Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.

com

LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đang tiến từng bước trong quá trình kiến thiết, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhằm theo kịp các nước trong khu vực và trên thể giới. Để thực hiện thành công chiến lược này, nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn và cấp bách.. Trong quá trình tìm kiếm và luân chuyển nguồn vốn, các ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ chốt, hiệu quả hoạt động huy động vốn của các ngân hàng có thể tác động trực tiếp và mạnh mẽ lên tốc độ tăng trưởng nền kinh tế. Tuy nhiên để tạo được những bước chuyển mới cho nền kinh tế, công tác huy động vốn của các ngân hàng đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn mới. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại và mong muốn tìm hiểu về quy trình huy động vốn cũng như thực trạng hiệu quả của hoạt động này tại các ngân hàng Việt Nam, trong thời gian kiến tập ở phòng giao dịch Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội, em đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại phòng giao dịch Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội.” dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Lương Bình và sự giúp đỡ nhiệt tình từ cán bộ nhân viên phòng giao dịch. Về kết cấu, đề tài gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về vốn và nghiệp vụ huy động vốn của NHTM Chương II: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại PGD Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại PGD Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội.

Trang 1

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.1 NGUỒN VỐN CỦA NHTM 1.1.1 Cơ cấu vốn của NHTM 1.1.1.1 Vốn của ngân hàng Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng (còn gọi là vốn chủ sở hữu), nó bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có a/ Vốn tự có gồm: - Vốn điều lệ: Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi ngân hàng thương mại được thành lập. Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là ngân hàng thương mại cổ phần. Quy mô vốn điều lệ của ngân hàng lớn hay nhỏ là tùy vào quy mô của ngân hàng và không được phép nhỏ hơn vốn pháp định quy định cho ngân hàng đó. Đây là nguồn vốn duy nhất ngân hàng được phép sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cho hoạt động của ngân hàng và góp vốn liên doanh. - Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng. b/ Vốn coi như tự có: Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng. Đây là những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùng chưa được sử dụng đến như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định… 1.1.1.2 Vốn huy động a/ Tiền gửi không kỳ hạn Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào. Tiền gửi không kỳ hạn được để trong các tài khoản vãng lai. Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền này chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được

Trang 2

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
ngân hàng trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Các ngân hàng thậm chí còn yêu câu duy trì một số dư tối thiểu trên tài khoản. Hầu hết tài khoản vãng lai đều ở dạng tài khoản có khả năng phát hành séc, tức là ngân hàng cho phép người chủ tài khoản được phép phát hành séc để thanh toán. Chúng thường tồn tại ở các dạng sau: - Tài khoản séc Tài khoản NOW (lệnh rút tiền có thể chuyển nhượng). - Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ (MMDAs) - Tài khoản ATS (Automatic transfer system account) b/ Tiền gửi có kỳ hạn Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định từ một vài tháng đến vài năm. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng người gửi tiền không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Mục đích chủ yếu của những người gửi tiền là để lấy lãi. Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn song để thu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn. Tuy nhiên, người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn chỉ được hưởng lãi suất bằng lãi suất không kỳ hạn hoặc không hưởng lãi. Ở các nước phát triển, tiền gửi có kỳ hạn thường dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi (Certificate of deposit – CD), còn ở Việt Nam thường dưới hai dạng: - Tiền gửi có kỳ hạn theo tài khoản - Tiền gửi có kỳ hạn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng. c/ Tiền gửi tiết kiệm Là khoản tiền gửi để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn được ngân hàng công bố sẵn. Các kỳ hạn thường là 1, 3, 6, 9, 12 tháng hoặc hơn 1 năm. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền rút ra. Quyển sổ này đồng thời có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền

Trang 3

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
đã gửi. Ngoài ra, còn có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm và trái phiếu tiết kiệm. Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm bao gồm ba loại sau: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp. Loại tiền gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó luôn được hưởng lãi, nhưng đổi lại không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Gửi tiền dạng này nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền, dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời hạn ngắn, đồng thời được hưởng một chút lãi thấp. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố định trước. Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kỳ hạn ở các điểm là không được phép rút trước hạn (nếu rút trước hạn sẽ phải chịu phạt như chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc thậm chí không được hưởng lãi), được hưởng lãi cao hơn các dạng tiền gửi không kỳ hạn và không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với dạng tiền gửi này, người gửi chỉ được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãi khi đến hạn. Mỗi lần gửi được coi là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tổi thiểu của mỗi lẫn gửi tiền do từng ngân hàng quy định. - Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Ngoài hưởng lãi, thì người gửi tiền còn được ngân hàng cho vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở. Mức cho vay tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi kỳ hạn và tiết kiệm kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định vì ngân hàng nắm được những kỳ luân chuyển của vốn, vì vậy ngân hàng có thể dùng để cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn đều được. Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiểm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay. Chính vì vậy mà người ta gọi ngân hàng thương mại là ngân hàng gửi tiền. 1.1.1.3 Vốn đi vay

Trang 4

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
a/ Vay từ NHTW Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được NHTW cho phép thành lập hoạt động đều hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu dự trữ hay quá thiếu tiền mặt. NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại chủ yếu dưới hai hình thức, đó là: - Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá. - Cho vay thế chấp hay ứng trước. Do vậy, tiền vay NHTW còn gọi là tiền chiết khấu hay ứng trước. Hiện nay, NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau: - Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ theo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản; dự trữ vật tư, nguyên liệu; sản xuất hàng hóa xuất khẩu thuộc diện ưu tiên.... b/ Vay ngắn hạn các khoản dự trữ từ các TCTD khác Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ băt buộc theo quy định của NHTW. Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương mại có những ngày cho vay nhiều quá dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại NHTW. Trong khi đó lại có một vài ngân hàng thương mại khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy định của NHTW, ngân hàng thương mại thiếu hụt dự trữ sẽ vay của ngân hàng thương mại có dự trữ dư thừa. Thời hạn của loại cho vay này rất ngắn, thương không quá một tuần. c/ Vay từ các công ty Ở các nước phát triển, ngân hàng thương mại còn có thể vay trực tiếp từ các công ty bằng các hình thức. - Vay ngắn hạn bằng các Hợp đồng mua lại: Hợp đồng mua lại là hợp đồng trong đó ngân hàng bán các tín phiếu kho bạc mà minh đang nắm giữ cho các tổ chức kinh tế đang tạm thời thừa tiền mặt, kèm theo điều khoản mua lại số tín phiếu đó sau một vài ngày hay một vài tuần với mức giá cao hơn. Về thực chất, đây là một công cụ để vay nợ ngắn hạn (thường không quá hai tuần) của các ngân hàng trong đó sử dụng tín phiếu kho bạc làm vật thế chấp. Lượng tiền mặt thu được từ hợp đông mua lại được xem như một

Trang 5

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
khoản vay nợ ngắn hạn. Ở các nước phát triển, thời gian tối đa của hợp đồng này thường không quá hai tuần. - Vay từ công ty mẹ: ở các nước phát triển, một công ty hoặc một tập đoàn kinh doanh có thể là chủ của một hoặc nhiều ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu hay giấy nợ để vay tiền từ thị trường, nó sẽ chịu sự quản lý và ràng buộc của NHTW về dự trữ, lãi suất và thủ tục; trong khi đó, nếu công ty mẹ thực hiện điều này, nó không chịu các ràng buộc đó vì bản thân nó không phải là một ngân hàng thương mại. Do vậy, các công ty mẹ của ngân hàng thường thay thế nó phát hành trái phiều, cổ phiếu công ty hoặc các loại thương phiếu để huy động vốn, sau đó chuyển vốn huy động được về cho ngân hàng hoạt động dưới hình thức cho vay lại. d/ Vay từ thị trường tài chính trong nước Các ngân hàng thương mại có thể vay từ thị trường tài chính trong nước thông qua phát hành các chứng từ có giá như: - Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng (NCDs): Các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, có thể mua đi bán lại trên thị trường khi chưa đáo hạn. Thời gian đáo hạn của loại chứng chỉ này thương không quá 6 tháng kể từ ngày phát hành. - Trái phiếu ngân hàng: Một công cụ vay nợ dài hạn của ngân hàng trên thị trường chứng khoắn. Thời hạn vay thường từ 2 năm trở lên. Loại này có thể mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán khi chưa đáo hạn. e/ Vay nước ngoài Các ngân hàng thương mại cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài. Do loại tiền sử dụng trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD nên vay tiền ở nước ngoài thường vay bằng USD. Ở nhiều nước (Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan...) việc phát hành loại trái phiếu Euro Dollars (tiền gửi bằng USD ở các ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng không thuộc nước Mỹ) chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu. 1.1.1.4 Các nguồn vốn khác - Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng,...

Trang 6

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
- Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ như trọng nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp, trong nghiệp vụ trung gian của ngân hàng (tiền ký quỹ của khách hàng để đảm bảo thanh toán trong phương thức thanh toán toán tín dụng chứng từ - L/C). 1.1.2 Vai trò của vốn trong hoạt động của NHTM Cũng như mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại phải có cơ sở đầu tiên đólà vốn. Vôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của NHTM. Thứ nhất, vốn là cơ sở để bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào có thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Trên thực tế, ngân hàng nào có khối lượng vốn lớn hơn thì ngân hàng đó có lợi thế cạnh tranh hơn trong kinh doanh. Thứ hai, vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của ngân hàng thương mại. Vốn ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại. Thứ ba, vốn là yếu tố quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường. Kinh doanh tiền tệ là một lĩnh vực kinh doanh chứa đựng rất nhiều rủi ro, bởi vậy uy tín đối với khách hàng là vô cùng quan trọng đối với khách hàng. Huy động vốn tốt và sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo khả năng thanh toán chính là biểu hiện thể hiện chữ tín và tạo niềm tin của ngân hàng cho khách hàng. Như vậy, vốn đóng vai trò chủ chốt, quyết định năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong cơ cấu vốn của ngân hàng, vốn tự có chỉ chiếm khoảng 10% còn lại là vốn huy động và các nguồn vốn khác. Như vậy, vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập ngân hàng, nhưng sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Quy mô nguồn vốn huy động quyết định tới quy mô đầu tư, cho vay, và ảnh hưởng lớn đến thu nhập của ngân hàng. Vốn huy động được coi như là đòn bẩy kinh doanh và hiệu quả hoạt động huy động vốn là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.

Trang 7

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.2.1 Khái niệm về hoạt động huy động vốn của NHTM Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật Nghiệp vụ huy động vốn mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không có đủ vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. 1.2.2 Phân loại các hình thức huy động vốn 1.2.2.1 Căn cứ theo thời gian a/ Huy động vốn ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán... Do thời hạn ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.. b/ Huy động vốn trung hạn: Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện, tuy nhiên lãi suất thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghê và cho vây trung, dài hạn với lãi suất cao. c/ Huy động vốn dài hạn: Hoạt động huy động vốn dài hạn trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên), do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao. và dài hạn: Để huy động vốn trung và dài hạn, NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, cổ phiếu, trái phiếu. 1.2.2.2 Căn cứ theo đối tượng huy động a/ Huy động vốn từ dân cư

Trang 8

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng huy động các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định. b/ Huy động vốn từ doanh nghiệp và các tổ chức xã hội Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có tài khoản trong ngân hàng. Do chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau nên ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn để sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc vào các dịch vụ, tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nhiệp và tổ chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng. c/ Huy động vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe dọa, các ngân hàng thương mại có thể vay lẫn nhau thông qua các tài khoản tiền gửi được mở lẫn nhau ở các ngân hàng. Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng để cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ phá sản. Huy động vốn từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác tuy khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động cao hơn. Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều. 1.2.2.3 Căn cứ theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn a/ Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi - Huy động tiền gửi không kỳ hạn - Huy động tiền gửi có kỳ hạn - Huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn - Huy động tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài b/ Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay - Vay từ các tổ chức tín dụng - Vay từ ngân hàng trung ương c/ Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành trái phiếu ngân hàng và kỳ phiếu.

Trang 9

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
- Trái phiếu ngân hàng: Là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn. - Kỳ phiếu: Là một loại giấy tờ có giá ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế... d/ Huy động vốn qua các hình thức khác. Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng tài trợ....

1.3 HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả huy động vốn Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó là sự đáp ứng một cách kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụng vốn ở mức chi phí hợp lý nhất. 1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn 1.3.2.1 Chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động. Chi phí huy động bao gồm chi phí lãi (tính dựa trên lãi suất ngân hàng công bố cho khách hàng) và chi phí ngoài lãi (chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn như: chi phí quản lý, cất giữ, bảo quan, lương công nhân viên,....). Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và có lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng có hiệu quả. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để giảm chi phí huy động vốn thì phải giảm lãi suất và có các chi phí liên quan ở mức tối ưu nhất. Việc đưa ra một lãi suất hợp lý là rất quan trọng, lãi suất không quá cao để đảm bảo lợi ích ngân hàng, cũng không quá thấp để thu hút được khách hàng. Đồng thời giảm các chi phí ngoài lãi cũng sẽ nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.

Trang 10

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
1.3.2.2 Chênh lệch thu chi lãi/ chi phí trả lãi

Chỉ tiêu này cho thấy một đồng chi phí ngân hàng bỏ ra để trả lãi sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì càng thể hiện ngân hàng sử dụng vốn huy động hiệu quả nhờ việc tối thiểu hóa chi phí trả lãi và tối đa hóa thu từ lãi. 1.3.2.3 Sự ổn định nguồn vốn huy động của các hình thức huy động vốn Một hình thức huy động vốn được đánh giá tốt ngoài những yếu tố về đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp còn cần phải có sự ổn định, tức là không có sự thay đổi đột ngột trong thời gian sử dụng nguồn vốn của ngân hàng. Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm vốn huy động. Nếu vốn huy động tăng đều qua các năm, có tốc độ gia tăng ổn đinh, đều đặn thì vốn đó được coi là có hiệu quả trong việc huy động 1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn 1.3.3.1 Nhân tố khách quan a/ Pháp luật, chính sách của Nhà nước Mọi hoạt động của ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Cụ thể là Luật các tổ chức tín dụng (1997), Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã và công ty tài chính (1990), Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1998), các chỉ thị, thông tư..... Trong quá trình huy động vốn, các ngân hàng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định này. b/ Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước Tình hình chính trị trong và ngoài nước có tác động rõ rệt và mạnh mẽ đến hoạt động ngân hàng. Chính trị bất ổn luôn kéo theo tình trạng hoạt động vốn của ngân hàng bị trì trệ bởi người dân mất lòng tin. Ngược lại, sự ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm các ngân hàng thương mại huy động vốn dễ dàng hơn. c/ Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng quan trọng tới việc huy động vốn của ngân hàng. Khi người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng thay vì cất trữ tiền mặt trong nhà, việc huy động vốn của ngân hàng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, thói quen thanh toán khi mua hàng cũng góp phần làm tăng giảm nguồn vốn huy động. Ở những nước dân chúng đã quen với việc thanh toán bằng tiền mặt chứ

Trang 11

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
không thanh toán qua ngân hàng việc huy động các nguồn vốn ngắn hạn bằng tài khoản thanh toán của ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn. 1.3.3.2 Nhân tố chủ quan a/ Chiến lược kinh doanh của ngân hàng Các chiến lược kinh doanh có liên quan đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng bao gồm: Chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ. Đây là các yếu tố quan trọng. Với việc lãi suất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào ngân hàng tăng nhưng đồng thời hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí huy động tăng. Do đó số lượng nguồn vốn huy động sẽ phủ thuộc chủ yếu vào chiến lược kinh doanh hay đúng hơn là phụ thuộc vào chính bản thân ngân hàng. b/ Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng. Yếu tố con người luôn tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Các cán bộ nhân viên ngân hàng có năng lực sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp. Bên cạnh đó, thái độ trong tiếp xúc với khách hàng cũng rất quan trong, nó có thể lôi kéo khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động nhưng cũng có thể làm khách hàng rời bỏ ngân hàng gây ra những hậu quả nghiêm trọng. c/ Uy tín của ngân hàng. Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu dài. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng, là tiền để cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian. d/ Trình độ công nghệ ngân hàng. Với công nghệ ngân hàng hiện đại, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt. Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình thức trả lãi.... Hệ thống thông tin tốt giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả huy động vốn. Ngoài ra, mạng lưới phục vụ huy động rông rãi cũng tạo điều kiện cho người gửi tiền về chi phí giao dịch, thời gian giao dịch, .... CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN CHÍ THANH, NHTMCP ĐẠI Á, CHI NHÁNH HÀ NỘI

Trang 12

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
2.1 TỔNG QUAN VỀ PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN CHÍ THANH, NHTMCP ĐẠI Á, CHI NHÁNH HÀ NỘI 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển a/ Ngân hàng TMCP Đại Á Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiA bank) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 30/07/1993, là ngân hàng cổ phần đầu tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai. Khởi đầu chỉ là Ngân hàng TMCP nông thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với 1 tỷ đồng vốn điều lệ, đến nay Đại Á Ngân hàng đã trải qua 18 năm phát triển vượt bậc. Với vốn điều lệ: 3.100 tỷ đồng và mạng lưới hoạt động gồm 57 chi nhánh và Phòng giao dịch trên cả nước b/ Ngân Hàng TMCP Đại Á-PGD Nguyễn Chí Thanh Địa chỉ doanh nghiệp: 118 Nguyễn Chí Thanh, P. Láng Thượng, Q. Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: (84-4) 37759747 Fax: (84-4) 37759745 Website: www.daiabank.com.vn Ngày 22/4/2009, Ngân hàng TMCP Đại Á chính thức khai trương và đưa vào hoạt động hai phòng giao dịch mới tại Hà Nội. Đó là PGD 91 Hà Huy Tập, Quận Long Biên và PGD 118 Nguyễn Chí Thanh, quận Ba Đình. Tính đến hiện tại Ngân hàng Đại Á – Chi nhánh Hà Nội có 14 điểm giao dịch trong đó có 01 chi nhánh và 13 Phòng giao dịch trực thuộc. Như vậy, tốc độ phát triển mạng lưới PGD của Ngân hàng Đại Á là tương đối tốt. Cùng với các chi nhánh, phòng giao dịch khác trong hệ thống DaiABank, phòng giao dịch Nguyễn Chí Thanh - chi nhánh Hà Nội hoạt động với các chức năng: Nhận tiền gửi bằng VNĐ, ngoại tệ; cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng; dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western Union; thu đổi ngoại tệ; dịch vụ ATM… PGD này được kết nối trực tuyến với hội sở và tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch trong hệ thống. Khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ở mọi nơi trong hệ thống DaiABank, được cung cấp các dịch vụ qua ngân hàng điện tử (SMS banking, internet banking...). 2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quy mô

Trang 13

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
Mới được thành lập từ đầu năm 2009, PGD Nguyễn Chí Thanh có cơ cấu tổ chức đơn giản nhưng hiệu quả. PGD gồm 7 cán bộ nhân viên: 1 Giám đốc, 1 Kiểm soát viên, 2 Cán bộ quan hệ khách hàng, 2 Giao dịch viên và 1 Quản lý tín dụng.

• Giám đốc: Người có quyền hạn cao nhất ở PGD, người được ban giám đốc ngân
hàng ủy quyền trực tiếp quyết định, thực hiện việc ký kết các hợp đồng, văn bản liên quan đến hoạt động của PGD. • Kiểm soát viên: Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của nhân viên trong PGD; thẩm định báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và các báo cáo khác trước khi trình lên cấp trên; kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung cơ cấu quản lý, điều hành công việc kinh doanh của PGD. • Cán bộ quan hệ khách hàng: Tìm kiếm và mở rộng quan hệ với khách hàng, bao gồm cả hoạt động huy động vốn và cho vay. Thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng vay vốn, tìm kiếm và duy trì nguồn vốn huy động. • Giao dịch viên: Thực hiện các giao dịch tiền mặt tại quầy cho khách hàng có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, nhận tiền gửi, làm thủ tục mở sổ tiết kiệm, mở tài khoản thẻ cho khách hàng,....

• Quản lý tín dụng: Quản lý tình trạng nợ của khách hàng (nợ quá hạn, nợ xấu,...).
Nhắc nhở khách hàng về thời hạn trả lãi vay và vốn gốc, kiểm soát tình hình sử dụng vốn của người vay (việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng quy trình,...) 2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh. Tình hình hoạt động kinh doanh của PGD sau hai năm hoạt động (2009-2010). Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Huy động vốn Nội tệ Ngoại tệ Sử dụng vốn Nội tệ Ngoại tệ Năm 2009 51.458 43.791 7.667 48.500 42.920 5.580 Năm 2010 62.345 54.627 7.718 55.910 49.890 6.020 Tăng trưởng 2005 / 2004 (%) 121,16 124,75 100,67 115,28 116,24 107,89

Trang 14

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
Nguồn: Phòng quan hệ khách hàng, PGD Nguyễn Chí Thanh, chi nhánh Hà Nội, ngân hàng TMCP Đại Á Như vậy, so với năm 2009, tổng số vốn huy động và số vốn sử dụng bằng VND và ngoại tệ (chủ yếu là USD) của PGD đều tăng. Trong đó, tốc độ tăng của vốn huy động là lớn hơn, khoảng 120%, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 150%. Sự tăng trưởng này chủ yếu là nhờ tăng trưởng trong huy động và sử dụng vốn bằng VND, tăng trưởng đối với ngoại tệ hầu như không đáng kể. Lợi nhuận đạt được Năm 2009 Chỉ tiêu Số dư (triệu đồng) Tổng doanh thu Thu từ lãi tín dụng Thu từ dịch vụ Tổng chi phí Chi phí lãi Chi phí cung cấp dịch vụ Lợi nhuận trước 6.058 4.241 1.817 4.950 4.020 930 Phần trăm (%) 100,00 69,57 30,44 100,00 81,21 18,79 Số dư (triệu đồng) 8.790 5.714 3.076 6.574 5.588 986 Năm 2010 Phần trăm (%) 100,00 65,01 34,99 100,00 85,00 15,00

1.108 1.830 thuế Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2009-2010, PGD Nguyễn Chí Thanh, chi nhánh Hà Nội, ngân hàng TMCP Đại Á. Trong năm 2010, tổng doanh thu, chi phí và lợi nhuận trước thuế đều gia tăng thể hiện một sự tăng trưởng về quy mô hoạt động của PGD Nguyễn Chí Thanh. Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so với doanh thu của PGD vào khoảng gần 20%, đây là mức khá cao so với mặt bằng chung của ngành. Doanh thu của PGD được đóng góp chủ yếu bằng nguồn thu từ lãi tín dụng, năm 2009 nguồn này chiếm tới 70%, sang năm 2010 tỷ lệ này giảm xuống còn 65%; nguồn

Trang 15

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
thu còn lại là từ phí dịch vụ như dịch vụ thanh toán quốc tế, thu từ chênh lệch tỷ giá, phí chuyển tiền,... Chi phí lãi chiếm phần lớn trong tổng chi phí của ngân hàng, 81% trong năm 2009 và 85% trong năm 2010, nguyên nhân của sự gia tăng tỷ trọng này phần lớn là vì mặt bằng lãi suất năm 2010 tăng đáng kể so với năm 2009 kết hợp với sự gia tăng của nguồn vốn huy động được của PGD; phần chi phí còn lại là từ chi phí phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng như chi phí mặt bằng, chi phí điện nước, chi phí nhân viên, ..... khoảng ít hơn 20% trong tổng chi phí. 2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN CHÍ THANH, NHTMCP ĐẠI Á. 2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động 2.2.1.1 Tốc độ tăng trưởng vốn huy động. Năm 2009 cũng là năm đầu tiên đi vào hoạt động, tổng nguồn vốn huy động được của PGD Nguyễn Chí Thanh là 51, 458 tỷ đồng. Sau một năm, số vốn này đã tăng lên 62,345 tỷ, tăng gần 11 tỷ tương đương với hơn 21%. Đây được xem là một thành công lớn đối với một PGD mới được thành lập.

2.2.1.2

Cơ cấu huy động vốn theo đối tượng huy động Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Tỷ trọng (%) 31.58 68.42 Năm 2010 Số dư 24.221 38.124 Tỷ trọng (%) 38.85 61.15

Số dư 16.250 35.208

Tiền gửi của các tổ chức kinh tê TIền gửi của dân cư Phát hành các

0 0 0 0 công cụ nợ Tổng 51.458 100 62.345 100 Nguồn: Phòng quan hệ khách hàng, PGD Nguyễn Chí Thanh,chi nhánh Hà Nội, ngân hàng Đại Á cung cấp Nguồn vốn của PGD Nguyễn Chí Thanh chủ yếu là từ hai đối tượng chính là các tổ chức kinh tế và khối dân cư. Cũng như các ngân hàng thương mại khác, nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số vốn huy động là từ khu dân cư, chiếm hơn 68% vào năm 2009 và 61% năm 2010. Tiếp theo là nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế, chiếm

Trang 16

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
khoảng 1/3 tổng vốn huy động của PGD. Phòng giao dịch hầu như không phát hành các giấy tờ có giá hay các công cụ nợ vì hạn chế về quy mô. Trong năm 2010, số dư tiền gửi của cả 2 khu vực huy động đều tăng chứng tỏ sự thành công trong việc tăng quy mô huy động tiền gửi của PGD. Tuy nhiên, có sự thay đổi trong cơ cấu. Tỷ trọng tiền gửi từ khu dân cư giảm khoảng 7%, ngược lại đóng góp của tiền gửi từ tổ chức kinh tế tăng khoảng 7%, PGD vẫn chưa thực hiện việc phát hành công cụ nợ. Như vậy có sự tăng trưởng trong quy mô vốn huy động và sự chuyển dịch nhỏ trong cơ cấu vốn theo đối tượng khách hàng huy động ở PGD Nguyễn Chí Thanh, chi nhánh Hà Nội của NHTMCP Đại Á. 2.2.1.3 Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Vốn không kỳ hạn Vốn ngắn hạn Vốn trung và Năm 2009 Tỷ trọng (%) 9,12 87.62 Năm 2010 Tỷ trọng (%) 9,35 88.44

Số dư 4.693 45.087

Số dư 5.829 55.138

1.678 3.26 1.378 2.21 dài hạn Tổng 51.458 100 62.345 100 Nguồn: Phòng quan hệ khách hàng, PGD Nguyễn Chí Thanh,chi nhánh Hà Nội, ngân hàng Đại Á cung cấp Theo kỳ hạn, nguồn vốn ở PGD Nguyễn Chí Thanh được chia thành vốn không kỳ hạn và vốn có kỳ hạn. Hình thức kỳ hạn ở PGD rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Các mức kỳ hạn gồm có 1, 2, 3 tuần, 1, 2, 3, 6, 9, 12, 13, 18, 24 và 34 tháng, lãi suất sẽ thay đổi theo kỳ hạn. Vốn không kỳ hạn bao gồm các tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức cá nhân. Do đặc thù của nguồn vốn này là rất không ổn đinh, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào nên đây là nguồn vốn có tính linh hoạt thấp đối với PGD. Nguồn vốn ngày chiếm một tỷ lệ tương đối thấp trong tổng nguồn vốn, khoảng hơn 9%. Vốn ngắn hạn bao gồm các nguồn vốn có kỳ hạn dưới 1 năm chiếm tỷ trọng

Trang 17

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
lớn nhất, khoảng gần 90%. Đây cũng là đặc điểm chung của các ngân hàng thương mại khác, nguồn vốn này cho phép PGD tập trung vào các khoản tín dụng ngắn hạn và một phần cho vay trung và dài hạn. Vốn trung và dài hạn là những nguồn vốn có kỳ hạn trên 1 năm, lượng vốn này rất ít, chỉ chiếm khoảng 2 đến 3 % ở PGD Nguyễn Chí Thanh, đây là nguồn vốn rất ổn định, có thể sử dụng linh hoạt cho nhiếu mục đích khác nhau và có thể sử dụng cho vay hoặc đầu tư dài hạn. Sau hai năm hoạt động, có một sự thay đổi nhẹ trong cơ cấu kỳ hạn vốn của PGD. Tỷ trọng vốn không kỳ hạn và ngắn hạn tăng nhẹ, khoảng 0,2% đối với vốn không kỳ hạn và 0.8% đối với vốn kỳ hạn ngắn. Trong khi đó, vốn trung và dài hạn giảm hơn 1%. Tuy thay đổi này không lớn nhưng cũng thể hiện khó khăn hiện nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và của PGD nói riêng trong vấn đề thu hút nguồn vốn trung và dài hạn để thực hiện các khoản tín dụng và đầu tư lâu dài hơn.

2.2.1.4

Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Tỷ trọng (%) 85,10 Năm 2010 Tỷ trọng (%) 87,62

Số dư 43.791

Số dư

Nội tệ Ngoại tệ quy đổi ra nội tệ Tổng

54.627

7.667

14,90

7.718

12,38

51.458

100

62.345

100

Nguồn: Phòng quan hệ khách hàng, PGD Nguyễn Chí Thanh,chi nhánh Hà Nội, ngân hàng Đại Á cung cấp Theo loại tiền, nguồn vốn huy động bao gồm nội tệ VND và ngoại tệ (chủ yếu là USD). PGD Nguyễn Chí Thanh huy động vốn chủ yếu là từ VND, nguồn này chiếm hơn 85% trong năm 2009 và gần 88% trong năm 2010. Tỷ trọng vốn nội tệ huy động tăng tương đương với vốn huy động bằng ngoại tệ giảm xuống, từ 14,9% năm 2009 còn 13,38% năm 2010, nguyên nhân là tổng nguồn vốn huy động tăng mạnh nhưng nguồn vốn ngoại tệ lại không tăng nhiều trong năm 2010.

Trang 18

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
2.3 Chi phí huy động vốn 2.3.1 Lãi suất huy động a/ Lãi suất huy động VND Thời gian vừa qua, cũng như các ngân hàng thương mại khác, để đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường tiền tệ, ngân hàng Đại Á đã tiến hành tăng lãi suất. Lãi suất huy động VND đã tăng từ mức dưới 10%/ năm vào đầu năm 2009 đến khoảng 11,5%/ năm vào cuối năm 2010. Hiện nay, lãi suất là gần 14% và PGD Nguyễn Chí Thanh đang áp dụng biểu phí lãi suất huy động như sau: Kỳ hạn Không kỳ hạn 01 tuần 02 tuần 03 tuần Kỳ hạn 1 tháng Kỳ hạn 2 tháng Kỳ hạn 3 tháng Kỳ hạn 6 tháng Kỳ hạn 9 tháng Kỳ hạn 12 tháng Kỳ hạn 13 tháng Kỳ hạn 18 tháng Kỳ hạn 24 tháng Kỳ hạn 36 tháng %/ tháng 0.300 1.167 1.167 1.167 1.167 1.167 1.167 1.125 1.125 1.167 1.167 1.000 1.000 1.000 %/ năm 3.600 14.000 14.000 14.000 14.000 14.000 14.000 13.500 13.500 14.000 14.000 12.000 12.000 12.000

Nguồn:

Website

chính

thức

của

ngân

hàng

Đại

Á

http://www.daiabank.com.vn/Default.aspx?ctl=&tab=&cid=119&pid=5#fragment-70 b/ Lãi suất huy động ngoại tệ USD Đầu năm 2009, lãi suất huy động USD của ngân hàng Đại Á vào khoảng 3%/ năm, đến cuối năm 2009, mặt bằng lãi suất USD tăng mạnh, ngân hàng Đại Á cũng điều chỉnh lãi suất tăng đến khoảng 3,6%/ năm. Tuy nhiên hiện nay, chấp hành quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam về trần lãi suất huy động USD là 2%/năm, PGD Nguyễn Chí Thanh đang áp dụng mức lãi suất huy động như sau:

Trang 19

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
Kỳ hạn Không kỳ hạn 01 tuần 02 tuần 03 tuần Kỳ hạn 1 tháng Kỳ hạn 2 tháng Kỳ hạn 3 tháng Kỳ hạn 6 tháng Kỳ hạn 9 tháng Kỳ hạn 12 tháng Kỳ hạn 13 tháng Kỳ hạn 18 tháng Kỳ hạn 24 tháng Kỳ hạn 36 tháng %/ tháng 0.042 0.083 0.083 0.083 0.167 0.167 0.167 0.167 0.167 0.167 0.167 0.167 0.125 0.125 %/ năm 0.500 1.000 1.000 1.000 2.000 2.000 2.000 2.000 2.000 2.000 2.000 2.000 1.500 1.500

Nguồn:

Website

chính

thức

của

ngân

hàng

TMCP

Đại

Á

http://www.daiabank.com.vn/Default.aspx?ctl=&tab=&cid=119&pid=5#fragment-71 2.3.2 Các chi phí khác Ngoài phần chi phí trả lãi, ngân hàng còn có những khoản chi phí huy khác như: lương nhân viên, trang bị máy đếm tiền, máy soi tiền, tiền thuê trụ sở, các chi phí hành chính khác....

Trang 20

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN CHÍ THANH, NHTMCP ĐẠI Á Qua nghiên cứu những chỉ tiêu cụ thể về công tác huy động vốn tại PGD Nguyễn Chí Thanh, ngân hàng TMCP Đại Á ta có thể đưa ra những nhận xét đánh giá sau: 3.1 Kết quả đạt được Tuy mới chỉ được thành lập và hoạt động trong hơn 2 năm nhưng PGD Nguyễn Chí Thanh, chi nhánh Hà Nội của ngân hàng TMCP Đại Á đã đạt được những kết quả đáng kể. - Tăng trưởng về quy mô nguồn vốn huy động trong năm 2010, tăng gần 11 tỷ đồng, tương đương hơn 21% so với năm 2009. - Hình thức huy động vốn của PGD cũng rất đa dạng, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu khách hàng. Phòng giao dịch đã thu hút được nhiều đối tượng khách hàng bằng các kỳ hạn gửi tiền phong phú (không kỳ hạn, tuần, tháng, năm,...), lãi suất linh hoạt nhưng vẫn trong phạm vi được phép của NHTW kêt hợp với các hình thức tặng quà, khuyến mãi để khuyến khích người gửi tiền. PGD đã thành công trong việc vừa thu hút được khách hàng mới mà vẫn đảm bảo yêu cầu hiệu quả trong kinh doanh để phát triển ổn định lâu dài. - PGD đã làm tốt công tác thu chi tiền mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo yêu cầu của các đơn vị kinh tế. Nhờ vậy, tỷ lệ vốn huy động từ các đơn vị kinh tế đã tăng từ 31.58% năm 2009 đến 38.85% trong năm 2010, tương đương khoảng gần 8 tỷ đồng 3.2 Hạn chế và nguyên nhân Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc huy động vốn, PGD Nguyễn Chí Thanh vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục: - Trong cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của PGD Nguyễn Chí Thanh, tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn còn khá thấp và có xu hướng giảm. Điều này có thể làm hạn chế khả năng cấp tín dụng và đầu tư vào các tài sản có dài hạn khác của PGD. - Nghiệp vụ phát hành thẻ thanh toán chưa được chú trọng gây khó khăn cho việc huy động nguồn tiền gửi không kỳ hạn với lãi suất thấp từ khách hàng.

Trang 21

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTMCP ĐẠI Á, PHÒNG GIAO DỊCH NGUYỄN CHÍ THANH, HÀ NỘI. 3.1 Định hướng huy động vốn - Trong những năm tới, PGD Nguyễn Chí Thanh cần đặc biệt quan tâm đẩy mạnh công tác nguồn vốn: cố gắng duy trì và tăng trưởng nguồn vốn hiện có, chủ động nghiên cứu thị trường để có phương án mới hợp lý. Tạo vốn thông qua các nghiệp vụ thanh toán là hình thức huy động vốn hiệu quả nhất, bởi không chỉ có chi phí trả lãi thấp mà còn mang lại nguồn thu dịch vụ đáng kể cho Ngân hàng. - Thực hiện chiến lược huy động vốn phải luôn đi đôi với chiến lược sử dụng vốn, nếu không sẽ gây áp lực lớn về chi phí và làm giảm hiệu quả hoạt động huy động vốn. - Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức gửi tiền với các mức lãi suất linh hoạt và hấp dẫn khách hàng để thu hút nguồn vốn từ nhiều thành phần kinh tế, nhiều đối tượng khách hàng. - Xây dựng hình ảnh đẹp của PGD trong lòng khách hàng để tạo dựng niềm tin và mối quan hệ lâu dài, tạo lợi thế cạnh tranh riêng có đối với PGD, các chi nhánh ngân hàng khác. 3.2 Giải pháp và đề xuất để nâng cao hiệu quả huy động vốn - Đối với nguồn tiền gửi không kỳ hạn: Có chính sách thích hợp khuyến khích khách hàng mở và sử dụng tài khoản tại PGD bằng cách:

• Giảm bớt các thủ tục phiền hà cho khách hàng để thu hút thêm nguồn vốn không
kỳ hạn trên tài khoản thanh toán.

• Tăng cường các hoạt động marketing về thẻ ngân hàng như phát hành miễn phí
thẻ thanh toán cho học sinh, sinh viên để tạo mối quan hệ mới với khách hàng tiềm năng, đồng thời quảng bá hình ảnh chó ngân hàng. • Mở rộng, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ thẻ. - Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng: Yếu tố con người luôn đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của hoạt động kinh doanh. Bởi vậy Phòng giao dịch cần chú trọng hơn nữa đến công tác cán bộ như:

• Cất nhắc các cán bộ có năng lực vào vị trí trọng yếu Trang 22

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com • Có kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nhân viên giỏi (đào tạo chuyên môn, kỹ năng
mềm, ngoại ngữ,...), có chế độ đãi ngộ thành tích chung để khuyến khích nhân viên, tăng hiệu quả công việc - Xây dựng văn hóa doanh nghiệp: Vấn đề văn hóa doanh nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản tác động nhiều đến kết quả kinh doanh nói chung và kết quả huy động vốn nói riêng của ngân hàng. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, thái độ của nhân viên ngân hàng lịch sự, đúng mực chính là xây dựng bộ mặt, uy tín của PGD đối với khách hàng, đặc biệt là đối với một PGD mới được thành lập như PGD Nguyễn Chí Thanh. Nó sẽ là tài sản vô hình, là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh, tạo niềm tin cho khách hàng đến gửi tiền, thúc đấy tăng trưởng nguồn vốn huy động. • Chế độ đãi ngộ công bằng, khen thưởng dựa trên hiệu quả công việc.

• Chú trọng các hoạt động đoàn thể nhằm tạo mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ,
nhân viên trong PGD và tạo không khí thoải mái sau giờ làm cho nhân viên.

Trang 23

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com

KẾT LUẬN
Nghiệp vụ huy động vốn luôn là một trong những nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất và tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Công tác nguồn vốn được thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao thì mới có thể làm gia tăng lợi nhuận và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững cho các ngân hàng. Bởi vậy, công tác này luôn nhận được sự đầu tư, chú trọng của phòng giao dịch Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội. Qua quá trình kiến tập năm tuần ở phòng giao dịch, tôi nhận thấy, đối với PGD Nguyễn Chí Thanh, thời gian thành lập và đi vào hoạt động hơn hai năm không phải là dài nhưng PGD đã đạt được những thành công đáng kể trong hoạt động huy động vốn. Mặc dù còn tồn tại một số khó khăn nhưng trong tương lai, công tác huy động của phòng giao dịch hứa hẹn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn nữa nhờ sự quan tâm đúng mực từ cấp trên cũng như nỗ lực của cán bộ nhân viên ngân hàng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 24

Email: luanvan84@gmail.com download luận văn tại luanvan.forumvi.com
1. Giáo trình Ngân hàng thương mại_ PGS. TS. Nguyễn Văn Tiến 2. Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng _ Học viện ngân hàng 3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của PGD Nguyễn Chí Thanh, NHTMCP Đại Á, chi nhánh Hà Nội (2009; 2010) 4. Website chính thức của NHTMCP Đại Á: http://www.daiabank.com.vn/ 5. Một số tài liệu khác

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1. NHTM: Ngân hàng thương mại 2. NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần 3. NHTW: Ngân hàng trung ương 4. NHNN: Ngân hàng nhà nước 5. PGD: Phòng giao dịch

Trang 25

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful