TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

---------  ---------

BÁO CÁO ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
(HỆ TRUNG CẤP)

ĐỀ TÀI : TÌM HIỂU CẤU TRÚC BẢO TRÌ MÁY TÍNH

Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên

: MAI THANH HỒNG : TẠ DUY QUÂN NGUYỄN TIẾN DŨNG NGUYỄN CHÍ QUYẾT

Lớp Niên khóa

: TIN1- K56 : 2009-2011

HÀ NỘI , NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 2011 1

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, đất nước ta đang dần đổi mới và buớc vào thời kí công nghiệp , vừa xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật vừa phát triển nền kinh tế đất nuớc. Hiện nay nước ta đang xây dựng và phát triển các khu công nghiệp , khu đô thị , cao ốc … Do đó, ngành công nghệ thông tin không thể nào thiếu và có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng như tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới nói chung và các quốc gia trong tố chức WTO nói riêng đặt ra cho nền kinh tế và sản xuất của chúng ta cần phải đáp ứng được các yêu cầu chung của thế giới. Có thể nhận thấy một điều là nền sản xuất của chúng ta hiện tại mang tính thủ công và hết sức lạc hậu, do đó điều kiện cần và đủ để quá trình hội nhập thành công là phải hiện đại hóa nền kinh tế, hiện đại hóa và tự động quá trình sản xuất. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến những cuộc cách mạng về khoa học kĩ thuật và gần đây nhất là cuộc cách mạng về công nghệ thông tin. Với sự trợ giúp của máytính và hệ thống máy tính, con người đã nâng cao năng suất và tự động hóa ngày một hiệu quả hơn. Nằm trong chương trình đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin của trường đại học công nghiệp hà nội . Với mục đích bổ sung kiến thức và kĩ năng nghề nghịệp làm tiền đề cho quá trình công tác sau này . Nhóm chúng em chọn đề tài: TÌM HIỂU CẤU TRÚC VÀ BẢO TRÌ MÁY TÍNH. Đề tài này nhằm trang bị cho em những nội dung như sau: + Lịch sử phát triển của máy tính , các thế hệ của máy tính , và cách phân loại máy tính ,các biến đổi cơ bản của hệ thống . + Giới thiệu các thành phần cơ bản của một hệ thống máy tính , khái niện về cấu trúc máy tính , mô tả kiến trúc máy tính , các kiểu cấu tạo . + Giới thiệu cấu trúc của bộ vi sử lý trung tâm, tổ trức chức năng và nguyên lý hoạt động của các bộ phận bên trong máy tính mô tả đặc điểm chi tiết các bộ phận trên máy tính , và một số kỹ thuật sử lý trong quá trình vận hành máy tính.
2

Cuối cùng nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em trong thời gian vừa qua cùng toàn thể các thày cô giáo trong khoa công nghẹ thông tin,đã nhiệt tình giúp đỡ và cho chúng em nhiều kiến thức quý giá về những vấn đề mà chúng em đang tìm hiểu giúp chúng em hoàn thành đề tài thực tập một cách tốt nhất . Tuy nhiên đề tài này vẫn còn nhiều thiếu sót mong các thầy, cô thông cảm và góp ý kiến cho chúng em.Chúng em xin chân thành cảm ơn! * chúng em xin chân thành cám ơn thầy cô!

MỤC LỤC
PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ MÁY TÍNH:
3

1.1. 1.2. 1.3.

CÁC THẾ HỆ MÁY TÍNH……………………………………..trang 6 PHÂN BIỆT MÁY TÍNH XÁCH TAY VÀ MÁY BÀN………trang 11 PHẦN CỨNG VÀ PHẦN MỀN………………………………..trang 11

PHẦN 2. NHỮNG THÀNH PHẦN CƠ BẢN TRONG MÁY TÍNH: 2.1. MAINBOARD………………………………………… ………….trang 14 2.2. CPU………………………………………………………………...trang 20 2.3. RAM…………………………………………………………….….trang 23 2.4. Ổ ĐĨA CỨNG ………………………………………….……….….trang 28 2.5. CD, CD-RW, DVD……………………………………………..….trang 38 2.6. FDD………………………………………………………………...trang 42 2.7. BÀN PHÍM , CHUỘT…………………………………………..….trang 43 2.8. MÀN HÌNH ………………………………………………………..trang 50 2.9. BỘ NGUỒN ……………………………………………………..…trang 58 2.10. VỎ MÁY ……………………………………………………….…trang 64 PHẦN 3. BẢO TRÌ , NÂNG CẤP MÁY TÍNH: 3.1. BẢO TRÌ MÁY TÍNH …………………………………………….trang 68 3.2. NÂNG CẤP MÁY TÍNH ……………………………………...…..trang 70 - NÂNG CẤP CPU………………………………………………… .trang 70 - NÂNG CẤP RAM …………………………………………………trang 71 - NÂNG CẤP ROM BOIS …………………………………………..trang 73 - NÂNG CẤP HDD………………………………………..…………trang 75 - NÂNG CẤP CD-ROM, CD-RW…………………………………...trang 76 - NÂNG CẤP HỆ ĐIỀU HÀNH……………………………………..trang 76

PHẦN 4. MỘT SỐ LỖI VÀ CÁCH KHẮC PHỤC: 4.1. LỖI MAINBOARD………………………………………………..trang 78 4.2. LỖI Ổ CỨNG ……………………………………………………..trang 79 4.3. LỖI RAM………………………………………………………….trang 79
4

.7.trang 81 4. LỖI CPU………………………………………………………… .trang 81 4. Lịch sử phát triển máy tính thường được nhắc đến các thế hệ khác nhau của thiết bị máy tính. Một thế hệ dùng để chỉ tình trạng cải thiện trong quá trình phát triển sản phẩm.trang 80 4.4. CÁC THẾ HỆ CỦA MÁY TÍNH : Trong quá trình phát triển của máy tính.…………….1..trang 82 PHẦN 1: TÌM HIỂU TỔNG QUAN VỀ MÁY TÍNH 1. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong những tiến bộ khác nhau của công nghệ máy tính mới. LỖI MÀN HÌNH…………………………………….. LỖI MÁY TÍNH NHẬN BIẾT QUA ÂM THANH……………. Với mỗi thế 5 . LỖI NGUỒN MÁY TÍNH ………………………………………..6.5.4.

Mỹ) thiết kế và chế tạo.1. Với ENIAC.Kết quả của thu nhỏ. Điểm khác biệt giữa ENIAC với các thế hệ máy tính khác là ENIAC sử dụng hệ đếm thập phân chứ không fải nhị phân. mạnh hơn và hiệu quả hơn và đáng tin cậy. Phát hiện mới liên tục được phát triển có ảnh hưởng đến cách chúng ta sống. rẻ hơn. Thế hệ máy tính thứ nhất (1945 . các con số được biểu diễn 6 . tiêu thụ lượng điện năng khoảng 140Kw và chiếm 1 diện tích khoảng 1393 m2.1958) : Điển hình của thế hệ này là 3 loại máy tính sau. Số liệu kỹ thuật: ENIAC là 1 chiếc được thể hiện bằng 1 vòng gồm 10 đèn chân không. 1. là chiếc máy số hoá điện tử đa năng đầu tiên trên thế giới. các mạch đã nhận được nhỏ hơn và tiên tiến hơn so với thế hệ trước đó trước khi nó. Nguồn gốc: Dự án chế tạo máy tinh ENIAC được bắt đầu vào năm 1943. Mỗi thế hệ của các máy tính được đặc trưng bởi phát triển công nghệ chính mà về cơ bản thay đổi cách thức các máy tính hoạt động. và bộ nhớ máy tính có tỷ lệ tăng lên. làm việc và vui chơi. Tìm hiểu về mỗi thế hệ và những phát triển dẫn đến các thiết bị hiện tại mà chúng ta sử dụng ngày nay. nặng hơn 30 tấn.1. Nó là nền tảng để phát triển máy tính sau này Máy tính ENIAC (Electronic Numberical Integrator And Command) do John Mauchly và John Presper Eckert (đại học Pensylvania .hệ mới.000 bóng đèn chân không. tốc độ. Đây là 1 nỗ lực nhằm đáp ứng yêu cầu thời chiến của BRL (Ballistíc Research Laboratory . trong đó tại mỗi thời điểm chỉ có 1 đèn ở trạng thái bật để thể hiện 1 trong 10 chữ số từ 0-> 9 của hệ máy tính khổng lồ với 18. kết quả là các thiết bị ngày càng nhỏ hơn. Mặc dù vậy nó làm việc nhanh hơn nhiều so với cac loại máy tính điện cơ cùng thời với khả năng thực hiện 5000 fép tính cộng trong 1 giây đồng hồ. sức mạnh.Phòng nghiên cứu đạn đạo quân đội Mỹ) trong việc tính toán chính xác và nhanh chóng các bảng số liệu đạn đạo cho từng loại vũ khí mới.

Với sự ra đời và thành công của ENIAC.1. Dù vậy. Hoạt động thực tế: Máy chỉ thực sự hoạt động vào tháng 11/1945 với nhiệm vụ đầu tiên không fải là tính toán đạn đạo mà thực hiện các tính toán fức tạp dùng trong việc xác định tính khả thi của bom H. Mỗi chữ số thập phân. Đây là chiếc máy mở đầu cho dòng máy tính mini của DEC. Đèn bán dẫn là phát minh lớn của phòng thí nghiệm Bell Labs trong năm 1947.2. Bộ nhớ của máy bao gồm 20 bộ "tích luỹ". có bao thủy tinh và chân không. tỏa nhiệt ít hơn trong khi vẫn có thể được sử dụng theo cùng cách thức của đèn chân không để tạo nên máy tính. 7 . DEC được thành lập vào năm 1957 và cũng trong năm đó cho ra đời sản phẩm đầu tiên của mình là máy PDP-1 như đã đề cập ở trên. 1. năm 1946 được xem như năm mở đầu cho kỷ nguyên máy tính điện tử. các máy tính bán dẫn hóa hoàn toàn mới bắt đầu xuất hiện trên thị trường máy tính. vốn rất phổ biến trong các máy tính thế hệ thứ ba. đèn bán dẫn là một thiết bị ở trạng thái rắn được chế tạo từ silicon có nhiều trong cát có trong tự nhiên. Thế hệ máy tính thứ hai (1958 – 1964): Sự thay đổi đầu tiên trong lĩnh vực máy tính điện tử xuất hiện khi có sự thay thế đèn chân không bằng đèn bán dẫn. với đại diện tiêu biểu là máy PDP-1 của công ty DEC (Digital Equipment Corporation) và IBM 7094 của IBM. Nó đã tạo ra một cuộc cách mạng điện tử trong những năm 50 của thế kỷ 20. Việc sử dụng đèn bán dẫn trong chế tạo máy tính đã xác định thế hệ máy tính thứ hai. có bảng kim loại. rẻ hơn. mãi đến cuối những năm 50. Việc lập trình trên ENIAC là công việc vất vả vì fải thực hiện nối dây bằng tay thông qua việc đóng/mở các công tắc cũng như cắm vào hoặc rút ra các dây cáp điện. mỗi bộ có khả năng lưu jữ 1 số thập fân có 10 chữ số. Việc có thể sử dụng máy vào mục đíck khác với mục đíck ban đầu cho ta thấy tính đa năng của ENIAC. Đèn bán dẫn nhỏ hơn. Không như đèn chân không vốn đòi hỏi phải có dây.dưới dạng thập phân và việc tính toán cũng được thực hiện trên hệ thập phân. Máy hoạt động dưới sự quản lý của BRL cho đến khi nó bị tháo rời vào năm 1955. kết thúc sự nỗ lực nghiên cứu của các nhà khoa học đã kéo dài trong nhiều năm liền trước đó.

Cấu hình với nhiều thiết bị ngoại vi của máy IBM 7094. Ở đây có nhiều điểm khác biệt so với máy IAS mà chúng ta cần lưu ý. Điểm quan trọng nhất trong số đó là việc sử dụng các kênh dữ liệu. Một kênh dữ liệu là một module nhập/xuất độc lập có bộ xử lý và tập lệnh riêng. Trên một hệ thống máy tính với các thiết bị như thế, CPU sẽ không thực thi các chỉ thị nhập/xuất chi tiết. Những chỉ thị đó được lưu trong bộ nhớ chính và được thực thi bởi một bộ xử lý chuyên dụng trong chính kênh dữ liệu. CPU chỉ khởi động một sự kiện truyền nhập/xuất bằng cách gửi tín hiệu điều khiển đến kênh dữ liệu, ra lệnh cho nó thực thi một dãy các chỉ thị trong máy tính. Kênh dữ liệu thực hiện nhiệm vụ của nó độc lập với CPU và chỉ cần gửi tín hiệu báo cho CPU khi thao tác đã hoàn tất. Cách sắp xếp này làm giảm nhẹ công việc cho CPU rất nhiều. Một đặc trưng khác nữa là bộ đa công, điểm kết thúc trung tâm cho các kênh dữ liệu, CPU và bộ nhớ. Bộ đa công lập lịch các truy cập đến bộ nhớ từ CPU và các kênh dữ liệu, cho phép những thiết bị này hoạt động độc lập với nhau. 1.1.3. Thế hệ máy tính thứ ba (1964 – 1974): Một đèn bán dẫn tự chứa, đơn lẻ thường được gọi là một thành phần rời rạc. Trong suốt những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ 20, các thiết bị điện tử phần lớn được kết hợp từ những thành phần rời rạc – đèn bán dẫn, điện trở, tụ điện, v.v... Các thành phần rời rạc được sản xuất riêng biệt, đóng gói trong các bộ chứa riêng, sau đó được dùng để nối lại với nhau trên những bảng mạch. Các bảng này lại được gắn vào trong máy tính, máy kiểm tra dao động, và các thiết bị điện tử khác nữa. Bất cứ khi nào một thiết bị điện tử cần đến một đèn bán dẫn, một ống kim loại nhỏ chứa một mẫu silicon sẽ phải được hàn vào một bảng mạch. Toàn bộ quá trình sản xuất, đi từ đèn bán dẫn đến bảng mạch, là một quá trình tốn kém và không hiệu quả.Những vấn đề như vậy đã làm nền tảng cho việc dẫn đến các bài toán mới trong công nghiệp máy tính. Các máy tính thế hệ thứ hai ban đầu chứa khoảng 10000 đèn bán dẫn. Con số này sau đó đã tăng lên nhanh chóng đến hàng trăm ngàn, làm cho việc sản xuất các máy mạnh hơn, mới hơn gặp rất nhiều khó khăn.

8

Sự phát minh ra mạch tích hợp vào năm 1958 đã cách mạng hóa điện tử và bắt đầu cho kỷ nguyên vi điện tử với nhiều thành tựu rực rỡ. Mạch tích hợp chính là yếu tố xác định thế hệ thứ ba của máy tính. Trong mục tiếp sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một cách ngắn gọn về công nghệ mạch tích hợp. Sau đó, hai thành viên quan trọng nhất trong các máy tính thế hệ thứ ba, máy IBM System/360 và máy DEC PDP-8, sẽ được giới thiệu cùng với các tính năng nổi bật của chúng. 1.1.4. Thế hệ máy tính thứ 4 (1974 – HIỆN NAY): Với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ, mức độ cho ra đời các sản phẩm mới ở mức cao, cũng như tầm quan trọng của phần mềm, của truyền thông và phần cứng, việc phân loại máy tính theo thế hệ trở nên kém rõ ràng và ít có ý nghĩa như trước đây. Trong phần tiếp theo, hai thành tựu tiêu biểu về công nghệ của máy tính thế hệ thứ tư sẽ được giới thiệu một cách tóm lược. Bộ nhớ bán dẫn: Vào khoảng những năm 50 đến 60 của thế kỷ này, hầu hết bộ nhớ máy tính đều được chế tạo từ những vòng nhỏ làm bằng vật liệu sắt từ, mỗi vòng có đường kính khoảng 1/16 inch. Các vòng này được treo trên các lưới ở trên những màn nhỏ bên trong máy tính. Khi được từ hóa theo một chiều, một vòng (gọi là một lõi) biểu thị giá trị 1, còn khi được từ hóa theo chiều ngược lại, lõi sẽ đại diện cho giá trị 0. Bộ nhớ lõi từ kiểu này làm việc khá nhanh. Nó chỉ cần một phần triệu giây để đọc một bit lưu trong bộ nhớ. Nhưng nó rất đắt tiền, cồng kềnh, và sử dụng cơ chế hoạt động loại trừ: một thao tác đơn giản như đọc một lõi sẽ xóa dữ liệu lưu trong lõi đó. Do vậy cần phải cài đặt các mạch phục hồi dữ liệu ngay khi nó được lấy ra ngoài. Năm 1970, Fairchild chế tạo ra bộ nhớ bán dẫn có dung lượng tương đối đầu tiên. Chip này có kích thước bằng một lõi đơn, có thể lưu 256 bit nhớ, hoạt động không theo cơ chế loại trừ và nhanh hơn bộ nhớ lõi từ. Nó chỉ cần 70 phần tỉ giây để đọc ra một bit dữ liệu trong bộ nhớ. Tuy nhiên giá thành cho mỗi bit cao hơn so với lõi từ. Kể từ năm 1970, bộ nhớ bán dẫn đã đi qua tám thế hệ: 1K, 4K, 16K, 64K, 256K, 1M, 4M, và giờ đây là 16M bit trên một chip đơn (1K = 210, 1M = 220).
9

Mỗi thế hệ cung cấp khả năng lưu trữ nhiều gấp bốn lần so với thế hệ trước, cùng với sự giảm thiểu giá thành trên mỗi bit và thời gian truy cập. Bộ vi xử lý: Vào năm 1971, hãng Intel cho ra đời chip 4004, chip đầu tiên có chứa tất cả mọi thành phần của một CPU trên một chip đơn. Kỷ nguyên bộ vi xử lý đã được khai sinh từ đó. Chip 4004 có thể cộng hai số 4 bit và nhân bằng cách lập lại phép cộng. Theo tiêu chuẩn ngày nay, chip 4004 rõ ràng quá đơn giản, nhưng nó đã đánh dấu sự bắt đầu của một quá trình tiến hóa liên tục về dung lượng và sức mạnh của các bộ vi xử lý. Bước chuyển biến kế tiếp trong quá trình tiến hóa nói trên là sự giới thiệu chip Intel 8008 vào năm 1972.Đây là bộ vi xử lý 8 bit đầu tiên và có độ phức tạp gấp đôi chip 4004. Đến năm 1974, Intel đưa ra chip 8080, bộ vi xử lý đa dụng đầu tiên được thiết kế để trở thành CPU của một máy vi tính đa dụng. So với chip 8008, chip 8080 nhanh hơn, có tập chỉ thị phong phú hơn và có khả năng định địa chỉ lớn hơn. Cũng trong cùng thời gian đó, các bộ vi xử lý 16 bit đã bắt đầu được phát triển. Mặc dù vậy, mãi đến cuối những năm 70, các bộ vi xử lý 16 bit đa dụng mới xuất hiện trên thị trường. Sau đó đến năm 1981, cả Bell Lab và Hewlett-packard đều đã phát triển các bộ.

1.1.5. Thế hệ máy tính thứ 5( đang phát triển ): Thứ năm thế hệ thiết bị máy tính, dựa trên trí thông minh nhân tạo, vẫn còn trong phát triển, mặc dù có một số ứng dụng, chẳng hạn như nhận dạng giọng nói, đang được sử dụng ngày nay.

1. 2. PHÂN BIỆT MÁY TÍNH XÁCH TAY VÀ MÁY TÍNH BÀN : 1.1.1. Máy tính xách tay là máy tính :

10

Là một máy tính cá nhân gọn nhỏ có thể mang xách được. Nó thường có trọng lượng nhẹ, tùy thuộc vào hãng sản xuất và kiểu máy dành cho các mục đích sử dụng khác nhau .Máy tính xách tay có đầy đủ các thành phần cơ bản của một máy tính cá nhân thông thường. máy tính xách tay : được tích hợp sẵn ,bàn phím , chuột , màn hình . Dung lượng pin với mục đích sử dụng nhiều khi di chuyển nên dung lượng pin là một yếu tố quan trọng để đánh giá về máy tính xách tay, dung lượng pin lớn cho phép thời gian làm việc dài hơn khi không sử dụng nguồn điện dân dụng. Trọng lượng máy tính để thuận tiện cho quá trình mang đi lại, trọng lượng càng thấp càng tốt. 1.1.2. Máy tính bàn là máy tính : Máy tính để bàn thường được đặt trên bàn, do đó nó có tên để bàn. Loại máy tính này thường to nhất trong tất cả các PC. Mỗi bộ phận trong máy tính để bàn thường tách rời và có thể thay đổi được. Đặc biệt là bạn có thể gắn thêm các thiết bị ngoại vi vào máy tính để bàn.

1. 3. PHẦN CỨNG VÀ PHẦN MỀN : Các chương trình viết bằng ngôn ngữ máy (cấp 1) được thực thi trực tiếp bằng các mạch điện tử của máy tính, không có trình thông dịch và biên dịch nào can thiệp vào. Các mạch điện tử cùng với bộ nhớ và các thành phần xuất / nhập tạo nên phần cứng máy tính. Phần cứng bao gồm các mạch tích hợp, các board mạch in, cable, nguồn cung cấp, bộ nhớ, thiết bị đầu cuối, …Thiết bị ngoại vi dùng để nhập hay xuất dữ liệu. Bàn phím, chuột, scanner, … thuộc thiết bị nhập, màn hình, máy in, … thuộc thiết bị xuất. Các ổ đĩa thuộc bộ nhớ ngoài cũng có thể coi vừa là thiết bị xuất vừa là thiết bị nhập. Các thiết bị ngoại vi liên hệ với CPU qua các mạch giao tiếp . Phần mềm bao gồm các giải thuật và các biểu diễn của các giải thuật này gọi là chương trình. Nó chính là tập hợp các lệnh tạo thành một chương trình, chứ không phải là các phương tiện vật lý lưu trữ chúng.

11

. . xác định lệnh. Một thao tác bất kỳ thực thi bằng phần mềm có thể được gắn trực tiếp vào phần cứng và một lệnh bất kỳ thực thi bằng phần cứng cũng có thể được mô phỏng bằng phần mềm. . tốc độ. Đối với máy tính được vi lập trình hóa. .Các xung clock cho thủ tục định thời. khi xuất hiện thế hệ máy tính dùng vi lập trình và thế hệ máy tính nhiều cấp. lại xuất hiện xu hướng ngược lại. .Các đặc trưng làm tăng tốc độ tính toán chuỗi: định địa chỉ chỉ số và định địa chỉ gián tiếp. nạp lệnh. thực thi phép cộng và lưu trữ kết quả. Sau đó. Ví dụ như lệnh cộng sẽ được thực hiện trực tiếp bằng phần cứng ở các máy trước kia. phần cứng và phần mềm được phân biệt rõ ràng. Trên nhiều máy tính đầu tiên. định vị dữ liệu. Nó chính là thành phần bao gồm phần mềm được đặt vào bên trong các mạch điện tử trong quá trình sản xuất. chia số nguyên.Các lệnh xử lý dấu chấm động.Các đặc trưng cho phép chương trình di chuyển trong bộ nhớ sau khi đã thực thi (cấp phát lại bộ nhớ). một số thao tác thường xuyên thực thi đòi hỏi các nhà thiết kế hướng đến yêu cầu xây dựng các mạch điện từ thực thi các thao tác này. . nghĩa là di chuyển các thao tác từ cấp thấp lên cấp cao hơn.Các lệnh quản lý chuỗi ký tự. sau đó được chuyển xuống thực thi ở phần cứng. độ tin cậy. Quyết định đặt một số chức năng vào phần mềm và các chức năng khác vào phần cứng dựa trên các yếu tố giá thành. lệnh cộng của cấp máy quy ước được thông dịch bằng một vi chương trình chạy trên cấp thấp nhất và được thực thi bằng một chuỗi các bước nhỏ: tìm lệnh. . sau đó được thực hiện bằng phần cứng hay vi chương trình: . 12 . Phần cứng thực hiện vài lệnh đơn giản nhưcộng và nhảy. Tuy nhiên. các thủ tục khác phải do lập trình viên tự thiết kế.Các lệnh nhân. Một số đặc trưng trước đây được lập trình ở cấp máy quy ước. tìm và nạp dữ liệu từ bộnhớ. Một số thao tác trước đây được lập trình ở cấp máy quy ước.Các lệnh gọi thủ tục và quay về từ lệnh gọi thủ tục. Phần dẻo được dùng khi chương trình không thay đổi hay hiếm khi phải thay đổi như chương trình điều khiển đặt trong ROM BIOS. Kết quả là hình thành xu hướng di chuyển các thao tác theo hướng từ cấp cao xuống cấp thấp hơn.Các lệnh đếm.Một dạng trung gian giữa phần mềm và phần cứng gọi là phần dẻo (firmware).

phần cứng của người này có thể là phần mềm của người kia. tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh để hoạt động. PHẦN 2: NHỮNG THÀNH PHẦN CƠ BẢN TRONG MÁY TÍNH. mặc dù có rất nhiều thiết bị khác cũng có thể có bản mạch chính được gọi là "bo mạch chủ".Khả năng chuyển đổi quá trình. Bo mạch chủ là bo mạch in chính và lớn nhất trong một máy PC.Các ngắt báo hiệu cho máy tính. 2. Theo quan điểm của lập trình viên. MAINBOARD: Thuật ngữ Bo mạch chủ thường dùng nhiều nhất trong ngành công nghiệp máy tính nói chung như một từ dành riêng.. Bài viết này nói đến Bo mạch chủ trong các máy tính nói chung mà chú trọng nhiều hơn là của máy tính cá nhân. Như vậy. ta thấy ranh giới giữa phần cứng và phần mềm là không nhất định và thường xuyên thay đổi.Từ đó dẫn đến ý tưởng thiết kế máy tính có cấu trúc (structured computer).1. Đây là một bản mạch đóng vai trò trung gian giao tiếp giữa các thiết bị với nhau. cho phép tất cả các bộ phận khác của một máy tính kết hợp lại với nhau. Như vậy. ngoại trừ tốc độ thực thi. cách thức thực thi một lệnh là không quan trọng. lập trình viên làm việc trên cấp n không quan tâm đến các cấp khác. Tất cả các mạch điện và các thành phần cơ bản cần thiết 13 . Đó là cấu trúc một máy tính thành một chuỗi các cấp. .

phần này trình bày sơ lược về các thiết bị đó. đầu nối…). BIOS có thể được liên kết hàn dán trực tiếp vào bo mạch chủ hoặc có thể được cắm trên một đế cắm để có thể tháo rời. đế cắm. chúng chứa thiết đặt các thông số làm việc của hệ thống. thông qua các kết nối cắm vào hoặc dây dẫn liên kết. chi tiết về các thiết bị xin xem theo các liên kết đến bài viết cụ thể về chúng. Một cách tổng quát. 14 . BIOS: Thiết bị vào/ra cơ sở. nó là mạch điện chính của một hệ thống hay thiết bị điện tử. Có rất nhiều các thiết bị gắn trên bo mạch chủ theo cách trực tiếp có mặt trên nó. Chipset cầu bắc cùng với chipset cầu nam sẽ quyết định sự tương thích của bo mạch chủ đối với các CPU và đôi khi là hiệu năng của bo mạch chủ. Trong các thiết bị điện tử Bo mạch chủ là một bản mạch đóng vai trò là trung gian giao tiếp giữa các thiết bị với nhau.cho một máy PC hoặc là được chứa sẳn trong bo mạch chủ hoặc là được gắn với bo mạch chủ thông qua các kết nối cắm vào hay dây dẫn liên kết (khe cắm. rất quan trọng trong mỗi bo mạch chủ.

Bo mạch đồ hoạ: Sử dụng tăng tốc đồ hoạ máy tính. RAM được cắm trên bo mạch chủ thông qua các khe cắm riêng cho từng thể loại. ổ DVD: Các ổ đĩa quang. Bo mạch âm thanh: Mở rộng các tính năng âm thanh trên máy tính. Ổ cứng: Không thể thiếu trong hệ thống máy tính cá nhân. một số bo mạch chủ có thể không sử dụng đến bo mạch đồ hoạ bởi chúng được tích hợp sẵn trên bo mạch chủ. Loa máy tính: Xuất âm thanh ra loa máy tính. một số bo mạch chủ đã được tích hợp sẵn bo mạch âm thanh. Một số máy tính tuân theo chuẩn PC nhưng sử dụng trong công nghiệp có thể không sử dụng đến ổ cứng truyền thống. Thiết bị này kết nối trực tiếp với các bo mạch chủ được tích hợp bo mạch âm thanh trên nó. Chuột : Phục vụ điều khiển và làm việc với máy tính. CPU: Thường được cắm vào bo mạch chủ thông qua các đế cắm (socket) riêng biệt tuỳ theo từng loại CPU (dùng từ "cắm" chỉ là tương đối bởi các đế cắm hiện nay sử dụng tiếp xúc) RAM: Rất quan trọng trong hệ thống máy tính. Ổ CD. Ổ đĩa mềm Bàn phím máy tính: Sử dụng nhập dữ liệu và làm việc với máy tính.Kết nối với bo mạch chủ: Nguồn máy tính: Không thể thiếu trong hệ thống. Bo mạch mạng có thể được tích hợp sẵn trên bo mạch chủ hoặc được cắm vào các khe PCI hoặc ISA (với các hệ thống máy tính cũ trước kia). 15 . nguồn máy tính cung cấp năng lượng cho hệ thống và các thiết bị ngoại vi hoạt động. Trong trường hợp khác nó kết nối thông qua giao tiếp USB hoặc bo mạch âm thanh rời. Modem: Sử dụng kết nối với Internet hoặc một máy tính từ xa. chúng được sử dụng các loại ổ flash. Bo mạch mạng: Sử dụng kết nối với mạng.

bao gồm các thiết bị có tính năng nhập/xuất (I/O) của máy tính bao gồm: các khe mở rộng bằng bus PCI.. Chipset cầu nam nối với các bộ phận còn lại. ổ quang. cấu trúc máy tính cá nhân dùng bộ xử lý Intel đến thời điểm năm 2007 CPU sử dụng RAM thông qua chipset cầu bắc. 16 . Nói chung. Cấu trúc một bo mạch chủ tiêu biểu sử dụng CPU của hãng AMD. ổ cứng.. hội họp trực tuyến. tại đây chipset cầu bắc giao tiếp với RAM và bo mạch đồ hoạ.. Máy in: Dùng trích xuất văn bản. AMD cũng như nhiều hãng khác đều chưa đưa ra định hướng riêng của mình mà phải theo cấu trúc của Intel bởi sự phát triển của máy tính cá nhân ngay từ thời điểm sơ khai đã phát triển theo cấu trúc nền tảng của các hãng IBM . thay đổi và thuận tiện cho việc làm mát các thiết bị của họ. Vỏ máy tính là thiết bị mà bo mạch chủ cần lắp đặt trong nó cùng với các thiết bị khác (ở trên) cấu thành nên một máy tính hoàn chỉnh. Chipset cầu bắc được nối với chipset cầu nam thông qua bus nội bộ.Intel. Điểm khác biệt ở đây là CPU được nối thẳng tới RAM không thông qua Chipset cầu bắc Cấu trúc bo mạch chủ sơ lược giải nghĩa như sau: CPU kết nối với Chipset cầu bắc (North Bridge). Phần này chỉ nói ra những sự khác biệt nhỏ trong cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của AMD so với bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel: về một số cấu trúc bo mạch chủ cho bộ xử lý AMD có thể cho phép CPU giao tiếp trực tiếp với RAM mà điều này cải thiện đáng kể sự "thắt cổ chai" thường thấy ở cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. Ethernet. hình ảnh ra giấy.Webcam: Sử dụng cho tán ngẫu trực tuyến. Máy quét: Sử dụng số hoá các bức ảnh hoặc văn bản. cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng AMD giống như cấu trúc của bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. bo mạch chủ thường có các tản nhiệt cho chúng bằng các hình thức khác nhau. Tuy nhiên đôi khi một số overlocker có thể không cần sử dụng đến thiết bị này nhằm tạo ra hệ thống máy tính dễ dàng cho việc tháo lắp.. USB. Do tính chất làm việc "nặng nhọc" của chipset cầu bắc nên chúng thường toả nhiều nhiệt. Về cơ bản.

Ngoài tác dụng để cắm và dán các linh kiện trên bề mặt nó. ASUS là một hãng phần cứng của Đài Loan thường rất thành công trong việc thiết kế tản nhiệt ra bản mạch của bo mạch chủ. Tản nhiệt trên bo mạch chủ: Do có nhiều linh kiện có thể phát nhiệt tại trực tiếp hoặc được cắm. Ở bo mạch chủ. gắn trên bo mạch chủ nên vấn đế tản nhiệt rất được coi trọng trong thiết kế. Do có rất nhiều các đường dẫn hoạt động với tần số khác nhau nên (theo quy tắc chung) bản mạch phải được thiết kế với các đường dẫn không gây nhiễu sang nhau. đây là một điểm khác biệt khiến việc thiết kế bản mạch của bo mạch chủ khác với các bo mạch thông thường. do chứa nhiều linh kiện với các đường dẫn lớn nên chúng được thiết kế từ 3 đến 5 lớp (thậm trí nhiều hơn): Ngoài hai lớp mặt trước và mặt sau thì ở giữa của bo mạch cũng có các đường dẫn. Đa số các bản mạch in ở các mạch điện đơn giản đều có cấu tạo hai mặt (mặt trước và mặt sau) để chứa các đường dẫn trên nó. bo mạch chủ còn được thiết kế để truyền một phần nhiệt từ các thiết bị toả nhiệt trên nó và truyền nhiệt ra một diện tích rộng để được làm mát bằng không khí. Intel đã giảm tải cho chíp cầu bắc bằng việc chuyển các bus giao tiếp với Ram và VGA lên CPU quản lý. Cấu tạo bản mạch in của bo mạch chủ: Bản mạch in của bo mạch chủ có cấu tạo khác biệt một chút so với các bản mạch in của các thiết bị điện tử thường thấy khác.Với thế hệ chipset X58/P5x/H5x. Phương thức tản nhiệt thường thấy trên bo mạch chủ bao gồm: 17 .

phiến tản nhiệt bằng nhôm hoặc đồng độc lập với cách truyền nhiệt tự nhiên ra môi trường xung quanh hoặc tận dụng luồng gió từ quạt CPU thổi ra. Sử dụng quạt tạo sự tản nhiệt cưỡng bức. Sử dụng công nghệ ống truyền nhiệt để liên kết các cụm chi tiết cần tản nhiệt với nhau. Các thiết bị cần tản nhiệt trên bo mạch chủ: Chipset cầu bắc là thiết bị mà bất kỳ bo mạch chủ nào cũng phải tản nhiệt cho nó bởi sự phát nhiệt lớn tỏa ra bởi chúng là cầu nối quan trọng của hệ thống và làm việc liên tục. Cho phép sự tản nhiệt bằng nước với các hệ thống tản nhiệt nước gắn ngoài bằng cách thiết kế các đầu cắm ống nước chờ sẵn. Các cụm được gắn kết với nhau thường là: Chipset cầu bắc-Chipset cầu nam-Transistor điều tiết điện năng cho CPU và bo mạch chủ.Sử dụng các tấm. 18 . tuy nhiên cách dùng quạt hiện nay dần ít được dùng bởi sự rủi ro có thể xảy đến khi bo mạch chủ được sử dụng sau vài năm và quạt có thể bị hư hỏng dẫn đến thiết bị được tản nhiệt bằng quạt này sẽ bị hư hỏng. Nhiều bo mạch chủ tích hợp sẵn bo mạch đồ hoạ trong chipset cầu bắc khiến chúng càng toả nhiệt nhiều hơn.

Chính điều đó đã thúc đẩy công nghệ phát triển. Ở hình thức đơn giản nhất. Nhiệm vụ chính của CPU là xử lý các chương trình vi tính và dữ kiện. số ít các bo mạch chủ cao cấp thiết kế ống truyền nhiệt liên kết chúng với các thiết bị tản nhiệt khác.Chipset cầu nam mới được coi trọng sự tản nhiệt trong thời gian gần đây (trước đây chúng thường được để trần mà không được gắn bất kỳ một tấm tản nhiệt nào) bởi các tính năng và thiết năng mở rộng có thể làm nó hoạt động mạnh hơn và phát nhiệt nhiều hơn. tạo ra sự phát triển không ngừng. CPU có thể được xem như não bộ. tính năng quản lý điện năng thông minh và sự thay đổi nút khởi động một phiên làm việc. Thiết kế riêng của các nhà sản xuất phần cứng: Các nhà sản xuất phần cứng luôn tạo ra các sự thay đổi trong thiết kế cấu trúc của bo mạch chủ nên mỗi hãng khác nhau sẽ tạo ra một sự thay đổi nào đó so với các kiến trúc thông thường để hướng sự chú ý của khách hàng. Đầu nối nguồn 24 chân theo chuẩn ATX ATX là chuẩn bo mạch chủ thông dụng nhất hiện nay. 2. một trong những phần tử cốt lõi nhất của máy vi tính. một số bo mạch chủ thiết kế các tấm phiến tản nhiệt riêng. CPU có nhiều kiểu dáng khác nhau. CPU là một con chip với vài chục chân. tạm dịch là đơn vị xử lí trung tâm. CPU được ráp sẵn trong các bộ 19 . Một thay đổi khác là sự tập hợp các cổng kết nối vào/ra về phía sau của hệ thống máy tính cá nhân (bao gồm các khe cắm mở rộng ở phía dưới và cụm cổng vào/ra ở phía trên (I/O connector panel) đối với vỏ máy tính kiểu đứng). Các transistor trường cho phần điều chế nguồn của bo mạch chủ và CPU: Nhiều bo mạch chủ thiết kế áp mặt lưng của các transistor này xuống trực tiếp bo mạch để tản nhiệt ra bo mạch. Phức tạp hơn. chúng được phát triển có chọn lọc trên nền các chuẩn cũ (Baby-AT và LPX) với sự thay đổi của thiết kế và liên quan nhiều đến việc thay đổi đầu nối nguồn với nguồn máy tính. 2: CPU: CPU viết tắt của chữ Central Processing Unit (tiếng Anh).

/)hay các phép tính logic(so sánh lớn hơn. Bộ số học-logic: Có chức năng thực hiện các lệnh của đơn vị điều khiển và xử lý tín hiệu.đơn vị này dùng để thực hiện các phép tính số học(+.*.-.. Bộ điều khiển : Là các vi xử lí có nhiệm vụ thông dịch các lệnh của chương trình và điều khiển hoạt động xử lí.Khoảng thời gian chờ giữa hai xung gọi là chu kỳ xung nhịp.. Nó là một mạch tích hợp phức tạp gồm hàng triệu transitor trên một bảng mạch nhỏ. Thanh ghi là phần tử nhớ tạm trong bộ vi xử lý dùng lưu dữ liệu và địa chỉ nhớ trong máy khi đang thực hiện tác vụ với .mạch với hàng trăm con chip khác.tốc độ đồng hồ tính bằng triệu đơn vị mỗi giâyMhz.Tốc độ theo đó xung nhịp hệ thống tạo ra các xung tín hiệu chuẩn thời gian gọi là tốc độ xung nhịp .nhỏ hơn.được điều tiết chính xác bởi xung nhịp đồng hồ hệ thống. Mạch xung nhịp đồng hồ hệ thống dùng để đồng bộ các thao tác xử lí trong và ngoài CPU theo các khoảng thời gian không đổi.) 20 . Theo tên gọi. Bộ xử lý trung tâm bao gồm Bộ điều khiển và Bộ làm tính. CPU là một mạch xử lý dữ liệu theo chương trình được thiết lập trước.

Đơn vị xử lý trung tâm(CPU) đảm nhận việc thực thi này. (Bộ nhớ đệm dùng để lưu các lệnh hay dùng. Đối với CPU khác loại.6GHz có thể xử lý dữ liệu nhanh hơn CPU 3. Đối với các CPU cùng loại tần số này càng cao thì tốc độ xử lý càng tăng. Việc thực thi chương trình là sự lặp đi lặp lại quá trình lấy chỉ thị và thực thi chỉ thị. RAM. Chế tạo đế sản xuất (wafer): Đây là quá trình chính trong việc sản xuất chip và chúng ta sẽ xem xét đến nó trong hướng dẫn này.). Hiện nay công nghệ sản xuất CPU làm công nghệ 65nm. Quá trình thực thi chương trình gồm hai bước: CPU đọc chỉ thị từ bộ nhớ và thực thi chỉ thị đó. nghĩa là cách nó sẽ làm việc như thế nào. thì điều này chưa chắc đã đúng. GHz. ví dụ CPU Core 2 Duo có tần số 2. Chương trình được thực thi gồm một dãy các chỉ thị được lưu trữ trong bộ nhớ.. hay bo mạch đồ họa).4GHz một nhân. giúp cho việc nhập dữ liệu xử lý nhanh hơn). các thiết bị đầu cuối và phần chính được bổ sung vào chip Kiểm tra: CPU được kiểm tra trước khi đem đi bán 21 . Tốc độ: Tốc độ xử lý của máy tính phụ thuộc vào tốc độ của CPU. . Chuẩn bị kiến khuôn rập: Bước này cơ bản gồm việc cắt các chip từ wafer Đóng gói: Trong bước này.. Tốc độ CPU có liên hệ với tần số đồng hồ làm việc của nó (tính bằng các đơn vị như MHz. ví như Intel Core 2 Duo sử dụng chung cache L2 (shared cache) giúp cho tốc độ xử lý của hệ thống 2 nhân mới này nhanh hơn so với hệ thống 2 nhân thế hệ 1 ( Intel Core Duo và Intel Pentium D) với mỗi core từng cache L2 riêng biệt. Các CPU đều đươc chế tạo theo các bước dưới đây: Thiết kế: Đây là bước các kiến trúc sư thiết kế chip. Tốc độ CPU còn phụ thuộc vào bộ nhớ đệm của nó.Mô tả chức năng: Chức năng cơ bản của máy tính là thực thi chương trình. nhưng nó cũng phụ thuộc vào các phần khác (như bộ nhớ trong.

Nhà sản xuất AMD (Advanced Micro Devices) cũng được đánh giá cao cho một số sản phẩm CPU của họ. Mỗi ô nhớ của RAM đều có một địa chỉ. 3. RAM: RAM (viết tắt từ Random Access Memory trong tiếng Anh) là một loại bộ nhớ chính của máy tính. Tung ra thị trường vào tháng 11 năm 1971. 2. có 55 triệu transistors và 478 chân. Intel 4004 có 2250 transistors và 16 chân. cho dù đang ở bất kỳ vị trí nào trong bộ nhớ.Các nhà sản xuất: Hai nhà sản xuất CPU lớn hiện nay là Intel và AMD: Một trong những CPU đầu tiên của hãng Intel là chip Intel 4004. Một CPU của Intel năm 2006 là chiếc Intel Northwood P4. mỗi ô nhớ là một byte (8 bit). 4. tuy nhiên hệ thống lại có thể đọc ra hay ghi vào nhiều byte (2. RAM được gọi là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên vì nó có đặc tính: thời gian thực hiện thao tác đọc hoặc ghi đối với mỗi ô nhớ là như nhau. 8 byte). Thông thường. 22 .

Thông tin lưu trên RAM chỉ là tạm thời. chúng sẽ mất đi khi mất nguồn điện cung cấp.Bởi vì các chip RAM có thể đọc hay ghi dữ liệu nên thuật ngữ RAM cũng được hiểu như là một bộ nhớ đọc-ghi. Một số loại RAM. SIPP. DDR DIMM (184-chân). RAM thông thường được sử dụng cho bộ nhớ chính (main memory) trong máy tính để lưu trữ các thông tin thay đổi. Bộ nhớ RAM có 4 đặc trưng sau: 23 . Từ trên xuống: DIP. SIMM 30 chân. Cũng có những thiết bị sử dụng một vài loại RAM như là một thiết bị lưu trữ thứ cấp .RAM khác biệt với các thiết bị bộ nhớ tuần tự chẳng hạn như các băng từ. SIMM 72 chân. đĩa. DIMM (168 chân). trái ngược với bộ nhớ chỉ đọc ROM . mà các loại thiết bị này bắt buộc máy tính phải di chuyển cơ học một cách tuần tự để truy cập dữ liệu. và các thông tin được sử dụng hiện hành.

Mục đích: Máy vi tính sử dụng RAM để lưu trữ mã chương trình và dữ liệu trong suốt quá trình thực thi. Chu kỳ bộ nhớ: Thời gian giữa hai lần liên tiếp thâm nhập bộ nhớ. RAM động RAM động dùng kỹ thuật MOS. 24 . Chu kỳ bộ nhớ cũng theo đó mà ít nhất là gấp đôi thời gian thâm nhập ô nhớ. bộ phận điều khiển bộ nhớ phải viết lại nội dung ô nhớ đó. Mỗi bit nhớ gồm một transistor và một tụ điện. Tổ chức bộ nhớ: Số ô nhớ và số bit cho mỗi ô nhớ Thời gian thâm nhập: Thời gian từ lúc đưa ra địa chỉ của ô nhớ đến lúc đọc được nội dung của ô nhớ đó. ngược lại với một số kỹ thuật khác.Dung lượng bộ nhớ: Tổng số byte của bộ nhớ ( nếu tính theo byte ) hoặc là tổng số bit trong bộ nhớ nếu tính theo bit. Việc ghi nhớ dữ liệu dựa vào việc duy trì điện tích nạp vào tụ điện và như vậy việc đọc một bit nhớ làm nội dung bit này bị hủy. Mỗi bit nhớ gồm có các cổng logic với 6 transistor MOS. người ta phân biệt thành 2 loại: • • SRAM (Static RAM): RAM tĩnh DRAM (Dynamic RAM): RAM động RAM tĩnh RAM tĩnh được chế tạo theo công nghệ ECL (dùng trong CMOS và BiCMOS). SRAM là bộ nhớ nhanh. đòi hỏi phải có một khoảng thời gian trì hoãn nhất định. việc đọc không làm hủy nội dung của ô nhớ và thời gian thâm nhập bằng chu kỳ của bộ nhớ. Phân loại RAM Tùy theo công nghệ chế tạo. Đặc trưng tiêu biểu của RAM là có thể truy cập vào những vị trí khác nhau trong bộ nhớ và hoàn tất trong khoảng thời gian tương tự. Do vậy sau mỗi lần đọc một ô nhớ.

Có 184 chân. RDRAM (Viết tắt từ Rambus Dynamic RAM). Việc làm tươi được thực hiện với tất cả các ô nhớ trong bộ nhớ. Do đó. RDRAM hoạt động đồng bộ theo một hệ thống lặp và truyền dữ liệu theo một hướng. Bus bộ nhớ RDRAM là đường dẫn liên tục đi qua các chip và module trên bus. Là thế hệ thứ hai của DDR với 240 chân. Mỗi chip được ghép nối tuần tự trên một module gọi là RIMM (Rambus Inline Memory Module) nhưng việc truyền dữ liệu được thực hiện giữa các mạch điều khiển và từng chip riêng biệt chứ không truyền giữa các chip với nhau. nếu các khe cắm không chứa RIMM sẽ phải gắn một module liên tục để đảm bảo đường truyền được nối liền. Một kênh bộ nhớ RDRAM có thể hỗ trợ đến 32 chip DRAM. SDRAM gồm 3 phân loại: SDR. Tốc độ Rambus đạt từ 400-800MHz 25 . lợi thế lớn nhất của nó so với DDR là có bus speed cao gấp đôi clock speed. . Các loại DRAM: (Double Data Rate SDRAM). Có 168 chân. Được dùng trong các máy vi tính cũ.SDR SDRAM (Single Data Rate SDRAM). bus speed chạy cùng vận tốc với clock speed của memory chip. và DDR2. thường được giới chuyên môn gọi tắt là "Rambus". DDR SDRAM đôi SDR nhờ vào việc truyền tải hai lần trong một chu kỳ bộ nhớ. thường được giới chuyên môn gọi tắt là "DDR". mỗi module có các chân vào và ra trên các đầu đối diện. DDR. Đã được thay thế bởi DDR2. thường được giới chuyên môn gọi tắt là "SDR". Thường được giới chuyên môn gọi tắt là "DDR2". Đây là một loại DRAM được thiết kế kỹ thuật hoàn toàn mới so với kỹ thuật SDRAM.Việc lưu giữ thông tin trong bit nhớ chỉ là tạm thời vì tụ điện sẽ phóng hết điện tích đã nạp và như vậy phải làm tươi bộ nhớ sau khoảng thời gian 2μs. DDR2 SDRAM (Double Data Rate 2 SDRAM). Công việc này được thực hiện tự động bởi một vi mạch bộ nhớ. DDR SDRAM là cải tiến của bộ nhớ SDR với tốc độ truyền tải gấp SDRAM (Viết tắt từ Synchronous Dynamic RAM) được gọi là DRAM đồng bộ. nay đã lỗi thời. Bộ nhớ DRAM chậm nhưng rẻ tiền hơn SRAM.

26 . 2 GB. 1 GB. Cùng với sự phát triển chung của công nghệ máy tính. SIMM (Single In-line Memory Module) DIMM (Dual In-line Memory Module) SO-DIM: (Small Outline Dual In-line Memory Module): Thường sử dụng trong các máy tính xách tay. 16.. 512 MB.. 128. các RAM được thiết kế thành các modul như SIMM. Dung lượng của RAM càng lớn càng tốt cho hệ thống. 32. 64. DIMM (như hình minh hoạ trên) để thuận tiện cho thiết kế và nâng cấp hệ thống máy tính. một số hệ thống phần cứng của máy tính cá nhân chỉ hỗ trợ đến tối đa 4 GB và một số hệ điều hành (như phiên bản 32 bit của Windows XP) chỉ hỗ trợ đến 3 GB. thông thường RAM được thiết kế với các dung lượng 8. Các loại modul của RAM Trước đây. điều này thường không thuận tiện cho sự nâng cấp hệ thống. các loại RAM được các hãng sản xuất thiết kế cắm các chip nhớ trên bo mạch chủ thông qua các đế cắm (có dạng DIP theo hình minh hoạ trên). BUS. Tính tương thích với bo mạch chủ Không phải các RAM khác nhau đều sử dụng được trên tất cả các bo mạch chủ.Rambus tuy không nhanh hơn SDRAM là bao nhưng lại đắt hơn rất nhiều nên có rất ít người dùng. tuy nhiên không phải tất cả các hệ thống phần cứng và hệ điều hành đều hỗ trợ các loại RAM có dung lượng lớn. RDRAM phải cắm thành cặp và ở những khe trống phải cắm những thanh RAM giả . Mỗi loại bo mạch chủ lại sử dụng với một loại RAM khác nhau tuỳ thuộc vào chipset của bo mạch chủ. 256. Các thông số của RAM Được phân loại theo chuẩn của JEDEC Dung lượng RAM được tính bằng MB và GB.

nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng thường rất khó lấy lại được. 4. 27 . Những sự hư hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa hoặc thay thế được. các đĩa cứng được lắp ráp cố định trong ổ ngay từ khi sản xuất nên không thể thay thế được các "đĩa cứng" như với cách hiểu như đối với ổ đĩa mềm hoặc ổ đĩa quang.2. hay còn gọi là ổ cứng (tiếng Anh: Hard Disk Drive. Ổ đĩa cứng là một khối duy nhất. Ổ đĩa cứng là loại bộ nhớ "không thay đổi" (non-volatile). Ổ đĩa cứng là một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính. có nghĩa là chúng không bị mất đĩa cứng. viết tắt: HDD) là thiết dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng. Ổ ĐĨA CỨNG : Ổ đĩa cứng là dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính.

Những thiết kế đầu tiên ổ đĩa cứng chỉ dành cho các máy tính thì ngày nay ổ đĩa cứng còn được sử dụng trong các thiết bị điện tử khác như máy nghe nhạc kĩ thuật số.4. Ổ này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu kí tự. Năm 1961 Thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử dụng mỗi đầu từ cho một mặt đĩa.Tổng quan: Ổ cứng thường được gắn liền với máy tính để lưu trữ dữ liệu cho dù chúng xuất hiện muộn hơn so với những chiếc máy tính đầu tiên.. Một đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập trung bình khá thấp. giảm thời gian khởi động của hệ thống.4. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ.2. thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân. máy ảnh số. điện thoại di động thông minh (SmartPhone). máy quay phim kĩ thuật số. tiết kiệm năng lượng.1. ổ đĩa cứng ngày nay có kích thước càng nhỏ đi đến các chuẩn thông dụng với dung lượng thì ngày càng tăng lên..2. ổ đĩa cứng đã có những bước tiến công nghệ nhằm giúp lưu trữ và truy xuất dữ liệu nhanh hơn: ví dụ sự xuất hiện của các ổ đĩa cứng lai giúp cho hệ điều hành hoạt động tối ưu hơn. sự thay đổi phương thức ghi dữ liệu trên các đĩa từ làm cho dung lượng mỗi ổ đĩa cứng tăng lên đáng kể. Không chỉ tuân theo các thiết kế ban đầu. 2. Năm 1973 28 . Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp được là ổ IBM 1311. Ổ cứng này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu kí tự. Lịch sử phát triển: Năm 1955 Ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305.

Vì thế. hay văn phòng nhỏ hoặc nhà riêng (vì kích cỡ quá khổ và lượng điện năng tiêu thụ). Vì lí do đó. Kĩ sư trưởng dự án/chủ nhiệm dự án Kenneth Haughton đặt tên theo "súng trường Winchester" 30-30 sau khi một thành viên trong nhóm gọi nó là "30-30" vì các trục quay 30 MB của ổ đĩa cứng. Hầu hết các ổ đĩa hiện đại ngày nay đều sử dụng công nghệ này. thích hợp với một môi trường được bảo vệ của một trung tâm dữ liệu hoặc một văn phòng lớn hơn là trong môi trường công nghiệp khắc nghiệt (vì sự mong manh).HDA). Mỗi máy Mac sản xuất giữa giữa các năm 1986 và 1998 đều có một cổng SCSI phía sau khiến cho việc lắp đặt thêm phần cứng mới trở nên dễ dạng. Sự xuất hiện vào cuối thập niên 1990 của các chuẩn giao tiếp ngoài như USB và FireWire khiến cho ổ đĩa cứng lắp ngoài trở nên phổ biến hơn trong người dùng thông thường đặc biệt đối với những ai cần di chuyển một khối lượng lớn dữ liệu giữa hai địa điểm. Trước thập niên 1980.IBM giới thiệu hệ thống đĩa 3340 "Winchester". ổ đĩa đầu tiên sử dụng kĩ thuật lắp ráp đóng hộp (sealed head/disk assembly . các đời tiếp theo cũng vậy thế nên ổ SCSI lắp ngoài là có thể hiểu được. Trong một thời gian dài.ổ đĩa 5. cần một giá thiết bị cũng như diện tích sàn đáng kể (tiêu biểu là các ổ đĩa cứng lớn có đĩa tháo lắp được. các ổ đĩa cứng không được dùng phổ biến trong máy vi tính đến tận năm 1980. Các ổ đĩa SCSI lắp ngoài cũng phổ biến trong các máy vi tính cổ như loạt Apple II và Commodore 64. và cũng được sử dụng rộng rãi trong máy chủ cho đến tận ngày nay. 29 . máy IBM PC (IBM 5150) không được trang bị ổ đĩa cứng. ổ đĩa cứng có kích thước lớn và cồng kềnh. khi Seagate Technology cho ra đời ổ đĩa ST-506 . phần lớn các ổ đĩa cứng sản xuất ra đều có trở thành lõi của các vỏ lắp ngoài. và trong nhiều trường hợp cần tới điện cao áp hoặc thậm chí điện ba pha cho những mô tơ lớn chúng dùng. thường được gọi là "máy giặt"). "toaster" (máy nướng bánh) Mac không có chỗ cho ổ đĩa cứng (hay trong Mac Plus không có chỗ lắp ổ đĩa cứng).25" đầu tiên có dung lượng 5 MB. Có một thực tế là trong cấu hình xuất xưởng. tương tự như vậy. Ổ đĩa lắp trong ngày càng được sử dụng nhiều trong PC trong khi các ổ đĩa lắp ngoài tiếp tục phổ biến trên máy Macintosh của hãng Apple và các nền tảng khác. và cái tên "Winchester" trở nên phổ biến khi nói về ổ đĩa cứng và dần biến mất trong thập niên 1990. hầu hết ổ đĩa cứng có các tấm đĩa cỡ 8" (20 cm) hoặc 14-inch (35 cm).

các họ ổ đĩa cứng lớn là MFM. Cùng với lịch sử phát triển của PC. Ổ đĩa MFM đòi hỏi mạch điều khiển phải tương thích với phần điện trên ổ đĩa cứng hay nói cách khác là ổ đĩa và mạch điều khiền phải tương thích. Đối với những máy PC thế hệ đầu. ổ đĩa dung lượng 20 megabyte được coi là lớn. Cấu tạo: Ổ đĩa cứng gồm các thành phần. Cuối thập niên 1990 đã có những ổ đĩa cứng với dung lượng trên 1 gigabyte. Cụm đầu đọc Đầu đọc : Đầu đọc/ghi dữ liệu Cần di chuyển đầu đọc (head arm hoặc actuator arm). và mới nhất là SATA. và những ổ đĩa lắp ngoài đạt xấp xỉ một terabyte. IDE và EIDE. Đĩa từ.4.3. điều khiển sự di chuyển của cần di chuyển đầu đọc để đảm bảo đến đúng vị trí trên bề mặt đĩa. Dữ liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất đi khi ổ đĩa cứng ngừng được cấp điện. Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer): là nơi tạm lưu dữ liệu trong quá trình đọc/ghi dữ liệu. bộ phận có thể liệt kê cơ bản và giải thích sơ bộ như sau: Cụm đĩa: Bao gồm toàn bộ các đĩa. Trục quay: truyền chuyển động của đĩa từ. RLL. trục quay và động cơ. ổ đĩa cứng có dung lượng khiêm tốn nhất cho máy tính để bàn còn được sản xuất có dung lượng lên tới 40 gigabyte còn ổ đĩa lắp trong có dung lượng lớn nhất lên tới một nửa terabyte (500 GB). Mạch xử lý dữ liệu: dùng để xử lý những dữ liệu đọc/ghi của ổ đĩa cứng. SCSI. Mạch điều khiển: có nhiệm vụ điều khiển động cơ đồng trục. Vào thời điểm đầu năm 2005. Động cơ: Được gắn đồng trục với trục quay và các đĩa. 30 . ESDI.Ngày nay Dung lượng ổ đĩa cứng tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian. 2.

Tập hợp các track cùng cùng bán kính (cùng số hiệu trên) ở các mặt đĩa khác nhau thành các cylinder. phần nắp đậy lại để bảo vệ các linh kiện bên trong. Trên track chia thành những phần nhỏ bằng các đoạn hướng tâm thành các sector. Gần đây các công nghệ mới hơn giúp cho ổ đĩa cứng hoạt động với mật độ xít chặt hơn như: chuyển các hạt từ sắp xếp theo phương 31 . phụ thuộc vào dung lượng và công nghệ của mỗi hãng sản xuất khác nhau.Vỏ ổ đĩa cứng gồm các phần: Phần đế chứa các linh kiện gắn trên nó. Trục quay thường chế tạo bằng các vật liệu nhẹ (như hợp kim nhôm) và được chế tạo tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng tâm của chúng không được sai lệch bởi chỉ một sự sai lệch nhỏ có thể gây lên sự rung lắc của toàn bộ đĩa cứng khi làm việc ở tốc độ cao. Đầu đọc đơn giản được cấu tạo gồm lõi ferit (trước đây là lõi sắt) và cuộn dây (giống như nam châm điện). Đĩa từ : Đĩa thường cấu tạo bằng nhôm hoặc thuỷ tinh. Tuỳ theo hãng sản xuất mà các đĩa này được sử dụng một hoặc cả hai mặt trên và dưới. Vỏ ổ đĩa cứng có chức năng chính nhằm định vị các linh kiện và đảm bảo độ kín khít để không cho phép bụi được lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng. Trục quay là trục để gắn các đĩa từ lên nó. chúng được nối trực tiếp với động cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ động cơ đến các đĩa từ. Các sector là phần nhỏ cuối cùng được chia ra để chứa dữ liệu. Nói một cách chính xác hơn thì: khi đầu đọc/ghi đầu tiên làm việc tại một track nào thì tập hợp toàn bộ các track trên các bề mặt đĩa còn lại mà các đầu đọc còn lại đang làm việc tại đó gọi là cylinder (cách giải thích này chính xác hơn bởi có thể xảy ra thường hợp các đầu đọc khác nhau có khoảng cách đến tâm quay của đĩa khác nhau do quá trình chế tạo). Số lượng đĩa có thể nhiều hơn một. Theo chuẩn thông thường thì một sector chứa dung lượng 512 byte. trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu từ tính là nơi chứa dữ liệu. dẫn đến quá trình đọc/ghi không chính xác. Trên một mặt làm việc của đĩa từ chia ra nhiều vòng tròn đồng tâm thành các track.

Cần di chuyển đầu đọc/ghi là các thiết bị mà đầu đọc/ghi gắn vào nó. dịch chuyển và định vị chính xác đầu đọc tại các vị trí từ mép đĩa đến vùng phía trong của đĩa (phía trục quay). đó là đặc điểm khác biệt nổi bật của ổ đĩa cứng so với các hình thức lưu trữ truy cập tuần tự (như băng từ).vuông góc với bề mặt đĩa nên các đầu đọc được thiết kế nhỏ gọn và phát triển theo các ứng dụng công nghệ mới Đầu đọc trong đĩa cứng có công dụng đọc dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề mặt đĩa từ hoặc từ hoá lên các mặt đĩa khi ghi dữ liệu. Ta biết rằng máy tính làm việc khác nhau theo từng phiên làm việc. Cần có nhiệm vụ di chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách nhất định. Các cần di chuyển đầu đọc được di chuyển đồng thời với nhau do chúng được gắn chung trên một trục quay (đồng trục). Toàn bộ cơ chế đọc/ghi dữ liệu chỉ được thực hiện khi máy tính (hoặc các thiết bị sử dụng ổ đĩa cứng) có yêu cầu truy xuất dữ liệu hoặc cần ghi dữ liệu vào ổ đĩa cứng. Số đầu đọc ghi luôn bằng số mặt hoạt động được của các đĩa cứng. có nghĩa chúng nhỏ hơn hoặc bằng hai lần số đĩa (nhỏ hơn trong trường hợp ví dụ hai đĩa nhưng chỉ sử dụng 3 mặt). Như vậy cơ chế đọc và ghi dữ liệu ở ổ đĩa cứng không đơn thuần thực hiện từ theo tuần tự mà chúng có thể truy cập và ghi dữ liệu ngẫu nhiên tại bất kỳ điểm nào trên bề mặt đĩa từ. do đó quá trình đọc và ghi dữ liệu luôn luôn xảy ra. Một mặt khác máy tính có thể xử lý đa nhiệm (thực hiện nhiều nhiệm vụ trong cùng một thời điểm) nên cần phải truy cập đến các tập tin khác nhau ở các thư mục khác nhau. Từ đó dữ liệu trên bề mặt đĩa cứng không được chứa một cách liên tục mà chúng nằm rải rác khắp nơi trên bề mặt vật lý. từng nhiệm vụ mà không theo một kịch bản nào. xáo trộn vị trí. 32 . có nghĩa rằng khi việc đọc/ghi dữ liệu trên bề mặt (trên và dưới nếu là loại hai mặt) ở một vị trí nào thì chúng cũng hoạt động cùng vị trí tương ứng ở các bề mặt đĩa còn lại. do đó các tập tin luôn bị thay đổi. Việc thực hiện giao tiếp với máy tính do bo mạch của ổ đĩa cứng đảm nhiệm.

Không đơn thuần như vậy CPU có thể đòi hỏi nhiều hơn một tập tin dữ liệu tại một thời điểm. các yêu cầu được đáp ứng tuần tự. đầu đọc/ghi có các bộ cảm biến với điện trường để đọc dữ liệu (và tương ứng: phát ra một điện trường để xoay hướng các hạt từ khi ghi dữ liệu).4. and Reporting Technology) là công nghệ tự động giám sát.4. khi đó sẽ xảy ra các trường hợp: Ổ đĩa cứng chỉ đáp ứng một yêu cầu truy cập dữ liệu trong một thời điểm. Sự hoạt động của đĩa cứng cần thực hiện đồng thời hai chuyển động: Chuyển động quay của các đĩa và chuyển động của các đầu đọc.R.A.T (Self-Monitoring. CPU sẽ đòi hỏi dữ liệu (nó sẽ hỏi tuần tự các bộ nhớ khác trước khi đến đĩa cứng mà thứ tự thường là cache L1-> cache L2 ->RAM) và đĩa cứng cần truy cập đến các dữ liệu chứa trên nó. Dữ liệu được ghi/đọc đồng thời trên mọi đĩa. Việc thực hiện phân bổ dữ liệu trên các đĩa được thực hiện nhờ các mạch điều khiển trên bo mạch của ổ đĩa cứng.000 rpm) chúng thường được quay ổn định tại một tốc độ nhất định theo mỗi loại ổ đĩa cứng.Sự quay của các đĩa từ được thực hiện nhờ các động cơ gắn cùng trục (với tốc độ rất lớn: từ 3600 rpm cho đến 15. Khi đĩa cứng quay đều. Chuyển động này kết hợp với chuyển động quay của đĩa có thể làm đầu đọc/ghi tới bất kỳ vị trí nào trên bề mặt đĩa. 2. Tại các vị trí cần đọc ghi. các phần mềm thông báo cho người sử dụng biết 33 .M.Thông qua giao tiếp với máy tính. khi giải quyết một tác vụ. Ổ đĩa cứng đồng thời đáp ứng các yêu cầu cung cấp dữ liệu theo phương thức riêng của nó. Các công nghệ sử dụng ổ đĩa cứng: S. cần di chuyển đầu đọc sẽ di chuyển đến các vị trí trên các bề mặt chứa phủ vật liệu từ theo phương bán kính của đĩa. Analysis. chuẩn đoán và báo cáo các hư hỏng có thể xuất hiện của ổ đĩa cứng để thông qua BIOS.

động cơ (xuống cấp. Trong quá trình làm việc của ổ cứng lai. Người sử dụng có thể bật (enable) hoặc tắt (disable) chức năng này trong BIOS (tuy nhiên không phải BIOS của hãng nào cũng hỗ trợ việc can thiệp này).T không nên được hiểu là từ "smart" bởi chúng không làm cải thiện đến tốc độ làm việc và truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng. Giúp tăng tốc độ giao tiếp với máy tính: Việc đọc dữ liệu từ bộ nhớ flash nhanh hơn so với việc đọc dữ liệu tại các đĩa từ. Kết hợp với bộ nhớ đệm của ổ đĩa cứng tạo thành một hệ thống hoạt động hiệu quả.R. Ổ cứng lai (hybrid hard disk drive) là các ổ đĩa cứng thông thường được gắn thêm các phần bộ nhớ flash trên bo mạch của ổ đĩa cứng. bo mạch của ổ đĩa (hư hỏng linh kiện hoặc làm việc sai).M. ảnh hưởng của phần cứng đến quá trình lỗi xảy ra của ổ đĩa cứng (mà theo hãng Seagate thì sự hư hỏng trong đĩa cứng chiếm tới 60% xuất phát từ các vấn đề liên quan đến cơ khí): Chúng có thể bao gồm những sự hư hỏng theo thời gian của phần cứng: đầu đọc/ghi (mất kết nối.T chỉ thực sự giám sát những sự thay đổi. 34 .R. Giúp hệ điều hành khởi động nhanh hơn nhờ việc lưu các tập tin khởi động của hệ thống lên vùng bộ nhớ flash. vai trò của phần bộ nhớ flash như sau: Lưu trữ trung gian dữ liệu trước khi ghi vào đĩa cứng. Trong thời gian gần đây S. S.A.A. Cụm bộ nhớ này hoạt động khác với cơ chế làm việc của bộ nhớ đệm (cache) của ổ đĩa cứng: Dữ liệu chứa trên chúng không bị mất đi khi mất điện.M.T được coi là một tiêu chuẩn quan trọng trong ổ đĩa cứng.AR.trước sự hư hỏng để có các hành động chuẩn bị đối phó (như sao chép dữ liệu dự phòng hoặc có các kế hoạch thay thế ổ đĩa cứng mới). điều này giúp sự vận hành của ổ đĩa cứng tối hiệu quả và tiết kiệm điện năng hơn nhờ việc không phải thường xuyên hoạt động. khoảng cách làm việc với bề mặt đĩa thay đổi). rơ rão).M. chỉ khi máy tính đã đưa các dữ liệu đến một mức nhất định (tuỳ từng loại ổ cứng lai) thì ổ đĩa cứng mới tiến hành ghi dữ liệu vào các đĩa từ. S.

GB.4. Ngày nay dung lượng ổ đĩa cứng đã đạt tầm đơn vị TB nên rất có thể trong tương lai – theo thói quen. Tốc độ quay của đĩa cứng thường được ký hiệu bằng rpm (viết tắt của từ tiếng Anh: revolutions per minute) số vòng quay trong một phút. người ta sẽ tính theo TB. Dung lượng của ổ đĩa cứng tính theo các đơn vị dung lượng cơ bản thông thường: byte.5.Thông số này càng thấp càng tốt.Tốc độ quay càng cao thì ổ càng làm việc nhanh do chúng thực hiện đọc/ghi nhanh hơn.Những ổ cứng lai được sản xuất hiện nay thường sử dụng bộ nhớ flash với dung lượng khiêm tốn ở 256 MB bởi chịu áp lực của vấn đề giá thành sản xuất. đầu tư và nâng cấp. Người sử dụng luôn mong muốn sở hữu các ổ đĩa cứng có dung lượng lớn nhất có thể theo tầm chi phí của họ mà có thể không tính đến các thông số khác. thời giam tìm kiếm thấp. 35 . là cơ sở cho việc so sánh. dẫn đến nhiều người sử dụng chưa cảm thấy hài lòng với chúng. trong thời điểm năm 2007 người người ta thường sử dụng GB. Thông số và đặc tính Dung lượng Dung lượng ổ đĩa cứng là một thông số thường được người sử dụng nghĩ đến đầu tiên. Theo thói quen trong từng thời kỳ mà người ta có thể sử dụng đơn vị nào. Các thông số về thời gian trong ổ đĩa cứng Thời gian tìm kiếm trung bình (Average Seek Time) là khoảng thời gian trung bình (theo mili giây: ms) mà đầu đọc có thể di chuyển từ một cylinder này đến một cylinder khác ngẫu nhiên (ở vị trí xa chúng). Thời gian tìm kiếm trung bình được cung cấp bởi nhà sản xuất khi họ tiến hành hàng loạt các việc thử việc đọc/ghi ở các vị trí khác nhau rồi chia cho số lần thực hiện để có kết quả thông số cuối cùng. TB. Do sử dụng dung lượng nhỏ như vậy nên chưa cải thiện nhiều đến việc giảm thời gian khởi động hệ điều hành. kB MB. Tuy nhiên người sử dụng thường khó nhận ra sự hiệu quả của chúng khi thực hiện các tác vụ thông thường hoặc việc tiết kiệm năng lượng của chúng. 2.

Bộ nhớ đệm: Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM của máy tính. Thời gian truy cập ngẫu nhiên (Random Access Time): Là khoảng thời gian trung bình để đĩa cứng tìm kiếm một dữ liệu ngẫu nhiên.Thời gian tìm kiếm trung bình không kiểm tra bằng các phần mềm bởi các phần mềm không can thiệp được sâu đến các hoạt động của ổ đĩa cứng. Một số nhà sản xuất công bố ổ đĩa cứng của họ hoạt động với tốc độ 10. chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa cứng. Tính bằng mili giây (ms). dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm trong bộ nhớ đệm.4 triệu giờ thì những thông số này chỉ là kết quả của các tính toán trên lý thuyết.6. Thông số này càng thấp càng tốt.000 rpm có giá trị MTBF đến 1. do đó người sử dụng nên quan tâm đến chúng khi lựa chọn giữa các ổ đĩa cứng.000 rpm với tham số: MTBF lên tới 1 triệu giờ. Độ lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự di chuyển của đầu đọc/ghi. 2. Hãy hình dung số năm mà nó hoạt động tin cậy (khi chia thông số MTBF cho (24 giờ/ngày × 365 ngày/năm) sẽ thấy rằng nó có thể dài hơn lịch sử của bất kỳ hãng sản xuất ổ đĩa cứng nào. Đây là tham số quan trọng do chúng ảnh hưởng đến hiệu năng làm việc của hệ thống. do đó người sử dụng có thể không cần quan tâm đến thông số này. 36 . Thời gian làm việc tin cậy MTBF: (Mean Time Between Failures) được tính theo giờ (hay có thể hiểu một cách đơn thuần là tuổi thọ của ổ đĩa cứng). Đơn vị thường bính bằng kB hoặc MB.4. hoặc với ổ đĩa cứng hoạt động ở tốc độ 15. Đây là khoảng thời gian mà nhà sản xuất dự tính ổ đĩa cứng hoạt động ổn định mà sau thời gian này ổ đĩa cứng có thể sẽ xuất hiện lỗi (và không đảm bảo tin cậy).

đây chỉ là một cách dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh hưởng đến cách hoạt động hoặc hiệu suất vốn có của mỗi loại ổ đĩa cứng. CD lưu trữ nhạc và các file khác dưới dạng số (Digital). CD Player sẽ chiếu các tia Laser lên bề mặt các rãnh này. DVD: Ngày nay ổ ghi CD (CD Burner) đã trở thành một thiết bị chuẩn trong các máy tính thế hệ mới và càng ngày càng có nhiều người say mê nhạc trang bị CD Burners cho hệ thống máy tính .5 micron và dài tới 5 km. 5. CD-RW. Để đọc các thông tin này. có nghĩa là các thông tin trên đĩa được thể hiện dưới dạng dãy các số 0 và 1.Hệ điều hành cũng có thể lấy một phần bộ nhớ của hệ thống (RAM) để tạo ra một bộ nhớ đệm lưu trữ dữ liệu được lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc xử lý đối với các dữ liệu thường xuyên phải truy cập. Khi tia Laser chiếu vào một vùng phẳng trên rãnh. Đã hiểu được những yếu tố cơ bản trong công nghệ CD. Khi đó CD Player hiểu đó là số 1. tia Laser được phản xạ trực tiếp tới bộ phận cảm biến quang (Optical Sensor) trên hệ thống Laser. những số 0 và 1 được thể hiện bởi hàng triệu các điểm gồ lên (Bump) và các chỗ phẳng trên bề mặt phản xạ của đĩa. CD. Khi tia Laser chiếu lên các 37 . Có rất nhiều phần mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ thuộc vào sự dư thừa RAM trên hệ thống. Trên đĩa CD thông thường. 2. Các Bump và chỗ phẳng này được sắp xếp trên các rãnh liên tục chỉ rộng khoảng 0.

Để giữ các Bump chuyển động bất biến so với hệ thống Laser. Các máy chế tạo CD dùng tia Laser cường độ cao để khắc các sơ đồ Bump vào các đĩa thuỷ tinh được tráng vật liệu quang điện trở. CD Player sẽ quay đĩa trong khi hệ thống Laser chuyển động từ phía gần tâm CD ra ngoài. CD Player sẽ nhận ra đó là số 0. các sơ đồ Bump này được “in” lên đĩa bằng chất liệu Acrylic. Nó chỉ khả thi trong việc sản xuất hàng loạt và các đĩa CD phải có cùng nội dung. nhà sản xuất phải thực hiện các công việc khá tinh vi và phức tạp bao gồm nhiều bước và sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau. bắt đầu từ phía tâm của đĩa. 38 . vào đầu thập kỷ 90 các chuyên gia trong lĩnh vực này đã cố gắng tìm cách để tạo ra các đĩa CD có khả năng ghi dữ liệu dạng số. Sau đó chúng được tráng một lớp nhôm hoặc một kim loại khác để tạo bề mặt phản xạ có thể đọc được. Do quá trình sản xuất phức tạp nên CD không được sản xuất đơn lẻ. CD-R (CD Recordable Disc) không có bất kỳ Bump hay vùng phẳng nào trên bề mặt. Do nhu cầu lưu trữ thông tin ngày càng lớn trong khi dung lượng các đĩa mềm sử dụng trong máy tính không đáp ứng được. CD Player phải làm giảm tốc độ quay của đĩa khi hệ thống Laser dịch chuyển dần ra ngoài. Cuối cùng đĩa được tráng một lớp Plastic trong suốt để bảo vệ bề mặt kim loại phản xạ chống các vết xước và hỏng bề mặt. Để có được một đĩa CD.Bump. Thực chất nó có một lớp kim loại phản xạ trơn nằm trên một lớp mạ chất cảm quang. Ở tốc độ ổn định. ánh sáng được phản xạ theo hướng khác và không tới được Optical Sensor. Các Bump được sắp xếp thành hình xoắn ốc liên tục. Do vậy các CD truyền thống vẫn được coi là thiết bị lưu trữ “Read Only” cỡ trung bình đối với đa số người tiêu dùng giông như LP hay DVD thông thường. các Bump ở phía rìa CD chuyển động nhanh hơn các Bump phía tâm của CD. Để đáp ứng nhu cầu này các hãng sản xuất điện tử đã giới thiệu một giải pháp cho phép mã hoá CD với các bước đơn giản. Qua các quá trình công phu.

Lớp Plastic ở dưới cùng của đĩa có các đường rãnh được chế tạo sẵn sẽ hướng dẫn hệ thống Laser đi theo đường chính xác. CD Burner giữ cho tia Laser đi theo rãnh ghi ở một tốc độ không đổi. 39 . Write Laser cũng di chuyển từ phía gần tâm ra ngoài một cách chính xác như Read Laser khi đĩa quay. CD Burner điều khiển hệ thống Laser hệt như CD Player nhưng ở CD Burner chúng không gọi là “Read Laser” mà là “Write Laser”. Read Laser không đủ mạnh để làm đục lớp mạ nên có thể chạy đĩa CD-R trên ổ CD mà không sợ bị phá huỷ dữ liệu ghi trên đó. Nhưng khi lớp mạ này được làm nóng với tia sáng hội tụ có tần số đặc biệt và cường độ mạnh nó sẽ chuyển thành đục và ánh sáng không thể xuyên qua được. Các điểm đục được mã hoá thành 0 còn các vùng trong mờ được mã hoá thành 1. Ánh sáng Laser sẽ phản xạ trở lại bộ cảm biến khi chiếu lên lớp mạ trong mờ giống như khi nó phản xạ lại từ các vùng phẳng ở CD thông thường. Bằng cách tạo ra các điểm mờ liên tục trên rãnh CD đồng thời với các vùng trong mờ. ánh sáng có thể đi qua và phản xạ trên bề mặt kim loại. CD Burner dễ dàng bật tắt Laser Writer đồng bộ với sơ đồ 1 và 0. Để đồng nhất tốc độ quay với chuyển động của hệ thống Laser. Để ghi dữ liệu. Do các dữ liệu được mã hoá chuẩn xác trên bề mặt nhỏ như vậy nên hệ thống ghi phải hoạt động cực kỳ chính xác. Công việc của CD Burner là tạo ra (Burn) các sơ đồ số trên đĩa CD trắng. chúng ta có thể tạo ra một sơ đồ số mà CD Player chuẩn có thể đọc được.Khi đĩa chưa được ghi thông tin gì (Blank Disc) lớp mạ có mầu trong mờ. Write Laser mạnh hơn Read Laser và tác động lên đĩa hoàn toàn khác: thay đổi bề mặt chứ không phản xạ lại ánh sáng.

Khi làm nóng hợp chất trong đĩa CDRW đến nhiệt độ nóng chảy rồi làm lạnh thật nhanh nó sẽ vẫn còn ở dạng lỏng và không định hình ngay cả khi ở dưới nhiệt độ kết tinh. CD-R không thể ghi lại lần nữa một khi đã lưu dữ liệu vào. phần tử Phase-Change là một hợp chất hóa học của Bạc. Trong khi với tốc độ 2X chỉ cần nửa giờ là có thể ghi được đoạn nhạc trên. các hãng điện tử lại giới thiệu một dạng CD mới giải quyết được vấn đề này đó là CDRW (CD Rewritable). Với một CD trắng mọi chất liệu trên vùng ghi dữ liệu đều ở thể kết tinh. Khi hợp chất này được làm nóng đến nhiệt độ nóng chảy (khoảng 600 độ C) nó sẽ chuyển sang dạng lỏng còn ở nhiệt độ kết tinh (khoảng 200 độ C) nó sẽ chuyển sang thể rắn. Ở tốc độ 1X. Ưu điểm chính của đĩa CD-R là nó có thể được dùng với hầu hết các loại CD Player và CD-ROM đang được sử dụng rất nhiều để lưu trữ nhạc và dữ liệu. định dạng của hợp chất này sẽ thay đổi khi được làm nóng ở một nhiệt độ nào đó. ánh sáng sẽ chiếu qua lớp này 40 . Telua. Tuy nhiên. Antimon và Indi. nó được xây dựng thêm chức năng xoá (Erase Function) cho phép ghi đè lên toàn bộ dữ liệu cũ dựa trên công nghệ Phase-Change Technology. phải giữ hợp chất ở đúng nhiệt độ kết tinh một khoảng thời gian nào đó để chúng chuyển sang trạng thái rắn trước khi làm lạnh lại. Ngoài ra loại đĩa trắng dùng để ghi cũng phải được thiết kế phù hợp với việc ghi dữ liệu ở tốc độ này. Thêm vào đó nó có khả năng lưu trữ lớn và tương đối rẻ. nó không thể xoá và ghi lại được. Với tác động vật lý. Để kết tinh hợp chất này. tốc độ quay của CD bằng với tốc độ khi nó được đọc bởi CD Player có nghĩa là phải mất đúng 60 phút để ghi đoạn nhạc dài 60 phút. Trở ngại chính của kiểu công nghệ này là không thể sử dụng lại được đĩa đã ghi. Một khi đĩa trắng đã được ghi dữ liệu. Hợp chất dùng trong đĩa CD-RW khi ở trạng thái kết tinh sẽ trong mờ và khi ở dạng lỏng không định hình sẽ hấp thu được hầu hết ánh sáng. Chúng có thể làm việc với hầu hết các loại CD Player và giá tươg đối rẻ. Ở những tốc độ ghi lớn.Hầu hết các CD Burner đều có thể tạo ra các đĩa CD hoạt động được ở nhiều tốc độ (Multiple Speed). Đĩa CD-RW là một bước tiến so với CD-R. Công nghệ CD-R cho phép tạo ra đĩa CD-R lưu trữ được rất nhiều dữ liệu. không giống như các thiết bị lưu trữ khác như băng hay đĩa mềm. Trong những năm giữa thập kỷ 90. CD Burner phải có hệ thống điều khiển Laser đặc biệt đồng thời tốc độ kết nối giữa CD Burner và máy tính phải được đảm bảo. Trong đĩa CD-RW.

đến lớp kim loại và phản xạ lại bộ cảm biến ánh sáng. CD Burner dùng Write Laser làm nóng hợp chất đến nhiệt độ nóng chảy. chúng không phản xạ trở lại các tia Laser trên lớp kim loại. 2. Do đĩa CD-RW không phản xạ tia sáng nhiều như dạng CD cũ nên không thể đọc nó bởi CD Player và CD-ROM kiểu cũ và chủ yếu được dùng để Backup dữ liệu. nó có cường độ cần thiết để làm nóng hợp chất đến điểm kết tinh. Giờ đây đĩa đã xoá có thể dùng để lưu dữ liệu mới. FDD: Là thiết bị dung để đọc và ghi đĩa mền . Mỗi vùng không phản xạ được tia Laser trên đĩa được biểu thị bằng số 0 còn các điểm vẫn kết tinh và phản xạ lại tia Laser được biểu thị bằng số 1Với CD-R. Erase Laser làm hợp chất trở về trạng thái kết tinh và kết quả là nó xoá bỏ mọi vùng hiển thị số 0. nhưng trong quá trình phát triển đĩa mền do có các phương tiện lưu trữ dữ liệu khác có nhiều ưu điển hơn hẳn so với lưu trữ bằng đĩa mền lên đĩa mền hiến khi còn được sử dụng chúng biến mất khỏi các máy tính ngay nay. Để mã hoá thông tin trên đĩa.6. Lịch sử phát triển : lịch sử phát triển của ổ đĩa mềm luôn song hành với sự phát triển của đĩa mền . Khi Erase Laser không đủ mạnh để làm nóng chảy hợp chất trên CD-WR. Bằng cách giữ hợp chất ở nhiệt độ này. 41 . ứng với mỗi loại kích thước của mỗi loại đĩa mền ta sẽ có một loại ổ đĩa mền khác nhau do người ta sản xuất loại đĩa mền kích thước khác nhau và hỗ trợ dung lương cao . Read Laser không đủ mạnh để thay đổi trạng thái lớp vật liệu dùng để ghi dữ liệu và yếu hơn Write Laser. Kết quả là đối với CD-R các đốm đục được tạo ra còn đối với CD thông thường là các Bump.

CHUỘT MÁY TÍNH : 2. 2. nhưng mọi chi tiết bên trong nó có yêu cầu thấp hơn ổ đĩa cứng .7. ổ đĩa mền có cấu tạo một phần giống như các ổ đĩa cứng . BÀN PHÍM .Cấu tạo và hoạt động :các đĩa mền lưu trữ dữ liệu thông qua lưu trữ trên bề mặt . tất cả các cách làm việc với đĩa mềm đều qua một khe hẹp của đĩa mền .7. chuột máy tính : 42 . do đó ổ đĩa mền dựa trên nguyên lý đọc và ghi theo tính chất từ .1.

Nó loại bỏ hoàn toàn thành phần cơ học (bi và bánh xe). cơ học: Bất cứ ai đang sử dụng máy vi tính đều biết rõ vai trò và ảnh hưởng vô cùng quan trọng của chuột (mouse) máy vi tính như thế nào! Được Douglas Engelbart phát minh năm 1964. Viên bi này có thể chuyển động theo mọi hướng. thay bằng một thiết bị bắt hình 43 . sau đó sản phẩm hòan thiện được tung ra thị trường lần đầu tiên thông qua một chi nhánh của EPFL mà sau này trở thành một trong những nhà sản xuất thiết bị trỏ (Pointing Device) tên tuổi – Logitech 2. 90.1. Trong nhiều năm phát triển. Chuột ngày nay có độ nhạy và nhiều tính năng tốt hơn rất nhiều so với vài năm trước đây Đây là cơ chế khởi thủy của chuột và kéo dài hàng chục năm sau đó và hiện nay vẫn có thể tìm thấy các lọai chuột bi (một nhánh của cơ chế cảm ứng cơ) ở cửa hàng.1. Cuối cùng. không chỉ về kiểu dáng mà còn cả công nghệ cảm ứng. kĩ sư Bill English của Xerox PARC đã thay thế bánh xe cổ điển bằng một viên bi nổi tiếng mà chúng ta đều biết.2.7. chuột máy tính cũng có nhiều biến đổi và cải tiến.7. chuyển động này sẽ được hai bánh xe nhỏ bên trong chuột ghi nhận.2.1.Quang học: Cơ chế của chuột quang học là bước tiến đáng kể trong chế tạo chuột.1.1. một thiết bị cảm ứng sẽ thu thập tín hiệu và tổng kết thành giá trị tọa độ tương ứng của chuột trên màn hình. Cơ chế cảm ứng : 2. kiểu dáng hiện đại mà bạn thấy được thiết kế ban đầu tại học viện EPFL (trái tim của công nghệ Châu Au thời kì đó).1. Chú chuột Máy tính xuất hiện đầu tiên trên thế giới có kích thước khá lớn với hai bánh xe vuông góc nhau và bạn sẽ sử dụng cả hai tay để điều khiển nó: một tay cầm chuột và tay kia cầm một bàn phím nhỏ có khoảng 5 nút bấm. nó không phải là thứ gì mới mẻ hay quá rắc rối nhưng là thành phần không thể thiếu trong suốt mấy chục năm nay. Tới năm 1970. trên bánh xe có các khe hở nhỏ cho phép một tia sáng phát qua tới đầu cảm ứng bên kia.7.1. Kiểu thiết kế này được dùng trong suốt thập kỉ 80. mỗi lần ngắt sẽ cho biết chuột di chuyển.

Logitech MX1000 là đại diện đầu tiên của thế hệ chuột laser xuất hiện trên thị trường. tia sáng sẽ bị phản chiếu và hội tụ thông qua một thấu kính trước khi chạm vào bộ cảm ứng. Không chỉ thừa hưởng đầy đủ ưu điểm quang học mà chuột laser còn có nhiều đặc điểm ưu việt khác. 2.1. Công nghệ laser cho phép tia sáng có độ tập trung cao hơn và đặc biệt ổn định. còn các bề mặt sặc sỡ thì chuột họat động không chính xác. Laser: Cảm ứng laser là công nghệ mới nhất và tiên tiến nhất hiện nay. Được giới thiệu đầu tiên vào năm 2004 dưới sự hợp tác của Logitech và Agilent Technologies.siêu nhỏ. 44 . Việc bảo trì cũng rất đơn giản (chỉ cần lau mắt đọc là xong).1.7. Tuy nhiên chuột quang không thể làm việc trên bề mặt bóng hoặc trong suốt. Trên thực tế. Nhờ thế chuột có thể tăng độ chi tiết của hình ảnh “chụp” tới 20 lần trên lí thuyết.3. Điều này đúng với những thế hệ chuột đầu tiên. Thêm vào đó độ chi tiết và độ nhạy của cơ chế cảm ứng quang cũng tốt hơn rất nhiều. Ngòai ra. Tuy nhiên MX1000 không đáp ứng tức thời khi bạn nhấc nó lên rồi để xuống. Ưu điểm của thế hệ chuột quang học là không có các bộ phận cơ nên hoàn toàn không sợ hỏng hóc do ăn mòn hay bụi bẩn. bộ xử lí bên trong chuột sẽ tính toán được tọa độ. Nhờ thế hình ảnh sẽ rất chi tiết. Nói một cách nôm na. Chú chuột này sử dụng một tia laser nhỏ thay thế cho đèn LED nhỏ thông thường. chuột bi sử dụng đầu cảm ứng quang để bắt chuyển động của viên bi thì chuột quang sử dụng thiết bị ghi hình để bắt chuyên động của bề mặt. và điểm yếu cuối cùng của chuột quang là “ngốn” điện nhiều hơn chuột cơ. để tính toán chính xác thì hình ảnh chụp phải tốt. Khi chiếu sáng bề mặt. Thiết bị này sẽ liên tục “chụp” lại bề mặt mà người dùng di chuột và thông qua phép so sánh giữa những bức hình này. nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là phải có thiết bị soi sáng bề mặt và một thiết bị gọi là đèn LED đỏ được sử dụng cho việc này. Vì thế. điều này là do tính năng tiết kiệm năng lượng của nó (những phiên bản sau này không rơi vào tình trạng đó). một số loại chuột rẻ tiền có hệ thống xử lí hình ảnh kém sẽ không đủ khả năng tính toán khi người dùng di chuyển với tốc độ nhanh (chuột cao cấp có thể theo được tốc độ di chuyển lên tới 1m/s).

tính chính xác cũng như độ nhạy cảm sẽ tăng đáng kể.2. một số công nghệ mới như Fast RF của Logitech giảm đáng kể mức trễ khi phát. PS2: được dùng trong thời gian khá dài và bây giờ vẫn còn. Ưu điểm của USB chính là băng thông rộng hơn nhiều lần so với Serial hay PS2.7. Bluetooth: vốn được coi như một kiểu kết nối không dây để trao đổi dữ liệu giữa các thiết bị di động. vì thế các lọai chuột cao cấp có thể gửi số lượng lớn tín hiệu định vị tới PC và như vậy .1.7. nhận tín hiệu. Hai thành phần này giao tiếp với nhau qua sóng radio ở tần số 27MHz.7. mỗi bo mạch chủ vẫn có hai cổng PS2 dành cho chuột và bàn phím.2. Ngoài ra.2. Hầu hết các lọai chuột mới đều sử dụng cổng USB và đi kèm một adapter chuyển đổi USB <-> PS2 USB: đây là chuẩn giao tiếp thông dụng nhất hiện nay đối với các lọai chuột dù “có đuôi” hay “không đuôi”. Một số nhà sản xuất còn sử dụng kênh dữ liệu 16-bit tăng cường độ chính xác và giảm độ trễ so với kết nối 8-bit thường thấy trên dòng chuột “bình dân”. 2.2. Một bộ chuột máy tính dùng giao tiếp kiểu này gồm bộ thu tín hiệu kết nối với máy tính và chuột rời không dây lắp pin. sự thống trị của USB cũng góp phần “tiễn” nó vào dĩ vãng. Không dây: Sóng radio: đây là kiểu kết nối không dây đầu tiên và cũng thông dụng nhất được các nhà sản xuất trang bị cho chuột không dây của ho. Thời gian gần đây. bạn khó có thể tìm được lọai chuột nào không yêu cầu một cổng USB trống trên máy vi tính.1. những thiết bị trỏ sử dụng kết nối Bluetooth xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường. Một số ví dụ như Dinovo Media Desktop 45 .1.1.2. một phần do cổng COM già cỗi và chậm chạp dần dần bị lọai khỏi thế hệ máy tính mới. Tuy nhiên cũng bị ảnh hưởng của chuẩn USB mà PS2 dần bị đẩy tới bờ tuyệt chủng. Kiểu kết nối: 2. Có dây: Serial: chuột sử dụng cổng nối tiếp serial (hay còn gọi là cổng COM) rất thông dụng vào thập kỉ 90 nhưng hiện nay rất ít gặp.

Nó sử dụng cho các tác vụ cuộn trang hoặc phóng to/ thu nhỏ các đối tượng. Tín hiệu tọa độ sẽ được ghi nhận thông qua trường điện từ giữa bàn di kết nối vào máy tính và chuột. Chú chuột “tổ” do Engelbart phát minh đầu tiên chỉ có một nút bấm và sau đó tăng lên 3 nút.3. ví dụ như Forward (tiến). chuột không dây sử dụng Bluetooth có thể làm việc với hầu hết các thiết bị thu/phát Bluetooth nhưng nếu dùng đúng bộ thu đi kèm. chuột máy tính có một số cải tiến về phím bấm. Nhiệm vụ của nút bên trái là chọn và khởi động các đối tượng. Một phát minh quan trọng trong thiết kế chuột nói riêng và các thiết bị trỏ nói chung chính là bánh xe nhỏ ở giữa hai nút bấm mà chúng ta hay thấy ngày nay. So với chuột dùng sóng Radio. Những loại chuột ban đầu thường có từ một tới ba nút và về sau tăng lên bốn hoặc hơn. Tuy nhiên bạn nên chú ý rằng RFID bị giới hạn về tầm họat động: chỉ bằng đúng độ dài dây dẫn nối bàn di vào cổng USB máy tính. Tuy vậy. Sản phẩm thời kì này thường có 5 phím khác nhau. 46 . Những năm cuối thế kỉ 20. Điểm mạnh của kiểu thiết kế này là chuột không cần sử dụng pin hay dây dẫn.của Logitech hay Microsoft Optical Desktop Elite for Bluetooth. Backward (lùi) khi duyệt web.7. chúng cũng có thể được gán nhiều tính năng tùy chon tùy vào phần mềm đi kèm. người dùng sẽ tận dụng được những tính năng đặc biệt mà nhà sản xuất trang bị. Về cơ bản. 2. kiểu dáng và vị trí mà thôi. sản phẩm Bluetooth có tầm họat động xa hơn. Chuột sử dụng RFID ví dụ như A4Tech ND-30 RFID buộc người dùng phải sử dụng kèm theo bàn di riêng. nút phải để mở các menu tính năng của đối tượng mà người dùng đã chọn. Tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng mà những phím phụ này có nhiều chức năng riêng biệt. Bàn phím bánh và xe cuộn : Ngược với thiết kế bên trong. nút bấm của chuột cải tiến khá chậm chạp và hình như chỉ thay đổi về số lượng. độ trễ thấp hơn và băng tần sử dụng là 2. vì thế trọng lượng chuột rất nhẹ. về cơ bản. mỗi loại chuột đều có tối thiểu hai nút bấm chính.4GHz. số lượng phím bấm tối ưu của chuột nên càng nhiều càng tốt và thực tế đã cho thấy điều đó là đúng. Về sau. RFID: đây là phát minh độc nhất vô nhị về chuột không dây do A4Tech đưa ra.1. Theo Douglas Engelbart.

Vì thế bạn có thể di chuyển con trỏ tới điểm mình muốn rất nhanh. Điều này đúng nhưng nếu số lượng mẫu càng nhiều. Điều đáng chú ý là con số này càng cao. Một số người cho rằng sức mạnh của máy tính hiện tại chỉ xử lí cùng lúc vài trăm mẫu hình mỗi giây.Logitech và Microsoft giới thiệu phiên bản tiên tiến hơn có tên gọi là “bánh xe nghiêng” (tilt-wheel) dành cho những sản phẩm cao cấp của họ. Càng rắc rối hơn cho người dùng khi chỉ số DPI của chuột còn phụ thuộc vào độ phân giải màn hình mà sử dụng. Chính vì thế những giá trị DPI thường thấy trên các các sản phẩm thế hệ mới (đặc biệt là các loại chuột cho game thủ) như 1600dpi. khi chuyển độ phân giải hiển thị từ 1024x768 lên 1600x1200 hoặc cao hơn. bạn sẽ phải di chuyển chuột dài hơn cho cùng một khoảng cách trên màn hình. Đôi khi bạn cũng có thể tìm thấy ngững sản phẩm sử dụng công nghệ cảm ứng thay vì bánh xe dễ bám bụi và trục trặc. DPI đã dần thay thế CPI.1. giá trị trung bình sẽ càng chuẩn hơn và thực tế.4. Ban đầu người ta sử dụng CPI (Counts per inch) để tính toán tốc độ chuột. Về sau do những lí do kĩ thuật. người dùng có thể gạt sang hai bên để thực hiện chức năng cuộn ngang. Với bánh xe mới. thiết bị trung gian chịu trách nhiệm tính toán tọa độ chính là bộ xử lí bên trong chuột.7. CPI và DPI chỉ khác nhau về đơn vị tính (CPI sử dụng centimet còn DPI sử dụng số lượng điểm ảnh). 2000dpi thực ra là khả năng đáp ứng về tốc độ của chuột 47 . Trước tiên là tốc độ xử lí hình ảnh: càng nhiều hình ảnh được “chụp” từ bộ cảm biến của chuột. Tốc độ và độ chính xác: Việc thương mại hóa và các chiêu tiếp thị đã biến thông số kĩ thuật của chuột trở nên rắc rối hơn nhiều so với bản chất của chúng. bất cứ di chuyển nào dù nhỏ nhất cũng sẽ bị ghi nhận và điều này hoàn toàn không có lợi cho tính chính xác. 2. độ chính xác của nó sẽ càng cao. Giá trị này thể hiện số điểm ảnh con trỏ chuột sẽ lấy mẫu được khi di chuột 1 inch trên bề mặt. độ chính xác tăng lên lại tỉ lệ thuận với tốc độ chuột. mà không phải di chuột nhiều nhưng ngược lại. điển hình như V500 của Logitech. Nó sẽ xử lí mẫu hình để lấy các giá trị trung bình trước khi gởi đến máy tính Một đơn vị khác dùng đẻ đánh giá chuột là DPI (Dots per inch) hay còn gọi là độ phân giải của mắt cảm ứng. Lấy ví dụ: với cùng mức DPI.

Đây sẽ là bất lợi lớn với những người dùng yêu cầu độ chính xác ở khoảng nhỏ (micro) như thiết kế hay game chiến thuật. Vấn đề cân bằng giữa hai giá trị tốc độ và độ chính xác được giải quyết dựa vào độ phân giải màn hình của người dùng. Từ đó ta thấy rằng. một bàn phím là một thiết bị ngoại vi được mô hình một phần theo bàn phím máy đánh chữ. mỗi lần nhấn 48 .với phản ứng của người chơi ngay cả ở độ phân giải cao. nguyên tắc chính vẫn là bỏ qua các điểm ảnh và như thế rõ ràng độ chính xác cũng sẽ giảm đi khi tốc độ chuột hạ thấp xuống. Tuy nhiên. Trong thực tế. do độ chính xác tỉ lệ thuận với tốc độ di chuyển nên việc điều khiển chuột sẽ gây khó khăn hơn. Một bàn phím thông thường có các ký tự được khắc hoặc in trên phím. Mức 800dpi và 1280x1024 là khá hợp. 2. Bàn phím máy tính : Trong máy tính.7. bàn phím là sự sắp đặt các nút. chuột 1600dpi đến 2000dpi sẽ rất tuyệt khi sử dụng trên màn hình 1600x1200 hoặc 2048x1536 trở lên. con trỏ đã có thể chạy từ góc màn hình này sang góc màn hình đối diện rồi. mức Dpi cao với độ phân giải màn hình càng lớn sẽ giúp hạn chế tốc độ con trỏ di chuyển trong khi vẫn giữ được tính chính xác.2. Về hình dáng. hay phím. với đa số bàn phím. Các nhà sản xuất có nhiều cách để xử lí vấn đề này thông qua phần mềm hoặc trực tiếp từ phần cứng. nhưng nếu bạn dùng chúng ở màn hình độ phân giải thấp hơn (dưới 1280x1024) thì rắc rối sẽ xảy ra: rất khó để chọn đối tượng. do khi bạn di chuyển chuột một khoảng cách rất nhỏ.

và có thể sắp đặt một vấn đề an ninh vì nguy cơ của sự nghe trộm. Đối với máy tính xách tay màn hình là một bộ phận gắn chung không thể tách 49 . Các loại bàn phím Bàn phím không dâyBàn phím không dây đang dần phổ biến với những người sử dụng muốn sự tự do đang tăng lên.2. tắt máy tính .7. MS-DOS và một vài phiên bản cũ của Windows.8. Cách sử dụng Trong cách sử dụng bình thường. 2. Tuy nhiên. Dù sao. Dưới Linux. bàn phím không dây cần pin để hoạt động. tổ hợp Ctrl+Alt+Del thực hiện một 'cold' hay 'warm' reboot. 2. Một ví dụ điển hình trên PC là tổ hợp Ctrl+Shift+Esc .2.1. các phím khác không tạo ra bất kỳ ký hiệu nào. MÀN HÌNH: Màn hình máy tính là thiết bị điện tử gắn liền với máy tính với mục đích chính là hiển thị và giao tiếp giữa người sử dụng với máy tính.một phím tương ứng với một ký hiệu được tạo ra.. 2.2. 2. để tạo ra một số ký tự cần phải nhấn và giữ vài phím cùng lúc hoặc liên tục. Với phiên bản Windows hiện thời tổ hợp này mở Task Manager để cho phép người sử dụng quản lý những quá trình đang hoạt động.7. USB hoặc kết nối không dây 2.7. Cổng giao tiếp Bàn phím kết nối với bo mạch chủ qua: PS/2.7.2.3. Lệnh Một bàn phím cũng được dùng để viết lệnh vào máy tính. hay bất cứ hộp chữ khác.2. màn hình máy tính là một bộ phận tách rời. thay vào đó tác động đến hành vi của máy tính hoặc của chính bàn phím..4. trình soạn thảo văn bản. bàn phím dùng để đánh văn bản vào một bộ xử lý chữ. Đối với các máy tính cá nhân (PC).

Ống phóng CRT sẽ tạo ra các tia điện tử đập vào màn huỳnh quang để hiển thị các điểm ảnh theo mong muốn. nên thường đặt tên cho loại này là "loại CRT"). Màn hình máy tính loại CRT: Thường gặp nhất là các loại màn hình máy tính với nguyên lý ống phóng chùm điện tử (ống CRT. ta hãy xem nguyên lý để hiển thị hình ảnh của một màn hình đơn sắc (đen trắng). 2. Phù hợp với games thủ và các nhà thiết kế. tiêu tốn điện năng hơn các loại màn hình khác. Nguyên lý hiển thị hình ảnh Màn hình CRT sử dụng phần màn huỳnh quang dùng để hiển thị các điểm ảnh. tốc độ đáp ứng cao. để các điểm ảnh phát sáng theo đúng màu sắc cần hiển thị cần các tia điện tử tác động vào chúng để tạo ra sự phát xạ ánh sáng. Để tìm hiểu nguyên lý hiển thị hình ảnh của các màn hình CRT. xử lý đồ hoạ.rời. Các màn hình loại CRT có các ưu nhược điểm: Ưu điểm: Thể hiện màu sắc rất trung thực. các nguyên lý màn hình CRT màu đều dựa trên nền tảng này. 50 . Nhược điểm: Chiếm nhiều diện tích. thường gây ảnh hưởng sức khoẻ nhiều hơn với các loại màn hình khác.8. Đặc biệt: màn hình có thể dùng chung (hoặc không sử dụng) đối với một số hệ máy chủ. độ phân giải có thể đạt được cao.1.

từ trái qua phải một cách rất nhanh để tạo ra các khung hình tĩnh. với các điểm ảnh trắng thì tia này lớn đến giới hạn. ống CRT có các cuộn lái tia theo hai phương (ngang và đứng) điều khiển tia này đến các vị trí trên màn huỳnh quang. Chùm tia điện tử được xuất phát từ một ống phát của đèn hình. 51 . với các thang màu xám thì tuỳ theo mức độ sáng mà tia có cường độ khác nhau. các điện tử tự do trong kim loại của sợi dây tóc nhảy khỏi bề mặt và bị hút vào điện trường tạo ra trong ống CRT. nhiều khung hình tĩnh như vậy thay đổi sẽ tạo ra hình ảnh chuyển động. Một điểm ảnh được phân thành các cường độ sáng khác nhau sẽ được điều khiển bằng chùm tia điện tử có cường độ khác nhau. Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình màu Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình màu loại CRT giống với màn hình đen trắng đã trình bày ở trên. ống CRT có các thấu kính điện từ (hoàn toàn khác biệt với thấu kính quang học) bằng các cuộn dây để hội tụ chùm tia. lần lượt từ trên xuống dưới.Nguyên lý hiển thị hình ảnh của màn hình đen-trắng Ở các màn hình CRT cổ điển: Toàn bộ lớp huỳnh quang trên bề mặt chỉ hiển phát xạ một màu duy nhất với các mức thang xám khác nhau để tạo ra các điểm ảnh đen trắng. Các màu sắc được hiển thị theo nguyên tắc phối màu phát xạ: Mỗi một màu xác định được ghép bởi ba màu cơ bản. với các điểm ảnh màu đen các tia này có cường độ thấp nhất (hoặc không có). Cường độ các tia này thay đổi theo điểm ảnh cần hiển thị trên màn hình. Trên màn hình hiển thị lớp huỳnh quang của màn hình đen trắng được thay bằng các lớp phát xạ màu dọc từ trên xuống dưới màn hình (điều này hoàn toàn có thể quan sát được bằng mắt thường). Để đảm bảo các tia điện tử thu hẹp thành dạng điểm theo kích thước điểm ảnh thiết đặt. Tia điện tử được quét lên bề mặt lớp huỳnh quang theo từng hàng. Tại đây có một dây tóc (kiểu giống dây tóc bóng đèn sợi đốt) được nung nóng. Để tạo ra một tia điện tử.

điều xảy ra lúc này là hai điểm ảnh vật lý ở sẽ hiển thị trọn vẹn.2. do đó hiện nay đang được sử dụng rộng rãi. dần thay thế màn hình CRT.8. không chiếm diện tích trên bàn làm việc.dẫn đến chỉ có thể hiển thị màu trung bình. ít ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng so với màn hình CRT. do đó nếu thiết đặt độ phân giải thấp hơn độ phân giải thiết kế sẽ xảy ra tình trạng tương tự việc có 3 điểm ảnh vật lý (thực) dùng để hiển thị 2 điểm ảnh hiển thị (do người sử dụng thiết đặt). Độ phân giải của màn hình tinh thể lỏng dù có thể đặt được theo người sử dụng. dẫn đến sự hiển thị không rõ nét. tuy nhiên để hiển thị rõ nét nhất phải đặt ở độ phân giải thiết kế của nhà sản xuất. 52 . Ưu điểm: Mỏng nhẹ. Nguyên nhân là các điểm ảnh được thiết kế cố định (không tăng và không giảm được cả về số điểm ảnh và kích thước). màu sắc chưa trung thực bằng màn hình CRT. Ít tiêu tốn điện năng so với màn hình loại CRT. Màn hình máy tính loại tinh thể lỏng: Màn hình máy tính loại tinh thể lỏng dựa trên công nghệ về tinh thể lỏng nên rất linh hoạt. còn lại một điểm ảnh ở giữa sẽ hiển thị một nửa điểm ảnh hiển thị này và một nửa điểm ảnh hiển thị kia . Nhược điểm: Giới hạn hiển thị nét trong độ phân giải thiết kế (hoặc độ phân giải bằng 1/2 so với thiết kế theo cả hai chiều dọc và ngang).2. có nhiều ưu điểm hơn màn hình CRT truyền thống. tốc độ đáp ứng chậm hơn so với màn hình CRT (tuy nhiên năm 2007 đã xuất hiện nhiều model có độ đáp ứng đến 2 ms).

Theo công nghệ chế tạo các điểm chết của màn hình tinh thể lỏng không thể sửa chữa được. toàn một màu trắng. Một số hãng cho phép đến 3 điểm chết (mà không bảo hành). có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng. cách thử đơn 53 . tốt nhất dùng các phần mềm chuyên dụng (dẫn dễ tìm các phần mềm kiểu này bởi chúng thường miễn phí). Thường tỷ lệ xuất hiện điểm chết của màn hình tinh thể lỏng chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm xuất xưởng nên các hãng sản xuất có các chế độ bảo hành riêng. người sử dụng có thể tạo các ảnh toàn một màu đen. Để kiểm tra các điểm chết trên các màn hình tinh thể lỏng. Điểm chết có thể là điểm chết đen hoặc điểm chế trắng. một số khác là 5 điểm do đó khi lựa chọn mua các màn hình tinh thể lỏng cần chú ý kiểm tra về số lượng các điểm chết sẵn có. Điểm chết được coi là các điểm mà màn hình không thể hiển thị đúng màu sắc.Điểm chết trong màn hình tinh thể lỏng Một trong các tiêu chí quan trọng để đánh giá về màn hình tinh thể lỏng là các điểm chết của nó (khái niệm điểm chết không có ở các loại màn hình CRT). Điều đáng nói ở đây là một số màn hình tinh thể lỏng có hiện tượng lọt sáng tại các viền biên của màn hình (do cách bố trí của đèn nền và sự che chắn cần thiết) gây ra cảm giác hiển thị không đồng đều khi thể hiện các bức ảnh tối. Khi điều chỉnh độ sáng chính là điều chỉnh ánh sáng của đèn nền. Với các điểm chết đen chúng ít lộ và dễ lẫn vào hình ảnh. Điểm chết có thể xuất hiện ngay từ khi xuất xưởng. ngay từ khi bật màn hình lên thì điểm chết chỉ xuất hiện một màu duy nhất tuỳ theo loại điểm chết. Công nghệ màn hình tinh thể lỏng phải sử dụng các đèn nền để tạo ánh sáng đến các tinh thể lỏng. Khi chọn mua cần thử hiển thị để tránh mua các loại màn hình gặp lỗi như vậy. các điểm chết trắng thường dễ nổi và gây ra sự khó chịu từ người sử dụng. nếu không có các phần mềm. toàn một màu khác và xem nó ở chế độ chiếm đầy màn hình (full screen) để kiểm tra.

tuổi thọ cao. 54 ...chúng được cài đặt hệ điều hành Windows Vista mới nhất. Màn hình cảm ứng xuất hiện ở một số máy tính xách tay cùng với hệ điều hành Windows XP Tablet PC Edition. làm việc với máy tính bằng cách sử dụng các loại bút riêng hoặc bằng tay giống như cơ chế điều khiển của một số điện thoại thông minh hay Pocket PC. đáp ứng nhanh. Màn hình rộng và màn hình chuẩn 4:3 thông thường Trong màn hình tinh thể lỏng thường có hai loại. Màn hình máy tính sử dụng công nghệ OLED Là công nghệ màn hình mới với xu thế phát triển trong tương lai bởi các ưu điểm: Cấu tạo mỏng.8. màn hình máy tính còn có một số loại khác như: Màn hình cảm ứng Màn hình cảm ứng là các loại màn hình được tích hợp thêm một lớp cảm biến trên bề mặt để cho phép người sử dụng có thể điều khiển. Tuy nhiên hiện nay xu thế người sử dụng đang dần chuyển sang sử dụng màn hình rộng bởi dần các game hỗ trợ màn hình rộng tốt hơn. 2.3. rất cá biệt mới có màn hình rộng. tiết kiệm năng lượng. mua sắm trực tuyến hoặc các mục đích khác . Vấn đề lựa chọn giữa loại thường và rộng hiện nay cũng hay gây nhiều tranh cãi trên các diễn đàn bởi thói quen sử dụng của từng người. Màn hình máy tính loại khác: Ngoài hai thể loại chính thông dụng trên. Với màn hình kiểu CRT thì thông dụng nhất vẫn theo chuẩn thông thường.giải nhất là quan sát viền màn hình trong thời điểm khởi động Windows xem các vùng sáng có quá lộ hay không. màn hình theo chuẩn 4:3 thông thường và màn hình theo chuẩn rộng. Một số máy tính cho các tụ điểm công cộng cũng sử dụng loại màn hình này phục vụ giải trí.

Phần dưới đây chỉ nói đến việc điều chỉnh màn hình CRT và được tiến hành theo thứ tự. biến dạng khi hiển thị). ngoại hình màn hình OLED thường giống màn hình tinh thể lỏng nhưng có kích thước mỏng hơn nhiều do không sử dụng đèn nền. Kiểu giao tiếp này có ưu điểm hơn so với kiểu D-Sub là có thể cho chất lượng ảnh tốt hơn. Đưa toàn bộ thiết lập của màn hình về mặc định: Do việc điều chỉnh sự dịch chỉnh khung hình có thể được thực hiện trên máy tính (bởi một số driver cạc màn hình cho phép) nên có thể đã thực hiện một số sự điều chỉnh trên hệ thống. đa phần màn hình tinh thể lỏng hiện nay sử dụng chuẩn này. màu sắc. các chế độ làm việc được đưa về thông số thiết kế. DVI là kiểu truyền theo tín hiệu số. D-Sub là kiểu truyền theo tín hiệu tương tự. Do đặc điểm chuyển đổi giữa chế độ hình ảnh. Điều chỉnh màn hình máy tính Mặc định theo sản xuất. 55 . hầu hết việc điều chỉnh chỉ liên quan đến thiết lập chế độ hiển thị. Với các màn hình tinh thể lỏng. Các kiểu giao tiếp kết nối của màn hình máy tính Hai kiểu giao tiếp thông dụng giữa màn hình máy tính và máy tính là: D-Sub và DVI. phần còn lại vẫn sử dụng theo D-Sub.Về cơ bản. cần phải thiết lập lại màn hình cho phù hợp (hình ảnh chiếm đầy màn hình. cần đưa về mặc định trước khi thực hiện việc điều chỉnh trên màn hình. Tuy nhiên để sử dụng kiểu DVI đòi hỏi cạc đồ hoạ phải hỗ trợ chuẩn này (đa số các cạc đồ hoạ rời đều có cổng DVI. chế độ chuyển đổi giữa các cuộn lái tia sẽ làm việc khác nhau. không tạo sự méo mó. do đó để phù hợp với chế độ phân giải thường xuyên sử dụng của người dùng máy tính. Với các màn hình kiểu CRT cần phải điều chỉnh nhiều hơn. do đó tuỳ thuộc vào người sử dụng mà cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp. các màn hình CRT đều sử dụng giao tiếp này. tuy nhiên cạc đồ hoạ tích hợp sẵn trên bo mạch chủ phần nhiều là không hỗ trợ).

9. Tuy nhiên tất cả các tính năng gắn thêm này thường được tích hợp chủ yếu cho người dùng văn phòng. Điều chỉnh độ xoay nghiêng. 56 .Tiến hành điều chỉnh trên màn hình thông qua các nút điều chỉnh: Chỉnh khung hình hiển thị nhỏ hơn so với các giới hạn mép biên của khung hình về mọi hướng (điều chỉnh nhỏ đi đồng đều). Micro: cũng có thể được gắn kèm vào màn hình (thường đi cùng với loa). Căn chỉnh giãn đều về hai hướng trái phải và trên xuống sao cho khung hình chiếm đầy đủ màn hình (thực hiện 2 lần với hai chiều ngang và dọc). Một cách khác loa cũng có thể được gắn chìm hoặc giấu phía sau màn hình. Webcam: được tích hợp sẵn với một số model của màn hình máy tính. Căn chỉnh vị trí khung hình nhỏ về phía trung tâm khung hình.. chất lượng của chúng thường ở tầm thấp. webcam sẽ phù hợp cho một số người sử dụng thường xuyên tán ngẫu trực tuyến (chat). NGUỒN MÁY TÍNH: Nguồn máy tính là một thiết bị cung cấp điện năng chobo mạch chủ. một số màn hình được sản xuất cho các games thủ còn có cả các loa siêu trầm. 2.. ổ cứng và các thiết bị khác. màn hình máy tính ngày nay còn được tích hợp các tính năng khác: Loa: Thường một số hãng sản xuất tích hợp loa vào một số model kể cả của loại CRT và tinh thể lỏng. đáp ứng năng lượng cho tất cả các thiết bị phần cứng của máy tính hoạt động. Tích hợp thiết bị khác trên màn hình máy tính Ngoài chức năng hiển thị. không thể dùng cho các mục đích chuyên nghiệp.. Loa thường được gắn hai chiếc vào hai bên để phát stereo. Kết hợp giữa micro. loa. độ méo không đồng đều theo chiều dọc và độ lệch (thành hình bình hành) sao cho khung hình ngay thẳng và hợp lý nhất.

. +3. Nguyên lý hoạt động: Từ nguồn điện dân dụng (110Vac/220Vac xoay chiều với tần số 50/60Hz) vào PSU qua các mạch lọc nhiễu loại bỏ các nhiễu cao tần. Sự ổn định của một máy tính 57 . máy chủ. +5V. các ổ đĩa. được nắn thành điện áp một chiều.9. Nguồn máy tính cung cấp đồng thời nhiều loại điện áp: +12V. Vai trò : Nguồn máy tính là một bộ phận rất quan trọng đối với một hệ thống máy tính. một đầu cắm vào máy tính xách tay. . Nguồn máy tính được lắp trong các máy tính cá nhân. Ở máy để bàn hoặc máy chủ. máy tính xách tay..9. 2.1. từ đây được nắn trở lại thành một chiều. Ở máy tính xách tay PSU có dạng một hộp nhỏ có hai đầu dây.2. thậm chí cả các cạc đồ hoạ cao cấp.3V. tuy nhiên có nhiều người sử dụng lại ít quan tâm đến. Sở dĩ phải có sự biến đổi xoay chiều thành một chiều rồi lại thành xoay chiều và trở lại một chiều do đặc tính của các biến áp: Đối với tần số cao thì kích thước biến áp nhỏ đi rất nhiều so với biến áp ở tần số điện dân dụng 50/60Hz. một đầu nối với nguồn điện dân dụng.12V. Từ điện áp một chiều này được chuyển trở thành điện áp xoay chiều với tần số rất cao. bạn có thể nhìn thấy PSU là một bộ phận có rất nhiều đầu dây dẫn ra khỏi nó và được cắm vào bo mạch chủ.2. với dòng điện định mức lớn. qua một bộ biến áp hạ xuống thành điện áp xoay chiều tần số cao ở mức điện áp thấp hơn.

không cung cấp đủ công suất hoặc không ổn định sẽ có thể gây lên sự mất ổn định của hệ thống máy tính (cung cấp điện áp quá thấp cho các thiết bị.) phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn máy tính bởi nó cung cấp năng lượng cho các thiết bị này hoạt động. . Các kết nối đầu ra của nguồn máy tính bao gồm: .3. ổ cứng. bộ xử lý. ổ quang (giao tiếp ATA) (peripheral connector): Gồm bốn chân. các nguồn mới thiết kế cho các bo mạch chủ đời mới sử dụng loại tám chân.Đầu cắm cho ổ cứng. Phiên bản khác của đầu cắm này là 20+4 chân: Phù hợp cho cả bo mạch dùng 20 và 24 chân + Đầu cắm cấp nguồn cho bộ xử lý trung tâm (CPU) có hai loại: Loại bốn chân và loại tám chân (thông dụng là bốn chân.9.Đầu cắm vào bo mạch chủ là đầu cắm có 20 hoặc 24 chân . 2.. bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên. hư hỏng hoặc làm giảm tuổi thọ các thiết bị (nếu cung cấp điện áp đầu ra cao hơn điện áp định mức). thông thường các dây dẫn này được hàn trực tiếp vào bản mạch của nguồn. Các kết nối đầu ra của nguồn máy tính : Nguồn máy tính không thể thiếu các đầu dây cắm cho các thiết bị sử dụng năng lượng cung cấp từ nó.Đầu cắm cho ổ cứng. Việc cắm nối có ưu điểm là loại bỏ các dây không cần dùng đến để tránh quá nhiều dây nối trong thùng máy gây cản trở luồng gió lưu thông trong thùng máy. ổ quang giao tiếp SATA: Gồm bốn dây.Đầu cắm cho ổ đĩa mềm: Gồm bốn chân.ngoài các thiết bị chính (bo mạch chủ. Tuy nhiên có một số nhà sản xuất đã thay thế việc hàn sẵn vào bản mạch của nguồn bằng cách thiết kế các đầu cắm nối vào nguồn. có nhiều nhiễu cao tần gây sai lệch các tín hiệu trong hệ thống). .. Một nguồn chất lượng kém.Các đầu cắm cho bo mạch chủ và thiết bị ngoại vi được nối với các dây dẫn màu để phân biệt đường điện áp. . . nhưng theo tác giả (TMA) thì nó cũng có nhược điểm: Tạo thêm một sự tiếp xúc thứ hai trong 58 .Đầu cắm cho các cạc đồ hoạ cao cấp: Gồm sáu chân.Tuỳ thể loại bo mạch chủ sử dụng. .

Có mức điện áp quy định là 0V. ta có thể kích hoạt nguồn làm việc bằng cách nối dây kích hoạt (xanh green) với dây 0V (Hay COM. hoặc không được nối với máy tính. Việc dùng đường 5Vsb cho bàn phím và con chuột tuỳ theo thiết kế của bo mạch chủ . điều này làm tăng điện trở và có thể gây nóng. Hay còn gọi là GND. cung cấp cho con chuột.Màu vàng: Dây có mức điện áp +12V (thường quy ước đường +12V thứ nhất đối với các nguồn chỉ có một đường +12V) Màu xanh Blue: Dây có mức điện áp -12V. Dòng điện này được cung cấp cho việc khởi động máy tính ban đầu. tiếp xúc kém dẫn đến không thuận lợi cho quá trình truyền dẫn. Đây là thủ thuật để kiểm tra sự hoạt động của nguồn trước khi nguồn được lắp vào máy tính. GND màu đen).Dây màu tím: Điện áp 5Vsb (5V standby): Dây này luôn luôn có điện ngay từ khi đầu vào của nguồn được nối với nguồn điện dân dụng cho dù nguồn có được kích hoạt hay không (Đây cũng là một cách thử nguồn hoạt động: Đo điện áp giữa dây này với dây đen sẽ cho ra điện áp 5V trước khi kích hoạt nguồn hoạt động). .3 V . Tất cả các mức điện áp khác đều so với dây này. chuột và các cổng USB thì có thể thực hiện khởi động máy tính từ bàn phím hoặc con chuột máy tính. 2.Màu đen: Dây chung. Màu xanh Green: Dây kích hoạt sự hoạt động của nguồn. Nếu nguồn ở trạng thái không hoạt động.4.quá trình truyền dẫn điện. . hoặc COM. .Màu đỏ: Dây có mức điện áp +5V. Nếu hãng hoặc model nào thiết kế dùng đường 5Vsb cho bàn phím. 59 .9. Quy ước mầu dây và mức điện áp trong nguồn máy tính: Quy ước chung về các mức điện áp theo màu dây trong nguồn máy tính như sau: .Có hãng hoặc model dùng điện 5Vsb. bàn phím hoặc các cổng USB. có hãng dùng 5V thường.Màu cam: Dây có mức điện áp: +3.

Công suất cung cấp thường phụ thuộc vào số lượng và các đặc tính làm việc của thiết bị.CPU: Có nhiều chế độ tiêu thụ nhất: Khi làm việc ít. CPU và các thiết bị hoạt động. các CPU dòng Core 2 duo của Intel.Hiệu suất của nguồn thường không được ghi trên nhãn hoặc không được cung cấp khi nguồn máy tính được bán cho người tiêu dùng.. Công suất tiêu thụ:Là công suất mà một nguồn máy tính tiêu thụ với nguồn điện dân dụng.. xử lý ảnh. nó không bình quân và trung bình như nhiều người hiểu. .)..5. +12V3 (đường 12V độc lập thứ 3)có thể sử dụng viền màu khác nhau(tuỳ theo hãng sản xuất) như vàng viền trắng. Các thiết bị thường xuyên thay đổi công suất tiêu thụ thường là: .) cạc tiêu tốn hơn mức bình thường.9. khi làm việc tối đa. 60 .. do đó cần lưu ý đến cả hai thông số này. khi giảm tốc độ (thường thấy ở các CPU cho máy tính xách tay.. biên tập video. công suất tiêu thụ và công suất tối đa. Công suất cung cấp của nguồn máy tính ở các thời điểm và chế độ làm việc khác nhau là khác nhau. Công suất tiêu thụ được tính bằng W là công suất mà người sử dụng máy tính phải trả tiền cho nhà cung cấp điện (tất nhiên phải tính thêm công suất của màn hình máy tính trong trường hợp máy tính thuộc loại máy tính cá nhân) Công suất cung cấp:của nguồn được tính bằng tổng công suất mà nguồn cấp cho bo mạch chủ. các nguồn có thể sử dụng một số dây dẫn có màu hỗn hợp: Ví dụ các đường +12V2 (đường 12V độc lập thứ 2).Một số dây khác: Khi mở rộng các đường cấp điện áp khác nhau. Công suất và hiệu suất: Công suất nguồn được tính trên nhiều mặt: Công suất cung cấp.Cạc đồ hoạ: Khi cần xử lý một khối lượng đồ hoạ lớn (khi chơi games.. Công suất cung cấp thường nhỏ hơn công suất cực đại của nguồn. 2.. vàng viền đen.

điện trường. Thông thường một hệ thống máy tính không nên thường xuyên sử dụng đến công suất cực đại liên tục bởi khi này một trong các linh kiện điện tử trong nguồn máy tính làm việc đạt đến (hoặc xấp xỉ) ngưỡng cực đại của nó. Công suất này có thể chỉ đạt được trong một khoảng thời gian rất nhỏ . Hiệu suất của nguồn máy tính được xác định bằng hiệu số giữa công suất cung cấp và công suất tiêu thụ của nguồn. phần năng lượng bị mất đi đó bị biến thành các dạng năng lượng khác không mong muốn (cơ năng.. Rất nhiều hãng sản xuất nguồn máy tính đã dùng công suất cực đại tức thời để dán lên nhãn sản phẩm của mình. . 61 .. Công suất cực đại tức thời: của nguồn máy tính là công suất đạt được trong một thời gian ngắn. Trong nguồn máy tính. Công suất này rất quan trọng khi chọn mua nguồn máy tính bởi nó quyết định đến sự làm việc ổn định của máy tính. thậm trí nhiều ngày.Các quạt trong máy tính nếu có cơ chế tự động điều chỉnh tốc độ theo nhiệt độ của hệ thống.) do đó hiệu suất của một thiết bị rất quan trọng.Chipset cầu bắc (NB): linh kiện tiêu thụ năng lượng nhiều nhất trên bo mạch chủ.. Công suất cực đại liên tục: Là công suất lớn nhất mà nguồn có thể đạt được khi làm việc liên tục trong nhiều giờ. từ trường. nếu bo mạch chủ tích hợp sẵn cạc đồ hoạ thì chipset cầu bắc tiêu tốn năng lượng hơn. và giao động mức tiêu thụ tuỳ theo chế độ đồ hoạ. điện trường. nhiệt năng. năng lượng tiêu hao không mong muốn chủ yếu là nhiệt năng và từ trường.Ổ quang: Khi đọc hoặc ghi sẽ tiêu tốn năng lượng hơn mức bình thường. . Mọi thiết bị chuyển đổi năng lượng từ các dạng khác nhau đều không thể đạt hiệu suất 100%.tính bằng mili giây (ms).

điện trở (thường). Khi công suất đạt đến mức cao hoặc cực đại thì các quạt quay ở tốc độ cao.9. có định hướng đón gió từ các quạt làm mát nguồn.Các bộ nguồn máy tính tốt thường có hiệu suất đạt trên 80%. 2.000 giờ làm việc). tụ điện . biến áp (có sinh nhiệt nhưng ít hơn nên có thể giải nhiệt tự nhiên) và các linh kiện khác. ít ồn hơn so với quạt dùng bạc (quạt dùng bạc có tuổi thọ cao nhất khoảng 100. Quạt dùng vòng bi thường bền hơn (đạt khoảng 400. Đa số các quạt cho nguồn là loại quạt dùng bạc. Hiệu suất các nguồn này chỉ đạt nhỏ hơn 50-70%. Chiếm đa số các nguồn máy tính trong các máy tính tự lắp ráp hiện nay trên thị trường Việt Nam là các nguồn chất lượng thấp hoặc ở mức trung bình. ở một số nguồn chất lượng tốt dùng quạt dùng vòng bi. các thiết kế riêng biệt của vỏ máy tính đã tạo ra các sự khác biệt của các hãng máy tính khác nhau và các model khác nhau trong cùng một hãng. Thông thường các nguồn được kiểm nghiệm đạt hiệu suất trên 80% được dán nhãn "sản phẩm xanh bảo vệ môi trường" hoặc phù hợp chuẩn 80+. VỎ MÁY : Vỏ máy tính là một thiết bị dùng gắn kết và bảo vệ các thiết bị phần cứng trong máy tính . Các tấm tản nhiệt kim loại thường sử dụng dùng hợp kim nhôm. Các linh kiện điện tử được giải nhiệt bằng các tấm tản nhiệt kim loai áp sát trực tiếp vào linh kiện. các quạt quay chậm để đảm bảo không ồn. Các tấm tản nhiệt thường có hình dạng phức tạp để có diện tích tiếp xúc với không khí lớn nhất. 62 . khi nguồn làm việc với công suất thấp.7. 2. Giải nhiệt cho nguồn máy tính : Các linh kiện khác không cần giải nhiệt hoặc giải nhiệt tự nhiên bằng luồng gió cưỡng bức qua nguồn: IC (ít toả nhiệt).10. Đa số các nguồn chất lượng tốt đều có cơ chế điều chỉnh tốc độ quạt. quay nhanh hơn.000 giờ làm việc). Vỏ máy tính có nhiều thể loại khác nhau.

Có các vị trí để gắn các thiết bị trong máy tính: nguồn máy tính . Có khả năng thông gió tốt. bo mạch chủ. 63 . ổ đia cứng .. Có khả năng tiếp nhận nhiệt từ các thiết bị và tản nhiệt ra môi trường. các loại ổ đĩa quang .Vỏ máy tính cần đáp ứng các yêu cầu tối thiểu sau: Đủ cứng vững để đảm bảo chịu lực va đập (ở mức độ thấp) từ mọi hướng. ổ đĩa mềm hoặc ổ ZIP. Có gắn sẵn các thiết bị tối thiểu: Nút Power để khởi động máy tính. di chuyển máy tính. có thể trang bị các quạt làm mát ở một số vị trí tuỳ thuộc vào bo mạch chủ. không làm tác động lực đến các thiết bị bên trong khi mang vác. ổ quang. các thiết bị ngoại vi. Có khả năng hạn chế sự thâm nhập của côn trùng và bụi vào trong máy tính. Hai loại đèn LED để báo hiệu chế độ hoạt động của nguồn điện trong bo mạch chủ và chế độ làm việc của các ổ cứng. Hạn chế tiếng ồn ra ngoài.

phần mặt sau và phần trong của mặt trước.Có thể có nút Reset để khởi động lại hệ thống khi gặp lỗi cần reset lại chế độ làm việc của phần cứng (một số máy tính chuyên chiếc của các hãng sản xuất không sử dụng nút này) -Kích thước vỏ máy tính Tuỳ theo các hệ thống khác nhau mà có sự thay đổi về kích thước vỏ máy tính. Đối với các máy tính do người sử dụng tự lắp ráp đòi hỏi vỏ máy tính phải phù hợp với nhiều loại kích thước của bo mạch chủ khác nhau. tấm đỡ định vị bo mạch chủ. Đối với một số loại vỏ máy tính mặt trước được cấu tạo bằng lưới hoặc tấm hợp kim nhôm. Vỏ phần hai mặt bên: Chế tạo bằng tôn với các loại vỏ máy tính thông thường. 64 . các tấm đỡ và khoang ổ cứng. các loại vỏ máy tính kiểu này chỉ có giá trị về hình thức. Chiếm đa phần nhất là thép để chế tạo các khung chính. ổ quang. tuy nhiên vật liệu này thường không đủ các điều kiện về cứng vững và tản nhiệt. Mặt trước đa phần được chế tạo bằng nhựa. giúp người dùng có thể nhìn xuyên vào bên trong máy tính. Một số loại vỏ máy tính được cấu tạo bằng các vật liệu khác như mi ca ở toàn bộ vỏ ngoài (hoặc một phần) nhằm tạo ra sự độc đáo. -Vật liệu chế tạo: Vỏ máy tính thường được chế tạo bằng tổng hợp nhiều loại vật liệu khác nhau tại các vị trí khác nhau. bằng hợp kim nhôm đối với các vỏ máy tính chất lượng cao. do các hãng sản xuất phần cứng thiết kế và lắp ráp mọi chi tiết (thường gọi là "máy đồng bộ") và loại máy tính được người sử dụng tự lắp ráp từ các linh kiện riêng lẻ. có kích thước phù hợp với bo mạch chủ trong máy tính. Đối với các loại máy tính đồng bộ. Thông thường máy tính cá nhân có gồm hai thể loại nguồn gốc: Máy tính được thiết kế riêng biệt. Phần vỏ ngoài của vỏ máy tính thường được sơn bằng công nghệ sơn tĩnh điện để đảm bảo về thẩm mỹ và chống gây rò rỉ điện ảnh hưởng đến người dùng. vỏ máy tính thường nhỏ gọn.

65 .. ổ quang và ổ mềm có thể không cần đến sự cứng vững bởi bản thân chúng đã có thể chịu đựng sự va đập nhưng đối với các bo mạch (bo mạch chủ cũng như các bo mạch mở rộng khác) cần yêu cầu sự cứng vững của vỏ máy tính bởi tính chất này có thể làm ảnh hưởng đến chúng. nếu như tấm định vị bo mạch chủ không đủ cứng vững sẽ làm uốn vặn.. Do đó vỏ máy tính cần có khả năng lưu thông gió để làm mát các thiết bị tỏa nhiệt này . khi máy tính làm việc bên trong thùng máy sẽ tăng dần nhiệt độ. một số phần của vỏ máy tính có thể được chế tạo bằng các loại vật liệu khác thường như: gỗ.. đa số các bộ xử lý hiện nay đều toả nhiều nhiệt. Đối với các ổ cứng. chipset cầu nam . bán tự động hay thủ công đều có thể dẫn đến việc chế tạo thiếu chính xác -Lưu thông gió và tản nhiệt: Bên trong máy tính là các thiết bị sẽ sinh ra nhiệt . Nếu sự lưu thông gió không đảm bảo tốt.Trong một số trường hợp đặc biệt. Nếu vỏ máy tính có thể bị biến dạng hoặc bị vặn vẹo thì các bo mạch đang được định vị chắc chắn vào chúng sẽ bị vặn xoắn dẫn đến hư hỏng. -Tính chất cứng vững: Vỏ máy tính cần phải có tính cứng vững để đảm bảo định vị tốt các thiết bị bên trong. ổ cứng . chipset cầu bắc . cần dùng đến các bộ tản nhiệt đồ sộ (chứa nhiều đồng hoặc thậm chí có các bộ tản nhiệt bằngđồng nguyên khối) hoặc các chipset cầu bắc và cầu nam đều được tản nhiệt kết hợp với các bo mạch đồ hoạ cao cấp rất nặng nề . các nguồn nhiệt có thẻ phát ra từ : CPU. RAM.Tạo ra tổng thể hệ thống thiết bị trên bo mạch chủ khá nặng. thuỷ tinh. Bởi việc sản xuất vỏ máy tính bằng các phương thức khác nhau: tự động. dẫn đến hệ thống làm việc không ổn định và gây giảm tuổi thọ các thiết bị. gây đứt mạch dẫn đến hư hỏng sau một thời gian sử dụng -Sự chính xác khi lắp ráp thiết bị: Sự chính xác khi chế tạo vỏ máy tính khi lắp ráp các bo mạch chủ và bo mạch mở rộng có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của các thiết bị này. Một mặt khác. các transistor nguồn của bo mạch chủ .

vỏ máy loại này có thể thiết lập để giữ nhiệt độ thùng máy ở một thông số nào đó do người dùng thiết đặt do sự điều khiển tốc độ quạt lưu thông gió của vỏ máy tính.. Vỏ máy bảo mật với khoá chống trộm: Loại vỏ máy được tích hợp sẵn các khoá để khoá vỏ máy tính với một vật cố định nào đó (như bàn làm việc).1..Sự lưu thông và quá trình làm mát trong thùng máy không thể thực hiện theo chế độ tự nhiên. hai quạt trở lên và gắn ở các vị trí khác nhau tuỳ theo thiết kế của thùng máy và chuẩn của bo mạch chủ. các vỏ máy tính thường được thiết kế từ một. chế độ chuyển dữ liệu của ổ cứng và ổ quang (thông qua tín hiệu đèn của máy tính). -Vỏ máy tinh thiết kế mở rộng các tính năng : Nhằm hấp dẫn người dùng. các hãng sản xuất đã thiết kế các vỏ máy tính với nhiều tính năng cộng thêm ngoài các tiêu chuẩn thông thường. BẢO TRÌ MÁY TÍNH : Các thành phần cớ bản : - vỏ máy và bộ nguồn mainboard CPU và quạt CPU Ổ đĩa cứng 66 . PHẦN 3 : BẢO TRÌ NÂNG CẤP MÁY TÍNH 3. tốc độ quạt của thùng máy. Hiển thị nhiệt độ và điều khiển tốc độ quạt: Loại này có một màn hình LCD nhỏ ở phía mặt trước có chức năng hiển thị một số thông tin: Nhiệt độ bên trong thùng máy (thông qua một sensor cảm biến nhiệt của vỏ máy tính).

ta nên bỏ ra một chút thời gian để chăm sóc nó. rồi đậy kín lại là xong. Tháo quạt CPU ra. mở thùng máy ra và dùng khí nén để thổi vào các góc khuất của máy trước. Chú ý. sau đó lấy khí nén hay chổi lông làm sạch các cánh tản nhiệt. sau đó dùng một chổi lông mềm quét sạch bụi xung quanh và trên cánh quạt.- Ổ đĩa mềm Ổ đĩa CDROM Màn hình Bộ điều hợp màn hình Card ân thanh Card modem Bàn phím Chuột Cáp ide Cáp ổ đĩa mềm Cáp audio ổ đĩa cdrom Phầm mềm Đĩa mền khởi động Trong quá trình sử dụng máy vi tính. không nên dùng khí nén để thổi bụi trên các cánh quạt. Một số thao tác đơn giản có thể giúp máy chạy nhanh và êm hơn. sau đó nhỏ duy nhất một giọt dầu vào lỗ chính giữa của quạt. tiếp theo gỡ miếng bảo vệ ra. 67 . vì tốc độ thổi của khí nén có thể làm cánh quạt quay quá tốc độ giới hạn và làm hỏng quạt. Để lau chùi. Ta cũng cần làm sạch bộ phận tản nhiệt của CPU và các bộ tản nhiệt khác. cũng như có thể phòng tránh những hư hỏng . Đầu tiên. Làm sạch các bộ phận bên trong: Công việc này nên làm ít nhất hai lần mỗi năm. nếu không có dụng cụ thổi khí nén thì có thể dùng chổi lông mềm để lau chùi cũng được. trước tiên bạn phải tháo quạt ra. sau đó bạn mới thổi tới các phần còn lại. Để tra dầu cho quạt thì trước tiên bạn dùng vít hay vật nhọn nào đó tháo nắp nhựa đậy trên quạt (có một số quạt không có nắp này). Lau chùi và tra dầu cho quạt: Trong các thiết bị của máy vi tính thì quạt dễ bị đóng bụi và gây tiếng ồn nhất. giúp CPU giải nhiệt tốt hơn. sau đó lấy quạt gió thường để thổi sạch bụi còn bám vào máy.

Chú ý không nên đặt máy ở góc tường và trong phòng kín vì nó có thể làm không khí trong phòng nóng lên và gây nóng máy! Bạn cũng nên tránh để chó. quạt. cũng như tải các bản update để vá các lỗ hổng.Đặt máy ở vị trí thoáng mát: Đặt máy vi tính cao hơn mặt đất ít nhất 30 cm và xa tường ở khoảng cách tương tự. Chính vì vậy trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về các nhiệm vụ cơ bản này nhưng nhấn mạnh hơn cả là vấn đề tần xuất cần thực hiện mỗi nhiệm vụ đó. Bạn có thể sử dụng một chương trình miễn phí nào đó và không cần yêu cầu phần mềm này có bộ bảo vệ thời gian thực. Hàng tháng: Dồn ổ cứng. Qua thời gian. Có thể nói các nhiệm vụ cơ bản cho việc bảo trì máy tính là những nhiệm vụ mà hầu như người dùng nào cũng biết. mèo đến gần máy vì lông của nó có thể bay vào máy tính. hãy thực hiện quét phần mềm độc hại bằng một chương trình bảo mật khác. Hàng ngày: Backup dữ liệu.. bàn phím. 68 . bạn cần phải có một chương trình đáng tin cậy. Để được an toàn. tuy nhiên thời điểm nào thực hiện công việc nào và tần xuất thực hiện như thế nào thì chắc chắn không phải tất cả. các file của bạn sẽ chất đống và bị phân mảnh – tạo ra nhiều mẩu dữ liệu nằm dải rác đâu đó trong phần vật lý của ổ đĩa cứng. Thường xuyên kiểm tra hệ điều hành: Tốt nhất là nên nâng cấp nó lên phiên bản mới nhất.. Để thực hiện vấn đề này. đôi khi chúng vẫn có kẽ hở để các phần mềm độc hại có thể vượt qua và xâm nhập vào máy bạn. Vì vậy hãy thực hiện backup hàng ngày cho tài liệu.Chương trình antivirus thời gian thực cũng chưa thể được gọi là hoàn hảo. ảnh và dữ liệu ứng dụng của bạn. Tốt nhất là bạn nên sử dụng cả hai và chạy xen kẽ mỗi phần mềm một tuần. Chúng tôi có gợi ý cho các bạn một số chương trình như SUPERAntiSpyware hoặc Anti-Malware của Malwarebytes. Chắc chắn sẽ chẳng ai muốn mất những công việc mình đang làm hôm qua. Hàng tuần: Quét malware. Ảnh hưởng của vấn đề này có thể dẫn đến làm chậm máy tính và khó khăn trong việc render.

nếu máy tính đước sử dụng chính như một tài nguyên gia đình được dùng chung và lướt web thì không nên chọn máy tính có cấu hình cao như máy chơi game.Windows có một chương trình defragger khá hoàn hảo. 3. Kích tab Tools. Điều đó làm cho bạn tiết kiệm được một khoản vì có thể không cần mua những bộ bộ vi xử lý có tốc độ quá cao.2. kích chuột phải vào ổ C: và chọn Properties. Tuy nhiên hai hệ điều hành Vista và Windows 7 lại cung cấp cho bạn một tùy chọn để có thể cấu hình việc dồn ổ theo lịch trình. nhưng lại nghĩ là CPU có tốc độ cao như vậy thì sẽ tiết kiệm không cần phải mua RAM với dung lượng lớn. sau đó kích nút Defragment Now. Phải làm sáng tỏ về mục đích sử dụng cho máy tính của mình.2. Người dùng XP sẽ nhận được một nút để bắt đầu quá trình dồn ổ. Mỗi hệ thống đều có mục đích riêng của nó. Hãy xem xét vào toàn bộ các mục tiêu chính cho hệ thống trước khi chọn CPU.1. Trong khoảng thời gian máy tính đang thực hiện việc trao đổi bộ nhớ thì một CPU có tốc độ cao sẽ lãng phí rất nhiều thời gian trong quá trình chờ đợi nhàn rỗi này. Đây là một cải tiến khá thú vị giúp bạn có thể lập trình trình một cách tự động công việc dồn ổ cho ổ đĩa cứng của mình. có thể là cao nhất vào thời điểm chọn. Điều đó cũng có nghĩa là có thể sử dụng số tiền đó cho mục đích khác. Nâng cấp CPU: Thông thường hầu hết mọi người đều cho là chỉ cần mua một bộ vi xử lý có tốc độ lớn nhất là hoàn toàn có thể đáp ứng được những cần thiết. Khoảng thời gian này thường diễn ra liên tục chính vì vậy mà hiệu suất toàn hệ thống sẽ không cao. Ví dụ. ví dụ như mua một ổ cứng có dung lượng lớn hơn chẳng hạn. khi mua một CPU có tốc độ rất cao. trong Windows Explorer. 69 . Tuy nhiên điều đó không thực sự đúng. NÂNG CẤP MÁY TÍNH: 3. Điều đó quả là không có lợi cho bài toán tối ưu hệ thống.

Và khi nhắc đến việc nâng cấp RAM cho hệ thống.Hầu hết các hướng dẫn về nói qua về cách chọn CPU dựa trên ứng dụng sẽ sử dụng. 70 . Cân bằng ở đây có nghĩa là cân bằng những gì cần thiết. làm việc với word thì chỉ cần đến một CPU với tốc độ vừa phải và có thể chọn luôn cả card đồ họa tích hợp luôn trong mainboard. phần khó nhất không phải là việc lắp đặt bộ nhớ RAM vào bo mạch chủ như thế nào mà là ở chỗ chọn sao cho đúng và chính xác các loại RAM phù hợp. Xem kỹ bo mẹ trong PC của mình để xác định loại Ram cụ thể phù hợp với hệ thống máy.2. Một hệ thống được gọi là cân bằng sẽ giảm thiểu cho rất nhiều chi phí trong khi đó hiệu suất thu được là hoàn toàn đáp ứng được với nhu cầu. Nếu thực hiện rất nhiều việc liên quan đến đồ họa thì chọn một bộ bộ vi xử lý có tốc độ cao và “cơ bắp” mới thích hợp được với các card đồ họa 3D.2. hoặc (trong trường hợp xấu nhất) có thể làm hỏng ngay chính bộ Ram đó. Còn nếu trong trường hợp bạn chỉ lướt web. 3. nhưng chúng ta lại cho rằng mô hình sử dụng mới là cái quan trọng hơn bản thân những ứng dụng. Mua liều làm cho hệ thống không khởi động được. Các nhiệm vụ nền sau sẽ không là vấn đề chính cho sự lựa chọn CPU nhưng cũng cần phải biết để tối thiểu hóa sử dụng CPU cho các nhiệm vụ này. không có thành phần nào trong thiết bị phải nhàn rỗi chờ đợi thành phần khác thực thi phần nhiệm vụ của nó. được gọi chung là RAM thường là yếu tố mà người dùng máy tính chọn để nâng cấp khi muốn tăng tốc độ xử lý cho hệ thống. Những cần thiết như trên chúng ta cũng đã đề cập đến là hoàn toàn khác nhau. Nâng cấp Ram: Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (Random Access Memory). gây ra các thông báo lỗi cố định. Biết rõ những yêu cầu của bo mẹ trước khi mua Ram thì mọi việc sẽ thông suốt. Dưới đây là những điều cần biết rõ về bo mẹ của mình trước khi mua bộ nhớ. .

việc kiểm tra lỗi phải được thiết lập trong Bios. Có một số ít bo mẹ đòi hỏi bạn phải dùng các môđun cùng một cỡ. Còn lắp bộ nhớ chậm vào bo mẹ nhanh có thể gây ra trục trặc. Lắp bộ nhớ nhanh vào một bo mẹ chậm thì được nhưng sẽ không tăng hiệu năng hệ thống. Hầu hết các bo mẹ của hệ thống 386 và 486 đều dùng đế cắm Simm 72 chân. Kiểm tra lỗi. Hầu hết các bộ chip Pentium thế hệ đầu tiên hỗ trợ DRam loại Fast Page Mode. Tốc độ. 71 . Loại bo mẹ và bộ nhớ mới dùng thiếc cho đỡ tốn nên có chân màu bạc. loại Dimm này thường thấy trên các máy Pentium thế hệ đầu tiên và trên tất cả các máy Pentium II. Cho nên phải mua bộ nhớ có cùng tốc độ với loại bộ nhớ đang được lắp trên bo mẹ. không dùng lẫn hai loại màu chân này. Màu chân cắm. Các môđun Simm và Dimm loại cũ đều có chân mạ vàng phù hợp với màu của các đế cắm bộ nhớ trên bo mẹ. Bạn cũng có thể tiến hành kiểm tra chương trình cài đặt CMos. cho nên vấn đề này không có ảnh hưởng đối với đa số người mua bộ nhớ. Kiểu đế cắm. Bộ chip (chip set) trên bo mẹ sẽ quyết định hệ thống máy hỗ trợ kiểu bộ nhớ nào. thường gọi ngắn gọn là DRam. qua vài năm có thể hình thành một lớp ôxit gây ra lỗi bộ nhớ. Để đạt kết quả tốt nhất.Kiểu Ram. nhưng một số khác thì không. Một số loại bo mẹ yêu cầu phải cắm môđun nhớ vào đế theo một thứ tự xác định . Môđun Dimm 168 chân chứa Edo Dram hoặc SDram.thông thường các môđun lớn nhất vào các bank đầu tiên. Không được lẫn lộn chúng với nhau. nhưng môđun Simm 72 chân thì phải cài đặt theo từng đôi (gọi là bank) có cùng dung lượng. Rất may là đa số các hệ máy Pentium đều dùng bộ nhớ không parity. Một số môđun Ram có sẵn khả năng kiểm tra lỗi (gọi là parity). 70. hoặc loại có tốc độ nhanh hơn gọi là Edo Ram. Các loại chip nhớ chạy theo các tốc độ khác nhau. Mặc dù môđun Dimm có thể lắp từng chiếc một. Các chip nhớ được bán ra theo hai kiểu môđun: Simm và Dimm . Các chip Dram và Edo Dram nói chung có tốc độ 80. hoặc 60 nanô giây (thông thường trên vỏ chip Dram hoặc Edo Dram đều có ghi số hiệu cho biết tốc độ của chip).

mức độ tăng hiệu năng ứng với mỗi megabyte sẽ không tăng lên tương ứng. Tồi tệ nhất là một số máy Pentium thậm chí còn chạy chậm hẳn lại. CMOS là công nghệ chế tạo chíp ROM (bộ nhớ chỉ đọc) và BIOS chính là phần mềm được thiết kế 72 . hãy nhấp nút phải chuột lên My Computer. Quy luật giảm dần tác dụng bộc lộ rõ ở đây. Lý do là có một số bộ chip . BIOS là : BIOS (Basic Input/Output System) là thành phần rất quan trọng trong một hệ thống máy tính. flash Firmware nói chung là những thao tác cập nhật phần mềm điều khiển (BIOS) cho bo mạch chính (mainboard). Nó đóng vai trò như một chương trình điều khiển. Các yếu tố này phụ thuộc vào số lượng đế cắm còn trống trên bo mẹ và dung lượng môđun nhớ mà bo mẹ có thể hỗ trợ. Các bo mẹ chỉ tiếp nhận những tổ hợp nhất định nào đó của các môđun nhớ trong các đế cắm bộ nhớ của chúng.2. Nhiều người vẫn lẫn lộn giữa khái niệm BIOS và CMOS và ROM BIOS.3. Nâng cấp Rom Bios: Nâng cấp BIOS hay flash BIOS. sẽ nhận thấy có sự khác biệt rõ ràng khi cho chạy các trình ứng dụng hoặc chuyển đổi giữa chúng với nhau .Số lượng Ram cần thiết cho PC nhiều hay ít là tùy thuộc vào hệ điều hành và công việc phải gánh vác của nó. quản lý việc kết nối các thiết bị trên máy tính. Đúng số lượng môđun : Ngoài việc phải chú ý đến các đặc trưng của bo mẹ. 3.những chip dùng để điều khiển luồng dữ liệu chạy trong PC . còn phải xác định số lượng môđun và tổ hợp của các môđun nhớ để mua cho đúng. đôi lúc đó lại là cách nhanh nhất để giúp fix lỗi hệ thống. Tài liệu hướng dẫn sử dụng sẽ liệt kê lượng Ram tổng cộng được hỗ trợ và các tổ hợp môđun nhớ đặc trưng để tạo nên lượng RAM đó. Muốn biết PC đang có bao nhiêu Ram. Ta có thể hiểu một cách đơn giản. tăng cường khả năng hỗ trợ phần cứng và giải quyết được những vấn đề tưởng chừng như phức tạp không ngờ tới. càng bổ sung thêm nhiều Ram. Tuy nhiên. Sau khi hoàn thành việc nâng cấp.chỉ hỗ trợ cache cho 64 MB đầu tiên trong Ram hệ thống. Song.Proper-ties và chọn nhãn General. Các thao tác này thường tiềm tàng những mối nguy hiểm cho phần cứng máy.

không phải lúc nào ta cũng thực hiện việc flash BIOS. thao tác thực hiện khá dễ dàng. chủng loại BIOS có khá nhiều. trong vài trường hợp nhất định thì việc flash BIOS là cần thiết. nơi đây cũng sẽ chứa luôn các phiên bản mới của BIOS và các công cụ dùng để flash. Ứng dụng thứ hai của việc flash BIOS là bổ sung tính năng để tương thích với các thiết bị phần cứng mới và fix lỗi do người dùng phát hiện trong quá trình hoạt động. Và điều cuối cùng hãy nhớ. Đó cũng là lý do vì sao các phiên bản BIOS luôn được cập nhật khi các dòng sản phẩm mới được phát hành. cần tuân thủ các quy tắc dưới đây để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên. Một trong những ứng dụng thường gặp nhất của flash BIOS chính là nâng cao khả năng nhận diện CPU đời mới. Tuy nhiên. nhà sản xuất đều cung cấp trang chủ để bạn download phần mềm. lúc bấy giờ bạn hãy nghĩ đến việc flash BIOS. flash BIOS có thực sự cần thiết hay không? Flash BIOS – Cải thiện những tính năng đáng giá cho phần cứng hệ thống : Thực ra. Ngày nay.và cài đặt trên chíp CMOS (nên chíp này còn được gọi là ROM BIOS). 73 . việc flash BIOS khá nguy hiểm nếu thao tác sai. từ các hãng AMI. phiên bản BIOS không phù hợp hay flash giữa chừng bị sự cố mất điện thì hệ thống sẽ không thể khởi động được. Vậy vì sao phải flash BIOS. Flash BIOS không nguy hiểm như: Có thể xóa hay cài đặt phiên bản BIOS mới tương tự như cài đặt phần mềm vào hệ thống.Chỉ tải BIOS từ chính trang chủ của nhà sản xuất và chọn đúng phiên bản BIOS dành cho model máy của mình. Award… Song. nhất là khi hệ thống máy tính vẫn hoạt động ổn định. Do đó. nếu như hệ thống hoạt động không ổn định mà các thao tác trên phần mềm không thể can thiệp được. một số quy tắc chung cho việc flash BIOS là: . thời gian thực hiện vài chục giây cho đến vài phút. BIOS được nạp vảo các chíp dạng Flash ROM và có thể thay đổi nội dung một cách linh hoạt bằng chính các chương trình do các nhà sản xuất viết ra. Trong các tài liệu đính kèm trên hầu hết các mainboard. Một số quy tắc trong quá trình flash BIOS: Hiện nay.

. Nâng cấp HDD: Lắp đặt ổ cứng mới là một trong các nâng cấp phổ biến nhất và là sự đầu tư có ích vào máy tính. nhưng hiệu quả sẽ không được tối đa như với ổ UltraDMA. hãy cân nhắc kỹ lưỡng kinh nghiệm và kỳ vọng của mình.Chỉ nên thực hiện flash bằng công cụ mà nhà sản xuất cung cấp. . chưa gì đã ngán ngẩm nghĩ đến việc cầm ốc vít. Hiện nay các bộ nâng cấp ổ cứng đều có kèm theo chỉ dẫn từng bước cũng như dụng cụ lắp đặt và cáp. Mặt khác. tuyệt đối không dùng công cụ của hãng thứ ba. hãy kiểm tra lại với nhà sản xuất. Các máy tính cũ hơn cần nâng cấp BIOS thì mới có thể chạy với UltraDMA. Nếu máy của không có giao tiếp UltraDMA (xem lại trong chỉ dẫn kèm theo máy). 74 . Nhưng hãy thực tế: nếu máy là 486 hoặc Pentium các đời đầu thì nâng cấp chẳng có lợi gì lắm. Nếu mới làm quen với máy tính. Nếu đó là trường hợp của mình . đồng thời cảnh báo nếu phiên bản mới bị lỗi hay không hợp lệ trước khi tiến hành flash 3.4.2.80 USD mua một card UltraDMA để gắn thêm vào. hoạt động tuyệt hảo với các ổ UltraDMA hiện nay. Thậm chí các bộ nâng cấp còn có một phần mềm giúp loại trừ hoàn toàn những khó khăn vì không tương thích với các hệ cũ hơn và tự động hóa việc chuyển dữ liệu từ ổ cũ sang ổ mới.là giao tiếp thường có trong các máy tính sản xuất trong vòng ba bốn năm trở lại đây. có thể nó có một giao diện UltraDMA cài sẵn. bỏ ra thêm 60 . ổ đĩa mới sẽ hoạt động hoàn hảo ngay. thành thử lại vô hiệu hóa chính thế mạnh của ổ cứng là tốc độ. bởi những chip này không chạy kịp với tốc độ lưu chuyển dữ liệu cực nhanh của các ổ cứng đời mới nhất. đôi khi gọi là UltraATA hay AT-4. hãy để một dịch vụ máy tính làm giúp.Nên sử dụng các công cụ của nhà sản xuất máy tính để kiểm tra phiên bản BIOS hiện thời. Có thể gắn ổ UltraDMA vào một EIDE chuẩn . Nếu máy chưa tới một năm tuổi. hoặc nếu quá vụng tay vụng chân. nếu thành thạo máy tính thì lắp ổ đĩa mới chẳng phải việc gì khó. Một khi vẫn quyết định nâng cấp ổ cứng. có lẽ đã đến lúc cần đầu tư mua hẳn một hệ mới.

Cách tốt nhất là cài đặt vào một thư mục khác nhau để một số tập tin hiện đang có trên hệ thống được bảo tồn cho đến khi chắc chắn rằng tất cả mọi thứ hoạt động. Nhưng nếu muốn xem phim trên máy vi tính. Nâng cấp hệ điều hành: Thực hiện một sao lưu tất cả dữ liệu quan trọng đối với một số phương tiện truyền thông khác với ổ đĩa cứng.2. CD-RW: Ngày nay đĩa CD có lẽ đã trở nên quen thuộc với hầu hết chúng ta. hay chơi trò chơi hoặc đơn giản chỉ nghe bản Giao Hưởng Số 9 của Beethoven trong khi làm việc. Bắt đầu quá trình nâng cấp là tốt nhất thực hiện với một hệ thống mới. Nén tất cả các file cho đến khi không có tập tin bị phân mảnh trên ổ đĩa . Nếu muốn cài đặt Microsoft Office 97.5. cần phải chạy đĩa CD. Nếu việc cài đặt tai nạn hoặc có vấn đề trong quá trình nâng cấp. cần phải nâng cấp ổ đĩa. Tạo một thư mục mới cho hệ điều hành mới sẽ được cài đặt vào. Thông thường nâng cấp sẽ được đặt trong thư mục cửa sổ hiện hành. Điều này có nghĩa là phải có một ổ CD-ROM. hay tự làm phim hoặc chuẩn bị hệ thống để sẵn sàng tiếp nhận những phần mềm thế hệ mới. có nguy cơ mất đi một số hoặc tất cả các dữ liệu . Nâng cấp CD-ROM . Trong quá trình cài đặt một hệ điều hành mới có nhiều tập tin sẽ được ghi vào đĩa cứng và tốt nhất là để họ sao chép vào tập tin trên đĩa cứng được liên tục và không bị phân mảnh. 75 .2. Khởi động lại máy tính sẽ khôi phục lại nó đến một nhà nước biết đến và bắt đầu nâng cấp với một hệ thống mà chỉ có một số giới hạn của máy tính quá trình đang chạy. 3. cho đến khi chắc rằng mọi thứ đang chạy đúng trên hệ điều hành mới. Khởi động lại máy tính sau khi hoàn thành các hoạt động ở bước 1.3.6. Một thay thế cho điều này là để sao chép toàn bộ nội dung thư mục cửa sổ hiện tại vào một thư mục mới mà có thể lưu trữ các bản sao của các tập tin trong. Chống phân mảnh đĩa cứng của máy tính đĩa.

Có được thông tin mà cần phải nhập trong thời gian đầu của quá trình này. Trả lời tất cả câu hỏi của chương trình cài đặt và chấp nhận tất cả các giá trị mặc định mà chương trình cung cấp trừ khi biết chính xác những gì đang làm. CD có số serial có sẵn.Đặt đĩa nâng cấp vào ổ CD và nó sẽ tự động chạy để bắt đầu cài đặt. hãy chắc chắn rằng ổ cứng là để. 76 . Khởi động lại máy tính và thực hiện chống phân mảnh đĩa trên các ổ đĩa cứng. Một lần nữa. Điều này sẽ cung cấp hầu hết các không gian trống đĩa cứng đã có sẵn cho các chương trình mới và các tập tin. Nếu gặp vấn đề. Trước khi các tập tin bắt đầu lộn xộn thứ lên một lần nữa. Nâng cấp một hệ điều hành trên máy tính có thể gây ra vấn đề với phần mềm hiện tại. Đi qua các chương trình mà có trên hệ thống và chắc chắn rằng tất cả họ đều mở và hoạt động mà không có lỗi. kiểm tra trang web của nhà sản xuất cho các bản vá lỗi và sửa lỗi cho các vấn đề với hệ điều hành nhất định. Khôi phục tất cả các sao lưu các tập tin và dữ liệu trong một số trường hợp bị mất hoặc thay đổi trong quá trình cài đặt nâng cấp. đây là phương pháp tốt nhất bắt đầu từ một điểm được biết đến trong trường hợp gặp vấn đề với hệ thống. Các giá trị mặc định là tốt nhất cho hầu hết người dùng thiếu kinh nghiệm. Khởi động lại máy tính một thời gian cuối cùng khi cài đặt nâng cấp đã hoàn thành.

1. Lỗi mainboard: Mainboard là thành phần chính yếu trong máy vi tính.2. chỉ có rút điện nguồn mới. . model. AGP. Lỗi ổ cứng : 77 . phải dùng card test main thì mới biết được Xử lý: Ghi nhận lại hãng sản xuất mainboard. thậm chí nút RESET cũng không tác dụng. . Lên Internet Search tìm file BIN của BIOS Download về chép . Trong trường hợp này các tụ sẽ bung lên Xử lý: Thay các tụ này tại trung tâm máy tính 4.không nhận card mở rộng .do nguồn không ổn định): Hiện tượng máy hay treo giữa chừng màn hình đứng cứng không làm gì đfược. Hư hỏng do mainboard gây ra sẽ làm cho toàn bộ hệ thống chập chờn không ổn định hoặc hệ thống ngừng hoạt động… Nói chung là rất khó chịu. Phù tụ.PHẦN 4 : MỘT SỐ LỖI TRONG MÁY TÍNH VÀ CÁCH KHẮC PHỤC. (Rất thường xảy ra . sound… không nhận RAM… lỗi này đa số là do các mối tiếp xúc giữ mainboard với các card mở rộng hoặc có thể là do chân RAM rỉ … dẫn đến không tiếp xúc tốt. Ngoài ra lỗi đa số là do người sử dụng muốn thử chức năng “nâng cấp BIOS” mà ra. xử lý: vệ sinh sạch thử lại hoặc chuyển sang khe cắm khác và thử lại. Fix… càng nhiều chi tiết càng tốt. Còn lại. Lỗi này nếu do quá trình “nâng cấp BIOS” không thành công thì dễ xác định. 4.Chết BIOS: Lỗi này trước đây do một loại virus chuyên ăn Chip BIOS. Quan sát các tụ hóa trên main.

Lỗi RAM: Đây là nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến các sự cố máy tính như không thể khởi động.3. Sau đó sẽ là sự xuất hiện những “vị khách không mời mà đến” là những tệp tin rất lạ không biết từ đâu ra. thường xuyên mất điện đột ngột hoặc tắt máy không đúng quy cách. Khi gặp lỗi này sẽ thấy thông báo “Disk Boot Failure” và không thể khởi động được máy. Một lỗi khác thường gặp là không nhận ổ đĩa. 4. Thêm vào đó. Rất nhiều trường hợp người sử dụng máy vi tính đã mua và lắp những thanh RAM không phù hợp với mainboard và không hiểu 78 . chạy chậm hoặc đột nhiên treo. Điều dễ nhận ra dấu hiệu ổ cứng bắt đầu hư hại là máy đọc dữ liệu quá chậm. Nguyên nhân chủ yếu là do sử dụng lâu ngày. Thông thường khi xử lý những tác vụ nặng nề cũng có thể khiến máy bị treo trong khoảng một thời gian nhưng khi nguyên nhân là do đĩa cứng thì chuột và bàn phím đều không thể sử dụng được và chỉ còn một cách để thoát khỏi tình trạng đó là khởi động lại máy. lưu. Nếu không được.Dấu hiệu của một ổ cứng bắt đầu “đỏng đảnh” Là một thành phần hết sức quan trọng của máy nên khi ổ cứng bị lỗi thì gần như ngay lập tức sẽ “hứng chịu” những vấn đề như tốc độ mở. một thói quen xấu của nhiều người là ấn restart mỗi khi 1 ứng dụng nào đó bị lỗi “Not Responding” cũng khiến ổ cứng nhanh đến hạn nghỉ hưu. Có thể ổ cứng đã bị hỏng. Ngoài lí do tuổi tác. hãy chuẩn bị sẵn tinh thần và "hầu bao" để sắm một chiếc ổ cứng mới. Trường hợp nặng hơn là khi bị lỗi vật lý. tất cả các đầu cáp data và cáp nguồn. Vệ sinh các điểm tiếp xúc như khe cắm. xóa các tệp tin rất chậm hay máy tính thường xuyên bị treo . đĩa cứng sẽ phát ra những âm thanh to hơn bình thường và đôi lúc có những âm thanh rất lạ như tiếng “cạch” to. nhiều khi RAM lỗi do cách sử dụng của chính người dùng. Quá trình khởi động máy cũng sẽ gặp những trục trặc như bị đứng hoặc không nhận ổ cứng. Hãy kiểm tra lại toàn bộ cáp ổ cứng cũng như cáp ổ CD room.

Chủ yếu lỗi trên là do CPU quá nóng. Hãy chọn một chiếc vỏ case tốt để đảm bảo luồng khí nóng tỏa ra khi các linh kiện hoạt động được lưu thông dễ dàng. Tuy nhiên. Lỗi nguồn máy tính: 79 . Để chắc chắn hơn.4 . hack speed… Bởi vậy. Một điểm cần lưu ý nữa là thùng máy. có thể sử dụng một số chương trình kiểm tra dung lượng và sức khỏe của RAM. treo hoàn toàn và không thèm khởi động bất chấp việc nhấn nút Restart. Nếu vậy. hoặc hay thường xuyên tắt ngóm khi đang sử dụng thì nguyên nhân thường thuộc về bộ vi xử lý trung tâm (CPU). tháo ra lau chùi và cắm lại thật chặt. những sự cố cũng bắt nguồn từ việc người sử dụng đã "bắt" chiếc RAM làm việc quá sức bằng việc chạy quá nhiều ứng dụng cùng lúc hoặc lạm dụng các phần mềm cheat. biện pháp giải quyết tốt nhất nên vệ sinh và bôi keo tản nhiệt cho Chip. Hãy kiểm tra tiếp xúc của RAM.5. Đừng ham rẻ vì điều đó có thể vô tình biến phần bên trong chiếc máy tính thành một thiết bị kém . Nếu đang dùng 2 thanh RAM thì hãy chạy thử từng thanh RAM một bởi rất có thể 1 trong 2 thanh RAM đã bị lỗi. Cuối cùng cũng nên cân nhắc đến việc thay CPU mới nếu màn hình đen ngòm lúc khởi động vì đó là dấu hiệu của một con chip đã kém 4. Lỗi CPU: Nếu máy tính có hiện tượng chậm dần sau khi khởi động được 1 thời gian nhất định. Bên cạnh đó. 4.tại sao máy tính không thể khởi động (Ví dụ mainboard chỉ hỗ trợ RAM DDR2 nhưng lại cắm RAM DRR3). nên kiểm tra lại RAM nếu gặp những trường hợp như máy bị treo dù đang chạy những chương trình rất nhẹ nhàng hoặc khi máy phát ra những tiếng “bíp” ngắn liên tục lúc khởi động. cũng nên để ý xem liệu quạt tản nhiệt có bị hỏng hoặc vô tình quên cắm lại giắc nguồn của quạt tản nhiệt sau khi tháo ra để vệ sinh hay không.

Mất hẳng một màu. 4.Một trong các nguyên nhân là Nguồn chết Khắc phục: ta có thể kiểm tra đường dầy cấp của nguồn và nếu trường hợn không phải do dây ta lên thay một cái nguồn khác . Nếu đã kiểm tra dây xong mà vẫn bị có thể máy bị hở mạch toàn bộ.Nguồn đôi khi khiến máy không khởi động được. hoặc chỉ còn một màu: Do lõng cáp.Nhưng sau nhiều lần cắm vẫn bị. Nếu thay dây khác mà vẫn bị.Hình bị giật giật. Các lỗi thường gặp của màn hình máy tính: . Lỗi màn hình máy tính : Theo cấu tạo: Loại phổ biến dùng đèn (CRT) loại tinh thể lõng (LCD). Nếu lỗi gây nên tình trạng không nhận HDD hay CDROM thì thử đôi dây cắm nguồn khác còn hay bỏ các dây cắm không cần thiết như CDROM vấn đề có giải quyết không. 4. lúc mất màu lúc bình thườrg: có thể dây bị lỗi hoặc lỏng ta có thể cắm lại dây hoặc thay dây mới. . Lỗi máy tính nhận biết qua âm thanh: 80 .7. không nhận CD hay HDD đã vội đỗ lỗi cho HDD khi thấy không nhận mà quên mất 30-40% là lỗi do nguồn. Một trong những lý do cho tình trạng này là do ho hỏng nguồn. . cắm chắc lại là OK.6. không đủ màu.Lỗi màu không đúng. Nếu chấm mạch các mối hàng vẫn còn bị thì có thể transitor công suất màu. lúc không. Bo màu bên trong bị hở mối hàn. IC giải mã màu bị lỗi ta có thể thay thế . . Có thể dây nối tính hiệu bị đứt ruột bên trong.Hình nhòe chữ không đọc nỗi bật lên để chừng 15 phút mới rỏ lại bình thường: Màn hình máy tính bị ẩm do để máy trong môi trường ẩm ước. Tháo máy chấm mối hàn trên mạch. . Đối với người có kinh nghiệm sử dụng máy tính thì dễ thấy đây là pan chưa nhận đúng driver Card màn hình. mờ nhưng chỉnh sáng lên thì màn hình cứ hoắc lên không rỏ lắm và nhìn nhức mắt: thì đây có thể do bóng hình đã quá yếu ta lên thay màn hình khác. vào xem phim thì rổ rổ như là không đúng. Máy tính không kích nguồn được.Hình hơi tối.

Vậy lỗi đó là cách nhận biết mã báo lỗi âm thanh (beep code) dùng cho các máy tính sử dụng BIOS Award hoặc Phoenix.gọi tắt là POST. Quá trình này sẽ kiểm tra hầu như toàn bộ các phần cứng bên trong máy như CPU. nhưng nếu có vấn đề chúng sẽ báo lỗi. RAM. máy tính sẽ tự động thực hiện một quá trình tự kiểm tra . ổ cứng… Nếu mọi thứ đều ổn thì hệ thống sẽ tải hệ điều hành.Khi khởi động. Trước hết cần xem qua một số mã lỗi âm thanh thường gặp sau đây: Tiếng bíp 1 ngắn 1 dài 1 ngắn 1 dài 2 ngắn Dài liên tục Ngắn liên tục Tình trạng hệ thống Ổn định RAM bị lỗi Card màn hình bị lỗi RAM không được gắn đúng Bộ cấp nguồn bị lỗi hay bị quá nhiệt NHẬN XÉT CỦA THẦY CÔ GIÁO 81 . card màn hình.

……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………… * chúng em xin chân thành cám ơn thầy cô! 82 .