You are on page 1of 6

A, Tiềm năng:

a, Tiềm năng đất


Ðất chính là một dạng tài nguyên vật liệu của con
người. Chúng ta có thể hiểu đất với 2 nghĩa khác nhau: một
là đất đai dùng để ở hay xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ
con người, hai là thổ nhưỡng dùng để làm mặt bằng sản xuất
nông lâm nghiệp. Ðất theo nghĩa là thổ nhưỡng chính là vật
thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời được hình thành
do kết quả của nhiều yếu tố: động thực vật, đá gốc, khí hậu,
địa hình và thời gian. Thành phần trong cấu tạo của đất bao
gồm các hạt khoáng chiếm cao nhất là khoảng 40%, hợp
chất humic chiếm 5%, không khí là 20% và nước là 35%.
Giá trị tài nguyên đất đo bằng số lượng diện tích (ha hay là
km2) và độ phì nhiêu (độ mầu mỡ thích hợp để trồng cây
công nghiệp và cây lương thực). Tổng diện tích là 14.777
triệu ha, với 1.527 triệu ha đất bị đóng băng và 13.251 triệu
ha đất không bị phủ băng. Trong đó có 12% tổng diện tích là
đất canh tác, 24% tổng diện tích là đồng cỏ, 32% là đất rừng
và 32% là đất cư trú, đầm lầy. Trong đó diện tích đất có khả
năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện nay mới khai thác hơn
1.500 triệu ha. Tỷ trọng đất t có khả năng canh tác ở các
nước phát triển là 70% còn ở các nước đang phát triển là
36%.
b, Tiềm năng nước
Nước ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối
tương đối lớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ
thống sông lớn (diện tích lưu vực lớn hơn 10.000km2), bao
gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu
Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long. Tổng
lượng nước mặt trung bình hằng năm khoảng 830-840 tỷ
m3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước
ngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh
thổ Việt Nam. Lượng nước bình quân đầu người trên 9.000
m3/năm. Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượng tiềm năng
khoảng 63 tỷ m3/năm, phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn,
nhưng tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và
khu vực Tây Nguyên. Về hồ chứa, có khoảng 2.900 hồ chứa
thủy điện, thủy lợi tương đối lớn (dung tích từ 0,2 triệu
m3 trở lên) đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy
hoạch xây dựng, với tổng dung tích các hồ chứa trên 65 tỷ
m3. Trong đó, có khoảng 2.100 hồ đang vận hành, tổng
dung tích hơn 34 tỷ m3 nước; khoảng 240 hồ đang xây
dựng, tổng dung tích hơn 28 tỷ m3, và trên 510 hồ đã có quy
hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3. Các hồ chứa thủy điện
mặc dù với số lượng không lớn, nhưng có tổng dung tích
khoảng 56 tỷ m3 nước (chiếm 86% tổng dung tích trữ nước
của các hồ chứa). Trong khi đó, trên 2000 hồ chứa thủy lợi
nêu trên chỉ có dung tích trữ nước khoảng gần 9 tỷ m3 nước,
chiếm khoảng 14%. Các lưu vực sông có dung tích hồ chứa
lớn gồm: sông Hồng (khoảng 30 tỷ m3); sông Đồng Nai
(trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ m3); sông Mã, sông
Cả, sông Hương, sông Vũ Gia - Thu Bồn và sông Srêpok (có
tổng dung tích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3 đến 3 tỷ m3). Tổng
lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng
81 tỷ m3, xấp xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình
hàng năm của cả nước. Trong đó, lượng nước sử dụng tập
trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi mà dòng chảy
trên hệ thống sông đã bị suy giảm và với tổng lượng nước cả
mùa chỉ bằng khoảng 20% - 30% (khoảng 160 - 250 tỷ m3)
so với lượng nước của cả năm.
B, Thực trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên trên Thế giới
và Việt
Nam
2.1. Thực trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên trên Thế
giới
Con người hiện nay đang sử dụng nguồn lực thiên nhiên với
một tốc độ nhanh hơn tốc độ tái tạo và cung cấp của Trái đất
đến 20%. Trong vòng 40 năm, từ năm 1961 đến 2001, mức
tiêu thụ nguồn nhiên liệu khai thác từ lòng đất, như than, khí
đốt và dầu hỏa, đã tăng với tỉ lệ kinh khủng là 700%. Trong
khi đó, Trái đất không có đủ thời gian để hấp thụ hết một
lượng khí CO2 khổng lồ thải ra từ những hoạt động sản xuất
và khai thác của con người. Hậu quả là lượng khí thải không
được hấp thụ đó đã dần dần hủy hoại tầng ô-zôn bảo vệ Trái
đất. Từ năm 1970 đến năm 2000, số lượng sinh vật sống trên
cạn và dưới biển đã giảm đi 30%, trong khi các chủng loài
động vật nước ngọt bị thu hẹp “dân số” đến 50%. Sự suy
thoái này là hậu quả của nạn phá hủy môi trường sống, tình
trạng ô nhiễm ngày càng tăng và sự khai thác, sử dụng tài
nguyên quá mức.
2.2 Thực trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam
Tổn thất trong khai thác dầu khí của Việt Nam là 50 - 60%,
than hầm lò là 40 - 60% còn trong chế biến vàng là 60 - 70%
(tính đến năm 2004). Đây chỉ là ba trong những con số đáng
báo động về tình trạng lãng phí sử dụng tài nguyên và nhiên
liệu ở nước ta. Việt Nam có trên 5.000 mỏ, với khoảng 60
loại khoáng sản, nhưng phần lớn lại là loại mỏ vừa và nhỏ,
hầu hết đều không đủ khai thác với quy mô công nghiệp.
Thêm vào đó, nguồn tài nguyên không tái tạo này đang đứng
trước nguy cơ cạn kiệt vì sự khai thác và sử dụng quá lãng
phí. Đối với các mỏ vừa và nhỏ (chiếm đa số), sự thất thoát
không dừng lại ở một vài chục phần trăm mà nguy cơ mất
mỏ là rất nghiêm trọng. Do năng lực có hạn, khai thác phần
lớn là thủ công, nên đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được
những phần giàu nhất, bỏ đi toàn bộ các quặng nghèo và
khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu được. Bên
cạnh đó, tổn thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao.
Khai thác vàng là một ví dụ, do độ thu hồi quặng vàng trong
chế biến (tổng thu hồi) hiện chỉ đạt khoảng 30% - 40%,
nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi thải, không chỉ mất
mát mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nếu so
với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong quặng thường
chiếm 92% 97%, rõ ràng đây là một tổn thất quá lớn. Đối
với những mỏ vừa và nhỏ, chủ yếu do dân tự khai thác với
công nghệ thô sơ, vì vậy càng không thể đánh giá được hết
những tổn thất. Với tài nguyên nước, mức sử dụng nước ở
nhiều ngành công nghiệp là rất cao và lãng phí, đặc biệt khu
vực tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thất thoát nước
dùng trong sản xuất phần lớn không thể kiểm soát được. Rõ
rệt nhất là ngành bia, trên thế giới để sản xuất 1 lít bia trung
bình sử dụng khoảng 4 lít nước, song ở Việt Nam cao hơn
gấp ba lần (khoảng 13 lít nước). Về tài nguyên rừng, hiện
tại, rừng tự nhiên có khả năng khai thác gỗ không còn bao
nhiêu (ước tính khoảng 0,5 triệu ha). Diện tích rừng sản xuất
chỉ chiếm hơn 50% trong tổng diện tích rừng hiện có nhưng
phần lớn là rừng nghèo và trung bình. Như vậy, với tốc độ
khai thác tài nguyên như hiện nay, môi trường ngày càng bi
suy thoái nghiêm trọng, gây tổn thương cho con người đang
sống ở hiện tại và các thế hệ tương lai - buộc chúng ta phải
xem xét đến thước đo của sự phát triển - phát triển bền vững
và có những phương sách chiến lược
để đảm bảo thực hiện phát triển bền vững một cách có hiệu
quả
C, Giải pháp
a, Bảo vệ tài nguyên đất:
Đối với vùng đồi núi, để hạn chế xói mòn trên đất dốc phải
áp dụng tổng thể các biện pháp thủy lợi, canh tác như làm
ruộng bậc thang, đào hố vảy cá, trồng cây theo băng. Cải tạp
đất hoang, đồi núi trọc bằng các biện pháp nông-lâm kết
hợp. Bảo vệ rừng và đất rừng, tổ chức định canh, định cư
cho dân cư miền núi. Đất nông nghiệp vốn đã ít, nên chúng
ta cần có biện pháp quản lí chặt chẽ và có kế hoạch mở rộng
diện tích đất nông nghiệp. Đồng với thâm canh, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất, cần canh tác hợp lí, chống bạc màu,
glây, nhiễm mặn, nhiễm phèn; bón phân cải tạo đất thích
hợp; chống ô nhiễm đất do chất độc hóa học, thuốc trừ sâu,
nước thải công nghiệp chứa chất độc hại, chất bẩn chứa
nhiều vi khuẩn gây bệnh hại cây trồng.
b, Bảo vệ tài nguyên nước
Sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất
đã đẩy nhanh tốc độ khai thác nước, đặc biệt là nước dưới
đất (nước ngầm), do vậy chúng ta cần thực hiện một số biện
pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
1/ Cần tuyên truyền cho mọi người nhận thức được rằng
nước dưới đất (nước ngầm) là nguồn tài nguyên thiên nhiên
đặc biệt quan trọng, cần có biện pháp bảo vệ, giữ gìn để sử
dụng lâu dài. Tuy nhiên, ở một số nơi xảy ra hiện tượng khai
thác quá mức nước dưới đất đã làm giảm mực nước ngầm,
gây sụt lún đất làm hư hại các công trình trên mặt đất. Cá
biệt, có lúc, có nơi đã không thực hiện nghiệm quy trình
khai thác, thăm dò nước dưới đất gây nên tình trạng ô
nhiễm, làm suy giảm chất lượng nguồn nước có giá trị này.
Do vậy, việc khai thác, khoan thăm dò nước dưới đất cần
tuân thủ đúng các quy định về kĩ thuật khai thác, cũng như
các quy định của pháp luật.
2/ Việc chặn các dòng sông để xây dựng đập thủy điện trong
nhiều trường hợp đã gây nên tình trạng đứt dòng, nghĩa là
làm mất hoàn toàn dòng chảy phía hạ lưu công trình, gây
những ảnh hưởng xấu cho môi trường sinh thái, phát triển
bền vững. Cho nên cần có quy trình điều tiết trên nguyên tắc
quản lý tổng hợp tài nguyên nước nhằm giải quyết thỏa đáng
về lợi ích của các ngành dùng nước, lợi ích giữa thượng lưu
và hạ lưu công trình, lợi ích của từng ngành với lợi ích
chung của toàn vùng, toàn lưu vực.
3/ Chất lượng nguồn nước luôn là vấn đề quan trọng hàng
đầu, liên quan trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, được xem
là một trong những mốc cơ bản để đánh giá chất lượng cuộc
sống, nhưng trong quá trình phát triển kinh tế đã làm gia
tăng chất thải, nước thải gây ô nhiễm nguồn nước. Các chất
thải công nghiệp trong hoạt động khai khoáng, từ các nhà
máy hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông
nghiệp cùng với sự thiếu hiểu biết của người sử dụng nước,
đang làm suy giảm mạnh chất lượng nguồn nước, kể cả
nước mặt và nước ngầm. Cho nên cần phải có các biện pháp
kỹ thuật, kinh phí để xử lý chất thải, nước thải trước khi đổ
ra tự nhiên. Cần xử phạt nghiêm khắc những đối tượng đổ
chất thải, nước thải công nghiệp chưa được xử lý vào thẳng
sông suối theo đúng luật định.
4/ Phải sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên nước trong
mọi lĩnh vực kinh tế, dân sinh và nếu có thể cần có những
giải pháp kỹ thuật tiên tiến để xử lý nước thải, nằm tái sử
dụng lại nguồn nước thải trong một số trường hợp mang lại
lợi ích kinh tế và cũng là một trong những giải pháp để tiết
kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.