Nguyễn Thị Phương Loan Lớp: Anh 2- TCQT -K46

ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau thời kì đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt. Ngành dệt may cũng đã đạt được những thành tựu nhất định. Bài này sẽ đưa ra đánh gía lợi thế cạnh tranh của ngành hàng dệt may Việt Nam theo mô hình kim cương của Michael Porter. 1. Điều kiện các yếu tố sản xuất Đối với nguồn nguyên phụ liệu: hiện nay, phần lớn nguyên, phụ liệu cho ngành dệt may Việt Nam như: bông, tơ, sợi tổng hợp, hóa chất, thuốc nhuộm... vẫn phải nhập khẩu Đối với nguồn tài chính : chưa có nhiều nguồn vốn đầu tư vào ngành dệt may. Đối với thiết bị sản xuất: Vẫn tồn tại các loại máy móc cũ, hiệu quả thấp. Công tác nhập khẩu thiết bị phụ tùng sản xuất trong ngành còn nhiều bất cập. Nguồn nhân lực:còn phải đối mặt với hiện tượng biến động lao động. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh trong việc thu hút nguồn nhân lực. Điều kiện lao động chưa chuẩn trong toàn ngành theo từng khu vực. Tình trạng đình công bất hợp pháp trong ngành còn tồn tại, chưa có các chuyên gia cấp trung, cao về thị trường, công nghệ và quản trị doanh nghiệp chuyên ngành cũng như những nhà thiết kế mẫu chuyên nghiệp, công nhân may trình độ cao. 2. Điều kiện nhu cầu 2.1. Thị trường nội địa Với dân số 80 triệu người và thu nhập ngày càng tăng, thị trường trong nước là một thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng. Có nhiều doanh nghiệp tư nhân đã tìm cách chiếm lĩnh thị trường trong nước.Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp còn phải đối phó tình trạng hàng nhập lậu và trốn thuế tràn lan trên thị trường (chiếm 25%). 2.2. Thị trường nước ngoài Hàng dệt may Việt Nam đã từng bước khẳng định đuợc chất lượng và chỗ đứng trên thị truờng thế giới. Ba thị trường đầu ra lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam là Hoa Kì, EU và Nhật Bản. Tuy nhiên những nhà xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội. Cụ thể Chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đi kèm, giá, yếu tố con người, các yếu tố đạo đức mà khách hàng quan tâm, hình ảnh đất nước, hình ảnh công ty bán hàng chưa được nâng cao. Các doanh nghiệp chưa chủ động thay đổi cách tiếp cận để mở rộng thêm nguồn khách hàng. Chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại chưa cao. Chưa coi trọng công tác xây dựng, đăng ký nhãn mác, thương hiệu sản phẩm, các phương thức may gia công xuất khẩu. Ngành dệt may chưa có những biện pháp đa dạng hóa thị trường để phân tán rủi ro. Cụ thể là các thị trường như: liên bang Nga, Đông Âu, Trung Cận Đông chưa tiếp cận nhiều. 3. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan Chưa xây dựng các cơ sở chế biến bông tại các vùng trồng bông với công nghệ hiện đại, chưa đáp ứng công suất chế biến, nâng cao chất lượng bông xơ. Ngoài ra vẫn thiếu nhà máy sản xuất tơ sợi tổng hợp, sản xuất hóa chất, thuốc nhuộm, chất phụ trợ nhằm thay thế một phần nguyên, phụ liệu đang phải nhập khẩu để phục vụ ngành dệt may Việt Nam.. Đồng thời, thiếu trung tâm nguyên, phụ liệu ở Hà Nội,

thị trường xuất khẩu dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam. đưa Việt Nam vào danh sách 10 nước xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới.000 DN. chủ động và đã hội nhập khá thành công. Kết luận: Năng lực cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam vẫn còn yếu kém nhưng ngành hàng này có tiềm năng phát triển trong những năm tới. vải từ 40% xuống còn 12%. xuất khẩu tăng trên 33%. Trong tuơng lai. tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm. thuế nhập khẩu hàng may mặc giảm từ 50% xuống còn 20%. tăng thêm kim ngạch xuất khẩu. Chiến lược. đặc biệt là vào ngành dệt may và các lĩnh vực hạ tầng phục vụ cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế cũng như ngành dệt may phát triển hơn nữa. các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện thâm nhập mạnh hơn vào thị trường nước ngoài. Trong thời điểm khó khăn ở cuối năm 2008. thực hiện nhiều cam kết mở rộng thị trường. Trong đó. Từ 11/01/2007. Campuchia . hàng dệt may Việt Nam (VN) đang có nhiều lợi thế để gia tăng thị phần xuất khẩu. Lào. dệt may vẫn là mặt hàng xuất khẩu (XK) chủ lực của VN Các nhà nhập khẩu Nhật Bản. Tuy nhiên thủ tục hành chính vẫn còn ruờm rà. cơ cấu mà môi trường cạnh tranh Theo ước lượng. GDP tăng 8. Đồng Nai. Việt Nam có cơ hội thu hút dòng đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. khả năng đáp ứng đơn hàng chậm.. mẫu mã đơn giản. hiện nay Việt Nam gặp nhiều khó khăn cơ sở hạ tầng cảng biển. Do vậy khả năng cạnh tranh thấp và luôn bị động 5. Dự báo trong 5 năm tới. Chính phủ Chính phủ Việt Nam đã ban hành chiến luợc phát triển ngành dệt may Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngành này phát triển Chính phủ đã đưa Việt Nam gia nhập WTO.. Đảm bảo nền móng vững chắc cho sự phát triển ổn định. 4. Cơ hội Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang thiết lập lại thị trường mới.. lâu dài cho doanh nghiệp. với 2 triệu lao động. văn hoá doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp. nhất là các doanh nghiệp lớn đã có sự chuẩn bị tích cực. có những doanh nghiệp khác vẫn chưa xác định được chỗ đứng cho mình. Xét về yếu tố chủ quan:sức cạnh tranh yếu. ngành dệt may VN có khoảng 2. nhiều DN dệt may tại phía Nam đã ngưng hoạt động. giảm thuế. vật liệu. Bình Dương. nhuộm và hoàn tất chưa phát triển Thêm vào đó. nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững và phát triển. . chiếm gần 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đang chuyển dần các đơn hàng từ Trung Quốc.Nguyễn Thị Phương Loan Lớp: Anh 2. xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm. Ấn Độ sang Việt Nam. nguyên phụ liệu phải nhập khẩu nhiều. xuất khẩu tăng 20. Trong nước đã xây dựng được hệ thống bán lẻ. các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc sản xuất và giao hàng. 60% DN tập trung ở các tỉnh phía Nam như TPHCM. Trong khi đó.Inđônêxia. đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp may trong cả nước. Trong đó ngành dệt may đã có đóng góp xứng đáng.5%.TCQT -K46 Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tạo sự chủ động về nguồn nguyên. Long An. các doanh nghiệp Việt Nam khó lòng có thể cạnh tranh được với hàng dệt may của một số nước trong khu vực như Trung Quốc. thị trường trong nước vẫn được giữ vững và phát triển.. 6. Ngành in hoa.5%.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful