You are on page 1of 114

Xin trở lại vấn đề SONG VIẾT

Nguyễn Tài Cẩn

Tạp chí Văn hóa Nghệ An)

Thứ tư, 02 Tháng 3 2011

1/ Nửa thế kỉ đã trôi qua, nhiều nhà nghiên cứu đã lên tiếng, nhưng hai
chữ SONG VIẾT mãi đến nay vẫn đang còn là 2 chữ X + Y đầy bí ẩn,
chưa được giải mã. Hiện vẫn chưa có được sự nhất trí hai chữ X + Y đó
xưa dùng để ghi kết cấu hay những kết cấu cụ thể nào?

Cách đây 30 năm, trong Văn học số 2.1974 chúng tôi đã đưa ra một giả
thuyết, đề nghị đọc là RÔNG VÁT, với cái nghĩa có thể tóm tắt là VUI
THÚ NGAO DU ("dong chơi, thơ thẩn, nhàn tản, phóng túng"), suy từ
cách hiểu trong từ điển Huỳnh Tịnh Của (HTC). Nhưng nghĩa đó hình
như chưa bao quát được tất cả mọi văn cảnh. Sau 1975 xem được các tài
liệu trong Nam, chúng tôi lại tiếp thu bổ sung thêm một cách hiểu mới
nữa: với nghĩa là TÀI SẢN và với âm đọc đúng như âm mặt chữ là
SONG VIẾT. Nhưng SONG VIẾT không có trong từ điển như RÔNG
VÁT nên quá trình tiếp thu mặt nghĩa của nó cũng phải kèm theo một
quá trình khá dài tìm hiểu lai lịch của mặt âm. Thành thử chỉ gần đây,
trong Ngôn ngữ số 1.2003, chúng tôi mới có thể sơ bộ đề cập đến thế
phân phối bổ túc giữa 2 kết cấu mà chúng tôi đều đồng thời chấp nhận
đó là X1 + Y1 = RÔNG VÁT và X2 + Y2 = SONG VIẾT.
Bài đưa ra đã đượс một số đồng nghiệp để ý đến ngay: Nguyễn Đức
Dương (ởNgôn ngữ & Đời sống, số 7.2003), Cao Xuân Hạo (ở Hồn
Việt tháng 1.2004), Nguyễn Thị Oanh (ở Văn học số 7.2003) và Nguyễn
Quảng Tuân (ở Hồn Việt, tháng 5.2004). Ở bốn đồng nghiệp chúng tôi
thấy ít nhiều đều có một sự phê phán hoặc tối thiểu là một sự nghi ngờ
nào đó đối với điểm này hay điểm nọ trong cách hiểu của chúng tôi.Vì
vậy chúng tôi xin phép được trở lại vấn đề để có thể có thêm một đôi lời
trao đổi lại.

2/ Trước hết xin nói về hai bài có đề xuất cách đọc mới: bài về HÔM
SỚM của Nguyễn Thị Oanh và bài về SONG NHẶT của Nguyễn Quảng
Tuân. Bài của chị Oanh viết rất công phu nhưng không thuyết phục được
chúng tôi vì hai lẽ:

a) Cách đọc HÔM SỚM chỉ có thể tạm chấp nhận được – theo ý chúng
tôi – trong khoảng 10 trường hợp ; trong các trường hợp còn lại, nếu
chấp nhận thì hoặc có sự gượng ép về mặt tứ thơ (như ở 4 bài Ngư, Tiều,
Canh, Mục), hoặc có sự thiếu ăn khớp trong thế biền ngẫu như dùng
HÔM SỚM để đối lại HÔM DAO, HÔM MAI (trùng chữ HÔM !) hay
đối lại ĐÔI CO, NẾT NA khác từ loại !) ;

b) Hơn nữa, đọc SONG VIẾT thành HÔM SỚM là chấp nhận có một sự
sơ ý, sai sót trong tự dạng của cách ghi: không lẽ ở hơn 20 trường hợp
thuộc nhiều tác giả khác nhau lại ở những thời đại khá xa cách nhau mà
hễ cứ đến hai chữ HÔM SỚM là đồng loạt có sự sơ ý ngẫu nhiên viết sai
thành SONG VIẾT, nhất luật sai cùng một kiểu sai như nhau ! Đó là một
điều khó có thể tin được về mặt văn bản học.

3/ Bài anh Tuân có một sự đóng góp rất quí: đó là cung cấp thêm một cứ
liệu mới – bài CỬA ĐẠT của Bùi Xương Tự (1656-1728). Nhưng cách
đọc SONG NHẶT mà Anh chấp nhận vẫn là một cách đọc khó lòng mở
rộng phạm vi ra toàn bộ các văn cảnh được. Nói chung đó là một kết cấu
½ Hán (SONG) ½Nôm (NHẶT) nên đọc lên khó được nhiều người đồng
tình. Vả lại, đó là một kết cấu:
– không thể chuyển loại thành danh từ để có thể đối lại được với
HÔM CHIỀU, HÔM MAI, CỬA NHÀ ;

– không có mô hình của một từ ghép láy nghĩa để có thể đối lại
được với 3 trường hợp trên đây cũng như để đối lại với NẾT NA ;

Thêm vào đó, khả năng chuyển nghĩa của kết cấu tác giả lại mở rộng ra
một cách quá dễ dãi, thiếu một nguyên tắc ngôn ngữ học cần thiết, nên
nhiều khi đã đưa đến những chủ trương khá lạ lùng, như cho rằng từ
nghĩa gốc ĐỀU NHẶT CẢ HAI có thể hiểu thành nghĩa phái sinh là TÀI
SẢN, CỦA CẢI chẳng hạn.

4/ Những điểm anh Tuân phê bình chúng tôi như "phiên Nôm không
chính xác" hoặc "RÔNG VÁT không thể có nhiều nghĩa như đã nghĩ"
cũng đều trái với những tư liệu mà chúng tôi hiện có. Chữ Nôm thường
có nhiều cách viết, lối ghi RONG, RÔNG bằng thanh phù LONG không
phải là lối ghi duy nhất phải chấp nhận: xin xem từ điển N.Q. XỸ & V.V.
Kính chẳng hạn. Ngay cách đọc SONG thành RÔNG mà chúng tôi tán
thành cũng đã được T.V.Kiệm chấp nhận và thu thập vào từ điển. Mà
chấp nhận là phải vì trong các văn bản xưa đã từng có những ví dụ như
thế. Chẳng hạn ở tiếng Hán có thành ngữ TẪN KÊ TY THẦN nói về
chuyện “Gà mái báo tin sáng mai, một chuyện được coi là điềm gỡ"
(Hán Việt Từ Điển – Đ.D.Anh): thành ngữ ấy đã được Chỉ nam ngọc
âm biến thành câu thơ TẪN KÊ GÀ CÁI BÁO RÔNG, với chữ RÔNG
ghi bằng SONG !

5/ Còn cứ liệu chứng thựcvề tính đa nghĩa của kết cấu RÔNG VÁT thì
chúng tôi có hồ sơ như sau:

a) RÔNG còn có 3 biến thể RONG, DÔNG, GIONG ; và VÁT còn


có biến thể VÁC. RÔNG VÁT, RONG VÁT, GIONG VÁC được đưa ra
định nghĩa, như 3 mục từ. Riêng DÔNG VÁT, RÔNG VÁC và 6 lần
RÔNG VÁT còn được dùng để giải thích cả những từ đồng nghĩa khác
nữa.
b) nghĩa của RONG, RÔNG là "xuôi giòng" (gốc Thái là /long/) ;
không phải là RÔNG với nghĩa là "nước lớn". Nghĩa của VÁT là "ngược
gió" (theo HTC là "chạy gió ngược, xiên xiên lá buồm" ; theo Génibrel,
là louvoyer) [1].Vậy VÁT khác với BÁT trong CẠY BÁT, vì khi cho
thuyền ĐI VÁT có thể – tùy lúc – dùng động tác BÁT thuyền sang bên
phải hay dùng cả động tác CẠY thuyền sang bên trái.

c) Nghĩa chính của RÔNG VÁT là "lang thang xuôi ngược". Nghĩa
chính đó đã được HTC diễn đạt là "Đi chỗ này chạy chỗ kia, không yên
một chỗ". Nhưng ngoài ra, RÔNG VÁT còn được coi là đồng nghĩa với
khá nhiều cách hiểu cụ thể và chi tiết khác nữa:

1/ RÔNG VÁT /RÔNG VÁC = dạo chơi, đi rểu, rểu qua rểu lại ;

2/ RÔNG VÁT = chơi nhởi, hứng vui, không làm công chuyện,
theo cuộc vui chơi ;

3/ RÔNG VÁT / DÔNG VÁT = xàng xê, đi bá vơ, bậy bạ, vất mả ;

4/ RÔNG VÁT /DÔNG VÁT = vất vơ, bơ vơ, ngơ ngáo, không ai nhìn
biết tới ; dông dài, rông rổi, lưu linh.

(Tra các chữ DẠO, RỂU, XÀNG, CHƠI, VƠ, DÔNG).

6/ Năm 1974 chúng tôi chỉ phân tích cái ý VUI THÚ NGAO DU thành
các khía cạnh "dong chơi, thơ thẩn, nhàn tản, phóng túng" rồi để cho bạn
đọc tự định đoạt. Năm 2003 chúng tôi bổ sung những điểm điều tra сòn
thiếu sót và vạch ra 3 quá trình đưa từ nghĩa gốc trung tính đến các nghĩa
biểu cảm phái sinh, 3 quá trình đó có thể tóm tắt thành đại để như sau:

– LANG THANG XUÔI NGƯỢC → VUI THÚ NGAO DU ;

– LANG THANG XUÔI NGƯỢC → CHƠI BỜI ĐÀNG ĐIẾM ;

– Và LANG THANG XUÔI NGƯỢC → PHIÊU BẠT VẤT VƯỞNG.


Nhưng trong bài năm 2003, sự giải thích còn vận dụng lối suy luận hơi
chung chung, chưa thật dựa vào những ngữ liệu cụ thể, nên có thể còn có
những chi tiết không đủ rõ hay thiếu chính xác, cần phải điều chỉnh.Vậy
nay xin bám vào từ điển để nói tỉ mỉ hơn về cơ sở ngữ nghĩa của 3
trường hợp phái sinh ấy:

a) Trường hợp 1: RÔNG VÁT tương đương với CHƠI NHỞI mà


CHƠI NHỞI thì lại tương đương với "hứng vui", "không làm công
chuyện", "theo cuộc vui chơi".Vậy RÔNG VÁT có thể hiểu là CHƠI
NHỞI mà cũng có thể hiểu là HỨNG THÚ, VUI THÚ, NHÀN TẢN,
NGAO DU; Và nghĩa đại diện có thể chọn là VUI THÚ ;

b) Trường hợp 2: RÔNG VÁT tương đương với XÀNG XÊ, VẤT
MA, mà VẤT MÃ lại dùng để giải thích cho HOANG ĐÀNG (tra chữ
ĐÀNG). Từ điển Génibrel giải thích XÀNG XÊ là "có những quan hệ
đáng ngờ" (avoir des relations suspectes), VẤT MÃ là "dâm đãng"
(crapuleux), và HOANG ĐÀNG là "hư hỏng, du thủ du thực, lông bông,
phóng túng" (dépravé, débauché, vagabond, libertin) ; vậy nói ĐI RÔNG
VÁT cũng là nói đi đây đi đó, nhưng đi để CHƠI BỜI, ĐÀNG ĐIẾM.
Chữ libertin, từ điển Pháp-Việt của Đ.V.Tập vừa cho nghĩa PHÓNG
ĐÃNG, PHÓNG DẬT, vừa cho thêm nghĩa NGANG TÀNG, PHÓNG
TÚNG: đây cũng là một điểm cần lưu ý.

c) Trường hợp 3: RÔNG VÁT thậm chí cũng сòn có thể có cả nghĩa
là VẤT VƠ VẤT VƯỞNG, PHIÊU BẠT,CƠ CỰC vì RÔNG VÁT
tương đương gián tiếp với VẤT VƠ, và trực tiếp với DÔNG DÀI,
RÔNG RỔI, LƯU LINH, mà ở từ điển tiếng Việt (HP) VẤT VƠ được
coi như VẤT VƯỞNG ; ở từ điển Génibrel, RÔNG RỔI được giảng là
"phiêu bạt, không nhà không cửa, vô gia cư" (errant, sans feu ni lieu) ;
còn ở Tự vị Annam-Latinh DÔNG DÀI được giảng là LANG THANG
và LƯU LINH lại được giảng là CẦU BƠ CẦU BẤT (tra chữ LINH).

Rõ ràng nếu cứ chịu khó theo dõi thật tỉ mỉ các bước định nghĩa theo lối
dây chuyền như trên thì chúng ta sẽ đang còn có thể phát hiện thêm được
khá nhiều sắc thái ý nghĩa khá tế nhị khác nữa (xin xem lại bài năm
1974). Nhưng – như trong bài đó đã có gợi ý sơ qua – nói đến các nhà
thơ xưa mà nói CHƠI BỜI ĐÀNG ĐIẾM thì chắc sẽ có phần không phù
hợp.Vậy trước mắt chỉ xin giữ lại 2 nghĩa để đưa vào trắc nghiệm ở các
văn cảnh cụ thể: đó là 2 nghĩa RÔNG VÁT = VUI THÚ ; và RÔNG
VÁT = VẤT VƯỞNG.

7/ Hai bài của hai anh Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dương thì lại đặt ra
một yêu cầu khác hẳn: đó là dùng phương pháp kiểm tra bằng văn cảnh,
xét xem thử kết cấu RÔNG VÁT và kết cấu SONG VIẾT bên nào hợp
với văn cảnh nào, trong số hơn 20 câu hiện biết.

Anh Cao Xuân Hạo có phê bình một lối diễn đạt thiếu chính xác của
chúng tôi và nêu lập luận rằng trong văn chương, lặp lại 3 lần một ý- hay
một từ – như nhấn đi nhấn lại CỦA CẢI …CỦA CẢI…CỦA CẢI là một
điều hoàn toàn có thể chấp nhận được. Quả đúng như vậy, nếu chỉ nghĩ
đơn thuần đến mặt khả năng lí thuyết ! Nhưng ở mấy câu thơ của
bài Tiều (và bài Canh) dưới đây, chúng tôi vẫn tin rằng không có chuyện
lặp lại đó. Xin so sánh 4 đoạn mở đầu bốn bài Ngư, Tiều, Canh, Mục
trong Thơ văn Lê Thánh Tôn (Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1986:

1- NGƯ :

Một con thuyền mọn một thằng chài

THONG THẢ (LƠ LẢNG ) nào hay tháng tiểu đài

2- TIỀU :

DỌC NGANG ( NGHÊNH NGANG) dặm liễu một con rìu

X + Y ai bằng X + Y tiều

Một góc (đôi bó) yên hà là CỦA CẢI

3- CANH :

Một cày, một cuốc phận đà đành

X + Y ai bằng X + Y canh
4- MỤC :

Năm ba bầu bạn (đồng tử) họp nhau CHƠI

Riêng THÚ yên hà mặc THẢNH THƠI

(Nội cỏ rừng đào được THÚ VUI )

Bốn bài tạo thành một hệ thống: xưa cả 4 bài thường đặt dưới một cái
tên đề mục chung là đề mục TỨ THÚ. Và hai câu mở đầu của mỗi bài
thường có nhiệm vụ phải đề cập xa gần đến đề mục TỨ THÚ đó.

Nếu cho kết cấu X + Y ở bài Tiều, bài Canh là SONG VIẾT ( =
TÀI SẢN ) thì phá vỡ hệ thống vì không còn ăn khớp với đề mục chung
và với hai bài Ngư, Mục. Trái lại nếu cho X + Y là RÔNG VÁT (=
VUI THÚ ) thì tình hình sẽ khác hẳn: các từ ngữ THONG THẢ
(LƠ LÃNG) ở bài 1 và CHƠI, THÚ …THẢNH THƠI (hoặc ĐƯỢC
THÚ VUI) ở bài 4 hoàn toàn phù hợp với RÔNG VÁT trong hai câu
thừa bài 2, bài 3. Và cả 4 câu thừa cũng hoàn toàn phù hợp với đề mục
TỨ THÚ. Thêm vào đó, mấy chữ DỌC NGANG
(NGHÊNH NGANG) trong câu 1 bài Tiều lại càng ăn khớp hơn nữa với
cái tứ VUI THÚ NGAO DU của câu 2.

Về sau các quan đại thần có đặt thêm một bài NGƯ và một bài MỤC có
thừa đề bắt chước theo đúng 2 bài Tiều, Canh của L.T.Tôn: ở 2 bài mới
thêm này chắc hẳn X + Y cũng phải có nghĩa là VUI THÚ. Lại còn 3 bài
họa nữa về đề mục NGƯ và 1bài về Hằng nga nguyệt cũng dùng kết cấu
X + Y: chắc các quan muốn vui lòng vua nên dùng lại 2 chữ RÔNG
VÁT mà vua hiểu là VUI THÚ đó (Hồng Đức Q.Â.T.T.).

8/ Trắc nghiệm bằng cách đặt nghĩa của từ vào văn cảnh để xét là một
thủ thuật khá quen thuộc. Thủ thuật đó khá thuận tiện và khá khách
quan. Nhưng phải cân nhắc thật cẩn thận, nhất là trong vấn đề của chúng
ta. Anh Cao Xuân Hạo chọn một bên là SONG VIẾT cùng 2 nghĩa của
nó là TƯ NGHIỆP, TÀI SẢN và một bên là RÔNG VÁT kèm thêm 2
nghĩa CHƠI NHỞI, CƠ CỰC và đem chúng thay vào kết cấu X + Y
trong 20 câu để xem thử thế nào? Bề ngoài trông rất khách quan vì
không thiên vị bên nào! Nhưng xét kĩ thực tế thì thấy có điều chưa thực
ổn, chúng ta cần phải cải tiến lại cách trắc nghiệm vừa nói đó. SONG
VIẾT đơn giản, chọn 2 nghĩa là thừa ; RÔNG VÁT đa nghĩa chọn 2
nghĩa là thiếu! Mà trong nghiên cứu phải xét đủ các nghĩa có thể có! Vả
lại, nếu muốn chọn hai nghĩa đại diện cho RÔNG VÁT thì, như đã nói,
chọn VUI THÚ và VẤT VUỞNG chắc có phần hợp lí hơn nhiều!
Vậy nay xin cải tiến bảng trắc nghiệm của anh thành bảng trắc nghiệm
như sau để bạn đọc cân nhắc chọn lựa:

1a/ − VUI THÚ ai bằng VUI THÚ tiều (L.Th.Tông)

b/− TÀI SẢN ai bằng TÀI SẢN tiều

2a/− VUI THÚ ai bằng VUI THÚ canh (L.Th.Tông)

b/− TÀI SẢN ai bằng TÀI SẢN canh

3a/− VUI THÚ ai bằng VUI THÚ ngư (Hồng Đức)

b/− TÀI SẢN ai bằng TÀI SẢN ngư

4a/− VUI THÚ ai bằng VUI THÚ mục (H. Đức)

b/− TÀI SẢN ai bằng TÀI SẢN mục

5a/ − Bốn mùa VUI THÚ một thuyền chài (H. Đức)

b/− Bốn mùa TÀI SẢN một thuyền chài

6a/− Phong nguyệt ít nhiều VUI THÚ đủ (H. Đức)

b/− Phong nguyệt ít nhiều TÀI SẢN đủ

7a/− Ngư hà VUI THÚ ngày hằng đủ (H. Đức)

b/− Ngư hà TÀI SẢN ngày hằng đủ


8a/− Năm hồ những lấylàm VUI THÚ (H. Đức)

b/− Năm hồ những lấy làm TÀI SẢN

9a/− VUI THÚ huống còn non nước cũ (Nguyễn Trãi)

b/− TÀI SẢN huống còn non nước cũ

10a/- VUI THÚ có nhiều, dân có khó (Ng.Trãi)

b/- TÀI SẢN có nhiều dân có khó

11a/- VUI THÚ lại toan nào của tích (Ng.Trãi)

b/- TÀI SẢN lại toan nào của tích

12a/- VUI THÚ bao nhiêu mặc bấy nhiêu (Ng. Trãi)

b/- TÀI SẢN bao nhiêu mặc bấy nhiêu

13a/- Đèn sách nhàn làm VUI THÚ Nho (Ng. Trãi)

b/- Đèn sách nhàn làm TÀI SẢN Nho

14a/- VUI THÚ hằng lề phiến sách cũ (Ng. Trãi)

b/- TÀI SẢN hằng lề phiến sách cũ

15a/- Khách đến hỏi nào VUI THÚ nữa (Nguyễn B. Khiêm)

b/- Khách đến hỏi nào TÀI SẢN nữa

16a/- VUI THÚ hãy còn hai rặng quít (Ng.B. Khiêm)

b/- TÀI SẢN hãy còn hai rặng quít

17a/− VẤT VƯỞNG chớ rằng đã ngặt (Ng.B. Khiêm )

b/− TÀI SẢN chớ rằng đã ngặt


18a/− Mựa hiềm VẤT VƯỞNG nhà còn ngặt (Ng. Trãi)

b/− Mựa hiềm TÀI SẢN nhà còn ngặt

19a/− Con cháu chớ hiềm VẤT VƯỞNG tiện (Ng.Trãi)

b/− Con cháu chớ hiềm TÀI SẢN tiện

20a/− Con cháu mựa hiềm VẤT VƯỞNG ngặt (Ng.Trãi)

b/− Con cháu mựa hiềm TÀI SẢN ngặt

9/ Khi làm trắc nghiệm anh Cao Xuân. Hạo để cho độc giả tự rút kết
luận ; Anh Nguyễn Đức Dương thì có nêu ý kiến riêng của mình. Anh
Dương nghiêng về SONG VIẾT nhưng cũng đồng ý rằng quả có những
trường hợp đáng nghi ngờ. Thế là rõ: phải chấp nhận đồng thời cả 2 kết
cấu, dầu giữa hai bên có sự phân phối bổ túc theo tỷ lệ như thế nào:
1/19, 2/18 hay 10/10 v.v. Theo ý chúng tôi không thể chỉ đưa ra cân nhắc
một cách sơ sài giữa SONG VIẾT và RÔNG VÁT mà còn cần phải cân
nhắc một cách thật tỉ mỉ giữa tất cả các nghĩa của RÔNG VÁT nữa!
Có thế chúng ta mới mong có ngày có thể hiểu đúng được các câu thơ
hiện đang tồn nghi. Khi cân nhắc nhất định phải nghĩ đến mặt ngữ pháp.
Nhưng nên nhớ rằng ngữ pháp trong thơ, nhất là trong thơ cổ, không
phải bao giờ cũng nhất định phải hoàn toàn giống như ngữ pháp chúng
ta chấp nhận hiện nay. Ranh giới giữa các từ loại rất uyển chuyển, các vị
từ như VUI THÚ, NHÀN TẢN, PHÓNG KHOÁNG v.v. rất dễ dàng
danh từ hóa. Cú pháp trong thơ rất thường linh động, vượt ra ngoài
khuôn mẫu quen thuộc, có thế mới cho phép Nguyễn Du viết được
những câu hơi lạ như MỘT HAI NGHIÊNG NƯỚC NGHIÊNG thành
hoặc ĐÃ không DUYÊN TRƯỚC CHĂNG THÀ! Ở địa hạt từ tổ cũng
vậy: Huy Cận không chọn CAO CHÓT VÓT, SÂU THĂM THẲM như
thường lệ mà chọn SÂU CHÓT VÓT!

Thêm một điều nữa là phải lưu ý đến tứ thơ chung: xét một từ phải nghĩ
đến toàn câu, nghĩ đến toàn bài, thậm chí có khi còn cần phải nghĩ đến
toàn cụm những bài cùng chung một đề mục. Cùng một từ tổ TA VỚI
TA nhưng nghĩa của nó có thể thay đổi khi đi từ văn cảnh này sang văn
cảnh khác, so sánh:

Một mảnh tình riêng TA VỚI TA

và: Bác đến chơi đây TA VỚI TA

Anh C.X. Hạo có ngạc nhiên vì sao chúng tôi hiểu câu của Cụ Nguyễn
Hằng X+ Y AI BẰNG X+Y TA hơi khác với những câu thừa đề cùng mô
hình trong 4 bài NGƯ, TIỀU,

CANH, MỤC. Xin thưa: vì chúng tôi xét đến toàn bài, thấy tinh thần
bài của Cụ Nguyễn Hằng có khác 4 bài TỨ THÚ. Dầu chọn X+Y là TÀI
SẢN, CỦA CẢI, TƯ NGHIỆP (=SONG VIẾT) hay là VUI THÚ, VẤT
VƯỞNG, PHÓNG KHOÁNG (=RÔNG VÁT) thì bài của Cụ Nguyễn
Hằng vẫn có khía cạnh tự hào một cách trào lộng, hay tự trào một
cách đầy tự hào, nghĩa là vừa tự trào vừa tự hào: tự trào về chuyện một
vị 39 tuổi đỗ đăng khoa mà tiếp đãi khách khứa một cách quá đạm bạc,
nhưng tự trào về điều đó là cũng để đồng thời tự hào về cái cá tính rất
ngang tàng, rất phóng khoáng của mình !

10/ Sau khi đã trao đổi đôi điều với các đồng nghiệp như trên, chúng tôi
xin phép được đi đến một vài nhận xét chung. Theo ý chúng tôi, kết quả
nghiên cứu 50 năm vừa qua đủ để cho thấy:

a) Chuyện chép sai có thể chấp nhận được nhưng chép sai bao giờ
cũng là những chuyện sơ ý có tính cách ngẫu nhiên, cá biệt, câu sai kiểu
này, câu sai kiểu nọ. Còn nếu cho rằng đã có một sự chép sai đồng loạt,
trước cũng như sau, ở tác giả này cũng như ở tác giả nọ, thì đó là một
giả thuyết khó đứng vững được về mặt văn bản học. Lẽ nào ở những nhà
thơ khác nhau, sáng tác có khi cách nhau mấy thế kỉ, mà hễ cứ đến
những từ ngữ như nhau thì lại cứ lặp đi lặp lại cùng những sự sơ ý viết
sai như nhau, không có một lí do nhất quán nào để biện hộ.

b) Trường hợp cho là viết đúng, thì ai cũng thấy là phải gắng tìm cho kì
được những kết cấu X +Y thoả mãn đầy đủ mấy điều kiện như sau:
– Về mặt gốc tích, X+Y phải là loại kết cấu cổ, hiện không còn trong
bộ nhớ của người hiện đại nữa, vì vậy mới có hiện tượng xưa nay không
ai hiểu SONG VIẾT là gì. Cứ ngồi vắt óc cố tìm cho ra một giải pháp có
thể rõ nghĩa ngay được, đó là một sai lầm ;

– Về mặt cách đọc (phụ âm, vần, thanh điệu), X phải suy ra được từ
SONG và Y phải suy ra được từ VIẾT, theo qui luật ngữ âm lịch sử ;

– Về mặt từ loại, X + Y phải là danh từ có thể vị từ hóa, hoặc là vị từ


có thể danh từ hóa. Việc vừa phải đối lại HÔM CHIỀU, HÔM MAI,
CỬA NHÀ vừa phải đối lại ĐÔI CO, NẾT NA đòi hỏi như thế.

– Về mặt cấu tạo từ, X + Y phải là từ ghép láy nghĩa hoặc là từ ghép
láy âm để có thể đối lại được các trường hợp vừa dẫn.

– Và về mặt ngữ nghĩa, X + Y phải có nội dung thật ăn khớp với cái
tứ chung toát ra từ trong toàn thể các câu, các bài.

c) Hướng đi đại để là như vậy. Nhưng mãi đến nay vẫn chưa ai tìm ra
một kết cấu nào phù hợp hoàn toàn được với mọi văn cảnh! Có thể suy
ra: SONG VIẾT chắc là 2 chữ dùng không phải để ghi chỉ một kết cấu.
Với các văn cảnh hiện có chúng tôi tạm thời mới nghĩ đến giả thuyết có
2 kết cấu X1 + Y1 và X2 + Y2… Nếu nay mai có thêm những văn cảnh
không ăn khớp nữa thì lại phải cần tìm đến cả X3 + Y3, X4 + Y4..v.v.

Chúng tôi hiện chọn: X1 + Y1 = RÔNG VÁT ; X2 + Y2 = SONG VIẾT.


Kết cấu SONG VIẾT (= TÀI SẢN) có ngoại diên rất rộng nên có thể
phù hợp với rất nhiều câu. Kết cấu RÔNG VÁT lại có nhiều nghĩa
(=VUI THÚ, NGAO DU, PHÓNG KHOÁNG, VẤT VƯỞNG …) nên
nó cũng có thể ăn khớp với rất nhiều văn cảnh.

d) Tình hình đó đưa đến thực tế như sau:

– Сó những văn cảnh dứt khoát chỉ ăn khớp được với một kết cấu,
như câu Nôm trong kinh Phật thuyết… (chỉ ăn khớp với nghĩa SONG
VIẾT, nếu đó đúng là 2 chữ SONG VIẾT) hay câu trong bài cụ Đỗ Xuân
Đàm đã phát hiện được (chỉ ăn khớp với RÔNG VÁT) ;
– Nhưng, như đã thấy, cũng rõ ràng là trong bảng 20 câu trên đây
đang còn có một sự nhập nhằng, hình như về mặt ngôn ngữ, ngả về phía
kết cấu nào cũng tạm được ;

– Vậy nổi lên một vấn đề: đứng ở mặt nghiên cứu thơ ca mà xét,
thực ra nên chọn như thế nào?

● Ở câu nào nên chọn SONG VIẾT, ở câu nào nên chọn RÔNG VÁT ?

● Và nếu là trường hợp RÔNG VÁT thì lại phải tìm hiểu tiếp ở câu
nào nên chọn nghĩa nào: ở câu nào VUI THÚ? ở câu nào PHÓNG
KHOÁNG? ở câu nào VẤT VƯỞNG? v.v. và v.v.

đ) Chúng tôi trước nay đều thiên về RÔNG VÁT trong tuyệt đại đa số
trường hợp, vì cho rằng đó là một kết cấu đã được xác nhận trong từ
điển (HTC) và kết cấu đó có 2 nghĩa VUI THÚ hay VẤT VƯỞNG hợp
với tứ thơ hơn cả, nhưng sợ rằng chúng tôi còn chủ quan, chưa đủ nhạy
cảm trong thưởng thức văn học. Mong rằng đông đảo bạn đọc, nhất là
các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ chịu khó suy ngẫm thật kĩ càng
về các câu thơ hiện đang còn nghi vấn, cố gắng vận dụng tất cả sự tinh tế
của mình trong nghệ thuật phân tích, để cuối cùng có thể đi đến được
những câu trả lời thích đáng nhất trong vấn đề tìm hiểu các bài thơ cổ
điển này.

Chú thích

[1] Tuy HTC định nghĩa VÁT = "chạy gió ngược, xiên xiên lá buồm
(ghe thuyền)" nhưng chúng tôi vẫn ngờ rằng nghĩa gốc của VÁT là
"xiên, chéo, không thẳng" (Việt Nam từ điển, Khai trí). Vì khi đi ngược
gió thuyền phải CHẠY VÁT (= chạy chéo xiên), nên VÁT mới được
hiểu thêm là "chạy gió ngược". Riêng nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh
cho biết ở đôi vùng Sông Mã, khi cho thuyền đi chéo để ngược dòng
nước, người ta cũng nói cả CHÈO VÁT
Âm và nghĩa của hai chữ "song viết"双曰.

AN CHI

Chúng tôi cho rằng trong các câu thơ cổ, âm của hai chữ "song viết" 双
曰 là sông vát. Đây là âm xưa của hai chữ 生活 mà âm Hán Việt hiện
đại là sinh hoạt.

Chữ 双 đọc thành sông là điều đã được thừa nhận về mặt lý thuyết tại
mục 2.a trong bài Thử tìm cách đọc Nôm hai chữ «song viết» của
Nguyễn Tài Cẩn (Tạp chí Văn học, số 2-1974, tr.77-93).

Còn chữ 曰 thì đã được chính Nguyễn Tài Cẩn đọc thành vát (nhưng
hiểu theo nghĩa khác). Vả lại, viết 曰 đọc thành vát là chuyện bình
thường (Ss: niết bàn = nát bàn; kiếthung = cát hung, v.v.).

Trở lên là nói về cách đọc. Bây giờ xin nói về mối quan hệ sông vát ~
sinh hoạt.
Về trường hợp sông ~ sinh, xin lưu ý rằng sinh chỉ là âm hậu khởi
vì 生 vốn là một chữ thuộc vận bộ canh 庚 nên âm Hán Việt gốc của nó
phải là sanh. Vậy sông ~ sinh ở đây thực chất là sông ~ sanh. Mà sông ~
sanh thì cũng giống như:

– bộng (một loại nồi đất, miệng to) ~ bạnh 甏 (bình to bằng sành);

– bộng (chỗ rỗng trong lòng gỗ) ~ bạnh 窉 (cái lỗ);

– mồng (trong mồng một, mồng năm, v.v.) ~ mạnh 孟 (trong mạnh xuân,
mạnh nguyệt, v.v.);

– mống (trong không còn một mống) ~ manh 氓 (trong manh dân);

– mống (trong mầm mống) ~ manh 萌 (mầm);

– mống (trong khôn sống mống chết) ~ manh 盲 (ngu tối);

– phồng (trong căng phồng) ~ bành 澎 (trong bành trướng); v.v.

Sông trong sông vát đã trở thành một từ cổ nhưng nó có một điệp thức
rất thông dụng hiện nay là sống. Sự tồn tại của hai điệp
thức sông và sống ở đây không phải là điều khó giải thích vì trong vận
thư thì chính chữ 生 cũng có hai hình thức thiết âm với hai thanh điệu
tương ứng. Trong Quảng vận, ở phần bình thanh, thiết âm của nó là «sở
canh thiết» (= sanh) còn ở phần khứ thanh thì thiết âm của nó là «sở
cánh (→ kính) thiết» (= sánh).
Về trường hợp vát ~ hoạt thì trước hết xin nói rằng vát trong sông
vát cũng chính là vát trong tháo vát, đều có liên quan về từ nguyên với
chữ hoạt 活 mà nghĩa gốc là sống, rồi nghĩa phái sinh là nhanh nhẹn,
sinh động, v.v.. vát ~ hoạt thì cũng giống như:

– và (kết từ) ~ hoà 和;

– vạ (trong tai vạ) ~ hoạ 禍;

– vá (trong chó vá) ~ hoa 花 (vá là cái đốm, giống như «đoá» hoa);

– vả (trong nhờ vả) ~ hoá 化 (đi ăn xin);

– van (trong van nài) ~ hoán 喚 (trong hô hoán);

– vàng ~ hoàng 黄;

– vạch (trong vạch ngang) ~ hoạch 劃 ; v.v..

Tóm lại, âm của hai chữ Nôm 双曰 là sông vát và đây là âm xưa của hai
chữ Hán 生活 , mà âm Hán Việt hiện đại là sinh hoạt (cũng như goá
bụa là âm xưa của quả phụ; thiêng liêng, của tinh linh 精靈; thơ ngây,
của si ngai 癡獃, v.v.).

Vì là âm xưa của hai tiếng sinh hoạt nên nghĩa của sông vát tất nhiên
cũng là nghĩa của hai tiếng trên đây. Đó là: sự hoạt động; đời sống, cuộc
sống; cuộc đời; cảnh ngộ, hoàn cảnh; kế sinh nhai, nghề mưu sinh (Xin
x. các nghĩa này tại mục «sinh hoạt» và các mục hữu quan trong Từ
nguyên, Từ hải, v.v.).

Các nghĩa này thực sự phù hợp từng nghĩa một với từng câu thơ tương
ứng có hai chữ 双曰 và với chủ đề của từng bài thơ hữu quan
trong Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập (đời Lê
Thánh Tông), Bạch Vân am quốc ngữ thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm) và
trong một số câu lẻ tẻ khác.

Nếu muốn «hiện đại hoá» mà thay sông vát bằng sinh hoạt thì những
câu thơ đó tất nhiên vẫn thông nghĩa, thậm chí có khi còn... dễ hiểu hơn.

Ngay cả đối với 4 trường hợp mà Nguyễn Tài Cẩn cho là «xem ra cần
phải có cân nhắc biện luận» (ông đọc 双曰 ở đây thành rông vát và hiểu
là «dong chơi thơ thẩn, ung dung nhàn tản, phóng túng»), nếu thay
«rông vát» bằng «sinh hoạt» thì ý thơ, theo chúng tôi, xem ra vẫn thông
hơn:

– Sinh hoạt chớ rằng đã ngặt

Đến đâu thời cũng có xuân phong.

– Mựa hiềm sinh hoạt nhà còn ngặt

Tích đức cho con ấy mới mầu.


– Con cháu chớ hiềm sinh hoạt tiện

Thi thư thực ấy báu nghìn đời.

– Con cháu mựa hiềm sinh hoạt ngặt

Nghìn đầu cam quít ấy là tôi.

Dĩ nhiên là để phục hồi âm xưa, nhất là để đọc đúng âm của hai chữ 双
曰 thì hai tiếng «sinh hoạt» trong 4 trường hợp trên đây phải được thay
bằng hai tiếng «sông vát» (Và dĩ nhiên là cũng không thể không kể đến
các trường hợp mà hai chữ này phải được đọc khác và hiểu khác).

Tuy hai tiếng sông vát chưa hề được ghi nhận ở bất cứ nơi nào và ở tác
giả nào nhưng ta hoàn toàn có thể kiểm chứng các nghĩa của nó với âm
Hán Việt hiện đại là sinh hoạt và ta có:

– Sông vát1 = sinh hoạt1 = (ngữ danh từ) I. 1. sự hoạt động; 2. đời sống,
cuộc sống, cuộc đời, sinh hoạt; 3. nếp sống; 4. cảnh ngộ, hoàn cảnh; 5.
kế sinh nhai, nghề mưu sinh. II. 1. sản phẩm, vật dụng; 2. của cải, tài
sản, vốn liếng.

– Sông vát2 = sinh hoạt2 = (ngữ vị từ) 1. hoạt động; 2. sinh sống; 3. ăn
ở, cư xử.
Về nghĩa II của sông vát1, xin nói rõ rằng sinh hoạt (sông vát) còn có
một nghĩa đặc biệt đáng chú ý nữa là: «sản phẩm», «vật dụng», như có
thể thấy, chẳng hạn, trong Nguyên điển chương, Thuỷ hử, v.v. (x. Cổ đại
Hán ngữ từ điển của Tổ biên tập Cổ đại Hán ngữ từ điển, Bắc Kinh,
1998, tr.1393, hoặc Từ hải, bản tu đính 1989, in lần thứ 4, Thượng Hải,
1997, tr.1944; v.v.)

Nghĩa này, kết hợp với các nghĩa trên kia dễ dàng cho phép ta suy ra cái
nghĩa của «của cải/tư nghiệp», vốn chỉ là một cái nghĩa phái sinh hoàn
toàn tự nhiên; của cải/tư nghiệp, suy đến cùng, chẳng qua là những «sản
phẩm», «vật dụng» mà người ta tích luỹ được trong quá trình «hoạt
động mưu sinh» (kể cả hành động chiếm đoạt và lừa đảo).

Bây giờ chúng tôi thử ứng dụng cách đọc, và nhất là cách hiểu của
chúng tôi vào bốn câu trong bốn bài số 59, 60, 61, 62 của «Phong cảnh
môn» trong Hồng Đức quốc âm thi tập.

Trong bốn câu đó thì đây là sông vát1 dùng với nghĩa I.2.. Thay vì sông
vát, dưới đây chúng tôi sẽ điền cái nghĩa đó (= cuộc sống) vào cho dễ
thấy vấn đề và dễ thẩm định đúng sai:

– Cuộc sống ai bằng cuộc sống ngư;

– Cuộc sống ai bằng cuộc sống tiều;

– Cuộc sống ai bằng cuộc sống canh;


– Cuộc sống ai bằng cuộc sống mục;

Liên quan đến bốn câu trên, tác giả của thuyết rông vát cho rằng ở đây
các nhân vật ngư, tiều, canh, mục «tự hào là tự hào về cái ‘vui thú’ trong
cuộc sống của các vị».

Lý do của ông là:

– Đề mục chung cho cả loạt bài được gọi là đề mục tứ thú (bốn thú).

– Khi các vị kể cho nhau nghe về mỗi người thì bài thơ đặt tên là Tứ thú
tương thoại (= Bốn thú cùng nhau trò chuyện).

– Trong các bài xướng hoạ, nhiều dị bản có chữ thú trong hai câu mở
đầu, nhất là ở câu 2.

– Nhưng, gút lại lạc thú của bốn vị dật dân, cao sĩ thường gắn bó với
thiên nhiên này là gì? Đó là thú nhàn cư. (Xin x. Nguyễn Tài Cẩn, «Lại
bàn thêm về hai chữ song viết», Ngôn ngữ, số 1 (164) – 2003, tr.5).

Khi gút lại vấn đề, tác giả đã tạo cho chúng tôi một chỗ dựa quan trọng.
Cuối lập luận của mình, ông đã đưa chữ thú xuống hàng thứ yếu mà đài
hai chữ nhàn cư lên. Thú thì có nhiều thứ thú nhưng ở đây lại là thú
nhàn cư. Mà trong hai tiếng nhàn cư thì chính chữ cư mới là trung
tâm. Nhàn thì có nhiều thứ nhàn: nhàn bộ, nhàn du, nhàn đàm, nhàn
sự, v.v. Còn ở đây thì lại là nhàn cư. Nhàn cư là sống rảnh rang, rỗi việc,
là sống một mình, là sống trong cảnh hưu trí; tóm lại, có thể nói đó là
cuộc sống «tự do, phóng khoáng, hoàn toàn thoát khỏi mọi vòng câu
thúc», đúng như Nguyễn Tài Cẩn đã viết (Bđd, tr.1). Một cuộc sống như
thế, thử hỏi có cuộc sống của hạng người nào khác có thể sánh được?

Sông vát ai bằng sông vát ngư ?

Sông vát ai bằng sông vát tiều?

Sông vát ai bằng sông vát canh?

Sông vát ai bằng sông vát mục?

Rõ ràng «song viết» trong bốn câu thơ đang xét có nghĩa là «cuộc sống»,
«đời sống», «sinh hoạt», v.v., mà chúng tôi đã đọc thành sông vát.

Ưu thế của cách đọc và cách hiểu này là ở chỗ ngữ danh từ song vát còn
có thể chuyển đổi từ loại thành ngữ vị từ và các nghĩa trong chuỗi ngữ
nghĩa của hai cấu trúc, một danh từ tính và một vị từ tính này, có thể
thay thế cho nhau để lấp đầy một cách đủ sức thuyết phục những khoảng
trống ngữ nghĩa do hai chữ «song viết» đảm nhiệm.

Hai tiếng rong vát cùng với chuỗi ngữ nghĩa mà Nguyễn Tài Cẩn đã nêu
thì không đủ sức thuyết phục nhưng cách đọc «song viết» cùng với nghĩa
«tài sản/tư nghiệp» thì lại không thể ứng vào mọi trường hợp mà không
trở thành gượng ép, chẳng hạn trong hai câu đề của bài 58 trong QÂTT.

Huống chi ngay cả cách đọc thành «song viết», như đã nói, vẫn đang
còn là một điều nghi vấn. Chúng tôi mạo muội cho rằng ở đây mà đọc
thành sông vát1 với nghĩa I.3 thì sẽ thích hợp hơn:

Buồng văn khép cửa lọn ngày thu,

Đèn sách nhàn làm nếp sống nhu (nho).

Hai chữ «song viết» được «đóng khung» trong cái cảnh «suốt ngày thu
nhà thơ đóng cửa để hưởng nhàn bằng thú đèn sách» có lẽ phải là để nói
lên chuyện nếp sống thì mới đúng hơn là chuyện «của cải».

Ngay cả ở hai câu luận của bài «Phong cảnh môn» số 54 trong
HĐQÂTT mà có ý kiến cho là «trường hợp đầu tiên cho thấy giả
thiết rông vát thắng thế» thì «sông vát» có vẻ như cũng có thể được điền
vào để góp phần «xử lý» cách hiểu hợp lý cho hai chữ «song viết»:

«Ngư hà sông vát2 ngày hằng đủ,

Bạng duật đôi co thế ngại dòm.»


có thể được hiểu là:

(Ngư ông cho rằng mình) sinh sống hằng ngày bằng con cá con tôm
đánh bắt được đã là đủ lắm rối;

Còn chuyện trai cò đôi co thì lại là cái «thế» (nghĩa là cái nếp sống tranh
giành) mà ngư ông không quan tâm («ngại dòm»).

***

Với tất cả các nghĩa trên đây, ta có thể kiểm chứng và thấy rằng sông
vát là:

– gia cảnh trong các bài 10, 13, 49 của Quốc âm thi tập và bài 122
của Bạch Vân quốc ngữ thi;

– cuộc sống trong các bài 18, 59 của QÂTT, bài 113 của BVQNT, các
bài 54, 59, 60, 61, 62, 63 thuộc «Phong cảnh môn» của Hồng Đức quốc
âm thi tập;

– của cải trong các bài 113, 156, 164 của QÂTT, các bài 35, 47 của
BVQNT, bài 32 thuộc «Thiên địa môn» và bài 64 thuộc «Phong cảnh
môn» của HĐQÂTT.

Nhưng dù là nghĩa nào thì cái nghĩa này cũng nằm trong cùng một hệ
nghĩa của một đơn vị từ vựng duy nhất là sông vát.
Đơn vị này có thể chuyển loại thành vị từ với các nghĩa: hoạt động; sinh
sống; ăn ở; cư xử; v.v. (sinh hoạt trong tiếng Hán cổ đại và hiện đại cũng
chuyển loại như thế).
MỘT CÁCH ĐỌC VÀ HIỂU KHÁC VỀ TỪ “SONG VIẾT”

NGÔ ĐỨC THỌ


PGS.TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Đã trên 40 năm công bố Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi với hai bản phiên
âm của ba nhà nghiên cứu danh tiếng Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm và Đào
Duy Anh. Và cũng đã hơn ¼ thế kỷ đã trôi qua kể từ khi có cuộc thảo luận về hai
chữ “Song viết” mở đầu bằng bài viết của thầy học của tôi là Giáo sư Nguyễn Tài
Cẩn. Tiếp theo có đến hơn hai chục bài viết của các tác giả đăng trên Tạp chí Văn
học, Tạp chí Ngôn ngữ, Báo Văn nghệ v.v.. Lược thuật lại lập luận của từng tác giả
về vấn đề này là một việc lý thú, nhưng dù ngắn gọn cũng phải mất vài trang (nên
ở đây tôi xin phép lướt qua).
Cuộc tranh luận hào hứng đó, với vài chục cách đọc cách hiểu khác nhau về
từ “song viết” thật rất hào hứng và bổ ích. Nhưng cùng với thời gian trôi qua, mọi
người dường như cũng phải tạm chấp nhận một sự thực là hình như vẫn chưa có
đáp án nào được chấp nhận rộng rãi(1).
Sau một thời gian khá dài, gần đây lại mới có bài của Ngô Đăng Lợi quay lại
vấn đề này. Tác giả bài ấy dẫn thêm được một văn bản là cuốn “Chiêm nam nữ kết
hôn…” mà trong đó một câu có từ “song viết” (mà tác giả đọc là “song nhật”). Tiếc
vì tác giả không cung cấp một bản chụp photocopy, nên không thể nghĩ bàn gì
được, vì đây là một vấn đề cần phải có văn bản cụ thể. Còn kết luận nghĩa song
viết là “tài sản, của cải, đầy tớ” thì có lẽ không phải mới vì trước đây đã có người
nêu lên. Ngô Đăng Lợi cũng có điểm qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu
trước đây, nhưng không thấy nêu bài của Lê Hữu Mục mà chính đó là tác giả đã có
bài lập luận “song viết = “của cải” đã đăng trên TC Văn học trước đây. Nhưng đó
không phải là vấn đề chính trong bài viết của tôi.
Bản thân tôi cũng có lập một hồ sơ về hai chữ “song viết”, và phải nói là hơn
hai chục năm qua mỗi khi đầu óc thư thái đôi chút lại không thôi suy nghĩ về nó.
Trước hết, có một chi tiết về văn bản xin nêu thêm cho rõ:
- Trước nay mọi người quan tâm vấn đề “Song viết thường cho rằng chữ đó 8
lần xuất hiện QÂTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm, 7 lần trong Hồng Đức quốc âm thi
tập, 1 lần trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn.
Để đề phòng tình trạng tranh luận mà thoát ly văn bản, tôi đã khảo kỹ văn bản
và thấy vấn đề không hoàn toàn như vậy:
- Trong QÂTT đúng là chữ 双 8 câu)
- Hồng Đức quốc âm thi tập, viết 2 cách: 雙 và 双.
Nhưng trong BVQNTT của Nguyễn Bỉnh Khiêm (3 lần) và trong Thập giới
cô hồn thì viết khác: @ Cả 4 chữ (trong 2 văn bản) này, người chép đều rất viết nắn
nót chừng như để cho người đọc nhận ra chữ bát @(2) chứ không phải song 双 .
Lấy QÂTT bản in duy nhất hiện còn lưu tàng ở Thư viện Viện Hán Nôm để xem
lại, tái khẳng định QÂTT đều viết 双 chứ không phải @. Nhưng ở một câu có chữ
“song viết”, có ai đó đã viết lơ lửng lên lề trắng phía trên một chữ 筆 (bút)”. Tôi
nhận thấy chủ nhân củ của cuốn sách (nếu tôi không lầm thì đó là cụ Nhàn Vân
Đình, Trần Duy Vôn) hiểu “song viết” và cả “bát viết” đều là “bút viết”. Nhưng có
vấn đề gì đó chưa ổn vì tự dạng của chữ “bút” và chữ “song” hoàn toàn khác nhau,
mà nếu đúng muốn nói “bút viết” thì tại sao không dùng ngay chữ “bút” có sẵn,
cần gì phải mượn chữ “bát” vừa không đúng chữ vừa không đúng âm? Còn một
khả năng thứ hai là người chép thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không hiểu chữ “song
viết”, đoán là “bút viết” nên cố ý chép thật rõ chữ “bát” (đọc Nôm là “bút”).
Điều đó chưa trực tiếp giải đáp vào chữ “song viết”, nhưng tôi được củng cố
thêm suy nghĩ về trường ngữ nghĩa đại thể của “song viết” là nói công việc viết
lách văn chương.
Viết là động tác viết chữ như cách hiểu xưa nay. Tại đây cũng cần nói qua:
chữ “viết trong Hán văn cổ của Trung Quốc nghĩa là nói (Tử viết, nghĩa là Khổng
Tử nói), chứ không có nghĩa là viết chữ (mà Hán văn phải dùng chữ “thư 書”).
Nhưng vì lời nói của thánh hiền đạo Nho là nói bằng văn tự, chứ không phải lời
nói thông thường như người cùng thời, cho nên sang Việt Nam, chữ viết chuyển
nghĩa thành động tác viết chữ. Sắc thái chuyển nghĩa này có từ rất xưa, nhưng tôi
chỉ mới tìm được chứng cớ từ thế kỷ XV qua văn bản Đại báo phụ mẫu ân trọng
kinh:
- Đệ tử nhược muốn trả được ơn ấy thì vì chưng áng nạ viết lục kinh này, vì
chưng áng nạ đọc niệm kinh này (28b)
- Hay vì áng nạ, chịu gìn giữ, đọc niệm, viết lục một câu kinh phụ mẫu ân
trọng đại thừa (38b)
Hai câu đó cho thấy chữ viết được hiểu là viết chữ đúng như ta hiểu ngày nay,
có điều là dùng chữ “biệt 別” để ghi âm “viết” mà đương thời chắc chắn là đọc
bằng phụ âm Bv (@).
Cũng có thể dẫn thêm cứ liệu trong CNNÂ (tr.kỉ XVII):
Khải trát 楷 扎: viết chữ tốt thay (Văn tự bộ, 43b)
Xin trở lại với ý kiến của GS Nguyễn Tài Cẩn trước đây: Mặc dầu đáp án
“song viết”, đọc là rong vát hoặc rông vát, với nghĩa là “đi rong vát, đi vất vưởng,
đi bá vơ” v.v.. của thầy dường như chưa được công luận thừa nhận, mà gần đây
cũng chưa chắc thầy còn giữ ý kiến này, nhưng những chứng minh ngữ âm lịch sử
trong bài viết đó thì rất có giá trị. Tuy từ viết > vát tôi chưa dám tin hẳn là đúng,
nhưng ngay từ khi bài của thầy được công bố(3) tôi đã nhận thấy là thầy đã đúng
được một chữ : Song > Rông.
Ngoài những cứ liệu mà sau hơn 25 năm tôi sẽ dẫn ra dưới đây, ngay trong bài
viết của mình, GS Nguyễn Tài Cẩn đã bổ sung vào chú thích mấy cứ liệu trích
từ Chỉ nam ngọc âm:
- Tẫn kê gà cái báo rông (53a).
- Đêm khuya kêu gở miệng đà dữ rông (54a)
Có thể do bị thu hút bởi 2 mục từ: “đi rông vát, đi rong rổi” trong Từ điển của
P.Của mà GS Nguyễn đã hiểu nghĩa Rông thiên về sự đi. Dưới đây là tìm kiếm
thêm của tôi về chữ Rông:
- Ô trì 污 池: là giữa lòng ao,
Lưới xích chăng vào, cá đuối nhiều rông (4a)(4).
- Thúc phụ 叔 父: là chú lành rông,
- Thúc mẫu 叔 母 là thím một lòng chính chuyên (7a)(5).
- Lễ tháp @ @ thuyền buôn cả rông (27a)(6)
- Cảnh chẩm 警 枕: cái gối tốt rông (39a)
Thống kê trên đây có thể còn thiếu vài câu nữa, nhưng chừng đó cũng tạm đủ
để cho trực giác của tôi nhận ra đằng sau chữ tất cả những chữ rông đó có một chữ
Hán là chữ “hung 凶”. Những chứng cứ để củng cố cho suy đoán của tôi là ở chỗ
ta có thể nhận ra cách nói cổ xưa đó cũng chính là cách nói ngày nay ta quen dùng:
- Nhiều rông = nhiều hung, nhiều dữ! (= rất nhiều!).
- Lành rông = rất lành, lành hung! (= rất tốt lành)
- Cả rông = lớn hung, lớn dữ! (= rất lớn)
- Tốt rông = tốt lắm, tốt dữ, tốt ghê! (= rất tốt!)
- Dữ rông = rất hung dữ (xấu, ác), dữ ghê! (= rất dữ), v.v..
Hung @ trong tiếng Hán có 6 nghĩa:
(1) Ác (hung ác, hung bạo) (2) Gây sát thương, hai người (hung thủ) (3) Mất
mùa đói kém (hung niên) (4) Không thuận lợi, không tốt (cát hung) (5) Sợ hãi (6)
Tranh cãi, tranh luận kịch liệt.
Trừ nghĩa (6) ít gặp ít dùng, còn 5 nghĩa trên đều quen thuộc với chúng ta.
Điều đáng lưu ý là trong đó không có nghĩa nào chỉ mức độ như cách nói “tốt
hung” “nhiều hung”, “lớn hung” như trong tiếng Việt (cả xưa và nay). Điều đó cho
thấy chữ hung khi nhập tịch tiếng Việt đã có thêm một sắc thái ngữ nghĩa mới: chỉ
một sự khác thường, kỳ lạ. Đúng là một sự việc gì khác thường, quá mức bình
thường thì theo tư duy của người cổ đều không phải là một sự tốt lành: nhiều hung
là nhiều một cách dữ dội, dữ tợn, đáng sợ, dễ sợ (nay cũng vẫn nói thế). Chuyển
nghĩa ban đầu có lẽ là như thế, nhưng lâu dần quen dùng, dùng nhiều thì chuyển
hóa không còn thực nghĩa là dữ, sợ nữa, mà chuyển hóa thành một tính từ làm
trạng ngữ chỉ mức độ đặc biệt: (nhiều, tốt, lớn) hung/ghê/dữ.
Cách dùng từ hung như trên từ Bình - Trị - Thiên trở vào cho đến hiện nay
vẫn là phổ biến. Bài hát Tiếng đàn Ta lư của Huy Thục có câu: “Các anh đánh hay
hung!”(7). Miền Bắc thường dùng từ “ghê”, nhưng nếu nói hung, dữ, dễ sợ cũng
không kém thông dụng.
Ý kiến trên đây của tôi như vậy đồng nghĩa với việc đã chứng minh Rông là
một từ Cổ Hán Việt (hoặc Tiền Hán Việt) của Hung. Hung @, theo nhà cổ âm học
Lý Phương Quế (Trung Quốc) âm thượng cổ là [hjung](8). Từ hj > R là có khả
năng lý thuyết(9).
Trên đây tôi đã nói đến cả âm và nghĩa của Rông.
Các câu trong CNNÂ: nhiều rông, lành rông, cả rông (đã dẫn) tức là có cấu
trúc tính từ vị ngữ. Còn trong Rông viết lại là một cấu trúc khác: rông + (động từ)
viết. Như vậy rông là một phó từ làm trạng ngữ để chỉ trạng thái: viết như thế nào?
Viết rất hung dữ = viết rất nhiều, viết lung tung, viết làm thàm v.v..
Như vậy cụm từ Rông viết đặt theo cấu trúc Trạng - Động: rông + viết
Cấu trúc này ngay cả thời Nguyễn Trãi cũng thấy dùng rất ít, nhưng nó vẫn
hiện diện cả trong tiếng Việt hiện nay, như cả cười, cả giận v.v.. Còn trong thơ
Nguyễn Trãi thì có những cụm từ có cấu trúc này:
- Chèo lan nhàn bát thuở tà dương (bài 42)
- Trái thì trai vượn nhọc đơm (bài 64)
- Sự nghiệp nhàn khoe phú Tử hư (bài 36)
- Đem mình non nước nhàn qua tuổi (bài 143)
Và cả 1 trường hợp còn dính ngay trong câu đang nghiên cứu: “Đèn
sách nhàn làm song viết nho”. Đã ít dùng (hiếm) nên có ¾ câu dẫn trên dùng với
chữ nhàn, có vẻ đơn điệu. Tuy vậy cũng đủ cho thấy thời Nguyễn Trãi vẫn có dùng
cấu trúc này trong thơ văn.
Đến đây chúng ta đã có thể thấy: Song viết, đọc là rông viết, nghĩa là viết một
cách nhiều, rông dài, lung tung. Đây là cách nói khiêm tốn mà văn nhân xưa vẫn
thường dùng, tự làm giảm giá trị cao quý việc viết lách của mình đi, tỏ ý tự cười
mình về nghiệp văn chương, cho là không có gì lớn lao ghê gớm v.v.. Trong đời
thường nếu có ai đó hỏi một nhà văn nhà thơ: “Ông đang viết gì đấy?”, thì có khi
nhà văn ấy sẽ thân mật đáp: “Mình viết lông rông thôi, viết thàm thàm, bậy bậy,
viết lung tung thôi!”.
Đấy cũng chính là ứng với một câu trong BVTT:
- Khách đến hỏi: “Nào rông viết?” (Ông đang viết lông rông gì đấy?) Nhớ
rằng còn một túi thơ đeo! (bài 38/39a)
Cũng rất đúng với câu trong Thập giới cô hồn:
- Rông viết liền tay, gương lờ non ánh (55b)
Cũng rất đúng với các câu trong HĐQÂTT:
- Rông viết ai bằng rông viết ngư = Viết lông rông, viết lung tung chi bằng
viết lông rông về ngư (người đánh cá) (ai bằng = chi bằng)
- Rông viết ai bằng rông viết tiều = Viết lông rông, viết tung tung chi bằng
viết lông rông về tiều (người hái củi) v.v..
Lại đến hai câu tiếp trong BVQNTT:
- Rông viết chưa rằng đã hổ = Viết lông rông, viết lung tung chưa chắc đã
phải xấu hổ! (bài 334/8a).
- Rông viết hãy còn hai rặng quýt = Tôi viết lông rông viết lung tung đấy,
nhưng không sao cả, nhà còn hai rặng quýt! (bài 51/12a)
Bây giờ kháp vào với cả 8 câu trong QÂTT của Nguyễn Trãi:
1. Con cháu chớ hiềm rông viết ngặt = Con cháu đừng lo vì theo đòi văn
chương viết lách lông rông mà gia cảnh nghèo ngặt: Thi thư thực ấy báu ngàn đời!
(bài 10)
2. Con cháu mựa hiềm rông viết tiện = Con cháu tụi bay chớ lo (tôi, ta) viết
lách văn chương lông rông mà thân phận phải hèn kém (tiện), vẫn sang lắm: nghìn
đầu cam quýt ấy là tôi (là bề tôi, tôi tớ của ta đấy! (bài 13)
3. Rông viết hằng lề phiến sách cũ = Viết lông rông, viết lung tung đấy, nhưng
vẫn là trong phép thường của thi thư cả! (không thể giàu được đâu, nhưng) Hôm
dao đủ bữa bát cơm xoa! (bài 18)
4. Rông viết lại toan nào của tích = Viết lông rông viết tung tung mà lại toan
có của cải tích trữ ư? (nhiều của cải) (bài 49).
5. Đèn sách nhàn làm rông viết nho = Theo nghiệp sách đèn làm anh nhà nho
viết lách lông rông thôi! (bài 58)
6. Một yên một sách một con lều, Rông viết bao nhiêu mặc bấy nhiêu = Một
chiếc bàn một cuốn sách, cứ thoải mái viết lông rông thôi, viết nhiều ít đều không
quan tâm (hoặc: không quản ngại gì)! (bài 164)
Hai câu trong bài 143 và 156 cũng với nghĩa như trên, nhưng liên hệ trừu
tượng hơn một chút:
7. Rông viết có nhiều dân có khó (bài 143)
Bài này bên trên đã có ý than phiền về sự “quân thần chẳng phải duyên”, nói
vào bản thân: nào viết biểu dâng sớ điều trần, can gián v.v.. đã nhiều mà rốt cuộc
thì cuộc sống của người dân vẫn khốn khó, không cải thiện được gì.
8. Rông viết huống còn non nước cũ = Mình cứ viết lách rông dài như thế,
nhưng mà còn non nước cũ thì ra sao đây? (bài 156)
Nói tóm gọn: Rông viết là cách nói của nhà văn khiêm tốn tự hạ thấp giá trị để
nói về công việc cầm bút sáng tác văn chương của mình, sắc thái tu từ tuy có khác
nhưng ý nghĩa thì y hệt như cách nói: “Lời quê góp nhặt rông dài” của tác giả
Truyện Kiều.
Mặc dầu tôi tự tin ở kiến giải của mình, nhưng vấn đề “song viết” này đặc biệt
hóc hiểm, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đã đem ra các cách giải thích khác nhau.
Tôi hứng thú theo dõi ngẫm nghĩ chuyện này đã lâu, lo để lâu quên lãng, ghi lại ý
kiến như trên để thảo luận về một vấn đề hứng thú chắc vẫn còn được những người
nghiên cứu thơ văn Nguyễn Trãi quan tâm.
Chú thích:
1. Bằng chứng là trong lần xuất bản mới đây nhất của QÂTT, các câu có từ
“song viết” vẫn phải để nguyên âm như cách lần xuất bản đầu tiên đã làm.
Xem: Nguyễn Trãi toàn tập. Tân biên. Nxb Văn học và Trung tâm Quốc học xb.
2000, T.3.
2. Chữ @ âm Hán Việt đọc là Bát (QV: 北 末 切 , 人 , 末 韵 帮) có nghĩa là
hai chân giang rộng có dáng sắp bước đi, không dùng độc lập, chỉ dùng làm bộ thủ
(bộ Bát) để tạo chữ.
3. Tạp chí Văn học số 2 -1974
4. Ô có 2 cách đọc: Ô (ai đô thiết) và Hộ (Hậu cổ thiết), Trần Xuân Ngọc Lan
phiên là Hộ, cũng đúng. Nhưng @ 赤 phiên là “lưới khít”; cá @ phiên là “cá giải”
(?) thì có lẽ không đúng.
5. Lành rông: TXN Lan phiên là “lành song” (để nguyên), không thây giải thích
gì.
6. Cả rông, TXNL để nguyên “cả song”, không thấy giải thích.
7. Anh Mai Xuân Hải nhắc cho bổ sung dẫn chứng này. Chân thành cám ơn.
8. Xem: Lý Phương Quế, Thượng cổ âm nghiên cứu, Thương vụ ấn thư quán,
Bắc kinh, 1998, tr.72.
9. GS Nguyễn Tài Cẩn khi xét về lai nguyên của R trong tiếng Việt tuy không
trực tiếp nhưng cũng đã nói đến một phụ âm (hr) khi nói về lai nguyên của
tửu/rượu (x. Giáo trình Lịch sử tiếng Việt. Nxb. Giáo dục, 1995, tr.297).

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.484-494


“SONG VIẾT” HAY “RONG VÁT”?

Nguyễn Đức Dương

http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/song-viet-hay-rong-vt/

Đọc hai bài của GS Nguyễn Tài Cẩn và nhà ngữ học Cao Xuân Hạo trên
tạp chí Ngôn ngữ(số 1 và số 6/2003), trong óc tôi nảy ra một loạt ý nghĩ
thú vị. Những ý nghĩ đó cứ lởn vởn mãi trong tâm trí, không chịu buông
tha. Để đỡ bị ám ảnh, tôi thành thực muốn đem ra chia sẻ cùng các đồng
nghiệp với hy vọng việc mình làm sẽ gợi lên trong trí những ai nặng
lòng với tiếng Việt những cảm nhận minh xác hơn và gần sự thật hơn,
nếu những ý kiến mình đưa ra không đến nỗi vô bổ.
Trước hết, tôi nhận thấy hai bài trên đều có chung một điểm: cả hai tác
giả đều bỏ ngỏ vấn đề, không đi đến một kết luận dứt khoát. Hình như
hai ông muốn nhường cái quyền ấy cho người đọc. Riêng tôi, tôi không
tin là hai vị đó hoàn toàn thực tâm khi làm thế: tôi mơ hồ cảm thấy rằng
GS Nguyễn Tài Cẩn trong thâm tâm vẫn tin chắc rằng thuyết RONG
VÁT của mình là duy nhất đúng; còn PGS Cao Xuân Hạo cũng tin rằng
thuyết TÀI SẢN/CỦA CẢI của ông là duy nhất đúng, mặc dầu cả hai
đều thừa nhận SONG VIẾT [viết tắt là SV] còn có thể có nhiều cách đọc
và cách hiểu khác nữa, như PGS Vương Lộc từng nêu trong cuốn Từ
điển từ cổ của ông.
Tuy biết mình tuyệt nhiên không có chút tư cách nào để làm trọng tài, tôi
cũng xin góp một tiếng nói rất nhỏ trong số những tiếng nói có thể, để
góp phần làm sáng tỏ thêm đôi chỗ trong vấn đề hiện chưa ngã ngũ này.
Đầu tiên, tôi xin chia sẻ quan niệm của số đông các nhà khảo cứu: dù có
diễn đạt nghĩa gì chăng nữa, dù có thể hiểu theo một cách duy nhất hay
nhiều cách, hai chữ SV bao giờ cũng phải phù hợp với cái văn cảnh
trong đó nó xuất hiện, tức phải có “tính khả dung”. Và, do thế, cách
kiểm nghiệm tối ưu vẫn là thử xét xem trong các văn bản hữu quan, nó
có làm cho câu trở nên sai ngữ pháp hoặc vô nghĩa hay không.
Những ngữ liệu mà nhà ngữ học Cao Xuân Hạo lấy từ Nguyễn Trãi toàn
tập tân biên để trắc nghiệm thiết tưởng cũng đã đủ cho thấy điều đó.
Tiếc thay, một đôi từ ngữ và câu cú được ông trích dẫn theo Nguyễn Trãi
toàn tập tân biên hình như chưa quen thuộc lắm với cảm thức nhiều
người đọc. Bởi vậy, để tiện kiểm nghiệm, tôi xin sử dụng lại mấy chục
câu được PGS Vương Lộc dẫn ra trong công trình vừa nhắc và tiến hành
công việc dự tính bằng chính những câu này[1].
Bây giờ tôi xin bắt tay vào việc.
1. Trong câu [1], Con cháu chớ hiềm SV ngặt, Thi thư thực ấy báu nghìn
đời (Quốc âm thi tập[QÂTT], b.10), SV đi với NGẶT. Bởi vậy, SV có
nhiều khả năng là một ngữ đoạn danh từ [dt.] (với cái nghĩa là TÀI
SẢN/CỦA CẢI, chẳng hạn), chứ rất khó lòng là một ngữ đoạn vị từ [vt.]
với nghĩa THƠ THẨN/DONG CHƠI, v.v. Nói khác đi, trong văn cảnh
đang bàn, SV “có tính khả dung” cao hơn RONG VÁT nhiều, và nghĩa
của câu thơ đang xét có thể được diễn giải như là: ‘Con cháu chớ có e
ngại tài sản [nhà ta] nghèo’.
2. Những gì vừa nói về câu [1] rõ ràng cũng có thể dùng để nói về câu
[2], Con cháu mựa hiềm SV ngặt, Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi (QÂTT,
b.13), vì nghĩa của MỰA và của CHỚ vốn gần nhau.
3. SV dùng trong câu [3], SV hằng lề phiến sách cũ, Hôm dao đủ bữa
bát cơm xoa (QÂTT, b.18), rõ ràng cũng là một ngữ dt. vì ngữ đoạn đi
liền sau nó là PHIẾN SÁCH CŨ. Hơn nữa, nếu HẰNG LỀ và ĐỦ BỮA,
PHIẾN SÁCH CŨ và BÁT CƠM XOA là những cặp đối rất mực cân
xứng thì SV và HÔM DAO cũng phải là một cặp đối như thế, một khi
không muốn cho câu thơ bị lâm vào thế “chông chênh”. Mà HÔM DAO
đã là một ngữ dt. thì SV không có lý do gì để lại là một ngữ đoạn thuộc
từ loại khác cả.
4. Với câu [4], SV lại toan nào của tích, Bạc mai, vàng cúc để cho
con (QÂTT, b.49), tình hình khác hẳn: ở đây ta không có một căn cứ nào
đủ vững để đưa ra những nhận định xác đáng về tính từ loại của SV. Đó
là lý do khiến tôi thúc thủ, và đây là trường hợp đầu tiên trong bốn
trường hợp mà tôi sẽ lần lượt trình bày rõ thêm ở các đoạn sau (ss. thêm
câu [7], câu [8] và câu [15] dưới đây).
5. Trong câu [5], Buồng văn khép cửa lọn ngày thu, Đèn sách nhàn làm
SV nho (QÂTT, b.58), SV kết hợp với NHO. Nếu coi SV là một ngữ vt.,
ta đành phải xem NHO là bổ ngữ của nó. Giả thiết vừa nêu e khó được
chấp nhận: *DONG CHƠI NHO, *THƠ THẨN NHO, *NHÀN TẢN
NHO hay *PHÓNG TÚNG [KHOÁNG] NHO đều là những ngữ đoạn
chẳng chỉnh mấy về ngữ nghĩa (và cả về ngữ pháp nữa !). Từ những gì
vừa diễn giải, chúng ta có thể tạm kết luận: nên coi SV dùng trong câu
này như một ngữ dt. thì hơn, vì chỉ làm như thế ta mới có cơ may đưa ra
cho câu thơ một lời diễn giải thuận tai, chẳng hạn như lời diễn giải sau:
‘[Phỏng] tư nghiệp của ai có thể sánh bằng tư nghiệp của nhà nho’.
6. Trong câu [6], SV có nhiều dân có khó, Cửa nhà càng rộng thế càng
phiền (QÂTT, b. 143), SV cũng được dùng với tư cách là một ngữ dt.
diễn đạt nghĩa TÀI SẢN/CỦA CẢI, vì hai lẽ: nó (a) vừa
“mạch lạc” về nghĩa với hai ngữ CÓ NHIỀU và [dân] CÓ KHÓ [=
NGHÈO] đi sau nó, vừa (b) là vế đối cân xứng của CỬA NHÀ ở câu
tiếp theo.
7. Câu [7], SV huống còn non nước cũ, Mặc dầu thua được có ai
tranh ? (QÂTT, b. 156), là trường hợp thứ hai khiến chúng tôi lúng túng
vì những lí do tương tự như lí do đã diễn giải ở điểm 4.
8. Có thể lấy những gì vừa nói tại điểm 4 và điểm 7 để nói về câu
[8], Một yên, một sách, một con lều, SV bao nhiêu mặc bấy
nhiêu (QÂTT, b.164), và đây là truờng hợp thứ ba khiến chúng tôi bó tay
khi thử diễn giải cho tám câu thơ trong QÂTT.
9. Nếu NĂM HỒ và BỐN BIỂN là một cặp đối rất chỉnh thì SV và NẾT
NA trong [9], Năm hồ những lấy làm SV, Bốn bể đều thời thấy nết
na (Hồng Đức quốc âm thi tập [HĐ], b. 32), có nhiều khả năng cũng sẽ
tạo nên một cặp đối như thế. Chỉ có một điều khiến chúng tôi còn e ngại:
chưa rõ vào thời Hồng Đức, NẾT NA đã chuyển từ loại để trở thành một
ngữ vt. diễn đạt nghĩa ‘tốt nết, dễ mến (chỉ nói về con gái và phụ nữ còn
trẻ)’[2], như hiện thời hay chưa?
10. Riêng với câu [10], Ngư hà SV ngày hằng đủ, Bạng duật đôi co thế
ngại dòm (HĐ, b. 54), SV và ĐÔI CO phải là hai vế của một cặp đối. Vì
vậy, SV phải là một ngữ vt.. Đây là trường hợp đầu tiên cho thấy giả
thiết RONG VÁT thắng thế. Nhưng ngay cả ở Nguyễn Du, như nhiều
nhà khảo cứu giàu kinh nghiệm từng nêu rõ, ta vẫn gặp không ít trường
hợp không tuân thủ nghiêm ngặt lắm luật đối ngẫu. Bởi vậy, đó vẫn chưa
phải là một chứng cứ đủ xác đáng để loại bỏ hẳn cái nghĩa CỦA CẢI ở
SV. Cho nên, có lẽ cũng chẳng có gì là phi lý cả một khi ta vẫn diễn giải
câu thơ theo cách: ‘Ngư hà là thứ của cải lúc nào cũng đủ’.
11. Ở câu [11], (HĐ, b.59) (cũng như ở câu [12], Một rìu, một búa của
hôm chiều, SV ai bằng SV tiều (HĐ, b.60), câu [13], Một cày, một cuốc,
phận đã đành, SV ai bằng SV canh(HĐ, b.61), và câu [14], Nẻo ra thì
thấy phu đồng bộc, SV ai bằng SV mục (HĐ, b. 62), tiếp theo), có lẽ ta
nên coi SV là ngữ dt. vì những lý do như đã trình bày tại điểm 5:
‘[Phỏng] tư nghiệp của ai có thể sánh bằng tư nghiệp của dân chài lưới
[/của dân đốn củi, /dân làm ruộng, /dân chăn thả gia súc]? Hiểu theo
cách đó, nghĩa của toàn câu sẽ tự nhiên hơn là hiểu theo mô hình cú
pháp: ‘ai chơi nhởi cho bằng dân chài [/dân đốn củi, /dân làm ruộng,…]
chơi nhởi’ hay ‘xét về xuôi ngược thì ai bằng được sự xuôi ngược của
dân chài ? [/của dân đốn củi, /của dân làm ruộng,…]’, một cách hiểu đòi
hỏi phải thêm thắt khá nhiều để “chỉnh trang” ngữ vt. thành một ngữ dt.,
hoặc phải đảo trật tự vốn có của câu; rốt cục, nguyên bản tất sẽ bị thay
bằng một văn bản khác hẳn.
12. Câu [15], Phong nguyệt ít nhiều SV đủ, Khứng đâu vay bợ, khứng
cho ai (HĐ, b. 63), lại đẩy chúng tôi vào tình thế lúng túng, như khi thử
diễn giải cho câu [7] hoặc [8].
13. Câu [16], Bốn mùa SV một thuyền chài, Sớm chốn giang hồ, tối
nguyệt đài (HĐ, b. 64), theo cảm giác chủ quan, là trường hợp duy nhất
trong đó giả thiết SV và RONG VÁT nằm ở thế quân bình nhau. Thậm
chí nếu thay SV bằng RONG VÁT, ta còn có một câu thơ giàu hình ảnh
hơn so với cách hiểu SV là TÀI SẢN, tuy rằng cách hiểu thứ hai này
tuyệt nhiên không phải là một cách hiểu phải bị loại bỏ.
14. Ở câu [17], Khách đến hỏi: nào SV ? Nữa rằng: còn một túi thơ
treo (Bạch Vân quốc ngữ thi [BV], b. 35), SV với nghĩa là CỦA CẢI lại
thắng thế: thay SV bằng RONG VÁT hiểu theo bất cứ cái nghĩa nào
trong số những nghĩa được GS Cẩn đề nghị, câu thơ cũng sẽ mất ngay
tính “mạch lạc” về mặt nghĩa, vì lời đáp của chủ nhà có cho biết: “Ngoài
những món TÀI SẢN mà ông [tức là “khách”] vừa thấy, tôi [tức chủ
nhà] còn muốn ông lưu ý thêm một món nữa: cái TÚI THƠ TREO ở
đằng kia!”.
15. SV dùng trong câu [18], SV hãy còn hai rặng quýt, Thất gia chẳng
hết một căn lều (BV, b. 47), cũng lại là một ngữ dt., bởi lẽ nó vừa “mạch
lạc” với HAI RẶNG QUÝT về nghĩa, vừa cùng với THẤT GIA tạo nên
một cặp đối chỉn chu.
16. Do kết hợp với NHO ở câu [19], Buồng văn cài cửa, luận Xuân thu,
Đèn sách nhàn làm SV nho (BV, b. 113), và với NHÀ CÒN NGẶT ở câu
[20], Mựa hiềm SV nhà còn ngặt, Tích đức cho con ấy mới mầu (BV,
b.122), nên SV rất khó có có thể là một ngữ vt.).
Nói tóm lại, giả thiết SV đã thắng thế rõ rệt ở 14 trong tổng số 20 câu
tồn nghi. Với sáu câu còn lại, thì ngoài câu [16], trong đó SV và RONG
VÁT nằm ở thế quân bình, ở năm câu ([4], [7], [8], [10], và [15], ta hiện
chưa có một chứng cứ ngôn từ xác đáng nào để khẳng định dứt khoát
tính từ loại của SV cả.
Từ những gì đã trình bày, tôi trộm nghĩ chúng ta có thể đi đến một kết
luận nhỏ: cái nghĩa thường xuyên nhất (hay có mặt nhất) trong hai mươi
trường hợp đang xét chính là cái nghĩa TÀI SẢN/CỦA CẢI.
Viết bài này, tôi chỉ mong góp một số suy nghĩ của một người không
chuyên về Hán Nôm, chứ tuyệt nhiên không hề có tham vọng nói lên
tiếng nói sau cùng.

Tháng Tư năm 2003

[1] Theo PGS Vương Lộc (Từ điển từ cổ, in lần thứ hai, có sửa chữa và
bổ sung, Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2002, tr. 146),
SV hiện có tới sáu cách đọc. Ngoài hai cách vừa nhắc:
(1) RONG VÁT = ‘dong chơi, thơ thẩn, nhàn tản, phóng túng’ (Nguyễn
Tài Cẩn) và
(2) SONG VIẾT = ‘tài sản, của cải hay ‘tư nghiệp’ (Cao Xuân Hạo &
Trần Xuân Ngọc Lan),
hai chữ này còn có thể được đọc là:
(3) SONG VIẾT (Trần Văn Giáp & Phạm Trọng Điềm)
(4) SUÔNG NHẠT (Đỗ Văn Hỷ),
(5) NÔ BỘC, SỚM TỐI (Đào Duy Anh) và
(6) SONG NHẬT (= ‘Ngày chẵn trong tháng, nhà vua không ra ngự
triều, các quan không phải vào chầu vua, được nhàn nhã, nghỉ ngơi,
thong thả’ (Nguyễn Quảng Tuân & Bùi Văn Nguyên).
[2] Như Từ điển tiếng Việt (1994) từng định nghĩa.
Song Viết
Tiếng ngọc lụa reo trong những
cốt cách thanh cao
Hà Hữu Nga

Mùa xuân năm 1975, học năm thứ nhất khoa sử Đại học Tổng hợp Hà
Nội, lần đầu tiên được đi thực địa, khai quật hang Sũng Sàm tại Thung
Mơ, Hương Tích với Giáo sư Trần Quốc Vượng, cũng là lần đầu tiên tôi
được nghe hai chữ Song Viết. Tôi nhớ được hai chữ đó vì nó có một âm
hưởng vừa rất lạ, lại vừa như đã thân quen tự thuở nào; hơn nữa hai chữ
đó càng dễ nhớ vì nó gắn liền với hai cái tên rền vang như sấm trong
giới học thuật Việt Nam: Giáo sư Đào Duy Anh, và Giáo sư Nguyễn Tài
Cẩn. Sau khi kể với lũ học trò chân ướt chân ráo từ mọi nẻo đường đất
nước tụ họp bên Thầy về tấm gương lao động của hai bậc thầy trên xung
quanh chữ Song Viết, Giáo sư Trần nói đại ý: đi đào khảo cổ cũng giống
như cách đãi chữ tìm ngọc của hai vị giáo sư đáng kính Đào - Nguyễn
đối với hai chữ Song Viết vậy; người làm khảo cổ không được bỏ qua
bất cứ mảnh ngọc dữ liệu nào trong đất.

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới ngày nào mảng nghe Thầy dạy
mà giờ đã ngót 40 năm trôi qua, các bậc Thầy hầu đã ra người thiên cổ,
và lũ học trò tập tọng chúng tôi ngày ấy giờ cũng đã “lục thập nhi nhĩ
thuận” cả rồi; ở tuổi này người chiến binh xưa rửa tay gác kiếm; chúng
tôi nay quanh năm sơn cùng thủy tận theo đòi bước chân của Giáo sư
Trần, cũng đã đến lúc có thể buông bay, cất cuốc, giã từ những vùng non
xanh nước biếc của Đông Bắc, Tây Bắc, Thanh – Nghệ, Trường Sơn,
Tây Nguyên hầu mong ké chút thơm lây với nghiệp đèn sách mà tiền
nhân định giá 惟有讀書高 “duy hữu độc thư cao”. Vào độ tiết đông se
lạnh, chạnh nhớ đến Thầy, lần giở mấy trang sách xưa, bỗng gặp lại hai
chữ Song Viết, mà nghe như tiếng ngọc lụa reo trong những cốt cách
thanh cao của những bậc thầy 何厺來之了也 hà khứ lai chi liễu dã - nào
có đi có đến ấy (lời của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông).
I. Song Viết - một mạch ngầm chữ nghĩa

Cụ Đào Duy Anh kể lại: “Sách Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập là tài liệu
rất quan trọng về lịch sử văn học nước ta, đã được hai ông Trần Văn
Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm và chú giải và được nhà xuất bản
Văn Sử Địa xuất bản năm 1956. Một hôm chúng tôi được nghe ông
Phạm Trọng Điềm nói rằng quyển sách ấy cũng còn một số chữ phiên
âm và giải thích chưa ổn cho nên khi có tái bản thì phải đem hiệu đính
lại đã. Ông nêu chữ “song viết” mà hai ông đã chua là không rõ nghĩa
nên còn để tồn nghi. Ông nói có người cho rằng “song viết” là do chữ
“thư song” dịch ra tiếng Việt, nhưng không chắc có đúng không. Từ đó
trong tổ chúng tôi thỉnh thoảng trong giờ nghỉ lại đem hai chữ “song
viết” ra để trao đổi ý kiến và chúng tôi chỉ mới thống nhất ý kiến được
về một điểm là “song viết” mà giải thích là “thư song” thì không ổn chút
nào, vì theo nghĩa ấy thì hầu hết những câu có chữ “song viết”
trong Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập và Hồng Đức Quốc âm thi tập sẽ
không thông nghĩa”. [Đào Duy Anh 1962; 2005: 217].

Giáo sư Đào Duy Anh và nhóm của Cụ đã tìm thấy 19 câu có hai chữ
“song viết” trong ba tác phẩm vào loại xưa nhất, đó là Nguyễn Trãi
Quốc âm thi tập, Hồng Đức Quốc âm thi tập vàBạch vân [Quốc âm] thi
tập. Cụ cho rằng nếu hiểu “song viết” là “thư song” thì tất cả 19 câu có
chữ “song viết” trong ba tập trên đều không “xuôi nghĩa”; hơn nữa
không phải bây giờ người ta mới cắt nghĩa “song viết” là “thư song”, mà
ngay cả sách Minh đô sử của Lê Trọng Hàm, do Viện sử học mới sưu
tầm được, sau mục “Nguyễn Bạch Vân tiên sinh thi tập” (Minh đô sử,
tập 4, quyển 8), có chép một bài có hai câu: “Song viết hãy còn hai dặng
quýt, Thất gia chẳng quản một con lều”, mà chữ “song viết” lại chép là
“thư song”. Trong khi đó trong cả ba tác phẩm trên có những chỗ chỉ
“song the”, “song bắc”, “song hiên” thì đều dùng chữ 窗 song cửa, mà
không dùng chữ 雙 song hay 双 song (viết tắt) trong hai chữ 雙曰 “song
viết”. Cụ cho rằng nếu Nguyễn Trãi muốn dịch nghĩa chữ “thư song” thì
phải dịch là “song sách”, chứ không thể dịch là “song viết”. Bởi vậy Cụ
bỏ hẳn chữ “thư song”, và đặt câu hỏi: “Chữ “song viết” có đúng chữ
của nguyên văn không, hay là do chữ khác chép lộn thành?”. Cụ kiểm
tra bản Ức Trai thi văn tập của thư viện Viện sử học thì trong đó chữ
“song viết” của bản Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập lại chép là � 曰
“ sớm viết”. Và tại Thư viện Khoa học Trung ương có bảnTrình quốc
công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, viết tay, số AB 635, có một số chỗ chữ
“song viết” của bản Bạch Vân thi tập lại chép thành 癶 曰 “ bát viết”.
[Đào Duy Anh 2005: 220, 221]

Do có những cách viết khác nhau như thế nên cụ Đào đoán hai chữ
“song viết” là chữ viết lầm. Căn cứ vào hai chữ 癶曰 “bát viết” trong
bản Trình quốc công, Cụ cho rằng chữ 双 song (viết tắt) có thể bị chép
lộn bằng chữ 癶 “bát”, nhưng nếu xét về nghĩa thì thấy chữ 癶曰 “bát
viết” không thích dụng với các câu trong tập thơ nên Cụ đã gạt bỏ chữ
này. Cụ thấy trong tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một bài giống hệt
bài Mạn thuật 2 trong tập Nguyễn Trãi, ở câu 5 có mấy chữ “Song
viết huống còn hai dặng quýt” thì trong tập Nguyễn Trãi chữ “song viết”
lại là chữ “nô bộc”: “Nô bộc ắt còn hai dặng quýt”. Vậy là chữ “nô bộc”
ở tập Nguyễn Trãi đã chuyển thành chữ “song viết” ở tập Nguyễn Bỉnh
Khiêm, trong đó chữ 奴 “nô” theo cụ Đào rất dễ lầm thành chữ 双 song.
Vì vậy Cụ đặt câu hỏi: Có phải chữ 双 song là do chữ 奴 “nô” mà thành
không? Và thế là Cụ đã thử đưa “nô bộc” thay cho “song viết” trong các
câu thơ của cụ Nguyễn Trãi, chẳng hạn câu 6: “Nô bộc có nhiều dân có
khó, Cửa nhà càng rộng thế càng phiền”; câu 2, nếu dùng chữ “nô bộc”
thì thành: “Con cháu mựa thành nô bộc tiện”, theo Cụ “kể cũng hơi khó
hiểu” nhưng khi đặt vào với vế sau: “Nghìn đầu cam quýt ấy là tôi” thì
thấy chữ “nô bộc” ở vế trước lại “đúng lắm”. Tương tự như vậy, “nô bộc
tiện” đi với “nô bộc ngặt” ở câu 1 thì “lại càng thông hơn”; còn những
câu 17, 18, 19 của tập Nguyễn Bỉnh Khiêm thì dùng chữ “nô bộc” “kể
cũng thông hơn” chữ “sớm tối”. Tuy nhiên Cụ Đào vẫn nhận thấy “đối
với hơn hai phần ba số câu thì chữ “nô bộc” không thích hợp”. Để khắc
phục tính chất không thích hợp trên, cụ Đào tiếp tục đi tìm những chữ có
tự dạng gần với 雙 hay 双曰 “song viết”, thì Cụ thấy có chữ 從且 thong
thả viết tắt 从且 gần với tự dạng 双曰 “song viết”, nên cụ gọi “thong
thả” là “chữ thiên thành”, “gán chữ ấy vào các câu khác thì thấy cũng
nhiều câu xuôi nghĩa”. [Đào Duy Anh 2005: 220, 221, 223].
Từ các phân tích trên, Cụ tóm tắt quá trình xuất hiện của chữ “song viết”
như sau: “Sự sai lầm trước hết là do chữ “thong thả” biến thành, vì nghĩa
trong cả tập thơ của Nguyễn Trãi, cơ hồ bài nào cũng là ca ngợi cảnh
thanh nhàn ở điền viên, thì không thể nào không thường dùng chữ
“thong thả” là chữ cửa miệng để chỉ cảnh thanh nhàn, thế mà trong cả
tập chỉ thấy có một bài “Tự thán 39” là có chữ “thong thả” rõ ràng:
“Thong thả dầu ta ngoài thế giới, La ngàn non nước một thằng hề”.
Nhưng tại sao chữ “thong thả” ở câu ấy lại không biến thành “song
viết”? Có lẽ vì ở đây chữ “thong thả” được viết bằng 從 且 cho nên
người ta không lầm, chỉ ở những chỗ viết là 从且 hay 雙且 mới bị lầm
làm “song viết”. Đến như Hồng Đức Quốc âm thi tập, trong ấy cũng ca
tụng cảnh thái bình và nhàn hạ rất nhiều, chữ “thong thả” cũng là chữ
hay được dùng lắm. Thế mà ở đây thấy có hai câu có chữ “thong thả” là:
“Chín lần lèo rủ dầu thong thả, Bốn biển lòng vui phỉ ngóng trông” (Bài
“Diều giấy”); “Bốn phương phẳng lặng kềnh bằng thóc, Thong thả dầu
ta bỏ lưới câu” (Bài “Bạch Đằng”). Lại trong phần “Nhàn ngâm thi
phẩm” chép ở sau tập Hồng Đức, bài đề “Tượng Bà Banh” có câu:
“Chẳng lên bảo điện ngồi thong thả, Khéo đứng ru mà đứng mãi này!”.
Ở hai câu trên thì “thong thả” viết là 通且, ở câu dưới thì thong thả viết
là 從且. Vì thế cho nên khi chép lại, người ta không chép lầm. Nhưng
trong một bản có chỗ chép là 从且. Những chỗ chép là 从且 thì đã bị
sao lầm thành “song viết”. Theo cụ Đào, đến tập Bạch Vân thì “có thể
nói cảnh sống thanh nhàn là đề tài duy nhất của toàn tập”, vì vậy ở tập
này không thể lộn “thong thả” với “song viết” được. Thế mà trong tập
đó lại vẫn có những câu có chữ “song viết”; có bài có cả chữ “thong thả”
lẫn chữ “song viết”: “Chốn điền viên cũ dầu thong thả, Đạo thánh hiền
xưa luống chốc mòng.Song viết chớ rằng đã ngặt. Đâu thời cũng có xuân
phong”. [Đào Duy Anh 2005: 224, 225, 226].

Đối vối trường hợp trên, cụ Đào cho rằng đã có sự lầm lẫn từ “nô bộc”
sang “song viết”; trong câu “Song viết hãy còn hai dặng quýt, Thất gia
chẳng hết một con lều” thì chữ “song viết” “rõ ràng là do chữ “nô bộc”
biến thành. Theo Cụ, bài có câu ấy ở tập Bạch Vân chính là một bài của
tập Ức Trai đã bị sao sang. “Vào thời Nguyễn Trãi - cuối Trần và đầu Lê
- chế độ nô tỳ còn thịnh cho nên sự giầu sang còn được tính bằng số nô
bộc. Ở những câu 1 và 2, “nô bộc ngặt” và “nô bộc tiện” nghĩa là nô bộc
ít ỏi, không đủ để sai khiến, đặc biệt ở câu 2 thì lại rõ lắm: Tác giả
khuyên con cháu đừng hiềm về nô bộc (tôi tớ) ít, vì “nghìn cây cam
quýt” đó là tôi tớ chứ gì (ngày xưa tôi tớ thường gọi là thằng Cam, thằng
Quýt)…Ở câu 6, “Song viết có nhiều dân có khó” thay chữ “song viết”
bằng “nô bộc” thì câu rất là thích hợp với nghĩa cả bài”. Theo cụ Đào, sở
dĩ “nô bộc” biến thành “song viết” vì chữ 奴 “nô” vốn dễ lầm thành chữ
双 song; còn chữ 僕 bộc không thể lầm thành chữ 曰 viết, nhưng vì sau
khi chữ “thong thả” đã biến thành chữ 双曰 “song viết”, “thì một người
chép vụng về nào đó không đọc ra chữ “nô bộc”, thấy chữ 奴 “nô” hơi
giống chữ 双 song, đã bị chữ “song viết” hấp dẫn mà đồng hóa luôn chữ
“bộc” với chữ “viết”. Còn chữ “sớm tối” thì trong Ức Trai thi văn tập,
đối với câu “Sớm viết lại toan nào của tích” thì người chép đã chép chữ
雙 song, rồi lại bỏ đi mà chép chữ � sớm ở bên. Nhưng chữ “sớm”
không thể đi với chữ “viết” được, mà chỉ có chữ “sớm tối” là thích hợp.
Xét tự dạng thì chữ 最 tối nếu bỏ phần dưới thì còn chữ 曰 viết; hơn nữa
chữ 最 tối viết thảo cũng đọc lầm thành chữ 曰 viết được. Cuối cùng cụ
Đào kết luận: “Xem như thế thì thấy chữ “song viết” là một chữ vô
nghĩa mà có cái vận mệnh lạ lùng đã cho nó có một sức hấp dẫn đặc
biệt, khiến người ta, trong khi chép lại tập thơ quốc âm của Nguyễn Trãi,
hễ gặp chữ gì khó hiểu mà có tự dạng ít nhiều tương tự với nó thì người
ta dùng nó để giải quyết. Do đó mà những chữ “thong thả”, “nô bộc”,
“sớm tối” trong tập thơ ấy đều đã biến thành ‘song viết’”. [Đào Duy Anh
2005: 227, 228]. Toàn bộ kết quả dịch, nghiên cứu và chú giải của Cụ về
sách Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã được sử dụng và công bố
trongNguyễn Trãi Toàn tập, bao gồm các phần “Lời dẫn về hai tập thơ
‘Ức Trai thi tập’” (tr.249-264); “Quốc âm Thi tập” (tr. 395-476); và
“Chú thích Quốc âm Thi tập” (tr. 703-844) [Uỷ ban Khoa học Xã hội
Việt Nam – Viện Sử học, 1976].

II. Song Viết – một phương trình hai ẩn

Khác với Giáo sư Đào Duy Anh, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “hai
chữ “song viết” chính là hai chữ vốn chép đúng, và nên xuất phát từ
chúng để khảo sát". Từ đó ông đã xác định những khả năng ngữ âm để
đọc hai chữ đó. Trước hết với chữ song, có thể có những cách đọc sau:

Song Sung Suông Sông


Xong Xung Xuông Xông
Rong Rung Ruông Rông
Thong Thung Thuông Thông
Chong Chung Chuông Chông
Giong Giung Giuông Giông
Theo ông, “nói chung phải đọc với thanh bằng (ngang, huyền), nhưng
cũng có thể cá biệt đọc cả với thanh trắc (sắc, nặng, hỏi, ngã)”. Ông cho
rằng S có thể đọc thành X, R, TH, CH, G là vì trong chữ nôm đã có
những tiền lệ như vậy, chẳng hạn Xưa (sơ), Xùng (sùng), Xây (thổ +
sai), Xằng (mịch + sang); Rải (sái), Rờ (sơ), Rây (si), Rộ (sô); Thày
(sài), Thầy (sài), Thưa (sơ), Thửa (sở); Chọn (soạn), Chùm (sâm), Chấu
(trùng + sửu), Chum (thổ + sâm); Giường (sàng), Giấu (sửu), Giùm (thổ
+ sâm), Gium (thổ + sâm). ONG có thể đọc thành UNG, UÔNG, ÔNG
vì đã có các tiền lệ: Cùng (cọng), Cụng (cọng), Bùng (vũ + phong),
Lùng (thảo + long); Buồng (phòng), Chuông (trọng), Ruồng (thủ +
long), Ruông (túc + long); Rồng (long), Lông (vũ + long), Rông (thủy +
long). Những trường hợp cá biệt có chuyển thanh chẳng hạn như: Lâm
(lấm), Lang (lẳng), Lần (lấn, lận), Rằng (rẳng, lãng). Đối với chữ Viết
cũng có thể dự kiến các cách đọc sau: Viết (Vit, Vêt, Vet, Vat, Vơt,
Vươt); Phiết (Phit, Phêt, Phet, Phat, Phơt, Phươt); Miêt (Mit, Mêt, Met,
Mat, Mơt, Mươt); tiền lệ của việc đọc V thành PH, M: Phũ phàng (vũ),
Bao phủ (vũ); Mùa (vụ), Mùi (vị), [Năm] mùi (vị); tiền lệ đọc IÊT thành
IT, ÊT, ET, AT, ƠT, ƯƠT: Rit (tiệt), Tít (tiết), Rịt (mịch + liệt), Sịt (khẩu
+ tiết); Rệt (liệt), Thết (thiết), Sết (thủy + triết), Sệt (tâm + liệt); Tét
(tiết), Rét (thủy + liệt), Thét (hỏa + thiết); Vát (việt), Vạt (y + việt); Lướt
(liệt), Vượt (việt), Trượt (diệt); Nớt (niết), Trợt (điệt), Vợt (mịch + việt),
Cợt (khẩu + kiệt). (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 183-184).

Từ các khả năng đọc trên, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “đã có thể
tiến hành kết hợp cặp đôi, tạo ra tất cả mọi khả năng đọc có thể có (đại
để như song vít, song vịt, sòng vịt, v.v) và tập hợp thành bảng để bắt đầu
cân nhắc, đối chiếu với yêu cầu của văn cảnh. Giả dụ rằng hai tiếng nôm
ta đang tìm là hai “ẩn số” X và Y. Tìm ra giá trị của X và Y tức là phải
tìm ra hai tiếng thỏa mãn đồng thời hai điều kiện dưới đây: i) phải suy ra
được từ song viết đúng theo quy tắc đọc chữ nôm; và ii) phải phù hợp
với mọi yêu cầu của văn cảnh”. Theo ông, căn cứ vào 19 câu thơ và văn
hiện có hai chữ song viết thì có thể xác định rằng ẩn số Y là một tiếng
bắt buộc phải thuộc thanh trắc; còn ẩn số X thì chắc là một tiếng thuộc
thanh bằng, nhưng cũng không loại trừ khả năng thuộc cả thanh trắc. Về
phương diện ngữ pháp thì hai tiếng XY phải là hai tiếng tạo thành một từ
đôi (song tiết) mang ý nghĩa tổng hợp, đặt theo kiểu láy nghĩa (có quan
hệ song song giữa hai yếu tố đồng loại), hoặc đặt theo kiểu láy âm (cụ
thể là láy phụ âm đầu, vì 5 lần có hiện tượng XY đối với những từ như
thế: đối với hôm chiều, hôm mai, cửa nhà, đôi co, nết na. Trong tiếng
Việt, hai kiểu từ láy nghĩa và láy phụ âm đầu có nhiều nét gần gũi nhau,
có thể dùng bên này đối cho bên kia, nên xét trên nguyên tắc chưa thể
xác định được XY cấu tạo theo lối nào trong hai lối đó. Nhưng vì hiện
tượng đối với hôm chiều, hôm mai, cửa nhà, đôi co chiếm tỷ lệ lớn hơn
(4/5 lần), nên XY có nhiều khả năng là một từ láy nghĩa hơn là một từ
láy âm. Hơn nữa do XY là một từ đôi nên chỉ có thể thuộc một trong ba
từ loại là danh từ, động từ hay tính từ, vì chỉ ba từ loại này mới giữ được
nhiều chức vụ cú pháp khác nhau, đáp ứng được sự đòi hỏi của nhiều
văn cảnh khác nhau”. Bên cạnh đó còn phải đặc biệt nhấn mạnh đến “sự
tương hợp về ngữ nghĩa và ngữ cảnh; yêu cầu này chỉ được thỏa mãn khi
đặt XY vào câu thì câu đó phải có nghĩa, phải hiểu được; câu đó không
chỉ phù hợp với nội dung của toàn bài, mà còn phải phù hợp cả với tư
tưởng, văn phong của tác giả, hợp với đặc điểm ngữ ngôn, văn tự của
thời đại nữa”. (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 186, 187).

Từ các yêu cầu trên, sau khi đã tra cứu các từ điển, cân nhắc từng trường
hợp một trong số hơn 6000 trường hợp ghi trong bảng, Giáo sư Nguyễn
Tài Cẩn nhận thấy “tuyệt đại đa số trường hợp đều phải bị loại… Duy
chỉ có trường hợp sau đây là trường hợp đáng được lưu ý: trường
hợp rông vát, rong vát, róng vát. Cái ấn tượng đầu tiên đến với chúng ta
là rông vát, rong vát, róng vát đọc lên nghe rất lạ. Nhưng đây lại là
những từ đôi có sẵn và khá cổ”. Ông đã xác định mối quan hệ giữa rông
vát, rong vát, và róng vát theo hai giả định: i) có thể chia thành ba từ
khác nhau, vì chúng khác nhau về ngữ âm và khác nhau cả về nghĩa,
hoặc nhiều, hoặc ít; ii) có thể chia thành hai: một bên là róng vát và một
bên là rông vát, rong vát vìrông vát, rong vát đều thuộc mô hình “bằng –
trắc” và có ý nghĩa hết sức gần nhau (trong lúcróng vát có ý nghĩa hơi xa
hơn, và có thanh trắc ở đầu); iii) cũng có thể nhập tất cả làm một vì
nghĩa của ba cụm từ đó vốn bắt nguồn từ róng vát, chạy rong, như trong
từ điển của Génibrel đã giảng giải, sau đó mở rộng nghĩa ra. Theo ông,
“trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay, cách chia thứ hai có nhiều nét ổn
thỏa hơn cả. Nhưng dầu về vấn đề này nay mai có xử lý thế nào đi nữa,
thì hiện nay cũng đã khá có cơ sở để tin tưởng rằng rông vát, rong
vát, vàróng vát chính là những khả năng đọc nôm khá hợp lý của song
viết” xét cả về thanh điệu bằng trắc, cũng như quy tắc đọc nôm tương
ứng giữa vát và viết. Tuy nhiên ông cũng nhận thấy đối với ba cụm từ
này thì “việc tìm hiểu, phân tích mặt ngữ pháp có phần quanh co, khó
khăn hơn…Trong tiếng Việt loại từ láy nghĩa có thể chia thành 3 kiểu
nhỏ: a) kiểu ghép hai yếu tố đồng nghĩa, như thôn xóm, binh lính; b)
kiểu ghép hai yếu tố trái nghĩa, như thị phi, thành bại; và c) kiểu ghép
hai yếu tố cũng không đồng nghĩa, cũng không trái nghĩa, như tốt tươi,
quần áo, v.v… Trong trường hợp ba cụm từ trên, “róng vát thì dứt khoát
thuộc kiểu đầu”, còn rông, rong vốn có quan hệ lịch sử với yếu tố long ở
các tiếng Thái, theo quy luật chuyển l thành r (l → r), về trường hợp này
thì Haudricourt (1960) và Maspéro (1912) đã làm rõ trong các công trình
của họ. (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 191-194).

Đối với giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, “một vấn đề tế nhị nhất: vấn đề ngữ
nghĩa”. Bước này gồm hai nhiệm vụ: i) tìm hiểu những khía cạnh ý
nghĩa đã cho một cách khách quan ở từ điển; ii) đối chiếu với nghĩa ở
từng câu. Vì cho rằng song viết là rông vát cho nên ông đã sử dụng
nghiệm XY = rông vát để kiểm tra kết quả của lời giải. Theo ông: “căn
cứ vào tài liệu thống kê sơ bộ của hai cụ Trần Văn Giáp và Phạm Trọng
Điềm thì rông vát (song viết) là một từ có tần số xuất hiện thuộc vào loại
cao nhất trong đám những thực từ hay được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần
ở Nguyễn Trãi Quốc âm thi tập: rông vát xuất hiện 8 lần, tập trung ở ba
mục: Ngôn chí (3 lần), Thuật hứng (2 lần) và Bảo kính cảnh giới (3 lần).
Như vậy rất có khả năng rông vát chính là một từ quan trọng vào bậc
nhất của Nguyễn Trãi, một từ nằm trong cùng một hệ với những từ liên
quan mật thiết đến đề tài “xuất xử”, “vui cảnh ẩn dật”, “an bần lạc đạo”
ta vốn thường gặp trong Quốc âm thi tập.” Để đánh giá mức độ phù hợp
của rông vát với 19 câu thơ văn được phát hiện có từ song viết, Giáo sư
Nguyễn Tài Cẩn đã “tiến hành một đợt điều tra thử ý kiến của những
người có hiểu biết về mặt văn học”, và kết quả thu được là: trong 14
trường hợp thì ý kiến đa số (38) đều thống nhất cho rằng “hình như có
sự ăn khớp khá tự nhiên về mặt ý nghĩa: i) trước hết các khía cạnh nghĩa
“dong chơi thơ thẩn, nhàn tản, phóng túng” trông có vẻ khá ăn khớp với
8 câu viết về “hằng nga nguyệt” và viết về “ngư, tiều, canh, mục”
trong Hồng Đức Quốc âm thi tập, đó là các câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, và 8.
ii) ý nghĩa “dong chơi thơ thẩn, nhàn tản, phóng túng” “cũng được cho
là tương đối phù hợp” với một số câu 9, 10, 11, 12, 13, và 14 của
Nguyễn Trãi. Trong tổng số 23 văn cảnh cũng có đến 4 trường hợp xem
ra cần phải có cân nhắc, biện luận, đó là các câu 15, 16, 17, và 18; một
số ý kiến ngả về khía cạnh “vất vơ vất vưởng”. Đối với ông “Duy chỉ
trong một câu sau đây (ởThập giới cô hồn quốc ngữ văn) là cảm thấy có
phần phải đắn đo thực sự”, đó là câu 19.Rông vát liền tay, gương lờ (?)
non ánh (?), Hôm mai họp mặt, nội cỏ vườn lau. Với trường hợp này ý
kiến rất phân tán, có người cho là róng vát với nghĩa “xoay xở”; có
người cho làrông vát với nghĩa “bừa bãi, qua quýt”, có người lại cho
rằng cả rông vát lẫn róng vát đều không đúng; tuy nhiên ông cho rằng
“đây vẫn là từ rông vát với nghĩa “dong chơi”. Và trong bài viết vào
năm 1974 ấy, ông kết luận: “Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, có thể
tạm chosong viết là cách ghi nôm của rông vát …rông vát đáng được
xem là một từ tương đối đủ điều kiện để thỏa mãn các yêu cầu của 23
văn cảnh đang xét” (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 197, 201).

Cùng năm, nhà văn Nguyễn Công Hoan (1974) giới thiệu bốn câu thơ
của cụ Nguyễn Hằng (1548 – 1625), trong đó có hai chữ mới “song
kiết” hoặc “song biết”, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã công bố thêm một
nghiên cứu mới cho rằng “song kiết tức là song biết và tức cũng làsong
viết…đây lại là một trường hợp được cấu tạo theo lối láy âm hay láy
nghĩa, vì dưới dạng song viết nó đã từng được dùng để đối với “hôm
chiều”, “cửa nhà”, “đôi co”, “nết na” v.v…Đối với một trường hợp cấu
tạo theo lối ấy mà chỉ có một sự khác nhau nhỏ ở phụ âm đầu của tiếng
thứ hai, khi đọc theo âm mặt chữ, như sự khác nhau giữa “viết”, “biết”,
và “kiết”, thì chắc rằng đó không phải là một sự khác nhau dễ dàng đưa
đến khả năng có thể khu biệt thành ba từ…Thêm vào đó, sự luân chuyển
giữa B, K, và V không phải là một sự luân phiên ngẫu nhiên, vô cớ mà là
một sự luân phiên có cơ sở ngữ âm lịch sử rõ rệt…Nếu xét một cách thật
toàn diện thì ở đây chúng ta có khá nhiều cơ sở để có thể tin được rằng
“song viết”, “song biết”, “song kiết”, xét về cách ghi và cách đọc theo
âm mặt chữ thì tuy có chỗ khác nhau, nhưng xét về từ Nôm được ghi thì
thực ra chỉ là một”. (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 211 – 212).
Để có thêm cớ liệu xác định ba chữ trên chỉ là một, Giáo sư Nguyễn Tài
Cẩn đã xem xét cẩn thận “những tiền lệ phụ âm V được ghi bằng thanh
phù K, ví dụ vấp (túc + cấp), vập (cập), vấu (cấu) v.v…Trong ngôn ngữ
văn học cũng như trong phương ngôn…vẫn có những cặp từ nêu lên mối
quan hệ V – K như vậy: chỗ nước vẩn – chỗ nước quẩn; vấn khăn – quấn
khăn; vầng – quầng; văng chài – quăng chài; cá vẫy – cá quẫy v.v… Sự
tồn tại ở trong chữ nôm của ba cách ghi “viết – biết – kiết” là một hiện
tượng về cơ bản cũng không khác gì sự tồn tại của mối tương ứng “vụ -
gụ - cù” ở trong “bong vụ” (Nam bộ), “”đánh gụ” (Nghệ An), “đèn cù”
(Hà Nội), hoặc sự tồn tại của mối tương ứng “vấp – bấp – gấp” trong ba
cách nói “chân đi vấp phải đá”, “chân đi bấp phải đá”, “chân đi gấp phải
đá” mà ta hiện còn gặp ở ba phương ngôn Bắc bộ, Thừa Thiên và Nghệ
An, Hà Tĩnh. Sau khi minh định về phương diện ngữ âm, Giáo sư
Nguyễn Tài Cẩn cũng không quên lưu ý đến ngữ nghĩa bài thơ của cụ
Nguyễn Hằng để tiếp tục khẳng định sự phù hợp của từ rông vát. Theo
ông, qua các từ điển cuối thế kỷ 19, khi truy tìm giải thích ý nghĩa của
từ rông vát, có một số khía cạnh ngữ nghĩa đã từng đề cập có liên quan
đến lối sống hàn nho đó. Ví dụ các khía cạnh “ngao du, thơ thẩn”, “nhàn
tản, ung dung”, “vô tâm, vô tư”, “phóng túng, thảng thích”, “sống vất
vả, thanh bần, đạm bạc” v.v…Rõ ràng những từ này rất phù hợp với nội
dung trong bốn câu thơ của cụ Nguyễn Hằng. “Và có lẽ cũng chính
những điều này đã làm cho gia đình cụ cứ tưởng rằng đây là từ “kiết”…
Đặt “song kiết” vào các câu như: “Song kiết” có nhiều dân có khó, Cửa
nhà càng rộng thế càng phiền; hay: “Song kiết” liền tay, gương lờ (?)
non ánh (?), Hôm mai họp mặt, nội cỏ vườn lau, thì ai cũng cảm thấy
rằng nội dung sẽ trở nên rất khó hiểu. Ngược lại nếu đọc là “rông vát”,
với nghĩa trường “thơ thẩn, nhàn nhã, thảng thích v.v…thì sự giải thích
sẽ có phần được thỏa đáng hơn nhiều”. (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 216 –
219). Và ông kết luận: trong số những giả thuyết hiện có như “thong
thả”, “nô bộc”, “sớm tối”, “suông nhạt” [Đỗ Văn Hỷ 1967], “song cát”
[Đoàn Ngọc Phan, 1975], “song kiết” không có một trường hợp nào có
thể ăn khớp đồng thời với cả ba cách ghi đó. Riêng giả thiết “rông vát”
thì vẫn còn ăn khớp được”. (Nguyễn Tài Cẩn 1985: 223).

Cho đến năm 2005, tuy thừa nhận: “Nửa thế kỉ đã trôi qua, nhiều nhà
nghiên cứu đã lên tiếng, nhưng hai chữ Song Viết mãi đến nay vẫn đang
còn là 2 chữ X+Y đầy bí ẩn, chưa được giải mã”, nhưng ông vẫn kiên trì
rằng cần phải gắng tìm cho kì được những kết cấu X+Y, và phải thoả
mãn đầy đủ các điều kiện như sau: i) về mặt gốc tích, X+Y phải là loại
kết cấu cổ, hiện không còn trong bộ nhớ của người hiện đại nữa, vì vậy
mới có hiện tượng xưa nay không ai hiểu Song Viết là gì. Cứ ngồi vắt óc
cố tìm cho ra một giải pháp có thể rõ nghĩa ngay được, đó là một sai
lầm; ii) về cách đọc (phụ âm, vần, thanh điệu), X phải suy ra được
từ Song và Y phải suy ra được từ Viết, theo qui luật ngữ âm lịch sử; iii)
về mặt từ loại, X+Y phải là danh từ có thể vị từ hóa, hoặc là vị từ có thể
danh từ hóa. Việc vừa phải đối lại “hôm chiều”, “hôm mai”, “cửa nhà”
vừa phải đối lại “đôi co”, “nết na” đòi hỏi như thế; iii) về mặt cấu tạo từ,
X+Y phải là từ ghép láy nghĩa hoặc là từ ghép láy âm để có thể đối lại
được các trường hợp vừa dẫn; iv) “về mặt ngữ nghĩa, X+Y phải có nội
dung thật ăn khớp với cái tứ chung toát ra từ trong toàn thể các câu, các
bài” (Nguyễn Tài Cẩn 2005). Là một nhà khoa học chân chính ông
không ngại tự nhận: “Chúng tôi trước nay đều thiên về Rông Vát trong
tuyệt đại đa số trường hợp, vì cho rằng đó là một kết cấu đã được xác
nhận trong từ điển (Huỳnh Tịnh Của) và kết cấu đó có 2 nghĩa Vui
Thú hay Vất Vưởng hợp với tứ thơ hơn cả, nhưng sợ rằng chúng tôi còn
chủ quan, chưa đủ nhạy cảm trong thưởng thức văn học. Mong rằng bạn
đọc, nhất là các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ chịu khó suy ngẫm
thật kĩ càng về các câu thơ hiện đang còn nghi vấn, cố gắng vận dụng tất
cả sự tinh tế của mình trong nghệ thuật phân tích, để cuối cùng có thể đi
đến được những câu trả lời thích đáng nhất trong vấn đề tìm hiểu các bài
thơ cổ điển này” (Nguyễn Tài Cẩn, 2005).

III. Song Viết – một mạng kết nối các liên tưởng

Cũng xin được nói trước rằng bài viết nhỏ này không phải là một nghiên
cứu ngôn ngữ; bản thân người viết chỉ là một chuyên viên khảo cổ học
thời đại đồ đá, không có đủ tri thức và phương pháp ngôn ngữ học để
giải quyết một vấn đề hóc búa như Song Viết; vì vậy, những suy nghĩ
trình bày ở đây nếu có vô tình liên quan đến lĩnh vực hoặc tri thức ngôn
ngữ học thì đó chỉ thuần túy là một số hiểu biết cóp nhặt được khi đọc
các công trình nghiên cứu ngôn ngữ; còn lại chủ yếu là một vài liên
tưởng theo cách tiếp cận khảo cổ học mà chúng tôi học được từ Thầy
mình và suy nghĩ về câu chuyện hai chữ Song Viết ở chùa Hương năm
nào mà thôi. Trong tâm tưởng tôi, Giáo sư Trần Quốc Vượng luôn song
hành với người bạn lớn của Thầy là Giáo sư Nguyễn Từ Chi. Tâm cảm
đó chẳng khác nào một nỗi ám ảnh, bởi có một lần, nhân ngày giỗ cụ Từ,
tôi được nghe những lời tận đáy lòng Thầy về người bạn của mình:
người ta trao cho cụ Từ bộ “Y phục bất xứng kỳ đức”. Ý thầy là lúc sinh
thời cụ đã không được cư xử xứng đáng với một bậc kỳ đức kỳ tài. Vốn
hay cãi, tôi đánh bạo nói: Thưa Thầy, em lại thấy cụ Từ là người “Y
phục dĩ xứng kỳ đức”. Thầy Vượng hỏi: Tại sao cậu lại nghĩ thế? Tôi
thưa: Em thấy không có bất kỳ bộ y phục nào đẹp bằng bộ “Cạp váy
Mường” do cụ Từ dệt cho người đời cả. Thầy trở nên trầm tư, và khẽ nói
như nói với chính mình: “Có thể thế thật! Nói về cụ Từ ai cũng nghĩ
ngay đến Hoa văn Mường, Cạp váy Mường”. Rồi Thầy quay lại hỏi tôi:
“Thế cậu học được gì từ Ông cụ?”, Tôi thưa: Em học được hai chữ
“sống sít”.

Đối với tôi, các công trình của Giáo sư Từ Chi (Nguyễn Từ Chi 1974a,b;
1978, 1996, v.v…), là một khối tri thức mênh mông uyên áo, và trong
các công trình đó tôi thường nhớ tới văn phong khoa học bậc thầy của
ông, nhất là những từ lấp láy khi ông dùng để tả về nghề dệt nói chung
và về các motif hoa văn cạp váy Mường nói riêng, trong đó các từ đã
thực sự trở thành các con chữ đang sống, đang múa hát trong văn cảnh
của chúng như: “le lói”, “nhúc nhíc”, “chen chúc”, “chồng chất”, “loang
loáng”, “tim tím” v.v…Riêng từ “sống sít” của ông, tôi chẳng bao giờ
liên tưởng nó với nghĩa thực của từ, mà chỉ hình dung nó như chiếc thoi
dệt thoăn thoắt chuyển động dưới những bàn tay thành thạo của các mệ
quý tộc Mường xưa; như con tằm vàng óng không ngừng giăng tơ; như
những mặt lụa ánh lên những cát sợi mịn màng, lóng lánh; như một con
vật huyền kỳ tạo thành các dải lụa sống, phát ra những tiếng lanh canh
như tiếng những chuỗi ngọc khẽ chạm vào nhau. Tôi liên tưởng “sống
sít” với hình ảnh mẹ tôi thời chúng tôi còn thơ bé, mỗi lần thấy chúng tôi
treo vắt áo quần lung tung thì mẹ thường la: Áo Xống bừa bộn thế này
à? Còn khi sắm sanh đưa chúng tôi về bà ngoại hoặc đến nhà chị em của
mẹ “ăn cỗ” thì mẹ không bao giờ quên nhắc: Xống áo thế à? Dường như
khi nhắc thế, là mẹ tôi nghĩ đến bà ngoại và các chị em của mẹ. Mẹ
không muốn mọi người phải tủi vì thấy lũ cháu con đã nghèo, lại còn
nhếch nhác, cho nên dù có mặc áo vá thì cũng không được lôi thôi luộm
thuộm. Xống áo thế à? Hóa ra cái từ Xống đó chưa chết, cái từ đó vẫn
sống hàng ngày trong mọi gia đình Việt; cái từ đó chảy trong máu tôi hệt
như con chữ “sống sít” của cụ Từ đã ăn vào tâm não tôi vậy. Nhiều khả
năng nó chính là chiếc sarong thời thự sử, làm chức năng cả áo lẫn quần,
và khi chiếc áo được may tách riêng mặc ở phần trên của cơ thể
thì sarong trở thành chiếc xống (quần) (De Rhodes A. 1991: 252). Đến
khi chiếc áo được kéo dài ra kiêm cả quần thành áo lễ, thành bộ lễ phục
thì nó lại hiện nguyên hình là chiếc xống, mà không còn là chiếc quần
đơn trong cặp từ láy nghĩa quần áo hoặc xống áonữa.

Diễn biến trên có thể giúp trả lời câu hỏi: Tại sao lại là Xống
Áo? và/hoặc Áo Xống? Có thể là tôi tưởng tượng, có thể mẹ tôi không
bao giờ quan tâm đến trật tự từ cho thích hợp với từng văn
cảnh: Xống trước Áo sau, hay Áo trước Xống sau, khi la nhắc chúng tôi
trong hai trường hợp trên. Nhưng cái cảm giác trật tự như vậy trong tôi,
và tôi chắc rằng trong nhiều người khác nữa, là có thật. Phải chăng trong
truyền thống sâu thẳm các gia đình Việt, đều ngự một vị Ngọc Lụa Thần
y, gọi là chiếc Xống. Theo nghĩa đó, chiếc Xống không đơn thuần làm
chức năng che thân của chiếc áo, mà nó chủ yếu làm chức năng Lễ với
những nghi thức, thể hiện tư cách, thể hiện thân phận, địa vị xã hội của
người mang nó, và chiếc Xống đó đích thực là một bộ lễ phục, hoặc hơn
thế, một bộ Đại Việt Quốc phục. Chính vì vậy, khi các bà, các mẹ, các
cô, các dì, các chị nhắc ta Xống áo thế à? thì trong chiều sâu của lời
nhắc nhở đó có uy lực của những quy ước, lễ thức, chuẩn mực, vị thế,
đẳng cấp và gia phong của người mang chiếc Xống đó, và có vẻ như các
định chế xã hội mà chiếc Xống là biểu tượng đã có từ thời nảo thời nào,
có thể từ khi xã hội Việt còn đang kỳ mẫu hệ. Dù rất nhẹ nhàng, dù chỉ
như một làn gió thoảng, nhưng dường như lời nhắc nhở đó âm vang thần
lực của gia đình, dòng tộc, cộng đồng đối với kẻ mang nó: Đừng quên tư
cách làm người. Vậy thì phải chăng khi nóiXống Áo, là người phụ nữ
muốn nhắc những người đàn ông của họ phải chú ý tới gia phong đối với
người ngoài; còn khi nói tới Áo Xống là họ muốn nói tới nền nếp, trách
nhiệm với bản thân, với các thành viên trong nội bộ gia đình. Người Việt
vẫn thường nói: “quen sợ dạ, lạ sợ áo quần”, và còn hơn thế, khi nói tới
“Y phục dĩ xứng kỳ đức” thì bộ lễ phục đã có vai trò xã hội to lớn đến
nhường nào.

Bằng liên tưởng ấy, tôi đã thử lần tìm trong sử sách xem ngày xưa ông
cha ta có dùng một thứ gì tương tự như chiếc Xống không? Nếu có thì nó
được làm bằng gì? Làm như thế nào? Hình dáng của nó ra sao? Nó có
những tên gọi nào khác không? Nó có những chức năng gì? Có
loại Xống nào tên gọi khả dĩ liên hệ tới chữ Song Viết không? Bản thân
nó có phải là Song Viết không? vv… Vậy thì cách tốt nhất là tìm đến hỏi
các sử gia và các bộ sử. Một trong những mô tả sớm nhất về trang phục
của người Việt là An Nam Chí lược thì cũng chỉ có thể biết được những
dòng sau: Đời nhà Trần thì Quốc chủ đội mũ Bình-thiên, mũ Quyến vân
hay mũ Phù-dung, mặc áo cổn y, đeo đai lưng Kim Long, cổ áo đính là
trắng hay bông trắng kết lại, khăn kết tua vàng và ngọc châu, phủ tấm
vuông, tràng áo cong, tay cầm ngọc khuê…Thân vương mặc áo Tiêu-
kim-tử-phục (áo thêu kim tuyến), Hầu, Minh-tự mặc áo phượng ngư tú
phục (áo thêu chim phượng, cá). Từ đại-liêu-ban trở xuống mặc áo
cổn…Bọn quan chức, tá chức mặc áo tía, thắt đai xéo…Từ vương hầu
đến thứ dân thường hay mặc xiêm màu huyền, cổ tròn, quấn bằng lụa
trắng, thích đi giày da”. (Lê Tắc 1961: 221).
Nhưng đến cụ Phan Huy Chú thì mọi sự đã trở nên sáng tỏ: “Lê Đại
Hành lên ngôi, mặc áo long cổn, về sau áo mặc phần nhiều dùng vóc đỏ,
mũ sức chân châu. Lý Thái-tông mới chế thứ mũ gọi là “bát giác tiêu
dao” bằng vàng…Lê Thái Tông, năm Thiệu-bình thứ 4 [1437], theo lời
tâu của Lương Đăng, những khi tế trời, tế tôn miếu, lễ thánh tiết, tết
Nguyên đán, vua mặc áo long cổn, đội mũ miện, lên ngự bảo tọa; còn lễ
thường triều, những ngày mồng một và ngày rằm thì mặc áo hoàng bào,
đội mũ xung thiên…Thánh tông, năm Quang-thuận thứ 7 [1466], định
màu phẩm phục cho các quan văn võ: từ nhất phẩm đến tam phẩm mặc
áo màu hồng, tứ ngũ phẩm mặc áo màu lục, ngoài ra đều mặc áo màu
xanh…Thần-tông, năm Khánh-đức thứ 5 [1653], tháng 6, định mẫu y
phục trong nước, dài rộng khác nhau. Cho quan văn từ khoa đạo, quan
võ từ quận công, mặc thanh cát, đều dùng lá phủ đằng sau, người khác
không được dùng lạm…Dụ-tông, năm Vĩnh-thịnh thứ 10 [1714] định
hạn chế về mũ áo bằng vải thanh cát. Tục cũ nước ta dùng áo vải nhuộm
màu xanh chàm rồi phủ màu nâu, lại cho thêm ít keo, lấy chày đập, đem
phơi khô, gọi là áo thanh cát. Không cứ quan hay dân, sang hay hèn, đều
thông dụng cả, chỉ lấy dài ngắn làm mức. Về sau phần nhiều quá mức,
đến đây mới hạn định phải theo đúng thước tấc dài ngắn rộng hẹp, để
phân biệt thứ bậc. Năm thứ 16, định phẩm phục các quan văn võ lớn nhỏ
cùng nha lại binh lính đều mặc áo thanh cát, đội mũ chữ đinh, không có
phân biệt sang hèn trên dưới. Đến đây chúa Trịnh [Cương] bàn với tham
tụng là Nguyễn Công Kháng đổi định lại, để cho rõ ràng phẩm phục: áo
của hoàng thân, thân vương, mùa xuân, mùa hạ dùng sa Trung-quốc,
mùa thu mùa đông dùng đoạn Trung Quốc…Các quan văn võ và nội
giám khi chấp sự hành lễ và trông coi việc công thì đều dùng áo thanh
cát, mũ ô sa, quan văn võ khi hầu ở Nội các cũng thế”. (Phan Huy Chú
1992: 12,13).

Về chiếc áo thanh cát, cụ Phạm Đình Hổ cũng cho biết khá chi tiết:
“Ngày xưa học trò và người thường có việc công mặc áo thanh cát (màu
xanh lam) lúc thường mặc áo truy y (màu thâm), dân quê mặc áo vải
trắng thô. Bây giờ thì ai cũng mặc áo thanh cát, mà màu thâm, màu trắng
ít dùng. Áo thanh cát thứ nhất là màu hỏa minh (màu xanh sẫm), thứ nhì
là màu vi minh (màu xanh nhạt), sau nữa là màu quì sắc, tục gọi là màu
xừng. Nếu gặp quốc tang thì vương, công, khanh, sĩ đều mặc màu quì
sắc. Bây giờ không cứ người sang, người hèn đều mặc áo quì sắc cả, mà
màu hỏa minh, vi minh thì cho là quê, không dùng nữa. Lệ cũ có tang
người ta lúc thường mặc áo vải thô, đi đâu đội nón, rũ tóc che miệng, có
việc quan vào công nha, mặc áo quì sắc, bỏ nón, để búi tóc ra ngoài, đùa
cười ngoài đường không còn biết xấu hổ…Lại còn những thói dâm bôn
vô sỉ, hẹn hò nhau ở trên sông, cướp trộm tung hoành, bắt cóc những
người buôn bán. Phong tục đến thế là cùng!” (Phạm Đình Hổ 1989: 63-
64).

Vậy là đã tương đối rõ về chiếc Xống, hay bộ lễ phục Thanh Cát. Để


tăng thêm độ thuyết phục bản thân, tôi cũng lần giở những tư liệu có
hạn trong giá sách nhà mình thì thấy người Trung Quốc có chiếc Jong,
hoặc Jeong (có thể nôm hóa thành song, xống), nhưng tôi lại chưa tìm
thấy cái Jong, Jeong nào có tên Thanh Cát ở xứ người “Bắc quốc” kia
cả. Tuy nhiên cũng phải ghi nhận rằng tại quốc gia láng giềng
Philippines có chiếc Malong của người Tagalog. Đối với
tôi, Malong mang đầy âm hưởng mlong, tsong, song, xống đặc biệt khi
chúng ta biết rằng người Tagalog đa âm hóa ngôn ngữ của mình bằng
cách thêm nguyên âma vào giữa hai phụ âm đầu từ: giả sử từ căn Malay
của Xống có âm nguyên thủy là mlong thì chắc chắn đến xứ Tagalog nó
sẽ mang hình hài malong. Nguyên ủy, chiếc Malong vốn là một loại váy
quây truyền thống của nhiều bộ lạc tại Philippines, tương tự như
chiếc sarong của nhiều nhóm cư dân Đông Nam Á khác, nhất là người
Malaysia, người Indonesia và người Brunei. Sau khi Philippinese bị Tây
Ban Nha thống trị, để tránh người bản địa giấu vũ khí trong
chiếc Malong, người Tây Ban Nha buộc họ phải sản xuất loại lễ phục dệt
bằng chất liệu trong suốt, và ngày nay nó trở thành chiếc áo quốc
phục Barong của họ; người có công khôi phục và luôn mặc chiếc áo lễ
đó, chính là cố tổng thống Marcos. (Hamilton R. W. (ed.) 1998).

Nhưng có lẽ gần gũi đến mức như người chị em song sinh với
chiếc Thanh Cát của Đại Việt trong khu vực người Malay, và người
Indonesian, chính là cái mà họ gọi là Songket, hoặcSungkit. Bộ y phục
này vốn là tên gọi một loại vải dệt tay, có thêu kim tuyến, và được làm
thành bộ lễ phục của người Malay và người Indonesian. Các nhà nghiên
cứu lịch sử nghề dệt truyền thống Malaysia và Indonesia vẫn chưa khẳng
định được từ nguyên của chữSongket hoặc Sungkit, một số người cho
rằng từ đó có nguồn gốc từ chữ Songka, một loại khăn trùm đầu của tộc
người Palempang. Người Malay và người Indonesian đều thống nhất là
nghề dệt loại vải này có nguồn gốc từ bên ngoài, nhưng họ lại có quan
điểm khác nhau về quê gốc của nó: người Kelanta thì cho rằng nghề dệt
này có nguồn gốc từ phương bắc, có thể là khu vực Thái Lan hoặc
Campuchia; còn người Terengganu lại nghĩ là nghề này do các thương
nhân Ấn Độ đưa đến từ thời Srivijaya, vào khoảng thế kỷ 7 đến thế kỷ
13. Nhưng cho dù được du nhập từ Đông Dương hay Ấn Độ thì ngày
nay nghề thủ công sản xuất Songketcũng đã được con cháu của những
người thợ dệt xưa phát triển thành một ngành công nghiệp nổi tiếng thế
giới của Malaysia và Indonesia, trong khi tại các xã hội truyền thống
bộSongket vẫn là bộ lễ phục, quốc phục, và vẫn được hoàng gia Malay
dùng làm bộ Triều phục của họ (Summerfield A., John Summerfield,
editors 1999; Uchino M. 2005; Rodgers S., Anne Summerfield, John
Summerfield, 2007). Còn đối với tôi, tự dạng và ngữ âm Songket thì lại
hoàn toàn gần với tên loại vải và bộ lễ phục Thanh Cát của Đại Việt. Nói
một cách thẳng thắn, tôi hoàn toàn tin chắc Songket có cội nguồn
từ Thanh Cát Đại Việt.

Như vậy, có thể thấy rằng về phương diện ngữ âm, các từ thanh
cát, songket, song viết là hoàn toàn tương đồng. Trong lịch sử biến đổi
ngữ âm tiếng Việt chúng ta có thể dễ dàng chấp nhận quá trình biến đổi
từ tlong → tsong → song (xống) → trong → thanh → xanh, v.v…Tương
tự như vậy, quá trình biến đổi từ kep → ket → kit → cát → kiết → viết,
v.v…cũng hoàn toàn có thể chứng minh được, và đã được Giáo sư
Nguyễn Tài Cẩn chứng minh rất đầy đủ trong nhiều công trình khác
nhau của mình. Vì vậy giờ đây đã đến lúc tôi muốn gọi bộ lễ
phục Thanh Cát kia bằng chính cái tên cổ Xống Kép, hoặc một cách nôm
na là chiếc Áo Kép (De Rhodes A. 1991: 10), mà câu ca dao có lẽ không
xưa lắm vẫn còn cố níu giữ những chiếc “áo đơn áo kép” dân giã đó, để
thà là nó nhất thời thất thế tạm lánh ra “đứng nép bờ ao” chứ không hề
biến mất khỏi vị thế quốc phục của nó. Và trong tôi xót xa một câu hỏi:
Thay vì quá đỗi thoải mái, tự tin trong những bộ cánh tây tàu, không biết
đến bao giờ chúng ta mới được thấy thần thái của các đại diện ưu tú của
nước nhà trong bộ quốc phục Thanh Cát đã được Nguyễn Trãi* xông
hương bằng Bình Ngô Đại cáo lại thực sự rạng ngời tinh thần Đại Việt?

Giờ đây đã đến lúc chúng ta có thể và cần phải kiểm nghiệm sơ bộ hai
từ Xống Kép theo các tiêu chí đã được Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn xác lập:
1. Tiêu chí đầu tiên: Xống Kép là một kết cấu cổ, vì Xống trong cụm từ
xống áo là một từ cổ, và Kép (cặp (De Rhode A. 1991: 31), đáp, ghép,
tháp, thiếp) cũng là một từ cổ, hai từ đó ghép lại thể hiện nghĩa chiếc áo
kép thì đó hoàn toàn là một kết cấu cổ; 2. Về cách đọc Xống hoàn toàn
suy ra được từ Song và Képhoàn toàn suy ra được từ Viết, theo qui luật
ngữ âm lịch sử; 3. Về mặt từ loại, Xống Kép là danh từ hoàn toàn có thể
vị từ hóa; 4. Về mặt cấu tạo từ, Xống Kép là từ ghép vừa láy nghĩa, vừa
láy âm, hoàn toàn có thể đối lại được các trường hợp đã được dẫn; Xống
Kép láy nghĩa vì Xống chuyển tải âm song có nghĩa là đôi, mà kép thì
cũng chính là đôi. Xống Kép là chiếc áo kép theo hai nghĩa: nó dài gấp
đôi chiếc áo cánh; nó được làm bằng hai lần vải thành chiếc áo đúp, mặc
mùa đông là chính; 5. Cuối cùng, việc kiểm nghiệm ngữ nghĩa của Xống
Kép xem nó có nội dung thật ăn khớp với cái tứ chung toát ra từ trong
toàn thể các câu, các bài sử dụng từ Song Viết sẽ được thực hiện ở phần
IV dưới đây.

IV. Xống Kép – kiểm nghiệm ngữ nghĩa trong văn cảnh

Xống Kép là hai từ mà chúng tôi giả định là âm nôm của Song Viết, vì
vậy để phần nào có thể tự thuyết phục được bản thân mình, chúng tôi
cũng theo đòi người đi trước thử đưa hai từ đó thay vào các từ Song Viết
trong các bài thơ mà chúng ta đã quen thuộc. Chúng tôi trộm nghĩ thơ là
một lĩnh vực tinh tế không chỉ về từ ngữ, ngữ nghĩa mà còn cả về ngữ
âm. Vì vậy bên cạnh Song Viết, Song Kép, Xống Kép, Áo Kép, trong
những văn cảnh khác nhau, với tư cách là người thưởng thức, tôi muốn
thay đổi Song Kép, Áo Kép, Thanh Cát, thậm chí còn có thể mở rộng ý
nghĩa thành nền nếp, quốc phong, quốc hồn tùy theo ngữ cảnh, vì tất cả
đều vang lên nguyên âm điệu và tinh thần Song Viết, và đều chỉ cùng
một vật cụ thể là chiếc quốc phục Xống Kép – Thanh Cát. Hơn nữa về
phương diện xã hội học, tôi tin chắc rằng các nhóm xã hội Đại Việt xưa
là không đồng nhất về vị thế xã hội, vì vậy chắc chắn ngôn ngữ của họ,
dù để chỉ cùng một sự vật cũng không hoàn toàn đồng nhất. Thậm chí
ngay trong một nhóm xã hội, tùy từng sắc thái quan hệ, tùy từng văn
cảnh mà người ta có thể sử dụng những từ khác nhau cho cùng một sự
vật. Tôi cho rằng điều đó cũng có thể diễn ra đối với trường hợp chiếc
Xống Kép – Thanh Cát. Nếu phân theo nhóm lớn chúng ta có thể nghĩ
rằng ngôn ngữ sử dụng trong các gia đình đại trí thức, đại nho, đại quan
cỡ Nguyễn Trãi phải khác với ngôn ngữ của các gia đình hàn nho, tiểu
lại; đến lượt mình, ngôn ngữ của các gia đình hàn nho, tiểu lại cũng lại
khác với ngôn ngữ của các thị dân kẻ chợ; và đến lượt mình ngôn ngữ
thị dân kẻ chợ cũng lại khác với ngôn ngữ quê mộc vùng thôn ổ xa xôi,
v.v…Ấy là chưa kể các đặc trưng phương ngữ, những khác biệt ngôn
ngữ vùng miền, tộc thuộc vốn rất phổ biến ở nước ta. Vì vậy việc sử
dụng từ nào trong những từ tương đương với Song Viết cho thích hợp
với luật bằng trắc, luật đối, luật láy, từ ngữ, ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ cảnh
của từng bài thơ, câu thơ là điều có thể chấp nhận được. Và như vậy
chúng ta có thể yên tâm đôi chút để kiểm nghiệm mấy từ đã được giả
định ở trên vào các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Hồng Đức, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Hằng, và các cụ khác như dưới đây.

Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi:

1- Con cháu chớ hiềm xống kép [thanh cát] ngặt,


Thi thư thực ấy báu nghìn đời. (Ngôn chí 9)

Nghĩa: Con cháu chớ băn khoăn vì không có áo xống cho ra hồn, vì của
báu nhà ta là thi thư chứ không phải là quần áo đẹp, đắt tiền.

2- Con cháu mựa hiềm xống kép [thanh cát] tiện,


Nghìn đầu cam quít ấy là tôi. (Ngôn chí12)

Nghĩa: Con cháu việc gì phải quá băn khoăn vì áo xống có vẻ nghèo
tiện, vì nhà ta vẫn còn cả một vườn cam, nếu muốn sắm áo đẹp thì lo gì
bán đi không đủ.

3- Xống kép hằng lề phiến sách cũ,


Hôm dao đủ bữa bát cơm xoa.(Ngôn chí19)

Nghĩa: Áo xống muôn thuở của ta là chồng sách cũ kia kìa; Dù ngặt khó
nhưng sáng tối cũng đủ bữa cơm đạm bạc là ổn rồi

4- Xống kép lại toan nào của tích,


Bạc mai vàng cúc để cho con. (Thuật hứng 4)

Nghĩa: Ta nào có ý định sắm sanh áo xống làm của để giành; Với ta hoa
mai là bạc, hoa cúc là vàng để cho con đó

5- Buồng văn lấp cửa trọn ngày thu,


Đèn sách nhàn làm xống kép nhu. (Thuật hứng 13)

Nghĩa: Ta suốt ngày trong thư phòng; Đèn sách mới chính là bộ cánh
đẹp của nhà Nho vậy

6- Xống kép có nhiều dân có khó,


Cửa nhà càng rộng thế càng phiền. (Tự giới 16)

Nghĩa: Bộ cánh của kẻ sĩ càng đẹp, càng xa xỉ thì dân càng nghèo khó;
Cửa nhà thênh thang chỉ càng chuốc thêm phiền toái mà thôi.

7- Xống kép huống còn non nước cũ,


Mặc dầu thua được có ai tranh. (Tự giới 29)

Nghĩa: Xống áo của ta chính là non nước cũ vậy; Vì thế kẻ nào tranh
giành kèn cựa với ta làm gì.

8- Một yên một sách một con lều


Xống kép bao nhiêu mặc bấy nhiêu. (Tự giới 37)
- Nghĩa: Ta chỉ cần một căn lều, quyển sách và cái bàn đọc là được rồi;
Xống áo có gì mặc nấy, ta không bận tâm.

Hồng Đức Quốc âm thi tập:

9- Năm hồ nhưng lấy làm xống kép,


Bốn bể đều thời thảy nết na. (Hằng Nga nguyệt)

- Nghĩa: Ta lấy năm hồ làm áo xống; Bốn bể với ta thì cũng là chiếc áo
nết na.

9- Ngư hà xống kép ngày thường đủ,


Bạng duật đôi co thế ngại dòm. (Vịnh ngư)

- Nghĩa: Cá tôm kiếm được cũng đủ sắm sanh; Vì vậy ngại dính đến
tranh giành lừa lọc

10- Nẻo đầu kể bốn thú nhàn cư.


Xống kép ai bằng xống kép ngư. (Vịnh ngư)

- Nghĩa: Trong bốn thú nhàn thì cái nhàn của kẻ ngư ông là đầu; Xống
áo của ta là sông hồ thì hỏi có kẻ nào bằng

12- Một rìu một búa của hôm dao,


Xống kép ai bằng xống kép tiều.(Vịnh tiều)

- Nghĩa: Nghề tiều của ta sớm hôm chiếc rìu, chiếc búa; Rừng núi làm
xống áo của ta thì thử hỏi xống áo của kẻ nào bằng

13- Một cày, một cuốc phận đã đành,


Xống kép ai bằng xống kép canh. (Vịnh canh)

- Nghĩa: Nghiệp canh nông của ta gắn với cái cày cái cuốc; Ta lấy ruộng
đồng làm xống áo thì thử hỏi xống áo của kẻ nào bằng
14- Nẻo ra thời có phu đồng bọc,
Xống kép ai bằng xống kép mục. (Vịnh mục)

- Nghĩa: Kẻ mục phu quanh năm nội cỏ chở che; Thử hỏi có kẻ nào có
được bộ xống áo như ta?

15- Phong nguyệt ít nhiều xống kép [thanh cát] đủ,


Khứng đâu vay bợ khứng cho ai. (Ngư nhân thuyền)

- Nghĩa: Ta lấy gió trăng làm xống áo thì cần gì phải khứng sánh với kẻ
nào.
16- Bốn mùa xống kép một thuyền chài.
Sớm tối giang hồ tới nguyệt đài. (Ngư nhân thuyền)

- Nghĩa: Ta bốn mùa mặc chiếc thuyền chài làm xống áo; Sớm tối bạn
cùng sông hồ, trăng gió.

Bạch Vân Quốc âm thi tập:

17- Xống kép chớ rằng đã hổ,


Đến đâu thời cũng có xuân phong. (Bài33)

- Nghĩa: Ta việc gì phải hổ ngươi vì thiếu xống áo; Đến chỗ nào mà chả
có gió xuân ấm áp.

18- Khách đến hỏi nào xống kép [thanh cát],


Nửa rằng còn một túi thơ treo. (Bài 38)

- Nghĩa: Khách đến hỏi ta áo thanh cát đâu? Ta rằng có cả túi thơ kia thì
bận tâm đến xống áo làm gì!

19- Xống kép hãy còn hai rặng quít,


Thất gia chẳng hết một căn lều. (Bài 51)
- Nghĩa: Sắm thanh cát trông vào hai rặng quýt kia, nhà cửa thì đã có căn
lều này rồi.

20. - Mựa hiềm xống kép nhà còn ngặt,


Tích đức cho con ấy mới mầu.

- Nghĩa: Chẳng việc gì phải bận tâm vì không có xống áo sang trọng, để
lại cái đức cho con mới quý.

21. Xống kép liền tay, gương lờ (?) non ánh (?),
Hôm mai họp mặt, nội cỏ vườn lau.

- Nghĩa: Chiếc thanh cát đã được cởi ra, nhưng vẫn không rời tay lúc
trăng mờ, núi tỏ; kể cả sớm hôm bờ bụi tụ tập cũng vậy.

Những bài khác:

22. Bùi Xương Trạch (1451-1529):

Đêm trung thu không trăng


Lượt là vằng vặc rạng tơ hào,
Phải mịt mù nay vì cớ sao?
Nhân bởi hắc vân ngất phủ,
Há rằng ngọc thỏ hèn sao.
Hằng nga chiếm lấy làm xống áo
Thục tế tuồng ni dám ước ao,
Mựa dắng đêm nay trăng thấy nguyệt,
Thu qua đông đến quế càng cao.

23. Bùi Xương Tự (1656-1728, hậu duệ Bùi Xương Trạch)

Cửa Đạt

Cảnh thanh mát thú càng thanh mát,


Mọi cửa đều thông danh cửa Đạt.
Sóng lẩn đầu ghềnh thuở gió doi,
Khói loà mặt nước khi sương toát.
Thanh thơi bến liễu tiện vào ra,
Ngang dọc thuyền lan dầu cậy bát.
Bờ cõi văng băng chẳng cấm ngăn,
Mặc ai chiếm lấy làm xống áo.

24. Nguyễn Hằng (1548 –1625) (trong gia phả nhà văn Nguyễn Công
Hoan)

Ba mươi chín tuổi đổ đăng khoa


Xống kép [thanh cát] ai bằng xống kép [thanh cát] ta
Đãi khách vẻ vang rau lộc: muống
Điều canh chan chứa nước chè: cà.

Vài lời cuối bài viết

Sau khi kiểm nghiệm giả định Xống Kép vào 24 trường hợp trên, chúng
tôi vẫn chưa phát hiện được bất cứ mâu thuẫn nào, vì vậy cho đến bây
giờ chúng tôi tạm yên tâm với đề xuất của mình, kể cả đối với những
trường hợp mà Giáo sư Đào Duy Anh và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn còn
băn khoăn với các đề xuất của các Cụ. Tuy nhiên, bể học là vô cùng,
chúng tôi không nghĩ đề xuất của mình đã đạt tới sự thật. Với khối tri
thức tích lũy càng ngày càng lớn và trình độ hiểu biết chung của xã hội
ngày càng nâng cao không ngừng, chúng tôi tin rằng trong tương lai sẽ
được đọc các đề xuất mới, hầu góp phần thúc đẩy các thành quả nghiên
cứu ngày càng tiến gần tới chân lý, trong đó có cuộc kiếm tìm thực ngữ
của hai từ Song Viết.
________________________________

Chú thích:
* Đối với tôi, cuộc đời, sự nghiệp và số phận vắt ngang hai thế kỷ của
Nguyễn Trãi vô cùng đặc biệt: dường như cuộc đời ấy, số phận ấy luôn
gắn liền với những khúc quanh quyết định của vận mệnh dân tộc, kể cả
cho đến bây giờ và mai sau. Tôi hình dung hai chữ Song Viếtcủa ông đối
với Đại Việt có cái gì đó na ná như mấy chữ Ούτε λέγει, ούτε κρύπτει,
άλλά σημαίνει Không gom, không giấu, chỉ gợi – của thần Apolo trong
ngôi đền Delphi đối với người Hy Lạp vậy. Mong có dịp trở lại với riêng
vấn đề hấp dẫn này.

Tài liệu dẫn

De Rhodes A. 1991. Từ điển Annam – Lusitan – Latinh (Thường gọi là


Từ điển Việt – Bồ - La). Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Đào Duy Anh 1962; 2005. Sự cần thiết chỉnh lý tài liệu trong công tác
nghiên cứu và phiên dịch. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 37, tháng 4,
1962; in lại trong Đào Duy Anh – Nghiên cứu Văn hóa và Ngữ văn, Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội 2005, tr. 211-229.

Đoàn Ngọc Phan, 1975. Phải chăng song viết, song kiết là song cát. Tạp
chí Văn học, số 2-1975, Hà Nội.

Đỗ Văn Hỷ 1967. Góp phần giải quyết những tồn nghi trong “Quốc âm
Thi tập”. Tạp chí Văn học, số 6-1967, Hà Nội.
Hamilton R. W. (ed.) 1998. From the Rainbow's Varied Hue: Textiles of
the Southern Philippines. Fowler Museum of Cultural History,
University of California at Los Angeles.
Haudricourt A.G. 1960. Note sur les dialects de la resgion de Moncay,
BEFEO, tome L; fasc.1; p.172.

Lê Tắc 1961. An Nam Chí lược, Toàn bộ 19 quyển. Bản tiếng Việt của
Viện Đại học Huế, Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam.

Maspéro H. 1912. Études sur la phonétique historique de la langue


annamite; BEFEO.
Nguyễn Công Hoan 1974. Song viết hay song kiết, song viết. Tạp chí
Văn học, số 5. Hà Nội.

Nguyễn Tài Cẩn 1974, 1985. Thử tìm cách đọc nôm hai chữ «song viết».
Tạp chí Văn học, số 2 năm 1974; Đăng lại trong Một số vấn đề về chữ
Nôm, Nxb. Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội 1985, tr. 181-
209.

Nguyễn Tài Cẩn 1975, 1985. Bàn thêm về “song viết? song biết? song
kiết?. Tạp chí Văn học, số 6. 1975 ; Đăng lại trong Một số vấn đề về chữ
Nôm, Nxb. Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội 1985, tr. 210-
227.

Nguyễn Tài Cẩn 2005. Xin trở lại vấn đề Song Viết. Trong Tập biên
khảo về Khoa học xã hội và nhân văn Từ Đông sang Tây do Cao Huy
Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính chủ biên. Nxb. Đà Nẵng,
Tp. Đà Nẵng 2005.

Nguyễn Từ Chi 1974a. Cạp váy Mường. Tạp chí Nghiên cứu Nghệ
thuật, số 3/1974.

Nguyễn Từ Chi 1974b. Hoa văn cạp váy hoa văn hình học. Tạp chí
Nghiên cứu Nghệ thuật, số 4/1974.

Nguyễn Từ Chi 1978. Hoa văn Mường (Nhận xét đầu tay). Nxb. Văn
hóa Dân tộc, Hà Nội.

Nguyễn Từ Chi 1996. Góp phần Nghiên cứu Văn hóa và Tộc người.
Nxb. Văn hóa Thông tin – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội.

Phạm Đình Hổ 1989. Vũ trung tùy bút. Dựa theo bản dịch của Đông
Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú thích.
Nxb. Trẻ - Hội Nghiên cứu Giảng dạy Văn học TP. Hồ Chí Minh. Tp. Hồ
Chí Minh.
Phan Huy Chú 1992. Lịch triều Hiến chương Loại chí. Tập II: Lễ nghi
chí, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí. Nxb. Khoa học Xã hội,
Hà Nội.

Rodgers S., Anne Summerfield, John Summerfield, 2007. Gold Cloths of


Sumatra: Indonesia’s “Songkets” from Ceremony to Commodity.
Leiden: KITLV Press, Holland.

Summerfield A., John Summerfield, editors 1999. Walk in


splendor: ceremonial dress and the Minangkabau. Publisher: Los
Angeles: UCLA Fowler Museum of Cultural History1999.

Uchino M. 2005. Socio-cultural History of Palempang “Songket”.


In Indonesian and Malay World. Vol. 33, No. 96, July 2005.

Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Sử học 1976. Nguyễn Trãi
Toàn tập. In lần thứ hai - có sửa chữa và bổ sung. Nxb. Khoa học Xã
hội, Hà Nội.

Hà Hữu Nga

BONUS (tác giả Hà Hữu Nga gửi bổ sung)

Về hai chữ Song Viết trong Nôm - Lịch sử nghiên cứu


(Nguyễn Cung Thông tóm lược)

Đăng ngày: 09:16 04-03-2011

Thư mục: Học tiếng Việt

Lời dẫn: Dưới đây là thư mục nghiên cứu do anh Nguyễn Cung
Thông thực hiện và công bố trên diễn đàn Việt học. Thật sự tiện lợi cho
những ai có quan tâm đến hiện tượng Song Viết trong đọc chữ Nôm Việt
Nam.

Thư mục của anh Thông còn thiếu một vài bài đáng đọc nữa, chẳng hạn
bài của cụ Nguyễn Tiến Đoàn (trên tạp chí Hán Nôm).

Thảo luận về Song Viết, nhóm các nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng có vài
ý kiến nhỏ, nhưng không có phát kiến gì đặc biệt cả, hầu như chỉ nói lại
quan điểm của phía Việt Nam. Nhóm nghiên cứu Truyện Kiều của Trung
Quốc cũng có người nhắc đến Song Viết, và không bình luận gì.

Từ đây trở xuống là thư mục của anh Nguyễn Cung Thông.

"Đây chỉ là tóm tắt theo dòng thời gian sau 90 năm - xem thêm chi tiết
và tài liệu tham khảo trên diễn đàn

1. 1920* - Nam Phong Tạp Chí (số 31) ghi nhận Song Viết là song nhặt

2. 1925* - Nguyễn Hữu Tiến /Lê Thành Ý ghi Song Viết là song nhặt
(xem thêm bài viết của Ngô Đăng Lợi - số 14 năm 2000 đăng trên trang
1 diễn đàn này)

2. 1930(?)* - Sở Cuồng (Lê Dư) trong Bạch Vân Am Thi tập phiên Song
Viết là song nhặt (đọc trại âm nhật thành nhặt)

3. 1957 - Trần Văn Giáp /Phạm Trọng Điềm cho Song Viết là sớm viết,
sớm nhặt, lông vết

4. 1957 - Lê Trọng Khánh/Lê Anh Trà Song Viết = song nhật, song nhặt

5. 1962 - Đào Duy Anh Song Viết = thong thả, sớm tối, nô bộc

6. 1967 - Đỗ Văn Hỷ Song Viết = Suông nhạt (cũng như theo cụ Vũ Văn
Kính, 1995)
7. 1974 - Nguyễn Tài Cẩn Song Viết = rông vát, nhưng 3 thập niên sau,
ông sửa lại và cho rằng SV= tài sản, vốn liếng, của cải (theo Nguyễn
Thế trong bài tham luận đăng trên trang 1 chủ đề này thì NTC bị ảnh
hưởng các tài liệu và tin tức từ trong Nam)

8. 1974 - Nguyễn Công Hoan Song Viết = song viết (giàu nghèo) trong
bài 'song viết hay song kiết, song biết' trong Tạp Chí Văn Học 5-1974
(A)

9. 1975 - Đoàn Ngọc Phan Song Viết = song cát (sống thanh cao) trong
Tạp Chí Văn Học 2-1975

10. 1981 - Hoàng Xuân Hãn qua bài phỏng vấn của GS Nguyễn Đình
Hoà cho rằng Song Viết = thật là ...'Giáo Sư Hoàng còn dạy tôi rằng đời
Lê, người ta còn nói làm song với nghĩa là rất tốt...'

11. 1983 - Nguyễn Ngọc Bích/Đào Thị Hợi đề nghị Song Viết = công
việc trong bài 'Những địa Tầng ngôn ngữ trong lịch sử tiếng Việt' -
VICANA

12. 1984 - Bùi Văn Nguyên Song Viết = song nhật (ngày chẵn ...cho kết
bạn họp mặt)

13. 1985 - Nguyễn Quảng Tuân Song Viết = song nhật (ngày chẵn ...
nghĩ ngơi, thong thả) (A)

14. 1987 - Xuân Phúc (cũng là Paul Schneider làm việc ở Sai Gòn năm
1974 qua 'Bạch Vân Am Thi Tập'...) - Song Viết = di sản, kho tàng, công
lao ... Tác giả Lê Hữu Mục cũng đề nghị nghĩa này (xem bài viết đăng
trên trang 1 diễn đàn này của tác giả Ngô Đức Thọ)

15. 1987 – GS. Cao Xuân Hạo/Trần Xuân Ngọc Lan: Song Viết dịch chữ
Hán tư nghiệp (như tiếng Tày Nùng có chữ khoong=của, đồ đạc)
16. 1996 – GS. Lê Hữu Mục viết bài Song Viết là SÀNG VẠT trong tạp
chí Vietnamologica, số 2 - 1996

17. 1999 - Hoàng Thị Ngọ đề nghị Song Viết là song nghề (trong cuốn
"Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu
Ân trọng Kính" NXB KHXH - Hà Nội 1999) (D)

18. 2000 - Ngô Đăng Lợi Song Viết = thong(song) nhật

19. 2000 –GS. Ngô Đức Thọ Song Viết = rông (hung) viết

20. 2000 - An Chi (Huệ Thiên) cho rằng SV là song vát (âm xưa của gốc
Hán sinh hoạt) trong Kiến Thức Ngày Nay số 371 - 1/12/2000

21. 2002 - Vương Lộc ghi nhận một số cách giải thích Song Viết như
trên trong cuốn 'Từ Điển Từ Cổ ' NXB Đà Nẵng - Trung Tâm Từ Điển
Học (Hà Nội Đà Nẵng 2002)(C)

22. 2003 - Nguyễn Thị Oanh đề nghị Song Viết là hôm sớm (Văn Học,
số 7-2003) (D). Bài phản biện của AC đăng trong "Chuyện đông chuyện
tây" - tập 5 - trang 389-396 cho rằng hôm sớm không đúng so với song
vát ...

23. 2003 (?) - Nguyễn Hy Vọng đề nghị Song Viết = cách ăn mặc và
cách ăn ở dựa vào tiếng Thái và Lào

24. 2003 - Vũ Văn Kính đề nghị là suông nhạt với gốc là cụm từ thanh
đạm, thanh bạch ... Cụ cũng không chắc lắm vì '...biết đâu đấy, sau này
các bạn học chữ Nôm lại chẳng tìm được những âm đúng hơn...' (trang
39, 'Học Chữ Nôm' 2003 - NXB Mũi Cà Mau - TP HCM)

25. 2003 Nguyễn Đức Dương đưa ra kết luận "... giả thiết Song Viết đã
thắng thế rõ rệt ở 14 trong tổng số 20 câu ..." trích từ bài viết về Song
Viết của AC (D)
26. 2004 - Nguyễn Quảng Tuân viết bài trong 'Hồn Việt' số 3 đưa ra
chứng minh Song Viết = song nhặt (A)

27. 2004 – GS. Cao Xuân Hạo viết bài trong 'Hồn Việt' số 2 khen ngợi
GS Nguyễn Tài Cẩn đã biết sửa sai và 'chủ trương chấp nhận nhiều khả
năng đọc âm..' (trang 56). Ông đưa ra bảng so sánh các cách đọc SV như
tư nghiệp, tài sản, rông vát, chơi nhởi

28. 2004 GS. Lê Văn Quán dựa vào cấu trúc chữ Việt Cổ và quá trình
đơn âm hóa đề nghị SV là viết (vừa là danh từ, động từ) - bài viết cho
Hội Nghị Quốc Tế về chữ Nôm (Hà Nội 12-13/11/2004)

29. 2006 - Nguyễn Quang Hồng chủ biên trong 'Tự Điển Chữ Nôm'-
NXB Giáo Dục - ghi SV = của cải, vốn liếng (?) với dấu hỏi trong
ngoặc...và '... trong từ ngữ SV âm và nghĩa chưa được xác định chắc
chắn...' (trang 1239, 1018 )

30. 2006 - Nguyễn Thế - bài tham luận đăng trên trang 1 diễn đàn này
tóm tắt các cách giải thích (bài này được bác Đinh Tuấn dán lên 2007)-
tác giả dựa vào câu hò cổ vùng Thừa Thiên và đề nghị Song Viết =
RÔNG VÁT, GIONG VÁT

31. 2007 - tháng 7/2007, bác Nguyen.Ng mở chủ đề này trên diễn đàn
Viện Việt Học (VVH) - bác huongho trên diễn đàn ghi lại bài thơ Nôm
của Bùi Xương Tự (cũng được Nguyễn Quảng Tuân ghi trong ghi chú số
16 bên trên

32. 2007 - bác Nguyen.Ng đề nghị SV=song vách (đôi vách - cảnh sống)

33. 2008 - Song Viết = XONG VIỆC Nguyễn Cung Thông/NCT đề nghị
- viết 曰 và việt 越 đều có âm (Hán) Trung Cổ là vương PHẠT thiết
(Khang Hi) so với dịch 役 là doanh chích thiết ... Thời Nguyễn Trãi cũng
dùng SONG 双 chỉ XONG (hoàn tất - như 'Nhịn xong thì vạn sự qua'
Nguyễn Trãi)... Đọc thêm chi tiết trên diễn đàn VVH (các trang trước)
34. 5/2008 - Phạm Anh Dũng/PAD đề nghị Song Viết là tư nghiệp, song
nguyệt (dựa vào Phật Thuyết đại báo phụ mẫu trọng kinh 'No kiếm song
nguyệt 奴劍双月'). PAD cũng đưa ra so sánh song với khrong và khong
(tiếng Tày Nùng, Thái nghĩa là của cải) dựa vào bài viết mới của tác giả
Nguyễn Tài Cẩn 3/2008) để đưa ra kết luận SV là tư nghiệp, song
nguyệt/việt/viết ...

35. 7/2008 - bác lhk trên diễn đàn VVH đề nghị Song Viết là sống việc
'Hỏi : anh sống việc gì? = anh làm việc gì để sống? Trả lời : tôi sống việc
tiều...'

36. 11/2008 - bác Đinh Tuấn (diễn đàn VVH) đề nghị Song Viết là
xương 昌(một kiểu ráp chữ bình dân) hàm ý cách sống trong sáng của
nhà Nho.

37. 2009 - nhóm Nguyễn Tá Nhí cho rằng Song Viết là ruộng đất, nhà
cửa

38. 10/2009 - bác Lê Hải Nam đề nghị Song Viết có khả năng phiên âm
của tiếng Phạn sampad, nhập qua các tiếng láng giềng như Thái, Lào,
Khme rồi vào tiếng Việt - mang các nghĩa tài sản, của cải, thành công,
hạnh phúc (một đặc tính của chữ Phạn với phạm trù nghĩa rất rộng).

Vài hàng vắn tắt thân gởi các bạn trên diễn đàn - mong các ý kiến khác
cho diễn đàn thêm phong phú

(A) cố GS Nguyễn Khắc Kham cũng cho rằng Song Viết là song nhật
(bác Nguyễn Ngọc Bích bây giờ không còn theo cách giải thích này nữa
- và đề nghị 'cách ăn ở' của BS Nguyễn Hy Vọng là có lý hơn (trao đổi
riêng 27/4/2008). Nguyễn Cung Thông: điều này cũng dễ hiểu vì
trong/tlong/klong có khi ghi là công/cộng chứ không thấy tài liệu nào
ghi song bằng công cả.

(C) nhưng trong cuốn 'Từ Điển Từ Việt Cổ' của Nguyễn Ngọc San, Đinh
Văn Thiện - NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội - 2001) lại không có ghi
nhóm chữ Song Viết.

(D) "Chuyện đông chuyện tây" - tập 5 của An Chi/AC, tuy có những
điểm không đồng ý - nhưng cũng có những điểm khá đồng ý/NCT (như
phê bình về cách hiểu Song Viết/SV của Hoàng Xuân Hãn - trang 407).
Cập nhật bảng tóm tắt về Song Viết, thêm cách lý giải của chị Hoàng Thị
Ngọ (1999) và Nguyễn Thị Oanh (2003) từ sđd của An Chi ".