Tạp chí lịch sử-văn hóa-ẩm thực-du lịch Việt Nam

Bất hối
Chủ đề: Mỹ Tho Đại Phố

Lan truyền tinh hoaViệt

lophocvuive.com tinh tuyển
Bản quyền © 2011 - Lớp học Vui vẻ

Số 4

Nguyệt San - Ra ngày 15/09/2011

Nội dung chính
Lịch sủ hình thành Sài Gòn ...trang 03 Danh nhân Sài Gòn xưa ...trang 07 Cái giọng Sài Gòn ...trang 15 Phong cách Sài Gòn ... trang 18 Về cái tên Sài Gòn ... trang 19 Đường Catinat... ... trang 21 Lý giải địa danh Sài Gòn ... trang 24 Nhà thờ Đức Bà ... trang 26 Thánh đường Hạnh Thông Tây ... trang 28 Giác Lâm cổ tự ... trang 30 Cà phê Sài Gòn xưa ... trang 32 Hủ tiếu Sài Gòn ... trang 34 ‘Cháo cá chợ Cũ ... trang 36 Con ma nhà họ Hứa ... trang 38 Đố vui có thưởng ... trang 40 Lời cảm tạ - Hộp thư ... trang 41

Lời ngỏ
"Mỹ Tho bóng mát đường cây Nước sông Bảo Định dồn mây với thuyền " (Xuân Diệu) Mỹ Tho, mảnh đất hơn 330 năm tuổi này đã chứng kiến biết bao thăng trầm lịch sử. Không rêu phong cổ kính, không náo nhiệt ồn ào, Mỹ Tho mang cái thơ mộng của một thành phố nhỏ yên bình rủ bóng xuống dòng sông Bảo Định. Nơi đất ấy không chỉ ghi dấu bước chân khai hoang của ông cha người Việt mà còn có cả dấu ấn của những đoàn người Hoa tị nạn vong quốc. Dòng giống Hoa Hạ hay Lạc Hồng đều là những con người cần cù chịu khó, chẳng phụ lòng đất đã cưu mang. Và rồi, nòi Hoa đã hòa vào máu Việt để biết bao con người ưu tú được sinh ra, sống hết mình, chiến đấu hết mình vì lẽ công bằng, vì cái đẹp. Mỹ Tho hôm nay vẫn đẹp nhưng dường như đang bị mất dần những giá trị cổ xưa vốn có. Chỉ sợ rằng lớp con cháu sau này sẽ chẳng còn ai nhớ đến một Mỹ Tho đại phố với những con đường giăng lá me bay, những ngôi nhà hằn sâu dĩ vãng, những cơn gió rì rảo giữa đám cây dương vun vút trong vườn hoa Lạc Hồng… Tạp chí Bất Hối số 4 là sự ghép lại của nhiều đoạn ký ức xa xăm, gợi nhớ một Mỹ Tho Đại Phố quyến rũ mà kiêu hãnh giữa đồng bằng Nam Bộ. Đồng thời cũng là lời tri ân đối với nơi nhau rún của người sáng lập tạp chí. Hi vọng rằng, sau khi đọc xong tạp chí, bạn đọc sẽ về với Mỹ Tho, đi trên cung đường cũ và thầm biết ơn những con người đã san rừng, lập phố. Thay mặt Ban biên tập Phan Khắc Huy

Biên tập: Bất Hối Mục Đồng - Trình bày: Khắc Huy - Nguồn bài: Thanh Nguyên, Khắc Huy tổng hợp từ lophocvuive.com - Phu trách bạn đọc: Minh Quân - Xuất file: Minh Quân, Minh Vũ. Bản quyền © 2011 - lophocvuive.com. Bạn muốn tham gia thực hiện tạp chí? Hãy liên lạc với chúng tôi qua Email: lophocvuive09@gmail.com hoặc pkhyds2005@yahoo.com.vn.

bất hối

lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Vài nét về Mỹ Tho xưa

Thế kỷ 17-18, Mỹ Tho đại phố là một trong những

trung tâm kinh tế sầm uất bậc nhất Nam Bộ - các thư tịch cổ nói vậy. Hình thành vào khoảng năm 1679, Mỹ Tho đại phố chiếm trọn một phần thôn Mỹ Chánh thuộc dinh Trấn Định (nay thuộc phường 2, 3, 8 của thành phố Mỹ Tho, nằm cặp sông Tiền).Từ đầu thế kỉ 17 hoặc sớm hơn, cuối thế kỉ 16, Mỹ Tho đã có lưu dân người Việt vào khẩn hoang và tiến hành sản xuất nông nghiệp. Vào vùng đất mới, người đi khai hoang gặp những thuận lợi rất cơ bản như : khí hậu điều hòa, không có bão lụt, mặt đất bằng phẳng với sông rạch chằng chịt mang lại tôm cá, nước tưới, phù sa màu mỡ và thuận tiện cho việc giao lưu… Tuy nhiên, trong buổi đầu, cư dân gặp không ít trở ngại như : rừng rậm hoang hiểm, ác thú đầy rẫy…Thế nhưng, bằng sức lao động quả cảm, bền bỉ, sáng tạo trong việc khai thác tài nguyên tự nhiên (đất, nước…) đến nửa sau thế kỉ 17, việc mở mang ruộng đất, trồng tỉa hoa lợi của cư dân người Việt ở Mỹ Tho về cơ bản đã đi dần vào ổn định. Đến năm 1679, đất và người Mỹ Tho đã tiếp nhận đùm bọc một nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch dẫn đầu, vì chống đối vương triều Mãn Thanh nên di trú sang nước ta. Ở Mỹ Tho, số người Hoa này chủ yếu sống nhờ vào nghề buôn bán, và qua quan hệ hôn nhân với người Việt, chỉ sau vài thế hệ, họ nhập thân hòan toàn vào dân tộc Việt Nam, mà dấu ấn còn sót lại để nhận biết chỉ là danh xưng “Minh Hương” (tức là con cháu nhà Minh) mà thôi. Khối cộng đồng dân tộc Việt – Minh Hương đã chung sức đồng lòng ra sức phát triển Mỹ Tho. Cho đến khoảng cuối thế kỉ 17, Mỹ Tho đã trở thành một trong ba trung tâm thương mại lớn nhất ở toàn Nam bộ hồi đó (hai trung tâm kia là Cù Lao Phố _ Biên Hòa và Hà Tiên), với “chợ phố lớn Mỹ Tho, có nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo” (Gia Định thành thông chí - Trịnh Hoài Đức). Sự sung thịnh của chợ Mỹ Tho đã nói lên nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ở địa phương đã có những bước phát triển đáng kể. Nông sản, nhất là lúa gạo và cau, không chỉ đủ dùng cho nhu cầu của cư dân Mỹ Tho, mà còn dư ra với số lượng lớn, trở thành hàng hóa

được buôn bán trên thị trường cả nước. Do đó, ở Mỹ Tho, sự hình thành buổi đầu là yếu tố “phố chợ”, và đó cũng là nền móng quyết định cho sự nghiệp phát triển về sau của Mỹ Tho. Có thể nói, lúc bấy giờ, làng xã của người Việt ở Mỹ Tho cũng bước dần vào chỗ ổn định. Đó là các làng Điều Hòa, Phú Hội, Mỹ Chánh, Bình Tạo, Mỹ Hóa, Đạo Ngạn, Thạnh Trị. Do chợ Mỹ Tho đã nổi lên như một trung tâm kinh tế - thương mại sầm uất, do cơ chế hành chánh ở cơ sở là làng xã đã có nề nếp, qui củ, cho nên năm 1781, chúa NGuyễn cho dời lỵ sở dinh Trấn Định từ giồng Kiến Định (Tân Hiệp) về thôn Mỹ Chánh - chợ Mỹ Tho (tức khu vực Chợ Cũ thuộc phường 2, phường 8 ngày nay). Bắt đầu từ đây, Mỹ Tho đã trở thành một trung tâm hành chánh thật sự, và để đi đến chỗ hoàn thiện nó, năm 1792, chúa Nguyễn đã cho xây dựng thành Mỹ Tho. Thành này do

bất hối

03 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Vài nét về Mỹ Tho xưa
Theo phỏng đoán, Mỹ Tho “mới” nằm lọt trong khung các con đường Rạch Gầm (phía nam), Lê Đại Hành (phía bắc), Lê Lợi (phía đông) và Nam Kì Khởi Nghĩa (phía tây). Các cửa thành, phỏng đoán tại các địa điểm sau : - Cửa Bắc : ngã tư Lê Đại Hành – Hùng Vương. - Cửa Nam : ngã ba Rạch Gầm – Hùng Vương. - Cửa Đông : ngã tư Lê Lợi – Thủ Khoa Huân. - Cửa Tây : ngã ba Nam Kì Khởi Nghĩa – Thủ Khoa Huân. quán Kim Bảo (1819) (nay là chùa Ông phường 8), chùa Vĩnh Tràng (1849) ở thôn Mỹ Hóa… Như vậy từ năm 1826 trở đi, Mỹ Tho bao gồm Mỹ Tho “cũ” và “mới”, cùng nhau phát triển. Giữa Mỹ Tho “cũ” và “mới”, do cách nhau bởi kinh Bảo Định, nên liên lạc với nhau bằng đò ngang, và từ đó hình thành nên một xóm đưa đò chuyên nghiệp mà sử sách gọi là “giang trạm Điều Hòa” (Gia Định thành thông chí). Được biết trước đó, năm 1791, chính quyền phong kiến có xây cầu Quỳ Tông bắc ngang kinh Bảo Định nhưng đến năm 1801, do nước sông chảy xiết, gây xoáy lở, nên cầu bị bỏ (Đại Nam nhất thống chí).

Trần Văn Học vẽ kiểu theo phương pháp đồ họa phương Tây, có tham khảo kiểu thành Vauban của Pháp. Thành Mỹ Tho có “dạng hình vuông, chu vi 998 tầm (khoảng 2400m), có mở hai cái cửa ở phía tả và phía hữu, nơi cửa có xây cầu bắc ngang hào, hào rộng 8 tầm (khoảng 19m), sâu 1 tầm (khoảng 2m), bốn mùa nước ngọt có nhiều tôm cá, dưới cầu có cửa cống nhỏ để lưu thông với sông lớn, ngoài hào có đắp lũy đất, có cạnh góc lồi ra hũng vô như hình hoa mai, chân lũy mặt tiền 30 tấm (khoảng 60m) thì đến sông lớn. Trong đồn có những kho gạo, kho thuốc đạn, trại quân và súng lớn, tích trữ đầy đủ, nghiêm chỉnh” (Gia định thành thông chí). Đến cuối thế kỉ 18, Mỹ Tho đã có phố chợ buôn bán náo nhiệt, và khi đã xây dựng xong ngôi thành kiên cố, có quân đội thường trực và súng lớn để bảo vệ, thị địa phương Mỹ Tho đã trở thành một thành phố đúng nghĩa của nó. Do yêu cầu phát triển thành phố, năm 1826, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở của trấn Định Tường (trấn này được thành lập năm 1808 dưới thời vua Gia Long) ở thôn Mỹ Chánh sang hai thôn Điều Hòa và Bình Tạo ở về phía hữu ngạn sông Bảo Định (nay thuộc các phường 1,4,7), hình thành nên Mỹ Tho “mới”. Thành Mỹ Tho “mới” được Lê Văn Duyệt trực tiếp chỉ huy khoảng 11 ngàn nhân công thi công, xây dựng. Thành này vẫn được đắp bằng đất, chu vi 320 trượng (khoảng 2000m), cao 9 thước 5 tấc (khoảng 4,3m) mở 4 cửa, hào rộng 8 trượng (khoảng 3m), sâu 6 thước 5 tấc (khoảng 2,9m) (theo Đại Nam nhất thống chí).

Điểm độc đáo của Mỹ Tho là được dựng lên ở ngã ba sông, thành phố ven sông, đặc trưng của hầu hết các thành phố - đô thị ở miền Nam. Đó là ngã ba sông do sông Mỹ Tho và kinh Bảo Định giao dòng với nhau, tạo ra sự thuận lợi về mọi mặt và làm chất xúc tác để Mỹ Tho vươn lên mạnh mẽ. Có thể nói do nằm ở vị trí ngã ba sông nên Mỹ Tho có sức quy tụ ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác đến đây và từ đó lan tỏa ra khắp nơi : ngược dòng sông Tiền theo hướng tây lên Cai Lậy, Cái Ở lỵ sở mới, ngoài việc xây dựng thành tỉnh, chính Bè, Sa Đéc ..v..v.. Hoặc xa hơn nữa là Campuchia, hay quyền phong kiến còn tiến hành xây dựng hàng loạt xuôi dòng về phía đống đến Chợ Gạo, Gò Công, rồi ra các công trình khác nhằm phục vụ cho yêu cầu kinh cửa Tiểu theo đường biển ngoặc lên Gia Định hay ra tận tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng …của địa Phú Xuân đến Huế, còn nếu như theo con kinh Bảo Định phương, xứng đáng với vị trí trung tâm của toàn tỉnh thì vẫn đến được Vũng Gù (Tân An ngày nay) rồi đi tiếp Định Tường, như cất chợ, xây dựng cửa quan để thu đến Gia Định. thuế (1835), trường học (1826), đàn Xã Tắc (1833) thờ thần Xã Tắc (thần đất nước), đàn Tiến Nông Và một khi đã nói đến Mỹ Tho thì phải nói đến Cồn Rồng (1832) thờ Thần Nông, miếu Thành Hoàng nằm trên sông Tiền ở phía trứơc mặt thành phố. Cồn này (1848)…(Gia Định thành thông chí). Đồng thời, lúc bắt đầu nổi lên từ năm 1788, có dáng như con rồng nằm, bấy giờ ở Mỹ Tho cũng có nhiều cá nhân bỏ tiền của nên vua Gia Long mới đặt tên là Long Châu, còn dân gian ra để xây dựng một số chùa chiền có kiểu kiến trúc thì quen gọi là Cồn Rồng. đẹp, độc đáo như chùa Bửu Lâm (1803) ở thôn Phú Lược theo Nguyễn Phúc Nghiệp Hội, chùa Thiên Phúc (1803) ở thôn Mỹ Hóa, hội

bất hối

04 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Long Môn Tổng binh Dương Ngạn Địch
nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Trung Quốc. Năm 1679, ông sang thần phục chúa Nguyễn và trở thành người có công trong việc phát triển vùng đất Mỹ Tho thuộc Tiền Giang, Việt Nam. Sang Việt Nam Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình, đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.”

Dương Ngạn Địch ( ?-1688), nguyên là tổng binh của Tháng 5 năm 1679, Văn Trinh dẫn cả binh biền và
thuyền bè của Dương Ngạn Địch đến đóng ở vùng Mỹ Tho. Dương Ngạn Địch cho xây dựng nhà cửa, qui tụ người Việt, người Thổ (người Khmer) kết thành thôn xóm. Đến đời Nguyễn Phúc Chu lập ra phủ trị ở phía bắc chợ, lệ thuộc vào dinh Phiên Trấn. Đời Nguyễn Phúc Thuần cải đặt làm đạo Trường Đồn có một viên cai cơ hoặc cai đội và một thư ký ở làm việc, sau nầy mới lập dinh trấn... Phía nam lỵ sở là chợ phố lớn Mỹ Tho, mái ngói cột chạm phủ, đình cao, nha thự rộng, thuyền bè sông biển ra vào, buồm thuyền trông như mắc cửi, thật là nơi đô hội lớn phồn hoa huyên náo.

Những tài liệu trên cho thấy, trong khi Trần Thượng Xuyên chỉ chú trọng mở mang thương mãi và tiểu công nghệ ở vùng Cù lao Phố, thì Dương Ngạn Địch đến vùng Mỹ Tho, tuy vẫn chú trọng đến thương mãi nhưng vẫn cho lập ra những trang trại, phát triển nghề ruộng rẩy và cùng cộng cư với dân Việt, dân bản địa (người Chúa Nguyễn Phúc Tần ưng thuận rồi sai nhóm Trần Khmer). Thượng Xuyên đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) và nhóm Dương Ngạn Địch đến ở vùng Peam Bị nội phản Mesar (Mỹ Tho). Năm Mậu Thìn (1688), tức 9 năm sau kể từ khi Dương Sách chép tiếp: “Binh thuyền của Ngạn Địch và Ngạn Địch sang đất Việt, ông bị phó tướng Hoàng Tiến Hoàng Tiến vào cửa Soài Rạp đến đóng ở Mỹ Tho; giết chết ở cửa biển Mỹ Tho. binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hoà)...’’ Lược theo Wikipedia Thiết lập Mỹ Tho Đại Phố Nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho cho dựng nhà cửa, họp người Kinh, người Di, kết thành làng xóm. Sau đó dựng 9 trường biệt nạp là Quy Ang, Duy Hoá, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạch, Bả Cạnh, Tân Thạch; cho dân lập ấp khai khẩn ruộng đất cày cấy lại lập thành trang trại, man, nậu, nhân dân đều theo nghề nghiệp của mình làm ăn để nộp thuế. Phong tục của Định Tường-Mỹ Tho cũng giống Gia Định, nhưng vật lực có hơn, cho nên cũng ham vui và thích chơi nhiều hơn. Phục sức xa xỉ cũng hơn., phụ nữ nuôi tằm, dệt vải cũng hơn, mà nhà nông cày cấy cũng hơn... Trong bài Đô thị ở Nam Bộ thời cận đại, tác giả Nguyễn Thị Hậu kể: Tuy gọi là “đại phố” nhưng Mỹ Tho lúc bấy giờ có chừng hơn trăm căn phố vựa hàng nằm dọc theo hai con đường (nay là đường Nguyễn An Ninh và đường Nguyễn Huỳnh Đức) ngó mặt xuống vàm Mỹ Tho (rất tiếc đoạn vàm rạch này đã bị lấp năm 1935-1936). Tại đại phố có chợ Mỹ Tho (chợ Cũ) ngó ra vàm Cầu Kè, có từ thời Dương Ngạn Địch. (Theo Trương Ngọc Tường) Chợ Cũ Mỹ Tho - Thời Pháp thuộc

bất hối

05 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Sài Gòn - Mỹ Tho: Con đường sắt xưa nhất Đông Dương
Ngay sau khi xâm chiếm xong Việt Nam, người
Pháp đã nhanh chóng hoạch định xây dựng tuyến đường sắt đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhằm khai thác vùng đất giàu có này. Ý đồ ban đầu của họ là xây dựng tuyến đường sắt đến Vĩnh Long, sau đó nối tiếp tới Phnom Penh, Campuchia. Tuy nhiên sau những cuộc tranh luận kéo dài về hiệu quả kinh tế và sự cần thiết xây dựng tuyến đường sắt, người Pháp đã quyết định, trước mắt chỉ xây dựng đường sắt từ Sài Gòn tới Mỹ Tho – con đường sắt đầu tiên của Đông Dương. Xe lửa đi phà Đầu năm 1881, chuyến tàu thuỷ đầu tiên chở nguyên vật liệu từ Pháp sang xây dựng tuyến đường cập cảng Sài Gòn. Vào giữa năm, công trường hình thành với 11.000 lao động được huy động. So với công trường làm đường bộ cùng thời gian này, công trường đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho là công trường được tổ chức quy mô hơn, tiến hành rất khẩn trương, và có mặt nhiều sĩ quan công binh tại chỗ cùng nhiều kỹ sư từ Pháp sang. Để đưa tàu hoả vượt qua các con sông lớn vì lúc này chưa xây dựng được cầu, biện pháp kỹ thuật được kỹ sư Têvơnê, giám đốc Sở Giao thông công chánh Nam Kỳ lúc đó đề xuất là dùng phà. Chiếc phà khổng lồ máy hơi nước chở được 10 toa xe (tương tự như phà mà Pháp đã làm để đưa tàu vượt sông Gianh sau này), được lắp đặt đường ray và một thiết bị để nối đường ray trên mặt đất với ray phà. Chiều rộng đường sắt khổ 1 mét, là khổ đang được sử dụng rộng rãi thời bấy giờ trong ngành đường sắt Anh, Pháp. Người Pháp dự tính tuyến đường sắt này là một phần của tuyến Sài Gòn - Cần Thơ (để sau đó sẽ nối tuyến đi tiếp qua Phnom Penh, Campuchia). Như vậy ngay từ đầu người Pháp đã có ý niệm rõ ràng về xây dựng tuyến đường sắt nối đô thị trung tâm là Sài Gòn với các đô thị khác ở đồng bằng sông Cửu Long để hình thành nên vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, và trên diện rộng là nối kết các vùng kinh tế của các nước thuộc địa với nhau.

Những năm tiếp sau, các tuyến đường sắt được xây dựng là: Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn - Gò Vấp - Hóc Môn. Rộng hơn, Sài Gòn – Mỹ Tho là tuyến đầu tiên của kế hoạch hình thành hệ thống đường sắt nối vào hệ đường sắt quốc tế, dự định như sau: Sài Gòn - Mỹ Tho - Cần Thơ - Bạc Liêu - Cà Mau ; tuyến Cần Thơ - Châu Đốc Phnom Penh - Bat Đom boong - Bangkok - Miến Điện Ấn Độ và các nước Trung Đông (tuyến này đã có sẵn đường quốc tế) ; tuyến Bangkok - Mã Lai và tuyến Bangkok-Nakhon (Thái Lan) - Vientiane. Đặc biệt tuyến cuối cùng này sẽ qua Udon của Thái Lan là nơi rất nhiều người Việt sinh sống. Tuyến này có lợi cho phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời giữ quan hệ thân hữu với Lào và Campuchia (họ sẽ có đường thoát ra biển ở Cần Thơ và Sài Gòn). Thế nhưng do chiến tranh nên các tuyến liên vận quốc tế này đã không được xây dựng. “Xe lửa buýt”! Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, công ty Eiffel trực tiếp thi công, sau bốn năm, tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 70 km đã hoàn thành sau khi tiêu tốn 11,6 triệu franc. Ông Đầu cho biết, khó khăn khi làm tuyến đường này không thuộc về đền bù đất đai như bây giờ, vì lúc đó nhà nước có chế độ đất công, đất tư rất rõ ràng. Theo ông Đầu, khó nhất là do những yếu tố thuộc tâm linh. Tuyến đường chạy qua gò bãi, bãi tha ma, dân sợ động long mạch, nhà cầm quyền mất nhiều thời gian để giải thích cho dân thông. Điểm khởi đầu xuất phát từ ga Sài Gòn (tại vị trí nay là

bất hối

06 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Sài Gòn - Mỹ Tho: Con đường sắt xưa nhất Đông Dương
công viên 23.9) tuyến đi theo các đường : Cống Quỳnh - Phạm Viết Chánh – Hùng Vương – Hồng Bàng – Kinh Dương Vương – Ngã ba An Lạc Quốc lộ 1 (đi bên trái và sát QL1 theo hướng Sài Gòn – Cần Thơ). Đến khu vực Bình Điền (Bình Chánh) tuyến tách xa QL1 và vượt sông Chợ Đệm ở vị trí cách cầu Bình Điền đường bộ về phía hạ lưu khoảng 300 m, sau đó tuyến lại cặp sát bên trái QL1 cho đến khu vực Bến Lức thuộc tỉnh Long An. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông, tuyến cắt qua QL1, sang bên phải và tiếp tục đi cặp sát QL1 cho đến thị xã Tân An, vượt sông Vàm Cỏ Tây bằng cầu đường sắt Tân An, cắt qua QL1 về bên trái và tiếp tục đi cặp sát QL1, cắt qua ngã ba Trung Lương, chạy dọc theo tỉnh lộ 62 và kết thúc tại ga Mỹ Tho nằm sâu trong thành phố, sát cạnh chợ. Tổng cộng có 15 ga đã được xây dựng trên tuyến gồm: Sài Gòn, An Đông, Phú Lâm, An Lạc, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Bình An, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Lương Phú, Trung Lương, Mỹ Tho. Như vậy bình quân 4,7 km có một ga, cự ly ngắn giữa các ga thể hiện tính chất vận tải khách ngoại ô của tuyến đường sắt này. Vị trí ga Mỹ Tho được người Pháp lựa chọn tạo nên đầu mối giao thông sắt - thuỷ - bộ. Chuyến tàu đầu tiên Ngày 20.7.1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến ga cuối cùng tại trung tâm thành phố Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của ngành đường sắt Việt Nam. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu cho biết, trong chuyến tàu khai trương, người Pháp dùng đầu máy mang tên Vaico, tức là Vàm Cỏ (nhưng khi phiên ra tiếng Pháp đã bị viết sai). Mỗi ngày có bốn cặp chạy trên tuyến đường này, chuyến đầu tiên xuất phát từ Mỹ Tho lúc 1g30 sáng, đến Sài Gòn 5g sáng. Ở Sài Gòn, chuyến Sài Gòn – Mỹ Tho cũng sẽ xuất phát trùng giờ. Chuyến thứ 2 lúc 9 giờ sáng, chuyến thứ ba lúc 1 giờ chiều và chuyến 6 giờ tối. Vì phải vượt phà, mỗi chuyến chạy mất ba tiếng rưỡi. Đến tháng 5.1886 cầu trên tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới Mỹ Tho, thời gian chạy rút xuống còn 2 tiếng rưỡi. Số lãi thu được từ tuyến đường sắt này tính đến năm 1896 là 3,22 triệu franc, đến năm 1912 là hơn 4 triệu franc. Lý do, theo ông Nguyễn Đình Đầu, là trước đây, tuyến này rất lãi, nhưng thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng với hệ thống đường bộ Sài Gòn - Mỹ Tho được đầu tư gần như xa lộ nên người ta chuyển sang đi đường bộ. Có những ngày toàn đoàn tàu chỉ có vài chục người, lỗ quá nên nhà nước bỏ tuyến đường này đi. Sau 73 năm tồn tại, năm 1958, tuyến đường sắt này đã bị chính quyền Sài Gòn cũ cho ngưng chạy tàu. Hiện nay toàn bộ tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã bị tháo dỡ, ngay cả ga Sài Gòn cũng bị dời ra Hoà Hưng. Trên đại lộ Hùng Vương thỉnh thoảng còn lộ ra vài đoạn đường ray cũ chưa bị tháo dỡ. Nền đường sắt dọc Quốc lộ 1 từ thành phố Hồ Chí Minh đến Mỹ Tho nhường chỗ cho việc mở rộng QL1 hoặc đã bị những khu dân cư, khu công nghiệp dọc tuyến lấn chiếm. Cầu cống dọc tuyến bị tháo dỡ hoàn toàn, tại vị trí các cầu lớn như cầu Bình Điền, cầu Bến Lức, cầu Tân An chỉ còn các mố hai bên bờ sông, các trụ cầu đã bị phá bỏ để nhường chỗ cho giao thông thuỷ. Ga cuối tuyến nằm ngay trong thành phố Mỹ Tho, vừa gần chợ vừa gần sông tạo nên sự liên hoàn giao thông bộ - thủy - sắt. Trụ đèn bằng sắt, tán đinh river của người Pháp dựng năm xưa để cấp điện cho cổng xe lửa và khu nhà ga. Nay khu vực cửa đường ray này là quán cơm Cây Me, 60 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Mỹ Tho. Sau 125 năm, chỉ còn một nhà ga duy nhất tên Gò Đen (xã Long Hiệp, Bến Lức, Long An) sát Quốc lộ 1A và đang nằm trong kế hoạch giải toả.

Vĩnh Hoà – Hoàng Tuyên
Ga Mỹ Tho xưa - nay là quán nhạc Jazz - Ảnh: Ngọc Vinh.

bất hối

07 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

“Rạch Gầm - Xoài Mút muôn đời oai linh”
Vũ khí cuả quân Tây Sơn. Nguồn : Internet. nữa, khi lớn lên đã thấy nó rồi. Tới lúc nào có trái, qua nhắn chú lên ăn thử cho biết vị. Quanh đây còn một hai cây ..." Nhìn cây xoài mút lòng tôi chợt dâng lên một niềm xúc động khó tả! Phải chăng đây là chứng tích còn sót lại của một thời khai hoang mở đất của ông cha ta vào những thế kỷ trước, của một chiến công hào hùng đã đi vào lịch sử dân tộc? ...Vào độ tháng mười một âm lịch, mặc dù nước lũ đã rút, nhưng nước sông Tiền theo chu kỳ hàng năm, vẫn còn dâng cao chảy vào đồng ruộng lan tràn mà bà con gọi là nước rong. Các con mương trong vườn nhà cụ Trác cũng đầy ắp nước. Nhìn nước ngập lé đé bờ, cụ Trác sôi nổi hẳn lên: - "Vùng đồng bằng sông Cửu Long của mình lạ lắm chú ạ! Đi đâu cũng toàn gặp sông rạch, kinh mương. Bây giờ nước còn ngập ra sát đường cái như vầy, thì cách nay, trên 200 năm, thời trận thủy chiến Rạch Gầm - Xoài Mút xảy ra, đất đai chắc hẳn là thấp lắm, cả vùng đồng bằng vào mùa nước nổi là một biển nước mênh mông. Do đó, theo qua, thời đó, có lẽ ông Nguyễn Huệ đã dẫn hạm đội Tây Sơn từ Sài Gòn băng qua bể nước Tháp Mười mà tiến đến đóng ở Mỹ Tho để lập trận địa phục kích ở Rạch Gầm và Xoài Mút, tiêu diệt quân Xiêm. Và chỉ có theo con đường này, nghĩa quân Tây Sơn mới hành quân thần tốc như vậy". Tôi biết, đây cũng là ý kiến của cụ trong Hội nghị khoa học về chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút, được tổ chức tại Tiền Giang hồi năm 1985. Nếu trí nhớ không lừa tôi thì ý kiến của cụ Trác đã được PGS-TS sử học Nguyễn Phan Quang, thay mặt Hội đồng khoa học, trong bản tổng kết Hội nghị cho rằng đây là một ý kiến mới mẻ, táo bạo, bởi vì từ trước đến nay, giới nghiên cứu đều cho rằng nghĩa quân Tây Sơn tiến vào Tiền Giang - Mỹ Tho chỉ bằng một con đường hành quân duy nhất là từ biển vào cửa Tiểu rồi ngược dòng sông Tiền đến đặt bản doanh tại

Xuất xứ hai địa danh Rạch Gầm - Xoài Mút Cách nay hơn 10 năm, theo lời chỉ dẫn của một anh bạn ở Hội Văn nghệ Tiền Giang, tôi phóng xe một mạch đến xã Bình Đức - cách TP. Mỹ Tho khoảng 7 km, tìm nhà cụ Trác Quan Đồ. "Ra đường hỏi trẻ", tôi túm ngay một cậu bé độ 12 - 13 tuổi, đang trên đường tan học về nhà để hỏi thăm và được cậu bé dẫn đến nhà cụ Trác. Hóa ra nhà của cụ nằm sát con đường dẫn vào trại rắn Đồng Tâm. ... Tiếp tôi, bên bàn trà dưới lùm nhãn mát rượi là một cụ già râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, đôi mắt hãy còn rất tinh anh, mặc dù cụ năm nay đã tám mươi lăm tuổi, vượt xa độ tuổi "cổ lai hy". Bên ấm trà đặc sánh, tôi và cụ - một trẻ, một già nói chuyện về đề tài lịch sử, xem ra tâm đắc lắm! Làng Bình Đức của cụ Trác nằm ven rạch Xoài Mút, đây là địa danh ở đất Tiền Giang có liên quan đến chiến công oanh liệt của vị anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ nên cụ đã bỏ ra nhiều công sức để nghiên cứu, tìm hiểu chiến thắng này và đã viết xong một luận văn khoa học dày cả trăm trang về chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút với tựa đề "Hỏa hổ diệt xâm lăng". Trong lúc trò chuyện, thấy tôi cứ thắc mắc mãi địa danh Xoài Mút, cụ Trác cười khà khà cho biết: - "Là bởi vì xưa kia vùng này có một rừng xoài. Và đã là xoài rừng, thì trái nhỏ, hột to, cơm ít, muốn ăn được, sau khi gọt vỏ, phải đưa vào miệng mút. Rồi lần hồi bà con gọi là Xoài Mút, cũng có người kêu là Xoài Hột. Xoài Mút thường để chỉ tên rạch, Xoài Hột là tên chợ, bởi vì ở đây có chợ Xoài Hột ở xã Thạnh Phú kế bên xã Bình Đức". Thấy tôi có vẻ bán tín bán nghi, cụ Trác lôi tuột tôi đi luôn ra vườn, chỉ vào một cây xoài cổ thụ tán rộng, nhánh cao, đang trổ bông lác đác, nói: - "Đó! Cây Xoài Mút đó! Nó có từ khi nào, qua cũng hổng biết C h i ế n thuyền của Quân Tây Sơn trong trận RG - XM Hình vẽ minh họa.

bất hối

08 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Rạch Gầm - Xoài Mút...
Mỹ Tho. Do không có thì giờ, tôi đành phải từ giã cụ Trác, mà trong lòng còn luyến tiếc về câu chuyện chưa đến hồi kết thúc với cụ già vui vẻ, tốt bụng, có kiến thức sâu rộng và từng trải kinh nghiệm. “Đường về Rạch Gầm, nhờ cây cầu Đồng Tâm dài 500 m nên đỡ mất thời gian đi đò ngang. Rạch Gầm là quê ngoại của tôi. Suốt thời niên thiếu, tôi đã được đùa giỡn dưới dòng nước đục ngầu phù sa của con rạch thơ mộng này và được ru ngủ bởi những bài hát ru em của ngoại tôi vào những buổi trưa hè vắng lặng: “... Ầu ơ! Rạch Gầm - Xoài Mút tăm tăm, / Xê xuống chút nữa, tới vàm Mỹ Tho / Bần gie đóm đậu sáng ngời, /Rạch Gầm - Xoài Mút muôn đời oai linh!” Rạch Gầm, trong thư tịch cổ, gọi là Sầm Giang, là một con rạch dài mười mấy cây số, lượn lờ, uốn khúc qua các làng Kim Sơn, Vĩnh Kim, Mỹ Long, Thuộc Nhiêu hiền hòa và trù phú. Rạch Gầm cách rạch Xoài Mút bảy cây số, cách TP Mỹ Tho về hướng Tây khoảng mười bốn cây số. Đêm cuối năm, trời chớm lạnh, gió chướng từng cơn thổi về làm lá vú sữa khô rơi xào xạc, và nhờ thế hương thơm của hoa vú sữa tỏa nhè nhẹ, man mác. Mùa này, vú sữa đang ra hoa và kết trái, báo hiệu tết sắp đến. Vú sữa là loại cây đặc sản của các địa phương thuộc khu vực Rạch Gầm. Nơi khác cũng có trồng loại cây ăn trái này, nhưng ăn không ngon bằng và năng suất không cao. Nhà ngoại tôi nằm sát bờ Rạch Gầm. Tôi kéo ghế bố ra hàng hiên ngồi, nghe sóng vỗ nhẹ êm. Trong hàng dừa nước và những dãy bần gie ra bờ rạch, trong bóng tối dày đặc, khẽ lung linh lập lòe những ánh sáng xanh biếc của đom đóm. Ngoại tôi năm nay đã già lắm, nhưng trí nhớ vẫn còn minh mẫn. Bà ngồi ngay ngạch cửa bỏm bẻm nhai trầu và kể chuyện đời xưa: -"Ngày xửa, ngày xưa, miệt Rạch Gầm của mình đâu được sầm uất như ngày hôm nay. Thuở đó, khi ông bà mình đến đây khẩn đất, lập điền, thì chỉ thấy toàn là rừng rậm, cây cối mịt mùng, còn dã thú nhiều không sao kể, nhất là cọp. Tiếng rống của cọp vang dậy cả một vùng, nên ông bà đặt tên chõ này là rạch Cọp Gầm, rồi về sau, kêu bằng Rạch Gầm cho dễ nhớ. Nhưng, hồi nẵm ông ngoại bây có qua Phú Túc bên Bến Tre, nghe người ta kể tích khác. Theo mấy cụ ở bển, thuở xưa, tại vùng mình đây, ở bên bờ này

sông Tiền và Phú Túc ở bên bờ kia, trời đất tối tăm, mịt mù. Bỗng một đêm nọ, trời mưa như trút nước, sấm chớp đùng đùng. Tiếng gầm thét từ bên bờ này vang sang bờ bên kia, rồi sau đó dội lại, như đối đáp nhau. Đến sáng ra, trời quanh mây tạnh, phong cảnh sáng sủa, tươi tốt. Nhờ vậy, dân chúng làm ăn ngày càng khấm khá. Để ghi lại chuyện cũ, ông bà đặt tên cho con rạch ở miệt mình là rạch Ông Gầm, sau đó gọi tắt là Rạch Gầm, còn con rạch ở bờ đối diện thuộc cù lao Phú Túc là rạch Bà Hét". Vàm Rạch Gầm rộng khoảng vài chục mét. Nhà ngoại tôi ở ngay đầu vàm, thuộc làng Kim Sơn. Tại đó có chợ Rạch Gầm sung túc, bán đầy nông sản, nhất là trái cây vào tháng giáp tết: cam, quýt, bưởi, chuối, sapô, vú sữa bày bán ê hề. Theo thư tịch cổ, làng Kim Sơn được lập vào khoảng thế kỷ XVIII, tức thuộc loại sớm ở Nam bộ. Đình làng thờ vị tiền hiền Lê Công Giám đã có công khai lập làng, nổi tiếng linh thiêng. Dân làng Kim Sơn kiêng cữ tên Giám, mà gọi trại thành Giếm, thể hiện sự tôn kính, biết ơn của người đời sau đối với vị Tiền hiền đã có công lao khởi dựng xóm ấp, điền thổ. Những huyền thoại về chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút Ở miệt này, ai cũng đều nằm lòng ít nhất một câu chuyện mang tính huyền thoại về chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút. Tại rạch Bà Hào nối với Rạch Gầm, người dân còn kể cho nhau nghe những câu chuyện đượm vẻ hoang đường về những bóng ma nói tiếng lạ tai, chập chờn xuất hiện vào những đêm tối trời không trăng sao. Hầu hết các cụ già đều khẳng định với tôi rằng, đó là hồn ma bóng quế của bọn giặc Xiêm còn vất vưởng ở cõi trần, mặc dù sự việc đã xảy ra cách nay trên 200 năm. Cũng tương tự, như thế, câu chuyện về những bóng ma giặc Xiêm cũng được truyền tụng trong nhân dân ở vùng rạch Xoài Mút. Thậm chí, ở đây còn có cả một địa danh xác thực câu chuyện đó, nghĩa địa Xiêm - mà cụ Trác đã kể cho tôi nghe. Thú thật, tôi vốn chẳng tin chuyện ma quỷ, nhưng khi nghe kể những câu chuyện trên, tôi cũng phải rùng mình. Rõ ràng, đó là những câu chuyện mang tính kinh dị, huyễn hoặc, nhưng bà con vẫn tin là có thật, thể hiện tầm vóc lớn lao của chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút và tấm lòng trọng thị của người đời sau đối với một chiến công vang dội của tiền nhân ngay trên quê hương mình. Nhiều cụ già ở Kim Sơn vẫn còn lưu giữ trong ký ức những câu chuyện kể của ông bà về những chiếc nghe lạ bị chìm ở Đìa Đôi (ấp Hội), ở đầu cồn Phú Túc (Bến Tre).v.v... Có cụ còn nói rằng, thuở nhỏ đi chăn trâu, gặp một cột gỗ giống như cột buồm, cụ bèn nghịch phá lấy rơm đốt chơi, ai dè về nhà bị một trận bệnh nên thân, phải cúng kiếng

bất hối

09 lophocvuive.com

“tám” chuyện lịch sử

Rạch Gầm - Xoài Mút...

ai dè về nhà bị một trận bệnh nên thân, phải cúng kiếng hậu hỉ mới tai qua nạn khỏi. Phải chăng đó là dấu tích của các chiến thuyền Xiêm đã bị nghĩa quân Tây Sơn đánh đắm trên sông nước Tiền Giang?. Nhưng, trong khi dấu tích chiến thuyền Xiêm còn mờ nhạt, thì các hiện vật của quân lính Xiêm, như súng thần công, gươm đao, ấm, chén, tách.v.v... được phát hiện khá nhiều. Các hiện vật này đang được lưu trữ, bảo quản ở Bảo tàng Tiền Giang. Anh Lê Ái Siêm, Giám đốc Bảo tàng Tiền Giang, bảo với tôi rằng, chính ông Ba Búa ở Kim Sơn là người đã mò vớt các hiện vật ấy ở ngay đầu vàm Rạch Gầm. Vội chạy về Kim Sơn, tôi được ngoại cho hay, ông Ba Búa đã mất cách nay mấy năm. Ông Ba làm nghề đóng đáy cha truyền con nối, quen thuộc luồng lạch của con rạch như lòng bàn tay, biết khá nhiều chuyện kể dân gian về chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút. Thế là, thêm một cụ già am hiểu chuyện xưa tích cũ đã quá vãng. Và trong lòng tôi chợt lo lắng, nếu những câu chuyện thuộc về dã sử không được sưu tầm cẩn thận thì chắc chắn nó sẽ bị mai một theo thời gian, và giới trẻ sẽ biết gì về chiến công oanh liệt của cha ông ta, ngoài những dòng chính sử khô khan, ngắn gọn? Cách ngược vàm Rạch Gầm khoảng một cây số ở ấp Tây xã Kim Sơn, hiện nay vẫn còn dấu vết đá hàn ngang sông Tiền. Có lẽ, đây là một trong những cản hàn sông để ngăn đường rút của chiến thuyền địch. Đứng bên bờ tả ngạn sông Tiền, ngắm nhìn một dãy trường giang mênh mông, vắng lặng dưới bóng hoàng hôn nhập nhòa, bất giác, tôi nhớ đến câu ca dao mà tôi nghe ngoại ru từ thuở nhỏ: “Chẻ tre bện sáo cho dày, / Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau.” Có phải xuất xứ của câu ca dao đó là từ những dãy đá hàn sông trong chiến trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785? Có lẽ những nghi vấn sẽ còn tồn đọng, nhưng nó đã cho ta một ý niệm, một hình ảnh về sự nhiệt thành tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ phần đất phía Nam Tổ quốc của nhân dân Tiền Giang, góp phần tạo nên chiến thắng vang dội: "Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau" chính là như thế. Thậm chí nữ giới cũng ứng nghĩa cùng nghĩa quân Tây Sơn giết giặc: “Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng, / Giặc đến nhà chẳng vụng huơ đao.” Phụ nữ Mỹ Tho rất tự hào về câu ca dao đó. Vâng! Con gái vùng gạo trắng, nước trong, miệt vườn tươi tốt, ai mà không xinh, không đẹp, không trắng nõn nà. Kể cả địa danh

Mỹ Tho xuất xứ từ tiếng Khmer cũng có nghĩa là "Cô gái đẹp". Thế nhưng những cô gái bên bờ sông Tiền đã không kém phần dũng cảm khi giặc đến xâm lăng. Bà ngoại tôi kể, thuở khai hoang mở đất, đầy thú dữ và giặc cướp, phụ nữ cũng phải có nghề võ để hộ thân. "Võ Ba Giồng", đã được ghi trong quyển sách viết về Nam bộ xưa nhất là Gia định thành thông chí, nổi tiếng khắp nơi. Đây là những thế võ độc chiêu của trấn Định Tường - Mỹ Tho - Tiền Giang, mà có lẽ đến nay đã bị thất truyền. Các cụ già ở miệt Rạch Gầm - Xoài Mút còn có vô số những câu chuyện nói về nhân dân Tiền Giang giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn lương thực, dầu dừa, dầu mù u để nghĩa quân làm bè lửa, đánh hỏa công thiêu cháy toàn bộ thuyền chiến địch. Vỏ dừa khô có vẽ hình mặt người kết bè thả gần chỗ đóng quân của địch để địch ngỡ nghĩa quân lặn đục thuyền, phải lo đối phó, bắn hết tên đạn, kể cả việc bảo vệ bí mật trận địa mai phục và hướng đạo Nguyễn Huệ đi thực địa, để từ đó, vị anh hùng dân tộc có quyết định tối quan trọng là thiết lập trận địa phục kích ở Rạch Gầm Xoài Mút, v.v... tạo nên chiến công chói lọi, sáng ngời ngàn thu. Trong ký ức của dân gian vẫn còn lưu giữ về một cây đa cổ thụ ở đầu vàm Rạch Gầm, và xem đó là nơi phát tín hiệu của nghĩa quân ở rạch Xoài Mút và cồn Thới Sơn biết là hạm thuyền Xiêm đã lọt vào trận địa mai phục để tiến công, về Chòi Mong được nghĩa quân dựng lên bên bờ rạch Xoài Mút để Nguyễn Huệ quan sát và chỉ huy chiến trận, mà hiện nay, tại đây còn địa danh Chòi Gác ở xã Bình Đức. Vâng! Tất cả những câu chuyện ấy, dù đã được huyền thoại hóa nhưng đã phản ánh được những kỷ niệm không thể phai nhòa của người dân đối với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút và nhà quân sự kiệt xuất Nguyễn Huệ. ... Đêm cuối năm, trời se lạnh, gió chướng thổi về từng chập làm dãy bần ven sông lay động xào xạc với hằng sa số ánh đóm lung linh, huyền dịu. Tựa lưng trên lan can cầu Rạch Gầm, tôi trông ra dòng sông Tiền rộng mênh mông, nhấp nhô sóng vỗ, như thấy trước mắt mình hiện ra khung cảnh hoành tráng của chiến trận năm xưa: hàng trăm chiến thuyền Tây Sơn dũng mãnh đè bẹp toàn bộ hạm thuyền Xiêm trong tiếng reo hò dậy đất, trong biển lửa ngút trời trên sông nước Tiền Giang...

Nguyễn Phúc Nghiệp
Khu di tích RG - XM được khánh thành vào ngày 20/01/2005, nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút, với tổng diện tích hơn 02ha gồm 3 khu vực: nhà trưng bày số 1 nằm ngay dưới chân tượng đài, nhà trưng bày số 2 nằm cạnh bờ sông và một nhà cổ Nam Bộ.

bất hối

10 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Vài nét văn hóa của người Hoa ở Mỹ Tho xưa (*)
Ta thử lần dấu trở về Mỹ Tho trăm năm trước để tìm hiểu vài nét văn hóa của người Hoa diễn ra trong cộng đồng Việt. Họ đã hòa mình trong cộng đồng Việt Nam một cách thân thiện và cũng đã được người Việt chúng ta tiếp đón cởi mở rộng lòng. ( (*) Tựa bài do LHVV đặt lại. ) Hát Tiều Người Hoa tùy theo bang, mỗi bang đều có một hình thức văn hóa nghệ thuật tuy thuần nhất Trung Hoa, nhưng về sắc thái rất khác nhau giống như ngôn ngữ của họ vậy. Cho nên người Quảng Đông có hát quảng, không biết điệu hò quảng mà sau nầy cải lương phỏng theo đó có đúng không, người Hẹ cũng vậy. Riêng người Tiều hay Tiều Châu hay Triều Châu ở Nam Kỳ ở nhiều tỉnh như Bạc Liêu, Sóc Trăng, Chợ Lớn…thường hay lập gánh hát Tiều. Người Hoa ở Mỹ Tho đến ngày vía Ông tức là ngày cúng Ông hay là cúng Quan Công, mỗi năm có đến hai lệ là ngày 13 tháng giêng và tháng 9 âm lịch, thường mời gánh hát Tiều về hát cho người Hoa lẫn người Việt xem. Gánh hát Tiều nầy khá đông và trang bị trọn vẹn cho cuộc lưu diễn từ đào kép, ban nhạc, sân khấu, đạo cụ, trang phục…đầy đủ. Đến Mỹ Tho họ dựng sân khấu trước chùa Ông ở Phường 8 bây giờ, ngôi chùa Ông cổ nhất ở đây trên 300 năm. Sân khấu rất cao vì rất đông người xem vì miễn phí. Tuồng tích lấy trong các truyện Tàu như Việt Nam mình cũng có diễn, như Chung Vô Điệm, Mạnh Lệ Quân, Địch Thanh chinh đông, Tiết Nhơn Quí chinh Tây…nhưng các vở tuồng kéo dài lê thê gần trọn bộ truyện. Vì vậy vỡ diễn bắt đầu từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng hôm sau. Khán giả muốn đến xem chừng nào cũng được, đói bụng về nhà

< Hát Tiều - Ảnh minh họa.

Một gánh Sơn Đông Mãi Võ ở Chợ Lớn. > ăn cơm hoặc buồn ngủ về ngủ một giấc trở lại coi tiếp. Nhạc Tiều, nhạc Quảng…ảnh hưởng rất nhiều cho các tuồng Hò Quảng sau nầy ở miền Nam. Sơn Đông mãi võ Ngay khi đến đây, người Hoa đã du nhập nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa như múa lân, sơn đông mãi võ… Sơn Đông mãi võ vốn là một tổ chức bán thuốc cổ truyền, tập hợp một nhóm năm mười người thường là cùng trong một gia đình. Họ lưu động có tính cách như giang hồ mãi võ. Để quảng cáo cho thuốc, họ thường phải múa võ, đánh kiếm, trình diễn nội công mà họ gọi là xình tả…Từ Sơn Đông là vì họ toàn là người gốc tỉnh Sơn Đông, một vùng rừng núi nguyên sinh, nên còn có nhiều cây dược thảo để bào chế thuốc nổi tiếng. Thử trở về với một đoàn Sơn Đông mãi võ biểu diễn như thế nào tại Mỹ Tho vào mùa xuân năm Át Hợi (1935). Đoàn Sơn Đông mãi võ với danh hiệu Sơn Đông Lâm Võ đường từ Bạc liệu đến chợ Mỹ Tho để mãi võ: múa kiếm, đánh quyền, xình tả, nội công, làm trò ảo thuật …để quảng cáo cho việc bán thuốc do họ bào chế. Thuốc của họ gồm đủ loại, đủ dạng đủ thứ cho đủ các thứ bịnh: đau lưng, nhức mõi, tức ngực, ho đàm, ho tổn, đau bụng sình hơi thổ tả, trặc chân, té cây, đụng xe, bị người ta đánh….với đủ thứ thuốc rượu, thuốc dán, thuốc cao đơn hườn tán, ngoài ra họ còn chuyên nhổ răng. Giữa một phiên chợ sáng ở Mỹ Tho, khi tiếng trống, tiếng chập chỏa, tiếng phèng la vừa vang lên là một số đông người đã vây quanh đoàn mãi võ thành một vòng tròn. Khán giả gồm những bà nội trợ đi chợ, những cậu thanh niên có học qua ít nhiều võ thuật, những ông lão thường bị đau

bất hối

11 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Vài nét văn hóa của người Hoa ở Mỹ Tho xưa (*)
lưng, nhức mõi nhưng đông nhất vẫn là trẻ con học trò mê mẩn theo dõi mà quên cả tiếng trống trường. Trong sân khấu lộ thiên và bất đắc dĩ nầy, phía tận cùng có 6 cái thùng cây khá to, chắc cũng nặng lắm còn vương vít những dây chạc chằng chịt. Có lẽ trong đó là thuốc men, đạo cụ, kim khí, võ phục… nghĩa là tất cả tài sản của họ. Ai nấy nôn nóng chờ đợi đoàn biểu diễn, trong khi đó ông trưởng đoàn, vận võ phục đen, thắt lưng đỏ đi tới đi lui để đánh giá sự ái mộ của khách đến để có thể bắt đầu. Những thành viên còn lại gồm gồm hai thanh niên lực lưỡng cũng mặc võ phục nhưng màu xanh lam và một cô gái độ 17, 18 tuổi võ phục đen, chích khăn nhiễu, thắt lưng xanh, giày vải màu gạch… nhưng cái đáng nói là cô rất đẹp, cái đẹp của người con gái tuổi dậy thì, cái đẹp giang hồ kiếm khách trong nếp võ phong, cái đẹp huyền ảo trong đôi mắt u huyền thâm thẩm… - Tả lồ len….(đánh trống lên) viên trưởng đoàn vừa ra lịnh xong là trống, phèng la, chập chỏa…nổi lên từng chập…tùng tùng…xà, cắc cắc cắc...tùng...tùng…xà…phèng phèng…xà…Thưa quới ông quới bà, thưa lồng bầu, thưa bà con cô bắc, thưa anh chị em cùng các con nít nhỏ…tả lồ len…hôm nay lòn chúng tôi lến lây, trức là bảo dziễn mua dzui…tả lồ len…sau nữa bán thuốc cao lơn hườn tán…tả lồ len… Tùng tùng…xà, phèng phèng…xà… Lễ mở lầu cho màn bảo dziễn bữa lay, một cô gái sẽ múa bài Mai hoa kiếm cho bà coon cô bắc coi chơi. Tà lồ len…. Vừa chấm dứt tiếng phèng la…là cô gái với cặp song kiếm từ trong nhảy

Chuẩn bị biểu diễn - Ảnh minh họa. ra giữa sân nhanh nhẹn, duyên dáng ngẩng mặt nhìn về phía trước, đôi mắt rạng ngời, vòng tay bái tổ. Một tràng pháo tay vang dội dành cho cô gái. Vụt một cái đôi kiếm được tung lên cao và rơi xuống đúng vào cô gái, mọi người nín thở, nhưng trong chớp mắt chuôi kiếm đã nằm gọn trong tay cô gái. Lúc tấn thì nhanh như chớp nhoáng, lúc thủ thì vững như thành đồng, phòng thủ bên hữu để chế ngự bên tả trên dưới phân minh, trước sau vững chắc. Cùng với tiếng trống chiêng chấm dứt, cô gái đã trở về tư thế đứng tấn tuyệt vời với hai ngọn kiếm đưa cao. Khách xem mãn nhãn reo hò vang dội. Cô gái cúi chào với nụ cười còn ngây thơ bẻn lẻn. Trưởng đoàn trở ra sân với ít nhiều hãnh diện: - Tả lồ len. Bà coon coi qua màn bảo dziễn bữa nay của chúng tôi, còon nhiều cái hay hơn lữa. Trong khi chờ lợi coi lữa, chai thuốc rượu sơn đông của bổn lường bầu chế hay tàng cầu… Trặc tay trặc chân, bị lánh bị thương, té cây lụng xe…trong uống ngoài tha….Hay lắm hay dzữ lắm. Bà con coi lây… Ông ta nói tới đây liền cầm một khúc cây khá lớn đánh mạnh vào cườm tay một cái, đưa lên cho bà con coi thấy đỏ au sưng vù. Ông ta lai lấy chai thuốc rượu thuốc đổ lên vết thương xoa xoa một chút lấy tay chùi sạch đưa cườm tay lên…như thường. Mọi người vỗ tay tán thưởng. Cứ như vậy, sau một màn biểu diễn là một màn bán thuốc, hay nhổ răng cho đến khi mọi khán giả nhớ công ăn việc làm ở nhà, ra về hết bỏ lại đoàn mãi võ Sơn Đông, bỏ lại đoàn người lưu lạc giang hồ đến đây mãi võ bán thuốc không biết vì kinh tế hay nghệ thuật. Chỉ biết, sau những cuộc biểu diễn vất vả, gian nan mà tiền bán thuốc không được bao nhiêu, cả đoàn ngồi buồn ngấu nghiến nhìn về phương Bắc xa lơ xa lắc, còn nơi đây thì tương lai mịt mờ… Còn riêng tác giả, đến bây giờ vẫn còn vương vấn đôi mắt của người con gái Hoa múa kiếm trong đoàn Sơn Đông mãi võ tại chợ Mỹ Tho năm xưa, tự hỏi bây giờ…thím xẩm nầy ra sao và ở đâu mà ngậm ngùi tiếc nuối Theo Mặc Nhân - namkyluctinh.org đôi mắt ấy vô cùng.

bất hối

12 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Mỹ Tho, cái nôi của bộ môn cải lương
Diễn cải lương ngày xưa - Ảnh minh họa mới bắt đầu nổi danh khắp nới về chuyện ca nhạc tài tử. Ông Nguyễn Tri Lạc (1887-1957) rất giỏi về đờn cò và chuyên về hát bội. Trái lại, ông Nguyễn Tri Khương lại rất giỏi về tất cả các loại nhạc khí, nhưng đặc biệt điêu luyện nhất là thổi sáo và đồng thời ông còn là soạn giả của một gánh cải lương mang tên Đồng Nữ Ban. Về dòng họ Trần thì có cụ Trần Quang Diệm (Năm Diệm). Con của cụ Năm Diệm là cô ba Trần Ngọc Diên (1884-1994) rất nổi tiếng với cây đờn tranh và đờn tỳ bà. Cô ba Diên rất sành hầu hết các giọng ca, điệu hát và cũng là người đã sáng lập ra gánh cải lương Đồng Nữ Ban, một gánh hát mà tất cả diễn viên toàn là phụ nữ. Vào năm 1927, nhằm để tuyên truyền ý thức độc lập của dân tộc cho người dân và gây quỹ tài chánh cho hoạt động của tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ở tại tỉnh Mỹ Tho, em của cô ba Diên là ông Trần Văn Triều (Bảy Triều) rất nổi tiếng với dây đờn Tố Lan. Hai dòng họ Nguyễn và Trần đã kết thông gia với nhau. Con gái của cụ Nguyễn Trí Túc đã kết hôn với con trai của cụ Trần Quang Diệm là cậu Trần Văn Triều và đôi trai tài gái sắc này đã sinh ra hai nhạc sĩ nổi tiếng thời đương đại là giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê và danh hài Trần Văn Trạch. Như vậy, các ông Nguyễn Tri Lạc, Nguyễn Tri Khương là cậu, còn cô ba Diên là cô của nhạc sĩ Trần Văn Khê và danh hài Trần Văn Trạch. Trên căn bản của ban ca nhạc tài tử, thế là dần dà trở thành một loại hình kịch nghệ đã được ra đời được dân chúng gọi là “ca ra bộ”, nghĩa là vừa ca lại vừa làm điệu bộ cho phù hợp với lời ca. Nhưng thật ra trên thực tế, đó là cải lương cho dù bộ môn này chưa xuất hiện với danh từ cải lương. Ban ca ra bộ đầu tiên được ra đời vào năm 1917 tại Mỹ Tho. Ban ca ra bộ này do ông Tư Triều (Nguyễn Tống Triều) làm chủ và đã tập hợp được nhiều danh ca, danh cầm đương thời như Tư Triều chơi đờn kìm, Chín Rạp hát thầy Năm Tú (1969) - Ảnh: Lance & Cromwell

"Sửa đổi cho tốt hơn". Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát Chèo hay hát Tuồng (ở Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra đời, người mình nhận thấy điệu hát này có thể tân tiến hơn điệu hát bội, nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng "Cải lương" để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này. Ban “ca ra bộ” đầu tiên Vào khoảng thập niên 10 của thế kỷ 20, tại Mỹ Tho thuộc Tiền Giang đã xuất phát ra phong trào ca nhạc tài tử ngày càng trở nên thịnh hành mà tiêu biểu nhất là từ làng Vĩnh Kim. Tại nơi này, cả hai dòng họ Nguyễn và Trần đã nổi tiếng về ca nhạc tài tử. Dòng họ Nguyễn bắt đầu từ cụ Nguyễn Tri Túc từ năm 1858 đến nnăm 1913 là với sở trường là cây sáo và cây đàn tam.Đến đời con của cụ Túc là ông Nguyễn Tri Lạc và ông Nguyễn Tri Khương thì dòng họ này mới bắt

Hai tiếng "Cải lương" có nghĩa là

bất hối

13 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Mỹ Tho, cái nôi của bộ môn cải lương
Tiếng lành đồn xa, ban Tư Triều được mời lên Sài Gòn trình diễn ở khách sạn Cửu Long Giang và được đông đảo dân chúng hoan nghênh. Thế là kể từ đó, ở những địa phương khác ở Nam Bộ cũng đua nhau lập ra ban “ca ra bộ”. Đến năm 1919, ở tại Mỹ Tho lại xuất hiện thêm một gánh hát mới là gánh hát Thấy Năm Tú, do ông Châu Văn Tú làm bầu gánh. Đây là một gánh hát được tổ chức và sắp xếp tương đối có có quy mô và bài bản nhất thời bấy giờ. Soạn giả của gánh hát này là ông Trương Duy. Rạp thầy Năm Tú - rạp hát cải lương đầu tiên. Châu Văn Tú còn gọi là thầy Năm Tú hay Pierre Tú, người xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Vốn sinh ra ở vùng đất có truyền thống âm nhạc, nên ông rất say mê nghệ thuật cải lương.

Khoảng năm 1917, ông xuất tiền mua lại gánh “Xiếc và Ca ra bộ An Nam Trẻ” của André thuận do ông này kinh doanh nghệ thuật bị thua lỗ và thành lập gánh hát thầy năm Tú. Ông đã tuyển thêm đào kép mới, thuê hoạ sĩ vẽ tranh phong cảnh để làm phông (Fond), phỏng theo lối trang trí của các rạp hát Tây ở Sài Gòn và mua sắm y phục đẹp cho đào kép. Đồng thời, ông còn mới Trương Duy Toản - một nhà nho yêu nước, từng hoạt động trong phong trào Duy Tân -soạn tuồng. Ông cũng xây dựng một rạp hát vào đầu năm 1918 ở gần chợ Mỹ Tho để gánh biểu diễn. Đây là rạp hát cải lương đầu tiên ở nước ta. Trước kia các gánh hát thường biểu diễn ở đình, miếu hoặc che dựng tạm thời, hát xong dẹp bỏ. Rạp thầy Năm Tú có sân khấu rộng và cao; bố trí hệ thống ròng rọc để theo đổi phông màu; hai bên sân khấu có treo nhiều lớp cánh gà; có hệ thống ánh sáng theo sự điều khiển hàng đêm của thầy tuồng. Rạp có hai tầng, ghế chia theo thứ hạng, đặc biệt trên lầu cạnh hai bên sân khấu được Nhận thấy ban ca ra bộ được mọi chia thành từng “lô” dành cho khách quan trọng. người ưa thích, ông Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu), là một điền Mỗi tối trước khi khai diễn, ông bài ra tiết mục “tableau vivant” nhằm giúp chủ kiêm nhà tư sản có tinh thần khán giả nhìn mặt toàn thể diễn viên của gánh sẽ diễn trong đêm hát. yêu nước, dân tộc và cũng là chủ nhân của Minh Tân khách sạn nằm Có rạp hát cố định, khang trang và hiện đại; lại có tiềm lực tài chánh hùng ở gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là khu hậu, trình độ quản lý chặt chẽ, thu hút được nhiều diễn viên giỏi (Tám vực công viên Thủ Khoa Huân, Củi, Sáu Nhiêu, Tám Danh, Phùng Há, Năm Châu...), tuồng tích đặc sắc; thành phố Mỹ Tho) liền mời ban Tư nên gánh hát của ông là một trong những gánh cải lương nổi tiếng nhất Triều đến khách sạn của mình biểu lúc bấy giờ. Rạp thầy Năm Tú hiện nay vẫn còn nhưng bỏ hoang. diễn. Tất cả những buổi biểu diễn của ban này đều được những Đồng nữ ban - Gánh hát cải lương toàn phụ nữ duy nhất người đến xem hoan nghênh vang dội. Tiếp đó, ban Tư Triều được Năm 1927 Những hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên xã Vĩnh mời tới rạp chiếu bóng Casino mỗi Kim mà chủ chốt là Trần Văn Hoè, Trần Ngọc Viện và Nguyễn Thị Dành tuần hai tối là tối thứ tư và tối thứ (cô và mẹ ruột của GSTS Âm nhạc Trần Văn Khê) đã sáng lập cải lương bảy. Thời đó, người đờn và ca ngồi Đồng Nữ Ban. Sau gần 6 tháng luyện tập khẩn trương, vào khoảng giữa trên bộ ván được đặt trên sân khấu. năm 1928, lần đầu tiên gánh hát Đoàn Nữ Ban ra mắt khán giả vở ''Giọt Nghệ sĩ Phùng Hà năm 30 tuổi Quán chơi đờn bầu, Bảy Võ chơi đờn cò, Hai Nhiều chơi đờn tranh, Mười Lý thổi tiêu và cô Ba Đắc ca. Bài ruột của Ban Tư Triều là bài Tứ đại Oán “Bùi Kiệm ghẹo Nguyệt Nga”. Với bài này, cô Ba Đắc vừa ca vừa biểu diễn điệu bộ của ba nhân vật là Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga khiến khán giả thời đó tán thưởng rất nhiệt liệt vì với một lối diễn tấu mới mẻ, sinh động và hấp dẫn.

bất hối

14 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Mỹ Tho, cái nôi của bộ môn cải lương
Năm Phỉ - nghệ sĩ tài hoa bậc nhất Lê Thị Phỉ là Nghệ sĩ lỗi lạc, người đương thời hâm mộ tài năng của bà gọi bà là Năm Phỉ, quê làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho nay là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, con kĩ sư cầu cống Lê Tấn Công. Ông đặt tên con theo câu chữ “Công Thành Danh Toại, Phỉ Chí Nam Nhi, Bia Truyền Tạc Để” trong đó có các danh tài sân khấu là Bảy Nam (Lê Thị Nam), Chín Bia và Mười Truyền đều là nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng về bộ môn cải lương và kịch nghệ. Mới lên 10 tuổi, Năm Phỉ đã đi theo tiếng gọi của sân khấu một cách đam mê với sự đồng tình của mẹ. Do theo nghề hát quá sớm, nên bà không được học hành, chỉ biết ký mỗi tên mình. Không biết chữ, nhưng bà lại có trí nhớ không ai sánh kịp. Mỗi lần tập vở diễn, người ta đọc cho bà nghe, chỉ nghe qua một lần, bà đã nhớ. Năm 1917, mới 11 tuổi bà đã lên sân khấu với gánh hát Nam Đồng Ban, do ông Hai Cu, ông Hai Quản sáng lập ra. Sau đó bà lập gia đình với nghệ Hai Giỏi. Hai người chuyên đóng các vai chính. Cặp đào kép Năm Phỉ - Hai Giỏi nổi danh tài sắc vẹn toàn. Theo chồng về gánh Nam Đồng Ban do cha chồng sáng lập, nhưng chỉ được vài năm thì chồng qua đời. Năm Phỉ phải một mình đi tiếp con đường sự nghiệp. Khoảng năm 1924-1925 bà hát cho gánh Phước Cương của ông Nguyễn Ngọc Cương rồi “bước thêm bước nữa” với ông “Bầu Cương”! Từ đây danh tiếng bà càng vang dậy vì tài diễn xuất độc đáo của bà qua nhiều vai diễn đã chiếm được cảm quan nghệ thuật của nhiều thế hệ khán giả khắp các tỉnh Nam Kỳ trong các vở: Phụng Nghi Đình, Xử án Bàng Quý Phi(“Xử án Bàng Quý Phi”), Lan và Điệp (“Lan và Điệp”), Lý Ngọc Nương (“Trà hoa nữ”), Thị Anh (“Tứ Đổ Tường”), Điêu Thuyền (“Lã Bố hí Điêu Thuyền”), Tuý Hoa (“Tuý Hoa vương nữ”), Mộng Hoa (“Mộng Hoa nương”)... Khi biểu diễn ở nước ngoài (Pháp, Thái Lan...) tên tuổi bà được tán thưởng nhiệt liệt trên nhiều báo chí. Từ giới phê bình sân khấu đến khán giả ai cũng thán phục tài diễn xuất đầy nghệ thuật của bà. Năm Phỉ từng là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được Vua Bảo Đại tặng Huy chương Kim Tiền. Trong các chuyến lưu diễn tại nước ngoài (như Pháp, Lào, Thái Lan, Campuchia…), bà cũng nhận được nhiều huy chương. Tuy nhiên, có lẽ với bà, không gì vinh dự bằng các "giải thưởng" do khán giả mến mộ dành tặng cho bà. Ngày 2-6-1954, bà đột ngột từ trần khi diễn trên sân khấu, hưởng dương 47 tuổi để lại sự thương tiếc của nhiều giới khán giả yêu nghệ thuật. LHVV tổng hợp từ các tác giả Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Nguyễn Phúc Nghiệp, Bùi Thụy Đào Nguyên, Lê Minh Quốc.

máu chung tình'' (nội dung là câu chuyện tình của hai nhân vật: Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà), tại cầu Ba Lung, xã Vĩnh Kim, được nhân dân hoan nghênh nhiệt liệt. Gánh hát không có kép nam (do vậy gánh mang tên là Đồng Nữ Ban), qui tụ con em tuổi từ 17 đến 20 có nhiệt tình của những gia đình nông dân, điền chủ trong làng Vĩnh Kim và các làng lân cận Đông Hoà (tức Bình Hoà Đông thuở ấy) Rạch Gầm, Kim Sơn, Long Hưng. Các diễn viên sống như những nữ sinh nội trú, có thời khoá biểu các môn học: học chữ, học nữ công, học võ thuật để dùng trong những lớp tuồng cần phải đánh võ. Khi đi lưu diễn, cạnh chiếc ghe con chuyên chở thầy đờn, thầy võ,cùng tất cả diễn viên ở chung trong một chiếc ghe chài to chứa được mấy mươi người. Ngoại trừ lúc biểu diễn, tất cả diễn viên đều phải mặc áo dài tím (vì cô Ba Viện trước kia là giáo viên dạy đàn cho trường Áo Tím, nên thích cho diễn viên mặc áo dài tím). Tích tuồng không lựa trong lịch sử Trung Quốc mà lấy trong sử Việt, như Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Rạch Gầm - Xoài Mút,... trong số đó có vở diễn chủ lực là ''Giọt máu chung tình'' của soạn giả Nguyễn Tri Khương. Nhận thấy tính cách “quốc sự” của gánh, nên giới cầm quyền thực dân ở Nam kỳ đã ra lệnh cho ''Đồng Nữ Ban'' phải giải tán vào năm 1929. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn; nhưng gánh Đồng Nữ Ban là niềm tự hào của nữ giới Tiền Giang trong công cuộc vận động giải phóng dân tộc và góp thêm sự đa dạng của sân khấu cải lương trong những năm 20 của thế kỷ vừa qua.

bất hối

15 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Bạch Công Tử Mỹ Tho
Tây là George Phước) cùng với Hắc công tử (tức Trần Trinh Huy - công tử Bạc Liêu) hợp thành bộ đôi ăn chơi phóng đảng nhất ở “Lục tỉnh nam kỳ” qua mọi thời đại. Vào thời vàng son (khoảng thập niên 1920 và 1930), khi Trần Trinh Huy nổi lên với biệt danh “công tử Bạc Liêu”, thì Lê Công Phước cũng đình đám không kém với biệt danh “ông hoàng ăn chơi”. Bộ đôi này đã để lại giai thoại bất hủ “đốt tiền làm đuốc tìm tiền” và “đốt tiền nấu chè”. Trong khi Hắc công tử còn duy trì được cuộc sống phong lưu cho tới khi chết vì tuổi già (năm 1973), chỉ đến đời các con ông mới bị khánh kiệt, nghèo khổ, thì những đam mê “tứ đổ tường” đã làm cho Bạch công tử sớm trắng tay khi còn khá trẻ và chết trong nghèo khổ, bệnh tật (năm 1950), khi chết không có đất để chôn.

Bạch công tử (tên thật Lê Công Phước, còn có tên

Nhà Bạch công tử ở Mỹ Tho

Tho đi dự hội chợ bên Pháp năm 1909, đó là vinh dự rất lớn thời ấy mà không phải ai có tiền hay có quyền cũng có thể lo được. Chuyến đi hội chợ du lịch ấy đã là duyên cớ để Đốc phủ gửi đứa con quý tử Lê Công Phước sang Pháp du học sau đó mấy năm.

Do sớm xa gia đình, lại sẵn tiền bạc gia đình cung phụng vô điều kiện, Lê Công Phước đã sớm học đòi thói ăn chơi giữa Đi du học… nhảy đầm chốn Paris tráng lệ, còn học hành chỉ cho có lệ. Sau nhiều năm “học tập”, cậu Tư Phước về nước mà không đỗ đạt Lê Công Phước là con trai thứ tư của Đốc phủ Lê được bằng cấp gì, ngoài “bằng cấp” ăn chơi và nhảy đầm. Công Sủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho Sau khi đón rước rỉnh rang đứa con đi học bên Pháp về, Đốc trong “Nam kỳ lục tỉnh”, nay thuộc phường 3, thành phủ Sủng khi biết con mình không học hành nên trò trống gì, phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. đã giận tới mức bắt phạt cậu “quý tử” gánh hồ phục vụ cho thợ xây khi ông cất ngôi nhà mới ở thành phố Mỹ Tho. Theo các sử liệu còn lưu lại, Lê Công Sủng là người gốc miền Trung, có thể Quảng Nam hoặc Bình Định, Dù rất bất bình, nhưng cũng do biết lỗi của mình, cậu Tư được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm quận Phước đã chịu làm “cu li” phụ hồ mấy tháng trời cho đến khi trưởng quận Châu Thành (tỉnh Mỹ Tho) vào đầu thập cất xong ngôi nhà, nhờ đó mà ông Đốc phủ Sủng nguôi giận. niên 1880. Sau đó được chuyển về làm quận trưởng Nhưng ông Đốc phủ Sủng lại qua đời sớm vào cuối thập niên quận Chợ Gạo (cũng thuộc tỉnh Mỹ Tho) và cất nhà 1920, cậu Tư Phước hưởng gia tài khi còn quá trẻ và bước định cư tại đây. Ban đầu, khi mới vào Mỹ Tho làm vào sự nghiệp ăn chơi. quan, Đốc phủ Sủng chưa phải là người giàu có. Gánh Phước Cương và Gánh Huỳnh Kỳ Ông có nhiều vợ, trong đó có bà Đào Thị Linh là người ở Chợ Cũ, thành phố Mỹ Tho, có quốc tịch Vốn là người rất mê cải lương, trong thời gian ở Pháp Pháp, hai người có 1 đứa con chung là Lê Công George Phước từng học về ngành sân khấu. Về nước, Phước, tức George Phước. Bà Linh bất ngờ bị bệnh George Phước cùng ông Nguyễn Ngọc Cương lập gánh hát lao, là bệnh nan y lúc bất giờ, và chết khi còn rất trẻ, Phước Cương (tên ghép của hai người). Gánh gát quy tụ để lại cho cha con ông Sủng một gia tài lớn vốn là được rất nhiều đào kép nổi tiếng thời bấy giờ như Năm Phỉ, của hồi môn khi lấy chồng. Với thế lực của mình, Tám Danh, Tám Mẹo... Nhưng chỉ một năm sau George cũng là người có máu làm ăn, chẳng bao lâu Đốc Phước tách ra và lập gánh Huỳnh Kỳ với sự tham gia của phủ Sủng trở nên giàu có nhất nhì vùng Gò Công – Phùng Há, Ba Vân, Năm Phỉ, Tám Du, Năm Thiện, Ba Thâu, Mỹ Tho, ruộng đất “cò bay thẳng cánh”. Ba Đồng, Chín Móm, Năm Kiệt, Hai Sự, Hai Nữ, Tư Bé, Tư Hélènne... Theo nhiều tài liệu ghi lại thì đây là gánh cải lương Lúc ấy, là người có thế lực và giàu có trong vùng, có quy mô lớn ở vùng lục tỉnh Nam kỳ. Và cô đào nổi tiếng Đốc phủ Sủng đã được cử làm đại diện cho tỉnh Mỹ nhất Bảy Phùng Há chính là vợ của Bạch công tử.

bất hối

16 lophocvuive.com

văn hóa - phong tục - ngôn ngữ

Bạch Công Tử Mỹ Tho
Mộ Bạch công tử ở ấp Thạnh Khiết, xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo.

Không chỉ để lại dấu ấn trong lòng người dân miền sông nước, gánh Huỳnh Kỳ của Bạch Công tử còn thu hút được khán giả Sài Gòn. Trong hồi ký Nổi trôi trong ánh đèn màu, nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã viết: "Đến 3 giờ chiều thì vé các hạng của gánh Huỳnh Kỳ đều hết. Nhiều người thất vọng đón buổi tối để mua cho được vé đêm mai". Đến năm 1930, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đời sống người dân hết sức khó khăn, nhiều gánh cải lương buộc phải giải tán, Trong thời gian đó, George Phước cho xây dựng rạp trong đó có gánh Huỳnh Kỳ. Khoảng 5 năm sau, Bạch công tử hát cũng với tên Huỳnh Kỳ, bên cạnh ngôi nhà của cho tái lập lại nhưng không gây được tiếng vang. Vì vậy ông ông tại Mỹ Tho để làm nơi gánh hát biểu diễn thường cho giải thể, chấm dứt sự nghiệp theo cải lương. xuyên. Đến khi George Phước sạt nghiệp thì cả ngôi nhà và rạp hát đều bán lại cho ông Lê Ngọc Chiếu, Những năm cuối đời một người giàu có ở vùng Chợ Gạo và rạp hát sau đó được đổi tên thành rạp Lê Ngọc. Khoảng năm 1963, Lúc còn hưng thịnh, Bạch công tử từng tuyên bố ông sẽ ông Chiếu bán lại rạp hát cho người khác và đổi tên không bao giờ nhờ vả người khác. Nếu có sạt nghiệp thì ông thành rạp Viễn Trường, đến thập niên 1980 lại được sẽ lái xe hơi ra Vũng Tàu và chạy thẳng xuống biển để kết liễu đổi tên thành rạp Mỹ Tho. Rạp hát hiện vẫn còn trên cuộc đời. Nhiều người cho rằng gọi là "ăn chơi" nhưng thực ra đường Đinh Bộ Lĩnh, thành phố Mỹ Tho. Còn ngôi nhà Bạch Công tử cũng chỉ lo cho gánh hát. Mặc dù vậy ông cùng sau năm 1975 được sử dụng làm trụ sở UBND với Công tử Bạc Liêu để lại khá nhiều giai thoại. Và trong giai phường 3, hiện nay là trụ sở Phòng Văn hóa Thông đoạn đó, những người như Bạch Công tử, như thầy Năm Tú tin và Thể thao Mỹ Tho. (người nhập cảng linh kiện từ Pháp về tổ chức lắp ráp và kinh doanh máy hát đĩa thời đó) đã có công trong việc phát triển cải Bạch Công tử đã tiêu tốn rất nhiều tiền vì sự nghiệp lương ở Nam bộ. Vương Hồng Sển, trong hồi ký 50 năm mê cải lương. Thời đó những gánh hát khác đều đi bằng hát của mình cũng viết: "Tôi có nhiều cảm tình riêng đối với ghe chèo thì Bạch Công tử lại sắm một lúc tới 3 chiếc Cậu Tư". ghe có gắn máy dùng để chở đào kép đi lưu diễn và được trang bị như là du thuyền. Theo mô tả thì chiếc Sau khi chia tay với Phùng Há, Bạch công từ ngày càng lún đi đầu chở Bạch Công tử và Phùng Há, có lầu, phía sâu vào nghiện ngập. Tài sản lần lượt bán hết, người ta thấy trước có cột cờ và treo cờ vàng, biểu tượng của gánh ông lang thang ở vườn Ông Thượng (nay là Tao Đàn, thành Huỳnh Kỳ. Đào kép thì đi trên chiếc ghe thứ hai, được phố Hồ Chí Minh). Mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ngăn thành nhiều phòng, nhiều ô cửa sổ, có bếp ăn, ông không hề ngửa tay xin xỏ hay nhờ vả ai. Sau đó ông được chỗ vệ sinh... Chiếc thứ ba thì chở thầy đờn, nhân một người thân mang về chăm sóc. Đó là ông Nguyễn Ngọc viên phục vụ và cả một đội bóng. Mỗi khi gánh hát đi Phi, một điền chủ đất ở chợ gạo, con trai một người bạn thân tới đâu, Bạch Công tử cho đào kép lên bờ đứng xếp của ông Lê Công Sủng, bố của Bạch công tử. Cuối năm 1949, hàng và bắt tay xã giao với chính quyền sở tại. Sau đó Nguyễn Ngọc Phi đưa Bạch công tử về về chăm sóc tại gia thì hát bản Đoàn ca, cờ vàng được kéo lên và Bạch đình ông ở thị trấn Chợ Gạo. Nhưng vì hậu quả của nghiện Công tử lấy súng lục ra đưa lên trời nổ liền mấy phát. ngập, Bạch công tử mất đầu năm 1950. Sau đó, trong lúc đào kép lo chuẩn bị cho đêm diễn thì đội bóng thi đấu giao hữu với đội bóng của địa Theo ông Trương Ngọc Tường thì sau khi đã thành danh, nữ phương, với mục đích thu hút khán giả tối đi xem hát. nghệ sĩ Phùng Há nhớ lại những người từng là ân nhân trước Và cho dù thắng hay thua, đội bạn cũng được chiêu đây như thầy tuồng, đạo diễn, bà đã bỏ tiền ra xây mồ mả cho đãi và mời xem hát. Nhờ lưu diễn bằng ghe nên thời nhiều người. Trong đó có việc cải táng mộ Đốc phủ Lê Công đó dù ở những vùng chợ quê xa xôi như Vĩnh Kim, Ba Sủng và 2 người con của bà với Bạch Công tử đưa về Sài Dừa, Cái Thia... đều có gánh hát tới. Gòn. Riêng mộ Bạch Công tử thì vẫn còn tại Chợ Gạo. Vở tuồng ăn khách nhất của gánh Huỳnh Kỳ là Giọt LHVV tổng hợp từ Wikipedia và bài của tác giả Thiên máu chung tình, do Năm Thiên đóng vai Võ Đông Sơ Thanh. và Phùng Há vai Bạch Thu Hà.

bất hối

17 lophocvuive.com

địa lý - du lịch

Trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho
Lúc mới thành lập, trường Collège My Tho được xây dựng khá sơ sài, ngoài văn phòng và một phòng thí nghiệm, trường chỉ có dãy lầu một tầng, dùng làm phòng học ở tầng trệt và phòng ngủ cho học sinh ở tầng lầu. Năm 1918 trường được xây thêm hai dãy lầu nữa ở phía Bắc và Nam để hợp với dãy lầu trước đó tạo thành một ngôi trường hình chữ U và từ từ về sau trường được xây dựng thêm những dãy phòng học mới khang trang hơn và cơ sở vật chất dần ổn định.

Khuôn viên trường xưa Ngay từ khi bắt đầu công cuộc xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã tính đến việc mở trường, nhằm đào tạo những nhân viên phục vụ cho việc chiếm đóng của Pháp. Nhưng phải đến khi Pháp làm chủ được toàn bộ Nam Kỳ, việc thiết lập một mạng lưới trường học mới được tiến hành một cách chính thức và bài bản. Trong bối cảnh lịch sử đó, ngày 17.03.1879 trường Collège My Tho, trường Trung học đầu tiên ở Việt Nam được chính thức thành lập.

khuôn viên trường hôm nay

bất hối

Khởi đầu từ một trường Tiểu học (École Primaire) gọi là trường tỉnh (École de province), dạy tới lớp Nhứt (tức lớp 5 bây giờ), trường xây bằng lá, cất ở gần khu Nhà Việc làng Ðiều Hòa, nay là khu Trung tâm Thương mại Mỹ Tho, đường Lê Lợi. Năm sau trường tiểu học Mỹ Tho dời đến nơi hiện nay mà trước kia là nhà của vị quan triều Tự Ðức tên là Ngô Phước Hội, gần tòa bố chính. Trường được thành lập trên khu đất rộng 25.000 mét vuông được bao quanh bởi 4 đường: Hướng Ðông là cổng chánh quay ra đường số 9, sau đổi tên là Rue D'Aries, bây giờ là đường Lê Lợi; Hướng Tây quay ra đường Filippini, nay là đường Hùng Vương; Hướng Bắc quay ra là đường số 3, sau đổi tên là Colombert, rồi Maréchal Pétain, Albert Buissiere nay là Ngô Quyền; Hướng Nam quay ra đường số 20, rồi sau đổi tên Rue de Landes, ngày 7 tháng 4 năm 1954 đổi tên là đại lộ Lê Ðại Hành tới nay. Hai dãy “lầu dơi”

Thực tế lịch sử khách quan cho thấy rằng, về cơ bản, thực dân Pháp đã đạt được mục đích về đào tạo nhân lực khi các trường học do họ lập nên, trong đó có Collège My Tho, dã liên tục “cho ra lò” những trí thức “Tây học”, phục vụ hữu hiệu cho guồng Để được vào học ở Collège My Tho, máy cai trị thực dân. Nhưng cũng người học phải tham dự một kỳ thi không thể phủ nhận rằng bên cạnh tuyển rất gắt gao. Học sinh Collège My đó, từ nền giáo dục thực dân mà Tho được cấp học bổng trong suốt quá Pháp áp đặt trên đất nước ta đã nảy trình học tập và bắt buộc phải ở nội trú. sinh những tác động hoàn toàn trái lại Ban đầu, Collège My Tho dạy các lớp với sự mong đợi của họ. Vốn yêu thuộc bậc tiểu học và một lớp năm thứ nước, căm thù giặc, lại được trang bị nhất thuộc bậc trung học, đến năm kiến thức khoa học và tiếp cận tư 1924, trường đã tổ chức được đủ các tưởng mới tiến bộ, các thế hệ học lớp bậc trung học và được tổ chức thi sinh Collège My Tho những năm đầu để cấp bằng “Thành chung” cho học thế kỷ XX rất hăng hái tham gia phong sinh. Vì là trường trung học duy nhất ở trào yêu nước những khi có cơ hội. Nam Kỳ thời bấy giờ nên Collège My Tho thu hút đông đảo học sinh lục tỉnh Địa Phương chí tỉnh Mỹ Tho năm Nam Kỳ theo học. Đến năm 1917, 1937 viết: “Ngày nay trường trung học trường mở một chi nhánh ở Cần Thơ là một trong những cơ sở mát mẻ, với tên gọi Collège Can Tho. Học sinh xanh um, rộng rãi nhất của thuộc địa. học xong lớp bổ túc tiểu học (Cours Có những bồn hoa đẹp mắt đầy sân, Complémentaire) ở Collège Can Tho những hàng cây râm bóng che mát sẽ được chuyển sang học ở Collège trường, khắp chỗ, chống ánh nắng My Tho cho đến hết năm thứ tư. Mãi gay gắt của mặt trời. Đó là một trong đến những năm 1924-1926, khi đã mở những rất ít cơ sở học đường thoát đủ các lớp thuộc bậc Cao đẳng tiểu khỏi đặc tính cổ truyền của nơi này. học, Collège Can Tho tách riêng ra, Trường Nguyễn Đình Chiểu nay vẫn không còn là chi nhánh nữa. còn, dãy phòng học đầu tiên hướng mặt về phía chợ Mỹ Tho, cùng với 2 dãy lầu dơi xây thêm sau đó ít lâu sắp bị đập bỏ để nhường chỗ cho một công trình trường học mới. Rồi chỉ còn những tiếc thương, hoài niệm?

18 lophocvuive.com

LHVV tổng hợp

địa lý - du lịch

Vĩnh Tràng cổ tự
Chùa Vĩnh Tràng được lập vào năm 1849, Hòa thượng Huệ Đăng, trụ trì chùa đầu tiên đã đặt hiệu chùa là "Vĩnh Trường" với ngụ ý: "Vĩnh cửu đối sơn hà / Trường tồn tề thiên địa", qua thời gian người dân quen gọi là "Vĩnh Tràng". Chùa nằm ven tỉnh lộ 22, trên địa phận ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Khởi nguyên chùa chỉ là một cái am lá của ông bà Huyện Bùi Công Đạt làm quan dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840). Sau khi hưu trí, ông bà Huyện về đây cất am để tu hành nên nhân dân trong vùng quen gọi là chùa ông Huyện. Sau đó, ông bà mời Đại sư Huệ Đăng về trụ trì chùa và dạy chữ nghĩa cho con. Sau khi ông bà Huyện qua đời, Đại sư Huệ Đăng ngày đêm chăm lo công quả. Thấy được đạo hạnh của nhà sư, Phật tử bốn phương về rất đông: người góp công, người góp của xây dựng thành chùa "Đại Tự" vào năm 1849, lấy niên hiệu là "Vĩnh Trường". Chùa Vĩnh Tràng là một di tích kiến trúc nghệ thuật đứng vào hàng thứ ba đối với mọi kiểu chùa của đất Nam phần. Chùa được xây dựng pha hòa nét kiến trúc cả Âu lẫn Á. Trước chùa có hai cổng Tam quan được xây dựng vào năm 1933 theo kiểu cổ lầu của Trung quốc. Cửa ngỏ này được cẩn bằng đồ sứ có giá trị in hình long, lân, quy, phụng, canh, mục, ngư, tiều... Tất cả đều thể hiện sự sống động vui tươi. Chùa được xây dựng theo dạng chữ Quốc của Hán tự, gồm 04 gian nối tiếp nhau: tiền đường, chánh điện, nhà tổ, nhà hậu làm bằng xi măng và gổ quí, nền đúc cao 1m, chung quanh xây tường vững chắc. Chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc dung hợp Á Âu với những hàng cột thanh mảnh vòm cong. Trên nóc chùa có năm mái nhô cao, tượng trưng cho Ngũ hành theo quan niệm phương Đông. Bộ tượng cổ nhất chùa là bộ Tam Tôn: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí bằng đồng, riêng tượng Quan Âm bị thất lạc nên đã được làm lại bằng gỗ. Đặc biệt, ở đây có bộ tượng Thập Bát La Hán cưỡi trên mình các con thú là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân Nam bộ đã tạc khá tỉ mỉ vào những năm 1909-1910. Chùa Vĩnh Tràng còn là nơi viếng cảnh của du khách phương xa, nhất là những phái đoàn nước ngoài một khi (Theo tiengiang.gov.vn) đến Tiền Giang. Cổng chùa. Nguồn: Internet

Bên trong chùa. Nguồn: Internet

bất hối

19 lophocvuive.com

địa lý - du lịch

Vòng quanh giếng nước Mỹ Tho
và thỉnh tất cả hương án, bài vị, sắc phong đem về nhà, thờ trên lầu. Đến năm 1916, dân làng Bình Tạo tìm được một khoảnh đất ở đầu đường Vòng Lớn, nay thuộc đầu cầu Rạch Miễu, dựng lại ngôi đình như trước. Mấy mươi năm trước đây tại nền “phú de” còn một cây da lớn. Nguyên tắc của “phú de” là khi thu nhận được một món đồ rơi rớt hoặc bắt được con chó chạy lạc thì phải giữ gìn nuôi dưỡng cẩn thận rồi thông báo cho người đến chuộc. Nhưng bọn quản lý thường tìm cách thủ tiêu đồ đạc và đem chó ra trấn nước làm thịt. Hàng đêm nghe tiếng chó tru trên nền đình Bình Tạo, địa điểm linh thiêng của làng nên dân đem lòng oán hận nên gọi cây cầu ở đây là cầu “trấn nước”. Kinh Nicolas theo thời gian bị bùn lấp cạn dần. Hai bên bờ cỏ lau rậm rạp. Đến năm 1927, kỹ sư người Pháp Partilény lập đề án cải tạo kinh Nicolas thành hồ chứa nước. Kế hoạch nầy chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn một, hàn kín hai đầu kinh, phá cầu Nicolais. Giai đoạn hai, thuê 300 nhân công vùng Hóc Môn, Bà Điễm, Gò Công… nạo vét và dùng xe rùa chở đất lấp các chỗ trũng trong thành phố. Kế hoạch dự định trong 7 tháng sẽ hoàn tất. Tuy nhiên, thời điểm nầy các phong trào đấu tranh của công nhân lao động đang được khởi xướng. Tại chợ Mỹ Tho nổ ra nhiều cuộc biểu tình. Do bận đối phó với tình hình trên và không có nhân công làm việc nên công trình nầy đến năm 1933 mới hoàn thành. Theo ông Phạm Văn Xuyên, ở ấp Bình Trị, xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, vào năm 1932, ông có tham gia các cuộc biểu tình ở Mỹ Tho và bị bắt phạt làm xâu một tuần. Lúc ấy giếng nước đã đào gần xong. Nhóm làm xâu của ông thực hiện công việc đẩy xe chuyển đất di nơi khác và tu sửa bờ giếng hoàn chỉnh.

thoát nước trong thành phố, giếng được tạo ra từ việc đào hoặc khoan nhằm mục đích hút nước từ tầng chứa nước dưới đất...và rất nhiều dạng khác như ao, hồ, đìa, mương, độn, trấp, bưng, lung, láng... Song cũng có trường hợp ngoại lệ, như cống Huế là lại con rạch lớn và giếng nước Mỹ Tho là một cái hồ rộng, cho nên nó trở thành địa danh độc nhất vô nhị. Giếng nước Mỹ Tho nguyên thủy là hào thành Định Tường được đào năm 1826. Đoạn hào thành nầy xưa thuộc làng Bình Tạo, tổng Thuận Trị, huyện Kiến Hưng, phủ Kiến An. Lúc chiếm Định Tường, đề phòng nghĩa quân tấn công, phía tây thành Định Tường, chính quyền thực dân đã cải tạo hào thành nầy thành kinh, đặt tên là kinh Nicolais. Khoảng năm 1883, chính quyền thực dân bắc hai cây cầu sắt kiểu Eiffel: Cầu phía trong (nay là đầu giếng nước, trên đường Ấp Bắc) tên là cầu Nicolais bắc qua đường địa hạt số 6 / Route local N06. Cầu thứ hai đoạn giữa không lót ván chỉ dành riêng cho xe lửa, gọi là cầu Hào / cầu Hào thành, nay ở đầu đường Lý Thường Kiệt. Đặc biệt ở gần vàm kinh, khoảng đường Lê thị Hồng Gấm hiện nay có một cây cầu nhỏ của bà con làng Bình Tạo, gọi là cầu “trấn nước”. Cái tên này chỉ có lớp người ở tuổi cổ lai hy mới biết. Nguyên phía tây vàm kinh Nicolais có đình Bình Tạo, trước sân đình có một cây da cổ kính. Khoảng năm 1902 vì nhu cầu khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân Pháp lấy khoảnh đất sát vàm kinh Nicolais và sông Tiền lập một ụ sửa chữa xáng. Phía trong lấy đất đình lập một “phú de” / fourrière, tức kho chứa đồ rơi và chuồng nhốt chó đi lạc. Sau đó nhờ ông chủ nhà thuốc Nguyễn Văn Tri giở ngôi đình tìm chỗ gởi và

Ngôn ngữ Nam bộ có sự phân định khá rạch ròi: Cống là chỉ hệ thống

bất hối

20 lophocvuive.com

địa lý - du lịch

Vòng quanh giếng nước Mỹ Tho
Giếng chia thành hai ô: giếng nhỏ nằm sát sông Tiền, hình vuông mỗi cạnh khoảng 150 mét. Giếng lớn phía trong hình chữ nhật, dài 800 mét, rộng 150 mét. Đầu giếng nước, sát bờ rạch Bảo Định có chợ Thạnh Trị. Ngôi chợ được lập năm 1954. Tại đây xưa có bến đò qua làng Thạnh Trị, tục gọi là bến đò Thạnh Trị. Đây cũng là khu vực dân cư sinh sống lâu đời, thời Pháp thuộc đã có nhà máy ép dầu dừa, lò heo… Quyển Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong xuất bản năm 1909 ghi “Lò heo, lò gạch tro tàn gió bay…” mô tả trận bão năm Giáp Thìn 1904. Bên bờ tây giếng nước có một khu mộ, gọi là đất Thánh tây. Trong khu nầy có nhiều ngôi mộ lính Tây chết trận, đồng thời cũng có số Việt gian được chôn bên cạnh quan thầy, được xây đủ kiểu. Trong đó có ngôi mộ đáng chú ý là ngôi mộ trung tá Bourdais, tên chỉ huy xâm lược tấn công thành Định Tường, bị đạn thần công giết chết ngày 12-4-1861 tại Trung Lương. Sau khi chiếm thành Định Tường, thực dân Pháp đã cải táng đưa xác Bourdais vào chôn giữa thành để tôn vinh. Khi chỉnh trang đô thị, đắp đại lộ Bourdais (nay là đại lộ Hùng Vương), ngày 24-6-1899, xác Bourdais lại được cải táng đưa ra đất Thánh tây. Ngoài ra để ghi công cho tên trung tá chết trận, chính quyền Thực dân còn đặt tên cho lộ chính ở Mỹ Tho là đại lộ Bourdais. Khoảng năm 1920, họ xây dựng ở cuối đại lộ Bourdais một “đài chiến sĩ”, kỉ niệm những thanh niên chết trận trong thế chiến 1914 -1918. Đài chiến sĩ nầy bị phá khoảng năm 1956 cùng lúc với việc đổi tên đại lộ Bourdais thành đại lộ Hùng Vương. Tên cầu Đài chiến sĩ vẫn còn người nhắc đến. Sau năm 1980, do yêu cầu phát triển thành phố Mỹ Tho, đám mả ở đất thánh Tây bị giải tỏa. Lúc bấy giờ người ta phát hiện nhiều ngôi mộ trống rổng, không có quan tài, thì ra bọn thực dân xây những cái mộ giả để bọn tay sai đặt tràng hoa, mặc niệm chứng tỏ lòng trung thành. Giếng nước Mỹ Tho hiện thời đã được cải tạo, không còn rộng như trước. Tuy nhiên địa danh nầy cũng đã trở thành biểu tượng văn hóa khi mọi người nhắc đến Mỹ Tho.

Đường ven giếng nước

Hoa Bò cạp vàng Tượng đài đầu giếng

Viết nhân hội thảo 330 năm ngày thành lập Mỹ Tho đại phố Nguyễn Ngọc Phan Giếng nước sáng sớm

bất hối

21 lophocvuive.com

tinh hoa ẩm thực

Vú sữa Lò Rèn
Vú sữa Lò Rèn, một trong những đặc sản của tỉnh Mỹ Tho xưa nay là tỉnh Tiền Giang.
cạnh cái lò rèn cung cấp dao, mác, xẻng, rựa, cuốc, phảng... cho nông dân trong vùng. Trong một lần đám giỗ, sui gia của anh lò rèn là ông chủ Thu - tên thật là Nguyễn Văn Thu, ở xã Vĩnh Kim kế bên - qua chơi. Thấy cây vú sữa trái sai oằn, ăn thử thì ngon ngọt, vị đậm đà, chưng lên bàn thờ thấy sang trọng vì cáimàu mỡ gà bóng loáng, hình dáng tròn lẳn rất bắt mắt, ông Thu thích quá xin giống đem về trồng. Khoảng 4-5 năm sau, dân trong vùng bắt đầu biết tới giống vú sữa ngon ngọt này và rủ nhau tìm đến nhà ông Thu xin giống. Ông Thu chiết cây ra phân phát cho mọi người. Hễ ai hỏi: “Ông lấy giống ở đâu mà ngon quá vậy?”, ông Thu đều cười chỉ tay qua hướng nhà ông Lễ: “Ở dưới ông lò rèn”. Khi xách cây giống toòng teng đem về nhà, trên đường đi gặp ai hỏi: “Vú sữa ở đâu vậy?”, những người xin được giống cũng trả lời: “Ở dưới ông lò rèn”. Cứ truyền khẩu nhau vậy riết thành quen, cái tên vú sữa Lò Rèn “chết danh” từ đó. Thưởng thức “Vú sữa vườn em căng dáng mọng, / Em dành bao (nhiêu) trái để tặng anh?”. Có lẽ chính vì sự hấp dẫn ngay từ cái tên mà vú sữa nói chung và vú sữa Lò Rèn nói riêng đã được nhiều người tìm đến, và cách thưởng thức loại trái cây này cũng mang chút thi vị. Ăn vú sữa vừa được ăn bằng mắt, ăn bằng tay, ăn bằng mũi, bằng lưỡi.. Cách ăn dân dã nhất là ăn ngay ở.. vườn. Vào những buổi trưa hè nắng nóng, trèo lên cây vú sữa tìm hái trái chín, vừa vo tròn vừa bóp đều tay cho mềm trái, rút cùi, ruột trái dâng cho phần nước trắng đục như dòng sữa mát lịm. Lõi ruột trắng trong, mềm dịu, thanh ngọt. Thịt mềm lưu lại hương vị đặc biệt. Thật thích thú khi ngồi tựa giữa chắn ba thân cây, thưởng thức hương vị của trái vú sữa, hóng gió mát đồng nội, mà nghiệm nhớ lại thời bé thơ còn ôm bầu sữa mẹ. Khi cắn, không phải cắn chỏ nào cũng được mà phải cắn ở phần ngược phía với cuống. Đó là cách ăn dân dã, còn khi đãi khách, người ta thường vắt núm trái vú sữa, dùng muỗng múc ăn dần hoặc xẻ trái thành sáu miếng, lượn dao vòng tách phần vỏ (vẫn giữ phần ruột) để trên đĩa, dùng nĩa ghim ăn từng miếng. Ngoài ra còn có cách ăn cầu kỳ khác là: gọt bỏ vỏ, thái nhỏ từ trên núm xuống (bỏ hột và cùi) cho vào máy xay sinh tố, thêm đường hoặc sữa, cacao, cho vào khuôn đá để tủ lạnh, ăn như sữa chua, hoặc trộn với đá bào, sẽ cho ta một ly sinh tố đặc biệt.

Vĩnh Kim thuộc tỉnh Tiền Giang, cách TP HCM khoảng
hơn 80Km. Cuộc sống người dân tuy không còn khổ cực nhưng văn hóa và cách sống vẫn còn đậm chất thôn quê xưa. Và một buổi sáng đẹp trời, khi bình minh thắp sáng cả khu vườn cây trái thì không thể không đi thăm thú 1 lần phong cảnh chợ quê, ngắm hoạt động nông thôn vào 1 ngày mới, và không quên thưởng thức các món ăn miền quê, đặc sản của từng vùng miền: một cái bánh giá thơm lựng với mấy con tép con con giòn rụm, một tô hủ tiếu thịt heo đậm đà béo ngậy, một ly chè bánh lọt ngọt ngào mát lạnh cho 1 ngày mới sảng khoái… và không thể không thưởng thức đặc sản riêng của vùng đất này: Vú Sữa Lò Rèn. Tên gọi Khi thưởng thức hương vị ngọt ngào của dòng sữa trắng đục tiết ra từ bầu trái căng tròn chin mọng, không ai không thắc mắc về cái tên gọi của loài trái cây này “Lò Rèn”, Chuyện xung quanh cái tên gọi của loại trái cây này cũng có nhiều giả thuyết, Theo tài liệu của Hội Làm vườn huyện Châu Thành (Tiền Giang), người tạo ra giống vú sữa này là ông Lê Văn Kỳ, một nông dân trong vùng. Năm 1932, ông Kỳ gieo hạt giống cạnh một lò rèn ở ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng. Cây lớn nhanh và cho trái thật ngọt. Sau đó ông nhân giống cho nhiều người khác trồng để phát triển rộng ra các xã Vĩnh Kim, Song Thuận, Kim Sơn... Vì xuất thân cạnh lò rèn nên bà con quen miệng gọi “vú sữa Lò Rèn” từ đó. Còn theo ông Trương Hồng Sơn - một lão nông 77 tuổi (ở ấp Vĩnh Bình, xã Vĩnh Kim), người đang lưu giữ khá nhiều tư liệu về vú sữa Lò Rèn: Người đầu tiên có giống vú sữa này là ông Ngô Ngọc Quang, thường gọi ông huyện Trụ, một địa chủ giàu có ở vùng này những năm 1920. Trong một lần nhà có tiệc, ông phát hiện những trái vú sữa có vị ngọt thanh trong số bao nhiêu của ngon vật lạ do khách mời từ các nơi đem tới. Ông giữ lấy hạt đưa mấy anh tá điền để gieo trồng. Những tá điền gieo trồng sao đó mà không thấy cây mọc, duy chỉ có anh thợ rèn tên Hồ Văn Lễ gieo là cây mọc. Nó lớn nhanh và cho trái sum sê trongtrong vườn nhà anh (ở ấp Thạnh Hòa, xã Long

bất hối

22 lophocvuive.com

Theo Du Lịch Bụi

tinh hoa ẩm thực

Hủ tíu Mỹ Tho - 50 năm danh hiệu
đầu thập niên 60, khởi đầu từ các xe, các quán hủ tiếu bên đường, ở bến xe với các tên nghe rặc Tàu như là : Phánh Ký, Vĩnh Ký, Hưng Ký, Nam Sơn, Diệu Ký, Quang Ký, Oai Ký, Gia Ký, Tuyền Ký. . . trải rộng từ Mỹ Tho đến Gò Công vào tận các quận Chợ Gạo, Cái Bè, Cai Lậy. . . Chủ nhơn các tiệm hủ tiếu Mỹ Tho lúc này hầu hết là người Việt gốc Hoa, nhưng chủ lò sản xuất bánh hủ tiếu lại là người Việt chánh gốc. Bánh hủ tiếu Mỹ Tho là loại bánh khô, được chế từ gạo thơm địa phương như gạo Nàng Hương, gạo Nanh Chồn, gạo Nàng Út và có lò dùng gạo Nàng Thơm Chợ Ðào (gạo ngon số một). Hiện nay có hai trung tâm sản xuất bánh hủ tiếu khô nổi tiếng (loại hủ tiếu Mỹ Tho): Một ở thị trấn Mỹ Tho và một ở Gò Công, sản xuất hầu hết hủ tiếu khô Mỹ Tho cung cấp cho cả nước. Sợi hủ tiếu Mỹ Tho do vậy có mùi thơm của gạo, trụng nước sôi thì mềm nhưng không bở, nhai nghe dai dai, nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua. Sau khi trụng, cho vào tô, trộn với ít mỡ hành phi, nhìn sợi hủ tiếu trong bóng, ẩn đục bên trong thấy bắt thèm. Sợi hủ tiếu Mỹ Tho không bả như hủ tiếu Tiều, làm nên hương vị riêng cho cái tên hủ tiếu Mỹ Tho; và nước lèo cũng góp phần làm cho danh tiếng hủ tiếu Mỹ Tho vang lừng, níu kéo người ăn phải ghiền. Nước lèo ở đây nấu bằng thịt ống nguyên chất, đặc biệt là có thêm tôm khô, khô mực nướng và củ cải trắng, củ cải đỏ. Ăn hết tô hủ tiếu, húp cạn hết nước

Tên hủ tiếu Mỹ Tho xuất hiện vào

nồi nước sôi, dạo lên dạo xuống mấy lượt. Xốc lên xốc xuống, cho vào tô, cho ít mỡ hành phi, trộn nhẹ cho đều, rồi cho lên mặt nào thịt, tôm, sườn. . . Múc một vá nước lèo sôi bóc khói, rưới đều vào ngập đầy tô hủ tiếu ... Nhìn theo động tác, thực khách phải ba lượt nuốt nước miếng để dằn cơn thèm muốn trần tục. Tô hủ tiếu Mỹ Tho bự hơn hủ tiếu Tiều, nên vừa có phẩm vừa có lượng. Ăn một tô là vừa đủ không cần ăn thêm gì nữa. Sau khi ăn hủ tiếu, giải khát bằng trà nóng, trà đá hoặc cà phê đá thì đã miệng và đã khát. Dọc đường Trưng Trắc đến vườn bông Lạc Hồng, ngược qua cầu Quây vào Chợ Cũ, nơi nào có hủ tiếu Mỹ Tho thì khách ra vào “nườm nượp”, không có ghế ngồi. Mỗi nơi, mỗi tiệm chủ thêm bớt gia giảm khác nhau tùy theo “ngón nghề gia truyền”. Sự khác nhau chỉ là một chín, một mười và người ăn khó phân biệt. Hủ tiếu Mỹ Tho với tên gọi đến nay trên 50 năm đã làm nên danh hiệu. Nay hủ tiếu Mỹ Tho trở thành thương hiệu làm cho người Mỹ Tho hãnh diện.Cái làm cho hủ tiếu Mỹ Tho trở thành danh tiếng là nước lèo và hủ tiếu khô. Chính điều đó làm cho hủ tiếu Mỹ Tho khác hủ tiếu Tiều và giờ đây trở thành một món ăn dân tộc, mà người Mỹ Tho đã cống hiến cho ẩm thực Việt Nam .

lèo, nếu chưa thấy đã, thực khách có thể kêu thêm một chén nước lèo nữa và luôn được chủ chiều lòng, không có hề gì. Các món phụ gia góp phần làm nên danh hiệu hủ tiếu Mỹ Tho là giá sống, chanh, ớt, hẹ, nước tương (sau này còn có thêm rau cần). Ăn hủ tiếu dai Mỹ Tho với giá sống, chút hẹ cắt khúc, nặn miếng chanh, thêm chút nước tương và nhớ cắn trái ớt hiểm thì mới “tới chỉ”, mới gọi là biết ăn hủ tiếu Mỹ Tho.Hủ tiếu Mỹ Tho nấu với thịt heo bầm, có điểm con tôm thẻ, lột xẻ đôi, có người đòi thêm đồ lòng heo, sườn heo và trứng cút nữa. Hủ tiếu Mỹ Tho như vậy quả không thấy hơi hám gì của người Tàu cả, mà rặc là hủ tiếu Việt Nam. Ghé Mỹ Tho, phải tìm đến mấy quán hủ tiếu trên đường Trưng Trắc, dọc bờ sông thì mới đúng là hủ tiếu Mỹ Tho chánh gốc. Kêu một tô hủ tiếu Mỹ Tho, ngồi nhìn người chủ trổ tài, thao tác thành thạo mà thấy đã. Ngắt một nhúm hủ tiếu khô, chỉ một lần không thêm không bớt, nhét sâu vào cái vợt cán tre, trụng vào

Trần Văn Chi

bất hối

23 lophocvuive.com

phỏng vấn chuyên gia

Bảo tồn những dấu ấn xưa
Lê Ái Siêm, Nhà thơ, Thạc sĩ khoa học lịch sử, hiện là giám đốc bảo tàng tỉnh Tiền Giang. Quê Quán: Quảng Trị, đã sống và làm việc tại Mỹ Tho hơn 30 năm
Khắc Huy: Chào bác, bác đã sống ở Mỹ Tho bao nhiêu năm? Ths Lê Ái Siêm: Tôi sống ở Mỹ Tho từ tháng 4 năm 1981, đến tháng 9 này (tháng 9 năm 2011) đúng 30 năm 5 tháng, chiếm hơn một nửa thời gian tôi đã và đang sống. Vì tháng 12 này tôi tròn 58 tuổi. Khắc Huy: Bác đã tham gia nghiên cứu những vấn đề nào ở Mỹ Tho? Ths Lê Ái Siêm: Tôi ở dạng... nghiên cứu “xà bần”, lĩnh vực nào bất chợt thấy thích thì nhào vô. Văn hóa thì nhiều thứ quá, đụng vào thứ gì cũng là văn hóa. Tôi tốt nghiệp chuyên ngành khảo cổ học, bảo vệ thạc sĩ khoa học lịch sử, làm việc ở ngành văn hóa, lại thích văn chương thơ phú (là nhà thơ), thành ra … thích đủ thứ, nghiên cứu hằm bà lằn. Khắc Huy: Theo bác, vai trò của người Hoa ở Mỹ Tho có ảnh hưởng như thế nào đối với lịch sử và văn hóa vùng này? Ths Lê Ái Siêm: Vùng Mỹ Tho từ những thế kỷ đầu Công nguyên thuộc vương quốc Phù Nam, do một thuộc quốc là Khmer nổi lên đánh chiếm, vương quốc Phù Nam sụp đổ, người Khmer chiếm giữ, nhưng do là vùng thấp, bị ngập nước, người Khmer để thành hoang vu. Từ đầu thế kỷ XVII, người Việt từ vùng Ngũ Quảng (vùng miền Trung từ Quảng Bình trở vào) khẩn hoang. Như thế, cuộc khẩn hoang vùng Mỹ Tho là do người Việt. Đến năm 1679, Dương Ngạn Địch – một tướng chống nhà Thanh nhằm khôi phục nhà Minh ở Trung quốc bị nhà Thanh đàn áp, biết không trụ nổi, đã đem thân nhân và binh lính sang Việt Nam tỵ nạn, được nhà thân nhân và binh lính sang Việt Nam tỵ nạn, được nhà Nguyễn cho vào vùng Mỹ Tho sinh sống. Họ đến vùng Mỹ Tho khoảng hơn 1.500 người, do có tàu thuyền, thuận về buôn bán, người Hoa vùng này lập thành một chợ lớn để buôn bán với các địa phương trong vùng và buôn bán với thương lái ở nước ngoài như Campuchia, Trung Quốc, Phi-líp-pin, Thái Lan… Chợ Mỹ Tho được gọi là “Mỹ Tho Đại phố” hay “Phố lớn Mỹ Tho”. Tuy nhiên, việc buôn bán về sau cũng được người Việt tham gia mạnh mẽ, tạo cho Mỹ Tho thành một nơi sầm uất nhất vùng châu thổ. Năm 1785, trận Rạch Gầm – Xoài Mút nổ ra (Mỹ Tho được quân của Tây Sơn chọn làm tổng hành dinh để chỉ huy trận phục kích chiến lược nhằm kết thúc cuộc kháng chiến chống Xiêm La của nhân dân Nam Bộ). Đây là trận thủy chiến lớn nhất của xứ Đàng Trong, tiêu diệt gần 5 vạn quân Xiêm. Mỹ Tho cũng thành bãi chiến trường. Chợ Mỹ Tho bị cháy gần hết. Người Hoa hoảng sợ, hơn một nửa kéo nhau về Sài Gòn làm ăn, Mỹ Tho vì thế mà mất vị trí trung tâm. Số người Hoa còn lại ít dần, vào đầu thế kỷ XX có bổ sung thêm một số người Hoa, thành lập được 5 Ban, có trụ sở là các chùa Ông của người Hoa tại các phường của Mỹ Tho. Do thạo nghề kinh doanh, buôn bán với nhiều nước trong khu vực, người Hoa đã có những đóng góp to lớn trong việc phát triển đô thị, phát triển ngành nghề nhằm phục vụ cho việc trao đổi hàng hóa, đặc biệt là các ngành nghề thủ công. Người Hoa đem tới Mỹ Tho một món ăn tạo ra thương hiệu, đó là Hủ tiếu Mỹ Tho. Sự sầm uất của Mỹ Tho từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX không thể không nói đến vai trò của người Hoa. Họ là những bậc thầy trong kinh doanh hàng hóa. Con người ta tiến bộ nhờ hàng hóa (sản phẩm khoa học cũng là hàng hóa), nhờ trao đổi hàng hóa mà cuộc sống tốt hơn, văn hóa phát triển hơn, giao thương rộng rãi hơn, tính chất “mở” trong văn hóa được rộng hơn, tiến bộ nhanh hơn. Mỹ Tho có được vị trí đặc biệt của vùng châu thổ sông Cửu Long trong nhiều thế kỷ, một phần nhờ đô thị hình thành và phát triển sớm, mà sự hình thành đô thị ấy có sự đóng góp to lớn của người Hoa. Khắc Huy: Theo bác, di tích nào ở Mỹ Tho là tiêu biểu nhất cho quá trình hình thành và phát triển nơi đây? Ths Lê Ái Siêm: Nói di tích tiêu biểu nhất của Mỹ Tho là rất khó. Cũng như nói sản phẩm nào là tiêu biểu nhất

bất hối

24 lophocvuive.com

phỏng vấn chuyên gia

Bảo tồn những dấu ấn xưa
của Tiền Giang? Thật khó trả lời. Nhưng nếu xét từng khía cạnh thì có thể có những di tích tiêu biểu. Theo tôi. Về sự có mặt của người Hoa thì Chùa Ông Phường 8 (gần Chợ Cũ) là di tích của Mỹ Tho Đại Phố còn lại. Về văn hóa Việt thì có đình Điều Hòa (làng Điều Hòa là làng trung tâm của Mỹ Tho, có rất nhiều người nổi tiếng sinh trưởng tại đây như họa sĩ Nguyễn Sáng, nghệ sĩ Phùng Há…), chùa Bửu Lâm hình thành từ đầu thế kỷ 19, trường Nguyễn Đình Chiểu – ngôi trường trung học đầu tiên do chính quyền thực dân xây dựng (năm 1879 - Năm này do trường Nguyễn Đình Chiểu công bố, theo tôi cần xem lại). Còn dấu ấn thời kỳ xây dựng CNXH tôi xin nhường cho thế hệ trẻ nghiên cứu. Khắc Huy: Việc bảo tồn các di tích theo bác đã được thực hiện hiệu quả chưa? Ths Lê Ái Siêm: Bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa là vấn đề khoa học. Chúng ta đã làm được một số việc để không làm mất đi di tích. Một số di tích được tu bổ khá như chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, đình Điều Hòa. Nhưng, ngược lại chúng ta cũng làm mất đi một số di tích quan trọng, như xây dựng trung tâm thương mại Mỹ Tho (bà con gọi là siêu thị Mỹ Tho) làm mất Nhà Việc làng Điều Hòa – tức Trụ sở UBND Tp Mỹ Tho cũ trên đường Lê lợi (nhà việc đầu tiên của Mỹ Tho), như xây dựng siêu thị sách Thành Nghĩa làm mất nhà hát của Bạch Công Tử (rạp Mỹ Tho xưa), những di tích ấy có thể khai thác du lịch được và là niềm tự hào của cư dân Mỹ Tho đấy, đã bị mất. Còn một số di tích khác nữa cũng bị mất. Tiếc quá! Khắc Huy: Bác thấy nuối tiếc điều gì nhất trong quá trình bảo tồn và nghiên cứu các vấn đề ở Mỹ Tho. Khắc Huy: Cám ơn bác đã dành thời gian cho LHVV. Ths Lê Ái Siêm: Mỹ Tho là quê hương của cải lương, là nơi có ga cuối của đường xe lửa đầu tiên Đông Dương, nhưng rạp Thầy Năm Tú Ths Lê Ái Siêm: Giới trẻ thời nay (thời hội nhập kinh tế quốc tế) dường như đang quan tâm nhiều đến việc làm, thu nhập, mà ít quan tâm đến gìn giữ bản sắc văn hóa, bản sắc địa phương, cũng là điều dễ hiểu, bởi ai cũng thi nhau làm giàu. Kết quả thi vào đại học ở môn sử đã là câu trả lời. Nhưng tôi tin đến một lúc nào đó, khi bị mất mát quá nhiều, con người mới tỉnh ngộ, họ sẽ nâng niu di sản của cha ông. Khắc Huy: Cuối cùng, bác có nhận xét gì về mối quan tâm của giới trẻ đối với văn hóa lịch sử địa phương? Ths Lê Ái Siêm: Nói chung, ngày xưa các cụ Mỹ Tho tự quảng bá cho mình bằng thương hiệu “Hủ tiếu Mỹ Tho” mà nghe tên ai cũng biết, thương hiệu ấy tới tận nước ngoài. Ngày nay tôi thấy Mỹ Tho chưa có sản phẩm nào cho thiên hạ biết. Còn Bảo Tàng Tiền Giang là bảo tàng của tỉnh đóng trên địa bàn Mỹ Tho, chỉ có thể giới thiệu những gì Mỹ Tho có. Mỹ Tho xưa thật đáng nể. Nay là đô thị loại hai nhưng xem ra chậm phát triển, theo ngôn ngữ dân gian là “không sung”. Các di tích lịch sử văn hóa do Ban quản lý di tích tỉnh Tiền Giang trực thuộc Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nên Bảo tàng không “xía” vào. Về phía Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang, mà tôi là thành viên, năm 2009 có tổ chức cuộc hội thảo khá hoành tráng nhân kỷ niệm 330 đô thị Mỹ Tho, đó cũng là một cách quảng bá. Tuy nhiên, để quảng bá hình ảnh Mỹ Tho thì phải bằng nhiều cách khác nữa. Khắc Huy: Mỹ Tho nói chung và Bảo tàng nói riêng có bước đi nào để quảng bá cho Mỹ Tho bằng các giá trị lịch sử văn hóa chưa? (sau này là rạp Tiền Giang) là rạp cải lương đầu tiên của Việt Nam gần như bỏ không. Đến Mỹ Tho không thấy dấu vết của ga xe lửa đâu cả. Ga này nay còn nhà điều hành gần tượng Thủ Khoa Huân, nhà ga ở trước tượng.

Khắc Huy thực hiện

bất hối

25 lophocvuive.com

phỏng vấn thành viên

Unpaper - Thích Huế, thương Huế,... nhất là con gái Huế
Một phút phỏng vấn vui:
Ba Phải: Mời bạn giới thiệu một chút về bản thân. Unpaper: Mình là Lê Tuấn, hiện ở xứ người, cao 1m77, nặng xx kí và không có ý định... giảm cân. Ba Phải: Trên người bạn, bạn tự tin nhất bộ phận nào? Unpaper: Tự tin? Chắc là cái bụng / bao tử mình, thử được nhiều món ngon, món ngoài vỉa hè mà ít khi... bị đau bụng. Ba Phải: Theo bạn, cái gì của bạn là bự nhất? Unpaper: Chắc là tính hay hoài cổ của mình. Selina: Unpaper có thể kể một chút về "duyên nợ" của mình với LHVV không? Unpaper: Em cũng đã nói một số điều ở trên. Em thích Unpaper: Thằng em họ mình giới thiệu mình vào thôi. Hồi đó mình với nó hay gửi nhau mấy cái link về Sài Gòn xưa, nó thấy mình thích lịch sử nên giới thiệu mình trang này. Mình đọc thấy hay quá mới quyết tâm tìm cho ra admin, sau đó thì hân hạnh quen được nhiều anh chị và các bạn trong ban quản trị. Vitkon_xauxi: Tại sao em lại yêu Huế đến thế? Unpaper: Huế nó rất lạ, rất riêng, rất đặc biệt. Có 1 câu thơ về Huế là "Con sông dùng dằng con sông không chảy - Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu". Câu này em thấy áp dụng cho Huế và cả người Huế (và con gái Huế). Nhiều người nói "người ta chỉ tới Huế một lần rồi không quay lại" vì đối với nhiều người, "Huế chả có gì!". Nhưng Huế nó hay chỗ là mình phải tìm tới nó chứ nó không tìm tới mình. Vitkon_xauxi: Vậy con gái Huế có là mục tiêu để em lấy Người ta hay nói “Huế mộng Huế mơ”. Trong khi xã hội thay đổi nhiều, nhất là ở Hà Nội và Sài Gòn, thì Huế vẫn vậy, vẫn rất Huế, vẫn “Dạ thưa xứ Huế bây chừ.. vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”. Có người nói em “nếu không có Huế thì không có Trịnh Công Sơn”. Người Huế lớn lên bên sông Hương, núi Ngự, với những chiều đi café ngồi nghe nhạc Trịnh, với những chiều buồn mà lòng người cũng nghệ sỹ, cũng sâu lắng. Ở Huế người ta không thấy sự bon chen mà chỉ thấy sự nhẹ nhàng, thư thả, tận hưởng những cái đẹp của cuộc sống. Unpaper: Hè vừa rồi về Huế thì được các bạn ở Huế dẫn đi chơi nên em có 1 ấn tượng rất tốt về Huế và con gái Huế. Con gái Huế có vẻ rất sâu sắc so với lứa tuổi của họ, và nọ rất nề nếp gia giáo. Người ta nói tại Huế nhỏ, ai làm gì thì mọi người xung quanh sẽ biết hết, nên ai cũng cố giữ cái danh dự, danh giá cho bản thân (nhất là con gái Huế). Con gái Huế bây giờ thực sự cũng không còn như con gái Huế truyền thống, vì xã hội đổi thì con làm vợ trong tương lai? sự “bí ẩn” của Huế, càng tìm hiểu thì càng thấy mình không biết gì về Huế. Huế có nhiều chỗ như Đền thờ nhà họ Nguyễn Tất, họ Hồ, đền thờ Lê Văn Duyệt – Lê Gia Trang, đền thờ Đức Thánh Trần... Em thích nói chuyện với người Huế vì họ rất sâu sắc, luôn làm cho em phải suy nghĩ,… Nhiều người em tiếp xúc ở Huế rất có văn hóa, lịch sự, từ cô hàng nước tới chú giữ xe, tới cô ngồi văn phòng Việt Nam airlines, tới bà hậu duệ ông Trần Hưng Đạo (em tới viếng đền thánh, bà đã mời em vào nhà uống trà, hỏi chuyện…). Những ông cụ ở Huế thì biết rất nhiều, kiến thức rất rộng, như tự điển sống vậy.. Em cảm thấy Huế như 1 cái xứ còn sót lại từ quá khứ, nơi những giá trị truyền thống của dân tộc còn hội tụ lại. Khi người Hà Nội không còn “dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”, người Sài Gòn thì dân tứ xứ hội tụ thì Huế vẫn còn cái gì đó rất “cố đô”. Vitkon_xauxi: Em thích điều gì ở Huế nhất?

bất hối

26 lophocvuive.com

phỏng vấn thành viên

Unpaper - Thích Huế, thương Huế,... nhất là con gái Huế
kháng chiến, triều Quang Trung thống nhất đất nước, và ngay cả triều Nguyễn cũng rất hay... Mr Unu: Theo em nguyên nhân do đâu mà giới trẻ quay lưng lại với các ngành xã hội nói chung và sử học nói riêng?

người cũng phải đổi theo thôi. Nhưng con gái Huế bây giờ vẫn còn rất dịu dàng, rất “con gái Việt Nam”, nói chuyện lại rất khôn ngoan, sâu sắc… Nhưng mà em làm thích làm bạn thôi, còn vợ thì chuyện duyên nợ thôi. Mr Unu: Em kỳ vọng gì vào LHVV ?

Unpaper: Em nghĩ cách giảng dạy lịch sử trong trường Unpaper: Em muốn LHVV xuất bản ra tạp chí giấy mỗi tháng. Em muốn cứ mỗi tháng là học sinh lại kéo đi mua tạp chí LHVV như là kéo đi mua 2! hay Sinh Viên gì gì đó. Em muốn LHVV phát triển thành 1 tổ chức chính thức, được sự hỗ trợ của nhà nước để có thể lan truyền văn hóa lịch sử VN tới nhiều nơi hơn… Mr Unu: Em có thể cho vài nhận xét ngằn gọn về Lịch sử Việt Nam? Unpaper: Lịch sử Việt Nam trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước đã để lại cho thế hệ sau nhiều bài học đáng giá, một số có phần đau thương… Nhưng lịch sử thì ai cũng phải nên biết để biết trân trọng xương máu của những người đi trước, và để không phạm lại những bài học đau thương trong lịch sử một lần nữa… Mr Unu: Ngày xưa em có khó khăn gì khi học sử không? Unpaper: Haha ngày xưa em học Sử học thuộc lòng để trả bài thôi ạ, chứ cũng chẳng yêu thích gì môn đấy... Mr Unu: Em thấy sử Việt có hấp dẫn không? Em thích giai đoạn nào của sử Việt nhất? Unpaper: Rất hấp dẫn là đằng khác, nhất là những câu chuyện mà ít người biết tới như chuyện đấu đá trong cung cấm hồi Lệ Chi Viên, hay thời kỳ chính trị phức tạp của Trịnh Nguyễn phân tranh, hay lúc giao thời với sự xâm nhập của phương Tây giữa thời nhà Nguyễn… Những câu chuyện, tích nhỏ như sự tích chúa Chổm, chuyện tình vua Duy Tân, thời kỳ Tôn Thất Thuyết – Nguyễn văn Tường lập vua – phế vua – tổ chức chống Pháp,… cũng rất thú vị… Em nghĩ mỗi triều đại có cái hay riêng: triều Lý dựng nước, dời đô, triều Trần hưng thịnh, triều Hậu Lê 10 năm học còn hơi nhàm chán. Cách truyền đạt lịch sử của sách giáo khoa không tạo cho người học được sự tự hào là người Việt Nam, tự hào ông cha mình ngày xưa đã từng viết nên những trang lịch sử như vậy. Ngày xưa Lê Lợi nếm mật nằm gai cả 10 năm mới thắng được giặc Minh, nhưng cách dạy lịch sử không nhấn mạnh vào cái 10 năm dài đằng đẵng đó, cái khoảng thời gian bằng 1/6 cuộc đời con người đó… Thay vào đó chương trình lại nhấn mạnh Lê Lợi giết chết bao nhiêu giặc Minh, vào ngày tháng năm nào, giặc Minh chết thê thảm ra sao… Ca ngợi chiến thắng không phải là một điều sai, nhưng hãy kể thêm nhiều câu chuyện (kể, chứng tỏ chứ không phải nói suông) để thế hệ sau biết cha ông đã gian khổ ra sao mới chiến thắng được giặc… Thêm nữa là đồng lương cũng như cơ hội làm việc tốt cho sinh viên theo đuổi những ngành đấy không nhiều, nên nhiều người đành chọn ngành khác. Một khi ít người theo ngành xã hội / lịch sử, khả năng có những sáng kiến tu duy để thay đổi cách dạy / truyền đạt sẽ rất ít, mà không phải ai muốn thay đổi cũng được… cần những người có tâm huyết lên làm ra những thay đổi… Mr Unu: Em có mơ ước vào Quốc Hội, nếu ước mơ đó thành hiện thực, em sẽ làm gì ? Dự định thì có nhiều dự định, như những vấn đề xã hội và kinh tế, nhưng một trong những điều em ấp ủ nhất là xóa bỏ kỳ thị vùng miền. Nếu xóa bỏ được kỳ thị vùng miền thì sẽ đoàn kết được người Việt Nam hơn. Và nếu ai đó đúng khi nói “Việt Nam mình mà đoàn kết thì không thua ai cả…” thì lúc đấy VN sẽ rất phát triển… Mr Unu: Rất cám ơn em đã tham gia và “mở hàng” cho mục Phỏng vấn thành viên.

bất hối

LHVV thực hiện. Mời bạn xem chi tiết hơn tại: http://tinyurl.com/3wyo7xw

27 lophocvuive.com

chuyện xưa - tích cũ

Một vòng Mỹ Tho
Tháp nước Hai tháp nước ở đầu đường Clémenceau, bây giờ là đường 30.4 gấn cầu bắc cũ, một bằng sắt trên 120 năm, một bằng bê tông cốt sắt cũng gần 80 năm, trước kia có tác dụng dùng áp suất tự nhiên đưa nước cung cấp cho cả thành phố, bây giờ không còn sử dụng nữa, nhưng cũng là một di sản kiến trúc đáng gìn giữ. Quang cảnh rất tầm thường với người vô tình, nhưng nếu là một cư dân Mỹ Tho có dịp lên cầu Bắc vào lối 3, 4 giờ khuya nhất là vào mùa thu, nhìn con trăng lơ lửng trên nền trời đêm mông lung sương khói, treo chênh chếch trên tấm cao của hai tháp nước. Khách thừa nhàn với cái lành lạnh se da nhìn lên, trời trăng hòa quyện trong ngọn gió nhẹ của dải trường giang giữa đêm khuya tĩnh vắng, thì suốt đời không bao giờ quên được cảnh nên thơ nầy. Thảo nào khi hòa bình trở lại tôi có gặp một người Pháp lớn tuổi đã từng làm việc ở Mỹ Tho nay trở lại thăm chốn cũ. Tôi hỏi ông khi vế Pháp, cái gì làm cho ông nhớ Mỹ Tho nhất. Ông bảo: - Chẳng phải nhớ mà thôi, đối với tôi còn là một mối tình hoài hương. Đó là hai cái tháp nước. (Non seulement un souvenir, mais plutôt un sentiment nostalgique: les deux châteaux d’eau). Tháp nước kiểu nầy ở Phan Thiết vẫn còn và được địa phương xem là biểu tượng của thành phố. Thiên truyện chưa kịp ráo mức thì một chuyện không vui cho số phận của tháp nước Mỹ Tho. Đó là ngày 10 tháng 1 năm 2010, ngày cáo chung của tháp nước Mỹ Tho, nó đã bị phá hủy sau 100 năm hiện diện nơi mảnh đất nầy. Cầu Quay Cầu Quay Mỹ Tho nguyên thủy là một công trinh Eiffel. (Kiến trúc sư, tác giả tháp Eiffel và hầu hết các công trình kiến trúc bằng sắt thép ở Pháp cũng như ở Việt Nam trong đó có cầu xe lửa Bến Lức, Tân An, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa… và cầu Quay nguyên thủy của Mỹ Tho.) Cầu Quay Mỹ Tho là một cồng trình độc đáo không những ở Việt Nam mà cả thế giới cũng không mấy chiếc có lối kiến trúc nầy. Cây cầu nầy xây cất trước thế kỷ XX hoàn toàn bằng sắt có đặc điểm là nhịp giữa có 2 đoạn rời nhau, khi hạ xuống là xe cộ và người ta qua lại. Khi cần là hai đoạn của nhịp giữa được tách ra và cất lên cao như nóc nhà để có độ cao cho tàu bè qua lại. Cũng nên biết qua trước khi có bê-tông cốt sắt, thép, ngoài gạch đá…các công trinh đều được thực hiện bằng sắt thép. Công ty Eiffel là bậc thầy trong thế giới về công trình nầy. Xin nêu ra những mô hình cầu bằng sắt thép trên thế giới cách nay vài thế kỷ để thấy Mỹ Tho ta cũng có được một công trình độc đáo như vậy. Cầu Quay Mỹ Tho theo lối mở lên cao như đã trình bày, lẽ ra không gọi là cầu quay mà gọi là cầu mở (pont ouvert). Còn hệ thống cầu Tower bridge, Cầu Tháp qua sông Thames ở Luân Đôn có đặc điểm là nâng nhịp giữa được nâng lên cao đồng bộ do hai tháp hai bên, khi tàu bè qua lại thuộc loại cầu nâng (pont levant). Một loại cầu sắt nữa là hai nhịp giữa nằm cân đối trên mỗi trụ hai bên, khi tàu qua, hai nhịp đó được vận chuyển xây ngang do một trục ở giữa. Loại cầu nầy mới chính là cầu quay (pont tournant). Vẫn còn một loại cầu nữa gọi là cầu tàu (pont de bateaux) không phải cầu cho tàu đậu, mà vẫn là một chiếc cầu bắc sang sông, nhưng nhịp giữa thay vì nằm trên cột cầu, trái lại nằm trên hai chiếc tàu, mỗi bên một chiếc thế cho cột cầu đỡ 2 nhịp cầu, khi có tàu qua lại, hai chiếc tàu nầy nổ máy chở theo 2 nhịp giữa tách khỏi cầu mẹ, nhường chỗ cho giao thông, xong trở lại vị trí cũ cho xe cộ qua lại. Cây cầu Quay sập vào năm 1938, được xây cất ngay sau đó bằngbê tông cốt sắt và đến năm 1985 được phá đi và xây cất lại cũng bằng bê tông cốt sắt, dù vậy vẫn còn mang tên Cầu Quay khiến cho những người lớn tuổi chạnh nhớ đến cây cầu Quay ngày xưa.

bất hối

Chùa Cao Đài

28 lophocvuive.com

chuyện xưa - tích cũ

Một vòng Mỹ Tho
Đạo Cao đài ở Mỹ Tho có nhiều Thánh Thất và chia ra hai phái, một phái thờ Thiên Nhãn như chùa Cao đài đường Lý Thường Kiệt, và một phái Chơn lý thờ Trái Tim, như chùa Cao đài ở ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong. Ngôi chùa nầy là ngôi chùa Cao đài cổ nhất ở Mỹ Tho do ông Đốc phủ Ca sáng lập. Nhà thờ Trước khi người Pháp đến, Mỹ Tho đã có những người theo đạo Thiên Chúa rồi. Có nhiều di tích chứng tỏ đạo Thiên Chúa đã có mặt từ lâu ở vùng Ba Giồng, Nhị Quí, trên 300 năm tính đến nay. Sau khi người Pháp đến những nhà thờ đầu tiên đã có ở Thủ Ngữ (Xuân Đông, Chợ Gạo), ở Bình Tạo (Phường 6 ) nhưng Mỹ Tho thì chưa có. Mãi đến nam 1866, 67 mới có một ngôi nhà thờ bằng cây lợp tranh cất gần chợ Mỹ Tho hiện giờ, sau đó dời đi mấy lượt cuối cùng về xây cất tại đường Bourdais (Hùng Vương) nhưng không phải ở vị trí hiện tại mà bên kia đường đó là nhà thờ Thánh Tâm. Năm 1904, bão năm Thìn tàn phá nhà thờ nầy nên sau đó được xây cất lại bên kia lộ Bourdais trên mặt bằng hiện nay, với qui mô lớn và từ đó trở thành Nhà Thờ Chánh tòa của họ đạo Mỹ Tho. Chùa Ông Những ngôi chùa Ông người Hoa ở Mỹ Tho tính theo thời gian gồm có: 1.- Ngôi chùa Ông cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức thuộc Ấp Mỹ An (Mỹ Phong) xây cất trong thời Dương Ngạn Địch, đây là ngôi chùa Ông cổ nhất Mỹ Tho, dành cho người Phước Kiến và người Triều Châu. Bên cạnh ngôi chùa Ông nầy còn có ngôi chùa Bà, gọi là chùa Bà Kim Hoa xây cất sau nầy cũng của người Hoa. Những người đi lễ ngôi chùa Bà nầy thường là phụ nữ vì theo tín ngưỡng, họ đến lễ chùa nầy với mục đích cầu tự. 2.- Ngôi chùa Ông đường Đinh Bộ Lĩnh thuộc Phường 3 dành cho người Hải Nam. 3.- Ngôi chùa Ông đường Trưng Trắc Phường 1 dành cho người Quảng Đông. 4.- Ngôi chùa Ông đường Ấp Bắc Phường 5 dành cho người Hẹ. Ngôi chùa nầy chỉ mới xây cất vào năm 1969 mà thôi. 5.- Còn một ngôi chùa mà ít ai biết vì nó là một ngôi chùa “nghèo” lại ở trong Hốc Đùn ấp 5 xã Đạo Thạnh, nhưng nó lại là một ngôi chùa cổ. Một huyền thoại, xin nói chỉ là một huyền thoại thôi, là vào năm 1968, B52 bỏ bom ở Hốc Đùn gây một hố to hơn cái đìa, nhà cửa cây cối san thành bình địa. Ngôi chùa Ông nầy chỉ cách nơi bom nổ vài trăm mét, sườn, nóc, vách chùa đều đổ cả thế mà tượng Ông vẫn còn đứng yên. Đến nay người dân trong xã đã xây dựng lại khá khang trang. Về cái tên Mỹ Tho Sách sử cũng như các nhà viết sử đương đại cũng đã nói nhiều về địa danh Mỹ Tho. Dường như tất cả cũng cùng một ý niệm là Mỹ Tho bắt nguồn từ phương ngữ gốc Khờ me như Mê Sor biến thể thành Mỹ và Tho qua người Việt, có nghĩa là xứ có người con gái da trắng, đẹp. Từ đó Mỹ, vốn dĩ từ chữ Hán là đẹp, nhưng từ Tho không có trong chữ Hán nên có lối viết khác nhau qua chữ Nôm, có hai lối viết, để chỉ vùng nước thơm hay cỏ thơm.

Theo tác giả Mặc Nhân TVC

bất hối

29 lophocvuive.com

i ố H t ấ B

g h - ẩm ạn lịc m du rên sử í t ịch ch - l ạp hóa t m g
n h ăn Na V t i du bổ íc ộ ệ g n i lạ, Vi n hữ , mớ ới n dẫn v p hấ

c hự t

Chủ đề: Mỹ Tho Đại Phố
Bản quyền © 2011 - Lớp học Vui vẻ

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful