Tiểu luận hóa học dầu mỏ

Từ khi được phát hiện đến nay, dầu mỏ và khí đã và đang là nguồn nguyên liệu quý giá của mỗi Quốc Gia nói chung và toàn nhân loại nói riêng. Ngày nay sản phẩm dầu mỏ và khí đang có matwjtong hầu hết các lĩnh vực đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người cũng như công nghiệp. Dưới góc độ năng lượng thì dầu mỏ là nguồn năng lượng quan trọng nhất của mọi Quốc Gia trên thế giới. Theo số liệu thống kê thì có khoảng 65 đến 70% năng lượng đượ sử dụng đi từ dầu mỏ và khí, chỉ có khoảng 20 đến 22% từ than, 5 đến 6% từ năng lượng nước và 8 đến 12% từ năng lượng hạt nhân Về góc độ nguyên liệu thì ta có thể hình dung với một lượng nhỏ khoảng 5% dầu mỏ và khí được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp hóa chất. Thực tế, từ dầu mỏ người ta có thể sản suất cao su, chất dẻo, sợi tổng hợp các chất hoạt động bề mặt, phân bón…vv Ngoài ra các sản phẩm phi năng lượng của dầu mỏ như dầu nhờn, mỡ nhựa đường … cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp. Chính tầm quan trọng trên mà dầu mỏ đóng vai trò hết sức đặc biệt trong sự phát triển kinh tế và công nghiệp của mỗi Quốc Gia. Do đó, tất cả các nước nên xây dựng cho mình một nền công nghiệp dầu khí tùy vào điều kiện của đất nước. Việt Nam là một trong các quốc gia có tiềm năng về dầu khí. Cùng với sự phát triển của ngành chế biến dầu khí thế giới, nước ta đang có những bước phát triển mạnh mẽ trong ngành công nghiệp này . Mặc dầu dầu khí chỉ mới được phát hiện ở Việt Nam từ năm 1970 nhưng đến nay đã tìm kiếm được khá nhiều mỏ dầu và mỏ khí với trữ lượng có thể thương mại hóa và thực tế ta đã và đang khai thác một số mỏ dầu như Bạch Hổ, Đại Hùng….vv.

1. Đặc trưng của dầu khí Việt Nam

a.

Trữ lượng dầu khí luôn là một trong những thông số cơ bản của các tính toán kinh tế dựa trên dầu khí, nhất là khi doanh thu từ xuất khẩu dầu thô chiếm 22-28% tổng thu nộp ngân sách VN hằng năm (số liệu Vietsovpetro). Qua tìm kiếm thăm dò cho đến nay, các tính toán dự báo đã khẳng định tiềm năng dầu khí Việt Nam tập trung chủ yếu ở thềm lục địa, trữ lượng khí thiên nhiên có khả năng nhiều hơn dầu. Với trữ lượng đã được thẩm định, nước ta có khả năng tự đáp ứng được nhu cầu về sản lượng dầu khí trong những thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ 3. Khoáng sản dầu khí đang được thăm dò với cường độ cao. Trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 tỷ tấn và khí đốt vào khoảng 835 tỷ m3. Trữ lượng dầu được dự báo vào khoảng 6 tỷ tấn và trữ lượng khí vào khoảng 4.000 tỷ m3. Tổng tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Ma lay - Thổ Chu, Vùng Tư Chính - Vũng Mây... đã được xác định tiềm năng và trữ lượng đến thời điểm này là từ 0,9 đến 1,2 tỷ m3 dầu và từ 2.100 đến 2.800 tỷ m3 khí. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Với các biện pháp đồng bộ, đẩy mạnh công tác tìm kiếm - thăm dò, khoảng từ 40 đến 60% trữ lượng nguồn khí thiên nhiên của nước ta sẽ được phát hiện đến năm 2010.

Trữ lượng dầu mỏ Việt Nam

Những phát hiện về dầu khí mới đây ở thềm lục địa miền Nam nước ta rất đáng phấn khởi.Lan Đỏ. 65 nghìn km2 địa chấn 3D. Mã Lay . Dự kiến. tài-nguyên về dầu khí trong lòng biển Việt-Nam đã được ước-tính qua những số-lượng như sau:. Hai quốc-gia này có trữ-lượng lần lượt là 1.5 đếm 3. Rạng Đông.. nhóm bể Trường Sa và Hoàng Savới diện tích gần 1 triệu km2 ( BẢN ĐỒ PHÂN BỐ CÁC BỂ TRẦM TÍCH) Trong những năm qua. khoan hơn 980 giếng tìm kiếm.86 triệu tấn dầu thô quy đổi (tăng 1.6 triệu tấn dầu thô và 3. Rạng Đông. Sư Tử Vàng.Hiện nay. trữ-lượng của Việt-Nam có thể nhiều tới 10. Theo tiến-sĩ Charles Johnson thuộc viện East-West Center. Hải Thạch.. Rồng. Đây là năm đầu tiên nước ta khai thác hơn 20 triệu tấn dầu thô quy đổi. D14 (bể Sông Hồng).0 tỷ thùng. thẩm lượng và khai thác với tổng số mét khoan trên 3. Đại Hùng. Sư Tử Đen. Sư Tử Đen. Tư Chính . Cá Ngừ b. Rồng. Để so sánh.lô 06. Về khí đốt. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tiến hành khảo sát trên 107 nghìn km tuyến địa chấn 2D.7 tỷ m3 khí thiên nhiên. Ruby và Emeral. Kim Long.Vũng Mây. Bạch Hổ. Sư Tử Vàng. Lan Tây .600 triệu thùng.150 triệu thùng Từ công tác tìm kiếm thăm dò đã xác định được các bể trầm tích Đệ Tam có triển vọng dầu khí như: Sông Hồng. ngành Dầu khí nước ta đã thăm dò phát hiện gia tăng thêm trữ lượng hơn 70 triệu tấn dầu thô và hàng chục tỷ m3 khí để tăng sản lượng khai thác trong những năm tiếp theo.5 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm 2002). Năm 2006.7 và 3. Ruby. * Rồng 100. Phân bố dầu mỏ . * Đại-Hùng 300. Dự kiến đến năm 2010. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bố trí kế hoạch khai thác 20.000 tỷ cubic feet. nhằm đáp ứng các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp của cả nước. ta lấy trường-hợp các nước đang sản-xuất dầu lửa trong vùng như Úc-đại-Lợi và Mã-lai-Á. Hồng Ngọc. Đông Quan D. Bunga Kekwa Cái Nước và chuẩn bị chính thức đưa vào khai thác mỏ khí Lan Tây . Phương Đông.Thổ Chu. Phú Khánh. Cá Voi.0 tỷ thùng. bảo đảm duy trì và tăng sản lượng khai thác dầu khí cho những năm tới. Trong đó có 17. mỏ Sư Tử Đen (lô 15-1) sẽ được đưa vào khai thác trong quý 4 năm nay. Cửu Long.300 triệu thùng. Ác Quỷ. Tính chung. trữ-lượng dầu hoả Việt-Nam ước-lượng vào khoảng từ 1. Rồng Đôi. đang được triển khai tích cực theo chương trình đã đề ra. Không kể những khu-vực bị Trung-Cộng chiếm-đóng cũng như các vùng biển ngoài khơi đang tranh-chấp. Công tác phát triển các mỏ Rạng Đông. Nam Côn Sơn. Kết quả tìm kiếm thăm dò đã đạt được: + Các mỏ đã đưa vào khai thác: Tiền Hải C.l. ngành Dầu khí nước ta đang khai thác dầu khí chủ yếu tại 6 khu mỏ bao gồm: Bạch Hổ. thăm dò. 2 năm đầu thế kỷ mới. ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ hơn 30 đến 32 triệu tấn dầu thô quy đổi.3 triệu m. tăng thêm niềm tin và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Ba vùng giếng dầu khí đã được thăm dò đầy đủ và đang được khai-thác có trữ-lượng như sau * Bạch-Hổ 175.

Hải Sư Trắng. Lạc Đà Nâu. Cá Mập Trắng (bể Phú Khánh). Bắc Kim Long (bể MalayThổ chu) . Sư Tử Nâu. Địa Long (bê Sông Hồng). Hải Sư Nâu. Tê Giác Trắng. Emerald. Pearl. Dơi Nâu (bể Cửu Long). Mãng Cầu (bể Nam Côn Sơn). Jade. Diamond (bể Cửu Long). Rồng Trẻ (bể Nam Côn Sơn). Hải Sư Bạc. Topaz. Đại Hùng. Chim Sáo. Cá Rồng Đỏ. Hồng Long. Hoàng Long.Vàng (bể Cửu Long). Hải Thạch. Cá Voi (bể Malay-Thổ chu) + Các cấu tạo đã phát hiện: Thái Bình. Ác Quỷ. Kim Long. cụm mỏ Rạch Tàu + Phú Tân + Khánh Mỹ. Báo Đen. Thanh Long. Thăng Long. Lan Đỏ. Yên Tử. Sông Đốc (bể Malay-Thổ chu) +Các mỏ/phần mỏ chuẩn bị đưa vào khai thác: Bạch Hổ 19. Hắc Long. Đông Đô. Mộc Tinh. Trung tâm và Nam trung tâm Rồng. Hổ Xám Nam. Dừa. Bạch Long. Hoa Mai. Hàm Rồng. Cá Chó. Cái Nước. Sư Tử Trắng. Lan Tây. Thiên Ưng. Rồng Vĩ Đại. Hải Sư Đen. Rồng Đôi/Rồng Đôi Tây (bể Nam Côn Sơn). Hải Sư Đen (khối A). Báo Vàng.