Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS

LỜI CẢM ƠN
Có thể nói đây là một đề tài rất mới và cũng rất khó. Nhưng với sự nỗ
lực của bản thân và trên hết là sự chỉ bảo và tận tình hướng dẫn của PGS,
TS Nguyễn Kim Giao em đã hoàn thành luận án này. Vì vậy lời đầu tiên em
xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ chỉ bảo và hướng dẫn của
thầy.
Ngoài ra em cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong
Khoa Điện Tử Viễn Thông - trường Đại học Công Nghệ - Đại học quốc gia
Ha Nội đã giảng dạy và tạo môi trường tôt cho em nghiên cứu và học tập.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học cùng khoá K49
những người luôn sát cánh bên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như
trong thời gian làm khoá luận tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Đinh Mạnh Hải
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 1
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
TÓM TẮT NỘI DUNG
Vấn đề RWA hiện nay rất được quan tâm nghiên cứu với một số
lượng công trình đáng kể đã được công bố. Với cùng một cấu trúc vật lý,
bằng các phương pháp định tuyến và gán bước sóng hợp lý trong cấu trúc
mạng quang cho ta truyền được lưu lượng cao và mang lại hiệu quả sử
dụng băng tần cũng như chất lượng dịch vụ
Luận văn trình bày tổng quan về chuyển mạch nhãn đa giao thức
MPLS và chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quátGMPLS.
Trên cơ sở một số giải pháp điển hình cho bài toán RWA, luận văn đã
xây dựng được mô hình mô phỏng các bài toán đã đề xuất bằng OMNET++
cho mạng quang thông minh ION.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 2
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
MỤC LỤC
Lời cảm ơn .....................................................................................................
Mục lục.............................................................................................................
Thuật ngữ viết tắt.............................................................................................
Lời mở đầu
..........................................................................................................................
1
Chương 1:Tổng quan về công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức
MPLS và GMPLS
..........................................................................................................................
3
11. Giới thiệu
..........................................................................................................................
3
1.2. Công nghệ IP
..........................................................................................................................
4
1.3. Công nghệ ATM
..........................................................................................................................
4
1.4. Công nghệ MPLS
..........................................................................................................................
6
1.4.1. Các khái niệm cơ bản MPLS
..........................................................................................................................
9
1.4.2. Thành phần cơ bản của MPLS
..........................................................................................................................
11
1.4.3. Các giao thức sử dụng trong MPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 3
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
..........................................................................................................................
11
A. Giao thức phân phối nhãn (LDP)
..........................................................................................................................
12
B. Giao thức RSVP
..........................................................................................................................
24
C. Giao thức CR – LDP
..........................................................................................................................
29
D. Giao thức MPLS – BGP
..........................................................................................................................
30
1.5.Công nghệ GMPLS
..........................................................................................................................
30
1.5.1.Nhãn tổng quan của GMPLS
..........................................................................................................................
31
1.5.2.Bộ giao thức GMPLS
..........................................................................................................................
32
Chương 2: Giới thiệu bài toán định tuyến và gán bước sóng trong
mạng quang....................................................................................................
..........................................................................................................................
33
2.1. Giới thiệu
..........................................................................................................................
33
2.2.Các loại bài toán RWA
..........................................................................................................................
34
2.2.1. Thiết lập luồng quang tĩnh (SLE)
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 4
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
..........................................................................................................................
34
2.2.2. Thiếp lập luồng quang động (DLE)
..........................................................................................................................
34
2.3.Các phương pháp giải quyết bài toán
..........................................................................................................................
34
2.4.Cơ sở lý thuyết
..........................................................................................................................
35
2.4.1. Giới thiệu lý thuyết đồ thị
..........................................................................................................................
35
2.4.2. Giải thuật Dijkstra
..........................................................................................................................
35
2.5. Bài toán RWA trong thiết lập luồng quang tĩnh (SLE)
..........................................................................................................................
36
2.6. Bài toán RWA trong thiết lập luồng quang động (DLE)
..........................................................................................................................
37
2.6.1. Bài toán định tuyến
..........................................................................................................................
38
A. Định tuyến cố định
..........................................................................................................................
38
B. Định tuyến thay thế cố định
..........................................................................................................................
38
C. Định tuyến thích nghi dựa trên thông tin tổng thể
..........................................................................................................................
39
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 5
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
D. Định tuyến thích nghi dựa trên thông tin cục bộ
..........................................................................................................................
43
2.6.2. Bài toán gán bước sóng
..........................................................................................................................
47
A. Thuật toán gán bước sóng theo thứ tự bước sóng
..........................................................................................................................
47
B. Thuật toán gán bước sóng ngẫu nhiên
..........................................................................................................................
47
C. Thuật toán gán bước sóng dựa trên bước sóng sử dụng nhiều nhất ít
nhất
..........................................................................................................................
48
2.6.3. Báo hiệu và đặt trước tài nguyên
..........................................................................................................................
48
A. Đặt trước sóng sóng
..........................................................................................................................
48
B. Đặt trước theo chặng
..........................................................................................................................
49
Chương 3:Phương pháp định tuyến và gán bước sóng trong mạng
quang dựa.. trên kỹ thuật GMPLS
..........................................................................................................................
50
3.1 MPLS và mạng quang thông minh
..........................................................................................................................
50
3.1.1. Tầm bao quát rộng lớn của MPLs
..........................................................................................................................
50
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 6
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
3.1.2. Các giao thức định tuyến và phân phối nhãn trong nền MPLS
..........................................................................................................................
51
3.1.3. Hướng tới ngăn xếp giao thức đơn giản hơn: IP/MPLS qua DWDM
..........................................................................................................................
51
3.1.4. Tương quan giữa MPLS và mạng quang
..........................................................................................................................
51
3.1.5. Liên kết và quản lý ba mặt phẳng điều khiển
..........................................................................................................................
52
3.2 Bài toán định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang tổ chức trên
kỹ thuật GMPLS
..........................................................................................................................
53
3.2.1. Tổng quan về kỹ thuật GMPLS
..........................................................................................................................
53
3.2.2.Thiết lập và khôi phục luồng quang
..........................................................................................................................
54
3.3. Các điều kiện ràng buộc trong định tuyến quang
..........................................................................................................................
54
3.3.1. Điều kiện ràng buộc trong lớp vật lý
..........................................................................................................................
55
3.3.2. Các ràng buộc bước sóng
..........................................................................................................................
55
3.3 Kiến trúc GMPLS
..........................................................................................................................
55
3.4. Bộ định tuyến GMPLS thực tế: Bộ định tuyến Hikari
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 7
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
..........................................................................................................................
56
3.5 Kết luận chương
..........................................................................................................................
58
Chương 4: Xây dựng mô hình bài toán định tuyến và gán bước sóng
trong mạng quang sử dụng kỹ thuật GMPLs
..........................................................................................................................
59
4.1. Tổng quan về OMNET++
..........................................................................................................................
59
4.1.1. Giới thiệu chung
..........................................................................................................................
59
4.1.2. Các thành phần chính của OMNET++
..........................................................................................................................
59
4.1.3. Ứng dụng
..........................................................................................................................
60
4.1.4. Mô hình thuật toán trong OMNET++
..........................................................................................................................
60
4.1.5. Lập trình thuật toán
..........................................................................................................................
61
4.1.6. Sử dụng OMNET++
..........................................................................................................................
61
4.1.7. Hệ thống file
..........................................................................................................................
63
4.2. Phương pháp thực luận nghiệm
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 8
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
..........................................................................................................................
65
4.2.1. Các giả thuyết
..........................................................................................................................
65......................................................................................................................
A. Định nghĩa bài toán
..........................................................................................................................
65
B. Xem xét thời gian thiết lập yêu cầu
..........................................................................................................................
65
C. Yêu cầu đến
..........................................................................................................................
66
D. Xem xét kiến trúc của mạng quang thông minh ION
..........................................................................................................................
67
E. Các điều kiện ràng buộc vật lý
..........................................................................................................................
67
4.2.2. Xây dựng hàm mục tiêu
..........................................................................................................................
69
4.2.3. Mô tả bài toán RWA
..........................................................................................................................
70
A. Giải thuật định tuyến
..........................................................................................................................
70
B. Mô tả bài toán định tuyến
..........................................................................................................................
72
4.3. Xây dựng mô hình
..........................................................................................................................
76
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 9
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
4.3.1 Đường lối thực thi
..........................................................................................................................
76
A. Mô hình mạng
..........................................................................................................................
76
B. Các tham số hệ thống
..........................................................................................................................
78
4.4. Kết quả và so sánh
..........................................................................................................................
78
4.4.1. So sánh các bài toán gán bước sóng
..........................................................................................................................
78
4.4.2. Tắc nghẽn và trung bình tuyến liên kết sử dụng
..........................................................................................................................
79
4.4.3. Nhận xét chung về tắc nghẽn trong mạng ION
..........................................................................................................................
80
4.4.4. So sánh giữa các thước đo TAW đơn giản và nâng cao
..........................................................................................................................
81
Kết luận
..........................................................................................................................
82


Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 10
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ADM Add-Drop Multiplexer Bộ ghép kênh xen rẽ
ARIS Aggregate Route-Based IP Chuyển mạch IP theo
phương pháp tập hợp tuyến
ASE Amplified Spontaneous Emission Phát xạ tự phát được
khuyếch tán
ATM Asynchronous Tranfer Mode Phương thức truyền tải không
đồng bộ
BGP Boder Gateway Protocol Giao thức định tuyến cổng miền
CLNP Connectionless Network Protocol Giao thức mạng phi kết
nối
CPU Central Processor Unit Bộ xử lý trung tâm
CR-LDP Constraint-Based routing Labed Giao thức phân bố nhãn
được xác
Distribution protocol định tuyến dựa trên ràng buộc
CSR Cell Switching Router Bộ định tuyến chuyển mạch tế bào
DLCI Data Link Connection Identifier Nhận dạng kết nối lớp lien kết
dữ
liệu
DLE Dynamic Lightpath Establishment Thiết lập luồng quang
động
DWDM Dense Wavelength Division Ghép kênh phân chia theo bước
Muntiplexing sóngmật độ cao (40 hoặc
80 kênh
quang trên mộ sợi)
FEC Forwarding Equivalence Class Lớp chuyển tiếp tương đương
FIB Forwarding Information Base Cơ sở dữ liệu chuyển tiếp trong
bộ định tuyến
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 11
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
GMPLS Generalized Multi Protocol Label Chuyển mạch nhãn đa
giao thức
Switching tổng quát
IETF International Engineering Task Tổ chức tiêu chuẩn kỹ thuật
Quốc
Force tế cho Internet
IGP Interior Gateway Protocol Giao thức định tuyến
trong miền
ILP Integer Linear Program Quy hoạch tuyến tính
nguyên
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ISCD Interface Switching Capability Bộ mô tả khả năng chuyển
mạch
Descriptor giao diện
IS-IS Intermediate System to Giao thức định tuyến IS-IS
Intermediate System
IS-IS-TE Intermediate System to Giao thức định tuyến IS-IS có kỹ
Intermediate System – Traffic thuật lưu lượng
Engineering
LDP Label Distribution Protocol Giao thức phân bổ nhãn
LMP Link Management Protocol Giao thức quản lý kênh
LSA Link State Advertisement Bản tin quảng bá trạng
thái liên kết
LSP Label Switching Path Đường chuyển mạch nhãn
LSR Label Switching Router Bộ định tuyến chuyển mạch
nhãn
MPLS Multi Protocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao
thức
NGN Next Generation Network Mạng thế hệ sau
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 12
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
NP Subset op class NP problems Tập hợp con của lớp các bài
toán
Complete NP mà nó được xem rất khó
giải
OSPF Open Shortest Path First Giao thức định tuyến
OSPF
OSPF-TE Open Shortest Path First-Traffic Giao thức định tuyến
OSPF
Engineering có kỹ thuật lưu lượng
OXC Optical Cross-Connect Đấu nối chéo quang
PMD Polarization Mode Dispersion Tán sắc mốt phân cực
PPP Point to Point Protocol Giao thức điểm - điểm
RIP Realtime Internet Protocol Giao thức báo hiệu IP thời gian
thực
RSVP Wavelength Resvation Protocol Giao thức đặt trước tài
nguyên
RSVP-TE Wavelength Resvation Protocol- Giao thức đặt trước tài
nguyên có
Traffic Engineering kỹ thuật lưu lượng
RWA Routing and Wavelength Định tuyến và gán bước sóng
Assignment
SDH Synchronous Digital Hierarchy Phân cấp truyền dẫn số đồng
bộ
SLE Static Lightpath Establishment Thiết lập luồng quang tĩnh
Sonet Synchronous Optical Network Mạng quang đồng bộ
TCP Transport Control Protocol Giao thức điều khiển
truyền tải
TE Traffic Engineering Kỹ thuật lưu lượng
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 13
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
TED Traffic Engineering Database Cơ sỡ dữ liệu có kỹ thuật lưu
lượng
TLV Type Length Value Giá trị chiều dài tuyến (số
nút)
TWA Total Wavelength and Available Tổng số bước sóng và
bước sóng
Có thể sử dụng
UDP User Data Protocol Giao thức dữ liệu người
sử dụng
UNI User Network Interface Giao diện mạng- người sử dụng
VCI Virtual Circuit Identifier Trường nhận dạng kênh ảo
VPI Virtual Path Identifier Trường nhận dạng đường ảo
WCC Wavelegth Continuity Ràng buộc bước sóng liên tục
Constraint
WRN Wavelength Routed Network Mạng đinh tuyến bước sóng
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 14
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây,cùng với việc bùng nổ Internet trên toàn cầu
kéo theo đó là các dịch vụ mới như truyền hình số đa phương tiện, video,
xử lý ảnh đòi hỏi băng thông ngày càng cao lên tới cỡ gigabyte với khoảng
cách xa, mật độ cao độ rủi ro thấp. Nhưng các giao thức hiện nay không thể
đáp ứng được nhu cầu đó. Do đó xu thế tất yếu là cần phải có một giao
thức mới ra đời nhằm thoả mãn các yêu cầu trên.Theo nghiên cứu thì các
sợi quang với thuận lợi về băng thông (tần số sóng mang cỡ 200 THz),
trong lượng và kích thước nhỏ; hoàn toàn cách biệt về điện, không có giao
thoa cũng như suy hào về đường truyền thấp. Và những ưu điểm đó đã
được phát triển cho các ứng dụng rộng rãi trong mạng truyền dẫn hiện nay.
Để tận dụng được những ưu điểm trên thì việc phân luồng và gán bước
sóng phù hợp cho tín hiệu đến và đi cho các tuyến trên sợi quang là công
việc rất có ý nghĩa nhằm phát huy năng lực tiềm tàng của sợi trong việc
tăng dung lượng đường truyền
Trên thế giới mạng ghép kênh theo bước sóng WDM (Wavelength
Division Multiplexing) đã được thương mại hoá từ năm 1996. Xu thế phát
triển mạng hiện nay ở Việt Nam là mục tiêu xây dựng mạng truyền tải toàn
quang cho mạng thế hệ sau NGN (Next Generation Network) dựa trên công
nghệ WDM. Những lỗ lực phi thường về công nghệ truyền dẫn quang trong
đó tập trung vào nghiên cứu vấn đề công nghệ mạng WDM trên thế giới
hiện nay đang dần dần đáp ứng được nhu cầu tất yếu của mạng. Có nhiều
vấn đề cần phải được giải quyết trong mạng WDM nhằm ngày càng hoàn
thiện đặc tính mạng. Trong đó các vấn đề đó thì định tuyến và gán bước
sóng trong mạng quang nói chung và mạng WDM nói riêng được coi là một
trong những kỹ thuật quan trọng nhất và có tính sống còn. Một mặt kỹ thuật
này cho phép xây dựng được mạng truyền dẫn quang linh hoạt và đảm bảo
thông suốt các lưu lượng tín hiệu lớn. Mặt khác nó cho phép tận dụng băng
tần của sợi quang trong khi vẫn đơn giản hoá được rất nhiều cấu trúc
mạng. Điều đó có tác động lớn tới việc xây dựng và bảo dưỡng mạng rất có
hiệu quả sau này.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 15
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp viễn thông đã và đang
tìm một phương pháp chuyển mạch có thể kết hợp ưu điểm của IP (như cơ
cấu định tuyến) và của ATM (như thông lượng chuyển mạch). Công nghệ
chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS (Multi Protocol Label Switching) là
kết quả phát triển của nhiều công nghệ chuyển mạch Ip sử dụng cơ chế
hoán đổi nhãn như của ATM để tăng tốc độ truyền gói tin mà không cần
thay đổi các giao thức định tuyến của IP. Nhưng gần đây nền công nghiệp
viễn thông lại bị hút về chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
(Generalized MPLS) do giải pháp về mặt phẳng điều khiển cho mạng quang
thế hệ sau.GMPLS hỗ trợ không chỉ các thiết bị thực hiện chuyển mạch gói
mà còn thực hiện chuyển mạch theo miền thời gian, theo bước sóng và
theo không gian. GMPLS nhằm hiện đại hoá việc định tuyến qua mạng
thông tin quang bằng việc tạo ra một mặt phẳng chung giữa các lớp quản lý
dịch vụ IP và các lớp thông tin quang, đặc biệt cho phép chúng phản ứng
rất linh hoạt với các yêu cầu thay đổi băng thông, cho phép thiết lập các
dịch vụ thông tin quang năng động hơn.
Với ý nghĩa đó công việc nghiên cứu tìm hiểu và đánh giá các thuật
toán định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang dựa trên GMPLS
được tiến hành trong luận văn này là rất cần thiết, đặc biệt khi xu thế mạng
NGN yêu cầu việc cấp phát tài nguyên.Với toàn bộ nội dung trình bày trong
luận văn này, đề tài mong muốn được tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này
nhằm tham gia và trao đổi một vấn đề học thuật trong một lĩnh vực mạng
thông tin quang còn rất rộng lớn và hấp dẫn.
Mục đích của đề tài luận văn là nghiên cứu các kỹ thuật định tuyến và
gán bước sóng trong mạng quang dựa trên GMPLS. Với mục tiêu đó nội
dung của luận văn bao gồm các vấn đề sau:
Chưong 1: Giới thiệu tổng quan về công nghệ chuyển mạch nhãn đa
giao thức (MPLS) và chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát (GMPLS)
Chương 2: Giới thiệu về vấn đề định tuyến và gán bước sóng trong
mạng quang (RWA) và cách thức chung để giải quyết bài toán này
Chương 3: Tập trung trình bày về phương pháp định tuyến và gán
bước sóng trong mạng quang dựa trên kỹ thuật chuyển mạch nhãn đa giao
thức tổng quát GMPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 16
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Chương 4: Tập trung vào việc xây dựng mô hình bài toán định tuyến
và gán bước sóng trong mạng quang dựa trên kỹ thuật chuyển mạch nhãn
đa giao thức tổng quát GMPLS
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH
NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS VÀ GMPLS
1.1 GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổ của Internet trên
toàn cầu thì các dịch vụ thoại và đa phương tiện cũng ngày càng phát triển
với tốc độ chóng mặt. Kéo theo đó là vấn đề về tốc độ và dải thông của các
dịch vụ này đã vượt quá tài nguyên hạ tầng của Internet hiện nay.
Như chúng ta đã biết giao thức định tuyến TCP/IP có ưu điểm là khả
năng định tuyến và truyền gói tin một cách hết sức mềm dẻo và linh hoạt.
Tuy nhiên nhược điểm của nó là không đảm bảo được chất lượng dịch vụ,
tốc độ truyền tin theo yêu cầu. Trong khi đó công nghệ ATM có thế mạnh
ưu việt về tốc độ truyền tin cao, đảm bảo thời gian thực và chất lượng dịch
vụ theo yêu cầu định trước nhưng nó lại không có được khả năng định
tuyến mềm dẻo như của TCP/IP. Giải pháp được đặt ra đối với các nhà
khoa học là tìm ra một phương thức chuyển mạch có thể kết hợp đồng thới
ưu điểm của TCP/IP và ATM. Sự kết hợp đó có thể là giải pháp kỳ vọng cho
mạng viễn thông tương lai- mạng thế hệ sau NGN.
Chuyển mạch nhãn là giải pháp đáp ứng được nhu cầu đó. Có lẽ yếu
tố thúc đẩy quan trọng nhất đằng sau chuyển mạch nhãn là nhu cầu phát
triển chức năng định tuyến của Internet và IP. Và đó cũng là điều tất yếu do
đòi hỏi của sự phát triển nhanh chóng của Internet.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 17
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Sự ra đời của chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS đã góp phần
giải quyết các vấn đề mà các mạng ngày nay đang phải đối mặt như tốc độ,
lưu lượng truyền khả năng mở rộng cấp độ mạng, quản lý chất lượng dịch
vụ (QoS). MPLS đã xuất hiện để đáp ứng các yêu cầu dịch vụ và quản lý
băng thông cho giao thức Internet (IP) thế hệ sau dựa trên mạng đường
trục.
Nói tóm lại, sự ra đời của MPLS đóng một vai trò quan trọng trong
việc định tuyến, chuyển mạch và chuyển tiếp các gói qua mạng thế hệ sau
cũng như giải quyết các vấn đề liên quan tới khả năng mở rộng mạng. Nó
có thể hoạt động với các mạng Frame Relay và chế độ truyền tải không
đồng bộ ATM hiện nay để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ của người sử dụng.

1.2. CÔNG NGHỆ IP
Như đã nhắc ở trên MPLS là sự kết hợp của hai công nghệ IP và
ATM. Nên chúng ta sẽ giới thiệu khái quát về hai công nghệ này.
Sự phát triển đột biến của IP, sự tăng trưởng theo cấp số nhân của
thuê bao Internet đã là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Hiện nay,
lượng dịch vụ lớn nhất trên các mạng đường trục trên thực tế đều là từ IP.
Trong công tác tiêu chuẩn hoá các loại kĩ thuật, việc đảm bảo tốt hơn cho IP
đã trở thành trọng điểm của công tác nghiên cứu.
IP là giao thức liên mạng phi kết nối. Việc chuyển gói tin thực hiện
theo cơ chế phi kết nối. IP định nghĩa cơ cấu đánh số, cơ cấu chuyển tin,
cơ cấu định tuyến và các chức năng điều khiển ở mức thấp (ICMP). Gói tin
IP gồm địa chỉ của bên nhận địa chỉ là số duy nhất trong toàn mạng và
mang đầy đủ thông tin cần cho việc chuyển gói tới đích. Từ khi giao thức
này ra đời, nó nhanh chóng trở thành giao thức liên mạng thông dụng nhất.
Ngày nay gần như các liên mạng công cộng sử dụng giao thức IP. Mạng IP
có mặt ở khắp mọi nơi, mạng Internet toàn cầu chúng ta hiện nay cũng
đang sử dụng giao thức IP.
Bên cạnh những ưu điểm tuyệt vời của giao thức IP (như khả năng
định tuyến), nó cũng có không ít những nhược điểm (như khả năng quản lý
chất lượng dịch vụ), các nhà cung cấp mạng trong quá trình phát triển đã liên
tục bổ sung các giao thức, thuật toán mới (chẳng hạn các giao thức QoS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 18
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
như: RSVP, IntServ, DiffServ; giao thức IPSec, RTP/RTCP hay các thuật
toán tăng tốc độ tìm kiếm địa chỉ trong bảng định tuyến) để có thể khắc phục
các nhược điểm của mạng IP. Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó, khi nhu
cầu sử dụng dịch vụ của người sử dụng tăng lên cả về loại hình lẫn chất
lượng dịch vụ thì mọi sự bổ sung là không đủ và cần có những công nghệ
mạng mới có bản chất khác (không là giải pháp phi kết nối) đáp ứng yêu cầu
QoS tốt hơn. Và thế là nhiều công nghệ mạng đã ra đời, điển hình là FR và
ATM.
Tóm lại, IP là một giao thức chuyển mạch gói có độ tin cậy và khả
năng mở rộng cao. Tuy nhiên, việc điều khiển lưu lượng rất khó thực hiện
do phương thức định tuyến theo từng chặng. Mặt khác, IP cũng không hỗ
trợ chất lượng dịch vụ.
1.3. CÔNG NGHỆ ATM
Cùng với sự phát triển của Internet và tăng tốc độ xử lý của bộ định
tuyến là sự phát triển mạnh trong lĩnh vực chuyển mạch. Mạng số dịch vụ
tích hợp băng rộng (B-ISDN) là một kỹ thuật cho phép truyền thông thời
gian thực giữa các thiết bị truyền thông đầu cuối, sử dụng kỹ thuật ATM.
ATM có thể mang mọi luồng thông tin như thoại, dữ liệu, video, phân mảnh
nó thành các gói có kích thước cố định (gọi là cell), và sau đó truyền tải các
cell trên đường dẫn đã được thiết lập trước, gọi là kết nối ảo.
Công nghệ ATM dựa trên cơ sở phương pháp chuyển mạch gói,
thông tin được nhóm vào các gói tin có chiều dài cố định, trong đó vị trí của
gói không phụ thuộc vào đồng hồ đồng bộ, và dựa trên nhu cầu bất kì của
kênh trước. Các chuyển mạch ATM cho phép hoạt động với nhiều tốc độ và
dịch vụ khác nhau.
ATM có hai đặc điểm quan trọng:
- Thứ nhất ATM sử dụng các gói có kích thước nhỏ và cố định gọi là
các tế bào ATM, các tế bào nhỏ với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ truyền
lan và biến động trễ giảm đủ nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực, cũng sẽ
tạo điều kiện cho việc kết hợp kênh ở tốc độ cao được dễ dàng hơn.
- Thứ hai ATM có khả năng nhóm một vài kênh ảo thành một đường
ảo nhằm giúp cho việc định tuyến được dễ dàng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 19
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
ATM khác với định tuyến IP ở một số điểm. Nó là công nghệ chuyển
mạch hướng kết nối. Kết nối từ điểm đầu đến điểm cuối phải được thiết lập
trước khi thông tin được gửi đi. ATM yêu cầu kết nối phải được thiết lập
bằng nhân công hoặc thiết lập một cách tự động thông qua báo hiệu. Mặt
khác, ATM không thực hiện định tuyến tại các nút trung gian. Tuyến kết nối
xuyên suốt được xác định trước khi trao đổi dữ liệu và được giữ cố định
trong suốt thời gian kết nối. Trong quá trình thiết lập kết nối, các tổng đài
ATM trung gian cung cấp cho kết nối một nhãn. Việc này nhằm thực hiện
hai điều: dành cho kết nối một số tài nguyên và xây dựng bảng chuyển tế
bào tại mỗi tổng đài. Bảng chuyển tế bào có tính cục bộ và chỉ chứa thông
tin về các kết nối đang hoạt động đi qua tổng đài. Điều này khác với thông
tin về toàn mạng chứa trong bảng chuyển tin của router dùng IP.
Quá trình chuyển tiếp tế bào qua tổng đài ATM cũng tương tự việc
chuyển gói tin qua router. Tuy nhiên, ATM có thể chuyển mạch nhanh hơn
vì nhãn gắn trên cell có kích thước cố định (nhỏ hơn của IP), kích thước
bảng chuyển tin nhỏ hơn nhiều so với của IP router, và việc này được thực
hiện trên các thiết bị phần cứng chuyên dụng. Do vậy, thông lượng của
tổng đài ATM thường lớn hơn thông lượng của IP router truyền thống.
Do có khả năng hỗ trợ truyền dữ liệu, thoại, và video với chất lượng
cao trên một số các công nghệ băng tần cao khác nhau, ATM từng được
xem như là công nghệ chuyển mạch hứa hẹn và thu hút nhiều sự quan tâm.
Tuy nhiên, hiện nay cũng như trong tương lai hệ thống toàn ATM sẽ không
phải là sự lựa chọn phù hợp nhất.
Đối với các ứng dụng có thời gian kết nối ngắn, thì môi trường hướng
kết nối dường như lại không thích hợp do thời gian để thiết lập kết nối cũng
như tỷ lệ phần thông tin mào đầu lại quá lớn. Với các loại lưu lượng như
vậy thì môi truờng phi kết nối với phương thức định tuyến đơn giản, tránh
phải sử dụng các giao thức báo hiệu phức tạp sẽ phù hợp hơn.
1.4. CÔNG NGHỆ MPLS
Chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS) là kết quả của quá trình
phát triển nhiều giải pháp chuyển mạch IP, được chuẩn hoá bởi IETF. Tên
gọi của nó bắt nguồn từ thực tế đó là hoán đổi nhãn được sử dụng như là
kỹ thuật chuyển tiếp nằm ở bên dưới. Sử dụng từ “đa giao thức” trong tên
của nó có nghĩa là nó có thể hỗ trợ nhiều giao thức lớp mạng, không chỉ
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 20
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
riêng IP. Ngoài ra các nhà cung cấp mạng có thể cấu hình và chạy MPLS
trên các công nghệ lớp 2 khác nhau như Fram Relay … không chỉ riêng
ATM. Về mặt kiến trúc điều này là đúng, nhưng trong thực tế MPLS thường
tập trung vào việc vận chuyển các dịch vụ IP trên nền ATM.
MPLS là giải pháp nhằm liên kết định tuyến lớp mạng và cơ chế hoán
đổi nhãn thành một giải pháp đơn nhất để đạt được các mục tiêu sau:
 Cải thiện hiệu năng định tuyến
 Cải thiện tính mềm dẻo của định tuyến trên các mô hình xếp chồng
truyền thống.
 Tăng tính mềm dẻo trong quá trình đưa và phát triển các loại hình
dịch vụ mới.
Mạng MPLS có khả năng chuyển các gói tin tại lớp 3 bằng việc sử
dụng xử lý từng gói và chuyển tiếp gói tin tại lớp 2 sử dụng cơ chế hoán đổi
nhãn. MPLS dựa trên mô hình ngang cấp, vì vậy mỗi một thiết bị MPLS
chạy một giao thức định tuyến IP, trao đổi thông tin định tuyến với các thiết
bị lân cận, và chỉ duy trì một không gian cấu hình mạng và một không gian
địa chỉ.
MPLS chia bộ định tuyến làm hai phần riêng biệt: chức năng chuyển
gói tin và chức năng điều khiển. Phần chức năng chuyển gói tin với nhiệm
vụ gửi gói tin giữa các bộ định tuyến IP, sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn
tương tự như của ATM.Trong MPLS nhãn là một thực thể có độ dài cố định
và không phụ thuộc vào lớp mạng. Kỹ thuật hoán đổi nhãn về bản chất là
việc tìm chặng kế tiếp của gói tin trong một bảng chuyển tiếp nhãn, sau đó
thay thế giá trị nhãn của gói rồi chuyển ra cổng ra của bộ định tuyến. Việc
này đơn giản hơn nhiều so với việc xử lý gói tin thông thường và do vậy cải
tiến khả năng của thiết bị. Các bộ định tuyến sử dụng thiết bị này gọi là bộ
định tuyến chuyển mạch nhãn LSR (Label switching Router). Phần chức
năng điều khiển của MPLS bao gồm các giao thức định tuyến lớp mạng với
nhiệm vụ phân phối thông tin định tuyến giữa các LSR, và thủ tục gán nhãn
để chuyển thông tin định tuyến thành bảng định tuyến chuyển mạch nhãn.
MPLS có thể hoạt động được với các giao thức định tuyến Internet như
OSPF (Open Shortest Path First) và BGP (Boder Gateway Protocol) hay
PNNI của ATM. Do MPLS hỗ trợ điều khiển lưu lượng và cho phép thiết lập
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 21
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
tuyến cố định nên việc đảm bảo dịch vụ của các tuyến là hoàn toàn khả thi.
Ngoài ra, MPLS còn có cơ chế định tuyến lại nhanh (fast rerouting).
Bên cạnh độ tin cậy, công nghệ MPLS cũng hỗ trợ việc quản lý mạng
được dễ dàng hơn. Do MPLS quản lý việc chuyển tin theo các luồng thông
tin, các gói tin thuộc một FEC (Forwarding Equivalence Class - lớp chuyển
tiếp tương đương) có thể được xác định bởi giá trị của nhãn. Do vậy, trong
miền MPLS, các thiết bị đo lưu lượng mạng có thể dựa trên nhãn để phân
loại các gói tin. Bằng cách giám sát lưu lượng tại các bộ định tuyến chuyển
mạch nhãn LSR, nghẽn lưu lượng nhanh chóng được phát hiện và vị trí xảy
ra nghẽn lưu lượng có thể xác định. Tuy nhiên, giám sát lưu lượng theo
phương thức này không đưa ra được toàn bộ thông tin về chất lượng dịch
vụ (ví dụ như trễ xuyên xuốt của miền MPLS). Việc đo trễ có thể được thực
hiện bởi giao thức lớp hai. Để giám sát tốc độ của mỗi luồng và đảm bảo
các luồng lưu lượng tuân thủ tính chất lưu lượng đã được định trước, hệ
thống giám sát có thể dùng một thiết bị định dạng lưu lượng. Thiết bị này sẽ
cho phép giám sát và đảm bảo tuân thủ đặc tính lưu lượng mà không cần
thay đổi các giao thức hiện có.
Khi một gói tin vào mạng MPLS, các bộ định tuyến chuyển mạch
nhãn không thực hiện chuyển tiếp theo từng gói mà thực hiện phân loại gói
tin vào trong các lớp tương đương chuyển tiếp FEC, sau đó các nhãn được
ánh xạ vào trong các FEC. Một giao thức phân bổ nhãn LDP được xác định
và chức năng của nó là để ấn định và phân bổ các ràng buộc FEC/nhãn
cho các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LSR. Khi LDP hoàn thành nhiệm
vụ của nó, một đường dẫn chuyển mạch nhãn LSP được xây dựng từ lối
vào tới lối ra. Khi các gói vào mạng, LSR lối vào kiểm tra nhiều trường trong
tiêu đề gói để xác định xem gói thuộc về FEC nào. Nếu đã có một ràng
buộc nhãn/FEC thì LSR lối vào gắn nhãn cho gói và định hướng nó tới giao
diện đầu ra tương ứng. Sau đó gói được hoán đổi nhãn qua mạng cho đến
khi nó đến LSR lối ra, lúc đó nhãn bị loại bỏ và gói được xử lý tại lớp 3.
Hiệu năng đạt được ở đây là nhờ việc đưa quá trình xử lý lớp 3 tới biên của
mạng và chỉ thực hiện một lần tại đó thay cho việc xử lý tại từng node trung
gian như của IP. Tại các node trung gian việc xử lý chỉ là tìm sự phù hợp
giữa nhãn trong gói và thực thể tương ứng trong bảng kết nối LSR và sau
đó hoán đổi nhãn- quá trình này thực hiện bằng phần cứng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 22
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Mặc dù hiệu năng và hiệu quả là 2 kết quả quan trọng, song chúng
không phải là các lợi ích duy nhất mà MPLS cung cấp. Trong mắt của
những nhà cung cấp các mạng lớn, thì khả năng để thực hiện kỹ thuật lưu
lượng tiên tiến mà không phải trả giá về hiệu năng của MPLS được quan
tâm đặc biệt.
MPLS thực hiện các chức năng sau:
+ Xác định cơ cấu quản lý các tính hạt khác nhau của các luồng lưu
lượng, như các luồng giữa các máy, phần cứng khác nhau hoặc thậm chí
các luồng giữa những ứng dụng khác nhau.
+ Duy trì sự độc lập của các giao thức lớp 2 và 3
+ Cung cấp phương pháp ánh xạ địa chỉ IP với các nhãn đơn giản,
có độ dài cố định được sử dụng bởi các công nghệ chuyển tiếp gói và
chuyển mạch gói khác nhau
+ Giao diện với các giao thức định tuyến hiện có như giao thức đặt
trước tài nguyên RSVP (Resource Reservation Protocol) và giao thức mở
đường ngắn nhất đầu tiên (OSPF)
+ Hỗ trợ IP, ATM và giao thức lớp 2 Frame – Relay
Trong MPLS việc truyền dữ liệu xảy ra trên các đường chuyển mạch nhãn
LSPs (Label Switch Path) tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS
dùng để chuyển tiếp gói của FEC nào đó sử dụng cơ chế chuyển đổi nhãn.
LSPs được thiết lập trước khi truyền dữ liệu (kích thích điều khiển). Các
nhãn (tên nhận dạng chính xác giao thức) được phân bổ bằng việc sử dụng
giao thức phân bổ nhãn LDP (Label Ditribution Protocol) hoặc RSVP hoặc
được đội lên (piggybacked) các giao thức định tuyến như giao thức định
tuyến cổng miền (BGP) và OSPF. Mỗi gói dữ liệu bọc và mang các nhãn
trong suốt hành trình của chúng từ nguồn tới đích. Bởi vì các nhãn có độ
dài cố định được chèn ở đầu gói hoặc tế bào nên có thể chuyển mạch gói
nhanh giữa các tuyến liên kết bằng phần cứng.
1.4.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN MPLS
Nhãn
Nhãn là một thực thể có độ dài ngắn, cố định và không có cấu trúc
bên trong. Nhãn xác định đường mà gói sẽ đi qua. Nhãn không trực tiếp mã
hoá thông tin của mào đầu lớp mạng, như địa chỉ lớp mạng. Nhãn được
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 23
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
gắn vào một gói tin cụ thể sẽ đại diện cho một FEC mà gói tin đó được ấn
định.
Thường thì một gói được ấn định cho một FEC (hoàn toàn hoặc một
phần) dựa địa chỉ đích lớp mạng của nó. Tuy nhiên nhãn không bao giờ là
mã hoá của địa chỉ đó. Dạng của nhãn phụ thuộc vào phương tiện truyền
mà gói tin được đóng gói. Ví dụ các gói ATM (tế bào) sử dụng giá trị VPI/
VCI như nhãn, Frame Relay sử dụng DLCI như nhãn, một đoạn đệm được
chèn thêm sử dụng cho nhãn. Khuôn dạng đoạn đệm gồm 4 byte có cấu
trúc như hình sau.
Hình 1.1: Dạng nhãn MPLS chung
Đối với các khung PPP hay Ethernet giá trị nhận dạng giao thưc P-ID
(hoặc Ethertype) được chèn thêm vào mào đầu khung tương ứng để thông
báo khung là MPLS unicast hay multicast
Ngăn xếp nhãn (Label stack)
Đó là một tập hợp có thứ tự các nhãn gắn theo gói để truyền tải thông
tin về nhiều FEC mà gói nằm trong và về các LSP tương ứng mà gói đi qua.
Ngăn xếp nhãn cho phép MPLS hỗ trợ định tuyến phân cấp (một nhãn cho
EGP và một nhãn cho IGP) và tổ chức đa LSP trong một trung kế LSP. Mỗi
mức trong ngăn xếp nhãn gắn liền với mức phân cấp nào đó. Điều này tạo
thuận lợi cho chế độ hoạt động đường hầm trong MPLS
Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LSR (Label switching Router)
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 24
1 bit
Link Layer
Header
MPLS Shim
Network Layer
Header
Other Layers Headers
and data
Label
Exp.bi
t
BS TTL

20 bits 3 bits
8 bits
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Là thiết bị (Router hay Switch) sử dụng trong mạng MPLS để chuyển
các gói tin bằng thủ tục phân phối nhãn. Có một số loại LSR cơ bản như
sau: LSR, LSR biên, ATM-LSR, ATM-LSR biên
Các lớp chuyển tiếp tương đương FEC (Forwarding Equivalence
Classes)
Các lớp chuyển tiếp tương đương (FEC) là khái niệm được dùng để
chỉ một lớp các gói được ưu tiên như sau (chúng đều gửi tới chặng tiếp
theo như nhau) qua mạng MPLS ngay cả khi có sự khác biệt giữa các gói
tin này thể hiện trong mào đầu lớp mạng.
+ Bảng chuyển tiếp chuyển mạch nhãn
Là bảng chuyển tiếp nhãn có chứa thông tin về nhãn vào, nhãn ra,
giao diện vào, giao diện ra.
Đường chuyển mạch nhãn LSP (Label Switching Path)
Là tuyến tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS dùng để
chuyển tiếp gói của một FEC nào đó sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn. LSP
được thiết lập trước khi truyền dữ liệu. MPLS cung cấp hai lựa chọn cho
việc thiết lập LSP.
Định tuyến theo chặng - Mỗi LSR lựa chọn chặng tiếp theo một cách
độc lập cho một FEC nhất định. Phương pháp này giống với hiện nay đã
được sử dụng trong mạng IP. LSR sử dụng giao thức định tuyến có sẵn
nào đó như OSPF, giao diện mạng - mạng riêng ATM (PNNI)
Định tuyến rõ ràng (explicit) Định tuyến rõ ràng giống như định tuyến
nguồn. LSR lối vào (tức là LSR mà dữ liệu bắt đầu truyền) xác định danh
sách các nút mà ER-LSP truyền qua. Đường dẫn đã xác định có thể không
tối ưu cũng được. Dọc đường đi tài nguyên có thể được đặt trước để đảm
bảo QoS cho lưu lượng dữ liệu. Điều này làm giảm nhẹ kỹ thuật lưu lượng
khắp mạng, và các dịch vụ phân biệt được cung cấp bằng việc sử dụng các
luồng dựa trên các chính sách hoặc phương thức quản lý mạng.
Cơ sở dữ liệu nhãn.
Là bảng kết nối trong LSR. Có chứa giá trị nhãn FEC được gắn vào
cổng ra cũng như thông tin về đóng gói phương tiện truyền.
Gói tin dán nhãn
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 25
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Gói tin dán nhãn là gói tin mà nhãn được mã hoá trong đó. Trong một
vài trường hợp, nhãn nằm trong mào đầu của gói tin dành riêng cho mục
đích dán nhãn. Trong các trường hợp khác, nhãn có thể được đặt chung
vào trong mào đầu lớp mạng và lớp liên kết dữ liệu miễn là ở đây có trường
có thể dùng cho mục đích dán nhãn. Công nghệ mã hoá được sử dụng phải
phù hợp với cả thực thể mã hoá và thực thể giải mã.
Ấn định và phân phối nhãn.
Trong mạng MPLS, quyết định để kết hợp nhãn L cụ thể với một FEC
M cụ thể là do LSR phía trước thực hiện. LSR phía trước sau khi kết hợp sẽ
thông báo với LSR phía sau về kết hợp đó. Do vậy, các nhãn được LSR
phía trước ấn định và các kết hợp nhãn được phân phối theo hướng từ
LSR phía trước tới LSR phía sau.
1.4.2. THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MPLS
LSR: Là thành phần quan trọng cơ bản của mạng MPLS. LSR là thiết
bị định tuyến chuyển mạch nhãn (Label Switching Router). Thiết bị này thực
hiện chức năng chuyển tiếp gói thông tin trong phạm vi mạng MPLS bằng
thủ tục phân phối nhãn.
LSR biên: Là thiết bị nằm ở biên của mạng MPLS. LSRs biên gửi hay
nhận các gói thông tin từ hay đến mạng khác nhau (Frame – Relay,ATM….)
và chuyển tiếp lưu lượng của các mạng này lên mạng MPLS sau khi thiết
lập LSPs bằng việc sử dụng giao thức báo hiệu nhãn ở lối vào và phân bổ
lưu lượng trở lại mạng truy nhập ở lối ra. LSR biên gán hay loại bỏ nhãn
cho các gói thông tin đến hoặc đi ra khỏi mạng MPLS. Các LSR biên có thể
là Igress Router (router lối vào) hay Egress Router (router lối ra).
ATM- LSR: Sử dụng giao thức MPLS trong bảng điều khiển thiết lập
kênh ảo ATM. Chuyển tiếp tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo.
ATM-LSR biên: Nhận gói có nhãn hoặc không có nhãn, phân vào các
tế bào ATM và gửi các tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo. Nhận các tế bào
ATM từ
ATM-LSR cận kề, tái tạo các gói từ các tế bào ATM và chuyển tiếp
gói có nhãn hoặc không nhãn.
1.4.3. CÁC GIAO THỨC SỬ DỤNG MPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 26
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Tham gia vào quá trình truyền thông tin trong mạng MPLS có một số
giao thức như LDP, RSVP, CR-LDP, MPLS-BGP. Các giao thức như RIP,
OSPF sử dụng trong mạng router định tuyến các gói IP sẽ không được đề
cập đến ở phần này.
A. Giao thức phân phối nhãn LDP
Giao thức phân phối nhãn được nhóm nghiên cứu MPLS của IETF
xây dựng và ban hành dưới tên RFC 3036. Phiên bản mới nhất được công
bố năm 2001 đưa ra những định nghĩa và nguyên tắc hoạt động của giao
thức LDP.
Giao thức phân phối nhãn được sử dụng trong quá trình gán nhãn
cho các gói thông tin. Vị trí của giao thức LDP và các mối liên kết chức
năng cơ bản của LDP với các giao thức khác thể hiện trên hình 2.6. Giao
thức LDP là giao thức điều khiển tách biệt được các LSR sử dụng để trao
đổi và điều phối quá trình gán nhãn/FEC. Giao thức này là một tập hợp các
thủ tục trao đổi các bản tin cho phép các LSR sử dụng giá trị nhãn thuộc
FEC nhất định để truyền các gói thông tin.
Một kết nối TCP được thiết lập giữa các LSR đồng cấp để đảm bảo
các bản tin LDP được truyền một cách trung thực theo đúng thứ tự. Các
bản tin LDP có thể xuất phát từ bất cứ một LSR (điều khiển đường chuyển
mạch nhãn LSR độc lập) hay từ LSR biên lối ra (điều khiển LSP theo lệnh)
và chuyển từ LSR phía trước đến LSR phía sau cận kề. Việc trao đổi các
bản tin LDP có thể được khởi phát bởi sự phát hiện của luồng số liệu đặc
biệt, bản tin lập dự trữ RSVP hay cập nhập thông tin định tuyến. Khi một
cặp LSR đã trao đổi bản tin LDP cho một FEC nhất định thì một đường
chuyển mạch LSP từ đầu vào đến đầu ra được thiết lập sau khi mỗi LSR
ghép nhãn đầu vào với nhãn đầu ra tương ứng trong LIB của nó. LDP có
thể hoạt động giữa các LSR kết nối trực tiếp hay không trực tiếp.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 27
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
ThµnhphÇngiaoth ứcMPLS
ThµnhphÇngiaothøckh«ngph¶i MPLS

sở
thông
tin
nhãn
Mgr Dscy Sess Adtv Notf
OSPF UDP TCP
IP
MPLSFwd ARP
MAC
PHY
Mgr QuảnlýLDP
Dscy Bảntinthămdò
Sess Bảntinquảnlýphiên
Advt PháthànhLDP
Notf Bảntinxácnhận
Giaothứcphânbổnhãn
Hình 1.2. Vị trí giao thức LDP trong bộ giao thức MPLS
Các loại bản tin LDP
LDP định nghĩa 4 loại bản tin: Bản tin thăm dò, Bản tin phiên, Bản tin
phát hành, Bản tin thông báo. Bốn loại bản tin này cũng nói lên chức năng
mà nó thực hiện.
 Bản tin thăm dò (Discovery): Dùng để thông báo và duy trì sự có
mặt của 1 LSR trong mạng. Theo định kỳ, LSR gửi bản tin Hello
qua cổng UDP với địa chỉ multicast của tất cả các router trên
mạng con.
 Bản tin phiên (Session): Để thiết lập, duy trì, và xoá các phiên
giữa các LSR. Hoạt động này yêu cầu gửi các bản tin Initialization
trên TCP. Sau khi hoạt động này hoàn thành các LSR trở thành
các đối tượng ngang cấp LDP
 Bản tin phát hành (Advertisement): Dùng để tạo, thay đổi và
xoá các ràng buộc nhãn với các FEC. Những bản tin này cũng
mang trên TCP. Một LSR có thể yêu cầu 1 ánh xạ nhãn từ LSR
lân cận bất kỳ khi nào nó cần. Nó cũng phát hành các ánh xạ nhãn
bất cứ khi nào nó muốn một đối tượng ngang cấp LDP nào đó sử
dụng ràng buộc nhãn.
 Bản tin thông báo (Notification): Dùng để cung cấp các thông báo
lỗi, thông tin chẩn đoán, và thông tin trạng thái. Những bản tin này
cũng mang trên TCP.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 28
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Đa số các bản tin LDP chạy trên giao thức TCP để đảm bảo độ tin
cậy của các bản tin (ngoại trừ bản tin thăm dò).
LDP được thiết kế để dễ dàng mở rộng, sử dụng kiểu bản tin đặc biệt
để thu thập các đối tượng mã hoá TVL (kiểu, độ dài, giá trị).
Thủ tục thăm dò LSR lân cận
Thủ tục phát hiện LSR lân cận của LDP chạy trên UDP thực hiện như
sau (hình 1.3):
 Một LSR định kỳ gửi bản tin Hello tới các cổng UDP đã biết trong
tất cả các bộ định tuyến trong mạng con của nhóm multicast.
 Tất cả các LSR tiếp nhận bản tin Hello này trên cổng UDP. Như vậy,
tại một thời điểm nào đó LSR sẽ biết được tất cả các LSR khác mà nó
có kết nối trực tiếp.
 Khi LSR nhận biết được địa chỉ của LSR khác bằng cơ chế này thì
nó sẽ thiết lập kết nối TCP đến LSR đó.
 Khi đó phiên LDP được thiết lập giữa 2 LSR. Phiên LDP là phiên hai
chiều có nghĩa là mỗi LSR ở hai đầu kết nối đều có thể yêu cầu và gửi
ràng buộc nhãn.
Trong trường hợp các LSR không kết nối trực tiếp trong một mạng
con, người ta sử dụng một cơ chế bổ sung như sau:
LSR định kỳ gửi bản tin Hello đến cổng UDP đã biết tại địa chỉ IP xác
định được khai báo khi lập cấu hình. Đầu nhận bản tin này có thể trả lời lại
bằng bản tin HELLO khác truyền một chiều ngược lại đến LSR gửi và việc
thiết lập các phiên LDP được thực hiện như trên.
Thông thường trường hợp này hay được áp dụng khi giữa 2 LSR có
một đường LSP cho điều khiển lưu lượng và nó yêu cầu phải gửi các gói có
nhãn qua đường LSP đó.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 29
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
UDP Hello
UDP Hello
TCP Open
Initialization
Label Request
Label Mapping
IP
Hình 1.3. Thủ tục phát hiện LSR lân cận
Tiêu đề bản tin LDP
Mỗi một bản tin LDP được gọi là đơn vị dữ liệu giao thức PDU, được
bắt đầu bằng tiêu đề bản tin và sau đó là các bản tin LDP như đã được
trình bày ở trên. Hình 2.8 chỉ ra các trường chức năng của tiêu đề LDP và
các trường này thực hiện các chức năng sau:
 Phiên bản: Chỉ số phiên bản của giao thức, phiên bản đang sử
dụng hiện tại là phiên bản 1.
 Độ dài PDU: Tổng độ dài của PDU tính theo octet, ngoại trừ
trường phiên bản và trường độ dài.
 Nhận dạng LDP: Nhận dạng không gian nhãn của LSR gửi bản
tin này. Bốn octet đầu tiên chứa địa chỉ IP được gán cho LSR
(nhận dạng bộ định tuyến). Hai octet cuối nhận dạng không gian
nhãn bên trong LSR.Với LSR có không
 gian nhãn lớn, trường chức năng này đặt về giá trị 0.
.
0
1 5 3 1
P h i ª n b ¶ n
§ é d µ i P D U
N h Ë n d ¹ n g L D P
N h Ë n d ¹ n g L D P
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 30
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Hình 1.4. Tiêu đề LDP
Mã hoá TLV
LDP sử dụng lược đồ mã hoá kiểu-độ dài-giá trị để mã hoá các thông
tin mang trong bản tin LDP. Như chỉ ra trên hình 2.9, TVL được mã hoá
thành một trường 2 octet trong đó sử dụng 14 bít để đặc trưng cho kiểu, và
2 bit (U, F) cho trường hợp LSR không nhận ra được kiểu, 2 octet tiếp theo
là trường độ dài và trường giá trị có độ dài thay đổi.
 Trường kiểu qui định các trường mà giá trị được dịch.
 Trường độ dài xác định độ dài của trường giá trị.
 Trường giá trị có thể chứa các TLV khác.
0
1 5 3 1
K i Ó u
§ é d µ i
G i ¸ t r Þ
U F
Hình 1.5. Mã hoá TLV
Dựa trên bản tin nhận được, khi bit U có giá trị 0, LSR sẽ gửi thông
báo ngược lại tới nơi phát và toàn bộ bản tin sẽ được bỏ qua. Nếu U có giá
trị 1 thì mặc dù không nhận ra kiểu LSR không cần gửi thông báo và vẫn xử
lý phần còn lại của bản tin như thể là bản tin chưa biết kiểu này không tồn
tại.
Bit F chỉ được sử dụng khi bit U = 1 và bản tin LDP chứa bản tin
chưa biết kiểu này được truyền đi. Nếu bít F bằng 0 thì bản tin chưa biết
kiểu sẽ không chuyển đi cùng bản tin LDP chứa nó và nếu bit F=1 thì bản
tin chưa biết kiểu sẽ chuyển đi cùng bản tin LDP chứa nó.
Các khuôn dạng và chức năng của các TLV (vượt khỏi phạm vi đồ
án này nên xin phép không nói đến).
Khuôn dạng bản tin LDP
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 31
ID bản tin
U Kiểu bản tin Độ dài bản tin
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Hình 1.6. Khuôn dạng các bản tin LDP
 Bit U: bit bản tin chưa biết. Nếu bit này bằng 1 thì nó không thể
được thông dịch bởi phía nhận, lúc đó bản tin bị bỏ qua mà không
có phản hồi.
 Kiểu bản tin: Chỉ ra kiểu bản tin là gì?
 Độ dài bản tin: Chỉ ra chiều dài của các phần nhận dạng bản tin,
các thông số bắt buộc, và các thông số tuỳ chọn.
 Nhận dạng bản tin: là một số nhận dạng duy nhất bản tin.
Trường này có thể được sử dụng để kết hợp các bản tin thông
báo với một bản tin khác.
 Thông số bắt buộc, và Thông số tuỳ chọn tuỳ thuộc vào từng
bản tin LDP.
Về mặt nguyên lý, mọi thứ xuất hiện trong bản tin LDP có thể được
mã hoá theo TLV, nhưng các đặc tả LDP không phải luôn luôn sử dụng
lược đồ TLV. Nó không được sử dụng khi nó không cần thiết và sự sử dụng
nó khi đó sẽ gây lãng phí không gian. Chẳng hạn không cần thiết phải sử
dụng khuôn dạng TLV nếu chiều dài của giá trị là cố định hay kiểu của giá
trị được biết và không phải chỉ định một nhận dạng kiểu.
Khuôn dạng và chức năng các bản tin LDP
Phần này cung cấp thông tin về khuôn dạng và chức năng của các
bản tin LDP bao gồm:
 Bản tin Notification - Bản tin Thông báo
 Bản tin Hello – Bản tin Chào hỏi
 Bản tin Initialization - Bản tin khởi tạo
 Bản tin Keepalive - Bản tin giữ đường
 Bản tin Address - Bản tin Địa chỉ
 Bản tin Address Withdraw – Bản tin Thu hồi địa chỉ
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 32
Thông số bắt buộc
Thông số tuỳ chọn
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
 Bản tin Label Mapping - Bản tin Ràng buộc nhãn
 Bản tin Label Request – Bản tin Yêu cầu nhãn
 Bản tin Label Withdraw - Bản tin Thu hồi nhãn
 Bản tin Label Release – Bản tin Giải phóng nhãn
 Bản tin Label Abort Request - Bản tin Yêu cầu huỷ bỏ nhãn
Bản tin Notification:
Bản tin thông báo cho biết một lỗi không thể tránh khỏi, là kết quả của
quá trình xử lý bản tin hay trạng thái của phiên LDP.
Nếu một LSR bắt gặp một điều kiện mà cần để thông báo tới LSR
ngang cấp cùng với thông tin tư vấn hay lỗi, nó gửi LSR đó một thông báo
chứa TLV trạng thái mà mã hóa thông tin và các TLV tùy chọn thêm. Nếu
điều kiện là không thể tránh khỏi, sau khi gửi bản tin thông báo, LSR chấm
dứt phiên LDP bằng cách đóng kết nối TCP và loại bỏ tất cả các trạng thái
đã liên kết cùng với phiên này.
Bản tin Initialization:.
Các bản tin thuộc loại này được gửi khi bắt đầu một phiên LDP giữa
2 LSR để trao đổi các tham số, các đại lượng tuỳ chọn cho phiên. Các tham
số này bao gồm:
 Chế độ phân bổ nhãn
 Các giá trị định thời
 Phạm vi các nhãn sử dụng trong kênh giữa 2 LSR đó.
Cả 2 LSR đều có thể gửi các bản tin Initialization và LSR nhận sẽ trả
lời bằng KeepAlive nếu các tham số được chấp nhận. Nếu có một tham số
nào đó không được chấp nhận thì LSR trả lời thông báo có lỗi và phiên kết
thúc.
Bản tin KeepAlive:
Các bản tin KeeepAlive được gửi định kỳ khi không có bản tin nào
được gửi để đảm bảo cho mỗi thành phần LDP biết rằng thành phần LDP
khác đang hoạt động tốt. Trong trường hợp không xuất hiện bản tin
KeepAlive hay một số bản tin khác của LDP trong khoảng thời gian nhất
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 33
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
định thì LSR sẽ xác định đối phương hoặc kết nối bị hỏng và phiên LDP bị
dừng.
Bản tin Address:
Một LSR gửi một bản tin địa chỉ đến LSR ngang cấp để thông báo
các địa chỉ giao diện của nó. Một LSR nhận một thông điệp bản tin địa chỉ
sử dụng các địa chỉ nó biết để duy trì cơ sở dữ liệu cho ánh xạ giữa các bộ
nhận dạng LDP ngang cấp và các địa chỉ chặng tiếp theo. Khi một phiên
LDP mới được khởi tạo và trước khi gửi bản tin yêu cầu và gán nhãn, một
LSR thông báo các địa chỉ giao diện của nó với một hay nhiều địa chỉ giao
diện. Bất cứ khi nào một LSR kích hoạt một địa chỉ giao diện mới, nó cần
thông báo địa chỉ mới đó cùng với bản tin địa chỉ. Khi nó muốn hủy kích
hoạt địa chỉ nào đó, nó cần thu hồi địa chỉ cùng với bản tin thu hồi địa chỉ.
Bản tin Label Mapping:
Các bản tin Label Mapping được sử dụng để quảng bá liên kết giữa
FEC (tiền tố điạ chỉ) và nhãn. Bản tin Label Withdrawal thực hiện quá trình
ngược lại: nó được sử dụng để xoá bỏ liên kết vừa thực hiện. Bản tin này
được sử dụng khi có sự thay đổi trong bảng định tuyến (thay đổi tiền tố địa
chỉ) hay thay đổi trong cấu hình LSR làm tạm dừng việc chuyển nhãn các
gói trong FEC đó.
Bản tin Lable Realease:
Bản tin này được LSR sử dụng khi nhận được chuyển đổi nhãn mà
nó không cần thiết nữa. Điều đó thường xảy ra khi LSR giải phóng nhận
thấy nút tiếp theo cho FEC đó không phải là LSR quảng bá liên kết
nhãn/FEC đó.
Ở chế độ hoạt động gán nhãn theo yêu cầu từ phía trước, LSR sẽ
yêu cầu gán nhãn từ LSR lân cận phía trước sử dụng bản tin Label
Request. Nếu bản tin Label Request cần phải huỷ bỏ trước khi được chấp
nhận (do nút kế tiếp trong FEC yêu cầu đã thay đổi), thì LSR yêu cầu sẽ
loại bỏ yêu cầu nhờ bản tin Label Request Abort.
Phát hành và sử dụng nhãn
Có một vài công cụ được sử dụng để phát hành và phân bổ nhãn.
Các đặc tả kiến trúc MPLS thiết lập các thủ tục đầy đủ cho những hoạt
động này. Những thủ tục này được tổ chức như sau.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 34
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Các LSR đường xuống đã định nghĩa 5 thủ tục, trong đó có 4 thủ tục
phân bổ và 1 thủ tục thu hồi. Các thủ tục phân bổ là: (a) Đẩy không điều
kiện; (b) Đẩy có điều kiện; (c) Kéo không điều kiện; (d) Kéo có điều kiện.
Các LSR đường lên đã định nghĩa 9 thủ tục gồm 4 loại đó là:
 Các thủ tục Yêu cầu gồm: (a) thủ tục Không bao giờ yêu cầu, (b)
thủ tục Yêu cầu khi cần, (c) thủ tục Yêu cầu theo yêu cầu.
 Các thủ tục Không khả dụng gồm: (a) thủ tục Yêu cầu có thử lại,
thủ tục Yêu cầu không thử lại.
 Các thủ tục Giải phóng gồm: (a) thủ tục Giải phóng khi thay đổi,
(b) thủ tục Giải phóng khi không thay đổi.
 Các thủ tục Sử dụng nhãn gồm: (a) thủ tục Sử dụng ngay, (b) thủ
tục Sử dụng nếu lặp vòng không được phát hiện.
Các thủ tục LSR đường xuống (Rd)
Hình 1.7 minh hoạ các thủ tục của LSR đường xuống.
Thủ tục Đẩy không điều kiện
Đẩy không điều kiện là trường hợp phân bổ nhãn đường xuống
không theo yêu cầu trong chế độ điều khiển LSP độc lập.
Giả sử X là tiền tố địa chỉ trong bảng định tuyến của LSR-Rd và LSR-
Ru là thực thể ngang cấp phân bổ của Rd. Nếu điều kiện này thoả mãn,
LSR-Rd phải ràng buộc 1 nhãn với X và gửi ràng buộc này tới LSR-Ru.
Trách nhiệm của Ru là phải luôn cập nhật ràng buộc này và phải thông báo
cho Rd biết mọi sự thay đổi.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 35
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
LSR - Ru LSR - Rd
Ràngbuộcnhãnvới tiềntốđịachỉ X
(a) Đẩykhôngđiềukiện
LSR - Ru LSR - Rd
(b) Đẩycóđiềukiện
LSR - Ru LSR - Rd
(c) Kéokhôngđiềukiện
LSR - Rn
(d) Kéocóđiềukiện
Yêucầuràngbuộcnhãnvớitiềntốđịa
chỉX
1.Ràngbuộcnhãnvới
tiềntốđịachỉ X
2.Yêucầuràngbuộcnhãnvới
tiềntốđịachỉ X
Bảngđịnhtuyến
Tiềntốđịachỉ X
Bảngđịnhtuyến
Tiềntốđịachỉ X
RàngbuộcnhãnvớitiềntốđịachỉX
Bảngđịnhtuyến
Tiềntốđịachỉ X
LSR - Ru LSR - Rd LSR - Rn
1.Ràngbuộcnhãnvới
tiềntốđịachỉ X
2.Yêucầuràngbuộcnhãnvới
tiềntốđịachỉ X
3.Ràngbuộcnhãnvới tiềntố
địachỉ X
Bảngđịnhtuyến
Tiềntốđịachỉ X
3.Ràngbuộcnhãnvới tiềntố
địachỉ X
Hình 1.7. Các thủ tục LSR đường xuống
Thủ tục Đẩy có điều kiện
Đẩy có điều kiện là trường hợp phân bổ nhãn đường xuống không
theo yêu cầu trong chế độ điều khiển theo lệnh.
Giả sử X là tiền tố địa chỉ trong bảng định tuyến của LSR-Rd; LSR-Ru
là lối ra của LSP; chặng tiếp theo của Rd là Rn. Hơn nữa, Rn đã ràng buộc
1 nhãn với X và phân bổ ràng buộc đó tới Rd. Trong tình huống này, Rd
nên ràng buộc 1 nhãn với X và gửi nó tới Ru.
Sự khác nhau giữa đẩy không có điều kiện và đẩy có điều kiện là ở
chỗ: đẩy không có điều kiện thực hiện phân bổ các ràng buộc nhãn cho tất
cả các tiền tố địa chỉ trong bảng định tuyến, còn đẩy có điều kiện chỉ thực
hiện phân bổ ràng buộc nhãn cho các tiền tố địa chỉ mà Rd đã nhận các
ràng buộc từ chặng kế tiếp của LSP.
Thủ tục Kéo không điều kiện
Kéo không điều kiện là trường hợp phân bổ nhãn đường xuống theo
yêu cầu, bằng việc sử dụng chế độ điều khiển LSP độc lập.
Giả sử X là tiền tố địa chỉ trong bảng định tuyến của LSR-Rd. LSR-Ru
yêu cầu LSR-Rd ràng buộc nhãn với X, và phân bổ ràng buộc nhãn này cho
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 36
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
tới nó. Rd phải tôn trọng yêu cầu ràng buộc này, và nếu nó không thể
(chẳng hạn, nó không là đối tượng ngang cấp phân bổ nhãn với Ru), thì nó
cũng phải thông báo cho Ru biết. Nếu Rd đã gửi một ràng buộc, thì nó phải
gửi một ràng buộc mới. Ràng buộc cũ vẫn giữ nguyên tác dụng. Kết quả
cuối cùng là 2 nhãn được kết hợp với cùng 1 tiền tố địa chỉ. Tại sao nhà
điều hành mạng muốn làm điều này? MPLS hiểu rõ điều này. Chúng cần
nhớ: Nếu các khía cạnh khác của FEC bên cạnh tiền tố địa chỉ được xem
xét, nó sẽ cho phép ràng buộc các nhãn khác nhau với các FEC khác nhau
có cùng tiền tố địa chỉ.
Thủ tục Kéo có điều kiện
Kéo có điều kiện là trường hợp phân bổ nhãn đường xuống theo yêu
cầu, bằng việc sử dụng chế độ điều khiển LSP theo lệnh.
Giả sử X là tiền tố địa chỉ trong bảng định tuyến của LSR-Rd. Ru yêu
cầu Rd ràng buộc 1 nhãn với X và phân bổ ràng buộc này tới Ru. Rn là lối
ra của LSP, hay chặng kế tiếp lớp 3 của Rd của X là Rn và Rn đã ràng
buộc 1 nhãn với X và phân bổ ràng buộc đó tới Rd. Nếu những điều kiện
này thoả mãn, Rd phải ràng buộc 1 nhãn với X và phân bổ ràng buộc đó tới
Ru.
Thủ tục Thu hồi nhãn
Nếu một LSR quyết định phá vỡ ràng buộc nhãn và tiền tố địa chỉ,
bản tin huỷ ràng buộc nhãn LDP phải được phân bổ tới tất cả các LSR mà
ràng buộc nhãn này đã đi qua lúc đầu.
Các thủ tục LSR đường lên (Ru)
Các hoạt động LSR đường lên là đơn giản hơn những hoạt động
LSR đường xuống như đã nói ở trên. Những hoạt dộng này được tóm tắt
ngắn gọn dựa vào phần 5.1.2 của RFC 3031.
Các thủ tục Yêu cầu
Thủ tục Không bao giờ yêu cầu
LSR không bao giờ yêu cầu 1 ràng buộc nhãn. Chẳng hạn, trong hình
2.11a và 2.11b, LSR đường xuống thực hiện các hành động cần thiết để
ràng buộc các nhãn với các tiền tố địa chỉ. LSR đường lên không cần thiết
phải thực hiện những nhiệm vụ này. Thủ tục này có thể áp dụng khi 1 LSR
sử dụng phân bổ nhãn đường xuống không theo yêu cầu và trong chế độ
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 37
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
duy trì nhãn đầy đủ, nhưng không nên được sử dụng nếu Rd sử dụng các
thủ tục Kéo không có điều kiện hay Kéo có điều kiện.
Thủ tục Yêu cầu khi cần
Khi một router tìm một tiền tố địa chỉ mới hay khi 1 tiền tố mới được
cập nhật, thì thủ tục này được thực hiện - nếu 1 ràng buộc nhãn không tồn
tại. Thủ tục này được thực hiện bởi 1 LSR nếu chế độ duy trì nhãn hạn chế
được sử dụng.
Thủ tục Yêu cầu khi có yêu cầu
Hoạt động này sinh ra một yêu cầu bất cứ khi nào nhận được một
yêu cầu, điều này là khác với sinh ra yêu cầu khi cần. Nếu Ru là không có
khả năng như một LSR lối vào, nó có thể sinh ra một yêu cầu chỉ khi nó
nhận được 1 yêu cầu từ router đường lên. Nếu Rd nhận được 1 yêu cầu
như vậy từ Ru về tiền tố địa chỉ mà Rd đã phân bổ nhãn tới Ru, lúc đó Rd
ấn định một nhãn mới, ràng buộc nó với X, và phân bổ ràng buộc đó.
Các thủ tục không khả dụng
Thủ tục không khả dụng xác định Rd phản ứng như thế nào với tình
huống sau:
1. Ru và Rd tương ứng là các thực thể đồng cấp phân bổ nhãn với
tiền tố địa chỉ X.
2. Rd là chặng kế tiếp lớp 3 của Ru với tiền tố địa chỉ X.
3. Ru yêu cầu 1 ràng buộc với X từ Rd.
4. Rd trả lời rằng nó không thể cung cấp 1 ràng buộc tại thời điểm
này bởi vì nó không có chặng kế tiếp của X.
Có 2 thủ tục điều khiển hành vi của Ru đó là: Thủ tục Yêu cầu có thử
lại và Thủ tục Yêu cầu không thử lại.
Thủ tục Yêu cầu có thử lại
Ru phân tán lại yêu cầu tại một thời điểm. Sau đó thủ tục này nên
được sử dụng khi phân bổ nhãn theo yêu cầu đường xuống được sử dụng.
Thủ tục Yêu cầu không thử lại
Ru không bao giờ phân tán lại yêu cầu, thay vào đó nó thừa nhận
rằng Rd sẽ cung cấp ràng buộc một cách tự động khi nó có thể. Điều này là
có ích nếu Rd sử dụng thủ tục đẩy không có điều kiện, nghĩa là nếu phân
bổ nhãn đường xuống không theo yêu cầu được sử dụng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 38
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Các thủ tục giải phóng nhãn
Các thủ tục giải phóng nhãn có nghĩa đơn giản chỉ là ràng buộc nhãn
với FEC bị xoá tại LSR. Kịch bản cho quá trình giải phóng là như sau. Rd là
một LSR đã ràng buộc 1 nhãn với tiền tố địa chỉ X; nó đã phân bổ ràng
buộc đó tới LSR Ru. Nếu Rd không là chặng kế tiếp của Ru với tiền tố địa
chỉ X hay nó đã không sử dụng chặng kế tiếp của Ru với tiền tố địa chỉ X,
lúc đó Ru đang không sử dụng nhãn, và nó không có lý do gì mà duy trì
nhãn trừ khi có khả năng là sự ràng buộc này xảy ra sau đó. Có 2 thủ tục
để điều khiển hành vi của Ru: Thủ tục Giải phóng khi thay đổi và thủ tục
Không giải phóng khi thay đổi.
Thủ tục Giải phóng khi thay đổi
Ru giải phóng ràng buộc và thông báo với Rd rằng nó đã giải phóng.
Thủ tục này được sử dụng để thực hiện chế độ duy trì nhãn hạn chế.
Thủ tục Không giải phóng khi thay đổi
Ru duy trì ràng buộc nhãn để nó có thể sử dụng lại nếu sau đó Rd trở
thành chặng kế tiếp của Ru với tiền tố địa chỉ X. Thủ tục này được sử dụng
để thực hiện chế độ duy trì nhãn đầy đủ.
Các thủ tục sử dụng nhãn
Chúng ta hãy thừa nhận rằng Ru đã nhận được 1 ràng buộc nhãn L
với tiền tố địa chỉ X từ LSR Rd, và Ru là router đường lên của Rd tương
ứng với tiền tố địa chỉ X, và Rd là chặng kế tiếp của Ru. Ru sẽ sử dụng
ràng buộc nếu Rd là chặng kế tiếp của Ru. Nếu tại thời điểm ràng buộc
nhãn, Ru biết được rằng Rd không là chặng kế tiếp của Ru, thì Ru không
sử dụng mọi ràng buộc nhãn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, Ru có thể bắt đầu
sử dụng ràng buộc nhãn này tại thời điểm sau đó nếu Rd trở thành chặng
kế tiếp của Ru. Ru có thể sử dụng 2 thủ tục: Sử dụng ngay lập tức và Sử
dụng nếu lặp vòng không được phát hiện.
Thủ tục Sử dụng ngay lập tức
Ru có thể sử dụng ràng buộc nhãn ngay lập tức. Tại mọi thời điểm
khi Ru có ràng buộc nhãn với X từ Rd và Rd là chặng kết tiếp của Ru, thì
Rd cũng sẽ là chặng kế tiếp LSP của Ru. Thủ tục này được sử dụng khi
phát hiện lặp vòng không được sử dụng.
Thủ tục Sử dụng nếu lặp vòng không được phát hiện
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 39
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Thủ tục này là giống như thủ tục Sử dụng ngay lập tức, trừ khi Ru đã
phát hiện 1 vòng lặp trong LSP. Nếu 1 vòng lặp được phát hiện, Ru sẽ
không tiếp tục sử dụng nhãn L để chuyển tiếp gói tới Rd. Thủ tục này được
sử dụng khi phát hiện lặp vòng được sử dụng
và sẽ tiếp tục cho đến khi chặng kế tiếp của X thay đổi hay cho đến khi lặp
vòng không còn được phát hiện.
b. Giao thức RSVP
Như tên gọi của nó, giao thức dành trước tài nguyên (RSVP) dùng để
dành trước các tài nguyên cho một phiên làm việc (dòng lưu lượng) trong
mạng Internet. Khía cạnh này của Internet là một điều khá đặc biệt vì hơi
khác những gì chúng ta được biết – Internet cung cấp các dịch vụ nỗ lực
cao nhất, không liên quan đến những yêu cầu xác định trước cho ứng dụng
người dùng.
RSVP cung cấp sự đảm bảo hiệu năng bằng cách phục vụ các tài
nguyên cần thiết tại mỗi thiết bị nằm trên đường kết nối để hỗ trợ cho luồng
lưu lượng (chẳng hạn như hội nghị video hay audio). Cần nhớ rằng IP là
giao thức không hướng kết nối, nó không thiết lập trước đường đi cho các
dòng lưu lượng, trong khi đó RSVP thiết lập trước những đường đi này và
đảm bảo cung cấp đủ băng tần cho đường đi đó.
RSVP không cung cấp các hoạt động định tuyến nhưng nó ứng dụng
IPv4 hoặc IPv6 như một kĩ thuật truyền tải theo cùng một cách giống như
cách mà giao thức bản tin điều khiển Internet (ICMP) và giao thức bản tin
nhóm Internet (IGMP) hoạt động.
L S R b i ª n L S R l â i L S R l â i
P A T H
R E S V M ¸ y g ö i
M ¸ y n h Ë n
Hình 1.8. Thủ tục báo hiệu trong RSVP.
RSVP là giao thức cho phép các ứng dụng thông báo các yêu cầu về
QoS với mạng và mạng sẽ đáp ứng bằng những thông báo thành công
hoặc thất bại, sau khi phân tích các yêu cầu RSVP gửi tới tất cả các node
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 40
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
trên tuyến cần truyền các thông tin về thực tế của luồng, bản tin RSVP
chứa các thông tin sau:
• Thông tin phân loại, nhờ nó mà các luồng lưu lượng với các
yêu cầu QoS cụ thể có thể được nhận biết trong mạng. Thông tin
này bao gồm địa chỉ IP phía gửi và phía nhận, số cổng UDP.
• Chỉ tiêu kĩ thuật của luổng lưu lượng và các yêu cầu QoS, theo
khuân dạng Tspec và Rspec, bao gồm các dịch vụ yêu cầu (có
bảo đảm hoặc tải điều khiển).
Rõ ràng là RSVP phải mang những thông tin này từ các máy chủ tới
tất cả các tổng đài chuyển mạch và các bộ định tuyến dọc theo đường
truyền từ bộ gửi đến bộ nhận. Vì vậy tất cả các thành phần mạng phải tham
gia vào việc đảm bảo các yêu cầu QoS của ứng dụng.
RSVP mang các thông tin trong hai loại bản tin cơ bản là: PATH và
RESV. Các bản tin PATH truyền từ bộ gửi tới một hoặc nhiều bộ nhận có
chứa TSpec và các thông tin phân loại do bộ gửi cung cấp. Một lý do cho
phép có nhiều bộ nhận là RSVP được thiết kế để hỗ trợ đa hướng. Một bản
tin PATH bao giờ cũng được gửi tới một địa chỉ được gọi là địa chỉ phiên,
nó có thể là địa chỉ unicast hoặc multicast. Chúng ta thường xem phiên đại
diện cho một ứng dụng đơn, nó được xác nhận bằng một địa chỉ đích và số
cổng đích sử dụng riêng cho ứng dụng.
Khi máy nhận nhận được bản tin PATH, nó có thể gửi bản tin RESV
trở lại cho máy gửi. Bản tin RESV xác nhận phiên có chứa thông tin về số
cổng dành riêng và RSpec xác nhận mức QoS mà bộ nhận yêu cầu. Nó
cũng bao gồm một số thông tin xem xét những bộ gửi nào được phép sử
dụng tài nguyên đang được cấp phát. Hình 2.12 biểu diễn trình tự bản tin
trao đổi giữa bộ gửi và bộ nhận. Ở đây chúng ta lưu ý rằng các cổng dành
riêng là đơn công. Nếu cần sử dụng các cổng dành riêng sóng công (ví dụ
như phục vụ cho thoại truyền thống) thì phải có các bản tin bổ sung theo
chiều ngược lại. Cũng chú ý rằng các bản tin được nhận và chuyển tiếp bởi
tất cả các bộ định tuyến dọc theo đường truyền thông tin, nên việc cấp phát
tài nguyên có thể được thực hiện tại tất cả các nút mạng cần thiết.
Khi các cổng dành riêng được thiết lập, các bộ định tuyến nằm giữa
bộ gửi và bộ nhận sẽ xác định các gói tin thuộc cổng dành riêng nào nhờ
kiểm tra 5 trường trong phần mào đầu của IP và giao thức truyền tải đó là:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 41
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
địa chỉ đích, số cổng đích, số giao thức (ví dụ UDP), địa chỉ nguồn và cổng
nguồn. Chúng ta gọi tập các gói tin được nhận dạng theo cách này gọi là
luồng dành riêng. Các gói tin trong luồng dành riêng thường bị khống chế
(đảm bảo cho luồng không phát sinh lưu lượng vượt quá so với thông báo
trong Tspec) và xếp vào hàng đợi phù hợp với yêu cầu về QoS. Ví dụ một
cách để có dịch vụ bảo đảm là sử dụng các hàng đợi có trọng số (WFQ), ở
đây mỗi cổng dành riêng khác nhau được xem như một luồng đối với các
hàng đợi, và trọng số được ấn định cho mỗi luồng phù hợp với tốc độ dịch
vụ yêu cầu trong Rspec của nó.
Đối với các luồng đơn hướng thì RSVP khá đơn giản. Nó phức tạp
hơn trong môi trường đa hướng, bởi vì có thể có rất nhiều bộ nhận dành
riêng cổng cho một phiên đơn và các bộ phận khác nhau có thể yêu cầu
các mức QoS khác nhau. Hiện nay MPLS chủ yếu tập trung vào các ứng
dụng đơn hướng của RSVP, chúng ta sẽ không đi sâu vào khía cạnh đa
hướng của RSVP.
Các bản tin PATH và RESV điền đầy các thông tin nhận dạng luồng
và các yêu cầu chất lượng dịch vụ của luồng, các yêu cầu này chỉ thị các
dịch vụ đảm bảo như là tốc độ đỉnh của luồng tin, kích thước lớn nhất khi
bùng nổ lưu lượng, tốc độ gáo dò…vv. Thay vì một dịch vụ đảm bảo, một
điều hành tải điều khiển có thể được thực hiện. Với tiếp cận này, mạng cố
gắng duy trì để điều chỉnh từng luồng lưu lượng mà không ảnh hưởng tới
chất lượng dịch vụ của các dòng lưu lượng khác.
Điểm cuối cùng phải chú ý về RSVP vì đây là giao thức “trạng thái
mềm”. Đặc tính để phân biệt giao thức trạng thái mềm với các giao thức
loại khác là trạng thái sẽ tự động hết hiệu lực sau một thời gian trừ khi nó
được làm tươi liên tục theo chu kỳ. Điều đó có nghĩa là RSVP sẽ định kỳ
gửi đi các bản tin PATH và RESV để làm tươi các cổng dành riêng. Nếu
chúng không được gửi trong một khoảng thời gian xác định thì các cổng
dành riêng tự động bị huỷ bỏ.
MPLS hỗ trợ RSVP
Mục tiêu đầu tiên của việc bổ xung hỗ trợ RSVP vào MPLS là cho
phép các LSR dựa vào việc phân loại gói tin theo nhãn chứ không phải theo
mào đầu IP nhận biết các gói tin thuộc các luồng của cổng dành riêng. Nói
cách khác, cần phải tạo và kết hợp phân phối giữa các luồng và các nhãn
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 42
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
cho các luồng có các cổng dành riêng RSVP. Chúng ta có thể xem một tập
hợp các gói tin tạo ra bởi cổng dành riêng RSVP như là một trường hợp
riêng khác của FEC.
Điều này trở nên khá dễ dàng để kết hợp các nhãn với các luồng
dành riêng trong RSVP, ít nhất là với unicast (đơn hướng). Chúng ta định
nghĩa một đối tượng RSVP mới là đối tượng LABEL được mang trong bản
tin RSVP RESV. Khi một LSR muốn gửi bản tin RESV cho một luồng RSVP
mới, LSR cấp phát một nhãn từ trong tập nhãn rỗi, tại một lối vào trong LFIB
của nó với nhãn lối vào được đặt cho nhãn cấp phát, và gửi đi bản tin
RESV có chứa nhãn này. Chú ý là các bản tin RESV truyền từ bộ nhận tới
bộ gửi là dưới dạng cấp phát nhãn xuôi.
Khi nhận được bản tin RESV chứa đối tượng LABEL, một LSR thiết
lập LFIB của nó với nhãn này là nhãn lối ra. Sau đó nó cấp phát một nhãn
để sử dụng như là nhãn lối vào và chèn nó vào bản tin RESV trước khi gửi
nó đi. Rõ ràng là, khi các bản tin RESV truyền đến LSR ngược thì LSP
được thiết lập dọc theo tuyến đường. Cũng chú ý là, khi các nhãn được
cung cấp trong các bản tin RESV, mỗi LSR có thể dễ dàng kết hợp các tài
nguyên QoS phù hợp với LSP. Hình 2.13 minh hoạ quá trình trao đổi này.
Trong trường hợp này chúng ta giả sử các máy chủ không tham dự vào
việc phân phối nhãn. LSR-R3 cấp phát nhãn L cho cổng dành riêng này và
thông báo nó với LSR-R2. LSR-R2 cấp phát nhãn M cũng cho cổng dành
riêng này và thông báo nó tới LSR-R1. Bây giờ đã có một LSP cho luồng
dành riêng từ LSR-R1 tới LSR-R3. Khi các gói tin tương ứng với cổng dành
riêng này (ví dụ gói tin gửi từ H1 tới H2 với số cổng nguồn, đích thích hợp
và số giao thức giao vận thích hợp) tới R1, R1 phân biệt nó bằng các thông
tin mào đầu IP và lớp truyền tải để tạo ra QoS thích hợp cho cổng dành
riêng ví dụ như đặc điểm và hàng đợi các gói tin trong hàng đợi lối ra. Nói
cách khác, nó thực hiện các chức năng của một bộ định tuyến tích hợp dịch
vụ sử dụng RSVP. Hơn nữa, LSR-R1 đưa mào đầu nhãn vào các gói tin và
chèn giá trị nhãn lối ra là M trước khi gửi chuyển tiếp gói tin tới LSR-R2.
Khi LSR-R2 nhận gói tin mang nhãn M, nó tìm kiếm nhãn đó trong
LFIB và tìm tất cả các trạng thái liên quan đến QoS để xem kiểm soát
luồng, xếp hàng đợi gói tin, v.v.. như thế nào. Điều này tất nhiên không cần
kiểm tra tiêu đề lớp IP hay lớp truyền tải. Sau đó R2 thay thế nhãn trên gói
tin với một nhãn lối ra từ LFIB của nó (mang giá trị L) và gửi gói tin đi.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 43
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
L S R - R 3 L S R - R 1 L S R - R 2
P A T H
R E S V
M ¸ y g ö i
M ¸ y n h Ë n
N h · n = M N h · n = L
H 1
H 2
Hình 1.9. Nhãn phân phối trong bảng tin RESV
Lưu ý rằng, do việc tạo ra nhãn kết hợp được điều khiển bởi các bản
tin RSVP vì vậy việc kết hợp được điều khiển như trong các môi trường
khác của MPLS. Đây cũng là một ví dụ chứng tỏ việc mang thông tin kết
hợp nhãn trên một giao thức có sẵn không cần một giao thức riêng như
LDP.
Một kết quả quan trọng của việc thiết lập một LSP cho một luồng với
cổng dành riêng RSVP là chỉ có bộ định tuyến đầu tiên trong LSP mà trong
ví dụ trên là LSR-R1 liên quan tới việc xem xét các gói tin thuộc luồng dành
riêng nào. Điều này cho phép RSVP được áp dụng trong môi trường MPLS
theo cách mà nó không thể thực hiện được trong mạng IP truyền thống.
Theo qui ước, các cổng dành riêng RSVP có thể chỉ tạo cho những luồng
ứng dụng riêng lẻ, tức là những luồng được xác định nhờ các trường mào
đầu. Tuy nhiên, có thể đặt cấu hình LSR-R1 để lựa chọn các gói tin dựa
trên một số các tiêu chuẩn. Ví dụ, LSR-R1 có thể lấy tất cả các gói tin có
cùng một tiền tố ứng với một đích và đẩy chúng vào LSP. Vì vậy thay vì có
một LSP cho mỗi luồng ứng dụng riêng, một LSP có thể cung cấp QoS cho
nhiều luồng lưu lượng. Một ứng dụng của khả năng này là có thể cung cấp
“đường ống” với băng thông đảm bảo từ một điểm này tới một điểm khác.
Khả năng này cũng hữu ích cho mục đích điều khiển lưu lượng, ở đây một
lưu lượng lớn cần được gửi dọc theo các LSP với băng thông đủ để tải lưu
lượng.
Để hỗ trợ một số cách sử dụng tăng cường RSVP, MPLS định nghĩa
một đối tượng RSVP mới có thể mang trong bản tin PATH là: đối tượng
LABEL_REQUEST. Đối tượng này thực hiện hai chức năng. Thứ nhất, nó
được sử dụng để thông báo cho một LSR tại phía cuối của LSP gửi RESV
trở về để thiết lập LSP. Điều này hữu ích cho việc thiết lập các LSP Site-to-
Site. Thứ hai, khi LSP được thiết lập cho một tập các gói tin, không chỉ là
một luồng ứng dụng riêng, đối tượng chứa một trường để xác định giao
thức lớp cao hơn sẽ sử dụng LSP. Trường này được sử dụng tương tự
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 44
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
như mã phân kênh để xác định giao thức lớp cao hơn (IPv4, IPX, v.v..), vì
vậy sẽ không có trường phân kênh trong mào đầu MPLS nữa. Do vậy, một
LSP có thể cần được thiết lập cho mỗi giao thức lớp cao hơn nhưng ở đây
không giới hạn những giao thức nào được hỗ trợ. Đặc biệt, không yêu cầu
các gói tin mang trong LSP được thiết lập sử dụng RSVP phải là các gói tin
IP.
RSVP và khả năng mở rộng
Một trong những điều chắc chắn về RSVP là nó có thể chịu tổn thất
về khả năng mở rộng ở một mức nào đấy. Trong thực tế, đặc tính này
không chính xác hoàn toàn. RSVP khởi đầu được thiết kế để hỗ trợ dự trữ
tài nguyên cho các luồng ứng dụng riêng và đây là nhiệm vụ với những
thách thức về khả năng mở rộng vốn có.Nói chung thuật ngữ này được sử
dụng để chỉ giới hạn sử dụng tài nguyên tăng nhanh như thế nào khi mạng
tăng trưởng. Ví dụ, trong mạng IP quy mô lớn như mạng xương sống nhà
cung cấp dịch vụ Internet, chúng ta có thể quan tâm đến việc liệu một bảng
định tuyến sẽ chiếm bộ nhớ của bộ định tuyến lớn đến mức nào, khả năng
bộ xử lý và băng thông liên kết. Vì thế, bảng định tuyến tăng chậm hơn
nhiều so với số người sử dụng kết nối vào mạng.
Dự trữ tài nguyên cho các luồng ứng dụng riêng rõ ràng là ảnh
hưởng xấu đến khả năng mở rộng. Chúng ta có thể cho rằng mỗi người sử
dụng sẽ dự trữ tại nguyên tại một vài tốc độ trung bình, vì thế số tài nguyên
dự trữ được tạo ra qua mạng lớn có khả năng tăng nhanh bằng số người
sử dụng của mạng. Điều này sẽ dẫn đến chi phí lớn nếu mỗi bộ định tuyến
phải lưu trữ trạng thái và tiến trình một vài bản tin cho mỗi tài nguyên dự trữ
cho luồng ứng dụng riêng.
Nói tóm lại, sẽ chính xác hơn nếu nói rằng mức dự trữ tài nguyên cho
các luồng ứng dụng là kém hơn so với RSVP. Sự khác nhau này đặc biệt
quan trọng khi chúng ta xem xét rằng RSVP không những đòi hỏi cho việc
dự trữ tài nguyên cho các luồng ứng dụng riêng mà còn dự trữ tài nguyên
cho lưu lượng tổng hợp.
C. Giao thức CR-LDP
Giao thức CR-LDP được sử dụng để điều khiển cưỡng bức LDP.
Giao thức này là phần mở rộng của LDP cho quá trình định tuyến cưỡng
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 45
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
bức của LSP. Cũng giống như LDP, nó sử dụng các phiên TCP giữa các
LSR đồng cấp để gửi các bản tin phân phối nhãn.
Một hệ thống hỗ trợ định tuyến cưỡng bức cần đảm bảo các yêu cầu
sau: thứ nhất, nút nguồn cần biết cấu hình mạng. Thứ hai, nguồn cần biết
các thuộc tính của liên kết trong mạng. Thứ ba, hệ thống có hỗ trợ định
tuyến hiện. Thứ tư, giống như tuyến được thiết lập giữa nút nguồn và nút
đích, sự dành riêng tài nguyên có thể xảy ra và trạng thái thuộc tính của
đường liên kết phải được cập nhật liên tục. Như vậy, để hỗ trợ định tuyến
cưỡng bức ngoài một số điều kiện khống chế về băng thông, khoảng cách
quản lý còn cần có khả năng định tuyến hiện (hoặc định tuyến nguồn).
Để xác nhận thông tin tài nguyên dành riêng theo LSR, CR-LDP tạo
thêm đối tượng mới “tham số điều khiển lưu lượng” gồm 7 tham số: Tốc độ
số liệu đỉnh, kích thước số liệu bùng phát, tốc độ số liệu ngẫu nhiên, kích
thước lớn quá hạn, tần số và trọng số. Hai tham số đầu định nghĩa về số
lượng lớn nhất của lưu lượng trong LSP. Hai tham số sau định nghĩa về số
lượng lưu lượng. Tần số chỉ ra khoảng thời gian LSP đạt được cung cấp độ
rộng băng của LDR và trọng số được dùng để xác định độ rộng băng trên
CDR, phân chia theo LSP.
Có hai lý do để sử dụng MPLS. Trước hết MPLS cho phép tách các
thông tin sử dụng để chuyển tiếp (nhãn) từ các thông tin có trong mào đầu
của gói IP. Thứ hai là việc chuyển đổi giữa FEC và LSP chỉ được giới hạn
trong LSR tại một đầu của LSP. Nói một cách khác, việc quyết định gói IP
nào sẽ định tuyến hiện như thế nào hoàn toàn do LSR tính toán xác định
tuyến. Và như đã trình bày ở trên, đây chính là chức năng cần thiết để hỗ
trợ định tuyến cưỡng bức.
Cũng như các chức năng khác của MPLS, chức năng định tuyến hiện
của MPLS cũng được chia làm hai phần: điều khiển và chuyển tiếp. Phần
tử điều khiển chịu trách nhiệm thiết lập trạng thái chuyển tiếp nhãn dọc theo
tuyến hiện. Phần tử chuyển tiếp sử dụng trạng thái chuyển tiếp được thiết
lập bởi phần tử điều khiển cũng như các thông tin có trong các gói tin để
truyền các gói tin dọc theo tuyến hiện.
D. Giao thức MPLS-BGP
MPLS mở rộng chức năng cho BGP để mang các nhãn trong giao
thức cổng biên giới BGP, MPLS-BGP cho phép bộ định tuyến chạy BGP
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 46
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
phân phối nhãn tới các bộ định tuyến biên khác một cách trực tiếp thông
qua bản tin cập nhật của BGP. Tiếp cận này đảm bảo cho quá trình phân
phối nhãn và các thông tin định tuyến ổn định và giảm bớt tiêu đề của bản
tin điều khiển xử lý.Trong mạng sử dụng các bộ định tuyến BGP như là một
bộ định tuyến biên kết nối với các mạng khác, nó có thể cho phép các bộ
định tuyến không có chức năng trao đổi trực tiếp bản tin BGP hoạt động
đồng thời với các bộ định tuyến biên này. Khi hai bộ định tuyến biên không
kết nối trực tiếp, cần phải thiết lập một đường dẫn chuyển mạch nhãn giữa
hai bộ định tuyến này thông qua một vài kỹ thuật phân phối nhãn khác.
MPLS-BGP cũng có thể được sử dụng để thiết lập các dịch vụ mạng
riêng ảo VPN dựa trên định tuyến BGP (RFC 2547), trong RFC 2547 định
nghĩa cho kiểu mạng không phân cấp và các yêu cầu về khả năng của các
bộ định tuyến biên trong mạng cung cấp dịch vụ:
 Khả năng duy trì các bảng định tuyến tách biệt (theo từng
mạng riêng ảo) tại các thiết bị gờ mạng.
 Hỗ trợ các kiểu địa chỉ thực hiện trong các VPN tại các bộ định
tuyến BGP cung cấp dịch vụ.
1.5. CÔNG NGHỆ GMPLS
Tổ chức tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế cho Internet IETF (International
Engineering Task Force) đã mở rộng bộ giao thưc MPLS gọi là MPLS tổng
quát (GMPLS) để cung cấp mặt phẳng (báo hiệu và định tuyến) cho các
thiết bị mà chuyển mạch theo miền gói, theo thời gian, theo bước sóng (ví
dụ DWDM – Dense Wavelenght Division Multiplexing), theo sợi quang và
theo không gian (ví dụ OXC) qua GMPLS. Mặt phẳng chung này đơn giản
hoá sự hoạt động và quản lý mạng bằng việc cung cấp các kết nối điểm -
điểm, quản lý tài nguyên mạng một cách tự động, cung cấp mức QoS mới
và các ứng dụng phức tạp hơn. Điều này cho phép mạng dựa trên GMPLS
tìm và cung cấp đường đi tối ưu dựa trên những yêu cầu lưu lượng người
sử dụng cho luồng khởi tạo trên mạng IP, sau đó được truyền tải bởi mạng
quang đồng bộ SONET và tiếp theo được chuyển mạch sang một bước
sóng cụ thể trên một sợi vật lý cụ thể.
Thách thức cơ bản với giao thức điều khiển chung là việc thiết lập,
bảo trì, và quản lý các đường kỹ thuật lưu lượng để cho phép mặt phẳng dữ
liệu truyền tải dữ liệu người sử dụng một cách hiệu quả từ nguồn tới đích.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 47
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Luồng người sử dụng có thể truyền qua một số nhịp mạng, ví dụ như một
mạng lối vào hoặc mạng biên tập hợp các luồng từ nhiều người sử dụng (ví
dụ như các ứng dụng doanh nghiệp) để đưa vào mạng trung tâm mà dựa
trên SONET hoặc ATM. Các mạng này lại được kết hợp nhiều luồng từ các
mạng biên khác nhau để đưa vào mạng cự ly dài. Đường đi đặt trước được
sử dụng để đưa dữ liệu tới đích của nó.
Các mạng này và các thiết bị điển hình được thể hiện trên hình 1.10.

Database
Database
1.5.1. NHÃN TỔNG QUAN CỦA GMPLS
Để có thể hỗ trợ các thiết bị chuyển mạch trong các miền khác nhau,
GMPLS đưa vào nhưng bổ sung mới cho khuôn dạng của các nhãn. Khuôn
dạng nhãn mới gọi là “ nhãn tổng quát “, nó chứa thông tin cho phép các
thiết bị thu lập chương trình chuyển mạch và chuyển tiếp dữ liệu bất kể cấu
trúc của nó (gói, TDM, Lambda …..). Nhãn tổng quát có thể biểu diễn cho
một bước sóng đơn, một sợi quang hoặc một khe thời gian. Nó cũng thể
hiện các nhãn MPLS truyền thống, ví dụ như ATM, VCC hoặc shim IP.
Thông tin được gắn vào nhãn tổng quát gồm:
1. Kiểu mã hoá LSP mà thể hiện loại nhãn đang được mang (gói,
bước sóng SONET…).
2. Loại chuyển mạch thể hiện nút có khả năng chuyển mạch hoặc
gói, khe thời gian, bước sóng hoặc sợi quang.
3. Bộ nhận dạng tải trọng chung để thể hiện loại tải đang được mang
bởi LSP (ví dụ như nhánh ảo VT, DS-3, ATM, Ethernet, …..)
Giống như MPLS, sự phân bổ nhãn bắt đầu từ LSR phía trước yêu
cầu một nhãn từ LSR phía sau. GMPLS thực hiện điều này tốt hơn bằng
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 48
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
việc cho phép LSR phía trước đề nghị nhãn cho LSP mà có thể được ưu
tiên bởi LSR phía sau.
1.5.2. BỘ GIAO THỨC GMPLS
Cuộc cách mạng của MPLS sang GMPLS đã mở rộng các giao thức
báo hiệu (RSVP- TE, CR – LDP) và các giao thức định tuyến (OSPF-TE, IS-
IS-TE). Các mở rộng thích nghi với những đặc tính của TDM/SONET và các
mạng quang.
Một giao thức mới, giao thức quản lý liên kết LMP (Link Management
Protocol) đã được đưa vào áp dụng để quản lý và bảo trì hoạt động mặt
phẳng và dữ liệu, điều khiển giữa hai nút lân cận. Giao thức quản lý liên kết
LMP là giao thức dựa trên IP, bao gồm RSVP mở rộng và CR-LDP mở
rộng.
Ngăn xếp giao thức định tuyến IS-IS-TE giống với OSPF-TE ngoại trừ
thay vì IP, một giao thức mạng phi kết nối (CLNP – Connectionless Network
Protocol) được sử dụng để mang thông tin IS-IS-TE.
text
LMP
IP
UDP OSPF-TE TCP
ATM FRAME-RELAY
PPP/Adaption LAYER
SONET
FIBER
Wavelength
switching
RSVP-TE CR-LDP BGP
MAC/GE
Hình 1.10 : Ngăn xếp giao thức GMPLS
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 49
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
CHƯƠNG 2:
GIỚI THIỆU BÀI TOÁN ĐỊNH TUYẾN VÀ GÁN BƯỚC SÓNG
TRONG MẠNG QUANG
2.1. GIỚI THIỆU
Qua một vài năm gần đây, DDWM (Dense Wavelenght Division
Multiplexing) trở thành một công nghệ chủ đạo cho mạng quang thế hệ sạu.
Việc sử dụng DWDM đa kênh được phân biệt bởi các bước sóng khác
nhau có thể được truyền trên một sợi quang, với mỗi kênh hoạt động ở tốc
độ đỉnh của nó. Mỗi bước sóng của mỗi sợi của một tuyến liên kết là một
kênh con hoàn toàn độc lập với các bước sóng khác trên cùng một sợi. Một
khái niệm như vậy thường được gọi là mạng quang và mạng quang thông
minh ION, đó là nơi lớp quang vật lý trở nên nhận biết được các kết nối
bằng việc xác định các bước sóng của chúng. Một công nghệ điển hình của
mạng DWDM và các kênh liên kết khác của nó được biết đến như các bước
sóng được cho trên hình 2.1.
text
text
text
text
text
text
text
text
Hệ thống đầu
cuối
Chuyển mạch quang
Luồng quang với bước
sóng λ1
Luồng quang với bước
sóng λ2
Hình 2.1. Mạng DWDM định tuyến bước sóng
Trong mạng định tuyến, người sử dụng này thông tin với người sử dụng
khác qua kênh toàn quang, các kênh này được xem như là các luồng
quang. Một luồng quang được sử dụng để hỗ trợ một kết nối trong mạng
đinh tuyến bước sóng và có thể liên kết các sợi quang. Trong trường hợp
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 50
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
không sử dụng bộ chuyển đổi, một luồng quang chiếm cùng bước sóng
trên tất cả các liên kết sợi mà nó đi qua. Đặc tính này gọi là điều kiện ràng
buộc bước sóng liên tục. Giả sử rằng mỗi chuyển mạch quang được nối tới
một nút truy nhập như là một nút. Khi đưa ra một tập kết nối, bài toán thiết
lập các luồng quang bằng định tuyến và gán bước sóng mỗi kết nối được
gọi là bài toán định tuyến và gán bước sóng (RWA- Routing and
Wavelength Assignment).
2.2.CÁC LOẠI BÀI TOÁN RWA
Thông thường, có hai loại lưu lượng mạng là tĩnh hoặc động. Do vậy bài
toán RWA gồm hai loại tĩnh và động. Điều này dẫn đến hai kiểu thiết lập
luồng quang: Bài toán thiết lập luồng quang tĩnh và thiết lập luồng quang
động.
2.2.1 THIẾT LẬP LUỒNG QUANG TĨNH (SLE)
Trong bài toán này tất cả các yêu cầu kết nối được biết trước và
không thay đổi. Đó là yêu cầu cho việc thiết lập một tập hợp các đường
quang được đưa ra đầu tiên. Các đường quang này không bị giải phóng
ngay khi chúng được thiêt lập. Các đường quang được giả sử là các luồng
quang, đó là ràng buộc bước sóng liên tục. Bài toán tối ưu là tối thiểu số
bước sóng cho một cấu hình mạng nhất định, số sợi quang, và tập hợp các
đưòng quang đã yêu cầu.
2.2.2. THIẾT LẬP LUỒNG QUANG ĐỘNG (DLE)
Trong bài toán này tất cả các yêu cầu kết nối đến một cách động và
luồng quang được giải phóng sau một thời gian hạn định. Bài toán tối ưu là
tối thiểu xác suất tắc nghẽn yêu cầu cho một số bước sóng nhất định và
hoặc tối thiểu giá thành mạng.
Bài toán thiết lập luồng quang tĩnh có thể đạt được nhiều hơn với
công nghệ hiện nay và sẽ là giải pháp tương lai gần trong mạng quang
thông minh ION. Nhưng khi lưu lượng trong mạng lõi sẽ trở nên động hơn
thì thiết lập luồng quang động sẽ phải được thực hiện trong mạng ION. Do
vậy luận văn này sẽ tập trung chủ yếu vào việc giải quyết bài toán DLE.
2.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN
Bài toán RWA liên quan đến các phần khác nhau, thường được giải
quyết riêng biệt để đơn giản hoá bài toán. Với bài toán định tuyến thì có ba
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 51
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
phương pháp định tuyến cơ bản: Định tuyến cố định, định tuyến thay thế cố
định và định tuyến thích nghi.
Trong định tuyến cố định, chỉ có một tuyến cố định (ví dụ như đường
ngắn nhất) giữa cặp nút nguồn và đích.
Trong định tuyến thay thế cố định, mỗi nút duy trì một bảng định tuyến
mà chứa một danh sách các tuyến cố định được yêu cầu tới mỗi nút đích.
Ví dụ như, các tuyến này có thể bao gồm tuyến ngắn nhất đầu tiên, tuyến
ngắn nhất thứ hai, tuyến ngắn nhất thứ ba vv.. Tuyến thực tế cho một yêu
cầu kết nối chỉ có thể được chọn lựa từ tập các tuyến này.
Trong định tuyến thích nghi, định tuyến dựa trên bước sóng có thể sử
dụng hiện có trên mỗi tuyến liên kết. Bất kỳ tuyến khả thi nào từ nút nguồn
tới nút đích có thể ứng cử như tuyến thực tế cho một yêu cầu kết nối. Việc
lựa chọn tuyến phụ thuộc vào chính sách mạng được sử dụng như đường
đầu tiên chi phí ngắn nhất hoặc đường đầu tiên tắc nghẽn ít nhất.
Nói chung, định tuyến cố định là đơn giản nhất trong khi định tuyến
thích nghi mang lại đặc tính tốt nhất. Định tuyến thay thế cố định đem lại sự
thoả hiệp giữa sự phức tạp và đặc tính mạng.
Bài toán gán bước sóng là một phần khác của bài toán RWA. Nói
chung, nó dễ dàng hơn nhiều so với bài toán định tuyến, nhưng cũng phụ
thuộc vào kết quả của giải pháp định tuyến. Tuy nhiên nó thường ảnh
hưởng tới kết quả hiệu suất của giải thuật RWA.
2.4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.4.1. GIỚI THIỆU LÝ THUYẾT ĐỒ THỊ
Trong lý thuyết đồ thị, cấu hình mạng có thể được biểu diễn như đồ
thị G (V, E), ở đó V biểu thị tập các đỉnh (các nút mạng) và E là tập hợp các
biên (Các tuyến liên kết mạng). V thể hiện số nút trong đồ thị và thường
được gọi là biên độ của đồ thị. Mỗi tuyến liên kết (i, j)∈ E có thể được kết
hợp với một hàm trọng W j i, mà biểu diễn bằng một phương pháp nào đó
để xác định chi phí sử dụng tuyến liên kết (i, j). Bậc của nút i ∈V là số nút
lân cận của nút i.
Ta chỉ xét bài toán đường đi ngắn nhất trong đồ thị. Cho đồ thị G(V,
E) bài toán đặt ra là tìm đường đi trong đồ thị mà tối thiểu tổng trọng lượng
của tất cả các tuyến liên kết diễn ra giữa hai đỉnh. Lý thuyết đồ thị cung cấp
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 52
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
nhiều cách để giải quyết bài toán đó. Giải thuật phổ biến nhất là giải thuật
Dijkstra và Bellman- Ford. Dưới đây chỉ giới thiệu về giải thuật Dijkstra.
2.4.2. GIẢI THUẬT DIJKSTRA
Giải thuật Dijkstra được giới thiệu vào năm 1959 cung cấp một giải
thuật hiệu quả nhất cho việc giải quyết bài toán đường đi ngắn nhất. Nó tìm
đường đi ngắn nhất từ một đỉnh nguồn s đã cho tới mỗi đỉnh d trong V bằng
việc triển khai các đường đi theo thứ tự độ dài đường đi tăng dần. Mỗi nút
được dán nhãn bằng khoảng cách của nó từ nút nguồn dọc theo đường
được xem là tốt nhất. Đầu tiên không đường đi nào được biết đến do vậy
tất cả các nút được dán nhãn là ∞. Khi giải thuật tiến hành và các đường đi
được tìm ra thì các nhãn có thể thay đổi tương ứng với các đường đi tốt
hơn. Nhãn có thể là thăm dò hoặc cố định. Ban đầu tất cả các nhãn là thăm
dò. Khi nó được khám phá ra mà nhãn thể hiện đường đi ngắn nhất có thể
từ nguồn tới nút đó thì nó đựoc tạo cố định và không bao giờ đựoc thay đổi
sau đó.
2.5. BÀI TOÁN RWA TRONG THIẾT LẬP LUỒNG QUANG TĨNH (SLE)
Bài toán SLE có thể được giải như bài toán quy hoạch tuyến tính
nguyên, nó là bài toán NP đầy đủ. Để giải bài toán này dễ dàng hơn, bài
toán SLE có thể chia thành 2 bài toán nhỏ
1. Định tuyến
2. Gán bước sóng
Mỗi bài toán này giải theo những cách khác nhau. Một số giải thuật
gần đúng được dùng để giải bài toán SLE cho các đường mạng lớn và
thuật toán tô màu đồ thị được dùng để gán bước sóng tới các luồng quang
một khi các luồng quang được định tuyến đúng.
Đối tượng của hàm mục tiêu là tối thiểu số bước sóng cần thiết để
thiết lập
một tập hợp các bước sóng nào đó cho một cấu hình vật lý đưa ra. Bài
toán thay thế bài toán tối thiểu số bước sóng trong mạng là bài toán với
mục tiêu là cực đại số các kết nối có thể được thiết lập (tối thiểu số tắc
nghẽn) cho một số bước sóng và các yêu cầu kết nối đưa ra.
Bài toán SLE với điều kiện ràng buộc bước sóng liên tục có thể áp
dụng như quy hoạch lập tuyến tính nguyên ILP (Integer Linear Program)
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 53
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
trong đó hàm mục tiêu là tối thiểu lưu lượng trên mỗi liên kết, lần lượt nó
tương ứng với tối thiểu số luồng quang qua từng liên kết riêng biệt.
Thuật toán heuristic cho bài toán gán bước sóng cho một tập luồng
quang tĩnh thông thường liên quan đến trình tự bước sóng, và gán cùng
bước sóng cho càng nhiều luồng quang càng tốt trước khi chuyển sang
bước sóng tiếp theo. Hơn nữa tập các luồng quang có thể được xếp theo
thứ tự theo độ dài, để các bước sóng được gán cho các luồng quang dài
hơn trước khi các bước sóng được gán cho luồng quang ngắn hơn. Tất cả
các phương pháp heuristic đó chiếm rất nhiều CPU và chúng là các giải
pháp không thiết thực cho thực thi bởi tính phức tạp thông thường của nó.
Tiêu chuẩn xác định RWA là tối thiểu số các bước sóng cho một cấu
hình mạng đã cho, số sợi quang, và tập các đường quang yêu cầu.
Mặc dù đã tìm ra các giải pháp để giải quyết bài toán SLE nhưng
chúng hầu như đều dựa vào những phương pháp phức tạp và do vậy
không thực sự phù hợp cho những thực thi thực tế. Hơn nữa, vấn đề SLE
không quan tâm đến lưu lượng động. Điều này có thể phù hợp cho mạng
đường trục ngày nay; nhưng trong tương lai rất gần, việc quản lý luồng
quang tự động đáp ứng các nhu cầu cho lưu lượng động phải được cung
cấp. Đây là mục tiêu của các bài toán DLE mà được giới thiệu sau đây.
2.6. BÀI TOÁN RWA TRONG THIẾT LẬP LUỒNG QUANG ĐỘNG (DLE)
Khi các luồng quang được thiết lập và loại bỏ một cách động thì các
quyết định RWA phải được thực hiện khi các yêu cầu kết nối đến mạng. Với
một yêu cầu kết nối nhất định có thể tài nguyên mạng không đủ để thiết lập
một luồng quang, trong trường hợp đó yêu cầu kết nối sẽ bị nghẽn. Việc kết
nối cũng có thể bị nghẽn nếu không có bước sóng chung có thể sử dụng
trên tất cả các tuyến dọc theo tuyến đã được chọn (ràng buộc bước sóng
liên tục - WCC). Do vậy, mục tiêu trong trường hợp lưu lượng động là chọn
tuyến và bước sóng mà tối đa khả năng thiết lập kết nối đã cho, trong khi
cùng lúc nỗ lực tối thiểu tắc nghẽn cho các kết nối tương lai.
Các thuật toán RWA động được đặc trưng bởi các tham số và thước
đo điển hình phù hợp với môi trường lưu lượng động. Trong đó các yêu cầu
đến và đi ra khỏi mạng xuất hiện từng yêu cầu theo một cách ngẫu nhiên.
Thước đo đặc tính được sử dụng thường rơi vào một trong ba loại sau đây:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 54
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
- Số bước sóng yêu cầu;
- Xác xuất tắc nghẽn kết nối (lưu lượng đưa vào) được tính bằng tỷ
số giữa những kết nối bị tắc nghẽn trên tổng số các kết nối đến
hoặc đi;
- Số lượng tài nguyên sợi quang được nắm giữ tại các nút định
tuyến (chi phí sợi quang).
Giống với trường hợp luồng quang tĩnh, bài toán RWA động cũng có
thể chia thành bài toán định tuyến và bài toán gán bước sóng. Phương
pháp để giải quyết bài toán định tuyến có thể phân loại theo hoặc cố định
hoặc thích nghi, và theo sử dụng thông tin trạng thái mạng hoặc tổng thể
cục bộ.
Một số phương pháp heuristic điển hình đề xuất cho bài toán này như
sau:
2.6.1. BÀI TOÁN ĐỊNH TUYẾN
A.Định tuyến cố định
Cách tiếp cận đơn giản để định tuyến một kết nối là luôn lựa chọn
một tuyến cố định như nhau cho một cặp nguồn – đích. Một ví dụ điển hình
của cách tiếp cận này là định tuyến đường ngắn nhất cố định. Đường ngắn
nhất tính cho mỗi cặp nguồn – đích được tính trước (offline) sử dụng thuật
toán đường ngắn nhất chuẩn như Dijkstra hoặc Bell – Ford. Do đó nút
mạng không cần thiết lưu giữ toàn bộ trạng thái mạng. Bất kỳ kết nối nào
giữa cặp các nút riêng được thiết lập sử dụng tuyến được xác định trước.
Trong hình 2.2 đường ngắn nhất cố định minh hoạ từ nút 0 đến nút 2. Cách
tiếp cận này là nếu tài nguyên (bước sóng) dọc theo các đường tắc nghẽn,
nó có thể dẫn đến các xác xuất tắc nghẽn cao trong trường hợp lưu lượng
động hoặc dẫn đến một số lượng lớn các bước sóng đang sử dụng trong
mạng trong trường hợp lưu lượng tĩnh. Định tuyến cố định cũng không thể
điều khiển các tình huống sai hỏng trong một hay nhiều các liên kết nào đó
trong mạng hỏng. Để điều khiển các sai hỏng liên kết, việc tổ chức định
tuyến hoặc phải xem xét các đường lựa chọn tới đích hoặc phải có khả
năng tìm thấy một tuyến động. Trong hình 2.2, một yêu cầu kết nối từ nút 0
đến nút 2 sẽ bị khoá nếu một bước sóng chung không thể sử dụng trên cả
hai liên kết trong tuyến cố định
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 55
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
0
1
2
3
4 5
HÌNH 2.2: Đường ngắn nhất cố định
B. Định tuyến thay thế cố định
Một cách tiếp cận để xem xét định tuyến là định tuyến thay thế cố
định. Trong định tuyến thay thế cố định, mỗi nút trong mạng được yêu cầu
duy trì một bảng định tuyến chứa danh sách chỉ thị của một số các tuyến
cố định tới mỗi nút đích. Ví dụ, những nút này có thể bao gồm tuyến đầu
tiên ngắn nhất, tuyến thứ hai ngắn nhất, tuyến thứ ba ngắn nhất ….. Một
tuyến chính giữa một nút nguồn s và một nút đích d được định ra là tuyến
đầu tiên trong danh sách các tuyến tới nút d trong bảng định tuyến tại nút s.
Một tuyến thay thế giữa nút s và nút d là bất kỳ tuyến nào mà nó không
dùng chung bất kỳ liên kết nào (là liên kết độc lập) với tuyến đầu tiên trong
bảng định tuyến tại nút s. Thuật ngữ “tuyến thay thế“ cũng để thực hiện mô
tả tất cả các tuyến (bao gồm cả tuyến chính) từ một nút nguồn tới một nút
đích. Hình 2.3 mô tả tuyến kết nối nút chính (đường liền) từ nút 0 đến nút 2,
và tuyến thay thế (đường chấm) từ nút 0 đến nút 2.
0
1
2
3
4 5
Hình 2.3. Tuyến chính (nét liền) và tuyến thay thế (nét
chấm)
Khi một kết nối yêu cầu đến, nút nguồn thử thiết lập kết nối liên tiếp
trên mỗi tuyến từ bảng định tuyến đến khi một tuyến nối mỗi bước sóng gán
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 56
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
hợp lệ tìm thấy. Nếu không có tuyến nào có thể dùng được tìm thấy từ danh
sách các tuyến thay thế thì yêu cầu kết nối bị khoá hoặc mất. Trong hầu hết
các trường hợp, các bảng định tuyến tại mỗi nút được chỉ thị bằng số các
đoạn liên kết sợi quang (chặng) tới đích. Như vậy đường ngắn nhất tới đích
là đường đầu tiên trong bảng định tuyến. Khi có các ràng buộc về khoảng
cách giữa các tuyến khác nhau, một tuyến có thể được lựa chọn ngẫu
nhiên. Định tuyến thay thế cố định cung cấp điều khiển dễ dàng cho thiết
lập và giải phóng các luồng quang và nó cũng có thể được sử dụng với một
số mức độ lỗi chấp nhận được trên các liên kết hỏng
C. Định tuyến thích nghi dựa trên thông tin tổng thể
Phương pháp định tuyến thích nghi tăng khả năng xảy ra thiết lập kết
nối bằng việc đưa vào tính toán thông tin trạng thái mạng. Với trường hợp
thông tin tổng thể là có thể sử dụng thì các quyết định định tuyến có thể
thực hiện với thông tin đầy đủ về mặt các bước sóng có thể sử dụng trên
mỗi tuyến liên kết trong mạng. Định tuyến thích nghi dựa trên thông tin tổng
thể có thể thực hiện hoặc bằng phương pháp tập trung hoặc bằng phương
pháp phân tán. Có các loại định tuyến thích nghi sau đây:
C.1. Định tuyến đường thay thế cố định
Định tuyến đường thay thế dựa vào tập các tuyến cố định được quyết
định trước giữa nút nguồn và nút đích. Khi yêu cầu kết nối đến thì một
tuyến được lựa chọn từ tập các tuyến đã quyết định trước, và luồng quang
được thiết lập trên tuyến này. Tiêu chuẩn lựa chọn tuyến thường dựa trên
hoặc độ dài tuyến hoặc tắc nghẽn trên tuyến.
+ Lựa chọn tuyến dựa trên độ dài
Ví dụ của giải thuật định tuyến dựa trên độ dài là giải thuật K đường
ngắn nhất, trong đó K đường ngắn nhất được duy trì cho mỗi cặp nguồn –
đích, và các đường lựa chọn theo thứ tự chiều dài từ ngắn nhất tới dài nhất.
Kết nối ngắn nhất được thử trên đường ngắn nhất. Nếu tài nguyên không
thể sử dụng trên đường này thì đường ngắn nhất tiếp theo sẽ được thử.
+ Định tuyến dựa trên tắc nghẽn đường đi
Phương pháp lựa chọn tuyến dựa trên tắc nghẽn xác định tài nguyên
có thể sử dụng trên mỗi đường thay thể, và chọn lựa đường mà trên đó số
lượng tài nguyên lớn nhất có thể được sử dụng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 57
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Lựa chọn tuyến đường ngắn nhất chi phí tài nguyên mạng ít hơn có
thể dẫn tới tải trọng cao trên một số tuyến liên kết trong mạng. Trong khi
lựa chọn đường với tắc nghẽn ít nhất dẫn tới các đường dài hơn, nhưng
phân bổ tải đều hơn qua mạng.
C.2. Định tuyến không ràng buộc
Phương pháp định tuyến thich nghi khác mà sử dụng thông tin tổng
thể là định tuyến không ràng buộc. Định tuyến này xem xét tất cả các
đường có thể giữa một nút nguồn và một nút đích. Để lựa chọn một tuyến
tối ưu, một chi phí được gán cho mỗi đường liên kết trong mạng dựa trên
thông tin trạng thái mạng hiện tại, như bước sóng có thể sử dụng được trên
các tuyến liên kết. Giải thuật định tuyến chi phí ít nhất sau đó được thực
hiện để tìm tuyến chi phí ít nhất. Bất cứ khi nào kết nối được thiết lập hoặc
giải phóng, thì thông tin trạng thái mạng phải được cập nhật.
Hai ví dụ về định tuyến không ràng buộc là định tuyến trạng thái liên
kết và định tuyến vectơ khoảng cách.
+ Đinh tuyến trạng thái liên kiết
Trong phương pháp định tuyến trạng thái liên kết phân tán, mỗi nút
trong mạng phải duy trì đầy đủ thông tin trạng thái mạng. Mỗi nút sau đó có
thể tìm tuyến cho yêu cầu kết nối bằng phương pháp phân tán. Bất cứ khi
nào trạng thái của mạng thay đổi thì tất cả các nút phải được cung cấp
thông tin. Do đó, việc thiết lập hoặc giải phóng một luồng quang trong mạng
có thể dẫn tới quảng bá thông tin cập nhật tới tất cả các nút trong mạng.
Nhu cầu quảng bá bản tin cập nhật có thể dẫn đến tổng chi phí điều khiển
đáng kể. Hơn nữa, một nút có thể có thông tin bị lỗi thời làm cho nút thực
hiện quyết định định tuyến dựa trên thông tin này không đúng.
Một số khắc phục đã được thực hiện để nâng cao các giải thuật tuyến
chung ngắn nhất bằng việc sử dụng đinh tuyến trạng thái liên kết. Từ đó đã
chỉ ra rằng thước đo dựa trên sử dụng chặng trung gian thấp nhất và tổng
hợp của tổng số bước sóng và bước sóng có thể sử dụng cho kết quả xác
xuất tắc nghẽn ít nhất.
Sau đây giới thiệu các thước đo hàm trọng được sử dụng trong mạng
WDM có thể được sử dụng bằng giải thuật Dijkstra.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 58
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Gọi
a
j i,
λ
là số bước sóng có thể sử dụng trên tuyến liên kết và λ
T
j i,
là tổng số các bước sóng có thể trên tuyến liên kết đó. Khi đó hàm trọng
dựa trên tổng số bước sóng có thể sử dụng (Total Wavelength and
Avaiable – TWA) được mô tả như sau:
Gọi W j i, là hàm trọng của tuyến
( ) j i,
. Trong TWA, W j i, được định
nghĩa như sau:
W j i, = - log
1
1
]
1

¸

,
_

¸
¸
− −
a
j i
T
j i
a
j i
,
,
,
1 1
λ
λ
λ

( ) j i,
∈ E
2
Gọi P là xác xuất mà một bước sóng được sử dụng trên một tuyến
liên kết. Nếu

a
j i,
λ

T
j i,
λ
đã biết, p có thể được tính:
P = 1 -
T
j i
a
j i
,
,
λ
λ
Khi xác suất mà tất cả các bước sóng sẽ được sử dụng tại một thời điểm
trong tương lai có thể được viết là p
a
j i ,
λ
. Khi đó xác xuất mà ít nhất một
bước sóng có thể sử dụng được trên một liên kết trong tương lai được đưa
ra bằng (1 - P
a
j i ,
λ
) . Với một tuyến bao gồm nhiều liên kết, mục tiêu là tối đa
khả năng mà một bước sóng có thể sử dụng trong tương lai, tức là cực đại
giá trị (1 - P
a
j i ,
λ
) của tất cả các liên kết có thể tạo thành tuyến. Chúng ta
sử dụng – log (1 - P
a
j i ,
λ
) như một hàm trọng tương ứng và thực hiện tối
thiểu giá trị này. Đây là một hàm trọng động cho bước sóng luôn thay đổi.
Định tuyến vectơ khoảng cách
Phương pháp véc tơ khoảng cách có thể định tuyến với thông tin
tổng thể. Phương pháp này không đòi hỏi mỗi nút duy trì đầy đủ thông tin
trạng thái liên kết ở mỗi nút, nhưng thay vì mỗi nút lưu giữ một bảng chuyển
tiếp dành riêng cho mỗi đích và mỗi bước sóng, chặng tiếp theo tới đích và
khoảng cách tới đích. Phương pháp này dựa vào giải thuật Bellman- Ford
phân tán để duy trì các bảng định tuyến. Giống với định tuyến trạng thái liên
kết, bài toán cũng yêu cầu các nút cập nhật thông tin bảng định tuyến của
chúng bất cứ khi nào một kết nối được thiết lập hoặc giải phóng. Việc cập
nhật này được thực hiện bằng việc mỗi nút gửi một bản tin cập nhật định
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 59
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
tuyến tới các nút lân cận chúng theo chu kỳ hoặc bất cứ khi nào trạng thái
các tuyến liên kết lối ra của nút thay đổi. Mặc dù mỗi nút duy trì thông tin ít
hơn định tuyến trạng thái liên kết và cập nhật không quảng bá tới tất cả các
nút nhưng bài toán này có thể vẫn chịu mức độ chi phí điều khiển cao.
Giải thuật vectơ cũng rất hay ở chỗ, bằng một số cách nó có thể thực
hiện định tuyến ràng buộc dựa trên số chặng và các loại thước đo khác
nhau. Thực vậy, các giải thuật định tuyến tiêu chuẩn thường tối ưu một mục
tiêu, tức là chúng có thể tối thiểu số chặng trung gian, hoặc tối thiểu loại
thước đo khác nào đó nhưng không thể là cả hai. Tối ưu mục tiêu kép là
nhiệm vụ phức tạp hơn và nói chung nó là một bài toán khó giải.
Giải thuật đường đi ngắn nhất Bellman-Ford được dùng cho việc tính
đường đi của một thước đo tối thiểu cho tất cả các chặng trung gian. Đây là
một tính chất của giải thuật Bellman – Ford mà ở h lần lặp lại của nó, nó xác
định đường tối ưu giữa nguồn và đích, giữa các đường đi ở hầu hết h
chặng. Tuy nhiên, bởi vì giải thuật Bellman-Ford tiến hành bằng việc tăng
chặng số chặng trung gian nên nó cần cung cáp cho chặng trung gian rỗi
một đường đi như một tiêu chuẩn tối ưu thứ hai. Đây có thể là một tính
năng đặc biệt thú vị nếu mục tiêu là tìm đường ngắn nhất (với một thước đo
cụ thể) trong khi vẫn tìm một đường “ tương đối “ ngắn, đó là đường cũng
tối thiểu chặng trung gian.
+ So sánh giữa định tuyến vectơ khoảng cách và định tuyến
Trạng thái liên kết trong bài toán RWA
Định tuyến trạng thái liên kết và véctơ khoảng cách là hai khả năng
có thể xử lý toàn bộ tin tức về mạng. Tuy nhiên, việc lựa chọn cả hai giải
thuật gây ra các chế độ rất khác nhau khi xem xét vấn đề RWA. Hiệu suất
của hai phương pháp cho việc thiết lập luồng quang động thì trạng thái liên
kết làm tốt hơn với tải trọng thấp. Định tuyến phân tán cho xác xuất tắc
nghẽn thấp hơn với tải trọng cao.
Tuy nhiên, khuyết điểm cơ bản của giải thuật vectơ khoảng cách là ở
chỗ chúng không phù hợp nhiều bằng giải thuật liên kết khi xem xét vấn đề
xử lý lưu lượng. Đặc biệt, ưu điểm chính của giải thuật trạng thái liên kết là
mỗi nút có một tin tức tổng thể về mạng. Điều này làm cho nó dễ dàng tìm
các tuyến rõ ràng từ một nút nguồn tới một nút đích, do vậy tăng xác xuất
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 60
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
mắc lỗi hơn cho mạng. Ví dụ có thể tăng khả năng khôi phục khi các nút
đầy tin về mạng.
Mặc dù bài toán định tuyến dựa trên tin tức tổng thể phải giải quyết
nhiệm vụ duy trì một số lượng lớn thông tin trạng thái đang thay đổi liên
tiếp, nhưng bài toán này thường thực hiện các quyết định tuyến tối ưu nhất
nếu thông tin trạng thái là mới nhất. Do vậy, bài toán dựa trên thông tin tổng
thể có thể rất phù hợp cho các mạng mà trong đó luồng quang là khá tĩnh
và không thay đổi nhiều theo thời gian.
D. Định tuyến thích nghi dựa trên thông tin cục bộ
Ưu điểm của thông tin cục bộ là các nút không phải duy trì một số
lượng lớn thông tin trạng thái; tuy nhiên, các quyết đinh định tuyến có
khuynh hướng kém tối ưu hơn so với trường hợp thông tin tổng thể. Hai ví
dụ về bài toán định tuyến thích nghi dựa trên thông tin cục bộ là định tuyến
thay thế với thông tin cục bộ và định tuyến lệch.
D.1. Định tuyến thay thế dựa trên thông tin cục bộ
Trong khi các bài toán định tuyến thay thế thường dựa trên thông tin
tổng thể thì khác với hiện nay chỉ dùng thông tin cục bộ. Trong bài toán định
tuyến thay thế tắc nghẽn ít nhất, việc lựa chọn một tuyến được xác định bởi
bước sóng có thể sử dụng dọc theo tuyến thay thế. Hai bài toán khác nhau
được xem xét: Trường hợp trong đó thông tin bước sóng có thể sử dụng
được biết đến dọc theo toàn bộ tuyến, và trường hợp đó chỉ có thông tin
bước sóng là có thể sử dụng được biết đến dọc theo toàn bộ tuyến, và
trường hợp trong đó chỉ có thông tin cục bộ là có thể sử dụng.
+ Nhận biết bước sóng đầu cuối - đầu cuối
Trong phương pháp đầu tiên, thực thể thực hiện định tuyến nhận
thấy thông tin bước sóng có thể sử dụng cho tất cả các tuyến liên kết trong
các đường thay thế. Trong trường hợp này, tuyến được chọn là tuyến có
bước sóng lớn nhất có thể sử dụng dọc theo toàn bộ các tuyến liên kết
trong đường đi của nó. Ví dụ như, trong hình 2.4, nếu hai tuyến thay thế từ
nút nguồn A tới nút đích D được xem xét với các bước sóng có thể sử dụng
như được chỉ trên mỗi tuyến liên kết, thì hai bước sóng (
1
λ
và 3
λ
) là có
thể sử dụng dọc theo toàn bộ độ dài của tuyến 1, trong khi chỉ một bước
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 61
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
sóng (
2
λ
) là có thể sử dụng dọc toàn bộ chiều dài tuyến 2; do vậy tuyến 1
sẽ được lựa chọn.
Tuyến 2
Tuyến 1
A
B C
D
E F
Hình 2.4: Định tuyến thay thế
+ Nhận biết bước sóng từng phần
Phưong án dựa trên thông tin cục bộ là kết hợp thông tin bước sóng
có thể sử dụng chỉ dọc k chặng ngắn nhất của mỗi đường. Tuyến sau đó
được lựa chọn dựa trên loại đường bị tắc nghẽn ít nhất dọc theo k chặng
ngắn nhất của nó. Trong hình 2.4, nếu k =2 thì tuyến 2 sẽ được lựa chọn,
do nó có ba bước sóng có thể sử dụng trên hai tuyến liên kết ngắn nhất (
1
λ
,
2
λ
, và
4
λ
), trong khi tuyến 1 chỉ có hai bước sóng có thể sử dụng trên
hai tuyến liên kết ngắn nhất (
1
λ
và 3
λ
).
Mặc dù thông tin cục bộ có thể cung cấp một sự đánh giá tốt về tắc
nghẽn dọc theo đường đi nhưng nó không đảm bảo bước sóng đặc trưng là
có thể sử dụng dọc toàn bộ đường đi; do vậy, có thể sau khi chọn lựa một
tuyến, một kết nối vẫn sẽ bị tắc nghẽn
do thiếu các bước sóng có thể sử dụng.
D.2. Định tuyến lệch
Một phương pháp khác cho định tuyến thích nghi với thông tin hạn
chế là định tuyến lệch, hoặc định tuyến liên kết thay thế. Bài toán định tuyến
này chọn lựa từ các tuyến thay thế trên cơ sở theo chặng hơn là chọn lựa
từ các tuyến trên cơ sở đầu cuối - đầu cuối. Định tuyến được thực hiện bởi
mỗi nút duy trì một bảng định tuyến thể hiện đại diện cho mỗi đích, một hay
nhiều tuyến liên kết lối ra thay thế tiến tới đích đó. Các tuyến liên kết lối ra
thay thế này có thể ra được điều khiển để yêu cầu kết nối sẽ ưu tiên lựa
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 62
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
chọn các tuyến liên kết nào đó miễn là tài nguyên bước sóng có thể sử
dụng trên các tuyến liên kết này.
Khác với bảng định tuyến tĩnh, mỗi nút sẽ duy trì thông tin về trạng
thái của bước sóng sử dụng trên các tuyến liên kết lối ra của chính nó. Khi
lựa chọn một tuyến liên kết lối ra cho định tuyến, thì quyết định có thể xác
định trên cơ sở đường ngắn nhất hoặc tắc nghẽn ít nhất.
+ Bài toán định tuyến lệch với đường đi ngắn nhất
Dưới tiêu chuẩn đường đi ngắn nhất, bài toán định tuyến sẽ cố gắng
ngắn nhất để lựa chọn tuyến liên kết lối ra mà cho kết quả đường ngắn nhất
tới đích. Nếu không có bước sóng có thể sử dụng trên tuyến liên kết thì bài
toán định tuyến sẽ cố gắng lựa chọn một tuyến liên kết lối ra thay thế mà
dẫn tới đường ngắn nhất tiếp theo tới đích. Bài toán định tuyến tiếp tục
bằng phương pháp này cho đến khi đích đến được tiến tới hoặc kết nối bị
tắc nghẽn
Hình 2.5 minh hoạ bài toán định tuyến lệch cho yêu cầu kết nối từ nút
A tới nút D. Đường đi ngắn nhất ngầm định trong ví dụ này là dọc đường A
B C D. Khi yêu cầu tiến tới nút C, nó không thể tiếp tục qua tuyến
liên kết CD, do không có bước sóng chung có thể sử dụng trên tuyến liên
kết AB, BC, và CD. Do đó yêu cầu bị lệch tới nút F, ở đó nó có thể tiếp tục
tới đích dọc theo tuyến liên kết FD. Bước sóng được lựa chọn cho luồng
quang sẽ là
1
λ
A
B C
D
E F
Hình 2.5: Bài toán định lệch đường đi ngắn nhất
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 63
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
+ Bài toán định tuyến lệch với tắc nghẽn ít nhất
Trong phương pháp định tuyến lệch tắc nghẽn ít nhất thì bài toán
định tuyến lựa chọn trong số các tuyến liên kết lối ra thay thế tuyến liên kết
có số bước sóng khả thi lớn nhất bao gồm tập các bước sóng có thể sử
dụng trên tất cả các chặng trước đó cũng như tuyến liên kết lối ra tiếp theo.
A
B C
D
E F
Hình 2.6: Bài toán định tuyến lệch với tắc nghẽn ít nhất
Định tuyến lệch tắc nghẽn ít nhất được minh hoạ trên hình 2.6 cho
một kết nối từ nút A tới nút D. Trên chặng gần nhất tuyến liên kết AB được
lựa chọn, do nó có ba bước sóng có thể sử dụng, trong khi tuyến liên kết
AE chỉ có hai bước sóng có thể sử dụng.
Khi yêu cầu kết nối đến từ nút B, nó sẽ định tuyến tới nút E, do có ba bước
sóng khả thi (
1
λ
,
2
λ
, và
4
λ
) có thể sử dụng trên tuyến liên kết BE, và chỉ
có một bước sóng khả thi (
1
λ
) có thể sử dụng trên tuyến liên kết BC.
Phương pháp định tuyến tắc nghẽn ít nhất thường cho kết quả các
đường dài hơn phương pháp định tuyến lệch đường đi ngắn nhất: tuy
nhiên, định tuyến lệch tắc nghẽn ít nhất sẽ cho phép một luồng quang được
định tuyến lại xung quang khu vực bị tắc nghẽn trong mạng, tải cân bằng
hơn khi quang qua mang.
+ Các vấn đề định tuyến lệch
Một số vấn đề nảy sinh khi thực hiện bài toán định tuyến lệch. Đó là
vấn đề vòng lặp, trong đó một bản tin yêu cầu kết nối quay trở lại nút mà nó
đã đến. Việc phát hiện vòng lặp có thể được giải quyết bằng việc có bản tin
yêu cầu kết nối duy trì một véc tơ đường đi chứa danh sách các nút đã đến.
Nếu nút nhận bản tin yêu cầu kết nối chỉ ra rằng bản tin đã đến nút này, thì
nỗ lực kết nối sẽ bị chặn lại. Thay đổi với việc duy trì vec tơ đường đi là sử
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 64
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
dụng trường thời gian sống, điều này sẽ ngăn cản bản tin yêu cầu kết nối
có vòng lặp vô hạn trong mạng.
Một vấn đề khác nữa có thể xảy ra là yêu cầu kết nối có thể bị lệch
một lượng lớn thời gian dẫn đến một tuyến dài vô lý cho luồng quang. Giải
pháp có thể cho vấn đề này bao gồm hạn chế chiều dài tối đa của các
chặng trong một luồng quang, hoặc giới hạn độ lệch mà một tuyến có thể
mắc. Khi một thông điệp yêu cầu kết nối tiến tới giới hạn của nó với số
chặng tối đa hoặc độ lệnh tối đa thì nỗ lực kết nối sẽ bị chặn.
2.6.2. BÀI TOÁN GÁN BƯỚC SÓNG
Nói chung, nếu có nhiều bước sóng khả thi giữa nút nguồn và nút
đích thì giải thuật gán bước sóng được yêu cầu để lựa chọn bước sóng cho
luồng quang nhất định. Việc lựa chọn bước sóng có thể thực hiện hoặc sau
khi tuyến đã được xác định hoặc sóng sóng với việc tìm kiếm tuyến. Các
bước sóng được lựa chọn bằng cách tối thiểu tắc nghẽn cho chuỗi các kết
nối.
A. Thuật toán gán bước sóng theo thứ tự bước sóng
Một ví dụ về thuật toán gán bước sóng đơn giản nhưng hiệu quả là
gán bước sóng theo thứ tự bước sóng. Trong thuật toán này, các bước
sóng được đánh chỉ số và luồng
quang sẽ cố gắng lựa chọn bước sóng với chỉ số thấp nhất trước khi lựa
chọn bước sóng với một chỉ số cao hơn. Bằng việc lựa chọn bước sóng
theo phương pháp này, các kết nối hiện tại sẽ được gói thành tổng các
bước sóng nhỏ hơn, loại bỏ các bước sóng lớn hơn có thể sử dụng cho các
luồng quang.
B. Thuật toán gán bước sóng ngẫu nhiên
Phưong pháp khác để lựa chọn các bước sóng khác nhau là lựa
chọn đơn giản một trong các bước sóng ngẫu nhiên. Nói chung, thuật toán
gán bước sóng theo thứ tự bước sóng sẽ làm tốt hơn gán bước sóng ngẫu
nhiên khi thông tin đầy đủ về trạng thái mạng có thể sử dụng. Tuy nhiên,
nếu việc lựa chọn bước sóng được thực hiện bằng phương pháp phân tán
chỉ với thông tin hạn chế và lỗi thời thì gán bước sóng ngẫu nhiên có thể
làm tốt hơn gán theo thứ tự bước sóng. Lý do cho đặc tính này là ở chỗ,
trong phương pháp gán theo thứ tự bước sóng nếu nhiều kết nối đang
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 65
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
đồng thời cố gắng thiết lập một luồng quang thì rất có thể chúng sẽ lựa
chọn bước sóng giống nhau dẫn đến một hoặc nhiều kết nối bị chặn.
C. Thuật toán gán bước sóng dựa trên bước sóng sử dụng nhiều
nhất và ít nhất
Thuật toán gán bước sóng đơn giản khác bao gồm thuật toán gán
bước sóng dựa trên bước sóng sử dụng nhiều nhất và ít nhất. Trong gán
bước sóng được sử dụng nhiều nhất thì bước sóng được sử dụng nhiều
trong phần còn lại của mạng được lựa chọn. Phương pháp này nỗ lực cung
cấp tối đa bước sóng sử dụng lại trong mạng. Phương pháp gán bước sóng
được sử dụng ít nhất nỗ lực trải rộng tải trọng bằng nhau qua tất cả các
bước sóng bằng việc lựa chọn bước sóng được sử dụng ít nhất xuyên xuốt
mạng. Cả hai phương pháp gán bước sóng dựa trên bước sóng sử dụng ít
nhất và sử dụng nhiều nhất đòi hỏi tin tức tổng thể.
2.6.3 BÁO HIỆU VÀ ĐẶT TRƯỚC TÀI NGUYÊN
Để thiết lập luồng quang thì giao thức báo hiệu được yêu cầu để trao
đổi thông tin điều khiển giữa các nút và để đặt trước tài nguyên dọc đường
đi. Trong nhiều trường hợp, giao thức báo hiệu được kết hợp chặt chẽ với
các giải thuật RWA.
Các giao thức báo hiệu và đặt trước có thể được phân loại dựa trên
hoặc tài nguyên được đặt trước sóng sóng trên mỗi tuyến liên kết, được đặt
trước theo chặng dọc đường đi theo hướng tiến hoặc được đặt trước theo
chặng dọc đường ngược lại. Các giải thuật cũng sẽ khác nhau phụ thuộc
vào thông tin tổng thể có thể sử dụng hoặc không thể sử dụng.
A. Đặt trước song song
Bài toán dựa trên định tuyến trạng thái liên kết cho rằng mỗi nút duy
trì thông tin tổng thể về cấu hình mạng và trạng thaí hiện tại của mạng bao
gồm thông tin về các bước sóng đang được sử dụng trên mỗi tuyến liên kết.
Dựa trên thông tin tổng thể này nút có thể tính toán tuyến tối ưu tới đích với
bước sóng nhất định. Nút nguồn sau đó cố gắng đặt trước bước sóng mong
muốn trên mỗi tuyến liên kết trong tuyến bằng việc gửi bản tin điều khiển
riêng tới mỗi nút trong tuyến. Mỗi nút mà nhận bản tin yêu cầu đặt trước sẽ
cố gắng đặt trước bước sóng đã xác định, và sẽ gửi hoặc tín hiệu chấp
nhận hoặc không chấp nhận quay trở lại ngồn Nếu nút nguồn nhận tín hiệu
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 66
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
chấp nhận từ tất cả các nút thì nó có thể thiết lập luồng quang và bắt đầu
truyền thông với đích.
Ưu điểm của bài toán đặt trước song song là nó rút ngắn thời gian
thiết lập luồng quang bằng việc các nút xử lý các yêu cầu đặt trước song
song. Nó cũng đơn giản hơn để thực hiện các bài toán đặt trước khác như
đặt trước theo chặng được nêu chi tiết trong phần sau. Tuy nhiên, không
thuận lợi ở chỗ nó đòi hỏi tin tức tổng thể do cả hai đường đi và bước sóng
phải biết sớm hơn chờ đời.
B. Đặt trước theo chặng
Khác với đặt trước song song là đặt trước theo chặng trong đó bản
tin điều khiển được gửi dọc theo tuyến đã lựa chọn từng chặng kế tiếp
nhau. Ở mỗi nút trung gian, bản tin điều khiển được xử lý trước khi chuyển
tiếp tới nút tiếp theo. Khi bản tin điều khiển tiến tới đích, nó được xử lý và
gửi lại nút nguồn. Việc đặt trước tài nguyên tuyến liên kết thực tế có thể
thực hiện hoặc trong khi bản tin đang đi theo hướng tiến tới đích, hoặc
trong khi bản tin điều khiển đang đi theo hướng ngược lại trở về nguồn
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 67
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TUYẾN VÀ GÁN BƯỚC SÓNG
TRONG MẠNG QUANG DỰA TRÊN KỸ THUẬT GMPLS
3.1. MPLS VÀ MẠNG QUANG THÔNG MINH
3.1.1. TẦM BAO QUÁT RỘNG LỚN CỦA MPLS
Công nghệ MPLS là kết quả phát triển của nhiều công nghệ chuyển
mạch IP sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn của ATM để tăng tốc độ truyền gói
tin mà không cần giao thức định tuyến của IP. MPLS tách chức năng của IP
làm hai phần riêng biệt: Chức năng chuyển gói tin và chức năng điều khiển.
MPLS được dựa trên những ý tưởng sau.
+ Thông tin chuyển tiếp nhãn tách ra từ nội dung của mào đầu IP
+ Mô hình chuyển tiếp đơn (hoán đổi nhãn), các mô hình định tuyến
bội
+ Thực hiện riêng biệt liên kết bội mô hình chuyển tiếp hoán đổi nhãn
tên nhận dạng đường / kênh nối ảo, khe tần số, khe thời gian.
+ Tính linh hoạt cho việc tạo các lớp chuyển tiếp tương đương
+ Phân cấp chuyển tiếp qua ngăn xếp nhãn
Việc tách thông tin chuyển tiếp từ nội dung mào đầu IP cho phép
MPLS được sử dụng với các thiết bị như OXCs (bộ đấu nối chéo quang)
mà mặt phẳng dữ liệu không thể nhận ra mào đầu IP. Các bộ định tuyến
chuyển mạch nhãn chuyển tiếp dữ liệu bằng việc xử dụng nhãn đuợc mang
bởi dữ liệu. Nhãn này kết hợp với cổng mà dữ liệu được thu, được sử dụng
để xác định cổng lối ra và nhãn lối ra cho dữ liệu. Mặt phẳng điều khiển
MPLS hoạt động dưới dạng hoán đổi nhãn và rút ra kiểu chuyển tiếp. Đồng
thời, mặt phẳng dữ liệu MPLS cho phép thực hiện riêng biệt liên kết bội nút
ra này. Ví dụ như, một bước sóng có thể xem như một nhãn rõ ràng.
Cuối cùng, khái niệm phân cấp chuyển tiếp qua ngăn xếp nhãn cho
phép tương tác với các thiết bị mà chỉ có thể hỗ trợ một không gian nhãn
nhỏ. Tính chất này của MPLS là cần thiết trong khái niệm về OXCs và
DWDMs do số bước sóng là không lớn lắm
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 68
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
3.1.2. CÁC GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN VÀ PHÂN PHỐI NHÃN TRONG
MPLS.
Nền tảng MPLS bao gồm các ứng dụng quan trọng như định tuyến
dựa trên ràng buộc. Định tuyến dựa trên ràng buộc là tổng hợp của những
mở rộng cho các giao thức định tuyến trạng thái IP hiện có chẳng hạn như
OSPF và IS-IS với RSVP hoặc CR- LDP như mặt phẳng điều khiển MPLS
và thuật toán đường đi ngắn nhất có ràng buộc. Những mở rộng với OSPF
và IS-IS cho phép các nút trao đổi thông tin về cấu hình mạng, tài nguyên
có thể sử dụng và thậm chí cả thông tin chính sách.
Thông tin này được sử dụng bởi phương pháp CSPF – giao thức tìm
đường ngắn nhất có ràng buộc để tính các đường dẫn tuỳ thuộc vào tài
nguyên dành riêng hoặc chính sách ràng buộc. Ví dụ như, hoặc RSVP-TE
hoặc CR-LDP được sử dụng để thiết lập trạng thái chuyển tiếp nhãn theo
các tuyến được tính bởi giải thuật dựa trên CSPF, điều này tạo ra LSP. Mặt
phẳng dữ liệu MPLS được sử dụng để chuyển tiếp dữ liệu dọc theo LSP đã
thiết lập. Định tuyến dựa trên ràng buộc ngày nay được sử dụng cho hai
mục đích chính: Xử lý lưu lượng và tái định tuyến nhanh.
3.1.3 HƯỚNG TỚI NGĂN XẾP GIAO THỨC ĐƠN GIẢN HƠN: IP/MPLS
QUA DWDM.
Với mạng thiết kế phù hợp, định tuyến dựa trên ràng buộc của
IP/MPLS có thể thay thế ATM như cơ cấu cho xử lý lưu lượng. Cũng như
vậy cơ cấu tái định tuyến nhanh đưa ra một sự thay đổi với SONET như
một cơ cấu cho việc bảo vệ / khôi phục. Cả xử lý lưu lượng và định tuyến
nhanh là ví dụ về nâng cao được cung cấp bởi MPLS cho định tuyến IP làm
cho nó có thể vượt qua ATM và SONET/ SDH bằng các chức năng di trú
được cung cấp bởi các công nghệ này cho mặt phẳng điều khiển IP/MPLS.
3.1.4. TƯƠNG QUAN GIỮA MPLS VÀ MẠNG QUANG
Cuộc cách mạng của công nghệ MPLS đang nổi lên một số hiệp trợ
giữa bộ định tuyến chuyển mạch nhãn sử dụng trong MPLS và các chuyển
mạch quang giữa LSP và đường quang hoặc luồng quang. Một luồng
quang là một kết nối đầu cuối đầu cuối trong suốt giữa các nút chỉ gồm các
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 69
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
linh kiện quang, không có sự chuyển đổi quang hoặc điện nào. Tương tự
như các nhãn chuyển mạch trong LSR, chuyển mạch quang chốt các bứơc
sóng từ cổng lối vào tới cổng lối ra. Việc thiết lập LSP liên quan tới việc định
cấu hình mỗi LSR trung gian để ánh xạ nhãn và cổng lối vào đặc trưng tới
nhãn và cổng lối ra. Tương tự, quá trình thiết lập một luồng quang liên quan
tới việc định cấu hình mỗi chuyển mạch quang trung gian để ánh xạ buớc
sóng và cổng lối vào tới bước sóng và cổng lối ra.
LSR và các chuyển mạch quang cần giao thức định tuyến như OSPF
va IS-IS để trao đổi cấu hình trạng thái liên kết và thông tin tài nguyên
quang có thể sử dụng cho việc tính toán đường đi. Chúng cũng cần những
giao thức báo hiệu như RSVP va LDP để tự động xử lý thiết lập đường dẫn.
Đặc biệt MPLS cho phép tách mạng thành mặt phẳng điều khiển và
mặt phẳng chuyển tiếp một cách logic. Mặt phẳng chuyển tiếp đáp ứng
thông tin chuyển mạch bằng việc sử dụng bảng chuyển tiếp rất đơn giản.
Mặt khác nhiệm vụ mặt phẳng điều khiển là quản lý nguồn tài nguyên của
mạng. Đặc biệt mặt phẳng điều khiển là để đặt trước tài nguyên trên có sở
đầu cuối - đầu cuối giữa các nút lối vào và lối ra; bao gồm thiết lập và loại
bỏ đường quang. Tổng kết các bài toán khác nhau được sử dụng trong các
lớp khác nhau được cho trong bảng 1.
text
Mặt phẳng điều khiển Mặt phẳng dữ liệu
IP
MPLS
OTN
Lớp định tuyến : OSPF, IS-IS và BGP
Lớp liên kết : CR-LDP hoặc RSVP -TE
Lớp chuyển tiếp : IP
Lớp chuyển tiếp : MPLS
Lớp chuyển tiếp λ :
Bước sóng
Lớp ánh xạ λ : LMP hoặc GMPLS hoặc
tổng hợp cả hai
3.1.5. LIÊN KẾT VÀ QUẢN LÝ BA MẶT PHẲNG ĐIỀU KHIỂN
Kết hợp khả năng cung cấp giải thông của chuyển mạch quang với
khả năng kỹ thuật của MPLS sẽ cho phép các bộ định tuyến, chuyển mạch
ATM và bộ ghép kênh xen kẽ ADM SONET / SDH yêu cầu nơi và khi cần
giải thông.
Điều đó dẫn tới xuất hiện ý tưởng kết hợp ba măt phẳng điều khiển
bằng việc bổ sung thêm lớp nữa như là mặt phẳng quản lý. Tuy nhiên,
chưa có sự đồng ý chung về việc các mặt phẳng khác nhau sẽ tương tác
với nhau như thế nào, tức là chưa đạt được sự nhất trí về việc hoạt động
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 70
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
của OSPF mở rộng, IS-IS, BGP mở rộng, RSVP – TE, CR – LDP, LMP,
GMPLS, OIF, UNI và NNI sẽ được thực hiện như thế nào.
Tuy nhiên, cộng đồng IP và cộng đồng mạng quang đã đồng ý rằng
mặt phẳng điều khiển đáp ứng việc quản lý lớp mạng quang sẽ được dựa
trên nền tảng GMPLS.
3.2. Bài toán định tuyến và gán bước sóng trong mạng quang tổ chức
trên kỹ thuật GMPLS.
Bài toán RWA hiện nay là một phần công việc của một số nhóm làm
việc IETF như mặt phẳng đo lường và điều khiển chung, chuyển mạch
nhãn đa giao thức MPLS, giao thức định tuyến OSPF và internet IP. Sau
đây trình bày tổng quan về xu hướng trong công nghiệp làm cho mạng
quang thực sự như mạng toàn quang. Động cơ thúc đẩy và các đề xuất của
nền tảng GMPLS được giải thích và được liên kết với bài toán RWA.
3.2.1. TỔNG QUAN VỀ KỸ THUẬT GMPLS
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS cũng được gọi là
chuyển mạch nhãn lambđa đa giao thức nó hỗ trợ không chỉ các thiết bị
thực hiện chuyển mạch gói mà còn thực hiện chuyển mạch theo thời gian,
theo bước sóng, theo không gian.
Hiện nay có một sự quan tâm lớn vào việc thiết lập và giải phóng
luồng quang tự động trong mạng truyền tải quang. Một xu hướng đang nổi
lên trong công nghiệp là sử dụng mặt phẳng điều khiển lớp quang nhiều
hơn so với mặt phẳng quản lý như đang thực hiện theo truyền thống để
cung cấp các luồng quang.
Mặt phẳng điều khiển lớp quang thông minh được mong chờ mang lại một
số lợi ích bao gồm. Cung cấp chuyển mạch nhanh, dịch vụ linh hoạt như
các dịch vụ giải thông theo yêu cầu, thao tác giữa các thành phần của
mạng được nâng cao từ các nhà cung cấp khác nhau và tính năng phục vụ
được nâng cao bằng việc cung cấp khả năng định tuyến động khi xảy ra lỗi.
Phương pháp chung là định tuyến và báo hiệu cho lớp quang sẽ dựa
vào việc sử dụng lại và nâng cao các giao thức mặt phẳng điều khiển mặt
phẳng hiện có để giảm chu trình phát triển sản phẩm và khuyến khích phát
triển nhanh các thành phần lớp mạng quang mới.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 71
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Gần đây nền công nghiệp hút theo GMPLS một cách rõ ràng (trước
đó được gọi là MPλS thay cho chuyển mạch nhãn lambđa đa giao thức)
do giải pháp mặt phẳng điều khiển cho mạng quang thế hệ sau. GMPLS là
một sự mở rộng cho MPLS mà cho phép các đường chuyển mạch nhãn
tổng quát như là các luồng quang được thiết lập hoặc loại bỏ một cách tự
động nhờ giao thức báo hiệu. Điều này đòi hỏi định nghĩa nhãn MPLS được
tổng quát hoá để một nhãn có thể được mã hoá như một khe thời gian, một
bước sóng hoặc một bộ nhận dạng không gian. Bằng việc lợi dụng ưu điểm
của định nghĩa mới về nhãn tổng quát, rõ ràng MPLS cũng có thể được mở
rộng để điều khiển và định cấu hình TDM DXC, lambda hoặc sợi OXC
Sau đây giới thiệu đặc trưng về các bài toán định tuyến trong mạng
truyền tải quang OTN
3.2.2. THIẾT LẬP VÀ KHÔI PHỤC LUỒNG QUANG
Một trong các mục đích chính của mạng quang là cung cấp và thiết
lập việc khôi phục luồng quang đầu cuối - đầu cuối nhanh. Điêù này được
thực hiện bởi 3 thành phần khác nhau:
+ Khám phá tài nguyên: Bằng khám phá tài nguyên nhận được thông
tin trạng thái như tính năng kết nối mạng, khả năng liên kết và các ràng
buộc đặc biệt. Nói chung, điều này được thực hiện bằng việc mở rộng giao
thức định tuyến trong miền IGP như OSPF hoặc IS-IS để mang thông tin bổ
sung trong LSA.
+ Lựa chọn tuyến: Lựa chọn tuyến được sử dụng để lựa chọn một
tuyến thích hợp qua mạng ION cho luồng quang đã yêu cầu. Điều này
thường được thực hiện bằng việc đưa vào giải thuật định tuyến dựa trên
ràng buộc, mà tính toán tuyến mong muốn dưới các ràng buộc lớp vật lý và
các ràng buộc hoạt động.
+ Quản lý tuyến: Bao gồm thiết lập và loại bỏ tuyến, bảo trì tuyến và
phân bổ nhãn. Điều này được thực hiện chủ yếu bằng việc sử dụng các mở
rộng của RSVP – TE hoặc CR- LDP.
Bài toán RWA liên quan hầu hết đến khám phá tài nguyên và lựa
chọn tuyến. Tuy nhiên, như đã nói ở trên bài toán RWA có thể bị liên quan
rắc rối với quá trình quản lý tuyến để nó không thể xác định được kết quả
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 72
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
của giải thuật RWA đã thực hiện theo cách thông thường mà không bổ
sung thêm loại giao thức quản lý nào.
3.3. CÁC ĐIỀU KIỆN RÀNG BUỘC TRONG ĐỊNH TUYẾN QUANG.
Mặc dù có sự giống nhau theo khía cạnh định tuyến giữa mạng IP và
mạng ION, mạng ION phức tạp hơn bởi vì nó chứa các ràng buộc được bổ
sung trong quyết định định tuyến. Sự khác nhau như vậy ví dụ như sau:
+ Mạng gói dữ liệu trái với mạng chuyển mạch kênh. Trong mạng IP
việc chuyển tiếp các gói được thực hiện dựa trên cơ sở theo chặng. Trái lại
trong mạng ION một kết nối, hoặc luồng quang phải được thiết lập theo các
ràng buộc dựa trên tài nguyên mạng và cấu hình mạng.
+ Ngăn cách cấu hình mặt phẳng điều khiển và cấu hình mặt phẳng
dữ liệu. Trái với các mạng IP, mạng ION có thể cung cấp tính bảo mật cao
hơn bằng việc quản lý một mặt phẳng điều khiển ngoài dải băng; khác biệt
hoàn toàn với cấu hình mặt phẳng dữ liệu.
Giữa các ràng buộc chính được bổ xung ở lớp mạng ION là các ràng
buộc lớp vật lý mà thông thường giải quyết các tín hiệu quang.
3.3.1. ĐIỀU KIỆN RÀNG BUỘC TRONG LỚP VẬT LÝ.
Một số ràng buộc vật lý ảnh hưởng tới kết quả tính toán luồng quang
phải được đưa vào tính toán. Quỹ công xuất ở nút nguồn, PMD (Tán sắc
môt phân cực). Tán sắc màu, ASE xuyên âm giữa các kênh và các yếu tố
phi tuyến khác là tất cả ràng buộc tới hạn để tính toán luồng quang.
Có thể các ràng buộc khác, đặc biệt việc các tín hiệu tái tạo 3R được
xem xét đến bởi nút lối vào thực hiện giải thuật RWA khi tính toán tuyến tối
ưu cho nút lối ra. Ví dụ như, bộ định tuyến GMPLS HIKARI được dựa trên
nền toàn quang với việc bổ sung các chức năng 3R và chuyển đổi bước
sóng nếu tín hiệu bị suy giảm bởi suy hao sợi quang cũng như các hiệu
ứng phi tuyến như là PMD hoặc ASE thì chức năng 3R được kích hoạt.
Ngoài ra, việc chuyển đổi bước sóng cũng được sử dụng khi báo hiệu bị
nghẽn bởi chiếm trước quá nhiều bước sóng.
3.2.2. CÁC RÀNG BUỘC BƯỚC SÓNG
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 73
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Trong mạng toàn quang, nếu không sử dụng chuyển đổi bước sóng
được thì bước sóng liên tục phải được bảo toàn dọc luồng quang. Điều này
làm phức tạp quyết định định tuyến và được gọi là ràng buộc bước sóng
liên tục. Có nghĩa là bản tin quảng bá tuyến phải chứa thông tin về bước
sóng có thể sử dụng ở mỗi tuyến liên kết sợi quang trong mạng ION. Giải
pháp như vậy có thể đặt ra các vấn đề quan trọng liên quan đến khả năng
mở rộng cấp độ bởi vì một số bước sóng trong mạng ION có chiều hướng
quan trọng. Một số giải pháp đưa ra bước sóng có thể sử dụng trong tuyến
liên kết sợi quang đã được thảo luận. Tuy nhiên, các giải pháp này đều có
những thay đổi quan trọng với các giao thức định tuyến.
3.3. KIẾN TRÚC GMPLS
Các mở rộng với IGPs như OSPF, IS-IS cho phép các nút trao đổi
thông tin về cấu hình mạng quang, tài nguyên có thể sử dụng và các ràng
buộc quản trị. Đặc tính định tuyến GMPLS lõi có thể sử dụng bằng ba phần:
+ Miêu tả chức năng định tuyến
+ Các IGP mở rộng như là OSPF-TE mở rộng.
+ IS-IS mở rộng
Báo hiệu GMPLS mở rộng các chức năng cơ bản vốn có của báo
hiệu RSVP-TE và CR-LDP và trong một số trường hợp bổ sung thêm tính
năng. Những thay đổi và bổ sung này tác động mạnh đến các tính chất cơ
bản của LSP, các lỗi được truyền như thế nào, và thông tin được cung cấp
cho việc đồng bộ các nút lối vào và lối ra như thế nào. Đặc tính báo hiệu
GMPLS lõi có thể được sử dụng bằng ba phần:
+ Miêu tả chức năng báo hiệu
+ RSVP-TE mở rộng
+ CR-LDP mở rộng.
Định tuyến luồng quang động trong mạng IP qua WDM được dựa
trên mô hình định tuyến dựa trên ràng buộc GMPLS. Ví dụ như, OSPF là
giao thức trạng thái liên kết trong đó trạng thái của mỗi liên kết trong mạng
được quảng bá một cách định kỳ tới tất cả các nút tạo nên LSAs. Thông tin
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 74
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
này được sử dụng như đầu vào cho giải thuật thông thường hoặc giải thuật
tính toán đường đi dựa trên ràng buộc
Mà tính toán đường đi tuỳ thuộc vào các ràng buộc cấu hình, tài
nguyên, các ràng buộc quản trị. Tiêu chuẩn GMPLS không xác định mà
cũng không bắt buộc bất kỳ kiểu bài toán định tuyến nào. Điều này được
thực thi khác nhau giữa các nhà cung cấp.
Ngay khi một luồng quang thích hợp được lựa chọn. Một giao thức
báo hiệu như CR-LDP hoặc RSVP – TE được gọi ra để thiết lập kết nối.
Trong khi hiện nay tổ chức IETF tập trung vào một vài giao thức cụ thể thì
bản thân GMPLS không hạn chế với bất kỳ giao thức định tuyến hay báo
hiệu riêng nào. Hơn nữa, các giao thức như OSPF, CR-LDP và RSVP-TE
mềm dẻo và thích hợp với thực hiện các bài toán định tuyến và báo hiệu
khác nhau cho thiết lập luồng quang.
3.4. BỘ ĐỊNH TUYẾN GMPLS THỰC TẾ: BỘ ĐỊNH TUYẾN HIKARI
Một phương pháp rất hay để giải quyết bài toán RWA được thực hiện
bằng bộ định tuyến HIKARI. Trong thiết bị này, các bộ chuyển đổi bước
sóng chỉ được sử dụng khi có tắc ngẽn do thiếu các bước sóng có thể sử
dụng thoả mãn ràng buộc bước sóng liên tục. Bộ định tuyến HIKARI bao
gồm một bộ định tuyến IP, một bộ định tuyến bước sóng và một bộ quản lý
bộ định tuyến GMPLS như minh hoạ trong hình 3.1
G M P L S - r o u t e r
m a n a g e r
S
W
3 R
c
o
n
v
Photonic link
state
IP link state
IP traffic monitor with
low-pass filter
Multiplayer topology
design algorthm
OSPF
extension
RSVP-TE
extension
GMPLS controller
Hardware manager
Hình 3.1: Cấu trúc bộ định tuyến Hikari với TE đa lớp trên
giám sát lưu lượng IP
Để giải quyết bài toán RWA, bộ định tuyến HIKARI thực hiện giao
thức định tuyến OSPF mở rộng và RSVP-TE mở rộng để đạt được đinh
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 75
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
tuyến lựa chọn hiệu quả cũng như tối thiểu số lần yêu cầu chuyển đổi bước
sóng. OSPF mở rộng cho phép xây dựng hai cơ sở dữ liệu trạng thái liên
kết khác nhau phản ánh khả năng liên kết của mạng. Cơ sở dữ liệu liên kết
trạng thái thông thường chứa thông tin trạng thái liên kết IP trong khi cơ sở
dữ liệu có kỹ thuật lưu lượng TED (Traffic Engginering Database) chứa
thông tin trạng thái liên kết quang.
Đầu tiên, để quảng bá tuyến thì OSPF mở rộng được sử dụng. Mỗi
bộ định tuyến HIKARI quảng bá tổng số bước sóng được sử dụng và không
được sử dụng của nó. Nút biên sử dụng thông tin này để phân biết trạng
thái liên kết GMPLS và có thể lựa chọn đường đi ít tốn kém nhất. Những
thay đổi bao gồm thông tin tài nguyên 3R và tài nguyên chuyển đổi bước
sóng. Thông tin này thường sử dụng cho định tuyến nguồn dựa trên tổng
hợp đường đầu tiên ngắn nhất và thông tin tải.
Để nâng cao chức năng báo hiệu, RSVP-TE mở rộng được đề xuất.
Đầu tiên bộ định tuyến HIKARI đặt thông tin bước sóng không sử dụng
bằng việc sử dụng khuôn dạng bitmap trong báo hiệu RSVP. Mỗi bộ định
tuyến HIKARI quá giang ghi thông tin này bằng việc “ And “ giữa bitmap
bước sóng không được sử dụng báo hiệu đến và các bước sóng không
được sử dụng của nó. Nếu không có bước sóng không thể được sử dụng
thì việc chuyển đổi bước sóng được sử dụng.
Bộ định tuyến mà cung cấp chuyển đổi bước sóng tạo bitmap bước
sóng không thể được sử dụng mới và gửi nó tới bộ định tuyến tiếp theo. Kỹ
thuật báo hiệu và định tuyến giảm thiểu tần số chuyển đổi bước sóng trong
mạng và do vậy có thể cung cấp các mạng quang rất hiệu quả kinh tế.
Phương pháp được sử dụng để thiết lập luồng quang động được
miêu tả trong bộ định tuyến HIKARI được đặc biệt quan tâm. Nó là trường
hợp tốt nhất để thực hiện thiết lập luồng quang động DLE đạt tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, nó không cung cấp thêm chút thông tin nào về việc thông tin
được hợp lại như thế nào bởi các bản tin quảng bá liên kết được xử lý thực
tế bằng thuật toán RWA. Đặc biệt, định nghĩa thước đo liên kết không được
đưa ra. Do vậy việc sử dụng thụ động chuyển đổi bước sóng sẽ làm cho tắc
nghẽn yêu cầu kết nối nhiều hơn.
Với đánh giá đó, việc chuyển đổi bước sóng vẫn rất tốn kém và
không hoàn toàn có giá trị về mặt thương mại. Do vậy, rất có thể nhu cầu
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 76
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
thực tế cho thuật toán RWA sẽ thực hiện chủ yếu dưới điều kiện ràng buộc
bước sóng liên tục.
3.5.Kết luận chương
Chương này đã chỉ ra rằng bài toán RWA là một bài toán rất phức
tạp. Mặt khác, gần đây đã trở nên rõ ràng GMPLS là giải pháp mặt phẳng
điều khiển tốt nhất cho mạng thế hệ sau. Trong GMPLS, nhãn MPLS được
tổng quát hoá để nhãn có thể được mã hoá như thời gian, bước sóng, hoặc
bộ nhận dạng không gian.
GMPLS bao quát rất rộng và bài toán RWA chỉ là một nền tảng tương
đối nhỏ của nền tảng GMPLS. Điều quan trọng là bài toán RWA phải được
đưa ra với các kiến nghị khác nhau của IETF cho GMPLS. Tuy nhiên, nền
tảng GMPLS là tương đối mới và những thực thi rất mới của nó đã được
thực hiện. Cần có một nghiên cứu trong việc mô hình hoá các bài toán thiết
lập luồng quang (Giải thuật RWA tương ứng) trong một mạng dựa trên
GMPLS để đánh giá hiệu năng của các giải pháp được tán thành bởi các
dự thảo và các tiêu chuẩn của IETF. Đặc biệt nó là điều quan trọng đầu tiên
để đánh giá hiệu năng của một số bài toán RWA khi xây dựng với các giải
thuật định tuyến trạng thái liên kết trong mạng ION dựa trên GMPLS.
CHƯƠNG 4:
XÂY DỰNG MÔ HÌNH BÀI TOÁN ĐỊNH TUYẾN VÀ GÁN BƯỚC SÓNG
TRONG MẠNG QUANG SỬ DỤNG KỸ THUẬT GMPLS
4.1. TỔNG QUAN VỀ OMNET ++
4.1.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 77
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
OMNeT++ là viết tắt của cụm từ Objective Modular Network Testbed
in C++.
OMNeT++ là một ứng dụng cung cấp cho người sử dụng môi trường
để tiến hành mô phỏng hoạt động của mạng. Mục đích chính của ứng dụng
là mô phỏng hoạt độngmạng thông tin, tuy nhiên do tính phổ cập và linh
hoạt của nó, OMNeT++ còn đượcsử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như
mô phỏng các hệ thống thông tin phức tạp, cácmạng kiểu hàng đợi
(queueing networks) hay các kiến trúc phần cứng...
OMNeT++ cung cấp sẵn các thành phần tương ứng với các mô hình
thực tế. Các thành phần này (còn được gọi là các module) được lập trình
theo ngôn ngữ C++, sau đó được tập hợp lại thành những thành phần hay
những mô hình lớn hơn bằng một ngôn ngữ bậc cao (NED). OMNeT++ hỗ
trợ giao diện đồ hoạ, tương ứng với các mô hình cấu trúc của nó đồng thời
phần nhân mô phỏng (simulation kernel) và cácmodule của OMNeT++ cũng
rất dễ dàng nhúng vào trong các ứng dụng khác.
4.1.2. CÁC THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA OMNET++
• Thư viện phần nhân mô phỏng (simulation kernel)
• Trình biên dịch cho ngôn ngữ mô tả hình trạng (topology description
language)- NED (nedc)
• Trình biên tập đồ hoạ (graphical network editor) cho các file NED
(GNED)
• Giao diện đồ hoạ thực hiện mô phỏng, các liên kết bên trong các file
thực hiệnmô phỏng (Tkenv)
• Giao diện dòng lệnh thực hiện mô phỏng (Cmdenv)
• Công cụ (giao diện đồ hoạ) vẽ đồ thị kết quả vector ở đầu ra (Plove)
• Công cụ (giao diện đồ hoạ) mô tả kết quả vô hướng ở đầu ra
(Scalars)
• Công cụ tài liệu hoá các mô hình
• Các tiện ích khác
• Các tài liệu hướng dẫn, các ví dụ mô phỏng
4.1.3. ỨNG DỤNG
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 78
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
OMNeT++ là một công cụ mô phỏng các hoạt động mạng bằng các
module được thiết kế hướng đối tượng. OMNeT++ thường được sử dụng
trong các ứng dụng chủ yếu như:
• Mô hình hoạt động của các mạng thông tin
• Mô hình giao thức
• Mô hình hoá các mạng kiểu hàng đợi
• Mô hình hoá các hệ thống đa bộ vi xử lý (multiprocesser) hoặc các
hệ thống phần cứng theo mô hình phân tán khác (distributed
hardware systems)
• Đánh giá kiến trúc phần cứng
• Đánh giá hiệu quả hoạt động của các hệ thống phức tạp...
4.1.4. MÔ HÌNH TRONG OMNET++
Một mô hình trong OMNeT++ bao gồm các module lồng nhau có cấu
trúc phân cấp.Độ sâu của của các module lồng nhau là không giới hạn, điều
này cho phép người sửdụng có thể biểu diễn các cấu trúc logic của các hệ
thống trong thực tế bằng các cấutrúc mô hình. Các module trao đổi thông
tin với nhau thông qua việc gửi các message(message). Các message này
có thể có cấu trúc phức tạp tuỳ ý.
Các module có thể gửi các message này theo hai cách, một là gửi
trực tiếp tới địa chỉ nhận, hai là gửi đi theomột đường dẫn được định sẵn,
thông qua các cổng và các kết nối.
Các module có thể có các tham số của riêng nó. Các tham số này có
thể được sử dụngđể chỉnh sửa các thuộc tính của module và để biểu diễn
cho topology của mô hình.Các module ở mức thấp nhất trong cấu trúc phân
cấp đóng gói các thuộc tính. Các module này được coi là các module đơn
giản, và chúng được lập trình trong ngôn ngữC++ bằng cách sử dụng các
thư viện mô phỏng.
4.1.5. LẬP TRÌNH THUẬT TOÁN
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 79
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Các module đơn giản có thể chứa các thuật toán như các hàm của
C++. Sự linh hoạtvà sức mạnh của C++, kết hợp với các thư viện mô phỏng
của OMNeT++ tạo điềukiện dễ dàng cho người sử dụng. Các lập trình viên
mô phỏng có thể chọn lựa việc mô tả theo sự kiện hay theo tiến trình, có
thể dễ dàng sử dụng những khái niệm của lập trình hướng đối tượng (như
đa hình, kế thừa) và thiết kế các mẫu thử (pattern) để mở rộng chức năng
của quá trình mô phỏng.
Các đối tượng mô phỏng (message, module, queue...) được thể hiện
qua các lớp củaC++. Một số lớp cơ bản trong thư viện mô phỏng của
OMNeT++:
• Module, cổng, liên kết...
• Các tham số
• Message
• Các lớp Container (mảng, hàng đợi...)
• Các lớp Data Collection
Các lớp này có thể được sử dụng như những công cụ cho phép
người sử dụng có thểduyệt qua tất cả các đối tượng khi chạy thử mô hình
đồng thời hiển thị thông tin vềchúng như tên của đối tượng, tên lớp, các
biến trạng thái và nội dung bên trong. Đặcđiểm này cũng cho phép tạo ra
các mô hình mô phỏng có giao diện đồ hoạ (GUI) vớiphần cấu trúc bên
trong được che đi.
4.1.6. SỬ DỤNG OMNET++
A. Xây dựng và chạy thử các mô hình mô phỏng
Một mô hình OMNeT++ bao gồm những phần sau:
• Ngôn ngữ mô tả topology - NED (file có phần mở rộng.ned): mô tả
cấu trúccủa module với các tham số, các cổng... Các file.ned có thể
được viết bằng bấtkỳ bộ soạn thảo hoặc sử dụng chương trình
GNED có trong OMNeT++.
• Định nghĩa cấu trúc của các message (các file có phần mở
rộng.msg): Ngườisử dụng có thể định nghĩa rất nhiều kiểu messsage
và thêm các trường dữ liệu cho chúng. OMNeT++ sẽ dịch những định
nghĩa này sang các lớp C++ đầy đủ.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 80
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
• Mã nguồn của các module đơn giản. Đây là các file C++ với phần
mở rộng là.h hoặc.cc.
Hệ thống mô phỏng cung cấp cho ta các thành phần sau:
• Phần nhân mô phỏng. Phần này chứa code để quản lý quá trình mô
phỏng vàcác thư viện lớp mô phỏng. Nó được viết bằng C++, được
biên dịch và được đặt cùng dạng với các file thư viện (các file có
phần mở rộng là.a hoặc.lib).
• Giao diện người sử dụng. Giao diện này được sử dụng khi thực
hiện quá trình mô phỏng, tạo sự dễ dàng cho quá trình sửa lỗi, biểu
diễn (demonstration)hoặc khi thực hiện mô phỏng theo từng khối
(batch execution of simulations).Có một vài kiểu giao diện trong
OMNeT++, tất cả đều được viết bằng C++,được biên dịch và đặt
cùng nhau trong các thư viện (các file có phần mở rộnglà.a hoặc.lib).
Thực hiện mô phỏng và phân tích kết quả
Các chương trình thực hiện mô phỏng (the simulation executable) là
các chương trình độc lập, tức là nó có thể chạy trên các máy khác không
cài đặt OMNeT++ hay các file mô hình tương ứng. Khi chương trình khởi
động, nó bắt đầu đọc file cấu hình (thông thường là file omnetpp.ini). File
này chứa các thiết lập để điều khiển quá trình mô phỏng thực hiện, các biến
cho các tham số của mô hình... File cấu hình cũng có thểđược sử dụng để
điều khiển nhiều quá trình mô phỏng, trong trường hợp đơn giảnnhất là các
quá trình mô phỏng này sẽ được thực hiện lần lượt bởi một chương
trìnhmô phỏng (simulation program). Đầu ra của quá trình mô phỏng là các
file dữ liệu. Các file này có thể là các file vector,các file vô hướng hoặc các
file của người sử dụng. OMNeT++ cung cấp một công cụ đồ hoạ Plove để
xem và vẽ ra nội dung của các file vector. Tuy nhiên chúng ta cũngnên hiểu
rằng khó mà có thể xử lý đầy đủ các file kết quả mà chỉ dùng riêng
OMNeT++; các file này đều là các file có định dạng để có thể đọc được bởi
các góixử lý toán học của các chương trình như Matlab hay Octave, hoặc
có thể được đưa vào bảng tính của các chương trình như OpenOffice Calc,
Gnumeric hay Microsoft Excel. Tẩt cả các chương trình này đều có chức
năng chuyên dụng trong việc phân tích số hoá, vẽ biểu diễn (visualization)
vượt qua khả năng của OMNeT++.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 81
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Các file vô hướng cũng có thể được biểu diễn bằng công cụ Scalar. Nó
có thể vẽ được các biểu đồ, các đồ thị dựa vào tập hợp các toạ độ (x, y) và
có thể xuất dữ liệu vào clipboard để có thể sử dụng trong các chương trình
khác nhằm đưa những phân tích chi tiết hơn.
Giao diện người sử dụng
Mục đích chính của giao diện người sử dụng là che những phần
phức tạp bên trong cấu trúc của các mô hình đối với người sử dụng, dễ
dàng điều khiển quá trình mô phỏng, và cho phép người sử dụng có khả
năng thay đổi các biến hay các đối tượng bên trong của mô hình. Điều này
là rất quan trọng đối với pha phát triển và sửa lỗi trong dự án. Giao diện đồ
hoạ cũng có thể được sử dụng để trình diễn hoạt động của mô hình.
Cùng một mô hình người sử dụng có thể trên nhiều giao diện khác
nhau mà không cần phải thay đổi gì trong các file mô hình. Người sử dụng
có thể kiểm thử và sửa lỗi rất dễ dàng qua giao diện đồ hoạ, cuối cùng có
thể chạy nó dựa trên một giao diện đơn giản và nhanh chóng có hỗ trợ thực
hiện theo khối (batch execution).
Các thư viện thành phần
Các kiểu module có thể được lưu tại những vị trí độc lập với chỗ mà
chúng thực sự được sử dụng. Đặc điểm này cung cấp cho người sử dụng
khả nhóm các kiểu module lại với nhau và tạo ra các thư viện thành phần.
Các chương trình mô phỏng độc lập
Các chương trình thực hiện quá trình mô phỏng có thể được lưu
nhiều lần, không phụ thuộc vào các mô hình, sử dụng cùng một thiết lập
cho các module đơn giản. Người sử dụng có thể chỉ ra trong file cấu hình
mô hình nào sẽ được chạy. Điều này tạo khả năng cho người sử dụng có
thể xây dựng những chương trình thực hiện lớn bao gồm nhiều quá trình
mô phỏng, và phân phối nó như một công cụ mô phỏng độc lập. Khả năng
linh hoạt của ngôn ngữ mô tả topology cũng hỗ trợ cho hướng tiếp cận này.
4.1.7. Hệ thống file
Sau khi cài đặt OMNet++, thư mục omnetpp trên hệ thống máy của
bạn nên chứa các thư mục con dưới đây.
Hệ thống mô phỏng:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 82
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
omnetpp/ thư mục gốc của OMNeT++
bin/ các công cụ trong OMNeT++ (GNED, nedtool...)
include/ các file header cho mô hình mô phỏng
lib/ các file thư viện
bitmaps/ các biểu tượng đồ hoạ
doc/ các file hướng dẫn, readme...
manual/ file hướng dẫn dạng HTML
tictoc-tutorial/ giới thiệu sử dụng OMNeT++
api/ API tham chiếu dạng HTML
nedxml-api/ API tham chiếu cho thư viện NEDXML
src/ mã nguồn của tài liệu
src/ mã nguồn của OMNeT++
nedc/ nedtool, trình biên dịch message
sim/ phần nhân mô phỏng
parsim/ các file dành cho việc thực hiện phân tán
netbuilder/ các file dành cho việc đọc động các file NED
envir/ mã nguồn cho giao diện người sử dụng
cmdenv/ giao diện người dùng dòng lệnh
tkenv/ giao diện người sử dụng dựa trên Tcl/tk
gned/ công cụ soạn thảo file NED
plove/ công cụ vẽ và phân tích đầu ra dạng vector
scalars/ công cụ vẽ và phân tích đầu ra dạng vô hướng
nedxml/ thư viện NEDXML
utils/ các tiện ích khác...
test/ bộ kiểm thử lùi
core/ bộ kiểm thử lùi cho thư viện mô phỏng
distrib/ bộ kiểm thử lùi
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 83
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
...
Các quá trình mô phỏng mẫu được chứa trong thư mục samples
samples/ thư mục chứa các mô hình mô phỏng mẫu
aloha/ mô hình của giao thức Aloha
cqn/ Closed Queue Network
...
Thư mục contrib chứa các chương trình có thể kết hợp với OMNeT++
contrib/
octave/ script của Octave dùng để xử lý kết quả
emacs/ bộ đánh dấu cú pháp NED cho Emacs
Ngoài ra bạn cũng có thể tìm thấy các thư mục khác như msvc/, chứa
các thành phần tích hợp cho Microsoft Visual C++...
4.2. PHƯƠNG PHÁP THỰC LUẬN NGHIỆM
Phần này luận văn sẽ trình bày các giả thuyết được đặt ra cho bài
toán mô phỏng.
4.2.1.CÁC GIẢ THUYẾT
A. Định nghĩa bài toán
Cho tập các luồng quang được lựa chọn ngẫu nhiên động cần được
thiết lập trong mạng ION và cho ràng buộc với tổng số bước sóng trong sợi
quang. Bài toán RWA phải xác định các tuyến mà các luồng quang này sẽ
được thiết lập qua và xác định các bước sóng sẽ được gán cho các luồng
quang này để số luồng quang tối đa có thể được thiết lập.
Mặc dù các tuyến ngắn nhất có thể ưa chuộng nhất nhưng có thể
không được lựa chọn để cho phép nhiều luồng quang hơn được thiết lập.
Các luồng quang mà không thể được thiết lập do các ràng buộc trên các
tuyến và các bước sóng được xem là bị tắc nghẽn, do vậy vấn đề tối ưu
mạng tương ứng là tối đa khả năng thiết lập cho yêu cầu hiện tại trong khi
tối thiểu xác xuất tắc nghẽn cho các yêu cầu kết nối tương lai.
B. Xem xét thời gian thiết lập yêu cầu
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 84
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Khi bảng đinh tuyến sẵn sàng thì thời gian thiết lập yêu cầu là thời
gian được thực hiện bởi quá trình đặt trước. Nếu bài toán đặt trước theo
chặng được lựa chọn thì thời gian thiết lập tỷ lệ với số nút và số tuyến liên
kết mà bản tin đặt trước sẽ bắt gặp. Giải thuật định tuyến sẽ phải từ bỏ
chọn các tuyến ngắn nhất và sẽ thông báo các tuyến không phải là ngắn
nhất nhưng cho hiệu suất sử dụng bước sóng tốt nhất trong mạng. Nếu quá
trình xử lý ở mỗi nút là quan trọng thì thời gian thiết lập sẽ tăng lên.
Tuy nhiên, RWA được thực thi sẽ không xem xét thời gian thiết lập
như một tham số thực thi. Bởi vì bài toán thiết lập luồng quang không được
xem xét toàn bộ.
Hơn nữa, chưa có ý tưởng chung chấp nhận kiến trúc mặt phẳng
điều khiển cho các mạng toàn quang. Tất cả các loại báo hiệu có thể thực
hiện là báo hiệu trong giải, báo hiệu ngoài dải hoặc báo hiệu kênh chung. Ví
dụ như, báo hiệu ngoài dải sẽ dấn đến sử dụng một bước sóng cho báo
hiệu của toàn mạng. Khả năng này là rất hay bởi vì nó cho phép mang một
cách an toàn số lượng lớn bản tin quảng bá tuyến có thể mà được phân
phát bởi giao thức định tuyến và cả các bản tin đặt trước.
C. Yêu cầu đến
Trong phần này, chỉ xét bài toán DLE. Bài toán DLE phức tạp hơn bài
toán SLE. Tuy nhiên, nếu giả thiết rằng MPLS được sử dụng với lớp cao
hơn thì có thể coi tốc độ của đường đến có phần tương đối thấp. Nghĩa là
các phương pháp ngăn xếp nhãn MPLS cho phép các yêu cầu đến từ một
hệ thống đầu cuối dựa trên MPLS được bó vào cùng ngăn xếp nhãn để tối
thiểu tải trọng gây ra bởi các yêu cầu luồng quang động. Ví dụ như, ATM là
sử dụng một ngăn xếp nhãn mức 2 (VPI / VCI) để đơn giản hoá kiến trúc
mạng. Tuy vậy trong vấn đề này thì MPLS và theo đó GMPLS mạnh hơn
ATM nhiều bởi vì nó cho phép ngăn xếp nhãn ở mức vô cùng.
D.Xem xét kiến trúc của mạng quang thông minh Ion
Bài toán RWA sẽ được kiểm tra trên một mạng mắt lưới. Đây là
trường hợp trong các mạng toàn quang ở đó có thể có một số tuyến dư
thừa giữa mỗi nút của mạng
Mỗi nút bao gồm một OXC được điều khiển bởi một bộ điều khiển
GMPLS bằng việc sử dụng các dịch vụ của bộ định tuyến IP. Thông thường
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 85
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
các nhiện vụ khác nhau của bộ điều khiển có thể là quản lý tài nguyên
quang cấu hình và quản lý dung lượng, địa chỉ, định tuyến, khám phá cấu
hình mạng, kỹ thuật lưu lượng và khôi phục.
Giả thiết rằng bộ điều khiển GMPLS thực hiện chức năng hoàn toàn
như bộ điều khiển cho lớp quang và mang lưu lượng dữ liệu không phải IP.
Các bộ điều khiển điện thông tin với nhau qua mạng điều khiển ngoài dải
hoặc trong dải. Giả thiết rằng tồn tại giao thức truyền tải tin cậy trong mạng
điều khiển để đảm bảo bản tin giữa các bộ điều khiển được phân phát một
cách tin cậy và liên tục
Mô hình sẽ được kiểm tra trên mạng mô phỏng là mạng mắt lưới.
Mạng mô phỏng này dựa trên mạng Abilene. Đây là một mạng đường trục
cao cấp hỗ trợ phát triển sử dụng các ứng dụng mới đang được phát triển
với cộng đồng internet 2 ở MỸ
text
text
text
text
text
text
text
text
text
text
Hình 4.1: Mạng mô phỏng
Trong mạng trên bậc của mỗi nút là giữa 1 và 4 với bậc trung bình là
3. Tổng số các nút độ lớn của V là 12.
D. Các điều kiện ràng buộc vật lý
Các tham số không phải là ràng buộc dựa trên bước sóng không
được đưa vào tính toán.
E.1. Ràng buộc bước sóng liên tục.
Bởi vì việc chuyển đổi bước sóng toàn quang là một công nghệ tốn
kếm và vẫn chưa chin muồi nên giả thiết rằng khong OXCs nào có khả
năng chuyển đổi bước sóng. Do đó tiếp theo giải pháp sẽ phải đề cập đến
điều kiện ràng buộc bước sóng liên tục WCC
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 86
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
WCC là ràng buộc duy nhất mà không tìm thấy trong mạng chuyển
mạch điện thoại thông thường. Do đó, rất có thể giải thuật liên quan tới
WCC sẽ chịu xác suất tắc nghẽn cao hơn ví dụ trong hình dứơi đây, hai
luồng quang đã được
thiết lập trong mạng: (1) giữa nút 1 và nut 2 bằng lambda1 và (2) giữa nút 2
và nút 3 bằng lambda2. Bây giờ giả sử rằng luồng quang phải được thiết
lập giữa nút 1 và nút 3 điều này là không thể và sẽ dẫn đến tắc nghẽn cho
luồng quang thiết lập bởi vì hai bước sóng có thể sử dụng cuối cùng
(lambda 2 giữa nút 1 và nút 2 và lambda 1 giữa nút 2 và nút 3 là khác nhau)
text text text
Node 1
Node 2 Node 3
λ1
λ2
λ1
λ2
Hình 4.2: Tắc nghẽn do ràng buộc liên tục bước sóng
Giải thuật thiết lập đường đầu cuối - đầu cuối giữa nút lối vào A nào
đó và nút lối ra B nào đó trong mạng toàn quang phải động. Đầu tiên, không
xem xét khía cạnh TE, mục đích chính là để tối thiểu tắc nghẽn trong mạng.
Có nghĩa là đường tối ưu sẽ không phải là đường tối ưu của giao thức định
tuyến trong miền IGP. Để có được kết quả như vậy, các thước đo khác
nhau của các tuyến liên kết phải được thay đổi theo mục đích này. Các
thước đo khác nhau cho các giải thuật định tuyến động phải được kiểm tra.
E.2. Số bước sóng cho mỗi tuyến liên kết
Xét tuyến liên kết giữa hai nút ngay cạnh nhau. Mỗi tuyến liên kết có
thể được tạo nên từ vài sợi quang, bản thân mỗi sợi bao gồm vài bước
sóng WDM. Trong hình 4.3, tuyến liên kết bao gồm 3 sợi, mỗi sợi chứa một
số bước sóng xác định. Gọi j i,
λ
là số bước sóng i trong sợi quang j.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 87
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Hình 4.3: Giả thiết về trung kế sợi quang
Giả thiết dải bước sóng hoạt động là dải 1,550 nm, thường được gọi
là dải thông thường hoặc dải C bởi tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ITU-T. Dải
các bước sóng trong dải C là 1,530 nm tới 1,565 nm. Mỗi bước sóng được
gán một bước sóng phát xạ cụ thể được xác định bởi ITU-T.
Giả thiết có tối đa 44 bước sóng trên một sợi quang. Bước sóng
được đặt như sau
: λ i , 1 = 1,530 nm tới 1,565 nm, với j là số sợi quang được sử dụng.
Tóm lại, các bước sóng dựa trên vật lý sau đây được xét:
j i,
λ
= Bước sóng i trong sợi j
i ∈ (1, 44)
j i,
λ
= 1,5330,33 nm; j , 44
λ
= 1,564.68 nm Dải C
Về mặt thuật toán thì bài toán RWA đa sợi tương đương với mạng
quang dựa trên sợi quang đơn. Do vậy, tiếp theo danh sách bước sóng
được yêu cầu chỉ với một sợi quang được xem xét.
Hơn nữa, trên thực tế không thể xảy ra 44 bước sóng của dải C sẽ
hoàn toàn được sử dụng để phát đi. Thông thường thì chỉ có một số bước
sóng được phát đi; điều này phụ thuộc vào nhà thiết kế mạng quang. Nói
chung, mật độ khe thời gian WDM được giới hạn với bội của 8 bước sóng,
tới 32 hoặc 40.
4.2.2. XÂY DỰNG HÀM MỤC TIÊU
Giải thuật RWA sẽ sử dụng lại các giải thuật thông thường đã phổ
biến và có thể sử dụng. Nó càng đơn giản thực hiện càng tốt. Điều này
giảm thiểu bài toán tính toán có thể xảy ra.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 88
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Giải thuật RWA phải có khả năng xác định tối đa các tuyến rõ ràng
trong mạng ION để thoả mãn các yêu cầu động. Mục tiêu là tối thiểu tắc
nghẽn các luồng quang yêu cầu trong mạng trong khi liên quan tới điều
kiện ràng buộc bước sóng liên tục WCC.
Giải thuật RWA sẽ chia thành các cơ cấu đặt trước, gán bước sóng
và định tuyến. Mặt khác chủ yếu tập trung vào nghiên cứu tuyến rõ ràng
trong mạng đáp ứng các ràng buộc vật lý trong mạng ION.
Giải thuật RWA sẽ xác định tuyến lối ra rõ ràng trong mạng ION.
Tuyến rõ ràng này sẽ xác định mỗi nút được truyền qua bởi luồng quang.
Ngoài ra, giải thuật gán bước sóng cho phép xác định bước sóng thoả mãn
WCC sẽ phải được đặt trước trên luồng quang. Tuyến rõ ràng và bước
sóng sau đó sẽ được xử lý như lối vào của giao thức đặt trước để thiết lập
mạch trong mạng.
Phần mềm được viết phải có xu hướng sử dụng lại. Điều này đặc biệt
quan trọng, bởi vì bài toán RWA có thể sẽ trở nên phức tạp hơn khi có thêm
các ràng buộc vật lý mới.
4.2.3. MÔ TẢ BÀI TOÁN RWA
Công việc đặt ra là phát triển một mô hình mạng Ion dựa trên GMPLS
với định tuyến trạng thái liên kết bằng việc sử dụng tin tức mạng tổng thể.
Lựa chọn này được giải thích như sau.
A. Giải thuật định tuyến.
Có ba loại bài toán định tuyến chính là định tuyến cố định, định tuyến
thay thế cố định và định tuyến động. Nguyên lý định tuyến cố định và thay
thế cố định là rất đơn giản. Tuy nhiên, chúng có khả năng khiêm tốn khi giải
quyết các khả năng tự sửa chữa và có thể cho xác xuất tắc nghẽn rất cao
khi xem xét DLE
Do vậy, định tuyến động sẽ được xem xét. Bất lợi chính của định
tuyến động là tổng chi phí có thể cao do việc quảng bá các tuyến. Hơn nữa,
các giải thuật định tuyến động có thể chiếm nhiều CPU khi xem xét một số
ràng buộc. Tuy nhiên, việc lựa chọn giải thuật luôn là bước ngoặt giữa hiệu
năng và tổng chi phí lưu lưọng. Các đối tượng nghiên cứu trước đó được
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 89
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
miêu tả trong luận văn này mà định tuyến động được xem như là cách tốt
nhất để giải quyết bài toán RWA.
Trong phương pháp đầu tiên, cả hai bài toán định tuyến thích nghi là
định tuyến trạng thái liên kết và định tuyến véc tơ khoảng cách đã được đề
cập. Trái với giải thuật định tuyến dựa trên trạng thái liên kết làm tràn các
gói lên mạng thì giải thuật véc tơ khoảng cách gửi các bản tin quảng bá
tuyến của chúng chỉ tới những bộ định tuyến lân cận của nó.
Giải thuật véc tơ khoảng cách có thể tối thiểu tổng chi phí lưu lượng
trong toàn mạng trong khi vẫn đảm bảo xác xuất tắc nghẽn tương đối thấp
với tải trọng cao. Giải thuật véc tơ khoảng cách cũng rất hay khi xem xét
định tuyến ràng buộc. Nó là tính chất của giải thuật Bellman – Ford mà ở
phép lặp thứ h của nó, nó xác định đường tối ưu (số bước sóng tối đa) giữa
nguồn và mỗi đích, giữa các đường của nhiều nhất h chặng. Điều này được
khuyến nghị cho thực hiện định tuyến theo chất lượng dịch vụ QoS.
Bởi vì giải thuật Bellman – Ford tiến hành bằng việc tăng chặng trung
gian nên nó cần cung cấp cho chặng trung gian rỗi của đường đi như tiêu
chuẩn tối ưu thứ hai. Tính chất này rất hay khi áp dụng cho mạng toàn
quang. Thậm chí đường ngắn nhất sẽ được thoả mãn cho tuyến dài hơn
trong các chặng, luồng quang không nên quá dài bởi vì điều này có thể dẫn
đến thông tin quang kém hiệu quả và đắt tiền.
Giao thức báo hiệu IP thời gian thực RIP là thực hiện hay duy nhất
của giao thức dựa trên véc tơ khoảng cách. Nó tiếp tục phát triển do nó đơn
giản và phù hợp cho các mạng nhỏ. Tuy nhiên, Rip có một số thiếu sót làm
cho nó đặc biệt không phù hợp với mạng ION. Đặc biệt, RIP không phù hợp
cho các cầu hình lớn và nhiều vấn đề khác nữa. Biện pháp khắc phục tốt
nhất là thực hiện các giải thuật trạng thái liên kết.
Trong phạm vi mạng ION, để tính một tuyến rõ ràng thì sử dụng giải
thuật
đinh tuyến dựa trên mạng liên kết cũng dễ dàng hơn nhiều. Thực vậy, luồng
quang được thiết lập sẽ tối ưu hơn nếu mỗi nút có thông tin đầy đủ về
mạng. Nó cũng là một đặc tính của giải thuật Dijkstra để tìm tuyến rõ ràng
trong mạng ION trong khi tối thiểu xác xuất tắc nghẽn các yêu cầu trong
mạng ION.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 90
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Trong định tuyến trạng thái liên kết, thông tin chỉ được gửi khi xảy ra
những thay đổi. Nút xây dựng nên hình dạng cấu hình mạng đầu tiên. Sau
đó nó có thể sử dụng bất kỳ giải thuật định tuyến nào để xác định tuyến.
Ngược lại, phương pháp véc tơ khoảng cách cần sử dụng giải thuật phân
tán như là giải thuật Bellman – Ford.
Thực tế các giải thuật trạng thái liên kết có thể sử dụng giải thuật định
tuyến nào đó là đặc biệt quan trọng. Giải thuật định tuyến nâng cao hơn
nào đó có thể được bổ sung cho giải thuật RWA một cách an toàn mà
không trải qua những thay đổi lớn. Điều này đặc biệt quan trọng cho sử
dụng phần mềm. Ví dụ như, các giải thuật RWA khác nhau có thể được
thực thi, dựa trên các bài toán tối ưu khác nhau (tin tức tổng thể hoặc từng
phần).
Giao thức OSPF phiên bản 2 là giao thức trạng thái liên kết được phổ
biến rộng rãi nhất. Nó ngày càng được phổ biến hơn so với RIP, bởi vì nó
phù hợp nhất cho các mạng lớn. OSPF là giải thuật nguồn mở có thể được
tìm thấy với các ngôn ngữ khác nhau, bao gồm C++. Đây là thuận lợi lớn
cho sử dụng lại phần mềm. Bởi vì chương trình mô phỏng (OMNET ++)
được sử dụng dựa trên C++.
Phần trước giải thích tại sao giải thuật trạng thái liên kết được lựa
chọn. Nó được lựa chọn, bởi vì tiêu chuẩn GMPLS đã chấp nhận nó mà chỉ
các giải thuật trạng thái liên kết sẽ được sử dụng. Đó là tại sao chỉ những
mở rộng cho OSPF hoặc IS-IS được đưa ra trong các dự thảo MPLS.
B. Mô tả bài toán định tuyến
B.1.1 Quảng bá tuyến
Bản tin quảng bá tuyến được xây dựng theo OSPF mở rộng cho
GMPLS. Mục đích là mở rộng giá trị chiều dài tuyến TLV (Type Length
Value) liên quan đến trường ISCD (bộ mô tả khả năng chuyển mạch giao
diện) của GMPLS OSPF mở rộng.
Thực tế các bản tin ROUTING đó được làm tràn trên toàn bộ mạng
bởi nút thay đổi các khả năng liên kết của nó. Về cơ bản chúng chứa địa chỉ
của các đầu liên kết mà khả năng bước sóng của nó đã thay đổi và trạng
thái của bước sóng đã thay đổi.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 91
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Cơ sở dữ liệu liên kết bao gồm các bản ghi, ở đó mỗi bản ghi miêu tả
một tuyến liên kết của mạng. Mỗi bản ghi chứa các địa chỉ của các tuyến
liên kết nút, trường khả năng bước sóng và trường thước đo. Trường
thước đo là chi phí sử dụng tuyến liên kết này khi thực hiện tính toán đường
ngắn nhất. Trong luận văn này hai thước đo khác nhau sẽ được thực hiện.
Chúng là hai hàm của tổng số bước sóng và số bước sóng có thể sử dụng
trên tuyến liên kết.
B.2. Thước đo liên kết
Thước đo liên kết thể hiện chi phí sử dụng tuyến liên kết nào đó trong
mạng. Chi phí liên kết là hàm tổng số bước sóng và số các bước sóng có
thể sử dụng. Bước sóng có thể sử dụng càng nhiều chi phí liên kết sẽ thấp
hơn.
Bài toán định tuyến được kiểm tra với các thước đo khác nhau: TWA
(tổng số bước sóng và bước sóng có thể sử dụng) trên tuyến liên kết (i,j) và
T
j i,
λ
là tổng số bước sóng có thể trên tuyến liên kết đó. Thước đo TWA
đơn giản thể hiện tải được gán cho tuyến liên kết và được xác định bởi:
W j i. = 1 -
T
j i
a
j i
,
,
λ
λ
∀(i, j) ∈ E
2
Thước đo TWA nâng cao để kiểm tra thước đo mà tối thiểu xác suất
tắc nghẽn trên tuyến rõ ràng:
W j i. = - log
1
1
]
1

¸

,
_

¸
¸
− −
a
j i
T
j i
a
j i
,
,
,
1 1
λ
λ
λ
∀(i, j) ∈ E
2
So sánh các hàm trọng khác nhau cho
a
j i,
λ
= 32 đ ược thể hiển trên
đồ thị:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 92
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Hình 4.4: Các thước đo liên kết cho sợi 32 bước sóng
B.3. Tính toán đường đi
Cơ sở dữ liệu liên kết được cập nhật mới bởi bộ định tuyến GMPLS
đáp ứng cơ sở tính toán dò đường dựa trên giải thuật Dijkstra. Tính toán
đường này được thực hiện bởi mỗi nút trong mạng khi nó nhận bản tin
ROUTING, đó là cập nhật khả năng liên kết nào đó trong mạng.
Giải thuật định tuyến thường cho phép mỗi nút xây dựng cơ sở dữ
liệu của mình. Cơ sở dữ liệu chứa N bản ghi, ở đó N là số nút của mạng.
Mỗi bản ghi được dựa trên cấu trúc sau:
+ Địa chỉ nút đích: Xác định bản ghi; nó là nút để tiến tới.
+ Chi phí tổng cộng cho nút đích này: Đây là chi phí tổng cộng khi
thực hiện tuyến ngắn nhất tới nút đích.
+ Khả năng bước sóng có thể sử dụng đầu cuối - đầu cuối: Trường
này xác định rõ ràng các bước sóng có thể được gán nếu có trên tuyến
ngắn nhất.
+ Tuyến rõ ràng: Đây là danh sách liệt kê tất cả các địa chỉ của các
nút được yêu cầu trên tuyến ngắn nhất.
Với cơ sở dữ liệu liên kết ngắn nhất thì ba trường đầu tiên thực tế là
đầu ra trực tiếp của giải thuật đường ngắn nhất. Hai trường cuối cùng là kết
quả của một thủ tục nhỏ của giải thuật Dijkstra. Thực vậy, nó là tính chất
của giải thuật Dijkstra mà có thể tìm danh sách các nút của mỗi đường
ngắn nhất bằng phép gọi đệ quy đơn giản.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 93
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
B.4. Gán bước sóng
Có một số lớn bài toán gán bước sóng có thể thực hiện được. Các
bài toán khả dĩ được kiểm tra trong luận văn này là gán bước sóng theo thứ
tự bước sóng và ngẫu nhiên. Gán theo thứ tự bước sóng chọn bước sóng
có thể sử dụng đầu tiên trong danh sách các bước sóng yêu cầu. Gán theo
ngẫu nhiên lựa chọn bước sóng một cách ngẫu nhiên giữa các bước sóng
có thể sử dụng khác nhau. Hai bài toán đó được sử dụng trực tiếp ở lối ra
của giải thuật tính toán đường để xác định bước sóng được đặt trước trên
đường tới mỗi đích trong mạng từ nút nguồn.
B.5. Bài toán đặt trước.
Giao thức đặt trước dựa trên đặt trước song song (đồng thời) đã thực
hiện để kiểm tra các bài toán định tuyến và gán bước sóng đã thực hiện.
Việc đặt trước được đơn giản hoá bởi vì nó không xem xét các gói có thể bị
mất, không cho phép xem xét bất kỳ cơ cấu truyền lại nào. Hơn nữa, nó
được giả thiết rằng dịch vụ của giao thức định tuyến (như OSPF) từ chặng
tới chặng giữa các bộ định tuyến khác nhau được cung cấp.
Bài toán đặt trước sử dụng các loại gói sau: REQUEST, RESERVE,
RESPONE, TAKEDOWN. Quá trình trao đổi bản tin cho đặt trước như sau:
+ Bộ phát của hệ thống đầu cuối nút phát bản tin REQUEST (yêu
cầu) cho kết nối mới tới nút khác được lựa chọn ngẫu nhiên trong mạng
ION. Nó truyền yêu cầu này tới bộ định tuyến GMPLS liên kết của nó. Nhờ
cơ sở dữ liệu quang của nó được xây dựng bởi giải thuật định tuyến bước
sóng mà mô đun bộ định tuyến GMPLS có thể xác định nếu (1) tuyến rõ
ràng có thể sử dụng tới đích được yêu cầu; (2) với tuyến rõ ràng này, chọn
bước sóng với tối đa khả năng không tắc nghẽn.
+ Nếu tuyến rõ ràng và bước sóng có thể sử dụng cho đích thì router
GMPLS đặt trước đồng thời tuyến và bước sóng được gán cho kết nối đó.
Đó là, nó gửi đồng thời bản tin RESERVE (đặt trước) tới mỗi nút của tuyến
rõ ràng đã chấp nhận nó.
+ Khi nút trên tuyến rõ ràng nhận bản tin RESERVE thì nó kiểm tra
liệu bước sóng của nó có thể sử dụng trên tuyến liên kết đang liên kết nút
được xem xét với việc làm trước trong tuyến rõ ràng hay không. Sau đó nó
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 94
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
gửi bản tin RESPONE trở lại mô đun con router GMPLS đã gửi bản tin
RESRVE.
Sơ đồ của quá trình đặt trước minh hoạ các bản tin REQUEST,
RESERVE, và RESPONE được cho trong hình 4.5. Hệ thống đầu cuối gắn
vào nút S gửi bản tin REQUEST tới bộ định tuyến GMPLS (1). Sau đó đồng
thời 3 bản tin RESERVE tới nút 1, 2 và D (2). Cuối cùng, mỗi nút trả lời một
cách độc lập tới nút S (3)
text
Hệ thống đầu cuối yêu cầu
- Tuyến ró ràng S-1-2-D
- Bước sóng λ3
Bản tin Reserve
Bản tin Request
Bản tin Respone
Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
Đặt trước λ3 trên tuyến
liên kết S - 1
- Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
- Đặt trước λ3 trên tuyến liên kết
1 - 2
- Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
- Đặt trước λ3 trên tuyến liên kết 2
- D
text
text
text
text
Hình 4.5: Cơ cấu đặt trước sóng sóng – các bản tin
Request, Resrve, Respone
Trong trường hợp bước sóng được đặt trước không thể được sử
dụng trong một hoặc vài nút của tuyến rõ ràng thì mô đun bộ định tuyến
GMPLS gửi bản tin TAKEDOWN tới tất cả các nút của tuyến rõ ràng để
khuyến cáo chúng thiết lập lại khi bước sóng có thể sử dụng được đặt
trước
Sơ đồ quá trình đặt trước minh hoạ bản tin TAKEDOWN được cho
trên hình 4.6. Nút 2 kiểm tra các bước sóng có thể sử dụng của nó trên
tuyến liên kết 1-2; bước sóng được yêu cầu bởi S không có khả năng sử
dụng. Sau đó nó khuyến cáo S bằng việc gửi bản tin RESPONE từ chối đặt
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 95
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
trước bước sóng (3). Ngay lập tức, S gửi trở lại các nút khác của tuyến rõ
ràng bản tin TAKEDOWN (4) mà thiết lập lại bước sóng được yêu cầu có
thể sử dụng.
text
Hệ thống đầu cuối yêu cầu
- Tuyến ró ràng S-1-2-D
- Bước sóng λ3
Bản tin Reserve
Bản tin Request
Bản tin Respone
Bản tin Take Down
Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
Đặt trước λ3 trên tuyến
liên kết S - 1
- Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
- Đặt trước λ3 trên tuyến liên kết
1 - 2
- Kiểm tra λ3 có thể sử dụng
- Đặt trước λ3 trên tuyến liên kết 2
- D
text
text
text
text
Hình 4.6: Minh hoạ sử dụng bản tin Take Down
4.3. XÂY DỰNG MÔ HÌNH
Mô hình được thực hiện bằng việc sử dụng phần mềm mô phỏng
OMNET++. Nó đang dần trở nên phổ biến trong lĩnh vực khoa học thông tin
và cạnh tranh tốt trong những lĩnh vực này với các công cụ thương mại có
uy tín như OPNET. Nó đang được sử dụng ở một số trường đại học cho
việc nghiên cứu các mạng truyền thông.
Có một số lý do để sử dụng OMNET ++. Đầu tiên, đây là phần mềm
miễn phí. Hiện nay nó ngày càng được nhiều người sử dụng như công cụ
mô phỏng cho các công việc khác nhau, bao gồm các giao thức định tuyến.
OMNET ++ cũng cho phép sử dụng lại những thực thi trước đó hiệu quả
bởi vì nó sử dụng C++, một ngôn ngữ hướng đối tượng cho các mô đun
đơn giản.
4.3.1. ĐƯỜNG LỐI THỰC THI
A. Mô hình mạng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 96
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Mô hình mạng ION bao gồm các mô đun đơn giản như bộ định tuyến
GMPLS và các mô đun đa hợp Endsystem. Mô đun GmplsRouter chứa tất
cả các giải thuật RWA và giải thuật đặt trước, trong khi mô đun EndSystem
chịu trách nhiệm tạo và phân tích đáp ứng cho các bản tin yêu cầu kết nối.
Mô đun con EndSystem bao gồm mô đun phát đơn giản và mô đun
thu đơn giản. Nhiệm vụ của mô đun phát là phát một số yêu cầu kết nối tới
các nút đích được lựa chọn một cách ngẫu nhiên trong mạng ION. Mô đun
bộ thu nhận các đáp ứng cho mỗi yêu cầu kết nối được phát đi bởi mô đun
phát giống hệt của nó. Nguyên lý nhiệm vụ mô đun thu là phân tích các đáp
ứng và xây dựng bảng thống kê.
Đáng chú ý là mô đun đa hợp Endsystem mô tả thực tế một hệ thống
đầu cuối trong mạng ION. Mô đun Endsystem thể hiện cho một hoặc vài hệ
thống đầu cuối như các chuyển mạch hoặc các bộ định tuyến. Ví dụ như,
rất có thể các hệ thống mô đun như vậy sẽ là chuyển mạch ATM hoặc các
bộ định tuyến IP với phần mềm dựa trên MPLS. Một lĩnh vực nghiên cứu
hiện nay là tiêu chuẩn hoá giao diện vật lý giữa các khách hàng (các hệ
thống đầu cuối) và mạng truyền tải (mạng ION). Giao diện này được thiết
kế như giao diện UNI.
Mỗi mô đun GMPLS chỉ được liên kết với một mô đun EndSystem.
Các mô đun đó có địa chỉ giống nhau. Mô hình đơn giản như sau:
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 97
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
text Bộ thu Bộ phát
GMPLS ROUTER
Tới các mô
đun
Gmpls
Router khác
Tới các mô
đun
Gmpls
Router khác
Mô đun đa
hợp End
System
Hình 4.7: Các mô đun đa hợp Endsystem và Gmpls khác
Mô hình mạng dựa trên mạng mắt lưới giống như mạng Abiene ở Mỹ.
Nó gồm 12 mô đun GmplsRouter được phân tán ở các GigaPop khác nhau;
mỗi mô đun GmplsRouter được liên kết với mô đun Endsystem của nó.
B. Các tham số hệ thống.
Lưu lượng mạng được phát đi dưới dạng các yêu cầu kết nối. Yêu
cầu kết nối là yêu cầu thiết lập luồng quang từ nút nguồn tới nút đích được
lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Các yêu cầu kết nối đến mỗi bộ định tuyến
giả sử là hàm phân phối mũ trung bình trên một đơn vị thời gian.
Các tham số hệ thống được thay đổi là
T
j i,
λ
tổng số bước sóng trên
mỗi tuyến liên kết và các yêu cầu kết nối đến.
T
j i,
λ
được thay đổi giữa 8,
16,24. Các
tham số thực hiện được xem xét là xác suất tắc nghẽn P và tuyến liên kết
sử dụng U.
Gọi P là xác suất yêu cầu kết nối bị tắc nghẽn do các bước sóng
không thể sử dụng luồng quang. Không thể đưa ra định nghĩa về mặt giải
tích cho P.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 98
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
Trung bình tuyến liên kết sử dụng U được cho bởi phần trăm thời
gian tất cả các bước sóng của mỗi tuyến liên kết trong mạng được sử dụng
hoàn toàn.
U=


≠ <
≠ <

,
_

¸
¸

j i j i
j i
j i j i
j i
T
j i
a
j i
,
,
,
,
,
,
1
1
λ
λ
4.4.KẾT QUẢ VÀ SO SÁNH
Một trong những mục tiêu của luận văn này là đánh giá giải thuật
RWA đã trình bày thực hiện liên quan tới nghẽn các yêu cầu trong mạng
như thế nào. Bởi vì chuyển đổi bước sóng không được sử dụng nên ràng
buộc bước sóng liên tục dẫn đến mức tắc nghẽn cao khi tải trọng tăng lên.
Đầu tiên là so sánh các bài toán gán bước sóng. Tiếp đến là phân tích và
đánh giá về tắc nghẽn trong mạng theo trung bình tuyến liên kết sử dụng.
4.4.1.SO SÁNH CÁC BÀI TOÁN GÁN BƯỚC SÓNG
Gán bước sóng theo thứ tự bước sóng và ngẫu nhiên thực hiện bằng
các cách rất giống nhau, hoặc khi tắc nghẽn đối với trung bình tuyến liên
kết sử dụng hoặc đối với trung bình lưu lượng nút. Thực tế không có sự
khác nhau về hiệu suất giữa hai bài toán. Dưới đây là các kết quả mô
phỏng sử dụng bài toán gán bước sóng theo thứ tự bước sóng.
4.4.2.TẮC NGHẼN VÀ TRUNG BÌNH TUYẾN LIÊN KẾT SỬ DỤNG.
Xác suất tắc nghẽn P là hàm của tuyến liên kết sử dụng U với tổng số
bước sóng
T
j i,
λ
trong sợi quang.
T
j i,
λ
được thay đổi giữa 8, 16, 24 bởi một
số bài toán khác nhau bao gồm thước đo TWA đơn giản, thước đo TWA
nâng cao, gán bước sóng theo thứ tự bước sóng và ngẫu nhiên được kiểm
tra.
Các đồ thị biểu diễn tắc nghẽn đối với trung bình tuyến liên kết sử
dụng với các giá trị
T
j i,
λ
khác nhau được cho trong hình 4.8. Đồ thị a), b),
c) thể hiện tắc nghẽn đối với trung bình tuyến liên kết sử dụng tương ứng
với
T
j i,
λ
= 8,
T
j i,
λ
= 16,
T
j i,
λ
= 24. Trong mỗi đồ thị, tắc nghẽn đối với trung
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 99
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
bình tuyến liên kết sử dụng biểu thị cho hai thước đo là TAW đơn giản và
TAW nâng cao.

Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 100
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
4.4.3. NHẬN XÉT CHUNG VỀ TẮC NGHẼN TRONG MẠNG ION
Các đồ thị trên thể hiện sự giống nhau một phần nào đó về đặc điểm
tắc nghẽn trong mạng ION. Với tuyến liên kết sử dụng thấp, ít hơn một nửa
số bước sóng được sử dụng thì xác suất tắc nghẽn là cực thấp (hầu hết là
0). Khi nhiều hơn một nửa bước sóng được sử dụng, trên trung bình các
tuyến liên kết trong mạng thì tắc nghẽn tăng lên đột ngột và tiến tới 100
phần trăm tắc nghẽn khi 100 phần trăm trung bình tuyến liên kết sử dụng.
Mức tắc nghẽn thấp là dưới 5 phần trăm. Tắc nghẽn cao hơn là lớn
hơn hoặc bằng 5 phần trăm. Nếu ngưỡng này được sử dụng thì ta có
những nhận xét:
+ Khi
T
j i,
λ
= 8: Ngưỡng tắc nghẽn thấp đạt được với TWA đơn giản
với 33 phần trăm tuyến liên kết sử dụng trong khi TWA nâng cao là 42
phần trăm
+ Khi
T
j i,
λ
= 16: Ngưỡng tắc nghẽn thấp đạt được với TWA đơn
giản với 47 phần trăm tuyến liên kết sử dụng trong khi TWA nâng cao là 47
phần trăm.
+ Khi
T
j i,
λ
= 24: Ngưỡng tắc nghẽn thấp đạt được với TWA đơn
giản với 33 phần trăm tuyến liên kết sử dụng trong khi TWA nâng cao là 47
phần trăm.
Theo kết quả thì bất kể thước đo nào được sử dụng thì dường như
tắc nghẽn cao xuất hiện ở tuyến liên kết sử dụng cao hơn khi nhiều bước
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 101
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
sóng hơn được sử dụng. Tuy nhiên khó xác định được trạng thái thực sự
bởi vì chỉ có 3 bước sóng khác nhau được sử dụng.
Tuy nhiên ngay cả với 24 bước sóng thì hiệu suất cũng hơi nghèo
nàn. Thực vậy, tắc nghẽn tương đối cao xuất hiện nhanh ở tuyến liên kết sử
dụng cao hơn khoảng 50 phần trăm. Hiệu suất nghèo nàn này hầu hết do
giả thuyết đã đặt ra. Đặc biệt là không đưa vào sử dụng chuyển đổi bước
sóng; ràng buộc bước sóng liên tục dẫn đến tắc nghẽn cao hơn ở tuyến liên
kết sử dụng tương đối trung bình.
4.4.4 SO SÁNH GIỮA CÁC THƯỚC ĐO TAW ĐƠN GIẢN VÀ NÂNG CAO.
Trong phần này so sánh hiệu suất hai thước đo TAW đơn giản và
TAW nâng cao.Đó là đánh giá hiệu suất tương ứng với tắc nghẽn ở mức sử
dụng cao.
Ut được định nghĩa như ngưỡng liên kết sử dụng ở đó tắc nghẽn
bằng 5 %
Khi đó ta có bảng so sánh sau:
TAW đơn
giản
TAW
nâng cao
So sánh hiệu suất
(trung bình tắc nghẽn khác
nhau)
U
t
U<U
t
U>U
t
λ
T
i,j
= 8 33% 42% 1% 7%
λ
T
i,j
= 16 47% 47% 2% 4%
λ
T
i,j
= 24 33% 47% 1% 3%
Có thể kết lụân như sau:
+ Ở tuyến liên kết sử dụng thấp, TAW đơn giản và TAW nâng cao
thực hiện cùng một cách. Tắc nghẽn trong trường hợp này rất thấp (dưới 5
%).
+ Ở tuyến liên kết sử dụng cao, thước đo TAW nâng cao thực hiện
tốt hơn nhiều thước đo TAW đơn giản. Điều này đặc biệt đúng khi rất ít
bước sóng được sử dụng.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 102
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
+ Khi số bước sóng tăng lên thì tắc nghẽn hơn 5 % xuất hiện ở tuyến
liên kết sử dụng cao hơn.
Nói chung, thước đo TAW nâng cao thực hiện tốt hơn thước đo TAW
đơn giản ở tuyến liên kết sử dụng cao hơn. Lý do là thước đo nâng cao cố
gắng tối thiểu trọng lượng của tuyến rõ ràng trong khi vẫn cố gắng tối thiểu
xác suất tắc nghẽn cho các yêu cầu cao hơn. Ngược lại, thước đo TAW
đơn giản không đưa vào tính toán các khả năng. Nó chỉ cố gắng tối thiểu
tổng tuyến liên kết sử dụng trên tuyến rõ ràng có thể từ nút lối vào tới nút lối
ra.

KẾT LUẬN
Vấn đề RWA hiện nay rất được quan tâm nghiên cứu với một số
lượng công trình đáng kể đã được công bố. Với cùng một cấu trúc vật lý,
bằng các phương pháp định tuyến và gán bước sóng hợp lý trong cấu trúc
mạng quang cho ta truyền được lưu lượng cao và mang lại hiệu quả sử
dụng băng tần cũng như chất lượng dịch vụ.
Luận văn đã trình bày tổng quát về chuyển mạch nhãn đa giao thức
MPLS và chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS. Đó không chỉ
là một công nghệ băng rộng hiện đại và nâng cao mà còn là cốt lõi hoặc là
mũi nhọn của mạng. GMPLS cho phép các nhà khai thác viễn thông giảm
bớt chi phí vận hành, đơn giản hoá việc quản lý lưu lượng và hỗ trợ các
dịch vụ IP liên kết với nhau.
Trong luận văn cũng đã khảo sát, nghiên cứu một số phương án giải
quyết điển hình cho việc định tuyến và gán bước sóng trong mạng ghép
kênh phân chia theo bước sóng WDM toàn quang. Đặc biệt là luận văn đã
trình bày phương pháp sử dụng nền chuyển mạch nhãn đa giao thức
GMPLS cho việc thiết lập luồng quang trong mạng toàn quang.
Trên cơ sở một số giải pháp điển hình cho bài toán RWA đề xuất
trong luận văn này đã xây dựng được mô hình mô phỏng các bài toán đã
đề xuất bằng OMNET ++. Mô hình này đã được kiểm tra với mạng mắt lưới
dưới các tham số khác nhau bao gồm tổng số bước sóng cho mỗi sợi
quang và các bài toán khác nhau như: TAW đơn giản và TAW nâng cao
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 103
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
cho bài toán định tuyến và gán bước sóng theo thứ tự bước sóng và ngẫu
nhiên.
Các kết luận rút ra từ mô phỏng mô hình là:
+ Xác suất yêu cầu bị tắc nghẽn P là rất thấp và ổn định (< 5 %) với
tuyến liên kết sử dụng thay đổi từ 0 % tới ngưỡng U t thay đổi giữa 33 %
và 47 %. Ở tuyến liên kết sử dụng cao hơn Ut (U > Ut ) thì tắc nghẽn tăng
lên rất nhanh khi tuyến liên kết sử dụng tăng lên.
+ Thước đo T AW nâng cao thực hiện tốt hơn th ước đo T AW đơn
giản ở tuyến liên kết sử dụng cao, đặc biệt khi số bước sóng cho mỗi sợi
thấp. Ngược lại, ở tuyến liên kết sử dụng thấp (U < Ut ) thì cả hai thước đo
có kết quả giống nhau bất kể số bước sóng được sử dụng.
Các bài toán gán bước sóng theo thứ tự bước sóng và ngẫu nhiên
cho hiệu suất giống nhau khi kết hợp với bất kỳ bài toán định tuyến và đặt
trước nào.
Trong thời gian làm luận văn em đã cố gắng tìm hiểu về công nghệ
chuyển mạch MPLS và GMPLS. Nhưng do thời gian có giới hạn nên em
chưa thể đi sâu vào vấn đề này. Trong thời gian tới em sẽ cố gắng tìm hiểu
và đi sâu vào đề tài này. Em cũng ý thức được rằng mặc dù đã cố gắng
nhưng vẫn không thể tránh được những thiếu sót trong bản luận văn này.
Vì vậy em mong nhận được nhiều sự góp ý của các thầy các cô.
Em hy vọng rằng trong tương lai công nghệ GMPLS sẽ được đưa
vào và triển khai ở nước ta. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô và các bạn đã giúp đỡ em rất nhiều để hoàn thành đề tài luận văn
này.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 104
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ashowood-Smith, P.., et al.., Generalized Multi-protocol Label
Switching (GMPLS) Architecture – draft-ietf-ccamp-gmpls-architeture-
02.txt.2002.
2. Beger, L., et al.., Generalized MPLS Signaling Functional Description
– draft-ietf-mpls-generalized-signaling-08.txt.2002.
3. Black, U., Optical networks, Third Generation Transport
systems.2002: Prentice Hall PTR.
4. Bruce Davie and Yakov Rekhter, MPLS Technology and Applications,
Morgan Kaufmann Publishers, SanDiego, CA-USA,20USD.
5. Neil Jerram, MPLS in Optical Network, Data Connection Limited,
Enfield, UK
6. Stallings, W., Multi Protocol Label Switching. Sept.2001, Cisco.
7. Varga, A., Omnet++. 2002
8. Zang , H.,et al., Dynamic lightpath establishment in wavelength
routed WDM network. IEEE Communications Magazine, Sept. 2001.
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 105
Chuyển mạch nhãn đa giao thức tổng quát GMPLS
9. Nguyễn BÁ Hưng, Định tuyến và gán bước song trong mạng WDM,
Viện khoa học kỹ thuật Bưu điện.
10.Viện khoa học kỹ thuật Bưu điện, Nghiên cứu công nghệ chuyển
mạch nhãn đa giao thức MPLS và đề xuất các kiến nghị áp dụng
công nghệ MPLS trong mạng thế hệ sau (NGN) của tổng công ty.
11.Tổng hợp các tài liệu từ Internet
www.iec.rog
www.ietf.org
www.IPinfusion.com
Đinh Mạnh Hải - Lớp K49ĐB 106

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful