You are on page 1of 23

MỤC LỤC

1

Phần I: Tóm Tắt Vụ Kiện
 Tóm tắt:
Cuối năm 2006, Công ty SH Bình Dương ký hợp đồng bán một container (2.970 túi xách và ba-lô) cho Công ty Explore Planet Earth (EPE) Sydney, Australia theo giá FOB TP. Hồ Chí Minh 87.035 USD. Hợp đồng mua bán chỉ có một trang và hết sức sơ sài lỏng lẻo: Không quy định nguồn luật áp dụng, không thỏa thuận chế tài giải quyết tranh chấp, không nói gì về việc thưởng phạt giao hàng, thanh toán nhanh chậm, không đề cập đến khi nào quyền sở hữu chuyển từ người bán sang người mua. Điều kiện thanh toán là TT sau 60 ngày kể từ ngày giao hàng. EPE ủy thác Công ty Giao nhận Vận tải Tonkin ở Hải Phòng thuê tàu chở hàng từ TP. Hồ Chí Minh đi Sydney. Tonkin ký Booking Note với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006, hàng được bốc lên tàu tại TP. Hồ Chí Minh. MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho Tonkin, trên cơ sở đó Tonkin cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho SH người gửi hàng (vận đơn của Tonkin theo mẫu FIATA), trong đó ghi rõ EPE là người nhận hàng (xem mẫu kèm theo). Hàng đến Sydney 06/01/2007. MOL giao cho đại lý Tonkin ngày 14/01/2007. Từ đó trở đi EPE không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 AU$, hàng hóa có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn. Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở Việt Nam), ngày 01/3/2007, đại lý Tonkin đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi tới 14/4/2007, SH mới ra lệnh cho Tonkin đưa hàng về Việt Nam, nhưng Tonkin không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên SH không thể đơn giản ra lệnh chở hàng về. Ngày 04/5/2007, EPE đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý Tonkin không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi SH luôn khẳng định rằng tuy hàng bán FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, SH vẫn là chủ sở hữu lô hàng và hoàn toàn có quyền ra lệnh giao hàng hay vận chuyển về Việt Nam. Không đòi được tiền hàng từ EPE, SH đã khởi kiện Tonkin tại Tòa án dân sự TP. Hải Phòng, đòi bồi thường 1,7 tỷ VNĐ, bao gồm trị giá hàng 87.035 USD và khoảng 350 triệu VNĐ các loại tiền phạt do vi phạm thủ tục hải quan.

Hợp đồng mua bán giữa SH với EPE và Vận đơn đường biển(House

Bill):

2

88 BACK PACKS PALLOOKA 90 PALLOOKA 75 PALLOOKA 65 EXODUS 75 EXODUS 65 PALLOOKA DAYPACK FOB HOCHIMINH TOTAL Artical 2: Quality: 2970 87305.LTD 161/46 1K HIGHWAY. DONG HOA VILLAGE. Artical 4: Shipment: 3 .00 550.50 14850.00 6952. Artical 3: Payment Term: The buyer shall pay for the commodity by TT/REMITTANCE 100% within 60 days after receipt of cargos at HCM port.Quantity. BUYER: EXPLORE PLANET EARTH PTY LTD ABN 29 112 052 554 UNIT 3 154 ORIORDAN STREET MASCOT NSW 2020 AUSTRALIA TEL: 61 2 8335 6999 FAX: 84-650-781-360 DATE: OCT 1 .00 Quality of goods will be based onthe sample goods by both parties before.00 PCS PCS PCS PCS PCS PCS PCS U.SALES CONTRACT NO: EPE-SH-2006-01 SELLER: S.PRICE USD 33365 20000 30000 30900 29700 23344 AMOUNT .Amount: NO 1 2 3 4 5 6 DESCRIPTION OF GOODS SIZE QUANTITY 1125.00 20.00 225.00 16500.BINH DUONG PROVINCE.00 466.Unit price.00 500.2006 It has been mutually agreed that the Buyer agrees to buy and the Seller agrees to sell the Commodity on the terms ans conditions Specified here under: Artical 1: Commodity.63 11000.H..USD 37535. DI AN TEL:84-650-751-831 DISTRICT. VIETNAM CO. VIETNAM.00 550.

LTD TO: AUSTRALIA 4 . Artical 6: Other Conditions Any change and amendment to this contract shall be made in writing including telex and fax and signed manual agreement.Any change and amendment shall considered as internal part of this contract.Shipment shall be not later than Dec 31st 2006with the following detail: FROM : Ho Chi Minh PORT Artical 5: Parking and Marking: Commodity shall be packed by manufacturer’s export standard packs. each party keep two. This contract is made in four original copies in English with same value.. BUYER EXPLORER PLANET EARTH LTD SELLER SH VIETNAMCO.

5 .

1 ở mặt sau của vận đơn còn có quy định rằng: “Vận đơn này được ký phát theo hình thức có thể chuyển nhượng được trừ trường hợp nó ghi không thể chuyển nhượng được”. nếu chưa giao quyền này cho người khác. vận đơn mà Tonkin cấp cho SH tuy có vẻ là đích danh nhưng thực ra là vận đơn theo lệnh vì ở mục consignee (mặt trước của vận đơn ): chỉ là ghi lại tên và địa chỉ.” nghĩa là nó luôn vận đơn theo lệnh do đó trong trường hợp này vận đơn của Tokin cấp sẽ được hiểu là vận đơn theo lệnh của SH. Quyền định đoạt hàng hoá của người gửi hàng 1.Bên cạnh đó hợp đồng mua bán giữa SH và EPE là hợp đồng chỉ có giá FOB tức chỉ là căn cứ để tính giá hàng hóa chứ không phải để xác định điều kiện giao hàng hay thời điểm chuyển giao quyền sở hữu do đó đây không phải là điều kiện FOB vì thế SH vẫn còn nguyên quyền sở hữu hàng hóa trong trường hợp hàng đã được giao lên boong tàu . Bộ luật hàng hải Việt Nam. vận đơn Tonkin cấp là bằng chứng hợp đồng vận chuyển giữa SH và Tonkin chứ không phải của giữa Tonkin và người mua FOB ở Australia .) Điều 92. có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển bắt đầu chuyến đi. chứ nó không có ý nghĩa là người nhận hàng đích danh. 6 . không đưa hàng về theo lệnh của SH mà giao hàng cho EPE trong khi EPE lại chưa trả tiền. khoản 1 . thay đổi người nhận hàng hoặc cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên quan.Kết luận vận đơn của Tonkin cấp là vận đơn theo lệnh của SH và không tồn tại điều kiện giao hàng FOB do đó SH vẫn còn quyền sở hữu hàng hóa vì thế việc Tonkin không thực hiện theo lệnh của SH dẫn đến gây thiệt hại cho SH rõ ràng là vi phạm pháp luật (trái với điều 92 . Người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hoá cho đến khi hàng được trả cho người nhận hàng hợp pháp.Phần II: Lập luận của SH và Tonkin tại phiên tòa A/. Tonkin đã vi phạm hợp đồng.  Luận điểm 2: Theo SH. gây tổn thất cho SH vì vậy phải bồi thường 100% . ngoài ra theo quy định thì vận đơn House B/ L ở mục người nhận hàng luôn ghi là “consigned to order of…. mà trong vận đơn không có ghi chú nào nói rằng vận đơn này không thể chuyển nhượng được dó đó vận đơn này phải được hiểu là vận đơn theo lệnh vì nó có thể chuyển nhượng được .Lập luận của SH:  Luận điểm 1: SH cho rằng. chưa hết theo điều 3.

Bộ luật HHVN và điều 239 . Theo điều 94 về xử lý hàng bị lưu giữ và Điều 239 luật thương mại thì trong trường hợp người nhận hàng không đến nhận. Luận điểm 3: Ngoài ra Tonkin còn vi phạm nguyên tắc giao hàng.  Luận điểm 6: Tại sao Tonkin biết EPE lừa đảo SH mà vẫn cứ giao hàng cho họ? 7 . các chứng từ vận chuyển còn lại không còn giá trị để nhận hàng” . giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác có giá trị để nhận hàng quy định tại điều 89. Do đó việc Tonkin giao hàng cho EPE mà không thu hồi vận đơn gốc là trái pháp luật gây thiệt hại cho SH.  Luận điểm 4: Tonkin còn vi phạm điều 79 . Trong trường hợp này Tonkin có thể thực hiện các biện pháp trên để hạn chế thiệt hại nhưng lại không làm do đó gây thiệt hại cho SH . từ chối hoặc trì hoãn việc nhận hàng dẫn tới hàng hóa có thể bị hư hỏng thì người vận chuyển có thể thanh lý hàng bằng các biện pháp bán đấu giá để giảm thiệt hại cho hàng hóa. bộ luật HHVN. cụ thể Tonkin đã giao hàng cho EPE mà không thu hồi vận đơn gốc điều này là trái với điều 93 bộ luật hàng hải Việt Nam về nghĩa vụ trả hàng của người vận chuyển : “khi tàu biển đến cảng trả hàng người vận chuyển có nghĩa vụ giao hàng cho người nhận hàng hợp pháp nếu có vận đơn gốc. Luật thương mại về việc bán đấu giá và cầm giữ hàng : Theo điều 79 về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển : thì trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hư hỏng (do Tonkin không đưa hàng trở về Việt Nam như theo lệnh của SH dẫn đến hàng hóa bị hư hỏng và bị mất cụ thể là bị công ty EPE chiếm đoạt ) do lỗi của người vận chuyển thì người vận chuyển phải có trách nhiệm bồi thường theo giá trị hàng hóa được ghi trên vận đơn . điều 94 . trong khi đó Tonkin biết là người bán chưa thu được tiền mà cứ giao hàng là vi phạm pháp luật.  Luận điểm 5: Hợp đồng mua bán giữa SH và EPE quy định người bán phải nhận được tiền rồi mới giao chứng từ. SH còn khẳng định sau khi nhận được tiền bán hàng SH sẽ “Chuyển chứng từ gốc hoặc phát hành thư điện giao hàng bằng SURRENDER” cho khách hàng EPE để nhận hàng” (Trích nguyên văn đơn khởi kiện của SH). Sau khi hàng hóa đã được trả .

tổ chức. Quyền sở hữu đối với động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến. cá nhân nước ngoài. Vận đơn này là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển giữa Tonkin và EPE chứ không phải giữa SH và Tonkin. chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài.B/. Khoản 1. lừa đảo thì SH phải tự gánh chịu thiệt hại.Lập luận của Tonkin:  Luận điểm 1: SH đã ký hợp đồng quá sơ sài và lỏng lẻo với một công ty ma. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan. vì vậy ngoài luật Việt Nam phải áp dụng cả luật Australia (nơi đang có tranh chấp về việc chấm dứt hợp đồng vận chuyển và quyền sở hữu) để giải quyết vụ việc. Quyền sở hữu tài sản 2. BLHHVN. _Điều 70-BLHHVN. tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập. Theo Điều 3. phía SH đã nhầm lẫn khi dẫn chiếu Điều 70 của BLHHVN. phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài _Điều 766-BLDS. khi có xung đột pháp luật về hợp đồng vận chuyển phải áp dụng luật nơi trả hàng (Australia) để giải quyết. Khoản 4. BLHHVN và Công ước Hague Rules (Australia là thành viên) có xung đột. phải áp dụng Điều 1. người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển. thay đổi. đây là vụ kiện dân sự có yếu tố nước ngoài. Khoản 2. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển 1. 8 .  Về phạm vi không gian trách nhiệm người vận chuyển giữa Điều 74.  Luận điểm 2:  Theo Điều 758 và Điều 766. Nếu vậy. Bộ luật Dân sự. theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng. nếu không có thoả thuận khác. _Điều 758-BLDS.

(TACKLE TO TACKLE) _Điều 3-BLHHVN. Khoản 6. Mục b. SH ra lệnh đưa hàng về Việt Nam là không có cơ sở pháp lý. Khoản e. Khoản e của Hague Rules: (e) 'Carriage of goods' covers the period from the time when the goods are loaded on to the time they are discharged from the ship. Điều 96. 9 . như vậy Tonkin hết trách nhiệm khi dỡ xong hàng ở cảng. _Điều 74-BLHHVN.  Luận điểm 3: Theo Điều 74. được duy trì trong suốt quá trình vận chuyển và chấm dứt khi kết thúc việc trả hàng tại cảng trả hàng. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hoá được trả theo hợp đồng. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật 4. Việc trả hàng kết thúc trong các trường hợp sau đây: b.Khoản e của Hague Rules để xem Tonkin đã hoàn thành việc “vận chuyển hàng hóa” chưa? Điều 1. Ngày 14/4/2007. thì ngày 01/3/2007 (khi đại lý Tonkin đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney) là ngày giao hàng. Hague Rules áp dụng nguyên tắc phạm vi không gian trách nhiệm người vận chuyển là “từ cẩu tới cẩu: tackle to tackle”. Hague Rules cũng tương tự). BLHHVN. _Điều 74-BLHHVN. Hơn thế nữa. _ Điều 1. Trách nhiệm của người vận chuyển phát sinh từ khi người vận chuyển nhận hàng tại cảng nhận hàng. Thời điểm phát sinh và chấm dứt trách nhiệm của người vận chuyển 3. Khoản 2. nhưng trách nhiệm thì từ cẩu tới cẩu). chứ không phải tới khi giao hàng cho người nhận hàng đích danh trong kho ngoại quan Sydney (chi phí thì từ cảng đến cảng. Thời điểm phát sinh và chấm dứt trách nhiệm của người vận chuyển 1. BLHHVN thì sau 3 ngày giao hàng nếu người nhận hàng không thông báo khiếu nại gì thì coi như Tonkin đã giao “đúng và đủ” hàng (Điều 3. Khoản 3. Người vận chuyển hoàn thành việc trả hàng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cho bên thứ ba theo quy định của pháp luật hoặc quy định tại cảng trả hàng.

Người vận chuyển mất quyền giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển quy định tại Điều 79 của Bộ luật này nếu người khiếu nại chứng minh được mất mát. Khoản 2. Mục i và r. Trừ khi thông báo bằng văn bản về mất mát hoặc thiệt hại và tính chất chung của các mất mát. giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác. nếu người nhận hàng không thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển về mất mát. đại lý của người vận chuyển có lỗi gây ra. r) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không có lỗi hoặc không cố ý gây ra tổn thất hoặc không phải do người làm công. Hàng hoá được coi là đã trả đủ và đúng như ghi trong vận đơn. BLHHVN để bác bỏ sự miễn trách của Tonkin trong Điều 78 là một sự dẫn chiếu hết sức khập khiễng. _Điều 3. Miễn trách nhiệm của người vận chuyển 2. hư hỏng hàng hoá hoặc chậm trả hàng 2. Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm. đại lý hoặc đại diện của họ. hơn thế nữa đã không xin cấp vận đơn theo lệnh mà lại xin cấp vận đơn đích danh nên đã mất quyền sở hữu về hàng hóa và các quyền về vận đơn kể từ ngày giao hàng và ngày cấp vận đơn). Mất quyền giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển 1. _Điều 78-BLHHVN. hư hỏng hàng hoá chậm nhất là ba ngày._Điều 96-BLHHVN. Việc SH dẫn chiếu Điều 80. chủ sở hữu hàng. nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên ngoài. nếu mất mát hoặc hư hỏng không thể hiện rõ bên ngoài. kể từ ngày nhận hàng. Điều 78. trong vòng ba ngày. Hague Rules 6. hư hỏng hàng hoá là hậu quả do người vận chuyển đã có hành vi cố ý gây mất 10 . Giám định và thông báo về mất mát. bị lừa đảo. BLHHVN miễn “hoàn toàn” trách nhiệm cho Tonkin nếu tổn thất xảy ra do lỗi người gửi hàng (SH ký hợp đồng rất sơ sài với công ty ma. hư hỏng đó được gửi cho người chuyên chở hay đại lý của người chuyên chở tại cảng dỡ hàng trước hoặc vào lúc trao hàng cho người có quyền nhận hàng theo hợp đồng vận chuyển coi giữ. _Điều 80-BLHHVN. nếu tổn thất hàng hoá xảy ra trong các trường hợp sau đây: i) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao hàng. việc trao hàng như vậy sẽ là bằng chứng hiển nhiên của việc giao hàng của người chuyên chở như mô tả trong vận đơn. Khoản 6. hoặc.

Luật Thương mại Việt Nam để đem sang Australia xử lý lô hàng này. Phạm vi điều chỉnh 1. Bộ luật này áp dụng đối với tổ chức. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối tượng áp dụng 1. hư hỏng hàng hoá. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài. Luật Thương mại Việt Nam. cá nhân Việt Nam và tổ chức.mát. đại lý của người vận chuyển thực hiện với chủ định gây ra mất mát. cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động hàng hải tại Việt Nam. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật 4. _Điều 2-BLHHVN. BLHHVN và Điều 1. hư hỏng. Khoản 4. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó _Điều 3-BLHHVN. chậm trả hàng hoặc cẩu thả và biết rằng việc mất mát. _Điều 1-Luật TM. Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hoá được trả theo hợp đồng. 2. chậm trả hàng hoặc cẩu thả và biết rằng việc mất mát. 11 . hư hỏng hoặc chậm trả hàng đó có thể xảy ra cũng không được giới hạn trách nhiệm quy định tại Mục này Tonkin không thể lấy Điều 94. Người làm công. 2. hư hỏng hoặc chậm trả hàng đó có thể xảy ra. 3. điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này. vì việc làm này trái với Điều 2 và Điều 3. 2. BLHHVN và Điều 239.

do hợp đồng mua bán giữa SH và EPE không quy định về việc khi nào thì chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua nên quyền sở hữu lô hàng này đã chuyển sang người mua kể từ ngày 20/12/2006 (tức ngày giao hàng ở TP Hồ Chí Minh). Mục a. Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác. Trang 95. Thực tế. từ 20/12/2006. Luận điểm 4: Theo Điều 62. quyền định đoạt hàng hóa và các quyền về vận đơn đã tuột khỏi tay SH. Bộ luật Dân sự cũng quy định tương tự. quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao. Vận đơn là đích danh hay theo lệnh. Khoản 2. các quyền sở hữu. BLHHVN quy định. _Điều 248. đối với vận đơn đích danh thì các quyền về vận đơn trong đó có quyền về sở hữu hàng hóa sẽ chuyển sang người nhận hàng đích danh có tên ghi trong đó ngay lập tức khi ký phát vận đơn. hay cứ ghi vào đó chữ “Negotiable” là tự nó 12 . tặng cho. Điều 248. Khi vận đơn đã được ký phát. trao đổi. Australia Maritime Law cũng quy định rằng. Luật Thương mại. Đã là vận đơn đích danh thì không chuyển nhượng được và người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp. cho vay hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao. _Điều 86-BLHHVN. gọi là vận đơn đích danh. Ký phát vận đơn 2. SH chỉ có quyền định đoạt như Điều 92. Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng sau đây: a) Ghi rõ tên người nhận hàng.  Luận điểm 5: Vận đơn Tonkin cấp “Ghi rõ tên người nhận hàng gọi là vận đơn đích danh” như Điều 86. chuyển nhượng được hay không là do nội dung mặt trước (Box-layout Side) của vận đơn (đặc biệt là nội dung ô chữ: “Consignee”) quyết định chứ không phải do người vận chuyển ghi vào đó chữ “Straight” thì nó là đích danh. Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán. BLHHVN nếu chưa chuyển giao quyền này cho người khác. _Điều 62.

_Điều 86. 3.có thể chuyển nhượng được. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi vận đơn mà SH có là vận đơn theo lệnh (To Order B/L).1 của vận đơn Tonkin. hoặc chính xác hơn người ta không cấp bản gốc. Ký phát vận đơn 2. BLHHVN. Vì vậy. các bên chỉ có quyền thỏa thuận những gì mà Điều 87. nó không khác gì một giấy gửi hàng (WayBill) nên khi giao hàng người vận chuyển không cần thu hồi vận đơn gốc (xin xem sách giáo khoa về Luật Vận đơn: The Bill of Lading.incelaw.  Luận điểm 6: BLHHVN quy định khi trả hàng ở cảng đích.shipping update). Cả Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều phán rằng theo BLHHVN chỉ có người có tên là người nhận hàng trong vận đơn đích danh mới được nhận hàng và mới có quyền khởi 13 . Nhà xuất bản LPP London 1997 và trang 95 Australia Maritime Law) cùng án lệ “Rafaela S (2002) 2LLR. trang 168 – 169. “Surrendered” có nghĩa là bản gốc đã bị thu hồi. Tòa sơ thẩm TP. 403”. Hồ Chí Minh cũng đã xét xử một vụ kiện có nội dung hoàn toàn giống vụ kiện giữa SH và Tonkin xoay quanh quyền khởi kiện của người gửi hàng theo vận đơn đích danh. SH hoàn toàn không hiểu gì.  Luận điểm 7: Năm 2004 – 2005. thực ra không ai viết là “Surrender”. Điều 86. Về chữ “Surrender”. Trường hợp trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó. Mục b và Khoản 3.com. Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng sau đây: b) Ghi rõ tên người giao hàng hoặc tên những người do người giao hàng chỉ định phát lệnh trả hàng. BLHHVN quy định (về nội dung vận đơn). trong vụ án này thẩm phán kết luận không cần xuất trình vận đơn gốc khi nhận hàng nếu đó là vận đơn đích danh (nguồn: www. Hồ Chí Minh và Tòa phúc thẩm Tòa án Tối cao tại TP. Chỉ có người vận chuyển mới dùng chữ Surrendered để đóng vào mặt trước vận đơn với ý nghĩa như nói trên. Luật Common Law (Australia là thành viên) thì lại quy định vận đơn đích danh không chuyển nhượng được và chỉ có người có tên là người nhận hàng trong đó thì mới nhận được hàng. người vận chuyển phải thu hồi vận đơn gốc (kể cả đấy là vận đơn đích danh). Nếu SH muốn ra lệnh giao hàng thì phải ký hậu (endorse) vào sau vận đơn. chứ không phải phụ thuộc vào Điều 3. còn người gửi hàng và người nhận hàng không ai dùng chữ này cả. Hơn nữa. Một vận đơn có thể chuyển nhượng được hay không phải theo đúng chuẩn mực quy định của Khoản 2. gọi là vận đơn theo lệnh. mà phải viết là “Surrendered” (thì quá khứ).

các chứng từ vận chuyển cũng như được hiểu rõ hơn những định nghĩa và nghiệp vụ chuyên ngành hàng hải. để bảo hiểm và khiếu nại đòi bồi thường tổn thất. Phía Tonkin đã đề nghị Tòa tham khảo hai bản án này trong quá trình xét xử). Nó là một trong những chứng từ dùng để thanh toán quốc tế.Các vấn đề xoay quanh vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh: Vận đơn đường biển là một chứng từ quan trọng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. mất mát hàng hóa.kiện người vận chuyển. do căn cứ trên ba chức năng cơ sở của vận đơn: Biên lai nhận hàng để vận chuyển. SH có quyền khởi kiện người vận chuyển hay không với vận đơn như vậy nếu không có sự ủy quyền của người nhận hàng trong vận đơn ? Phần III: Bài Học Kinh Nghiệm Qua vụ việc tranh chấp này. Hồ Chí Minh. Bằng chứng của hợp đồng vận chuyển. nhóm chúng tôi đã rút ra được nhiều bài học có giá trị liên quan đến Luật pháp trong vận tải đường biển. còn người gửi hàng mặc dù có vận đơn gốc đích danh trong tay nhưng không phải là người nhận hàng hợp pháp nên không thể nhận hàng và không đủ thẩm quyền khởi kiện người vận chuyển (chi tiết xin xem bản án sơ thẩm 2332/DSST ngày 08/11/2004 của Tòa sơ thẩm và bản án phúc thẩm 10/DSPT ngày 07/4/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án Tối cao tại TP. Đây có phải vận đơn đích danh không? Có chuyển nhượng được không? SH có quyền ra lệnh giao hàng với vận đơn này không? b. 14 . Những vấn đề cốt lõi mà phía Tonkin cho là cần giải quyết trong vụ kiện này:  a. Dưới đây là những bài học mà chúng tôi đúc kết được: 1/. Chứng từ sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt và nhận hàng. SH có phải đương nhiên cứ thế có quyền lấy hàng về hay không nếu không có sự đồng ý hoặc ủy quyền của người mua? c.

Như vào năm 2007. Giao hàng mà không thu hồi B/L ở cảng dỡ Trong phạm vi vụ kiện giữa công ty SH Bình Dương và công ty vận tải Tokin mà nhóm chúng tôi nghiên cứu. hoặc chí ít là lập chứng từ không phù hợp. thì trường hợp giao hàng mà không thu hồi vận đơn gốc. gian lận thương mại hàng hải: 1. Cấp Switch B/L 4. 2. cách thức cấp vận tải đơn và giao nhận hàng hóa vận chuyển đường biển có thể dẫn đến tranh chấp. không chuyển nhượng được. có thể nhận được hàng mà không cần phải xuất trình Sea-Way Bill gốc. Australia. Ấn Độ hoặc Srilanka…. 20% hàng hóa vận chuyển khắp thế giới được mua bán sai trái. chứng từ vận chuyển này không giao dịch. người ta coi vận đơn đích danh như là một giấy gởi hàng (Sea Waybill) và khi hàng đến cảng trả hàng. gần đây còn xuất hiện chứng từ “Sea-Way Bill”. Theo đạo luật Pomerene (Title 49. Section 801) của Mỹ quy định: “Nếu là vận đơn đích danh thì người vận chuyển có thể trả hàng cho người nhận ở cảng trả hàng mà không cần nộp thêm bất cứ chứng từ gì”. khiếu nại xảy ra rất thường xuyên.Trong thương mại quốc tế thường lưu hành 2 loại vận đơn: vận đơn đích danh (straight Bill of Lading) và vận đơn theo lệnh (to order B/L). Ghi sai ngày cấp B/L 5. Nếu chưa xét đến vấn đề công ty EPE là công ty lừa đảo hay không. Hàng xếp trên boong 3. 15 . Mô tả hàng hóa không đúng. Bên cạnh đó. Những quy tắc không đồng nhất về Vận đơn đích danh giữa các quốc gia: Ở các nước theo hệ thống án lệ (Common Law Countries) như Anh. theo thống kê từ văn phòng hàng hải Quốc Tế IMB (International Maritime Bureau). nhưng rất tiện lợi vì người nhận hàng có tên ghi trên đó. Một số nguyên nhân liên quan đến hình thức. nội dung vận đơn. Mỹ. người vận chuyển có thể giao hàng cho người nhận hàng mà không cần xuất trình vận đơn gốc. thì vấn đề tranh chấp liên quan ở đây thuộc nguyên nhân số năm trong năm nguyên nhân chính được đề cập ở trên: Giao hàng mà không thu hồi B/L ở cảng dỡ. đã dẫn đến những tranh chấp liên quan đến sự thiếu hiểu biết kỹ lưỡng pháp luật Hàng Hải quy định ở mỗi quốc gia về vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh. Chính vì giữ một vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển nên những vấn đề tranh chấp. Đây là một cảnh báo đối với ngành Vận tải biển.

to the holder. that presentation of a straight consigned bill of lading by the consignee was not necessary in order to obtain delivery notwithstanding printed wording on the front of the bill requiring surrender of the bill against delivery” (Australia Maritime Law). for issuance and the transfer of the nominative bill of lading the annotation is not requested in the register of the issuing party. to the order or nominative. 16 .Theo Luật Hàng hải của Úc: Bills of Lading Act 1855 (UK) “Every consignee of goods named in a bill of lading and every indorsee of a bill of lading to whom property in the goods therein mentioned shall upon or by reason of such consignment or indorsement have passed shall have transferred to and vested in him all rights of suit and be subject to the same liabilities in respect of such goods as if the contract contained in the bill of lading had been made with himself” Án lệ tòa án ở UK “The court also stated. khoản 3). theo tinh thần và lời văn của điều 10. to the order or nominative. foreseen in art. gọi là vận đơn đích danh” (Mục a. Theo tòa án tối cao ở Hong Kong tại Brij: “…Straight Bills are also very much known to the shipping world and the essence of Straight Bills is that they are not negotiable and the contractual mandate is to delivery to the named consignee without production of the original document.” Điều 464 của luật Hàng Hải Ý: ““The original bill of lading or the original receipt for shipment delivered to the Shipper can be to the holder. khoản 3. nghị định 125/2003/ND-CP ban hành ngày 29/3/2003 của CP VN thì người kinh doanh vận tải đa phương thức được phép trả hàng cho người nhận hàng có tên trong vận đơn đích danh mà không cần thu hồi vận đơn gốc. Và “Vận đơn đích danh không thể chuyển nhượng được. on the basis of presentation of same. to order or nominative. người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp pháp”( Điều 89. Trong vận tải đa phương thức. obiter. khoản 2 Điều 86). The transfer of this original is effected in ways and with effects foreseen by the (Italian) civil code for the credit titles to the holder. 2022 and following of the civil code” và điều 467: “The holder of the negotiable original bill of lading or of the receipt for the shipment is entitled to the exercise of the right mentioned in the title. respectively. However. khoản 2 và điều 17.” Còn theo Bộ Luật HHVN năm 2005: “Ghi rõ tên người nhận hàng. or of an uninterrupted succession of endorsements or in consequence of the heading in his favour if the title is.

Còn nếu xét về mặt thương mại. Bên cạnh tranh chấp giữa SH và Tokin mà chúng tôi nghiên cứu. Như Vụ kiện tàu Hùng Vương 02 của Việt Nam năm 1998. nhất là khi xuất hàng sang các thị trường áp dụng luật án lệ như những nước nói trên. cho tới chừng nào họ ra lệnh giao hàng (hoặc ngân hàng ra lệnh giao hàng) bằng cách ký hậu vào mặt trước của tờ vận đơn (bằng cách ký hậu) để người mua nhận hàng tại cảng đích. Ấn Độ…nên sử dụng vận đơn theo lệnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Như vậy giữa Vận đơn đích danh và Vận đơn theo lệnh thì rõ ràng Vận đơn đích danh ràng buộc người giao hàng_người gởi hàng và phải chịu nhiều rủi ro cả về mặt thương mại lẫn luật pháp so với Vận đơn theo lệnh. Tuy nhiên. nhất là sang thị trường Anh. điểm khác biệt ở chỗ là “có” hay “không” xuất trình vận đơn gốc khi nhận hàng tải cảng đích. tránh dùng vận đơn đích danh.Tất cả các quy định trên đều có chung một cách hiểu về chức năng của vận đơn đích danh. luật Hàng Hải giữa các quốc gia không có sự đồng nhất. Ở điểm này. Nếu trường hợp doanh nghiệp muốn sử dụng loại vận đơn có chức năng giống 17 . Mỹ. Điều này cũng đồng nghĩa là vận đơn đích danh không thể chuyển nhượng được. địa chỉ của người nhận hàng mà ghi chữ “theo lệnh” (to Order) hoặc có ghi tên người nhận hàng đồng thời ghi thêm chữ “or Order” và có đặc điểm là có thể chuyển nhượng được cho người khác bằng cách kí hậu (Endorsement). trong tất cả các vân đơn thì vận đơn theo lệnh là phổ biến nhất vì nó bảo vệ được quyền định đoạt hàng hóa của người bán_người gởi hàng. Những lợi ích khi sử dụng vận đơn theo lệnh: Xét về mặt luật pháp thì vận đơn theo lệnh có những quy định khá chặt chẽ và thống nhất giữa các quốc gia. vận đơn đích danh một khi đã kí phát thì chỉ có người nhận hàng ghi trong vận đơn mới có quyền nhận hàng và như vậy họ mới là người định đoạt hàng hóa. Đó là vận đơn theo lệnh là vận đơn trên đó không ghi rõ tên. công ty Global Santa ở Singapore và công ty Japan – Việt Nam Petroleum ở TP Vũng Tàu cuối 2001… Chính vì lẽ đó. hay nói một cách khác là người bán-người gởi hàng.người gởi hàng. thì còn có rất nhiều những vụ kiện liên quan đến thiệt hại khi sử dụng vận đơn đích danh. Australia. người giao hàng không có quyền ra lệnh giao hàng. nếu người vận chuyển cứ trả hàng thì lập tức họ sẽ bị người cầm giữ vận đơn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại. người giao hàng hoặc người cầm giữ hợp pháp (B/L Holder in Good Faith) thì người mua – người nhận hàng hoàn toàn không có khả năng nhận hàng ở cảng trả hàng. theo nhóm chúng tôi các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện Incoterms 2000. Đó là. Một khi nó còn nằm trong tay người bán.

Vụ việc tranh chấp này diễn ra vào năm cuối 2006. F-freight: Cước phí). đa số. đồng thời Tờ khai hải quan hàng xuất khẩu lô hàng này đề ngày 18/12/2006 ở ô số 20 ghi rõ: “Điều kiện giao hàng: FOB”. mục đích mà SH lập luận lô hàng này không phải bán theo điều kiện FOB mà chỉ bán theo giá FOB là vì SH muốn chứng minh lô hàng vẫn thuộc quyền sở hữu và định đoạt của SH khi SH vẫn còn nắm giữ vận đơn trong tay. Nếu trong trường hợp này. Ở đây. SH đã khẳng định rằng: “Hợp đồng mua bán giữa SH và EPE là hợp đồng có giá FOB TP.035 USD.035 USD. công ty SH bán hàng theo điều kiện CIF hay bán theo giá CIF. Theo điều kiện này.vận đơn đích danh. trong đề tài này chúng tôi muốn phân tích sâu hơn về những lợi ích cũng như rủi ro cho các doanh nghiệp khi họ mua bán hàng hóa quốc tế theo điều kiện FOB và CIF: Theo Quy tắc chính thức của Phòng Thương mại quốc tế giải thích các điều kiện thương mại năm 2000 (gọi tắt là INCOTERMS 2000): . với những bằng chứng là những chứng từ hợp lệ theo pháp luật đã phủ nhận hoàn toàn lập luận này của SH. là bán hàng theo điều kiện FOB và mua hàng theo điều kiện CIF trong quy tắc Incoterms 2000. Tờ khai hàng xuất khẩu không thể hiện rõ điều kiện giao hàng FOB. người bán phải giao hàng qua lan can tàu tại cảng gửi 18 . Hoá đơn thương mại.035 USD” và Hoá đơn thương mại cũng ghi rõ: “Giá FOB thành phố Hồ Chí Minh 87.Lợi ích và rủi ro khi giao hàng theo FOB và CIF: Trong lập luận của công ty SH về điều kiện bán hàng cho công ty EPE. đồng thời tránh được sự ràng buộc về mặt luật pháp giữa các quốc gia và không cần phải xuất trình vận đơn gốc thì doanh nghiệp nên sử dụng Seawaybill – một vận đơn sử dụng khá phổ biến hiện nay để tránh những tranh chấp và thiệt hại thương mại. đây là giai đoạn mà các doanh nghiệp Việt Nam. 2/.Giao hàng theo điều kiện CIF (C-cost: Tiền hàng. Do đó. tức là giao hàng cho chính người có tên trong Consignee box và không thể chuyển nhượng được. thì trường hợp rủi ro khi xác minh quyền sở hữu của lô hàng tại cảng đích sẽ được hạn chế. I-insurance: Bảo hiểm.HCM 87. Tuy nhiên. chứ không phải là hợp đồng bán hàng theo điều kiện FOB”. Còn bản thân Toà nói rằng Hợp đồng thương mại. Như vậy lập luận của tòa án và SH đều hoàn toàn không hợp lý với những chứng từ đã được xác nhận theo pháp lý. trong khi đó Hợp đồng mua bán ghi rõ: “Giá hàng FOB thành phố Hồ Chí Minh 87. Điều này đã dẫn đến nhiều thiệt hại và rủi ro thương mại trong quá trình giao dịch.

không thuê được tàu. . như vậy đất nước có thêm doanh thu ngoại tệ. phải mua bảo hiểm cho hàng hoá và thuê tàu (hoặc container) vận chuyển hàng hoá đến cảng dỡ hàng.Bán FOB ít rủi ro hơn về mặt thanh toán so với bán CIF: nếu phải bán giá CIF. mua Bảo hiểm của công ty Việt Nam.Bán FOB giải quyết được tình trạng vốn thấp của các doanh nghiệp (không đủ vốn để trả trước cho cước phí vận tải và bảo hiểm). một khi người mua mất khả năng thanh toán. . Theo điều kiện này người bán chỉ cần giao hàng lên tàu tại cảng bốc hàng. nếu giành quyền thuê tàu và mua bảo hiểm cho phép các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện thuê tàu của Việt Nam.Giao hàng theo điều kiện FOB (Free On Board-Giao hàng lên tàu”. . mất mát của doanh nghiệp sẽ lớn hơn. a. Điều kiện giao hàng là FOB (Free On Board)  Những lợi ích khi xuất hàng bằng điều kiện FOB: . lô hàng có chi phí cao. Mất chủ động thuê tàu sẽ bị thiệt hại: • Thụ động với tàu bè.Bán FOB các doanh nghiệp không phải thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa nên có thể tránh được những rủi ro trong việc thuê tàu và mua bảo hiểm như giá cước tăng . tàu không phù hợp.  Những thiệt hại khi xuất hàng bằng điều kiện FOB: - Giá bán hạ (do không có chi phí vận tải) làm giảm kim ngạch xuất khẩu. phí bảo hiểm tăng . • Thiệt hại do mất đi những khoản hoa hồng do hãng tàu thưởng cho người thuê tàu.hàng. 19 . vì thiếu vốn nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam khi được thông báo tàu mới gom hàng để giao. • Thiệt hại kinh tế do nhà xuất khẩu có khả năng lựa chọn thuê tàu cước phí rẻ hơn cước phí đã tính giá cho người mua bán theo điều kiện CFR (CFR = FOB + Freight) • Ngoài ra. Nhiều trường hợp bị phạt tàu do gom hàng không đủ phải kéo dài thời hạn giao hàng.

Làm thủ tục xuất khẩu. để tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro thì nên xuất FOB nhập CIF hay xuất CIF nhập FOB? Sau đây là bảng số liệu xuất khẩu theo điều kiện CIF – nhập khẩu theo điều kiện FOB của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2007: 20 - Người mua Trả tiền. trả phí. b. Chịu rủi ro hàng hóa khi hàng đã qua lan can tàu ở cảng xuất khẩu qui định. vì trước khi tàu giao B/L. mua bảo hiểm cho hàng hóa và hạn chế rủi ro một các tối đa bởi vì người bán chỉ giao quyền định đoạt hàng hóa cho người mua khi được thanh toán mà không phải chịu trách nhiệm hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng trên đường vận chuyển. Giao hàng lên tàu. họ đề fax qua hãnh tàu nước ngoài để đạt được sự chấp thuận của hãnh tàu (thời gian này thường mất từ 1 đến 2 ngày). Điều kiện giao hàng là CIF (Cost Insurance Freight) Trách nhiệm và nghĩa vụ của bên bán và bên mua: Người bán Chuẩn bị hàng hóa Thuê tàu và trả cước. hư hỏng.• Nếu thuê tàu của Việt Nam sẽ thuận lợi và nhanh chóng khi lấy vận đơn đường biển. hợp đồng vận chuyển và hợp đồng bảo hiểm. Dưới góc độ pháp lý. - . nhận hàng Làm thủ tục nhập khẩu. sau đó là để nhận hàng hay tiền bảo hiểm trong trường hợp hàng hóa bị mất mát. thì hợp đồng mua bán hàng hóa với điều kiện giao hàng CIF kết hợp ít nhất các yếu tố của ba loại hợp đồng: hợp đồng mua bán. Mua bảo hiểm. vừa đảm bảo cho mình một lợi nhuận tối đa khi trả cước phí vận chuyển. Người mua: Nhận được một cách nhanh chóng nhất quyền định đoạt hàng hóa để có thể hoặc bán lại hàng hóa cho người thứ ba hoặc sử dụng chứng từ này để vay tín dụng ngân hàng. Cung cấp chứng từ. Còn nếu xét về góc độ thương mại thì lợi ích của bên bán và bên mua khi thực hiện giao dịch theo điều kiện CIF: Người bán: vừa cung cấp hàng hóa cho người mua. Như vậy đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

câu hổi mà chúng tôi đặt ra là vì sao SH lại chọn phương thức thanh toán chuyển tiền T/T trả sau. khả năng tín dụng. Như vậy việc xuất khẩu theo điều kiện CIF.Năm 2007 Điều kiện F. thay vì chỉ xuất khẩu được 47. Phần ngoại tệ tăng thêm 3. trong khi: . phương tiện vận chuyển (tàu hoặc container).32 Điều kiện CIF (TỷUSD) 50.Tỷ lệ phí bảo hiểm hàng hoá từ: 0.2% . 21 . Như đã thấy. nếu tất cả các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu theo điều kiện FOB. không có thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh.86 Cán cân xuất siêudự kiến (Tỷ USD) (+) 2. cho doanh nghiệp và cho cá nhân. tuỳ theo tỷ trọng của hàng hoá.54 Bảo hiểm (I)+ Cước vận tải (F) (Tỷ USD) (+) 3.65 52.9% trên trị giá CIF.EPE là doanh nghiệp lần đầu tiên hợp tác với SH.65 tỷ USD.Tỷ lệ cước tàu từ 5 – 10% trên trị giá CIF.31 Xuất khẩu Nhập khẩu Ghi chú: 48.20 . Còn nếu sử tất cả các doanh nghiệp trong cả nước đều xuất khẩu theo điều kiện CIF. . thay vì 52.0.Tỷ lệ bảo hiểm (I) và cước tàu (F): Theo bảng tính trên lấy trung bình là 7%. kim ngạch nhập khẩu trong năm 2007 của cả nước chỉ là 48.54 tỷ USD theo điều kiện FOB.86 tỷ USD.Chọn phương thức thanh toán nào để tối thiểu hoá rủi ro? Trong vụ tranh chấp về vận đơn giữa SH và Tonkin. nhập khẩu theo điều kiện FOB. địa điểm giao hàng. chúng ta sẽ xuất khẩu được 50.55 tỷ USD.B (Tỷ USD) 47.32 tỷ USD cho quốc gia là do thu được tiền bảo hiểm và cước tàu.55 (-) 3. Số ngoại tệ nhập khẩu giảm (-) 3. theo những quy định đã phân tích và số liệu thực tế đã tạo ra lợi ích cho quốc gia.O.lịch sử thanh toán… . tuỳ theo loại hàng hoá.Giữa SH và EPE không có bất kì quan hệ hay cơ sở tin tưởng nào để SH chắc chắn rằng EPE sẽ thanh toán sau 60 ngày kể từ ngày giao hàng. 3/. do đó tiết kiệm được tiền bảo hiểm và cước tàu phải trả cho nước ngoài. Đối với quốc gia có thể làm thay đổi cán cân giữa xuất khẩu và nhập khẩu. .20 tỷ USD nhập khẩu theo điều kiện CIF. Đối với doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro và gia tăng lợi nhuận.

Hợp đồng được kí kết có giá trị lớn: 87 035USD Như vậy chọn phương thức chuyển tiền trả sau là hoàn toàn rủi ro đối với nhà xuất khẩu là SH. L/C có thể dung hoà được lợi ích và rủi ro của hai bên. Trên thực tế. Ở đây. để biết được khả năng. . do việc giao hàng và thanh toán là hai quy trình hoàn toàn tách rời nhau. thiếu kinh nghiệm và họat động không hiệu quả. không được tổ chức tốt. chúng tôi đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp và ít rủi ro nhất: .Doanh nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động xuất nhập khẩu vì sai sót trong khâu lập chứng từ thường xảy ra rất phổ biến ở những doanh nghiệp hoạt động bán chuyên nghiệp. chứng tỏ SH thiếu hiểu biết sâu sắc về giao dịch T/T cũng như các phương thức thanh toán khác để có thể chọn cho mình một phương thức tối ưu nhất và an toàn nhất. doanh nghiệp xuất khẩu cần yêu cầu ngân hàng phục vụ mình tư vấn về khả năng. uy tín của ngân hàng phát hành. các quy tắc văn bản về nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Nếu doanh nghiệp là nhà nhập khẩu. doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường không có bộ phận chuyên trách về quy trình giao dịch bằng L/C. sau đó là D/P. ngôn ngữ. Nếu doanh nghiệp là nhà xuất khẩu thì phương thức chuyển tiền trả trước là an toàn nhất.Áp dụng nguyên tắc KYC (Know Your Customer): biết khách hàng của bạn là ai trong mọi hoàn cảnh. nhưng rõ ràng khi SH chọn điều kiện T/T trả sau đã chứng tỏ một sai lầm nghiêm trọng và không đáng có đối với một doanh nghiệp xuất khẩu 15 năm kinh nghiệm. doanh nghiệp phải có một bộ phận nắm vững thông tin về khách hàng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. môi trường kinh doanh khác nhau. có thể lựa chọn ghi sổ. Doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu ở vị trí địa lý khác nhau.. Ngoài ra. uy tín của ngân hàng phát hành.Phải biết rõ doanh nghiệp ở vị thế mua hay vị thế bán. Hiểu khách hàng của bạn là ai đóng vai trò tiên quyết trong lựa chọn phương thức thanh toán. chúng tôi không tập trung vào việc phân tích các phương thức thanh toán. ít tập huấn chuyên môn và không nắm vững tình hình thực tế. Không thể phủ nhận những ưu điểm vượt trội của phương thức thanh toán này: chi phí thấp ( thấp nhất so với các phương thức khác). 22 . trình độ cũng khác nhau do đó nguồn gốc của mọi rủi ro là vấn đề có thể nảy sinh bất cứ lúc nào mà doanh nghiệp cần lưu ý. . Đối với L/C. Việc lựa chọn các phương thức thanh toán đối với các khách hàng khác nhau là hoàn toàn khác nhau. tốc độ nhanh và thủ tục rất đơn giản. chuyển tiền trả sau hoặc nhờ thu trơn. cũng như các điều khoản cụ thể trong L/C để thu được tiền nhanh nhất và ít rủi ro nhất. hoặc có nhưng bộ phận này yếu.

23 .HẾT.