao Jêsu cho dân chúng xử tội. Bọn ba viên quản giáp bèn xin cho quan
quân cùng với dân chúng áp giải Jêsu đến nơi hành hình. Philatô lại bảo kín với dân tả đạo đem tiền đến lo lót với ba
viên quản giáp ấy. Một viên quản giáp nói: “Tha cho hắn thì hắn sẽ nói là ý chúa Trời khiến bọn ta phải tha. Giết
hắn thì hắn cũng sẽ nói ý chúa Trời xúi khiến bọn ta giết hắn. Chi bằng cứ giết quách xem cái ý chúa Trời của hắn
thế nào!” Một viên khác nói: “Khi trước chúng ta đã cùng nhau chích máu ăn thề không được bội ước. Vả lại nếu tha
cho hắn thì dân tả đạo sẽ coi khinh bọn ta”. Rốt cuộc bọn họ không chịu thả Jêsu, liền hô quân lính và dân binh xách
con chó râu xồm mà kéo đi [66] .

Quân lính và dân binh được giao cho hành hình Jêsu, ai nấy đều vui thích nhảy nhót reo hò, đem Jêsu trói lại một
nơi rồi đóng ngay một chiếc giá câu rút rất nặng, thanh ngang dài 4 thước, thanh dọc dài 9 thước [67] , bắt Jêsu vác
38

lên núi Gôgôtha [68] . Rồi đó quan quân rầm rầm vây bọc dẫn đi.

Jêsu từ khi bị bắt, cha mẹ đều không hay biết. Đến khi nghe bọn Phêrô ở ngoài trở về báo tin, bà Maria cả kinh rụng
rời. Rồi đó Jiuse dẫn Maria lần đường đi tìm hỏi. Khi đi qua cột đá thấy có vết máu, bà Maria ngã ngất hồi lâu mới
tỉnh lại. Gặp người đi đường hỏi thăm thì họ nói: “Có thấy người vác giá câu rút”. Maria và Jiuse vội tìm đến, kíp
nghe tiếng trống thúc quân reo, xiết đỗi kinh sợ. Khi đến nơi, cha mẹ thấy mặt con, Maria vật vã gào khóc: “Sao con
lại nói trước là ra đi khó gặp lại?” Jiuse gục xuống đất mê man bất tỉnh.

Chợt lúc ấy nghe báo tin có hai phạm nhân khác cũng đang vác giá câu rút lên núi cùng chịu hành hình. Bấy giờ
Jêsu đã kiệt sức, chiếc giá nặng trên vai khiến cho y nhiều phen ngã lên ngã xuống. Viên quản binh sợ Jêsu chết
trước khi đến chỗ hành hình, bèn thuê một người khác vác thay cho. Danh tiếng Jêsu khá nổi, cho nên dân chúng
kéo đi xem rất đông. Có người phàn nàn rằng: “Nghe nói tên trùm giặc này nhiều phép lạ, sao lại đến nông nỗi
này?” Viên quản binh nghe vậy đáp rằng: “Lắm thuật kỳ thì mắc nhiều họa lạ. Đến đây rồi cũng có phép lạ đấy!”
Jêsu ngoái đầu lại nói: “Ta chỉ thương cho con cháu các ngươi ngày sau rồi phải khốn khổ!” Quân lính cười rộ mà
đáp rằng: “Chỉ biết cái khốn ngày nay, ai hỏi mi cái khốn mai sau! Mi bẻm mép lừa người thì chung cục phải như
thế!”

Lúc ấy có người đàn bà VêDôNiCa thấy mặt mũi Jêsu máu chảy ròng ròng bèn trao cho y một chiếc khăn. Jêsu cầm
chiếc khăn ấy mà lau mặt [69] . Đến lúc ấy Jêsu mới biết có hai tên cướp đang vác giá câu rút cùng đi.

Đến chân núi, bốn viên chỉ huy đội quân áp giải cầm ống loa sắt trèo lên gò cao gọi to: “Mũ triều thiên của tên kia
có còn bền chắc không?” Quân lính lập tức lấy vòng gai một lần nữa đóng chặt vào đầu Jêsu rồi đáp to: “Còn chắc
lắm!” Jêsu đau đớn gào lên như bò rống. Đám đông người xem cười rộ cả. Rồi đó bọn họ lấy rượu hòa với mật đắng
bắt Jêsu uống cho trương giãn các mạch máu, lột truồng hết quần áo rồi đè ngửa lên giá câu rút. Trước hết lấy đinh
đóng vào tay trái Jêsu, còn tay phải thì trói bằng dây thừng kéo căng đóng vào lỗ đinh, vì thế thịt da ở ngực rách toác
ra. Tiếp đó lại trói hai chân cũng kéo căng dây mà đóng, da thịt ở lưng bụng lại toác ra. Lúc trước Jêsu bắt người ta
đọc kinh đến cuối mỗi đoạn lại niệm “Amen”. Nay quân lính cũng theo cách ấy, mỗi khi đóng xong một đinh cũng
nói “Amen” mà cười. Rồi đó bọn chúng lấy một miếng ván đề mấy chữ: “Jêsu ở Nazarét tiếm xưng làm vua nước
Jiuđê bị đóng đanh treo giá câu rút” [70] . Đoạn quân sĩ lật úp giá câu rút, lấy rìu phạt đứt các đầu đinh thòi ra, rồi cứ
thế mà kéo xệch lên núi. Jêsu bị đè dưới chiếc giá gỗ nặng, lại bị đất đá mài xát, da thịt tróc nát tận xương. Tới nơi,
quân lính liền đào hố chôn cột trên mỏm núi.

Cả ba giá câu rút đã dựng lên, chỉ riêng Jêsu đầu cắm mũ gai, thân thể trần truồng, ròng ròng máu ứa, dân chúng còn
nhìn lên mà chửi rủa: “Nay thì thật sướng cái thân mi! Sướng thân mi!” Có người cất tiếng hỏi: “Dân đạo đâu, sao
không thấy ai đeo cho thầy cả một mảnh khố” [71] . Mọi người cười ran vang núi.

Hai sách Ngoại lục (quyển 7) và Ngâm lục (quyển 5), đều chép rằng: Bấy giờ giá treo hai tên cướp một ở bên phải,
một ở bên trái, giá của Jêsu trồng chính giữa. Tên cướp phía bên trái nói: “Nếu ông là con chúa Trời thì sao không tự
cứu lấy mình và cứu cho chúng tôi một thể?” Tên cướp phía bên phải nói: “Chúng tôi tội nặng mới phải chịu khổ
cực thế này, còn ông làm sao mà đến nỗi bị dân chúng chê cười khinh bỉ như thế?” Nhân đó tên cướp ấy lại nói với
Jêsu: “Bao giờ lên thiên đường ông hãy nhớ đến tôi với nhé!” Jêsu ngoảnh lại bảo rằng: “Ngay hôm nay ta sẽ cho
ngươi được cùng ta hiển vinh vui sướng”.

Hai sách nói trên chép lại rằng: “Bấy giờ là lúc nhục nhã nhất cho thiên hạ. Chúa Jêsu bỗng hô to lên rằng: Đức chúa
Cha sao nỡ để một mình con chịu khổ, không kham đặng! Cầu nguyện Chúa Cha tha thứ cho mọi lỗi lầm của bọn
chúng!”. Nhưng hai sách Bí lục và Thực lục không thấy ghi chép việc ấy. Đó chỉ là những lời lẽ màu mè của bọn rợ
Tây, mỗi đoạn một trang sức vậy thôi.

Bấy giờ bà Maria và Juan đứng gần bên Jêsu. Jêsu buồn rầu nói rằng: “Thưa bà, từ nay về sau Juan là con của bà”.
39

Lại nói với Juan: “Từ nay bà đây sẽ là mẹ của ngươi” [72] . Nghe Jêsu nói, bà Maria càng bội phần đau xót. Lúc ấy
bọn môn đồ của Jêsu đã theo đến dưới giá câu rút. Jêsu kiệt máu kêu khát. Jiuse định đưa nước cho uống nhưng bị
quân lính quát lại: “Chớ cho uống nước lâu chết. Phải cho uống giấm cho huyết xuất mạnh, mau chết hơn”. Rồi bọn
họ lấy giấm đổ vào tổ ong rừng buộc sào giơ lên cho uống [73] . Jêsu uống xong mới biết là giấm, kêu to lên rằng:
“Thế là hết việc ở thế gian” [74] . Jêsu nhìn xuống thấy bà Maria đứng ở bên phải, bèn gục đầu xuống phía ấy, rằng
mình đã chết. Đám đông quân lính và dân binh giơ tay lên trời liên tiếp kêu to: “Giải tội! Giải tội!”, rồi cười vang.
Bấy giờ vừa đúng giữa trưa, vùng núi trời mây u ám, đến lúc ấy mới rạng lên. Jêsu đã chết, thây treo trên giá câu
rút.

Chợt có tiếng thống binh trong trấn tên là ĐôSaNùng đang bực tức vì có việc quan phải đi ngay không kịp uống
rượu, lúc ấy đang vác giáo thúc ngựa phóng tới. Từ cổng thành đến đây chỉ hơn một dặm đường. Vừa tới,
ĐôSaNùng vội lên tiếng quát hỏi Jêsu đã chết hay chưa? Quân sĩ đáp là chết rồi, ĐôSaNùng càu nhàu rằng: “Thật
tiếc cho ta đến chậm quá! Đến chậm quá!” Lên đến gò núi, ĐôSaNùng ngồi trên ngựa nghiến răng đưa mũi giáo
đâm vào giữa ngực Jêsu suốt qua tim quát một tiếng: “Yêu quái!”, rồi phóng đi luôn. Thấy bà Maria nằm ngất xỉu
giữa đất, ĐôSaNùng giơ giáo trừng mắt toan đâm, nhưng lúc ấy bọn môn đồ của Jêsu sợ hãi tán loạn chạy qua, cho
nên bà Maria may mà thoát chết.

Đến xế chiều [75] , viên quản binh thấy Jêsu đã chết hẳn mới cho hạ thây xuống, rồi đưa quân về thành. Hai môn đồ
của Jêsu là Jiuse và Nicôđêmô vác hai chiếc thang trèo lên giá câu rút chặt đinh để lấy xác. Phép hạ thây phải lấy
tấm vải buộc ngang ngực tử thi, trước hết chặt đinh ở chân, tiếp đó quấn hai múi vải vào hai đầu thang ngang, mỗi
người ngậm lấy một đầu rồi chặt đến đinh ở tay, tử thi từ từ tuột xuống. Các môn đồ tắm rửa thi thể Jêsu sạch sẽ,
khiêng vùi trong hang đá, rồi tản đi mỗi người một nơi. Quan quân đã trở về thành, tổng trấn Philatô thảo sớ tâu lên
vua Hêrôtê Ântip về việc hành hình Jêsu.

Sau khi chết, Jêsu đi thẳng xuống âm phủ [76] gọi hồn những người từ trước đã chết trên núi để cùng hiện lên. Đến
ngày thứ ba sau khi Jêsu chết, cả vùng núi Gôgôtha sáng bừng, người quanh vùng ai ai cũng phải kinh lạ. Giữa
không trung, Jêsu đi trước, đoàn quân LâmBô khoảng hơn năm trăm xác chết sống lại rần rật đi theo, rồi đột nhiên
biến mất. Cho nên ngày nay có lễ Phục sinh.

Sau khi hiện hồn sống lại, Jêsu về thăm nhà. Cha mẹ Jêsu sợ hãi không dám tiếp. Một lúc sau, Jêsu đến gần cha mẹ
mới nhận ra, hoảng sợ hết hồn. Jêsu hỏi các môn đồ hiện nay ở đâu, Jiuse đáp: “Phêrô trở lại làm dân chài ẩn lánh ở
miền sông Baun [77] , còn những người khác trốn tránh nơi nào không rõ”. Vừa nói xong, Jêsu đã biến mất.

Bấy giờ Phêrô đang chèo thuyền bên bờ sông phía đông bỗng nghe có tiếng người gọi: “Phêrô! Cho thầy xuống
thuyền với!” Nhận ra giọng nói của Jêsu, ngước lên thấy đúng là thầy mình. Phêrô sợ tái mặt, kêu to với người trong
thuyền: “Ông ta chết rồi kia mà!” Rồi vội vàng chèo thuyền sang bờ phía tây. Lại vẫn nghe thấy như trước. Phêrô
bèn quay thuyền trở lại giữa sông mà chèo cho thật nhanh. Jêsu từ trên không hạ xuống giữa thuyền, giữ lấy sào
chèo, ôn tồn an ủi Phêrô. Sau một hồi lâu, Phêrô mới hết sợ, Jêsu nói cho Phêrô nghe chuyện ở âm phủ, Phêrô nhân
đó tạ lỗi với Jêsu về việc chối thầy. Jêsu nói: “Nay ta đến đây không phải để nói những điều lỗi trước của ngươi,
ngươi hãy báo tin cho các môn đồ biết ta hẹn 40 ngày nữa sẽ đến núi Ôlivêtê [78] để ta truyền thụ bí pháp [79] .

Các môn đồ nghe Phêrô báo tin đều lấy làm ngờ, cùng nhau lên núi xem lại ngôi huyệt trong hang đá thì quả nhiên
không thấy xác Jêsu ở đó nữa, chỉ còn ba cái đinh và vòng mũ gai, bọn họ bèn thu nhặt đem về làm kỷ niệm [80] .

Đến ngày đã hẹn, cha mẹ Jêsu và các môn đồ lại phải một phen hoảng sợ. Jêsu cười nói an ủi mọi người. Các môn
đồ xiết bao kinh lạ, cùng bàn định xếp ngôi thứ, chọn Phêrô làm môn đồ cả.
40

[1]
Nay Kinh Thánh nói rằng “chúa Jêsu 30 năm ở cùng với mẹ”. Câu này trong nguyên thư chép lẫn vào chính văn.
[2]
Vì vậy Kinh Thánh nói “chúa Jêsu 3 năm giảng đạo ở nước Jiuđê”.
[3]
Jêsu bất chấp ngông cuồng nóng vội chỉ cốt cho được việc mà thôi. Nay bọn Tây Dương cũng đều như thế cả.
[4]
Nguyên thư phiên: SaLâm, tức là ghi tắt tên ChiDoSaLâm (Jêrusalem).
[5]
Người Tây Dương gọi vua là “BàBà” (pape), có nghĩa là vua, hoàng đế. Tiếng nói của người Tây Dương và tiếng
Jiuđê cũng ná ná như nhau.
[6]
Nay thầy tu Tây Dương muốn thăng đến cấp “đại môn đồ” thì từ 3, 4 năm trước không được phép về nhà, lệ ấy bắt
nguồn từ đó.
[7]
Chữ “chính” (vừa đúng) thật là diệu!
[8]
Nay sách kinh có câu: chúa Jêsu lên rừng Tịnh Trai (Ôlivêtê). Nguyên thư phiên Tịnh Trai lâm.
[9]
Tiên sinh (thầy), nguyên thư chép nhầm là tiên vương.
[10]
Chỉ một câu nói ấy đủ khám phá mọi phép lạ xưa nay.
[11]
Đến ngày tận số mà vẫn không chịu lạy mẹ, chỉ ngỏ lời từ tạ mà thôi, quả đúng như lời người ta nói rằng Jêsu là
kẻ bất hiếu nhất trong thiên hạ, xem đó thì đủ biết trước ngày xuất thế tu hành Jêsu phụng dưỡng cha mẹ ra sao.
[12]
Thế mà mẹ y ở nhà chẳng hề hay biết.
[13]
Nguyên thư chép: tất đắc chí (ắt được người ấy), đúng là phải: tất trí chi (ắt biết rõ người ấy).
[14]
Theo sử ký nước Jiuđê thì triều đình gửi lệnh tầm nã khắp nơi, hứa ai bắt được Jêsu thì ban thưởng quan tước.
[15]
Chiên là một giống vật ở phương Tây, tựa như con dê nhưng hiền lành hơn. Người Tây Dương ví những người
theo đạo của họ là con chiên. Các giáo sĩ truyền giáo ở nước ngoài đều nói như thế. Chẳng hạn các cố đạo sang ta thì
nói rằng: “Đức Giáo hoàng (pape) thương con chiên Nam Việt nên đặc mệnh sai ta sang mở đường dạy đạo để đuổi
trừ ma quỷ”.
Lễ lớn nói đây là lễ Pasha (lễ Vượt qua hoặc lễ Ăn bánh không men), lễ cổ truyền của người Do Thái.
[16]
Nhà thơ nổi tiếng nhất đời Tấn, tinh thông môn học thuật số, âm dương ngũ hành, biết mình sẽ bị chết vì kẻ ám
hại mà vẫn không tránh được.
[17]
Nguyên thư phiên: MiAn, tức là ghi tắt từ KhuMiAn (Ximêôn).
[18]
Ai bảo Jiuđa là kẻ phóng đãng.
[19]
Kinh Thánh ngày nay chỉ nói Jiuđa bán chúa Jêsu mà không nói rõ nguyên nhân sự việc.
[20]
Theo phép Gia Tô thì hôn lên má là rất tôn trọng, thân thiết. Nay người Tây Dương, bề tôi hôn vua, học trò hôn
thầy cũng có khi cầm hôn cả quần áo nữa. Tục ấy đến nay vẫn còn.
[21]
Theo sử ký nước Jiuđê thì Jiuđa thường bị Jêsu đánh đập đau đớn cho nên mới tố giác Jêsu.
[22]
Vì thế ngày nay có lễ Hôn chân.
[23]
Vì vậy, ngày nay, đồ lễ của nhà đạo có chiếc bát gọi là bát rửa chân.
[24]
Tức là phép Sacramentô (nói tắt).
[25]
Tiếng Latinh Sacramento = phép bí tích. Nguyên thư phiên: SanTiSaMôCaLaMiênTô.
[26]
Các sách đạo ngày nay đều nói tránh đi, chỉ nói rằng lấy phép đó để nuôi dưỡng linh hồn cho thiên hạ, khiến cho
thiên hạ được miễn tội.
[27]
Gethsemani: nguyên thư phiên là XhiệtSiMaNê, lùm cây rậm ở phía đông Jêrusalem, nơi Jêsu bị bắt.
[28]
Nay tảng đó vẫn còn vết tích hai đầu gối Jêsu. Thì ra Jêsu cũng có chút thần linh?
[29]
Đã là con chúa Trời sao còn phải sợ?
[30]
Trước đó Jiuđa chỉ đi tay không, lúc này xách gậy chạy đến là có ý khác rồi.
[31]
Sách đạo đều nói: Jêsu đã biết Jiuđa có tâm địa hiểm độc nhưng vẫn nén nhịn mà hỏi han hắn. Nếu đã biết hắn có
bụng xấu thì cần gì phải hỏi nữa?
[32]
Đâu phải lúc nhàn rỗi mà ôm hôn nhau!
[33]
Ngày nay các vít vồ, giám mục khi bị bắt cũng làm ra vẻ thong dong chịu nạn, ai cũng là bắt chước Jêsu.
[34]
Giấu sự thật, nói là “vào” (nhập)!
[35]
Tên ba người ấy đã nói ở trên.
[36]
Chẳng biết cầu xin ba điều gì?
41

[37]
Tức lúc Jêsu quỳ cầu nguyện trong lùm cây vườn Gêtsêmani.
[38]
Dân tả đạo thường gọi quan quân triều đình là quân dữ (hung quân).
[39]
Jêsu người ở làng Naziarét, nên quân Jiuđê gọi như vậy.
[40]
Không tin được.
[41]
Thì ra Jêsu cũng có uy linh!
[42]
Nay các sách Ngoại thư đều tránh không nói đến việc gông cùm. Ấy là vì ở các nước ấy cũng có dùng gông cùm
nên người ta tránh đi cho khỏi xấu hổ.
[43]
Cứu giúp là giúp để chống lại quan quân chăng? Hay là đến để cùng chịu tội chết?
[44]
Lời nói của người này thật là một câu rất tuyệt diệu để bài bác cái thuyết đất vắt ra người, đúng là khẩu khí của
binh lính.
[45]
Đúng ra ở đây phải nói: “Tảng sáng hôm sau…”.
[46]
Annas, nguyên thư phiên là AnNiết.
[47]
Trước khi Jêsu chưa đặt ra phép cấm thì thầy cả đạo Do Thái vẫn được lấy vợ, sinh đẻ con cái. Về sau người Tây
Dương theo phép ấy cấm người đi tu không được lấy vợ. Caiphae, nguyên thư phiên là CaiBa.
[48]
Ngày nay trong ảnh thánh Phêrô có vẽ con gà sống ở bên cạnh.
[49]
Phúc âm nói người bị chém đứt tai là đầy tớ của Anne, tên là Manchu (Juan, XVIII, 1-10).
[50]
Phong tục man rợ đáng chê cười, nhưng là do người ta quá căm ghét Jêsu.
[51]
Nguyên thư phiên là PhiLaTô. Tiếng Latinh là Pontius, tiếng Anh là Pilate. Các sách truyền giáo ngày trước ở ta
thường gọi là Philatô.
[52]
Trấn thành của Philatô tiếp gần đến kinh đô (Jêrusalem).
[53]
Ý tác giả chê thế chế của nước Jiuđê: câu sau thuật việc vua Hêrôtê tự mình xem tờ tâu rồi phán xử kẻ phạm tội
v.v. chứ không giao qua cho cơ quan như thẩm hình viên, tòa trung thư v.v.
[54]
Nguyên thư phiên ÊdoDi, tức là phiên chữ Hérodes. Sự việc nói đây thuộc về đời vua Hérodes II, tức Hérodes
Antipas (Xem: Bốn Phúc âm, Luca, chú, tr. 2).
[55]
Sách Ngoại lục, Giảng lục đều chép rằng: phong tục nước ấy, những ai ngu ngốc phải mặc áo trắng. Nhưng như
Thực lục đã ghi ở đoạn tiếp sau mới thật đúng ý.
[56]
Barabbas, nguyên bản phiên là BaLaBa.
[57]
Tục nước này thường dùng số 6.
[58]
Theo Ngoại lục thì Jêsu bị đánh ước đến 5.000 cái. Nhưng ai ngồi đó đếm mà ghi được như thế?
[59]
Nguyên thư: “Tí gian nhục ao như nồi” nghĩa là nơi cánh tay thịt lõm xuống như cái nồi (chữ nối viết bằng Nôm).
Chúng tôi nghĩ rằng khi bị đánh thì da thịt sưng húp, nói cho có hình ảnh thì gọi là sưng húp như chiếc nồi. Nguyên
thứ viết chữ ao là vết lõm, có lẽ là nhầm, vì da thịt ở tay dẫu bị nát lõm cũng không thể quá to như chiếc nồi được.
Có lẽ đây là chữ đột (vết lồi), một từ trái nghĩa với ao, do tự dạng hai chữ ấy có nét giống nhau rồi liên tưởng mà
chép nhầm.
[60]
Sách Ngoại lục nói: bấy giờ quân lính đã mệt nhoài nhưng Jêsu vẫn còn muốn cho chúng đánh nữa để chuộc tội
cho thiên hạ. Nếu quả có như thế thì ai vào đó mà biết được.
[61]
Tên là Alina.
[62]
Nay các sách đạo đều chỉ nói quân Jiuđê lấy áo đỏ mặc cho Jêsu mà tránh không nói nguyên do tại sao.
[63]
Nguyên văn: phủ việt. Phủ là loại búa quay lưỡi về bên trái, việt là búa quay lưỡi về bên phải. Hai chiếc búa đó
đặt quay lưỡi về hai phía, thường là dấu hiệu tượng trưng cho quyền lực của nhà vua.
[64]
Người này biết đích xác cái phép kín ấy!
[65]
Tức là hình phạt đóng đinh lên giá thập tự bằng gỗ.
[66]
Vì Jêsu vốn lắm râu.
[67]
Nguyên văn: xích (thước ta). 4 xích = 1,33m; 9 xích = 3 mét.
[68]
Núi này là nơi hành hình phạm nhân ở bản trấn, xương người chồng chất như đống đá.
Gôgôtha (Golgotha): tiếng Do Thái. Nguyên bản phiên là CaViĐaSaÔ tức là là phiên theo tên chữ Latinh: Calavario
(tức cũng gọi là núi Gôgôtha).
[69]
Sách Ngoại lục nói: “Tấm khăn ấy hiện vẫn còn ở thành phố Rôma”. Theo lý mà suy thì từ bấy đến nay đã hơn
nghìn năm, làm sao mà có thể không hư nát?
42

[70]
Sách Ngoại lục nói chữ ghi ở miếng gỗ ấy là: “Jêsu ở Nazarét, quốc vương nước Jiuđê”, thật là vô lý!
[71]
Dân tả đạo gọi người thầy cả là “đại sư” (thầy cả).
[72]
Mẹ của Juan là dì của bà Maria.
[73]
Nguyên thư chép: “Thủ đắc lâm chi phong sào thinh toan chú can, tứ chi”. Câu này ý có thể hiểu được, nhưng có
thể là chép thiếu hoặc sai một hai chữ, dịch thật sát có phần khó hiểu: “lấy tổ ong tìm được trong rừng đựng giấm đổ
vào chiếc sào cho uống”. Tạm dịch ý như trên.
[74]
Nguyên thư chép: “Thử tận thế gian sự hĩ”. Chúng tôi có ngờ rằng chữ “gian” trong câu này là chép thừa (theo
thói quen), và thiếu chữ “chi” “Thử tận thế chi sự hỉ” (Đây là việc của ngày tận thế), nhắc lại cái thuyết ngày tận thế.
Tuy vậy, câu chép của nguyên thư là hoàn chỉnh và rõ nghĩa, xin dịch đúng nguyên văn.
[75]
Nguyên văn: cuối giờ thân (khoảng từ 2 – 4 giờ chiều).
[76]
Sao không lên thiên đường mà lại xuống âm phủ? (LâmBô có nghĩa là âm phủ).
Nguyên văn dùng chữ phiên âm: LâmBô, tức là phiên từ chữ limbo = địa ngục, âm phủ.
[77]
Nguyên thư phiên: Phổ Áo giang.
[78]
Nguyên thư phiên là LiPhiTê.
[79]
Bốn mươi bảy ngày sau khi Jêsu chịu nạn. Nay tả đạo gọi là “vào mùa”, số ngày tháng cũng tính như thế, và
kiêng ăn thịt trong những ngày đó.
[80]
Người Tây Dương khi bị hành hình thì thân nhân đến thu nhặt di vật là bắt đầu từ đó.

Quyển IV

Lên núi cao, thể phách [1] Jêsu truyền bí pháp


Hoá chim câu [2] , thể phách Jêsu bịp loè người

Rồi đó, Jêsu khoác mây lên ngồi trên ngọn núi cao, môn đồ sụp xuống vái lạy, trong đó có Jiuse là cha đẻ của
Jêsu [3] . Jêsu nghiễm nhiên ngồi nhận lễ rồi chỉ Jiuse mà bảo rằng: “Thưa bố già, ta vốn chẳng phải là con đẻ của bố,
có đúng vậy không?” Jiuse đáp: “Thưa vâng!” rồi đứng dậy. Jêsu bảo cứ ngồi, Jiuse lại ngồi xuống. Rồi Jêsu hỏi
chung các môn đồ: “Ta thường ngày nói về việc linh hồn người được lên thiên đường [4] . Nay ta về đây, các ngươi
đã tin điều đó là đúng chưa?” Các môn đồ dạ rân vang núi: “Thư thầy tin ạ!” Jêsu bảo bọn họ ngồi thành hai hàng
rồi nói: “Nay ta bảo các ngươi, đời người ta có sống thì có chết. Thọ trăm tuổi rồi chết cũng như mới ba mươi ba
tuổi mà chết, cũng đều là không tránh khỏi một lần chết. Vả lại cuộc sống thì có hạn mà cái chết thì vô cùng. Dẫu
lúc sống giàu sang thế nào, chết là trở thành hư không cả. Chính vì thế ta mới bảo rằng: thế gian nay chỉ là nơi vui
giả [5] . Chi bằng đừng tiếc một chút xác thịt một đời để mà ngưng tụ cho được anh linh muôn nghìn đời. Cho nên,
phải bỏ ngoài tai mọi dư luận, chẳng kể thiên hạ khen chê thế nào, tự mình phải vững chí như sắt đá. Làm được như
vậy hồn thiêng sau khi chết chẳng có vị thần nào sánh bằng”. Các môn đồ đều nói: “Từ rày xin lĩnh thụ những lời
giáo huấn tôn nghiêm của thầy, trước sau không dám thay lòng đổi dạ”.

Jêsu nói tiếp: “Tất cả những phép thuật của ta khi còn sống đều có những ý kín rất sâu xa, ngày trước ta chưa nói với
các ngươi là cốt để đợi đến hôm nay nói ra thì các ngươi mới tin là đúng. Dân chúng ngu khờ cũng sẽ tin vào phép
thuật của các ngươi. Nhưng vì ta là thiên thần nên khi còn sống ta có thể bay lên mây rảy nước làm mưa, làm một ít
phép kỳ thuốc lạ khiến cho người ta phải kinh sợ, trong khi đó âm thầm thực hiện các lễ phép của ta. Nay bọn các
ngươi không có phép thuật thần thông như ta mà chỉ dựa vào thế lực thì cũng có thể thuyết phục người ta được,
nhưng phải tuân theo các phép của ta. Tất cả những phép thuật khi ta còn sống đều do ta làm ra cả, sau khi ta chết thì
chẳng có vị thánh thần nào hơn ta nữa. Không những thế, những kẻ làm vua thiên hạ muốn kéo dài cơ nghiệp muôn
vạn năm, muốn mở rộng biên thùy bờ cõi cũng đều phải tôn thờ ta làm thầy. Chẳng có sự gì ta không làm được,
huống chi làm sống lại một tấm thân nhỏ bé hay sao?”.

Rồi đó Jêsu điểm lại các phép thuật đã làm khi còn sống, lần lượt nêu lên mà dạy cho các môn đồ các điều bí quyết.
Các môn đồ đều chắp tay lắng nghe. Bỗng lúc ấy trên đỉnh núi sáng bừng một đám mây năm sắc rực rỡ. Trong nháy
mắt, ở chỗ thầy trò Jêsu đang ngồi cũng hiện lên vô số lâu đài màn trướng. Bà Maria vừa kinh sợ vừa vui mừng, vội
43

sụp mình lạy rằng: “Kính lạy đức chúa Con!” Jêsu chậm rãi nói: “Về phần xác, ta lấy làm thương tiếc cửa nhà bà.
Nhưng về phần hồn thì ta là con chúa Trời, một sang một hèn, chẳng cần phải nhắc lại làm gì nữa” [6] . Nói đoạn
nhìn sang ngôi lầu phía tây, chỉ tay bảo bà Maria lên ngồi ở đấy. Ngày nay các thầy tu khi được thăng lên chức thầy
cả đều phỏng theo nghi lễ này.

Jêsu ngồi sập cao trên lầu phía bắc [7] bất chợt bước xuống đi tới gần hàng ghế các môn đồ đang ngồi. Mọi người
đều đứng dậy. Jêsu nói: “Ngồi xuống! Ngồi xuống! Các con cứ ngồi yên”. Các môn đồ lại ngồi xuống ghế. Jêsu ôn
tồn nói: “Nay ta bảo các ngươi, các ngươi hãy ghi tạc vào lòng: phép thuật tâm đắc nhất của ta trước hết là ở phép
rảy nước thánh. Thực ra phép nước thánh cũng không có gì huyền diệu sâu sắc lắm đâu. Sở dĩ phải làm phép ấy
trước hết là để mượn dịp mà dụ dỗ cho người ta tin rằng nước ấy có thể giải trừ được mọi tai ương chướng họa. Có
tin như thế, lòng người ta mới ổn định. Lòng yên định thì chí khí mạnh. Chí khí đã vững mạnh thì dầu có vào chỗ
nước sôi lửa bỏng cũng không việc gì không xong. Đã được việc thì người ta lại càng thêm tin tưởng. Cho nên ta
mới nói rằng: dẫu là ma quỷ, hỏa hoạn, chỉ cần rảy nước phép là không có sự gì không qua khỏi. Bí quyết chỉ ở một
điều ấy mà thôi”.

Môn đồ hỏi: “Nếu như thế thì cần gì phải rảy cả lên mâm thờ?” Jêsu đáp: “Phải rảy cả mâm thờ thì người ta càng tin
hơn”. Môn đồ lại hỏi: “Thầy dạy tế trời không dùng thịt, là có ý kín gì?” Jêsu nói: “Tế trời, tế thần, tế người chết, cái
lý cũng như nhau cả. Nếu đã không thì cùng không cả. Chính là muốn bỏ việc thờ cúng người chết, cho nên trước
hết phải bỏ việc thờ cúng quỷ thần. Muốn bỏ việc thờ cúng quỷ thần thì trước hết phải bỏ việc tế trời. Bởi vì, không
tế trời thì trời không phù hộ nữa, không thờ cúng quỷ thần thì quỷ thần không thiêng nữa. Không thờ cúng người
chết, thì người chết không thể tác quái được nữa. Đó là ý kín của ta vậy”.

Môn đồ hỏi: “Chúng con trộm nghĩ: quỷ thần cũng như người chết, nếu không thờ cúng thì càng thêm nhiễu hại.
Người ta vẫn bị nhiễu hại, thì họ biết là thầy trò ta lòe bịp lừa người. Như thế biết làm thế nào?” Jêsu đáp: “Phải vin
vào chúa Trời mà giải thích, rồi rảy nước phép để làm cho có vẻ thần bí, khiến cho dân chúng kiên lòng hướng theo
đạo ta, dẫu mười năm cũng như một ngày, như thế thì quỷ thần và người chết còn có lý nào mà sinh yêu tác quái
được nữa? Vin vào chúa Trời mà giải thích tức là cái thuyết Lusaphê đấy”.

Môn đồ lại hỏi về ý nghĩa của phép chôn sâu không cải táng. Jêsu nói: “Chôn sâu, không cải táng và không khóc
người chết, cũng đều cùng một ý nghĩa như nhau. Nguyên là người chết rồi thì cái xác chôn dưới mồ thường hay
hiện lên làm yêu quái. Nay bảo người ta chôn sâu cho chìm lấp hẳn đi [8] , không cải táng cho xác nát hẳn, thì hồn
người chết dẫu muốn hiện lên làm yêu quái cũng không được. Lại nữa: sau khi người ta chết, hồn vẫn còn phảng
phất quanh đấy, nghe tiếng khóc thì thường trở về. Nay không khóc, khiến cho hồn lìa hẳn cái xác thì làm sao mà
quay về được nữa? Vả lại ý ta bảo bỏ tục để tang là cốt để cho người sống quên hẳn người chết đi, thì cái tinh thần
của đôi bên không thể cảm thông được với nhau nữa. Người chết không còn linh thiêng sinh yêu tác quái được nữa
thì dân chúng càng tin vào đạo ta là linh thiêng. Đó là cái ý kín của ta vậy. Còn về những trẻ con chết từ khi là bào
thai trong bụng mẹ hoặc là chết yểu sau khi sinh cũng thường hay hiện lên làm yêu quái, thì nên phỉnh họ rằng
những trẻ ấy lên thiên đường sẽ cầu nguyện cho cha mẹ, như thế là họ vui ngay. Ta lại lừa họ rằng xác chết của
những trẻ ấy là “thánh thi” (thi thể của vị thánh) thì dân làng sẽ đi đưa đám đông [9] , lại thêm mai táng chôn sâu nữa,
như vậy lũ yêu ranh dẫu còn oan khi cũng phải tan rời.

“Việc bỏ tục xem đất đặt mồ thì thế này: mạch đất là nơi chung tụ anh linh, chọn được huyệt mộ ở những mạch đất
tốt thì con cháu phần nhiều là thông minh tài giỏi. Nay ta phỉnh dụ họ bỏ tục xem đất đặt mồ khiến cho con cháu họ
ngu đần dốt nát thì chúng mới nghe theo những lời thuyết giáo của ta. Việc chọn hướng làm nhà cũng như thế: chọn
được hướng tốt thì con cháu về sau học hành thông minh có kiến thức cao. Ta khuyên họ bỏ tục ấy cũng chính là do
cái ý đã nói. Cho nên ta đã làm những việc ấy cho đến năm ta ba mươi tuổi, thấy nét mặt dân chúng đã trở nên ngu
khờ, khi ấy ta mới dám tự xưng là con chúa Trời [10] , chẳng ai là kẻ không tin lời ta. Các người hễ dụ dỗ được làng
nào là cả làng đều theo đạo ta thì bao nhiêu những nơi sơn xuyên vượng khí khi các ngươi phải thác cớ gì đó mà sai
người ra đào hoặc lấp đi cho dứt. Như vậy, về thần thì bách thần đều bị diệt hết; về người thì cả làng, đều trở nên
44

ngu khờ, chỉ còn biết theo đạo ta mà thôi. Những phép ấy cứ từ từ đem thi hành trong một làng một huyện, rồi lan
dần ra khắp nước thì cả nước đều theo đạo ta. Đối với những nước khác mà cả nước đã theo đạo ta thì cũng dùng
phép ấy mà cắt yểm mạch tốt ở các nơi sơn xuyên đại địa, như vậy thì những nước ấy cũng trở thành ngu dốt, phải
chịu tôn ta làm thầy, đó chính là lúc có thể thu gồm một mối những nước ấy vào với nước ta vậy. Đó chính là ý kín
của ta.

“Về ý kín của phép rửa tội, trước hết phải nói với dân chúng về tội tổ tông truyền kiếp. Dân họ tin chuyện ấy rồi thì
mới làm phép rửa tội được. Nguyên cái đỉnh thóp là chỗ thông khí của trẻ sơ sinh, rảy nước thánh xoa vào chỗ đó là
để cho nhụt khí ấy đi, tiếp đó đọc to câu: “Tả rửa tội cho ngươi …” là cốt để trấn áp cõi lòng của nó. Còn lời nhẩm
trong miệng thì niệm rằng: “Hồn ngươi không khôn, tính ngươi không thiêng” [11] , nhẩm như thế ba lần, thế là bao
nhiêu trí tuệ thông minh của đứa trẻ đều tiêu tan cả”.

Môn đồ lại hỏi: “Đã thế thì như những đứa trẻ tầm thường hèn mọn cần gì phải rửa?” Jêsu đáp: “Đã rửa thì phải rửa
cả! Người ta rối mắt loạn tâm thì càng không nghi ngờ. Còn việc đứa trẻ ấy sống lâu hay chết yểu thì lời niệm nhẩm
trấn áp thông minh cũng chẳng nguy hại gì. Ấy là điều bí quyết huyền diệu của ta vậy” [12] .

Môn đồ lại hỏi: “Đối với những người bản tính cứng cỏi, trước sau vẫn sáng suốt thì làm thế nào?” Jêsu nói: “Đã có
phép Cônfirmaxông: lấy chiếc đinh sắt mài ra lấy bột, hòa với dầu và chất bạc hà. Đinh sắt có tính đâm xuyên, bạc
hà có tính làm tan khí, dầu nước thì khó rửa. Ba thứ ấy sắc thành cao để bôi lên đỉnh đầu cho người chịu lễ. Rồi đó,
tay cầm kiến chỉ trỏ, miệng khấn nhẩm rằng: “Ta đóng đinh lên đầu ngươi, bản tính của ngươi sẽ phải tiêu diệt. Đầu
người ta đóng đinh lên, trí óc ngươi sẽ hết sáng suốt”. Như thế, dầu bạc hà đã dẫn chất dính đâm xuyên vào đầu dân
đạo. Ta lại nhẹ tay xoa mặt người ấy, tưởng như chuyện đùa thôi, nhưng kỳ thực là cốt để cho chất đinh sắt tan ra.
Khấn niệm làm phép xong xuôi, rồi lấy khăn chùi sạch cho hết mùi vị, không cho ai biết. Sau khi đã làm như thế,
hỏi còn khí chất thông minh nào không bị tiêu diệt?”

Môn đồ hỏi: “Phép ấy phải từ 10 tuổi trở lên mới làm được chăng?” Jêsu nói: “Không câu nệ gì, sáu, bảy hay mười
tuổi cũng có thể làm được. Đại khái một đời người sinh ra ắt phải chịu một lần chịu phép đóng đinh niệm chú,
không được để sót người nào. Thường nên nhắc nhở dân chúng rằng: Bất cứ người già hay trẻ con mà chưa kịp phép
Cônfirmaxông thì nay nên đến xin chịu lễ. Họ đã tin ta, tất sẽ dắt díu nhau kéo đến ùn ùn, đều được ta làm phép
đóng đinh cho hết thảy. Đấy là ý kín của phép Cônfirmaxông”.

Môn đồ hỏi: “Tại sao lại nói phép này trong đời chỉ làm một lần, nếu ai nhầm lẫn làm lại một lần thứ hai thì kẻ ấy sẽ
phải đày xuống địa ngục?” Jêsu nói: “Phép này rất thiêng. Nếu làm lần thứ hai thì kẻ yếu bóng vía ắt phải chết, cho
nên ta phải dọa như thế”. Môn đồ nói: “Nếu thế thì phép rửa tội và phép Cônfirmaxông ý nghĩa cũng như nhau, tuy
có phép trước, phép sau, không sợ trùng lặp, nhưng cùng làm không có gì trái ngược”. Jêsu giơ ngón tay chỉ lên môi
mà đáp: “Chính thế đấy!” Môn đồ lại hỏi: “Nếu làm phép Cônfirmaxông rồi mà đầu óc người ta vẫn sáng suốt thì
làm thế nào?” Jêsu nói: “Biết làm thế nào nữa! Không đè bẹp được thì họ còn sống thì phải đè bẹp khi họ đã chết!”
Mặc dù ngạc nhiên hỏi lại: “Thầy dạy thế nghĩa là thế nào?” Jêsu đáp: “Ấy tức là nói phải dùng các phép xức dầu
cho người ốm, và làm lễ Quy lăng, Điện táng cho người chết. Người ốm sắp chết ắt phải bảo họ xưng tội, đến lúc
hấp hối thì phải làm phép để thu linh hồn. Linh hồn đã bị thu thì không hiện lên được nữa. Cho nên phải dụ dỗ, bảo
họ hối lỗi thì được lên thiên đường. Nếu họ chịu hối lỗi tức là họ có lòng lành, lòng họ lành thì không có dũng cảm
nhuệ khí [13] , không có dũng cảm nhuệ khí thì làm sao còn biến hóa được nữa? Ấy là ý kín thứ nhất vậy”.

“Rồi đó các ngươi lại đem bánh thánh dâng lên trước bàn thờ ta, hai tay cầm kiếm vung múa làm phép, mím miệng
niệm nhẩm khẽ đọc mấy chục lời niệm nhẩm: “Cầu chúa Jêsu hiện thân vào những miếng bánh này, bánh vào lòng
dạ, tâm hồn kẻ kia phải u tối, đến chết là hết linh thiêng”. Các ngươi cứ ghé sát mặt kẻ hấp hối mà niệm, phả nhiều
hơi thở cho da mặt kẻ ấy ẩm ướt. Lễ xong, các ngươi lại cầm kiếm liên tiếp chỉ trỏ làm dấu chữ thập để áp đảo.
Trong một chiếc bánh có linh hồn của ta, hơi thở của các ngươi cùng là lời niệm chú bắt quyết để ràng buộc. Cả ba
thứ ấy nuốt vào lòng dạ thì hồn khí của kẻ kia phải suy nhược, làm sao cho khỏi không tan? Ấy là ý kín thứ hai
45

vậy”.

“Các ngươi lại còn đọc sách an ủi [14] khiến cho người hấp hối cảm thấy thanh thản trong lòng. Trong lòng thanh
thản thì khí chất mềm yếu. Khí chất mềm yếu thì linh hồn không thiêng. Ấy là ý kín thứ ba vậy”.

“Đến khi làm phép xức dầu, các ngươi tay trái bưng bát dầu [15] , tay phải quệt dầu bôi lên thóp và đỉnh đầu, vừa bôi
vừa nhẩm niệm: “Chiếc đinh thứ nhất đóng vào thóp ngươi, sau khi chết hồn ngươi phải lang thang phiêu giạt”. Đọc
như thế ba lần, sau mỗi lần lại vung tay chỉ trỏ làm phép. Tiếp đến bôi dầu ở tay trái, làm phép như trước mà nhẩm
niệm rằng: “Chiếc đinh thứ hai là đóng vào tay trái ngươi. Tay trái ngươi gãy khuỵu, không làm hại được ai”. Lại
xức dầu cho tay phải, nhẩm niệm rằng: “Chiếc đinh thứ ba đóng vào tay phải ngươi. Tay phải ngươi gãy khuỵu,
không làm hại được ai”. Tiếp tục xức dầu cho chân phải, nhẩm niệm: “Chiếc đinh thứ tư đóng vào chân phải ngươi.
Chân phải ngươi gãy què, không thể gượng dậy sinh yêu được nữa”, cách vung kiếm làm phép như cũ. Lại xức dầu
cho chân trái, nhẩm niệm: “Chiếc đinh thứ năm đóng vào chân trái ngươi, chân trái ngươi bị liệt, xuống đất không
thiêng”. Cách thức vung kiêm làm phép như trên. Ấy là điều kín thứ tư”.

“Phàm những người không có dũng khí thì phải khiếp sợ, bị xua đuổi hắt hủi thì hồn phải tiêu tan, khí chất yếu đuối
thì phải suy tàn, bị đóng đanh làm phép thì phải què liệt hẳn. Làm đủ cả bốn phép ấy lại thêm phép chôn sâu nữa,
thử hỏi âm hồn của kẻ kia có còn linh thiêng được chăng?”.

Môn đồ lại hỏi: “Lúc khâm liệm người chết, thầy phải đến làm lễ tận nhà, vây màn che trướng bốn bề, ý kín của việc
ấy là thế nào?” Jêsu đáp: “Khi người ta mới chết, khí thiêng bay đi, ta sợ rằng bấy nhiêu phép thuật cũng chưa đủ áp
đảo nên phải đích thân đến tận nơi. Sau khi bảo mọi người lui hết ra ngoài, ta phỉnh cho con cháu người chết quỳ lạy
mà cầu khấn, một mình ta vào trong màn kín đi vòng xung quanh tử thi ba vòng, vung tay làm dấu chữ thập và niệm
nhẩm để cho hồn diệt hẳn. Lời niệm nhẩm rằng: “Hồn ngươi thoát xác cho nhanh, chần chừ ắt bị đóng đanh chém
đầu”. Rồi lấy đinh nhọn đâm dứ vào tròng mắt người chết. Như thế tiếng gọi là đi vòng quanh người chết để cầu
niệm, nhưng thực ra lúc đó đã làm phép đâm cho kẻ chết mù mắt, dẫu muốn làm gì cũng không được nữa [16] . Khi
đưa tang đến huyệt, lại nhẩm niệm: “Nay xác ngươi đây, vùi xuống đất dày, cũng hồn nát thảy, tuyên không vãng
lai” [17] . Niệm xong bảo người đi đưa đám rằng: “Càng lấp nhiều đất, được phúc càng nhiều”. Mọi người nghe nói
thế tranh nhau ném đất xuống huyệt. Như vậy, nếu kẻ kia có chút hồn thiêng rơi rớt nào cũng phải kinh sợ tẩu tán.
Đó cũng là một ý kín nữa”.

Môn đồ nghe Jêsu nói như vậy đều ngạc nhiên kinh sợ, đưa mắt nhìn nhau. Jêsu bặm môi trừng mắt hỏi: “Chớ lộ
cho ai biết! Chớ lộ cho ai biết! Nói lộ ra thì nguy hại đến thân!”

Môn đồ lại hỏi về ý kín của lễ Quy lăng, Jêsu đáp: “Lễ Quy lăng có hai ý. Một là nếu không phải nhà phú hào giàu
có thì không có tiền làm nổi lễ ấy. Hai là nếu không phải hồn của hạng phú hào thì cũng không cần phải lễ ấy.
Nguyên là linh hồn của kẻ phú hào rất khó đè ép. Nay các ngươi cứ mượn tên ta mà làm cho có vẻ thần bí, trương lễ
mộ lên mà lòe bịp bọn họ. Ý kín chỉ ở khi đi vòng quanh tử thi. Trước hết làm dấu chữ thập, đứng trước đầu quan tài
niệm nhẩm: “Ta chém đỉnh đầu ngươi, đầu ngươi rơi địa ngục, đừng có kêu van! Chớ mong thờ cúng”. Rồi đi sang
phía bên trái quan tài, niệm rằng: “Ta trói bên trái bên trái xiết buộc không thể múa may mong người thờ cúng!” Đi
xuống phía chân người chết, niệm rằng: “Ta trói chân ngươi, chân ngươi đau xiết, không thể về nhà báo mộng xin
ăn”. Các câu niệm phía bên phải cũng niệm như phía bên trái. Rồi đó cho thắp nến sáng bốn bên để đốt đuổi âm hồn.
Làm như vậy, dẫu kẻ kia khí phách hùng dũng đến đâu, linh hồn cũng không thể không tan lìa”.

Môn đồ lại hỏi phép Điện táng có những ý kín gì. Jêsu đáp: “Người ta lúc sống thì có sinh khí, chết thì có anh linh.
Các phép tuy nhiều, nhưng vẫn chưa đè nén được hết, cho nên ta mới đặt ra phép này. Nhà thờ là chỗ đông người tụ
họp, đưa thi hài người chết vào chôn trong điện thờ thì người chết dẫu có linh cũng không biết nương tựa vào đâu, ắt
phải sợ hãi bỏ trốn. Ý kín là ở chỗ đó”.
46

Môn đồ lại hỏi rằng: “Con trẻ chết non cũng có linh khí, có cho đưa vào chôn ở nhà thờ không?” Jêsu đáp: “Sao lại
không được?”

Môn đồ nói: “Chỉ sợ năm tháng lâu dần, âm khí chứa chất nhiều, ắt sẽ hiện lên làm ma quái”. Jêsu nói: “Chẳng phải
ta còn có phép bỏ thờ cúng người chết hay sao? Bỏ thờ cúng thì ma quỷ không biết nương tựa vào đâu, không có nơi
nương tựa thì dẫu có anh linh, lâu ngày rồi cũng bị tiêu diệt”. Môn đồ lại hỏi: “Người ta ai mà chẳng có lòng thương
xót người thân. Chỉ sợ rằng có khi người ta mộng mị chiêm bao thấy người thân kêu đói gọi khát thì thương mà
cúng tế, như vậy không biết thuyết phục ngăn cản thế nào?” Jêsu nói: “Mắt đã bị đâm mù rồi, làm sao còn trở về báo
mộng được”. Môn đồ nói: “Cứ coi là có như vậy thì làm thế nào?” Jêsu im lặng suy nghĩ hồi lâu [18] rồi cười đáp:
“Ta vừa nghĩ ra một cách”. Môn đồ cũng cười mà hỏi lại: “Thưa thầy cách ấy là thế nào?” [19] Jêsu nói: “Hằng ngày
khi làm lễ, các ngươi phải nói trước rằng: “Ma quỷ bịa ra nhiều cớ để mê hoặc dụ dỗ, chúng thường bắt chước y hệt
như dáng mạo người thân của gia chủ, hiện vào mộng mị để kêu ăn xin uống, ở làng nọ có người tưởng là thần thật,
bèn bày soạn mâm cỗ cúng tế. Về sau, khi người kia chết, bọn ma quỷ kia bèn tố cáo với chúa Trời rằng người kia
phạm vào tội thờ cúng tổ tiên, Đức chúa Jêsu bèn phạt đày người kia xuống địa ngục. Từ nay về sau, dân chúng
không nên tin vào mộng mị huyền ảo để khỏi phải chịu khổ cực như người làng kia. Các ngươi cứ nói như thế, tất ai
nấy đều lấy làm sợ, dẫu cho hồn người thân của họ hiện về báo mộng, họ cũng cho đó là ma quỷ dưới địa ngục chứ
không soạn cỗ bàn cúng tế”. Môn đồ cười mà nói rằng: “Thầy quả là bậc tài trí sáng suốt”.

Phêrô vốn là kẻ hay nói ngang, nghe xong liền nói: “Đúng là thầy đã giết người ta lúc sống lại giết cả người ta khi
chết. Chẳng hay vì sao thầy lại chịu khổ mà làm những chuyện ấy” [20] . Jêsu đáp: “Không làm cho bọn họ ngu si, thì
làm sao mà tôn các ngươi lên được? Không đè nén linh hồn của bọn họ thì làm sao cho kẻ khác biết đến
ngươi?” [21] Môn đồ hỏi: “Như thế các thầy cả khi sống hay khi chết cũng đều phải chịu những phép ấy chẳng khác
với người thường thì còn gì là linh thiêng? Nếu miễn cho các thầy cả không làm những phép ấy thì người ta ắt sẽ
sinh nghi ngờ”. Jêsu đáp: “Các người phải biết rằng những phép ta vừa nói trên là để đè nén dân chúng, còn đối
riêng với các thầy cả đạo ta thì khác chứ! Các phép lễ thì vẫn như thế, nhưng ý nghĩa thì khác. Vẫn có việc làm phép
đâm dứ vào tròng mắt như đối với người thường, nhưng ý nghĩa lại là để giữ cho nó được toàn vẹn. Khi thầy cả sắp
chết cũng làm lễ giải tội, nhưng phép giải tội đây cốt để định tâm, đọc sách luyện [22] là để định khí, khuyên răn thầy
ấy không nên lo sợ. Không lo sợ thì dũng mãnh. Chí khí kiên định và dũng mãnh thì sau khi chết linh hồn sẽ ngưng
tụ [23] . Khi làm phép cho ăn bánh thánh, đọc lời nguyện nhẩm rằng: “Cầu Chúa giáng lâm linh hồn cho miếng bánh
này, bánh vào lòng dạ, hồn người thông tỏ trăm lần”. Rồi đó làm phép xức dầu, lấy nước lã [24] rảy lên đỉnh thóp và
chân tay. Đọc lời niệm nhẩm, trước hết niệm về đôi mắt: “Cầu cho đôi mắt ngươi ngời tỏ, sau khi chết sáng láy như
sao đêm”. Tiếp đến niệm nhẩm cho đôi tay: “Cầu cho đôi tay thiêng, tay thiêng cử động như sống, sau khi chết vẫy
cờ cầm loa” [25] . Niệm nhẩm cho đôi chân: “Cầu cho đôi chân thiêng, chân thiêng đều nhanh, sau khi chết đạp mây
đuổi gió”. Lời niệm nhẩm cho đầu: “Cầu cho ngươi đầu thiêng, đầu thiêng đeo ba vầng, sau khi chết chóng được lên
thiên đường”. Đến khi nhập liệm, thay mặc lễ phục, đội mũ có dải tua, được chôn cất trong nhà thờ. Rồi đó làm hiệu
cho con chiên cùng lúc khóc to để kêu gọi linh hồn của thầy cả ấy. Lễ Phần mộ và lễ Quy lăng, cũng theo nghi thức
như đã nói. Khi đi quanh tử thi cũng nhẩm đọc những lời cầu niệm như thế. Tuy vậy, việc mai táng thi hài thầy cả
trong điện thờ thì phải khác với người thường, khi khấn niệm cầu cho linh hồn được lên thiên đường, lo gì hồn họ
không thiêng? Há các ngươi chẳng biết đối với những kẻ khác thì ta cầu cho hồn họ bị chìm diệt hẳn đi hay
sao?” [26] .

Môn đồ hỏi: “Lúc trước thầy nói ngưng tụ khí phách thì thành anh linh. Thầy ngày thường có nhiều phép lạ, nhưng
chung cục cũng phải cam chịu tử hình, như thế đâu phải là khí phách ngưng tụ?”. Jêsu đáp: “Các ngươi không hiểu
được điều đó! Ta cắt đầu dương vật, sống một mình không lấy vợ chỉ là khí phách ngưng tụ nhỏ. Dám cam chịu
chết, ấy mới là khí phách ta ngưng tụ lớn. Ý kín là ở chỗ đó. Phàm người ta chịu chết có nhiều cách: hoặc là chết vì
nước sôi lửa bỏng, hoặc chết vì đói khổ, bệnh tật, tuổi già, tuy cũng có hồn thiêng nhưng chẳng được bao lâu. Chỉ
người nào chết nhưng không phải do số mệnh bắt phải chết [27] thì chí khí mới thật sống động, muôn đời linh thiêng.
Ngày thường ta chưa dám nói rõ, nhưng trong lòng thì vẫn cầu mong như thế, chỉ lo không được toại nguyện mà
thôi! Nay đã được toại nguyện, ta rất vui lòng. Chính nhờ vậy mà ta mới được vẻ vang như ngày nay” [28] .
47

Môn đồ nói: “Dù vui lòng chịu chết chăng nữa, nhưng chịu đựng trăm chiều đau đớn như vậy mà vẫn lặng yên
không động thì sự ấy ít người kham nổi”. Jêsu nói: “Các ngươi chưa hiểu. Nếu một chút dao động thì chí khí khiếp
nhược. Chí khí khiếp nhược thì không cứng mạnh. Không cứng mạnh thì linh hồn tiêu tan. Tất phải lấy sự kiên nhẫn
chịu đựng mà ngưng tụ, lấy sự thong dong mà nuôi dưỡng thì chí khí càng thêm cường tráng, sống động linh thiêng.
Ấy là chỗ đạo ta khác với đạo người vậy. Không như thế thì làm sao có được ngày hôm nay” [29] .

Các môn đồ nghe dứt đều lạy tạ hồi lâu.

Môn đồ lại hỏi: “Ý kín của việc giết người chết thì đã nghe thầy nói rõ, nhưng còn điều kín về việc giết người sống
cũng xin thầy cho chúng con được biết. Nhưng đối với hạng trẻ nhỏ chưa làm phép rửa tội, chẳng may bị bệnh cấp
mà không gặp thầy cả thì làm thế nào?” Jêsu đáp: “Không gặp thầy cả thì sẵn ai là người có đạo cũng có thể làm
thay được. Chỉ có việc rảy nước lên đầu và cầu niệm một câu nhân danh chúa Trời là đủ. Lời mật niệm như vậy là
để cho giáo đồ đã từng chịu phép rửa tội khỏi mượn cớ có phần bị lôi thôi”.

Môn đồ lại hỏi về ý kín của phép xưng tội, giải tội như thế nào. Jêsu đáp: “Trước khi xưng tội một hai ngày, con
chiên phải ngồi một nơi yên tĩnh mà suy xét các tội lỗi của mình [30] . Khi làm lễ [31] , các ngươi [32] ngồi trong cửa
sổ, con chiên quỳ bên ngoài. Các ngươi sẽ bảo rằng: “Ta thay mặt Đức chúa Jêsu lắng nghe con thú tội [33] . Bao
nhiêu điều lỗi trước đây, con phải thành thật kể hết, không được che giấu điều gì. Nếu con giấu giếm một tội nào thì
sau khi chết, hồn con bị đày xuống địa ngục làm mồi cho quỷ dữ. Dưới địa ngục có quỷ giữ sổ ghi tội, đến khi con
chết, quỷ sẽ đưa sổ trình lên chúa Jêsu phán xét bắt đày xuống địa ngục. Con chiên lo sợ ắt không dám giấu giếm
điều gì. Xét trong các tội lỗi thì có mấy điều vào loại tội nặng, ấy là phạm vào các điều cấm thờ quỷ thần, cấm xem
thiên văn địa lý, cấm bói toán cúng là điều cấm không được thờ cúng tổ tiên. Phải dọa nạt bọn họ rằng bấy nhiêu
điều trọng tội đều là những tội bất kính đối với chúa, chết xuống địa ngục sẽ bị quỷ ăn đầu. Kẻ nào thờ cúng tổ tiên
thì bị quỷ moi mắt [34] , kẻ nào ăn cỗ thờ cúng thì bị quỷ cưa mồm. Cứ phải dọa cho con chiên kinh sợ, tuyệt hẳn
không dám phạm vào các điều cấm, dứt hẳn không dám nhìn ngó đến những chuyện ấy nữa, có như thế bọn họ mới
dốc lòng theo đạo ta”.

Môn đồ lại hỏi: “Cấm họ không làm những việc ấy là đủ, sao lại còn cấm không cho họ xem người khác cúng tế,
vậy có khắt khe quá không?” Jêsu đáp: “Người ta ai cũng có lòng thương xót người thân, nếu để cho con chiên xem
người ngoại đạo cúng tế thì lòng họ thương xót không nỡ bỏ, ắt rồi cũng theo nhau bày soạn cỗ bàn cúng tế, không
theo đạo ta nữa. Cho nên thà cứ đề phòng khắt khe như thế, khiến cho bọn họ phải chịu làm chó lợn tùy theo sự chỉ
huy của ta! [35] . Còn các điều cấm khác như giết người, bất hiếu, gian dâm, trộm cướp, dối trá, ham muốn vợ người,
tham lam của người, v.v. thì dẫu họ có xưng ra cũng không nên quở trách nặng lời. Tuy vậy cứ phải để cho nói hết,
có thế người ta càng tin hơn. Nếu bảo họ không phải xưng những tội ấy thì họ biết là chúng ta lừa dối. Ta nói đến
thế, các ngươi có hiểu không?” Môn đồ vâng dạ đáp hiểu cả.

Lại có người hỏi: “Nhưng xin thầy cho biết quả thật phép của thầy có giải được tội cho người ta không?” Jêsu đáp:
“Phàm những kẻ phạm lỗi nhưng sau biết hối tức là người có lòng lành. Miệng người ta tự nói ra điều lỗi ấy thì về
sau không tái phạm nữa. Huống chi ta đã phỉnh rằng chúa Trời tha tội cho họ, ai mà chẳng vui mừng tin điều ta nói
là thật, từ đó họ sẽ tự sửa mình, đổi lỗi. Đó là một thủ thuật của đạo ta. Còn như thật sự có giải được hay không thì
ai mà biết được?”

Các môn đồ nghe nói vậy đều cười ồ lên, Jêsu bèn chỉ tay bảo rằng: “Chớ nói lộ chuyện ấy!”

Môn đồ lại hỏi: “Những kẻ phạm các tội như trộm cướp, tà dâm mà cũng được giải tội thì về sau kẻ ấy lại càng rông
càn hơn nữa, phải làm thế nào?” Jêsu yên lặng hồi lâu [36] rồi đáp: “Phải dọa họ rằng phép chúa Trời ai tái phạm thì
không được tha thứ nữa. Con hãy ra phòng lễ có đông đảo mọi người một mình đứng dậy mà nói: “Con trót phạm
điều cấm, tự biết là phạm phép lắm, xin Chúa trừng phạt không tha” [37] . Chúa Trời thương người biết hối, sẽ tha
48

thứ hết mọi tội lỗi cho ngươi. Nếu không làm như thế ắt bị đày xuống địa ngục không còn nghi ngờ gì. Kẻ kia sợ hãi
mà phải vâng theo, đã vâng theo thì biết xấu hổ, không dám tái phạm nữa”.

Môn đồ hỏi: “Bảo con chiên kể rõ tội lỗi, không biết họ có chịu nghe theo không?” Jêsu đáp: “Chỉ cần bảo họ nói
mập mờ là phạm phép của Chúa thì có can hệ gì mà không theo?”. Môn đồ đưa mắt nhìn nhau mà cười, Jêsu thấy
vậy cũng cười theo.

Môn đồ lại hỏi: “Đàn bà có tính hay thẹn, nếu phạm tội ấy chắc chẳng ai dám nói ra?” Jêsu thấp giọng bảo rằng:
“Thì cứ tùy theo mức độ nặng nhẹ, bảo họ nộp tiền hoặc vải lụa để chuộc tội, như thế càng có lợi cho ta chi dùng,
chứ có sao đâu! Người kia mừng được tha tội, lòng tin đạo lại càng bền vững hơn. Ý kín là ở chỗ ấy vậy”. Môn đồ
lại nói: “Thầy dỗ dụ người ta đổi lỗi thật là giỏi quá!” Jêsu nghe vậy cười vang [38] .

Môn đồ lại hỏi: “Xin thầy cho biết ý kín của phép bánh thánh như thế nào? Vì sao những người đến xưng tội đều
phải ăn?” Jêsu đáp: “Người ta đã xưng tội rồi mà không có phép gì để tỏ vẻ thần bí thì họ không tin, vì thế ta phải
đặt ra bánh thánh và làm phép kín khi cho người xưng tội. Các ngươi hãy dỗ họ rằng: “Con đã được giải tội, hồn con
từ nay được trong sạch. Đức chúa Jêsu ngự trị trong hồn con sẽ ban ánh sáng cho con”. Người xưng tội sẽ vui mừng
nghe theo các người. Đến khi làm lễ, các cách mím miệng thổi hơi, giơ tay chỉ trỏ bắt quyết cũng như trước, nhưng
lời niệm kín thì đọc khác đi. Niệm rằng: “Cầu chúa Jêsu giáng linh cho miếng bánh này, bánh nhập vào thể xác sẽ
gò hãm cõi hồn ở nơi u tối, kẻ kia thành người vô tri vô giác, chỉ biết tuân theo đạo Chúa”. Đã có linh hồn của ta, và
do ta làm dấu bắt quyết, hợp ba thứ ấy [39] lại thì kẻ kia ắt phải tối tăm ngu muội. Lại phải dạy con chiên khi ăn bánh
thánh phải nuốt trửng, dọa rằng: “Bánh này là một phần thân thể của chúa Jêsu, chớ nhai mà bị tội chết”. Nếu cứ để
cho nhai thì bánh sẽ ngấm nước bọt có mùi hôi thối, người ta không tin nữa. Ấy là ý kín của phép bánh thánh” [40] .
Môn đồ nhân đó lại hỏi về ý kín của rượu thánh, Jêsu đáp: “Bánh thánh và rượu thánh, không có hai thứ ấy thì
không thành lễ. Dùng rượu là để tượng trưng cho máu của ta, bánh là để tượng trưng cho thịt của ta. Phải có khí vị
của ta ở đó thì ta mới có chỗ dựa mà giáng linh”. Môn đồ hỏi: “Linh hồn của thầy dựa vào đâu mà giáng xuống?”
Jêsu đáp: “Dựa vào phần xác của ta mà con chiên đã được ban hưởng, cho nên gọi là giáng linh”. Môn đồ lại hỏi:
“Nếu thế thì bánh và rượu có ý nghĩa cũng như nhau thôi, tại sao chỉ có con chiên ăn bánh chứ không được uống
rượu, còn các thầy cả thì được ban hưởng cả hai thứ đó?” Jêsu đáp: “Bánh thì có thể làm được nhiều, chứ rượu thì
lấy đâu ra cho nhiều?” Môn đồ lại hỏi: “Vậy sao không dùng rượu gạo [41] mà lại dùng nước ép quả nho [42] để đến
nỗi khó kiếm thế?” Jêsu đáp: “Nếu dùng rượu gạo thì không khác với lễ tế thần [43] , người ta sẽ nghi ngờ đạo ta”.
Môn đồ hỏi: “Cứ như ý thầy thì bánh thánh của các thầy cả đạo ta phải có phép riêng chăng?” Jêsu đáp: “Bánh thánh
và rượu thánh ban cho các thầy cả thì có lời niệm khác. Lúc uống rượu thánh thì niệm rằng: “Cúi nguyện Đức chúa
Jêsu giáng thân xuống chén rượu này, rượu vào lòng dạ mở trí tuệ diệu kỳ cho con”. Niệm xong đánh chuông, nâng
chén rượu lên để con chiên vái lạy, rồi dốc chén uống cạn. Về bánh thánh, bánh vào lòng dạ thêm trí tuệ diệu kỳ cho
con”. Niệm xong đánh chuông, giơ miếng bánh lên cho con chiên vái lạy, rồi bẻ miếng bánh ra làm đôi cúi đầu mà
nuốt. Như vậy, bánh ấy rượu ấy sau khi được con chiên vái lạy [44] lại càng linh thiêng hơn. Linh hồn ta nhập vào các
ngươi, các ngươi hóa thành thân ta. Rồi đó phân phát bánh nhỏ cho con chiên như cách thức đã nói trước”.

Môn đồ hỏi: “Thưa thầy như thế phải chăng ý kín của phép rượu thánh chỉ có một, còn phép bánh thánh thì có hai ý
kín khác nhau?” Jêsu đáp: “Quả đúng như lời người đấy. Có loại bánh của người khỏe, có loại bánh của người ốm,
có loại bánh thánh của thầy cả. Ba loại bánh ấy đều kèm theo những lời niệm dùng riêng cho khác nhau” [45] .

Môn đồ hỏi về ý kiến của phép chuộc tội, Jêsu đáp: “Đó là thủ thuật ta dùng để thử cho biết con chiên có thật lòng
tin đạo hay không. Bảo họ đọc kinh, nộp tiền, liếm đất, họ đều nhất nhất làm theo, như thế thì biết họ thật lòng hối
lỗi, nào có gì mà bảo là chuộc đâu!”. Nói đến đó thầy trò Jêsu nhìn nhau mà cười rộ [46] . Môn đồ hỏi: “Nộp tiền là
sự việc rõ ràng, có thể biết được, còn như tụng kinh, liếm đất là những việc lờ mờ thì chúng ta làm sao mà biết
được?” Jêsu đáp: “Có khó gì đâu! Nguyên là con chiên sợ nói dối phải tội cho nên không dám nói dối ta. Đợi khi họ
đến xưng tội lần sau, ta sẽ hỏi họ: điều lỗi lần trước con đã chuộc chưa? Nếu họ trả lời “đã” thì tin là đúng. Điều đó
đã thật thì biết lòng tin đạo của họ cũng là chân thật vậy”.
49

Môn đồ hỏi ý kín của lễ Phần mộ như thế nào, Jêsu đáp: “Lễ mồ và lễ Misa nguyên do cũng chỉ là một mà thôi: đó
là vì người ta ai cũng có lòng thương xót người thân, nếu dứt hẳn cái tình cảm ấy đi, không theo tục lệ cũ một chút ít
nào, gò bó lâu ngày không chịu nổi thì người ta sẽ không theo đạo ta nữa. Cho nên ta phải đặt ra hai lễ ấy để lừa gạt
con chiên làm cho họ yên lòng” [47] . Môn đồ lại hỏi về ý kín của phép Matrimonitô, Jêsu đáp: “Vợ chồng ở đời có
nhiều người muốn bỏ nhau, hoặc là vẫn cùng nhau chung sống nhưng trộm nhớ thầm yêu kẻ khác, cho nên bắt họ
phải làm lễ yết chúa Trời, xin Chúa chứng giám là cốt để cho họ sợ mà không dám làm bậy. Ý kín chỉ có thế mà
thôi. Còn như bảo họ xưng tội là cốt để trấn áp, làm các phép lễ là để tỏ vẻ thần bí, bảo họ úp tay lên nhau là thể
hiện tình thân yêu, ban nhẫn cưới là để cho họ ghi nhớ, ca hát là để thêm phần văn hoa. Đó đều là những nghi thức
phụ trợ thêm vào mà thôi. Còn như cùng một phép cưới mà phân biệt ra đại hôn lễ và tiểu hôn lễ chỉ khác nhau ở
chỗ: tiểu hôn lễ là lễ cưới của người nghèo, còn đại hôn lễ là lễ cưới của nhà giàu. Bọn họ đều là con chiên của đạo
ta cả, nhưng còn phân biệt khi làm lễ thì điều đó các ngươi còn chưa hiểu, lát nữa ta sẽ nói rõ [48] . Còn về những lời
khuyên răn khi họ xưng tội để làm lễ cưới thì có khác so với những lời khuyên răn con chiên trong các buổi xưng tội
bình thường, ta đã nói với các ngươi rồi. Riêng lần xưng tội để làm lễ cưới thì chờ cho họ nói xong, các ngươi sẽ bảo
họ rằng: “Đối với các cặp vợ chồng trẻ, lũ quỷ ở địa ngục thường len lỏi vào tận nhà xúi cho vợ chồng đam mê dâm
dục rồi chúng nhất nhất ghi hết vào sổ để sau đem trình với chúa Jêsu [49] bắt đày xuống địa ngục. Các con chỉ nên
giao hợp một tháng hai lần thì mới đúng phép [50] . Nếu chịu được mỗi tháng một lần thì đó là điều rất được phúc để
lên thiên đường [51] . Ta từng thấy một đôi vợ chồng vì dâm dục quá mà phát thai trong bụng người chồng [52] , chỉ
hơn 5 tháng thì hai vợ chồng nhà ấy đều chết cả. Các con phải nên cẩn thận sự ấy”. Những lời khuyên trên đây nói
cho cả vợ chồng cùng nghe. Nhưng lại sợ rằng khó bịp được người chồng, cho nên phải lừa dọa người vợ thì dễ hơn.
Lừa dọa được người vợ thì vợ ngăn trở chồng, thế mới là diệu kế [53] . Cho nên phải dọa người vợ rằng: “Đàn bà mà
khêu gợi chồng làm sự ấy thì nặng tội hơn. Chồng ép giao hợp nhiều lần mà vẫn ưng chịu, thì trước hết cũng cứ là
tội của vợ [54] . Nay vợ chồng các con còn son trẻ, nếu sớm hôm đọc kinh cầu nguyện thì được chúa Jêsu yêu mến
mà cho sinh con đẻ cái, không cứ là phải giao hợp nhiều [55] . Họ đã tin lời chăm lo tụng kinh không rỗi thì cũng bớt
tơ tưởng chuyên nam nữ trong buồng riêng. Từ khoảng bốn mươi tuổi trở lên, tính tình người ta bình tĩnh, ít ham
muốn nhục dục, thì không phải khuyên bảo gì nhiều. Còn đối với hạng dưới bốn mươi khi vào xưng tội, trước tiên
đều phải hăm dọa như thế”.

Môn đồ hỏi: “Nếu họ vâng dạ bề ngoài, nhưng khi về nhà chứng nào tật ấy thì biết làm thế nào?” Jêsu đáp: “Những
cặp vợ chồng trẻ vào xưng tội đều phải dọa rằng: “Nếu con mà làm chuyện kín trong buồng nhiều quá thì tội ác
chồng chất, không che nổi mắt Chúa. Nay ta thấy khí sắc vợ chồng con không được như trước, xem chừng mệt mỏi
ủ rũ lắm. Quỷ đã ghi hết tội của các con để trình với chúa Jêsu bắt đày xuống địa ngục”. Tính đàn bà thường hay
thẹn, ắt sẽ lạy khóc, nhất nhất kể hết. Kiểm tính xem họ ăn nằm với nhau bao nhiêu lần [56] rồi sau mới khuyên rằng:
“Từ đây về trước thì tha thứ cả, nhưng từ nay về sau thì phải răn lòng!” Người vợ về nhà sẽ bảo chồng: “Cha xứ có
mắt thần, không nói, cha cũng biết. May mà nói ra khỏi đày xuống địa ngục”. Vậy là từ sau họ không dám giao hợp
nhiều nữa”.

Môn đồ hỏi: “Chỉ sợ họ đem chuyện ấy nói lộ ra thôi”. Jêsu nói: “Cái ấy thì có gì phải sợ! Việc kín trong chỗ buồng
the, vợ chồng nhà ai nhà ấy biết, họ dại gì mà nói với người ngoài?” Môn đồ lại hỏi: “Làm cái việc bí mật ấy liên
quan đến ý kín như thế nào?”

Jêsu đáp: “Nếu không có ý kín thì cần gì phải nói cho thêm phiền. Nguyên do là vì giao hợp nhiều thì sinh đẻ lắm,
đạo ta khó kiềm chế được. Vả lại sinh đẻ nhiều không ngừng thì đàn ông thế nào cũng lấy vợ bé. Cho nên phải dọa
như thế để giảm bớt việc sinh đẻ của bọn họ”. Môn đồ hỏi: “Nếu họ chẳng chịu nghe thì biết trị thế nào?” Jêsu cười
đáp rằng: “Các ngươi phải khuyên bảo như thế cho hết chức trách của mình, chứ lòng người ta thì biết thế nào mà
phòng trước được? Nhưng người ta phần nhiều ngu khờ, còn những kẻ cứng đầu cứng cổ thì cũng không mấy, chẳng
cần phải quá lo xa đề phòng”. Môn đồ đều cười rộ [57] . Jêsu nói: “Thi hành phép cưới như thế, những kẻ sợ chúa
Trời chẳng bao giờ dám ăn ở hai lòng, chuyện ấy không phải nói đến nữa. Còn như vợ chồng lấy nhau hợp sở
nguyện thì phép của ta lại càng tỏ ra là đúng. Đại để thân thuộc trong 5 hạng để tang [58] thì từ hàng anh em con chú
50

con bác trở lên tình còn thân thiết không nỡ lấy nhau, từ hàng ấy trở xuống quan hệ đã xa, có thể muốn lấy nhau rồi.
Khi làm lễ giải tội phải hỏi kỹ đôi bên trai gái để biết rõ ý muốn của họ. Sau đó dọa cha mẹ đôi bên rằng: Chúng nó
muốn lấy nhau là do ý chúa Trời đã định trước. Nếu không cho chúng được thành vợ chồng tức là làm sai ý Chúa,
ngày sau sẽ bị đày xuống địa ngục [59] . Cha mẹ đôi bên sợ mà phải cho lấy nhau. Trai gái được toại nguyện thì có lý
gì mà bỏ nhau nữa. Đó cũng là ý kín vậy”. Môn đồ nói: “Dựa theo tình cảm của người ta để mà thực hiện ý kín của
mình, thầy thật là giỏi quá! Nhưng mà cho người cùng chung huyết thống lấy lẫn nhau như thế thì có đúng đạo lý
không?” Jêsu đáp: “Ý kín chính là chỗ vợ chồng chung lộn huyết thống như vậy đấy [60] . Đại để đạo ta lấy sự ngu
dân làm đầu. Dung túng cho người cùng huyết thống lấy nhau thì con cái đẻ ra sẽ đần độn, chỉ biết tuân theo sự sai
khiến của ta. Sinh đẻ càng ít thì càng đỡ lo, ta chỉ cốt sao thi hành được mưu kế chứ họ hàng gia tộc thì kể gì? [61] .
Sang hèn không tương xứng cũng cứ mặc cho họ lấy nhau, ý nghĩa cũng thế thôi. Dọa cha mẹ họ rằng đó là diệu ý
của chúa Trời thì ai là những chẳng tuân theo? Nguyên là những người đầu óc sáng suốt thì khó lừa gạt, kẻ ngu khờ
dốt nát thì dễ thuần phục hơn. Kẻ sang mà lại lấy người sang thì khí tốt chung đúc, con cái sinh ra sẽ tinh anh hoạt
bát, ngày sau lớn lên ắt sẽ hơn người. Bọn ấy sẽ quát nạt dân chúng thì còn ai tôn thờ đạo ta nữa? Đạo của ta ắt sẽ bị
thiệt hại. Dọa họ rằng ý chúa Trời muốn tác thành cho họ ăn đời ở kiếp với nhau thì tinh anh tú khí sẽ bị hỗn dục,
con cái đẻ ra ắt phải u mê, dễ dàng hãm vào trong vòng pháp thuật của đạo ta”.

Các môn đồ đều vui mừng nói: “Thầy quả thật là thần” [62] .

Môn đồ lại hỏi: “Phép một vợ một chồng, đè nén tình người quá lắm, chưa rõ ý riêng của thầy thế nào?” Jêsu đáp:
“Một vợ một chồng thì dân chúng thông thường ai cũng thế, ta không phải lo. Nhưng mà đặt ra phép ấy chỉ là để đề
phòng các nhà giàu sang quyền quý mà thôi. Bọn họ đều nhờ mạch đất tốt mà phát đạt [63] khó lừa dối nổi. Nếu để
họ lấy nhiều vợ, sinh nhiều con cái, vượng khí tốt đẹp chung tụ vào những người tài giỏi xuất chúng thì làm sao mà
mê hoặc được nữa? Nếu không ngăn chặn trước, con cái họ lớn lên sẽ ở trên mọi người, uy thế bao trùm khiến cho
bọn dân ngu không tin theo đạo ta nữa, bọn ta ắt sẽ bị chém đầu. Cho nên phải đặt ra phép ấy để ngăn chặn. Trước
hết phải lừa dọa đó là phép chúa Trời định ra, khiến cho họ không dám làm trái ý Chúa. Như thế thì sinh đẻ ít, dễ bề
chế ngự. Khi truyền giảng phép này nên chọn kẻ nào chỉ có một vợ nhưng nhiều con làm ví dụ, nói rằng: “Đó là số
mệnh do chúa Trời định trước, đâu phải cứ lấy nhiều vợ mới có nhiều con! Lại chọn kẻ nào nhiều vợ nhưng không
có con làm ví dụ, nói rằng: “Chúa Trời đã không cho có con, lấy nhiều vợ có ích gì đâu?” Nói như thế người ta sẽ
phải tin. Hơn nữa, tính đàn bà hay ghen, dễ bị lừa dối. Nắm lấy cái tính hay ghen ấy, trước hết dọa vợ thì vợ về sẽ
ngăn trở chồng”.

Môn đồ hỏi: “Nếu người ta không có con thừa tự cũng đành phải chịu thôi hay sao?” Jêsu đáp: “Chết rồi không phải
thờ cúng, thì cần gì phải có con thừa tự? Phải dụ dỗ để họ chịu vậy mà thôi” [64] . Lại bảo rằng: “Từ nay, ai không có
con, chúa Trời lại càng thương, sau khi chết được lên thiên đường mau hơn. Nếu nhiều người không có con thì
chúng ta càng đỡ phải lo thuyết dụ. Đó là ý kín của phép một vợ một chồng. Còn như trong số những người theo đạo
có không ít kẻ phú hào tùy theo đạo ta vẫn giữ ý lấy nhiều vợ. Phải đợi đến khi họ gần chết sẽ bảo họ từ bỏ hết vợ
thì mới được làm phép giải tội ăn bánh thánh, và mau lên thiên đường. Kẻ nào vẫn không chịu làm như thế thì các
ngươi cứ bảo là không dám tự ý làm phép giải tội trái ý Chúa, cứ để cho hồn họ bị đày xuống địa ngục. Ta lại dụ dỗ
người vợ để người ấy thúc bách chồng. Người bệnh đang hấp hối ắt phải miễn cưỡng nghe theo. Làm như thế những
người ngoài đạo có mặt tại chỗ lúc ấy hẳn không dám mượn cớ chê bai, từ đó sẽ càng vững tin ở phép một vợ một
chồng”.

Môn đồ hỏi: “Về việc cho những kẻ góa vợ góa chồng đi lại với nhau cũng là có ý kín gì chăng?” Jêsu đáp: “Đối với
những người trẻ tuổi mà ép ức họ quá thì họ không theo đạo ta nữa. Một người đã không theo thì người khác cũng
bắt chước, đạo ta ắt sẽ tan rã. Cho nên phải đặt ra phép ấy để khơi thông tình cảm cho họ. Ý kín là ở chỗ đó” [65] .

Môn đồ chuyển sang hỏi về cái thuyết chúa Trời ba ngôi: “Thuyết ấy thực hư thế nào, xin thầy bảo thật cho chúng
con được rõ”. Nghe nói chuyện ấy, Jêsu khẽ nhếch mép rồi bất giác ha hả cười to mà rằng: “Chỉ có một chúa Trời,
chẳng làm gì có cái chuyện “ba ngôi”! Nhưng nếu không mượn oai chúa Trời thì không mê hoặc được dân chúng.
51

Mình không có chút phép lạ thì người ta không chịu tin. Kiếp trước ta vốn là sơn thần có nhiều phép lạ, cho nên ta
mới viện chúa Trời ra. Nào có ai trèo lên trời mà biết là ba ngôi? Việc ấy để sau ta sẽ nói thêm cho các ngươi hiểu
rõ”.

Môn đồ lại hỏi: “Cái thuyết thiên đường địa ngục có thật hay không?”. Jêsu đáp: “Trời cũng là chất khí. Nếu có nhà
cửa ở trên đó thì hẳn là phải có cột, có nền. Đã có cột gỗ nền đất thì tức là trên mặt đất này rồi, chứ đâu phải là trời!
Cũng ví như là đã có đất mà lại có mặt trời, mặt trăng, mây, gió thì đó là “trời” chứ đâu phải là “đất” nữa? Vòm trời
di chuyển, xoay trái chuyển phải, cứ nhìn các ngôi sao thì sẽ rõ. Nếu có nhà cửa ở trên trời thì khi vòm trời chuyển
động làm sao cho khỏi sụp đổ? Mặt trời như khối lửa, rực cháy rọi xuống, nhân gian đã đủ nóng bức khổ sở. Nếu
trên trời lại có nhà cửa há không cháy trụi cả hay sao?” [66] Chỉ vì nói đến anh linh thăng giáng cho nên gọi là “trời”
(thiên), lập đền thờ phụng cho nên gọi là “đền trời” (thiên đường). Nếu chẳng phải xây cất trên mặt đất này thì ngôi
đền trời ấy há lại lơ lửng trên chín tầng mây hay sao? Nhưng đền trời vắng vẻ lắm, đâu được vinh hiển như nơi tôn
miếu của triều đình. Phải nói ra cho có cách thần bí như thế thì dân chúng mới ham thích mà theo đạo ta. Cho nên
trước hết phải đem thiên đường ra để dụ dỗ cái tai người ta”. Môn đồ nghe nói như thế bèn cười ồ lên cả.

Jêsu lại nói: “Nói địa ngục, các ngươi há lại không hiểu? Đất liền một khối, có hang lỗ nào thông xuống bên dưới
đâu? Dưới đất làm gì có tù ngục để tập hợp ma quỷ cho chúng ăn thịt người? Giá như có một cái ngục như thế chăng
nữa thì lũ ma quỷ kia vào ra đường nào mà hại người được? Các ngươi chẳng lẽ không thấy quỷ thần đều ở trên mặt
đất cả, có cái gì gọi là địa ngục đâu? Chẳng qua chôn người chết xuống đất thì gọi là âm phủ [67] mà thôi. Địa ngục
tối om, ai dễ thấy quỷ sứ cai quản cái ngục ấy? Nguyên do ta nói cái chuyện mập mờ bí hiểm ấy là muốn cho người
ta kiên tâm theo đạo ta mà thôi. Cho nên trước hết phải đem địa ngục ra dọa cho người ta sợ đã”. Môn đồ nói: “Như
vậy những điều thầy dạy về phúc, thiện, họa, dâm đều chẳng có gì hết hay sao?” Jêsu nói: “Không phải thế! Đó là
nhằm vào những việc đại gian đại ác chứ đâu phải để ý đến những chuyện vặt vãnh linh tinh! Những kẻ ngu ngốc
thật dễ lừa dối lắm thay!” Nói đến đó, thầy trò Jêsu đều huơ tay cười vang [68] .

Môn đồ lại hỏi về thuyết tận thế có thật hay không? Jêsu đáp: “Có chứ. Nhưng trời đất từ lúc bắt đầu đến lúc chung
tận cứ một nguyên là 12 hội [69] , cứ thế chẳng biết đến mấy nghìn vạn năm [70] , vận trời mở đóng rất khó, đâu phải
đột nhiên tận diệt? Ta phải bịa ra cái chuyện mưa dầu hạn lửa khiến cho người ta phải sợ hãi, có thế họ mới kiên
lòng tông sùng đạo ta. Khi gặp sự biến giặc dã tai dị thì phải dọa rằng: “Nay xem thiên tượng thấy nhật thực, động
đất, đó là điềm báo trước ngày tận thế chỉ trong khoảng chưa đầy ba mươi năm nữa mà thôi, con chiên cần phải lo tu
tỉnh để được lên thiên đường”. Lời nói có chứng nghiệm như thế thì dân chúng lại càng sợ, không kịp rỗi để mà
hưởng cuộc sống yên vui”.

Môn đồ lại hỏi: “Thầy nói về thuyết tận thế chung và tận thế riêng là nghĩa thế nào?” Jêsu đáp: “Cái chết của một
người nào thì ta gọi là “tận thế riêng” của người đó. Nói như thế thì ai nghe cũng phải lấy làm mừng là sẽ tránh được
cái khổ sở khủng khiếp của ngày tận thế chung. Có thế họ mới vui mà theo đạo ta, coi chết như về” [71] .

Môn đồ lại hỏi: “Thầy nói người ta quý nhất là phần hồn, còn phần xác do đất vắt nên chỉ là vật hèn mọn, như vậy là
thế nào?” Jêsu ha hả cười vang mà đáp: “Trong khoảng trời đất này, vật gì lâu ngày cũng hư hoại, hư hoại thì biến
thành đất, nào phải riêng gì thể xác người ta! Như vậy thể xác quả thật là vật hèn mọn chăng? Nếu là hèn mọn cần gì
phải trang sức mũ áo? Người giàu sang sao lại không dám lấy kẻ ăn mày? Thể xác với thể xác đều cùng một công
dụng, có gì phân biệt sang hèn? Nhưng ta lo rằng người ta không quý gì hơn mạng sống, nếu có kẻ dùng vũ lực mà
uy hiếp thì người ta không tôn thờ đạo ta nữa. Cho nên trước hết ta phải đem cái thuyết ấy ra lừa phỉnh, kiến cho
những kẻ ngu khờ tin rằng thể xác của họ đúng là vật hèn mọn do đất vắt ra, tự cho là không đáng quý trọng mà chỉ
có linh hồn mới thật đáng quý trọng. Đó chính là cái mồi để nhử họ luôn luôn kiên lòng theo đạo ta. Như thế dù nhà
vua đột nhiên cấm đạo, dẫu có phải đứng trước gươm giáo sáng lòe, người ta vẫn coi như sự sống mà trước sau
không hai lòng, đạo ta do vậy mà được tôn lên. Vua không cấm được dân nữa thì đạo ta được tôn thờ vậy” [72] .

Môn đồ lại hỏi: “Thầy nói ông Nôê có nghìn con vạn cháu, sau thành ra người muôn nước; ý nghĩa chuyện ấy như
52

thế nào?” Jêsu đáp: “Ý ta muốn liên kết lòng dân các nước khiến họ cùng tôn nước ta, cho nên mới phải đặt ra
chuyện ấy khiến cho người các nước khác nhận rằng họ đồng tộc đồng tôn với người Tây Dương [73] , như thế thì
chẳng ai là người không theo về với nước ta vậy. Chuyện này cũng như chuyện Ađam đều cùng một ý tôn thờ chúa
Trời”.

Môn đồ hỏi về việc các thầy cả chịu phép cắt đầu dương vật. Jêsu đáp: “Chẳng có việc gì không có ý kín. Sở dĩ làm
phép ấy một là để ngăn chặn lòng ham muốn nhục dục, hai là để cho các thầy tu khỏi bỏ đạo giữa chừng. Chỉ một
thầy tù nổi lòng dâm hoặc nửa chừng bỏ đạo thì dân chúng sẽ khinh thường, không theo đạo nữa”.

Môn đồ lại hỏi: “Mỗi làng đều có hai hòm quỹ: một hòm gọi là quỹ chung, chi dùng cho công việc của nhà thờ; một
hòm đựng tiền thu được khi làm lễ, gọi là quỹ tế bần (quỹ cứu giúp người nghèo). Vậy mà chúng tôi thấy mỗi khi có
việc chi tiêu chung của nhà thờ đều do giáo đồ đóng góp cả, còn những kẻ nghèo khó trong các làng chưa từng nghe
nói một ai được cứu giúp, như vậy là thế nào?

Việc này hết sức bí mật, về sau sẽ nói rõ.

Jêsu nói: “Những ý trên đây ta đã nói cho các ngươi biết rõ. Song ngoài những phép kín ấy cũng còn có nhiều ý
khác nữa!”. Môn đồ hỏi: “Thưa thầy bảo sao?”. Jêsu đáp: “Trong nước xảy ra nhiều sự loạn nghịch là bởi triều đình
để cho dân chúng học chữ, đọc sách, biết các phép thiên văn, địa lý, bói toán, v.v. Dân chúng thông hiểu sách vở thì
sẽ là kẻ địch của đạo ta. Ngày nay nếu cấm hẳn việc học hành, thì dân chúng ngu muội [74] , không phân biệt được
những lời thuyết giáo của ta là phải hay trái, không biết rõ đạo ta là chân chính hay gian tà, để cho ai muốn theo đạo
ta thì theo, ai muốn theo đạo cũ thì theo [75] , như thế có phải là thích hơn không nào? Các ngươi thử nghĩ mà
xem” [76] .

Jêsu lại nói: “Ngoài các phép kín còn các phép kín nữa”. Môn đồ hỏi: “Dám phiền thầy chỉ dạy cho chúng con được
rõ”. Jêsu thấp giọng nói nhỏ [77] rằng: “Ngăn trở đạo ta thì chỉ ở những kẻ quyền hào và những người thông minh trí
tuệ mà thôi. Bọn họ thường nạt nộ không cho dân chúng tôn thờ đạo ta. Tất phải giết hết bọn ấy đi thì sự đạo về sau
mới được dễ dàng”. Môn đồ hỏi: “Làm thế nào mà giết được?” Jêsu đáp: “Cứ phải thân thiện với họ, hết sức mềm
mỏng, đi lại biếu xén quà cáp trước sau như một, cứ dăm tháng một lần đem thuốc quý rượu ngon đến biếu. Đợi ba
bốn năm sau họ hết nghi ngờ, rồi đó sẽ bí mật lấy thạch tín [78] trộn vào thục địa để làm thang dược hoặc bỏ vào
thang thuốc hoặc đem ngâm rượu, chế thành viên tễ, v.v. Nhân một dịp kẻ kia bị đau ốm loàng xoàng gì đó thì từ từ
đem thuốc ấy mà cho. Chỉ vài tháng sau, kẻ ấy phải chết, có thế đạo ta mới thành. Trước đây ta thường dùng sách
này rất nhiều, nhưng các ngươi không hề hay biết. Thằng bé Nacô chỉ là một kẻ trong số đó mà thôi. Cả Xari và
Annô nữa, há chẳng phải cũng bị chết bởi cách ấy đó sao?”.

Môn đồ sửng sốt đưa mắt nhìn nhau, Jêsu nói tiếp: “Không làm như thế, nghĩa là các ngươi không muốn giết bọn
họ, ngày sau bọn họ được vẻ vang đắc chí thì họ sẽ giết hết các ngươi. Kẻ nào muốn giết ngươi thì ngươi phải giết
kẻ ấy đi, đó là lẽ đương nhiên vậy. Có gì là tội lỗi? Nhưng phép ấy có thể cũng chỉ nên đem dùng đối với người
nước ngoài, chứ không nên dùng đối với người trong nước” [79] .

Tiếp đó Jêsu bảo các môn đồ rằng: “Bây giờ ta dạy cho các ngươi nghi thức phép Thánh thể (Mình thánh) [80] . Phép
này thể hiện đủ các phép kín, các ngươi hãy họp nhau lại ghi chép cho hết, từ việc rảy nước thánh trở đi, ghi xong
bao phong cất kín. Một mặt các ngươi phải học thuộc lòng những lời cầu niệm khi làm lễ, tập cho thành thạo các
cách thức là dấu phép. Sau đó sắm sửa các đạo phục, chia làm hai hạng” [81] . Môn đồ thấy hình trang đạo phục quả
là kỳ quái, Jêsu giải thích rằng: “Mũ triều thiên cùng các áo lễ để các ngươi lúc sống mặc vào người cho vẻ vang
tấm thân, khi chết thì dùng luôn làm đồ liệm [82] , đạo phục hạng thứ hai cũng có công dụng như thế. Còn về ý nghĩa
thì đai thụng đen để tượng trưng cho việc quân Jiuđê trói ta bằng dây da, áo trắng có các dải tua là để tượng trưng
cho việc ta bị bọn chúng trùm khăn trắng lên đầu. Diềm vải trắng xung quanh cổ là để tượng trưng cho việc ta bị đeo
gông. Các chỗ dải tua thắt nút là để tượng trưng cho việc ta bị xiềng khóa. Chiếc đại vải buộc đầu tượng trưng việc
53

ta bị trói vào giá câu rút. Áo choàng thụng không tay là để tượng trưng cho việc ngày hôm ấy ta bị bọn quân lính
choàng chiếc váy đỏ lên người”.

Môn đồ hỏi: “Thầy bảo sắm sửa các thứ đạo phục rắc rối như vậy nhằm mục đích gì?” Jêsu đáp: “Một là để ghi nhớ
những nỗi cực khổ khi ta chịu nạn, hai là để các ngươi khắc sâu trong lòng, dẫu bị cực hình như thế cũng không
phản đạo”. Rồi đó đặt thêm kiểu mũ đen bốn góc” [83] .

Jêsu lại dặn rằng: “Về sau các ngươi nên cho làm nhiều ảnh và tượng mô tả việc ta bị đóng đanh trên giá câu rút,
treo dựng khắp các nơi công tư trong và ngoài nhà thờ để các ngươi hằng ngày trông thấy mà tự thề dầu phải chịu
chết như thế cũng không bỏ đạo”. Môn đồ đồng thanh dạ ran.

Định xong nghi thức áo mũ, Jêsu bèn phân định chức đạo cho các môn đồ, chia thành hai bậc: trên là vít vồ (tổng
giám mục), thứ đến là giám mục. Tổng giám mục bên ngoài mặc đạo phục hạng nhất, bên trong mặc thêm đạo phục
hạng nhì. Các giám mục thì cùng dùng đạo phục hạng nhì mà thôi. Phêrô được chỉ định giữa chức tổng giám mục,
các môn đồ khác đều là giám mục. Bấy giờ Jiuđa [84] đã phản thầy, có người tên là Mathêu [85] đến xin chịu đạo. Jêsu
thấy các môn đồ đều tỏ ý ưng thuận bèn đưa vào phòng kín cắt đầu dương vật, bôi thuốc cho lành rồi cho nhận chức
giám mục cho đủ số 12 môn đồ.

Tất cả 11 giám mục đều chịu quyền điều khiển của giám mục đốc chính. Định ra các cấp bậc làm lễ: phép
Cônfirmaxông, phép Cômônhong [86] , phép quyết Antrixông [87] , ngoài các giám mục không ai được làm. Chất dầu
thánh cũng phải do giám mục điều chế, các thầy cả chỉ được lĩnh về làm lễ mà thôi [88] . Ngoài ra những lễ khác thì
thầy cả đều được phép làm. Lai lịch ra cách thức đọc lời niệm: đối với người trong nước, vì là cùng tiếng nói nên
phải đọc nhẩm cho khác đi, còn đối với người nước ngoài, vì khác tiếng nghe không hiểu thì cứ đọc to rõ. Lại định
ra kiểu làm nhà thờ và cách thức làm lễ. Đại khái kiểu nhà thờ cũng như kiểu nhà ở. Gian giữa lập bàn thờ hình con
ba tầng, trên hẹp dưới rộng như nghi thức cung điện ở trong triều. Bên trên treo ảnh chúa Jêsu hoặc ảnh đức mẹ
Maria bế chúa hài đồng, đằng trước có màn che, đặt đài cắm nến. Môn đồ sắp đặt đầy đủ lễ phục cho cha xứ, để ở
phía bên phải bàn thờ. Bánh thánh, rượu thánh đặt bên trái bàn thờ. Gian thứ hai là nơi ngồi của các môn đồ. Từ gian
thứ ba trở ra, tùy theo chiều dọc nhà thờ lớn dài hay ngắn có thể chia ra hai lãnh vực cho giáo dân đàn ông ngồi phía
trên, đàn bà ngồi phía dưới. Bắt đầu vào lễ, mọi người cùng đọc kinh Mười điều răn và kinh Bởi trời [89] . Đọc xong,
cha xứ mặc thường phục để đầu trần [90] từ trong tư thất đi lên nhà thờ ở phía bắc gian giữa, có một người phụ lễ đi
theo. Cha xứ đứng trước bàn thờ đọc lời niệm nhẩm [91] . Niệm xong, bước lên thềm để xỏ chân vào giày rồi theo
trình tự mà mặc lễ phục theo đúng nghi thức như đã nói, đọc lời niệm “an phục” [92] . Mặc lễ phục xong, quay lại
phía con chiên xòe hai bàn tay ra rồi nắm lại [93] . Niệm nhẩm [94] , niệm xong lại hướng ra phía ngoài giơ tay phải
làm dấu chữ thập. Làm dấu xong quay lại hướng lên bàn thờ đọc 6 chương kinh [95]. Đọc xong, lắc chuông, gõ mõ ra
hiệu thắp nến [96] , rồi làm lễ dâng rượu thánh, bánh thánh, nghi thức như đã nói ở đoạn trên. Các thiếu nữ đồng trinh
cất giọng hát chúc [97] theo lối hát đuổi [98] . Sau đó, những người đã xưng tội chịu lễ cách thức như đã nói trước [99] .
Cha xứ ngồi trên ghế lễ hướng xuống phía con chiên mà tuyên thị lời răn [100] . Răn xong lại nhẩm đọc mật kinh một
lần nữa rồi trở vào tư thất [101] . Giáo dân ngồi lại đọc kinh Mười điều răn để kết thúc cuộc lễ. Phép Cômônhong bắt
đầu có từ đó.

Định xong nghi thức phép răn, Jêsu nói tiếp: “Bây giờ ta dạy các ngươi về lễ cập môn. Lễ này chủ yếu dùng bánh
thánh và rượu thánh, đem hai thứ đó mà cúng ta. Ngoài hai thứ ấy ra cố nhiên vẫn phải có đèn nến, để linh hồn ta
dựa vào đó mà giáng xuống, nếu không thì biết dựa vào đâu? Các ngươi chỉ nói đó là lễ dâng mình thánh chứ không
được nói đó là lễ thờ cúng linh hồn ta. Nếu nói như thế giáo dân suy ra mà biết đạo ta cũng không bỏ thờ cúng, do
đó mà trở lại theo tục thờ cúng tổ tiên”. Môn đồ vâng dạ nghe lời. Jêsu lại dặn cách làm lễ: “Lễ này ngày nào cũng
phải làm. Ngày nào các ngươi cũng ăn bánh thánh, uống rượu thánh, ngày nào các ngươi cũng được ăn linh hồn ta,
mặc quần áo của ta. Như vậy các ngươi làm lễ cũng như chính ta làm lễ vậy. Vả lại hằng ngày các ngươi gặp gỡ con
chiên, dạy họ thêm chút tinh thần, họ càng dốc lòng tin đạo, dẫu có ai dụ dỗ bỏ đạo, họ cũng không lay chuyển”.
Môn đồ vâng dạ tuân lời.
54

Jêsu lại căn dặn: “Đạo ta thường hay làm dấu thánh chữ thập là có hai ý: khi ăn uống, làm dấu ấy là để tưởng nhớ
công ơn thiêng liêng của ta. Khi trừ tà yểm quỷ, làm dấu ấy là có ý dùng giá câu rút [102] mà trấn áp ma quỷ. Ma quỷ
thấy giá câu rút thì kinh sợ như thấy gươm đao vậy. Cho nên những khi cần yểm trừ ma quỷ thì phần nhiều phải làm
dấu chữ thập”.

Rồi đó, Jêsu lấy ba bộ sách khi còn sống vẫn thường dùng để xem thiên văn, địa lý và tướng người trao cho các môn
đồ mà căn dặn rằng: “Phải học cho tinh thông ba bộ sách này thì mới thực hành được lời dạy của ta”. Jêsu lại trao
cho môn đồ một cuốn sách nói về âm dương thuật số, bói toán do mình soạn ra, bảo rằng: “Các ngươi phải tinh
thông các thuật ấy để làm kế phòng thân, không được tiết lộ cho bọn ngu dốt biết, trong đó đã có [đủ cơm ăn] áo
mặc rồi đấy”.

Các phép đã sắp đặt xong, Jêsu lại lấy một quyển sách thuốc trong đó ghi chép các phương thuốc hay trao cho môn
đồ, dặn rằng: “Đó là chỗ dựa để gây thế lực ban đầu. Trong đời ta từng đi nhiều nơi trong thiên hạ, những điều gì sở
đắc đều có ghi chép gom thành một bản. Nay ta trao quyền lại cho các ngươi, các vít vồ và giám mục các ngươi chia
nhau đi giảng đạo. Trước sau đi qua những miền nào, nói những gì, ta đều ghi chép lại có thứ tự cả. Cứ năm mươi
năm là một kỳ, một trăm năm là một lệ. Phải ba trăm năm, bốn trăm hoặc năm trăm năm mới biến đổi một lần, muốn
nhanh cũng không được. Đến khi việc thành [103] , các môn đồ của ta lớn sẽ làm quốc quân (vua), nhỏ thì cũng là
quốc sư”. Môn đồ đáp: “Kinh vâng lời thầy dạy”.

Jêsu nói: “Đi đến đâu các ngươi cũng phải mang theo những sách ấy, và cũng phải có nhiều vàng bạc để làm vốn.
Thoạt đầu, thuê nhà ở trọ, đem vàng bạc hàng hóa biếu xén cho những kẻ quyền hào ở địa phương, ai mà chẳng
nhận? Đã một lần ham của mà nhận thì họ sẽ quý mến, sau đó phải chịu ơn các ngươi. Lại xem có ai đau ốm bệnh gì
có thể chữa được thì cho thuốc, cứu sống họ qua lúc hiểm nguy thì tự nhiên họ sẽ tôn các ngươi làm thầy. Rồi đó sẽ
xét kỹ tướng mạo xem kẻ ấy thuộc hạng ngu đần hay thông minh mà tìm cách mê hoặc dụ dỗ. Khi bốc thuốc chữa
bệnh thì phải niệm nhẩm và rảy nước thánh, cốt làm cho họ trông thấy rồi lòe phỉnh rằng: “Đó là phép diệu của đạo
ta, chỉ cần một lòng tin thực thì ắt khỏi bệnh, không có lòng tin thì không chữa được”. Khi một kẻ nào đó đang đau
ốm họ không thể không tin ở ta. Chịu uống thuốc của ta mà khỏi bệnh ắt họ sẽ ca tụng đạo ta là thần diệu. Sau đó
phỉnh dụ cho họ biết đạo ta muốn sự phải lấy đức tin làm đầu, cho nên chẳng việc gì không hiệu quả. Lại thường
phải lui tới viếng thăm luôn để biết rõ kẻ ấy có thật lòng tin ở phép nước thánh và niệm chú chữa bệnh hay không.
Nếu thấy kẻ ấy thật lòng tin thì hãy đem tặng hàng hóa. Cứ như thế lâu ngày kẻ ấy cũng phải xiêu lòng.

“Nếu có người ốm do bị tà ma ám ảnh thì rảy nước thánh cho họ dọa rằng: “Nước phép này rất linh thiêng, đã rảy
vào đâu thì bệnh tật tà ma đều phải tan biến”. Nhìn kỹ nét mặt, nếu thấy thái độ người ấy nửa tin nửa ngờ thì chớ vội
nói đến tên Đức chúa Jêsu, mà phải tùy theo nghề nghiệp của từng người, trước hết đem ông trời ra mà dọa, thì họ
không cảm thấy điều gì là trái. Khi họ đã tin rồi, các ngươi mới thong thả bảo rằng: “Trời đất rộng lớn vô hạn cần
phải biết là có một kẻ làm chúa tể hết thảy, như vậy mới gọi là có hiểu biết” [104] . Đại khái cứ nói như thế, ai dám
bảo là sai? Sau đó dần dần dụ dỗ hỏi rằng: “Đã thật tin trên trời có Thiên Chúa chưa?”. Nếu họ đáp: “Tin rồi”, thì
các ngươi bèn khéo léo mà bảo rằng [105] : “Thiên Chúa chỉ một thôi, nhưng mà có ba ngôi”. Kẻ kia lấy làm ngạc
nhiên hỏi lại: “Đã nói chỉ có một ngôi, sao lại còn nói ba ngôi?”, các ngươi bèn át giọng mà trả lời: “Ba nhưng cũng
là một thôi”. Người kia hỏi tại sao như thế, các ngươi đáp rằng: “Thứ nhất là ngôi Đức chúa Cha, thứ hai là ngôi
Đức chúa Con, thứ ba là ngôi chúa Phiritô Santô”. Có ba tên gọi, nhưng kỳ thực chỉ có một mà thôi. Nguyên chúa
Trời vốn không hình không dạng, nhưng vì thương người đời nhiều kẻ sa vào vòng tội lỗi, nên mới cho một phần
linh hồn của Đức chúa Cha, tên là Jêsu giáng sinh xuống trần để dắt đường chỉ lối cho dân chúng, còn lại ngôi thứ
ba vẫn ở trên trời [106] . Cho nên mới nói tuy là ba ngôi nhưng chỉ một chúa Trời mà thôi”. Môn đồ hỏi lại rằng: “Cha
sinh con, con sinh cháu, sao lại gọi là Phiritô Santô?” Jêsu đáp: “Nếu chỉ một mình ta ở ngôi hai gọi tên là Jêsu thì
người ta biết là có ý thiên tư một mình ta. Cho nên phải đặt ra một tên gọi cho ngôi thứ ba để tỏ ra công bằng, không
phải chỉ tông riêng một mình ta. Người đã tin chúa Trời thì tự nhiên ta cũng được tôn trọng rồi” [107] .
55

Môn đồ nói: “Lời giảng của thầy thật hay quá!” Jêsu nói: “Xem chừng người ta đã tin cái thuyết chúa Trời ba ngôi
rồi thì bảo họ rằng: “Trên trời có thiên đường, dưới đất có địa ngục. Trên thiên đường có các vị thánh chuyên việc
phạt tội. Nếu kẻ nào giữ lòng nghi ngờ không tin đạo, kẻ áy sẽ bị ma quỷ mê hoặc, sau khi chết không được lên
thiên đường”. Người ta ai mà chẳng sợ ma quỷ? Nghe nói như thế họ càng vững lòng tin đạo ta hơn. Nhưng hãy cứ
nói đến đấy đã, để xem thái độ họ thế nào? Nếu thấy họ còn nửa tin nửa ngờ thì hãy cho họ thêm một ít vàng lụa
nữa. Nếu kẻ kia vẫn chưa hoàn toàn tin hẳn thì càng cần phải năng đi lại quan hệ, biếu thuốc chữa bệnh, cho tiền của
để làm mê đắm, kiên trì đến mười năm thì lòng họ cũng phải mềm. Cho nên lâu lâu lại phải thử xem họ đã thật lòng
tin chưa. Hễ họ đã tin chúa Trời thì dần dần họ cũng sẽ tin ta (Jêsu) và Phiritô Santô. Thế là họ sẽ chịu theo các điều
ta dạy như không dùng thịt trong lễ tế chúa Trời, v.v. Cứ thế khuyên dụ họ dần dần thì chẳng điều gì họ không tin
theo. Những việc như bốc thuốc chữa bệnh khiến cho người ta mê đắm; nói về chuyện thiên đường để cho có vẻ
thần bí; nói về chuyện địa ngục, ngày tận thế khiến cho người ta khiếp sợ; bỏ việc cúng tế khiến cho quỷ thần không
biết nương dựa vào đâu; đặt lệ chôn sâu khiến cho linh hồn người chết bị chôn vùi; cắt yểm mạch đất khiến cho dân
chúng đần độn; đặt phép rửa tội, phép Cônfirmaxông (kiên đạo) để tiêu diệt lý trí của người ta; phép xức dầu thánh,
lễ Quy lăng, lễ Điện táng để tiêu diệt linh hồn người ta; các phép xưng tội, giải tội, chuộc tội để kiểm nghiệm lòng
tin của người ta; phép bánh thánh để làm tinh thần ngưng tụ; phép hôn thú một vợ một chồng là để giảm bớt sinh đẻ;
cho lấy nhau chung lộn huyết thống là để cho con cái sinh ra phải ngu đần; phục thuốc độc để giết hại thân hào các
nơi, v.v. Tất cả đều là diệu pháp nhằm làm cho người sống trở nên u mê, người chết tuyệt linh hồn, mà lõi cốt thì lấy
việc cắt yểm mạch đất làm chính: phá một hướng đất mồ mả có thể làm ngu một họ, cắt một long mạch có thể làm
ngu một làng, đứt một mạch núi có thể làm ngu một huyện. Làm được như thế thì trước hết dân họ sẽ trở thành dân
theo đạo ta, sau ba trăm năm thì quân lính nào cũng là quân lính của ta, sau năm trăm năm thì quan tướng của họ
cũng là quan tướng của ta. Đến khi ấy, dẫu vua nước họ có giết dân theo đạo ta ở nước họ, thì ta cũng đã có cách đối
phó, có nước nào lại không phải là nước của ta [108] .

“Còn như [lệ] các làng đạo nộp tiền là để đề phòng một khi nhà vua hạ lệnh cấm đạo của ta thì đã sẵn có tiền đó để
lo lót xin chuộc mạng cho người bị bắt. Một lúc có ngay hàng trăm vạn quan tiền thì giống chó có bao giờ chê thịt?
Ta cứ ném tiền cho chúng thì chúng sẽ sa mưu kế của ta [109] , đạo ta nhờ thế mà tồn tại lâu dài bất diệt”.

Môn đồ sụp đầu vái lạy tung hô rằng: “Thầy thật là bậc cao minh viễn kiến, lo toan trước mọi việc sau năm trăm
năm!”

Rồi đó Jêsu đúc kết tất cả những phép kín thành một lời giới răn (đại giới) bảo các môn đồ khắc sâu vào lòng chỉ
một lời “Sacramentô”.

Môn đồ hỏi lại: “Lời ấy trước đây chúng con từng nghe thầy nói, xin thầy cho biết ý nghĩa thế nào?” Jêsu đáp: “Gộp
chung đại ý có nghĩa là: trên dưới một lòng, vững như sắt đá, người trước chết, người sau tiếp, gặp nạn cũng không
sờn lòng [110] . Được như thế thì một mình ta có nghìn vạn anh linh, mà bờ cõi các nước ngoài sau năm trăm năm
cũng sẽ thu về một mối”.

Môn đồ đồng thanh dạ ran [111] , Jêsu bèn chọn Phêrô làm đốc chính cai quản tất cả 12 giám mục, căn dặn rằng: “Xét
ra nước Jiuđê có nhiều mạch đất hùng mạnh, cho nên dân chúng phần nhiều hung hãn cứng đầu, cần phải theo phép
ta dạy mà làm [112] thì đạo ta mới thoát hiểm họa. Các ngươi phải cố gắng mà sống [113] , ít nhất cũng phải có ba, bốn
người trốn sang nước Italia [114] tự xưng là tổng giám mục, xin vào yết kiến nhà vua. Nước ấy nhiều long mạch sâu
hiểm, ngày trước ta từng xem đất đặt mộ tổ cho vua họ, may ra họ nể tình mà bao dung các ngươi cũng nên. Nếu
được như vậy thì hẳn là có lợi cho đạo ta [115] . Khi trước ta từng thuyết giáo khuyên dụ nước ấy, là cốt để khi gặp
nguy cấp có nơi mà trú chân. Đó cũng là một ý kín nữa vậy” [116] .

Môn đồ vâng dạ tuân lời. Rồi đó thể phách Jêsu bỗng bay vút lên không mà biến mất cùng với đoàn quỷ sứ LâmBô
tùy tòng. Các tòa lâu đài nguy nga cũng phút chốc tiêu tan. Các môn đồ ngửa mặt lên trời mà vái lạy. Cha mẹ Jêsu
thảm thiết kêu gào van nài Jêsu ở lại thu xếp việc nhà, nhưng Jêsu không đoái tới [117] .
56

Mấy ngày sau các môn đồ lại tụ tập ở nhà cha mẹ Jêsu. Chợt có một ngọn lửa giống hình chiếc lưỡi từ trên cao rơi
xuống rồi hóa thành một người có cánh có lông như chim, tự xưng: “Ta là chúa ngôi ba Phiritô Santô hiển linh thành
lưỡi lửa giúp cho các ngươi khi đi giảng đạo ở nước ngoài, đến nước nào thì nghe hiểu được tiếng của người nước
ấy”. Nói xong liền biến thành một con chim bồ câu [118] mà bay đi.

Sách Thực lục thì chỉ ghi như vậy, nhưng sách Bí lục thì nói rằng kẻ hình người cánh chim ấy chính là linh hồn Jêsu
hiện lên để chứng tỏ lời mình nói chúa Trời ba ngôi là có thật. Còn sách Ngoại lục thì nói rằng đó là đức chúa ngôi
ba Phiritô Santô, cho nên ngày nay có cuộc lễ gọi là lễ chúa Phiritô Santô hiện xuống [119] . Theo lý mà suy thì lời
kín của Jêsu đã nói rằng chúa Trời chỉ có một, chẳng phải có ba. Nhưng y là kẻ rất quỷ quyệt nghi ngờ gì nữa. Lại
còn cái thuyết nói nhờ lưỡi lửa ấy mà các môn đồ của Jêsu đi đến đâu đều hiểu tiếng nước ấy thì lại càng quỷ quyệt
lắm. Đại phàm cư trú lâu ngày ở nước ngoài thì hiểu tiếng nước ấy chứ cần gì phải có cái lưỡi lửa? Sách Ngoại lục
lừa bịp người ta phần nhiều là như vậy.

[1]
Nguyên văn: tô phách (phách là phần xác, đối với phần hồn). Người chết mà sống lại, ăn nói đi đứng như người
sống, trong các truyền thuyết huyền thoại nói chung thường có thể gọi là hồn. Nhưng huyền thoại Gia Tô giáo đều
nói chính phần xác của Jêsu sống lại trong ngày Phục sinh (ba ngày sau khi bị đóng đanh câu rút), chứ không phải
chỉ hiện hồn về. Xem Phúc âm: “Nhưng mà ông Phêrô chạy ra xem mồ: ông ấy chạy ra thì thấy trong mồ chỉ còn
những đồ liệm xác Đức chúa Jêsu ở đấy mà thôi” (Luca, XXIV, 1, 12) cũng xem Juan, XX, 1, 6).
[2]
Nguyên thư chép là “linh điểu” (chim tích linh), sửa là cáp diều (bồ câu).
[3]
Dân tả đạo, cha mẹ vái lạy con cái từ đó.
[4]
Nguyên thư chép: “Ngô bình nhật, kiến chung nhân thăng thiên đường” (Ta thường ngày thấy mọi người lên thiên
đường). Theo lời kể của tác giả, bạn đọc sẽ thấy ở đoạn này chính Jêsu đang phải thuyết phục cho các môn đồ tin là
mình đã lên thiên đường (chứ không phải thường ngày đã trông thấy việc ấy). Chúng tôi ngờ nguyên thư có sai thiếu
vài chữ, hợp lý có lẽ là: Ngô bình nhật thuyết chúng nhân thăng thiên đường [chi sự.]
[5]
Nay dân đạo thường hay nói câu ấy.
[6]
Câu nói này khiến cho đến ngày nay chẳng ai là không muốn đập cho nát cái đầu Jêsu ra! Than ôi! Bọn chó má
đem thói tục man di làm rối loạn đất hoa hạ (văn minh), thật quá lắm vậy.
Nguyên thư chép lời bình này ở câu sau, xin chuyển lên cuối câu trước, thích hợp hơn.
[7]
Vua thiên tử ngồi quay mặt về phía nam. Đây nói Jêsu ngồi ở ngôi lầu phía bắc nhìn về phía nam tức là ngôi ghế
vua thiên tử. Nguyên văn: lâu âm (ngôi lầu phía âm). Âm, dương, ngoài nghĩa thường gặp còn dùng để chỉ vị trí:
dương = nam, âm = bắc (đối với núi, đối với sông thì ngược lại). Các ngôi lầu trong huyền thoại kể đây có quy mô
to lớn, tính vị trí như đối với núi, do đó: âm = lầu bắc (ngôi lầu phía bắc).
[8]
Nguyên văn viết là: “thâm táng dĩ trầm chi”. Trầm nghĩa là chìm trong nước, dùng vào đây có phần không chính
xác lắm, tuy vậy cũng tạm rõ ý, xin dịch là: chìm lấp.
[9]
Trẻ chết non, tương truyền thường hay hiện hồn làm yêu quái, vì vậy dân chúng kiêng kị ít người muốn đi dự đám
tang.
[10]
Lộ hết tất cả do gốc gác của điều kín.
[11]
Người Tây với người Tây thì họ niệm nhẩm lí nhí (mật chú), bởi vì tiếng các nước bên Tây đại khái tương đồng
(sợ người ta nghe rõ), cho nên phải niệm nhẩm. Còn các cố đạo cầu niệm cho người nước khác thì cứ đọc to, bởi vì
khác tiếng, người ta nghe không hiểu.
[12]
Các cố đạo thường bảo môn đồ hễ thấy trẻ con ăn mày thì giả cách cho tiền cho thuốc để dỗ nó làm phép rửa.
Những năm mất mùa đói kém, các cha cố và cả những người giúp lễ chia nhau đi các nơi làm lễ rửa tội, cũng đều
một lý do như vậy mà thôi.
Rửa tội được cho một người cũng tức là phép lễ đầu tiên để đưa thêm một người theo đạo.
[13]
Nguyên thư chép: “…từ tâm tắc dũng nhuệ”, xét theo ý thì thiếu một chữ “vô”; từ tâm tắc vô dũng nhuệ. Đã đính
57

chính.
[14]
Ngày nay tả đạo làm sách an ủi: khi có người ốm nặng sắp chết, một thầy tu ở lại trong nhà ngồi cạnh mà đọc.
Lời an ủi trong sách đại khái lừa phỉnh người hấp hối về niềm vui ở trên thiên đường, mặt khác lại kể những hình
phạt ở dưới địa ngục để đe dọa. Lại bảo rằng người ấy được Chúa rủ lòng yêu mến hơn kẻ khác. Nếu có người lúc
chết vật vã không được thanh thản thì phải đặt ngực bụng cho bằng phẳng để thở. Đến lúc kẻ ấy sắp chết thì khuyên
dỗ con cháu rằng người ấy được chúa Trời yêu mến rất mực, há lại chẳng hơn kẻ ốm liệt mê man hàng năm rồi mới
được rời hồn khỏi xác!
[15]
Tả đạo nói “quyết” (bắt quyết) là “pháp” (làm phép) để phân biệt với chữ Hán.
Nguyên văn: “Tả thủ chấp đinh pháp” (tay trái cầm đinh phép). Ở trên đã nói lấy đinh mà thành bột, trộn với dầu và
bạc hà. Cho nên đinh phép nói đây chính là bát dầu phép.
[16]
Nếu không phải vì chuyện đó thì cần gì phải vây màn tướng ngăn cách mọi người? Dân tả đạo sao không hiểu ra?
[17]
Nguyên thư chép: “Kim nhữ thử phách, hạ thổ hạ thổ, dữ phách cụ hủ”, chữ phách thứ hai có lẽ là chữ “hồn” mới
đúng.
[18]
Xem câu này thật rất buồn cười.
[19]
Xem cung cách của thầy trò Jêsu, bất giác cũng phải phì cười.
[20]
Câu nói này đúng là một lời buộc tội Jêsu.
[21]
Nguyên thư chép: “…bất áp tha phách tắc tha trí nhữ” (không đè nén xác họ thì họ sẽ biết các ngươi). Chúng tôi
ngờ trong câu này có chỗ chép nhầm. Như đã chú trong quyển này hai chữ phách và hồn có vài nơi chép nhầm.
Chữ tha có lẽ là chữ hà chép nhầm. Xét ý nghĩa liên quan với câu trước thì câu này đúng ra có lẽ là: “bất áp tha hồn,
tắc hà nhữ thi” (dịch như trên).
[22]
Tả đạo có sách Luyện thư, gồm 3 quyển, dùng đọc khi thầy cả ốm sắp chết để luyện khí cho thành linh.
[23]
Ngưng tụ và tiêu tan, theo lập luận của tác giả sách này là hai dạng trái ngược khiến cho hồn (của người sau khi
chết) thiêng (linh hồn) hoặc không thiêng (u hồn).
[24]
Nguyên văn: chân thủy = nước thật.
[25]
Nguyên thư chép: “huy kỳ thiên đồng”. Đồng là cái ống (ống loa). Ở vị trí chữ “thiên” phải là một động từ, sánh
với chữ “huy” (vẫy). Có lẽ đó là chữ chấp (cầm) chép lầm?
[26]
Đoạn này lời lẽ rườm ra, đại để đều là những lời tuyên hồn cho thánh linh. Nay chỉ lược biên ra những câu có hệ
trọng mà thôi.
[27]
Nguyên văn: phi mệnh nhi tử.
[28]
Thật là những lời lẽ gượng ép. Nếu như thế thì vua quan bọn chúng chết đúng chính mệnh cũng không nên lập
đền thờ.
[29]
Đó là ý kín của cha cố tả đạo thong dong chịu chết lúc lâm hình.
[30]
Nay tả đạo gọi là “xét mình”.
[31]
Nguyên văn: chi nhật (đến ngày làm lễ), cách nói thời gian xét về phía người chịu lễ, còn đối với các cha cố thì
làm phép xưng tội, giải tội là công việc thường xuyên.
[32]
Nguyên văn: “ngô tọa dữ nội” (ta ngồi trong cửa). Xét ý đoạn này mượn lời Jêsu dạy các môn đồ cách làm lễ
xưng tội (có nói: Ta “thay mặt Đức chúa Jêsu”), chúng tôi dịch đổi chủ ngữ là “các ngươi” (môn đồ chúa Jêsu) cho
rõ ý.
[33]
Jêsu tự nhận là kẻ thay mặt chúa Trời, các thầy tu lại tự nhận là kẻ thay mặt Jêsu, thật nực cười.
[34]
Chẳng biết ai là quỷ? Mà cũng chẳng biết là quỷ moi mắt hay người moi mắt?
[35]
Khiến người ta làm chó lợn hay chính là làm chó râu?
[36]
Mấy chữ “yên lặng hồi lâu” cho thấy Jêsu đã lâm vào nước bí. Ngày nay, các thầy tu khi gặp người bài bác tả đạo
thường cũng “yên lặng hồi lâu” rồi mới trả lời.
[37]
Nguyên thư chép: nguyên tội vô hiệu. Chữ hiệu chắc là do chữ xá (vô xá = không tha) chép nhầm. Hai chữ xá và
hiệu viết thảo không khác nhau mấy.
[38]
Xem đến đây cũng phải bật cười cho Jêsu.
[39]
Ba thứ: cầu Chúa giáng linh cho bánh thánh, tức là trong miếng bánh đã có linh hồn của Chúa (“có linh hồn của
ta”). Cha xứ đọc lời niệm làm phép mím miệng thổi hơi, tức là hà hơi thở của Chúa vào miệng bánh (“có hơi thở của
ta”), giơ tay chỉ trỏ làm dấu tức là lập lại cách làm dấu phép của Jêsu. Xem Phúc âm: “Vì chưng thị tao thật là của ăn
58

và máu tạo thật là của uống. Ai ăn thịt tao và uống máu tao thì ở trong mình tao, và tao ở trong mình kẻ ấy”. (Juan,
VI, 8, 56-57).
[40]
Một hôm xem cố đạo làm lễ, tôi thấy người ấy cầm miếng bánh lớn giơ lên rồi bẻ ra làm tư mà nuốt. Lại cứ cách
3 ngày làm lễ một lần, chia bánh thánh cho mọi người ăn. Có khi còn lại 2 người nhưng chỉ còn 1 miếng bánh, cố
đạo bèn bẻ đôi phát cho 2 người kia mỗi người một nửa. Nếu quả thật đó là chân thân linh thiêng của chúa Jêsu, phải
nuốt trửng chứ không được nhai, thì tại sao cố đạo kia lại được bẻ nhỏ ra?
[41]
Nguyên văn: chân tửu = rượu thật, tức là rượu gạo (mễ tửu) như nguyên chú đã ghi.
[42]
Xem câu này thì thấy tả đạo bắt người ta không dùng rượu gạo để tế tổ tiên, chỉ dùng rượu gạo để tế Jêsu (…triệt
tụ mễ tửu tế tổ, chỉ dĩ mể tửu tế tha) (Lời chú này trong nguyên thư chép ở đoạn trên sau câu: “… gọi là giáng
linh”), không ăn khớp với chính văn xin chuyển xuống vị trí này. Mặt khác chúng tôi nhận thấy có lẽ có sự nhầm lẫn
trong lời chú ấy vì các câu văn trên dưới không thấy nói đến việc dùng rượu gạo trong nghi lễ đạo Gia Tô?
[43]
Không theo tục thường (tế bằng rượu gạo), hiểm thay!
[44]
Dân tả đạo mỗi khi tụ hội làm lễ chỉ xỏa tóc ngồi nép (có xếp hai chân về một phía, ND), khi vái lạy chỉ cúi đầu
chắp tay mà thôi.
[45]
Ngày nay các cha cố dạy giáo dân rằng: ai chịu đọc sách Ngữ lục của chúa Jêsu thì liền đó sẽ hóa thân thành
thánh thể của Jêsu, còn như lời niệm của cha cố ra sao thì giáo đồ không hiểu. Về sau các cố đạo nước ngoài khi làm
lễ lấy nước lã làm rượu nói dối giáo dân rằng: nguyên là người phương Tây xưa kia không biết uống rượu nho.
[46]
Xem đến đây chẳng ai nhịn cười được!
[47]
Về sau người Tây Dương có lễ các thánh lên trời giải tội cho linh hồn, cũng đều một ý nghĩa như thế.
Nguyên thư chép câu này chung với dòng chính văn, chúng tôi nhận thấy đó là lời ghi thêm, xin điều chỉnh xuống
phần nguyên chú.
[48]
Xem đoạn dưới thì biết ý mật là để kiếm tiền.
[49]
Chúa Jêsu thật là tốt quá.
[50]
Chữ “phép” (đúng phép) nghe thực nực cười!
[51]
Đáng thương gã thợ mộc Jiuse và vợ là Maria lúc trước chưa được ai bảo ban cho nên một tháng “làm” sự ấy đến
mấy lần!
[52]
Cái thai trong bụng người ấy chính là cái gã ở ngoài thành Bêtlêhem!
[53]
Binh lính và tuần đinh (ở Jêrusalem) từng bảo rằng Jêsu dạy vợ chồng người ta cách ăn nằm với nhau trong chốn
buồng the, đoán chừng thế mà đúng đấy!
[54]
Jêsu sao không lẻn vào trong buồng mà kiểm điểm xem sao?
[55]
Nếu thần diệu như thế thì cần gì phải lấy vợ lấy chồng rồi mới sinh con đẻ cái?
[56]
Phải tính đếm cho thật đúng đấy!
[57]
Gần đây có anh đồ nho họ Phạm ở Nam Minh (nguyên văn Nam Minh. Nói Nam Minh tức là muốn nói một địa
điểm là không chỉ rõ, tự như nói làng mỗ, làng Bông lông, xã Ba la, v.v. Nam Minh nghĩa là biển Nam, do câu của
Trang Tử: Nam Minh giả, thiên trì dã (biển Nam là ao trời vậy)) đùa tếu nói với một ba bốn người bên đạo rằng:
“Tôi có người cùng học nho nhưng đi đạo mới lấy vợ. Anh ta nói với tôi rằng: trước hôm cưới đến nhà thờ làm lễ
xưng tội, cố đạo răn bảo nhiều chuyện tức cười lắm”. Thế là mấy người bên đạo phật ý làm thinh. Rồi cũng anh đồ
họ Phạm ấy một hôm lại nói với một tốp hai ba ả con gái bên đạo mới về nhà chồng rằng: “Trong họ tôi có cô con
gái theo đạo, trước khi cưới đi nhà thờ làm lễ xưng tội, khi về nhà kể lại cho chồng những lời răn mật của cha xứ.
Anh chồng này là một tay bạt mạng, đem chuyện kể lại với tôi rành rọt không giấu giếm, nghe ra thật lắm chuyện
buồn cười”. Mấy ả kia nghe nói như thế đều phật ý đỏ mặt bỏ đi nơi khác. Nay muốn thử người bên đạo cứ nói như
thế là biết ngay.
[58]
Nguyên văn: Ngũ phục = 5 loại áo tang theo tang chế ngày trước, tùy theo quan hệ thân sơ (trảm thôi, tề thôi, đại
công, tiểu công, tư ma). Đây nói từ hàng “tái, tùng” tức là từ hạng 2, 3 (tề thôi, đại công) trở lên. Đại công: kiểu áo
dự đám tang thuộc hàng anh em họ (để tang 6 tháng).
[59]
Nay xem ra lời các cố đạo khuyên dỗ quả đúng như thế (?)
[60]
Xem câu này thì thấy việc sách Ngoại lục nói Jêsu ghét vua YdoDi (Hêrôtê) bắt chị em con cô con cậu vào làm
phi tần, cái lý của câu đó không cần phải bẻ cũng tự nhiên phải gãy.
[61]
Đọc đến đây chẳng ai không phẫn nộ mà vứt sách đi!
59

[62]
Lúc trước viên quản giáp bảo Jêsu là con chó râu, biết đâu lại chẳng phải là do chúa Trời xui nói?
[63]
Nào phải Jêsu không biết xem mạch đất đâu!
[64]
Khiến người ta phải kinh sợ toát mồ hôi.
[65]
Ba điều trên đây đã quay trở lại về lệ thường phép cưới Matrimôniô (đối với trai gái chưa vợ chưa chồng), và
ngoại lệ (đối với những người góa vợ góa chồng, gọi là phép riêng).
[66]
Jêsu nói như thế hẳn là cũng thông hiểu thiên văn đấy chứ!
[67]
Nguyên thư phiên là LâmBô (tiếng Latinh: Limbo) nghĩa là âm phủ.
[68]
Xem câu này thì biết mọi thứ lý thuyết chỉ là do Jêsu bày đặt ra để lừa người.
[69]
Hội: theo cách tính của Thiệu Ưng (đời Tống) trong sách Hoàng cực kinh thế thì 30 năm = 1 thế, 12 thế = 1 vận
(360 năm), 30 vận = 1 hội (10.800 năm), 12 hội = 1 nguyên (129.600 năm).
[70]
Đúng là Jêsu cũng có biết đại số của trời đất, âm hợp với người Trung Hoa, chứ đâu phải là không biết?
[71]
Ngày nay xem nét mặt của dân tả đạo người nào cũng có dáng sợ sệt. Thế mới biết, những lời lẽ của các cố đạo
dọa nạt như trên đã ăn sâu vào người ta như thế nào.
[72]
Ngày nay dân tả đạo nhiều người bị vua bắt hành hình. Những người ít hiểu biết ngộ nhận bọn họ là những kẻ
trung nghĩa. Vậy là không cứu xét đến nguồn gốc sự việc. Những kẻ kiên lòng theo tả đạo cũng là do nguồn gốc như
vậy.
[73]
Không thờ cúng người chết thì nhận là người đồng tộc đồng tôn làm gì?
[74]
Nguyên văn: kiêm thủ tận ngu. Chu gọi dân là “lê dân” (dân đen đầu). Tần Thủy Hoàng đổi gọi là “ kiềm thủ”
(đầu đen) (Sử ký, Tần Thủy Hoàng bảo kỷ).
[75]
Nguyên văn: Sử chỉ giả tả, sử chi hữu giả hữu. Tả và hữu ở đây dùng để phân biệt những người theo đạo cũ (hữu,
Do Thái giáo) và đạo mới (tả, Gia Tô giáo).
[76]
Dân tả đạo bị cấm học từ đó. Xét ra thì tả đạo trước sau chỉ làm theo bốn chữ “Ngu muội dân chúng” (Nguyên
chú thích dùng bốn chữ “kiềm thủ tận ngu” ở chính văn nhưng ở đây nói về một phương châm, cho nên chúng tôi
đổi thành cách dịch để bao hàm một động từ. ND). Bậc thánh nhân chuyên lo mở mang cho dân hiểu biết, còn bọn
rợ Tây chỉ cốt bưng bít ngu dân. Nhà Tần là rợ phương Tây (Ấp phong đầu tiên của nhà Tần (ấp Tần) thuộc tỉnh
Cam Túc ngày nay, người Trung nguyên thường gọi là rợ phương Tây (Tây nhung. ND) thì cấm đọc sách làm cho
dân ngu. Người Tày Nùng ở nước ta thì cấm không cho dân đi học. Đại phàm bọn rợ Tây đều dùng một mưu mô
hiểm độc . Ngày nay bọn hương hào (nước ta) phần nhiều cản trở người làng đi học cũng đồng một ý như thế. Còn
nhà vua thì không hề ngăn cấm.
[77]
Ngày nay dân tả đạo nói chuyện với nhau phần nhiều đều thì thào như kiểu trai gái tán tỉnh, nguyên vì đạo lý của
họ không quang minh chính đại cho nên không dám nói to, khi đọc kinh cũng rì rầm như thế.
[78]
Thạch tín tức là nhân ngôn (uống chết người. ND).
[79]
Thế mà lúc trước Jêsu nói người khắp muôn nước đều cùng chung một tổ. Kể từ lúc bấy giờ, bọn thầy tu tả đạo đã
âm mưu làm việc giết người. Nhiều người có tiếng ngày nay bị giết bởi cách ấy mà không ai chịu tìm cho ra nguyên
do, không thể không cẩn thận.
Những lời lẽ trên đây là khiên cưỡng, đúng là thủ đoạn giảo hoạt (Thủ đoạn giảo hoạt, nguyên thư chép hoạt pháp
với chữ hoạt (sống). Chúng tôi cho rằng đó là chữ “hoạt” (gian xảo, giảo hoạt), vì đồng âm mà chép lầm. ND) để dụ
dỗ lừa phỉnh người ta (Nguyên thư chép câu này liền vào chính văn, xét ý thì đó là lời của người bình chú, vì vậy
điều chỉnh xuống vị trí của các nguyên chú. ND).
[80]
Nguyên thư chép: CôMôThành pháp, ở dưới lại chép CôMôNhung pháp. Chữ sau mới là chữ đúng: CôMôNhung
là chữ phiên âm tiếng Latinh: Communio (tiếng Anh), Cômmunin (tiếng Pháp), nghĩa là phép Thánh thể, bổn đạo
cũng là gọi phép Mình thánh. Chững Nhung là để phiên âm to-nio, –nion, và dạng chữ hơi giống với chữ Thành nên
chép nhầm. Một số sách của bổn đạo xuất bản trước đây thường phiên là Cômônhong.
[81]
Đạo phục hạng thứ nhất gồm: mũ triều thiên, dải tua xana (tựa như yên ngựa, thòng từ trên vai xuống buộc trước
ngực), giày đỏ. Đạo phục hạng thứ hai thêm: một đai thụng đen (thòng từ trên đầu xuống, buộc chéo trước bụng,
vòng ra sau lưng rồi buộc trước bụng), áo lễ trắng, gậy bạc. Áo may theo kiểu áo thụng chui đầu, gọi là kiểu Y
đường diên (nguyên văn: Xuyên thủ y hiệu Y đường diên: phiên âm từ Italien (kiểu áo của người nước Ý). Xem
thêm ở đầu quyển VIII sẽ thấy tác giả cho biết rằng kiểu áo này lúc đầu là đạo phục của giáo sĩ Gia Tô, về sao Giáo
hoàng La Mã phổ quát hóa thành quốc phục của người Ý. ND) tay hẹp, hai vạt trước sau đều thêu hoa. Một tấm
60

khăn trắng có đai dài vòng qua vai bắt chéo qua ngực rồi buộc sau lưng, tựa như chiếc đai lưng trắng. Một tấm vải 7
thước (Thước, tấc ghi ở đây là hệ thước ta cũ (= 1/3 hệ mét. ND) khoét lỗ tròn để xỏ tay vào, hai nửa buông trước
ngực và sau lưng. Một dải đai đỏ dài 6 thước rộng 1 tấc buộc ngang trán chít ra phía sau, lại vòng ra hai bên ngực.
Lại một đai thụng dài 6 thước rộng 7 tấc đeo quàng bên tay phải. Một áo khoác choàng thụng không tay cũng thuộc
kiểu áo lồng qua đầu thả xuống, hình dáng tựa như cái mai rùa. Hai hạng áo lễ trên đây đều không may giáp lai,
đằng trước đằng sau chỉ buông thụng theo hình chữ thập. Các thứ đồ dùng làm lễ cũng như thế (Nguyên thư chép:
Kỳ đạo khi diệc đồng (dịch như trên), chúng tôi thấy không rõ nghĩa vì đoạn trên đang mô tả đạo phục, có thể có vài
chữ sai thiếu trong văn bản. ND), nhưng lấy vàng và bạc làm thành hai hạng. Lại định ra kiểu áo của người trợ tế.
Các vít vồ (giám mục địa phận) và thầy cả đều có 2 người trợ tế. Áo lễ của người trợ tế cũng là kiểu áo thụng chui
đầu, tay rộng mà ngắn, các vạt áo thêu hoa thuần một màu trắng. Nay dân tả đạo khi chết đều liệm bằng loại áo ấy,
tục gọi là áo dòng.
[82]
Jêsu nói phần xác là vật hèn mọn, vậy cần gì phải trang sức mũ áo?
[83]
Mũ này ngày nay các cố đạo chỉ đội khi làm lễ Phần mộ.
[84]
Nguyên thư chép nhầm là là KhuDiêu, đúng ra là KhuGia, tức là Jiuđa Ixcariôt.
[85]
Mathêu: Các sách Kinh Thánh đều ghi là Mathêu là người được bầu thay vào chỗ của Jiuđa: “Đừng kể thằng
Jiuđa đã hư đi mất trước, song các thánh tông đồ đã bầu ông thánh Mathêu cho đủ số 12” (Phúc âm, Mathêu, XXI,
20.3 chú). Nguyên thư phiên là SácCâuTinh, chưa rõ là phiên theo chữ gì, có thể là phiên chữ Augustin chăng?
[86]
Tức là Communion đã chú ở trên; người bản đạo ngày trước thường đọc là cômônhong.
[87]
Nguyên thư chép: AnSong quyết: chưa biết rõ nguyên ngữ của từ ngày. Theo một tài liệu thì Antrisong là phép
sám hối các tội lỗi đã phạm phải, phân biệt với Contrisong là sám hối về tội đã mất đức tin chúa Trời (Xem: Sách
giống mà thiêng liêng. Cha Trùng Thiều (Fr. Juan Serra) dọn lại. Phú Nhai đường, 1912, tr. 299). Như vậy có lẽ
AnSong là phiên âm chữ Antrisong.
[88]
Nguyên vì có việc mài đinh sắt lấy bột cho nên phải giấu giếm.
[89]
Lúc bấy giờ chỉ có hai mình ấy mà thôi.
[90]
Giấu tóc trong cổ áo.
[91]
Cầu niệm yên tĩnh để làm lễ.
[92]
Niệm rằng dẫu gặp nạn cũng không thay lòng đổi dạ.
[93]
Dấu phép bảo con chiên đồng tâm.
[94]
Cầu niện Chúa bảo hộ người có đạo.
[95]
Tức kinh Lạy cha (đã nói ở Q. I).
[96]
Gọi là nến nghênh đón bánh thánh, rượu thánh.
[97]
Đã nói ở trước (Q. I).
[98]
Nguyên văn: Du thanh ca.
[99]
Nội dung 10 điều răn: xem Q. I.
[100]
Hoặc phỉnh dụ về chuyện thiên đường, hoặc dọa nạt về chuyện địa ngục, tùy ý sắp đặt mà nói, cốt để giáo dân
kiên lòng theo đạo.
[101]
Hoặc có người đến đón mời cha xứ đi ban bánh thánh cho người ốm, hoặc cha xứ sai người đưa đi, hoặc người
ốm đã được đem đến ở nhà dưới.
[102]
Nguyên văn: quốc bình chi cụ (thứ binh cụ của nước Jiuđê).
[103]
Xong việc truyền đạo ở nước ngoài.
[104]
Nguyên văn: “tri thiên” (biết trời).
[105]
Rất hiểm độc!
[106]
Nguyên thư: Tôn đệ tam vi tắc nhưng nhiên tại thiên địa (… vẫn ở trời đất), ngờ thừa chữ địa.
[107]
Lúc trước Jêsu không thánh lễ về thuyết một chúa Trời ba ngôi, đến đây mới nói rõ.
[108]
Đọc đến đây, ai nấy đều phải lạnh toát cả người (Lời bình này được một người khác tán thưởng khuyên 5 vòng
son trùm đủ 7 chữ của nguyên chú. ND).
[109]
Những kẻ tham tiền thì bọn chúng gọi là chó.
[110]
Cho nên ngày nay, nếu một cố đạo bị giết thì một cố đạo khác lên đến thế chức cai quản xứ đạo.
[111]
Đúng là âm mưu giảo hoạt của lũ giặc!
61

[112]
Tức là phép cắt yểm long mạch.
[113]
Nguyên văn: nhữ tào bất khả tử, tu tồn tam tứ nhân … (các ngươi không thể chết hết, phải còn 3, 4 người …).
[114]
Tức là nước Tây Dương (Nguyên thư phiên: IthiTô, nhưng chú là nước Tây Dương. Đây chỉ nước Italia. ND)
[115]
Câu nói này của Jêsu bao hàm cả hai ý: nếu không được làm vua nước Jiuđê thì cũng phải cố để khỏi mất chức
quốc sư nước Italia.
[116]
Thiệt là diệu trí!
[117]
Jêsu, Jêsu! Cha mẹ vái con, ơn lễ trịnh trọng, đi không lời chào, sao ngươi nỡ tâm? Ngày nay lễ chúa Jêsu lên
trời là căn cứ theo tích này.
[118]
Nguyên thư ở đoạn này chép tên chim là “linh điểu”.
Linh điểu = tích linh điểu, tức là chim chìa vôi. Nhưng theo các huyền thoại Thiên Chúa giáo đều kể chuyện chim
bồ câu khi nói về Chúa Thánh Thần (Spiritu Sancto). Như vậy, có phần chắc chữ linh là chữ cáp bị chép nhầm. Cáp
điểu là chim bồ câu (chữ cáp và chữ linh viết thảo dễ lẫn).
[119]
Ngày nay có bức ảnh thờ vẽ hình chim bồ câu. Lại có ảnh thánh Thôma sau lưng có hình chim bồ câu phun tỏa
ánh sáng, gọi đó là ánh sáng do chúa Phiritô Santô mang xuống.

Quyển V

Nhờ viện quân Lâmbô, Jêsu hoá phép sinh yêu


Trúng mưu kế nữ thần, quân Jêsu đành thua trận

Chim bồ câu đã bay đi rồi, các môn đồ của Jêsu bèn chia nhau đi truyền đạo các nơi trong nước Jiuđê, tới cả những
nơi Jêsu đã từng đến để thuyết dụ lại, chỉ có Jiuse cùng vợ là Maria ở lại nhà. Jêsu thường dẫn đoàn quỷ quân
Lâmbô hiện lên giữa không trung, đi lại qua các làng lúc trước đã đến giảng đạo để khiến cho dân các làng ấy thêm
tin [1] . Jêsu cũng dẫn quỷ quân hiện đến cả những làng chưa có người tin theo đạo mình. Vì vậy đâu đâu dân chúng
cũng xôn xao kinh sợ. Những kẻ ngu nhát hễ trông thấy đã vội vàng vái lạy từ xa.

Trong tháng ấy, trên bầu trời nước Jiuđê, sao Chổi đi vào vị trí sao Phòng, ba tháng mới mất. Quan chiêm tinh [2] tâu
với vua Hêrôtê Antipa rằng: “Hiện nay đồ đảng yêu tặc lại dấy lên, chỉ năm tháng nữa thì yêu binh sẽ kéo đến vây
bức kinh đô”. Vua Antipa bèn hạ chiếu hễ bắt được các môn đồ tả đạo chuyên đi mê hoặc dân chúng làm rối loạn
phong tục thì cho chém ngay không tha [3] .

Bấy giờ nước Jiuđê gặp nạn mất mùa đói kém, các môn đồ của Jêsu đi đến đâu cũng dọa chắc chắn rằng: “Chúa Trời
giáng sinh làm người bị giặc giết hại [4] , cho nên mới xảy ra tai biến sao Chổi và nạn đói. Đó là do chúa Trời trừng
phạt, ngày tận thế chỉ trong vòng ba mươi năm nữa mà thôi. Các người cần phải cùng nhau chung dốc một lòng”.
Những kẻ ngu khờ nghe nói đều lấy làm sợ, càng bền lòng tin đạo hơn [5] . Các viên quản giáp và thầy cả thông
giáo [6] thuộc 5 huyện [7] nghe tín đồ đảng tả đạo lại dấy lên, bèn trình lên quan tổng trấn Philatô [8] . Tổng trấn
chuyển tâu lên triều đình. Bấy giờ vua Hêrôtê Antipa đã già, truyền ngôi lại cho con là Hêrôtê Agrippa [9] . Vua
Agrippa hạ chiếu truyền cho dân chúng các nơi ai có công bắt diệt yêu đạo sau khi chết sẽ được phong làm thần. Kẻ
nào chứa chấp che giấu thì phải tội tử hình [10] . Vì vậy dân chúng không dám che giấu, bắt được 6 người [11] giải về
kinh. Vua Hêrôtê Agrippa phán rằng: “Gã con thợ mộc tiếm xưng là con chúa Trời, triều đình đã bắt xử tử, còn thì
tha thứ hết cho bọn các ngươi. Thế mà nay các ngươi dám lôi kéo dân chúng của ta hùa theo đạo của nó, thật là coi
thường phép nước!” Bọn 6 môn đồ bị bắt đều vái lạy xin được tâu bày, đoạn dâng thư mật [12] để nhà vua ngự lãm.
Bọn họ nói nếu nhà vua thi hành các phép kín đã tâu thư thì cơ đồ bền vững muôn vạn năm, bờ cõi được mở ra rộng
lớn. Vua Agrippa cho hội họp triều thần để cùng nghe đọc và nghị bàn về bức mật thư ấy. Đình thần là bọn Xani tâu
rằng: “Hưng phế là số lớn của trời đất, xưa nay đều thế cả, bệ hạ hà tất phải bận tâm lo nghĩ chuyện năm trăm năm
sau làm gì. Nếu theo giáo thuyết của bọn kia rồi ra không chừng chẳng còn đất mà táng mộ tổ!” Bọn 6 môn đồ thưa
rằng: “Ý kín của thầy Jêsu chúng tôi là tuy nói cấm thờ cúng tổ tiên, nhưng chỉ ngăn cấm dân chúng mà thôi. Còn
đối với vua quan thì các đời đều có đền miếu thờ phụng”. Vua Agrippa nghe xong mắng rằng: “Vua mà bắt dân bỏ
việc thờ cúng là kẻ bất nhân còn nói gì đến việc gây dựng đất nước! Đã nghe lời thuyết giáo của hắn thì phải tôn hắn
62

làm thầy, thế là bọn các ngươi dạy ta lập kế ngu dân nhưng kỳ thực muốn làm ngu ta trước hết [13] . Tên yêu tà rậm
râu [14] thật quỷ quyệt thay! Chết rồi mà còn lắm mưu mô xảo quyệt!”

Lúc bấy giờ có viên thống binh ở trấn Jiuđia [15] tên là ĐôSaNùng nghe tin bắt được 6 tên yêu tặc cả mừng, vội vã về
kinh dâng lời phản kháng xin nhà vua cho xử tử ngay, nếu tha cho chúng thì thiên hạ sẽ nói ra sao? [16] . ĐôSaNùng
lại tâu mình biết phép kín yêu đạo kiêng kị nhất, xin cho được bí mật tâu riêng với vua, ĐôSaNùng tâu xong được
vua cho phép theo kế mà thi hành [17] .

ĐôSaNùng sắp đặt mưu kế cấm ngục tốt không cho người ngoài và những kẻ làm nghề thầy lang qua lại dò la, ai trái
lệnh bị tội chết. Sau đó đem quân bao vây các làng tả đạo, ra lệnh rằng: “Nay giết 6 tên giám mục tả đạo [18] , phanh
thịt cho chó ăn, lệnh cho dân làng già trẻ, trai gái mỗi người phải nộp hai đồng tiền để mua chó”. Truyền lệnh xong,
sai lính mở một cửa cổng thả xuống [19] cho dân làng đi ném tiền vào sọt. Khi ném tiền ai nấy đều phải nói to rằng:
“Nộp tiền mua chó ăn thịt vít vồ”. Kẻ nào không tuân lệnh thì bắt về kinh trị tội. Khi mọi người đã ra hết rồi, hễ
khám thấy kẻ nào còn trốn tránh thì chém đầu. Dân chúng cả sợ răm rắp tuân lệnh. Cứ thế ĐôSaNùng đem quân đi
vây các làng tả đạo, thu được hơn ba trăm quan tiền [20] . Nguyên là phép cấm của Jêsu rất nghiêm, những kẻ đã nộp
tiền giết giám mục thì hồn ắt bị đày xuống địa ngục không được chúa Trời nhìn nhận, vì thế họ không dám trở lại
theo tả đạo nữa. ĐôSaNùng biết dân tả đạo sợ điều đó cho nên mới dùng kế ấy để phá phép.

ĐôSaNùng trở về kinh sai người đi mua 60 con chó bảo rằng đó cũng là một kế đánh vào điều kiêng kỵ của tả
đạo [21] . Hồi đó ĐôSaNùng xin cho đắp một lũy nhỏ, lùa bọn 6 tên vào trong đó mà giết đi. Bọn 6 người nét mặt vẫn
thản nhiên như không [22] , kẻ bị đâm bằng giáo, kẻ bị lột da hoặc bị hành hình trên bàn trác [23]hoặc bị cưa người ra
từng khúc [24] . ĐôSaNùng cho quân bí mật bao vây quanh 6 lớp, sai phanh thây, xáo lộn hết rồi thả đàn chó vào ăn
thịt. Bao nhiêu xương xẩu còn lại, ĐôSaNùng sai lính băm vụn ra vứt xuống sông, không mảy may để lại vết tích.
Thầy trò Jêsu thường căn dặn dân đạo vét máu người tử vì đạo đưa về thờ [25]. Nay bị hào lũy ngăn cách có muốn
lượm xác cũng không vào được, dẫu lặn xuống sông cũng không mò được. Quả nhiên dân tả đạo tìm đến, nhưng chỉ
đành đứng nhìn mà khóc rồi về không [26] .

Còn 6 môn đồ của Jêsu chưa bắt được, vua Hêrôtê Agrippa xuống chiếu truy lùng khắp nơi, kẻ nào che giấu thì trị
tội cả vợ lẫn chồng [27] . Vì vậy bọn 6 người sống sót đi đến đâu cũng không ai dám chứa.

Lần ấy Phêrô cải dạng lén đến gò núi có mộ tổ của vua Hêrôtê lừa phỉnh dân chúng đào một cái giếng ở chỗ có
mạch đất rốn rồng. Việc chưa xong, Phêrô tình cờ nghe người chủ nhà bảo rằng: “Có chiếu truy lùng yêu tặc rất gấp,
chẳng biết định bắt ai?” Phêrô thấp thỏm lo sợ, nhưng cuối đầu cười đáp: “Ai bắt được yêu tặc ắt được làm quan
to” [28] . Hôm sau Phêrô hỏi thăm dân tả đạo ở kinh về, họ nói không thu nhặt được di tích gì, chỉ ghi được ngày
tháng bị hành hình mà thôi. Phêrô bèn cải dạng làm ăn mày, bí mật đi tìm các môn hữu còn lại mà bảo rằng: “Phen
này hết chỗ dung thân! Chúng ta phải mau thu gói sách vở cùng với mấy chiếc đinh và chiếc mũ gai là di vật của
thầy, theo lời dặn mỗi người một ngả mà trốn sang nước Tây Dương [29] ”.

Mọi người đang ngồi bàn tính, bỗng thấy Jêsu hiện ra bảo rằng: “Nước này dân chúng hung tợn cứng đầu, đạo ta
không thi hành được. Các ngươi hãy tạm lánh sang nước Italia chừng một năm để tìm cách báo thù cho ta, phải làm
cho vua tôi nước ấy lập đền thờ ta cho kỳ được mới thôi, còn các việc khác về sau sẽ định”. Xong đó môn đồ Jêsu
giả dạng ăn mặc như kẻ nông nô chia đường mà đi [30] .

Cha Jêsu là Jiuse tiếp được thư mật của Phêrô, xiết đỗi kinh sợ, vội đem vợ là Maria trốn sang nước Tây Dương.
Vượt qua ba tầng núi non trùng điệp, gian nan khốn khổ vô cùng. Maria cùng với chồng nhìn nhau khóc mà nói
rằng: “Từ khi Thiên Chúa Jêsu giáng sinh chỉ thấy chuốc cho nhà ta bao nỗi đau buồn”. Bỗng thấy Jêsu hiện lên an
ủi rằng: “Ngày nay cực khổ một đời, nhưng sau sung sướng được thờ cúng muôn đời, mong đành lòng nén chịu”.
Jiuse nói: “Triều đình đang truy lùng ráo riết, xin đức chúa Con đừng hiện lên nữa làm liên lụy đến hai người chúng
tôi” [31] .
63

Jêsu dẫn đường cho vợ chồng Jiuse qua núi rồi bất ngờ biến mất.

Nói về Jêsu không đạt được chí lớn, cho cái chết của mình không phải do số mệnh định trước, nên vẫn ôm ấp hy
vọng các môn đồ rồi ra sẽ thi hành được phép thuật của mình [32] . Nay thấy 12 môn đồ bị “giặc nước” giết mất một
nửa, Jêsu hết sức căm giận quyết khiến yêu binh một phen dấy lên rửa hận báo thù. Jêsu bèn tụ họp quỷ quân
LâmBô sai cầm giáo gậy cho cưỡi mây ngũ sắc kéo tới bao tỏa kinh thành Jêrusalem. Jêsu tay cầm cờ đỏ, miệng
quát thét chỉ huy chúng quỷ khiêu khích quan quân xuất chiến. Ngày hôm sau, Jêsu phóng hỏa đốt cháy nhà cửa của
dân chúng kinh thành. Chữa được đám cháy phía đông thì ngọn lửa lại bùng lên phía tây, dân chúng thật vô cùng
cực khổ. Vua Hêrôtê Agrippa truyền cho quan chiêm tinh là CaGiTa bốc thẻ bói. Lời thẻ nói: “Tên giặc này khi còn
sống bị 660 quân lính khảo đả. Vậy nay cũng xin dùng số 6 để mà chế ngự nó [33] . Lại phải dùng quỷ đánh quỷ thì
mới thắng, phải dùng lửa mà dập lửa thì mới phá được phép thuật của nó. Nạn giặc này xem ra cũng phải hơn một
năm mới dẹp được”.

Bấy giờ là có quan chiêm tinh tên Ipenso [34] tâu rằng: “Gió thổi về hướng sao Giốc rất độc, xin hoàng thượng lui về
cung tạm lánh”. Bấy giờ thái thượng hoàng Hêrôtê Antipa băng hà, dân chúng kinh thành có phần xao xuyến. Quần
thần tâu rằng: “Hiện nay yêu tặc mới dấy lên hoành hành, xin hãy quàn tạm”. Vua chuẩn tấu. Rồi đó triều đình tuyển
chọn các thầy phù thủy phép thuật cao cường [35] . Thống binh ĐôSaNùng sau khi được vua Hêrôtê Agrippa ban
chiếu cho phép tùy nghi hành động bèn sai mổ bò làm lễ lớn khao thưởng âm binh, hứa trọng thưởng cho kẻ nào bắt
được Jêsu. Các pháp sư bèn bện cỏ làm quân [36] chất cao như núi, tiếng kêu la ăn uống ầm ầm. Một hồi trống lệnh
vang lên, âm binh cầm cung kiếm chia đường tỏa đi chống giặc. Đi trước mỗi đạo âm binh đều có một lá cờ trứng đề
chữ: “Vâng mệnh chúa Trời, chém đầu yêu tặc Jêsu”. Lại truyền cho dân chúng trong ngoài kinh thành vót tre làm
cung tên giả, hễ thấy quỷ quân của Jêsu kéo đến lập tức reo hò bắn tên tới tấp. Lại có lệnh cấm không được bắn lầm
vào dân, ai trái lệnh thì bị chém.

Bài bố đâu đó xong xuôi, ĐôSaNùng cũng phỏng theo phép của Jêsu, đầu đội mũ triều thiên, mặc áo Italiêng đính
cườm, ngoài khoác áo liên châu dài vạt, một tay cầm cây gậy bạc, một tay vẫy cờ lệnh. Quân tiền đạo trương lá cờ
đỏ lớn, giữa đề: “ĐôSaNùng, con Thiên Chúa vâng mệnh diệt trừ Jêsu giả danh con Thiên Chúa”, mười sáu chiếc
lọng vàng vẽ hình mây che rợp đoàn quân, 660 tay cung nỏ hộ vệ ĐôSaNùng đi ra cửa nam kinh thành. ĐôSaNùng
lên chòi cao trên cổng thành, cầm ống loa sắt gọi to: “Thây ma tên giặc Jêsu có giỏi hãy đến đây giao chiến!”. Vừa
dứt lời bỗng thấy Jêsu đưa quân đến. Từ xe thấy cờ hiệp của ĐôSaNùng, Jêsu cả giận, từ trên mây quắc mắt nhìn
xuống quát to rằng: “Chính ta mới thật là con chúa Trời. Ngươi sao dám tự xưng là con Thiên Chúa?” ĐôSaNùng
cũng trừng mắt mắng rằng: “Chính ta mới thật là con chúa Trời, cớ sao ngươi dám mạo nhận?” [37] Jêsu quát đáp:
“Nếu ngươi quả là con chúa Trời thì hãy lên trên mây này cùng ta giao chiến!” ĐôSaNùng cũng quát lại: “Ngươi
quả là con chúa Trời thì hãy xuống đất đây giao chiến với ta!” [38] Thế là Jêsu phất cờ đỏ, lớn tiếng ra lệnh cho lính
LâmBô [39]xuống đánh. ĐôSaNùng cũng vẫy cờ phép [40] hô âm binh: “Đánh!” Mười pháp sư gióng trống khua
chiêng rầm trời nhắm lên các đám mây ngũ sắc mà chỉ trỏ làm dấu bắt quyết. Bấy giờ quân LâmBô của Jêsu cưỡi
diều giấy bay lượn khắp nơi. Sáu phía kinh thành [41] trống nổi vang dậy. Dân chúng hò reo ầm ầm. Vua Agripa nghe
huyên náo bèn ra trước cửa lầu đứng xem. Các quan tùy tùng vội tâu: “Quỷ quân bay lượn loạn xạ, xin thánh thượng
lui vào trong cung”. Vua Agrippa đành phải nghe lời.

Hai Thiên Chúa con giao chiến mấy chục hiệp không phân thắng bại đều phải lui quân về [42] . ĐôSaNùng cho mổ
trâu, giết bò khao thưởng âm binh.

Ngày hôm sau [43] , có đám mây đen từ hướng đông bay về phía phía kinh đô. ĐôSaNùng lại trương cờ dàn quân như
hôm trước.

Ba hồi trống lệnh vừa dứt, mười pháp sư cấp tốc cho âm binh ra nghênh địch. Dân chúng kinh đô lại nổi trống reo
hò vang trời, nhà nhà đều gương cung nhằm đám mây mà bắn loạn xạ. Lần này không thấy Jêsu hiện ra, chỉ thấy
64

một vạt mây đen rắc xuống một lớp mưa bụi chỉ trong chốc lát rồi tan. Quân dân những ai bị mưa ướt phần lớn đều
ốm nặng sưng nhọn lên mà chết. Trong kinh ngoài quận bị một nạn dịch lớn, dân chúng ai nấy đều kinh sợ, thì thào
bàn tán Jêsu có phép thuật linh thiêng [44] . Lại có kẻ vụng lén làm lễ cầu đảo. Nhà vua biết chuyện sai treo một móc
sắt và một thanh gươm ở mỗi ngả đường, rồi tung quân do thám đi khắp nơi, hễ bắt được kẻ nào phao tin đồn nhảm
thì cắt lưỡi, cầu đảo vụng trộm thì chém đầu. Từ đó, dân chúng không dám ho he bàn tán gì nữa. Lại sai pháp sư vẽ
mặt nạ hình trẻ con giao cho âm binh rước đi các nơi trừ tà đuổi quỷ, có qui định ban thưởng nhiều ít khác nhau.

Jêsu từ khi gây ra nạn dịch, thấy dân chúng kinh dị thì cho là nhà vua ắt cũng phải lo sợ. Tháng sau [45] , Jêsu lại cưỡi
xe mây trương cờ sai sáu tướng đốc xuất 6 đạo quân LâmBô từ phía bắc kéo đến. Quân của ĐôSaNùng [46] trèo lên
mặt thành nhận ra 6 viên tướng ấy đều là môn đồ của Jêsu. Thế là quân lính gương cung tới tấp bắn lên. Quân của
Jêsu bối rối chuyển tránh không dám xuống đất. Jêsu lớn tiếng gọi rằng: “Hỡi Hêrôtê Agrippa, hãy mau mau dựng
đền thờ phụng thầy trò ta!” [47]ĐôSaNùng đáp: “Mi là kẻ phạm tội, ta sẽ làm cái nhà xí quẳng mi vào” [48] . Jêsu cả
giận nói rằng: “Ngươi không thương tiếc nước của ngươi hay sao? [49] Phen này ta phải giết hết dân chúng nước
ngươi!” ĐôSaNùng đáp: “Sống chết có mệnh. Mi có giỏi cứ giết cả đi xem nào!” Jêsu càng tức giận nói rằng: “Sớm
muộn cả nhà ngươi cũng phải đày xuống địa ngục!” ĐôSaNùng đáp: “Nếu có địa ngục mi cứ chỉ cho ta xem. Còn ta
thì đã sẵn nhà ngục chờ mi từ lâu. Nay mi cứ đọ sức với ta, nếu ta chết có người khác kế tiếp, để xem mi có tác yêu
tác quái mãi được hay không?” Jêsu chỉ quát hừm một tiếng rồi bỏ đi.

ĐôSaNùng khua trống thúc giục dân chúng bắn theo Jêsu. Lần ấy hai con chúa Trời không xáp trận giao chiến. Các
tướng tùy tùng hỏi nguyên do tại sao, ĐôSaNùng đáp rằng: “Câu nói cuối cùng ta tỏ cho hắn hiểu ta đã biết chuyện
kín của hắn [50]cho nên hắn phải bỏ mà đi”.

Năm ấy, nước Jiuđê bị nạn dịch rất nặng, nhà vua xuống chiếu khuyên dụ dân chúng trong kinh ngoài quận những
nhà có người chết hãy tạm nén không than khóc, không mặc đồ tang, hò la đánh trống để xua đuổi ma quỷ [51] .
Thống binh ĐôSaNùng tâu vua rằng: “Lần này Jêsu có thêm 6 tên môn đồ bị giết dạo trước, thế tất lại kéo tới đông
hơn nữa, xin hoàng thượng hãy xuống chiếu triệu vời các vị đại linh sơn thần đem thần binh đến trợ chiến. Sơn thần
vui mừng được đội ơn triều đình ắt sẽ chém đầu yêu tặc đem dâng. Còn 6 đạo quỷ binh của Jêsu, chúng ta sẽ chặn
riêng từng ngả mà đánh đuổi thì bọn chúng phải tan chạy. Lại như lời quẻ nói rằng: “Dĩ hỏa xạ hỏa” (lấy lửa bắn
lửa) xem ra cũng có lý: dạo trước tên Jêsu kia đã phóng hỏa đốt nhà dân, nay ta cũng đốt mồi lửa đầu mũi tên mà
bắn xem yêu tặc đối phó ra sao”. Vua Hêrôtê Agrippa bèn hạn chiếu triệu 23 vị sơn thần xưa nay linh hiển đem thần
binh đến trợ chiến, thần nào đánh thắng quân giặc thì được gia cấp phong thưởng [52] . Các thần vâng mệnh cưỡi mây
về hội đều được lệnh đóng quân ở ngoài thành.

ĐôSaNùng ra lệnh cho dân chúng lấy tro trộn mỡ đắp vào mũi tên, hễ thấy quân LâmBô kéo đến liền châm lửa mà
bắn để trợ chiến với thần binh [53] .

Một tháng sau, quả nhiên Jêsu lại dẫn quân LâmBô từ tám hướng rầm rộ kéo đến bủa vây kinh thành. ĐôSaNùng cắt
cử nhiều võ quan đốc suất thần binh của các sơn thần và âm binh của các pháp sư ra trận. Một hồi trống lệnh vừa
dứt, lửa cháy lóa trời như đèn đuốc. Các sơn thần múa rìu vung búa từ bốn phía xông ra. Thần binh ném tên
tay [54] đầy trời như bướm. Dưới đất, dân chúng bắn hương đen lên tới tấp. Các pháp sư cầm gậy phép chỉ trò điều
khiển âm binh.

Jêsu cầm cờ quát thét quân LâmBô đánh tới, nhưng bọn chúng thấy nguy không dám xuống, Jêsu cả giận quát giục 6
tướng môn đồ đốc quân vào đánh, lại tự mình dẫn một đội quân nhỏ sà xuống toan đoạt lấy cờ lệnh của ĐôSaNùng,
bị một bộ tướng của ĐôSaNùng bắn rơi mũ triều thiên. Quân LâmBô vội nhặt dâng trả cho Jêsu. Jêsu vội làm dấu
chữ thập để trấn áp. ĐôSaNùng cũng làm dấu thánh giá để trấn áp Jêsu. Các sơn thần giao chiến quyết liệt từ các
phía, cờ lọng rợp trời như mây che, ngựa thần vun vút tung vó giữa không trung. Bỗng một đám mây mù bao tỏa
dày đặc, trời đất tối đen như mực, chỉ còn nghe tiếng hò reo quát thét. Rồi chiêng trống nổi lên vang động kinh
thành, đứng sát bên tai mà nói cũng không ai nghe tiếng. Trong khoảnh khắc, mây mù tan hẳn, ngước lên thấy sắt
65

giăng khắp trời, Jêsu mắc lọt vào giữa lưới. Quân của ĐôSaNùng tưởng phen này sẽ được tóm cổ Jêsu, bèn ùa reo
hò bắt. Bỗng 6 tướng môn đồ của Jêsu bay tới cầm ống lửa mà thổi. Lửa cháy rừng rực khắp trời nung chảy lưới sắt.
Jêsu trốn thoát. Quân ĐôSaNùng khắp mọi phía hò reo giục trống chạy đến trợ chiến. Tiếng người tiếng trống rồn
rập theo sau. Quân LâmBô của Jêsu bị một phen đại bại.

Bấy giờ vua Hêrôtê Agrippa mới lên ngôi chưa được bao lâu, gặp lúc trong nước bị trận đói lớn, lại thêm yêu tặc
dấy lên. Vua cha vừa mới mất, yêu khí càng thêm tác quái. Hơn nữa, sau tám tháng hạn hán, quân dân ốm đau dịch
bệnh thật là khốn khó trăm chiều, vua càng thêm buồn giận. Quốc sư Mensa [55] mới 18 tuổi là người thông minh
mẫn tuệ giỏi thuật âm dương, tâu vua rằng: “Xin hoàng thượng cho đào mả Jêsu, nhặt lấy xương cốt cùng với giá
câu rút, đinh sắt mũ gai của hắn đem đốt để hủy cho hết linh thiêng. Một mặt xuống lệnh bắt giam cha mẹ hắn để trị
tội” [56].

Chiếu vua truyền đến, dân chúng đưa đường cho quan quân, tới nơi thì thấy hang mộ không [57] . Lại cho tìm giá câu
rút [58] thì dân địa phương nói rằng trên núi Gôgôtha có nhiều hình cụ xử tử vẫn vứt bỏ đấy không ai dùng đến. Chỉ
cách đây bốn tháng có hai người ăn mày nói: vì bọn họ nghèo khổ cùng cực quá, xin cho nhặt mấy thanh gỗ ấy để
bán cho người ta làm củi [59] . Quan quân tầm nã đến nhà Jêsu ở Nazaret thì chỉ thấy bốn vách mốc nên không thấy
tang tích gì. Sự việc tâu lên, vua Agrippa cả giận nói rằng: “Tên yêu tặc này thật xảo quyệt nham hiểm”. Rồi vua hạ
chiếu cấp bách truy nã các môn đồ của Jêsu còn đang trốn tránh, dân chúng kẻ nào giấu giếm bao che bị tru di ba
họ [60] . Lại truyền cho các quan trấn thủ bất chợt phải đem quân đi bao vây các làng tả đạo, hễ bắt được thầy tu thì
đem chém ngay khiến cho dân các làng tả đạo phải kinh sợ [61] . Lệnh truyền đã hơn một tháng nhưng vẫn chưa bắt
được tên nào. Vua lại hạ chiếu truyền rằng: “Nay còn 6 tên yêu tặc lén lút trốn tránh, hễ ai bắt được một tên thì được
thưởng vàng 50 lạng, được ban quan tước vào hạng chim phượng [62] , sau khi chết được phong làm thượng đẳng
phúc thần, được lập đền thờ ở làng”. Từ đó quyền hào các nơi đua nhau thám thính lùng sục, nhưng vẫn không bắt
được tên nào [63] .

Mấy tháng sau Jêsu lại đem quân LâmBô đến khiêu chiến. Vua hạ chiếu truyền cho 23 đại linh sơn thần [64] đem
quân dàn trận chận giặc ở ngoài cửa bắc kinh thành. Một mặt truyền cho dân các làng thờ thần đều lập bàn thờ, đặt
bồn hương, rước lọng thần cùng với áo mũ kiếm kích của thần đi hộ tống ở đằng sau. Vua Agrippa lên lầu cao duyệt
trận địa thấy hương khói ngùn ngụt lan tỏa, cuối cùng bốc vọt lên mây như chiếc cầu vồng, hồi lâu không lay động,
ngọn lửa tỏa sáng khắp bốn phía [65] . Đình thần tâu rằng: “Trận này xem chừng quân lính có phần lo sợ, ngờ Jêsu
quả đúng là con chúa Trời. Xin hoàng thượng dự liệu cách trấn an”. Vua Agrippa bèn phỏng theo phép của thống
binh ĐôSaNùng sai treo trước lầu ngự một lá cờ lớn có đề chữ: “Thiên Chúa Agrippa” [66] .

Các sơn thần vâng mệnh hiện ra trên không giữa ba ngày, tàn vàn cao vút, nghi vệ đường đường, mỗi thần đều cưỡi
một con ngựa quý, lúc ẩn lúc hiện giữa các tầng mây. Thần binh đều mặc áo đỏ, ửng rực cả cánh đồng. Mười vị
pháp sư cầm gậy phép niệm chú bắt quyết đốc thúc các đạo kỳ binh [67] tiến lên trước để thừa cơ xông trận.
ĐôSaNùng làm phép yểm tà bằng cách lấy máu chó bôi lên chóp nón trận, trương cờ đại tướng đốc thúc quân lính
tiến về phía các tướng môn đồ của Jêsu đang cầm ống sắt thổi lửa xuống đằng xa.

Bên phía quân LâmBô của Jêsu, đạo quân phía đông mặc áo trận màu đỏ, cầm giáo đỏ, cưỡi đám mây xanh. Đạo
quân phía tây đội mũ trận màu bạc, trương cờ trắng, cưỡi mây vàng. Đi đầu là hai đội quân cung tên ngồi trên, dải
mũ xanh. Tiếp theo sau là hai đội quân cầm giáo dài cưỡi mây trắng. Jêsu che lọng ngồi trên đám mây đỏ ở chính
giữa, đầu đội mũ triều thiên, mặc áo thụng đính hạt cườm, tay trái khua cờ lệnh, tay phải cầm gậy bạc. Từ xa trông
thấy lá cờ hiệu đề chữ: “Thiên Chúa Agrippa” trên lầu thành, Jêsu cả giận quát rằng: “Ngươi có phép thiêng gì mà
dám tự xưng là Thiên Chúa thần linh?” ĐôSaNùng cũng quát đáp: “Thứ mi có uy linh gì mà khi còn sống dám tiếm
xưng danh hiệu?” Jêsu không đối đáp được, bèn phất cờ lệnh thúc quân xông thẳng xuống lầu ngự của vua Agrippa.
Lầu ngự bỗng nổi trống lệnh, tên bắn lên trời tới tấp như mưa. Jêsu không thể xáp xuống được, đành phải lượn vòng
từ trong ra ngoài. Các sơn thần thấy quân LâmBô đánh áp vào lầu ngự vội từ phía sau lướt tới, cả ba mặt đánh xuống
cùng một lục. Quân LâmBô của Jêsu kinh hoảng tan chạy. Môn đồ của Jêsu cưỡi xe mây chia đường đón đánh. Các
66

sơn thần cũng chia quân bổ vây. Quân hai bên giao chiến, tiếng hò reo vang trời. Sáu tướng của Jêsu lượng sức
không chống nổi, chỉ một lúc sau phải tìm đường tháo chạy rồi đột nhiên biến mất. Bỗng thấy các bồn hương thờ
sơn thần bày giữa đồng xoay tròn chạy chụm vào nhau, gươm giáo dựng ngược chĩa lên trời, chỉ trong chốc lát đổ
vỡ mất 10 bình hương. Dân chúng các làng vung gậy thúc trống đuổi theo, gặp lúc các sơn thần cũng vừa kịp đến
tiếp ứng. ĐôSaNùng dẫn quân đuổi theo mà bắn. Jêsu ngồi trên mây quát: “Ngươi là ai mà dám đương đầu với ta?”.
ĐôSaNùng lớn tiếng quát: “Ta chính là kẻ dạo nọ đã đâm thủng ngực mi!”

Jêsu cả giận, lại đốc thúc đội quân tùy tòng đánh xuống để giết ĐôSaNùng. Bọn quỷ binh đến gần ngửi thấy mùi
máu chó tanh lợm, không dám xuống, đành chịu đứng khựng giữa lưng chừng trời. ĐôSaNùng thấy đội quân ấy đều
có đuôi chim [68] bèn hô lớn: “Bắn chết bọn quân thiên thần đi! Bắn chết bọn quân thiên thần đi!” [69]Đoạn truyền
lệnh châm lửa bắn, tên lửa tới tấp bay lên như đóm. Bọn quân “thiên thần” hoảng sợ bỏ chạy [70] . Kỳ binh của các
pháp sư và thần binh của các sơn thần cũng vừa từ phía sau đánh áp tới. Chỉ trong khoảnh khắc, các đạo thần binh
của các sơn thần và quân LâmBô của Jêsu đều biến mất, trên trời dưới đất yên ắng như không có chuyện gì.

Trận này dân chúng đứng xem chật ních như nêm. Vua Agrippa đứng trên lầu cao chỉ thấy âm binh xoay vòng, thấp
thoáng ẩn hiện trong mây, giơ tay cả cười rằng: “Thật là việc lạ xưa nay chưa có!” Sau trận giao chiến, triều đình
cho khao thưởng quân sĩ. Vua Agrippa hỏi ĐôSaNùng: “Nạn giặc này liệu đến bao giờ thì hết?” ĐôSaNùng tâu
rằng: “Quân lính của yêu tặc Jêsu đều là những kẻ chết không phải do số mệnh định trước cho nên thường hay hung
hăng táo tợn. Nhưng xem mấy trận giao chiến vừa rồi thì chỉ có đội quân ấy, ngoài ra không đáng kể. Những kẻ chết
đúng mệnh thì uể oải không có nhuệ khí, Jêsu không thể điều khiển được chúng [71] . Đó chẳng phải ai khác ngoài
những kẻ bị hành hình từ trước đến nay ở núi Gôgôtha, xác chết phi mệnh chồng chất lâu ngày cho nên mới hiện ra
như vậy. Thần lại đã lo trước rằng bọn này dễ gây biến, vì vậy khi hành hình 6 tên môn đồ của Jêsu, thần đã phanh
thây cho chó ăn thịt, đập nát xương vứt xuống sông là cốt để cho bọn chúng mất bớt đi linh thiêng, cho nên bọn
chúng mỗi khi lâm trận thường bỏ chạy. Vì vậy thần mới liệu đoán rằng bọn 6 tên ấy cũng chẳng tác yêu tác quái
được bao lâu nữa. Chỉ có tên Jêsu sẽ làm phiền hoàng thượng phải lo nghĩ”.

Từ đó cứ 10 ngày, Jêsu lại dẫn yêu binh đến quấy phá. Tướng sĩ canh giữ cẩn mật nhưng cũng chỉ vu vơ bắt gió mà
thôi. Dịch bệnh vẫn lan truyền, dân chúng không ngớt bàn tán những lời phao đồn xằng bậy.

Vua Hêrôtê Agrippa rất lo lắng, bèn hội họp các đại thần để bàn bạc. Quan tả thừa tướng MiNê tâu rằng: “Quân Jêsu
thế lực hùng mạnh, tuy chỉ có bấy nhiêu nhưng một địch được vạn. Hung ác như bọn giặc này xưa nay chưa từng
nghe nói. Nay thần xin hoàng thượng hạ chiếu truyền cho các sơn thần trong cả nước không kể lớn nhỏ đều phải
đem quân đến hội để bắt cho được yêu tặc Jêsu. Sau khi tan giặc, ai nấy đều sẽ được vẻ vang gia thăng phẩm trật.
Như thế để xem yêu tặc giỏi thoát lối nào [72] . Lại xin hoàng thượng truyền chiếu cho thiên hạ biết: Ai hiến được kế
lạ, người thì được phong quan cao chức trọng, quỷ thì được phong phúc phần”. Vua Agrippa khen phải, bèn sai thảo
chiếu như lời tâu. Do đó các thần bốn phương đất nước cả mừng lũ lượt đưa quân về kinh triều cận. Đã có chiếu
truyền: các thần binh đến nơi thì cho lên đường đi đánh ngay. Rồi đó vua ban tiệc lớn cho các thần. Từ đó dân gian
khắp nơi nhìn lên trời bất chợt thấy những trận giao chiến không rõ thắng bại, bên nào thật bên nào giả cũng không
phân biệt được.

Một đêm vua Agrippa đang ngủ, thấy một nữ thần nhẹ nhàng bước vào sụp lạy. Đi theo nữ thần là 10 thị nữ, tất cả
đều mặc áo đỏ tay hồng. Nữ thần tâu rằng: “Thiếp là nữ thần ở núi nọ, nghe chiếu truyền xin đến dâng kế đánh yêu
tặc”. Nói đoạn bưng chiếc hộp xà cừ dâng lên, trong hộp có 6, 7 thỏi nhỏ, một thỏi là diêm tiêu, một thỏi hoàng tiêu,
một thỏi than đen, một đoạn ống sắt và một hòn đạn sắt. Nữ thần nói tiếp: “Ở núi thần ở có rất nhiều những thứ này.
Trộn lẫn mấy chất đó nhồi vào ống sắt mà đốt thì phát ra tiếng nổ như sấm, khói bốc khét lẹt khiến cho khí ác không
thể ngưng tụ được”. Rồi đó nữ thần nói rõ cách thức điều chế thuốc đạn cùng là cách chế tạo pháo thăng thiên và
súng phun lửa. Nữ thần lại xin nhà vua cho đốt trụi ngọn núi nơi Jêsu chết và thiêu hủy hang mộ Jêsu khiến cho linh
hồn Jêsu phải tan tác [73] . Vua Agrippa hứa làm theo lời tâu của nữ thần.
67

Sáng hôm sau vua ngự triều, sai người đi đốt núi Gôgôtha và phá hủy hang mộ Jêsu. Vua lại sai người tìm đến ngọn
núi nữ thần đã nói, quả nhiên thấy một ngôi đền nhỏ. Trong đền có mấy cái hang rất nhiều diêm tiêu và hoàng tiêu,
đào lên lại thấy một chiếc ống sắt lòng rộng bằng cái đấu, dài 4 thước, bên trong có nhiều lỗ nhỏ, quân lính bèn nhặt
lấy đem về. Vua Agrippa sai người theo đúng lời dặn của nữ thần chế ra năm mươi cỗ súng lớn nhỏ, điểm hỏa bắn
thử, quả nhiên phát ra tiếng nổ ầm vang như sấm động, các đồ dùng sành gốm rung chuyển vỡ choang.

Lại thử pháp thăng thiên: vừa châm mồi cả ống lửa liền bay vọt lên trời phun lửa ra như mưa. Thử tiếp súng phun
lửa: mồi châm xong, đạn lửa bay ra như sao. Người đời sau có loại súng sắt bay lên trời khạc lửa là bắt đầu từ đó.
Đến đời vua Lý Tông [74] phép chế súng truyền ra ngoại quốc, từ đó ở Trung Hoa mới có.

Các phép thuật đã đầy đủ, người ngoài không hay biết, vua Agrippa bèn triệu bốn vị thần có danh tiếng vào triều căn
dặn những điều cơ mật. Chỉ trong chốc lát đã thấy bốn vị thần mặc áo vàng, đi hia rồng hiện ra trước ngự tọa. Vua
truyền: “Nay quân ta có súng thần công trợ chiến, các thần cần báo cho nhau biết, cẩn thận chớ kinh sợ. Trận chiến
sắp tới các thần hãy dàn quân ba mặt, giả vờ đánh thua, từ từ lui chạy, dụ cho yêu tặc đuổi theo chạy đến ngọn núi
ĐôngLâmLiệt [75] . Các đạo quân gặp nhau mai phục dưới chân núi, cải dạng che giấu các hỏa pháo và xa pháo để
cùng lúc nổi lên chặn đánh; bắt bọn yêu tặc Jêsu chính ở trận này”. Bốn vị danh thần vái lạy vâng mệnh rồi biến
khuất.

Jêsu lại dẫn quân đến khiêu chiến, đứng giữa không trung quát to rằng: “Mau lập đền thờ cúng thầy trò ta! Bằng
không phen này cả nước ngươi phải chết!” ĐôSaNùng vẫy cờ lệnh cho âm dương binh [76] tiến lên. Một tiếng thanh
la vang dậy, vô số lọng thần [77] vụt ra khỏi mây lấp lóa đầy trời không đếm xuể. Chỉ nghe tiếng gươm giáo chạm
nhau lanh lảnh, bóng cờ phần phật tung bay, khi chụm khi tan, lúc ẩn lúc hiện. Các thần xông sát quyết chiến, trăm
quân bên dưới một lòng. Trên mặt thành, quân lính nổi trống khua phèng đinh tai nhức óc. Jêsu chống trái đỡ phải,
cờ đỏ rập rờn, uy phong lẫm liệt. Bên quân của ĐôSaNùng, âm binh bị vây hãm, sấp ngửa chạy về thành. Mười pháp
sư làm phù phép đốc thúc nhưng không thể xua chúng tiến lên. Bỗng thấy Jêsu vẫy cờ xám, lập tức lửa ngọn lả tả rơi
xuống như sao, thiêu cháy lọng vàng của các thần. Quân LâmBô giáo mác tua tủa xúm đánh các thần nhỏ. Các thần
nhỏ không chống cự nổi đều lăn nhào xuống đất. Quân LâmBô cả tiếng gào thét quát hỏi: “Các thần kia đã biết tài
của con chúa Trời hay chưa?”. Các vị thần lớn vội quạt gió thổi mưa dập tắt các ngọn lửa cháy lọng. Thấy các thần
nhỏ thua bại, các thần lớn nhất tề xông đến tiếp cứu. Jêsu hô lớn: “Kẻ nào không chịu tiến thì chém!” Rồi đó quân
Jêsu từ hai phái áp đánh kinh thành. Khắp nơi sương mù vàng ợt, chỉ nghe tiếng trống “phầng phầng” không rõ phát
từ đâu. Trời đất tối sầm, đôi bên vẫn chưa phân thắng bại. Bỗng thấy một đội quân “thiên thần” ào tới quần lượn trên
trời, gặp lúc một đội thiết diện quân cũng vừa kéo đến xung kích xông vào giao chiến, quân “thiên thần” thua chạy.
Rồi đó một vị sơn thần từ trên trời cưỡi ngựa hạ xuống báo với ĐôSaNùng: “Thần tôi vừa đi do thám về, thấy yêu
tặc Jêsu có 6 đội quân ở đằng xa, mỗi đội đều trương một lá cờ lớn đề chữ “Vít vồ”, thanh thế rất hùng mạnh. Lại
thấy dưới dân gian giáo đồ tả đạo phần nhiều đều theo bọn chúng, ngửa mặt nhìn lên trời mà vái lạy. Xin tướng quân
tìm cách trấn an lòng người”.

Lúc ấy ĐôSaNùng đang ở trên lầu thành cửa đông, vội sai làm ngay 6 lá cờ đỏ, mỗi cờ cũng đều đề chữ “Vít vồ”.
Rồi đó ĐôSaNùng sai người truyền loa gọi các thần trở về đón cờ đem đi. Thế là 6 ngọn cờ đỏ bay vút tận mây, dân
chúng nhìn lên ai nấy đều trầm trồ cho là kỳ lạ. Giữa lúc giao chiến đang hăng, hai bên đều muốn cho quân lui nghỉ,
chợt có một vị thần mặc áo vàng xông lên quát lớn: “Một trận thấy anh hùng!” Thế là quân hai bên lại xông vào hỗn
chiến, chỉ thấy màu đỏ màu đen nhào lượn lên xuống, chiến bào phất bay, cờ đỏ rập rờn ngang dọc. Bỗng nghe một
hồi trống đại, không rõ hiệu trống của bên nào, sau khoảnh khắc thấy 6 đội quân ào ạt lướt tới, mỗi đội đều trương
cờ hiệu “Vít vồ”. ĐôSaNùng nghe dứt tiếng trồng bèn cầm loa truyền lệnh: “Các vít vồ bên ta nghênh chiến!” Lệnh
vừa dứt bỗng thấy 6 lá cờ đỏ cùng lúc trương lên [78] . Quân hai bên xông vào hỗn chiến, giẫm đạp lên nhau, không
phân biệt được quân vít vồ bên nào nữa. Bỗng thấy Jêsu hiện ra phất cờ hiệu đuôi nheo, đầy trời chớp lóa mắt. Thần
binh sợ hãi bỏ hàng ngũ mà xô nhau tháo chạy. Các thần giả cách đánh thua lui chạy về dãy núi phía đông kinh
thành rồi dàn quân ba mặt đóng giữ.
68

Quân LâmBô hò reo: “Bọn thần binh tan chạy rồi! Thần binh tan chạy rồi!” Jêsu được lướt thúc quân đánh vào kinh
đô để vây tỏa hoàng cung, chẳng ngờ gặp sức kháng cự không phá được, phải quay ra khiêu chiến với cả ba phía
thần binh. Đang lúc do dự cầm chừng, bỗng từ lầu ngự trên mặt thành nổi vang ba tiếng trống, các cỗ súng mai phục
dưới chân núi nhất loạt phát hỏa, sấm vang chớp giật [79] , súng lớn súng nhỏ nổ vang, khói trắng bốc lên mờ mịt.
Sáu tướng vít vồ tái mặt, dúi dụi ngã nhào trong mây. Jêsu kinh hoảng bỏ chạy. Quân LâmBô thấy vậy đều xô nhau
tẩu thoát. Bỗng lúc ấy, lửa pháo thăng thiên từ dưới đất vọt lên, quân LâmBô hoảng hốt lăn nhào xuống đất.
ĐôSaNùng hô quân ùa tới chém giết, chỉ thấy áo rách tơi tả vương đầy mặt đất. Cả đoàn quân LâmBô của Jêsu mất
hút, không biết biến đi đằng nào.

Trong trận này, vua Agrippa cùng với các đại thần văn võ và các quan binh chỉ đứng trên mặt thành cầm quân đóng
giữ, khua chiêng gióng trống trợ chiến từ xa. Dân chúng kinh thành hò reo vang dậy, thật là một phiên hội mừng náo
nhiệt. Chẳng bao lâu trở lại yên tĩnh, mây tạnh trời quang.

Jêsu thua bại, dẫn tàn quân chạy về núi Gôgôtha, chỉ thấy tro bụi một bãi tro tàn không sót một lùm cây ngọn cỏ [80] .
Jêsu cùng đám bại binh dắt díu nhau gào la mà chạy, ra đến vùng núi Cát [81] mới dám dừng lại nghỉ ngơi. Bỗng thấy
các thần dẫn quân đuổi theo gần kịp đang tung lưới sắt bủa vây. Jêsu vội vứt cờ đỏ, rơi mũ triều thiên chạy bay về
núi Cửa ải [82] nấp trốn trong một hang sâu. Các thần tới nơi lùng sục nhưng không bắt được [83] . Chợt có một con
phượng hoàng xanh [84] vút lên không bay về kinh đô cất tiếng tâu rằng: “Yêu tặc Jêsu chạy trốn vào núi Cửa ải, bọn
thần đã đem đội quân tới lùng soát nhưng chưa biết rõ chỗ ẩn nấp. Xin hoàng thượng nhân thời cơ ra uy trời đánh
đuổi yêu tặc ra ngoài biên giới. Nếu không y sẽ quay lại gây phiền nhiễu cho triều đình phải lo nghĩ”. Vua Agrippa
lập tức truyền lệnh cho ĐôSaNùng dẫn ba nghìn pháo thủ và đốc thúc các đạo thần binh đi lùng bắt, đến hơn 20
ngày mới quay về. Từ đó Jêsu không dám lẻn về quấy phá nước Jiuđê nữa, khí thế “thiêng liêng” vì vậy cũng hao
tổn mất tám, chín phần.

Trong trận ấy, việc súng thần thật là một sự là từ xưa chưa từng nghe nói. Cùng lúc bắn lên […] [85] , thần binh của
triều đình đã bị “ngã” mất đến nửa số. Nạn giặc Jêsu quấy phá quả nhiên trước sau phải mất đến hơn một năm mới
dẹp yên. Lời tiên đoán “Dùng quỷ đánh quỷ, lấy hỏa trị hỏa” cũng được chứng nghiệm.

Các thần đánh bại quỷ binh của Jêsu, cắt được thủ cấp hơn 3 nghìn sọt, chở về đổ đống ở cánh đồng ngoài kinh đô.
Binh lính và dân chúng tranh nhau chạy ra xem. Thoạt đầu thấy đúng là đầu người, hồi lâu nhìn kỹ thì hóa ra đều là
xương đầu lâu. Vua sai xét nghiệm mới hay đó là xương sọ của kẻ tử tù. Trong triều ngoài quê bấy giờ mới biết âm
hồn của những kẻ chết không phải do số mệnh ở núi Gôgôtha bị Jêsu lôi kéo, cho nên mới liều lĩnh hung hăng như
vậy. Nay bị các thần chém đầu, phải hiện nguyên hình như cũ. ĐôSaNùng ra lệnh hỏa thiêu để diệt trừ oan khí [86] .

Vua Agrippa vì chuyện Jêsu dấy yên binh hại nước càng căm ghét tả đạo, truyền chiếu lùng bắt bọn vít vồ lánh trốn
càng gấp hơn. Tả thừa tướng MiNê tâu rằng: “Từ nay nên cấm hẳn không cho dân ngu [87] năm huyện thờ tả đạo
nữa”. Vua lại hỏi thống binh ĐôSaNùng phải làm cách gì để ngăn cấm? ĐôSaNùng tâu: “Dân bị mê hoặc đã sâu,
phải có phép thật nghiêm mới sửa được. Nay ta phải dùng phép của hắn mà trị hắn thì công việc đỡ phiền phức mà
có hiệu quả. Thần được biết Jêsu cấm người ta không được gọi đạo ta [88] là đạo chính và không được gọi thầy cả
đạo ta là thầy, chỉ dành những tiếng ấy để xưng hô với hắn mà thôi. Bọn vít vồ đi đến đâu, dân ngu đều rải chiếu kín
đất mà đón rước, những kẻ phú hào dẫn dân binh vác gậy đỏ xếp hàng hai bên đường nghênh đón. Bọn vít vồ ngồi
xe son che lọng vàng, đàn ông đàn bà cầm nến sáp đi theo hoặc quỳ lạy nghẽn đường, già trẻ thảy đều tung hô hoan
hỷ. Xem ra bọn họ chỉ biết tôn kính vít vồ mà khinh miệt quan lại của triều đình, bảo triều đình là quân vô đạo, bảo
các thầy cả đạo ta là những kẻ làm phép ngụy. Đại khái bọn chúng mê hoặc lòng người, coi khinh phép nước như
thế [89] . Hơn nữa chúng rao giảng toàn những điều có hại đến luân thường [90] . Nay xin hoàng thượng cho đổi cách
xưng hô: gọi các cố đạo là thầy cả đạo chính, nắm quyền ngăn cấm tả đạo, như thế công việc thưa giản mà phép tắc
được nghiêm hơn. Nếu cứ để như trước thì e rằng bọn nha lại tham tiền của đút lót thả lỏng cho bọn thầy tu tả đạo
coi thường phong tục. Cần phải đặt lệ thưởng to phạt nặng, kiên trì vài bốn chục năm trở lên thì mới có thể uốn nắn
bọn chúng trở về chính đạo”.
69

Vua Hêrôtê Agripa nghe xong lo ngại phán rằng: “Cha chả ghê thay kẻ hiểm tâm ngang ngạnh! Nay trẫm sẽ nghiêm
cấm, truyền cho con cháu, vạn năm không được nới tay!” Rồi đó vua truyền lệnh lập sổ ghi tên dân tả đạo các làng
trong nước trình lên để xem xét. Đổi gọi cố đạo các làng là thầy cả đạo chính. Tờ chiếu đại lược viết: “Bọn các
ngươi tiêm nhiễm yêu ngôn đã lâu, quay lại khinh miệt cha ông khi còn sống thì không nuôi dưỡng, không cung
kính; đến khi chết thì đào huyệt chôn sâu, không thờ cúng, không xót thương. Tuy gọi là loài người mà lòng dạ thật
đúng là loài chó lợn. Nay trẫm truyền đổi tên cố đạo gọi là thầy cả đạo chính coi giữ phong tục các làng; một mặt
đặt ra những điều lệ mới, ghi rõ cho mọi người đều biết như sau:

 Điều 1: Các cố đạo trước đây từ nay đổi gọi là thầy cả đạo chính.

 Điều 2: Chức thầy cả đạo chính ở mỗi làng lớn đặt 3 người, làng không lớn lắm đặt 2 người, làng nhỏ đặt 1
người, được cấp lương ấn có phân biệt các mức nhiều ít khác nhau.

 Điều 3: Dân tả đạo mỗi khi có việc tang ma chôn cất đều phải đến trình để thầy cả đạo chính đích thân đến
kiểm soát và chỉ bảo cho cách thức làm đám tang đúng theo phép nước.

 Điều 4: Dân tả đạo mỗi nhà đều phải lập một bàn thờ, viết thụy hiệu tổ tiên từ 5 đời trở xuống mà thờ
phụng.

 Điều 5: Dân tả đạo đến ngày giỗ cha ông, tùy theo hoàn cảnh mỗi nhà giàu nghèo mà soạn lễ cúng, nhất
thiết phải trình để thầy cả đạo chính và trưởng ấp đến tận nơi xem xét.

 Điều 6: Các hương trưởng phải phân bổ cho dân tả đạo các nhà theo lệ đóng góp vào việc thờ thần của
làng.

 Điều 7: Viên hương trưởng nào mà phụ họa làm theo dân tả đạo thì bị xử trảm.

 Điều 8: Dân tả đạo khi làm lễ cưới thì cả hai vợ chồng đều phải lạy bàn thờ tổ tiên nhà vợ cùng là lạy sống
cha mẹ vợ, sau đó mới đón dâu về nhà chồng. Về đến nhà chồng thì phải lạy bàn thờ tổ tiên nhà chồng cùng
là lạy sống cha mẹ chồng.

 Điều 9: Ai cáo giác bắt được bọn đồ đảng yêu đạo thì được ban phẩm hàm quan tước, sau khi chết được
phong phúc thần như đã nói trong chiếu chỉ năm ngoái.

 Điều 10: Dân tả đạo kẻ nào không tuân theo những điều khoản trên đây thì thầy cả đạo chính và hương
trưởng phải bắt dẫn lên quan trên xử trảm cả vợ lẫn chồng.

 Điều 11: Thầy cả đạo chính kẻ nào tham tiền của đút lót mà ngấm ngầm làm theo tả đạo thì bị khép tội bất
trung với mệnh vua, xử trảm.

 Điều 12: Thầy cả đạo chính và hương trưởng nếu dốc lòng nghiêm cấm tả đạo và sửa đổi cho dân tả đạo trở
lại quốc tục thì sau khi chết được phong làm thần làng.

 Điều 13: Khi thầy cả đạo chính được sắc ban về làng, hết thảy dân tả đạo đều phải sửa soạn xe son lọng
vàng, cầm gậy đỏ và đèn sáp xếp hàng hai bên vệ đường nghênh đón.

 Điều 14: Thầy cả đạo chính và hương trưởng nếu không may bị thiệt mạng trong khi thừa hành chức vụ thì
lập tức được gia phong, triều đình sẽ bổ ngay người khác đến thay thế [91] .
70

 Điều 16: Kẻ nào cất giữ quần áo, chuỗi hạt, tranh ảnh, sách vở của yêu tặc, hạn trong một tháng phải đem
đến nộp cho thầy cả đạo chính và hương trưởng để chuyển lên quan trên thiêu hủy. Sau hạn đó, khám xét
thấy kẻ nào còn cất giấu thì xử trảm [92] .

Dân tả đạo từ trước chỉ tôn kính Jêsu cùng các vít vồ, đến nay nghe lệnh truyền xuống ai nấy sững sờ buồn thiu lo sợ
bị đày xuống địa ngục. Bọn họ bàn tán với nhau không biết làm thế nào. Nhưng vì sợ phép nước, ai nấy đều phải
tuân hành theo đúng chiếu thư. Các thầy cả đạo chính thì đều mong được phong thần, cho nên càng dốc lòng nghiêm
cấm tả đạo. Cứ như thế trong khoảng hai chục năm mới tạm dẹp được tập tục tà giáo.

Xét việc bài trừ tả đạo ở nước Jiuđê, bất cứ điều gì cũng đều phải tuân theo phép của Jêsu mà phá thuật của Jêsu,
chẳng hạn việc đề chữ trên cờ hiệu, đổi gọi cố đạo là thầy cả đạo chính, cùng là lệ phong thần, bổ nhiệm người thay
thế để duy trì phép tắc cho nghiêm, v.v. Cách thức trấn áp những kẻ mù quáng như thế thật là rất diệu, đúng là “vỏ
quýt dày, móng tay nhọn” vậy. Ngày nay bọn Tây Dương cũng vẫn phải sợ những phép ấy.

Sau khi dẹp xong yêu tặc, vua Agrippa xuống chiếu đại xá thiên hạ, chỉ trừ 6 tên giám mục môn đồ của Jêsu. Bấy
giờ trong triều ngoài nội người ta đều cho rằng bọn chúng đã cải tà quy chính, tuyệt hẳn không dấy lên nữa. Nhưng
chỉ một năm sau, trong dân gian có viên quản giáp tên là MaLa cùng với người làng TônNi tên là ANga bắt được
một thầy tu tả đạo tên là MiNghi. Lại viên quản giáp tên là NôTư bắt được thầy tu tả đạo tên là TuânTê. Cả hai gã ấy
chỉ mới ngoài 20 tuổi [93] . Bấy giờ hai gã đều giả dạng làm thầy lang đến chữa bệnh ở hai làng kia, hương trưởng lấy
làm ngờ [94] dẫn tuần đinh bắt giữ xét hỏi: “Có phải ngươi là thuộc hạ của bọn vít vồ hay không?” Người ta đồn rằng
nếu hai gã ấy là bè đảng ngụy đạo thì thế nào chúng cũng chối cãi. Chẳng ngờ hai gã kia tự nhận là đúng [95] . Thế là
cả hai liền bị dẫn nộp lên tổng trấn. Quan tổng trấn tâu báo về triều, vua Agrippa cho lệnh giải về kinh. Tra khảo đầu
đuôi, hai gã ấy mới phải khai rằng: “Cả 6 môn đồ của Jêsu đã trốn sang Tây Dương, lập thêm bọn chúng tôi làm
thầy cả, tất thảy là 54 người, bảo ở lại lén lút trà trộn trong dân gian. Lại căn dặn rằng: Các ngươi phải vững lòng
tin, rằng chờ ngoài mười năm, năm mươi năm nữa, kẻ kia dễ sống đại được nghìn tuổi không chết hay sao? [96] . Nó
chết thì con nó nối ngôi hoặc giả đó là kẻ ngu tối, hoặc là gặp nhiều sự cố rắc rối, hoặc sẽ bị người của đạo ta trừ
khử đi v.v. Do đó mà bọn chúng không lưu ý đến việc cấm đạo nữa. Các ngươi còn trẻ, đến lúc ấy khoảng sáu, bảy
mươi tuổi, chắc là chưa chết hết, ít nhất cũng còn một phần ba sống sót. Lúc bấy giờ các ngươi sẽ bí mật lập đạo,
cùng nhau đi thuyết dụ dân chúng, há lại không dụ được vài ba trăm nhà hay sao? Cứ đà ấy nhen nhóm gây dựng
dần dần mà trỗi dậy. Lúc ấy bọn ta đã già yếu rồi, cho nên phải dặn trước để các ngươi nghe ngóng thăm dò, bốn
phương tìm nhau tụ hội lại dần dần thì giáo dân hai nước [97] cũng như con một nhà vậy. Như thế bọn chúng nó làm
gì được chúa Jêsu của chúng ta?” [98] .

Nghe lời khai của hai gã thầy tu, vua Agrippa cả kinh đập tay [99] xuống án phán rằng: “Bọn giặc này thật ngang
ngạnh, cứng đầu! Đúng như tổ sư [100] của chúng vẫn nói là trên dưới một lòng, vững như sắt đá, kẻ trước chết người
sau tiếp!” [101]

Liền đó vua sai ghi họ tên quê quán của bọn thầy tu tả đạo 52 tên còn lại đem niêm yết khắp nơi để lùng bắt. Một
mặt sai quân tầm nã đến tận quê quán của từng tên bắt giam gia quyến và tịch thu mọi thứ lễ phục, giấy tờ, bằng
sắc [102] . Lệnh truy lùng tả đạo càng gắt gao hơn trước, đến nỗi đàn bà con gái nhà giàu thường có những chuỗi ngọc
trang sức nhưng đều phải tháo rời ra chẳng ai dám đeo, vì sợ người ta ngờ là chuỗi con niệm. Đồ đạc dụng cụ trong
nhà, những thứ gì có hình dáng chữ thập cũng đều phá hủy hết. Những ai trùng tên với bọn thầy tu đang bị truy nã
đều xin đổi tên. Rồi đó tả thừa tướng MiNê theo lời của ĐôSaNùng, sai trói ngược hai tên thầy tu tả đạo vào bó tre
khô, tưới dầu châm lửa đốt cho cháy rụi thành than, xúc đổ xuống sông, còn lòng ruột không cháy thì vứt cho chó
ăn [103] . Một mặt ban ngay sắc phong sinh thần [104] và lập đền thờ sống cho những người đã có công bắt giữ yêu
tặc.

Năm mươi hai tên môn đồ ngụy đạo nghe tin gia quyến bị bắt tống ngục, trong vòng ba năm đều lục tục ra đầu thú,
20 tên quá sợ hãi xin hoàn tục về nhà lấy vợ, bèn triệu quản giáp, thầy cả và hương trưởng đến bảo lĩnh cho về, đều
71

làm đúng lời hứa lấy vợ, ở yên tại quê nhà. Còn lại 22 tên [105] vẫn bền lòng không chịu bỏ đạo, vua truyền theo phép
cũ đem thiêu sống đổ tro, vứt ruột cho chó ăn.

Hồi bấy giờ ở nước Jiuđê, số người bị dụ dỗ theo tả đạo, chỉ mới trong phạm vi 5 huyện, nhưng cũng chỉ rải rác,
không phải toàn tòng. Đến khi quan quân bắt giết 6 môn đồ của Jêsu, rồi ra lùng bắt bọn 54 tên vừa nói thì pháp lệnh
của triều đình cấm tả đạo được nghiêm khắc tuân phòng, người ta đều tưởng rằng dân tả đạo trong năm huyện đã
kinh hồn bạt vía. Nhưng 24 năm sau, bỗng có tin người làng Xana bắt được 3 thầy tu tả đạo tên là Nicôla, Jêpêsô và
Timông [106] . Ba người này lẩn trốn trong hang núi đã hơn một hai năm. Dân làng thấy bọn họ ở độc thân không lấy
vợ, lấy làm ngờ, bèn bắt nộp quan trấn, quả nhiên đúng sự thực. Áp dẫn về kinh, vua Hêrôtê Agrippa càng thêm kinh
lạ. Đến khi tra khảo duyên cớ tại sao sống độc thân thì Nicôla và Jepensô đều khai là vì nhà nghèo không dám lấy
vợ, còn Timông thì nói vì bị bệnh lao nên cha y bảo đừng lấy vợ thì sống được lâu hơn [107] . Vua Agrippa quát rằng:
“Nói láo cả! Chẳng giống tính người, cứ giao xuống cho tra khảo, chết bỏ!” Bấy giờ bọn Jepensô mới chịu khai:
“Bọn chúng tôi không phải là thầy cả, mới chỉ là môn đồ do các giám mục lập sẵn để tiện trao chức về sau [108] .
Giám mục dặn kín chúng tôi rằng: Nếu 54 thầy cả đều chết hết thì bọn các người tất cả 50 người hãy cầm lấy bằng
sức tự lập làm thầy cả để thay thế”.

Vua Agrippa cả sợ nói rằng: “Cha chả! Bọn bay gốc sâu rễ bền!”. Nói đoạn hạ lệnh tịch thu hết bằng sắc và các thứ
đạo phục. Tờ sắc đại khái viết như sau: “Thiên Chúa Jêsu ban sắc truyền rằng: thầy cả trước đã chết, nay trao chức
cho khanh thay thế. Khanh hãy dốc lòng vỗ về khuyên bảo dân chúng, ngày sau khi qua đời cho khanh cùng được
thiêng liêng” [109] . Lại có đoạn nói: “Thầy cả nào được vít vồ (tổng giám mục) nào truyền chức thì mang tên vít vồ
ấy. Như vậy là để khi sống gọi tên mình là nhớ đến đạo, khi chết rồi thì theo linh hồn của vít vồ mình để cùng được
thiêng liêng” [110] .

Vua Agrippa lại càng kinh lạ nói rằng: “Bọn giặc năm xưa chỉ nói 54 tên, không thấy khai rõ bọn này. Dự liệu dặn
dò nhau từ trước, mưu mô bọn này thật xảo quyệt, hiểm độc biết bao! Tuy vậy, bắt thêm được một đồ đảng của yêu
tặc ta lại có thêm một phép mới để trừng trị bọn chúng!”.

Rồi đó vua sai biên họ tên quê quán của bọn thầy tu dự bị, 45 tên còn lại truyền đi cho các địa phương truy nã. Bấy
giờ 47 tên thầy tu dự bị vẫn sống ở quê quán, nhưng dân làng chẳng ai hay biết, chỉ lấy làm lạ là bọn ấy đã lớn tuổi
vẫn không chịu lấy vợ mà thôi. Đến khi bọn chúng bị bắt thì mới vỡ lẽ. Chiếu vua truyền xuống: những kẻ thú tội
chịu lấy vợ đều được tha, giao cho thầy cả đạo chính và hương trưởng bảo lĩnh giám sát như đã nói trước. Trong số
đó chỉ có 5 tên trước sau vẫn không chịu bỏ đạo đều bị tử hình như đã nói. Một mặt cũng phong tặng cho người làng
Xana như đã hứa trước [111] .

Vua lại xuống chiếu truyền rằng: dân chúng ai có việc đi đâu cần phải có giấy thông hành [112] cùng với tờ cam
đoan [113] rằng mình không phải là dân tả đạo. Ai không có giấy tờ thì giao cho trưởng ấp nơi đến trú ngụ giữ lại xét
hỏi [114] . Sau đó lại có chiếu truyền: hạn trong một năm, đàn ông đàn bà trong nước từ 20 tuổi trở lên nếu không lấy
vợ lấy chồng đều coi như đồ đảng của yêu tặc, giao cho trưởng ấp đem trát đến bắt, không tha. Dân chúng đều lấy
làm lo sợ, chẳng người nào dám ở độc thân không lấy vợ lấy chồng. Từ đó cái rễ Gia Tô mới dừng lại không bén
được tấc nào [115] . Trước đó dân tả đạo trong 5 huyện tuy bề ngoài vẫn tôn phụng thầy cả đạo chính, nhưng trong
lòng vẫn mong ngóng trông đợi, thường kiếm cớ đi xa để lén lút xin chịu phép ngụy đạo [116] . Nay thấy các vít vồ đã
chết hết, thầy cả ngụy đạo đều bị dẹp láng, vĩnh viễn không có ái dám đứng ra làm phép giải tội, phép cưới, phép
xức dầu, phép thụ bánh thánh v.v. đến bấy giờ dân tả đạo mới chịu răm rắp tuân theo phép nước.

[1]
Thật là mưu trí!
[2]
Nguyên văn: thái sử. Thời cổ, sử quan thường kiêm việc chiêm tinh (xem thiên văn để đoán nhân sự).
72

[3]
Jêsu cấm không cho xem thiên văn chính là vì cớ ấy.
[4]
Gọi vua nước mình là “giặc”, dân tả đạo nước nào cũng ăn nói như thế cả.
[5]
Ngày nay các cố đạo dọa nạt người ta, đại khái cũng nói như thế.
[6]
Thông giáo: đạo thờ chúa Trời của người Jiuđê (Do Thái giáo).
[7]
Thuộc kinh thành Jêrusalem.
[8]
Nguyên thư chép: PhiNùngTô, có lẽ chép nhầm. Đây vẫn là quan tổng trấn Philatô đã nói ở cuối Q. III.
[9]
Nguyên thư phiên LiTê. Theo Sử ký Hội Thánh thì sự việc nói ở đầu quyển này thuộc về đời vua Hêrôtê Agrippa.
[10]
Ngày nay người Tây Dương sợ phép này nhất.
[11]
Không rõ tên là gì.
[12]
Nguyên văn: Bí ý thư = thư trình bày các ý kín.
[13]
Đúng thế!
[14]
Chỉ Jêsu.
[15]
Trấn ấy gần kinh đô. (Nguyên thư phiên: KhuDiA trấn. ND)
[16]
Nguyên thư: kháng ngôn sát tha tử, tha thiên hạ vị hà? Chữ “tha” sau có lẽ phải hiểu theo nghĩa chữ nôm: tha =
tha thứ, dung tha, thì câu văn mới thông nghĩa.
[17]
Từ đây trở xuống là những việc làm theo lời ĐôSaNùng mật tâu với vua. Sử ký của nước Jiuđê nói việc này xảy
ra khi vua EsoDi (Hêrôtê) còn tại vị, như thế so sánh này với sử ký nước Jiuđê có chỗ không giống nhau.
[18]
Nguyên thư: Kim sát viết vô lục nhân (Nay giết 6 tên vít vồ). Bạn đọc theo dõi đến đây thì biết rằng 12 môn đồ
lớp đầu của Jêsu chỉ có Phêrô được chọn làm vít vồ (tổng giám mục). Đây nói “6 vít vồ” thì không chính xác, xin
tạm sửa là 6 giám mục.
[19]
Nguyên văn: Khai nhất môn phóng hạ. Đây nói đến kiểu làng thời Trung cổ có hào sâu, cánh cổng mở ra thả qua
hào kiêm làm cầu đi lại, khi đóng thì rút lên. Vì vậy nói “thả xuống”.
[20]
Về sau người Tây Dương có lệ nộp tiền nhân danh là bắt đầu từ đó.
[21]
Xem đoạn dưới sẽ rõ.
[22]
Đó là làm theo phép của Jêsu.
[23]
Bàn trác, chữ Nôm trong nguyên văn (ghép 1 từ Hán và 1 từ Nôm đồng nghĩa cái bàn). Tiếng địa phương một số
nơi miền Trung ngày nay cũng có người vẫn quen gọi chiếc bàn dài khổ hẹp là bàn trác. Nguyên thư chú thích: “Bàn
trác có một thanh dọc một thanh ngang, cũng như hình chữ thập, đóng đinh 4 chân tay để ngang trên đất”. Chú như
vậy chúng tôi cho là có chỗ lầm ở đoạn trước.
[24]
Nay trong ảnh các thánh tông đồ bên cạnh đều có vẽ các thứ hình cụ.
[25]
Đã nói thể xác do đất vắt nên là vật hèn mọn thì vét máu về làm gì?
[26]
Bọn Tây Dương rất sợ phép này.
[27]
Thủ đoạn của bọn Tây Dương trước hết bảo với người vợ để vợ ngăn cản chồng. ĐôSaNùng làm theo phép đó,
thật rất diệu!
[28]
Quyệt lắm, làm thêm một dịp để nạt gia chủ.
[29]
Tức Italia.
[30]
Chia nhau mỗi người một ngả, kể cũng là mưu xảo đấy.
[31]
Không dám tự xưng là cha mẹ, chỉ nói là “hai người chúng tôi”. Cha mẹ các cố đạo ngày nay cũng xưng hô như
thế.
[32]
Chính là cái ý: lúc sống không được làm vua thì sau khi chết cũng phải được làm thần.
[33]
Tả đạo kiêng số 6 là vì vậy. ĐôSaNùng mua 60 con chó cũng do cớ ấy.
[34]
Nguyên thư phiên là YBiênTa.
[35]
Ai có phép làm cho những thuyền giấy bay lên trời là cao thủ được tuyển.
[36]
Nguyên văn: thảo binh, nghĩa là binh lính bằng cỏ (rơm) tết lại. Đây nói về phép phù thủy bện cỏ làm âm binh.
[37]
Hai vị “Thiên Chúa con” tranh nhau phân biệt thật, giả. Cách ĐôSaNùng trấn an lòng dân rất diệu!
[38]
Bẻ lại tả đạo chỉ bằng một câu. Lời của ĐôSaNùng thật khoái trá tột diệu!
[39]
Nguyên văn: LâmBô binh, nghĩa là lính âm phủ, cũng có thể dịch là “âm binh”. Nhưng như thế dễ lẫn với việc
ĐôSaNùng cũng có đội “âm binh” (kết bằng cỏ) do các thầy phù thủy chỉ huy.
[40]
Nguyên thư chép: Thập đạo sư huy pháp kỳ, lôi pháp cổ … Theo ý chúng tôi đúng ra phải là: Thập đạo pháp sư
73

huy pháp ký (cách sau mấy câu sẽ có nói đến 10 pháp sư).
[41]
Sáu phía (lục diện) = đông, tây, nam, bắc, trên trời, dưới đất.
[42]
Jêsu nói chúa Trời có ba ngôi, đến trận đánh này mới hay chúa Trời lại có bốn ngôi (Ngôi thứ tư do ĐôSaNùng
đóng giả. ND)
[43]
Nguyên thư chép: thứ nguyệt (= tháng sau). Theo lối kể chuyện thông thường các mốc, Thánh thể không xác
định, có lẽ “thứ nhật” (= ngày hôm sau) thì hợp lý hơn: tiếp tục cuộc giao chiến ngày hôm trước tạm lui quân.
[44]
Bọn họ nói: Thượng hoàng băng hà dân chúng bị nạn dịch là do nhà vua cấm đạo Jêsu cho nên bị Jêsu trừng phạt.
[45]
Nguyên thư chép: thứ nhật (= ngày hôm sau). Sau khi đã gây ra nạn dịch, có lẽ phải là “thứ nguyệt” (= tháng sau)
thì hợp lý hơn. Chúng tôi tạm điều chỉnh mấy chữ (thứ nguyệt, thứ nhật) trong hai câu trên cho dễ theo dõi.
[46]
Nguyên văn: Dương binh = quân dương gian do ĐôSaNùng chỉ huy, phân biệt với quân âm phủ của Jêsu. Cố
nhiên trong huyền thoại đang kể đây, cái gọi là “quân dương gian” ấy, như bạn đọc đã biết, lại cũng là một thứ âm
binh do các thầy phù thủy điều khiển.
[47]
Hễ linh thiêng thì người ta sẽ lập đền thờ, cần gì phải cầu xin?
[48]
Có ý nhắc đến việc Jêsu bị quẳng vứt vào đống phân tro.
[49]
Tựa như lời lẽ đàn bà!
[50]
Nguyên chú ở trên đã nhắc đến chuyện kín ấy.
[51]
Cốt để thống nhất ý chí của dân chúng.
[52]
Nước ấy nhiều núi nên có nhiều sơn thần linh thiêng. Lại thấy Jêsu thường dạy cho các môn đồ cắt yểm các mạch
núi chẳng phải chỉ cốt làm ngu dân mà còn muốn làm ngu cả thần nữa. Đang tâm của Jêsu thật hiểm độc!
[53]
Đời sau dùng hương đen là do sự tích ấy. Khi trước Jêsu bảo người ta bỏ việc thắp hương thờ cúng. Nay
ĐôSaNùng lấy tro dùng hương mà bắn, thật là đối chọi chan chát. Người ta thường đồn nhảm rằng đạo Tây Dương
kiêng dùng hương đen là bởi tích này.
[54]
Nguyên văn: phóng thủ tiễn.
[55]
Nguyên thư phiên là MiênSa.
[56]
Jêsu cấm người ta đi học, ghét những người thông minh tái trí là cốt đề phòng trước những người như Mensa.
[57]
Nguyên thư chép: Chiếu vua truyền đến làng Nazaret. Chúng tôi lược đi mấy chữ vì Nazaret là quê quán chứ
không phải nơi Jêsu tử nạn. Địa danh này sẽ thêm vào ở cách mấy câu sau khi nói quan quân tìm đến nhà ở của Jêsu.
[58]
Giá câu rút và hang mả Jêsu ở trên núi DiÔ (chữ tắt phiên âm tên núi Calavariô, tức Gôgôtha. ND).
[59]
Chỉ còn lại 2 giá xử tội 2 tên tù cướp không ai nhận. Ngày nay bọn Tây Dương thuê người thu vét vết tích kẻ bị
hành hình đại loại cũng như thế.
[60]
Nay bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[61]
Nay bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[62]
Nguyên văn: phụng cấp. Quan hàm chim phượng thuộc hàng đại thần được mặc áo chầu ở ngực có thêu hình
chim phượng, nguyên thư có chú thích là tương đương bậc tam phẩm.
[63]
Nay bọn trong đạo cũng sợ phép này.
[64]
Nguyên thư chép: sơn linh hỏa thần, đúng ra có lẽ là “đại linh sơn thần” vì các đoạn sau không thấy nói gì về hỏa
thần.
[65]
Đúng là bậc Thượng thượng đẳng tối linh thần.
[66]
Phong tục xứ ấy còn man rợ không biết kiêng kỵ điều gì. Một đằng thì Jêsu giả danh chúa Trời, bọn vít vồ lại
mượn danh Jêsu. Một bên thì ĐôSaNùng phỏng theo cách của Jêsu, vua LiTê (Agrippa) lại phỏng theo cách của
ĐôSaNùng. Thật là phép diệu để uy hiếp yêu quái, trấn an lòng dân. Trong trận chiến lần trước thấy Thiên Chúa có
bốn ngôi, đến trận này lại hóa ra 5 ngôi. Ha ha!
[67]
Kỳ binh = đội quân có phép biến hiện kỳ lạ; ở đây chỉ âm binh (bện bằng cỏ) của các tay phù thủy.
[68]
Nguyên thư chép: Nùng khán kiến giá bưu quân độ phủ vĩ… Thủ vĩ = đầu đuôi, trước sau: đặt trong câu này
khiến cho cả câu bị phá vỡ, không hiểu được. Chúng tôi xác định ở vị trí chữ thủ đúng ra là chữ điểu. Huyền thoại
Thiên Chúa giáo thường hay nói đến các thiên thần đầu người mình chim, như Thiên sứ Gabrien, Chúa Thánh Thần
hiện xuống với hình chim bồ câu v.v. Đoạn văn trên mô tả đội quân hộ vệ của Jêsu là quân thiên thần đầu người
đuôi chim (điểu vĩ). Ý đó phù hợp với các câu tiếp theo và cả với nguyên chú. Chữ điểu mà chép nhầm ra chữ thủ là
do thói quen (thủ vĩ là từ thường dùng trong văn kể chuyện).
74

[69]
ĐôSaNùng vốn biết tả đạo gọi đội quân ấy là “quân thiên thần”.
[70]
Chim vốn sợ chó.
[71]
Đoán đúng ý kín của Jêsu, ĐôSaNùng quả là viên tướng hiểu thấu lý lẽ.
[72]
Ý chừng cũng chạy đằng trời?
[73]
Nay thấy bọn chúng bắt bỏ việc thờ thần, cắt yểm sơn mạch chính là để mưu toan thi hành kế ấy (Lời chú này ở
vị trí nói trên xem ra không hợp ý. ND).
[74]
Tức Tống Lý Tông (Triệu Vân) vua thứ 5 nhà Nam Tống (1225-1265).
[75]
Núi này phải phía đông kinh thành (Tên phiên âm trong nguyên thư. ND).
[76]
Âm dương binh: Theo tác giả thì bên quân của ĐôSaNùng bao gồm cả nhân binh (người), thần binh (quân của cá
sơn thần + nhân thần) và âm binh (ở đây cũng gọi là kỳ binh, quân của các pháp sư, bện bằng rơm), vì vậy ở câu trên
nguyên thư gọi chung là “âm dương binh”.
[77]
Nguyên thư chép: “vô số thần hội vân xuất…” không có nghĩa. Chúng tôi căn cứ vào chi tiết đã trần thuật ở các
đoạn trên mà xác định đây là chữ cái (= cái lọng; thần cái = lọng thần). Hai chữ hội và cái viết chân thì khác nhau
nhưng viết thảo thì có dáng chữ gần giống nhau. Có lẽ vì vậy người chép nguyên thư đã đọc sai và chép nhầm (xem
mẫu đối chiếu chữ cái ở tờ 57b, dòng 2 trong nguyên thư).
[78]
Đức chúa Con ở trên trời có 6 tướng vít vồ, Đức chúa Con dưới đất cũng có 6 tướng vít vồ. Đây lại là một trận
giao chiến hết sức kỳ lạ nữa.
[79]
Lấy sấm chọi với chớp, thật là kỳ diệu.
[80]
Nguyên văn: toàn vô cố khí (hoàn toàn không còn khí sắc cũ).
[81]
Nguyên văn: Sa sơn, có lẽ không phải là tên riêng, ý tác giả muốn nói đến những núi cát ở sa mạc Xinai?
[82]
Nguyên văn: Ải sơn, có lẽ cũng không phải là tên riêng mà chỉ là dãy núi trong đó có cửa ải?
[83]
Jêsu thường bảo các môn đồ: Nếu không trấn áp linh hồn bọn chúng thì chúng sẽ giết hết các ngươi. Nay xem
Jêsu bị thua bại bởi mưu trí của vị nữ thần, mới hay rằng Jêsu biết lo xa tính toán.
[84]
Nguyên văn: Thanh sồ. Sồ là con phượng hoàng còn non. Nguyên thư viết chữ Sồ với bộ mã (= người chăn ngựa
hoặc cưỡi ngựa) có lẽ là chép nhầm vì hai chữ này đồng âm và có nửa chữ giống nhau.
[85]
Nguyên thư chép: “Tề phát chi gian, triều chi thần binh bảo cư kỳ bản”, ngờ là bị sai thiếu vài chữ.
[86]
Ngày nay có bức tranh Jêsu bị đóng đanh trên giá câu rút, bên dưới có đống sọ người, một là để mô tả sự tích núi
Sọ người, hai là để ghi công những quỷ binh chết cũng như thế, nếu dốc lòng theo đạo thì sẽ được lên thiên đường.
Bọn Tây Dương dẫu một chút việc nhỏ cũng có ngụ ý đe nạt người, một việc có ba, bốn ý nghĩa, không thể xem lướt
qua mà hiểu ngay được. Có điều là vẽ hình xương sọ để ghi công bọn quỷ binh thì ngày nay họn họ giấu kín không
nói vì sợ lộ chuyện quỷ binh của Jêsu thua to trong trận ấy.
[87]
Nước Jiuđê gọi những kẻ theo tả đạo là muội dân (dân ngu).
[88]
Nguyên thư chép: “Gia Tô cấm nhân hô tả đạo vi đại chính…” câu này dường như trái nghĩa, có lẽ do chép sai
tân ngữ của động từ “hô”. Chúng tôi cho rằng chữ tả (tả đạo) trong câu này là chép nhầm do thói quen liên tưởng:
hợp nghĩa có lẽ là ngộ đạo (= đạo ta) hoặc cựu đạo (= đạo cũ), đều chỉ Do Thái giáo.
[89]
Xem ngày nay ở nước ta, những nơi xa cách quan quân, dân tả đạo đón rước các vít vồ quả nhiên đúng như thế
chứ chẳng phải là nói ngoa.
[90]
Vua nước Jiuđê đã xem sách Bí lục rồi, cho nên chỉ nói gọn một câu.
[91]
Tức là theo đúng phép của Jêsu: người trước chết, người sau tiếp.
[92]
Nguyên văn trước mỗi điều chỉ ghi một chữ “nhất” (tác dụng cũng như một gạch ngang đầu dòng), chúng tôi
đánh số cho tiện theo dõi.
[93]
Chọn những người trẻ tuổi làm thầy tu cũng là một ý kín.
[94]
Hai làng này vốn không theo tả đạo. Đến khi làng làm lễ tế thần, hai gã kia không mang lễ vật đến lạy tế. Lại khi
trong làng có nhà hào mục làm lễ giỗ tổ, hai gã kia không biết phận mình là khách trọ ở nhờ mà cứ đến dự.
[95]
Làm theo lời Jêsu dạy: “Trên dưới một lòng, gặp nguy hiểm cũng không chối đạo”. Bọn cha cố ngày nay dù bị tra
tấn vẫn một mực như vậy.
[96]
Gọi vua là nó, thật là láo xược hết mức. Bọn thầy tu tả đạo ngày nay cũng vẫn thế, thật đúng như lời nói của
ĐôSaNùng.
[97]
Chỉ nước Tây Dương (Italia) và nước Jiuđê.
75

[98]
Ngày nay tả đạo thường hay nói người cùng đạo như con một nhà, là bắt đầu từ đó. Môn đồ tả đạo kiên trì dai
dẳng như thế, đâu phải chỉ 20 năm mà có thể cấm hẳn được!
[99]
Nguyên thư chép: phụ thủ, với chữ phụ = thêm gần, thân cận, v.v. chắc là chép nhầm chữ phù thủ (phù = vỗ, đập).
[100]
Chỉ Jêsu.
[101]
Nhắc lại câu nói của Jêsu đã dẫn ở Q. IV.
[102]
Phàm tả đạo các chức vít vồ, giám mục đều được cấp bằng sắc, chữ viết hàng ngang, rìa chữ uốn lượn như quả
bầu.
[103]
Đến nay tả đạo Tây Dương vẫn còn sợ phép này.
[104]
Nguyên văn: sinh thần, nghĩa là được phong làm phúc thần khi đương sự còn sống.
[105]
Trong đoạn văn trên đây có lẽ nguyên thư chép sót một nét làm thiếu 10 người (20 + 22 = 42)?
[106]
Nguyên thư phiên NiCùLao (Nicola), ChiBiênTô (Jepensô), TêVọng (Tinmon).
[107]
Bọn thầy tu tả đạo ngày nay khi bị bắt cũng nói như thế, là gốc ở đây.
[108]
Tả đạo mỗi khi bị cấm thường lập người dự bị để thay chức thầy cả cũng là gốc ở đây.
[109]
Chỉ nói “cùng được thiêng liêng” (đồng tính) chứ không nói lên thiên đường, như thế tức là Jêsu cũng tự biết
không có chuyện ấy.
[110]
Dân tả đạo đàn ông đàn bà mỗi người đều được mang một tên thánh là bắt đầu từ đó.
[111]
Câu này trong nguyên thư chép chữ nhỏ như lời bình chú. Chúng tôi nhận thấy để liền với chính văn thì hợp lý
hơn.
[112]
Nguyên văn: phái tích.
[113]
Nguyên văn: đoan tiên.
[114]
Nguyên văn: ấp ti đề đặng tấn vấn. Việc soát khách trọ thường làm vào ban đêm, nhà chức trách địa phương
xách đèn đến từng nhà xét hỏi.
[115]
Nay tả đạo cũng rất sợ phép này. Sở dĩ phép ấy cấm đến cả đàn bà con gái để phá phép tu đồng trinh của tả đạo.
[116]
Tức là các phép đạo sẽ kể ở đoạn văn sau.

Quyển VI

Sang Tây Dương, phép thuật Jêsu đắc dụng


Trình “Bí lục”, môn đồ Jêsu được phong

Con Thiên Chúa bị bại phải chạy trốn vào hang núi Cửa ải [1] . Thần binh và các đội quân tay súng đi lùng bắt, bắn
vội vào khắp các hang sâu hốc hẻm. Jêsu phải lẻn trốn sang nước Tây Dương. Quân LâmBô chạy theo Jêsu bấy giờ
chỉ còn khoảng 20 tên, Jêsu sai đi tìm Phêrô, hẹn gặp nhau trên núi Pania [2] . Cha mẹ Jêsu và các môn đồ nghe tin
Jêsu đến, tưởng là thắng trận, ai nấy cả mừng. Khi đến nơi hẹn, nghe Jêsu thuật lại sự việc, ai nấy đều thất kinh rụng
rời. Hỏi nguyên do, Jêsu đáp: “Trước đây ta đã nói: nếu để cho bọn chúng học thiên văn, địa lý, bói toán thì một khi
thông hiểu, chúng sẽ làm hại đạo ta. Nay sự đã quả nhiên! Ta đã làm phép bắt sao Chổi mọc lại, thổi gió về hướng
sao Giốc, gọi quỷ sứ đến bày mưu giúp sức, thật oại hùng lừng lẫy, vậy mà dân Jiuđê vẫn cứng lòng [3] không chịu
theo ta mà còn vâng phục ma quỷ! Nay ta quyết chí rời khỏi nước Jiuđê [4] . Than ôi! Sau vít vồ đã bị chúng giết.
Nhưng không biết các thầy cả do các ngươi lập ra thì nay như thế nào?” Mọi người nhân đó hỏi về việc sáu vít vồ bị
hại, Jêsu buồn rầu đáp: “Khi bị quân dữ bắt giam, bọn chúng đã dâng sách ghi chép phép kín của ta, hy vọng được
vua Jiuđê trọng dụng. Nhưng tên vua ấy không tin, lại thêm tên giặc ĐôSaNùng dùng hình phạt quá độc ác, cho nên
linh hồn của bọn họ chẳng bao lâu đều phải tiêu tan. Hơn nữa, vua tôi Jiuđê sau khi biết rõ các phép kín của ta bèn
nhân đó mà đề phòng nghiêm ngặt, đã đoạt lại tất cả giáo đồ của ta”. Môn đồ nghe nói như vậy đều rất lấy làm
buồn.

Jêsu nói: “Nay ta thử một phen hiển linh sang nước Tây Dương, nếu được quốc vương nước ấy tin cậy thì các ngươi
hãy cùng theo sang. Bằng không thì phải tính liệu cách khác, nếu còn tụ tập một nơi như trước thì lại chuốc lấy vạ
như ở nước Jiuđê mà thôi”. Bà Maria mẹ Jêsu nghe nói như vậy bèn can rằng: “Đức Thầy khi còn sống thì lao khổ
phần xác, nay chết rồi còn phải vất vả phần hồn. Sáu ông vít vồ cũng do tôn kính đức Thầy mà phải chịu chết. Tôi
76

bấy lâu đã phải lo âu đau khổ, chỉ mong đức Thầy đừng theo sang nữa”. Sáu vít vồ còn sống cũng tỏ ý lo buồn. Jêsu
thấy vậy bèn nói: “Cứ nghe lời bà thì người ta mất hết chí khí!” Rồi Jêsu cấm hẳn không cho các môn đồ lui tới nhà
bà Maria nữa, ai không tuân theo về sau đừng hối. Bọn Phêrô sợ phép thần linh, từ đó không ai dám lui tới nhà mẹ
Jêsu nữa [5] . Rồi đó Jêsu lại cưỡi mây bay sang nước Tây Dương [6] . Tới nơi, Jêsu quành lượn trên trời, hóa phép
gây mưa, những ai mưa ướt đều bị ốm nặng. Khắp nơi trong kinh thành dân chúng đều phải chống gậy mà đi cà
nhắc.

Quốc vương nước ấy là Maisen [7] sai quan Thái bốc tên là Đinô xem quẻ bói. Đinô gieo quẻ xong tâu rằng: “Có vị
thiên thần đến bảo ta cho diệu pháp, nếu bệ hạ cho lập đền thờ phụng thì sẽ được tốt lành lớn!” [8] .

Vua Maisen bèn lập đàn cầu khấn, phút chốc bỗng thấy trên không hiện ra một tòa lâu đài nguy nga tráng lệ, bên
trong có một vị thần mũ áo oai nghi đang ngồi bốn phía cột có bốn tên lính mặc áo đỏ đứng hầu. Cờ hiệu có dòng
chữ đề: “Đức chúa Jêsu con đích thực của chúa Trời” [9] . Jêsu quát lớn: “Ta là con chúa Trời giáng sinh xuống nước
Jiuđê dạy phép lớn để thống nhất thiên hạ, không ngờ bọn chúng quay lại hại ta. Tuy vậy ta cũng tha tội cho chúng,
vẫn hiện về dạy bảo cho. Những vua tôi Jiuđê lại cầu viện ma quỷ đánh lại ta không chút thương xót. Nay ta đem cái
phép lớn nhất thống thiên hạ ấy ban cho ngươi. Nếu ngươi làm theo lời ta thì nước Jiuđê rồi cũng phải chịu đến thần
phục”.

Vua Maisen cả mừng, cùng với quần thần rập lạy xin được nghe lời chỉ giáo. Jêsu nói: “Ta có sáu môn đồ hiện đang
ở trong nước ngươi [10] , ngươi hãy tìm đón, bọn họ sẽ nói thay lời ta”. Vua tôi Tây Dương vái lạy xin vâng lời. Rồi
đó tòa lâu đài vụt biến, dịch bệnh cũng dần yên. Vua Maisen hạ chiếu khắp nơi trong nước truyền rằng: “Chúa Jêsu
con chúa Trời đã hiển linh truyền bí pháp, các vị vít vồ hãy vâng chiếu về kinh triều cận để hoàng đế hỏi chuyện”.

Jêsu cả mừng bảo các môn đồ: “Vua Tây Dương đã chịu nghe lời ta, đúng là bậc minh quân trong thiên hạ! Nay
trước hết các ngươi phải khoe khoang sự linh thiêng của ta để xem lòng tin của họ có vững hay không rồi sau mới
đem trình bí pháp”. Jêsu vừa dứt lời thì bà Maria tắt thở. Bà Maria từ khi đi lánh nạn vì quá ưu phiền lo sợ nhiễm
thành bệnh. Lại vì chồng là Jiuse theo đạo, ăn ở chay tịnh để ngưng tụ linh khí, cho nên chỉ sinh hạ được mỗi một
Jêsu, mà lại gặp lúc nguy khốn như thế. Cho nên, đến đây chợt nghe tin vua nước Tây Dương, bà Maria ngạc nhiên
kinh sợ mà chết. Các môn đồ của Jêsu lo liệu chôn cất mà chẳng thấy bóng dáng Jêsu hiện về. Cho nên ngày nay có
lễ Đức Bà lên trời [11] .

Bọn Phêrô sáu vít vồ vâng chiếu chỉ cùng nhau về kinh đô Tây Dương, trong lòng vẫn còn ngờ sợ, đến khi được vua
Maisen tiếp đón như tân khách mới thật yên lòng. Vua Maisen và các đại thần cùng hỏi bọn Phêrô về chuyện Thiên
Chúa. Bọn Phêrô muốn kể cho hết mọi sự linh thiêng, bèn soạn ra một bộ sách thuật chuyện từ khi Jêsu sinh ra cho
đến khi lại hiện xuống sau khi chết, gồm 4 quyển, gọi là sách Gia Tô thực lục [12] . Riêng đoạn nói về sự việc từ khi
Jêsu dẫn môn đồ lên núi Ôlivêtê [13] truyền dạy bí pháp thì chép riêng thành 1 quyển, gọi là Bí lục [14] .

Sách soạn xong dâng lên, vua Maisen cùng quần thần đọc đến phần Bí lục, ai nấy đều gật đầu tán thưởng. Bấy giờ
có tả thừa tướng là Xumêi [15] và hữu thừa tướng là Nasarô [16] nói rằng: “Nếu Jêsu quả thật linh thiêng thì hãy hiện
xuống đây xem sao?”. Bọn Phêrô lập đàn cầu thỉnh, phút chốc thấy Jêsu hiện xuống vạch 5 vết sẹo bị đóng đinh ở
lòng bàn tay, bàn chân và giữa ngực cho Xumêi xem. Nasarô thấy vậy nói: “Nếu đánh được ta chết, rồi lại làm cho
ta sống lại thì mới thật là thiêng”. Vừa dứt lời, Nasarô liền lăn ra chết, 4 ngày sau thì được sống lại [17] .

Thế là vua tôi Tây Dương rập đầu vái lạy la liệt, thỉnh cầu Jêsu phò giúp cho vương triều. Rồi đó vua Maisen cho
dựng 5 ngôi đền ở kinh đô để thờ phượng con Thiên Chúa. Lại truy phong tôn hiệu thánh cho 6 vít vồ đã bị hành
hình ở Jiuđê [18] .

Vua tôi Tây Dương bản tính xảo hiểm [19] , đến đây được phép thuật hiểm độc của Jêsu, bèn cùng nhau bàn rằng:
“Một lòng trung nghĩa, muôn đời thiêng liêng, muốn sai khiến dân chúng từ xưa đến nay chỉ có cách ấy của Jêsu là
77

thượng sách [20] . Dòng dõi vua tôi chúng ta nếu làm được như thế thì địa vị ngồi trên đầu dân sẽ ngàn vạn năm yên
vững. Phương sách ấy đem thi hành ra nước ngoài thì sau 500 năm có hy vọng thống nhất bờ cõi. Đúng như chúa
Jêsu đã dùng phép đại số mà bấm độn, thì nước lớn phải mất 700 năm, nước vừa mất 500 năm, nước nhỏ cũng phải
mất 300 năm, cũng không phải là lâu lắm. Vua tôi chúng ta cùng vạn đời con cháu, người trước chết, kẻ sau nối, trên
dưới một lòng, ngưng tụ anh linh để hưởng ngày thiên hạ thu về một mối. Muốn được như thế ắt phải đồng tâm nhất
trí như thầy trò Jêsu, kẻ nào phản nghịch tất phải trừng trị nặng không tha”.

Rồi đó vua tôi cùng nhau cắt máu uống thề, đồng lòng suy tôn phép thuật của Jêsu. Vua Maisen, theo lời dặn của
Jêsu, cho làm nhiều giá câu rút để nhắc nhở người ta dẫu chết cũng không quên đạo. Trước đó đã cho vẽ ảnh Jêsu
đầu đội vành gai nhọn trên giá câu rút ở bên trên; phía dưới là 6 vít vồ đứng hai bên giá, nét mặt và hình dáng đều
hao tựa Jêsu, cùng được vẽ vào đó để thờ chung, phong làm thánh” [21] . Sau đó vua truyền cho các quan phải treo
ảnh này trong nhà mình để hằng ngày trông thấy không quên cái ý sẵn sàng chịu chết”. [22]

Xét ra người Jiuđê và người Tây Dương đều thờ chúa Trời, nhưng phong tục Jiuđê chuộng sự thẳng thắn, cho nên
phép thuật của Jêsu không thi hành được. Còn thói tục Tây Dương thì giảo hiểm, cho nên phép thuật của Jêsu mới
được trọng dụng. Các sách nói về thuật âm dương của người Tây Dương đều là bắt chước của người Jiuđê, nay lại
thêm các sách thiên văn của Jêsu, chiêm nghiệm rất đúng.

Tả thừa tướng Xumiê tâu rằng: “Xin hoàng thượng lấy sự đối xử công tâm để thống nhất ý chí của dân chúng”. Vua
Maisen bèn hạ chiếu phong thưởng tặng cho những người hiền tài từ xưa [23] , cùng với các vít vồ môn đồ lớp sau
của Jêsu như bọn Timông đều được phong là thượng khách, cùng được phụng thờ.

Lại phỏng theo lời dặn về việc mặc đạo phục để ghi nhớ sự tích chúa Jêsu chịu nạn, vua Maisen sai may triều phục
đúng như kiểu áo do Jêsu đặt ra [24] , nhưng có qui định thêm về việc dùng 5 màu sắc, thêu hoa vàng hay hoa bạc để
phân biệt phẩm tước cao thấp.

Lại sai bỏ 3 chiếc đinh câu rút, vành mũ gai và chiếc khăn tay che mặt của Jêsu vào trong một chiếc hộp, gọi là
“Hộp tàng hồn” đặt trong nhà thờ. Bấy giờ bọn Phêrô tâu rằng: “Chiếc giá câu rút trước đây bọn thần đã đem cất
giấu ở núi Cửa ải, xin hoàng thượng bí mật sai lính đến lấy về, nhưng xin dặn bọn chúng không được quét sơn để
bảo tồn nguyên dạng”. Các môn đồ lại tâu: “Ở nước Jiuđê, trong lùm cây Ghêtsêmani còn tảng đá có vết đầu gối của
chúa Jêsu quỳ cầu nguyện khi lâm nạn, hiện chưa lấy về được”.

Vua Maisen bèn bí mật sai người mang nhiều tiền bạc sang mua chuộc dân làng sở tại để khuân tảng đá đó xuống
thuyền chở về Tây Dương. Khi đem được tảng đá ấy về, vua cho sửa sang một khu vườn rộng có cây cối um tùm để
đặt tảng đá ấy trong vườn, làm nơi tượng trưng di tích, cũng đặt tên là vườn Ghétsêmani. Lại cho đổi tên búi Bađa
thành núi Calavariô và dựng giá chữ thập bằng đá trên núi ấy để tượng trưng ngọn núi nơi Jêsu bị hành hình.

Phỏng theo ý nghĩa việc làm “hòm đựng hồn”, vua Maisen sai thợ tạc tượng gỗ cho vua và các quan trong triều. Bên
trong tượng khoét rỗng, tượng của người nào thì cắt lấy một nhúm tóc, 10 mẩu móng tay, 10 mẩu móng chân, một
mảnh thân sau áo lót của người ấy, dùng dao chích sau lưng lấy máu chấm vào đầu bút mà ghi tên hiệu, quê quán,
quan tước vào mảnh áo lót ấy, rồi bỏ tất cả vào trong ruột tượng, làm riêng một căn buồng để cất giữ. Tờ chiếu nói
về việc này có đoạn viết: “Các đại thần còn sống đây, sau này sẽ trở thành linh thánh, phải nhất tâm đồng lòng,
không được phản trắc. Kẻ nào theo giặc phản bội bề trên thì sẽ bị giết đến cả vợ con, bị hủy tượng truyền thần”.
Quần thần nhất loạt vái lạy, thề chết không dám ăn ở hai lòng. Người Tây Dương bắt đầu phong thần từ đó. Cho nên
vua tôi Tây Dương [25] cũng như các cố đạo ngoại quốc mỗi khi gặp nạn đều có thể coi cái chết như sự trở về [26] .

Cũng vì việc này, đình thần có người tên là LêChiTa hỏi rằng: “Nếu dùng phép ấy mà có thể khiến cho trên dưới
một lòng thì hà tất còn phải mượn đến cái thuyết Jêsu làm gì?”. Vua Maisen đáp: “Không phải thế! Việc đó ngươi
còn chưa hiểu. Sau này sẽ cho thi hành nhiều phép khác, phải đem chúa Trời ra mà lòe dọa. Dân chúng muốn
78

biết [27] chúa Trời nói gì, ắt phải lòe bịp rằng con chúa Trời nói thay chúa Trời thời người ta mới tin”. LêChiTa nghe
xong lạy tạ hồi lâu.

Nước Tây Dương trước kia vốn là người chư hầu của nước Jiuđê, sách vở chữ viết đều như Jiuđê cả. Nhưng về việc
thờ chúa Trời, đặt chức đạo, thờ quỷ thần thì có chế độ riêng, khác với Jiuđê. Đến khi dùng phép thuật của Jêsu, vua
Maisen bèn mượn uy linh của Jêsu xuống chiếu truyền cho các làng xã thành bang trong nước phải sửa sang lại các
đền thờ Thiên Chúa.

Khi ở kinh đô đã có đủ các viên quan coi việc ở các nhà thờ [28] , vua Maisen bèn truyền cho các đình thần bàn định
các việc cần thiết trước sau để làm cho thiên hạ tôn thờ đạo Jêsu. Nasarô nói: “Trước kia chúa Jêsu đặt ra các phép
đạo mỗi năm mới cho thi hành một phép [29] , khuyên dỗ người ta dần dần, như thế mới là chắc chắn không lo”. Vua
Maisen bèn giao cho các đình thần họp kín để bàn bạc, phải mất 5 tháng mới bàn định xong.

Năm ấy chiếu truyền cho các trấn thành làng xóm trong nước phải vẽ ảnh mây để làm bàn thờ Thiên Chúa; chọn một
người thông tuệ trong làng làm thầy cả để hướng dẫn dân chúng làm lễ, cứ mỗi lễ lạy trước 3 lạy, đợi triều đình
chính chúng bổ nhiệm thầy cả về cai quản.

Giáo hoàng [30] lại bàn rằng: “Vua tôi noi theo thầy trò Jêsu, trước sau một lòng không đổi, vì vậy cần vẽ ảnh chúa
Jêsu chịu nạn, khiến cho mọi người trông bên ngoài mà động bên trong [31] . Nếu ngại rằng vẽ ảnh ấy dân chúng xem
thấy sẽ bảo rằng: đã linh thiêng thì làm sao còn khốn khổ như thế? Thì cứ giấu đi là được”. Đình thần đều cho là
phải, xin cứ cho làm. Nhưng có viên quan tên là Môria [32] tâu rằng: “Chỉ sợ lâu ngày tất sẽ lộ chuyện ra, người ta
không tin nữa thì mưu kế của chúng ta phải thất bại. Chi bằng cứ phỉnh dân chúng rằng: Đức chúa Con đem thân ra
chịu khổ để chuộc tội cho dân ta khỏi bị đày xuống địa ngục, đâu phải con chúa Trời không có phép thiêng để bảo
mạng cho mình. Như thế, dân chúng thấy con chúa Trời mà còn phải chịu khổ như thế thì bản thân mình dẫu phải
nguy khó cũng cam lòng mà ở với chúng ta, dẫu bị nạn lớn cũng không thay lòng đổi dạ. Vua đã được lòng bề tôi,
lại được lòng dân, thật là điều lợi lớn!”.

Triều thần nghe xong thảy đều giơ tay tán thưởng rằng: “Đúng là sáng suốt thần diệu!” Môria nhân đó soạn ra bổn
kinh gọi là kinh Bởi đâu [33] đem dâng. Giáo hoàng Maisen đọc xong cả mừng, lại truyền cho quần thần dựa theo
sách Thực lục mà soạn thêm sách Ngoại lục, cốt làm sao cho mỗi tiết trong Thực lục đều có những lời lẽ tu sức thêm
để thổi phồng sự linh thiêng của chúa Jêsu [34] . Đó là gốc của cái thuyết chúa Jêsu chuộc tội cho thiên hạ.

Qua năm sau, Giáo hoàng truyền chiếu ban sách Ngoại lục cho thiên hạ [35] , lệnh cho chức sắc các làng xã phải về
nghe lời mật dụ [36] của Chúa, rồi sau đó mới được ban sách đem về dạy bảo cho dân. Trước hết phải dạy dân rằng:
chúa Trời có ba ngôi, mà ngôi thứ hai đã giáng sinh ở nước Jiuđê, tên gọi là Jêsu. Chúa Jêsu đã chuộc tội thay cho
thiên hạ, để cho dân ta sau khi chết khỏi bị nỗi khổ phải đày xuống địa ngục. Sau đó hằng ngày sẽ đọc sách Ngoại
lục và kinh Bởi đâu để lòe phỉnh mọi người. Từ đó vua nước Tây Dương (Italia) mỗi khi truyền bảo điều gì đều nói:
“Chúa Trời phán rằng…”

Sau khi dân chúng đã được nghe nói về việc Jêsu chuộc tội, qua năm sau Giáo hoàng xuống chiếu truyền rằng:
“Chúa Trời có ba ngôi, ngôi thứ hai tên là Jêsu đã giáng sinh chuộc tội cho thiên hạ ở nước Jiuđê, nay đã hiển linh ở
nước ta. Đó không phải là đấng mà các thần khác có thể sánh được. Thờ chúa Jêsu sẽ được phúc vô hạn. Chúa đã
hiện xuống ở kinh đô, chính mắt trẫm đã được trông thấy”. Lại sợ rằng những lời lẽ sự việc trong sách Ngoại lục
phần nhiều gò ép, những kẻ hiểu biết trong dân chúng ắt sẽ hỏi vặn nọ kia, Giáo hoàng lại truyền rằng: “Phàm
những điều các đạo quan đã dạy dân chúng phải cúi đầu lắng nghe. Kẻ nào dám hỏi vặn này nọ tức là phạm tội xấc
ngạo với bề trên, sẽ bị trị tội”. Thế là những người có kiến thức hiểu biết đều sợ phép không dám hỏi han gì nữa [37] .
Dân gian các nơi đều phải tu sửa giáo đường, tôn thờ đạo mới.

Qua năm sau, Giáo hoàng ban bố kinh Mười điều răn và kinh Lạy cha, truyền cho tất cả đàn ông đàn bà ai nấy đều
79

phải học thuộc lòng, ai không thuộc sẽ giao cho đạo quan xử phạt [38] .

Bấy giờ Giáo hoàng hỏi các vít vồ về việc kinh Mười điều răn ắt có ý tế nhị gì chăng? Phêrô tâu rằng: “Cả mười
điều răn, điều nào cũng tựa như khuyên người ta làm điều thiện, nhưng cái ý lớn là cốt làm cho người ta kiên lòng
theo ta mà thôi.

Điều răn thứ nhất khuyên người ta kính chuộng một đấng chân chúa của trời đất. Đã nói là “một đấng” chân chúa thì
tất cả những thứ khác như quỷ thần, bói toán, âm dương ngũ hành, thờ cúng tổ tiên, v.v, người ta đều không được
tôn kính, mà chỉ được lòng tôn kính đạo ta mà thôi.

Điều răn thứ hai răn rằng: Chớ gọi tên chúa Trời mà thề nhảm. Nói “tên chúa Trời” là có nói ngầm tên của Jêsu,
nhưng không nói rõ ra. Lại có ý kiến cho những kẻ hay dối trá sợ mang tội bị đày xuống địa ngục phải dâng hết sự
thật với ta.

Điều răn ba răn rằng: Phải nghỉ ngày lễ Chúa, tức là dọa dân chúng phải thường xuyên đi xem lễ. Năng đi xem lễ thì
nghe giảng kinh nhiều lần, không trễ biếng lòng tin đạo.

Điều răn tư răn rằng: Phải hiếu kính cha mẹ. Răn như thế không phải cốt để bảo con cái chăm lo phụng dưỡng cha
mẹ khi cha mẹ còn sống và thờ cúng sau khi cha mẹ chết. Cái chính là làm cho con cái thuận lòng cha mẹ. Như thế
thì những người làm cha làm mẹ vui mà theo đạo ta càng bền hơn, càng đốc thúc con cái chuyên tâm thuận tòng ý
muốn của ta.

Điều răn thứ năm răn rằng: Không được giết người. Họ đã sợ giết người là phạm tội thì sau này họ cũng không giết
hại người của đạo ta.

Điều thứ sáu răn rằng: Chớ làm sự tà dâm. Răn như thế thì người ta càng cẩn thận gìn giữ lời dạy phòng kín của
ta [39] , một vợ một chồng không khác lòng đổi ý.

Điều thứ bảy răn rằng: Chớ ăn trộm ăn cắp của người. Dân chúng không trộm cướp của nhau thì nhà nước cũng
không bị trộm cướp.

Điều thứ tám răn rằng: Chớ làm chứng dối. Đã không làm dối trá trong việc làm chứng thì giáo dân cũng nói hết sự
thực khi xưng tội, và tất cả mọi việc đều không dám dối ta.

Điều thứ chín răn rằng: Chớ ham muốn vợ chồng người. Giáo dân không ham muốn vợ chồng người, thì những kẻ
do ta gian dối ghép cưới gả cũng không bị người ngoài mơ tưởng tới nữa, cả bên nam bên nữ đều không thể không
thể dựa cậy vào thuyết của ta.

Điều thứ mười răn rằng: Chớ tham tiền tài của người. Như thế thì của cải của ta không ai dám lấy.

Lời cuối cùng nói: Trước sau mười điều răn, quy về hai mối: phải kính mến chúa Trời, coi là điều đầu tiên của muôn
việc; cùng là: yêu người như yêu mình. Ba điều trước (điều 1 – 3) nói về việc chuyên tâm tôn phụng chúa Trời, tức
là hướng về ta càng bền hơn. Còn cái ý dưới: yêu người như yêu mình, thì cả bảy điều sau (điều 4 – 10) đều không
dám phạm, tình cảm của họ đối với ta càng thân thiết hơn. Cho nên nói rằng: cả mười điều răn điều nào cũng tựa
như khuyên làm điều thiện nhưng cốt là để chuyển biến những kẻ ngu khờ cho họ kiên lòng theo đạo ta. Sau này tất
cả đều sẽ là dân đạo ta cả mà thôi. Lời dạy của con Thiên Chúa thật là huyền diệu biết bao!”

Giáo hoàng nghe xong cười vang mà rằng: “Thật đúng là lời dạy của con Thiên Chúa!” Rồi đó sai làm bia đá để
khắc kinh Mười điều răn, ghi thêm một câu cuối cùng: “Đây là lời chúa Trời xưa kia đã phán dạy người đời tuân
80

giữ. Người nào thuận theo thì được lên thiên đường hạnh phúc. Kẻ nào bội nghịch thì bị đày xuống gia hình dưới địa
ngục. Amen!” [40]

Giáo hoàng Maisen lại hỏi những điều ngụ ý trong kinh Lạy cha [41] như thế nào? Phêrô tâu rằng: “Kinh ấy nói: Lạy
Cha chúng tôi ở trên trời, tức là không quý trọng cha đẻ của mình mà coi chúa Jêsu là chính thật cha mình. Nói:
Chúng tôi nguyện danh Cha thành thánh, nước Cha trị đến… như thế tức là người ta cũng nhận vua nước mình là
cha chính thật của mình. Vâng ý Cha làm dưới đất cũng như trên trời, như thế người ta sẽ một lòng vâng theo đạo ta
mà thi hành vậy. Chúng con rày mong Cha cho chúng con đủ miếng ăn hằng ngày, như thế tức là người ta chỉ yên
phận đủ ăn chứ không cần nhiều đến nỗi phải làm trộm cướp [42] . Xin Cha tha tội cho chúng con, như chúng con
cũng tha kẻ có nợ chúng con, đó là ý cầu mong được chúa Trời tha tội. Lại nói: Chớ để chúng con bị hãm vào chước
mê hoặc dụ dỗ, thế là họ tự hứa không để cho ma quỷ cám dỗ, kỳ thực là cốt để cho họ khỏi bị dụ dỗ bởi kẻ ngoại
đạo.

Giáo hoàng nghe xong cả mừng nói: “Ý tứ hàm súc thần diệu lắm thay!”. Rồi cho ban hành kinh Lạy cha [43] .

Được một năm, xem chừng dân chúng đều đã biết chuyện Jêsu là con chúa Trời chịu cực hình trên giá chữ thập,
Giáo hoàng Maisen bèn xuống chiếu truyền cho các thầy cả dựng giá chữ thập không [44] trong nhà thờ để thăm dò ý
tứ dân chúng thế nào [45] .

Đến khi cha Jêsu là Jiuse chết, Giáo hoàng Maisen muốn phong tôn hiệu thánh phụ, thánh mẫu cho cha mẹ đẻ của
Jêsu, vít vồ Juan tâu rằng: “Nếu hoàng thượng phong cho Jêsu thì dân chúng đều biết Jiuse là cha đẻ của Jêsu, họ sẽ
không tin đạo ta nữa”. Giáo hoàng Maisen nói: “Không có khanh nhắc cho thì trẫm làm hỏng việc này rồi”. Rồi đó
lập đều thờ Maria, còn Jiuse thì chỉ liệt vào hàng môn đồ, chôn cất theo nghi lễ đối với các vít vồ khác, cũng theo
phép phong thần đem tượng Jiuse vào điện thờ đặt hầu dưới tượng Jêsu. Rồi đó sai soạn kinh Thánh Jiuse để đè nén
lòng dân [46] . Một mặt Giáo hoàng Maisen sai sứ giả tìm đến nhà bà Maria ở trọ dựng bia giả ghi nhớ sự tích Đức
Bà và giấu đặt một chiếc khung cửi trong căn nhà đó.

Việc dìm dập Jiuse cốt để làm cho nổi bật Jêsu chính là con chúa Trời, sau đó mới có thể đem ra mà lừa bịp dân
chúng.

Jêsu biết chuyện vua Maisen trước sau tôn phong mấy lần bèn hiện về bảo các môn đồ rằng: “Nếu nghe lời Đức Bà
thì thầy trò ta làm gì được phúc hiển như ngày nay?” [47] . Môn đồ vui mừng vái lạy. Jêsu nói xong biến mất.

Qua năm sau, vua Maisen truyền chiếu bảo mỗi làng chọn một người trai chưa vợ cho về kinh để học đạo Thiên
Chúa, người nào học thông sẽ được cấp bằng phong làm giám mục hoặc thầy cả. Bấy giờ 6 vít vồ chỉ còn lại 5
người, cho nên vua mới ra chiếu ấy. Sau ba năm, các đồng nam đều mãn khóa. Giáo hoàng chiếu theo số quận huyện
và các làng trong nước phong chức cho 20 người làm giám mục, được ghi tên vào Thực lục, số còn lại đều phong
làm thầy cả [48] , chỉ theo phép được ban lễ bùa chú mà thôi [49] . Các thầy cả ở quận nào thì thuộc dưới quyền của
giám mục quận ấy.

Lại theo phép tên thánh do Jêsu đặt ra, khi làm lễ thụ phong, tên các thầy cả được đọc kèm sau tên của giám mục bề
trên. Như vậy là có ý hẹn sau khi chết được thờ chung một nơi với giám mục ấy. Mỗi người đều được cấp đạo phục
cùng các nghi thức rồi mới được đi giảng đạo ở các nơi như phép của Jêsu đã định [50] . Dân đạo thì người làng nào
đặt tên theo thầy cả làng ấy, nhưng ý nghĩa chỉ để khiến cho người ta hễ nhớ đến tên mình là nghĩ đến việc đạo.
Môria [51] mật tâu rằng: “Đạo ta phần nhiều dùng xảo thuật để làm những việc không thuận tình người như các phép
đâm mù mắt người chết, bắt đào huyệt chôn sâu, bỏ thờ cúng, v.v, Nhưng người ta ai chẳng thương xót người thân?
Nếu không có phép phạt nghiêm thưởng hậu thì sợ rằng các giám mục, thầy cả không giữ được kiên tâm làm trước
sau như một. Các đình thần hội lại đề ra phép cắt đầu dương vật và nghi thức cắt tóc, chích máu đề tên hiệu thụ
phong lên tượng gỗ như đã nói ở trên và cấm không được lấy vợ. Vua Maisen xuống chiếu truyền rằng: “Chúa Trời
81

phán dạy: kẻ nào để lộ ý kín sẽ bị xử trảm, cha ông bị đóng đinh câu rút, kể nào nửa chừng bỏ đạo cũng phải chịu tội
như thế”. Từ đó các giám mục, thầy cả đều phải răm rắp tuân phép, không ai dám trái nghịch mảy may. Tả đạo có
phép đặt tên thánh và phong chức giám mục, thầy cả bắt đầu từ đó.

Sắc phong cho các giám mục đại khái viết: “Nay phong cho ngươi… làm giám mục để đốc thúc các thầy cả kiềm
chế dân chúng cho trẫm. Người sống làm người, chết được phong làm thánh, ân lễ trọng hậu, phải dốc một lòng như
phép Sacramentô đã định, Há ngươi không biết hình phạt của triều đình rất nặng hay sao?”

Sắc phong cho các thầy cả đại khái viết: “Nay phong cho ngươi… làm thầy cả, trên thì phải tuân kính giáo hoàng,
thứ đến vâng theo giám mục, dưới thì phải khuyến dụ dân ta một lòng theo đạo. Người được tạc tượng vẻ vang, ân lễ
long trọng, nếu không biết giữ phải chịu hình phạt thảm khốc, chớ hối” [52] .

Phêrô chết, vua Maisen xuống chiếu lừa dối dân chúng rằng: “Phêrô là bậc đại môn đồ của chúa Jêsu, nay được lên
cầm chìa khóa giữa cổng thiên đường”. Rồi đó cho phát hành kinh Thánh Phêrô [53] .

Qua năm sau, Giáo hoàng ban cho các giám mục, thầy cả mỗi người một bức ảnh chúa Jêsu chịu nạn trên giá câu
rút. Tả thừa tướng Xumêi xin cho vẽ ảnh cỡ nhỏ để khỏi lộ chỗ xấu, cho nên ngày nay các ảnh chúa Jêsu chịu nạn
trên giá câu rút phần nhiều đều làm theo cỡ nhỏ.

Qua năm sau, Giáo hoàng xuống chiếu truyền rằng: “Giao cho các giám mục, thầy cả tạm giữ quyền chính để cho
các viên đốc trấn, quản quân, v.v. về triều lĩnh thụ lời giáo huấn của chúa Jêsu và nhận lễ phục theo các cấp bậc
khác nhau”. Khi bọn họ về kinh, mỗi người đều được khắc tượng truyền thần và mật cấp bằng sắc như đã nói ở
trước. Xong việc ai nấy lại trở về cai quản địa hạt của mình. Từ đó quan lại nước Tây Dương đều là người theo đạo
Gia Tô cả.

Năm sau, Giáo hoàng xuống chiếu truyền rằng: “Từ nay các giám mục, thầy cả gọi là đạo quân (quan lo việc đạo),
các viên trấn thủ, đốc trấn… gọi là chính quan (quan lo việc đời). Các quan lại triều cũng theo lệ ấy. Từ đó quan lại
Tây Dương có hai ngạch chính quan và đạo quan. Vua Maisen lại phỏng theo kinh Mười điều răn của Jêsu, cho dùng
những lời lẽ mà hồ soạn ra kinh Bảy điều cốt yếu và kinh Tam phúc lành ban phát cho quan dân.

Kinh Bảy điều cốt yếu nói rằng: “Thứ nhất là phải khiêm tốn, nhường nhịn, không được kiêu ngạo [54] . Thứ hai là
phải bố thí tiền của, không được bủn xỉn hà tiện [55] . Thứ ba không được gian dâm, chớ ham mê dâm dục [56] . Thứ
tư là phải nhẫn nhục chịu đựng, chớ nên oán giận [57] . Thứ năm là phải ăn uống dè xẻn, chớ ham mê ăn uống rượu
chè [58] . Thứ sáu là phải yêu người, chớ đem lòng nghi kỵ [59] . Thứ bảy là phải chuyên cần việc thờ phụng chúa
Trời, chớ biếng lười việc thiện [60]”. Kinh ấy lại khuyên rằng: “Thứ nhất là phải khéo thuyết dụ người [61] . Thứ hai là
phải mở mang giáo hóa cho những kẻ mê muội [62] . Thứ ba là phải an ủi những kẻ ưu sầu [63] . Thứ tư là phải biết
quở trách những kẻ phạm lỗi [64] . Thứ năm là phải tha thứ cho những kẻ khinh thường xúc phạm ta [65] . Thứ sáu là
phải nín nhịn những kẻ làm phật lòng ta [66] . Thứ bảy là phải cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết [67] ”. Đại khái toàn
là những lời lẽ giả dối như vậy cả: bên trong thì sai trái, nhưng bên ngoài tựa như là đúng đắn, vì vậy lại càng khiến
cho người ta bị mê hoặc nhiều hơn.

Kinh Tám khúc lành nói rằng: “Một là ngày nay tuy nghèo khổ nhưng đó là phúc thực, ngày sau [68] sẽ được no đủ.
Hai là kẻ có lòng lành thì đó là phúc thực, ngày sau sẽ được chúa Trời ban thưởng. Ba là kẻ có lòng thương người
thì đó là phúc thực, ngày sau sẽ được vui sướng v.v.” [69] . Đó là những lời khuyên dỗ người ta kiên lòng theo đạo, sợ
người ta cực khổ quá mà bỏ đạo cho nên mới lừa dối người ta rằng đời nay chịu khổ chịu nạn, sau khi chết đổi lấy
vẻ vang, cũng tựa như nói: đời nay chết yểu, đời sau sống lâu [70] .

Về phép xưng tội, lúc đầu các đạo quan chia đi các nơi ngày ngày gọi người đến làm lễ. Giáo hoàng có mặt dụ
truyền rằng trước hết chỉ làm mấy phép rảy nước rửa tội, phép xức dầu cho người ốm và phép Cônfirmaxông mà
82

thôi. Đến năm nay Giáo hoàng xuống chiếu truyền rằng: “Chúa Trời đã dạy phép xưng tội và giải tội, đạo quan khắp
nơi đều phải theo phép tuân hành”.

Qua năm sau, lại có chiếu truyền: “Năm trước việc đạo nhiều nơi làm khác nhau. Nay tất cả đàn ông đàn bà đều phải
đọc kinh tôn đạo, đạo quan sở tại phải ghi tên từng người, ai làm trái sẽ bị trừng phạt nặng”.

Qua năm sau, phong tục đã dần dần thống nhất, Giáo hoàng cho ban hành các sách kinh mới soạn và phát chuỗi con
niệm [71] cho dân. Bấy giờ đình thần xét thấy cần phải có một phép chung để cho hết thảy già trẻ trai gái ngày đêm
thân vái miệng đọc, lâu dần ngấm đọng mới có thể thay đổi được cõi lòng của người ta, bèn định ra phép ấy. Phép
đọc kinh nam nữ cũng đọc bắt đầu từ đó. Kinh văn do đình thần cùng soạn, gọi thẳng tên Maria và Jêsu, không
kiêng tên kỵ húy là cốt để cho tình cảm người ta trở nên thân thiết, lời lẽ dùng lối nói thông tục quê mùa là cốt để
cho những kẻ ngu khờ dễ hiểu [72] . Nay giáo đồ tả đạo nước ta đọc kinh bằng quốc âm là lời dịch từ sách kinh ấy.

Phép đọc kinh lúc bắt đầu làm dấu phép trên mặt. Trước hết dùng ngón tay trỏ vẽ một dấu chữ thập trên trán, tiếp đó
vẽ thêm hai dấu ở miệng và ở ngực, tất cả là ba dấu chữ thập. Mỗi lần làm một dấu đều khẽ tiếng niệm rằng: “Vì dấu
mà ta câu rút chúa Dêu [73] , chúa chúng tôi giúp chúng tôi kẻo phải [sự] dữ [74] . Đó là phép “tập tích” (tục gọi là làm
dấu kép). Kế đó xòe năm ngón tay phải đặt lên đỉnh đầu, niệm nhẩm rằng: “Nhân danh Cha”, chấm tay trên ngực,
niệm tiếp: “… và Con…”, chấm tay qua hai vai, niệm tiếp: “… và Phiritô Săngtô”. Như thế gọi là “đơn tích” (làm
dấu đơn). Sau đó cả nam lẫn nữ cùng giọng đọc mấy chương kinh Lạy cha [75], tiếp đến kinh chúa Jêsu chịu nạn, rồi
đến kinh Thánh Antô [76] . Về sau phép đọc kinh có chia riêng nam nữ [77] . Từ kể sự tích chúa Jêsu giáng sinh đến
Đức Mẹ lên trời chia làm 15 đoạn [78] . Mỗi khi đọc chung xong một đoạn, tiếp theo bên nam đọc kinh Bởi trời bên
nữ đọc kinh Lạy cha, dùng hai câu mở đầu rồi bên nam hát hai kinh Avơ Maria, bên nữ hòa kinh Santa.

Mỗi bên hát 10 tiếng, lần tràng hạt mà tính số tiếng. Cuối cùng bên nam hát đến câu: “…Luxia”, bên nữ hòa theo
đến câu “…đời đời”, thế là hết một đoạn. Đến đoạn thứ hai đổi lại: bên nữ xướng mà bên nam hòa theo, cách thức
như trước [79] . Đọc hết 15 đoạn, cả bên nam bên nữ cùng hòa giọng đọc mấy chương trong kinh Avơ Maria [80] , lại
đọc mấy chương kinh Bởi trời. Cuối cùng, một người nam hát: “Chúng tôi trông cậy rất thánh Đức Bà xin chớ chê
chớ bỏ lời chúng tôi là kẻ khó khăn thiếu mọi sự, nguyện xin Đức Bà đồng trinh rất sáng láng…” Mọi người đồng
thanh hát tiếp: “… giúp chúng tôi tránh khỏi mọi sự dữ. Amen!” Mọi người khẽ tiếng cầu khẩn tự đấm vào ngực ba
tiếng [81] , rồi ai nấy đưa tay làm dấu phép như đã nói ở trên. Lễ cầu nguyện thế là xong, hằng ngày con chiên đều
hội họp đọc kinh như vậy.

Kinh Bởi trời và kinh Lạy cha đã nói ở trên. Còn kinh Avơ Maria thì có câu: “Avơ Maria đầy ơn phúc, chúa Dêu ở
cùng bà. Trong các người nữ bà có phúc là bà thế tử Jêsu nhiều phúc lạ” [82] . Kinh Santa có câu: “Santa Maria đức
mẹ chúa Dêu, cầu cho chúng tôi kẻ có tội khi nay cho đến khi bọn chúng tôi chết. Amen!” Câu Luxia, nguyên cả câu
là: “Luxia, đức chúa Cha, đức chúa Con và đức chúa Phiritô Santô”. Câu “đời đời”, nguyên cả câu là: “Đời đời trước
sau vô cùng. Amen!”

Qua năm sau, vua Maisen hạ chiếu truyền rằng: “Chúa Trời phán dạy: đàn ông đàn bà ai có tội đều phải đến nhà thờ
xưng tội với các đạo quan là kẻ thay mặt chúa nghe xưng tội”. Xưng tội xong, gục đầu đọc kinh Cáo thân [83] , rồi
sáng hôm sau chịu lễ nhận bánh thánh và nghe lời giảng dạy của đạo quan.

Lại nói rằng: “Đạo quan đều là bề tôi của chúa Jêsu. Thầy cả xưng tội với giám mục. Nhưng để cho tiện việc [khi
không có giám mục] thì thay thầy cả thay phiên làm phép xưng tội, giải tội cho nhau cũng được. Các giám mục cũng
thay đổi phép làm cho nhau như vậy”. Kèm theo đó cho ban hành kinh Cáo thân, “Cáo thân” có nghĩa là tự mình bảo
mình. Kinh này cũng do Môria soạn ra. Khi đọc ba tiếng “Con có tội” thì giơ tay đấm ngực ba lần, rồi nói: “Nay con
xin tự bảo bản thân con trước mặt thầy”. Lúc ấy kẻ nào hối lỗi khóc ra nước mắt tức là có lòng thành thật thì mới
được chúa Jêsu tha tội. Dụ dỗ người ta một lòng theo đạo đến chết không thôi, mánh khóe mê hoặc lòng người thật
rất diệu! [84]
83

Trước đó, các quan trong kinh ngoài quận đều đã được phong chức nghe truyền mật dụ để trên dưới đồng lòng. Đến
năm nay lại có chiếu truyền cho học trò các trường phải đến nhà đạo quan để xin chịu đạo. Từ đó dân Tây Dương ai
nấy đều bị lừa dối hết.

Bấy giờ các vít vồ môn đồ của Jêsu đã chết cả. Giáo hoàng bèn cho ghi tên bọn Nicôla, Timông, v.v. 12 vít vồ đặt
làm chén thánh, truyền chiếu cho quan dân ai nấy đều phải đeo tên thánh, kẻ trái lệnh sẽ bị trị tội [85] .

Qua năm sau, Giáo hoàng cho làm các loại ảnh, tượng để ban chấp cho thiên hạ. Loại vẽ hình gọi là ảnh, loại khắc
chạm thì gọi là tượng. Có loại tượng đức mẹ Maria bế chúa Jêsu hài đồng, có loại chỉ vẽ một mình Maria, có loại
tượng chúa Jêsu chịu nạn trên giá câu rút [86] , lại có tượng của các môn đồ.

Rồi đó Giáo hoàng cho chép truyện 12 môn đồ và vẽ hai bức ảnh dài, mỗi bức 6 người treo hai bên tả hữu thờ chung
với Jêsu [87] . Lại căn dặn các thợ vẽ phải chú ý tinh tế để vẽ lờ mờ cho khỏi lộ liễu. Ảnh giấy thì dùng mực vẽ. Ảnh
vải thì phải lấy dầu sơn hòa với thuốc màu xanh đỏ mà vẽ vì sợ để lộ xấu trên mình chúa Jêsu chịu nạn. Đình thần
xin rằng tất cả các ảnh đều phải vẽ lờ mờ khiến cho dân chúng khó phân biệt khỏi sinh nghi ngờ. Bấy giờ quan quân
ai nấy sợ phép nước đều… [88]

Qua năm sau, Giáo hoàng lại xuống chiếu dụ rằng: “Chúa dạy việc hôn nhân chỉ một vợ một chồng. Những ai từ
trước đã trót lấy nhiều vợ thì tha không hỏi đến. Từ nay về sau, phải theo phép một vợ một chồng, ai trái lệnh sẽ bị
đạo quan trị tội”.

Qua năm sau, triều đình bàn định về việc khuyên dụ dân chúng theo phép chôn sâu. Rồi đó Giáo hoàng xuống dụ
truyền rằng: “Ngày nay cả nước ta đều theo đạo Thiên Chúa, cho nên ma quỷ rất căm tức. Vì không dụ dỗ được
người sống nên ma quỷ thường nhập vào xác chết để sinh yêu tác quái. Từ nay về sau chôn cất người chết phải đào
sâu 6 thước [89] để tránh nạn ấy. Khi có đám tang, thầy cả làng ấy hoặc môn đồ giúp việc phải đến tận nơi xem xét,
kẻ nào trái lệnh thì phải trị tội”.

Lại có chiếu truyền rằng: mỗi làng phải cử ra 5 người để làm môn đồ giúp việc cho đạo quan. Khi đủ tuổi sẽ thi
tuyển, người nào học thông thì được phong chức đạo quan.

Về việc đó, đình thần Môria tâu rằng: “Hiện nay các đạo quan, người làng nào đều được cai quản làng ấy, tình cảm
thân quen, sợ xảy ra diễn biến. Kính xin thường kỳ cho chuyển đổi đạo quan làng này qua làng khác”. Giáo hoàng
bèn xuống chiếu truyền rằng: “Giám mục thì cứ 5 năm thuyên chuyển một lần, thầy cả 4 năm một lần, thành định
lệ”. Từ đó có lệ chuyển đổi đạo quan.

Qua năm sau, Giáo hoàng dụ rằng: “Chúa Jêsu dạy dân bảy phép: thuở sơ sinh thì có phép rửa tội, khi trưởng thành
thì lại có phép Cônfirmaxông (thêm sức, hoặc kiêm đạo), khi đã phạm nhiều tội lỗi thì có phép giải tội, phép xưng
tội lĩnh bánh thánh, khi ốm đau thì có phép xức dầu thánh, lấy vợ lấy chồng thì có phép Matrimôniô (cưới), phong
chức cho giám mục, thầy cả thì có phép Cômônhong (truyền chức). Quan dân ai nấy phải tuân hành, kẻ nào làm trái
đều phải trị tội”. Rồi đó ban hành kinh Bảy phép [90] .

Lại dụ rằng: “Chúa Trời truyền bảo: Chúa vốn không có hình tượng, do chia bớt linh thiêng cho Jêsu nên mới có
hình tượng. Từ nay về sau khi đọc kinh Chầu mình thánh thì câu: Lạy mình thánh chúa Trời phải sửa lại là: Lạy
mình thánh Đức chúa Jêsu”. Từ đó rõ ràng là nói đến chúa Trời là nói đến Jêsu.

Đình thần lại bàn xét, thấy rằng: nếu để cho tâm hồn người ta được yên tĩnh thì hay suy nghĩ, mà suy nghĩ thì người
ta sẽ vạch ra những điều sai trái, phép được đại để cốt làm cho dân chúng trở nên ngu khờ, mỗi ngày sáng sớm đi
làm lễ sợ còn chưa đủ. Đình thần bàn nên dùng chiêng trống khiến cho dân chúng không lúc nào được rỗi trí mà suy
84

nghĩ nữa. bọn Juachim [91] xin đặt các lễ lớn hằng năm, kể từ lễ đầu thiên thần hiện xuống báo tin (lễ Truyền tin) đến
lễ Đức Bà Maria lên trời là hết một năm. Rồi đó quay lại lễ đầu. Tính từ khi Jêsu chưa chịu nạn đưa môn đồ lên núi
Ôlivêtê cho đến khi rời nhà ra đi là 40 ngày, từ khi ra đi đến lúc chịu nạn là 7 ngày. Nay tính gộp lại tất cả là 47
ngày, xin gọi là “Mùa thương khó” [92] , làm các việc quăng tro ném đá, rước liễu [93] .

Lại chia kinh Jêsu chịu nạn thành 15 đoạn, đếm con niệm đọc chung với kinh Bởi trời và kinh Avơ Maria, bên
xướng bên họa như cách thức đã nói ở trước. 40 ngày đầu, mỗi đêm đọc 5 đoạn, 7 ngày sau mỗi đêm đều đọc hết 15
đoạn. Trong những ngày ấy [94] , lệnh cho quan dân: đạo quan mỗi ngày chỉ ăn một bữa, binh lính và dân chúng chỉ
ăn hai bữa, thảy đều phải kiêng thịt.

Lại soạn ra kinh Sự tích năm đinh [95] và kinh Bảy thống khổ [96] để ngâm tụng trong tuần chay.

Trước phục sinh một ngày, làm trò diễn thuật đầu đuôi sự tích chúa Jêsu chịu nạn khiến cho người xem lòng càng
khôn nguôi, như vậy chẳng còn trí óc mà suy nghĩ điều gì kia khác.

Trò rước tượng Chúa ở Tây Dương thì làm ban ngày, truyền vào nước ta tuy chưa bị ngăn cản lắm, nhưng cũng có ý
sợ cho nên vẫn làm về ban đêm. Trước đó ba ngày, giám mục địa phận xức cho các thầy cả và con chiên các làng
chọn 500 tráng đinh khi diễn trò mỗi người đều cầm đuốc và gậy để đóng giả làm quân Jiuđê. Mười hai thầy cả
bưng nước rửa chân cho từng người, tượng trưng Jêsu rửa chân cho các môn đồ. Lại làm một hình nộm tên Jiuđa có
máy giật [97] mang túi bạc chạy ra ngoài. Một lát sau tuần đinh ập vào bắt Jêsu lôi đi. Xong đó dựng lên một bức ảnh
cỡ lớn để tượng trưng cho việc Jêsu bị bắt. Tiếp theo lại dựng ảnh lớn vẽ Jêsu vác giá câu rút, dùng một cỗ xe kéo
ảnh đi. Giữa đường gặp một đoàn trinh nữ hơn chục người áo mũ đẹp đẽ rước ảnh đức mẹ Maria, tượng trưng việc
mẹ con Jêsu gặp nhau. Sau đó cả hai ảnh cùng được kéo lên thiên đường. Lại kéo ra một bức ảnh lớn vẽ Jêsu treo
thân trên giá chữ thập, quân Jiuđê cầm gậy đánh vào bức ảnh. Mọi người dự hội vẳng nghe tiếng gập đập liền cất
tiếng khóc vang như sấm. Khi bức ảnh dựng lên, một tên quân Jiuđê cầm giáo đâm vào sườn để tượng trưng việc
ĐôSaNùng đâm Jêsu trên giá câu rút. Rồi đó đến đoạn đưa xe nhặt xác Jêsu chở đi chôn. Ảnh Jêsu đặt nằm trong xe,
một số con chiên nam nữ sà vào hôn chân ảnh tượng trưng các môn đồ hôn chân Jêsu [98] .

Đình thần lại bàn việc diễn thuật sự tích quân LâmBô căn cứ theo kinh Vì đâu. Vào hội ấy, chiêng trống vang lừng,
giáo dân tụ hội đông hàng vạn. Giám mục địa phận phò tượng chúa ngồi trên cỗ xe hai bánh sơn son che bốn lọng
vàng. Các thầy cả ngồi võng điều che hai lọng xanh. Tráng đinh vác giáo gậy đi tùy tòng hai bên, con chiên nam nữ
theo sau vừa đi vừa đọc kinh, ai nấy đều cầm đuốc sáp, cả một vùng đèn nến như sao.

Sáng hôm sau lại nổi trống làm hiệu. Bàn thờ che màn treo trướng bốn phía, bên trong thấp thoáng trông thấy một
chiếc ghế ngai trang hoàng lộng lẫy trên đặt tượng chúa Jêsu tay cầm cờ đỏ. Nhiều thiên thần bằng gỗ có máy giật
cử động bay lượn xung quanh. Bên dưới nam nữ đồng trinh mặc váy xòe, vai đeo cánh giả, tay cầm cờ đi hàng đôi
tượng trưng đội quân thiên thần. Mọi người giơ tay vẫy chào. Đám rước đi đến đâu hoa tung đến đấy, tiếng chiêng
trống hòa với tiếng hoan hô dội cùng khắp mười dặm [99] . Đó là lễ hội Phục sinh.

Đình thần lại làm lịch các ngày lễ ban cho dân chúng xem để biết các ngày làm lễ. Phép lịch này lấy 7 ngày làm một
tuần. Qui định từ lễ Truyền tin đến lễ Giáng sinh là bao nhiêu ngày, từ lễ Giáng sinh đến lễ Mệnh danh (đặt tên) bao
nhiêu ngày, lần lượt cho đến lễ Đức Mẹ Maria lên trời cũng như thế. Tháng thì có tháng đủ tháng thiếu, mà số ngày
từ cuộc lễ nọ đến cuộc lễ kia đã định sẵn cho tròn một năm, vì thế bỏ không ghi ngày tốt ngày xấu chỉ ghi tháng đủ
hay thiếu, làm lễ vào những ngày nào mà thôi. Đó là nguồn gốc phép làm lịch của đạo Gia Tô.

Lại xét thấy ba ngày đầu một năm là những ngày vui, sợ dân mải chơi mà biếng lòng tôn đạo cái thế không thể
không hạn chế, Giáo hoàng phải xuống chiếu lừa phỉnh rằng: “Chúa Trời đã định 3 ngày đầu năm: ngày mồng một
thờ Đức chúa Cha, ngày mồng hai thờ Đức chúa Con, ngày mồng ba thờ chúa Phiritô Santô. Trong ba ngày ấy, mọi
người nên hội họp mà đọc kinh thì được phúc lớn nhất, không thể bỏ qua”. Đến khi mọi người hội lại, trên tường
85

treo một bức tranh lớn bằng chiếc chiếu gọi là tranh Phán xét ngày tận thế. Tranh ấy chia làm ba tầng: tầng trên gọi
là thiên đường, vẽ Đức Mẹ Maria và chúa Jêsu đang ban thưởng quần áo cho những con chiên đắc phúc [100] . Tầng
giữa đề là Phán xét, vẽ một thiên thần cầm ống thổi lửa xuống thiêu đốt hết muôn vật. Lại vẽ một chiếc cân lớn để
cân phúc tội của người ta. Tầng dưới đề là địa ngục, vẽ bọn quỷ đang nuốt ngọn lửa, nhai thịt người. Kẻ ngu khờ
thấy vậy đều sợ hãi tái mặt không dám nghĩ đến chuyện vui chơi nữa. Đó là bức tranh vẽ phỏng theo lời Jêsu nói về
ngày tận thế.

Lại cũng vào những này đầu năm, lấy sợi vải trắng nhuộm đỏ để phát cho trẻ con gọi là “dây phép”, bảo rằng đeo
dây ấy thì được phúc. Bọn trẻ đều vui mừng. Do vậy cả ba ngày tết, mọi người cũng không biết lười việc đạo.

Từ đó ngày thường cũng bắt các nhà dân phải treo bày các ảnh tượng. Lại làm bùa bằng giấy, bên trong viết: “Chúa
Trời dạy ta gọi tên Jêsu là Maria”, bảo con chiên làm lấy quả đồng [101] hoặc may túi lụa nhỏ bỏ bùa vào đó mà đeo
bên cánh tay, nói rằng: “Bùa ấy có phép lạ, trấn áp được hết mọi yêu tà”.

Lại lấy đồng đúc những miếng nhỏ hình tròn hai mặt đều có tượng Chúa đúc nổi, bên trên có lỗ để trẻ con buộc dây
đeo trên đầu khiến cho mọi người già trẻ xung quanh hằng ngày đều trông thấy: thấy ở bên ngoài ắt phải xúc động
bên trong, lâu dần càng dốc lòng không quên đạo.

Giáo hoàng cả mừng, bèn hạ chiếu ban truyền thiên hạ để các đạo quan và tất cả dân chúng tuân hành [102] . Kể từ đó,
tả đạo có các ngày lễ, tranh Phán xét, dây phép và bùa phép lạ. Cũng vì thế mọi người quanh năm đều phải lưu tâm
đến việc đạo.

Rồi đó Giáo hoàng lại cho làm tượng câu rút loại nhỏ chia làm hai hạng thếp vàng và thếp bạc, triệu đạo quan vào
chầu tự tay ban cho, gọi là tượng khắc lòng [103] . Giám mục được ban trượng vàng, thầy cả được ban trượng bạc,
ngày đêm đeo liền bên mình. Lời mật dụ của Giáo hoàng bảo rằng: “Nếu bất hạnh gặp hoạn nạn như thế cũng phải
noi theo bức tượng, tất chịu chết chứ không hai lòng”. Cho nên ngày nay các giám mục, thầy cả có tượng trì
thần [104] là bắt đầu từ đó. Và chỉ những người có tượng ấy mới là giáo sĩ đã được thụ phong truyền mật dụ.

Giáo hoàng lại xuống chiếu truyền cho các xứ đạo từ kinh đô cho đến các làng đều phải dựng bên cạnh nhà thờ bốn
năm dãy nhà đạo để cho những phụ nữ không chồng đến ở. Từ khi đặt ra phép một vợ một chồng đến lúc ấy đã 7
năm, làng nào cũng nhiều con gái quá tuổi mà không có chồng, chửa hoang không ít. Hoặc có những kẻ góa chồng
không có con nối dõi. Người ngoài đều lấy làm ái ngại thương xót. Đạo quan các nơi tâu về triều. Đình thần bàn xét
đều nói rằng: “Dương ít thì âm nhiều, số của trời đất xưa nay vẫn thế”. Rồi đó Giáo hoàng bèn xuống chiếu truyền
các làng làm nhà đạo như đã nói trên gọi là Nhà tu đồng trinh (tục gọi là nhà Mụ). Cấm đàn ông không được lai
vãng đến Nhà Mụ và trong khu Nhà Mụ cấm không được nuôi súc vật có đủ giống đực, giống cái, sợ các trinh nữ
trông thấy lại nghĩ đến sự gian dâm, hẹn với họ rằng sau khi chết sẽ phong làm thánh phụ (bà thánh), được thờ cúng
đời đời. Ai muốn lấy chồng thì thưa thật với đạo quan để cho phép về nhà, nếu vụng trộm ăn nằm có mang thì phải
tội chém. Về sau nhiều người tu trọn kiếp, sau khi chết được phong thánh, gọi là Rôda, Macta, Agôxta, v.v. [105]cho
nên ngày nay đàn ông thì mang tên ông thánh, đàn bà thì mang tên bà thánh. Đó là nguyên do tên gọi Bà mụ đồng
trinh.

Tháng ấy lại thấy Jêsu cưỡi đám mây xanh xuất hiện trên trời kinh đô Tây Dương, vua Maisen mặc áo lễ ra ngoài
hiên trông thấy bèn gọi các cận thần cùng ra vái lạy. Jêsu nói: “Đạo của ta chỉ thi hành một phép mà được ba bốn
điều lợi. Hãy nêu một việc cho các ngươi thấy rõ. Như phép chôn sâu vừa trấn áp được hồn thiêng kẻ chết, vừa
khiến cho giảm bớt giống nòi, dẫu mạch đất thiêng thì con cháu cũng không phát đạt được, lại làm cho dân chúng
biết rằng chết rồi là không có ích gì nữa, càng có lợi cho việc phong thần, khiến người ta càng dốc lòng theo đạo ta.
Các phép khác đại khái cũng như thế”.

Nói xong Jêsu biến mất. Đây là lần cuối cùng Jêsu hiện xuống. Từ đó về sau nói chúa Jêsu hiện xuống đều là do vua
86

tôi Tây Dương đặt điều lừa dối, lấy sự trừng phạt đe dọa dân chúng mà thôi.

Qua năm sau, Giáo hoàng Tây Dương Maisen lúc lâm chung gọi các đại thần cùng thế tử vào truyền dặn di chúc
mật, nói rằng: “Đến nay các phép đạo kể đã tạm đủ, chỉ còn những việc như bỏ thờ cúng, cắt yểm mạch đất thiêng,
cấm xem thiên văn địa lý bói toán là chưa thi hành, rất khó sửa đổi. Nhưng nhờ sách Bí lục có nói: “Chớ muốn
nhanh”. Nếu muốn làm những phép ấy trước hết cần phải cấm xem các sách âm dương, thiên văn địa lý, tiếp đến cắt
yểm mạch đất, như thế dẫu dân chúng có muốn làm giặc cũng không thể được. Trẫm mong các khanh trên dưới một
lòng”.

Rồi đó thế tử Lôrenxô [106] được lập làm Giáo hoàng, bèn rước tượng vua cha vào thờ trong điện, tôn phong là Đức
Giáo hoàng thánh thần, xuống chiếu truyền rằng: “Nay chúa Jêsu khen ngợi trẫm giải thoát nỗi khổ muôn việc của
bậc quốc vương [107] mà lên thiên đường thảnh thơi vui sướng. Thấy một áng mây bay lên trời giữa ban ngày, dân
chúng hãy một lòng cầu chúc cho phúc lành mai sau, vừa là mừng tiên quan trẫm lên trời, vừa để tỏa rộng ân huệ
của trẫm”.

Từ đó về sau, mỗi khi vua hoặc các quan chết đều phỏng theo cách nói ấy để lừa bịp dân chúng.

[1]
Tiếc thay tác giả lại không viết là con Thiên Chúa tuần hạnh Tây Dương!
[2]
Nguyên thư phiên là BanNha.
[3]
Nay tả đạo gọi những người không theo đạo của chúng là kẻ “cứng lòng”, gốc ở đây.
[4]
Nói dối với cả môn đồ.
[5]
Nay tả đạo mỗi khi sắp phong một người nào lên làm thầy cả thì từ 4, 5 năm trước đã phải lánh hẳn không cho về
nhà thăm cha mẹ anh em, tức là gốc ở đây.
[6]
Tức La Mã (Rôma).
[7]
Nguyên thư phiên là MaiLiên, bên cạnh chữ Liên với chú thích: “Ngã quốc hô Liên tự chi nghĩa, nãi thị kỳ âm”
(Người nước ta đọc nghĩa chữ Liên như thế nào thì đó là âm của tiếng ấy). Nghĩa của chữ Liên = Sen, ghép lại thành
Maisen. Quả đúng có tên thánh Maisen, tham khảo:
“…Song le cha ông ta ở trên rừng cũng có nhà xếp và bia luật thánh, như Đức Chúa Lời đã truyền cho ông Maisen
làm cứ mẫu đã thấy ở trên núi…” (Sách tóm 4 Evang Phúc âm cùng sách truyện các thánh tông đồ. Cố Ven (M.
Venard dịch ra tiếng Việt, Ninh Phú đường, 1878, tr. 247).
[8]
Quẻ bói của người Jiuđê thì bảo phải đánh, quẻ bói của người Tây Dương thì bảo phải thờ. Đánh và thờ tuy khác
nhau, nhưng đều có diệu ý. Lại vì ý của vua hai nước ấy khác nhau, cho nên quẻ bói cũng khác nhau, tức như trong
Kinh thư đã nói: “Ý trẫm đã định trước, gieo quẻ bói để hiệp theo”, đúng như vậy.
[9]
Tôi là “chân” (đích thật) tức là đã bao hàm cả cái ý “ngụy” (giả) trong đó rồi. Nếu quả đúng là thật thì không phải
nói “thật”. Há không biết lấy việc mình vừa bị quân Jiuđê đánh bại trước đó làm răn chăng?
[10]
Nguyên văn: kim tại mỗ xứ (nay đang ở nơi nọ).
[11]
Xét sách Ngoại lục nói: “Bấy giờ Đức Bà đã hưởng nhiều phúc đức, bèn qua đời. Chúa Jêsu sai nhiều thiên thần
xuống rước linh hồn Đức Bà lên trời”. Nếu quả thế thì cần gì phải đợt chết mới rước đi? Lại tả đạo vẫn bảo rằng chết
tức là sống, lại bảo chết là trường thọ, vui sướng vô cùng. Toàn là những lời lẽ lừa bịp cả, khiến cho dân đạo dẫu bị
hành hình cũng không thay lòng đổi dạ.
[12]
Ghi chép sự thực về chúa Jêsu. Nay có lược bớt, dựa vào sách này từ quyển I đến quyển III.
[13]
Nguyên thư phiên: ULiPhêTê, cũng tức là rừng Tịnh Trai nói ở quyển III, đầu quyển IV.
[14]
Tức quyển IV của sách này.
[15]
Nguyên thư phiên: TuMi.
[16]
Nguyên thư phiên: NaSaLỗ.
[17]
Nay Kinh Thánh quốc âm có đoạn nói: “Chúa Jêsu cho thánh TuMi (Xumêi) xem dấu mình, cho thánh NaSaLỗ
87

(Nasarô) chết 4 ngày lại sống”.


[18]
Không có anh linh thì làm sao dọa nạt được nước người? Thầy trò Jêsu không dám đánh lại nước Jiuđê, có lẽ
cũng như câu ngạn ngữ: “Cứng xác mềm hồn” chăng?
[19]
Xét: người ta gọi nước Jiuđê là nước Cú vọ, là nói tính hiểm độc của người nước ấy; gọi nước Tây Dương là nước
Tu hú. Tu hú mắt đỏ, tính hiểm, thường hay trà trộn vào đàn gà để bắt gà con. Tâm địa bọn Tây Dương hiểm ác, mà
mặt mũi cũng tựa như thế.
[20]
Nguyên văn: “Nhất tâm trung nghĩa, vạn cổ anh linh, dân duy sở sử, tự cổ cập kim, duy Gia Tô vi thượng sách”.
[21]
Từ đó người Tây Dương bắt đầu phong thánh.
[22]
Nguyên văn: “vô vọng kỳ tất tử dã” (không quên sự ắt chết).
Ngày nay nhiều người lấy làm lạ thấy tả đạo vẽ những bức ảnh hình thù xấu xí, đó là chưa hiểu ý chính của việc đó
cũng tựa như câu: “Kẻ mạnh vì nghĩa không quên sự mất đầu” (Câu này người bình chú dẫn lời Mạnh Tử trong
thiên Đằng Văn Công. ND). Từ đó tả đạo bắt đầu có ảnh thánh.
[23]
Nguyên văn “cổ thánh” chỉ những người hiền các đời trước.
[24]
Xem đoạn giải thích ý nghĩa của đạo phục, đã nói ở Q. IV.
[25]
Nguyên thư chép: “Quốc quân cặp ngoại quốc đạo câu…”, hai chữ “quốc quân” có lẽ là chép thừa chữ quốc và
sót chữ thần.
[26]
Tử là trở về nước Thiên đường.
[27]
Nguyên thư chép: Tha giai tri Thiên Chúa hà ngôn. Ở vị trí chữ giai có lẽ là chữ dục (muốn) thì hợp hơn.
[28]
Nguyên văn: Đạo đường pháp quan. Tức là quan lại của nhà nước được giao cai quản việc đạo, cũng tức là đạo
quan như tác giả sách này đã dùng trong các đoạn văn sau.
[29]
Dưới đây đều là những việc đã bàn định. Mỗi năm thi hành một phép. Nay các giám mục tả đạo khi đến ngoại
quốc cũng đều theo như thế.
[30]
Nguyên thư phiên là “BàBà”, tức là phiên âm tiếng Latinh: Pape.
[31]
Ý nói động nghĩ trong lòng.
[32]
Nguyên thư phiên: MatDiA.
[33]
Nguyên văn chữ Hán: Nhân hà kinh.
[34]
Kinh Bởi đâu cũng là sách Ngoại lục toàn là lời lẽ khoe khoang đã nói ở trên.
[35]
Sách Thực lục thì giấu kín.
[36]
Sắc mật nói rằng: Những ai trên dưới một lòng thì được ban thưởng: kẻ nào tiết lộ thì bị xử trảm.
[37]
Ngày nay, các cố đạo khi làm lễ trước bàn thờ Chúa thì đứng nghiêm mà đọc to, con chiên thì ngồi cúi đầu mà
nghe, là gốc ở đây.
[38]
Ngày nay, các cố đạo sau khi làm lễ trước bàn thờ Chúa thì đứng nghiêm mà đọc to, con chiên thì ngồi cúi đầu
mà nghe, là gốc ở đây.
[39]
Nguyên văn: huấn phòng (lời dạy về việc buồng the).
[40]
Tấm bia đó đến nay vẫn còn. Sách Ngoại lục nói: “Chúa Trời sai thánh Maisen khắc 10 điều răn vào đá để truyền
lại cho muôn đời sau”, gốc tích ở đây.
[41]
Nguyên văn: Tại thiên kinh. Tên kinh lấy theo hai chữ đầu của bản kinh chữ Hán: “Tại thiên thần đẳng phụ…”
(Cha chúng tôi ở trên trời…). Chúng tôi dịch tên kinh theo bản kinh chữ Nôm (chẳng hạn bản kinh do giám mục M.
Venard đã dịch, 1878), trong đó câu đầu bản kinh đã thêm hai chữ: “Lạy Cha…” cho hợp cách xưng hô của người
Việt.
[42]
Nguyên văn: “dĩ chi vi đạo”, nguyên thư hẳn đã chép nhầm chữ đạo = trộm cướp ra chữ đạo = giáo; đã sửa lại.
[43]
Phêrô lại một phen truyền ý kín.
[44]
Nguyên văn: thập tự không giá. Xem chú dưới đây:
[45]
Giá chữ thập không gắn tượng, gọi là giá chữ thập không (thập tự không giá). Vả lại nếu có tượng thì làm lộ sự
tích bức tượng ra.
[46]
Kinh Thánh Jiuse có câu rằng: “Thiên thần gọi thánh Jiuse đến hầu con Thiên Chúa”.
[47]
Nhắc lại việc bà Maria khuyên can Jêsu đã kể ở đầu Q. VI.
[48]
Nguyên thư dùng chữ “đạo câu” (câu có nghĩa là cụ già), có thể dịch thẳng là cố đạo, hoặc cố xứ. Cách gọi đó có
nguồn gốc ở đạo Do Thái: đạo này qui định bầu một người cao tuổi nhất trong làng làm đạo trưởng. Về sau đạo Gia
88

Tô chọn người trẻ tuổi bổ nhiệm vào chức đó nhưng vẫn theo chức danh của đạo cũ, bổn đạo gọi chung là thầy cả.
Như vậy, chức đạo câu (thầy cả) nói ở đây tương đương linh mục (cha xứ) như tên chức đạo hiện nay. Nhưng vì linh
mục vốn là từ Hán Việt, mà nguyên thư không dùng, cho nên chúng tôi ngờ rằng đó là cách gọi về sau. Nếu quả như
vậy thì từ “đạo câu” dùng trong sách này từ đây trở về sau có thể tương ứng với cả hai chức giám mục và linh mục,
còn vít vồ thì chỉ các giám mục khâm mạng (cũng tức là giám mục đốc chính, bổn đạo thường gọi là cố chính).
[49]
Chỉ nghi thức truyền phép kín trong lễ phong chức thầy cả, đã nói ở Q. IV.
[50]
Câu “Mỗi người… Jêsu đã định” trong nguyên thư chép cách sau 1 câu (tức câu “Dân đạo… nghĩ đến đạo”,
chúng tôi dịch đảo lên cho thuận với cách kể chuyện thông thường; nói hết ý liên quan đến việc bổ nhiệm thầy cả rồi
mới nói đến việc giáo dân đặt tên theo thầy cả.
[51]
Nguyên thư chép: MạtTêDi, tức là chép nhầm tên Môria (MátDiA) đã nói đến ở đoạn trước và còn thấy ở đoạn
sau.
[52]
Phép đặt tên thánh đem thi hành vào phong tục trong nước để khiến cho dân chúng tuân theo đạo, đem thi hành ra
nước ngoài để khiến cho dân các nước ấy đều theo tên Tây.
[53]
Kinh Phêrô có câu: “Đại môn đồ cầm chìa khóa giữ cửa thiên đường”. Nay trong bức ảnh thánh Phêrô ở bên phải
phía trên có vẽ con gà sống phía dưới vẽ chiếc chìa khóa. Người hấp hối đều bị lừa dối được lên thiên đường là do
tích chuyện này.
[54]
Chỉ muốn người ta tuân theo cha cố.
[55]
Muốn giáo dân hiến nạp nhiều tiền của cho nhà đạo.
[56]
Muốn cho giáo dân kiên lòng theo phép một vợ một chồng, thì những “lời giáo huấn” về chuyện buồng the của
Thiên Chúa mới thực hiện được.
[57]
Muốn cho dân không oán trách vua quan tả đạo.
[58]
Nhịn ăn nhịn uống thì không có sinh khí; tự nhiên cũng không sinh ra chuyện tà dâm, trộm cướp.
[59]
Đã yêu người thì tất nhiên sẽ yêu kính vua quan.
[60]
Ngày đêm chăm lo tụng kinh không rỗi thì sẽ không bị lay động bởi kẻ ngoại đạo.
[61]
Muốn ta khuyên bảo nhau để người theo đạo ngày càng đông.
[62]
Để cho người ta tưởng rằng ta mở mang giáo hóa cho họ, do đó, dân chúng không nghi ngờ gì ta!
[63]
Càng ví dụ so sánh thật nhiều thì họ càng kiên lòng theo đạo.
[64]
Nói như thế để khi ta giáo huấn cho họ, họ tự nghĩ rằng chúa Trời cũng đã dạy phải quở trách người phạm lỗi
lầm, do đó mà không oán giận gì ta.
[65]
Như thế thì khi ta khinh thường xúc phạm họ, họ cũng tha thứ cho ta.
[66]
Như thế thì ta có nói phật ý họ, họ cũng phải nín nhịn.
[67]
Nói như thế thì họ càng vui mừng cho ta là công bằng mà theo đạo.
[68]
Ngày sau: nói sau khi chết.
[69]
Nguyên thư chỉ thấy nói đến 3 điều, còn 5 điều khác có lẽ lược đi, không nói đến?
[70]
Đúng là lừa dối người ta ngay trước mắt.
[71]
Nguyên văn: Niệm sách tử, tục là chuỗi hạt để lần đếm mỗi khi đọc kinh, có tác dụng điều hòa nhịp điệu ngôn
ngữ (miệng đọc), hành động (tay đếm) khiến cho đầu óc thư thái, suy nghĩ được lâu bền hơn.
[72]
Người ta đều chê là vô lễ, lời lẽ thô tục đáng cười. Xem đây mới biết cái thâm ý quanh co quỷ quyệt.
[73]
Nguyên thư phiên là Diêu chúa, người bản đạo đều đọc là Dêu. Dêu là chúa Trời (tiếng Latinh: Dei) cũng tức là
chúa Jêsu (tác giả đã giải thích khi nói về thuyết chúa Trời ba ngôi). Câu niệm trên nói về việc Jêsu.
[74]
Câu này viết chữ Nôm trong nguyên thư, trước chữ “dữ” có lẽ chép sót chữ sự.
[75]
Nguyên văn: Thiên Chúa kinh.
[76]
Sự tích thánh Antô sẽ nói ở sau.
[77]
Phép đọc kinh chia hai bè nam nữ là qui định của dòng Đômingô.
[78]
Dân tả đạo ngày nay gọi là mười lăm thứ ngẫm.
[79]
Ngày thứ nhất (tức Chúa nhật) đọc hết cả 15 đoạn, còn các ngày khác thì đọc 2 đoạn, 5 đoạn hoặc 10 đoạn không
hạn định.
[80]
Trong đó có câu: “Xin chớ ngoảnh mặt đi mà chẳng nhìn chúng tôi…” thật là thô kệch đáng cười.
[81]
Nguyên văn: đả ức tam thanh. Tiếng ở đây là tiếng khẽ phát ra khi đấm tay vào ngực.
89

[82]
Câu này có trong bản Phúc âm (Evang) của Luca: “Ave gratia plena: Dominus tecum: Benedicta tu in mulieribus.
(Luca III. 28). Nguyên thư phiên là AVơ MaDiA đài la sa.
[83]
Nguyên văn: Cáo thân kinh, cũng thường gọi là kinh Sám hối.
[84]
Mới đầu thấy hai thầy cả một người ngồi trên ghế một người quỳ dưới, sau đó người quỳ lại lên ngôi, người ngồi
trên ghế lại quỳ xuống xưng tội, thật nực cười. Nay xem phép định của Giáo hoàng thì thấy từ Jêsu đến các thầy tu
đều được tự xưng là chúa Trời, thì ra không biết bao nhiêu là chúa Trời! Lại thấy Giáo hoàng cùng các giám mục,
thầy cả làm gì cũng đều bảo là thay mặt chúa Jêsu, thì hóa ra ai cũng là Jêsu cả!
[85]
Các đời sau đạo quan sau khi chết được phong thánh rất nhiều, cho nên có kinh Các thánh, cũng chỉ nêu những
người thật giỏi mà thôi.
[86]
Giữa ngực có vẽ một vết máu đỏ, tượng trưng vết thương do ĐaSaNùng đâm.
[87]
Mười hai môn đồ ấy, người nào bị cực hình mà chết thì có vẽ làm theo hình cụ ở bên cạnh (ở trên đã nói đến),
người nào không bị cực hình thì không vẽ kèm hình cụ. Như thế là để tỏ ý rằng kẻ bề tôi tuy không tử nạn cực hình
nhưng nếu một lòng tận tụy thì cũng được phong thánh. Về sau ảnh tượng các thánh rất nhiều.
[88]
Nguyên thư bỏ trống một số chữ ở câu này và câu tiếp theo.
[89]
Thước nói đây là thước ta (ngày trước) = 0,33m.
[90]
Chữ Hán: Nhất yếu kinh.
[91]
Nguyên thư phiên: KhuAKinh.
[92]
Chữ Hán: Bi khổ chi kỳ = Mùa thương khó là chữ dùng của bổn đạo nước ta (mùa = thời kỳ).
[93]
Quăng tro, ném đá, rước liễu (đầu khôi, phao thạch, liễu nghênh) = lời tắt để chỉ những lần Jêsu bị dân thông giáo
các làng Jiuđê phản đối (xem Q. III). Riêng hai chữ “liễu nghênh” (rước liễu) lại là cách nhắc phớt qua đủ để nhớ
việc chứ không cần chính xác: Jêsu được dân chúng vác cành liễu đi đón, đó không phải là chịu nạn, điều tác giả
nhắc là việc Jêsu đêm hôm đó bị vây bắt ở làng Liễu.
[94]
Tức là 7 ngày trước lúc Jêsu chịu nạn (Mùa chay).
[95]
Chữ Hán: Ngũ đinh tích kinh.
[96]
Chữ Hán: Thất thống kinh.
Bảy thống khổ (đau đớn): 1. bị rạch da, 2. bị trói vào cột đá, 3. bị đóng đinh ở tay trái, 4. bị đóng đinh ở tay phải, 5.
bị đóng đinh ở hai chân. 6. bị đóng vành gai làm mũ, 7. bị chôn trong hang đá.
[97]
Nguyên thư chép: “Hựu tác KhuDiêu cơ tượng đái ngân nang phóng khứ”. Câu này ngờ có 2 chữ chép nhầm: a.
hình nộm nói trên là hình nộm Jiuđa (vì có nói đến chuyện túi bạc), đúng ra phải viết KhuĐa (nhưng người chép
quen tay chép nhầm là KhuDiêu như đã gặp trường hợp). b. Jiuđa phản chúa được thưởng túi bạc chứ không phải
ném túi bạc đi (phóng khứ). Chữ phóng do đó tỏ ra không hợp nghĩa, đúng ra có lẽ chữ tẩu: sau khi Jiuđa chạy lánh
đi, quân Jiuđê ập vào bắt Jêsu.
[98]
Các cha cố bảo rằng: ai bỏ nhiều tiền (vào hòm quyên) thì được nhiều phúc, từ một đồng tiền trở lên chúa đều biết
cả. Dân chúng tranh nhau ném tiền vào không dưới nghìn quan, cố đạo đều thu giữ hết, gọi là “tiền thánh giá”. Lại
có lễ Hôn chân. Trong ngày lễ ấy, con chiên những làng đạo không có thầy cả và những người không có điều kiện đi
xem hội chính cũng đều phải đến nhà thờ trong làng hôn chân tượng đất. Các làng thu tiền nộp lên, tính dồn lại
nhiều không kể xiết.
[99]
Hệt như hiệu lệnh của một viên đại đốc Tây Dương chẳng kiêng sợ gì phép cấm của triều đình (câu này nguyên
thư chép lẫn vào chính văn, xét tính chất đó là lời của người bình chú, chúng tôi chuyển xuống vị trí của các nguyên
chú).
[100]
Vẽ đàn ông đàn bà trần truồng quỳ nhận, thực nực cười.
[101]
Nguyên văn: đông hoàng = cái hộp nhỏ hình cầu bằng đồng gồm hai nửa đậy khít.
[102]
Đoạn trên đây, từ việc qui định các ngày lễ trong năm, nghi thức lễ Phục sinh, v.v., tác giả sử dụng bút pháp kết
hợp: vừa trình bày những điều đang bàn xét, vừa mô tả sự việc đã diễn ra, cho nên mới có câu: bèn hạ chiếu ban
truyền cho thiên hạ… tuân hành”.
[103]
Chữ Hán: Minh tâm tượng = tượng khắc nhớ trong lòng.
[104]
Đeo luôn bên mình.
[105]
Nguyên thư phiên: DoSa, ACaTa (ta phiên âm là “ta” và ghi đọc thanh bằng).
[106]
Nguyên thư phiên: LaoLiênSô.
90

[107]
Nguyên văn: van cơ chi khổ; vạn cơ = muôn việc; quen dùng để chỉ sự bận rộn trăm công nghìn việc của các vua
chúa.

Quyển VII

Các vua đạo mượn Jêsu đối chứng


Bọn quan đạo bịa chuyện láo lừa dân

Bấy giờ tân Giáo hoàng đã lên ngôi. Qua năm sau ban chiếu truyền rằng: “Chúa Trời hiện xuống phán bảo: quan
dân, đàn ông đàn bà, thảy đều phải bỏ cách ăn mặc theo kiểu cũ. Hạn trong một năm ai nấy đều phải may thường
phục theo mẫu áo đã có phép qui định tức là kiểu Italiêng [1] để chứng tỏ sự nhất trí. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị trị tội”.
Trước đó có y phục của người Tây Dương đại khái cũng cùng một kiểu như người Jiuđê: vạt áo trước có đường xẻ,
khi mặc thì xỏ tay cài khuy. Đến nay mọi người đều phải mặc kiểu áo thung chui đầu.

Tả thừa tướng Xumêi chết. Giáo hoàng Lôrenxô cho đem tượng truyền thần ra đặt trong điện thờ [2] . Về sau các
quan sau khi chết đều được phong làm thánh, cho nên ngày nay mỗi thánh đều có một kinh riêng.

Qua năm sau, Giáo hoàng ban tên thánh cho các nhà thờ trong nước. Bấy giờ, đã lâu không thấy Jêsu hiện về, Giáo
hoàng bèn phỏng theo sự tích hòn đá có vết đầu gối Jêsu ở vườn Ghêtsêmani, sai thợ lấy tấm đá vuông mỗi chiều
rộng 1 thước rưỡi tạc nổi hình chúa Jêsu theo thân triên giá câu rút rồi bảo vít vồ đọc lời khấn rằng: “Nguyện linh
hồn Chúa nhập vào tảng đá này để phù hộ cho vua tôi chúng con”. Lấy nến trát lên mặt ngoài bức tượng rồi dùng
tấm khăn lụa che trùm lên. Mỗi nhà thờ đều phải có một tấm đá như thế, gọi là “Đá tàng hồn” (Tàng thần thạch). Đá
thánh của tả đạo bắt đầu có từ đó.

Bấy giờ đã định xong các ngày lễ trong một năm, Giáo hoàng truyền chiếu: Một là [3] , cho mở cuộc thi lựa chọn các
môn đồ [4] cho thăng làm giám mục hoặc thầy cả, người trúng tuyển đều được truyền phép, cấp bằng sắc. Hai là, dân
chúng ai có ảnh thánh, tượng thánh, đến kỳ lễ Lá đều phải đem đến nộp để đạo quan rảy nước phép và niệm chú,
như thế mới là ảnh tượng thiêng, đáng thờ phụng. Những ảnh tượng chưa được niệm chú thì chẳng khác gì gỗ đá,
không đáng để thờ. Lời chú niệm rằng: “Cúi nguyền Đức chúa Jêsu giáng linh vào ảnh này tượng này để cho con
chiên thờ phụng đặng giúp giữ ngôi báu cho Giáo hoàng” [5] . Niệm như thế ba lần, xong rảy nước phép, rồi mới
giao cho giáo dân lãnh về thờ. Những ảnh tượng nào đã được niệm chú, nhưng quá lâu rồi cũng cần phải niệm lại.
Lại răn dặn rằng: “Các ảnh, tượng đã qua lễ niệm chú đều thiêng liêng như bậc chân thánh, nếu lỡ chân mà bước qua
tức là phạm tội như giày đạp lên cha mình, sau khi chết sẽ bị đày xuống địa ngục, không được tái sinh làm người”.
Muốn cho mọi người một lòng tôn đạo, cho nên phải răn dặn để chớ khinh mạn coi thường” [6] .

Qua năm sau, Giáo hoàng lại truyền rằng: “Chúa Trời phán rằng mỗi làng phải dựng sẵn một ngôi nhà bỏ không để
làm nơi thờ các đạo quan sau khi chết, phong gọi là thánh. Con chiên nam nữ trong làng người nào một lòng chuyên
cần việc đạo, được đạo quan trình lên thì sau khi chết cũng được thờ chung trong nhà ấy [7] .

Bấy giờ đình thần vừa mới bàn định về việc cắt yểm mạch đất thì có 5 ngôi sao dữ mọc lên. Giáo hoàng Lôrenxô hội
triều bàn bạc, sợ rằng dân chúng bói toán rồi lại thì thào bàn tán, bèn truyền cho các đạo quan phải đe doạ dân chúng
rằng đó là điềm báo trước ngày tận thế đã đến gần, ai nấy phải dốc lòng thờ đạo như chúa Jêsu hằng dạy. Rồi đó
lệnh truyền cho dân gian nhà nào còn cất giữ sách vở về các thuật bói toán, tướng số, v.v. trong hạn một tháng phải
nộp hết cho đạo quan sở tại. Ngoài hạn ấy sẽ đi khám xét từng nhà, kẻ nào trái lệnh xử trảm chớ hối. Chiếu thư đại
khái nói: “Các hình tượng hiện ra trên trời như thế nào đều do ý kín của chúa Trời, người trần không được nghị bàn
vụng lén. Đến như việc chọn mạch đất tốt xấu là để cầu phúc há chẳng phải đều do Chúa định trước cả hay sao? Ai
không tuân lệnh, tức là phạm tội bất kính, phải xử tội chết” [8] .

Các sách thuật số đã bị cấm, qua năm sau, Giáo hoàng lại xuống chiếu: “Chúa Trời phán rằng: Các vùng dân cư, nơi
91

nào đường sá đi lại chưa thuận tiện thì giám mục sở tại phải xem xét cho mở thông hoặc lấp bỏ để cho dân chúng đi
lại được dễ dàng”. Mặt khác, Giáo hoàng lại truyền dụ mật, bảo rằng: “Các đạo quan ai có mồ mả tổ tiên đang lúc
phát thịnh thì phải trình ngay cho giám mục bề trên biết để được phép giữ nguyên. Ngoài ra, tất cả đồi gò các làng
đều phải đào yểm long mạch. Những nơi núi cao đất rộng hãy đợi sẽ bàn định sau. Công việc làm xong, các đạo
quan phải vẽ địa đồ dâng nộp”.

Thế là mạch đất tốt ở các làng đều bị cắt yểm, chỉ những nơi có mồ mả tổ tiên vua quan được giữ nguyên như cũ mà
thôi [9] .

Qua năm sau, Giáo hoàng xuống chiếu truyền rằng: “Những ai có thiện tâm thờ đạo Chúa thì được lên tình hình, nhà
vua vâng ý Chúa sẽ lầm đền thờ phụng. Những kẻ phản nghịch bỏ Chúa phải đày xuống địa ngục, nhà vua cũng
vâng ý Chúa mà khép tội đóng đinh câu rút”.

Đạo quan các nơi dâng sớ tâu rằng: “Đàn bà con gái bàn tán với nhau rằng: chỉ thấy phong thánh đàn ông, chứ
không thấy nói phong thánh đàn bà. Xin hoàng thượng xét định để yên lòng bọn họ”. Giáo hoàng Lôrenxô cùng đình
thần bàn bạc rồi theo điều ghi trong sách Thực lục mà tôn phong cho Vêdonica và Alina là “Bà Thánh”, được thờ
chung với đức mẹ Maria. Chỉ dụ của Giáo hoàng truyền rằng: “Đương khi chúa Jêsu chịu nạn, bà Vêdônica là một
phụ nữ tôn quý đã có lòng thành trao chiếc khăn tay cho Chúa. Còn bà Alina nguyên là người gái điếm mà có lòng
tặng Chúa chiếc váy đỏ. Chúa Trời chí nhân, phán cho trẫm biểu dương linh hồn hai vị ấy. Nay đã có tiếng chuông
của Chúa giáng hiện, trẫm tôn phong hai vị là Thượng thánh. Vậy bảo cho phu nhân ai nấy đều biết mà yên lòng thờ
Chúa để cùng được đội ơn phong thưởng”. Các đạo quan tuyên đọc chiếu thư, đàn bà con gái khắp nơi đều hân hoan
vui mừng.

Đạo quan các nơi lại tâu rằng: “Đạo ta nói về chuyện thiên đường, người ta đều cho là khó mong lên được”. Rồi đó,
một đình thần soạn ra bổn kinh Hoa viên (Vườn hoa), 1 quyển, in ra để ban hành trong nước. Kinh này khuyên dụ
người ta hãy nên dốc lòng làm điều thiện để giũ sạch tội quí tiền khiến cho được lên thiên đường. Vì thế, dân chúng
ai nấy đều vui lòng theo đạo.

Năm ấy các mạch núi đã bị cắt yểm hết, nạn dịch lớn lan tràn, người chết nằm gối lên nhau. Giáo hoàng mật truyền
cho các đạo quan doạ phỉnh dân chúng rằng: “Sắp đến ngày tận thế, cho nên chúa Trời bắt dân chúng chịu khổ nạn
để thử thách tin đạo. Ai nấy đều phải dốc lòng”. Đồng thời Giáo hoàng lại chiếu truyền rằng: “Chúa Trời phán: Sự
lành sự dữ đều do Chúa định sẵn, từ thời thượng cổ đến nay đều thế cả. Kẻ nào phao truyền ngoa ngôn, sẽ giao cho
quốc vương ném xuống địa ngục”.

Bấy giờ các đạo quan cũng nhiều người bị chết vì bệnh dịch, bề trên lập tức bổ nhiệm người khác đến thay. Lại cho
vẽ một người có cánh như chim cầm giáo đâm xuống một con quỷ đầu sừng thân đuôi đang bị đè giẫm dưới chân.
Đó là ảnh thánh Antô, được vẽ ra hàng loạt để ban cho thiên hạ, bảo dân chúng rằng: “Thánh Antô đêm qua từ trên
trời xuống nói Thiên Chúa sai xuống đi bắt quỷ, vì thế các nhà đều phải treo ảnh thánh Antô”. Rồi đó lại soạn ra
kinh Antô bảo mọi người tụng đọc. Ảnh thánh Antô [10] có từ hồi đó [11] .

Dịch bệnh hoành hành liền năm năm mới dứt, Giáo hoàng lại xuống chiếu lừa dối dân chúng rằng: “Chúa Trời phán:
Vì dân nước ta tôn thờ đạo Chúa, cho nên ma quỷ căm ghét, tác quái sinh yêu làm hại dân ta. Vì vậy, trong dân gian
các đều miến thờ cúng thần linh tạp nhạp lệnh cho chính quan và đạo quan sở tại phải thu dẹp phá huỷ hết, xong
việc phải dâng biểu tâu lên”.

Thế là lại một phen dịch bệnh lớn, dân chúng chẳng ai dám hé răng.

Giáo hoàng Lôrenxô chết. Trải hai mươi năm thi hành bấy nhiêu sự việc đều không chút vội vàng. Lúc lâm chung,
Giáo hoàng gọi thế tử và các quan đại thần đến mật truyền di chúc: “Các hạng thần linh tạp nhạp trẫm đã dẹp xong.
92

Còn những thần linh có tiếng thì trong mười năm tới đây, các ngươi phải lo yểm diệt cho hết. Lại phải hai mươi năm
sau nữa mới xuống lệnh cấm thờ cúng tổ tiên. Đến khi đó cả nước mới thực cùng chung một đạo”. Rồi đó thế tử
Đôrixi [12] lên nối ngôi, xuất tiền bạc trong kho phát chẩn cho thiên hạ.

Chiếu truyền: “Trước đây sông ngòi nhiều nơi sụt lở. Nay sai sứ đi các nơi xem xét các làng bị ngập lụt, cho làm kè
đá ngăn giữ, chiêu tập dân chúng trở về làm ăn để con chiên Chúa càng thêm đông đúc. Kẻ nào không tuân lệnh
hoặc chiếm lợi riêng đều bị phép tội chém”. Từ đó ruộng đất bị sụt lở của các làng ven sông được khôi phục đủ số,
lập thành định lệ lâu dài.

Năm thứ năm, Giáo hoàng Đôrixi xuống chiếu truyền rằng: “Các vị thần có danh tiếng cũng không trừ diệt được ma
quỷ, vì thế các đồ khí mãnh thờ cúng đều phải thiêu huỷ hết”.

Năm thứ mười, truyền chiếu: “Chúa Trời phán bảo: Thần tức là quỷ, người há đi thờ quỷ hay sao? Từ xưa tới nay
dân chúng thờ cúng quỷ thần nhưng chẳng được ích lợi gì cho sự thọ yểu giàu nghèo. Vì thế các đền thần phải thiêu
huỷ hết không để sót mảy may”.

Bấy giờ các đền phần nhiều đã bị lính tráng phá huỷ, Giáo hoàng Đôrixi hội các đình thần lại bảo rằng: “Hơn ba
mươi năm, các phép đạo đã được định lập đầy đủ. Nay cần phải có một phép gì đó khiến cho giáo dân thân thiết với
đạo mà vẫn giữ được tôn nghiêm”.

Đình thần xét trong kinh Bởi trời chép ở Thực lục có câu: “Cha chúng tôi ở trên trời…”, bèn xin Giáo hoàng xuống
chiếu truyền rằng: “Người ta có ba cha [13] . Cha bậc trên là chúa Trời, cha bậc giữa là vua, cha bậc dưới là cha đẻ ra
mình. Cha bậc trên sinh ra cả cha bậc giữa và cha bậc dưới, cho nên mọi sự đều phải tuân theo cha bậc trên làm
chính. Cha bậc giữa theo phép của cha bậc trên mà thi hành, kẻ nào không tuân theo tức là bất hiếu, phạm vào điều
thứ 4 trong kinh Mười điều răn, bị phạt tội đày xuống địa ngục”. Cái thuyết Ba cha của ta đạo là gốc ở đó [14] .

Giáo hoàng lại bàn bạc với đình thần: “Phải làm sao cho dân chúng kính yêu ta như một khối không thể tách rời
được?”.

Đình thần bàn định rồi xuống du phỉnh doạ dân chúng: “Chúa Trời phán rằng: linh hồn người ta do Chúa trao cho,
chỉ có phần xác là do cha mẹ sinh ra. Vua và các đạo quan là cha cai quản phần hồn. Cha mẹ đẻ bế ẵm phần xác thì
chỉ là cha mẹ phần xác. Cha cai quản phần hồn là tôn quý, còn cha cai quản phần xác thì thấp kém hơn. Từ nay về
sau, dân chúng cần phải gọi các thầy cả là cha. Thầy cả thì gọi vít vồ (giám mục) bằng cha, giám mục thì gọi Giáo
hoàng là cha. Ai không tuân theo sẽ trị tội”.

Giáo hoàng lại nói: “Tỏ tình thân bằng lời nói dù sao cũng không bằng tỏ tình thân bằng việc làm”. Rồi đó phỏng
theo cung cách các đồ đệ của Jêsu có lệ hôn tay thầy, Giáo hoàng bèn định lệ: khi bãi chầu, các đại thần phải quỳ
thành hai hàng nâng vạt áo của Giáo hoàng mà hôn. Đối với các đồ khí mãnh cũng thế. Giáo dân đàn ông đàn bà làm
lễ xong, khi đạo quan ra về cũng phải nâng vạt áo mà hôn như thế [15] .

Phép gọi cha đã được thi hành. Qua năm sau, triều đình lại bàn cách huỷ bỏ tình cảm ruột thịt, không cho người ta
quyến luyến người thân, chỉ một lòng tôn kinh Giáo hoàng và các đạo quan. Bàn định xong, xuống chiếu truyền
rằng: “Người ta sau khi chết được chúa Trời cho lên thiên đường, vả lại trước sau ai cũng một lần chết, cho nên từ
nay về sau không được kêu khóc người chết, không được để tang và khi mai táng thì phải đào huyệt chôn sâu. Chôn
cất xong thì đọc kinh cầu nguyện, yên lặng làm ăn như cũ. Ai trái lệnh xử trảm”.

Từ đó người trong nước không được gọi cha đẻ mình bằng cha, mà phải tôn gọi Giáo hoàng và các đạo quan là cha
thật của mình.
93

Giáo hoàng lại xuống chiếu truyền rằng: “Việc hôn nhân của mỗi người, chúa Trời đã định sẵn: cha mẹ không được
loạn luân với con cái, anh em ruột cũng không được lấy nhau, anh em cùng cha khác mẹ cũng không được lấy nhau.
Ngoài ra, nam nữ vừa ý nhau thì đều được kết hôn. Đạo quan cho ai được làm vợ chồng đều là vâng theo ý Chúa,
cha mẹ đẻ không được ngăn trở. Ai không tuân lệnh sẽ trị tội”. Thế là từ đó trong dân gian những người cùng chung
huyết thống cũng vẫn được phép lấy nhau làm vợ chồng.

Bấy giờ đình thần có người tên là RiSa [16] lại soạn dâng bổn kinh Sáu điều răn tâu rằng: “Bắt dân giữ đúng mấy điều
dạy đó thì lòng sùng đạo càng thêm sốt sắng, ít biếng trễ”. Giáo hoàng xem xong hỏi rằng: “Lời kinh nói: chớ tham
công việc phần xác thì được phúc đức phần hồn, là nghĩa thế nào?” RiSa thưa rằng: “Làm như thế thì hằng ngày
trăm công nghìn việc phúc đức vậy”. Giáo hoàng lại hỏi: “Tại sao ngày thứ sáu và ngày thứ bảy hằng tuần lại kiêng
ăn thịt?” RiSa thưa: “Chúa Jêsu đầu tiên gặp nạn vào ngày thứ sáu, sang ngày thứ bảy thì chết. Cho nên trong hai
ngày ấy cần phải kiêng thịt, khiến cho giáo dân ai nấy đều phải xúc động trong lòng không quên”. Giáo hoàng khen
ngợi và cho ban hành để thiên hạ tuân hành. Kinh Sáu điều răn và phép kiêng thịt ngày thứ sáu, thứ bảy bắt đầu có
từ đó.

Qua năm sau, Giáo hoàng lại truyền xuống: “Chúa Trời phán rằng: dân chúng không được xem các sách vở của
người Jiuđê, và cũng không được học các sách sử ký của bản quốc, chỉ được học sách thuốc để chữa bệnh mà thôi.
Những ai làm nghề thầy lang đều phải tôn CôSiMô GiaMi [17] làm thầy, không được tôn sùng các tổ sư nghề y từ đời
thượng cổ nữa”.

Bấy giờ triều đình bàn bạc, lấy làm lo lắng các sách vở của người Jiuđê thế nào cũng có nói tới việc Jêsu, cho nên
trước hết xuống lệnh cấm. Đồng thời cũng cấm luôn cả việc học sử ký nước nhà, tức là phỏng theo lời dạy của Jêsu
về việc hạn chế sự thông minh. Kẻ nào có hai loại sách ấy đều phải nộp cho thầy cả làng mình để chuyển lên đạo
quan thiêu huỷ, ai trái lệnh sẽ bị đày xuống địa ngục.

Từ trước, vua quan nước Tây Dương ai cũng muốn lấy nhiều vợ để có nhiều con nối dõi. Nhưng từ khi việc hôn
nhân một vợ một chống đã định thành phép tắc, bọn họ đâm ra lúng túng không biết xử trí thế nào. Xét trong sách Bí
lục thấy ghi lời Jêsu dạy môn đồ về việc cấm thờ cúng chỉ là cấm dân chúng, còn vua quan thì vẫn có đền miếu
phụng thờ, bèn định ra lệ mật: quốc vương được lấy 300 thị nữ, các quan cũng được lấy thiếu hậu vợ lẽ nhiều ít tuỳ
theo cấp bậc. Chỉ ngại dân chúng vin cớ ấy mà không tuân theo phép một vợ một chồng, cho nên trước hết phải ban
chiếu ấy để tiện thi hành lệ riêng. Từ đó vua quan muốn làm gì tuỳ ý, không ai dám hé răng oán than.

Giáo hoàng lại xuống chiếu cấm dân chúng không được qua lại buôn bán với nước Jiuđê. Bấy giờ đình thần bàn
rằng người Jiuđê ắt biết việc Jêsu, cho nên phải cấm tuyệt không cho dân hai nước thông thương. Nhưng các thứ
thuốc men đồ dùng của người Tây Dương đều phải mua ở nước Jiuđê, cấm hẳn cũng không ổn. Gia đình bèn cho lập
ba cái chợ ở núi Cửa ải, truyền cho người ngoại quốc ai có hàng hoá thì đem đến bán, hết hàng thì trở về. Người
trong nước cũng không được vượt núi sang buôn bán. Ai trái lệnh sẽ bị ném xuống địa ngục.

Từ khi cắt yểm các mạch đất thiêng, dân số trở nên thưa thớt, đến hồi này mới dần dần tạm yên. Giáo hoàng muốn
biết số dân nhiều ít, bằng phỏng theo cách của ĐôSaNùng cho lính vây làng bắt dân nộp tiền, truyền bảo dân chúng
rằng: “Nay dịch bệnh đã yên, thật nhờ ơn Chúa thương xót. Vậy nên làm lễ tạ ơn để xin Chúa phù hộ cho được bình
yên. Đàn ông đàn bà các làng đều phải đến nhà thờ làm lễ, mỗi người nộp một đồng tiền chi dùng việc đèn nến”. Lại
truyền mật chiếu cho các thầy cả để riêng bốn ống đựng tiền, ông già, trai tráng, trẻ nhỏ, đàn bà, mỗi hạng bỏ tiền
vào một ống. Xong việc, dốc tiền đếm riêng từng ống thì biết rõ dân số mỗi hạng bao nhiêu người, kê nộp để Giáo
hoàng ngự lãm. Ý nghĩa của việc ấy là để biết trước nước có bao nhiêu trai tráng có thể sung lính. Tả đạo có lệ nộp
“tiền nhân danh” bắt đầu từ đó [18] .

Tiền nhân danh nộp đủ, dồn tính cả nước hạng tráng đinh được hơn 30 vạn người.
94

Đình thần trù tính đến lúc nên cất quân đi chinh chiến, bèn định phép dụng binh như sau: Khi sai tướng cầm quân ra
trận, triều đình cấp luôn đồ khâm liệm. Hành vi của từng người có quan hệ đến tộc thuộc. Bại trận thì phải chịu chết,
quay về tất bị bỏ rọ trôi sông. Quân sĩ thì xếp cha con, anh em và người làng vào cùng một đội để hết sức cứu giúp
nhau. Lại truyền cho các làng đều phải dựng đền trung liệt [19] , khi trong làng có người tử trận thì làm bài vị ghi rõ
họ tên đặt thờ trong đền, người trong nước chẳng ai không căm giận. Bấy giờ các đạo quan đều tâu rằng: “Mọi
người hằng ngày đều đến nhà thờ xem lễ, chỉ còn những người ở lại giữ nhà là được chơi nghỉ tuỳ thích”. Giáo
hoàng bèn truyền chiếu phỉnh rằng: “Chúa Trời đã phán: Chỗ nào cũng có ta, không nơi nào ta không thấy, những
kẻ ở một mình mà vẫn chăm chỉ đọc kinh mới thật là thành tâm thờ Chúa”. Những kẻ ngu khờ đều cho là phải, dẫu
bị giam hãm một mình dưới hầm sâu cũng chuyên cần đọc kinh, không dám trễ nải. Giáo đồ tả đạo đọc kinh tại nhà
bắt đầu từ đó.

Rồi xảy ra việc Curiát [20] dấy binh. Hồi bấy giờ đạo Gia Tô [21] lừa dối dân nước Tây Dương đã trải ba đời vua rồi.
Lòng dân uất ức, hoài tưởng chính đạo. Aten [22]nói rằng: “Đàn bà con gái trong gia đình chúng ta vì cớ gì mà phải
rập đầu quỳ lạy để cho bọn chúng [23] sai khiến còn hơn con cái thờ cha mẹ? Hẳn là bên trong có chuyện mờ ám gì
đây? Lại còn phải xưng tội, mọi việc đều phải cung xưng không chút giấu giếm. Đạo gì lại có thứ đạo như thế? Thì
thào thậm thụt, không gian thì ắt là dâm!”.

Lời nói của Curiát lan truyền khắp các thành bang trong nước, dân chúng ai ai cũng đều nắm tay [24] căm giận. Chỉ
trong một tháng đã tụ tập được hơn vạn người, cùng nổi lên giết bọn cha cố, giương cờ mở hội lên án tội trọng của
Giáo hoàng và các đạo quan: “Cha con bọn thầy tu các ngươi trên dưới mượn tiếng chúa Trời lừa dối dân chúng, tôn
sùng yêu tà Jêsu để mê hoặc lòng người”.

Giáo hoàng Đôrixi nghe tin lấy làm lo sợ, liền sai tướng đưa quân đi đánh dẹp, quân dân chết trận rất nhiều. Dân
chúng các nơi cùng nổi lên mạnh mẽ hơn trước. Giáo hoàng xuống chiếu khuyến dụ: “Chúa Trời phán rằng: Kẻ
phạm tội chỉ một tên Curiát mà thôi, ngoài ra những người theo hùa đều không bị kết tội”.

Trong sáu năm trời, quan quân đánh dẹp không nổi. Cuối cùng, Juachim [25] làm tướng cầm quân đi đánh. Khi ấy
quân Curiát đã bị thương vong tổn thất nặng nề, phải rút vào hang núi. Juachim cho quân bao vây rồi tiến đánh,
chém đầu Curiát đem về kinh dâng nộp.

Nhân vụ biến loạn Curiát, Giáo hoàng hội họp đình thần bàn cách giữ yên dân chúng. Viên quan tên là
AnTrung [26] tâu rằng: Phàm các nơi có mạch đất quý xin dành riêng để táng mộ cho các quan triều đình, cấm dân
chúng không được xâm phạm”. Giáo hoàng đập tay xuống bàn khen ngợi: “Hãy lắm! Hay lắm!” rồi truyền chiếu lừa
phỉnh dân chúng rằng: “Thứ dân dẫu có tội lớn cũng được chúa Trời thương xót mà tha thứ. Còn những người có địa
vị hiển vinh, dẫu phạm tội nhỏ cũng bị chúa Trời trừng phạt. Vì vậy các địa phương đều phải đặt một khu đất cấm
làm nơi táng mộ các quan để đến ngày phán xét nghe Chúa gọi tên giữa trời thì lên trình diện ngay cho khỏi lộn xộn.
Các giám mục phải đích thân đi dọn đất, xong việc tâu lên”.

Dân Tây Dương thờ đạo Gia Tô đến hồi này đã ba đời vua, sự học chẳng qua chỉ biết mấy quyển sách thuốc, sách
kinh mà thôi, ngoài ra mù tịt chẳng hay biết gì khác. Đến lúc này, các nơi núi sông đất lớn có vượng khí đều bị cấm
đoán, dân chúng chẳng biết tại sao. Khi chọn xong các khu đất cấm, đạo quan bèn cho vẽ địa đồ và cắm bảng yết thị
rằng: “Đất cấm do Chúa chọn đặt, thường dân kẻ nào xâm phạm đào bới sẽ bị ném xuống địa ngục”.

Qua năm sau, Giáo hoàng Đôrixi ra lệnh cất quân đi đánh nước Jiuđê, bị thua lớn phải rút quân về. Trước đó, Giáo
hoàng thấy quân dân trên dưới một lòng, muốn đưa lính đánh lấy nước Jiuđê, bèn xuống chiếu truyền rằng: “Chúa
Trời phán dạy: Về sự việc trước đây, người Jiuđê thật vô đạo quá lắm. Nay đã có điềm mây xanh hiện lên trợ chiến,
trẫm truyền cho hai vị giám mục và ba viên trấn tướng đem ba vạn quân sang đánh lấy nước Jiuđê”. Lại có mật dụ
truyền cho quan quân đi đến đâu phải yểm phá cho hết các mạch đất thiêng ở đấy. Mật dụ nói: “Trẫm ở ngôi ba
mươi năm, xuất quân ba mươi lần, đều cho làm như thế thì có thể thu gồm thiên hạ về một mối”.
95

Các tướng Tây Dương dẫn quân vượt qua núi Cửa ải, chỉ tay lên trời truyền bảo quân lính rằng: “Trên trời có mây
xanh đến trợ chiến cho ta”. Quân sĩ nghe nói cả mừng, càng ra sức vây đánh cả 5 thành bang của nước Jiuđê.

Bấy giờ ở nước Jiuđê, vua Pania [27] vừa lên nối ngôi, truyền lệnh án binh bất động. Lính do thám báo về: bọn tướng
Tây Dương đi đến đâu đều bắt dân Jiuđê gọi bằng cha. Vua Pania bèn sai truyền mật lệnh cho quản giáp các nơi. Ba
ngày sau, quân Tây Dương đánh đến [28] , các cỗ súng thần nhất loạt nổ vang do các viên quản giáp chỉ huy nhất tề
xông ra hô lớn: “Quân cha ta đã tới!” Các tướng Tây Dương khi ấy mới biết người Jiuđê không chịu hàng phục, xua
quân hỗn chiến một phen rồi tan vỡ. Quân Jiuđê chém đầu một giám mục, các tướng khác sợ nghiêm lệnh của triều
đình đều tự sát cả. Quân Tây Dương mất tướng chỉ huy, rối loạn tan chạy. Quân Jiuđê đuổi theo chém giết nhiều
không kể xiết. Tra hỏi tù binh Tây Dương, bọn chúng đều khai về việc ở Tây Dương mọi người dân đều phải làm
lính, về pháp lệnh sai tướng cầm quân ra trận [29] , về mưu kế cắt yểm các mạch đất thiêng.

Vua Pania nghe xong phải thốt lên: “Hiểm ác thay tên vua quỷ Tây Dương! Lại thêm yêu tà Jêsu! Bọn chúng muốn
phen này nuốt trửng nước ta! Nhưng phép dùng binh vừa phải dùng uy vừa phải dùng ân. Nếu không được yên ổn
làm ăn sinh sống, thì dân chúng chứa chất oán hờn, coi vua quan như kẻ cừu thù. Như vậy, khi xảy việc nguy cấp,
dẫu lấy uy quyền mà hiếp bức, người ta cũng vứt bỏ giáo mác, thử hỏi vua quan Tây Dương lấy ai mà đánh? Đó là
cái nguy cơ khiến cho nước chúng bại vong vậy”. Rồi đó truyền chiếu cho các nơi san lấp khôi phục các mạch đất
thiêng đã bị quân Tây Dương cắt yểm. Vua nói với các đình thần: “Cứ xem ý định của bọn Tây Dương năm này qua
năm khác, đánh đến đâu cắt yểm các mạch đất thiêng ở đó thì đủ biết bọn chúng muốn thi hành cái thuyết năm trăm
năm thống nhất thiên hạ của yêu tà Jêsu tổ sư bọn chúng, có lẽ vì chúng không dụ dỗ được dân ta cho nên mới phải
dùng đến mưu kế ấy. Không một phen dùng binh uy lớn thì không thể dẹp yên được. Nhưng phải đợi đến khi bọn
chúng lại sang lần nữa, thì lúc ấy bên ta lý thẳng khí mạnh, ắt sẽ giành phần thắng”. Rồi đó xuống lệnh tuyển quân,
luyện tập cung tên súng ống. Một mặt định lệ ghi tên phong thần, phỏng theo phép dùng binh của quân Tây Dương.
Lời dụ các tướng có nói: “Tướng giặc Tây Dương ra trận chỉ được tiến, không được lùi, ấy là một điều nguy khiến
cho chúng rất dễ bị bắt sống. Còn các ngươi, nếu thua trận vẫn được phép trở về. Trở về để tiếp tục đi đánh nữa. Ba
lần xuất chiến đều bại trận cả mới chịu hình phạt theo quân pháp, mà chỉ một mình kẻ làm tướng cầm quân phải chịu
hình phạt, không liên luỵ gì đến thân thích tộc thuộc”.

Tướng sĩ tung hô vui mừng nguyện một lòng tận trung báo quốc. Trong trận ấy, quân Jiuđê thu được súng ống đạn
dược của quân Tây Dương vứt bỏ lại [30] . Tra hỏi tù binh, biết rõ cách thức chế tạo, vua Jiuđê bèn sai theo phép ấy
mà đúc thêm súng đạn, xem ra càng tinh xảo hơn.

Qua năm sau, Giáo hoàng Đôrixi lại sai năm tướng đem năm vạn quân sang xâm lược nước Jiuđê. Bên quân Jiuđê,
vua sai 10 tướng đưa 10 vạn quân ra trận. Tướng sĩ ai nấy đều mặc áo đội mũ của quân Tây Dương, súng ống khí
giới cũng tựa như quân Tây Dương, ai nấy lặng lẽ ngậm tăm đi chặn địch. Lại một phen thắng lớn. Tướng Tây
Dương đều phải tự sát. Vua Pania truyền lệnh cho các tướng đem quân chặn giữ núi Cửa ải. Tàn quân Tây Dương
chạy về đó không còn một tên nào qua thoát. Các tướng Jiuđê thừa thắng cho quân đánh tràn sang nước Tây Dương.

Quân Jiuđê được lệnh kết bè sậy để vượt sông, luôn trong năm hôm đi suốt ngày đêm tiến đến kinh đô. Người Tây
Dương trông thấy tướng là quân mình thắng trận trở về. Bất ngờ giữa ban ngày quân Jiuđê xuất hiện ở kinh đô Tây
Dương, kéo thẳng qua cổng thành, chém đầu lính canh, nổ súng làm hiệu. Vua tôi Tây Dương trở tay không kịp,
kinh hoàng tìm đường tẩu thoát. Quân Jiuđê đốt phá cung điện, nhà thờ, trại lính và các phố phường trong kinh
thành. Hai con trai của vua Tây Dương bị bắt sống cùng với hơn 20 tên cha cố cai quản ở kinh đô và gái đồng trinh
một vạn người. Ngoài số ấy, dân Tây Dương bị chém giết không đếm xuể. Quan quân Tây Dương nghe tin vua chạy
trốn, ai nấy đều ngơ ngác kinh hoàng, cho nên mỗi lần giao chiến đều thất bại. Đến khi dâng nộp tù binh, thấy trong
số gái đồng trinh có hơn hai trăm người mặc váy xoè [31] , quân Jiuđê tra hỏi mới hay bọn chúng đều là gái hầu trong
dinh cấm của các quan đại thần Tây Dương. Vua Jiuđê truyền hỏi: “Ta nghe nói bên nước chúng bay theo phép một
vợ một chồng kia mà?”. Bọn thị nữ Tây Dương tâu rằng: “Phép ấy chỉ để cấm đoán dân chúng mà thôi”. Vua Jiuđê
96

và các đình thần cười vang. Rồi đó vua truyền phân chia các gái đồng trinh bán cho người không vợ ở các nơi trong
nước, giá 5 lạng bạc, lấy số tiền đó dùng vào việc nuôi dưỡng quân sĩ. Riêng về số hai trăm thị nữ thì sung vào hầu
trong cung.

Sau khi thua trận, thành tan quân vỡ, Giáo hoàng Tây Dương sợ mất lòng tin với dân chúng về chuyện mây xanh trợ
chiến, bèn truyền chiếu dụ rằng: “Tên vua Jiuđê cố chấp mê muội thay! Vừa rồi chúa Jêsu cho mây xanh đi trợ chiến
là có ý muốn cho vua tôi bọn chúng biết hối lỗi mà hàng phục, còn nếu bọn chúng vẫn u mê cố chấp thì chẳng cần
phải đọ sức thắng bại. Trẫm cùng các bề tôi không hiểu ý Chúa cứ cho quân tiến thẳng sang đánh nước Jiuđê để đến
nỗi thầy trò bươu đầu sứt trán! Chúa hiện xuống hai ba lần trách phạt, trẫm đã khấu đầu nhận lỗi. Chúa lại truyền
rằng: Từ nay về sau không được cất quân đi đánh nữa, phải chờ ngày tận thế mới có thể cho bọn chúng biết đạo thật!
Trẫm cho quân dân trong nước được nghỉ ngơi, không dám làm trái ý Chúa nữa”. Từ đó mới bỏ lệ triều cống.

Qua năm sau, phỏng theo cách Jêsu bịa chuyện ông Ađam và bà Evà để lừa bịp dân chúng, vua Đôrixi sai đình thần
soạn bộ sách Giảng lục (ghi chép những lời rao giảng về đạo Gia Tô) gồm 15 quyển [32] , cũng đặt ra các danh hiệu,
lời niệm nhẩm, mục đích làm cho dân chúng trên dưới một lòng. Mỗi khi muốn đề phòng nhắc nhở điều gì, sách đó
lại thêu dệt một câu chuyện, đặt ra một tên người để cho người ta tin. Chẳng hạn: Giáo hoàng lo ngại các đôi vợ
chồng trẻ đam mê ân ái mà biếng trễ sự đạo thì đặt một chuyện nói rằng: “Có ông thánh nọ cha mẹ dạm vợ cho,
nhưng thánh ấy xin được sống độc thân. Cha mẹ không thuận, cứ đón dâu về nhà. Thánh ấy bèn trốn vào rừng
chuyên tâm tu đạo. Sau ba mươi năm, người vợ hờ kia vẫn thủ tiết đồng trinh. Một hôm thánh ấy giả ăn mặc như kẻ
ăn mày trở về nhà. Cha mẹ và người vợ hờ kia vì quá lâu ngày đã quên dáng mạo của thánh ấy cho nên không nhận
ra. Mấy ngày sau, thánh ấy chết gục ngoài ngõ xóm. Đêm ấy có vầng hào quang toả sáng, cha mẹ thánh ấy ra xem,
thấy nơi đai ngực có cài bức thư, xem xong mới biết người ấy là con mình. Sự việc tâu lên, nhà vua thân hành đến
tận nơi xem xét. Thiên hạ kéo nhau đi xem chật đường, xe vua không sao vào được. Vua bèn sai lính ném vung tiền
ra để dân tranh nhau nhặt tiền thì sẽ giãn lối cho vua vào ngõ. Nhưng dân chúng chẳng hề để ý đến tiền, vẫn chen
nhau đứng chật ních như bức tường. Quan ngự đài phải đánh chiêng dẹp đường vua mới vào được. Vua bèn phong
cho cả cha mẹ và vợ chồng người ấy là thánh” [33] .

Lại như Giáo hoàng lo dân kêu khổ mà bỏ đạo [34] thì viết vào sách Giảng lục một chuyện rằng: “Có vị thánh tên là
Cơ [35] nhà rất giàu, có 10 con trai đều ngoan đạo, được chúa Trời yêu mến. Quỷ sứ vu rằng nhà ấy không thực bụng,
chúa Trời bèn thử thách, sai quỷ phóng hoả đốt nhà, gia sản cháy tiêu, nhưng lòng mộ đạo của cha con nhà ấy trước
sau như một. Chúa lại thử lần nữa: cùng một ngày cả mười người con đều chết. Lại thử gieo bệnh hủi cho người ấy,
nhưng người ấy trước sau vẫn ngoan đạo. Rồi đó Chúa bèn trả lại gia tài cho người ấy, 10 người con đều sống lại và
bệnh hủi người cha cũng khỏi hẳn. Về sau cha con nhà ấy đều được lên thiên đường, được quốc vương phong tặng
hiệu thánh”.

Lại như việc Giáo hoàng lo ngại dân chúng nghi ngờ Phêrô bỏ Chúa trong lúc hoạn nạn, không xứng đáng được tôn
thờ, sách Bí lục kể rằng: Phêrô về sau ăn năn hối lỗi, lo việc giảng đạo, rồi bị vua Jiuđê bắt giam cùm trong ngục.
Chúa Jêsu ở trên trời ban cho Phêrô phép lạ khiến cho Phêrô tự tháo cởi trói được gông cùm. Đến khi Phêrô lên
thiên đường quân Jiuđê không chém được.

Lại lo ngại dân chúng dị nghị về việc thánh Philipphê [36] vốn là một tên ăn cướp phạm nhiều tội ác thì làm sao lại
được phong thánh? Sách Bị lục đặt chuyện rằng: Thánh Philipphê nguyên là một vị quan to ở nước Jiuđê, từng giết
rất nhiều người theo đạo Chúa. Một hôm đang cưỡi ngựa thấy một lão ăn mày đứng nép bên vệ đường, Philipphê rủ
lòng thương, bèn cắt một vạt áo vứt cho ông lão. Bỗng ông lão ăn mày biến mất, con ngựa sợ hãi chồm lên.
Philipphê ngã ngựa vứt kiếm, hai mắt bỗng bị mù. Philipphê đấm ngực hối lỗi bày ngày liền, rồi đôi mắt được sáng
lại như cũ. Từ đó Philipphê một lòng theo đạo, sau khi chết được Jêsu cho lên thiên đường” [37] .

Sách Giảng lục lại kể rằng: Có một ông thánh tên là Đôminicô [38] , khi người mẹ nằm đẻ thánh ấy có hai con chó
ngao ngậm đuốc đứng hầu, cho nên ngày nay trong bức ảnh người mẹ bế thánh Đôminicô có vẽ hai con chó ngao
97

ngậm đuốc [39].

Sách Giảng lục đại khái lừa bịp người ta như thế.

Giáo hoàng Đôrixi lâm bệnh, sai đưa vào trong điện ngồi lên ngai thờ hồi lâu mới xuống. Rồi sai đem tượng truyền
thần của mình ra đặt lên ngai. Đôi mắt tượng thỉnh thoảng lại nhấp nháy […] [40] . Giáo hoàng Đôrixi ngoái lại bảo
hai đại thần đọc lời niệm rằng: “Cúi nguyện Giáo hoàng đến ngày thoát hồn thì dời nhập anh linh vào pho tượng ngự
trên ngai quý này để muôn đời rỗi rang”. Hai viên cận thần cầu niệm như vậy ba lần, Giáo hoàng ba lần gật đầu hứa
hẹn rồi trở về nội cung, căn dặn hoàng tử Piô [41] rằng: “Lệ cấm để tang chỉ cốt để cấm dân chúng, còn vua tôi sau
khi chết đã có tượng thờ, chết cũng như sống, không cần phải để tang làm gì. Nhưng gia pháp nhà ta thay đổi đã ba
đời hơn tám mươi năm, trách nhiệm hoàn thành công việc cho đến cùng chỉ trông cậy ở ngươi và bọn tôi liệu. Phải
một phen sửa đổi lớn, đến khi con của ngươi lên nối ngôi mới có thể sai các đạo quan đi ra nước ngoài để mưu toan
công việc nhất thống”.

Giáo hoàng Đôrixi nói xong thì tắt nghỉ. Thế tử Piô lên nối ngôi Giáo hoàng.

[1]
Nguyên thư phiên: YđườngDiên. Xem chú thích 2 tr. 161.
[2]
Các đại thần đều có tượng tạc sẵn để trong mật phòng. Việc đã nói ở Q. VI.
[3]
Đoạn văn này trích thuật chiếu thư, nói về hai việc khác nhau, chúng tôi dịch thêm: “một là… hai là…” cho dễ
theo dõi.
[4]
Nguyên thư chép: Toại chiếu chư môn đồ kham vi viết vô, đạo câu…”. Xét ra chữ “chư” là do chép nhầm từ chữ
“tuyển” (lựa chọn các môn đồ). Ở đây đang nói việc cho các tu sĩ thuộc cấp môn đồ thi lên cấp. Ở Q. VI có đoạn
nói: “Mỗi làng cử ra 5 người làm môn đồ giúp việc cho các đạo quan; về sau sẽ có cuộc thi, ai làm bài trúng cách sẽ
được xét phong chức đạo quan” . Xem thêm ở Q. VIII đoạn nói về Hiến luật có qui định chia môn đồ làm bảy hạng,
môn đồ hạng thứ 7 được dự thi để thăng cấp thầy cả.
[5]
Giáo hoàng = nguyên thư phiên là “BaBa”.
[6]
Về sau các nước cấm đạo thường bắt cho giáo dân phải bước qua tượng ảnh Chúa, bởi vì các loại ảnh, tượng tuy
khác nhau, nhưng cũng đều dùng một câu niệm chú ấy.
[7]
Làm như vậy để dụ dỗ giáo dân vui đạo.
[8]
Từ đó quan quân đi khám xét, bắn giết rất nhiều người.
[9]
Từ khi tả đạo xâm nhập nước ngoài, đến đâu thường bảo đào giếng, đắp đài lũy, dân chúng nhiều người bị chết vì
dịch bệnh đều gán cho đó là ý chúa Trời.
[10]
Nên hiểu thêm: “… và kinh Antô…” cũng có thể hiểu ở vị trí chữ ảnh đúng ra là chữ kinh.
[11]
Jêsu linh thiêng sao không xuống mà diệt trừ cho hết ma quỷ? Ấy chẳng qua cũng như các thầy phù thủy vẽ bùa
Kỳ thiên độc cước (thần một chân) để trấn áp ma quỷ vậy thôi.
[12]
Nguyên thư phiên là ĐốcDiTê.
[13]
Chúa Trời có ba ngôi. Cha cũng có ba ngôi!
[14]
Xem cách truyền bảo thì Giáo hoàng tuy mượn tiếng bảo dân tuân theo chúa Trời như kỳ thực là bắt tuân theo
mình. Từ đó phép tắc truyền xuống, đời đời ràng buộc dân chúng các điều nghiêm cấm gắt gao.
[15]
Ngày nay tả đạo cũng có phép hôn vạt áo.
[16]
Nguyên thư phiên YkêDiXa, chưa rõ tên nguyên ngữ, tạm phiên là RiSa.
[17]
Tên phiên âm trong nguyên thư.
[18]
Ngày nay tả đạo phỉnh người ta rằng tiền ấy dùng để làm lễ cầu nguyện cho người nộp tiền được trường thọ.
[19]
Nguyên văn: hiệu trung từ (đền thờ những người dốc lòng giúp việc nước).
[20]
Nguyên thư phiên là CưDiÁt, chưa rõ tiểu sử.
[21]
Nguyên văn: “Muội đạo”.
98

[22]
Nguyên văn: Nhã thành (Nhã điển thành), tức Athène, kinh đô Hy Lạp, đường thời là thuộc địa của đế quốc La
Mã.
[23]
Chỉ bọn thầy tu.
[24]
Nguyên văn: kháng thủ (giơ tay).
[25]
Nguyên thư phiên: KhuAKinh.
[26]
Tên phiên âm trong nguyên văn, chưa rõ nguyên ngữ.
[27]
Tên phiên âm trong nguyên văn: BànGia.
[28]
Nguyên thư chép: “Diêu binh tập chí…”. Chuyện đang nói việc quân Jiuđê phục kích chặn đánh quân Tây
Dương, do đó hợp lý có lẽ là “Tây binh (hoặc Dương binh) tập chí…” chứ không phải là quân Jiuđê đánh đến, tạm
sửa lại như trên.
[29]
Chỉ phép dùng binh khi sai tướng ra trận thì cấp luôn đồ khâm liệm v.v. đã nói ở đoạn trên.
[30]
Nguyên thư chép: Tây Dương đắc Diêu quân… (quân Tây Dương thu được của quân Jiuđê), chúng tôi cho là
chép nhầm, ngược vị trí, hợp lý có lẽ là: “Diêu quân đắc Tây Dương…”, vì ở đây đang nói đến thắng lợi của quân
Jiuđê, vả lại có việc thu được súng ống đạn dược của quân Tây Dương thì cách mấy câu sau mới có thể nói quân
Jiuđê “mặc áo đội mũ của quân Tây Dương, súng ống khí giới cũng tựa như quân Tây Dương”.
[31]
Nguyên văn: vân y.
[32]
Sách này truyền vào nước nào đều có dịch ra chữ nước ấy.
[33]
Bỏ cha mẹ mà trốn đi là bất hiếu với cha mẹ, làm sao còn giữ được đức tin với chúa Trời!
[34]
Nguyên văn: “Khủng dân chi la khổ tất bất tùng đạo”. Chữ la ở đây nếu hiểu theo chữ Hán là cái lưới thì câu văn
không có nghĩa gì. Đây là cách dùng xen chữ Nôm trong câu văn chữ Hán như từng thấy ở những văn bản Hán Nôm
cuối thế kỷ XVIII – đầu XIX. La khổ = kêu khổ, kêu than cực khổ.
[35]
Nguyên văn ghi tên là Cơ, chưa rõ tên nguyên ngữ. Có lẽ đó là cách ghi tên một người viết tắt bằng chữ C hoặc
K.
[36]
Nguyên thư phiên: BảoLộc.
[37]
Vì vậy ngày nay trong bức ánh thánh Philipphê có vẽ một thanh gươm bên cạnh. Sách Giảng lục kể chuyện ấy cốt
để đe dọa quan chức nước ngoài không được giết hại tả đạo. Lại cũng để lừa phỉnh giáo dân kiên lòng theo đạo.
[38]
Tiếng Bồ: Domingo; tiếng Latinh: Dominic. Nguyên thư phiên ĐaMinhCô.
[39]
Ngày nay người ta phần nhiều nói rằng Maria nằm với chó mà sinh ra Jêsu, có lẽ vì trông ở ảnh thánh Đôminicô
mà nghi ngờ Maria cho nên đặt ra chuyện ấy để châm biếm cho thậm tệ. Nhưng có sách cho là chuyện nói về con
gái của Tống Ca Tông. Đã là công chúa há lại không kiếm được một người chồng tử tế mà phải đi làm cái chuyện ô
uế kia? Thật là chuyện vu vơ chẳng có căn cứ gì cả.
[40]
Nguyên thư chép: “Mục tương dị thời cố vị nhị đại thần chú viết…”. Chúng tôi cho rằng ở đây có sai sót làm cho
câu văn tối nghĩa. Tạm đoán ý dịch như trên.
[41]
Nguyên thư phiên: Phất Nhi.

Quyển VIII

Quận Tây Dương thôn tính các lân quốc


Các nước gần cùng nhau trừ Dương tặc

Giáo hoàng Piô lên ngôi xuống chiếu truyền rằng: “Các đạo quan mặc dù đã được tạc tượng phong thần, há lại
không cần ngự tụ tinh thần hay sao? Từ nay về sau, đạo quan từ 60 tuổi trở lên thì được nghỉ việc, hưu dưỡng tại xứ
đạo sở quán, triều đình sẽ bổ nhiệm người khác đến thay. Chính quan làm việc nhiều, cấp quan to từ 55 tuổi được
nghỉ việc, về hưu dưỡng tại quê quán sum vầy với thân thích vợ con. Cấp quan nhỏ 40 tuổi được hưu trí. Những
người ngoài 40 tuổi mới ra làm quan thì đến 50 tuổi cũng cho nghỉ hưu. Như vậy trước là để cho các quan ngưng tụ
tinh thần đặng thành linh sau khi chết, sau nữa là để thoả lòng mong muốn sống lâu. Từ nay về sau theo đó làm định
lệ”.

Qua năm sau, có dụ truyền: “Từ nay, dân chúng phải gọi cha đẻ của mình là “ông già”, gọi mẹ đẻ là “bà già”, không
99

được gọi bằng cha mẹ. Ai không tuân lệnh xử trảm”.

Bấy giờ đình thần hội bàn, thấy rằng dân chúng đã gọi Giáo hoàng và các đạo quan là Cha, lại còn gọi cha đẻ là cha
thì hoá ra kẻ dưới cũng bằng người trên? Người ta lại sẽ theo tiếng xưng hô mà suy ra ý nghĩa, chỉ nhớ đến cha mẹ
mà dễ sinh lòng kia khác với Giáo hoàng. Rồi đó theo trong Bí lục, thấy chép Jêsu gọi cha mẹ bằng “ông già” “bà
già” cho nên mới có lệnh cấm ấy.

Trước đó, dân chúng tuy không tôn kính cha mẹ, nhưng vẫn còn giữ được cái nghĩa ấy. Từ khi có lệnh cấm nói trên,
dân chúng đối với cha mẹ đẻ của mình, khi còn sống thì không được gọi là cha mẹ [1] , đến khi chết thì không được
phụng thờ, chỉ được tôn kính vua quan nhà đạo làm cha mà thôi!

Qua năm sau lại có dụ truyền: “Các quan giúp việc của chúa Trời tuyệt không được có tình thân riêng. Từ nay về
sau, đạo quan khi đã được phong chức thì từ cha mẹ đẻ cho đến chú bác đều phải quỳ lạy mà gọi bằng “cha”, không
được coi như con cháu nữa. Kẻ nào trái lệnh bị ném xuống địa ngục”.

Bấy giờ đình thần hội bàn, thấy rằng các đạo quan tuy đã phải gọi cha mẹ là ông già, bà già, nhưng vẫn còn có ý
thân riêng, sợ bọn họ không giữ một lòng với Giáo hoàng, muốn dứt hẳn tình thân ấy đi nhưng không thấy Jêsu dạy
rõ nên không biết làm thế nào. Lại mở sách Bí lục ra xem thật kỹ, vừa may thấy đoạn ghi việc cha mẹ Jêsu quỳ lạy
Jêsu, đình thần ai nấy hớn hở vui mừng, đều nói rằng: “Tìm được ý kín đây rồi!”, bèn có chiếu dụ nói trên. Từ đó,
các đạo quan sau khi được thụ phong, về nhà nhận lạy của cha mẹ, sau đó tùy theo sự chuyển đổi của bề trên, chỉ
biết có Giáo hoàng chứ không được biết đến nỗi buồn vui của gia đình mình.

Qua năm sau, lại cấm các đạo quan khi còn tại chức từ một đồng tiền thước vải cũng không được lén cho người nhà.
Cha mẹ nhớ con thì phải nhờ người khác đi thăm chứ không được tự mình đến thăm. Ai trái lệnh, bị phát giác, đều
phải chịu tội không tha [2] .

Qua năm sau, Giáo hoàng xuống chiếu ban định phép thi chọn giám mục, thầy cả và các môn đồ. Phàm những môn
đồ đã xếp hạng bảy thì được thăng làm thầy cả. Theo phép này người đàn ông các hạng 1, 2, 3, 4 gọi là phụ lưu
(hạng phụ). Người nào đọc hiểu hết sách Giảng lục, được xếp hạng 5, gọi là giảng sư (thầy giảng). Thầy giảng nói
năng khéo léo, khuynh loát được người nghe thì xếp lên hạng 6, gọi là lão sư (thầy già) [3] . Thầy già có khả năng
biện quyết xảo trá mê hoặc dân chúng, làm một bài thi chừng vài chục câu [4] , ai trúng cách thì xếp lên hạng 7, được
thụ lễ niệm chú bắt quyết [5] ban đạo phục, đồ làm lễ và được cấp bằng sắc phong làm thầy cả. Trong các thầy cả,
người nào rất mực thông minh, kiến thức cao rộng sẽ được về kinh đô, cho ở trong nhà kín để học các phép huyền bí
thiên văn, địa lý, bói toán, âm dương. Học đạt thì được dự thi, ai trúng cách sẽ được sắc phong làm giám mục [6] .
Những người thi hỏng cũng phải ở luôn trong tu viện không được ra ngoài [7] .

Việc chọn người có tài ăn nói khuynh loát người nghe, để cho đậu hay hỏng [8] là phép thi phỏng theo cách Jêsu
nhân cái tài của mình lấy lời chúa Trời để lòe bịp mà suy diễn ra. Chẳng hạn đối với người giàu sang không theo
đạo, thì nói: “Lành thay ơn phúc chúa Trời”. Đối với người giàu sang đã chịu theo đạo thì lấy sự thất bại của nhà
khác ra mà doạ rằng: “Kẻ kia không biết ơn phúc của chúa Trời nên bị trừng phạt”. Đối với người ốm đau suy nhược
thì bảo rằng: “Chúa Trời chỉ mới thử sức ngươi đó thôi. Nếu ngươi vững lòng tin đạo, sau khi chết sẽ được hưởng
phúc”. Lại lấy gương những người trước thịnh sau suy mà lừa phỉnh rằng: “Chúa Trời chỉ mới thử sức ngươi đó
thôi. Nếu ngươi vững lòng tin đạo, sau khi chết sẽ được hưởng phúc”. Lại lấy gương những người trước suy sau
thịnh mà lừa phỉnh rằng: “Người kia biết theo đạo nên được chúa Trời ban thưởng”. Đối với hạng tôi tớ nghèo hèn
thì bảo rằng: “Chúa Trời là đấng chí công, không câu nệ sang hèn, ai biết theo đạo dẫu ngày nay sống nghèo hèn,
nhưng sau khi chết sẽ được mặc áo gấm, ngồi xe lọng mà lên thiên đường. Ai không theo đạo, ngày nay tuy sống
giàu sang, nhưng sau khi chết bị đày xuống địa ngục chịu trừng phạt”. Cho nên dẫu là kẻ tôi tớ nghèo hèn, chẳng ai
không kiên lòng theo đạo. Việc gì cũng trước mượn lời chúa Trời sau mới chuyển sang nói về chúa Jêsu để thi hành
các thuyết của đạo ấy.
100

Phép thi chọn người có khả năng biện bạch lắt léo mê hoặc dân chúng [9] thì phỏng theo những lời thí dụ của Jêsu
mà tu sức thêu dệt thêm. Từ xưa đến nay, có hàng vạn câu trả lời bằng các thí dụ. Chẳng hạn, hỏi: “Nói chúa Trời có
ba ngôi nhưng chỉ một thể thì lấy gì chứng nghiệm?” Trả lời: “Cũng ví như một nước có thái thượng hoàng, vua và
thái tử, chứng tỏ rằng: tuy ba ngôi nhưng chỉ một thể vậy” [10] . Hỏi: “Đức Mẹ Maria là người có chồng, sao lại bảo
Jêsu là con chúa Trời?” Đáp: “Điều đó cũng ví như trời đã sinh ra vua lại có bậc danh thần phò tá cho nhà vua. Ông
Jiuse chính là bậc danh thần do chúa Trời sai xuống để bảo hộ cho chúa Jêsu, chứ không phải là chồng thật của Đức
Mẹ Maria, mà cũng không phải là cha của chúa Jêsu” [11] . Hỏi: “Đã là trinh nữ thì không sinh đẻ, Đức Mẹ Maria đã
sinh ra chúa Jêsu thì sao còn bảo là trinh?” [12] Đáp: “Mặt trời mượn ánh sáng mà giáng lửa xuống, nhưng ánh sáng
thì vẫn trong suốt như cũ vậy thôi” [13] . Lại hỏi: “Người ta biết trước ngày tháng sinh đẻ, tại sao lại không biết trước
ngày tháng chết?”. Đáp: “Chúa Trời giữ kín không cho người ta biết số mệnh của mình thì còn phải lo sợ mà làm
điều thiện. Ấy là lòng nhân từ của chúa Trời vậy”.

Phàm việc không chân chính thì việc gì cũng phải mượn lời thí dụ để che lấp sự sai trái đi. Cái gọi là “lý đoán” đều
là vô lý, khéo lời biện bạch quỷ quyệt đại khái như thế.

Qua năm sau, đình thần Tây Dương hội bàn về các luật đạo sắp xếp sửa sang chia làm hai bộ Hiến luật và Hình luật
để làm quy chế mãi mãi cho vạn đời sau.

Hiến luật có những điều:

 Giáo hoàng do chúa Trời lập ra để trị dân. Các giám mục, thầy cả đều là những chức quan do chúa Trời đặt
ra để uốn nắn phong tục. Những lời dạy bảo của ba bậc đó đều là pháp luật của chúa Trời.

 Giáo hoàng và các quan việc đời, các quan việc đạo đều được tạc tượng phong thần.

 Con trai con gái các quan việc đời lấy vợ lấy chồng với nhau không được lấy con cái nhà thứ dân [14] .

 Các quan việc đời nhà nào có từ ba con trai trở lên thì phải sung một người làm môn đồ của quan việc
đạo [15] .

 Con em các quan việc đời và môn đồ của quan việc đạo từ 10 tuổi trở lên đều được ghi tên vào Quốc bạ (sổ
của triều đình).

 Con em các quan việc đời và môn đồ không được lấy vợ [16] .

 Tu nữ đồng trinh phải ở riêng một nơi biệt lập [17] .

 Môn đồ đã thăng đến cấp giảng sư (thầy giảng) thì tuyệt đối không được về quê nhà [18] .

 Môn đồ mắc những bệnh nguy hiểm hoặc thân thể bị tật nguyền, cùng là những người cha mẹ làm những
nghề nghiệp hèn mọn dẫu tinh thông giáo lý cũng không được làm quan việc đạo.

 Môn đồ xếp lên hạng bảy đến nhà kín cắt đầu dương vật, chịu phép phong thần, sau đó mới được truyền
mật chú, cấp sắc phong làm thầy cả, v.v. [19]

Pháp luật đã đầy đủ, khắc thành sách vàng, cất vào trong hộp đá, gọi là phép kín của chúa Trời.

Giáo hoàng Piô qua đời, ở ngôi hai mươi ba năm. Cháu thứ là SôNghi [20] lên nối ngôi.
101

Vua tôi Tây Dương có tiếng là xảo quyệt nham hiểm. Từ khi lợi dụng mưu kế của Jêsu lại càng lấy hình phạt
nghiêm khắc mà xua đuổi dân chúng, người bị hình phạt rất nhiều. Đến hồi này nhân dân đã hỗn, không nghe như
xưa. Giáo hoàng SôNghi muốn thử lòng dân, cho truyền thư mật hỏi các đạo quan. Đạo quan các nơi đều tâu rằng:
Mỗi khi giảng sự tích chúa Jêsu chịu nạn, dân chúng đều thương xót khóc than, thấy tượng chúa Jêsu chịu nạn, mọi
người đều sụp lạy khóc thương thảm thiết. Dân chúng thân yêu nhau, đối xử với người ngoài đường như anh em
trong nhà vậy. Lại đã một lòng ngưỡng vọng tôn kính Giáo hoàng như cha đẻ của mình [21] .

Giáo hoàng cả mừng. Lại muốn lấy việc làm mà thử, bèn xuống dụ lừa dối rằng: “Đêm hôm qua chúa Jêsu hiện về
phán cho trẫm biết Chúa muốn san bằng ngọn QuangTang [22] để làm nhà thờ Đức Mẹ Maria. Ai đến góp sức vào
việc ấy, không kể già trẻ trai gái, mỗi tuổi được thiên thần ghi cho một công, dời được một hòn đất hòn đá thiên thần
đều tâu chúa Jêsu ban cho một điều phúc”.

Thế là đàn ông đàn bà đều tin lời kéo đến đông đủ, chỉ hai ngày sau san bằng núi QuangTang, không tốn một đấu
gạo. Giáo hoàng SôNghi mừng lắm bảo rằng: “Dân chúng đã một lòng như vậy, vua tôi chúng ta chẳng còn phải lo
ngại gì. Phép thuật của chúa Jêsu thật là thần thánh vậy thay!” Rồi cho mở yến hội lớn tạ ơn các Giáo hoàng đời
trước [23] . Các quan trong kinh ngoài trấn đều được ban thưởng có thứ bậc.

Rồi đó Giáo hoàng SôNghi truyền mệnh sai các giám mục đi truyền đạo ở các nước ngoài, lừa bịp dân các nước ấy
để mong nhất thống [24] . Giao cho đình thần bàn xét tâu lên để định các điều luật và hình luật áp dụng ở nước ngoài.
Giáo hoàng phê chuẩn 20 điều hiến luật và 6 điều hình luật. Lại đặt 7 điều qui định đối với giám mục và môn đồ
người nước ngoài, 11 điều qui định về việc khen thưởng. Lại qui định mẫu thức tờ sắc phong cho giám mục đốc
chính [25] ở các nước và sắc phong cho các giám mục ngoại quốc. Những việc ấy đều lược bỏ không ghi ở đây.

Hội họp bàn xét đã đủ, Giáo hoàng vui vẻ cười vang, phán rằng: “Năm trăm năm tuy lâu thật, nhưng người sau tiếp
người trước. Mỗi đời giám mục đốc chính ước chừng 40 năm, vậy không quá 50 đời giám mục đốc chính thì Giáo
hoàng thứ 50 sẽ được thấy đại cuộc thống nhất thiên hạ, nào phải là lâu lắm đâu!” [26] .

Rồi đó chọn ngày cho các giám mục lên đường ra nước ngoài. Các viên đốc chính đều sợ phép của triều đình, tuy
biết ra đi là cầm chắc cái chết, nhưng vì muốn được thờ phụng vẻ vang, cho nên không dám tiếc thân mình. Kẻ trước
chết, người sau nối, trước sau một dạ trung thành, răm rắp theo phép.

Kể từ đó, đạo Gia Tô như tằm ăn lá dâu, mỗi ngày một thêm lan rộng.

Láng giềng của nước Tây Dương có hai nước là Bạch Hoa Lan và Xích Hoa Lan, tất cả gồm 72 tiểu quốc, chưa đầy
400 năm đều đã bị lừa dối. Ngày trước hai nước ấy vẫn sai sứ đến triều cống nước Tây Dương, xưng tụng là đại đế
thiên triều, được Giáo hoàng ban thưởng rất trọng hậu. Hai nước ấy đều lấy thế làm mừng, mời giám mục đốc chính
là quốc sư. Cuối cùng vua hai nước ấy đều bị giám mục đốc chính ám hại, đất đai bị phân chia đem nhập vào nước
Tây Dương, đúng như lời Jêsu đã nói “năm trăm năm thì nhất thống” [27] .

Duy có một nước Jiuđê cùng với hai nước nhỏ chư hầu nước ấy đã sớm biết đề phòng từ trước, đời này qua đời khác
giữ phép nước trước sau không thay đổi, cho nên người Tây Dương không lừa dối dụ dỗ được. Giáo hoàng Tây
Dương tham nước ấy đất đai rộng lớn, nhiều lần viện quân những nước cùng phe cánh đem quân sang đánh nước
Jiuđê, nhưng bao phen không thắng nổi phải bỏ hẳn ý định xâm chiếm nước Jiuđê.

Người nước Tây Vực [28] giết giám mục đốc chính Tây Dương mang tên thánh là Phanxicô, đặt lệnh cấm hẳn không
cho hành đạo Gia Tô ở trong nước.

Hồi bấy giờ, Phanxicô vâng mệnh Giáo hoàng Tây Dương lẻn vào ẩn náu ở một làng miền núi nước Tây Vực. Phép
nước Tây Vực vốn chỉ thờ thần Phật. Phanxicô cùng với một môn đồ đến ở đó làm thầy lang bốc thuốc chữa bệnh.
102

Được 1 năm, đã quen thân với dân làng. Nhân nhà chùa mở hội đàm Vô già [29] , hương hào làng ấy mời Phanxicô
cùng đi lễ Phật. Thầy trò Phanxicô đều cáo ốm không đi. Đến lần hội sau, dân làng lại mời, Phanxicô ra đáp: “Tôi từ
phương xa đến đây không biết Phật là hạng nào cho nên không dám lạy”. Các hương hào nổi giận mắng rằng: “Nhập
quốc tùy tục! Ngươi có biết nước chúng ta đây là hạng nào không mà cũng dám đến?” Rồi bọn họ đem sự việc trình
lên quan trấn. Quan trấn xứ ấy tâu lên. Vua Bất Thất [30] phán rằng: “Đó là tên giặc giấu mặt đấy!” Rồi truyền lệnh
treo ngược hai thầy trò Phanxicô lên ngọn cây, xẻo thịt cho đến chết. Về sau giám mục Tây Dương bén mảng đến
đều bị người Tây Vực bắt giết. Trước đó triều đình Tây Vực đã có lệnh cấm dân theo dị giáo, mặc dị phục. Nhân sự
việc nói trên, lệnh cấm lại càng nghiêm ngặt hơn, cho nên người Tây Dương cũng phải bỏ không dám đến Tây Vực
nữa.

Vua nước PhaLangSa [31] cấm đạo Gia Tô, giết hết quan tướng to nhỏ bọn giặc Tây Dương. Nguyên nước
PhaLangSa ở về phía tây nước Tây Vực, có hai nước phụ thuộc là nước ĐạiNa và nước NaSa, từ xưa vẫn sang
PhaLangSa triều cống. Đến hồi bấy giờ do bọn thầy tu đạo Gia Tô mua chuộc, vua hai nước ấy đoạn tuyệt với nước
PhaLangSa, gửi thư cho giám mục đốc chính muốn xin phụ thuộc vào nước Tây Dương. Bấy giờ vua PhaLangSa tên
là ĐaGia đã nhiều lần triệu mời, nhưng hai nước ấy vẫn không chịu đi. Vua PhaLangSa bèn sai quân sang đánh, bị
thua trận phải trở về. Dò xét biết nguyên nhân sự việc, vua ĐaGia giận lắm. Rồi đó vua sai lập sổ ghi những người
theo đạo thì thấy đến nửa nước đã trở thành người Tây Dương rồi! Vua ĐaGia cả kinh bảo rằng: “Không trừ bọn
giặc này thì không phải chỉ hai nước kia, mà chẳng bao lâu nữa nước ta cũng hóa thành Tây Dương. Nói đoạn vua
gọi các quan tứ trụ là bọn BộtTốc vào bàn riêng trong phòng kín. Bọn BộtTốc tâu rằng: “Đạo của bọn chúng bắt rễ
sâu lắm rồi. Triều đình đã nhiều lần ra lệnh cấm mà vẫn không dứt được, không biết nguyên do vì đâu? Nhưng dân
ta một nửa là người Jiuđê, cái thế muốn làm cũng còn dễ. Vậy xin hoàng thượng tìm người giỏi phép diệt trừ tả đạo
biểu dương khen thưởng trọng hậu. Trong dân gian cũng có bậc trí giả ra hiến kế hay thì mới có thể dẹp tắt được”.

Vua ĐaGia khen phải rồi hạ chiếu kể tội rằng: “Đạo Tây Dương bắt người ta bỏ thờ cúng tổ tiên, chỉ được thờ cúng
một mình Jêsu; không cho dân chúng tuân kính triều đình bản quốc, chỉ được tuân theo Giáo hoàng Tây Dương”.
Chiếu văn lại nói: “Nếu không vì mối lợi lớn thì việc gì phải xa xôi tìm đến? Nếu không tìm mưu lớn thì vì sao phải
coi khinh sống chết? Ai có tài diệt trừ đạo ấy cho phép tâu lên cửa khuyết, trẫm sẽ phong thưởng vẻ vang cho bản
thân con cháu”.

Bọn thầy tu Tây Dương ở khắp nơi trong dân gian, nghe tuyên chiếu thảy đều lo sợ, bèn đem tiền của đến đút lót các
quan lại địa phương. Bọn hào lý kẻ có đạo cũng như không có đạo đều nói: “Người ta ăn ngay ở lành, chẳng giết hại
ai, việc gì phải lùng bắt gắt gao như thế?” Bọn cha cố Tây Dương lại gọi giáo đồ tụ tập ở nhà thờ không cho ra
ngoài [32] . Giám mục đốc chính cho truyền mật thư cho giáo dân, bảo rằng: “Chúa dạy: phàm những ai trước đã ở
nhà lo việc đạo mà nay gánh việc đời, thì cha anh phải nhắn gọi về” [33] . Rồi đó đốc chính chuyển thư về nước tâu
Giáo hoàng.

Bấy giờ giám mục nước ĐạiNa là ChânBình, thầy giảng nước LangSa là CảmHợi đến cửa khuyết xin hiến kế diệt
trừ tả đạo.

Nguyên ChânBình ở nước ĐạiNa, đã được thăng đến chức giám mục, trót ăn nằm với tu nữ đồng trinh có mang.
Giám mục đốc chính tâu xin vua ĐạiNa cho bắt xử trảm, nhưng không bắt được, bèn bắt cha anh ChânBình đem đi
đày. Bình cùng với người tu nữ đồng trinh kia trốn sang nước LangSa đến hồi bấy giờ đã được 15 năm.

CảmHợi là thầy giảng ở nước LangSa. Trước đó bố Hợi chết, giám mục đốc chính không cho để tang. Về sau Hợi
xin về nhà lấy vợ. Đốc chính cho người đến tận nhà réo chửi, làm nhục. Hợi bèn quyết chí bỏ đạo Gia Tô trở về với
chính giáo.

ChânBình và CảmHợi đều biết rõ sự giả dối trong những sách kín của đạo Tây Dương, lại vì nỗi oan ức chưa được
giãi tỏ, đến khi nghe chiếu truyền, hai người cả mừng, liền về kinh đô xin hiến kế.
103

Vua Đagia được hai người này cả mừng, hỏi vì lý do gì mà bỏ đạo Tây Dương? Hai người đều thực tình tâu lên, vua
ĐaGia lại càng thêm tin cậy. Rồi đó vua ĐaGia hỏi về việc xem sổ dân thấy ghi người theo tả đạo cả, hai người tâu
rằng: “Sổ sách cũng không thể ghi chép hết, chỉ vì bọn quan lại tham nhũng thừa gió bẻ măng càng làm cho dân
thêm khổ. Nếu dân theo tả đạo cả thì bệ hạ còn làm vua với ai? Một khi xảy ra sự biến, tai họa hẳn là không nhỏ.
Bên trong thì mất dân, bên ngoài thì xua dân cho giặc Tây Dương. Vả lại, Giáo hoàng Tây Dương đã từng chê cười
các nước rằng: “Họ giết dân nước họ, thật là điều lợi lớn cho ta!”. Vậy xin bệ hạ chớ làm những điều mà bọn chúng
chê cười. Các đời trước nay từng ra lệnh cấm mà không dứt được là vì bọn chúng lẩn trốn như dê chó, phần nhiều
mượn nghề thầy lang đi bốc thuốc chữa bệnh, giả dạng làm ăn mày, dẫu ngồi giữa đường cũng không ai biết. Chẳng
có duyên cớ gì khác, chỉ vì dân chúng tin tài bốc thuốc chữa bệnh của tả đạo cho nên mới không truy bắt hết được.
Bởi vậy phải có lệnh cấm thật nghiêm thì bọn chúng không còn chỗ dung thân. Đại phàm muốn làm cho cái cây to
tàn héo, trước hết phải đào đứt rễ thì cành lá cũng tự úa khô”.

Vua ĐaGia nghe nói chợt tỉnh ngộ, nhân đó lại hỏi đầu đuôi sự tích Gia Tô. Hai người tâu rằng việc ấy kể 10 ngày
cũng chưa hết, xin cho một căn phòng yên tĩnh ngồi viết thành sách dâng lên hoàng thượng ngự lãm. Vua ĐaGia
ưng chuẩn cho viết. Sau năm tháng, sách soạn xong, thuật lại mọi chuyện từ khi Jêsu ra đời cho đến khi thuật của
Jêsu đắc dụng ở Tây Dương, tất cả gồm 10 quyển. Vua ĐaGia và các đình thần đọc xong ai nấy đều phải kinh ngạc
thốt lên: “Đúng là bọn giặc!”

Chân Bình và CảmHợi tâu rằng: “Xin lấy luật của giặc mà trị giặc mới có thể cấm đứt được”. Vua ĐaGia bèn giao
cho hai người cùng với đình thần lựa chọn luật lệ của nước Jiuđê làm ra luật cấm như sau:

1. Trong dân gian ở đâu có nhà thờ đạo Gia Tô, bất kể lớn nhỏ, quan sở tại đều phải làm biên án và triệt phá,
thu nộp cho quan trấn sung vào quân khố. Kẻ nào ẩn lậu xử trảm.

2. Bọn đốc chính giám mục người Tây Dương đều là giặc nước, kẻ nào dám che giấu cho trốn tránh sẽ bị trị
tội cả ba họ. Các chức sắc làng trấn đều phải liên đới chịu tội.

3. Người bản quốc theo giặc làm giám mục, môn đồ, đều là kẻ a tòng bán nước, trị tội cả ba họ, không tha.

4. Làng nào có kẻ nhận chức của giặc Tây Dương làm giám mục, môn đồ thì phải cử ra 40 người cùng với
hương trưởng ghi tên bọn chúng vào sổ khai. Kẻ nào che giấu về sau phát giác thì bọn hương hào 40 người
nói trên đều bị xử trảm.

5. Họ nào có kẻ nhận chức của giặc Tây Dương làm giám mục, môn đồ, thì ba họ của kẻ ấy hạn trong ba
tháng phải đi khai báo. Ai khai trước thì được khỏi tội. Nếu không khai báo về sau phát giác ra thì cả ba họ
bị tru di, lớn bé đều không tha.

6. Ai cất giấu các thứ kiệu, lọng, ảnh tượng, áo mũ, đồ lễ, sách vở của đạo Tây Dương, hạn trong ba tháng
phải đem nộp cho quan sở tại thì được miễn tội. Kẻ nào không tuân về sau phát giác thì chủ oa trữ bị giết cả
nhà, lớn bé đều không tha.

7. Người nào có công bắt được bọn thầy trò bọn đốc chính giám mục Tây Dương thì được phong quan tứ
phẩm, sau khi chế dân làng tả đạo phải lập miếu đặt tượng thờ, kể cả kẻ thủ hạ cũng được thờ chung.

Luật lệnh đã đầy đủ, ChânBình và CảmHợi lại tâu lên vua rằng: “Trong các nhà thờ đều có các thầy trò bọn đốc
chính giám mục Tây Dương trú ngụ. Xin xuống dụ cho mỗi làng chọn 50 hào mục cùng chịu trách nhiệm khai báo
họ tên, nhân số bọn chúng, rồi cứ theo danh sách ấy mà tróc nã.

Lệnh vua truyền xuống, giáo đồ các họ tả đạo đều kinh hãi tái mặt, chỉ những kẻ cường hào khấp khởi mừng thầm,
104

bí mật tung người đi dò la khắp nơi để mong được phong thưởng. Về sau hào mục các họ tả đạo thấy có lợi cũng lừa
bắt bọn cha cố đem nộp. Chỉ trong 1 năm, cả nước bắt được 10 tên đốc chính, thầy trò giám mục hơn 70 tên. Những
tên còn trốn tránh thì chiếu sổ mà trách hỏi huyện quan [34] , giao cho chức sắc các làng lùng bắt cho kỳ hết. Thu
được các đồ khí mãnh, lễ phục, vua bèn bảo mọi người theo thứ tự mặc thử xem sao, thấy đều cùng một kiểu áo
thụng chui đầu, vua ĐaGia bật cười mà bảo: “Quả là kiểu áo chó!”

Rồi đó vua ĐaGia xuống chiếu kể tội bọn cha cố Tây Dương rằng: “Bọn các ngươi từ nước ngoài lẻn vào dụ dỗ dân
nước ta để cuối cùng biến nước ta thành nước của các ngươi. Gan ruột của bọn ngươi, ta biết rõ cả. Người bản quốc
vụng lén nhận chức của các ngươi, chiếu theo pháp luật sắc lệnh của triều đình đều khép vào tội theo giặc, xử chém
hết không tha!”.

Xét đến những người thân thuộc ba họ có con em làm thầy tu mà không khai báo, số người bị bắt rất nhiều, vua
ĐaGia thương xót muốn tha tội cho. Nhưng đình thần tâu rằng: “Nhà nước thương xót bọn chúng, nhưng bọn chúng
lại làm hại nhà nước. Vả lại trước đây đã có lệnh cho đi khai báo trước được miễn tội, nhưng bọn chúng cố ý không
tuân lệnh, nếu không phải mê muội cuồng tín thì ắt là nghe theo mưu chước của bọn giặc Tây Dương. Bởi vậy chỉ
nên tha cho trẻ con, còn người lớn thì xin cứ chiếu phép gia hình”.

ChânBình và CảmHợi nói rằng: “Giết bọn chúng cũng phải đúng phép, làm mất tuyệt hình tích thì bọn giặc Tây
Dương mới hết bề lợi dụng, xin hoàng thượng cho phép mật tâu”. Vua ĐaGia cho phép, nghe tâu xong bèn mật
truyền lệnh: nhân lúc đêm tối, chia bọn giặc Tây Dương làm ba tốp, bỏ xuống thuyền chở đến bãi cát bên bờ vực
Tam Long (ba rồng) sắp cho quân canh phòng cẩn mật, giữ kín không cho dân tả đạo hay biết. Sáng ra, khi bọn họ
biết tin kéo đến, trước hết lôi bọn thầy tu Tây Dương ra bắt quỳ xuống mà trói lại, cởi hết quần áo, giày mũ của
chúng châm lửa đốt ra tro xúc đổ xuống sông, bảo dân tả đạo: “Kẻ nào cả gan dám chuộc tro về thờ thì khép tội chết,
kẻ nào dám xông vào cứu thì xử chém”. Bọn thầy tu Tây Dương mất hết quần áo giày mũ biết không còn di tích gì,
có trốn thoát cũng không còn manh vải che thân mà về nước nữa, đứa nào đứa nấy đều kinh sợ ngơ ngác nhìn nhau.
Rồi đó ra lệnh, cho dân tả đạo ai nấy phải đái vào mồm vào mặt bọn cha cố Tây Dương, khiến cho bọn chúng tự biết
mình chết không trong sạch thì không được quy hồn về Tây Dương. Bấy giờ cả bọn mới trông nhau mà gào khóc
thảm thiết. Lại vì Giáo hoàng Tây Dương đã có mật chỉ căn dặn: khi bị hành hình phải thung dung không chút sợ hãi
thì hồn mới ngưng tụ thành thiêng. Kẻ nào không tuân mệnh, dẫu chết vì đạo cũng truất không phong. Đến đây,
cũng theo mật lệnh, mỗi lần nghe một tiếng chuông thì quân sĩ vung đao chém một nhát, cứ như thế cho đến khi tên
giặc chết hẳn mới thôi. Cả bọn không thể kiên lòng chịu đau, thảy đều khiếp sợ, kêu thét thất thanh. Rồi đó sau khi
cả bọn cha cố Tây Dương đã chết hết, quân sĩ lại đẵn gỗ xếp làm thớt, đặt xác bọn chúng lên chặt đầu từng mảnh,
chân tay mình mẩy đều băm vụn từng khúc rồi trộn lẫn vun thành đống, không phân biệt được xác nào xác nào nữa,
rồi nhất loạt xúc hắt xuống vực sâu làm mồi cho thuồng luồng, rùa, giải nuốt ăn. Lại đào bới cả một lớp đất nơi ấy
hất nốt xuống sông, làm cho trên bờ không còn một vết tích nào. Tất cả những cách thức ấy đều là mưu kín của
ChânBình, CảmHợi tâu trình.

Thế là bọn thầy tu Tây Dương không mống nào sống sót mà về nước. Giáo hoàng Tây Dương gần nửa năm [35] bặt
tin không nhận được thư vấn an gửi về, biết chắc xảy ra biến cố lớn. Sau đó dò hỏi dân buôn biết rõ sự việc, Giáo
hoàng cả giận đập tay kêu lớn: “Cha chả! Ắt phải có kẻ nào cáo giác!”.

[1]
Thật đau xót lắm.
[2]
Phép này ngày nay thi hành ở nước ta chưa dám cấm ngặt lắm; cha mẹ vẫn được đến thăm con. Nhưng người con
thì mỗi tháng chỉ được về thăm nhà một lần, ngoài ra không được biếu tặng gì cả.
[3]
Ý nói già dặn về đạo lý.
[4]
Nay gọi là thi Thánh đoán.
105

[5]
Tức lễ thụ phong thầy cả, đã nói ở Q. VI.
[6]
Thiên văn thì thi xem mây, địa lý thi làm thử trên đống cát, lại giấu đồ vật đi để thi tài bói, đem người ra để thi
xem tướng.
[7]
Sợ những người này đã hiểu các phép kín, ra ngoài ắt lộ chuyện.
[8]
Tức là phép thi chuyển từ cấp thầy giảng lên cấp thầy già.
[9]
Tức là phép thi chuyển cấp từ thầy già lên thầy cả (linh mục).
[10]
Nếu hỏi thái thượng hoàng có vợ cho nên mới có con. Chúa Trời có vợ đâu mà cũng có con? Không biết hỏi như
vậy bọn họ trả lời thế nào?
[11]
Khi Jêsu mới sinh ra sao chúa Trời lại không sai một bà vú nuôi bảo hộ, đến khi Jêsu khôn lớn hãy sai Jêsu từ bên
ngoài đến làm tôi, như thế thì người ta làm sao mà chỉ trích được?
[12]
Nhà Nho ta cho đức trinh phải giữ suốt đời người. Tả đạo hiểu đức trinh khác hẳn nhà Nho ta. Cái thuyết ấy đã
thấy ở trên đây.
[13]
Ánh sáng là vật vô sinh cho nên vẫn trong suốt như cũ. Còn Maria là người, đã sinh đẻ thì làm sao còn trong sạch
được nữa?
[14]
Nay xem người Tày, Nùng ở nước ta có phép “chú thi” (đọc chú bên thi hài người chết) và cũng có phép cấm con
em các quan lang không được lấy con nhà dân.
[15]
Lúc đầu môn đồ đều lấy trong dân. Nay phần nhiều chọn trong số con cái nhà quan.
[16]
Phép này ở trên đã nói tới.
[17]
Sợ tiết lộ ý mật hoặc nảy sinh ý định bỏ đạo.
[18]
Sợ tiết lộ ý mật hoặc nảy sinh ý định bỏ đạo.
[19]
Tiếp theo còn 50 điều nữa được lược bớt. Hình luật gồm 9 điều, cũng lược bỏ không ghi.
[20]
Tên phiên âm trong nguyên văn.
[21]
Nay tả đạo ở nước ta chính đúng như thế!
[22]
Ở phía nam cửa thành. (Tên phiên âm chữ Hán, chưa rõ nguyên ngữ. ND)
[23]
Xem đó thì biết vua tôi Tây Dương vẫn thờ cúng tổ tiên chứ không bỏ.
[24]
Nhất thống = thâu tóm; thu về một mối. Thông thường từ này dùng để chỉ ý quyền hành, lãnh thổ trong một nước
thu về một mối sau một thời kỳ chia cắt. Nếu nói rộng ra với các nước có chủ quyền thì từ đó bao hàm ý: xâm lược,
thôn tính. Tác giả sách này đã dùng từ “nhất thống” theo ý thứ hai đó.
[25]
Giám mục đốc chính: người đứng đầu giáo đoàn ở một nước, do Giáo hoàng chỉ định; cũng gọi là giám mục
khâm mạng.
[26]
Ở đây có thể nhầm lẫn về con số, nhưng chúng tôi cứ dịch đúng như nguyên thư đã chép, vì nghĩ rằng ý câu văn
đã rõ, còn các con số đó chỉ có ý nghĩa đại khái mà thôi.
[27]
Hoa Lan, Huề Lan, Hoa Lang cũng là một. Ngày nay ta gọi đạo Tây Dương là đạo Hoa Lang là nhân theo tên
được Bạch Hoa Lang mà gọi vậy.
[28]
Tây Vực: từ dùng để chỉ các tiểu quốc phía Tây châu Á, thuộc vùng Trung Đông hiện nay. Tuy vậy, ở đây tác giả
nói đến một nước riêng biệt, chưa biết chính xác là nước nào.
[29]
Tên phiên âm trong nguyên thư.
[30]
Tên phiên âm theo nguyên thư.
[31]
Tiên phiên âm trong nguyên văn. Trong thư tịch Hán Nôm, PhaLangSa, PhápLangSa, PhúLăngSa đều là phiên
âm tên nước Pháp (France).
[32]
Sợ người ta bỏ đạo.
[33]
Sợ những người ấy mật tâu với triều đình đem quân đến đánh. Tả đạo gọi những người theo đạo là “ở trong nhà”
(cư gia trung), bỏ đạo lấy vợ gọi là “ra gánh việc đời” (xuất dài thế sự), đều dùng cách nói lờ mờ, sợ người ngoài
biết chuyện. Nhưng người ta ai là người chẳng ở trong nhà? Mà việc làm của người thiên hạ việc gì chẳng là “việc
đời”?
[34]
Nguyên văn: Hán tịch trách a thần (…), kèm đó có chú thích: như tiếng Hán gọi là huyện quan. Chưa rõ a thần
phiên âm từ chữ gì.
[35]
Nguyên thư chép: bán quý (= nửa quý), tạm dịch là gần nửa năm cho xuôi ý.
106

Quyển IX

Thời Hậu Lê, giặc Tây ẩn náu ở nước ta


Đời nhà Thanh, Dương tặc công nhiên đến Trung Quốc

Ngày nay, các nước Chiêm Thành, Vạn Tượng, Cao Man, Ai Lao, Tiêm La đều có người Tây Dương vào lén lút cai
quản [1] . Vào khoảng đời Tiền Lê [2] ở nước ta, giám mục đốc chính ở Chiêm Thành tên thánh là Giacôbê [3] vẽ bản
đồ quận Châu Nhai ở giữa biển gửi về cho Giáo hoàng, tâu rằng: “Nay ở miền Đông thổ [4] có vùng đất ở giữa biển
vốn là đất thuộc quyền cai trị của Trung Hoa, địa thế cao ráo rộng bằng một quận. Từ đó có thể đi suốt phía đông
của nước Đại Minh, phía bắc thông với nước Đại Nam, phía nam thông đến Chiêm Thành, ba mặt đường biển chỉ
một ngày đêm là tới nơi. Thật là một xứ có địa thế rất đẹp, đi về phía tây thông đến các cửa biển nước ta, xin chọn
khâm mạng đại thần đến đóng ở đó để mưu lợi vạn đời”.

Thế là giám mục khâm mạng tên thánh là Phanxicô vâng mệnh sang truyền đạo. Đến nay dân quận ấy đều theo đạo
Tây Dương, đổi tên gọi là quận Macao [5] , xây nhà thờ lớn, trên có tháp cao dựng giá chữ thập rất lớn. Đốc chính
giám mục các địa phận xung quanh mỗi khi có thư từ thì thuê thuyền của người Tàu chuyển đến. Nghe ba phát súng
hiệu, giám mục quản trấn cho chèo thuyền ra, bắn súng đáp hiện mà nhận thư, rồi theo lời dặn trong thư mà trả tiền
thuê cho chủ thuyền. Đốc chính Macao theo các việc nói trong thư viết báo cáo gửi về cho Giáo hoàng. Cho nên
ngày nay ở các nước Đại Thanh, Chiêm Thành và nước ta hằng năm xảy ra những việc gì, người Tây Dương đều
biết rõ cả. Lại ở miền ven biển Triều Châu, Khâm Châu, Hải Châu thuộc nước Thanh; Gia Định, Nam Chân, Đại
An, Bồng Hải ở nước ta, đều có gián điệp do các viên đốc chính sai đến ẩn náu. Hễ nghe tín hiệu ba tiếng súng nổ từ
thuyền của người Tàu đậu ngoài khơi, bọn chúng biết là có thư mật từ Tây Dương gửi sang, liền chèo thuyền ra khơi
đón nhận, rồi trả tiền công cho chủ thuyền. Đảo ấy trở thành một trạm chuyển tiếp các thư từ liên lạc của bọn giặc
Tây Dương.

Nước ta về thời Hậu Lê đời vua Trang Tông Dụ hoàng đế, năm Quý Tị niên hiệu Nguyên Hòa thứ I (1533), giặc Tây
sai giám mục khâm mạng là Ingatiô [6] lẻn vào lén lút truyền đạo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân [7] . Trước đó
giám mục khâm mạng ở Ma Cao, qua dò la thăm hỏi người Tàu đã biết rõ phong tục và hiện tình nước Nam ta, bèn
gửi thư về mật tâu với Giáo hoàng rằng: Nước Nam giáp với nước Thanh, có hai nơi thuận tiện cho việc truyền đạo:
một là Gia Định, dân chúng hung hãn, cứng đầu; hai là Nam Chân, phong tục quê mùa cổ lậu. Vả lại ở nước ấy
không có lệnh cấm dị ngôn dị phục [8] , mà hiện nay thì hai họ Lê, Mạc đang tranh giành với nhau, trong nước nhiều
việc, không ai rỗi mà soát xét những việc nhỏ nhặt. Xin sai giám mục Ingatiô [9] làm khâm mạng, theo thuyền biển
mà sang, bảo viên ấy rằng: Nam Chân là nơi phong tục cổ xưa thô lậu, nên đến đó trước”.

Ingatiô sang đến nước ta bèn lẻ vào cư ngụ ở các làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường, đến đâu đều cho tiền, phát
thuốc, khiến cho những kẻ ngu khờ phải mang ơn mà chịu nghe giảng đạo. Từ đó đạo Gia Tô mới bắt đầu lan đến
nước ta. Về sau môn đồ của Ingatiô đều được phong làm giám mục, xin được lấy tên thánh của thầy làm tên của
dòng đạo. Nhưng Ingatiô khiêm tốn không dám nghe theo, chỉ lấy tên Jêsu làm tên gọi của dòng [10] . Từ đó nước ta
bắt đầu có giặc Tây Dương lẻn vào cai quản [11] .

Trải qua các đời đến năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Hưng năm đầu đời của vua Hiển Tông (1740-1786), giặc giã
nổi lên khắp nơi. Giám mục khâm mạng báo hết mọi sự về Tây Dương. Giáo hoàng liền sai thêm hai giám mục đốc
chính tên thánh là Phêrô và Đôminicô cùng sang nước ta. Hai người đều dựa vào đám giáo đồ của Ingatiô mà hành
đạo. Việc truyền đạo của họ về sau lan dần đến Thăng Long, phía bắc đến tận hai châu Tuyên [Quang], Lạng [Sơn],
giáp cửa ải, phía đông tới miền An Quảng [12] , phía tây thì vào đến Nghệ An. Những nơi ấy đều có dân theo đạo cả.
Thế là hai giám mục đốc chính nói trên bèn lập riêng hai dòng đạo, một gọi là dòng thánh Phêrô, một gọi là dòng
thánh Đôminicô. Mỗi dòng đều soạn riêng sách kinh, khác nhau chút ít về âm đọc, cốt để phân biệt giáo đồ của hai
dòng [13] . Và cũng từ đó dân đạo chia làm ba dòng [14] , mỗi dòng đều có chức giám mục đốc chính kết tiếp nhau cai
quản.
107

Năm Canh Dần niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1770), thượng thư Nguyễn Công Hãng dâng khải lên chúa Trịnh Sâm
xin cấm đạo Gia Tô.

Hồi bấy giờ giám mục Tây Dương đã đến lén lút cai quản dân đạo vùng Thăng Long, người theo khá đông. Quan
quân bắt được hai giám mục ở Hải Dương là Đỗ Trọng Gia [15] và Nguyễn Thế Liêm [16] đem xử trảm ở bãi Tây
Luông. Còn những kẻ khác, mỗi khi bắt được, quan quân đều ngầm cho dân đạo đem tiền đến chuộc, triều đình
không hay biết. Bấy giờ Gia và Liêm bị giam ở nhà ngục Thăng Long. Trọng Gia bảo người của mình đút lót nhiều
tiền bạc cho cai ngục, rồi xin cai ngục cho phép người bạn vào thăm. Thế Liêm thì nói bị ốm, xin cho mời thầy lang
vào chữa bệnh. Đến khi cho vào thăm thì hóa ra hai tên cố đạo người Tây trá hình. Cai ngục đã nhận hối lộ nên
không hỏi đến. Bọn chúng cùng ngồi nói chuyện, dùng tiếng Tây mà xưng tội, chịu lễ. Gia và Liêm lại dùng tiếng
Tây bảo dân đạo rằng: “Bao giờ quân không tướng, hổ không đầu thì mới đáng lo”.

Đến khi Gia và Liêm bị chém, dân tả đạo chuộc lấy áo mũ gông cùm và vét máu đem về thờ, hệt như phép của
người Tây Dương [17] .

Giám mục đốc chính viết thư mật gởi về Tây Dương. Tháng 10 năm sau, tiếp thư từ Tây Dương phúc đáp đã cho tạc
tượng phong thánh cho hai giám mục ấy, vậy sức cho dân bổn đạo biết để ai nấy một lòng không khiếp sợ. Giáo
hoàng được tâu báo tình trạng khi Gia và Liêm bị hành hình có nói câu “quân không tướng, hổ không đầu”. Nguyễn
Công Hãng thì nói: “Bọn chúng ắt có âm mưu gì?” [18] , bèn gửi thư mật cho các giám mục khâm mạng ở các nước
căn dặn từ nay về sau các giáo sĩ mới ra nước ngoài thì trong ba tháng đầu phải tỏ ra không quen ăn các món ăn địa
phương để khiến cho người ta khỏi nghi ngờ. Lại chỉ thị cho các giám mục biết từ nay về sau khi bị cực hình phải
thong dong chịu nạn để cho người bản xứ khỏi thêm tức giận dẫn đến tai họa tru di hàng loạt. Cho nên đến nay, bọn
họ vẫn làm theo phép ấy.

Đến năm Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ 1 (1787), Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ dấy binh ở ấp Tây
Sơn [19] . Nước Thanh đưa quân sang cứu viện cho Chiêu Thống nhưng bị thua to ở Thăng Long, quân lính chết ngập
sông. Đến tháng 5, thiên hạ bị một trận đói lớn, dịch bệnh lan tràn. Các giám mục đốc chính của giặc Tây ngầm
khuyên các nhà giàu xuất thóc tiền chẩn cấp để thu phục dân chúng, lừa phỉnh họ rằng: “Ai hay cứu giúp người, dẫu
trước kia phạm đại tội đến ngày tận thế [20] cũng được lên thiên đường cùng với dân đạo”. Những kẻ nghèo đói vui
được yên ổn xin theo đạo rất nhiều. Đến khi bình yên cũng có người xin ở lại nhập làng đạo, cũng có người xin về
quê. Các cha cố đều ghi quán chỉ của những người trở về, rồi bí mật đặt người giảng đạo theo tên ghi trong sổ tìm
đến tận nhà khuyên dỗ người ta kiên lòng theo đạo. Vì thế giáo đồ tả đạo nước ta từ đó càng thêm đông [21] .

Năm Nhâm Tí (niên hiệu Quang Trung) thứ 5 (1792) đạo dòng Tên (Jésuites) bị giải tán, sáp nhập vào dòng
Đôminicô. Từ đó tà đạo ở nước ta chỉ còn hai dòng Phêrô và Đôminicô mà thôi. Khi đạo Gia tô mới truyền vào nước
ta, giám mục Ingatiô tuy có công lao hàng đầu, nhưng thường khuyên răn giáo đồ bổn đạo không được vì thế sinh ra
kiêu căng, mà phải lấy sự khiêm tốn làm đầu, ai làm trái sẽ bị trách phạt. Các tu sĩ dòng Tên đã xếp hạng đại môn đồ
phải được giám mục đốc chính thuộc hai dòng Phêrô hoặc Đôminicô truyền chức thì mới được phong làm thầy cả,
chứ không phải do đốc chính của dòng mình cấp bằng [22] . Thư cuối năm gửi về vấn an Giáo hoàng, có đoạn nói:
“Dân nước Đại Nam nhu nhược, lờ khờ, hay hám lợi, dễ mê hoặc bằng những chuyện hoang đường, chưa đầy hai
trăm năm mà đạo ta lan truyền rộng khắp cả nước, so với các nước khác thì chưa có nơi nào dễ dàng như vậy!”.

Tiếp đó thư ấy lại nói: “Các giám mục dòng Tên ngày nay đâm ra ngang ngạnh, khinh thường hai dòng của chúng
tôi. Kẻ theo đạo mà cố chấp ngang ngạnh thì sợ rằng về sau vì cố chấp ngang ngạnh mà phản đạo cũng không phải
là khó lắm”.

Giáo hoàng cho lời thưa trong thư là phải, bèn cho mở tiệc lớn để chúc mừng [23] . Mật thư của Giáo hoàng phúc đáp
cho đốc chính hai dòng Phêrô và Đôminicô có đoạn nói: “Từ nay không phong chức thầy cả cho người dòng Tên
108

nữa, thì sau chừng hai chục năm, dòng ấy ắt phải hỗn loạn, sáp nhập giáo đồ cho dòng Đôminicô cai quản cũng
được” [24] . Hai giám mục đốc chính dòng Phêrô và Đôminicô theo lời mật thư từ đó bèn không phong cho môn đồ
dòng Tên làm thầy cả nữa, do đó đến năm ấy (1792) dòng Tên tiêu vong, chỉ còn hai giám mục một người tên là
Phạm Văn Ất, một người tên là Nguyễn Đình Bính mà thôi.

Năm Quý Sửu niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) triều Tây Sơn, vào tháng mười, hai giám mục dòng Tên ở địa
phận Nam Chân là Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính sang Tây Dương khiếu nại về việc mất dòng.

Hồi bấy giờ dòng Tên đã suy, giáo đồ bản đạo nhất định không chịu giám mục đốc chính hai dòng kia [25] . Khi có
cha cố người dòng khác đến cai quản làm lễ, giáo dân dòng Tên đều tỏ thái độ tức giận không chịu nhìn. Rồi đó góp
quỹ công được một số tiền khá lớn, khẩn thiết thỉnh cầu hai giám mục Phạm, Nguyễn sang Tây Dương kêu kiện việc
ấy. Lại nói: “Không được khôi phục dòng thì chúng tôi thà bỏ đạo!”. Hai ông Phạm, Nguyễn sợ dân bỏ đạo mới
nhận lời ra đi. Hai ông sang Ma Cao, được giám mục đốc chính ở Ma Cao thu xếp cho đi thuyền biển, mất sáu tháng
thì đến Tây Dương đưa đơn khiếu nại về việc mất dòng. Giáo hoàng sai thư ký lấy văn kiện thư từ các năm trước ra
xem lại rồi phán rằng: “Việc này, trước đây đốc chính hai dòng Phêrô và Đôminicô đã tâu: Đại Nam là một nước
nhỏ, không nên lập nhiều dòng. Vả lại dân vùng Nam Chân ngang ngạnh, dễ làm hại đến sự đạo, cho nên mới phải
làm như thế”. Bấy giờ hai ông Phạm, Nguyễn mới hay việc ấy đã có phán quyết rồi” [26] .

Nhân có hai giám mục người nước ta sang chầu, Giáo hoàng rất mừng, thăm hỏi nhiều lần về hình thế núi sông, luật
pháp dân tình của nước Nam ra sao, v.v. hai ông đều trả lời rành rọt, có thư ký người Tây Dương ghi chép hết vào sổ
sách. Rồi đó Giáo hoàng sai mở điện thờ đưa hai ông vào xem. Thì ra trong điện ấy từ tượng ảnh của các giám mục
nước ta từ các đời trước [27] cùng là các sách sử ký của nước ta, các sách kinh, truyện, tính lý của Trung Quốc đều
không thiếu thứ gì. Chợt Giáo hoàng rút ra một tấm địa đồ, gọi hai ông Phạm, Nguyễn đến gần mà chỉ cho xem.
Trước mắt hai ông bấy giờ là một tấm bản đồ nước ta vẽ rất rõ ràng. Giáo hoàng cười bảo rằng: “Bản đồ nước các
ngươi đấy!” Nói đoạn bèn chỉ một đường từ cửa biển Đại Ác [28] trên bờ biển Nam Hải [29] đến sông Vị Hoàng lên
Nam Xương [30] , Chương Dương [31] , đến kinh thành Thăng Long, tiếp lên Kinh Bắc, Thái Nguyên, Tuyên Quang
làm giới hạn. Về phía đông sông (Nhị): một nửa số huyện thượng lưu trấn Sơn Nam Hạ, toàn huyện Nam Chân, nửa
huyện Đại An, trở về Hải Dương, An Quảng, Kinh Bắc, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, các huyện Tụ Long,
Bảo Lạc giáp cửa ải là các địa phận thuộc dòng Đôminicô cai quản. Về phía nam sông (Nhị): từ huyện Mỹ Lộc
thuộc trấn Sơn Nam Hạ đến phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam Trung, thông sang Thăng Long, Sơn Tây, [vào] Thanh
Hoa nội ngoại [32] . Nghệ An, Bố Chính, Thuận Hóa, Phú Xuân, Quảng Nam, Bình Hòa [33] , Phiên An [34] , Gia Định,
Hà Tiên là các địa phận thuộc dòng Phêrô cai quản [35] . Các ngươi đã có lòng thành thật sang đây thì hãy nên cẩn
thận chớ tiết lộ cho ai biết: sớm muộn khoảng hai mươi năm nữa [36] ta sẽ có cuộc hội lớn để mừng công khen
thưởng [37] . Khi ấy ta sẽ đích thân phong thánh sống cho các ngươi, vinh phong đốc chính và gia thăng phẩm phục 3
cấp cho các ngươi”.

Giáo hoàng nói xong đưa tay vỗ vai hai người hồi lâu. Rồi đó sai thợ [38] tạc thêm tượng nữa [39] cho hai giám mục
đặt đối diện với nhau trước cửa cung điện, mỗi tượng có đề dòng chữ nạm vàng: “Năm thứ 8 của Giáo hoàng…,
ngày 13 tháng 4, giám mục nước Đại Nam (họ tên là…) sang chầu, được sinh phong hiệu Trung thánh”.

Hai người cả mừng lạy tạ. Sau đó hai ông còn được đi khắp một lượt thăm các nơi trong cung điện cùng là khu
tượng mộ của các đốc chính giám mục các nước có biển hoặc bia ghi tên từng người. Hai ông cũng được vào thăm
vườn Ghêtsêmani, núi Calavôriô, xem con tàu khổng lồ của Nôê [40] để bày tỏ lòng tin. Hai giám mục ngỏ ý muốn
đọc các sách Tây Dương để mở rộng hiểu biết, được Giáo hoàng cho phép. Cuối cùng, Giáo hoàng còn lấy ra quyển
sách ghi chép các phép kín bảo hai người ngồi ngay trước ghế của ngài mà đọc. Vậy là hai ông được ngồi trong điện
Giáo hoàng cung đọc chung sách Bí lục và sách Sử ký của nước Tây Dương.

Hai ông Phạm, Nguyễn ở lại kinh đô Tây Dương trong năm tháng rồi vâng mệnh mà về, đành phải nói dối dân bổn
đạo rằng: “Đức Giáo hoàng có lòng muốn cho lập dòng ta, nhưng ban đêm thấy điềm lạ, cho nên ngài không dám
109

làm trái ý Chúa”. Nghe vậy dân bản đạo sợ phép Chúa cũng phải tin là sự thực và đành chịu tuân theo. Thế là từ đó
dòng Tên phải hợp vào dòng Đôminicô vậy. Và cũng từ đó giám mục dòng Tên khi đứng ra làm lễ chỉ có hai ông
Phạm, Nguyễn đội mũ triều thiên và mặc áo choàng đỏ có đính hạt cườm mà thôi.

Năm Bính Thìn (niên hiệu Cảnh Thịnh) thứ 4 (1796), hai giám mục Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính bỏ đạo Tây
Dương về với chính đạo của nước Nam ta.

Hai ông Phạm, Nguyễn từ khi ở Tây Dương về biết rõ thực trạng của vua tôi Tây Dương, nói riêng với nhau rằng:
“Xem ra thì từ lâu người Tây Dương chỉ mượn danh chúa Jêsu để đi cướp nước người. Hai chúng ta vì bọn họ mà
xua đuổi dân ta theo bọn họ chỉ là làm công việc vô ích mà thôi”. Lại nói: “Được phong thần nhưng không phải là
thần của nước Nam mà lại là thần của nước Tây Dương, thế thì có lợi gì cho bọn ta đâu!”. Đến bấy giờ hai ông đều
muốn từ bỏ chức giám mục mà ra khỏi đạo.

Hai ông là người có trí nhớ thật phi thường, bèn cùng nhau ngồi đọc tầm mà ghi lại cuốn Gia Tô bí pháp (Ghi chép
các phép kín của đạo Gia Tô), bí mật cất giấu [41] , than thở với nhau rằng: “Hai chúng ta chẳng có quan chức gì để
mà dâng đạt ý kiến lên nhà vua. Chẳng biết đến bao giờ vua ta mới ra lệnh nghiêm cấm để cho con cháu ta khỏi phải
làm tôi mọi cho quân chó má ấy. Được như thế thì chúng ta cũng trộm lấy làm may mắn lắm!”.

Từ đó hai ông trễ nải việc hành lễ, thường chỉ cùng ngồi uống rượu hoặc đi thăm thú đó đây. Giám mục đốc chính
của hai dòng kia dò biết tâm ý của hai ông, lấy làm lo sợ, bèn khuyên dỗ để hai ông chuyên chú trông coi dân bổn
đạo cũ ở địa hạt Nam Chân. Hai ông cáo bệnh từ chối không nhận. Ông Phạm bảo ông Nguyễn rằng: “Tôi nay tuổi
già rồi, còn bác thì nên bỏ ra mà kiếm kẻ sinh con nối dõi”. Ông Nguyễn nói: “Bác nói thật hợp với ý tôi”. Rồi đó
Nguyễn Đình Bính đi lại với một góa phụ, đến khi người ấy có mang thì công khai bỏ ra khỏi đạo. Giám mục đốc
chính nghe tin cả giận, nhưng lại sợ Nguyễn Đình Bính tố cáo với các quan của triều đình tiết lộ hết điều kín, bèn dụ
dỗ Phạm Văn Ất rằng: “Nay Thầy đã già yếu rồi, không dám làm phiền Thầy phải trông nom việc đạo nữa, xin mời
Thầy về hưu dưỡng ở nhà xứ Ninh Cường”. Lại dụ dỗ Nguyễn Đình Bính rằng: “Nhà Thầy công to tội nhỏ, chúa
mật truyền phục chức cho Thầy. Nay Thầy hãy làm giấy cho thị mỗ bế con ra khỏi cửa thì coi như được giải hết mọi
tội. Chỉ cần từ nay về sau mỗi khi làm lễ xong, Thầy quỳ xuống bên ghế mà đọc kinh hối tội một lần thì Thầy sẽ
không phải thấy địa ngục” [42] . Giám mục đốc chính cũng nói khắp lược cho giáo dân biết như thế, người ta cũng
phải chịu tin. Nhưng Đình Bính vẫn chẳng ngó ngàng gì đến chức đạo, đốc chính cũng không dám vượt chức về làm
lễ thay, trước sau chỉ đành rỉ tai bảo nhau rằng: “Phải đợi cho hai lão ấy chết đi thì đạo ta mới khỏi phải lo lắng”.

Khi đứa con trai của Nguyễn Đình Bình đã hơi khôn lớn, giám mục đốc chính lại dụ dỗ Bính cho con làm môn đồ,
nhưng Đình Bính nhất quyết không nghe, đáp rằng: “Cha nó đã theo làm môn đồ mãi rồi”. Đốc chính không dám
nói gì nữa. Đình Bính khuyên vợ nuôi con ăn học, không được đả động gì đến việc đạo ngày trước nữa.

Năm Tân Dậu [niên hiệu Cảnh Thịnh] thứ 9 (1801) là năm vua bản triều (Gia Long) mở vận [43] , trong nước lắm
việc rối ren, giám mục đốc chính gửi thư mật về Tây Dương báo cáo đầy đủ tình hình. Giáo hoàng bèn phái sang
nước ta thêm 4 giám mục đốc chính nữa: một ở Gia Định, một ở Sơn Tây, một ở Thanh Hóa, một ở Nghệ An [44] .
Kể cả đốc chính đã đến từ trước thì bấy giờ ở nước ta có tất cả 6 giám mục đốc chính Tây Dương [45] .

Năm Mậu Thìn niên hiệu Gia Long thứ 7 (1808), “giặc cướp” nổi lên khắp nơi, dân đạo nghèo khổ nhiều người bị
cưỡng bức hùa theo. Sau khi dẹp yên, khôi phục nghề nghiệp làm ăn sinh sống, các giám mục đốc chính mật dặn các
giám mục sở tại bảo họ đến xưng tội thì được tha thứ hết. Làm như thế cốt để cho bọn họ vững lòng theo đạo, nếu
không, một người bỏ đạo sẽ kéo theo cả vợ con cùng bỏ đạo thì tại hại lớn lắm!

Năm Kỷ Tị niên hiệu Gia Long thứ 8 (1809), giám mục Nguyễn Văn Hoằng và Trần Đức Đạt bỏ chức ngụy đạo trở
về với chính đạo. Cả hai người đều quê ở Hải Dương, rất thông minh sáng dạ. Thuở nhỏ đi học, mới 13, 14 tuổi đã
thông hiểu hết các sách kinh truyện, do đó tỏ ra là người có bản lĩnh rất ngay thẳng. Các cha cố nói chuyện với nhau
110

thường khen tài và tỏ ý kiêng nể hai ông. Rồi họ dụ dỗ cha mẹ cho hai ông làm môn đồ.

Văn Hoằng 17 tuổi đã đọc hiểu hết các sách Tây, được thăng làm thầy cả, coi việc đạo ở Sơn Tây, đặt tên hiệu là Bá
Am. Trần Đức Đạt đến năm 20 tuổi cũng được thăng chức thầy cả, coi việc đạo ở Sơn Nam, đặt hiệu là Trình Hiên.

Sau khi đã nhận chịu lễ chú quyết thụ phong thầy cả, Văn Hoằng than thở với Đức Đạt rằng: “Chúng mình nguyền
rủa người thân của người, người khác lại nguyền rủa người thân của mình [46] , cứ xoay quanh làm hại nhau như
vậy”. Đức Đạt đáp: “Người thân bị chôn sâu thì con cháu cũng chẳng được vinh hiển gì. Tự cắt đứt tình ruột thịt với
người thân thì làm giám mục thầy cả để vì ai?”

Từ đó hai ông thường nêu lên bàn hỏi với giám mục đốc chính. Lần nào đốc chính cũng tìm cách phỉnh gạt cho qua
chuyện đi. Hai ông hơi lấy làm ngờ, bảo nhau rằng: “Hẳn là có ý đồ gì đây, không phải chuyện vô tình đâu”. Rồi đó
hai người ai về xứ đạo của người nấy. Văn Hoằng lại từng nói với Đức Đạt rằng: “Kinh thư nói: Vô kê chi ngôn vật
thính (lời nói không có căn cứ chớ nghe)” [47] . Đức Đạt cũng than thở đáp: “Mạnh Tử có câu: Bất hiếu hữu tam (có
ba điều phải coi là bất hiếu)” [48] .

Một hôm Văn Hoằng đến dự buổi thánh lễ do giám mục đốc chính chủ lễ, đốc chính giảng rằng: “Cứ xem ngày nay
trời đất không yên thì ngày tận thế sẽ xảy ra nội trong ba mươi năm tới”. Tối hôm ấy có người xin làm phép cưới,
đốc chính lại nói: “Một lòng kính tin thì tự khắc sẽ được bách niên giai lão”. Văn Hoằng thầm nghĩ: “Buổi sáng nói
ba mươi năm nữa đến ngày tận thế, vậy mà buổi tối lại nói bách niên giai lão, đúng là trở giọng như lật bàn tay”. Rồi
từ đó mất hết lòng tin, phải vờ phát bệnh cuồng trong hơn một năm. Giám mục đốc chính thấy vậy bèn giữ Hoằng ở
lại trong tòa giám mục địa phận.

Một hôm nhân lúc đốc chính đi vắng, Văn Hoằng lén lấy chiếc tráp riêng của đốc chính rồi trốn đi. Khi mở ra xem,
thì thấy trong tráp có một bộ Sử ký của nước Tây Dương. Nhờ đó Văn Hoằng mới biết nguyên do việc đạo ở nước
Tây Dương cùng là những phép cấm đạo, diệt đạo mà các nước khác đã từng thi hành. Văn Hoằng bèn quyết ý bỏ
đạo, than rằng: “Vua tôi Tây Dương chúng bay chỉ lừa dối dân ta để cướp nước mà thôi”. Rồi đó Văn Hoằng lấy vợ,
cư trú tại Thăng Long, bắt tay dịch tài liệu ra chữ Hán biên soạn thành sách [49] .

Văn Hoằng bàn với Đức Đạt rằng: “Tôi nghe nói hai giám mục lão thành là Phạm Văn Ất và Nguyễn Đình Bính lúc
trước từng sang nước Tây Dương, vậy mà bỗng nhiên đâm ra lười biếng sự đạo. Chúng ta nên tới thăm hỏi cho biết
rõ nguyên do”. Rồi đó hai ông cùng nhau tìm đến hai làng Ninh Cường, Quần Anh.

Bấy giờ Phạm Văn Ất đã chết. Nguyễn Đình Bính cả mừng nói: “Thế là sách của ta có chỗ gửi gắm rồi!” Bèn kể lại
nguyên do mọi chuyện và lấy thủ cảo cuốn Gia Tô bí pháp đưa cho Văn Hoằng và Đức Đạt xem. Hai người xem
xong cả kinh kêu thốt lên: “Chính là giặc! Chính là giặc rồi! Đúng như người ta nói: không mưu đồ lợi lớn thì việc
gì phải đánh đường sang đây! Bọn ta chìm vào đảng giặc đã lâu quá rồi!”

Văn Hoằng cũng lấy tập sạch do mình soạn đưa cho Đình Bính xem. Đình Bính cả mừng góp thêm ý kiến sửa chữa
thêm bớt, khiến cho người ta chỉ đọc qua một lần là biết ngay thủ đoạn lừa bịp của bọn chúng. Đó chính là tập sách
này đây.

Văn Hoằng và Đức Đạt ra về dặn nhau chớ để cho dân tả đạo kiếm cớ lui tới thăm viếng. Một hôm có tên môn đồ
thuộc bổn đạo cũ nói là có việc đi tuần hành ghé vào thăm hỏi. Chỉ mấy tháng sau, Đức Đạt bị ốm chết.

Văn Hoằng nghe tin Đức Đạt mất, vội từ Thăng Long về điếu tang. Xem xét trong nhà thì thấy trong bình vôi đầy
những bột thạch tín [50] . Đức Đạt chỉ có hai con gái mà thôi [51] . Văn Hoằng thấy vậy càng thận trọng giữ mình, cho
nên tả đạo không thể làm hại được. Về sau Hoằng sinh hai trai hai gái.
111

Lại nói bên Trung Hoa vào khoảng niên hiệu Vạn Lịch (1573-1620) đời Minh, giặc Tây Dương sai giám mục Matêô
Rixi mang tên thánh là Sêmông [52] làm khâm mạng sang Yên Kinh [53] để cai quản việc truyền đạo. Trước đó, đất
Ma Cao tuy không thuộc quyền cai trị của người Trung Hoa, nhưng ngôn ngữ, văn tự, y phục vẫn theo như ở nội
địa. Đến hồi nhà Minh loạn lạc nổi lên, giám mục khâm mạng ở Ma Cao, qua thư từ và hỏi chuyện các khách buôn
người nội địa, biết rõ thực trạng ở Trung Hoa, bèn cho sao dịch một số sách kinh điển của người Trung Hoa lén
chuyển về Tây Dương và tâu rằng: “Triều nhà Minh đang có biến, chểnh mảng lệnh cấm người ngoại quốc. Vả lại
nước ấy rất lớn, nếu không phải là người thông tuệ uyên bác thì không thể đảm đương được chức vụ”. Giáo hoàng
bèn triều quần thần hội bàn nói rằng: “Đạo Phật vào Trung Quốc nhờ ở nhà vua [54] . Đạo ta muốn vào nước ấy cũng
phải có nhà vua giúp sức, được như thế thì chẳng việc gì không xong. Hơn nữa, nếu giám mục khâm mạng không
phải là một người có danh tiếng lớn của nước ta thì không thể mê hoặc được dân nước họ”. Rồi đó Giáo hoàng chọn
Matêô Rixi, trao phẩm phục và nhiều tiền bạc châu báu cho Rixi lên đường. Matêô Rixi trước hết đến Ma Cao để
học chữ và tập cách ăn mặc; sau ba năm đã thông thạo hết mới rời Ma Cao để lên Yên Kinh. Tới nơi Rixi xin nhập
tịch làm dân địa phương. Lại học thêm ba năm nữa rồi xin đi thi hội, đậu tiến sĩ. Năm ấy Rixi mới 23 tuổi, được ghi
tên bảng vàng và vâng mệnh vinh quy về nơi cư ngụ ở ngoài kinh thành. Sau khi đậu đạt có danh tiếng rồi, Rixi bèn
đem nhiều vàng bạc kim báu hiến cho nhà vua Minh và các đại thần thân cận của vua, một mặt kiếm cớ nói rằng: vì
mình là người “man di ở Châu Nhai”, dân chúng coi là hèn kém nên không muốn ra làm quan. Vua Minh đã nhận
vàng bạc châu báu của Rixi nên cũng cho được như ý nguyện. Bởi thế những khi có tế lễ sóc vọng [55] ở trong triều,
Rixi chỉ là kẻ tiểu thần nên không vào dự. Từ đó Rixi đi giảng đạo ở các nơi trong nước Minh, nhưng vẫn có nhà
riêng ở ngoài thành Yên Kinh. Rixi bèn so sánh lịch biểu, tính ra năm Jêsu ra đời là ngang với năm Canh Thân niên
hiệu Nguyên Thọ thứ 2 (1 trước Công nguyên) đời vua Hán Ai Đế. Rixi nói: “Chúa Trời có ba ngôi, Khổng Tử cũng
từng nói như vậy. Đó tức là: Thái cực sinh lưỡng nghi [56] ”. Đầu năm ngày tết người ta đến chúc mừng, Rixi nói:
“Có năm mới tức là năm cũ, đó là điều đáng buồn chứ có gì mà mừng?” Có người hỏi tại sao không thờ cúng tổ tiên,
Rixi đáp: “Quê tôi ở xa, nay nếu lập thờ cúng tế lại càng thêm buồn nhớ”. Có người hỏi tại sao không lấy vợ, Rixi
đáp: “Con gái Trung Hoa có ai thèm lấy dân man di mọi rợ đâu”. Đại khái đều trả lời trốn tránh như thế cả. Có
người nghi ngờ, tâu với vua Minh rằng: “Cách sinh sống như thế thật không hợp với tình người, hẳn có mưu kế gì
gian dối, xin xuống lệnh bắt buộc phải về nước”. Tuy vậy hằng năm người Tây Dương đều chuyển thêm vàng bạc
cho Rixi để biếu xén, cho nên y vẫn được dung thân. Nước Trung Hoa có “giặc” Tây Dương đến cai quản việc đạo
kể từ đó.

Lại nói bấy giờ quan thượng thư nước ta là Nguyễn Công Hãng sang sứ nước Tàu, khi đến Yên Kinh qua cổng phủ
đệ của Rixi không xuống xe, Rixi bèn sai tên giữ cổng gây sự làm nhục. Còn Hãng dò xét biết rõ nguyên do, khi về
nước liền dâng khải lên chúa Trịnh [57] xin ra lệnh cấm đạo, nhưng còn chưa biết cấm diệt bằng cách nào.

Nói tiếp về chuyện giặc Tây Dương đem thuốc phiện [58] sang Trung Hoa ngấm ngầm đầu độc bọn quan lại sĩ phu
khiến cho dân nước ấy mãi mãi bị hao mòn. Bấy giờ Giáo hoàng Tây Dương gửi mật thư cho Sêmông Rixi căn dặn:
“Sự nghiệp mới khai sáng, ngươi nên cẩn thận tận tâm mở mang sự nghiệp ban đầu, bao giờ đè bẹp Khổng Khưu,
đập tan Mạnh Kha thì công lai của ngươi đáng kể đến hàng đầu”. Sêmông Rixi cũng gửi mật thư phúc đáp, trong đó
có đoạn viết: “Trung Hoa đất rộng chứ không phải nhỏ bé như nước Đại Nam. So về trí tuệ thì người Trung Hoa như
kẻ một mắt, còn dân nước Nam thì như người hai mắt bị lòa. Cho nên, lừa phỉnh mê hoặc bọn họ một bên khó, một
bên dễ, khác nhau xa. Hơn nữa ở Trung Hoa, những kẻ giàu sang quyền quý phần nhiều đều cứng lòng thật khó
khuyên dỗ. Xem ra tập tục nước này chuộng thói xa hoa, mê đắm thanh sắc, chỉ chạy theo điều lợi. Vậy cứ nhân
theo những điều ham muốn của bọn họ mà có cách trừ diệt dần dần, khiến cho người tài trí phải chết, mà kẻ ngu dốt
được sống còn. Như thế thì đạo ta mới là thỏa chí”. Rồi đó Giáo hoàng bảo triều thần chế ra cao thuốc để đầu độc, ai
ăn thuốc ấy ắt sinh ra vạn con [vi] trùng [?]. Lại gửi cả giống cây và cách nấu cao ấy sang Trung Hoa cho Sêmông
Rixi, bảo Rixi dạy cho người buôn Trung Hoa tự nấu lấy. Người bán thuốc phiện kiếm được nhiều lời, chẳng kể gì
đến mạng người nữa. Những người mua thuốc ấy mà ăn chỉ thấy cái lợi nhất thời tăng thêm sinh khí mà không biết
đó là thuốc giết người. Rồi cứ thế truyền dạy cho nhau, cứ thế giết hại lẫn nhau. Nguyên do nạn thuốc phiện [59] bắt
đầu như thế.
112

Khoảng niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1780), người Tàu đem thứ thuốc ấy sang nước Nam ta, từ đó hạng giàu sang có
nhiều người bị giết hại mà không biết.

Xét theo sách Ma Cao quận ký thì khi Sêmông Rixi ở Yên Kinh từng đút lót nhiều tiền cho bọn thợ vẽ ở nội cung,
lấy được một tấm địa đồ của nước Thanh [60] , có ghi rõ lộ trình, dân số, binh lính, v.v. gửi về cho Giáo hoàng. Thư
của Sêmôn có đoạn nói: “Bờ cõi nước Thanh bao la rộng lớn, dân số đông đúc, với bằng ấy phép thuật của đạo ta thì
ngoài nghìn năm cũng chưa gồm trọn được [61] . Nay thấy thói tục nước ấy ưa chuộng đào hát gái đẹp, ăn chơi xa
hoa, dân buôn bán thì tham hàng hám lợi, xin xem có cách gì cho người nước ấy giết hại lẫn nhau khiến người tài trí
phải chết mà kẻ ngu si sống còn, thì họa chăng bảy trăm năm đạo ta có thể đắc chí được”. Lại nói Giáo hoàng biết
bọn giàu sang nhàn rỗi ở ta đã mắc nạn nghiện a phiến bèn nói rằng: “Đất Việt Đông từ khi đạo truyền vào đã ba
trăm năm, nay dân lại mắc hãm bởi nạn nghiện thuốc phiện thì [việc của ta] chắc sẽ mau chóng hơn”.

Lại xét về chất cao thuốc phiện đầu tiên do người Tây Dương chế ra. Nguyên ở miền núi nước ấy có một thứ cây
tiếng Trung Hoa là cây anh túc [62] . Người nước ấy lấy nhựa cây anh túc luyện thành cao để đầu độc người nước
ngoài, thu được lợi lớn, nhưng trong nước thì nghiêm cấm không được dùng. Có người lấy vụng mà ăn bèn bị xử
bắn. Người Trung châu xếp thứ cây này vào dược phẩm tức là dùng cái vỏ thịt của nó. Sách Bản thảo dược tính nói
rằng: “Vỏ cây anh túc ngâm rửa cho hết xơ gân tẩm với mật sao cho vàng dùng để chữa các bệnh ỉa chảy, kiết lỵ
kinh niên, viêm ruột cùng là các bệnh hen suyễn. Lại làm cho khí thận được bền, trị bệnh xương. Tuy có công dụng
chữa bệnh mau chóng, nhưng khi người bênh đang cơn ho dữ dội hoặc ỉa chảy như xối mà cứ cho uống thì thuốc ấy
lại giết người như gươm giáo”.

Thuốc phiện còn có tên là A phù dung [63] . Vào dịp hoa anh túc nở rộ lấy que tre nhọn chích chừng vài mươi lỗ để
cho nhựa chảy ra, ngày hôm sau lấy thanh dao tre cạo thứ nhựa ấy vào đồ dùng làm bằng bạc, đôi khi vét nhựa được
khá rồi thì lấy giấy dán kín miệng bình lại, đem phơi nắng hai mươi bảy ngày quánh đặc thành phiến. Dược tính của
chất ấy thuộc thứ ôn, chua, dính, gấp (ôn, toan, sáp nhi cấp) dùng chữa bệnh cũng có tác dụng như vỏ cây anh túc đã
nói ở trên, nhưng làm vị thuốc không thể dùng nhiều; lấy cao sống hòa với rượu đem cho uống thì giết người chỉ
trong khoảnh khắc.

Năm Ất Hợi niên hiệu Gia Khánh 20 (1815) đời vua Nhân Tông nhà Thanh, nhiều người Tây Dương lui tới buôn
bán ở các vùng cửa biển. Khi có sứ thần của một người nào tới, vua truyền chỉ cho quan sở tại mở yến tiệc khoản
đãi. Sứ thần có bọn không chịu lạy ơn, có bọn được phép về kinh yết kiến nhưng không tuân theo nghi thức nhập
triều, ra về cũng không chịu lạy. Nhưng vua Nhân Tông nhà Thanh là người nhân từ vẫn sai người đưa bọn họ về
nước. Từ đó bọn man rợ Tây Dương càng tỏ ra ngang tàng xấc ngạo, chẳng coi ai ra gì. Đến khoảng những năm đầu
niên hiệu Đạo Quang (1821-1851), người Tây Dương đến buôn bán phần nhiều chỉ nhằm vào món lợi nha phiến. Ở
các phố phường thành thị miền duyên hải, quan lại và hạng nhà giàu nghiện thuốc phiện đến nỗi phải khuynh gia bại
sản, tự tử trầm mình nhiều không kể xiết. Năm thứ 20 (1840), vua Đạo Quang hạ lệnh cấm, kẻ nào hút trộm thì xử
chém, tịch thu gia sản. Vua truyền cho Lưỡng Quảng phải khám xét các tàu thuyền của người Tây Dương, không
cho vận chuyển buôn bán thuốc phiện. Tổng đốc Lâm Tắc Từ đích thân đem quan quân đi tuần tiễu, hễ khám thấy
thuyền nào chở thuốc phiện đều tịch thu tiêu hủy hết. Bọn man rợ Tây Dương vì thế hết sức căm ghét tổng đốc họ
Lâm, bèn tập hợp hải thuyền kéo đến xâm phạm cướp phá tỉnh Quảng Đông. Bọn chúng rêu rao rằng: người Trung
Quốc vô cớ cướp đoạt của cải hàng hóa của thương nhân Tây Dương, phải bồi hoàn theo đúng giá. Tổng đốc Lâm
Tắc Tư nhất quyết không nhượng bộ, cho nên xảy ra xung đột đổ máu. Sau đó vua Đạo Quang sai Kỳ Thiện đến
thay chức tổng đốc, Lâm Tắc Từ bị khép tội “gây chuyện hiềm khích ở nơi biên cảnh”.

Kỳ Thiện là một kẻ tham lam bỉ ổi, bí mật nhận hối lộ của bọn Tây Dương hứa hẹn sẽ cắt đất cho chúng. Đến khi tâu
việc lên, vua không phê chuẩn. Kỳ Thiện do vậy cũng bị khép tội. Giặc Tây Dương lại lấy cớ người Trung Quốc
không giữ lời hứa bèn rầm rộ kéo quân đến xâm lược. Cuộc chiến lan tràn khắp bảy tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang,
Sơn Đông, Trực Lệ, Giang Tô, Thịnh Kính [64] , các nơi khác như Định Hải, Trấn Hải, Ninh Ba, Tạc Phố, Sơn Đan,
Hổ Môn, v.v. tiếp nhau bị khuấy động, cũng có một vài nơi thất thủ. Binh đao liên tiếp gây họa kéo dài 3 năm. Triều
113

thần tâu xin: ở các nơi như Quảng Châu, Phúc Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải vẫn để cho người Tây Dương
được đến buôn bán như cũ, đất Hương Cảng thì cấp hẳn cho bọn chúng [65] làm nơi cư trú vĩnh viễn. Nhưng quân
Tây Dương vẫn giữ yêu sách đòi bồi thường những hàng hóa bị mất và trang trải tất cả chi phí chiến tranh mới chịu
cho giảng hòa. Đình thần muốn được vô sự tâu xin nhà vua chịu khuất tuân theo những điều kiện ấy. Đó là tai hại
của việc thông thương buôn bán thuốc phiện với người Tây Dương.

Năm Nhâm Thân niên hiệu [Gia Long] thứ 11 (1812) giặc Tây gửi thư mật báo cho các giám mục đốc chính yêu cầu
các giám mục cai quản các địa phận có núi phải vẽ bản đồ hình thế núi non và dùng đất đắp thành mô hình [66] gửi về
Tây Dương. Nguyễn Văn Hoằng bèn in sách này để lưu hành công chúng, bị bọn tay chân của giặc Tây thu đoạt
hết.

Lúc trước Văn Hoằng có nghe Nguyễn Đình Bình nói bọn giặc Tây Dương có thủ đoạn phá yểm sơn linh: đào hố đặt
dược rồi châm lửa cho thuốc nổ để cắt đứt các mạch đất thiêng. Đến bấy giờ Văn Hoằng còn đang buồn rầu thương
tiếc bạn mình là Đức Đạt bị giặc Tây ám hại, chợt nghe tin bọn chúng gửi thư mật nói trên, Văn Hoằng cả kinh, bèn
đóng cửa không ra khỏi nhà, tham khảo rộng thêm các sách truyện ký của người Tây Dương, dọn lại sách này một
lần nữa, rồi thuê người viết chữ, khắc bản gỗ đem in để lưu hành cho công chúng đọc. Sách in xong, các nhà hàng
bày bán ở các phố chợ trong thành Thăng Long, giáo đồ của đạo Tây Dương trông thấy liền mua hết, rồi lập bức báo
tin cho đốc chính. Giám mục đốc chính cả kinh, liền xuất ba mươi nén bạc để mua hết số sách đã in ra và mua luôn
cả bản khắc gỗ đem về tòa Tổng giám mục tiêu hủy. Sau đó Văn Hoằng hỏi thăm mới biết xảy ra việc ấy càng căm
giận vô cùng, bèn giấu kín trong nhà một bản sao để dành cho hậu thế. Đến nay sách ấy mới được phát hiện ra.

Xét các thủ thuật yêu ma quỷ quái của tả đạo Gia Tô thì mênh mông rắc rối và phức tạp lắm. Nay tham khảo đính
chính [các nguồn tài liệu], nêu lên đại lược những điều thiết yếu, trước sau như vậy để tiện xem đọc. Mong các bậc
cao minh trong nước lại sửa chữa cho, thật là may mắn lắm.

Tài liệu tham khảo để dịch và chú thích Tây Dương Gia Tô bí lục

 Bốn quyển sách Phúc âm của Đức chúa Jêsu Kiristô. Lm. Chính An (Fr. Marcus Gispert) dịch và chú thích,
Phú Nhai đường, 1926
 Thánh Kinh sử lược, Hội Tin lành Đông Dương, II, 1937
 Sách bổn Rôma, Hồng Kông, 1916
 Sử ký Hội Thánh (P. P. Maria Huân), Bùi Chu, 1912
 Sử ký địa phận Trung, Phú Nhai đường, 1916
 Sách giống má thiêng liêng, Lm. Tràng Thiều (Fr. Juan Serra) dọn lại, Phú Nhai đường, 1916
 Thánh giáo kinh nguyền, chữ Nôm, in 1929
 Tứ chung yếu lý, chữ Nôm, Phát Diệm tổng đường, 1868
 Sách truyện các thánh toát yếu, chữ Nôm, Ninh Phú đường, 1909
 Sách giảng sự thương khó Đức chúa Jêsu, chữ Nôm, Phát Diệm tổng đường, 1869
 Philipphê Bỉnh: Sách sổ sang chép các việc. Bản chụp ảnh thủ cảo của tác giả viết bằng chữ quốc ngữ cổ,
đầu thế kỷ XIX, Thanh Lãng sưu tầm tại Rôma. Viện Đại học xuất bản, 1968.
 Hồng Lam: Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Xuất bản dưới quyền duyệt chính của Lm. L. Cadière và
cụ Nguyễn Văn Tố, Huế, Đại Việt thiện bản, 1944
 Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam. T. I. S., Hiện Tại, 1959

Mục lục
114

 Vài lời nói đầu


 Lời giới thiệu
 Lời tựa
 Chỉ dẫn tóm tắt về những lời lẽ lừa bịp của bọn giặc Tây
 Nguyên dẫn

Quyển I:

 Nước Jiuđê, Jêsu ra đời


 Được môn đồ, Jêsu thêm kiêu ngạo

Quyển II:

 Lén khỏi nước, Jêsu bày đặt lắm phép


 Bị hỏi vặn, Jêsu nguy khốn nhiều phen

Quyển III:

 Về Jiuđê, Jêsu bị án tử hình


 Bừng sáng núi, xác Jêsu sống lại

Quyển IV:

 Lên núi cao, thể phách Jêsu truyền bí pháp


 Hóa chim câu, thể phách Jêsu bịp lòe người

Quyển V:

 Nhờ viện quân LâmBô, Jêsu hóa phép sinh yêu


 Trúng mưu kế nữ thần, quân Jêsu đành thua trận

Quyển VI:

 Sang Tây Dương, phép thuật giải quyết đắc dụng


 Trình Bí lục, môn đồ Jêsu được phong

Quyển VII:

 Các vua đạo mượn Jêsu đối chứng


 Bọn đạo quan bịa chuyện láo lừa dân
115

Quyển VIII:

 Quân Tây Dương thôn tính các lân quốc


 Các nước gần cùng nhau trừ Dương tặc

Quyển IX:

 Thời Hậu Lê giặc Tây ẩn náu ở nước ta


 Đời nhà Thanh, Dương tặc công nhiên đến Trung Quốc

Tài liệu tham khảo để dịch và chú thích Tây Dương Gia Tô bí lục

- Hết -

[1]
Tức là truyền đạo.
[2]
Tiền Lê nói đây tức là đời Lê sơ (1428-1828).
[3]
Nguyên thư phiên: GiaCôBa.
[4]
Đông thổ: miền giải đất phương đông, các người phương Tây ngày trước gọi chung miền đông châu Á.
[5]
Ngày nay tả đạo thường ngoa truyền rằng: Phanxicô đem vàng bạc châu báu vào Trung Hoa mua dải đất ấy, xin
lấy tấm da trâu cắt nhỏ ra do bốn phía mà lập khoán ước. Vua nhà Minh y cho. Phanxicô bèn cắt nhỏ tấm da trâu nối
lại đo đất mà mua. Đó là lời nói vô lý chỉ cốt để khoe tài trí của bọn chúng mà thôi.
Ma Cao tức là bán đảo Áo Môn của Trung Quốc. Ở đây có hành cung của bà vua Vũ Tắc Thiên, dân địa phương
quen gọi là Ma Các (lầu của mẹ). Vua Minh Thế Tông (1522-1567) cho người Bồ Đào Nha thuê Ma Các làm nơi
buôn bán, người Bồ nhân theo đó mà dịch âm là Ma Cao. Đối với việc truyền giáo ở Trung Quốc và các nước Đông
Nam Á, Ma Cao là một vị trí bàn đạp quan trọng. Giáo sĩ phương Tây đến miền Bắc nước ta thường xuất phát từ Ma
Cao.
[6]
Nguyên thư phiên: YNêKhu.
[7]
Huyện Nam Chân đời Lê thuộc trấn Sơn Nam, đời Nguyễn thuộc tỉnh Nam Định. Nay là huyện Hải Hậu (Hà Nam
Ninh).
[8]
Nói khác tiếng, mặc khác kiểu.
[9]
Người Tây lấy tên thánh làm tên gọi, cho nên trước sau người dòng nào thì cứ gọi theo tên dòng ấy. Dưới đây
cũng theo cách ấy.
[10]
Lấy tên Jêsu làm tên dòng, tức là dòng Tên (Jésuites).
[11]
NêKhu (Ingatio) đến nước ta vào ngày 24 tháng Ba (Quý Tị, 18/4/1533. ND)
[12]
An Quảng, tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
[13]
Về sau, các giám mục đốc chính thuộc dòng Phêrô đều xưng là Phêrô, thuộc dòng Đôminicô thì xưng là
Đôminicô. Nay vẫn còn như thế.
[14]
Ba dòng: là dòng Tên (Jésuite) do Ingatio truyền lập và hai dòng Phêrô và Đôminicô vừa nói trên.
[15]
Tức Jacintô Castaneda người Tây Ban Nha trước giảng đạo ở Trung Quốc, sau sang Việt Nam, bị bắt ngày
12/6/1773.
[16]
Tức Vincente Paz, quê ở xã Trà Lũ, xứ Phú Nhai, theo đạo năm 12 tuổi, bị bắt ngày 2/10/1773.
[17]
Lý do Nguyễn Công Hãng tâu xin cấm đạo, xem đoạn sau sẽ rõ. Nhà ngục là chỗ cấm rất nghiêm mà bọn chúng
còn ngang nhiên làm như thế huống chi là những nơi xa xôi hẻo lánh thì có việc gì chúng không dám làm? Xin bậc
quân tử chớ có lơi lỏng coi thường.
116

[18]
Trong tờ khải tâu lên chúa Trịnh, Nguyễn Công Hãng có nói câu ấy.
[19]
Câu này chỉ nói lướt qua sự việc. Nếu nói chính xác thì khởi nghĩa Tây Sơn đã nổi dậy trước đó 10 năm (1878).
Năm Đinh Mùi (1787) nói trên là năm Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc lần thứ nhất xóa bỏ chính quyền họ Trịnh.
[20]
Nguyên thư: cập bán thế… chữ tận và chữ bán viết thảo có thể đọc nhầm, nên chép sai.
[21]
Đến năm Mậu Thân (1788), nhà Lê mất. Sau đó Tây Sơn lên trị nước. Từ tháng 11 năm Mâu Thân [đến hết năm
ấy] là thuộc về niên hiệu Quang Trung thứ 1 triều Tây Sơn.
[22]
Nguyên thư chép: bất do bản lưu đốc chính ác (đọc = 6 chi). Chữ ác (ố) vào vị trí đó khiến cho câu văn trở thành
không hiểu được (= không phải do đốc chính dòng mình ghét bỏ). Đúng ra đó phải là chữ cấp (= cho, phát), có phần
chắc là do đồng âm chép nhầm chữ cấp = mau, gấp; chữ cấp này viết thảo lại giống chữ ác nên mới sai ra như vậy.
[23]
Chúc mừng sự truyền đạo mở rộng thêm ở một nước nữa (tức nước ta).
[24]
Người Tây Dương phàm việc gì cũng kiên trì lâu, đại khái như thế cả. Muốn diệt chúng phải kiên trì lâu mới
thành công được.
[25]
Có người ôm tượng chúa Jêsu mà kêu to: “Dòng đạo ta là dòng Thiên Chúa!”, hoặc không chịu đọc kinh theo
cách đọc của dòng Đôminicô (dòng Tên và dòng Phêrô khi đọc kinh cả nam nữ cùng đọc, dòng Đôminicô thì nam
đọc một câu nữ đọc một câu).
[26]
Việc dòng Tên bị giải tán xảy ra năm 1773 dưới thời Giáo hoàng Clément XIV. Theo một tài liệu khác. Philipphê
Bỉnh cho biết rõ: năm 1775, khi ông đi tu “lúc bấy giờ đã mất dòng ở thành Rôma được 2 năm vì đức thánh Phapha
Clément thứ XIV phá dòng Đ.C.J. ngày 22/7/1773 (xem Sách sổ sang chép các việc, Viện Đại học Đà Lạt xuất bản,
1988). Phapha tức là Giáo hoàng, đọc theo phiênâm tiếng Bồ: paper: dòng Đ.C.J. = dòng Đức chúa Jêsu, tức dòng
Tên). Tuy nhiên, sau khi có phán quyết ấy, một số giáo sĩ dòng Tên ở lại Việt Nam, có tài liệu nói đến năm 1788
mới ra đi hết.
[27]
Các giám mục thì có tượng, môn đồ chưa được phong giám mục thì có ảnh vẽ.
[28]
Tức cửa biển Đại An (Hà Nam Ninh). Đại Ác là tên đời Lý của huyện Đại An.
[29]
Nguyên văn: Nam Ninh, cũng tức là Nam Hải (dùng chữ của Trang Tử, đã dẫn).
[30]
Nam Xương: tức là huyện Lý Nhân đời Nguyễn (nay thuộc Hà Nam Ninh).
[31]
Chương Dương: tên xã thuộc huyện Thường Tín (Hà Sơn Bình).
[32]
Tức là Thanh Hoa nội trấn (Thanh Hóa) và Thanh Hoa ngoại trấn (Ninh Bình) nay thuộc Hà Nam Ninh.
[33]
Tức Bình Định, Khánh Hòa.
[34]
Tức trấn Phiên An, sau nhập chung với trấn Gia Định thành tỉnh Gia Định.
[35]
Phía đông thuộc dòng Đôminicô, phía tây thuộc dòng Phêrô.
Tên các địa phương ở đoạn cuối câu này, chúng tôi có xếp lại cho hợp thứ tự từ Bắc vào.
[36]
Nguyên thư chép: nhị bách niên hậu (hai trăm năm sau) chắc là nhầm, bởi vì có câu nói tiếp theo: “… khi ấy ta sẽ
đích thân phong thánh sống cho các ngươi (ngã ký dương diện phong nhữ đẳng vi sinh thần)”. Như vậy thì chỉ là
“nhị thập niên hậu” chứ không thể là “nhị bách niên hậu” được.
[37]
Mỗi khi nuốt được một nước, Tây Dương lại mở yến hội lớn và phong tặng cho kẻ có công. Cho nên nói lóng như
vậy.
[38]
Nguyên văn; “… sử mộc tương trùng điêu nhị nhân tượng…”. Nguyên thư chép chữ tượng (= thợ mộc) sai ra chữ
tượng (= pho tượng); vì đồng âm mà chép nhầm.
[39]
Nguyên văn: “trùng điêu nhị nhân tượng…”. Có lẽ vì ở đoạn trên đã nói các giám mục nước ta trước đó cũng đã
có tượng để trong phòng kín cho nên ở đây nói khắc thêm tượng khác để đặt trước cửa cung điện (miến lập vu ký
khuyết môn) thì viết là “trùng điêu”.
[40]
Con tàu khổng lồ do Nôê đóng để tránh nạn đại thủy, sự tích đã nói ở Q. I.
[41]
Tức là quyển IV hiện nay.
[42]
Xem đó thì biết xưng tội, giải tội đều tùy theo ý chỉ bảo của bọn cha cố, nào có liên quan gì đến chúa Trời đâu?
[43]
Nguyên văn: “Tân Dậu cửu niên hoàng triều khải vận”. Theo lối văn biên niên chỉ ghi niên hiệu một lần đầu sau
lược (Ở trên đã ghi rõ niên hiệu Cảnh Thịnh). Năm này (1801) Cảnh Thịnh đã mất kinh đô Phú Xuân, nhưng đến
giữa năm sau Gia Long mới lấy được Bắc Thành, lên ngôi ngày 31/5/1802.
[44]
Không rõ tên làng các xã các xứ đạo do những giám mục ấy cai quản. Từ đó ở bốn trấn đều có đốc chính Tây
Dương lén lút cai quản.
117

[45]
Về sau không biết rõ bao nhiêu.
[46]
Nguyên văn: “Ngã chú nhân thân (= người thân), nhân chú ngã thân”. Chữ chú vừa có nghĩa là cầu khấn đấng
siêu nhiên, vừa có nghĩa là nguyền rủa. Ở đây tác giả dùng theo nghĩa thứ hai. Bạn đọc nhớ lại những nghi thức về lễ
thụ phong, những lời niệm nhẩm khi làm phép xin dấu thánh cho người ốm khỏi chết, v.v, đã mô tả ở Q. IV.
[47]
Thư kinh, Đại Vũ mô.
[48]
Mạnh Tử, Ly Lâu. Nguyên cả câu của Mạnh Tử là: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (nghĩa là: Bất hiếu ba điều
mà không có con nối dõi là tội lớn nhất). Ba điều bất hiếu mà Mạnh Tử không nêu ra đủ cả, theo Kinh Lễ là: 1.
Vâng dạ cha mẹ trước mắt nhưng sau lưng làm trái ý; 2. Nhà nghèo có cha mẹ già không chịu ra làm quan để cho
cha mẹ hưởng lộc; 3. Không lấy vợ, không sinh con để truyền đời thờ cúng tổ tiên. Câu nói trên đây nhắm vào điều
thứ 3.
[49]
Tức là từ quyển V trở xuống.
[50]
Thạch tín (= tín thạch): một loại khoáng chất phi kim loại, ký hiệu As (Arsenic) màu trắng. Lúc đầu người ta
tưởng rằng chỉ ở huyện Tín (Trung Quốc) mới có chất ấy nên gọi là tín thạch. Tính chất độc hại của nó (dẫn đến chết
người) có lẽ là tính chất không hòa tan trong nước và dễ kết hợp với hóa chất khác thành chất kết tủa. Nguyên thư
chép: “Thạch tin binh gia thạch tín mạt” (trong bình thạch tin đều là bột thạch tín) hẳn là chép sai. Xem nguyên chú
ở cách vài câu sau nói: “… vợ Đức Đạt không ăn trầu…” thì biết rằng đó phải là bình vôi. Đúng ra là: “Thạch khôi
bình giai thạch tín mạt”, chắc là do ảnh hưởng chữ sau (tín) mà chép lầm chữ trước (khôi).
[51]
Vợ con Đức Đạt không ăn trầu, cho nên chỉ một mình Đức Đạt bị hại.
[52]
Nattéo Rici (1552-1610), giám mục người Ý, đếu Trung Quốc năm Vạn Lịch thứ 8 (1580). Tiên phiên âm chữ
Hán là LịMãĐậu.
[53]
Yên Kinh tức Bắc Kinh.
[54]
Chỉ Hán Minh đế.
[55]
Mồng một và rằm.
[56]
Kinh Dịch: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng…”. Tình trạng nguyên sơ của vũ trụ sinh ra
lưỡng nghi tức là dương và âm (dương nghi, âm nghi), mỗi “nghi” lại tiếp tục sinh đôi ra nữa, v.v.
[57]
Nguyễn Công Hãng giữa chức Thượng thư thời chúa Trịnh Sâm.
[58]
Nguyên văn: Độc dược (thuốc độc), đây chỉ thuốc phiện, ở dưới đã nói rõ.
[59]
Nguyên văn: A nha phiến.
[60]
Mattéo Rici vào Trung Quốc đời Minh, nhưng còn sống đến đầu đời Thanh.
[61]
Nguyên văn: hỗn tinh, ý nghĩa như thôn tính.
[62]
Anh túc (cây thuốc phiện), tên khoa học: Papaver somniferum.
[63]
Ngày trước thường gọi thuốc phiện là Ả phù dung, tức là a phù dung mà đọc theo âm Quảng Đông.
[64]
Tức Liêu Ninh.
[65]
Chỉ người Anh.
[66]
Nguyên văn: “…dĩ thổ bồi dạng” (lấy đất đắp thành hình dạng), tức như ngày nay ta làm sa bàn.