You are on page 1of 13

BÀI THU HOẠCH: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NHÓM:
Thái Kim Hoàng – BABAIU17068
Mai Đặng Phương Linh – BABAIU17119
Nguyễn Minh Thông – BAFNIU17070
Trần Tô Quế Phương – ITITIU17001
Nguyễn Huỳnh Yến Nhi – BTBCIU17037
Hồng Phúc
NỘI DUNG CHÍNH

1. Vài nét về Bến Nhà Rồng từ xưa đến nay


2. Sơ lược gia đình Hồ Chí Minh
3. Hồ Chí Minh thời niên thiếu (1890 - 1911)
4. Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại
5. Giai đoạn Hồ Chủ tịch qua đời
6. Cảm nhận

1. Vài nét về Bến Nhà Rồng từ xưa đến nay

Vào năm 1863, tại ngã ba sông Sài Gòn và sông Bến Nghé, Pháp đã cho xây dựng
một trụ sử công ty Tàu biển Năm Sao với một đôi rồng lớn bằng đất nung, trám
men xanh, ở giữa đôi rồng đó là chiếc phù điêu mang hình ‘đầu ngựa và chiếc mỏ
neo’ – vật thay thế cho trái châu – một biểu tượng của công ty vận tại. Và sau này,
người dân hay gọi tòa nhà này là Nhà Rồng. Sau đó, tháng 10 năm 1865, cột cờ
Thủ Ngữ treo cờ hiệu với mục đích cho tàu thuyền ra vào dễ dàng hơn đã một phần
tác động đến việc xuất hiện cái tên gọi mới cho nơi đây – sở Canh tân Tàu biển.
Bến Nhà Rồng nổi tiếng và được người đời truyền tai nhau không phải bởi lịch sử
hình thành của nó hay lối kiến trúc kiểu Pháp cổ kính, đó là nơi đánh dấu sự ra đi
của người thanh niên Nguyễn Tất Thành để tìm đường cứu nước. Nếu ngày xưa
Nhà Rồng chỉ được xem là một nơi đơn thuần bán vé cho hành khách lên tàu thì từ
thế kỷ 21 trở đi lại trở thành niềm từ hào của thành phố Hồ Chí Minh.

2. Sơ lược gia đình Hồ Chí Minh

 Thân sinh
o Nguyễn Sinh Sắc
Nguyễn Sinh Sắc (còn gọi là Nguyễn Sinh Huy, người
dân còn gọi là Cụ Phó bảng; 1862 – 1929) là cha của Hồ
Chí Minh. Ông là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà
Hà Thị Hy. Ông lớn lên trong môi trường nho học, dưới
sự dạy dỗ của cụ Hoàng Xuân Đường-là một nhà nho và
cũng là cha vợ của ông. Ông đỗ cử nhân năm 1894 và
Phó bảng năm 1901. Năm 1906, ông được triều đình bổ
nhiệm chức Thừa biện bộ Lễ; năm 1909, ông nhậm chức
Tri huyện Bình Khê tỉnh Bình Định. Làm quan được ít
lâu thì bị triều đình thải hồi vì một "tên cường hào" bị ông bắt giam rồi chết
sau khi thả ra hai tháng. Sau đó ông đi vào miền Nam và sinh sống tại Làng
Hòa An, Cao Lãnh, Đồng Tháp (nay là xã Hòa An, thành phố Cao Lãnh) cho
đến cuối đời.
o Hoàng Thị Loan
Hoàng Thị Loan (1868-1901) là thân mẫu của Hồ Chí
Minh. Bà là con gái của cụ Hoàng Xuân Đường, được
ông gả vào năm 15 tuổi. Sau khi chồng bà là ông Nguyễn
Sinh Sắc đi thi ở Huế, vì túng thiếu tiến bạc nên ngỏ ý
mời bà lên kinh giúp ông học tập, bà đã gởi con gái đầu
lòng của mình lại Nghệ An và cùng chồng vào Huế. Ở
đây bà làm nghề dệt vải để trang trải cuộc sống vật chất
cho gia đình. Năm 1900 sau khi sinh người con thứ tư là
Nguyễn Sinh Nhuận, cộng với sự vất vả khó nhọc trước
đó Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901.
Năm 1922, hài cốt của bà được trưởng nữ Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng
tại vườn nhà mình ở Làng Sen, Kim Liên. Năm 1942, cải táng tại núi Động
Tranh thấp, thuộc dãy núi Đại Huệ. Năm 1985, nhân dân và chính quyền địa
phương xây dựng tại đây một khu lăng mộ dành cho bà

 Các anh chị em


o Nguyễn Thị Thanh
Nguyễn Thị Thanh (1884 - 1954) là người chị cả, có hiệu
khác là Bạch Liên nữ sĩ, bà hoạt động tích cực chống Pháp
dưới ngọn cờ yêu nước của chí sĩ Phan Bội Châu.
Năm 1918 bà Nguyễn Thị Thanh phối hợp với Nguyễn Kiên
tổ chức lấy trộm súng trong doanh trại lính khố xanh đóng
tại thành phố Vinh. Bị phát giác nên Nguyễn Thị Thanh bị
bắt và nhốt vào nhà tù tra tấn dã man. Vào năm 1918, thực
dân Pháp chỉ thị cho quan lại địa phương mở phiên tòa số 80
xử phạt bà Nguyễn Thị Thanh 100 trượng và 9 năm khổ sai.
Ngày 2 tháng 12 năm 1918, Nguyễn Thị Thanh bị đày vào giam tại nhà lao
Quảng Ngãi. Bà Nguyễn Thị Thanh đã giúp Phạm Bá Phổ - Án sát tỉnh Quảng
Ngãi chữa khỏi bệnh cho vợ của ông. Thấy cô Thanh là người thông minh,
Phạm Bá Phổ muốn đưa về nhà riêng làm hành dịch và dạy cho con cái học. Dù
quy chế của thực dân Pháp và triều đình Huế cấm việc đó, nhưng người anh kết
nghĩa của Phạm Bá Phổ là Xô đứng đầu mật thám trung kì đã cho phép Phổ đưa
cô Thanh từ nhà tù về ở trong nhà Phạm Bá Phổ.
Vào năm 1922, Phạm Bá Phổ được triều đình Huế thăng cho Phổ làm tham tri
bộ hình. Bà Nguyễn Thị Thanh cũng đi theo. Ở đây bà đã đem hài cốt của mẹ
mình về cải táng tại Nghệ An.
o Nguyễn Sinh Khiêm
Nguyễn Sinh Khiêm (1888 – 1950) là con thứ hai của trong
gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Ông còn được gọi là Cả Khiêm, tên tự là Tất Đạt. Thời thanh
niên, ông tham gia các hoạt động yêu nước chống thực dân và
phong kiến nên từng bị tù đày nhiều nǎm (một trong số đó là:
tháng 2 năm 1940, ông tạm biệt bà Giáng – vợ của ông về
lại Nghệ An. Sau đó ông lên Vinh tổ chức diễn tuồng Trưng
Nữ Vương do cụ Phan Bội Châu soạn, rồi lại mở lớp dạy võ
cho thanh niên. Năm 1941, ông bị buộc phải trở lại Huế để Pháp dễ bề theo dõi
ông). Do hành nghề thầy thuốc và thầy địa lý, ông còn có biệt danh là "Thầy
Nghệ". Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Giáng (1897-1960) và có với nhau
ba người con nhưng đều chết sớm. Người con duy nhất của hai người, con
riêng của bà Giáng, là Hà Hữu Thừa, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ông qua đời tại Nghệ An vào ngày 9 tháng 11 năm 1950, chỉ gần 1 tháng sau
chiến thắng chiến dịch Biên giới, hưởng thọ 62 tuổi.
o Nguyễn Sinh Nhuận
Nguyễn Sinh Nhuận (1900 - 1901), hay tên khai sinh là Nguyễn Sinh Xin, là
con trai út trong gia đình, sau khi sinh ông, bà Hoàng Thị Loan bệnh nặng và
qua đời. Nguyễn Sinh Xin được gửi về quê ngoại Hoàng Trù để chăm sóc
nhưng vì ốm yếu nên qua đời mấy tháng sau đó. Tên tuổi của Nguyễn Sinh Xin
không được nhắc đến nhiều như 3 anh chị khác trong gia đình.

 Ông bà
o Nguyễn Sinh Nhậm (1827 - 1870) là ông nội của Hồ Chí Minh
o Hà Thị Hy là bà nội của Hồ Chí Minh.
o Hoàng Xuân Đường (sinh 1835 mất năm 1893), người làng Hoàng Trù, là
ông ngoại của Hồ Chí Minh.
o Nguyễn Thị Kép (mất khoảng đầu thế kỷ XX), người làng Hoàng Trù, là bà
ngoại của Hồ Chí Minh.
3. Hồ Chí Minh thời niên thiếu (1890 – 1911)

Chủ tịch Hồ Chí Minh, có tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày
19/05/1890 trong một gia đình nhà Nho yêu nước tại quê hương Nghệ An.
Từ lúc ra đời, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầy tình
thương yêu của gia đình và dòng họ, được lớn lên trong truyền thống tốt đẹp
của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống và
bất khuất trước kẻ thù. Vốn từ nhỏ, Cung đã ham hiểu biết, thích nghe chuyện
và hay hỏi những điều mới lạ, từ các hiện tượng thiên nhiên đến những chuyện
cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1901, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình
chuyển vào Huế lần thứ nhất. Đó là những năm tháng gia đình cụ Nguyễn Sinh
Sắc và bà Hoàng Thị Loan sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn.
Cuối năm 1900, mẹ Người sinh bé Xin trong hoàn cảnh khó khăn túng thiếu
nên lâm bệnh và qua đời. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu cũng theo mẹ. Mới
11 tuổi Nguyễn Sinh Cung đã chịu nỗi đau mất mẹ và em.
Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn Sinh Cung thấy được nhiều điều
mới lạ. Người nhận thấy ở Huế có nhiều lớp người, những người Pháp thống trị
nghênh ngang, hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam triều bệ vệ trong
những chiếc áo gấm, hài nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt rè; còn
phần đông người lao động thì chịu chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là
những người nông dân rách rưới mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu
khuân vác, những người cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang thang
trên đường phố... Những hình ảnh đó đã in sâu vào ký ức của Nguyễn Sinh
Cung.
Khoảng tháng 9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình chuyển về sống ở quê
nội. Khi nhập lễ vào làng, anh được đặt cho tên mới là Nguyễn Tất Thành. Tại
quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo Hoàng
Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân. Các thầy đều là những
người yêu nước. Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàn
luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Từ đó, anh dần dần hiểu
được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan.
Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của người dân địa phương, Nguyễn Tất
Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Đó là nạn
thuế khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng đường trong
tỉnh, làm đường từ Cửa Rào, đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc.
Thành ngày càng thấm thía hơn về những cuộc ra đi không có ngày về, nhân
dân lầm than, ai oán. Trước cảnh thống khổ của nhân dân, anh đã sớm “có chí
đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào”.

Khoảng tháng 9- 1905, Nguyễn Tất Thành được cha xin cho theo học lớp dự bị
(préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh. Chính tại ngôi
trường này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do -
Bình đẳng - Bác ái.
Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen)
tại Trường Quốc học Huế. Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế,
Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của
Trường Quốc học Huế có người Pháp và cả người Việt Nam, cũng có những
người yêu nước như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ ảnh
hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý
muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành
tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Tất
Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn được nghe kể về những hành
động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận
về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành xin vào làm trợ giáo (moniteur) và phụ trách
các hoạt động ngoại khoá của Trường Dục Thanh tại Phan Thiết. Ngoài giờ lên
lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn
Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của
các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ
(Montesquieu). Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh tìm
đường đi ra nước ngoài.
Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Ở Sài Gòn một
thời gian ngắn, Người thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen với những
thanh niên cùng lứa tuổi. Đi đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày,
khổ nhục, chính vì vậy mà ý chí giải phóng dân tộc trong lòng Thành càng thêm
nung nấu. Anh thường hay đến những cửa hàng ở gần cảng Sài Gòn – nay thuộc
bến Nhà Rồng, nơi chuyên nhận giặt là quần áo cho các thủy thủ trên tàu Pháp,
để tìm cách xin việc làm trên tàu, thực hiện ước mơ có những chuyến đi xa.
Vào ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng trên con tàu Đô đốc
Latouche-Tréville lên đường sang Pháp với tên gọi Văn Ba hay anh Ba[1][2] để
học hỏi những điều mà anh cho là "tinh hoa và tiến bộ" từ các nước phương
Tây nhằm thực hiện công cuộc giải phóng Việt Nam khỏi ách thuộc
địa của Thực dân Pháp
4. Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày (19/5/1890) trong một gia đình nhà nho yêu
nước, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến
Người ngay từ thời niên thiếu. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu
sắc, sự nhạy bén về chính trị và Người quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân,
cứu nước.

Tháng 6 năm 1911, Người đi ra nước ngoài suốt 30 năm, Người đã đi đến nước
Pháp và nhiều nước châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ và tìm hiểu những cuộc
cách mạng, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, hoạt động cách mạng và nghiên
cứu các học thuyết cách mạng.

Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế
Cộng sản đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Qua đó, Người đã nhận rõ
đó là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp và hoạt động trong phong trào
công nhân Pháp và Người gửi tới Hội nghị Versailles (Pháp) Bản yêu sách của
nhân dân An Nam, yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do và quyền
bình đẳng của dân tộc Việt Nam .
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố
Tours, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập
Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa

cộng sản.

Năm 1921, tại Pháp, nhằm tuyên truyền cách mạng trong nhân dân các nước
thuộc địa. Người viết nhiều bài đăng trên báo “Người cùng khổ”, “Đời sống thợ
thuyền”, ... Đặc biệt “Bản án chế độ thực dân Pháp” lên án mạnh mẽ chế độ thực
dân, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân các nước thuộc địa

Ngày 30/6/1923, Người đến Liên Xô học tập và nghiên cứu về chủ nghĩa Mác –
Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân
(10/1923), Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân.

Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông), Người triệu tập Hội nghị hợp nhất
các tổ chức cộng sản trong nước, thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ tám, quyết định đường lối đánh Pháp, đuổi Nhật, thành lập Mặt trận Việt
Minh, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Tháng 8 năm 1945, Người cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc
của Đảng và chủ trì Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
nước Việt Nam Dân chủ Cộng.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người tuyên bố trước nhân dân cả nước và
nhân dân thế giới quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Tháng 7 năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định
Géneva được ký kết. Miền Bắc được giải phóng. Miền Nam bị đế quốc Mỹ xâm
lược biến thành thuộc địa kiểu mới của chúng

Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao
động Việt Nam, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương
Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân ta vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miền Nam, thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

5. Giai đoạn Hồ Chủ tịch qua đời

Có con người nào mà tên tuổi và sự nghiệp lại gắn bó với vận mệnh của một đất
nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh. có mấy ai nhận được sự yêu thương quan tâm
của cả nước như Bác. Cũng vì lẽ đó mà sức khoẻ, cư chỉ, lời nói của Bác luôn là
mỗi nỗi quan tâm của rất nhiều người dân Việt Nam, của những người yêu hoà
bình trên thế giới, là những cầu chúc cho Bác mãi mãi mạnh khoẻ, sống lâu, người
sống cũng luôn khao khát Bác trường sinh cùng với dân tộc, với đất nước.
Nhưng sức khoẻ của bác lại ngày càng xấu đi. Vào giữa những năm của thập kỷ
60, cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang ở vào giai đoạn quyết
liệt nhất. Nửa triệu quân Mỹ đã đổ bộ ồ ạt vào miền Nam, tiến hành cuộc chiến
tranh cục bộ tàn khốc nhất trong lịch sử, những người dân vô tội bị giết hại, những
làng mạc trù phú ở miền Nam bị tàn phá đã trở thành nỗi đau nhức nhối thường
xuyên của Bác.
Tháng 5 năm 1967, sau lễ mừng thọ nhân ngày sinh thứ 77 của Bác, Bộ Chính trị
đã triệu tập một cuộc họp bất thường để bàn việc bảo vệ sức khoẻ của Người và
chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác lâu dài sau khi Người qua đời. Cuộc họp do đồng chí
Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì. Hội nghị đã
xác định: vấn đề quan trọng đặt ra lúc này phải đảm bảo hai yêu cầu:

1. Phải tuyệt đối giữ bí mật, nếu không nhân dân sẽ hoang mang lo lắng và
bác sẽ phê bình Bộ Chính trị, không cho phép triển khai thực hiện chủ trương này.
2. Phải chọn một số cán bộ y tế giỏi gửi sang Liên Xô học tập về khoa học
giữ gìn thi hài. Nhân sự cụ thể giao cho Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn.

Bộ Chính trị cũng chỉ định đồng chí Nguyễn Lương Bằng thay mặt cho Trung
ương Đảng trực tiếp theo dõi và chăm sóc sức khoẻ của Bác.
Quyết định trên của Bộ Chính trị là hoàn toàn trái với ý nguyện của Bác. Sau khi
qua đời, Bác chỉ có một nguyện vọng: Hoả táng thi hài Bác, lấy tro đựng vào ba
chiếc bình, đặt trên ba ngọn đồi thấp ở ba miền Bắc, Trung, Nam để đồng bào cả
nước có thể đến với Bác và để Bác mãi mãi được gần gũi với dân, với nước. Bác
còn dặn thêm rằng, trên mỗi ngọn đồi phải được trông thật nhiều cây có bóng mát
và làm nhà để nhân dân có thể ngồi nghỉ mỗi khi lên viếng Bác.
Để công việc được triển khai sớm, Bộ Chính trị quyết định cử đồng chí Lê Thanh
Nghị thay mặt Đảng và Chính phủ ta sang Liên Xô hội đàm đề nghị bạn giúp đỡ,
từ công tác đào tạo cán bộ đến việc gìn giữ lâu dài thi hài Bác. Đảng và Chính phủ
Liên Xô khẳng định ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam không hoàn lại trong việc giữ gìn
lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người.
Nhưng cũng bắt đầu từ đó, trong lòng mỗi người biết tường tận về sức khoẻ của
Bác, bắt đầu xuất hiện một khoảng trống, đó là sự thiếu vắng Bác trong tương lai
mà mỗi người dân, mỗi người lính sẽ phải gánh chịu.
Vào mùa xuân năm 1968, theo lời mời của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, Bác
sang Bắc Kinh nghỉ ngơi và chữa bệnh. Đồng chí Lê Đức Thọ trước khi vào miền
Nam công tác đã sang Bắc Kinh chào Bác. Khi nghe báo cáo về chuyến đi sắp tới,
Bác lại tha thiết đề nghị Bộ Chính trị bố trí để Bác đi miền Nam. Đồng chí Lê Đức
Thọ khéo léo từ chối, Lúc chia tay, Bác đã ôm lấy đồng chí Lê Đức Thọ khóc.
Trong lòng người học trò của Bác hôm ấy và suốt cả chuyến đi, lúc nào cũng canh
cánh một nỗi lo, sợ rằng khi hoàn thành nhiệm vụ trở về có thể sẽ không còn được
gặp Bác nữa.
Sau chuyến đi thăm Quân chủng Phòng không - Không Quân nhân dịp Tết Nguyên
Đến năm 1969 trở về, sức khoẻ của Bác vẫn bình thường, nhưng kiểm tra kỹ điện
tim, các bác sĩ thấy sóng tim đều đảo ngược. Hội đồng bác sĩ chẩn đoán Bác đang
bị nhồi máu cơ tim bước đầu. Trước những dấu hiệu không lành ấy, Bộ Chính trị
quyết định mời các giáo sư và bác sĩ Trung Quốc sang điều trị cho Bác.
Tháng 5 năm 1969, Bác sửa chữa lần cuối bản Di chúc nổi tiếng. Bản Di chúc
này, Bác bắt đầu viết từ mùa hè năm 1965 mà Bác thường gọi là “Tài liệu tuyệt đối
bí mật”. Nó “tuyệt đối bí mật” không phải ở nội dung mà ở chỗ, Bác không muốn
cho mọi người biết Bác đang làm cái công việc cuối cùng của một đời người.

Cũng trong tháng 5 rất đáng ghi nhớ này, các cán bộ cao cấp toàn quân đã đến
thăm và mừng thọ nhân dịp Bác 79 tuổi. Đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp cùng dự trong buổi gặp mặt đầy lưu luyến và xúc động ấy. Bác ngồi
trên chiếc ghế tựa, cảm động nhận hoa và cảm ơn các chú ở quân đội luôn quan
tâm tới sức khoẻ của Bác. Bác bảo các chú đánh thắng giặc là Bác vui, Bác khoẻ ra
nhiều… Giọng Bác ấm áp, quen thuộc nhưng nhỏ và thỉnh thoảng Bác đã phải
dừng lại nghỉ. Các tướng lĩnh ai cũng thầm nghĩ, có lẽ đây là lần cuối cùng họ
được gần Bác, được nghe tiếng nói âm vang đầy trìu mến của Người.
Ngày 13/8, Bác húng hắng ho, bác bị nhiễm lạnh, phế quản bị viêm và khi kiểm tra
thấy bạch cầu tăng so với ngày hôm trước. Các giáo sư và bác sĩ hội chẩn, quyết
định để Bác uống kháng sinh nhưng không đỡ. Ngày 23 phải dùng pê-ni-xi-lin
tiêm cho Bác. Khoảng 9 giờ tối hôm ấy, Bác thấy đau trong lồng ngực. Các bác sĩ
vội đình chỉ tiêm và làm điện cơ tim ngay, thấy rõ rệt có phản ứng nhồi máu cơ tim
thành sau tim. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ lại quyết định tiêm cho Bác.
Đến ngày 28 tháng 8, tim Bác bắt đầu có dấu hiệu loạn nhịp và rối loạn phần
truyền nhĩ thất. Trong những ngày đêm căng thẳng ấy, ngày nào các đồng chí trong
Bộ Chính trị cũng đến thăm Bác và báo cáo với Bác tình hình chiến trường ở hai
miền. Mỗi tin chiến thắng đều làm gương mặt Bác rạng rỡ hẳn lên. Lần nào Bác
cũng nói: “Hôm nay Bác khoẻ hơn hôm qua”. Nhưng thực tế thì ngược lại.
9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9, trái tim Bác ngừng đập. 2 tháng 9, ngày Người đọc
bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng khai sinh ra Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên
ở Đông Nam Á hai mươi bốn năm trước cũng là ngày Người vĩnh biệt chúng ta!
Đây là một sự trùng hợp thật lạ lùng, không sao giải thích được. Để nhân dân có
thể kỷ niệm lễ Quốc khánh thật yên tĩnh, Bộ Chính trị quyết định công bố ngày
mất của Bác lùi lại một ngày: ngày 3 tháng 9.
Năm ấy, trong những ngày để tang Bác, trời đổ mưa tầm tã. Vòm trời Ba Đình như
trĩu nặng một nỗi buồn. Thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. trên các
đường phố ở Thủ đô, trên các làng mạc, những dòng sông và những cánh rừng,
người dân để tang Bác thật giản dị và trang nghiêm. Những giọt nước mắt hoà lẫn
nước mưa chảy mãi như không bao giờ hết trong niềm tiếc thương vô hạn của con
người.
Cũng ngay sau khi nghe tin Bác mất, hàng trăm đoàn đại biểu của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức quốc tế đã xin được đến Việt Nam viếng Bác. Hàng vạn bức điện đã
được gửi tới Trung ương Đảng, Chính phủ ta chia buồn với những lời lẽ đầy
thương tiếc và kính trọng.
Cùng với dân tộc Việt Nam, Bác đã trở thành lẽ sống, thành lương tâm của thời
đại.
Bác đã ra đi và một cuộc đời mới của Bác lại được bắt đầu, được tái sinh trong
lòng mỗi người dân, mỗi người lính.
6. Cảm nhận

Lịch sử được viết lên bởi máu và nước mắt, là bài học quý giá được đánh đổi bằng
sinh mạng của biết bao thế hệ của con người Việt Nam. Lịch sử là cái mà mỗi
chúng ta phải biết trân trọng và lưu giữ. Chắc hẳn trong mỗi chúng ta, khi nhắc đến
những cột mốc lịch sử trên sách vở, những sự kiện xoay quanh.Đâu đó vẫn còn mơ
hồ bởi những con số, những dòng chữ dài ngoằn. Nhưng sau khi đi đến tham quan
Bến Nhà Rồng, trong em lại xuất hiện một cảm xúc khác biệt. Được tiếp xúc với
hình ảnh mô phỏng chân thật, những mô hình, những dòng chú thích cụ thể. Em
mới hiểu được thời đại ngày trước đã diễn ra như thế nào, tinh thần chiến đấu vì
tình yêu quê hương đất nước được lan truyền mạnh mẽ như thế nào. Dường như
những điều đấy đã đi sâu vào trong con người máu đỏ da vàng Việt Nam ta và chưa
bao giờ thay đổi. Bước qua từng dãy phòng của Bến Nhà Rồng, chúng em như
được quan sát lại sự tái hiện lại của thước phim chiếu chậm, tái hiện trọn vẹn cuộc
đời của người anh hùng dân tộc, những người đã dành cả cuộc đời mình vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc.
Với hành trình tìm theo chân bác ngày hôm đó ,đã nhắc nhở chúng em rằng quá
khứ là phần một phần hữu hình của tương lai. Có những chiến sĩ quên thân mình
mới có chúng em được sống, được học tập như ngày hôm nay. Là sức mạnh vững
chắc để thế hệ ngày hôm nay và mai sau có thêm nghị lực để phát huy truyền thống
yêu nước quý báu của dân tộc, để cố gắng đưa nước ta vươn lên sánh vai cùng các
cường quốc khác như lời Bác từng dặn dò, thực hiện tiếp lí tưởng mà Bác và
những người thế hệ đi trước đã bỏ lỡ.