You are on page 1of 43

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3

CHƯƠNG 1 : CƠ SỚ LÝ LUẬN ......................................................................... 4

I. Tìm hiểu chung về hoạt động kiểm toán ........................................................ 4

II. Tìm hiểu chung về sai sót ............................................................................ 8

III. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với sai sót trong doanh nghiệp........ 16

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................... 20

I. Ví dụ minh họa các trường hợp sai sót xảy ra hiện nay ............................... 20

II. Thực trạng trách nhiệm của kiểm toán viên .............................................. 24

III. Đánh giá thực trạng trách nhiệm của kiểm toán viên đới với sai sót ........ 29

IV. Các khuyến nghị phòng chống sai sót ....................................................... 34

V. Phương hướng nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên đối sai sót
…………………………………………………………………………..36

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 43

1
DANH SÁC NHÓM

MÃ SINH
STT TÊN THÀNH VIÊN LỚP
VIÊN
1 16H152148 Chu Thị Mai K7TK3
2 16H152149 Nguyễn Thị Nga K7TK3
3 16H152014 Nguyễn Thu Nga K7TK2
4 16H152150 Phạm Thị Ngoan K7TK3
5 16H152015 Tạ Thị Nhàn K7TK2
6 16H152163 Phạm Thị Hồng Nhung K7TK2
7 16H152016 Trần Thị Nhung K7TK2
8 16H152151 Hoàng Đức Quang K7TK3
9 16H152152 Nguyễn Khánh Quỳnh K7TK3

2
LỜI MỞ ĐẦU
Nhu cầu kiểm toán xuất phát từ việc các chủ sở hữu doanh nghiệp bởi họ
không thể và cũng không cần thiết tự kiểm tra mọi thông tin tài chính của doanh
nghiệp do giám đốc doanh nghiệp chịu trách nhiệm lập và báo cáo cho họ, do vậy
họ đã bổ nhiệm các kiểm toán viên – những người có đủ năng lực chuyên môn
nghiệp vụ, độc lập, khách quan - thay thế họ kiểm tra một cách độc lập và báo
cáo lại theo ý kiến của mình về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính.
Mặc dù kiểm toán viên không có trách nhiệm ngăn ngừa các sai sót cố ý hay gian
lận hoặc các hành vi không tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, đồng thời kiểm
toán viên cũng không thể đảm bảo rằng ban giám đốc doanh nghiệp thực hiện tốt
chức năng của mình và phù hợp với lợi ích của các cổ đông, nhưng trong quá
trình kiểm toán, bằng các kỹ thuật nghiệp vụ kiểm toán thông thường, nếu phát
hiện bất cứ sự yếu kém, thiếu hiệu quả trong hệ thống quản lý, thì đồng thời với
báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến, nhận xét, đánh giá và các
gợi ý hoàn thiện về từng nội dung cần sửa đổi thông qua thư quản lý. Hiểu được
tầm quan trọng đó, em xin lựa chọn đề tài “Sai sót trong kiểm toán”

3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỚ LÝ LUẬN
I. Tìm hiểu chung về hoạt động kiểm toán
1. Khái niệm

Để hiểu được kiểm toán, trước tiên chúng ta nên nói về kế toán, vì hai lĩnh
vực này liên quan trực tiếp tới nhau. Về cơ bản, kế toán sẽ cũng cấp những thông
tin về tài chính của một tổ chức thông qua những báo cáo tài chính.
Công việc của kiểm toán chính là kiểm tra, xác minh tính trung thực của
những báo cáo tài chính đó, từ đó giúp cung cấp những thông tin chính xác nhất
về tình hình tài chính của tổ chức đó. Hay nói cách khác, kiểm toán là quá trình
thu thập và đánh giá bằng chứng liên quan đến những thông tin tài chính được
kiểm tra nhằm xác đinh và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin đó với các
chuẩn mực đã được thiết lập.
Có thể nói, kiểm toán hướng đến rất nhiều đối tượng, những người quan tâm
tới tình hình tài chính của một tổ chức nào đó nhưng không có nghiệp vụ về tài
chính, kế toán; đó là lí do họ cần đến những kiểm toán viên để tìm hiểu và đưa ra
những đánh giá phù hợp giúp họ có những quyết định đúng đắn nhất.
2. Các công việc của kiểm toán viên
Hiểu một cách đơn giản, các kế toán viên sẽ sử dụng những phương pháp
khác nhau để xác minh tính trung thực của tài liệu và tính pháp lý của các báo cáo
tài chính, ví dụ như phương pháp đối chiếu, logic, diễn giãi thông tin, điều tra,
quan sát, kiểm kê, thử nghiệm,… Với hoạt động đó, có thể thấy được 3 chức năng
chính của kiểm toán, đó là:

 Xác minh tính trung thực và tính pháp của các báo cáo tài chính.

 Đánh giá bằng việc đưa ra ý kiến về tính trung thực và mức độ hợp lý
của các thông tin tài chính, kế toán.

 Tư vấn cho các nhà quản lý thông qua việc chỉ ra những sai sót và gợi
mở ra những biện pháp để khắc phục, giúp các công ty hoạt động hiệu quả hơn.

4
Chúng ta phải hiểu rằng, các tổ chức ở đây không chỉ là các công ty hoạt
động trong lĩnh vực kinh doanh, mà còn bao gồm cả những cơ quan Nhà nước,
như đã nói kiểm toán hướng tới nhiều đối tượng khác nhau.

3. Các loại kiểm toán


a) Căn cứ vào mục đích

 Kiểm toán hoạt động


Kiểm toán hoạt động là việc kiểm toán viên hành nghề, Doanh nghiệp kiểm
toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa
ra ý kiến về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc
toàn bộ đơn vị được kiểm toán.
Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá một phương
án kinh doanh, một dự án, một quy trình công nghệ, một công trình xây dựng cơ
bản, một loại tài sản, thiết bị mới đưa vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng
từ trong một đơn vị… Vì thế, khó có thể đưa ra các chuẩn mực cho loại kiểm toán
này. Đồng thời, tính hữu hiệu và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó được
đánh giá một cách khách quan so với tính tuân thủ và tính trung thực, hợp lý của
BCTC. Thay vào đó, việc xây dựng các chuẩn mực làm cơ sở đánh giá thông tin
có tính định tính trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc mang nặng tính
chủ quan.
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt khỏi phạm vi công
tác kế toán, tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực. Kiểm toán hoạt động phải
sử dụng nhiều biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ và phân tích, đánh giá khác nhau.
Báo cáo kết quả kiểm toán thường là bản giải trình các nhận xét, đánh giá, kết
luận và ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động.

 Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm
toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa

5
ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán
phải thực hiện.

 Kiểm toán Báo cáo tài chính

Kiểm toán Báo cáo tài chính: là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh
nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam
kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực
kiểm toán.
Công việc kiểm toán BCTC thường do các doanh nghiệp kiểm toán thực
hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính phủ, các ngân hàng và nhà đầu tư,
cho người bán, người mua. Do đó, kiểm toán BCTC là hình thức chủ yếu, phổ
cập và quan trọng nhất, thường chiếm 70 – 80% công việc của các doanh nghiệp
kiểm toán.

b) Căn cứ vào hình thức tổ chức


 Kiểm toán độc lập
Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các kiểm toán viên chuyên
nghiệp, độc lập làm việc trong các doanh nghiệp kiểm toán. Kiểm toán độc lập là
loại hình dịch vụ nên chỉ được thực hiện khi khách hàng có yêu cầu và đồng ý trả
phí thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế.

Hoạt động kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết, trước hết vì lợi ích của
bản thân doanh nghiệp, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ
sở hữu vốn, các chủ nợ, lợi ích và yêu cầu của Nhà nước. Người sử dụng kết quả
kiểm toán phải được đảm bảo rằng những thông tin họ được cung cấp là trung
thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các quyết định kinh tế hoặc
thực thi trách nhiệm quản lý, giám sát của mình.

6
Khoản 1 Điều 5 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 được quốc hội
thông qua ngày 29/3/2011 (Sau đây gọi tắt là Luật Kiểm toán độc lập số
67/2011/QH12) (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012) quy định “Kiểm toán độc lập là
việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp
kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về
báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”.

 Kiểm toán nhà nước


Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các kiểm toán viên làm việc trong
cơ quan Kiểm toán Nhà nước, là tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thuộc bộ máy
hành chính nhà nước; là kiểm toán theo luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ
yếu phục vụ việc kiểm tra và giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng Ngân
sách, tiền và tài sản của Nhà nước.

Điều 13, 14 Luật Kiểm toán Nhà nước (Luật số 37/2005/QH11 do Quốc hội
thông qua ngày 14/06/2005) quy định “Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên
môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. “Kiểm toán Nhà nước có chức năng kiểm
toán BCTC, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức
quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước”.

 Kiểm toán nội bộ

Là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên của đơn vị tiến hành. Kiểm
toán nội bộ chủ yếu để đánh giá về việc thực hiện pháp luật và quy chế nội bộ;
kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc thực thi công tác kế
toán, tài chính… của đơn vị.

Phạm vi và mục đích của kiểm toán nội bộ rất linh hoạt tuỳ thuộc yêu cầu
quản lý điều hành của ban lãnh đạo đơn vị. Báo cáo kiểm toán nội bộ chủ yếu
phục vụ cho chủ doanh nghiệp, không có giá trị pháp lý và chủ yếu xoay quanh
7
việc kiểm tra và đánh giá tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như chất lượng thực thi trong những trách nhiệm
được giao.

II. Tìm hiểu chung về sai sót


1. Khái niệm sai sót

Theo chuẩn mực kiểm toán số 200: Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và
doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam thì sai sót được định nghĩa là: Là sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại,
trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên báo cáo tài chính với giá trị,
cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về
lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. Sai sót có thể phát sinh do nhầm
lẫn hoặc gian lận.
Khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính đã được lập
và trình bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay chưa, sai sót
có thể bao gồm những điều chỉnh về giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết
minh mà theo xét đoán của kiểm toán viên là cần thiết để báo cáo tài chính
được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu.
Sai sót không được điều chỉnh: Là các sai sót mà kiểm toán viên đã phát hiện
và tổng hợp lại trong quá trình kiểm toán nhưng không được điều chỉnh.
2. Sai sót phát sinh từ đâu?
Theo VSA 450, sai sót có thể phát sinh từ:

 Việc thu thập hoặc xử lý dữ liệu để lập báo cáo tài chính không đúng
 Bỏ sót số liệu hoặc thuyết minh
 Ước tính kế toán không đúng phát sinh do bỏ sót hoặc hiểu sai;
 Xét đoán của Ban Giám đốc liên quan đến các ước tính kế toán mà kiểm
toán viên cho là không hợp lý hoặc việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế
toán mà kiểm toán viên cho là không phù hợp.

8
Các sai sót trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn:

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240), gian lận là những
hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong
Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm
ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính. Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân
hay cho tổ chức. Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp hay
gián tiếp. Khi tổ chức thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp
dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên.
Nhầm lẫn có thể là nhầm lẫn hoặc bỏ sót không cố ý các thông tin, tài sản
tạo thông tin sai lệch về thông tin hoặc về tài sản .Tất nhiên sai sót cũng có thể
nghiêm trọng như: Vi phạm quy định về tài chính kế toán, sai sót lặp đi lặp lại
hoặc có qui mô lớn....song đều không cố ý.

Phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn:


Gian lận Nhầm lẫn
 Gian lận là hành vi cố ý lừa  Là những hành vi không cố ý
dối giấu diếm xuyên tạc sự thật với do nhầm lẫn bỏ sót hoặc do năng lực yếu
mục đích tư lợi kém tạo ra những sai phạm trong hoạt
 Luôn có sự che đậy khó động tài chính kế toán của doanh nghiệp
phát hiện,  Không cố ý (vô tình), không có
 Luôn là hành vi sai phạm chủ ý nên dễ dàng phát hiện ra
nghiêm trọng.  Phụ thuộc vào quy mô và mức
 Xử lý chứng từ theo ý chủ độ lặp đi lặp lại của các sai phạm.
quan sửa đổI, xuyên tạc làm giả  Lỗi về tính toán số học hoặc
chứng từ kế toán. Che giấu các nghiệp ghi chép sai.
vụ không đúng sự thật.  Áp dụng sai các nguyên tắc và
chế độ kế toán do không hiểu.

9
 Áp dụng sai các nguyên  Liên quan đến hành vi không
tắc, phương pháp và chế độ kế toán chủ ý như: Bỏ sót hiểu sau các nhân viên
do cố ý. kế toán do năng lực kế toán kém.
 Liên quan đến hành vi lừa  Người thực hiện nghiệp vụ ít
dối chủ ý. biết đến.
 Khó phát hiện, Kiểm tra  Dễ phát hiện, dễ kiểm tra.

3. Phân loại sai sót


a) Sai sót xuất phát từ việc lập BCTC gian lận

Khái niệm: Là trường hợp các thông tin tài chính không được báo cáo đầy
đủ hay bị cố ý trình bày sai lệch nhằm đánh lạc hướng người sử dụng thông tin.

Biểu hiện:

 Khai cao (hay khai khống) doanh thu: Khai khống doanh thu là việc
ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ không có
thực. Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo, lập chứng từ giả
mạo. Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các
nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán... hoặc ghi nhận doanh thu khi các
điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, quyền sở hữu và trách nhiệm về rủi ro đối với
hàng hoá – dịch vụ chưa được chuyển qua bên mua hàng.
 Ghi nhận sai niên độ: Gian lận trong Báo cáo tài chính có thể được thực
hiện bởi kỹ thuật ghi nhận sai niên độ trong đó, doanh thu hay chi phí được ghi
nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát sinh. Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này
có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo
mong muốn.
 Giấu công nợ và chi phí: Che dấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một
trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên Báo cáo tài chính với mục đích khai

10
khống lợi nhuận. Lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công
nợ bị che dấu. Đây là phương pháp dễ thực hiện so với các phương pháp ngụy tạo
các giao dịch bán hàng. Mặt khác nó rất khó bị các kiểm toán viên phát hiện vì
thường không để lại dấu vết.
 Không khai báo đầy đủ thông tin: Việc không khai báo đầy đủ các thông
tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng Báo cáo tài chính. Các
thông tin thường không được khai báo đầy đủ trong thuyết minh như nợ phải trả
tiềm tàng, các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ, thông tin về bên có liên quan,
các những thay đổi về chính sách kế toán.
 Áp dụng phương pháp đánh giá không đúng: Việc áp dụng sai phương
pháp đánh giá là một kỹ thuật gian lận khá phổ biến. Việc đánh giá sai thường áp
dụng cho các khoản mục sau: Hàng tồn kho, khoản phải thu, các tài sản mua qua
hợp nhất kinh doanh, tài sản cố định, không vốn hoá đầy đủ các chi phí vô hình,
phân loại không đúng tài sản.
b) Sai sót do biển thủ tài sản

Là loại gian lận liên quan tới hành vi đánh cắp tài sản, thường do nhân viên
thực hiện. Một số ví dụ điển hình như ghi thiếu doanh thu để biển thủ tiền, biển
thủ hàng tồn kho, gian lận về tiền lương.

4. Một số ví dụ về sai sót mà kiểm toán phát hiện có thực hiện nay

Ví dụ: Công ty cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) mở màn cho hoang
mang của nhiều nhà đầu tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm
gần 30%. So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm
30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến
lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng. Dự phòng giảm giá đầu tư chứng
khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn 58 tỷ đồng. Lợi nhuận sau
thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ (-29%) so với kết
quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng.

11
Báo cáo tài chính năm 2010 của Công ty cổ phần Basa có mã chứng khoán
BAS, công ty đã vốn hóa chi phí đi vay số tiền 1,04 tỷ đồng vào giá trị công trình
xây dựng cơ bản, trong khi công trình này đã ngừng xây dựng trong năm 2010.
Nếu áp dụng đúng như VSA, thì chi phí đi vay này phải tạm ngừng vốn hóa và
tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Nếu thực hiện đúng như VSA, công ty sẽ
gia tăng thêm khoản lỗ với số tiền tương ứng 1,04 tỷ đồng.
Ví dụ: Công ty xây dựng phản ánh doanh thu phát sinh vào tháng 12/200N
nhưng không ghi nhận chi phí phát sinh liên quan tới doanh thu trong năm 200N.
Sang tháng 1/200N+1, kế toán ghi nhận khoản chi phí này khiến lợi nhuận gộp
trong năm 200N tăng lên tương ứng số tiền doanh thu ghi nhận sớm. Sang năm
sau, lợi nhuận gộp giảm tương ứng khoản chi phí được ghi nhận.
Ví dụ, Tập đoàn bán lẻ lớn nhất nước Anh, Tesco đã ghi nhận trước các
khoản tiền hoa hồng thương mại của nhà cung cấp vào báo cáo tài chính với mục
đích thổi phồng lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2014 lên 250 triệu GBP.
Ví dụ: Trong thực tế, các điều khoản của hợp đồng chưa hoàn thành, quyền
lợi và rủi ro về quyền sở hữu của hàng hóa chưa được chuyển giao cho bên mua.
Ví dụ, trong hợp đồng kinh tế kèm điều khoản như bên mua có thể dùng thử hàng
hóa hoặc dịch vụ, nếu khách hàng không hài lòng hàng hóa hoặc dịch vụ có quyền
trả lại hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Nhiều doanh nghiệp khi xuất hàng hóa hoặc dịch
vụ cho khách hàng dùng thử đã tiến hành ghi nhận doanh thu. Hình thức ghi nhận
doanh thu này được coi là ghi nhận doanh thu sai thời điểm khi mà các điều khoản
hợp đồng trong tương lai chưa được thực hiện.
Ví dụ, công ty sử dụng các ước tính kế toán để điều chỉnh trực tiếp tới lợi
nhuận trong kỳ. Các thay đổi ước tính kế toán thường liên quan tới lập dự phòng
các khoản phải thu khó đòi, lập dự phòng hàng tồn kho lỗi thời, xác định thời gian
sử dụng hữu ích hoặc cách thức sử dụng TSCĐ làm cơ sở tính khấu hao, nghĩa
vụ bảo hành và xác định giá trị sản phẩm dở dang,.. Trên thực tế, không có tiêu
chuẩn chính xác về giá trị ước tính này, các công ty dựa trên nhận định chủ quan
để xây dựng các ước tính kế toán. Trường hợp điển hình trong BCTC của Bông
12
Bạch Tuyết (BBT) năm 2005, Công ty báo lãi 982 triệu đồng năm 2005 (trong
khi năm 2004 báo lỗ 2.121 tỷ đồng). Tuy nhiên, trong Báo cáo kiểm toán của
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) về BCTC của BBT năm 2005 đưa
ra ý kiến kiểm toán có đoạn ngoại trừ BBT đã thay đổi chính sách khấu hao làm
giảm chi phí khấu hao so với năm trước 1.253 tỷ đồng.
Ví dụ: Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Mu (HJS) thông báo Báo cáo tài
chính đã kiểm toán năm 2010. Điều đáng lưu ý trong Báo cáo kiểm toán đó là
nguyên giá tài sản cố định và chi phí khấu hao của nhà máy Thủy điện Nậm Ngần
có thể thay đổi khi quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản được duyệt. Trong
bảng thuyết minh Báo cáo tài chính hợp nhất: Dự án công trình Thủy điện Nậm
Ngần được đầu tư theo Quyết định số 28ACT/HĐQT ngày 01/12/2004 của Hội
đồng quản trị Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Mu đã hoàn thành, bàn giao đưa
vào sử dụng nhưng chưa được duyệt quyết toán vốn đầu tư. Công ty căn cứ vào
chi phí đầu tư xây dựng cơ bản thực tế, tạm tính nguyên giá để hạch toán tăng tài
sản cố định.
Ví dụ: Trong mùa kiểm toán năm 2010, Đơn vị kiểm toán có ý kiến ngoại
trừ việc Công ty Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (DLR) ghi nhận 31,15 tỷ đồng doanh thu
với giá vốn 27,98 tỷ đồng từ Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin
thành phố Đà Lạt. Theo ký kết, công ty sẽ bàn giao từng phần hạng mục công ty
của dự án sau khi hoàn thành và đủ điều kiện để bố trí tái định cư. UBND sẽ thanh
toán cho công ty khi quyết toán dự án và đã được cơ quan độc lập kiểm toán. Tuy
nhiên, tại Báo cáo tài chính năm 2010, công ty đã ước tính và ghi nhận doanh thu,
giá vốn như trên theo số liệu hoàn thành giữa công ty và đội thi công của công ty
trong khi UBND tỉnh Lâm Đồng chưa có văn bản chỉ định UBND thành phố Đà
Lạt nghiệm thu. Đơn vị kiểm toán cho biết, ngày 22/2/2011, UBND tỉnh Lâm
Đồng đã có công văn thống nhất giao cho UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị tiếp
nhận từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn giá trị công trình hoàn thành
để DLR ghi nhận doanh thu. Qua đây cho thấy DRL đã ghi nhận doanh thu và giá
vốn Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt sai
13
niên độ, doanh thu và giá vốn này phải được ghi nhận ở niên độ năm 2011, nhưng
đã được doanh nghiệp ghi nhận vào năm 2010.
Ví dụ: Trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần
Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản lỗ
chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối năm
của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu
“chênh lệch tỷ giá hối đoái”. Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc
áp dụng TT 201/2009 giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng. Nếu áp dụng VSA
10 thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010
không phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng. Qua đó cho
người sử dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là
do sự thay đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty tạo ra.
5. Những yếu tố ảnh hưởng đến sai sót
a) Các vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của ban
giám đốc
 Công tác quản lý bị một người hay một nhóm người dộc quyền nắm
giữ, thiếu sự giám sát có hiệu lựccủa ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị.
 Cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán phức tạp một cách cố ý.
 Sự bất lực trong việc sửa chữa những yếu kém của hệ thống kiểm soát
nội bộ trong khi những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc phục được.
 Thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của
bộ phận kế toán và tài chính.
 Thiếu nhiều nhân viên kế toán trong một thời gian dài.
 Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn
 Thay đổi thường xuyên chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc KTV
b) Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị
 Ngành nghề kinh doanh gặp khó khăn.

14
 Thiếu vốn kinh doanh
 Mức thu nhập giảm sút.
 Doanh nghiệp cố ý hoạch toán tăng lợi nhuận
 Đầu tư qua nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới
 Doanh nghiệp bị lệ thuộc vào một số sản phẩm hoặc khách hàng.
 Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản
 Sức ép đối với nhân viên phải hoàn tất công việ trong thời gian ngắn.
 Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế không bình thường
 Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử lý kế toán phức tạp.
 Các nghiệp vụ với các bên hữu quan
 Các khoản chi phi quá cao so với những dịch vụ được cung cấp.
c) Những khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp
 Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời.
 Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế .
 Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ
ba, mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán, không giải thích được sự thay dổi
của các chỉ số hoạt động.
 Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thoả
mãn yêu cầu của kiểm toán viên.
d) Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đén các tình huống
và sự kiện
 Không lấy được thông tin từ máy tính.
 Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, không
được phê duyệt và không được kiểm tra.
 Thông tin, tài liệu in từ máy tính không phù hợpvới báo cáo tài chính.
 Các thông tin in ra máy tính mỗi lần lại khác nhau.

15
6. Hậu quả của sai sót trong kiểm toán
Thực tế, hậu quả của các hành vi gian lận BCTC khó lường và nghiêm trọng
hơn những gì các nhà quản lý có thể nhận thấy. Theo Rezaee (2002), những hậu
quả tiềm ẩn của gian lận trên BCTC như sau:
 Gian lận BCTC làm suy yếu chất lượng và tính toàn vẹn BCTC.
 Gian lận BCTC làm xói mòn tính toàn vẹn và khách quan của kế toán.
 Gian lận BCTC làm giảm niềm tin vào thị trường vốn và niềm tin vào
độ tin cậy của các thông tin tài chính.
 Gian lận BCTC làm cho thị trường vốn kém hiệu quả.
 Ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và thịnh vượng của 1 quốc gia.
 Có thể dẫn đến thiệt hại do kiện tụng.
 Phá hủy sự nghiệp của các cá nhân liên quan đến hành vi gian lận.
 Gây ra phá sản hoặc thiệt hại kinh tế cho công ty
 Đòi hỏi mức độ can thiệp cao hơn của những quy định của nhà nước
 Phá vỡ hoạt động bình thường của thị trường và hoạt động của các công
ty bị cáo buộc gian lận.
III. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với sai sót trong doanh nghiệp.

Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các sai phạm của đơn vị xuất phát
từ mục tiêu của báo cáo tài chính.Kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm
về việc phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm ở đơn vị. Trách nhiệm của kiểm toán
viên chủ yếu liên quan đến việc diễn đạt ý kiến của minh trên báo cáo kiểm toán
và để đưa ra ý kiến đó, kiểm toán viên cần thiết kế và thực hiện một cuộc kiểm
toán để bảo đảm hợp lí rằng báo cáo tài chính không sai lệch trọng yếu.Đối với
gian lận và sai sót, trách nhiệm chủ yếu của kiểm toán là xem xét rủi ro có các sai
lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính do những gian lận và sai sót gây ra.Trách
nhiệm này được cụ thể hoá thông qua những thủ tục kiểm toán sau:

Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro
có những hành vi gian lận và sai sót có thể gây ra sai lệch trọng yếu trên báo cáo
16
tài chính và phải phỏng vấn người quản lý về bất kỳ gian lận và sai sót quan trọng
nào đã được phát hiện. Để làm được điều này, kiểm toán viên cần phải nghiên
cứu về thiết kế và vận hành của kiểm toán nội bộ, đồng thời xem xét những điều
kiện hay sự kiện làm tăng rủi ro có gian lận và sai sót. Ví dụ, sự thông đồng giữa
doanh nghiệp và người thứ ba có thể dẫn đến xuyên tạc tài liệu có thể đánh lừa
kiểm toán viên.Do đó,thông thường kiểm toán viên không thực thi các biện pháp
đặc biệt đối với những phần đã phát hiện ra sai sót nhưng chỉ tập trung suy nghĩ
để làm sáng tỏ các nghi ngờ về gian lận.

Dựa trên việc đánh giá rủi ro, kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các
thủ tục kiểm toán để có thể bảo đảm thủ tục hợp lý rằng sẽ phát hiện được các sai
lệch do gian lận và sai sót gây ra có thể tạo ảnh hưởng trọng yếu đến toàn bộ báo
cáo tài chính. Nói cách khác, dù rằng cuộc kiểm toán có những hạn chế tiềm tàn
như đã nêu, nhưng kiểm toán viên vẫn luôn phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp.

Khi các thủ tục kiểm toán trên cung cấp bằng chứng cho thấy khả năng có
những gian lận và sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng của chúng đến
báo cáo tài chính. Nếu nhận thấy rằng chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu, kiểm
toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung.

Sau khi đã thực hiện các thủ tục bổ sung, thế nhưng vẫn còn nghi vấn về khả
năng có gian lận và sai sót kiểm toán viên cần phải:

 Trao đổi với người quản lí về các vấn đề cần phải điều chỉnh hay công
bố trên báo cáo tài chính.
 Xem xét ảnh hưởng của sự kiện đến báo cáo tài và báo cáo kiểm toán.
 Riêng đối với các sai sót quan trọng và các hành vi gian lận, kiểm toán
viên cần xem xét ảnh hưởng của chúng đến khía cạnh khác của cuộc kiểm toán,
nhất là độ tin cậy vào các giải trình của giám đốc.

Kiểm toán viên cũng thường phải thông báo cho người quản lý khi nghi ngờ
rằng gian lận là có thực dù rằng nó có thể chưa ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo

17
tài chính.Kiểm toán viên cũng phải thông báo về các sai sót quan trọng hoặc
những hành vi gian lận thực sự xảy ra.

Trừ khi mọi việc quá rõ ràng, còn nhìn chung kiểm toán viên không được
quan niệm rằng các sai sót và gian lận xảy ra là đơn chiếc và biệt lập.Vì bản chất
những sai sót là thường phát hiện theo dây chuyền nên kiểm toán viên phải thận
trọng trong phát hiện sai sót, mối tương quan của những sai sót này với sai sót kia
có thể dẫn tới sai lầm nghiêm trọng của báo cáo tài chính.

Khi kiểm toán viên gặp phải những trường hợp nghi ngờ các nhà quản lý
doanh nghiệp có liên quan đến những vấn đề gian lận, kiểm toán viên cần cân
nhắc kỹ các ưu, nhược điểm của đương sự cũng như cần cân nhắc nên trao đổi
phát giác với ai là tốt hơn.Kiểm toán viên cấn phải luôn luôn ghi nhớ là hệ thống
kiểm soát nội bộ có thể trở nên hoàn toàn vô hiệu đối với gian lận của các nhà
quản lý doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể :

 Bất chất mọi sự kiểm tra, ngược lại họ còn có quyền ra lệnh ngăn chặn
sự kiểm tra của cấp dưới.
 Ra lệnh cho cấp dưới ghi chép các nghệp vụ thiếu trung thực hoặc là
bưng bít họ.
 Giấu diếm các thông tin liên quan đến nghiệp vụ.
Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không nhất thiết phải chỉ ra sự
thiếu trung thực của các nhà quản lý, nhưng phải đề phòng khả năng xảy ra các
trường hợp tương tự:

 Thông tin được cung cấp một cách miễn cưỡng hoặc chỉ cung cấp sau
khi đã trì hoãn một cách vô lý.
 Các nhà quản lý doanh nghiệp hạn chế phạm vi kiểm toán.
Kiểm toán viên phát hiện ra các vấn đề quan trọng mà trước đó không được
thể hiện qua kiểm toán.

18
Nếu kiểm toán viên nghi ngờ có thành viên nào đó trong ban lãnh đạo doanh
nghiệp gian lận thì phải thực hiện các biện pháp đẻ xác minh hoặc xoá bỏ các
nghi vấn.Khi đã tin chắc là có gian lận hoặc không thể xoá bỏ được nghi ngờ về
gian lận của lãnh đạo doanh nghiệp thì phải tìm các đại diện khác để thay thế hoặc
tìm các bằng chứng kiểm toán khác.Khi cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp
bị nghi ngờ, kiểm toán viên sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn đại diện thay thế
và trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán.Trong trường hợp đó, kiểm toán
viên không thể hoàn tất công việc kiểm toán của mình và cần phải xin ý kiến tư
vấn pháp lý để có các hành động phù hợp với thực tế.

Cuối cùng, nếu đơn vị không có những giải pháp thích hợp đối với các hành
vi gian lận, kiểm toán viên còn phải xem xét đến khả năng rút khỏi hợp đồng kiểm
toán.

19
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. Một vài trường hợp sai sót xảy ra hiện nay
1. Sai sót do nhầm lẫn

Với lý do lỗi đánh máy, nhập liệu hay thậm chí thiếu bút toán kế toán, một
số doanh nghiệp niêm yết đang gây cú sốc cho cổ đông trong mùa báo cáo tài
chính.

Sau khi công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý IV/2013 một ngày, Tổng
Công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (Mã CK: KBC) ngay lập tức phải phát đi công
văn đính chính. Với lý do được đưa ra là "lỗi đánh máy", lợi nhuận sau thuế quý
cuối năm của công ty đã tăng từ gần 155 tỷ đồng theo báo cáo tài chính trước đó
lên gần 200 tỷ đồng, sau khi các khoản chi phí, đặc biệt là lãi vay được ghi nhận
ít hơn.

Tập đoàn Bảo Việt (Mã CK: BVH) khi báo cáo lợi nhuận mảng kinh doanh
ngân hàng quý IV/2013 đã ghi nhận khoản lỗ gần 260 tỷ đồng từ hoạt động ngân
hàng. Sau khi phát hiện lỗi, khoản mục trên được chuyển thành lãi hơn 140 tỷ
đồng. Bảo Việt cho biết lợi nhuận từ hoạt động tài chính có những điều chỉnh số
liệu tương ứng, nên kết quả kinh doanh chung không thay đổi.
Sự kiện gây ồn ào nhất trong giới đầu tư thời gian qua chính phải kể tới
trường hợp báo cáo tài chính của Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt
Nam (Mã CK: PVX). Ngày 4/4/2013, cổ phiếu công ty bị đưa vào diện kiểm soát
do lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ âm liên tiếp hai năm 2011, 2012.
Nhưng khi tiến hành rà soát lại số liệu báo cáo tài chính năm 2011, công ty này
"phát hiện ra một sự nhầm lẫn/sai sót về mặt kỹ thuật hợp nhất trên báo cáo tài
chính" khiến công ty mất hàng tỷ đồng. Do vậy, sau khi thêm bút toán hoàn nhập
dự phòng tài chính, PVX chuyển từ lỗ hơn 19 tỷ đồng năm 2011 sang lãi gần 600
triệu đồng.

20
Như vậy phải sau hai năm sai sót này mới được phát hiện, và nếu PVX không
chỉ ra được lý do này để chuyển lỗ thành lãi, công ty sẽ bị đối mặt với việc hủy
niêm yết bắt buộc. Theo Luật Chứng khoán năm 2007, đơn vị kinh doanh lỗ 3
năm liên tiếp và tổng số lỗ vượt quá vốn chủ sở hữu sẽ phải rời sàn. Mà theo báo
cáo tài chính hợp nhất năm 2013, công ty này tiếp tục lỗ hơn 2.600 tỷ đồng trong
năm qua, lỗ lũy kế đến 31/12/2013 là hơn 3.300 tỷ đồng. Việc tìm ra sai sót đã
giúp PVX thoát khỏi diện bị kiểm soát và chuyển sang dạng cảnh báo.

2. Sai sót do gian lận

Bộ Tài chính vừa ban hành quyết định truy thu 1.935 tỉ đồng do phát hiện Tập
đoàn Điện lực VN (EVN) hạch toán sai một số khoản chi phí.

Theo ông Trần Văn Vượng, Chánh thanh tra Bộ Tài chính, quyết định được
Bộ Tài chính đưa ra trên cơ sở thanh tra tài chính EVN và phát hiện tập đoàn này
có những khoản hạch toán chi phí không đúng quy định, khiến doanh thu và lợi
nhuận của năm 2015-2016 giảm.

Cụ thể, năm 2015 EVN hạch toán vào chi phí hơn 1.341 tỉ đồng khoản chênh
lệch cước phí vận chuyển dự án đường ống dẫn khí Phú Mỹ - TP.HCM (giai đoạn
2012-2015). Việc hạch toán này được Bộ Tài chính xác định là "không đúng chỉ
đạo của Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng".

Theo giải thích của một lãnh đạo Bộ Tài chính: giai đoạn 2012-2015, cước phí
vận chuyển đường ống dẫn khí Phú Mỹ - TP.HCM mới chỉ là tạm tính. Khoản
chênh lệch cước phí (tức chi phí tăng thêm) theo quy định sẽ được tính từ năm 2016-
2017.

Thực tế tháng 6-2016, trong công văn trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công
thương cũng đề xuất cho EVN được phân bổ 85,26 triệu USD trong hai năm 2016-
2017.

21
Đây là khoản chênh lệch cước phí vận chuyển đường ống dẫn khí Phú Mỹ -
TP.HCM được bộ này chấp thuận trong lộ trình thanh toán, đưa vào giá điện.

Trên cơ sở đề xuất của Bộ Công thương, Văn phòng Chính phủ đã có công
văn truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng ý phân bổ
khoản chi phí chưa thanh toán khoản chênh lệch cước phí như nêu trên.

Phó thủ tướng cũng giao Bộ Công thương chỉ đạo, hướng dẫn Tập đoàn Dầu
khí VN (PVN) và EVN thực hiện.

Theo Bộ Tài chính, chênh lệch cước phí vận chuyển đường ống dẫn khí Phú
Mỹ - TP.HCM mà EVN phải trả cho PVN là 1.938 tỉ đồng. Tuy nhiên, điều đáng
nói là khoản chênh lệch này lại được EVN hạch toán trước thời gian Bộ Công
thương có văn bản kiến nghị Thủ tướng cho phép phân bổ. Cụ thể, năm 2015 EVN
hoạch toán hơn 1.341 tỉ đồng và năm 2016 là hơn 596 tỉ đồng.

"Dù hạch toán tới 70% khoản chênh lệch cước phí này từ năm 2015 nhưng
EVN vẫn báo cáo Bộ Công thương xin Chính phủ được phân bổ vào năm 2016 và
2017. Điều đó cho thấy doanh nghiệp đã nói một đằng làm một nẻo. Sai về nguyên
tắc tài chính" - một lãnh đạo Bộ Tài chính nhấn mạnh.

Cũng theo Bộ Tài chính, chính vì hạch toán sai nên đã giúp EVN giảm lợi
nhuận năm 2015 là 1.341 tỉ đồng. Do đó, để khắc phục sai sót này, EVN phải kê
khai bổ sung thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2015 là 88,2 tỉ đồng, lợi nhuận sau
thuế phải kê khai và nộp bổ sung là 877,4 tỉ đồng.

Cùng với việc hạch toán sai hơn 1.341 tỉ đồng như nêu trên, Bộ Tài chính cũng
phát hiện EVN "quên" hạch toán hơn 4.847 tỉ đồng doanh thu hoạt động tài chính
năm 2016.

22
Đây là khoản lãi chênh lệch tỉ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng
ngoại tệ của năm 2016.
Theo quy định, lãi chênh lệch tỉ giá phải được bù trừ với lỗ chênh lệch tỉ giá.
Nếu có chênh lệch thì doanh nghiệp phải hạch toán khoản này.

Trên cơ sở thanh tra, Bộ Tài chính phát hiện sai sót này của EVN và yêu cầu
doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2016 số tiền 969,5 tỉ đồng.
Phần tiền còn lại 3.878 tỉ đồng, EVN không được chia lợi nhuận hoặc trả cổ tức.

Điều đáng nói là tại buổi họp báo công bố về chi phí giá thành điện năm 2016
và điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân do Bộ Công thương và EVN chủ trì vào
ngày 1-12 vừa qua, không hề có thông tin về khoản lãi tỉ giá này.

Thay vào đó là bức tranh khá "xám xịt" về khoản chênh lệch tỉ giá còn treo lại
chưa được phân bổ tới trên 9.500 tỉ đồng, mặc dù kết quả kinh doanh chung năm
2016 ghi nhận lãi trên 2.658 tỉ đồng.

Theo ông Võ Quang Lâm, Phó tổng giám đốc EVN, khoản chênh lệch tỉ giá
này được Chính phủ cho phép phân bổ từ nay đến năm 2020 tùy vào tình hình sản
xuất kinh doanh, nhằm giảm áp lực tăng giá điện.

Theo Bộ Công thương, tổ công tác kiểm tra giá thành sản xuất kinh doanh điện
năm 2016 căn cứ trên các tài liệu do EVN và các đơn vị thành viên cung cấp như
báo cáo chi phí, giá thành được kiểm toán độc lập, báo cáo tài chính, hợp đồng mua
bán điện…

Tuy nhiên, việc kiểm tra này lại không bao gồm nội dung thanh tra, kiểm tra
việc chấp hành của EVN đối với các quy định của pháp luật về quản lý sử dụng vốn
và tài sản, các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp,
cơ cấu sản lượng phát điện…

23
Tiếp tục rà soát báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2015 của EVN cho
thấy khoản chênh lệch tỉ giá còn treo lại đến thời điểm 31-12-2015 là trên 9.806 tỉ
đồng.

Tuy nhiên, tập đoàn này khẳng định đã giảm lỗ do tự xử lý được 3.500 tỉ đồng,
nên EVN cho biết số tiền treo lại sẽ phải được hạch toán dần trong 5 năm, đưa vào
giá điện.

Tại sao trong năm 2016, EVN có lãi tỉ giá trên 4.847 tỉ đồng, mà tổng số lỗ tỉ
giá được treo lại của cả năm này do EVN công bố, vẫn lên trên 9.500 tỉ đồng?

Tại buổi họp báo ngày 1-12-2017, báo Tuổi Trẻ đã đặt câu hỏi với đại diện
EVN đề nghị giải trình rõ khoản lỗ sản xuất kinh doanh điện năm 2016 xuất phát từ
những yếu tố nào (bao gồm khoản chênh lệch tỉ giá), cũng như giải thích về khoản
lỗ chênh lệch tỉ giá tăng mạnh, song không được tập đoàn này thông tin cụ thể.
II. Trách nhiệm của kiểm toán viên

Liên quan đến trách nhiệm kiểm toán viên đối với việc phát hiện gian lận và
sai sót trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính, các quy định có thể kể ra bao gồm:

1. Nghị định 105/2004/NĐ-CP ban hành ngày 30/3/2004

Điều 17 của Nghị định 105 quy định các trách nhiệm của kiểm toán viên
trong khi thi hành nhiệm vụ:

 Kiểm toán viên phải chấp hành các nguyên tắc hoạt động kiểm toán
độc lập
 Trong quá trình thực hiện dịch vụ, kiểm toán viên không được can thiệp
vào công việc của đơn vị đang được kiểm toán;
 Ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về hoạt động nghề nghiệp
của mình

24
 Từ chối làm kiểm toán cho khách hàng nếu xét thấy không đủ năng lực
chuyên môn, không đủ điều kiện hoặc khách hàng vi phạm quy định của
Nghị định này
 Thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp.
 Thực hiện chương trình cập nhật kiến thức hàng năm theo quy định của
Bộ Tài chính;
 Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Đối với trách nhiệm của công ty kiểm toán, Điều 25 của Nghị định 105 quy
định:

 Công ty kiểm toán chỉ được hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề
ghi trong Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
 Thực hiện đúng những nội dung theo hợp đồng đã ký kết với khách
hàng;
 Bồi thường thiệt hại do lỗi mà kiểm toán viên của mình gây ra cho
khách hàng trong khi thực hiện dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác;
 Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên
 Quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp theo quy định của Bộ Tài chính để
tạo nguồn chi trả bồi thường thiệt hại do lỗi của doanh nghiệp gây ra cho khách
hàng
 Trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện đơn vị được kiểm toán có hiện
tượng vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán thì doanh nghiệp kiểm toán có
nghĩa vụ thông báo với đơn vị được kiểm toán hoặc ghi ý kiến nhận xét vào
báo cáo kiểm toán;
 Cung cấp hồ sơ, tài liệu kiểm toán theo yêu cầu bằng văn bản của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
 Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật về doanh
nghiệp.
25
2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200

Chuẩn mực này ban hành theo Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày
27/9/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Các quy định về trách nhiệm của kiểm
toán viên được đề cập tại đoạn 15 của chuẩn mực, theo đó kiểm toán viên phải
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán như:

 Đảm bảo tính độc lập - nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán
viên: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối
hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng
đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình; Kiểm toán
viên không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ
kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế; Không được nhận làm kiểm toán ở những đơn
vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc; Kiểm toán viên không được
vừa làm dịch vụ kế toán; Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạn chế về
tính độc lập thì kiểm toán viên phải tìm cách loại bỏ sự hạn chế này, nếu
không loại bỏ được thì kiểm toán viên phải nêu rõ điều này trong báo cáo
kiểm toán.
 Chính trực: Kiểm toán viên phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến
rõ ràng
 Khách quan: Kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không
được thành kiến, thiên vị;
 Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Kiểm toán viên phải thực hiện
công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng
cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy
trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi
trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc;
 Tính bí mật: Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong
quá trình kiểm toán, không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được

26
phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu
cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình;
 Tư cách nghề nghiệp: Kiểm toán viên phải trau dồi và bảo vệ uy tín
nghềnghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp;
 Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: Kiểm toán viên phải thực hiện công
việc kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã qui định trong
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được
Việt Nam chấp nhận) và các quy định pháp luật hiện hành;
 Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong
quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức rằng có thể tồn
tại những tình huống dẫn đến những sai sót trọng yếu trong các Báo cáo tài
chính.
 Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp như đã nêu
trên, kiểm toán viên phải thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam (hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận) để có được một sự
đảm bảo hợp lý rằng Báo cáo tài chính nếu có sai sót trọng yếu thì đã được kiểm
toán viên phát hiện và trình bày trong báo cáo kiểm toán. Báo cáo tài chính đã
được kiểm toán, nói chung không còn (hoặc không có) sai sót trọng yếu.
 Ngoài ra, kiểm toán viên và công ty kiểm toán chịu trách nhiệm kiểm
tra, chuẩn bị và trình bày ý kiến của mình về Báo cáo tài chính.
3. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240

Khi lập kế hoạch và thực hiện thủ tục kiểm toán, khi đánh giá và báo cáo kết
quả thực hiện thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải xem
xét xem có các sai phạm do gian lận hoặc sai sót gây ra làm ảnh hưởng trọng yếu
đến Báo cáo tài chính không.

VSA 240 đề cập đến trách nhiệm của kiểm toán viên trong phát hiện các
gian lận và sai sót. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán các Báo cáo tài chính,

27
kiểm toán các thông tin tài chính khác và các dịch vụ liên quan của công ty kiểm
toán.

Đoạn số 7 trong chuẩn mực nêu rõ: “Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán
viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm giúp đơn vị phát hiện, xử lý và ngăn
ngừa gian lận và sai sót, nhưng kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phải
chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa các gian lận và sai sót ở đơn vị
mà họ kiểm toán”.

Những hạn chế vốn có của kiểm toán cũng được chuẩn mực 240 đề cập đến
nhằm cung cấp cho công chúng những khó khăn mà kiểm toán viên phải đối mặt
trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán, trong đó nêu rõ: Công việc kiểm toán
thường chịu rủi ro không phát hiện hết các sai phạm làm ảnh hưởng trọng yếu
đến Báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và tiến
hành theo đúng các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc quốc tế được chấp nhận
rộng rãi. Chuẩn mực phân biệt hai loại rủi ro không phát hiện: Một là rủi ro không
phát hiện do sai sót và hai là rủi ro không phát hiện do gian lận. Loại thứ hai gây
khó khăn cho kiểm toán viên vì gian lận thường đi kèm với các hành vi che dấu,
do đó chuẩn mực khuyến khích kiểm toán viên phải luôn luôn duy trì thái độ hoài
nghi nghề nghiệp xuyên suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán.
Để đối phó với rủi ro do gian lận và sai sót, chuẩn mực 240 đưa ra một số
hướng dẫn có tính tổng quát để kiểm toán viên đánh giá và xử lý các tình huống
có rủi ro về gian lận sai sót phát sinh trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện
cuộc kiểm toán như:

 Đánh giá rủi ro: Khi lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán, kiểm toán
viên và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể
có làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính trên các khía cạnh trọng yếu.
 Phát hiện rủi ro: Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp để chứng minh là không có gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng
trọng yếu đến Báo cáo tài chính; hoặc nếu có gian lận thì đã được phát hiện, sữa
28
chữa và trình bày trên Báo cáo tài chính. Đồng thời kiểm toán viên phải chỉ ra
được ảnh hưởng của các gian lận và sai sót đến Báo cáo tài chính.
 Thông báo cho người sử dụng báo cáo kiểm toán: Tuỳ theo từng điều
kiện các gian lận và sai sót có được điều chỉnh và phản ánh trên Báo cáo tài chính
hay chưa, kiểm toán viên có thể đưa ra các ý kiến chấp nhận từng phần, không
chấp nhận hay ý kiến từ chối khi phạm vi kiểm toán bị giới hạn và phải thông báo
cho các cơ quan chức năng biết nếu như các gian lận và sai sót này được yêu cầu
phải khai báo cho cơ quan pháp luật theo luật định.
 Kiểm toán viên và công ty kiểm toán rút khỏi hợp đồng kiểm toán:
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng kiểm toán
khi xét thấy đơn vị được kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý đối với
gian lận mà kiểm toán viên cho là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể, kể cả các gian
lận không ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính. Ngoài ra trong phần phụ
lục của chuẩn mực VSA 240 còn nêu một số ví dụ về những tình huống hoặc sự
kiện làm tăng rủi ro do gian lận hay sai sót như: Tính chính trực và năng lực của
Ban giám đốc, các sức ép với đơn vị về mặt tài chính, các nghiệp vụ và sự kiện
không bình thường, những khó khăn liên quan tới quá trình thu thập bằng chứng
kiểm toán, môi trường tin học liên quan tới các sự kiện trên.
4. Đánh giá thực trạng trách nhiệm của kiểm toán viên đới với sai sót
a. Ưu điểm

Nghề nghiệp kiểm toán chỉ hình thành và phát triển ở Việt Nam trong
khoảng mười lăm năm gần đây nhưng đã đạt được kết quả rất đáng khích lệ. Với
một đội ngũ kiểm toán viên trẻ và năng động, không ngừng học hỏi, nghề nghiệp
kiểm toán ngày càng chuyên nghiệp.

Cùng với tiến trình gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, Chính phủ
đã có những hành động tích cực nhằm đẩy mạnh công tác kiểm toán thanh tra
nằmhạn chế các tiêu cực và gian lận trong đầu tư và quản lý kinh tế. Điều này
hứa hẹn về một bước tiến mới và vị thế mới của nghề nghiệp kiểm toán. Tuy

29
nhiên, cơ hội bao giờ cũng đi kèm với các thách thức; hội nhập và nhận những
trọng trách mới từ Chính phủ cũng đồng nghĩa là nghề nghiệp kiểm toán phải
tham gia vào một sân chơi mới trong đó yêu cầu về chất lượng là một yếu tố có
tính then chốt. Liên quan đến trách nhiệm kiểm toán viên, các ưu điểm có thể kể
ra bao gồm:

Thứ nhất, Việt Nam đã xây dựng khá đầy đủ các quy định liên quan đến
trách nhiệm của kiểm toán viên. Bên cạnh chuẩn mực VSA 200 và VSA 240,
Chính phủ và Bộ tài chính còn ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP và Thông
tư 64/2004/TT-BTC trong đó quy định khá chi tiết trách nhiệm kiểm toán viên
như đã đề cập ở phần trên.

Thứ hai, các chuẩn mực kiểm toán nói chung và chuẩn mực trách nhiệm nói
riêng đã phù hợp với thông lệ quốc tế như: chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp,
về việc duy trì hiểu biết và liên tục cập nhật các quy định mới có liên quan…
Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các kiểm toán viên hành nghề tại Việt Nam
vì không mắc phải các rào cản hay suy nghĩ về các biện pháp nhằm tháo gỡ những
khác biệt giữa chuẩn mực quốc tế và chuẩn mực Việt Nam.

Thứ ba, chuẩn mực VSA 200 đã xác lập trách nhiệm chính của kiểm toán
viên trong kiểm toán Báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty
kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành và có phản ánh trung thực và hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu hay không. Ngoài mục tiêu chính trên, việc kiểm toán
Báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại nhằm
khắc phục và nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị mình. Đây đồng
thời cũng là tôn chỉ hoạt động của nghề nghiệp kiểm toán và nằm trong quỹ đạo
các quy định của chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

Thứ tư, chuẩn mực VSA 240 đã đưa ra được các hướng dẫn chi tiết cho kiểm
toán viên trong việc nhận diện gian lận, thủ tục phát hiện gian lận và phản ứng

30
trước các gian lận như: thông báo cho Ban giám đốc, thông báo cho người sử
dụng Báo cáo tài chính, cho các cơ quan có liên quan hay rút khỏi hợp đồng kiểm
toán.

b. Hạn chế

Xuất phát từ thực trạng về gian lận, các quy định trách nhiệm của kiểm toán
viên đối với gian lận và các thủ tục phát hiện gian lận sai sót trong chương trình
của các công ty kiểm toán, còn một số tồn tại trên phương diện vĩ mô và vi mô
như sau:

c. Về các quy định liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên

Thứ nhất, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam chưa được cập nhật
thường xuyên, tốc độ ban hành các chuẩn mực còn chậm. Do không cập nhật
thường xuyên nên một số nội dung các chuẩn mực không theo kịp với sự phát
triển của nền kinh tế. Tính đến nay, Việt Nam đã ban hành ba mươi tám chuẩn
mực kiểm toán thông qua bảy đợt ban hành. Bên cạnh đó còn có Nghị định số
133/2005/NĐ- CP ban hành ngày 31/10/2005 về kiểm toán độc lập, Quyết định
số 87/2005/QĐ- BTC về việc ban hành và công bố chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp kế toán kiểm toán Việt Nam. Về cơ bản, nội dung của những chuẩn mực
này đều dựa vào chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Tuy nhiên, từ khi ban hành đến
nay, các chuẩn mực này chưa lần nào được cập nhật cho phù hợp với sự thay đổi
của chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Vì vậy, một số quy định đã lạc hậu và không
tương thích với sự thay đổi của nền kinh tế.

Thứ hai, chuẩn mực và các quy định hiện hành chưa đặt nặng trách nhiệm
về phát hiện gian lận của kiểm toán viên trong cuộc kiểm toán. Hiện nay, các quy
định liên quan đến trách nhiệm kiểm toán viên là Nghị định số 105/2004/NĐ-CP,
chuẩn mực VSA số 200 và VSA số 240. Tuy nhiên, các quy định trong VSA 200,
VSA 240 chưa đặt nặng trách nhiệm kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận.
Trong khi trong thực tế ngày càng xuất hiện nhiều loại gian lận, lớn về quy mô

31
và phức tạp về tính chất gian lận. Hậu quả là kiểm toán viên không chú trọng vào
việc phát hiện gian lận trong cuộc kiểm toán.

Thứ ba, chưa có các quy định xử phạt nếu kiểm toán viên không hoàn thành
trách nhiệm của mình. Các quy định trong Nghị định 105/2004/NĐ-CP cũng như
các văn bản khác, chưa đề cập đến các khung hình phạt đối với kiểm toán viên và
công ty kiểm toán nếu họ không hoàn tất trách nhiệm nghề nghiệp. Ngoài ra, các
cuộc kiểm tra của Bộ tài chính cũng không chú trọng vào trách nhiệm của kiểm
toán viên đối với gian lận và sai sót. Tất cả các vấn đề nêu trên đã làm cho các
kiểm toán viên không nâng cao trách nhiệm của mình trong phát hiện gian lận.

Thứ tư, chưa có các công trình nghiên cứu để hệ thống hóa các gian lận
nhằm giúp kiểm toán viên có thể áp dụng vào thực tế. Ngoài ra, Hội nghề nghiệp
cũng chưa đưa ra các hướng dẫn chi tiết nhằm giúp kiểm toán viên phát hiện gian
lận. Các thủ tục phát hiện gian lận chưa sử dụng đầy đủ trong cuộc kiểm toán, mà
cụ thể là:

Thủ tục phân tích chưa được áp dụng hiệu quả: Việc phân tích vẫn dừng lại
ở phân tích xu hướng - tức là so sánh số liệu thực tế với số liệu năm trước. Phân
tích mối quan hệ giữa các khoản mục hay phân tích dựa vào các xét đoán của
kiểm toán viên còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, kiểm toán viên gặp rất nhiều khó
khăn khi so sánh tình hình tài chính của công ty với mức trung bình ngành do
thiếu thông tin.

Kiểm toán viên chưa tận dụng được lợi thế của kỹ thuật phỏng vấn: Kỹ thuật
phỏng vấn thường giúp thu thập thông tin hơn là để đưa ra các xét đoán, đặc biệt
khi khách hàng là những công ty có quy mô lớn và cấu trúc tổ chức phức tạp.
Thông thường, tình huống khác nhau sẽ áp dụng câu hỏi khác nhau. Và thông qua
cách trả lời của người được phỏng vấn, kiểm toán viên có thể đưa ra những nhận
định ban đầu về việc có tồn tại hay không gian lận và sai sót

32
Hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng còn có nhiều hạn
chế: Điều này xuất phát từ trình độ và cách thức tổ chức làm việc của nhóm kiểm
toán. Thông thường, mỗi thành viên trong nhóm kiểm toán sẽ được phân công
một phần việc cụ thể trong đó việc thu thập bằng chứng kiểm toán thông qua hai
cách thức: thử nghiệm cơ bản và thử nghiệm kiểm soát. Chỉ có trưởng nhóm kiểm
toán mới tổng hợp lại toàn bộ bức tranh về hệ thống kiểm soát nội bộ. Do vậy
không có phần thảo luận giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán về các rủi ro
phát hiện. Chính điều này đã làm hạn chế rất nhiều tầm nhìn tổng thể của các
kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ

Chưa tiếp cận rủi ro theo rủi ro kinh doanh: Trong thực tế, các công ty kiểm
toán mà đặc biệt là công ty kiểm toán Việt Nam thường tiếp cận theo mô hình rủi
ro tài chính mà không sử dụng mô hình rủi ro kinh doanh. Mô hình rủi ro kinh
doanh yêu cầu cần tìm hiểu chiến lược kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về
môi trường và các điều kiện kinh doanh của khách hàng nhằm thấy được những
thách thức - những cơ hội và qua đây đánh giá về các rủi ro có gian lận. Cách tiếp
cận nàytỏ ra rất hiệu quả khi kiểm toán viên muốn khoanh vùng các gian lận
nhưng nó có mặt hạn chế là lượng thông tin phi tài chính cần cung cấp tương đối
lớn, và nó đòi hỏi kiểm toán viên phải có xét đoán sắc bén. Chính vì vậy, trong
thực tế các công ty kiểm toán Việt Nam ít áp dụng mô hình này.

d. Về phía các công ty kiểm toán

Việc tăng cường trách nhiệm kiểm toán viên phụ thuộc rất lớn vào nhận thức
của các công ty kiểm toán. Thế nhưng thực tế cho thấy, các công ty kiểm toán
không chú trọng nhiều đến vấn đề này mà cụ thể là:

Thứ nhất, các công ty kiểm toán chưa thực sự chú trọng đến các thủ tục
nhằm phát hiện gian lận. Các thử nghiệm chính vẫn tập trung vào sai sót.

Thứ hai, việc kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán chưa nghiêm ngặt,
vì vậy áp dụng chuẩn mực kiểm toán vào quá trình tác nghiệp của kiểm toán viên

33
còn nhiều hạn chế. Thực tế cho thấy kiểm toán viên chưa tuân thủ đầy đủ yêu cầu
chuẩn mực kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Nhiều kiểm toán viên
còn thấy xa lạ với các chuẩn mực kiểm toán, các xét đoán của họ vẫn dựa vào
kinh nghiệm bản thân.

Thứ ba, nguồn nhân lực kiểm toán chưa được đầu tư đúng mức. Ở các công
ty kiểm toán đa quốc gia như PwC, E&Y, KPMG, các kiểm toán viên được làm
việc trong một môi trường chuyên nghiệp và tiếp cận với các chương trình đào
tạo có tầm cỡ quốc tế như tham gia khóa học ACCA của Anh quốc, CPA của Hoa
kỳ…Tuy nhiên tại các công ty kiểm toán Việt Nam, việc đào tạo kiểm toán viên
còn rất hạn chế, số kiểm toán viên được tham gia các chương trình đào tạo tầm
cỡ quốc tế là không nhiều. Do đó trình độ kiểm toán viên không đồng đều giữa
các công ty kiểm toán và đại bộ phận vẫn còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm
kiểm toán. Tất cả những vấn đề trên cho thấy để nâng cao chất lượng dịch vụ
kiểm toán và ý thức trách nhiệm của kiểm toán viên trước gian lận và sai sót, cần
một sự đầu tư rất lớn từ phía các công ty kiểm toán nhằm đảm bảo nguồn nhân
lực đủ mạnh; và từ phía các bộ ban ngành liên quan nhằm tạo một hành lang pháp
lý vững chắc, có tính thực tế cao và là kim chỉ nam cho các kiểm toán viên trong
suốt cuộc kiểm toán.

5. Các khuyến nghị phòng chống sai sót

a. Đối với Công ty cổ phần

Để hạn chế và phát hiện gian lận, trước hết cần xây dựng Hệ thống kiểm soát
nội bộ hữu hiệu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần có nhận thức đúng đắn và đầy đủ
về tầm quan trọng và lợi ích của việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ vững
mạnh. Ngoài ra, để phát hiện gian lận, doanh nghiệp cần sử dụng các biện pháp khác
như là: thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ, hay thiết lập đường dây nóng để thu
nhận các thông tin nhanh chóng nhất.

b. Đối với Kiểm toán viên

34
Cần tăng cường trách nhiệm của kiểm toán đối với gian lận trong kiểm toán
Báo cáo tài chính và đây cũng là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới.
Bởi lẽ xét cho đến cùng, một trong những mục tiêu quan trọng của kết quả kiểm
toán Báo cáo tài chính là phải nhằm góp phần ổn định thị trường chứng khoán,
thông qua việc xác nhận là các Báo cáo tài chính có trung thực và hợp lý hay không.
Nếu mục tiêu này không đạt, sự tồn tại của nghề nghiệp kiểm toán sẽ không còn
cần thiết.

Để giúp kiểm toán phát hiện gian lận, cần có các hướng dẫn chi tiết cho kiểm
toán viên về các nhân tố đưa đến gian lận và các phương pháp thực hiện gian lận.
Muốn vậy, cần hiệu đính chuẩn mực kiểm toán VSA 240 về gian lận. Có thể dựa
trên các công trình nghiên cứu để hiệu đính chuẩn mực kiểm toán VAS 240. Ba
nhân tố chính cần được nêu ra trong chuẩn mực VSA 240 là: áp lực, cơ hội và thái
độ.

c. Đối với nhà đầu tư

Để giảm thiểu rủi ro, nhà đầu tư nào cũng cần có thêm hiểu biết về kinh tế,
tài chính và cả kế toán. Báo cáo của doanh nghiệp cũng cần được theo dõi trong
nhiều thời kỳ và xâu chuỗi, thì mới nhìn thấy được sức khoẻ thực sự của doanh
nghiệp.

Hãy thận trọng với những giải trình về chênh lệch kết quả kinh doanh trước
và sau soát xét cũng như công bố Báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Điều thú
vị là các doanh nghiệp có rất nhiều cách để lý giải về sự chênh lệch này, đây là
những nguy cơ ẩn chứa gia lận rất cao nên nhà đầu tư hết sức thận trọng, cụ thể
nhữ chênh lệch như: chênh lệch tỷ giá, chênh lệch về trích lập dự phòng, chênh
lệch ghi nhận doanh thu, chênh lệch chi phí trích trước, chi phí trả trước và một
số chênh lệch khác.

Hãy thận trọn với những “chiêu” làm đẹp sổ sách của các công ty mẹ, công
ty con. Đó là hiện tượng chuyển vốn lòng vòng từ các công ty họ hàng, công ty

35
mẹ, công ty con... Những thủ thuật để làm đẹp báo cáo tài chính cuối năm của
những doanh nghiệp này gồm: Đẩy nợ cho “con” và “con” nuôi “mẹ”.

Hãy cẩn thận với những doanh nghiệp công bố Báo cáo tài chính không đúng
thời hạn. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy doanh nghiệp thiếu minh bạch, bởi
nếu tình hình kinh doanh diễn ra như thế nào đều được phản ánh vào sổ sách kế
toán và trong báo cáo tài chính, thì việc hoàn thành và công bố sẽ rất nhanh.

d. Đối với quản lý nhà nước

Cần tăng cường xử phạt gian lận Báo cáo tài chính. Bộ Tài chính đã lường
trước tất cả các hành vi vi phạm trong việc lập BCTC có thể xảy ra trong thực tế
và đều quy định mức phạt cụ thể, nhưng tính răn đe không cao. Bộ Tài chính dự
kiến trình Chính phủ nâng mức phạt tối đa đối với vi phạm hành chính trong lĩnh
vực kế toán lên 30 triệu đồng

Bộ tài chính nên tăng cường nhiệm vụ thực hiện kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán độc lập cho Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
Nâng cao tính hiệu lực của quy chế kiểm soát chất lượng từ bên ngoài đối với
hoạt động kiểm toán độc lập. Nâng cao hiệu lực của các quy định đạo đức nghề
nghiệp cho kiểm toán viên độc lập, đồng thời nâng cao tính thực thi của luật Kiểm
toán độc lập.

e. Phương hướng nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên
đối sai sót

Để xác lập phương hướng hoàn thiện, cần chú ý một số đặc điểm của Việt
Nam như sau:

Thứ nhất, cho đến nay Bộ tài chính vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc ban
hành chuẩn mực kiểm toán. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy cho đến nay Bộ Tài chính đóng vai trò chủ
đạo trong việc ban hành chuẩn mực kiểm toán và các quy định. Dù gần đây, Bộ
tài chính đã có quyết định chuyển giao cho hội nghề nghiệp nhưng hoạt động của

36
hội nghề nghiệp vẫn còn yếu cả về mặt số lượng và chất lượng vì vậy Bộ tài chính
vẫn giữ vai trò chủ yếu trong việc ban hành các quy định liên quan kiểm toán.

Thứ hai, sự phát triển của nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam khá nhanh
chóng: Tính đến nay, hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam chỉ mới ra đời trên
năm nhưng đã phát triển nhanh chóng. Số lượng công ty kiểm toán và số lượng
kiểm toán viên không ngừng gia tăng. Từ khi Nghị định 105 được ban hành, số
lượng các đối tượng cần kiểm toán gia tăng đáng kể. Vì vậy, thị trường kiểm toán
ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng

Thứ ba, khoảng cách về trình độ và kinh nghiệm giữa các công ty kiểm toán
Việt Nam và quốc tế là khá lớn. Các công ty kiểm toán hoạt động tại Việt Nam
có Các công ty kiểm toán hàng đầu trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam
đều có thời gian hoạt động lâu đời và khi vào thị trường Việt Nam thường đã có
cáckhách hàng quen thuộc là các công ty do họ kiểm toán ở nước ngoài. Như vậy,
những phân khúc còn lại của thị trường mới thuộc về các công ty kiểm toán
củaViệt Nam. Đó là lý do tại sao công ty kiểm toán Việt Nam chưa có nhiều cơ
hội để trải nghiệm với các nghiệp vụ của kế toán quốc tế và áp dụng các kỹ thuật
kiểm toán hiện đại.

Thực tế còn cho thấy ở các công ty kiểm toán của Việt Nam, việc đầu tư cho
đào tạo và xây dựng chương trình kiểm toán chưa được chú trọng nhiều như ở
các công ty kiểm toán quốc tế. Các công ty kiểm toán quốc tế đã xây dựng chương
trình kiểm toán chung, ví dụ như Deloitte có chương trình kiểm toán Audit
System II. Việc xây dựng các chương trình kiểm toán đòi hỏi rất nhiều chi phí và
đầu tư về nguồn nhân lực, cũng như sự đóng góp của các kiểm toán viên giàu
kinh nghiệm.

Trong khi đó, ở các công ty kiểm toán Việt Nam, tình trạng không xây dựng
một quy trình kiểm toán chuẩn vẫn còn phổ biến. Các công ty kiểm toán Việt
Nam đặc biệt là công ty kiểm toán nhỏ tiến hành cuộc kiểm toán chỉ dựa trên sự
xét đoán của kiểm toán viên. Nhiều công ty kiểm toán sử dụng các sinh viên mới
37
ra trường tham gia vào cuộc kiểm toán và phụ trách những phần hành quan trọng
của khách hàng.

Xuất phát từ các đặc điểm trên, phương hướng nhằm nâng cao trách nhiệm
của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót nên là:

- Bộ tài chính vẫn thực hiện chức năng chủ đạo trong việc ban hành
các chuẩn mực kiểm toán

Trong những năm gần đây, đặc biệt là đầu thế kỷ 21, khuynh hướng chung
trên thế giới là Nhà nước bắt đầu can thiệp sâu vào hoạt động kế toán và kiểm
toán. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy khi Hội nghề nghiệp
không đủ sức để duy trì các hoạt động kiểm toán thì sự can thiệp của Nhà nước
là tất yếu.

Thật vậy, tại một số quốc gia như Pháp và Nhật Bản, do kênh huy động và
tài trợ vốn chủ yếu cho nền kinh tế là từ các ngân hàng hay tổ chức tài chính của
nhà nước nên từ khi ra đời đến nay, hoạt động kiểm toán chịu sự chi phối rất lớn
của nhà nước. Trong khi đó, tại các quốc gia như Hoa kỳ, từ khi ra đời cho đến
đầu thế kỷ 21, hội nghề nghiệp kiểm toán hoạt động rất mạnh và đã kiểm soát chủ
yếu hoạt động kiểm toán. Cho đến năm 2002, Quốc hội Hoa kỳ đã can thiệp sâu
vào hoạt động kiểm toán thông qua việc ban hành đạo luật Sarbanes-Oxley do sự
phá sản của các công ty hàng đầu trong đó có lỗi của các công ty kiểm toán. Tóm
lại, có thể thấy xu hướng nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào hoạt động kiểm
toán là xu hướng phổ biến trên thế giới và nó là xu hướng phát triển của Việt Nam
nhằm bình ổn hoạt động của nền kinh tế trong dài hạn. Chính vì vậy, chúng tôi
cho rằng trong tương lai Bộ Tài chính vẫn nên tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong
hoạt động kiểm toán, trong việc ban hành các quy định pháp lý cũng như ban
hành các chuẩn mực kiểm toán.

- Kiện toàn tổ chức của các hội nghề nghiệp về kế toán và kiểm
toán

38
Nếu như các quy định do nhà nước ban hành thường dựa trên những tiêu
chuẩn tối thiểu và có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý, tức là nếu vi phạm sẽ bị
xử phạt; thì các quy định do hội nghề nghiệp ban hành lại thiên về việc giữ gìn
và nâng cao vị thế của nghề nghiệp đối với xã hội và nếu vi phạm sẽ dẫn đến các
hình thức khai trừ hay kỷ luật hội viên. Khi các tính chất này kết hợp với nhau nó
sẽ tạo ra mối quan hệ hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Vì vậy, kiện toàn tổ chức của
các hội nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán là một nhu cầu cần thiết.

- Luôn cập nhật các chuẩn mực kiểm toán đã được ban hành

Chuẩn mực kiểm toán là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc
và thủ tục kiểm toán làm cơ sở để kiểm toán viên thực hiện công việc và là cơ sở
để kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán. Vì vậy để nâng cao chất lượng hoạt
động kiểm toán, để ổn định và phát triển thị trường chứng khoán thì chuẩn mực
kiểm toán cần được cập nhật liên tục các thay đổi trong xã hội.

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đầu tiên được ban hành vào năm 1999 dựa
trên hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế xây dựng vào năm 1994. Từ đó đến
nay, chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã nhiều lần thay đổi nhưng cho đến nay, chuẩn
mực của Việt Nam vẫn chưa được câp nhật. Chính vì vậy, khá nhiều chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam đã bị lạc hậu không theo kịp sự phát triển của chuẩn mực
quốc tế.

Thậm chí một số chuẩn mực quốc tế đã ban hành nhiều năm mà Việt Nam
vẫn chưa ban hành các chuẩn mực này đơn cử như chuẩn mực kiểm toán ISA 315

Hiểu biết về môi trường hoạt động và đánh giá rủi ro trọng yếu của doanh
nghiệp.

Nếu cho rằng chuẩn mực kiểm toán là các nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ
thì việc không ban hành hay không cập nhật đầy đủ các nội dung trong chuẩn
mực về trách nhiệm của kiểm toán viên sẽ không bắt buộc họ phải tăng cường
các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận và sai sót.

39
- Cần ban hành hướng dẫn chi tiết

Chuẩn mực kiểm toán chỉ là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ, do vậy
để giúp kiểm toán viên hiểu và áp dụng dễ dàng trong thực tế cần có các hướng
dẫn chi tiết. Các quốc gia trên thế giới, bên cạnh chuẩn mực kiểm toán, luôn có
các hướng dẫn chi tiết. Tại Việt Nam, các hướng dẫn chi tiết lại càng cần thiết do
có sự khác biệt đáng kể về trình độ và quy mô giữa các công ty kiểm toán. Nó là
điều kiện giúp các công ty kiểm toán bổ sung trong chương trình kiểm toán cũng
như giúp kiểm toán viên có thể áp dụng chúng vào thực tế.

- Chú trọng hơn về đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngang
tầm khu vực

Con người là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề phát triển nói chung và đặt
biệt trong phát triển ngành kiểm toán. Hai yếu tố quan trọng nhất đánh giá chất
lượng đội ngũ kiểm toán viên đó là: Đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên
môn.

Về trình độ chuyên môn: Thời gian gần đây, Bộ tài chính vẫn duy trì đều
đặn các cuộc thi lấy chứng chỉ kiểm toán viên. Bộ Tài chính đã có nhiều nỗ lực
tạo các liên kết với các tổ chức đào tạo quốc tế như Hội Kế toán Công chứng viên
của Anh quốc (ACCA). Tuy nhiên, chứng chỉ kiểm toán viên của Việt Nam vẫn
chưa được công nhận rộng rãi như chứng chỉ của ACCA, của hội kế toán
Singapore, hội kế toán Australia hay hội kế toán Hoa kỳ. Xét về năng lực cá nhân,
kiểm toán viên của Việt Nam hoàn toàn không thiếu năng lực chuyên môn. Trong
các kỳ thi quốc tế ACCA, Việt Nam luôn có những thí sinh đạt được điểm cao
nằm trong nhóm 10-20 hàng đầu trên trên thế giới. Cá biệt có những kiểm toán
viên (đều từ các công ty kiểm toán quốc tế là PwC và E&Y) đạt điểm thi cao nhất
thế giới. Trong thời gian gần đây, đã có hơn 200 người được cấp chứng chỉ kiểm
toán viên quốc tế trong đó có khoảng 130 người đang đóng góp trực tiếp trong
ngành kiểm toán của nước nhà.

40
Tuy có một số thành tựu đáng khích lệ như trên, nhưng trong thực tế khá
nhiều kiểm toán viên vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn quốc tế. Một trong những
nguyên nhân chính là do rào cản ngôn ngữ. Điều này xuất phát từ công tác đào
tạo ở các trường đại học Việt Nam, việc dạy và học ngoại ngữ chỉ ở một mức độ
cơ bản.

Hơn nữa các công ty kiểm toán Việt Nam thường không chú trọng nhiều
trong khâu đào tạo nhân viên như các công ty kiểm toán quốc tế, cả trong vấn đề
cập nhật - áp dụng các kiến thức mới hay xây dựng - duy trì một môi trường làm
việc chuyên nghiệp.

Chính vì vậy, việc chú trọng trong khâu đào tạo nhân lực là một trong những
giải pháp nâng cao trình độ kiểm toán viên Việt Nam. Nói cách khác, phương
hướng phát triển lâu dài là cần chú trọng đến việc đào tạo kiểm toán viên, nó là
vấn đề sống còn của công ty kiểm toán nói riêng và nghề nghiệp kiểm toán nói
chung.

41
KẾT LUẬN
Trong cuộc sống với bất kỳ lĩnh vực gì, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất kinh
doanh thì vấn đề sai sót là không phải là vấn đề hiếm gặp. Với kiểm toán cũng
vậy, quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những sai sót không phát hiện được và làm
sai lệch. Trong thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa những bên sử dụng đối tượng
được kiểm toán ở kiểm toán viên và những gì kiểm toán viên có thể đáp ứng được.
Để thu hẹp được sự khác biệt này thì kiểm toán viên phải giải thích cho người sử
dụng hiểu được phạm vi và hạn chế của ngành kiểm toán thì phải không ngừng
nâng cao năng lực cá nhân chuyên môn nhằm phát hiện ra được sai sót gây sai
lệch đến vấn đề được kiểm toán.

Trong giai đoạn Việt Nam vừa mới gia nhập WTO - Tổ chức thương mại
Thế giới thì nền kinh tế nước ta đang đứng trước một thách thức mới và ngành
kiểm toán Việt Nam cũng bước vào giai đoạn phát triển vượt bậc với nhiều khó
khăn và cơ hội mới. Các doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu chuyển dần sang cổ
phần hóa, các công ty tư nhân trong nước thì cạnh tranh khốc liệt với các doanh
nghiệp nước ngoài đang đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều cùng thị trường
chứng khoán Việt Nam ngày càng phát triển. Kiểm toán Việt Nam càng phải phát
huy hết vai trò của mình, hạn chế những sai sót không nên có, hỗ trợ đắc lực cho
ngành kinh doanh Việt Nam,tư vấn hữu hiệu trong những ngành khác, đồng thời
giúp cho kinh tế nước nhà ngày càng phát triển, xã hội thêm tốt đẹp.

42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Thúy Hồng (2015), Kiểm toán gian lận:
Dễ hay khó thực hiện, Tạp chí Kế toán và kiểm toán, số tháng 4/215;

2. Tạ Thu Trang (2013), Bàn về các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận trong
lập báo cáo tài chính doanh nghiệp, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 196 (II), tháng
10/2013 trang 57-63;

3. Nguyễn Đăng Huy (2017), Gian lận và sai sót trong kiểm toán Báo cáo
tài chính, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số tháng 6/2017;

4. Cressey D.R., Other people’s money (1953): A study in the social


psychology of embezzlement, Glencoe, IL. Free Press

5. Alleyne, P. & Howard, M. 2005. Nghiên cứu thăm dò về trách nhiệm


của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận tại Barbados. Quản trị kiểm toán
Journal. 20 (3): 284-303.

6. Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán-Kiểm toán, ĐH Kinh tế Tp. Hồ Chí


Minh,
Kiểm Soát Nội Bộ, Nhà xuất bản Phương Đông, 2010.

7. The Association of Certified Fraud Examiners (2004), Report to the


nation occupation fraud and abuse.

8. The Association of Certified Fraud Examiners (2006), Report to the


nation occupation fraud and abuse

9. The Association of Certified Fraud Examiners (2008), Report to the


nation occupation fraud and abuse

43