TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đã ước lượng mức chuyển tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam
theo mô hình tự hồi quy Vectơ VAR, với sự hỗ trợ của phần mềm Eview 5.0.
Kết quả thu được, mức chuyển tỷ giá vào lạm phát là 0,07 sau một khoảng
thời gian là 2 tháng kể từ thời điểm tỷ giá hối đoái thay đổi. Theo so sánh các
hệ số MCTG với một số quốc gia khác thì các hệ số mức chuyển của Việt
Nam ở mức trung bình. Cú sốc của tỷ giá vào lạm phát triệt tiêu hoàn toàn sau
một thời kỳ là 3 tháng. Nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng lạm phát cao ở
Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là do cung tiền mở rộng liên tục. Do
vậy, để đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát trước hết cần phải kiểm soát
cung tiền. Đồng thời, chính sách tỷ giá nên được nới lỏng với một biên độ dao
động lớn hơn, tạo điều kiện tự do hơn cho chính sách tiền tệ để thực hiện các
mục tiêu kinh tế vĩ mô khác.
2

MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................................. 4
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................................. 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................. 5
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG ................................................................................. 6
1.1 Cơ sở nghiên cứu ............................................................................................................ 6
1.2 Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................................... 8
1.3 Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................................ 9
1.4 Phƣơng pháp luận và số liệu nghiên cứu ..................................................................... 9
1.5 Cấu trúc nghiên cứu .................................................................................................... 10
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỨC CHUYỂN TỶ GIÁ VÀO LẠM
PHÁT .................................................................................................................................. 12
2.1 Các khái niệm MCTG và cơ chế chuyển dịch của những thay đổi TGHĐ vào lạm
phát ...................................................................................................................................... 12
2.1.1 Khái niệm ..................................................................................................... 12
2.1.2 Cơ chế chuyển dịch của những thay đổi TGHĐ vào lạm phát ............... 13
2.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến độ lớn MCTGLP .......................................................... 14
2.2.1 Nhân tố vi mô .............................................................................................. 14
2.2.2 Nhân tố vĩ mô .............................................................................................. 16
2.3 Kỹ thuật kinh tế lƣợng đo lƣờng MCTGLP .............................................................. 19
2.3.1 Hồi quy phƣơng trình đơn dạng chuẩn .................................................... 19
2.3.2 Mô hình tự hồi quy theo Véctơ .................................................................. 20
CHƢƠNG 3: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM .................................................... 22
3.1 Cơ chế và diễn biến tỷ giá ........................................................................................... 22
3.2 Tỷ giá thực RE ............................................................................................................. 30
3

3.3 Chính sách ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát ..................................................... 33
CHƢƠNG 4: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH ............................................................................ 36
4.1 Cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm ....................................................................... 36
4.1.1 Tỷ giá hối đoái - chỉ số giá tiêu dùng ........................................................ 36
4.1.2 Các biến khác .............................................................................................. 39
4.2 Số liệu nghiên cứu ........................................................................................................ 41
4.3 Mô hình thực nghiệm .................................................................................................. 50
CHƢƠNG 5: KẾT QUẢ MÔ HÌNH ................................................................................ 55
5.1 Kiểm định nghiệm đơn vị ............................................................................................ 55
5.2 Độ dài của trễ và tính ổn định của mô hình VAR ..................................................... 56
5.3 Các kết quả ƣớc lƣợng ................................................................................................. 57
5.3.1 Tác động của sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát .................................... 58
5.3.2 Phản ứng của CPI với các cú sốc khác ....................................................... 60
5.3.3 Phân tích phƣơng sai ................................................................................... 62
5.4 So sánh kết quả với các nƣớc khác ............................................................................. 63
CHƢƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH .................................. 65
6.1 Kết luận ......................................................................................................................... 65
6.2 Khuyến nghị chính sách .............................................................................................. 66
6.3 Những hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo ....................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 69
PHỤ LỤC 1: MÔ HÌNH VAR .......................................................................................... 73
PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ .............................................................. 75
PHỤ LỤC 3: TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH VAR ................................................... 76
PHỤ LỤC 4: KIỂM ĐỊNH DIAGNOSTIC CÁC PHƢƠNG TRÌNH TRONG MÔ
HÌNH VAR ......................................................................................................................... 77
4

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Kênh trực tiếp của mức chuyển tỷ giá ............................................................ 13
Hình 3.1: Tỷ giá danh nghĩa Việt Nam VND/USD giai đoạn 1986-2009 ...................... 22
Hình 3.2: Nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu/GDP ................................................................... 24
Hình 3.3: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam ..................................................... 25
Hình 3.4: Tỷ giá VND/USD năm 2008-2009 .................................................................... 28
Hình 3.5: Tỷ giá VND/USD năm 2009 ............................................................................. 29
Hình 3.6: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD 1996-2009 (2000=100) ............ 31
Hình 3.7: Lạm phát và tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD....................................... 34
Hình 4.1: Chỉ số giá dầu UK Brent (2005 =100) ............................................................. 42
Hình 4.2: Khoảng cách sản lƣợng và chỉ số CPI ............................................................. 43
Hình 4.3: Lạm phát ở Việt Nam ....................................................................................... 44
Hình 4.4: Cung tiền mở rộng ............................................................................................ 45
Hình 4.5: Tiền gửi ngoại tệ ................................................................................................ 46
Hình 4.6: Lãi suất Việt Nam đồng .................................................................................... 47
Hình 4.7: Lãi suất tiền gửi USD ở Việt Nam (%/năm) ................................................... 48
Hình 4.8: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD ............................................................ 49
Hình 5.1: Tác động của sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát ......................................... 58
Hình 5.2: Phản ứng của CPI với các cú sốc kinh tế khác ............................................... 60

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Chỉ số tỷ giá thực của các đồng tiền so với đô la Mỹ ..................................... 32
Bảng 4.1: Ma trận tam giác Cholesky .............................................................................. 53
Bảng 5.1: Xác định độ dài của trễ trong mô hình VAR ................................................. 56
Bảng 5.2: Hệ số mức chuyển ............................................................................................. 59
Bảng 5.3: Phân tích phƣơng sai của chỉ số giá tiêu dùng CPI ....................................... 62

5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADF Kiểm định nghiệm đơn vị
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
FCD Tiền gửi ngoại tệ
GSO Tổng cục thống kê Việt Nam
IFS Thống kê tài chính quốc tế
IMF Qũy tiền tệ quốc tế
IPI Chỉ số giá nhập khẩu
MCTG Mức chuyển tỷ giá
MCTGLP Mức chuyển của tỷ giá vào lạm phát
MCTGNK Mức chuyển của tỷ giá vào giá nhập khẩu
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất
PPI Chỉ số giá sản xuất
TGHĐ Tỷ giá hối đoái
TGHĐDN Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
TLLP Tỷ lệ lạm phát
VAR Mô hình tự hồi quy theo vectơ
VND Đồng Việt Nam
USD Đồng đô la Mỹ

6

CHƢƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Cơ sở nghiên cứu
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một biến số kinh tế quan trọng với hầu hết
các nền kinh tế mở cửa. Đặc biệt hơn khi mà quá trình khu vực hoá cũng như
toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ như hiện nay thì vai trò của
TGHĐ ngày càng lớn bởi đây là một trong những nhân tố kết nối các nền kinh
tế quốc gia. Cũng chính do đặc điểm kết nối này, TGHĐ là nguyên nhân
chính của nhiều cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và toàn cầu. Ví dụ,
nhiều cuộc khủng hoảng gần đây như Mexico năm 1994; Thái Lan, Indoneisa
và Hàn Quốc năm 1997; Nga và Brazil năm 1998; Argentina năm 2000 và
Thổ Nhĩ Kỳ năm 2000, 2001 ít nhiều liên quan đến khủng hoảng tỷ giá hối
đoái.
Trên thực tế, tỷ giá hối đoái có thể tác động đến nền kinh tế qua nhiều
kênh khác nhau như: cán cân thương mại xuất khẩu - nhập khẩu, ngân sách
quốc gia, … Một trong những tác động quan trọng trong số đó chính là ảnh
hưởng của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá nội địa, đặc
biệt là chỉ số giá tiêu dùng hay tỷ lệ lạm phát hay còn được gọi là mức
chuyển của tỷ giá vào lạm phát (MCTGLP). Tuy nhiên mức chuyển này ở
các nền kinh tế khác nhau thì không giống nhau và phụ thuộc vào đặc trưng
kinh tế của mỗi nền kinh tế. Ví dụ như, trường hợp của Hàn Quốc và
Indonesia trong cuộc khủng hoảng năm 1997, sự giảm giá danh nghĩa của
đồng won – Hàn Quốc dường như không ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ lạm phát
của quốc gia này, trong khi đó sự giảm giá danh nghĩa của đồng Rupiah đã
dẫn đến việc lạm phát tăng cao ở Indonesia.
7

Giả định các yếu tố khác không đổi và hệ số MCTGLP là x, nghĩa là 1%
tăng giá (hoặc giảm giá) của đồng nội tệ sẽ làm lạm phát giảm (hoặc tăng)
x%. Nếu x = 1 nghĩa là mức chuyển này là hoàn toàn. Mức chuyển càng cao
thì tỷ giá hối đoái càng trở thành một công cụ quan trọng để điều chỉnh tỷ lệ
lạm phát.
Xem xét nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, bên cạnh những
thành tựu đạt được trong tăng trưởng kinh tế với sự bùng nổ của thương mại
cũng như đầu tư quốc tế, sự tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào sân chơi
khu vực và toàn cầu như: Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO)… thì nền kinh tế hiện đang
phải đối mặt với một số vấn đề như: lạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại
ngày càng lớn, tỷ trọng nhập khẩu/GDP cao và áp lực do sự tăng lên của các
dòng đầu tư nước ngoài, tình trạng đô la hoá nền kinh tế cao… Chính những
vấn đề này một mặt góp phần tạo ra sức ép buộc TGHĐ dao động, cụ thể như
trong giai đoạn 2008-2009, mặt khác đặt ra một câu hỏi về tác động dẫn
truyền của tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở Việt Nam. Điều này càng trở nên
quan trọng đối với Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền
tệ bởi MCTGLP sẽ giúp NHNN hiểu rõ hơn về mức độ và thời điểm của bất
kỳ cú sốc tỷ giá nào đến sự thay đổi của lạm phát, từ đấy có thể đưa ra được
những dự báo cũng như những phản ứng chính xác và kịp thời để giữ lạm
phát trong khu vực mục tiêu. Cuối cùng, quy mô của MCTG có một hàm ý
quan trọng với hiệu ứng chuyển dịch tiêu dùng với cú sốc TGHĐ. Nói cách
khác, một mức chuyển thấp của TGHĐ sẽ không ảnh hưởng nhiều đến dòng
thương mại, mặc dù cầu có thể co giãn mạnh. Mặt khác, nếu giá phản ứng
chậm với những thay đổi trong TGHĐ và dòng thương mại phản ứng chậm
với những thay đổi giá tương đối, thì những sự điều chỉnh của cán cân thanh
toán chung sẽ bị hạn chế, và điều này sẽ tạo ra một mức độ nhất định của sự
8

đứt quãng tỷ giá. Do vậy, mức độ và thời gian của mức chuyển tỷ giá tổng
hợp, cũng như các nhân tố của nó có một vai trò hết sức quan trọng đối với
nền kinh tế.
Đã có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa TGHĐ và TLLP cũng như
những nhận định đánh giá về chính sách tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian
qua nhưng chủ yếu dừng lại ở việc phân tích định tính đưa ra những đánh giá
dựa trên các số liệu thống kê mà thiếu các mô hình thực nghiệm đo lường
MCTG để có thể xác định gốc rễ của vấn đề và xây dựng cơ sở vững chắc cho
các khuyến nghị chính sách. Một số nghiên cứu định lượng ảnh hưởng của
TGHĐ vào lạm phát mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu được là Võ Văn Minh
(2009), Võ Trí Thành (2000). Tuy nhiên trong các nghiên cứu này xuất hiện
một vài mâu thuẫn với lý thuyết kinh tế, ví dụ như sự gia tăng của tổng cầu
không làm ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam, đồng thời biên sai số rất
rộng và thiếu một vài kiểm định cần thiết trong mô hình, nên làm giảm độ tin
cậy cũng như tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Do vậy việc nghiên cứu
quy mô cũng như thời điểm của mức chuyển tỷ giá vào lạm phát trở nên hết
sức cần thiết.
1.2 Phạm vi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát là một chủ đề kinh tế rộng
và có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Với đề tài này, nhóm nghiên cứu
sẽ tiến hành đo lường quy mô và xác định thời điểm của mức chuyển của tỷ
giá hối đoái
1
, cụ thể hơn chính là sự giảm giá nội tệ, vào lạm phát ở Việt
Nam. Mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ VAR được sử dụng để có thể
phân tích sâu hơn phản ứng của CPI với những thay đổi của TGHĐ cũng như

1
Nghiên cứu sử dụng khái niệm tỷ giá hối đoái là số đồng nội tệ để đối lấy một đồng ngoại tệ, hay nội tệ/
ngoại tệ.
9

các biến kinh tế vĩ mô khác. Từ đó đưa ra những nhận định và một số kiến
nghị chính sách liên quan.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức chuyển của tỷ giá vào lạm phát
trong trường hợp cụ thể là Việt Nam. Do vậy, câu hỏi nghiên cứu trọng tâm
đặt ra là:
“Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa ảnh hƣởng nhƣ thế nào
đến tỷ lệ lạm phát ?”
Để trả lời câu hỏi trọng tâm này, nghiên cứu đặt ra một số vấn đề liên
quan sau:
+ Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức chuyển tỷ giá vào CPI?
+ Giả định các yếu tố khác không đổi, tỷ giá thay đổi (mất giá) 1% thì lạm
phát thay đổi bao nhiêu phần trăm?
+ Tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những thay đổi của
lạm phát?
+ Sử dụng mô hình gì để đạt những kết quả trên?
+ Liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt được kiềm chế
lạm phát ở Việt Nam? Chính sách tỷ giá hối đoái cần được điều chỉnh
như thế nào?
+ Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất?
1.4 Phƣơng pháp luận và số liệu nghiên cứu
Có nhiều nghiên cứu về mức chuyển của tỷ giá vào lạm phát đã được
thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau. Nhìn chung các nghiên cứu này đi theo
hai hướng tiếp cận chính là tiếp cận vi mô và tiếp cận vĩ mô. Thứ nhất, các
10

nhà kinh tế học như Dornbursh (1987), Feinberg (1986), và Krugman (1986)
đã sử dụng cách tiếp cận vi mô bằng các phân tích hành vi của các hãng ảnh
hưởng như thế nào đến mức độ của MCTGLP. Trong khi đó, Taylor (2000),
McCarthy (2000), Takatoshi Ito and Kiyotaka Sato (2006) đã sử dụng các
biến kinh tế vĩ mô để xác định mức độ và thời điểm của MCTGLP trong một
nền kinh tế hoặc một nhóm các nền kinh tế. Tuy nhiên vì những hạn chế về số
liệu của hãng cũng như chi phí và thời gian nên tiếp cận theo hướng vi mô
không phù hợp với nhóm nghiên cứu sinh viên. Do vậy nghiên cứu này được
thực hiện theo cách tiếp cận vĩ mô một phần do sự sẵn có của số liệu các biến
vĩ mô. Nghiên cứu cũng đã sử dụng mô hình phân tích VAR với sự hỗ trợ của
phần mềm Eview 5.0 để có thể phân tích sâu hơn phản ứng của CPI với
những thay đổi của TGHĐ cũng như các biến kinh tế vĩ mô khác.
Số liệu hàng tháng từ tháng 1:2005 đến tháng 3:2009 đã được sử dụng
trong nghiên cứu bao gồm giá dầu, tỷ giá hối đoái doanh nghĩa (VND/USD),
khoảng cách sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền Việt Nam đồng, tiền
gửi ngoại tệ trong ngân hàng, lãi suất tiền gửi Việt Nam đồng kỳ hạn 3 tháng,
lãi suất tiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng. Tất cả các số liệu, ngoại trừ khoảng
cách sản lượng
2
, được lấy từ Tổng cục thống kê, Thống kê tài chính quốc tế
của Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV).
1.5 Cấu trúc nghiên cứu
Nghiên cứu gồm có bốn chương. Chương 1 đưa ra những giới thiệu
chung về đề tài nghiên cứu gồm có cơ sở, phạm vi, câu hỏi cũng như phương
pháp nghiên cứu. Những nội dung này tạo cho đề tài một khung định hướng
cần thiết cho các chương sau.

2
Khoảng cách sản lượng được tính bởi tác giả theo phương pháp Hodrick-Prescott.
11

Chương 2 sẽ tổng quan về lý thuyết cũng như các nghiên cứu liên quan
đến MCTGLP, trong đó trình bày về một số kỹ thuật thường được sử dụng để
ước lượng MCTG.
Tiếp đến, chương 3 phân tích cơ chế và chính sách tỷ giá của Việt Nam
trong thời gian nghiên cứu. Mục đích của chương 3 sẽ hệ thống hoá và đưa ra
những nhận định cũng như phân tích cơ sở, làm nền tảng cho việc xử lý mô
hình, gắn lý thuyết cũng như thực tế vào việc xử lý mô hình, tăng tính phù
hợp của kết quả trong điều kiện của Việt Nam.
Tiếp đến, chương 4 đề cập phương pháp nghiên cứu, lựa chọn mô hình,
đồng thời giải thích các biến trong mô hình.
Chương 5 trình bày kết quả đo lường ảnh hưởng của cú sốc TGHĐ đến
lạm phát bao gồm các phân tích nguyên nhân, độ lớn, thời gian của MCTGLP
và các kết quả kiểm định.
Chương cuối của nghiên cứu tổng kết các vấn đề được trình bày gồm có
những phát hiện chính của nghiên cứu và một số gợi ý chính sách, đồng thời
chỉ ra những hạn chế còn gặp phải và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo.
12

CHƢƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỨC CHUYỂN TỶ GIÁ VÀO LẠM
PHÁT
“Mục tiêu của chương này là tổng quan về lý thuyết MCTGLP, trong đó
các khái niệm và các kênh tác động của những cú sốc tỷ giá lên lạm phát
được trình bày phần 2.1; phần 2.2 phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến độ
lớn MCTGLP và phần cuối trong chương này sẽ giới thiệu hai phương pháp
thực nghiệm thường được sử dụng để đo lường MCTGLP và liên hệ đến kỹ
thuật mà nghiên cứu sử dụng trong đề tài”.

2.1 Các khái niệm MCTG và cơ chế chuyển dịch của những thay đổi
TGHĐ vào lạm phát.
2.1.1 Khái niệm
Theo Olivei (2002), mức chuyển tỷ giá là phần trăm thay đổi trong giá
nhập khẩu tính theo nội tệ do 1% thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Tuy nhiên các nghiên cứu (như Lian (2006), Nkunde Mwase (2006)) thường
sử dụng khái niệm mở rộng của MCTG để phản ánh những thay đổi của
những mức giá nội địa (không chỉ chỉ số giá nhập khẩu mà cả chỉ số giá sản
xuất và giá tiêu dùng) do 1% thay đổi của TGHĐDN.
Để tạo sự thống nhất cho nghiên cứu, nhóm tác giả thống nhất sẽ sử
dụng khái niệm:
Mức chuyển tỷ giá vào lạm phát (MCTGLP) hàm ý phần trăm thay đổi
của chỉ số giá tiêu dùng hay tỷ lệ lạm phát khi TGHĐDN thay đổi 1%. Đây sẽ
là trọng tâm nghiên cứu của đề tài. Thuật ngữ “mức chuyển tỷ giá” sẽ đề cập
đến cú sốc tỷ giá đến các mức giá nội địa nói chung.
13

Ngoài ra, nghiên cứu sẽ sử dụng thêm hai khái niệm sau:
+ Mức chuyển tỷ giá vào giá nhập khẩu (MCTGNK) hàm ý phần trăm thay
đổi của chỉ số giá nhập khẩu khi TGHĐDN thay đổi 1%.
+ Mức chuyển tỷ giá vào giá sản xuất (MCTGSX) hàm ý phần trăm thay
đổi của chỉ số giá sản xuất khi TGHĐDN thay đổi 1%.
2.1.2 Cơ chế chuyển dịch của những thay đổi TGHĐ vào lạm phát
Theo nghiên cứu của Nicoleta (2007), những thay đổi của TGHĐ sẽ ảnh
hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua hai kênh cơ bản là: trực tiếp và gián tiếp.
a. Kênh trực tiếp: Để đơn giản hoá phân tích, không mất tính tổng quát, ta
có thể xem cú sốc này chính là: sự mất giá đồng nội tệ. Điều này sẽ khiến
những hàng hoá và nguyên liệu được nhập khẩu trở nên đắt hơn. Khi giá các
nguyên liệu nhập khẩu tăng, chi phí sản xuất sẽ tăng và tăng giá tiêu dùng.
Giá hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu tăng sẽ phản ánh ngay vào sự tăng lên của
chỉ số giá tiêu dùng. (Hình 2.1).
Hình 2.1: Kênh trực tiếp của mức chuyển tỷ giá







Nguồn: Nicoleta (2007)
b. Kênh gián tiếp: Khi đồng nội tệ giảm giá, hàng nội địa sẽ trở nên rẻ hơn
so với hàng quốc tế khiến cầu hàng nội địa tăng dẫn đến giá tăng theo cơ chế
Hàng hoá tiêu dùng
cuối cùng nhập khẩu
(Chỉ số giá tiêu dùng
– CPI)
Hàng hoá nhập
khẩu (Chỉ số
giá nước ngoài
– P*)
Hàng hoá nhập
khẩu (Chỉ số giá
nhập khẩu – P)
Nguyên vật liệu
sản xuất (Chỉ số
giá sản xuất –
PPI)
Hàng tiêu dùng
cuối cùng (Chỉ
số giá tiêu dùng
– CPI)
1.
4.
3. 2.
14

cung - cầu thị trường hoặc dẫn đến gia tăng sản xuất, tăng cầu lao động, tiếp
đến là tăng lương và tăng tổng cầu, kết quả là tỷ lệ lạm phát gia tăng. Tuy
nhiên, tác động này chủ yếu là trong dài hạn do giá thường cứng nhắc trong
ngắn hạn. Một kênh gián tiếp quan trọng khác trong ngắn hạn cũng như dài
hạn là thông qua tỷ lệ đô la hoá nền kinh tế, tức là tình trạng người dân sở hữu
các tài sản tính bằng ngoại tệ. Giả định TGHĐ tăng, tức là nội tệ mất giá và
ngoại tệ tăng giá, người dân có xu hướng chuyển sang nắm giữ các tài sản
bằng ngoại tệ, đẩy giá của các tài sản tính bằng ngoại tệ tăng, thông thường là
bất động sản và các mặt hàng xa xỉ, và mặt bằng giá lên hay CPI tăng.
2.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến độ lớn MCTGLP
Trong phần này, nghiên cứu sẽ lần lượt xem xét các nhân tố ảnh hưởng
đến mức chuyển tỷ giá cả ở góc độ vi mô lẫn vĩ mô. Các nhân tố này trước hết
sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu thông qua MCTGNK, tiếp đến sẽ ảnh
hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng theo đúng chuỗi phân phối như được trình bày
ở phần 2.1.2.
2.2.1 Nhân tố vi mô
Xét ở phƣơng diện vi mô, những nhân tố chính ảnh hưởng đến MCTG
là: phản ứng giá đôn
3
, mức doanh lợi theo quy mô trong sản xuất và độ co
giãn của cầu các hàng hóa nhập khẩu theo giá. (Lian, 2006).
(1) Giá đôn là một khái niệm chỉ sức mạnh của một doanh nghiệp trong việc
định giá sản phẩm của mình. Đặc biệt, trong thị trường độc quyền thuần tuý
nơi một doanh nghiệp nước ngoài có khả năng giữ nguyên giá đôn thì những
dao động của tỷ giá sẽ được chuyển hoàn toàn vào giá nhập khẩu. Tuy nhiên,
trên thực tế lại không như vậy. Thông thường, giá đôn sẽ điều chỉnh để phản

3
Giá đôn = mark-up = tỷ lệ giữa giá bán và chi phí sản xuất biên.
15

ứng lại với những thay đổi của tỷ giá để giữ mức giá trong các thị trường xuất
khẩu không đổi mà chúng ta vẫn thường gọi là “định giá theo thị trường” do
các doanh nghiệp nước ngoài muốn giữ thị phần nên họ phải chấp nhận những
thay đổi đáng kể trong lợi nhuận biên khi tỷ giá thay đổi. Vì vậy, mức chuyển
của tỷ giá sẽ ít có tác động. Sự phản ứng giá đôn thường được hiểu như là một
dấu hiệu của những thay đổi trong điều kiện cạnh tranh mà các nhà xuất khẩu
nước ngoài đang phải đối mặt ở thị trường nhập khẩu. Một vài nghiên cứu
như Dornbusch (1987), Hooper and Mann (1989), đã nhận thấy rằng sự điều
chỉnh của giá đôn trước những dao động của tỷ giá phụ thuộc vào mức độ
đồng nhất và khả năng thay thế của sản phẩm, thị phần tương đối của các
doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, mức độ tập trung của thị trường và
quy mô có thể của phân biệt giá. Một kết quả chung mà các nghiên cứu này
có được là các sản phẩm càng khác biệt (hay ít có khả năng thay thế) trong
một ngành công nghiệp, các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài có thị phần
lớn hơn so với các nhà sản xuất trong nước, mức độ phân biệt đối xử giá cao
hơn hoặc là mức độ thị trường tập trung lớn hơn sẽ dẫn tới khả năng duy trì
giá đôn lâu dài, và do vậy mức chuyển tỷ giá sẽ cao hơn.
(2) Nhân tố vi mô thứ hai ảnh hưởng tới mức chuyển tỷ giá là mức doanh lợi
theo quy mô của doanh nghiệp. Theo Olivei (2002), nếu một doanh nghiệp
nước ngoài định giá cho một hàng hoá xuất khẩu sang thị trường khác tại một
mức giá đôn không đổi so với chi phí biên (với giá và chi phí biên được tính
bằng tiền nội địa), thì mức chuyển hoàn toàn sẽ xảy ra khi mà doanh lợi
không đổi theo quy mô. Trong trường hợp này, giá của đồng nội địa tăng m
phần trăm (m%) sẽ làm chi phí biên của doanh nghiệp nước ngoài được tính
theo đồng tiền nội địa giảm m%. Ngược lại, khi doanh lợi của doanh nghiệp
giảm theo quy mô thì mức chuyển sẽ ít hơn so với mức ở trên. Khi đồng tiền
nội địa tăng giá, cầu nội địa về hàng hoá nhập khẩu tăng, tạo áp lực gia tăng
16

sản xuất và dẫn đến sự tăng lên của chi phí biên của doanh nghiệp nước
ngoài. Vì vậy, chi phí biên giảm ít hơn m% để phản ứng lại m% đồng tiền nội
địa tăng giá, tạo ra mức chuyển không hoàn toàn. Trong một nghiên cứu
tương tự, Yang (1997) cũng cho rằng mức chuyển tỷ giá tỷ lệ nghịch so với
độ co giãn của chi phí biên/sản lượng.
(3) Tương tự như phản ứng của giá đôn và mức doanh lợi theo quy mô, độ
co giãn của cầu các hàng hoá nhập khẩu cũng ảnh hưởng tới mức chuyển tỷ
giá. Khi tỷ giá thay đổi, mức giá của doanh nghiệp xuất khẩu sẽ thay đổi phụ
thuộc vào độ cong của cầu co giãn. Nếu cầu càng co giãn khi giá tăng lên,
doanh nghiệp sẽ có lợi khi hạn chế được mức chuyển của cú sốc tỷ giá vào giá
mua bán bằng cách giữ nguyên giá hoặc chỉ thay đổi rất ít (Yang, 1997).
2.2.2 Nhân tố vĩ mô
Xét đến các nhân tố vĩ mô, một số nghiên cứu như Mann (1986) và
Taylor (2002) đã nhận dạng một vài nhân tố ảnh hưởng tới MCTG theo mức
độ vĩ mô. Đó là: quy mô của một quốc gia, độ mở của nền kinh tế, sự dai
dẳng và bất ổn định của cú sốc tỷ giá, tính không ổn định của tổng cầu, môi
trường lạm phát và môi trường chính sách tiền tệ.
(1) Theo McCarthy (2000), trong một nước lớn, hiệu ứng lạm phát của việc
giảm giá tiền tệ lên mức giá trong nước bị trung hoà do giá thế giới giảm (do
cầu thế giới giảm) nên mức chuyển giảm. Với nước nhỏ, giảm giá tiền tệ sẽ
không có ảnh hưởng tới giá thế giới, và MCTG có thể là hoàn toàn.
(2) Độ mở của nền kinh tế có thể được đại diện thông qua tỷ lệ sản phẩm
trao đổi thương mại quốc tế (hoặc là tỷ trọng nhập khẩu) trong tổng sản xuất.
Thông thường một nước có độ mở càng cao (hay có tỷ trọng nhập khẩu càng
cao trong tổng sản xuất) thì mức chuyển tỷ giá càng lớn.
17

(3) Theo nguyên tắc định giá theo thị trường, Mann (1986) cho rằng tính bất
định của cú sốc tỷ giá có mối quan hệ tỷ lệ nghịch so với MCTG. Việc điều
chỉnh các mức giá đòi hỏi những chi phí nhất định mà điển hình là chi phí
thực đơn và thay đổi chiến lược quảng cáo. Do vậy, nếu các nhà xuất khẩu
nhận thấy rằng cú sốc này chỉ là nhất thời, họ sẽ hạn chế thay đổi giá sản
phẩm. Thay vào đó, họ sẽ thay đổi giá đôn và chuyển sang hướng “chờ đợi và
quan sát”, vì vậy mức chuyển sẽ giảm. Mặt khác, nếu các doanh nghiệp cho
rằng cú sốc của tỷ giá là dai dẳng, họ sẽ thực hiện chiến lược thay đổi giá thay
vì điều chỉnh lợi nhuận biên. Do vậy, mức chuyển của tỷ giá sẽ lớn hơn nhiều.
(4) Một biến kinh tế khác theo Mann (1986) là tính không chắc chắn của
tổng cầu. Các nhà xuất khẩu sẽ thay đổi lợi nhuận biên khi tổng cầu dịch
chuyển song song với sự thay đổi của tỷ giá trong môi trường cạnh tranh
không hoàn hảo, vì vậy giảm mức chuyển. Do vậy, mức chuyển sẽ yếu trong
những nước mà mức tổng cầu là khá nhạy cảm.
(5) Ngoài ra, theo Taylor (2000), tồn tại một mối quan hệ giữa mức chuyển
tỷ giá và môi trường lạm phát của một quốc gia. Theo Taylor, trong một môi
trường lạm phát cao và dai dẳng, thường tạo ra kỳ vọng lạm phát cao do vậy
một cú sốc tỷ giá sẽ khiến các doanh nghiệp nước ngoài thay đổi giá xuất
khẩu để giữ mức lợi nhuận biên, tạo ra một mức chuyển tỷ giá lớn vào nền
kinh tế. Tuy nhiên, ngược lại trong một môi trường lạm phát thấp và ổn định,
các doanh nghiệp nước ngoài nhận thức đây chỉ là thay đổi nhất thời và kỳ
vọng lạm phát thấp nên họ sẽ hạn chế thay đổi giá bán và chấp nhận thay đổi
lợi nhuận biên, khiến mức chuyển của tỷ giá sẽ thấp ở những quốc gia này.
(6) Tương tự môi trường lạm phát, Taylor (2000) cũng cho rằng sự ổn định
tương đối của chính sách tiền tệ có những ảnh hưởng nhất định đến mức
chuyển tỷ giá. Lập luận này được củng cố bởi Deverux, Engel và Stogaard
18

(2004). Họ đã phát triển mô hình kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế mở trong
đó mức chuyển tỷ giá là biến nội sinh. Kết quả mô hình cho thấy, các quốc
gia có tăng trưởng tiền tệ càng ít biến động thì mức chuyển tỷ giá càng thấp
và ngược lại. Điều này có thể được giải thích bởi những biến động không ổn
định dai dẳng trong cung tiền sẽ tạo ra sự không ổn định dai dẳng trong mức
giá. Do vậy, một sự thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ khiến doanh nghiệp nước
ngoài đưa ra những quyết định thay đổi giá, điều này phản ánh một mức
chuyển cao của tỷ giá vào nền kinh tế.
Ngoài 6 nhân tố trên, theo nhóm nghiên cứu, tỷ lệ đô la hoá nội địa cũng
là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến độ lớn của tỷ giá. Một
nền kinh tế mà tỷ lệ đô la hoá càng cao thì mức chuyển càng lớn và ngược lại.
Bên cạnh việc phân tích lý thuyết tổng quan về mức chuyển tỷ giá, một
loạt nghiên cứu khác đã xem xét vấn đề này theo các giai đoạn khác nhau của
chuỗi phân phối. Đây chính là cơ chế ảnh hưởng trực tiếp từ cú sốc tỷ giá đến
lạm phát được trình bày ở phần 2.1.2. Tuy nhiên các mức chuyển tỷ giá khác
nhau khi phân tích theo chuỗi phân phối, phụ thuộc vào tỷ lệ của mức chuyển
đến giá nhập khẩu, phần trăm của nhập khẩu trong cấu phần tính PPI và CPI,
và phản ứng của giá hàng hoá sản xuất trong nước khi tỷ giá thay đổi.
Giả sử tại một thời điểm mà giá hàng hoá sản xuất trong nước không
phản ứng lại với những thay đổi của tỷ giá, ta nhận thấy độ lớn của mức
chuyển tỷ giá giảm dần khi đi từ IPI tới PPI và CPI. Lian (2006) đã giải thích
điều này dựa trên một số lý do sau. Thứ nhất, phần trăm hàng hoá nhập khẩu
bị ảnh hưởng bởi cú sốc tỷ giá giảm theo chuỗi phân phối, tạo ra sự giảm dần
trong mức chuyển của tỷ giá theo độ dài của chuỗi phân phối (Clark (1999).
Thứ hai, theo Bacchetta và Van Wincoop (2002), sự khác nhau trong chiến
lược giá tối ưu của các nhà bán buôn nước ngoài và các nhà bán lẻ trong nước
19

lý giải tại sao mức chuyển tới PPI và CPI thấp hơn tỷ trọng hàng hoá nhập
khẩu trong chỉ số ngay cả khi mức chuyển tỷ giá đến giá nhập khẩu là hoàn
toàn, dẫn đến mức chuyển thấp của PPI và CPI. Thứ ba, do mức chuyển
không hoàn toàn tại các giai đoạn riêng lẻ nên sự tích lũy giữa các giai đoạn
khác nhau cũng hàm ý một sự giảm trong mức chuyển dọc theo chuỗi phân
phối.
Liên quan đến tốc độ điều chỉnh, sự cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn
có thể hạn chế những ảnh hưởng của mức chuyển tỷ giá vào các mức giá
trong nền kinh tế, do vậy giảm tốc độ điều chỉnh giá dọc theo chuỗi phân
phối.
2.3 Kỹ thuật kinh tế lƣợng đo lƣờng MCTGLP
Phần 2.3 này sẽ đưa ra những đánh giá của nhóm nghiên cứu về 2 kỹ
thuật chính thường được sử dụng trong các nghiên cứu đo lường MCTGLP
trước đây và liên hệ đến mô hình mà nhóm nghiên cứu sử dụng để phân tích
MCTGLP ở Việt Nam.
2.3.1 Hồi quy phƣơng trình đơn dạng chuẩn
Nhiều nhà nghiên cứu

(Ví dụ như Olivei (2002); Campa và Goldberg
(2005); Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005); và Otani, Shiratsuka
và Shirota (2005)) đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để đo
lường mức chuyển, trong đó các độ trễ được phân bố đa thức để thu được
phản ứng cú sốc của các hàng hóa được giao dịch với những thay đổi của
TGHĐ. Tuy nhiên, các nghiên cứu lại không quan tâm tới đặc tính chuỗi thời
gian của số liệu. Nhiều nghiên cứu cho thấy một số lượng lớn các chuỗi biến
vĩ mô và giá tài sản chẳng hạn như TGHĐ là những chuỗi không dừng
4
. Vì

4
Chuỗi dừng là chuỗi có kỳ vọng, phương sai và hiệp phương sai không đổi theo thời gian.
20

vậy, giả định đo lường OLS bị xâm phạm, có khả năng gây ra vấn đề hồi quy
giả, dẫn đến những sai lầm đáng kể trong kết quả ước lượng cũng như dự báo.
Đo lường MCTGLP từ mô hình phương trình hồi quy đơn thường giả định
rằng không có sự điều chỉnh nội sinh trong các giá khi TGHĐ thay đổi. Cụ
thể hơn, quan hệ mức chuyển trong loại mô hình này được cho rằng vận động
theo chiều từ TGHĐ đến các biến vĩ mô trong nước. Tuy nhiên tác động
ngược lại từ sự thay đổi của các giá nội địa có thể không được phân tích. Kết
quả là, ước lượng bị ảnh hưởng bởi những vấn đề không thống nhất do sự xác
định tính nội sinh của TGHĐ và giá cả.
2.3.2 Mô hình tự hồi quy theo Véctơ
McCarthy (2000) là người tiên phong trong việc sử dụng mô hình VAR
kết hợp chặt chẽ với một chuỗi phân phối đệ quy của giá. So với những
phương pháp dựa trên mô hình phương trình đơn thì việc ứng dụng mô hình
VAR sai phân có một vài lợi thế gồm có: thứ nhất, nó cho phép chúng ta khắc
phục các giả định vốn có trong mô hình phương trình đơn giản. Thứ hai, như
được đề xuất bởi mô hình tiền tệ chuẩn, một sự tăng trong các mức giá nội địa
có khả năng làm TGHĐ giảm, nên mô hình hợp lý cần phải phân tích TGHĐ
và các mức giá đều là những biến nội sinh. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này
trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi khi mà các biến vĩ mô có ảnh hưởng nhất
định đến TGHĐ. Những đặc tính của mô hình VAR cho phép chúng ta xử lý
vấn đề này. Ngoài ra, chúng ta không chỉ xác định mức chuyển trong một
khoảng thời gian đặc biệt mà cả những thay đổi của nó theo thời gian. Vì vậy,
đây là một phép đo thuận tiện về cả mức độ lẫn tốc độ của các tham số của
mức chuyển. Một số nghiên cứu tiêu biểu đã sử dụng mô hình VAR là
McCarthy (2000), Hahn (2003) và Faruqee (2006) đã sử dụng tiếp cận VAR
để đo mức chuyển tỷ giá trong các quốc gia phát triển, đặc biệt là khu vực
châu Âu. Ito và Sato (2006) cũng đã ứng dụng mô hình VAR để phân tích
21

mức chuyển tỷ giá vào các nước Đông Á. Trong khi đó, Belaish (2003) đã sử
dụng kỹ thuật VAR cho Brazil và Leigh và Rossi (2002) tính toán MCTG cho
Thổ Nhĩ Kỳ.
Chính những thuận lợi nói trên cũng như khả năng ước lượng hợp lý cao
của mô hình VAR: bao gồm phản ứng cú sốc và phân tích phương sai, nên
nhóm nghiên cứu đã quyết định sử dụng mô hình VAR trong việc nghiên cứu
MCTGLP ở Việt Nam, và quy trình cũng như kết quả ước lượng được thể
hiện trong chương tiếp theo.
Trong chương 2, nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa lý thuyết liên quan
đến mức chuyển tỷ giá cũng như đưa ra lý do lựa chọn phương pháp nghiên
cứu theo mô hình VAR. Cụ thể hơn, trong chương 4, nhóm nghiên cứu sẽ
lượng hóa các yếu tố đề cập trên gồm có: Tổng cầu, Lạm phát, Cung và cầu
tiền tệ, mức đô la hóa ở Việt Nam và rút ra những kết quả và phân tích đối
với nền kinh tế Việt Nam. Tiếp theo, chương 3 sẽ cung cấp những phân tích
cơ bản về chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua.

22

CHƢƠNG 3
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM

3.1 Cơ chế và diễn biến tỷ giá
Trước 1989, Việt Nam đã áp dụng một hệ thống tỷ giá cố định và phức
tạp với hai tỷ giá chính thức đối với các hoạt động ngoại thương và các hoạt
động nội thương (Tỷ giá nội bộ). Trong đó, tỷ giá nội bộ được áp dụng cho
những giao dịch giữa các doanh nghiệp trong nước và cũng được sử dụng để
tính các khoản trợ cấp nước ngoài chủ yếu đến từ Hội đồng tương trợ Kinh tế
và Liên bang Xô viết. Do có một sự chênh lệnh lớn giữa tỷ giá chính thức của
nhà nước và tỷ giá thị trường tự do nên trong năm 1988, Ngân hàng nhà nước
Việt Nam đã có những điều chỉnh mạnh mẽ trong tỷ giá, tăng từ
225VND/USD đến 900VND/USD (gần 300%) cho các giao dịch thương mại
và từ 368VND/USD đến 3.500VND/USD (gần 850%) cho các giao dịch phi
thương mại. Trong tháng 3 năm 1989, hai tỷ giá này được thống nhất và mức
tỷ giá được xác lập là 4.500VND/USD. (Võ Trí Thành, 2000).
Hình 3.1: Tỷ giá danh nghĩa Việt Nam VND/USD giai đoạn 1986-2009

Nguồn: IFS
23

Trong giai đoạn 1989-1990, NHNN đã áp dụng cơ chế neo tỷ giá với
biên độ được điều chỉnh, trong đó tỷ giá được NHNN điều chỉnh dựa trên các
tín hiệu lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, và tỷ giá thị trường tự do. Các
ngân hàng thương mại được phép thiết lập tỷ giá giao dịch trong biên độ +/-
5% và việc sử dụng ngoại tệ được kiểm soát chặt chẽ. Mặc dù tỷ giá chính
thức được công bố là xác định dựa trên cung cầu ngoại tệ nhưng trên thực tế
tỷ giá chính thức luôn thấp hơn tỷ giá thị trường tự do. Do vậy, để giải quyết
tình trạng tỷ giá chính thức không phản ánh đúng các tương tác kinh tế và sự
tồn tại của “chợ đen” ngoại tệ, thị trường ngoại tệ chính thức đã được thành
lập vào năm 1991 với hai sàn giao dịch tại Hà Nội và Hồ Chí Minh. Dựa trên
các tỷ giá đấu thầu tại hai sàn, NHNN đặt ra mức tỷ giá giao dịch chính thức,
đồng thời, NHNN can thiệp mạnh vào giao dịch trên hai sàn. Nhằm hạn chế
biến động tỷ giá chính thức, biên độ giao động cũng được thu hẹp từ +/-5%
xuống còn +/- 0,5%. NHNN cũng đã thành lập quỹ dự trữ ngoại tệ chính thức
để ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, không lâu sau khi các sàn giao dịch ngoại tệ đi
vào hoạt động, tỷ giá chính thức lại tiếp tục ở mức thấp hơn tỷ giá thị trường
tự do bởi vì các giao dịch trên thị trường chính thức luôn bị kiểm soát bởi
NHNN với lượng mua và bán rất lớn. Phạm Minh Chính và Vương Quân
Hoàn (2009).
24

Hình 3.2: Nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu/GDP

Nguồn: IFS
Trong giai đoạn từ 1993-1996, NHNN đã áp dụng cơ chế tỷ giá neo cố
định nhằm ổn định hoá nền kinh tế vĩ mô. Trong giai đoạn này vốn đầu tư
nước ngoài, chủ yếu là FDI, gia tăng mạnh, cùng với sự phát triển kinh tế đòi
hỏi thị trường ngoại tệ hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả hơn, với số lượng
ngày một đông đảo các thành phần tham gia giao dịch. Do vậy, tháng 9/1994,
thị trường ngoại hối liên ngân hàng được hình thành thay thế cho 2 sàn giao
dịch tỷ giá; tỷ giá được hình thành và công bố dựa trên tỷ giá liên ngân hàng
và NHNN tiếp tục can thiệp mạnh vào giao dịch trên thị trường này. Tỷ giá tại
các ngân hàng thương mại dao động trong biên độ +/-0,5%. Đến cuối 1996,
biên độ được nới rộng từ thấp hơn +/-0,5% lên +/-1% (11/1996). Đồng thời tỷ
giá được cố định ở mức 11.100VND/USD. (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010).
Ngoài ra theo Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàn (2009), việc định giá
đồng Việt Nam cao hơn giá trị thực từ 20% đến 15% là một nguyên nhân
quan trọng gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai của thời kỳ này. Điển hình năm
1996, thâm hụt tài khoản vãng lai của Việt Nam tương đương 16% (Hình
3.2).
25

Hình 3.3: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam

Nguồn:GSO
Từ năm 1997 đến năm 1999, cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997
đã khiến nhiều quốc gia láng giềng phá giá đồng nội tệ như Thái Lan,
Indonesia và Philippine. Điều này làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam
giảm tính cạnh tranh so với hàng hoá các nước đối thủ trong khu vực, và
chính cuộc khủng hoảng đã làm cho đầu tư trực tiếp ngước ngoài có xu hướng
giảm mạnh do các nhà đầu tư lo ngại rủi ro khi đầu tư vào các quốc gia Đông
Á. Đối mặt với khủng hoảng, chính sách kích cầu nội địa đã được thực hiện
cùng với việc tiến trình tự do hoá thương mại ngày càng tăng là những
nguyên nhân thúc đẩy giảm giá đồng Việt Nam. Tỷ giá chính thức đã được
điều chỉnh từ 11.175VND/USD lên 11.800VND/USD (16/02/1998) và
12.998VND/USD (07/08/1998). Đồng thời, biên độ dao động đã được nới
lỏng lên 5% vào tháng 2/1997 và 10% vào tháng 10/1997. Đến tháng 8/1998,
NHNN thu hẹp biên độ xuống 7% (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010).
Theo Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàn (2009), mặc dù đồng Việt
Nam đã mất giá tới 16,3%, tỷ giá chính thức chưa thực sự phản ánh đúng
26

quan hệ cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Tại các ngân hàng thương mại, tỷ
giá luôn được áp dụng ở sát ngưỡng trần được NHNN cho phép, nghĩa là luôn
cao hơn tỷ giá chính thức hình thành trên thị trường liên ngân hàng. Để khắc
phục tình trạng này, từ ngày 28/02/1999, tỷ giá được xác định là tỷ giá liên
ngân hàng trung bình ngày làm việc hôm trước, và biên độ tỷ giá tại các ngân
hàng thương mại giảm xuống không quá 0,1%.
Từ năm 1999 cơ chế tỷ giá được áp dụng là cơ chế tỷ giá neo cố định ở
mức 14.000VND/USD. Tỷ giá dường như không có biến động gì đáng kể
ngoài việc Việt Nam đồng giảm giá từ 1-2% mỗi năm. Tỷ giá chính thức được
điều chỉnh dần từ mức 14.000VND/USD năm 2001 lên 16.100VND/USD
năm 2007. Và biên độ tỷ giá tại các ngân hàng thương mại được điều chỉnh
lên mức +/-0,25% (từ 1/7/2002 đến 31/12/2006) và +/-0,5% năm 2007.
(Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010).
Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự biến động trong các phản ứng chính
sách tỷ giá ở Việt Nam. Từ năm 2007, do sự gia tăng ồ ạt của luồng vốn đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là trong năm 2008, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
đăng ký đạt kỷ lục với 60 tỷ USD và vốn thực hiện đạt hơn 10 tỷ USD, khiến
cho nguồn cung USD tăng mạnh (Hình 3.3). Trên thực tế, vào nửa đầu năm
2007 và từ tháng 10/2007 đến tháng 3/2008, tỷ giá NHTM luôn nằm ở
ngưỡng sàn biên độ. Chính điều này đã làm cho thâm hụt tài khoản vãng lai
trong năm 2007 và năm 2008 có xu hướng tăng mạnh (Hình 3.4).
Hình 3.4 cho thấy tỷ giá đã có những biến động mạnh trong năm 2008
do lạm phát tăng cao trong nửa đầu năm và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
đã bắt đầu tác động tới nền kinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008. Bốn
tháng đầu năm 2008, tỷ giá sụt giảm trên 150VND/USD, từ 16.100VND/USD
trong tháng 1 xuống 15.959VND/USD vào tháng 4/2008. Tuy nhiên từ giữa
27

năm 2008, cùng với sự suy thoái kinh tế, luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài và
gián tiếp bắt đầu đảo chiều. Trở lại mức 16.000VND/USD trong tháng
5/2008, tỷ giá tăng thêm 300VND/USD ở tháng kế tiếp. Tốc độ tăng gần tới
2% trong một tháng.
Theo Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàn (2009), trên thị trường tự
do bắt đầu từ tháng 3/2008, do không chịu sự kiểm soát của một mức cơ bản
hay biên độ dao động, nên tỷ giá thị trường tự do liên tục tăng, có thời điểm
USD bán ra với giá 19.700VND/USD (tháng 6/2008) trước khi giảm dần về
cuối tháng, khiến chênh lệch giữa tỷ giá chính thức của các NHNN và tỷ giá
thị trường tự do chênh lệch, mặc dù các NHTM đã áp dụng mức tỷ giá ở sát
ngưỡng trần được cho phép kể từ tháng 3/2008. Với nỗ lực bình ổn thị trường,
NHNN đã điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá thành +/-2% (26/05/2008 đến
05/11/2008), khiến tỷ giá chính thức tăng từ 16.100VND/USD vào đầu năm
2008 lên 16.500VND/USD (06/2008 đến 12/2008). Trước đó, ngày
06/06/2008, biện pháp giám sát hành chính chặt chẽ được áp dụng nhằm
chấm dứt các hoạt động trao đổi tự do đồng VND và USD. Thị trường ngoại
hối dần bình ổn vào tháng 7/2008 khi tỷ giá do các ngân hàng công bố và tỷ
giá giao dịch tự do bắt đầu hội tụ. Đến ngày 06/11/2008, NHNN Việt Nam đã
quyết định nới lỏng biên độ dao động thành +/-3% so với tỷ giá bình quân
liên ngân hàng (06/11/2008 đến 23/03/2009).
Kể từ nửa cuối năm 2008, tỷ giá NHTM lại tái diễn mức kịch trần, đồng
Việt Nam giảm giá so với đồng USD, khiến thâm hụt cán cân thương mại của
Việt Nam đạt kỷ lục gần 18 tỷ đô. Đồng thời để tạo điều kiện tăng tính cạnh
tranh cho hàng hoá xuất khẩuViệt Nam, mặt khác để đối mặt với khủng hoảng
kinh tế thế giới, NHNN đã phá giá tỷ giá đến 17.000VND/USD (khoảng 3%)
vào tháng 1/2009 và giữ nguyên cho đến tháng 11/2009. Như Hình 3.4 thể
hiện, xu hướng chung của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VND so với
28

USD và tỷ giá của các NHTM luôn ở mức trần của biên độ dao động mà
NHNN công bố.
Hình 3.4: Tỷ giá VND/USD năm 2008-2009

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010)
Lý do của hiện tượng này đã được phân tích cụ thể trong nghiên cứu của
Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010). Thứ nhất do trong cả năm 2009 áp lực
cung cầu trên thị trường cùng với áp lực tâm lý đã khiến tỷ giá trên thị trường
tự do ngày càng xa rời tỷ giá chính thức. Mặc dù NHNH đã buộc phải mở
biên độ dao động từ +/-3% đến +/-5% vào ngày 24/03/2009, biên độ lớn nhất
trong vòng 10 năm qua, nhưng các NHTM vẫn giao dịch ở mức trần. Tình
trạng nhập siêu kéo dài và ngày càng tăng, giá trị nhập khẩu trong ba tháng
cuối năm tăng mạnh so với 3 tháng đầu năm, chiếm 30% tổng giá trị nhập
khẩu. Giá trị nhập khẩu trong cả năm 2009 giảm 10% so với năm 2008 là do
mặt bằng giá xuất khẩu giảm. Hình 3.2 cho thấy, nhập siêu tăng mạnh trong
2007 và 2008, cả về tuyệt đối lẫn tương đối so với GDP. Một nguyên nhân
khác theo Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010) là do chênh lệch lớn giữa giá
vàng trong nước và giá vàng quốc tế đã khiến cho nhu cầu về USD tăng để
29

phục vụ việc nhập khẩu vàng. Giá vàng và giá USD đều đã tăng mạnh. Do
vậy, người dân đẩy mạnh việc mua USD trên thị trường tự do, khiến giá của
USD trên thị trường tự do tăng mạnh. Chính sự khan hiếm nguồn cung USD
buộc các doanh nghiệp phải huy động USD từ thị trường chợ đen hoặc phải
thêm phụ phí khi mua USD ở các ngân hàng thương mại. Tâm lý hoang mang
và sự mất lòng tin vào đồng VND khiến nhân dân có xu hướng tăng cầu USD,
đẩy giá thị trường tự do lên hằng ngày.
Hình 3.5: Tỷ giá VND/USD năm 2009

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010)
Như vậy, có thể thấy rằng, tỷ giá thị trường tự do có những ảnh hưởng
rất lớn đến tỷ giá chính thức. Điều này càng thể hiện đặc trưng trong năm
2009. Từ đầu năm, tỷ giá thị trường đã cao hơn tương đối so với tỷ giá
NHTM mặc dù tỷ giá NHTM đã ở mức kịch trần cho phép của NHNN (Hình
3.4 và Hình 3.5). Để giảm sự chênh lệch này, NHNN đã quyết định nới lỏng
biên độ tỷ giá thành +/-5% vào ngày 24/03/2009, và được giữ nguyên đến
ngày 25/11/2009 (như đã đề cập ở trên). Sau khi nới lỏng biên độ, tỷ giá
NHTM đã bắt kịp thị trường tự do tại mức 17.750VND/USD. Tuy nhiên vì
30

những lý do như đã phân tích: áp lực cung cầu trên thị trường cùng với áp lực
tâm lý lo ngại sự phá giá đồng VND và việc giá vàng thế giới tăng đã khiến tỷ
giá thị trường tự do tăng lên mạnh và ngày càng xa rời tỷ giá NHTM.
Và đến ngày 26/11/2009, NHNN đã buộc phải chính thức phá giá VND
5,4% để chống đầu cơ tiền tệ và giảm áp lực thị trường, đồng thời thu hẹp
biên độ xuống còn +/-3% (26/11/09). Tuy nhiên, như được thấy trong Hình
3.5, tỷ giá thị trường tự do vẫn ớ mức cao khoảng 19.400VND/USD và các
NHTM vẫn giao dịch ở mức kịch trần.
Như vậy, qua những phân tích cơ bản trên, nghiên cứu rút ra những kết
quả sau: Thứ nhất, Việt Nam đã có những điều chỉnh sang các cơ chế có biên
độ rộng hơn trong các giai đoạn 1989-1991 khi Việt Nam dỡ bỏ cơ chế bao
cấp, giai đoạn 1997-1999 khi khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra, và giai
đoạn 2008-2009 với khủng hoảng kinh tế-tài chính thế giới. Thứ hai, chênh
lệnh giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá NHTM vẫn còn tồn tại đáng kể,
mặc dù NHNN đã có những nỗ lực đáng kể nhằm rút ngắn khoảng cách này.
Để làm rõ hơn xu hướng biến động tỷ giá VND/USD cũng như giá trị
của đồng Việt Nam so với các đồng tiền quốc tế khác, nghiên cứu sẽ phân tích
xu hướng của tỷ giá thực
5
trong thời gian qua trong phần tiếp theo.
3.2 Tỷ giá thực RE
Hình 3.6 cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về diễn biến của
tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa. Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù tỷ giá danh
nghĩa tăng lên rõ rệt trong thời gian qua, nhưng tỷ giá thực lại có xu hướng
giảm từ năm 2003 trở lại đây và khoảng cách giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh
nghĩa ngày càng gia tăng, đặc biệt là năm 2007 trở đi. Nguyên do chính là tỷ

5
Tỷ giá thực (RE): tỷ giá đã được điều chỉnh để loại trừ yếu tố lạm phát của hai nước liên quan.
31

lệ lạm phát Việt Nam tương đối cao so với Mỹ: Tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn
2000-2009 của Việt Nam và Mỹ lần lượt là: 90% và 24,6%, trong đó tỷ giá
hối đoái danh nghĩa tăng 20,4% nên tỷ giá thực của Việt Nam đã giảm đi
khoảng 21,3 %, nói cách khác đồng Việt Nam đã lên giá xấp xỉ 21,3 % so với
đồng USD.
Hình 3.6: Tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa VND/USD 1996-2009
(2000=100)

Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu IFS
Trong khi đó, đồng USD có xu hướng mất giá so với hầu hết các đồng
tiền khác, ngoại trừ yên Nhật và đôla Đài Loan (Bảng 3.1). Tuy nhiên, đồng
Việt Nam vẫn lên giá nhiều hơn so với các đồng tiền khác, trong đó có Nhân
dân tệ, đôla Singapore, ringit Malasyia, điều này làm giảm khả năng cạnh
tranh của hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới. Thực tế
nhập siêu lớn hơn trong thời gian gần đây là một minh chứng cụ thể cho sự
tăng giá của đồng Việt Nam trong thời gian qua.


32

Bảng 3.1: Chỉ số tỷ giá thực của các đồng tiền so với đô la Mỹ
(% - năm 2000 là năm gốc)

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010) và tính toán của tác giả theo số liệu IFS
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Nhân dân tê ̣ 100,00 101,67 104,95 104,11 104,07 103,85 100,64 91,90 84,30 84,87
Euro 100,00 105,12 88,56 73,50 68,70 80,51 72,30 65,32 68,45 66,56
Yên Nhâ ̣ t 100,00 118,75 111,19 101,61 101,73 120,05 123,32 122,18 97,60 102,48
Đô la Singapore 100,00 109,50 104,95 103,97 101,74 106,15 99,16 93,35 89,11 89,30
Đô la Đài Loan 100,00 109,64 111,24 110,66 105,35 110,18 110,61 111,18 108,92 107,96
Đô la Ú c 100,00 108,49 96,87 72,80 70,50 75,53 69,31 62,90 84,35 65,14
Won Triề u Tiên 100,00 103,03 92,01 90,71 78,54 77,67 71,34 72,34 93,80 85,95
Baht Tha
́
i 100,00 105,00 103,27 95,10 93,96 96,88 84,86 79,26 82,63 77,91
Ringgit Malaysia 100,00 100,36 101,36 102,10 103,11 103,05 95,43 91,04 92,13 91,39
Việt Nam đồng 100,00 107,3 109,0 109,6 106,0 102,0 98,8 94,5 80,7 78,7
33

Những phân tích trong phần 3.1 và 3.2 là hết sức cần thiết để xác định
giá trị của Việt Nam hiện nay đồng cũng như làm rõ hơn về diễn biến và cơ
chế chính sách tỷ giá mà NHNN đang áp dụng. Đây là những lập luận cơ sở
ban đầu trước khi phân tích và đưa ra những khuyến nghị chính sách liên
quan đến chính sách tỷ giá kiểm soát lạm phát. Phần tiếp theo nghiên cứu
phân tích mối liên hệ giữa chính sách ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát
trong thời gian qua ở Việt Nam nhằm đưa ra những nhận định cơ bản trước
khi tiến hành lượng hoá tác động của tỷ giá đến lạm phát ở Việt Nam.
3.3 Chính sách ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát
Việc ổn định tỷ giá sẽ giúp tăng cường lòng tin vào đồng nội tệ, buộc
chính phủ phải kiểm soát thâm hụt ngân sách và tốc độ tăng tín dụng và thông
qua đó tăng cường mức độ tin cậy vào chính sách của chính phủ. Như vậy,
khi những yếu tố này được kiểm soát tốt, lạm phát cũng sẽ giảm đi và dần ổn
định. (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010).
34

Hình 3.7: Lạm phát và tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hằng et al (2010) và Tính toán của tác giả theo số liệu của IFS
Tuy nhiên, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tỷ giá và
lạm phát, như đã được phân tích trong phần 2.2. Trong đó có: tính không chắc
chắn tổng cầu, môi trường lạm phát, sự ổn định của chính sách tiền tệ. Chiếu
theo những yếu tố này để lý giải tại sao cùng một chế độ tỷ giá mà tác động
đến lạm phát trong các giai đoạn khác nhau lại khác nhau: giai đoạn 1992-
1996 và 2004-2008.
Giai đoạn 1992-1996: Trong những năm đầu của thập kỷ 1990, tỷ lệ lạm
phát rất cao (lạm phát phi mã), đáng chú ý là lạm phát năm 1992 lên đến 35%,
làm cho người dân mất niềm tin vào tiền Việt Nam đồng. Trước tình cảnh
này, việc áp dụng một chính sách tỷ giá tương đối cố định là hết sức hợp lý và
lạm phát trong giai đoạn 1992-1996 đã được kiểm soát tốt.
Giai đoạn 2004-2008: Tuy nhiên điều tương tự đã không xảy ra trong
giai đoạn 2004-2008, khi chính sách tỷ giá tương đối cứng nhắc được áp dụng
nhưng lạm phát vẫn tăng dần qua các năm và kết thúc thời kỳ bằng một cuộc
lạm phát cao 2007-2008 (gần 23%).
35

Những nghiên cứu khác nhau như Võ Trí Thành et al (2000) và Nguyễn
Đức Thành et al (2009) đã đưa ra những lý giải cho vấn đề này: trong đó sự
gia tăng cung tiền và tín dụng trong nền kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến
thời kỳ lạm phát cao ở Việt Nam trong giai đoạn qua. Và chính sách tỷ giá chỉ
có tác động cộng hưởng cho các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh
tế chứ không có tác động mạnh mẽ trực tiếp đến lạm phát. (Nguyễn Thị Thu
Hằng, 2010).
Nhóm nguyên nhân thứ hai có thể lý giải tại sao chính sách ổn định tỷ
giá trong các giai đoạn khác nhau lại khác nhau là “bộ ba bất khả thi”: “tỷ giá
hối đoái cố định”, “tự do hóa tài khoản vốn” và “sự độc lập của chính sách
tiền tệ”. Trong giai đoạn 1992-1996, khi mà chưa có tự do hóa tài khoản vốn
thì NHNN vừa có thể thực hiện được chính sách TGHĐ cố định vừa kiểm
soát được chính sách tiền tệ, hạn chế lạm phát. Tuy nhiên, khi mà hội nhập
kinh tế ngày càng sâu thì tài khoản vốn dễ dàng chu chuyển hơn do vậy
NHNN khó đạt được cả việc cố định TGHĐ và sự độc lập của chính sách tiền
tệ. Điều này có thể lý giải cho giai đoạn 2004-2008.
Như vậy, mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát là hết sức phức tạp trong
bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, việc xác định quy mô và độ lớn
của tác động tỷ giá đến lạm phát là hết sức cần thiết để NHNN có thể đưa ra
những chính sách tỷ giá phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô,
hạn chế sự lưỡng lự và không nhất quán trong chính sách tỷ giá. Chương tiếp
theo sẽ xây dựng mô hình ước lượng mức chuyển tỷ giá vào lạm phát ở Việt
Nam và phân tích nguyên nhân chính của hiện tượng lạm phát ở Việt Nam.

36

CHƢƠNG 4
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH
“Trong chương này, nghiên cứu sẽ đưa ra mô hình để ước lượng mức
chuyển tỷ giá đến lạm phát. Trong đó cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm
được đề cập đến trong phần 4.1, tiếp đến phần 4.2 giới thiệu các biến trong
mô hình và những mô tả dữ liệu liên quan, phần cuối của chương trình bày
mô hình thực nghiệm VAR để ước lượng MCTGLP”.

4.1 Cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm
Xác định các biến thích hợp là một trong những yêu cầu đầu tiên để xây
dựng mô hình. Do vậy, trong phần 4.1 này, nghiên cứu sẽ đưa ra những phân
tích về các biến liên quan đến mô hình ước lượng mức chuyển tỷ giá vào lạm
phát. Ngoài ra, trọng tâm của nghiên cứu chính là lạm phát, nên ngoài biến tỷ
giá hối đoái, không thể thiếu cú sốc tổng cung, cú sốc tổng cầu và biến tiền tệ.
4.1.1 Tỷ giá hối đoái - chỉ số giá tiêu dùng
Theo lý thuyết về các kênh tác động của tỷ giá đến lạm phát được đề cập
ở phần 2.1 thì, những thay đổi của tỷ giá đến lạm phát sẽ được truyền dẫn
theo kênh phân phối từ chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và cuối cùng
là chỉ số giá tiêu dùng hay còn gọi là lạm phát. Do vậy, việc xây dựng mô
hình bắt đầu từ việc nghiên cứu cơ chế truyền dẫn từ những thay đổi của tỷ
giá đến chỉ số IPI là hết sức hợp lý.
Theo lý thuyết của Quy luật một giá, ta có:
(4.1)
37

Trong đó: h - nước nhà (nước nhập khẩu); f - nước ngoài (nước xuất
khẩu);
m
h
P
- giá nhập khẩu được tính bằng nội tệ ;
x
f
P
- giá xuất khẩu được
tính bằng ngoại tệ, E là tỷ giá hối đoái giữa nước nhập khẩu và nước xuất
khẩu (nội tệ/ngoại tệ).
Theo Hooper và Man (1989), Goldberg và Knetter (1997) và Campa và
Goldberg (2002), các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài có quyền đáng kể
để thiết lập giá. Hành vi thiết lập giá của doanh nghiệp nước ngoài phụ thuộc
vào giá đôn (xem thêm 2.2) và chi phí sản xuất biên dưới đây:
.
x x x
f f
P Markup C =
(4.2)
Hooper và Man (1989) cũng đã lập luận rằng giá đôn của doanh nghiệp
xuất khẩu nước ngoài phụ thuộc vào áp lực cầu trong cả thị trường nước đó và
nước nhập khẩu
6
(Y), và áp lực cạnh tranh trong thị trường nước nhập khẩu.
Áp lực này được đo bằng lợi nhuận biên (giá/ chi phí sản xuất). Giá đôn được
minh hoạ như sau:
(4.3)


Trong đó:
( )
h
x
f
P
EC
o
đại diện cho áp lực cạnh tranh trong nước nhập khẩu
và Y
|
đại diện áp lực cầu trong cả thị trường trong nước và ngoài nước và
0<o <1; | >0. Từ phương trình (4.1), (4.2) và (4.3), ta có:

6
Áp lực cầu trong thị trường nhập khẩu tỷ giá có mối quan hệ thuận với tỷ trọng nhập khẩu, phản ánh cầu
hàng hoá nước ngoài của thị trường đấy.
38


(4.4)
Đơn giản hóa phương trình 4.4 ta có:
(4.5)

Lấy logarit của phương trình 4.5, ta có kết quả sau:
(4.6)
Như vậy, giá nhập khẩu bị ảnh hưởng bởi TGHĐ (e), chi phí sản xuất
biên của hãng nước ngoài (
x
f
c
), giá nội địa (
h
p
) và cầu thị trường (y). Đồng
thời mức chuyển tỷ giá vào giá nhập khẩu theo phương trình (4.6) chính là
1 o ÷ . Như vậy có một mối quan hệ âm giữa o và MCTGNK.
+ Nếu o = 0, thì MCTGNK = 1, tức là những cú sốc TGHĐ sẽ được
chuyển toàn bộ vào IPI hay MCTGNK hoàn toàn
+ Nếu o = 1, thì MCTGNK = 0, tức là những cú sốc TGHĐ sẽ không được
chuyển toàn bộ vào IPI
+ Nếu 0 < o < 1, thì những cú sốc TGHĐ sẽ được chuyển một phần vào
IPI hay được gọi là MCTGNK không hoàn toàn
+ Trong một số tình huống sẽ thấy o >1 khi doanh nghiệp đánh giá quá
mức ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá và ngược lại o < 0 khi doanh nghiệp đánh
giá quá thấp ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá
Rút o từ phương trình (4.6) ta có:
39

m x
h f
x
h f
p e c y
p e c
|
o
÷ ÷ ÷
=
÷ ÷
(4.7)
Từ phương trình 4.7 ta có một số nhận xét sau:
+ o có mối quan hệ nghịch với y, p
h.
Ngược lại, MCTGNK sẽ tỷ lệ thuận
với y, p
h

+ o có mối quan hệ thuận với e
7
,
m
h
p
. Ngược lại, MCTGNK sẽ tỷ lệ
nghịch với e,
m
h
p

Những nhận xét này tương tự với những phân tích ở phần 2.2 về các
nhân tố ảnh hưởng đến MCTG. Và cũng từ phương trình 4.7 ta có thể suy ra,
một số biến khác cần có trong mô hình đo lường MCTGLP là: cầu thị trường
y (sốc cầu) và cú sốc cung thế giới - giá dầu - ảnh hưởng đến chi phí sản xuất
biên.
4.1.2 Các biến khác
Để củng cố thêm những lập luận trong phần 4.1.1 về các biến liên quan
đến mô hình ước lượng MCTGLP, nghiên cứu sẽ xem xét một số nguyên
nhân khác ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát ngoài tỷ giá hối đoái. Việc xem xét
tổng thể các nguyên nhân của lạm phát sẽ đánh giá đầy đủ hơn tác động tổng
thể cũng như từng nhân tố đến lạm phát. Ngoài ra, hạn chế hiện tượng thiếu
biến khiến kết quả thiếu tính chính xác. Trước hết là Cú sốc tổng cung: Giả
định tổng cầu không đổi, cú sốc tổng cung sẽ làm đường AS (Mô hình AD-
AS) dịch chuyển khiến mức giá chung thay đổi quanh điểm cân bằng. Đặc
biệt khi AS dịch chuyển sang trái, mức giá chung sẽ tăng và sản lượng giảm.

7
Vì 0 1 o s s nên khi cả tử và mẫu cùng trừ đi một giá trị như nhau thì o sẽ giảm.
40

Xem xét Cú sốc tổng cầu: Dựa trên mô hình AS-AD với giả định các yếu tố
khác không đổi thì khi AD dịch chuyển sẽ khiến mức giá chung thay đổi
quanh điểm cân bằng. Đặc biệt khi AD dịch chuyển sang phải sẽ làm mức giá
chung tăng và sản lượng tăng. Biến sản lượng công nghiệp thực được sử dụng
để đại diện cho những thay đổi trong tổng cầu. Và một trong những biến vĩ
mô không thể thiếu khi nghiên cứu lạm phát chính là biến tiền tệ - Theo nhà
kinh tế học tiền tệ Milton Friedman, lạm phát luôn là một hiện tượng tiền tệ.
Đây là một biến chính sách đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc ổn định
kinh tế vĩ mô, trong đó có mục tiêu lạm phát, nhưng mặt khác cũng có thể là
nguyên nhân chính gây ra lạm phát cao cũng như những bất ổn khác của kinh
tế vĩ mô. Do vậy, sự có mặt của biến tiền tệ trong mô hình nghiên cứu
MCTGLP là hết sức cần thiết. Nghiên cứu sử dụng biến cung tiền và lãi suất
để đại diện cho cung và cầu của thị trường tiền tệ. Ngoài ra, vì Việt Nam là
một quốc gia có tỷ lệ đô la hóa cao, tuy nhiên không có dữ liệu về lượng tiền
nước ngoài đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng, nên nghiên cứu sử dụng
biến tiền gửi ngoại tệ trong ngân hàng để đại diện cho sự đô la hoá trong nền
kinh tế Việt Nam.
Qua những phân tích trên, ta có thể kết luận về bảy biến nội sinh có mặt
trong mô hình là:
+ Khoảng cách sản lƣợng: OPGAP - sản lượng công nghiệp thực, đại
diện cho cú sốc tổng cầu
+ Chỉ số CPI - Lạm phát
+ Biến tiền tệ - Thị trường tiền tệ
+ Phía cầu tiền: Cung tiền mở rộng: Tổng cung tiền Việt Nam
(VND) và tiền gửi ngoại tệ (USD)
41

+ Phía cung tiền: Lãi suất tiền gửi kỳ hạn ba tháng của Việt
Nam đồng và USD
+ Tỷ giá hối đoái: VND/USD
Riêng biến giá dầu được xem như ngoại sinh vì giá dầu Việt Nam được
chủ yếu quy định bởi nhà nước và không vận động theo giá dầu thế giới.
Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng mô hình trong đó giá dầu được xem là
biến nội sinh nhưng kết quả không có ý nghĩa nghiên cứu cao
8
.
4.2 Số liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các số liệu liên quan đến giá dầu thế giới, khoảng
cách sản lượng, tỷ giá danh nghĩa, cung tiền nội địa, tiền gửi ngoại tệ, lãi suất
tiền gửi Việt Nam đồng, lãi suất USD và chỉ số giá tiêu dùng và được lấy tính
theo tháng từ tháng 1/2005 đến tháng 3/2009, như vậy là có tất cả 51 quan sát.
Tất cả các số liệu này được lấy từ các nguồn cơ bản: Thống kê tài chính quốc
tế (IFS) của quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO) và
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) Việt Nam.
a. Giá dầu (USD/barrel)
Giá dầu được lấy theo chỉ số giá dầu UK Brent (2005=100), từ nguồn
Thống kê tài chính quốc tế - IFS. Tuy nhiên, giá dầu ở Việt Nam được quản
lý bởi nhà nước và sự dao động của giá dầu ở Việt Nam tương đối khác so với
giá dầu thế giới, nên nghiên cứu xem giá dầu là một biến ngoại sinh trong mô
hình.
Mô tả dữ liệu:

8
Mô hình này không được trình bày trong nghiên cứu, có thể liên hệ trực tiếp nhóm nghiên cứu để tìm hiểu
chi tiết.
42

Hình 4.1: Chỉ số giá dầu UK Brent (2005 =100)

Nguồn: IFS
Mặc dù, giá dầu ở Việt Nam được quản lý bởi nhà nước, tuy nhiên
những thay đổi trong giá dầu thế giới có những ảnh hưởng nhất định và tương
đối lớn vào tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam. Có thể thấy rằng, những giai đoạn mà
giá dầu tăng mạnh, ví dụ như giai đoạn 2007-2008 khi giá dầu lên đỉnh điểm
vào giữa năm 2008 (tăng 250% so với đầu năm 2007), thì lạm phát của Việt
Nam cũng tăng rất nhanh và trong giai đoạn này với tỷ lệ lạm phát năm 2007
và 2008 lần lượt là 8% và 23%.
b. Khoảng cách sản lƣợng
Không có thống kê về tổng sản lượng theo tháng nên nhóm nghiên cứu
sử dụng chỉ số sản lượng công nghiệp hàng tháng theo năm cơ sở 2005=100
lấy từ số liệu của Tổng cục thống kê làm biến thay thế, đại diện cho áp lực
tổng cầu. Riêng sản lượng tiềm năng được ước lượng theo sản lượng thực dựa
trên kỹ thuật Hodrick-Prescott
9
. Khoảng cách sản lượng không cần điều chỉnh
theo mùa vì các ảnh hưởng mùa vụ đã được loại khi thực hiện kỹ thuật này.
Mô tả dữ liệu:

9
Đây là kỹ thuật để đo lường khoảng cách sản lượng dựa trên những số dư có được từ sự hồi quy logarit tự
nhiên của chỉ số sản lượng công nghiệp theo khuynh hướng tuyến tính và toàn phương.
43

Hình 4.2: Khoảng cách sản lƣợng và chỉ số CPI

Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu GSO
Biến sản lượng công nghiệp được sử dụng trong mô hình để đại diện cho
áp lực tổng cầu. Trong đó khoảng cách sản lượng (OPGAP) hàm ý sự chênh
lệch giữa mức sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng. Khi các yếu tố khác
không đổi, sản lượng thực tăng vượt quá sản lượng tiềm năng (OPGAP
dương), hàm ý cầu tăng nên lạm phát bắt đầu tăng và ngược lại khi OPGAP
âm thì lạm phát sẽ giảm. Một số nghiên cứu
10
chỉ ra rằng mối quan hệ này
không rõ ràng ở Việt Nam, thậm chí khi OPGAP tăng không làm lạm phát
tăng. Tuy nhiên, Hình 4.2 cho thấy những thời kỳ mà OPGAP dương và
tương đối lớn như cuối năm 2007 nửa đầu năm 2008, thì lạm phát cũng tương
đối cao.
Ngược lại khi OPGAP âm, thì tỷ lệ lạm phát dường như không có thay
đổi, ví dụ như trong năm 2009, khi mà tổng cầu giảm do tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới thì chỉ số CPI cũng không thay đổi đáng kể. Lý
do CPI không giảm là do các yếu tố khác liên quan đến cung tiền và lãi suất.
Về mặt tổng quát có thể nhận thấy trong cùng 1 thời kỳ (1 tháng) khi OPGAP

10
Võ Văn Minh (2009).
44

thay đổi thì chỉ số giá CPI thay đổi đồng thời nhằm phản ứng lại sự thay đổi
của tổng cầu.
c. Chỉ số giá tiêu dùng
Đây là chỉ số thường được sử dụng để đo lạm phát của nền kinh tế quốc
gia. Do vậy hai thuật ngữ CPI và lạm phát có thể dùng thay thế cho nhau. Số
liệu của CPI (CPI tháng 1-2005 =100) được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế
IFS-IMF.
Mô tả dữ liệu:
Hình 4.3: Lạm phát ở Việt Nam

Nguồn: IFS
Lạm phát ở Việt Nam thể hiện rõ tính mùa vụ, thông thường lạm phát
cao vào cuối năm và bắt đầu giảm vào tháng 2. Đáng chú ý, bắt đầu từ nửa
sau của năm 2007, lạm phát có xu hướng tăng mạnh, và đạt đỉnh vào tháng
5/2008 (khi mà lạm phát tháng 5 so với tháng 4 lên đến hơn 4%). Tuy tỷ lệ
lạm phát đã giảm dần về cuối năm nhưng lạm phát của năm 2008 cũng đã lên
mức kỷ lục so với mức 23% so với năm 2007, và là mức lạm phát cao nhất
trong những năm gần đây. Nguyên nhân chính là do mức tăng cung tiền tương
45

đối cao trong giai đoạn này khi các dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào nhiều
và việc NHNN cố gắng để ổn định tỷ giá. Ngoài ra tổng cầu tăng cũng đã gây
thêm áp lực tăng giá.
d. Cung tiền M2 (tỷ đồng)
Biến cung tiền được sử dụng trong mô hình là tổng của cung tiền M1,
tiền Qua-si và công cụ thị trường tiền tệ và trái phiếu. Tất cả các dữ liệu đều
được lấy từ nguồn thống kê tài chính quốc tế hàng năm IFS.
Mô tả dữ liệu:
Hình 4.4: Cung tiền mở rộng

Nguồn: IFS
Biến cung tiền mở rộng M2 được sử dụng để phản ánh cú sốc tiền tệ từ
phía cầu tiền. Như nhà kinh tế học tiền tệ Milton Friedman đã từng nói lạm
phát luôn là câu chuyện chuyển tiền tệ và điều này rất phù hợp trong bối cảnh
của nền kinh tế Việt Nam. Trong giai đoạn 2004-2006, khi mức cung tiền
tăng đều đặn thì lạm phát cũng tương đối ổn định (6-8%/năm). Và khi tốc độ
cung tiền mở rộng tăng nhanh hơn (từ năm 2006) thì lạm phát cũng có xu
hướng tăng nhanh hơn. Dữ liệu về tiền gửi ngoại tệ là một cấu phần của
46

Quasi-Money. Cung tiền rộng bao gồm tổng cung tiền Việt Nam đồng và
cung tiền ngoại tệ (được đại diện bởi các khoản tiền gửi ngoại tệ.)
Hình 4.5: Tiền gửi ngoại tệ

Nguồn: IFS
Tiền gửi ngoại tệ phản ánh lòng tin của người dân vào Việt Nam đồng
cũng như mức độ đô la hoá nền kinh tế. FCD có xu hướng vận động thuận so
với lạm phát. Khi lạm phát tăng, người dân sẽ kỳ vọng vào sự mất giá trong
thời gian tới nên có xu hướng chuyển sang giữ tài sản dưới các các loại ngoại
tệ khác, chủ yếu là đô la. Sự vận động của FCD tương tự như sự vận động của
lạm phát, khi lạm phát tăng (ví dụ như thời kỳ đầu năm 2008) thì tốc độ tăng
của FCD cũng lớn hơn.
e. Lãi suất (%/năm)
Lãi suất tiền gửi Việt Nam đồng 3 tháng được sử dụng đại diện cho lãi
suất thị trường, phản ánh những thay đổi trong biến tiền tệ từ phía cung tiền.
Dữ liệu về lãi suất được khai thác theo Thống kê tài chính quốc tế IFS.
Mô tả dữ liệu:
47

Biến lãi suất đại diện cho phản ứng của NHNN trước những thay đổi
của sản lượng, giá và những điều kiện của thị trường tiền tệ. Lãi suất tiền gửi
dường như không có thay đổi gì đáng kể cho đến đầu năm 2008 khi cung tiền
mở rộng và lạm phát tăng nhanh. Và sự tăng lên của lãi suất đã khiến cho CPI
giảm dần, đồng thời cũng có thể thấy sự sụt giảm của FCD trong giai đoạn
này (nửa đầu năm), do lợi tức giữ Việt Nam đồng lúc này cao hơn giữ đô la.
Hình 4.6: Lãi suất Việt Nam đồng

Nguồn: IFS
Ngược lại, sự mở rộng cung tiền vào nửa cuối năm 2008 và nửa đầu năm
2009 đã khiến lãi suất giảm dần (chính sách tiền tệ nới lỏng), nhằm mục đích
kích cầu khi mà nền kinh tế phải đối mặt tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính.
f. Lãi suất USD (%/năm)
Bên cạnh lãi suất VND, lãi suất tiền gửi USD cũng được sử dụng vì một
số mục tiêu chính sách nhất định: kiểm soát lạm phát dựa trên những ảnh
hưởng đến cung tiền mở rộng của nền kinh tế thông qua việc tác động trực
tiếp đến tiền gửi ngoại tệ. Ngoài ra lãi suất USD là một công cụ chính sách
48

hiệu quả để kiểm soát hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam. Lãi suất USD được
sử dụng trong nghiên cứu là lãi suất tiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng và được lấy
từ Ngân hàng BIDV Việt Nam.
Mô tả dữ liệu:
Lãi suất USD ở Việt Nam bị tác động đồng thời bởi lãi suất USD của thế
giới và những thay đổi trong nền kinh tế quốc tế. Trong giai đoạn 2005-2007,
lãi suất thế giới tăng lên, thì lãi suất USD cũng tăng lên mặc dù lãi suất VND
trong thời gian này không có những thay đổi đáng kể. Sang năm 2008, khi
lạm phát ở Việt Nam tăng cao (Hình 4.7), xu hướng vận động của lãi suất
USD, cũng tương tự như lãi suất VND, tăng rất nhanh và cao nhất vào tháng
5/2008 tại mức 6,5%. Giai đoạn tiếp theo khi lạm phát giảm dần thì lãi suất
USD cũng giảm dần.
Hình 4.7: Lãi suất tiền gửi USD ở Việt Nam (%/năm)

Nguồn: BIDV Việt Nam
49

g. Tỷ giá hối đoái (VND/ USD)
Tỷ giá hối đoái là tỷ giá trung bình hàng tháng, được tính theo nội
tệ/ngoại tệ, tức là số đơn vị Việt Nam đồng phải bỏ ra để mua một USD.
Nghiên cứu sử dụng tỷ giá hối đoái VND/USD thay vì tỷ giá hữu hiệu thực vì
phần lớn các giao dịch của Việt Nam với quốc tế đều sử dụng đồng USD.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã thử sử dụng tỷ giá hữu hiệu thực nhưng kết quả
không có ý nghĩa cao. Dữ liệu về tỷ giá hối đoái được lấy từ thống kê tài
chính quốc tế IMF.
Mô tả dữ liệu:
Hình 4.8: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD

Nguồn: IFS
Như đã phân tích cụ thể trong chương chính sách tỷ giá ở Việt Nam,
NHNN đã có những can thiệp nhất định vào thị trường ngoại hối với mục
đích để ổn định tỷ giá hối đoái, do vậy TGHĐ hầu như không thay đổi nhiều
trong suốt giai đoạn từ 2004-2006 (trong giai đoạn này dữ trự ngoại hối của
Việt Nam cũng tăng lên đáng kể, điều này có thể hàm ý rằng NHNN mua đô
la khi mà các dòng vốn đầu tư đổ vào nền kinh tế ngày càng tăng) nhưng từ
50

năm 2007 trở đi, tỷ giá hối đoái đã có những biến động nhất định
11
. Theo lý
thuyết về tỷ giá hối đoái dựa trên cách tiếp cận thị trường tài sản, thì những
dao động về tỷ giá trong ngắn hạn là trước hết là do sự thay đổi của cung tiền
và sau đó là lãi suất. Trong điều kiện ngắn hạn, mức giá cứng nhắc, khi cung
tiền nội địa tăng, lãi suất tiền gửi nội tệ giảm so với ngoại tệ, do đó cầu nội tệ
giảm, và người dân chuyển sang giữ các tài sản ngoại tệ, cầu ngoại tệ tăng,
khiến ngoại tệ lên giá và TGHĐ tăng. Với một quốc gia áp dụng cơ chế
TGHĐ cố định, NHNN của quốc gia đó sẽ có những biện pháp can thiệp để
neo mềm
12
tỷ giá vào thời kỳ sau đấy. Quan hệ này không rõ ràng nhưng từ
quan sát Hình 4.7 và Hình 4.8, chúng ta có thể nhận ra một vài bằng chứng
sau: tháng 1/2007 và điển hình là nửa đầu năm 2008, khi lãi suất tăng lên thì
tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm đi, nhưng ngay sau đó NHNN đã thực thi
các biện pháp can thiệp để hạn chế TGHĐ giảm bởi điều này hàm ý rằng
đồng Việt Nam tăng giá so với đồng đô la, do vậy ảnh hưởng đến sức cạnh
tranh của hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
4.3 Mô hình thực nghiệm
Để phân tích ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá vào lạm phát như mục tiêu
nghiên cứu đã đề ra, nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy theo Vectơ
VAR.
Dựa trên những lập luận trong phần 3.1, nghiên cứu xây dựng mô hình
VAR gồm 7 biến nội sinh : x
t
= OPGAP; DLOG(CPI); DLOG(VND);
DLOG(FCD); DLOG(RVND); DLOG(RUSD); DLOG(ER) và một biến ngoại
sinh là giá dầu DLOG(OIL). Trong đó: OIL: giá dầu được điều chỉnh loại bỏ

11
Nguyên nhân đã được phân tích rõ trong phần cơ chế và diễn biến tỷ giá.
12
Neo mềm: dao động trong một biện độ cho phép.
51

yếu tố vụ mùa; OPGAP: khoảng cách sản lượng hay còn được gọi là chênh
lệch giữa sản lượng thực và sản lượng tiềm năng; ER là tỷ giá danh nghĩa
VND/USD được điều chỉnh để loại bỏ yếu tố vụ mùa; cung tiền M2; CPI: chỉ
số giá tiêu dùng được điều chỉnh để loại bỏ yếu tố vụ mùa; RVND là lãi suất
tiền gửi Việt Nam đồng kỳ hạn 3 tháng; RUSD là lãi suất tiền gửi USD kỳ
hạn 3 tháng; LOG: cơ chế logarit tự nhiên và D minh hoạ cho sai phân cấp
một của LOG các biến.
Để tạo ra những cú sốc cấu trúc, nghiên cứu sử dụng phân tích
Cholesky
13
của ma trận Ω, ma trận phương sai - hiệp phương sai của phần dư
VAR theo dạng rút gọn. Và nhiệm vụ của phần này là xây dựng ma trận quan
hệ giữa các phần dư VAR dạng rút gọn (ε
t
) và các biến nhiễu cấu trúc (e
t
).
Tuy nhiên, để xây dựng được ma trận này, ta cần phải xác định được thứ tự
của các biến bởi thứ tự này sẽ nhận dạng các cú sốc cấu trúc và ảnh hưởng
nhất định đến kết quả nghiên cứu. Các thứ tự khác nhau thì tạo ra các kết quả
khác nhau.
Thứ tự của các biến trong mô hình VAR đệ quy được căn cứ theo những
lập luận được đề xuất bởi Bernanke và Mihov (1998): Những biến phi chính
sách (sản lượng và giá cả) xếp trước và tiếp đến là các biến liên quan đến
chính sách (cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái). Thứ tự này cũng thể hiện
những giả định ngầm về cấu trúc động của nền kinh tế Việt Nam. Thứ nhất,
sản lượng công nghiệp không bị ảnh hưởng đồng thời bởi các cú sốc của các

13
Ma trận Cholesky là một trường hợp đặc biệt của ma trận ba đường chéo. Ma trận ba đường chéo có ngoại
trừ các phần tử trên 3 đường chéo chính, các phần tử còn lại điều là 0, và tất nhiên khi ta có thể tách A = LU
A: Ma trận 3 đường chéo
L: Ma trận tam giác dưới
U: Ma trận tam giác trên
Ma trận Cholesky : A = LL' (L' là chuyển vị của L)

52

biến khác. Thứ hai, mức giá bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong sản
lượng. Cả sản lượng và giá cả không bị ảnh hưởng cùng lúc bởi bất kỳ cú sốc
chính sách nào trong cùng một thời kỳ. Nói cách khác, những thay đổi trong
biến chính sách không làm sản lượng và mức giá thay đổi ngay trong thời kỳ
đấy, mà những sự thay đổi này chỉ bắt đầu ở các thời kỳ sau 1 đến 2 tháng
hoặc dài hơn (Độ trễ của chính sách). Tuy nhiên, những thay đổi trong sản
lượng và giá cả dẫn đến những thay đổi trong cung tiền của Việt Nam đồng
cũng như ngoại tệ. Bởi vì Việt Nam đồng là đồng tiền chính cho các giao dịch
ở Việt Nam nên cầu tiền Việt Nam đồng được giả định phản ứng trước đối
với những thay đổi trong sản lượng và mức giá. Sau đó, cầu tiền ngoại tệ
(được đại diện bởi tiền gửi ngoại tệ ở ngân hàng) thì bị ảnh hưởng bởi những
thay đổi trong sản lượng, giá cả và cung tiền nội địa.
Căn cứ vào những thay đổi của sản lượng, giá cả và những điều kiện
trong thị trường tiền tệ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam có thể xác định lãi
suất của các khoản tiền gửi Việt Nam đồng và USD bằng cách sử dụng những
công cụ gián tiếp hoặc trực tiếp. Những thay đổi của lãi suất sẽ làm thay đổi
tỷ giá ngay trong thời kỳ đấy (dựa trên cách tiếp cận tài sản và lý thuyết về sự
thay đổi của tỷ giá trong ngắn hạn cũng như thực tế của Việt Nam như được
phân tích trong phần 4.2 mô tả dữ liệu về TGHĐ). Những thay đổi trong cung
tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái được giả định tác động đến sản lượng và giá cả
trong thời kỳ tiếp theo.
Từ những lập luận trên, mô hình rút gọn VAR
14
được xây dựng như sau:

14
Cách xây dựng mô hình VAR rút gọn như các phương trình ban đầu và mối liên hệ với mô hình VAR cấu
trúc được trình bày trong phụ lục 1.
53

Bảng 4.1: Ma trận tam giác Cholesky
11
21 22
31 32 33
41 42 43 44
51 52 53 54 55
61 62 63 64 65 66
71 72 73 74 75 76 77
opgap opgap
cpi cpi
vnd vnd
usd usd
rvnd rvnd
rusd rusd
er er
b e
b b e
b b b e
b b b b e
b b b b b e
b b b b b b e
b b b b b b b e
c
c
c
c
c
c
c
| | | ||
| |
| |
| |
| |
=
| |
| |
| |
| |
| |
\ . \ .\
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
.

Nguồn: Tính toán bởi nhóm nghiên cứu
Những giả định này có thể hợp lý với những hành vi thực tế của nền kinh
tế Việt Nam. Đầu tiên, các hãng không thay đổi sản lượng và giá một cách bất
ngờ để phản ứng lại những thay đổi không được dự báo trong chính sách tiền
tệ trong cùng một thời kỳ do chi phí điều chỉnh tương đối cao cũng như việc
lập kế hoạch đòi hỏi nhiều thời gian, trong khi đó Ngân hàng nhà nước Việt
Nam có thể thiết lập chính sách tiền tệ một cách nhanh chóng để phản ứng lại
những thay đổi trong sản lượng và giá cả. Giả định này có cơ sở do Ngân
hàng nhà nước Việt Nam có thể thiết lập chính sách tiền tệ trong khuôn khổ
được quy định bởi Quốc hội để hỗ trợ nền kinh tế đạt được những mục tiêu
sản lượng và lạm phát nhất định. Hơn nữa, những thay đổi trong sản lượng
thông thường ảnh hưởng ngay đến những thay đổi trong mức giá vì sản lượng
thường phản ứng chậm hơn so với giá cả. Do vậy, giá được giả định để phản
ứng lại sản lượng ngay lập tức.
Thứ hai, những thay đổi trong sản lượng và giá cả dẫn đến những thay
đổi trong cầu và cung tiền. Trong mô hình nghiên cứu, phương trình tiền tệ
dựa trên cầu tiền cho Việt Nam đồng và ngoại tệ được thể hiện bằng phương
trình ở dòng 3 và 4 trong Bảng 4.1. Phương trình cung tiền được thể hiện bởi
các phương trình ở dòng 5 và 6 trong Bảng 4.1.
54

Theo cách tiếp cận tài sản và thực tế ở nền kinh tế Việt Nam, những thay
đổi trong thị trường tiền tệ sẽ làm tỷ giá hối đoái dao động trong ngắn hạn, và
ngay trong tháng mà thay đổi này xảy ra. Nghiên cứu của Ito và Sato (2006)
về MCTGLP ở một vào nước Đông Á cũng đặt biến TGHĐ sau biến tiền tệ và
ngay thời kỳ sau đấy (tháng liền sau), khi mà TGHĐ thay đổi do những thay
đổi của thị trường tiền tệ thì NHNN sẽ trực tiếp can thiệp để đạt neo tỷ giá
trong một biên độ dao động nhất định. Do vậy, nghiên cứu hoàn toàn có lý do
để đặt biến TGHĐ sau biến lãi suất.
55

CHƢƠNG 5
KẾT QUẢ MÔ HÌNH
“Như đã được thảo luận trong chương 4, mô hình được sử dụng là mô
hình VAR gồm 7 biến nội sinh là: khoảng cách sản lượng, dao động của tỷ giá
hối đoái, thay đổi của cung tiền Việt Nam đồng, tiền gửi ngoại tệ, lãi suất tiền
gửi kỳ hạn 3 tháng của Việt Nam đồng và USD và lạm phát, tỷ giá hối đoái.
Biến giá dầu được xem là biến ngoại sinh trong mô hình. Phần dư dạng rút
gọn từ mô hình VAR được trực giao bằng cách sử dụng phân tích Cholesky để
nhận dạng các cú sốc cấu trúc theo ma trận (Bảng 4.1). Do vậy, nhiệm vụ của
chương này gồm có: kiểm định nghiệm đơn vị, xác định độ dài của trễ, kiểm
định tính ổn định của mô hình, phân tích phản ứng cú sốc và phương sai”.

5.1 Kiểm định nghiệm đơn vị
Kiểm định nghiệm đơn vị ADF được sử dụng để xác định tính dừng của
chuỗi dữ liệu. Vấn đề tính dừng là một trong những điều kiện quan trọng khi
phân tích chuỗi dữ liệu theo thời gian. Nếu chuỗi không dừng thì sẽ tạo ra hồi
quy giả mạo và làm sai lệch kết quả mô hình.
Kiểm định giả thiết:
H
0
: chuỗi không dừng
H
1
: chuỗi dừng
Điều kiện bác bỏ H
0
nếu: t lớn hơn giá trị tuyệt đối của giá trị thống kê
tại các mức ý nghĩa 1%, 5% hoặc 10% tùy thuộc vào độ tin cậy sử dụng.
Như vậy, kết quả kiểm định ADF (phụ lục 2) cho thấy tất cả các biến đều
có hiện tượng là chuỗi không dừng và có liên kết bậc 1-I(1) và có tính xu
hướng nên đã được thay thế bởi sai phân bậc một của biến. Tuy nhiên, sai
56

phân bậc một này có tính dừng theo xu hướng nên nghiên cứu đã sử dụng sai
phân bậc một của logarit tự nhiên các biến số. Kết quả cho thấy sai phân bậc
nhất của logarit tự nhiên các biến số - kí hiệu là DLOG(X) - là chuỗi dừng tự
nhiên. Riêng biến OPGAP đã được xử lý theo kỹ thuật Hodrick-Prescott nên
OPGAP là chuỗi dừng tự nhiên.
5.2 Độ dài của trễ và tính ổn định của mô hình VAR
Số bậc của chuỗi dừng (hiện tượng trễ) trong mô hình VAR có ý nghĩa
hết sức quan trọng để định dạng mô hình. Bảng 5.1 thể hiện những tiêu chuẩn
xác định độ trễ của phân tích VAR.
Theo các tiêu chuẩn dưới đây, độ trễ có thể là 0; 2 và 3. Nghiên cứu chọn
lựa độ trễ là 2 vì những lý do sau: Thứ nhất, độ trễ là 0 là không hợp lý do giá
trị của kỳ trước thường có những ảnh hưởng nhất định đến kỳ sau và kỳ vọng
giá trị tương lai thường được dựa trên giá trị hiện tại. Thứ hai, độ trễ càng nhỏ
càng tốt vì số quan sát là có hạn nên nếu tăng độ dài của trễ sẽ làm cho bậc tự
do bị giảm, do vậy ảnh hưởng đến chất lượng của các ước lượng. Thứ ba, các
kiểm định diagnostic dưới đây chứng minh rằng độ trễ bằng 2 là phù hợp.
Bảng 5.1: Xác định độ dài của trễ trong mô hình VAR


Lag LogL LR FPE AIC SC HQ


0 212,1675 NA 5,14e-13 -8,432659 -7,881551* -8,225273*
1 272,1337 96,96663 3,33e-13 -8,899306 -6,419321 -7,966071
2 326,1330 71,23307* 3,17e-13* -9,112041 -4,703178 -7,452956
3 384,7112 59,82462 3,29e-13 -9,519627* -3,181887 -7,134693


Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên phần mềm EVIEW 5.0
Tính ổn định của mô hình VAR được trình bày ở Phụ lục 3, chứng minh
rằng mô hình VAR thỏa mãn các điều kiện ổn định vì tất cả các gốc (roots of
57

modulus) đều nằm trong đường tròn đơn vị. Do vậy, sai số chuẩn trong các
phân tích các thay đổi xảy ra được trình bày trong mô hình có giá trị.
Những kiểm định Diagnostic được trình bày trong phụ lục 4 cũng chứng
minh rằng tại mức ý nghĩa 1%, tất cả đều có phân phối chuẩn, phương sai của
sai số không đổi và không có hiện tượng tự tương quan tại các độ trễ. Tuy
nhiên với mức ý nghĩa 5%, một số kết quả kiểm định cho thấy có các hiện
tượng trên xuất hiện, tuy nhiên mục tiêu chính của mô hình VAR là để phân
tích mối liên hệ động, lẫn nhau giữa các biến trong hệ thống hơn là ước lượng
tham số trong từng phương trình cụ thể, do vậy sự hiện diện của những hiện
tượng này trong mô hình VAR có thể không phải là mối quan tâm chính trong
nghiên cứu này. Ngoài ra, kiểm định tính ổn định của mô hình VAR đã chứng
minh rằng những độ lệch chuẩn trong phân tích các thay đổi đều có giá trị.
5.3 Các kết quả ƣớc lƣợng
Trong phần này, nghiên cứu sẽ phân tích hai đặc tính thống kê trong mô
hình VAR được sử dụng để đánh giá mức chuyển từ thay đổi của một biến nội
sinh vào các biến nội sinh: phản ứng cú sốc
15
và phân tích phương sai
16
. Một
tác động (một cú sốc) đến một biến không chỉ làm thay đổi biến đó mà còn
được truyền tải đến các biến khác trong mô hình thông qua các mối quan hệ
cùng tồn tại ở thời điểm mà tác động này xảy ra và thông qua cấu trúc độ trễ
của mô hình VAR. Nghiên cứu trước hết sẽ phân tích phản ứng của lạm phát
đối với sự tăng lên của tỷ lệ (nói cách khác sự giảm giá của đồng nội tệ), sau
đó sẽ phân tích các tác động khác đến tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam, từ đó xác
định được độ lớn, thời gian của các tác động. Các phản ứng cú sốc do tỷ giá

15
phản ứng cú sốc = impulse response.
16
Phân tích phương sai = variance decomposition.
58

gây ra được ước lượng qua một thời kỳ là 40 tháng. Các cú sốc này đều được
chuẩn hoá theo 1% tăng lên. Thứ hai, phân tích phương sai được sử dụng để
ước lượng nguyên nhân của sự thay đổi phương sai của các biến được đề cập
trong mô hình, đặc biệt là biến chỉ số giá tiêu dùng hay lạm phát.
5.3.1 Tác động của sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát
Hình 5.1 minh hoạ tác động của sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát. Do
tỷ giá được xếp sau chỉ số giá tiêu dùng trong ma trận tam giác Cholesky nên
sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát chỉ xảy ra trong thời kỳ tiếp theo. Vì vậy,
trong thời kỳ đầu tiên - tháng thứ nhất - khi TGHĐ thay đổi thì chỉ số giá
không thay đổi và chỉ thay đổi bắt đầu từ tháng thứ hai. Đúng như kỳ vọng
17
,
lạm phát tăng ngay sau khi tỷ giá hối đoái tăng và mạnh nhất vào tháng thứ
hai, sau đó giảm dần và mất hẳn vào tháng thứ 3 sau cú sốc tỷ giá. Và sau
khoảng 10 tháng, lạm phát trở lại mức như ban đầu. Ngoài ra, biên sai số rất
hẹp cho thấy kết quả rất đáng tin cậy.
Hình 5.1: Tác động của sự thay đổi của tỷ giá đến lạm phát
-.004
-.003
-.002
-.001
.000
.001
.002
.003
5 10 15 20 25 30 35 40

Nguồn: Tính toán bởi nhóm nghiên cứu theo các nguồn IFS, GSO, BIDV.

17
Giải thích ờ phần 2.1.2.
59

Để đo lường mức chuyển tỷ giá vào giá nhập khẩu và giá tiêu dùng,
nhiều nghiên cứu (ví dụ như MaCarthy (2000); Leigh và Rossi (2002); Ito và
Sato (2006); Lian (2007)) đã sử dụng phương pháp tiêu chuẩn hoá, trong đó
độ lệch chuẩn của TGHĐ sẽ được tiêu chuẩn hoá thành cú sốc tăng 1%. Đồng
thời, khi tính MCTGLP phải xem xét đến sự thay đổi của chính tỷ giá do cú
sốc của chính nó gây ra vào các thời kỳ sau đấy.
Áp dụng công thức của Leigh và Rossi (2002) đo lường hệ số mức
chuyển (PT) như sau:
, 1
, 1
t t
t t
t
P
PT
E
+
+
=

Trong đó: P
t,t+1
là sự thay đổi trong các chỉ số giá tại thời điểm t nhằm
phản ứng lại với cú sốc ban đầu trong TGHĐ, E
t
là sự thay đổi tích lũy theo
thời gian của TGHĐ với cú sốc của chính nó.
Do vậy, ta tính được hệ số mức chuyển như sau:
Bảng 5.2: Hệ số mức chuyển
Nguồn: Tính toán bởi nhóm nghiên cứu theo các nguồn IFS, GSO, BIDV.
Thời kì CPI Thời kì CPI
1 0 9 -0,01
2 0,069567 10 -0,09
3 -0,32682 11 -0,12
4 -0,52774 12 -0,19
5 -0,46276 15 0
6 -0,18333 20 0
7 -0,03 40 0
8 -0,05
60

-.003
-.002
-.001
.000
.001
.002
.003
.004
.005
.006
5 10 15 20 25 30 35 40
-.005
-.004
-.003
-.002
-.001
.000
.001
.002
.003
.004
5 10 15 20 25 30 35 40
-.002
-.001
.000
.001
.002
.003
.004
.005
5 10 15 20 25 30 35 40
-.004
-.003
-.002
-.001
.000
.001
.002
.003
.004
.005
5 10 15 20 25 30 35 40
Như vậy, khi TGHĐ tăng lên 1% thì chỉ làm chỉ số CPI tăng lên 0,07 %
và ngay sau khi sự thay đổi của TGHĐ xảy ra. Nói cách khác, MCTGLP ở
Việt Nam là 0,07. Tuy nhiên, tác động này cũng bị triệt tiêu hoàn toàn vào
tháng thứ 3 sau đấy và sau 15 tháng thì CPI trở lại như ban đầu trước khi cú
sốc xảy ra.
Để đánh giá MCTGLP này là lớn hay nhỏ thì cần phải so sánh với các
quốc gia khác, so sánh này sẽ được tiến hành ở cuối chương.
5.3.2 Phản ứng của CPI với các cú sốc khác
Hình 5.2: Phản ứng của CPI với các cú sốc kinh tế khác
(a) OPGAP (b) VND
(c) RVND (d) RUSD
61

Nguồn: Tính toán bởi nhóm nghiên cứu theo các nguồn IFS, GSO, BIDV.
Xem xét phản ứng của CPI với các cú sốc vĩ mô khác như được minh
hoạ trong hình 5.2, ta có một số nhận xét sau:
Hình 5.2a minh hoạ phản ứng của CPI khi tổng cầu thay đổi. Như được
kỳ vọng, khi tổng cầu tăng thì giá sẽ tăng ngay trong cùng thời kỳ tổng cầu
tăng vì tổng cầu được xếp trước CPI trong mô hình VAR. Sự tăng này xảy ra
liên tục từ tháng thứ nhất đến tháng thứ tư, và mạnh nhất vào tháng thứ hai
khi 1% thay đổi của tổng cầu làm lạm phát tăng 0,0025%. Kết quả này khác
với nghiên cứu của Võ Văn Minh (2009) về kết luận rằng tổng cầu tăng lên
làm lạm phát giảm.
Hình 5.2b minh hoạ phản ứng của CPI khi cung tiền tăng. Tương tự như
tổng cầu, cung tiền tăng làm lạm phát tăng từ tháng thứ 2 vì như thứ tự của
mô hình thì cung tiền đứng sau chỉ số giá tiêu dùng nên sự thay đổi của cung
tiền chỉ tác động đến tỷ giá vào tháng kế tiếp. Cung tiền tăng làm lạm phát
tăng từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 13 sau cú sốc, sau đó trở về mức ban đầu
truớc khi bị tác động. Ảnh hưởng lớn nhất là vào tháng thứ tư sau tác động
khi mà 1% thay đổi của cung tiền làm lạm phát tăng 0,0021%. So với cú sốc
tổng cầu thì sự tăng lên của cung tiền ảnh hưởng đến lạm phát lâu hơn.
Tiếp đến, hình 5.3c và 5.3d minh họa tác động của lãi suất Việt Nam
đồng và lãi suất USD đến tỷ lệ lạm phát. Trong đó, sự tăng lên của lãi suất
VND đại diện cho chính sách tiền tệ thắt chặt, do vậy lạm phát giảm ngay
tháng thứ hai (vì lạm phát đứng trước RVND trong ma trận tam giác
Cholesky) và giảm mạnh nhất vào tháng thứ ba khi mà 1% tăng lên của lãi
suất làm lạm phát giảm 0,0017%. Sau 15 tháng, tác động của lãi suất đến lạm
phát triệt tiêu và lạm phát trở lại mức ban đầu trước khi bị tác động.
62

Tuy nhiên, khi RUSD tăng thì lạm phát tăng ngay trong thời kỳ sau đấy,
tăng 0,013%. Điều này có thể do chi phí của các hãng tăng lên do các khoản
vay tính bằng USD, và hãng buộc phải phải tăng giá vào tháng liền sau để bù
vào chi phí này. Tuy nhiên, từ tháng thứ 3 trở đi, lạm phát bắt đầu giảm và về
mặt dài hạn thì đúng như lý thuyết.
Kết quả mô hình cho thấy, tất cả các biên sai số rất hẹp nên kết quả rất
đáng tin cậy.
5.3.3 Phân tích phƣơng sai
Theo lập luận của Taylor (2000), để củng cố thêm kết luận về ảnh hưởng
của cú sốc tỷ giá đến các mức giá nội địa, ngoài phân tích phản ứng cú sốc
cần phải thực hiện phân tích phương sai. Cụ thể hơn, nếu mức chuyển tỷ giá
đến các mức giá nội địa cao hàm ý một sự chuyển dịch mạnh từ những thay
đổi của TGHĐ vào các mức giá nội địa, đặc biệt là CPI, nhưng nếu tỷ giá hối
đoái chỉ gây ra một ảnh hưởng nhỏ đến phương sai của DLOG(CPI) thì tỷ giá
hối đoái không phải là một nhân tố quan trọng trong việc quyết định sự thay
đổi của CPI. Do vậy, phân tích phương sai của biến mục tiêu hết sức cần thiết.
Cụ thể trong nghiên cứu biến mục tiêu chính là CPI.
Bảng 5.3: Phân tích phƣơng sai của chỉ số giá tiêu dùng CPI


Thời kỳ S.E. OPGAP DLOG(CPI) DLOG(VND) DLOG(FCD) DLOG(RVND) DLOG(RUSD) DLOG(ER)


1 4863.302 1.050354 98.94965 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
5 6286.387 9.436129 66.44666 7.730055 0.931146 5.364308 4.020434 6.071270
10 6342.600 8.973445 63.96962 8.841355 1.546502 6.551830 3.999989 6.117255
15 6344.096 8.977591 63.83607 8.845178 1.573841 6.622441 4.012543 6.132335
20 6344.209 8.977506 63.83208 8.844949 1.573890 6.624366 4.014191 6.133022
25 6344.218 8.977466 63.83168 8.844945 1.573957 6.624674 4.014257 6.133017
30 6344.218 8.977467 63.83166 8.844942 1.573960 6.624695 4.014260 6.133019
35 6344.218 8.977467 63.83166 8.844942 1.573960 6.624696 4.014260 6.133019
40 6344.218 8.977467 63.83166 8.844942 1.573960 6.624696 4.014260 6.133019
Nguồn: Tính toán bởi nhóm nghiên cứu theo các nguồn IFS, GSO, BIDV
63

Kết quả của phân tích phương sai (Bảng 5.3) cho thấy: cả OPGAP và
cung tiền nội địa là những tác nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát ở Việt
Nam, tuy nhiên theo phân tích ở phần 5.3.2 thì tác động của OPGAP đến tỷ lệ
lạm phát chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn, còn tác động của cung tiền
thì tương đối dài hơn. Điều này tương tự đối với tác động của sự thay đổi của
tỷ giá. Hơn nữa, lãi suất VND có tác động đến tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam lớn
hơn tác động của lãi suất USD. Nói cách khác, cung tiền tăng nhanh là một
trong những tác nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát và kiểm soát cung
tiền cũng như thắt chặt lãi suất VND là một trong những cách hiệu quả nhất
để đạt được mục tiêu lạm phát ở Việt Nam.
5.4 So sánh kết quả với các nƣớc khác
Phản ứng cú sốc đã xác định được hệ số mức chuyển tỷ giá vào giá tiêu
dùng theo từng thời kỳ sau cú sốc. Về mặt trung bình, MCTGLP lần lượt là
0,07 sau hai tháng. Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện hơn về MCTGLP
ở Việt Nam, nghiên cứu so sánh kết quả này với một số nước phát triển và
đang phát triển khác. So sánh MCTGLP, nghiên cứu của Chouhdri và Hakura
(2001) đã tính được MCTGLP bằng 0 ở Ethiopia. Tương tự, MCTGLP ở
Tazania theo nghiên cứu của Mwase (2006) là 0,023. Ito và Sato (2006) cũng
đã tính kết quả MCTGLP vào các nền kinh tế Đông Á trong đó Hàn Quốc
(0,08), Thái Lan (0,07), Malaysia (0,03), Philippines (0,03), Indonesia
(0,31)… Do vậy, hệ số MCTGLP của Việt Nam là ở mức trung bình.
Lý giải về nguyên nhân MCTGLP ở Việt Nam ở mức trung bình là do
một số nguyên nhân sau: thứ nhất, lạm phát ở Việt Nam chủ yếu là do sự tăng
giá của lương thực, thực phẩm, ví dụ như trong năm 2008, khi lạm phát ở Việt
Nam leo đến 23% thì giá của lương thực thực phẩm tăng hơn 30%. Mà giá
của lương thực thực phẩm không chịu tác động lớn của TGHĐ. Thứ hai, sự
64

hội nhập của Việt Nam ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, cùng với đấy
là tính cạnh tranh ngày càng được cải thiện, điều này hạn chế khả năng điều
chỉnh giá cả của các doanh nghiệp khi một sự thay đổi của tỷ giá diễn ra, như
đã phân tích trong phần 2.2.
65

CHƢƠNG 6
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

6.1 Kết luận
Nghiên cứu đã tiến hành đo lường mức chuyển tỷ giá vào lạm phát Việt
Nam dựa trên mô hình tự hồi quy Vectơ VAR, và đã sử dụng phần mềm
Eview để thu được các kết quả ước lượng. Để rút ra một số kết luận, đồng
thời đảm bảo tính hệ thống của nghiên cứu, phần kết luận sẽ trả lời trực tiếp
các câu hỏi nghiên cứu đặt ra ở chương 1 gồm có:
+ Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức chuyển tỷ giá vào CPI?
+ Giả định các yếu tố khác không đổi, tỷ giá thay đổi (mất giá) 1% thì lạm
phát thay đổi bao nhiêu phần trăm?
+ Tỷ giá hối đoái có thể giải thích bao nhiêu phần trăm những thay đổi của
lạm phát?
+ Sử dụng mô hình gì để đạt những kết quả trên?
+ Liệu tỷ giá hối đoái có phải là một kênh phù hợp để đạt được kiềm chế
lạm phát ở Việt Nam? Chính sách tỷ giá hối đoái cần được điều chỉnh
như thế nào?
Thứ nhất, nghiên cứu đã hệ thống hóa lý thuyết về ảnh hưởng của những
thay đổi của tỷ giá đến lạm phát gồm có: khái niệm về MCTGLP, hai kênh tác
động, và xem xét các tác nhân ảnh hưởng đến mức chuyển này gồm có ở
phương diện vi mô lẫn vĩ mô.
66

Thứ hai, nghiên cứu đã xác định được mức chuyển tỷ giá ở Việt Nam là
MCTG không hoàn toàn thuộc nhóm trung bình thấp, trong đó MCTGLP của
Việt Nam là 0,07 sau 2 tháng kể từ cú sốc.
Thứ ba, phân tích phương sai cho thấy TGHĐ có thể giải thích khoảng
6-7% những thay đổi của lạm phát, tuy nhiên vì tác động của sự thay đổi
TGHĐ ảnh hưởng đến lạm phát không nhiều nên có thể kết luận rằng tác
động của cú sốc tỷ giá đến tỷ lệ lạm phát không lớn.
Thứ tư, nghiên cứu đã sử dụng mô hình VAR rút gọn, kết hợp với phần
mềm EVIEW để rút ra những kết quả ước lượng và thực hiện các kiểm định
cần thiết. Đây là một cách tiếp cận phổ biến đối với các nghiên cứu về
MCTGLP.
Thứ năm, nghiên cứu chứng minh rằng ảnh hưởng của TGHĐ đến chỉ số
CPI là tương đối nhỏ và trong một thời gian rất ngắn, do vậy đây không phải
là một kênh phù hợp để thực hiện chính sách mục tiêu lạm phát.
Ngoài ra, nghiên cứu đã phát hiện tăng cung tiền là nguyên nhân chính
ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam vì chính độ lớn cũng như sự dai dẳng
của tác động này đến lạm phát.
6.2 Khuyến nghị chính sách
Từ những kết luận nghiên cứu thu được, nhóm nghiên cứu xin đề xuất
một số chính sách liên quan như sau:
Thứ nhất, vì mức chuyển của tỷ giá hối đoái đến các mức giá nội địa là
trung bình thấp, đặc biệt là chỉ số giá tiêu dùng, hơn nữa các tác động này đến
lạm phát bị triệt tiêu hoàn toàn sau tháng thứ 3, cùng với việc tỷ giá
VND/USD của các NHTM luôn kịch trần cũng như việc chênh lệch giữa tỷ
giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do tương đối cao, do vậy Ngân hàng
67

trung ương nên áp dụng một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn, mở rộng
biên độ dao động. Điều này sẽ tạo ra sự tự do hơn cho chính sách tiền tệ để
thực hiện các mục tiêu vĩ mô khác.
Thứ hai, ngoài ra nghiên cứu cũng phát hiện rằng sự can thiệp của
NHNN vào thị trường ngoại hối đôi khi đã làm nhiễu và trầm trọng thêm các
vấn đề của nền kinh tế do vậy chính sách điều hành tỷ giá cần linh hoạt theo
thị trường nhằm giảm bớt những hạn chế của cơ chế tỷ giá hiện tại, nếu không
sự can thiệp quá mức của NHNN có thể sẽ làm tổn thương “tính lỏng” của thị
trường và đẩy lạm phát ngày càng cao hơn.
Thứ ba, lạm phát cao ở Việt Nam chủ yếu là do cung tiền mở rộng liên
tục trong thời gian qua. Do vậy, để kiểm soát lạm phát trước hết cần kiểm soát
cung tiền. Ngoài ra, tăng lãi suất VND là một trong những công cụ mạnh để
đạt được những mục tiêu về lạm phát. Nghiên cứu cũng phát hiện rằng cú sốc
cầu chỉ ảnh hưởng đến lạm phát nhất thời nên NHNN không nên sử dụng các
biện pháp can thiệp khi tổng cầu tăng trong ngắn hạn.
6.3 Những hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu đã cố gắng để lượng hoá cú sốc TGHĐ vào lạm phát ở Việt
Nam, tuy nhiên nghiên cứu vẫn tồn tại một vài hạn chế nhất định, làm tiền đề
cho những nghiên cứu về sau. Trong đó có:
Cú sốc tỷ giá đến các mức giá nội địa diễn ra theo chuỗi phân phối từ tác
động đến giá nhập khẩu, giá sản xuất và cuối cùng là giá tiêu dùng. Tuy
nhiên, việc thiếu dữ liệu của giá nhập khẩu và giá sản xuất ảnh hưởng nhất
định đến MCTGLP. Do vậy, việc tìm các biến đại diện cho hai chỉ số này là
hết sức cần thiết trong các nghiên cứu về sau.
Trong nhiều nghiên cứu, các tác giả đã xây dựng mối quan hệ dài hạn
giữa tỷ giá hối đoái và các biến liên quan cũng như ảnh hưởng của những thay
68

đổi cấu trúc đến MCTG. Tuy nhiên, do hạn chế của số liệu chỉ có trong 5 năm
từ 2005 đến 2009, nên rất khó để xác định các mối quan hệ dài hạn một cách
phù hợp.
Chính những hạn chế trên đã gợi ý cho những nghiên cứu xa hơn đối với
đề tài này. Trong đó việc khắc phục các hạn chế là ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra,
nghiên cứu xa hơn sẽ mở rộng khoảng thời gian nghiên cứu, cải thiện các số
liệu để có thể đạt được những kết quả đáng tin cậy.
69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bacchetta, P., and Van Wincoop, E., 2002, “Why Do Consumer Prices
React Less than Import Prices to Exchange Rates?” NBER Working
Papers, No. 9352.
2. Belaisch, A., 2003, “Exchange Rate Pass-Through in Brazil,” IMF
Working Paper,WP/03/141, International Monetary Fund.
3. Campa, J. M. and L. S. Goldberg, 2005, “Exchange Rate Pass Through
into Import Prices,” Review of Economics and Statistics, 87(4), pp.
679-690.
4. Campa, M. Jose and Goldberg, Pinelopi Koujianou (2002), “Exchange
Rate Pass-Through into Import Prices: A Macro or Micro
Phenomenon”, NBER Working Paper 8934.
5. Clark, P. B. and R. Macdonald (1999), “Exchange rates and economic
fundamentals: A methodological comparison of BEERs and FEERs”
in R.. MacDonald and J. L. Stein: Equilibrium exchange rates,
Norwell, MA., pp. 285-322.
6. Devereux, M., C. Engel and P. Storgaard (2004), “Endogenous Exchange
Rate Pass-Through When Prices Are Set in Advance”, Journal of
International Economics, Vol 63, pp. 263-291.
7. Dornbusch, R., (1987), “Exchange Rates and Prices,” American Economic
Review, 77, pp. 93-106.
8. Dornbusch, Rudi (1987), “Exchange Rates and Prices”, NBER Working
Paper, No.1769.
70

9. Faruqee, H. (2006), “Exchange Rate Pass-Through in the Euro Area”,
IMF Staff Papers, 53(1), pp.63-88.
10. Feinberg, R. (1986), “The Interaction of Foreign Exchange and Market
Power Effects on German Domestic Prices”, Journal of Industrial
Economics 35 (1), pp. 61-70.
11. Goldberg, P.K. and Knetter, M.K.(1997), “Goods Prices and Exchange
Rates: What have we Learned?”, Journal of Economic Literature, 35,
pp. 1243-1272.
12. Hahn, E. (2003), “Pass-Through of External Shocks to Euro Area
Inflation”, Working Paper, 243, European Central Bank.
13. Hooper, Peter and Mann, Catherine L. (1989), “Exchange Rate Pass-
Through in the 1980s: the Case of the U.S. Imports of
Manufactures”, Brookings Papers of Economic Activity, 1.
14. IFS- International Financial Statistics
15. IMF, (2003) Olà Unteroberdoerster, Rania Al-Mashat, Shanaka J. Peiris
(All APD), Qing Wang (PDR), and Erik Lueth (FAD): Vietnam:
Selected Issues.
16. Ito, Takatoshi and Sato, Kiyotaka (2006), “Exchange Rate Changes and
Inflation in Post-Crisis Asian Economies: VAR Analysis of the
Exchange Rate Pass-Through”, NBER working paper 12395.
17. Leigh, D. and M. Rossi (2002), “Exchange Rate Pass-Through in
Turkey”, IMF Working Paper, WP/02/204, International Monetary
Fund.
71

18. Lian, An (2006), “Exchange Rate Pass-Through: Evidence Base on
Vector Autoregression with Sign Restrictions”, MPRA paper, No.
527.
19. Mann, C.L. (1986), “Prices, Profit Margins and Exchange Rates,” Federal
Reserve Bulletin 72, pp. 366-79.
20. McCarthy, J. (2000), “Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices
to Domestic Inflation in Some Industrialized Economies”, Staff
Reports, 111, Federal Reserve Bank of New York.
21. Ngân hàng Đầu tư và phát triển BIDV Việt Nam.
22. Nkunde Mwase. (2006), “An Empirical Investigation of the Exchange
Rate Pass-Through to Inflation in Tanzania”, IMF Working Paper,
WP/05/150.
23. Nicoleta, C. (2007), “Estimating the exchange rate pass through into
inflation in a vector autoregressive framework”.
24. Nguyen Thi Thu Hang et al (2010), “Lựa chọn chính sách tỷ giá”, Báo
cáo kinh tế thường niên, VEPR.
25. Olivei, G. P. (2002), “Exchange Rates and the Prices of Manufacturing
Products Imported into the United States,” New England Economic
Review, Federal Reserve Bank of Boston, First Quarter, pp. 3-18.
26. Otani, A., S. Shiratsuka and T. Shirota (2005), “Revisiting the Decline in
the Exchange Rate Pass-Through: Further Evidence from Japan’s
Import Prices”, IMES Discussion, No. 2005-E-6, Institute for
Monetary and Economic Studies, Bank of Japan.
72

27. Paul Krugman (1986), “Pricing to Market when the Exchange Rate
Changes”, NBER Working Papers 1926, National Bureau of
Economic Research, Inc.
28. Pham Minh Chinh và Vương Quan Hoàn (2009), “Kinh tế Việt Nam:
Thăng trầm và đột phá”, sách tham khảo.
29. Taylor, J.B. (2000) “Low Inflation, Pass-through, and the Pricing Power
of Firms”, European Economic Review, 44, pp. 1389-1408.
30. Tổng cục thống kê Việt Nam – GSO.
31. Vo Tri Thanh; Dinh Hien Minh; Do Xuan Truong; Hoang Van Thanh;
Pham Chi Quang (2000), “Exchange Rate Arrangement in Vietnam:
Information Contents and Policy Option”, East Asian Development
Network (EADN), Individual Research Project.
32. Vo Van Minh (2009), “Exchange rate pass-through and its implications
for inflation in Vietnam”, VDF Working Paper.
33. Yang J.W. (1997), “Exchange Rate Pass-through in U.S. Manufacturing
Industries”, The Review of Economics and Statistics, 79, pp. 95-104.
73

PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: MÔ HÌNH VAR

Xem xét ba hệ thống biến sau:
y
t
= -b
12
z
t
-

b
13
g
t
+ γ
11
y
t-1
+ γ
12
z
t-1
+ γ
13
g
t-1
+ ε
yt
(1)

z
t
= -b
21
y
t
-

b
23
g
t
+ γ
21
y
t-1
+ γ
22
z
t-1
+ γ
23
g
t-1
+ ε
zt
(2)
g
t
= -b
31
y
t
-

b
32
z
t
+ γ
31
y
t-1
+ γ
32
z
t-1
+ γ
33
g
t-1
+ ε
gt
(3)
với giả định y
t
, z
t
và g
t
là không thay đổi; ε
yt
, ε
zt
, và ε
gt
là những nhiễu trắng và
không tương quan với nhau. Các công thức (1); (2) và (3) được gọi là hệ
thống nguyên thủy. Hệ thống nguyên thủy không tính toán trực tiếp được do
vấn đề tương quan giữa các hồi quy và các sai số.
Chúng ta cũng có thể viết lại hệ thống như dưới đây:
y
t
+ b
12
z
t
+ b
13
g
t
= γ
11
y
t-1
+ γ
12
z
t-1
+ γ
13
g
t-1
+ ε
yt
(4)

b
21
y
t
+ z
t
+ b
23
g
t
= γ
21
y
t-1
+ γ
22
z
t-1
+ γ
23
g
t-1
+ ε
zt
(5)
b
31
y
t
+

b
32
z
t
+ g
t
= γ
31
y
t-1
+ γ
32
z
t-1
+ γ
33
g
t-1
+ ε
gt
(6)
Sử dụng ma trận số học, ta có thể viết lại là:
B
o
x
t
= B
1
x
t-1
+ ε
t
(7)
Với
12 13
0 21 23
31 32
1
1
1
b b
B b b
b b
| |
|
=
|
|
\ .
,
11 12 13
1 21 22 23
31 32 33
B
¸ ¸ ¸
¸ ¸ ¸
¸ ¸ ¸
| |
|
=
|
|
\ .
,
t
t t
t
y
x z
g
| |
|
=
|
|
\ .
,
yt
t zt
gt
c
c c
c
| |
|
=
|
|
\ .

Nhân cả hai vế với B
o
1
, ta có dạng rút gọn hay dạng chuẩn sẽ là:
x
t
= A
0
x
t-1
+ e
t
(8)
với A
0
=

B
0
-1
B
1
(9)
74

và e
t
= B
0
-1
ε
t
hoặc ε
t
= B
0
e
t
(10)
Chúng ta có thể coi a
ij
là một biến ở hàng i và cột j của ma trận A, và e
it

biến i của véc tơ e
i
. Công thức rút gọn, chỉ bao gồm các biến quá khứ, có thể
được tính toán một cách trực tiếp:
y
t
= a
11
y
t-1
+ a
12
z
t-1
+ a
13
g
t-1
+ e
yt
(11)

z
t
= a
21
y
t-1
+ a
22
z
t-1
+ a
23
g
t-1
+ e
zt
(12)
g
t
= a
21
y
t-1
+ a
22
z
t-1
+ a
23
g
t-1
+ e
zt
(13)
Tuy nhiên, số tham số của gốc nguyên sơ lớn hơn so với mô hình thu gọn. Vì
vậy, chúng ta cần đưa ra giới hạn để khôi phục thông tin từ hệ thống tính toán
thông qua mối quan hệ đồng thời hay véc tơ B
0
.
Mô hình phổ biến nhất là giả thiết đệ quy trong đó các cú sốc lan truyền giữa
các biến trong hệ theo hạn chế một chiều. Mô hình này được gọi là phân tích
Choleski. Phương pháp này sẽ hạn chế ma trận cùng thời của hệ số cấu trúc
(ma trận B
0
) giảm xuống tam giác và tất cả các hệ số ở trên đều bằng 0. Hệ
thống nguyên sơ với công thức (4), (5) và (6), ví dụ, hệ số b
12
, b
13
và b
23

thể hạn chế đến không. Chúng ta có hệ thống mới:
y
t
= γ
11
y
t-1
+ γ
12
z
t-1
+ γ
13
g
t-1
+ ε
yt
(14)

b
21
y
t +
z
t
= γ
21
y
t-1
+ γ
22
z
t-1
+ γ
23
g
t-1
+ ε
zt
(15)
b
31
y
t
+

b
32
z
t
+g
t
= γ
31
y
t-1
+ γ
32
z
t-1
+ γ
33
g
t-1
+ ε
gt
(16)


75

PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ

Group unit root test: Summary
Date: 07/30/10 Time: 16:03
Sample: 2005M01 2009M03
Series: CPI, ER, FCD, OIL, RUSD, RVND, VND
Exogenous variables: Individual effects
Automatic selection of maximum lags
Automatic selection of lags based on SIC: 0 to 4
Newey-West bandwidth selection using Bartlett kernel


Cross-
Method Statistic Prob.** sections Obs
Null: Unit root (assumes common unit root process)
Levin, Lin & Chu t* -8.36329 0.0000 7 339
Breitung t-stat -7.85405 0.0000 7 332

Null: Unit root (assumes individual unit root process)
Im, Pesaran and Shin W-stat -10.2278 0.0000 7 339
ADF - Fisher Chi-square 121.433 0.0000 7 339
PP - Fisher Chi-square 102.855 0.0000 7 343

Null: No unit root (assumes common unit root process)
Hadri Z-stat 1.18112 0.1188 7 350


** Probabilities for Fisher tests are computed using an asympotic Chi
-square distribution. All other tests assume asymptotic normality.


76

PHỤ LỤC 3: TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH VAR







Roots of Characteristic Polynomial
Endogenous variables: OPGAP DLOG(CPI) DLOG(VND) DLOG(FCD) DLOG(RVND)
DLOG(RUSD) DLOG(ER)
Exogenous variables: C DLOG(OIL)
Lag specification: 1 2
Date: 07/30/10 Time: 13:02


Root Modulus


0.367512 - 0.668206i 0.762604
0.367512 + 0.668206i 0.762604
-0.425861 - 0.598481i 0.734532
-0.425861 + 0.598481i 0.734532
0.696142 - 0.167243i 0.715950
0.696142 + 0.167243i 0.715950
-0.543306 - 0.111454i 0.554620
-0.543306 + 0.111454i 0.554620
-0.101345 - 0.491341i 0.501684
-0.101345 + 0.491341i 0.501684
-0.347862 0.347862
0.073805 - 0.204161i 0.217092
0.073805 + 0.204161i 0.217092
0.210858 0.210858


No root lies outside the unit circle.
VAR satisfies the stability condition.
77

PHỤ LỤC 4: KIỂM ĐỊNH DIAGNOSTIC CÁC PHƢƠNG
TRÌNH TRONG MÔ HÌNH VAR
1. KIỂM ĐỊNH PHƢƠNG SAI CỦA SAI SỐ KHÔNG ĐỔI



Dependent Chi-sq(30) Prob.


res1*res1 23.61313 0.7892
res2*res2 32.75736 0.3332
res3*res3 28.29743 0.5547
res4*res4 39.24267 0.1204
res5*res5 38.23255 0.1439
res6*res6 44.20604 0.0457
res7*res7 23.86202 0.7782
res2*res1 30.51614 0.4395
res3*res1 27.20582 0.6124
res3*res2 39.97541 0.1053
res4*res1 31.32896 0.3994
res4*res2 31.89555 0.3724
res4*res3 37.50074 0.1630
res5*res1 34.43757 0.2637
res5*res2 33.77062 0.2901
res5*res3 30.76108 0.4272
res5*res4 38.41713 0.1393
res6*res1 40.01251 0.1046
res6*res2 40.28299 0.0995
res6*res3 34.38598 0.2657
res6*res4 43.79419 0.0498
res6*res5 46.71394 0.0265
res7*res1 33.25259 0.3117
res7*res2 38.59700 0.1350
res7*res3 40.22355 0.1006
res7*res4 38.05574 0.1483
res7*res5 36.88892 0.1804
res7*res6 41.88165 0.0733

78

2. KIỂM ĐỊNH TÍNH PHÂN PHỐI CHUẨN


Component Jarque-Bera df Prob.


1 3.038227 2 0.2189
2 3.271247 2 0.1948
3 7.299513 2 0.0260
4 5.981509 2 0.0502
5 1.888228 2 0.3890
6 5.029677 2 0.0809
7 3.240797 2 0.1978



3. KIỂM ĐỊNH TÍNH TỰ TƢƠNG QUAN


Lags LM-Stat Prob


1 74.83582 0.0102
2 60.28117 0.1296
3 42.76038 0.7228


Probs from chi-square with 49 df.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful