Chi phí đại diện Vấn đề người chủ và người đại diện trong doanh nghiệp nhà nước

(DNNN) Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cổ đông, chủ doanh nghiệp không thể quản lý hết mọi việc, đặt biệt là các doanh nghiệp nhà nước. vì thế mới cần thuê những nhân viên về quản lý doanh nghiệp. Người chủ, Là chủ sở hữu các giá trị tài sản của công ty có quyền sử dụng và sở hữu tài sản, người quản lý, Là người điều hành quản lý công ty của mình theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu. vấn đề phát sinh là không có sự đồng nhất về mục tiêu, ý trí, quan điểm giữa nhà quản lý và những chủ sở hữu doanh nghiệp. chủ sở hữu luôn đặt ra những mục tiêu để sao cho đồng vốn mình bỏ ra thu lợi nhuận nhiều nhất. Chủ sở hữu, nhà đầu tư... lo ngại về việc thất thoát và sử dụng kém hiệu quả nguồn tài chính đã cung cấp cho doanh nghiệp. Do vậy, khi đã bỏ vốn vào doanh nghiệp, nhóm này có xu hướng giành quyền kiểm soát (control) mọi hoạt động. Ban giám đốc, các vị trí điều hành chủ chốt... bị hạn chế và khó linh hoạt với các quyết định điều hành khi chịu quá nhiều kiểm soát từ các nhà cung cấp tài chính. Xung đột cũng nằm trong việc phân chia phần lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra. Chủ sở hữu và nhà đầu tư, một cách hợp lý, hưởng phần lớn lợi nhuận. Đội ngũ điều hành, hưởng một mức lương nhất định, phụ cấp, tiền thưởng và họ có thể không hài lòng với điều này khi lý luận rằng ngoài lượng tư bản ban đầu bỏ ra, nhóm cung cấp tài chính không còn đóng góp gì thêm cho doanh nghiệp. Trong khi đó, chính họ, nhưng người quản lý với năng lực và danh tiếng của mình, đang ngày đêm gắn bó với hoạt động vận hành và làm nên thành công cho doanh nghiệp. Từ đó, ban quản lý doanh nghiệp không nổ lực hết mình, gian lận, nghỉ việc tạo ra những thất lớn trong doanh nghiệp. chúng ta thường gọi là chi phí đại diện (Agency Costs), Tổng chi phí theo dõi, ràng buộc, và mất mát phụ trội được gọi là chi phí đại diện vì chúng xuất phát từ các mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý. Vậy chi phí đại diện xuất hiện do: Mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý: Cả hai bên đều mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình, tuy nhiên điều kiện để tối đa hoá lợi ích của hai bên không giống nhau. Nhà đầu tư mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được. Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện những hành vi hay quyết định nhằm tối đa hoá lợi ích cho cá nhân mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư. Mâu thuẫn giữa nhà quản trị cấp cao và nhà quản trị cấp thấp: Mâu thuẫn giữa các cổ đông và nhà quản lý không chỉ dừng lại ở vấn đề người chủ - người đại diện, một vấn đề mà các giám đốc tài chính luôn phải đối phó, mà nó còn mở rộng hơn nữa. Vậy do những mâu thuẩn trên đã nay sinh chi phí đại diện, vậy vấn đề này đối với

thụ động gây ra. ngoài ba vai diễn chính là nhà nước. có tuổi đời hơn 20 năm. tập đoàn hàng đầu hiện được coi là quả đấm thép của nền kinh tế. sự lề mề. vấn đề chi phí đại diện trong các DNNN nhiều khi còn phức tạp và khó nhận diện hơn cả doanh nghịêp khu vực tư nhân.. . Mục đích là để kiểm soát những người làm thuê là các giám đốc hoặc các nhà quản lý để đảm bảo tính hiệu quả trong kinh doanh và duy trì các chi phí giao dịch ở một mức thấp nhất có thể được. mà hiện tượng “công ty một nhà”. thưởng. Chi phí đại diện xuất hiện trong doanh nghiệp nhà nước không chỉ là việc chi trả tiền lương. trong năm qua đã chiếm hơn 20% thu ngân sách. Tuy nhiên số thu này không nói lên tài năng kinh doanh mà là do giá cả tài nguyên. hội đồng quản trị và các nhà quản lý. Giá cả sản phẩm. nhưng thời gian qua. Những thách thức này đặt ra cho chính phủ một bài tóan làm thế nào có thể duy trì được tính hiệu quả. có một điều lạ là luôn đi theo một lộ trình tăng giá. Trong các DNNN. tập đoàn này chỉ làm được mỗi việc là hút dầu thô lên để bán. với tư cách là chủ sở hữu toàn dân. các đoàn thể khác. nhưng là chủ lực trên mảnh đất màu mỡ. còn xuất hiện thêm nhiều vai diễn khác như đảng ủy công đoàn. Nếu gộp cả chi phí đại diện bằng tiền và chi phí đại diện “ẩn” thì con số sẽ vô cùng lớn. Ngay như Petro Vietnam. các tổn thất có thể nhìn thấy trước mắt.doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay thế nào? Trong điều kiện tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý trong các DNNN. mà còn những chi phí ẩn đằng sau mà do sức ỳ tâm lý. nhà nước. các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) được coi là chủ lực. Trước hết phải kể đến nhóm khai thác tài nguyên gồm hai ngành quan trọng là dầu khí và than đá. Những vai diễn này nhiều khi lại làm mờ đi nhân vật chính. Vì thế. “công ty thân hưu” hoặc tình trạng tham nhũng lãng phí tràn lan trong các DNNN là nỗi ám ảnh thường trực của ông chủ khi không ít nhà quản lí do nhà nước bổ nhiệm lại tìm mọi thủ đoạn để làm thất thoát tài sản. điện lực. không có gì lạ khi giá thành ở các DNNN luôn cao hơn so với các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân và hầu như không thể nào đảo ngược được tình trạng này. dịch vụ của các DNNN thuộc các lĩnh vực cấp nước. Mỗi vai diễn trong DNNN phải thỏa mãn mục tiêu của tất cả các vai diễn còn lại. đặc biệt là các tổng công ty lớn. họ là người thay mặt nhà nước khai thác tài nguyên để bán. Người đại diện trong các DNNN vẫn có những mục tiêu khác với ông chủ nhà nước. phải thiết lập cho bằng được các cấu trúc bên trong lẫn bên ngoài. Trong lĩnh vực này chưa chứng tỏ được sự vượt trội nào về áp dụng KHCN hay cải tiến quản lý. Riêng hai tập đoàn này. làm ra giá trị gia tăng. tính sinh lợi và trách nhiệm giải trình trong khi vẫn cho phép những người đại diện là các nhà quản lý – viên chức chính phủ trong các DNNN ở việt nam – một mức độ tự chủ nhất định để điều hành công ty trong một môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt? Không bao giờ có sự đồng nhất tuyệt đối trong mục tiêu giữa người chủ và người đại diện trong quá trình hoạt động cho dù đó là các DNNN.. Với mức đóng góp 50% cho ngân sách.

thu thuế từ người tiêu dùng thông qua giá bán trực tiếp. Tuy nhiên. ông chủ Nhà nước đã giao cho một hoặc một nhóm cá nhân đại diện làm điều đó. cày quốc trên những mảnh đất xương xẩu. còn lại những ngành hơi xương xẩu thì các DNNN đã chứng minh sự thiếu hiệu quả. Chuyện về ông chủ giả tiêu tiền thật hiện nay không thiếu. nguồn ngân sách thu được chủ yếu là thuế gián thu (thu từ người tiêu dùng). Còn nếu chủ lực chỉ nhăm nhăm cái gì ngon thì xơi. hãy tiên phong trên những trận chiến nóng bỏng.18% đến 0. hàng không. Những DN dạng này. khu vực ngoài quốc doanh chưa thể len chân được. 11/19 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng lỗ luỹ kế đến hết 2004 là 1. với giá trúng thầu cao hơn giá thực tế hàng chục tỷ đồng. Những ông chủ này không có đầy đủ quyền năng (gồm quyền sử dụng. 4/19 đơn vị được kiểm toán kinh doanh thua lỗ trong năm 2004. cái gì dễ thì làm.8%”. Người được giao trọng trách quản lý tài sản nhà nước thường là Hội đồng quản trị (HĐQT)do Chủ tịch đứng đầu. DNNN với chức năng tổ chức sản xuất.058 tỉ đồng. mình là ông chủ giả. Báo cáo các năm trước cũng đã cho thấy tình hình tương tự. con át chủ bài thuỷ sản một thời.42%. Một trong những cách tiêu tiền "xưa như trái đất” là thông qua việc mua sắm vật tư thiết bị. Một số lĩnh vực khác có đóng góp lớn cho ngân sách là Bia. nhưng nếu đủ sức để cạnh tranh với các nước khu vực thì vẫn là chuyện quá sớm. cộng với việc xây dựng đại lý bán hàng. DNNN là loại hình sở hữu toàn dân. nộp ngân sách của các DN nhà nước chỉ tăng có 49%. Một số dự án khác như: Nhiệt điện Na Dương của Tập đoàn Than cũng có hàng loạt sai phạm về đầu tư. Thanh tra chính phủ đã có những kết luận về việc mua sắm 400 chiếc ô tô chuyên dụng của Agribank. nên hầu hết những ông chủ tịch HĐQT mà chúng tôi trao đổi đều cho rằng. Theo Báo cáo kiểm toán Nhà nước: “Tỉ suất lợi nhuận trước thuế của các DN được kiểm toán rất thấp (từ 0. chuyển nhượng và định đoạt) mà chỉ là một số quyền nhất định. như vậy có còn xứng đáng là chủ lực không? trong năm qua. con số này của các DN ngoài quốc doanh là 137%. Thường. mặc dù tuổi đời của chúng cũng không hề thua kém các nước khu vực. Đó chỉ là một trong những vụ việc đã được báo chí nêu tên và Thanh Tra đang vào cuộc. trong khi đó. thuốc lá.Còn việc xây dựng nhà máy lọc dầu nhằm đa dạng hóa sản phẩm đang là chuyện của tương lai. tỷ suất lợi nhuận cao. hiện nhà nước đang giữ độc quyền. mua thiết bị. đã có những bước tiến nhất định. họ không có một đồng cắc nào trong DN. bảo hiểm. Mới đây. Toà án tỉnh Lâm Đồng . Dệt may 0.8%) trong đó có các tập đoàn có vẻ rất mạnh như Công nghiệp tàu thuỷ 0. thậm chí thua lỗ kéo dài. Nếu muốn thực sự là chủ lực. Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước vừa qua cho thấy DNNN rất kém hiệu quả. Cũng chính vì ông chủ giả nên ngoài những ngành béo bở là thu lãi. Đây là những ngành đặc biệt. Có tổng công ty đã hoàn toàn mất hết vốn mà vẫn không trả được các khoản nợ như Seaprodex.

Một giám đốc DNNN lấy ví dụ: muốn mua sắm hay đầu tư cái gì. phải được cấp ủy đồng ý. thực tiễn diễn ra lại không như mong muốn. Chẳng dại gì. đấu thầu. dù nhỏ cũng phải tuần tự lên KH. phải biết tiêu. có đủ giấy tờ chứng minh rằng quy trình họ không sai là đủ. Với tư cách là ông chủ. chưa bao giờ cáp ủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Về danh nghĩa.. của cơ quan chủ quản. chi phí đại diện trong hoạt động doanh nghiệp nhà nước là rất lớn. trước hết phải là người nằm trong diện quy hoạch. đại diện cho nhà nước quản lý vốn ngân sách ở DN. Một doanh nhân nói với tôi. TGĐ cũng vậy. Ban kiểm tra nội bộ. tìm kiếm một vài sơ suất nào đó lại rơi vào vòng lao lý dễ như bỡn. trong đó có không ít lãnh đạo DNNN phải truy tố vì tội tham nhũng. của đảng úy khối. không khéo bị một vài ông chọc ngoáy.. mua sắm mà ngay cả tuyển dụng. Nếu lỡ có làm ăn được. Bằng ấy vòng mới được đưa ra bỏ phiếu rồi bổ nhiệm. ban . xin được phê duyệt. Tưởng như thế. Ban Tổ chức. gọi thầu. chúng ta vẫn có hàng chục cán bộ yếu kém về năng lực. Nộp nhiều tiền cho ngân sách cùng lắm cũng chỉ được khen thưởng.. điều chuyển. nhưng không có vốn.. Người này nhiều năm liền phải không có khuyết điểm nào và được đánh giá tốt về phẩm chất đạo đức cách mạng. lỗ nhà nước chịu. Sau đó lấy ý kiến của cấp ủy. Không chỉ đầu tư. cái gì cũng phải thông qua cấp ủy. Một nhà nghiên cứu kinh tế nói: Với DNNN. vậy đâu là giải pháp? Phi chính trị hóa hoạt động kinh doanh Giải pháp đầu tiên cho vấn đề phi chính trị hóa các hoạt động kinh doanh là đoạn tuyệt hoàn toàn với cơ chế “bổ nhiệm” các quan chức trong hội đồng quản trị. các cơ quan thanh tra vào cuộc. Hội đồng quản trị là những công chức. còn thực chất họ không có một đồng cắc nào. Trong khi đó sự vận hành của thương trường đòi hỏi sự tranh thủ thời gian. Qua 12 năm đổi mới DNNN. tưởng như không con ruồi nào có thể chui lọt. DNNN là DN nhưng vận hành theo nền hành chính. có đơn thư khiếu kiện. họ là ông chủ. là người làm công ăn lương 100%. Nếu lỡ có thua lỗ. muốn bổ nhiệm một cán bộ. Đã là DNNN phải chịu cả chục hàng rào giám sát. của các đơn vị trực thuộc. các DNNN sẽ có những cán bộ bằng vàng ròng. “Được khen thì ho hen đầy mình”. Qua những thực tế cho thấy. có như thế mới có thể chiến thắng trong cạnh tranh. “Đồng tiền đi liền khúc ruột”. Ban nội chính. tuy nhiên. vốn của nhà nước. Tuy nhiên.vừa tuyên bố 5 thành viên của Tổng công ty Dâu Tằm Tơ VN phá sản. ra quyết định. bổ nhiệm cán bộ đều phải vận hành theo cơ chế tương tự. Do lãnh đạo DNNN chỉ là người được nhà nước cử để quản lý và kinh doanh vốn của NN nên mọi quyết định trong DN đều tuân thủ quy trình hành chính. nắm bắt cơ hội. Nếu chỉ cần bỏ qua một trong các bước đó đã có thể bị truy cứu về tội “cố ý làm trái”. lãi nhà nước được. làm tờ trình. họ cần phải chuẩn bị đầy đủ thủ tục.

phải có sự tham gia của các nhà đầu tư bên ngoài. một hệ thống các thể chế pháp lý thật minh bạch. Đây chính là việc đặt các áp lực kiểm soát của thị trường lên các DNNN và cũng để thu hút thêm các nhà đầu tư chiến lược vào trong hội đồng quản trị. Cấu trúc bên ngoài Nhưng nếu chỉ cải cách cấu trúc bên trong của DNNN không thôi cũng chưa đủ. Ở những nền kinh tế mà thị trường chứng khoán vẫn còn kém phát triển như Việt Nam. vai trò của các ngân hàng thương mại vẫn có một tầm quan trọng về lâu dài trong huy động vốn cho các DNNN. là mô hình mà các ngân hàng trụ cột tiến hành tham gia vào các hoạt động quản lý của doanh nghiệp. cải tổ toàn diện hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh và phát triển một thị trường chứng khoán năng động. đó là một thị trường hàng hóa. những quy định về trách nhiệm giải trình của các thành viên trong hội đồng quản trị và vấn đề phá sản DNNN. như Trung Quốc đã và đang thực hiện một cách thành công. Còn phải có những cấu trúc kiểm soát bên ngoài. Những bằng chứng từ hoạt động IPO ở các DNNN Trung Quốc và sau đó niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông. Ngay từ khi bắt tay vào công cuộc khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh.ngoài những viên chức Chính phủ đại diện cho phần vốn của nhà nước .phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế. Chính phủ cần phải buộc các DNNN tiến hành các chương trình IPO . phải đoạn tuyệt hoàn toàn với việc cấp vốn ngân sách cho các DNNN. các chuyên gia và đại diện các định chế tài chính.giám đốc và các nhà quản lý. việc tạo ra những chính sách và cơ chế để cho các ngân hàng thương mại tham gia vào hội đồng quản trị trong các DNNN hiện nay là điều cần được Chính phủ quan tâm nghiên cứu. giai đoạn từ năm 1993 -2002 cho thấy mức gia tăng trung bình lên đến 70% về lãi ròng. Các nhà đầu tư chiến lược này cùng với các ngân hàng thương mại và các thành viên đại diện vốn của nhà nước tiến hành bầu ra chủ tịch hội đồng quản trị và các thành viên có năng lực. Ngoài vấn đề minh bạch hóa thông tin trong các DNNN cũng như tạo ra những áp lực kiểm soát của thị trường lên các doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại quốc doanh hiện là những nhà tài trợ “các khoản nợ xấu” lớn nhất cho các DNNN ở nước ta nhưng chẳng thấy ai là thành viên trong hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát. Chính vì thế. thị trường vốn cạnh tranh và năng động. Điều này đòi hỏi trong số những thành viên cấp cao trong DNNN . chứ không phải chỉ là các viên chức nhà nước hoàn toàn do Chính phủ chỉ định như hiện nay. Ngoài ra. Nhật Bản đã từng thành công với mô hình các Keiretsu. 90% về doanh số và 50% về quy mô .

và thua lỗ thì Theo Quy chế . Do đó. cho phép những nhà đầu tư chiến lược đầu tư vào các trái phiếu chuyển đổi. 1. của Chính phủ. .đầu tư. chúng ta hiện vẫn chưa xác định được một cách dứt khoát các chính sách này. 3. bên cạnh việc giám xác nghiêm ngặt. 4. và có thể dẫn tới hiện tượng chảy chất xám.8 tương đương với 4 triệu thì không tương xứng. Những vấn đề chung về chi phí đại diện. lớp tc14 k31 Lê Sỹ Quốc Bảo. Đơn cử là việc cổ phần hóa Vietcombank. hoàn chỉnh cơ chế phân phối công bằng Nhưng một vấn đề cũng không thể phủ nhận hiện nay là đồng lương đối với các nhà quản lý trong doanh nghiệp nhà nước quá thấp.Và nguyên nhân phát sinh chi phí đại diện. 2. I. tốt hơn cho công bằng là doanh nghịêp nào lợi nhuận nhiều thì thưởng nhiều. Chính nhờ có cơ chế giám sát từ thị trường như thế mà các DNNN Trung Quốc đã gia tăng hiệu quả hoạt động. doanh nghiệp sau hai năm thực hiện giám sát mà vẫn thua lỗ thì phải chuyển đổi sở hữu hoặc giải thể. Trong khi đó. phá sản theo quy định. cũng cần phải cần nhắc mức thưởng. buộc các công ty niêm yết phải áp dụng những mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trước khi kết thúc chúng ta có thể tham khảo về các chính sách của Trung Quốc mà thực tế đã mang lại hiệu quả. lớp tc14 k31 Thảo luận: nguồn gốc chi phí đại diện của một doanh nghiệp là từ đâu. cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được quyền mua lại phần cổ phiếu. kể cả cổ phiếu chi phối. Nhóm thảo luận: Lê Văn Trọng. Điều chỉnh mức lương hợp lý. Chính phủ Trung Quốc đã cho ban hành bốn chính sách dẫn đến những thành quả đáng kể trên con đường tạo lập môi trường giám sát đối với các DNNN: 1. lớp tc14 k31 Nguyễn Thị Thu Vân. cho phép tiếp quản và mua lại các DNNN đã cổ phần hóa. mức lương hợp lý. trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. ngay từ trong tư duy. ngành ngân hàng chỉ duy nhất hướng đến hoặc là phát hành cổ phiếu ưu đãi hoặc là các trái phiếu chuyển đổi và thậm chí cũng không cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được quyền mua trái phiếu chuyển đổi. Đây được xem là những bước đột phá trong tiến trình xác lập cơ chế giám sát ở các DNNN. Quan hệ giữa người chủ và người đại diện. Ngay từ năm 2002. với hệ số 8. và mức độ chi phí đại diện trong các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam là cao hay thấp. Nếu cần thiết chúng ta có thể thuê giám đốc nước ngoài.

Chủ sở hữu là người chủ còn các nhà quản lý chuyên nghiệp là người đại diện cho họ. Không phải ngẫu nhiên mà trong các công ty lớn. ít khốc liệt hơn hoặc theo lối sống xa hoa…hay đưa ra những quyết định có thể mang tính bảo thủ và không làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn tìm tòi và phát triển một cơ cấu tổ chức hoàn thiện và hợp lý.Trong một nền kinh tếđầy biến động và phức tạp. việc phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý cho phép chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần vốn góp bằng nhau và từ đó sự thay đổi chuyển nhượng quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. đôi khi việc điều hành trực tiếp của các chủ doanh nghiệp trở nên thiếu khả thi và không hiệu quả. Các ông chủ này sẽ thuê những chuyên gia có đủ năng lực đến điều hành doanh nghiệp của mình. nhà quản lý có thể tìm kiếm một sự điều hành nhàn nhã hơn. Ở đó vai trò của người quản trị là cực kỳ quan trọng và quyết định mức độ tồn tại và phát triển của công ty. Việc điều hành những doanh nghiệp có quy mô lớn và phức tạp đòi hỏi những kỹ năng phẩm chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có được. Chính vì thế. Ø Thứ nhất. Tuy nhiên. quy mô của doanh nghiệp càng lớn và sự cạnh tranh càng gay gắt.Nhà quản lý có thể đi ngược với ý muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp của người chủ. gây thiệt hại cho các nhà đầu tư. còn lợi ích cuả nhà quản lý thường gắn với thu nhập nhận được. cả hai đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình. Vì thế. Có một số nguyên nhân dẫn tới điều này và tất cả cũng đều nhằm mục đích giúp cho doanh nghiệp phát triển tốt hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. họ rút khỏi công việc này và . sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là điều hết sức cần thiết. việc công ty thuê những người qủan lý chuyên nghiệp để điều hành công ty của mình theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu. Nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị doanh nghiệp. sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý cũng làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không ở mức tối ưu. tuy nhiên điều kiện để tối đa hóa lợi ích của hai bên không giống nhau. Những người có vốn nhưng không có khả năng quản lý đầu tư vào các doanh nghiệp và trở thành ông chủ. Thực tế đó dẫn tới sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền kiểm soát. Ø Thứ hai. Những người này có chuyên môn (và thường có kinh nghiệm về lĩnh vực mà họ đảm nhận) nên sẽ được người chủ giao quyền quản lý. đó là khi mục tiêu của các chủ sở hữu và người quản lý không giống nhau. Trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý. Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện được hành vi hay quyết định nhằm tối đa hóa cho lợi ích cá nhân mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư.

Những hành vi như vậy của nhà quản lý sẽ làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư. thì bản thân họ. . Có thể minh chứng cho điều này là vụ bê bối làm cho một số tập đòan kinh tế ở Mỹ bị phá sản như Enron. và sau đó là việc công ty tuyên bố phá sản làm nhiều nhà đầu tư điêu đứng. Chi phí đại diện Chính những mâu thuẫn trên và những chiến lược hoạt động có tính “ích kỷ” của những người quản lý đã tạo ra chi phí đại diện. Mặc dù ý thức được điều này nhưng không dễ để nhà đầu tư có thể kiểm soát được. Đây là những chi phí để giám sát người đại diện để đảm bảo rằng người đại diện gắn với lợi ích của người chủ. Còn Fastow sau việc làm giả số liệu đã bỏ túi hàng triệu đôla cho bản thân và gia đình. nhà quản lý có thể biết được mức độ nỗ lực của mình trong khi nhà đầu tư không biết được hoặc biết nhưng không hiểu được đầy đủ. thậm chí nhà quản lý có thể báo cáo không trung thực về tình hình họat động của doanh nghiệp nhằm đạt mức lợi nhuận kế hoạch. Typo…tuy diễn ra với hình thức. địa điểm khác nhau nhưng đều cùng một nguyên nhân bản chất. Ví dụ. họ được các cổ đông khuyến khích làm việc hiệu quả.lại phải tiếp tục suy nghĩ những biện pháp để khuyến khích các nhân viên dưới quyền mình cũng nỗ lực làm việc. Nhà quản lý có những thông tin mà nhà đầu tư không thể có hoặc không muốn có do chi phí để thu thập các thông tin đó là quá cao. bởi trên thực tế tồn tại thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản lý. Ví dụ. do đó làm giảm hiệu quả họat động của doanh nghiệp. 2. gây hiệu quả nghiêm trọng đến lợi ích của doanh nghiệp.phụ trách đối ngoại của Enron đã cấu kết với hơn chục thành viên hội đồng quản trị và hãng kiểm toán Athur Andersen để bưng bít và tung hỏa mù đối với chính quyền trước những vụ làm ăn phi pháp ở Enron.những nhà quản lý cấp cao. Đồng thời còn mở rộng hơn nữa là đối với các giám đốc. Đó là chi phí phát sinh gồm: Ø Chi phí theo dõi bởi người chủ. Đó là việc người điều hành lợi dụng nhiệm vụ được các cổ đông giao phó để hành động vì mục đích tư lợi cá nhân. nhà quản lý có thể không nỗ lực với khả năng cao nhất của mình. nhà quản lý có thể không quyết định đầu tư nguồn lực vào một dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai vì làm như vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn (nếu thu nhập của nhà quản lý được xác định dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn). Chẳng hạn như vụ việc chủ tịch Jeffrey Skilling và Andrew Fastow. Điều này khiến số người mua cổ phiếu cảu công ty cao kỷ lục nhưng thực chất là giá trị cổ phiếu đã được nâng lên “ảo” để qua mặt các cổ đông.tìm cách thu vén lợi ích cho bản thân để làm giàu.và tất cả những nhân viên lại là người đại diên cho quản lý cấp cao hơn. Do tình trong thông tin bất cân xứng này mà nhà quản lý có cơ hội để thực hiện các hành vi không trung thực như trên mà không sợ bị trừng phạt. quy mô. cách thức.

Ở nước ta hiện nay. Có thể triệt tiêu chi phí đại diện hay không Vấn đề người chủ. Nếu thị trường lao động là hoàn hảo thì trong dài hạn những hành vi của nhà quản lý sẽ bị phát giác. các cổ đông cá nhân có quyền lợi và trách nhiệm liên quan . Tuy nhiên. nhà nứơc với tư cách là chủ sở hữu. Khi đó.Ø Chi phí ràng buộc bởi người đại diện. chi phí đại diện là khá lớn. phải thiết lập được một cấu trúc để kiểm soát những người làm thuê là cáac giám đốc hoặc các nhà quản lý để đảm bảo tính hiệu quả trong kinh doanh và duy trì các chi phí giao dịch ở một mức độ thấp nhất có thể được. Đối với sở hữu tư nhân. Do nếu chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng và gía trị sẽ chuyển từ cổ đông qua trái chủ. Cấu trúc doanh nghiệp nhà nước bị ảnh hưởng như thế nào bởi chi phí đại diệnnhững tồn tại trong cơ cấu. 1.những chi phí được kết hợp với một kết quả mà kết quả đó không hoàn toàn phục vụ lợi ích của người chủ. Ø Sự mất mát. Nếu công ty áp dụng chính sách tài trợ bằng nợ thì có thể có những dự án có NPV dương bị từ chối. Trong điều kiện tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý trong cá doanh nghiệp nhà nước.người đại diện sẽ dễ dàng được giải quyết nếu mọi người đều nhận được những thông tin ngang bằng nhau. Trong những doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện được tất cả các dự án có NPV dương thì vấn đề chi phí đại diện càng trở nên nghiêm trọng hơn. nhất là trong các doanh nghiệp nhà nước. nhà quản lý sẽ phải gánh chịu những hậu quả do hành vi của mình gây ra. Chi phí đại diện trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. các giám đốc không có động cơ để thực hiện hành vi này. đặc biệt là ở những nước nền kinh tế thị trường còn chưa phát triển như ở Việt Nam. 3.sự minh bạch hóa thông tin. II. rồi đến lúc nào đó gía cổ phiếu sẽ trở lại giá trị thực của nó. Vì vậy. thưc tế là thị trường lao động là không hoàn hảo. Đối với công ty cổ phần. đó có thể là sự thao túng giá cổ phiếu trên thị trường làm gía cổ phiếu của công ty tăng cao để thu lợi nhuận. Người đại diện gánh chịu chi phí để cam kết rằng bản thân họ không xâm phạm đến lợi ích của người chủ.

Xu hướng không sử dụng hết và sử dụng kém hiệu quả các thông tin “được cung cấp” cũng rất phổ biến. vấn đề người đại diện trong doanh nghiệp nhà nước có khả năng xảy ra ở nhiều cấp. sinh lời đồng tiền của mình khi giao cho người quản lý. kiểm soát việc sử dụng. Những cá nhân. họ có động lực mạnh mẽ trong theo dõi. đơn vị kinh doanh trực thuộc… Vì vậy. sở hữu nhà nước là sở hữu toàn dân. Cuối cùng hội đồng quản trị giao cho tổng giám đốc với vai trò điều hành việc sử dụng nguồn vốn trên. ủy ban nhân dân các tỉnh không có đủ thông tin về từng doanh nghiệp nói riêng và tất cả các doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý nói chung. Đây là lý do tại sao Việt Nam hay có những vụ tham nhũng lớn liên quan tới tài sản của nhà nước. Điều này dẫn đến chi phí đại diện trong các doanh nghiệp nhà nước lớn và sự hoạt động kém hiệu quả. khả năng kiểm soát của người chủ sở hữu đối với người đại diện cũng xa vời và khó khăn. Sau đó lại được giao cho người đại diện khác (hội đồng quản trị). các bộ. . Trong khi đó. Sở hữu toàn dân được giao cho chính phủ quản lý. được ủy quyền quản lý vốn chứ không phải là những người sở hữu cá nhân đối với tài sản mà mình quản lý. ngành). Quốc hội. hội đồng quản trị các tổng công ty không có đủ thông tin cần thiết về từng đơn vị thành viên và toàn bộ tổng công ty. sử dụng nó hoàn toàn qua nhiều cấp những người đại diện sở hữu. Nguyên nhân căn bản của tình trạng trên là do bản chất tư lợi. Như vậy. chính phủ sau đó lại giao cho người đại diện sở hữu khác (bộ. Do vậy. Việc quản lý. luôn quan tâm đến tài sản cá nhân hơn tài sản tập thể. thất thoát.từ cấp thấp nhất. chính phủ có những thể chế mà có những cá nhân. Do vậy. Đối với chủ sở hữu là nhà nước. nó được thực hiện qua cơ chế người đại diện quản lý người đại diện. chính phủ không có đủ thông tin cần thiết về toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước.trực tiếp đến tài sản cá nhân. tập thể đó thực chất cũng là người đại diện. Trong một nền kinh tế hệ thống pháp luật các quan hệ kinh doanh chưa hoàn thiện rất dễ xảy ra tiêu cực. Việc quản lý vốn trong doanh nghiệp nhà nước là rất quan trọng. doanh nghiệp tư nhân quản lý theo cơ chế người sở hữu quản lý người đại diện. tập thể được chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện việc quản lý vốn nhà nước trong công ty. Tuy nhiên.lãng phí của một số công ty nhà nước. Sở hữu trong công ty nhà nước mang tính chất rất phân tán. Những vụ tham nhũng từ tài sản tư nhân rất ít xảy ra. Giám đốc công ty không có đủ thông tin cần thiết về từng chi nhánh. Có thể xem chính phủ là đại diện của sở hữu toàn dân trong công ty nhà nước. sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước rất phân tán và nhình chung những người sở hữu cuối cùng đối với tài sản nhà nước cũng không có khái niệm rõ ràng về thực hiện quyền làm chủ này như thế nào vì đó là sở hữu thuộc về sở hữu toàn dân hay của những người đóng thuế.

tuy nhiên. Ø Pjico là một công ty cổ phần. Những người này đôi khi làm mờ đi nhân vật chính. Do vậy.Một vài ví dụ về những vụ bê bối của các nhà quản lý làm phát sinh chi phí đại diện. Tại Pjico. hội đồng quản trị và các nhà quản lý. nhất là trong xử lý những cá nhân không công khai hóa các lợi ích liên quan theo quy định. điện lực…luôn đi theo một lộ trình tăng giá. Nếu gộp cả chi phí đại diện bằng tiền và chi phí đại diện “ẩn” thì con số sẽ vô cùng lớn. Qủa thật là một chi phí quá lớn cho sự điều hành lãnh đạo trong quá trình phát triển kinh tế.Trong doanh nghiệp nhà nước.Với cơ cấu sở hữu nhà nước chiếm tuyệt đối như vậy. những người đại diện quyền chủ sở hữu. có thể thấy Pjico mang tính chất sở hữu nhà nước. Do vậy mà gía cả sản phẩm. sở hữu nhà nước chiếm đa số. còn có sự xuất hiện thêm nhiều “vai diễn” khác như đảng ủy công đoàn. thuế của nhân dân. Ø Bùi Tiến Dũng lợi dụng quyền hạn và tiếng tăm của mình tổ chức những đường dây cá độ và sử dụng những đồng vốn ODA để tư lợi cá nhân. Những yếu kém trên đã thúc đẩy quá trình cổ phần hóa mạnh mẽ doanh nghiệp nhà nước và không ngừng tìm cách minh bạch hóa thông tin và bài toán sử dụng vốn nhà nước. người điều hành Pjico qua mặt HĐQT một vụ bồi thường có nhiều khúc mắc trị giá tới 3. các thành viên chủ chốt đa số là đại diện của các công ty vốn nhà nước như Petrolimex. vào tay một số người. cổ đông chủ yếu là nhà nước và các cổ đông tư nhân.8 tỷ đồng. Thực tế về mức độ chi phí đại diện trong doanh nghiệp nhà nước. gây hậu quả nghiêm trọng đến doanh nghiệp. Ø Một vụ án nổi tiếng liên quan đến động cơ của người nắm vai trò điều hành là vụ tham ô. làm mất tính hiệu quả của đồng vốn. dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước thuộc các lĩnh vực cấp nước. có thể nhận thấy sự thất thoát rất lớn từ nguồn vốn nhà nước mà căn bản là đi từ nguồn đóng góp. làm thất thoát hơn 100 tỷ đồng. Trong 20 năm qua tuy đã đạt nhiều thành tựu nhưng hiệu lực chưa được hòan toàn. Mỗi cá nhân trong doanh nghiệp nhà nước phải thỏa mãn mục tiêu của tất cả những nhân vật còn lại. Có thể nêu lên một vài vụ việc ở nước ta liên quan đến chi phí đại diện mà đều có điểm chung là do người điều hành lợi dụng nhiệm vụ được các cổ đông giao phó để hành động vì mục đích tư lợi cá nhân. VSC…Cơ chế quản lý nội bộ của chủ sở hữu đối với người điều hành chưa cao. VCB. các đoàn thể khác. Nó phụ thuộc vào tính kỷ luật của những người quản lý. Tại hội đồng quản trị của Pjico. cố ý làm trái của Lã Thị Kim Oanh (giám đốc công ty tiếp thị đầu tư nông nghiệp và phát triển nông thôn) chủ mưu. ngoài ba vai diễn chính là nhà nước. tính nhất quán và nghiêm khắc trong thực thi luật pháp. đặc biệt là các tổng công ty lớn. Vì thế. 2. Người bị ảnh hưởng trực tiếp từ vụ bê bối này của người điều hành là các cổ đông. .

quan hệ giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với nhà nước (chủ sở hữu) lại chưa được làm rõ. Một đề án lớn. thua thiệt thì nhà nước chịu. Hiện nay việc thành lập các tập đoàn kinh tế đã và đang được xúc tiến rất mạnh. Lời kết. người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên.Ø Đề án 112 cũng gậy xôn xao dư luận bởi thất thoát và lãng phí hàng ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước. Họ không chỉ yếu kém về năng lực chuyên môn mà còn tha hóa về đạo đức cách mạng. sai phạm. Yếu tố then chốt đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động tốt là cơ chế quản lý. . Khi xảy ra sự cố.. Để khắc phục và từ từ đi tới giảm thiểu những chi phí đại diện này. Tình trạng lạm dụng tài sản nhà nước mưu lợi cho cá nhân: lợi thì doanh nghiệp hưởng. hàng ngàn tỷ đồng của dân đã đi vào túi của không ít người tư lợi và đề án 112 trở nên bất khả thi. được thực thi tùy tiện. không đưa vào ứng dụng được. tự tung tự tác nâng giá thiết bị…Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Như vậy dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc” và một số cá nhân lợi dụng việc này để có những hành vi tư lợi. nhưng ở nước ta. Nhà nước có chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. qua đó cơ chế quản lý của người sở hữu sẽ chặt chẽ hơn đối với nhà lãnh đạo và minh bạch hóa thông tin. vụ lợi được thực hiện và tiếp tay từ một số cán bộ của Văn phòng chính phủ. 3. đồng thời sử dụng những phương pháp kiểm tra để đảm bảo người quản lý làm đúng vai trò của mình. quy mô nói chung còn khiêm tốn và khả năng quản lý chưa cao… còn nhiều bất cập.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful