You are on page 1of 35

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

LỜI MỞ ĐẦU Cà phê là một loại thức uống có từ lâu đời và liên tục được phát triển cho đến ngày nay. Cà phê là một trong những thức uống được ưa chuộng nhất trên thế giới và có mức tiêu thụ cao. Với người sử dụng ngày càng nhiều, cộng với nhịp sống hối hả của thời đại công nghiệp, việc pha cà phê bằng phin đã nảy sinh một số bất lợi, nhất là về thời gian. Năm 1936, Max Rudolf Morgenthaler, người Thụy sĩ đã sáng chế ra cà phê hòa tan và ngay sau đó công ty Nestle đã đăng ký nhãn hiệu Nestcafe vào năm 1938. Đối với người tiêu dùng, cà phê hòa tan nhanh chóng được ưa chuộng bởi vì sự tiện lợi của nó. Còn đối với nhà sản xuất, cà phê hòa tan là mặt hàng có giá trị cao, thuận lợi trong việc bảo quản và vận chuyển nên thu được nhiều lợi nhuận. Ngoài ra, lĩnh vực chế biến cà phê hòa tan còn tận dụng các hạt cà phê nhân không cao cấp nhưng vẫn cung cấp một vị nước uống chấp nhận được.

Trang 1

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

I. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT.

Cà phê nhân

Lọc

Cô đặc

Làm sạch

Lắng

Sấy

Rang

Phối trộn

Bao gói

Xay

Trích ly

Cà phê hòa tan

II.MÁY THIẾT BỊ TRONG SẢN XUẤT. II.1. Chọn cà phê nhân. Trên thế giới có rất nhiều loại cà phê nhưng chỉ có 3 loại giống cà phê sau được trồng phổ biến trên thế giới. • Cà phê chè ( Cà phê Arabica ): cà phê thuộc các giống Coffea Arabica Linnaeus.

Cà phê vối ( Cà phê Robusta ): cà phê thuộc các giống Coffea canephora Piere ex Froehner.

• Cà phê mít ( Cà phê Liberica ): cà phê thuộc các giống Coffea liberica Hiern. Tuy nhiên, sử dụng cà phê nhân Robusta trong chế biến cà phê hòa tan sẽ thu hồi các chất hòa tan với năng suất cao, mùi vị thơm ngon hơn nhưng điểm bất lợi là cho nhiều chất nhựa. Cà phê Robusta chiếm một tỷ trọng lớn, trên 50%, trong các hợp chất cà phê thương phẩm ở Mỹ và Châu Âu. Trang 2

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

II.2. Tách tạp chất. Đây là giai đoạn tách bỏ đất đá ra khỏi cà phê nhân sống. Người ta thường sử dụng máy sang rung, sàng – quạt. II.2.1. Máy sàng rung. II.2.1.1Cấu tạo. Khung sàng (3) được đỡ bằng hệ lò xo gắn trên bệ máy (1). Trên khung sàng(3) còn gắn ổ đỡ của trục lệch tâm (6). Phía ngoài truc lệch tâm (6), người ta bố trí hai đĩa (5) mà vành của nó có gắn hai đối trọng. Với cách lắp đặt này có thể điều chỉnh biên độ dao động của sàng. Trục lệch tâm nhận truyền động quay qua bánh đai dẫn động (7) từ động cơ vào. Trên khung sàng có thể đặt
(1,2) hay nhiều lưới sàng 8 tùy theo yêu cầu phân loại.

Khung sàng được chế tạo từ các tấm thép góc thép tấm hàn lại với nhau, còn khoảng cách ngang giữa các tấm thì được cố định bằng các bulông giằng. Các lò xo đỡ khung sàng có dạng lò xo nhíp cong hay lò xo hình trụ. Bộ phận gây dao động gồm có phần khối lượng lêch tâm của trục lệch tâm (6), các đối trọng gây rung. Khi sàng làm việc, các bánh đai chuyển động theo sàng nên bộ truyền động đai thường được sử dụng trong máy sàng rung. Sàng thường đặt nghiêng một góc 15 – 30 độ. Số vòng quay của trục lệch tâm từ 500 – 1500 vg/ph; biên độ dao động từ 1 – 6 mm; năng suất có thể đạt 300 m3/h.

Trang 3

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 1: Sơ đồ cấu tạo máy sàng rung 1. Bệ máy 2. Lò xo đỡ 3. Khung sàng 4. Đối trọng gây rung II.2.1.2. Nguyên lý hoạt động Khi trục lệch tâm quay thì trọng lượng lệch tâm của trục và của các đối trọng sẽ sinh ra lực ly tâm quán tính hướng thẳng góc với chiều quay. Lực ly tâm có thể chia thành hai thành phần song song và vuông góc với bề măt sàng. Thành phần vuông góc với bề mặt sàng sẽ tác dụng theo đường trục của các lò xo đỡ và gây ra dao động của khung sàng. Còn thành phần song với bề mặt sàng sẽ tác dụng vuông góc với trục của các lò xo đỡ và gây ra dao động ngang của khung sàng. Do độ cứng của lo xo theo hai phương pháp khác nhau (thường theo phương song song lớn hơn) nên kết quả khung sàng sẽ vẽ nên quỹ đạo hình elip. Vật liệu nằm trên bề mặt sàng được nhận dao động truyền từ chính bản thân mặt sàng và tiến hành phân ly khi gặp lỗ sàn. Nhờ có rung động nên lỗ sàng được làm sạch, tăng hiệu quả của quá trình phân ly. II.2.2. Máy làm sạch sàng – quạt. Áp dụng nguyên tắc khí động cho việc làm sạch, một luồng không khí mạnh được tạo ra do quạt ly tâm thổi từ dưới lên trên xuyên qua khối hạt cà phê ngay khi nó được cung cấp xuống máng hứng còn hạt và tạp chất nhẹ hơn sẽ bị thổi bay đi ra ngoài. 5. Đĩa quay 6. Trục lệch tâm ; 7. Bánh đai dẫn động 8. Lưới sàng

Trang 4

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 2: Máy sàng – quạt II.3. Rang cà phê. Rang là công đoạn xử lý nhiệt cho hạt cà phê tại các nhiệt độ cao, 190 230◦C, nhằm đạt được các biến đổi các biến đổi mong muốn về màu sắc, hương và cường độ cho hạt cà phê rang. Rang quyết định chất lượng chất lượng cà phê hòa tan. Rang hơi cháy thì tỉ lệ thành phẩm tăng nhưng hương vị bị giảm. Các giai đoạn rang: • Ở nhiệt độ < 50◦C, ta thấy bốc ra nhiều khói trắng, chủ yếu là hơi nước và hơi dung môi, thể tích hạt không biến đổi • Trong thời kì đầu của công đoạn rang, khi nhiệt độ rang lớn hơn 100◦C, nhiệt lượng dùng để làm bốc hơi nước có trong hạt từ 12%w.b. giảm xuống còn 2%w.b.. • Khi nhiệt độ đạt đến 150◦C, một lượng lớn chất khí sản xuất (carbon dioxide, carbon monoxide, hơi nước). Trong hạt xảy ra quá trình tích khí nên thể tích hạt tăng lên đột ngột, lúc này ta nghe thấy những tiếng nổ, hạt trở nên giòn và dễ xay xát thành bột. Lúc này hạt chuyển sang màu đen nhưng chưa bóng. • Trong khoảng nhiệt độ 180 - 200◦C hạt bắt đầu rạn nứt và mùi hương cà phê được tạo ra. • Khi nhiệt độ lên 220◦C, giữ nhiệt độ này trong 15 phút, lúc này thể tích hạt không biến đổi nữa. Trang 5

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Nguyên lý truyền nhiệt trong các phương pháp rang: dẫn truyền, đối lưu, kết hợp dẫn truyền và đối lưu. II.3.1. Trống rang cà phê: (Dẫn truyền). Áp dụng quy mô sản xuất nhỏ hoặc ở phòng thí nghiệm.

Hình 3: Sơ đồ cấu tạo Trống rang cà phê. II.3.2. Thiết bị rang cà phê tầng sôi: (Đối lưu) Thời gian rang ngắn hơn các phương pháp rang khác, mất khoảng 3 phút, và đạt độ rang đồng đều cao nhất.

Hình 4: Thiết bị rang cà phê tầng sôi. II.3.3. Thiết bị rang kiểu đứng.

Trang 6

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 5: Thiết bị rang cà phê kiểu đứng. II.4. Xay (Nghiền). II.4.1. Các lực và các dạng phá vỡ vật liệu. Tùy theo từng loại sản phẩm mà có kết cấu của máy khác nhau với các bộ phận làm việc tạo nên các lực phá vỡ vật liệu cần làm nhỏ khác nhau. Có thể là nén ép, bẻ, chẻ, cắt, xẻ, ép trượt va đập hoặc do vài lực trên cùng tác động đồng thời.

Hình 6: Các dạng phá vỡ vật liệu a.Lực nén c.Bẻ đ. Xẻ II.4.2. Các nguyên tắc nghiền. b. Chẻ d. Cắt e. Ép trượt g. Đập

Trang 7

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 7: Các nguyên tắc nghiền a. Nguyên tắc nghiền kiểu búa va đập tự do. b,c. Bộ phận nghiền (Rô to nghiền) kiểu búa va đập tự do. d,e,g. Chà sát vỡ h. Cắt nghiền. i. Ép dập II.4.2.1. Nguyên tắc va đập tự do (nghiền kiểu búa) Vật liệu nghiền từ thùng cấp liệu (5) rơi xuống buồng nghiền qua cửa điều chỉnh (6) trong trạng thái rơi lơ lửng sẽ được các búa nghiền (1) va đập các hạt sẽ vỡ ra và có thể còn bám vào phần nhám xung quanh và hai bên buồng nghiền, nó tiếp tục vỡ, các hạt bột sẽ lọt qua lưới sàng (3). Bột có thể được hứng tại đó hoặc người ta bố trí các bộ phận phụ trợ khác để thu bột nghiền như vít tải, quạt chuyển, xyclon. II.4.2.2. Nguyên tắc chà xát vỡ. Trên hình (Hình 7. d,e) gồm hai thớt có thể bằng đá, hoặc bằng kim loại quay với vận tốc khác nhau, có thể có một thớt đứng yên. Trên bề mặt làm việc có các rãnh hoặc các gân nổi dạng xương cá. Một số máy kết hợp nguyên tắc va đập và chà xát (Hình 7. g). II.4.2.3. Nguyên tắc nghiền trục. Trên hình 7 (i, h) gồm một hoặc nhiều cặp trục, các trục có thể trơn hoặc trên có nhiều dạng răng, gờ. Hai trục trong cùng một cặp quay ngược chiều, có vận tốc bằng nhau, hoặc khác nhau (ở các cặp trục có gờ, dạng răng). Vật nghiền từ máng scung cấp sẽ đi qua khe hở giữa các cặp trục và được ép vỡ. II.4.3. Máy nghiền đĩa (nghiền bột vừa và mịn). Trong công nghiệp thực phẩm máy nghiền đĩa đuợc sử dụng để nghiền bột vừa và mịn. Do mấy nghiền đĩa có năng suất thấp hơn một vài loại máy nghiền bột khác nên cũng ít được sử dụng. Máy nghiền đĩa làm việc theo nguyên tắc chà xát vỡ. II.4.3.1.Đĩa nghiền:

Trang 8

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Bộ phận làm việc chính của nó là cặp đĩa (thớt) nghiền. Các đĩa có thể lắp trên trục thẳng đứng hoặc nằm ngang. Đĩa trên quay hoặc đĩa dưới quay, một đĩa quay hoặc cả 2 đĩa cùng quay. Các đĩa của máy nghiền đĩa thường được chế tạo bằng kim loại hoặc bằng hỗn hợp bột vô cơ cứng hoặc bằng đá (Đĩa nghiền bằng đá thường được chế tạo từ hỗn hợp các loại bột như bột nhám, Silic, Thạch anh, manhêdit, Magiêclorua). Do lực liên kết của đĩa đá kém hơn đĩa kim loại nên phải làm thêm đai thép và thường cho đĩa đá làm việc với vận tốc tiếp tuyến là 10 m/s đối với trục quay thẳng đứng, tới 18 m/s đối với trục quay nằm ngang. Đĩa gang đúc (kim loại) thì vận tốc tiếp tuyến có thể lên tới 28 m/s, còn đĩa thép đúc đạt tới 68 m/s. Chế tạo đĩa nghiền đảm bảo các yêu cầu: bề mặt nghiền cần có độ cứng cao, độ nhám lớn, cơ tính đồng đều trên toàn bề mặt đĩa nghiền để khi làm việc thì mòn đều, không bị sứt mẻ. Để tăng khả năng nghiền của đĩa, tăng khả năng vận chuyển bột ra khỏi khe nghiền và tăng điều kiện thông gió…, người ta thường gia công mặt đĩa thành các vành (Hình 8: Các vành trên mặt đĩa nghiền), các rãnh chìm có profin hình tam giác trên hai mặt đĩa (Hình 9: Các rãnh trên mặt đĩa nghiền). Các rãnh có hai loại hình dạng: cong và thẳng. Rãnh cong có khả năng đẩy hạt đã nghiền ra ngoài mạnh hơn rãnh thẳng. Vì vậy bột sẽ được nghiền to hơn, ít có bụi bột. Tuy nhiên, trong một số máy nghiền đĩa, trên bề mặt đĩa người ta đúc có gờ nổi dạng xương cá.

Trang 9

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 8: Các vành trên mặt đĩa nghiền A.Lỗ tiếp liệu C. Vành chuyển B. Vành nhận D. Vành nghiền

Hình 9:Các rãnh trên mặt đĩa nghiền

II.4.3.2. Nguyên lý làm việc máy nghiền đĩa trục quay nằm ngang. Hạt nghiền từ hộp cấp liệu 1 chảy qua nam châm tách vụn sắt 2 rồi chảy xuống vít xoắn 4. Vít xoắn này có nhiệm vụ đẩy hạt vào khoang nghiền của cặp đĩa nghiền 6 và 7. Đĩa nghiền 6 cố định còn đĩa nghiền 7 được lắp với trục quay do puli 9 dẫn động. Bột nghiền được cần gạt 8 đẩy vào cửa tháo liệu. Điều chỉnh khe nghiền bằng cần 5. Từ trục quay còn truyền động bằng đai 10 lên cơ cấu tháo liệu 11 của hộp chứa liệu 1. Cửa quan sát 3 vừa để theo dõi lớp hạt chảy xuống cặp đĩa nghiền, vừa để lấy vụn sắt bám trên nam châm 2 ra, đảm bảo an toàn cho cặp đĩa nghiền. Ngoài khả năng nghiền khô, máy nghiền đĩa còn dùng để nghiền ướt.

Hình 10: Cấu tạo máy nghiền đĩa trục quay nằm ngang 1.Hộp cấp liệu 2. Nam châm 3. Cửa quan sát 4. Vít xoắn 5. Cần điều chỉnh khe hở nghiền 6. Đĩa cứng 7. Đĩa quay Trang 10

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

8. Cần gạt 9. Puli dẫn động 10. Đai truyền động 11. Cơ cấu tháp

II.4.4. Máy nghiền búa (hạt lương thực và thức ăn gia súc). Máy nghiền búa có thể nghiền hạt có kích thước nhỏ và lớn đồng thời. II.4.4.1. Nguyên tắc làm việc chung: Quá trình nghiền hạt trong máy nghiền kiểu búa là do sư va đập của búa vào hạt, va đập giữa các hạt vào vỏ máy và do sự chà xát của hạt với búa hoặc với thành trong của vỏ máy. Hạt sẽ bị biến dạng rồi vỡ ra thành các thành phần có kích thước nhỏ hơn. Bộ phận gây ra sự va đập vào hạt trong máy là các búa nghiền 5 được treo trên các chốt (3)của rôto (2) đặt nằm ngang. Khi rôto (2) quay thì lực ly tâm làm búa nằm ở vị trí hướng tâm và dự trữ một động năng lớn. Hạt qua bộ phận cung cấp phía trên vào máy liền bị các búa nghiền quay đập vào và va chạm với các chi tiết nằm trong buồng nghiền. Trong quá trình va đập, búa sẽ truyền cho hạt phần động năng tạo ra công phá vỡ hạt. Các phần tử tách ra từ hạt có kích thước bé hơn lỗ lưới sàng phân ly thì lọt ra ngoài buồng nghiền tạo thành sản phẩm. Những phần tử có kích thước lớn hơn tiếp tục bị va đập. II.4.4.2. Cấu tạo. a. Bộ phận nạp liệu: Bộ phận nạp liệu gồm: thùng chứa liệu, cửa điều chỉnh lượng cung cấp theo nguyên tắc tự chảy, tự hút hoặc tự cuốn (cấp liệu kiểu cưỡng bức). Hình11: Sơ đồ cấu tạo máy nghiền hạt kiểu búa trục ngang. 1.Thân máy 2. Rôto Trang 11 3. Chốt treo búa 4. Má đập phụ 5. Búa nghiền 6. Sàng

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

b. Rôto máy nghiền kiểu búa trục ngang. Rôto là bộ phận làm việc chính của máy. Nó nhận truyền động thông qua bộ truyền động đai hay khớp nối trục.Trục rôto được chế tạo từ thép tốt. Gối đỡ của trục rôto thường được bố trí bên ngoài vỏ máy và đạt trên khung thép hình. Ổ đỡ thường dùng là loại ổ đỡ lòng cầu hoặc loại ổ bi đũa côn 2 dãy để có khả năng tự lựa khi có dao động nhỏ. Các đĩa lắp chốt treo búa có thể sử dụng nhiều hình dạng khác nhau, tùy theo số lượng búa, số hàng búa.
c. Các búa nghiền là bộ phận làm việc chủ yếu của máy.

Hình dạng, vật liệu chế tạo búa có ảnh hưởng đến năng suất, độ mịn của sản phẩm. Nó được xác định tùy theo cơ lý tính của vật liệu nghiền cũng như kích thước của chúng. Búa nghiền thường được chế tạo từ thép mangan. Khi chế tạo búa, khối lượng búa không được sai lệch nhiều, bề mặt búa không được có vết nứt hay khuyết tật khác. Búa chữ nhật có một lỗ treo búa thì có hai góc làm việc, khi góc này mòn thì lật mặt búa để dùng góc kia. Búa chữ nhật có hai lỗ treo búa sẽ có bốn góc làm việc. Búa được lắp phải đảm bảo các búa quét đều khắp trong không gian buồng nghiền và điều kiện cân bằng động của rôto. Thông thường búa bố trí trên rôto theo đường xoắn ốc với số bước ren k=1, 2, 3. d. Các chốt treo búa. Để hạn chế dịch dọc hai đầu chốt búa có bố trí chốt chặn.Các chốt treo búa thường được chế tạo từ thép. e. Lưới sàng. Lưới sàng dùng để thoát sản phẩm ra khỏi buồng nghiền và làm nhiệm vụ điều chỉnh mức độ nghiền.

Trang 12

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Thường được làm bằng thép tấm dày từ 1,5 – 3 mm được dập thành lưới dạng lỗ tròn hoặc rãnh. Kích thước lỗ và rãnh phải phù hợp với mức độ nghiền yêu cầu và loại máy nghiền. Để nâng cao hiệu quả nghiền nhỏ, người ta đã chế tạo loại lưới sàng lỗ nửa elip hoặc lỗ chữ nhật nhưng mép lỗ và rãnh phải có gờ sắt tạo nên mặt sàng nhám. Tuy nhiên loại sàng này chóng bị mòn gờ nhám. f. Má đập phụ. Người ta bố trí má đập phụ để tăng hiệu quả va đập, chà xát của vật liệu vào bề mặt trong buồng nghiền. Má đập phụ thường làm bằng gang đúc hay thép lá có các lỗ. II.4.4.3. Ưu, nhược điểm. a. Ưu điểm. Là máy nghiền vạn năng, có khả năng điều chỉnh độ nhỏ bột dễ dàng. Máy có cấu tạo đơn giản, gọn gàng, khối lượng máy không lớn, giá thành rẻ, dễ thay thế các chi tiết bị mòn hay hư hỏng. b.Nhược điểm. Trong quá trình làm việc máy sinh nhiều bụi bột, gây tổn thất và khó khăn xử lý bụi về sau. Do máy quay với vận tốc lớn nên gây ra tiếng ồn và chấn động, làm ảnh hưởng xấu tới môi trường lao động. Nghiền các hạt dẻo, dính có độ ẩm cao thì kém. II.4.5. Máy nghiền trục. Trang 13

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Nghiền nát hoặc ép mỏng các loại nguyên liệu nghiền khi nó đi qua khe hẹp giữa hai trục nghiền. Máy I, II, III, IV, V: Vật liệu bị nghiền nát một lần. Máy VII, VIII: Vật liệu bị nghiền ép hai lần Máy X, XI: Vật liệu bị nghiền ép ba lần Máy IX: Vật liệu bị nghiền ép bốn lần Máy XII: Vật liệu bị nghiền ép năm lần nguyên lý các máy nghiền trục. II.4.5.1. Máy nghiền hai trục. Máy nghiền hai trục cũng có kết cấu khác nhau, tùy theo tính chất của vật liệu đem nghiền. Hình 12: Sơ đồ

Hình 13: Máy nghiền hai trục a. Khe hở không đổi b,c. Khe hở thay đổi được Hình 13 a. Máy nghiền có hai trục cố định dùng để nghiền ép, cán các loại vật liệu dẻo, nhão, không xuất hiện hiện tượng quá tải do lực ép tăng đột ngột. Khi làm việc, chiều rộng khe nghiền không đổi. Hình 13 b. Máy nghiền có một trục di động được khi làm việc nhờ có lắp hai lò xo chịu nén giữa ổ đỡ trục và bệ máy cố định. Loại này thích hợp để nghiền vật liệu dạng hạt, cục nhỏ.Khi quá tải lực ép tăng đột ngột nén hai lò xo giữ trục di động, lò xo bị nén lại làm tăng khoảng cách giữa hai trục để thoát lớp liệu đang gây ra quá tải. Khi hết hiện tượng quá tải, lực ép trở lại bình thường, hai lò xo đẩy trục di động trở về vị trí cũ. Máy nghiền có một trục di động đề phòng quá tải được dùng rất rộng rãi. Hình 13 c. Là máy nghiền hai trục nhưng cả hai trục đều lắp lò xo chịu nén để cùng di động được khi có quá tải.Máy này thích hợp với vật liệu nghiền Trang 14

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

cứng có kích thước không đều, dễ gây quá tải do lực ép tăng đột ngột. Do máy có kết cấu phức tạp hơn nên loại này ít được dùng. Các máy nghiền hai trục có thể gồm: • Hai trục khác đường kính, khác số vòng quay nhưng có cùng vận tốc tiếp tuyến. • Hai trục khác đường kính nhưng cùng số vòng quay để có vận tốc tiếp tuyến khác nhau, tạo vận tốc trượt tăng khả năng nghiền. • Hai trục cùng đường kính cùng số vòng quay nhưng không tạo ra vận tốc trượt. • Hai trục cùng đường kính, khác số vòng quay để có vận tốc tiếp tuyến khác nhau và có vận tốc trượt. II.4.5.2. Cấu tạo. a. Bộ phận cấp liệu. Để rải vật liệu lên cặp trục nghiền thành lớp mỏng đều, đạt hiệu quả nghiền cao, người ta thường dùng cặp trục rải liệu và các van điều chỉnh chiều dày lớp vật liệu trên trục rải liệu. Cặp trục rải liệu và van chắn liệu được lắp ngay dưới hộp cấp liệu. Van chắn liệu có nhiều kiểu khác nhau và có thể tự động điều chỉnh hoặc không tự động điều chỉnh trong quá trình cấp liệu.

Trang 15

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 14: Cơ cấu điều chỉnh khe hở trục nghiền. b. Trục nghiền và điều chỉnh khe hở cặp trục nghiền. Trục nghiền có yêu cầu độ cứng bề mặt cao, có độ bền uốn cao để đảm bảo gia công các loại vật liệu cứng. Để tăng độ cứng vững cho trục nghiền, người ta thường chế tạo một trục lõi bằng thép xuyên suốt qua trục nghiền bằng gang. Nếu trong quá trình nghiền phát sinh nhiều nhiệt mà nhất thiết phải làm nguội trục nghiền thì trục nghiền được chế tạo rỗng để dẫn nước vào làm nguội. Người ta cũng đúc trục nghiền rỗng nhưng không để dẫn nước vào làm nguội mà nhằm giảm khối lượng trục với điều kiện là nó đã đủ độ cứng vững. Để nâng cao hiệu quả nghiền nhỏ , ngoài chế tạo các trục nghiền có bề mặt nhẵn với độ bóng cao hoặc độ nhấp nhô trong giới hạn 0,025 – 0,05 µm, người ta còn tạo các trục nghiền xẻ rãnh nghiêng 2 – 10 ◦ so với đường sinh của mặt trụ trục nghiền. Một số máy nghiền trục loại hiện đại có cơ cấu điều chỉnh khoảng cách giữa hai trục để phù hợp với cỡ vật liệu đem nghiền., đáp ứng được mức độ nghiền cần thiết. Cơ cấu điều chỉnh thường đặt lên một trục. Loại cơ cấu đơn giản thường gặp là loại cơ cấu điều chỉnh vít- đai ốc. Đai ốc được gắn chặt lên thân máy còn vít gắn trên ổ đỡ trục. Khi quay vít do đai ốc cố định vít phải dịch chuyển kéo theo ổ đỡ trục làm thay đổi được khoảng cách hai trục.(hình Cơ cấu điều chỉnh khe hở các trục nghiền) : Trục cố định có ổ đỡ cố định gắn trên giá máy.Mỗi ổ đỡ của trục di động có một bên treo vào giá máy tại điểm 1, còn bên kia được tỳ lên lò xo 2, lò xo này được treo bằng hai thanh kéo 3 cùng lắp với cơ cấu tăng 4. Qua 2 cơ cấu tăng 4 đỡ hai ổ trục của trục di động, ta điều chỉnh được độ song song với trục cố định bằng cách xoay một cơ cấu tăng 4 để rút ngắn hoặc kéo dài thanh kéo 3 nhằm nâng hoặc hạ một ổ đỡ trục so với ổ đỡ đầu trục kia.

Trang 16

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

• Điều chỉnh thô và điều chỉnh tinh trên cơ cấu này: Hai hệ thanh treo 3 được gắn lên trục xoay 5. Trên trục 5 có hai cần 6 và 9. Cần 6 dùng điều chỉnh thô có gài chốt với trục 5 và có móc nối với thân máy. Ngoài ra, trên cần 6 còn có đai ốc của vít chỉnh tinh 8 gắn cố định với cần 9 và dược chuyển động từ tay quay 7. Cần 9 cũng được cài then với trục 5. Khi điều chỉnh thô khoảng cách khe nghiền: nhả móc nối với thân máy và xoay tay gạt 6 sang phải hoặc sang trái, cần 9 cũng xoay theo cùng trục 5 sang phải hoặc sang trái, kéo hệ thanh 3 lên hoặc xuống để mở rộng hoặc giảm khe nghiền. Khi đạt yêu cầu điều chỉnh thô thì gài móc nối với thân máy lại. • Khi điều chỉnh tinh: rút chốt gài giữa cần gạt 6 với trục 5, lúc này cần 6 cố định cùn thân máy nhờ móc nối. Quay tay quay 7 làm vít chỉnh tinh 8 di động (so với đai ốc lắp trên cần 6 cố định) kéo theo cần 9 quay làm trục 5 quay và nâng hoặc hạ hệ thanh kéo 3 vì vậy dịch chỉnh tinh được khoảng cách khe nghiền. Lò xo 2 dùng để phòng quá tải cho cặp trục nghiền khi có vật liệu nghiền quá cứng hoặc quá to đi vào khe nghiền. Để tránh quá tải khe nghiền phải tự nới rộng ra nhờ lực đàn hồi của lò xo 2. Sau khi hết quá tải cũng chính nhờ lò xo 2 đưa trục nghiền về vị trí cũ. II.4.5.3. Một só điểm lưu ý khi vận hành máy nghiền trục Máy nghiền trục làm việc bình thường khi: • Hộp cấp liệu phân bố vật liệu nghiền một cách liên tục và điều đặn. Cặp trục rải liệu đảm bảo rải liệu lên trục quay chậm thành một lớp mỏng theo suốt chiều dài trục. • Sản phẩm nghiền ra không bị nóng, có mức độ nghiền đồng đều tại mọi vị trí của cặp trục nghiền. • Với cặp trục nghiền mặt nhẵn phải không xảy ra hiện tượng hạt nghiền trượt tròn trong khe nghiền và bị cán dẹt ra. • Mức độ nghền của bột nghiền ổn định tong suốt thời gian làm việc. Trang 17

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

• Sản phẩm liên tục được lấy ra khỏi máy nghiền bằng băng vận chuyển không để ứ đọng trong máy. • Không có hiện tượng ngưng ẩm trên bề mặt các chi tiết máy nghiền. • Các ổ đỡ trục không bị rung động, nhiệt độ của chúng không vượt quá giới hạn cho phép và các bộ phận cơ khí không gây những tiếng ồn lạ. • Cần có chế độ kiểm tra định kỳ, tra dầu mỡ và bắt chặt lại các ốc hãm. II.5. Trích ly. II.5.1. Mục đích và yếu tố ảnh hưởng hiệu suất trích ly. Để làm giàu các chất hòa tan thì người ta cho cà phê đi qua một hệ thống các tháp nối tiếp nhau bằng ống dẫn. Trích ly để thu các chất hòa tan, nhằm đạt được hiệu suất thu hồi cao và giữ được hương vị tốt, tối đa của cà phê. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly và chất lượng sản phẩm: • Độ nghiền của cà phê • Nhiệt độ của nước vào thiết bị trích ly và sự biến đổi của nhiệt trong quá trình trích ly. • Thời gian ngâm trích • Tỷ lệ cà phê/ nước • Thiết bị trích ly. II.5.2. Nguyên tắc hoạt động.

Hình 15: Bộ trích ly cà phê. 1. Ống khuếch tán 3. Vít để tải canh trường 2. Dòng chảy của nước chiết 4. Ống cung cấp nước khuếch tán Trang 18

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

5. Ống thu nhận nước chiết

6. Khớp tháo 7. Vít tải

Trích ly thực chất là một hệ thống khuếch tán gồm từ 5 đến 10 ống khuếch tán được lắp trên cùng một mặt phẳng. tất cả các ống được thống nhất hoá, có hình dạng xilanh đứng với các cửa đóng kín lật được và có ống đáy hình nón. Phần dưới của ống có ống nối để nạp nước vào khuếch tán, để tháo nước và rửa bã. Các ống khuếch tán được kết hợp một cách liên tục, dịch được trích ly từ phần trên của ống khuếch tán trứơc đó được cho vào phần dưới của ống tiếp theo. Để thu nhận các dịch chiết có nồng độ cao cần sử dụng phương pháp ngâm chiết hợp lý. Phần chất trích ly được tuyển ban đầu cho vào phần canh trường mới,còn canh trường đã được sử dụng bởi phần chiết có nồng độ thấp thì loại bỏ. Nên hoà tan cà phê bằng nước nóng ở 90C, nếu nhiệt độ nước quá cao sẽ trích ly luôn các chất hoà tan không mong muốn ảnh hưởng tới mùi và vị của cà phê sau này. II.6. Khuấy trộn. Là quá trình pha hai hay nhiều thành phần khác nhau vào làm một nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng . Phải phối trộn các thành phần với nhau , sau đó đem đi khuấy trộn để hòa trộn tạo thành một thể thống nhất. II.6.1. Khuấy trộn bằng cơ khí. Khuấy trộn chất lỏng bằng cơ khí nghĩa là dùng cánh khuấy, có nhiều loại cánh khuấy khác nhau|: • Mái chèo: khuấy trộn chất lỏng có độ nhớt nhỏ. Thường để hòa tan chất rắn, có khối lượng riêng không lớn lắm. • Chân vịt (chong chóng): dùng để điều chế dung dịch huyền phù nhũ tương. Không thể dùng cánh khuấy chân vịt để khuấy chất lỏng có độ Trang 19

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

nhớt cao hoặc khuấy chất lỏng trong đó có các hạt rắn có khối lượng riêng lớn. • Tua bin: Dùng để khuấy chất lỏng có độ nhớt cao đến 5.105 cp, để điều chế huyền phù mịn, để hòa tan các chất rắn nhanh hoặc để khuấy động các hạt rắn đã lắng cặn có nồng độ pha rắn đến 60%. • Cánh khuấy đặc biệt: Thường dùng để khuấy bùn nhão hoặc khuấy chất lỏng có độ nhớt cao. II.6.1.1. Cấu tạo cánh khuấy: Để tăng độ xáo trộn. a. Loại mái chèo. Gồm hai tấm phẳng gắn chặt vào trục thẳng, trục quay nhờ bộ phận truyền động từ động cơ. Đường kính của mái chèo thường vào khoảng 0.7 đường kính thiết bị.

Hình 16: Cánh khuấy mái chèo

Nếu số vòng quay nhỏ thì chất lỏng sẽ chuyển động vòng tròn trên mặt phẳng nằm ngang trùng với mặt phẳng của cánh khuấy, và không có sự khuấy trộn chất lỏng ở các lớp khác.

Trang 20

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Khi khuấy trộn mạnh sẽ xuất hiện dòng chuyển động phụ, khi đó chất lỏng chuyển động xoáy. Dòng chuyển động phụ này xuất hiện do lực li tâm gây nên làm cho chất lỏng văng từ tâm của thiết bị ra ngoài thành, đồng thời áp suất ở tâm sẽ giảm xuống và hút chất lỏng nằm ở bên trên và bên dưới cán khuấy. Do đó trong chất lỏng xuất hiện dòng tuần hoàn theo mũi tên chỉ của hình dưới đây: Dòng chuyển động phụ làm tăng cường độ của khuấy trộn. Nghĩa là tăng số vòng quay nhưng đồng thời năng lượng tiêu hao tăng. Hình 17: Chiều chuyển động của chất lỏng

Khi chất lỏng chuyển động vòng thì do tác động của lực li tâm nên trên bề mặt của chất lỏng có dạng hình phễu ( Hình 18). Chiều sâu của phễu càng tăng khi số vòng quay tăng. Sự xuất hiện phễu chất lỏng sẽ dẫn tới làm giảm thể tích sử dụng của thiết bị. Để tăng sự khuấy trộn chất lỏng thường người ta dùng cánh khuấy mái chéo hình khung. Loại này có phần đáy cong tương ứng với bán kính cong của đáy thiết bị. Đôi khi người ta gắn vào thành thiết bị các tấm ngăn để làm xáo trộn chất lỏng. Cấu tạo đơn giản dễ gia công, thích hợp với chất lỏng có độ nhớt nhỏ. Nhưng hiệu suất khuấy thấp đối với chất lỏng nhớt, không thích hợp vói các chất lỏng dễ phân lớp. b. Loại chân vịt (chong chóng). Để tăng sự tuần hoàn chất lỏng người ta thường dùng cánh khuấy loại chân vịt (chong chóng). Loại này thường gồm ba cánh, mỗi cánh uốn cong một góc ө, góc này thay đổi dần từ 0◦ Trang 21

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

đến 90◦ ở cuối cánh.

Hình18: Cánh khuấy chân vịt

Cánh khuấy gắn trên trục, số chong chóng trên trục có thể nhiều ít khác nhau phụ thuộc điều kiện khuấy trộn và chiều sâu mực chất lỏng khuấy. Bề mặt cánh khuấy nghiêng bên phải, trục quay theo chiều kim đồng hồ, chất lỏng chuyển động dọc theo trục theo hướng từ dưới lên, tuần hoàn như hình vẽ (hình bên phải). Nếu cánh khuấy nghiêng bên trái, thì trục quay theo chiều ngược kim đồng hồ. Đường kính cánh khuấy chong chóng vào khoảng 0.25 – 0.3 đường kính thiết bị, số vòng quay vào khoảng 200 – 1500 vòng/phút. Để tăng sự khuấy trộn người ta làm thêm bộ phận hướng chất lỏng, bộ phận này có thể là ống hình trụ hay hình nón cụt, trong đó đặt cánh khuấy. Ngoài ra nếu thể tích thiết bị khuấy lớn, người ta có thể đặt cánh khuấy lệch tâm hoặc nghiêng một góc 10 - 20◦ so với trục thẳng đứng. Ưu điểm: cường độ khuấy lớn, năng lượng tiêu hao nhỏ kể cả khi số vòng quay lớn, giá thành hạ. Nhược điểm: khi khuấy chất lỏng độ nhớt cao thì hiệu suất thấp, thể tích chất lỏng được khuấy mãnh liệt bị hạn chế. c. Cánh khuấy tuabin. Cánh khuấy tuabin làm việc giống như bơm ly tâm, nghĩa là cũng có guồng quay, tùy theo cấu tạo của guồng người ta phân loại ra loại cánh khuấy tuabin hở hay kín.

Cánh khuấy tuabin hở guồng động có những cánh thẳng (hình a) hoặc cánh cong (hình b) làm việc như cánh khuấy mái chèo.

Trang 22

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 19: Cánh khuấy tuabin hở

Cánh khuấy tuabin kín guồng động gồm hai hình vành khăn, được nối với nhau bằng những cánh nhỏ, giữa hai cnha tạo thành rãnh. Guồng động thường đặt trong một bộ phận hướn chất lỏng đứng yên.Khi cánh khuấy tuabin kín làm việc, chất lỏng đi vào theo lỗ ở tâm của guồng, rồi ra ngoài theo hướng tiếp tuyến với cánh guồng. Ta thấy chất lỏng chuyển động từ hướng thẳng đứng đến hướng nằm ngang theo bán kính và ra khỏi guồng với tốc độ lớn.

Hình 20: Cánh khuấy tua bin kín Trong một đơn vị thời gian lặp đi lặp lại nhiều lần như thế làm cho chất lỏng bị khuấy mãnh liệt toàn bộ thể tích trong thùng. Trang 23

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Loại cánh khuấy tuabin, đường kính d của nó phụ thuộc vào đường kính của thiết bị D. Ưu điểm: hiệu suất cao, hòa tan nhanh, thuận tiện cho quá trình liên tục. Nhược điểm: cấu tạo phức tạp, giá thành đắt. d. Cánh khuấy đặc biệt – thùng khuấy. Gồm một thùng có cánh khuấy . Loại này dùng để tạo huyền phù nhũ tương, hoặc để tăng phản ứng hóa học giữa khí và lỏng. Tỷ lệ đường kính của thùng khuấy và của thiết bị: 1/4 – 1/6 Tỷ số chiều cao mực chất lỏng với đường kính thùng khuấy không nhỏ hơn 10. II.6.2. Khuấy bằng khí nén. Dùng để khuấy chất lỏng có độ nhớt thấp. Khí nén thường là không khí được nén qua một ống các lỗ nhỏ. Ống này đặt ở tận đáy thiết bị. Không khí chui qua lỗ tạo thành những bọt nhỏ, rồi qua lớp chất lỏng làm cho chất lỏng bị khuấy. Để khuấy được đều, người ta làm đường ống khí thành vòng, hoặc xoắn ốc, đôi khi làm một dãy ống thẳng đặt song song nhau.

Trang 24

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 21: Khuấy bằng khí nén

II.7. Lắng – Lọc trong. Chế tạo các thiết bị lắng là tạo điều kiện thuận lợi để các phần tử pha - phân tán chuyển động nhanh hơn và tách ra khỏi pha liên tục. Để giảm thời gian lắng, người ta thường kết hợp các phương pháp sau:

Cho dòng chảy chuyển động với một vận tốc thích hợp vì nếu để yên dung dịch huyền phù ở trạng thái tĩnh, dưới tác dụng của trọng lực các hạt rắn chuyển động xuống dưới với vận tốc lắng w 0 do đó năng suất thấp, thời gian lâu, thiết bị cồng kềnh chiếm nhiều diện tích.

• Thay đổi hướng cũng như phương của dòng chảy nhằm làm tăng thời gian lưu của pha phân tán trong thiết bị, tạo ra lực quán tính => tăng cường quá trình lắng.

Trang 25

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Trong quá trình thiết kế thì phải luôn chú trọng đến khâu lấy cặn. II.7.1.Thiết bị lắng . II.7.1.1. Thiết bị lắng bán liên tục. Các khâu nhập liệu và tháo nước trong đều được thực hiện liên tục còn lấy cặn thì được lấy ra theo chu kỳ. Người ta đưa huyền phù vào thiết bị, bên trong thiết bị có đặt các tấm ngăn nằm nghiêng một góc khoảng 45 - 600 nhằm tăng thời gian lưu, tạo lực quán tính, đồng thời tháo cặn được đơn giản hơn.

Hình 22: Tấm nghiêng trong thiết bị lắng bán liên tục Nhược điểm: thiết bị gián đoạn, năng suất thấp, thời gian vẫn lâu và thiết bị chiếm nhiều diện tích.

Trang 26

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Để khắc phục nhực điểm trên, người ta chế tạo thiết bị lắng huyền phù loại đứng có tấm nghiêng hình chóp xếp chồng lên nhau:

Hình 23: Thiết bị lắng huyền phù loại đứng có tấm nghiêng hình nón xếp chồng lên nhau. Ưu điểm của thiết bị khi các tấm xếp chồng lên nhau là năng suất lớn, thiết bị gọn hơn, tiết kiệm diện tích. Huyền phù vào trong thiết bị theo các rãnh giữa hai chóp, pha phân tán lắng trên bề mặt chóp và trượt xuống dưới. Nước trong Trang 27

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

theo ống tâm đi ra ngoài. Để việc tháo cặn dược dễ dàng hơn, người ta chế tạo thiết bị lắng bán liên tục dùng khí nén để tháo cặn. Tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều chi phí hơn (chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành). II.7.1.2. Thiết bị lắng liên tục.

Hình 24: Thiết bị lắng nhiều tầng làm việc liên tục. Việc nhập liệu, thu nước trong và tháo cặn được thực hiện một cách liên tục. Ưu điểm: So với thiết bị bán liên tục, người ta đã cơ giớ hóa việc tháo cặn bằng cách dùng cào gạt để lấy bùn ra. Thiết bị: Bã lắng xuống sàn của mỗi tầng được cào dồn vào tâm và chứa trong hộp đựng bã nhờ bộ phận cánh gạt bùn chuyển động thông qua motơ. Nước trong được lấy ra từ đỉnh của mỗi tầng. II.7.2. Lọc. Lọc là một quá trình được thực hiện để phân riêng hỗn hợp nhờ vách ngăn xốp. Vách ngăn xốp có khả năng cho một pha đi qua còn giữ pha kia lại nên được gọi là vách ngăn lọc.

Trang 28

Báo cáo thiết bị lên men •

DHO8VT

Cho huyền phù vào một bên vách ngăn rồi tạo ra trên bề mặt lớp huyền phù áp suất p1. Dưới tác dụng của áp suất, pha liên tục xuyên qua các mao dẫn trên vách ngăn chảy qua phía bên kia gọi là nước lọc, còn pha phân tán bị giữ lại ở trên gọi là bã lọc. Hình 25: Nguyên lý lọc

Tăng động lực quá trình lọc bằng hai phương pháp.

Tăng p1 bằng cách dùng bơm hay máy nén để đưa huyền phù vào. Phương pháp này gọi là lọc áp lực.

• Giảm p2 bằng cách dùng bơm chân không để hút không khí trong thiết bị. Dùng phương pháp này gọi là lọc chân không. Trong sản xuất cà phê, người ta thường dùng máy ép lọc khung bản dưới tác dụng của áp suất được đưa qua rãnh của bản rồi theo van ra ngoài, còn các hạt rắn bị giữ lại tạo thành lớp bã chứa trong khung. Ưu điểm: thực hiện nhiều quá trình với vật liệu có độ huyền phù cao, dễ lắp ráp, dễ vận hành. Nhược điểm: khó tự động hóa và lao động nặng nhọc, nguyên liệu được lọc bằng vải mòn dễ rách. II.7.2.1.Cấu tạo. Thiết bị này gồm những khung bằng gang và những tấm bản dày có những đường rãnh trên mặt khung. Nguyên liệu lọc là những tấm vải thô dày bằng bông hay bằng sợi nhân tạo.

Trang 29

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Các khung và tấm bản được ép lại với nhau nhờ một trục vít giữa. Khung và bản có dạng hình vuông. Số bản ít hơn số khung một cái, một đầu máy lọc ép có một tấm cố định. Phần trên mỗi khung có một lỗ tròn, khi các khung này xếp lại với nhau thì các lỗ tròn này sẽ tạo thành một ống dẫn dịch cà phê đi vào máy lọc. Trên mỗi góc phía trên và một góc phía dưới của mỗi khung, bản có một lỗ tròn, khi ghép lại thì sẽ tạo thành 2 đường dẫn, 2 đường này được nối liền với những đường rãnh trên bề mặt tấm bản tạo thành đường dẫn dịch sau khi lọc. II.7.2.2. Nguyên lý hoạt động. • Bơm dịch cà phê và thu dịch lọc: Dịch cà phê được bơm vào theo đường tạo nên phía trên các khung. Vận tốc bơm dịch chậm để dịch cà phê phân đều vào các khoang. Nếu bơm quá nhanh dễ gây tắc máy lọc, áp suất tăng và thời gian lọc bị kéo dài. Dịch lọc đầu chảy ra trong quá trình bơm dịch cà phê vào, không có thời gian nghỉ khi lọc dịch. Bã được giữ lại trong khung do bị vải lọc cản lại, còn dịch trong thì thấm qua vải lọc, chảy qua các khe của bản và chảy vào đường dẫn tạo bởi các khung bản nằm ở góc bên trên và bên dưới khung bản. Áp lực khi bơm lọc là 0,85 Bar. • Rửa bã và lấy dịch rửa. Nước rửa 78°C được bơm vào theo đưòng tạo thành phía dưới khung chảy qua vải lọc rồi qua bã trong khung và ra ngoài theo đường trên tấm bản sau đó. • Tháo bã.

Trang 30

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Ngay khi dịch rửa bã chảy ra hết có thể tiến hành tháo bã. Khi tháo rời khung và bản, bã rơi xuống máng phía dưới được vít tải đưa vào bồn chứa cặn cà phê.

II.8. Cô đặc.

Trang 31

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 26 :Thiết bị cô đặc. II.9. Sấy. Sấy phun trong công nghiệp được sử dụng để sấy khô các chất cô đặc. nồng độ chất sấy khô trong dung dịch đem sấy phải lớn hơn 10%. Phòng dùng đễ sấy được làm bằng thép không rỉ. Chúng có thể có đáy phẳng hay đày nón. Loại đáy phẳng phải có cơ cấu để tháo sản phẩm khô. Còn loại đáy hình nón thì thành phẩm ở dạng bột được đẩy ra dưới tác động của lực ly tâm. II.9.1. Các phương pháp sấy dịch cà phê.

Sấy phun: Dịch phun thành giọt lỏng vào môi trường được cấp nhiệt bằng không khí nóng. Nhiệt độ khí nóng đi vào khoảng 200 - 2600 C, và nhiệt độ của không khí ra là 107 - 1210 C để đạt yêu cầu chất lượng về vị. Sản phẩm cà phê thu được ở đáy của thiết bị sấy phun. Sấy theo phương pháp này thành phẩm có dạng hạt rất nhỏ , rỗng ruột gọi là bột nhẹ, tỷ trọng nhỏ nhưng cũng dễ hòa tan, hình dáng bột khá đều đặn.

• Sấy chân không: Dịch đựơc cà phê đưa đến buồng bốc hơi chân không ở nhiệt độ tháp. Dung dịch được dàn mỏng trên các trục lớn có hơi nóng đi trong trục. Bột khô thành những màng mỏng quanh ống . Khi đó có bộ phận cơ giới cạo ra rồi tán nhỏ. Bột sấy theo kiểu này hòa tan được nhanh, tốt • Sấy bằng phương pháp thăng hoa và hồng ngoại: Đưa dung dịch đực cà phê làm lạnh, sau đó dùng tia hồng ngoại để sấy đột ngột. Tinh thể thu được dễ tan, hương đảm bảo, chất lượng tốt.

II.9.2. Sấy phun. Trong sản xuất cà phê thường dùng nhất là phương pháp sấy phun.

Trang 32

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 27: Thiết bị sấy phun kiểu đĩa ly tâm. 1. Bộ dẫn động đĩa 2. Hộp phân phối gió 3. Cửa nhìn 4. Vỏ thiết bị 5. Cửa 6. Ống thoát khí 7. Đáy trên 8. Tấm quét 9. Đáy dưới 10. Phễu chứa sản phẩm 11. Bộ phận dẫn động các tấm quét sản phẩm
II.9.2.1.Cấu tạo.

Trong thiết bị này người ta sử dụng vòi phun đĩa ly tâm để phun vật liệu sấy. Vòi phun bố trí ở giữa trần buồng sấy. Ống thổi khí nóng bố trí ở phía trên, còn ống thoát khí (6) ở phía dưới. Ở phía dưới của buồng sấy người ta bố trí (2) đáy hình phễu (7) và (9) ngược nhau để hướng vật liệu, bên trên phễu là hệ thống tấm quét (dẫn động bằng động cơ điện) để cào sản phẩm sấy rơi xuống phễu chứa (10) nên bề mặt tiếp xúc giữa vật liệu và môi chất sấy rất lớn nên cường độ sấy cao, thời gian sấy ngắn.
a.

Vòi phun. Vòi phun cơ khí.

• Ưu điểm:

Tiêu hao điện năng ít (4 – 10 kWh/ 1 tấn dung dịch) Sản lượng cao (đến 4500 kg/h) Khuyết điểm: Trang 33

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Không dùng được cho dung dịch quá nhớt Rất nhạy bén vớ tạp chất vì vậy đường kính lỗ phun không nhỏ hơn 1 mm. Không điều chỉnh được công suất vòi • Vòi phun đĩa ly tâm. Đĩa chuyển động với tốc độ 4000 – 20.000 vg/phút, chất lỏng theo các rãnh trên đĩa văng ra ngoài thành hạt lỏng. Tốc độ trên vành đĩa cao (130 – 200 m/s). Đãi quay nhờ động cơ điện. Chất lỏng được đưa tới đĩa nhờ bơm có độ chênh áp không đổi và điều chỉnh tự động.

Vòi phun khí động.

Trong vòi phun khí động, dùng không khí để phun dung dịch.Trước hết không khí qua ống phun tăng tốc độ rồi phun ra miệng phun, dùng bơm đưa dung dịch đến miệng vòi. Không khí có tốc độ cao sẽ thổi dung dịch văng ra thành hạt nhỏ. Tốc độ khí ra khỏi ống phun phụ thuộc vào tỷ số áp suất trước và sau ống phun Ưu điểm: Khả năng ứng dụng với tất cả các loại dung dịch, có khả năng điều chỉnh lưu lượng và cỡ hạt. Khuyết điểm: Tiêu hao năng lượng lớn so với các vòi phun khác, thường là 50 – 60 kWh/ tấn dung dịch. b. Các kiểu buồng sấy phun. Môi chất sấy và vật liệu có thể chuyển động cùng chiều, ngược chiều hay hỗn hợp.Sử dụng rộng hơn cả là buồng sấy kiểu cùng chiều, vì có ưu điểm là có thể sử dụng môi chất sấy có nhiệt độ cao mà không sợ sản phẩm bị quá nhiệt nhờ tốc độ bay hơi lớn và thời gian sấy ngắn. Vì cùng chiều nên sản phẩm khí tiếp xúc với môi chất sấy có nhiệt độ thấp hơn nhiều so với nhiệt độ môi chất vào buồng sấy.

Trang 34

Báo cáo thiết bị lên men

DHO8VT

Hình 28:Các kiểu buồng sấy phun. II.8.2.2. Nguyên lý làm việc. Các giọt chất lỏng khi rơi vào dòng không khí nóng, hay khi chúng bị chất tải nhiệt bao phủ lấy mọi hướng và trong một vài giây ẩm bốc hết, sản phẩm lắng xuống đáy phong ở dạng bột. Sản phẩm được chuyền ra nhờ cào và ra khỏi máy sấy nhờ vít tải hay nhờ cơ cấu vận chuyển khác. Tác nhân sấy được hút liên tục nhờ quạt. III. KẾT LUẬN.

Trang 35