Nghiên cứu Thái độ học tập ở Việt Nam Khi nghiên cứu thành tựu của tâm lý học

thế giới và thực tiễn tâm lý học nước nhà, các nhà tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về vị trí, vai trò của thái độ trong quá trình thực hiện hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập. Mục tiêu của giáo dục là hình thành ở người học có đầy đủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, có văn hoá, có thái độ ứng xử hài hoà với môi trường sống, trong quá trình học tập và với bản thân mình. Thái độ là một trong những mục đích hàng đầu của dạy học bên cạnh việc cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Thái độ học tập là một trong những biểu hiện của động cơ học tập Thái độ là một trong 4 thành phần nội dung dạy học đại học (hệ thống tri thức, hệ thống kĩ năng kĩ xảo, hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, hệ thống các chuẩn mực thái độ đối với hiện thực) Thái độ học tập là một bộ phận cấu thành đồng thời là một thuộc tính cơ bản toàn vẹn của ý thức học tập của chủ thể, là yếu tố quy định tính tự giác, tích cực học tập và thể hiện bằng những cảm xúc, hành động tương ứng Trong mối tương quan: Nhận thức - Thái độ - Hành động thì lĩnh hội tri thức (khâu trung tâm của hoạt động học tập) đóng vai trò cơ sở, có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh, soi sáng cho thái độ, hành vi Sự hình thành động cơ học tập của học sinh chịu sự chi phối của nhiều nhân tố trong đó có quan niệm, thái độ của gia đình đối với việc học tập của con cái, thái độ, sự đánh giá của xã hội đối với việc học tập nói chung và thành tích học tập nói riêng Thái độ học tập là một trong những cơ sở tâm lý quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân của sinh viên đại học sư phạm Từ những quan niệm cũng như thực tiễn về việc nghiên cứu thái độ học tập tại nước

ta, đã có một số đề tài liên quan đến thái độ học tập của học sinh, sinh viên đã được nghiên cứu: - Tính tích cực nhận thức như là thái độ - Tự đánh giá thái độ học tập của SV sư phạm trong điều kiện có sự phân cấp học bổng - Những khó khăn chủ quan cũng như khách quan kìm hãm tính tích cực học tập của sinh viên - Thực trạng động cơ học tập, các nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của SV - Quan hệ giữa tự đánh giá của học sinh với thái độ học tập và động cơ học tập - Thái độ của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Tuyên Quang đối với tự học - Vấn đề kích thích tính tích cực học tập của sinh viên - Định hướng giá trị của thanh niên, sinh viên, học sinh - Tính tích cực học tập của sinh viên sư phạm trong quá trình đào tạo theo chế độ học tập mới Về phương pháp nghiên cứu thái độ học tập đã có các công trình nghiên cứu: - Vận dụng các chỉ báo của Frank nghiên cứu tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên sư phạm - Phương pháp đo thái độ, tinh thần trách nhiệm đối với lao động, sự thống nhất về định hướng giá trị của tập thể học sinh Tóm lại: ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu thái độ học tập của học sinh sinh viên còn chưa được triển khai rộng, mới chỉ đạt được một số kết quả bước đầu như xác định vai trò vị trí của thái độ học tập trong việc hình thành động cơ học tập, nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên thông qua nghiên cứu động cơ học tập, tính tích cực học tập, hứng thú học tập, định hướng giá trị. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm những chỉ báo chi tiết về thái độ học tập song còn có những khía cạnh chưa có sự thống nhất từ những vấn đề chung như định nghĩa, cấu trúc của thái độ học tập cho đến việc xác định các chỉ báo cụ thể.

Bàn về thái độ học tập Lý luận và kinh nghiệm sư phạm từ xưa đến nay đều quan tâm đến thái độ giảng dạy của người thầy và thái độ học tập của học sinh. Dạy và học cùng giúp nhau lớn lên Có lẽ xưa nhất là các tư tưởng của Khổng Tử. Về người thầy, ông có các ý kiến như: Hối nhân bất quyện (dạy người không mệt mỏi), câu này nói về sự nhiệt thành, sự tận tâm, “Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (dạy không nghiêm là lỗi của thầy) câu này khuyên dạy học phải nghiêm túc… về người học, câu nói nổi tiếng nhất của ông là: “Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi” (học mà không suy nghĩ thì sai lầm, suy nghĩ mà không học thì nguy hiểm). Câu danh ngôn này nói về quan hệ biện chứng giữa học và nghĩ, tức cũng là quan hệ giữa trò và thầy, học và dạy. Lý luận sư phạm và dạy học hiện đại không hề bác bỏ mà vẫn khẳng định các ngôn từ minh triết cổ đại. Dạy học là hoạt động sáng tạo từ hai phía: thầy và trò. Nếu chỉ nhấn mạnh một phía, chỉ lấy thầy giáo làm trung tâm hay chỉ lấy học sinh làm trung tâm đều không đúng. Cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đề xuất khái niệm: dạy học hợp tác (giữa thầy và trò) hoặc: thầy chủ đạo, trò chủ động. Trong quá trình dạy học và giáo dục, cả thầy và trò đều là hai chủ thể giáo dục tích cực, năng động và sáng tạo, hợp tác chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau. Cổ ngữ còn có câu: Giáo học tương trưởng (dạy và học cùng giúp nhau lớn lên). Không những sự dạy của thầy làm cho trò trưởng thành mà ngược lại sự học của trò cũng giúp cho thầy tiến bộ. Quan hệ thầy trò là một trong những quan hệ xã hội và nhân văn cao quý và thiêng liêng nhất xưa nay là vì vậy. Dù ngày nay, các nguồn thông tin văn hóa khoa học đã trở nên vô cùng phong phú, rộng lớn, tính chủ động sáng tạo của người học nâng lên rất nhiều, song điều đó không có nghĩa là vai trò của người thầy bị giảm sút hay triệt tiêu, mà trái lại phải hoàn thiện và nâng cao gấp bội. Bởi vì: giáo dục không chỉ là thông tin mà còn là đào tạo, bao gồm đào tạo và tự đào tạo và chỉ con người mới đào tạo được con người. Câu tục ngữ: Không thầy đố mày làm nên vẫn chưa bị lỗi thời mà còn phải cập nhật trong thời đại mới. Tầm sư học đạo, tôn sư trọng đạo vẫn còn là chân lý và đạo lý thời nay. Cố nhiên như đồng chí Phạm Văn Đồng nói: Thầy phải ra thầy, trò phải ra trò. Thái độ dạy học phải đúng đắn thì thái độ học tập

mới đúng đắn.

Học tập và suy nghĩ Nói về thái độ học tập, tôi nghĩ trọng tâm là ở hai chữ học và tư - tức học tập và suy nghĩ. Giáo dục ở mọi thời đại đều là sự truyền thụ và kế thừa các giá trị văn hóa, tư tưởng và khoa học từ thế hệ trước đến thế hệ sau. Ta thường gọi đó là hệ thống tri thức hay hệ thống các nguyên lý khoa học. Hệ thống này không phải vô hồn, vô cảm, mà kèm theo nó là một hệ thống tư tưởng (và tình cảm), một chủ nghĩa nhân văn để giáo dục, không phải là sự nhồi nhét đầu óc mà là sự đào tạo con người. Người đi học trước tiên có nhiệm vụ tiếp nhận và lĩnh hội hệ thống tri thức và hệ thống tư tưởng đó, biến nó từ của xã hội, của lịch sử trở thành của bản thân, của cá nhân. Còn gọi đó là sự chiếm lĩnh hay sự đồng hóa. Quá trình này vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, vừa có tính thụ động vừa có tính năng động. Chúng ta đều biết từ xưa đến nay trong các lớp học, các nhà trường, học sinh đều phải học các môn học, mỗi môn học là một hệ thống nhỏ hợp thành một hệ thống lớn các môn học, gọi là chương trình bộ môn và chương trình tổng thể, đó là một hệ thống tri thức và tư tưởng tạo nên nội dung giáo dục. Khoa tri thức luận hay khoa học luận xác định các nhân tố cơ bản của tri thức phổ thông và chuyên nghiệp (từ tiểu học, trung học đến đại học…) bao gồm các sự kiện, các khái niệm, các tư tưởng, các định luật và cao nhất là các lý thuyết, các học thuyết khoa học, cùng các ứng dụng xã hội, công nghệ và kỹ thuật… Biến tất cả các giá trị và thành tựu khách quan có tính xã hội đó thành các phẩm chất và năng lực chủ quan có tính cá nhân là một công việc vô cùng gian khổ và kiên trì, đòi hỏi những cố gắng rất lớn của người học, từ nhỏ đến lớn, trong một quá trình nhiều năm. Không lạ gì học tập được quan niệm là

một quá trình lao động và phấn đấu, “chỉ thêu nên gấm, sắt mài thành kim”, “kiến tha lâu đầy tổ”… Vừa học, vừa tập, vừa hành, người học dần dần mở rộng biên độ và nâng cao trình độ tri thức, tư tưởng, kỹ năng, kỹ xảo của mình để thành người được đào tạo, được giáo dục theo một mục tiêu chung và riêng nào đó. Từ là người được đào tạo trở thành người tự đào tạo, từ là người tiếp nhận tri thức, tư tưởng, kỹ thuật trở thành người vận dụng sáng tạo tri thức, tư tưởng, kỹ thuật… quá trình giáo dục, đào tạo là như vậy. Trong quá trình nói trên, học tập và suy nghĩ là hai thao tác trí tuệ quan trọng nhất. Không học tập thì không có gì để suy nghĩ. Không suy nghĩ thì học tập cũng như không, có khi còn tệ hơn là vì sa vào định kiến, giáo điều sai lầm. Còn chỉ suy nghĩ, suy nghĩ mà không học tập thì suy nghĩ sẽ đi vào cõi mông lung không có nội dung, căn cứ, mục tiêu, có khi trở thành loạn óc, loạn trí. Lỗ Tấn có thiên truyện ngắn Khổng Ất Kỷ miêu tả một nhân vật “thầy đồ cuồng chữ”. Kiểu người này trong cuộc sống chúng ta không phải hiếm gặp. Tiếng Việt ta có những từ ghép: học thức, học vấn, học hỏi, học tập, học hành nêu lên nội dung toàn diện của sự học để nhắc nhủ người học.

Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm Vì những nhận thức trên cho nên theo tôi, cái tâm thế đầu tiên của mọi người đi học bất cứ ở đâu chưa phải là thái độ sẵn sàng hoài nghi, sẵn sàng phản bác hay tranh luận như một vài nhà lý luận không sư phạm thuyết giáo. Có lẽ cái tâm thế này nảy sinh do một lối dạy học áp đặt, một lối học thụ động nào đó

gây nên thành phản ứng. Tuy nhiên, cái tâm thế đó cũng có tác dụng tiêu cực đối với việc học tập, tạo nên một thái độ học tập đối phó, đề phòng, thiếu cởi mở, tin tưởng. Thái độ học tập cần thiết đầu tiên, như mọi lời khuyên xưa nay, đó là thái độ khiêm tốn, chân thành học tập, sẵn sàng tiếp thu, tiếp nhận mọi tri thức mới mẻ, đúng đắn, tốt đẹp do các môn học, các thầy giáo đem lại. Kể cả những người đã có một trình độ uyên bác nhất định cũng cần khiêm tốn chân thành học tập, huống hồ là những người mới khởi hành trên con đường vạn dặm của tư tưởng, văn hóa, khoa học. Một trong năm điều Bác Hồ dạy thanh thiếu niên là: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Trong học tập cũng vậy, trước hết phải khiêm tốn, thật thà không kiêu ngạo, chủ quan, không giấu dốt, giả dối, “biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, đó là biết vậy”. Thái độ đó còn gọi là “hư tâm học tập”, chuẩn bị cho tâm trí mình trong sáng, cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận chân, thiện, mỹ của giáo dục. Kế đó là dũng cảm, tức là mạnh dạn tìm tòi, suy nghĩ, kể cả nghi ngờ, phản biện, tranh luận, đồng thời cũng sẵn sàng phục thiện, thừa nhận sai lầm, sửa chữa thiếu sót, bổ sung kiến thức, như lời dạy của Bác Hồ: học thầy, học bạn, học sách vở, học cuộc sống, học nhân dân… Tư duy giáo dục hiện đại dạy: không chỉ học tri thức mà còn học cách tìm tòi, sáng tạo tri thức, học cách học tập. Muốn có phương pháp học tập đúng, phải có thái độ học tập đúng. Cũng như muốn có phương pháp giảngdạy tốt phải có thái độ giảng dạy tốt, bao gồm sự chuẩn bị thái độ học tập tốt cho học sinh Ban nãy khi mình đọc bài viết HỌC BỔNG “ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU SINH VIÊN TRONG MẮT NHÀ TUYỂN DỤNG” mình có tải phiếu đăng kí về và thấy trong đó có câu hỏi "Định hướng và giải pháp của bạn để tránh cho bản thân mình rơi vào những nhận định mà các giám đốc nhân sự ở các doanh nghiệp đã nói về thực trạng sinh viên hiện nay?".Mình cũng thắc mắc không biết là các nhà doanh nghiệp nói gì về thực trạng sinh viên hiện nay nên đã lên mạng tìm hiểu thử và tìm được một số nhận xét về sinh viên Việt Nam: THỰC TRẠNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY THỤ ĐỘNG TRONG HỌC TẬP

Làm thêm, dạy kèm, bán hàng , tiếp thị dẫn đến lơ là học tập, hoặc không theo nổi chương trình học đại học là những lý do sinh viên bị buộc thôi học. Tuy nhiên đó không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa làm thêm nhưng kết quả học tập vẫn đạt điểm cao.Nguyên nhân ở đây là do sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình ( mặc dù trong phương pháp giảng dạy đại học nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những tư liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo)và tâm lí quen với việc “đọc _chép”. Từ đó dẫn đến thực trạng thụ động trong học tập của phần lớn sinh viên hiện nay. Từ thực tế trên cho thấy bên cạnh chương trình học tập đại học hiện nay đã nặng nề, thì công cụ để truyền tải kiến thức hiện nay cũng chưa lấy gì làm hài lòng. Số sinh viên tìm đến thư viện không nhiều, chỉ lác đác vài bạn đến thư viện những ngày bình thường và có nhiều hơn một chút khi mùa thi đến. Nhân viên quản lý thư viện cho biết, một ngày bình quân chỉ có khoảng vài chục em đến đây ngồi học, tìm tòi tư liệu.Trong khi đó, giờ giảng dạy của giảng viên trên lớp không có gì hơn ngoài một cái micrô cứ ọc-ẹc theo kiểu “mạnh thầy thầy cứ nói”, còn lớp học đông đúc thì “mạnh trò, trò ngủ”. Ví dụ với môn Văn, chỉ riêng phần văn học Nga với 4 tiết 1 tuần giảng viên yêu cầu với mỗi tác giả trung bình phải đọc ít nhất cũng vài ba tác phẩm trong vòng… một tuần, một tuần sau lên lớp giảng viên kiểm tra và thảo luận, có những tác phẩm rất dài( như bộ tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình”) khó có thể đọc trong vòng một tuần trong khi còn những môn khác cũng phải đọc và trả bài trong tuần đó. Nhiều bạn đọc được 4 đến 5 cuốn là muốn “đứt hơi”. Tại một hội thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy đại học mới đây, một giáo sư ở Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đã phải cảnh báo khi ông khám phá ra cách học tập của sinh viên mà ông trực tiếp giảng dạy hiện nay thụ động đến độ khó tin! Để kiểm nghiệm cách học thụ động này đến đâu, vị giáo sư đã làm cuộc điều tra bỏ túi: tuần đầu chỉ đứng giảng trên lớp cho sinh viên (và cả học viên cao học) ghi chép, kết quả chỉ 40% đạt điểm kiểm tra trên trung bình.Tuần hai, giáo sư lên lớp chỉ hướng dẫn đầu sách tham khảo, kết quả trên 60 % sinh viên đạt điểm trung bình. Trong hai tuần này, tinh thần học tập của sinh viên không mấy thích thú, thậm chí có người nằm ngủ gật! Nhưng đến tuần thứ ba, vị giáo sư áp dụng phương pháp gợi mở câu hỏi đề tài, thì cả lớp thảo luận, tranh cãi quyết liệt, và kết quả học tập khiến cho vị giáo sư hài lòng : 90% đạt điểm kiểm tra trên trung bình.

Ở các nước tiên tiến, một giáo sư khi giảng dạy trên lớp luôn phải đi kèm từ một đến hai trợ giảng. Những trợ giảng này luôn đảm nhiệm công tác điều phối không khí lớp học, nội dung học tập của sinh viên và tổ chức những cemina cho sinh viên bàn thảo đề tài học tập, gợi mở kiến thức. Từ đó, người học bị lôi cuốn theo chiều hướng chủ động và sáng tạo. Vâng đó là chuyện ở các nước, còn ở các trường ĐH chúng ta hiện nay, để làm được việc này vẫn còn khoảng cách khá xa! Thêm nữa, tâm lí quen “đọc _ chép” mỗi khi trên lớp cũng dẫn tới tình trạng thụ động của sinh viên, nếu giảng viên không đọc thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và thưc tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít,thậm chí là không có gì. Trong khi đó sinh viên cũng không có thói quen đọc giáo trình và cac tài liệu liên quan đến môn học đó khi ở nhà. Rõ ràng khi ngại phát biểu trong giờ học sẽ dẫn đến ngại phát biểu trong cơ quan làm việc sau này. Ngại phát biểu cũng đồng nghĩa với việc không dám nói lên sự thật, không dám nhìn nhận cái sai.... Trong mỗi giờ học, chuyện sinh viên phát biểu ý kiến là rất ít thay vào đó là “Giảng viên nêu vấn đề, sinh viên cúi mặt xuống bàn...” Đó là việc các thầy cô đứng trên bục giảng và yêu cầu nhiều lần các sinh viên trả lời câu hỏi. Đó không phải là những câu hỏi khó. Thông thường nó đều nằm trong phạm vi hiểu biết và có thể trả lời của sinh viên. Thế nhưng rất ít có cánh tay nào giơ lên. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến không khí học tập trong lớp. Nó gây ra một cảm giác rất áp lực mỗi khi thầy cô đặt câu hỏi. sinh viên thì cảm thấy áp lực, còn giáo viên cũng cảm thấy chán nản vì chỉ có sự làm việc một chiều. Vậy thì nguyên nhân do đâu sinh viên "không thèm” phát biểu ý kiến trong giờ học? Sau đây là 6 nguyên nhân mà tôi đúc kết, rút ra được từ bản thân tôi và các bạn của tôi: Chuyện phát biểu là chuyện của ai đó chứ không phải của mình. Mình không phát biểu thì sẽ có người khác phát biểu, thế thôi (1). Không muốn là người đầu tiên. Đây là một tâm lý khá phổ biến bởi tôi thấy rằng khi một người nào đó đã giơ tay phát biểu và khi thầy cô tiếp tục hỏi về vấn đề đó thì có khá nhiều người xung phong nhưng lại không giơ tay ngay từ đầu (2). Không phát biểu không sao, vì thầy cô gọi mãi không ai xung phong thì sẽ "chọn mặt gửi vàng" trong danh sách lớp và sẵn làm luôn công việc điểm danh. Xong, thế là qua chuyện, họa hoằn lắm thầy cô mới gọi trúng mình (3). Đa phần những người hay phát biểu không phải là những "sao" trong lớp. Không hiểu rằng các "sao" này sợ phát biểu nếu sai sẽ bị mất hình tượng hay sao mà không bao giờ giơ tay phát biểu nhưng lại thích ngồi ở dưới trả lời nho nhỏ (4). Trong lớp học Anh văn, điều này lại càng khó chịu hơn. Lớp học

thật sự căng thẳng mỗi khi thầy cô có câu hỏi và yêu cầu xung phong. Lớp học thì ít người, thầy cô cứ đứng trên mà kêu gọi, ở dưới sinh viên cứ cúi mặt xuống bàn (5). Và cuối cùng có lẽ chính là do sự thụ động, nhút nhát trong một bộ phận lớn sinh viên hiện nay (6). Tuy nhiên, "chuyện phát biểu trong sinh viên" không phải chỉ xuất hiện ở giảng đường đại học. Ngay từ ngôi trường cấp II, cấp III điều này cũng đã khá quen thuộc. Thế nhưng quy mô những lớp học ngày xưa còn nhỏ, thầy cô đã khá quen mặt nên nếu không xung phong, thầy cô sẵn sàng gọi lên bảng. Ở cấp I lại khác, các em phát biểu khá hồn nhiên và luôn làm theo lời cô dạy "hăng hái phát biểu ý kiến". Vậy thì tại sao lại xảy ra một hiện tượng kỳ quặc đến như vậy?! Phải nhìn nhận rằng sự vô trách nhiệm, thụ động, ỷ lại đang thật sự tồn tại trong một bộ phận lớn những người chủ tương lai của đất nước. Và cũng phải thừa nhận rằng những suy nghĩ đó cũng tồn tại phần nào trong con người của tôi - người viết bài này. Nhưng tôi thật sự quan tâm đến vấn đề này. Tôi cho rằng nó là điều vô cùng quan trọng trong việc học tập cũng như trong cuộc sống. Từ việc ngại phát biểu trong giờ học sẽ dẫn đến ngại phát biểu trong cơ quan làm việc sau này. Ngại phát biểu cũng đồng nghĩa với việc không dám nói lên sự thật, không dám nhìn nhận cái sai. Như thế, cái sai không được đưa ra ánh sáng, không được làm rõ nên sẽ không thể tìm ra được cách giải quyết, không thể tiến bộ. Một đất nước mà có thế hệ trẻ như thế thì lạc hậu là chuyện không thể tránh khỏi. Thông qua việc tiến hành khảo sát bằng câu hỏi “tại sao sinh viên giờ lười phát biểu?” ở một số bạn sinh viên nằm rải rác ở một số trường ĐH và CĐ và đây là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng "ít phát biểu" được rút ra từ 15 phiếu khảo sát tiêu biểu nhất: 1. Do sinh viên quá lười học, không chịu chuẩn bị bài trước ở nhà mà chỉ đợi lên lớp chờ giảng viên giảng rồi chép vào nên không đủ kiến thức để trả lời những câu hỏi của thầy cô; 2. Vì sợ phát biểu sai bị bạn bè cười nhạo và đôi khi sợ bị thầy cô la (hoặc có thể bị trừ điểm) thì "quê độ";3. Trong lớp không ai giơ tay phát biểu mà mình phát biểu thì sợ bị coi là "chảnh"; 4. Có khi câu hỏi quá khó vượt ngoài kiến thức hiểu biết; 5. Có thể sinh viên không cảm thấy hứng thú với môn học, tiết học thiếu tranh ảnh minh họa, giảng viên giảng bài chưa cuốn hút... nên sinh viên chọn cách ngồi chép bài là hơn; 6. Tán chuyện hoặc không tập trung nghe giảng nên không hiểu rõ câu hỏi; 7. Đôi khi câu hỏi được đặt ra quá dễ, bạn nào cũng biết rồi nên không ai giơ tay phát biểu vì không có hứng; 8. Trong một số trường hợp giơ tay phát biểu là vì được khuyến khích cộng thêm điểm số

(nhưng đây chỉ là phần thiểu số); 9. Không khí trong lớp học không được sôi động; 10. Sợ phát biểu đúng có thể thầy cô sẽ đặt tiếp những câu hỏi khác mà mình không biết trước được; 11. Không tự tin vào bản thân, ngại ngùng khi phải đứng lên và trả lời trước đám đông,... Phần lớn sinh viên được khảo sát cho rằng những nguyên nhân có ảnh hưởng tiêu cực tới hứng thú học tập trong sinh viên là: trong quá trình giảng dạy, giảng viên không đưa ra các tình huống để kích thích sinh viên tư duy, không cập nhật thông tin về đời sống xã hội, phần lớn thời gian trong giờ học giảng viên chỉ đọc cho sinh viên chép những kiến thức sẵn có trong giáo trình rồi giải thích qua loa, không tạo được bầu không khí thân thiện trong lớp... Nhưng ngoài ra “Sự áp đặt của giảng viên cũng khiến sinh viên sợ sai !” Đa phần sinh viên rất ngại phát biểu, trừ khi gặp những vấn đề khúc mắc không tự tìm hiểu được thì mới cần phải hỏi trực tiếp giảng viên. Ở một số môn học, đặc biệt là các môn đại cương, có thể nói giảng viên chỉ truyền đạt lại cho sinh viên theo cách đọc - chép nên không tạo được bầu không khí học tập sôi động. Một số giáo viên có nêu câu hỏi rồi chỉ định hoặc để sinh viên tự giơ tay trả lời, nhưng phần đông sinh viên không hưởng ứng lắm. Theo mình, những nguyên nhân chính khiến sinh viên ngại phát biểu là cảm giác sợ sai. Sự áp đặt của giáo viên cũng "đóng góp" vào tâm lý sợ sai của sinh viên. Cụ thể, trong lớp mình có một bạn rất hăng hái phát biểu. Những ý kiến của bạn được lớp rất thích nhưng một thầy lại bảo phải làm theo cách của thầy. Cách làm của thầy tuy ngắn gọn hơn nhưng bọn mình vẫn thích phương pháp của bọn mình hơn vì đây là thành quả sáng tạo của chính bản thân. Mình rất thích các giờ học thảo luận, rất thích được xây dựng nhóm cùng làm sản phẩm để "trình làng" trước lớp cho các nhóm khác tìm lỗi bắt bẻ để bọn mình phản biện lại. Ta thấy rất rõ rằng: “Không dám phát biểu nghĩa là bỏ qua một cơ hội” So với thế giới, sinh viên nước ta còn thụ động. Chỉ có chừng vài phần trăm sinh viên là chủ động. Điều này làm giảm năng lực tự nghiên cứu của sinh viên. Khác với học sinh, nhiệm vụ của sinh viên là học và nghiên cứu. Sinh viên không nên thụ động, lên giảng đường nghe thầy giảng rồi... trả lại cho thầy mà phải tự tìm tài liệu đọc để thảo luận trước lớp. Việc thầy cô gợi ý để sinh viên thảo luận cũng thể hiện được sự chưa chủ động ở sinh viên. Vậy mà thậm chí, có khi thầy nêu vấn đề thảo luận rồi mà sinh viên vẫn ngồi im, không hăng hái tham gia. Điều này làm giảm chất lượng giờ dạy vì giảng viên muốn nghe ý kiến sáng tạo, giải quyết vấn đề của sinh viên. Một số giảng viên phải đưa ra biện pháp cộng điểm cho sinh viên nào tích

cực phát biểu. Không đọc trước tài liệu làm tăng tính rụt rè của sinh viên khi phát biểu trước lớp. Kết quả là bạn trẻ tốt nghiệp ĐH rồi mà vẫn nhút nhát và e ngại khi diễn đạt trước đám đông, dẫn đến sự hạn chế tinh thần làm việc theo nhóm và khả năng lãnh đạo nhóm. Nếu tâm lý nhút nhát này phổ biến rộng rãi thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Theo đó, hầu hết bạn trẻ nước ta mới ra trường chưa thể làm "sếp" ngay được, trong khi ở các nước tiên tiến chỉ chừng 30 tuổi là người ta đã thể hiện rõ chất lãnh đạo của mình. Tự tin phát biểu nghĩa là mạnh dạn trước công chúng. Điều này càng quan trọng đối với người trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn vì đây là khả năng thuyết phục được người khác thông qua lời nói. Sợ không dám nói nghĩa là bỏ qua cơ hội. Để khắc phục được điều này, sinh viên phải tự học để nắm vững kiến thức và mạnh dạn phát biểu. nhưng mỗi sinh viên lớn lên trong môi trường văn hoá, xã hội khác nhau, hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức, hứng thú cũng khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong phú về phong cách học, một số sinh viên học tập tích cực, chủ động, một số khác lại tỏ ra thụ động, thích im lặng ngồi nghe hơn là tranh cãi. Vậy sinh viên mong muốn gì ở giảng viên? Làm nên sự thụ động của sinh viên, lỗi cũng một phần chính là ở giảng viên. Đa số sinh viên được khảo sát mong muốn giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để tích cực hoá người học trong các giờ học. 1 Các nghiên cứu về tâm lý học đường cho thấy chương trình đào tạo với phương pháp giảng dạy mang tính nhồi nhét kiến thức hiện nay đã tạo ra một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên thụ động, thiếu khả năng thích ứng xã hội. Sinh viên luôn thụ động với khối lượng kiến thức về lý thuyết, việc thực hành, thực tập bị xem nhẹ, thậm chí bị bỏ qua, từ đó tạo ra một bộ phận không nhỏ sinh viên thụ động, vụng về, thiếu khả năng thích ứng xã hội. Thực trạng sinh viên lười lao động và học tập ngày một nhiều. Bởi lẽ gia đình cứ tưởng con em mình đang vất vả, lao tâm khổ tứ cày trên giảng đường, luôn sợ con vất vả hơn bạn bè, gởi tiền dư giả. Nào ngờ, một số bạn luôn ăn chơi sa đà, nhậu nhẹt đến suốt sáng, chơi bài bạc, game... Chờ tới khi thi, nước tới chân mới nhảy. Thực trạng này đã và đang tồn tại ngày càng nhiều trong các trường ĐH và CĐ hiện nay ở nước ta, cũng là vấn để bức xúc nhất cần tìm ra cách khắc phục để hiệu quả và chất lượng giáo dục của nước ta ngày càng tốt hơn. Đây cũng là một chủ đề hay để thảo luận trong những giờ ngoại khóa hay những giờ học môn tâm lí.

(Nguồn: http://my.opera.com/nganduyen/blog/show.dml/4508235) Và một bài khác: THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN THỜI NAY (Trương Hiệu) Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay. 60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội! Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ! Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này. 10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!

Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới...”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập...”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ...”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng "sành điệu". Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về! 30% sinh viên say mê học tập? Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập. Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh. (Nguồn: chungta.com) Nguồn bài viết từ: http://sinhviennganhang.com/diendan/showthread.php?t=42510thuc-trang-cua-sinh-vien-viet-nam-hien-nay#ixzz1dH9ZPAqW

Một số chỉ báo về vấn đề học tập của sinh viên hiện nay [1]

Ths. Đặng Vũ Cảnh Linh Sinh viên là nhóm nhân khẩu học xã hội đặc thù, vừa là sự biểu hiện của tâm lý sôi nổi, nhiệt huyết trong độ tuổi thanh niên, vừa đóng vai trò là nguồn lực trí thức trẻ sẵn sàng, bổ sung và thay thế, đóng góp vào sự phát triển xã hội, Họ cũng là những người làm chủ vận mệnh của đất nước tương lai. Với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức, trong những năm gần đây chính phủ đã không ngừng gia tăng các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và cải cách giáo dục, tạo môi trường thuận lợi để sinh viên tham gia học tập. Tìm hiểu về nhận thức và hành vi học tập của sinh viên hướng tới các giải pháp đẩy mạnh quá trình cải cách giáo dục và đào tạo trong nhà trường, cũng như tích cực hóa hành vi học tập của sinh viên, vừa qua Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã tổ chức trưng cầu ý kiến của 1154 sinh viên thuộc 31 trường đại học tại ba địa bàn Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết này xin được trình bày đến một số phát hiện chính về học tập của sinh viên qua số liệu từ kết quả nghiên cứu. ª Về quỹ thời gian dành cho học tập Trước hết về việc sử dụng quỹ thời gian dành cho học tập của sinh viên hiện nay, theo kết quả điều tra, trung bình một ngày sinh viên sử dụng khoảng 5.58 ( ± 1.62 ) giờ cho hoạt động đi học trên lớp và 3.54 ( ± 1.91 ) giờ cho hoạt động tự học ở nhà. Ngoài ra đối với nhóm sinh viên tham gia học thêm và làm thêm thì thời gian trung bình dành cho hai hoạt động này là 2.36 ( ± 1.34 ) giờ cho học thêm và 2.98 ( ± 1.58 ) giờ cho làm thêm. Số liệu điều tra phản ánh sự khác biệt về việc sử dụng quỹ thời gian trong tổ chức các hoạt động giữa các nhóm sinh viên đặc biệt phân theo hai yếu tố là giới tính và năm học. Nhóm sinh viên nam sử dụng thời gian trung bình một ngày cho các hoạt động tự học ở nhà, làm thêm và vui chơi giải trí cao hơn so với nhóm sinh viên nữ. Thời gian trung bình đi học trên lớp của nhóm sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba cao cũng hơn so với năm thứ nhất và năm thứ tư. Điều này phản ánh thực tế sự phân bố chương trình học là khá tập trung vào giai đoạn giữa của hệ giáo dục đại học nên nhóm sinh viên năm thứ hai và thứ ba có thời gian trung bình đến lớp nhiều hơn so với những năm khác.

ª Về hành vi đi học của sinh viên Một trong những chỉ báo quan trọng đo lường hành vi của sinh viên biểu hiện niềm tin trong vấn đề học tập đó là hành vi đi học đầy đủ của sinh viên. Theo kết quả chỉ có 34.2% sinh viên luôn đi học đầy đủ. Nếu tính cả số lượng sinh viên nghỉ học có xin phép thì tỷ lệ này là 67.9%. Như vậy thực tế đáng lo ngại là luôn có khoảng 1/3 sinh viên có hành vi tiêu cực là nghỉ học không xin phép nhà trường. Theo phân tích tương quan bảng số liệu, tỷ lệ sinh viên nghỉ học không phép thường tập trung cao hơn ở nhóm sinh viên nam ( 38.9%) và thấp hơn trong nhóm sinh viên nữ (26.7%). Một điều khá ngạc nhiên là ý thức chấp hành kỷ luật của sinh viên khi đi học có sự khác biệt về địa bàn nghiên cứu. Nhóm sinh viên ở Hà Nội có hành vi tích cực với tỷ lệ sinh viên nghỉ học không phép ít hơn so với ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Huế ( 24.6% so với 37.2% và 43.7%). Đối với lý do nghỉ học, có hai lý do chính được sinh viên giải thích cho hành vi nghỉ học là tương đối hợp lý và chấp nhận được đó là do bị đau ốm, bệnh tật (41.1%) và bận việc gia đình (35.3%). Xếp ở vị trí thứ ba trong các lý do và cũng là một chỉ báo đáng quan tâm với tỷ lệ khá cao sinh viên nghỉ học do bài giảng của thầy cô không hay, chiếm 32.6%. Như vậy ngoài hai chỉ báo đầu tiên, có thể thấy việc sinh viên bỏ học do không thích bài giảng của thầy cô là một phản ứng tiêu cực về niềm tin trong học tập, tuy nhiên cũng phải thấy rằng chất lượng giáo dục ở nước ta hiện nay, đang là một vấn đề đáng lo ngại. Quá trình cải cách nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và chất lượng đội ngũ giáo viên chưa phát triển theo kịp với nhu cầu của xã hội và của sinh viên. Điều này lại càng đúng hơn với các vùng xa trung tâm, vùng khó khăn với tỷ lệ học sinh bỏ học do bài giảng của thầy cô không hay ở Huế cao hơn so với khu vực Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh ( 40.0% so với 29.4% và 28.7%). Đối với lý do nghỉ học khác, có 11.0% sinh viên nghỉ học do bận học thêm và làm thêm, 3.4% sinh viên nghỉ học do thấy các bạn trong lớp nghỉ học nhiều và 11.5% sinh viên nghỉ học vì lý do khác. Kết quả điều tra cho thấy nhóm sinh viên ở thành

phố Hồ Chí Minh có hành vi bỏ học do học thêm và làm thêm chiếm tỷ lệ cao khoảng 4 lần so với nhóm sinh viên ở Hà Nội và và 5 lần so với nhóm sinh viên ở Huế. Điều này ở những nơi phát triển kinh tế thị trường mạnh, cần có sự quy hoạch, quản lý sinh viên chặt chẽ hơn. ª Về hành vi trong thi cử Bên cạnh thái độ, hành vi liên quan đến việc đi học đầy đủ, chúng tôi tìm hiểu sâu hơn vấn đề nhận thức và hành vi của sinh viên đối với vấn đề kỷ luật của nhà trường, thông qua chỉ báo khá phổ biến đối với sinh viên hiện nay, đó là vấn đề gian lận trong thi cử. Câu hỏi mà chúng tôi đặt ra là “ Bạn có bao giờ quay cóp trong thi cử không?”. Kết quả điều tra là khá bất ngờ với tỷ lệ gần 2/3 sinh viên trong mẫu điều tra đều có hành vi quay cóp ít nhất là một lần (63.4%). Chỉ có 36.6% sinh viên là chưa bao giờ quay cóp. Một điều khá ngạc nhiên nữa là tỷ lệ sinh viên quay cóp trong thi cử phân bố khá đồng đều trong các nhóm sinh viên kể cả những sinh viên là cán bộ lớp, cán bộ đoàn, Đảng viên. Chỉ có sự khác biệt biểu hiện về giới tính, đó là nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ ít quay cóp hơn so với nhóm sinh viên nam ( 57.9% so với 70.9%). Số liệu điều tra đã mô tả một phần trong bức tranh về những tiêu cực trong thực trạng giáo dục ở nước ta hiện nay. Có thể thấy quay cóp là một hành vi sai lệch trong học tập của sinh viên nhưng nó là một hiện tượng có quan hệ tỷ lệ thuận với sự lỏng lẻo về tính kỷ luật trong môi trường giáo dục. Thực tế cho thấy nhiều sinh viên hiện nay thường xuyên quay cóp trong học tập, những không bị bắt, không có những hình thức kỷ luật thích đáng, mà trái lại còn có kết quả học tập tốt. Chính điều này đã làm nhiều sinh viên bắt chước và quay cóp trở nên một tâm lý và hành vi phổ biến của sinh viên trong môi trường đại học. Tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân sinh viên có những hành vi quay cóp trong thi cử, có bốn lý do được sinh viên lựa chọn nhiều nhất, xếp theo thứ tự đó là: do bài vở nhiều (47.4%), do quan niệm học và thi là khác nhau (38.4%), nhiều sinh viên có hành vi như vậy (32.7%) và không có thời gian học bài (22.3%).

Nhìn chung cả 4 lý do sinh viên đưa ra đều thể hiện sự giải thích hoặc theo cách ngụy biện, chống chế ( không có thời gian, bài vở nhiều) hoặc là thái độ, quan niệm biểu hiện những sai lệch về niềm tin trong học tập ( học và thi là khác nhau, nhiều sinh viên làm như vậy). Ngoài ra cũng có một số sinh viên cho rằng họ quay cóp để được điểm cao, vì không bị xử lý, vì không làm ảnh hưởng đến ai và không phải việc xấu. Tuy nhiên tỷ lệ sinh viên có những quan niệm sai lầm này không nhiều ( Dưới 10%). ª Về hành vi tự học và học thêm Về vấn đề học tập của sinh viên bên ngoài các giờ học chính thức ở nhà trường theo kết quả điều tra, phần đông sinh viên có ý thức tốt trong việc tham gia các hình thức học tập như tự học, nghiên cứu ở nhà (79.9%), đi thư viện học (80.3%) và tham gia học nhóm (67.9%). Tuy nhiên về mức độ, số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ sinh viên tham gia các hoạt động này ở mức độ thường xuyên là chưa cao. Đặc biệt có 20.1% sinh viên chưa bao giờ tự học, nghiên cứu ở nhà đây là chỉ báo rất đáng quan tâm về ý thức học tập và niềm tin biểu hiện trong các giá trị học tập của một số sinh viên hiện nay là chưa tốt. Đối với hoạt động học thêm của sinh viên, theo kết quả điều tra tỷ lệ sinh viên trong mẫu hiện tại tham gia các môn học thêm là khá cao chiếm 44.6%. Bên cạnh đó, số liệu điều tra cũng cho thấy có 37.3% sinh viên đang chuẩn bị tham gia học thêm. Chỉ có 18.1% sinh viên là chưa có dự định gì. Có thể thấy những yêu cầu đặt ra trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế đang tác động khá mạnh đến giới sinh viên. Mỗi cá nhân sinh viên đều ý thức rõ ràng về việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, các kỹ năng cần thiết để sau khi ra trường có thể tìm được việc làm, khẳng định vị trí, vai trò cá nhân và đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Vì vậy, đối với các chương trình giáo dục và kiến thức thu được trong nhà trường hiện nay là không đủ với nhu cầu của sinh viên. Trong thời gian gần đây, việc sinh viên chủ động tìm kiếm các cơ hội học tập bên ngoài đã không còn là vấn đề xa lạ của cá nhân mà trở thành phong trào chung trong giới sinh viên và ngày càng có nhiều sinh viên tham gia vào các hoạt động này.

Theo số liệu điều tra, tỷ lệ sinh viên đã và đang tham gia hoạt động học thêm phân bố khá đồng đều giữa hai nhóm sinh viên nam và sinh viên nữ, tuy nhiên điều này lại thể hiện sự khác biệt trong phân bố theo khu vực. Nhóm sinh viên ở Huế và thành phố Hồ Chí Minh có số lượng sinh viên tham gia học thêm khá cao ( 59.3% và 53.8%) trong khi tỷ lệ này lại thấp hơn đối với nhóm sinh viên ở thủ đô Hà Nội. Tìm hiểu về môn học thêm của sinh viên hiện nay, kết quả điều tra cho thấy hai môn ngoại ngữ và tin học chiếm ưu thế tuyệt đối cao trong tỷ lệ sinh viên tham gia học thêm. Có 90.4% sinh viên tham gia học thêm ngoại ngữ và 53.7% sinh viên tham gia học thêm tin học trong tổng số sinh viên đã và đang tham gia học thêm. Ngược lại tỷ lệ này đối với các môn học khác là không đáng kể ( dưới 10%). ª Về định hướng giá trị tri thức Tìm hiểu định hướng của sinh viên đối với các giá trị tri thức mà họ tìm kiếm trong học tập, theo kết quả điều tra, tỷ lệ % sinh viên lựa chọn các giá trị mà họ coi trọng hiện nay khá đồng đều đối vói 5 giá trị “tri thức giao tiếp ứng xử” (47.8%), “tri thức thực tiễn” (47.4%) , “tri thức kinh nghiệm” (46.9%), “tri thức khoa học cơ bản” (46.6%) và “tri thức do thế hệ trước truyền lại” (46.2%) . Trong khi tỷ lệ sinh viên lựa chọn thấp hơn với hai tiêu chí “tri thức trong lao động sản xuất” (33.1%) và “tri thức trong lĩnh vực khác” (34.5%). Nếu chênh lệch tỷ lệ sinh viên lựa chọn trong giá trị hướng tới các loại tri thức được coi trọng là không nhiều, thì sự khác biệt lại thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa tri thức và giá trị mà sinh viên cho là cần thiết với bản thân họ. Theo kết quả điều tra, có 3 giá trị tri thức mà sinh viên cho là cần thiết có tỷ lệ đồng thuận cao hơn so với các giá trị khác, xếp theo thứ tự là “tri thức kinh nghiệm” (61.4%), “tri thức giao tiếp ứng xử” (60.7%) và “tri thức thực tiễn” (60.0%). Xếp ở thứ tự tiếp theo là “tri thức khoa học cơ bản” (48.7%). Sự hoán đổi vị trí trong bảng giá trị cần thiết so với bảng giá trị coi trọng là “tri thức trong lao động sản xuất” (46.4%) thay thế cho vị trí của “tri thức do thế hệ trước truyền lại” (38.0%). Từ số liệu điều tra, có thể thấy sinh viên ngày nay vẫn tin tưởng và đề cao vai trò của tri thức mà họ cần học hỏi, đó là cách đối nhân, xử thế trong quan hệ ứng xử, kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của bản thân. Những khó khăn trong cuộc sống

của sinh viên đã biểu hiện ngay từ chính suy nghĩ thực tế của nhóm đối tượng đặc thù này khi không có nhiều sinh viên đề cao giá trị của tri thức cơ bản. Đây cũng là khó khăn đối với xã hội khi chúng ta đang từng bước hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức dựa trên nền tảng của các khoa học cơ bản. Điều đó cũng lý giải thực tế quá trình học tập của sinh viên hiện nay thường thường biểu hiện tâm lý nóng vội, ham thích học những thứ mà mình cho là cần thiết hoặc có thể vận dụng ngay được vào công việc. Trong khi đó họ lại ít chú ý đến việc học tập, nghiên cứu một cách khoa học và bài bản. ª Về kết quả học tập Theo kết quả điều tra trong năm học 2006-2007, hầu hết sinh viên trong mẫu điều tra có kết quả học tập khá tốt với 8.1% đạt loại giỏi và 44.5% đạt loại khá. Cũng có gần 1/2 sinh viên đạt kết quả học tập ở loại trung bình. Tỷ lệ sinh viên có kết quả học tập dưới trung bình là khá nhỏ (1.7%). Kết quả học tập của sinh viên cũng có những khác nhiều sự khác biệt về các đặc điểm cá nhân, đặc biệt là về giới tính và địa bàn khảo sát. Theo kết quả điều tra, nhóm sinh viên nữ có tỷ lệ học khá và giỏi cao hơn so với nhóm sinh viên nam (58.1% so với 45.4%). Nhóm sinh viên ở Hà Nội cũng có tỷ lệ sinh viên đạt loại khá và giỏi cao hơn so với hai khu vực còn lại. Một số ngành học có tỷ lệ sinh viên đạt kết quả tốt như sư phạm, kinh tế, nghệ thuật, ngoại ngữ và an ninh với tỷ lệ từ 65 % sinh viên đạt kết quả học tập từ khá và giỏi trở lên. Trong khi với một số ngành khoa học cơ bản như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội nhân văn, khối y dược công, sinh viên đạt loại khá và giỏi chỉ dưới 50%. Ngành học có số lượng sinh viên đạt kết quả học tập khá và giỏi thấp nhất là nông lâm, chiếm 23.9%. ª Thái độ đối với kết quả học tập Về suy nghĩ, đánh giá của sinh viên đối với kết quả học tập, theo kết quả điều tra, đa số sinh viên cho rằng kết quả học tập đó phản ánh đúng năng lực của mình ở mức độ rất đúng (17.4%) và tương đối đúng (51.2%). Như vậy vẫn có khoảng 1/3 sinh viên không tin tưởng vào kết quả đánh giá cuối năm học của nhà trường tương xứng đối với trình độ học tập của họ.

Tỷ lệ đánh giá về thực lực học tập không phản ánh sự khác biệt nhiều giữa các nhóm sinh viên phân theo giới tính, địa bàn và ngành học, tuy nhiên quan hệ tương quan lại thể hiện khá rõ với biến số trực tiếp là kết quả học tập. Có tới 86.4% sinh viên có kết quả học tập giỏi và 81.1% sinh viên có kết quả học tập khá cho rằng kết quả học tập phản ánh đúng năng lực trình độ của họ, trong khi tỷ lệ này ở nhóm sinh viên có kết quả học tập trung bình là 53.4% và dưới trung bình là 55.6%. Về sự hài lòng với kết quả học tập, số liệu điều tra phản ánh có chưa đến 1/3 sinh viên hài lòng với kết quả học tập của mình ( 29.2% ở mức độ rất hài lòng và tương đối hài lòng) . Trong khi đó có tới 70.1% sinh viên không hài lòng với kết quả học tập ở cả hai mức độ không hài lòng và rất không hài lòng. Từ số liệu điều tra có thể thấy nhóm sinh viên hiện nay thể hiện suy nghĩ và thái độ khá tích cực khi đánh giá kết quả học tập của họ. Mặc dù nhiều sinh viên đạt kết quả học tập tốt, đa số họ tin tưởng vào sự đánh giá của nhà trường, tuy nhiên họ vẫn không cảm thấy thoả mãn, hài lòng với những kết quả mình đạt được và mong muốn có một kết quả học tập tốt hơn. Điều này lại thể hiện rõ trong quan hệ giữa hai biến số kết quả học tập và hài lòng về kết quả học tập. Chỉ có 21.1% nhóm sinh viên đạt kết quả học tập loại giỏi và 21.1% trong nhóm sinh viên đạt kết quả dưới trung bình tỏ ra rất hài lòng về kết quả học tập của mình. Trong khi đó tỷ lệ này lại còn thấp hơn rất nhiều lần ở nhóm sinh viên có kết quả học tập khá và trung bình ( 2.6% và 2.5%). ª Về lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học Tìm hiểu về lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học là một trong những chỉ báo rất quan trọng phản ánh về giá trị học tập của sinh viên hiện nay cũng như hướng đến những định hướng chính sách giáo dục ở nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về trường học, theo kết quả điều tra có 23.3% sinh viên rất tự hào và 35.9% sinh viên tương đối tự hào về nhà trường. Ngoài ra có 36.2% tự hào về nhà trường ở mức độ bình thường. Chỉ có 4.6% sinh viên không tự hào về nhà trường. Đối với ngành học, có 29.3% sinh viên rất tự hào và 40.2% tương đối tự hào về

ngành học. Ngoài ra là 28.1% sinh viên tự hào ở mức độ bình thường. Tỷ lệ sinh viên không tự hào về ngành học chiếm tỷ lệ không đáng kể (2.3%). Qua số liệu điều tra, có thể thấy sinh viên biểu hiện niềm tin và lòng tự hào đối với nhà trường và ngành học là khá cao với khoảng trên dưới 2/3 sinh viên đồng ý với mức độ từ tương đối tự hào trở lên. Nếu so sánh giữa nhà trường và ngành học, số liệu điều tra đã mô tả tỷ lệ sinh viên ngành học có xu hướng cao hơn so với tự hào về nhà trường. Bên cạnh đó, niềm tin cũng biểu hiện mạnh hơn trong thái độ và hành vi của nhóm nam với tỷ lệ sinh viên nam rất tự hào và tương đối tự hào về nhà trường và ngành học cao hơn so với tỷ lệ này phân bố trong nhóm sinh viên nữ. Nhóm sinh viên ở Hà Nội biểu hiện thái độ rất tự hào và tương đối tự hào về nhà trường cao hơn so với nhóm sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh và Huế ( 69.6 % so với 47.2% và 48.0%). Trong khi đó lòng tự hào về ngành học ở mức độ rất tự hào và tương đối tự hào lại không có sự chênh lệch nhiều giữa ba khu vực khảo sát. Qua một số chỉ báo về nhận thức và hành vi học tập của sinh viên, chúng tôi xin được đề xuất một số khuyến nghị sau : Thứ nhất, nhà trường cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy. Cần có những quy hoạch tổng thể, định hướng đầu tư lâu dài, để từng bước đáp ứng những tiêu chí của giáo dục đại học hiện đại. Đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin trong nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có thể tiếp cận internet như một công cụ hữu hiệu hỗ trợ học tập như truy cập, tìm kiếm thông tin, tư liệu cũng như tham gia các diễn đàn đối thoại tri thức trên mạng. Thứ hai, cần tăng cường đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, mở rộng các hình thức giáo dục lấy người học làm trung tâm để thu hút sự tham gia của sinh viên. Xây dựng hệ thống giáo dục mở trong nhà trường. Cần chú trọng việc củng cố tri thức cơ bản với tri thức chuyên ngành, như tăng cường cập nhật, cung cấp những tri thức khoa học và thực tiễn mới mẻ cho sinh viên. Bên cạnh việc giáo dục tri thức cần hướng đến tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục xây dựng giá trị học vấn và tri thức trở thành một chuẩn mực trong đời sống tinh thần và hoạt động thực tiễn của sinh viên.

Thứ ba, cần tăng cường vai trò quản lý, giám sát sinh viên của nhà trường, thực hiện nghiêm quy chế, cần quyết liệt hơn trong các biện pháp phòng, chống các hình thức gian lận trong học tập, thi cử, tiêu cực trong giáo dục, một mặt để nêu gương, mặt khác từng bước hướng đến xây dựng một môi trường văn hóa mang tính pháp luật và nghiêm túc trong nhà trường. Thứ tư, cần tăng cường sự gắn kết của sinh viên với nhà trường qua các phong trào, hoạt động đoàn thể. Kết hợp việc học tập với các hình thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, các hoạt động tình nguyện. Tăng cường tìm hiểu những khó khăn, nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của sinh viên trong học tập và cuộc sống. Xây dựng những diễn đàn đối thoại trực tiếp của sinh viên đối với nhà trường cùng thảo luận, giải quyết những vấn đề khó khăn trong giáo dục, đào tạo của nhà trường và vấn đề học tập của sinh viên. Tăng cường công tác định hướng nghề nghiệp cho sinh viên chuẩn bị ra trường. Đẩy mạnh các biện pháp giáo dục, điều chỉnh những hành vi sai lệch, những biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội trong đời sống sinh viên. Thứ năm, tăng cường sự liên kết của nhà trường với gia đình và cộng đồng. Có thể thiết lập các cầu nối thông qua các kênh thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng. Nhà trường phối hợp với gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc tăng cường các hình thức giáo dục ngoài nhà trường. Trên nền tảng của hệ thống giáo dục, nhà trường cần mở rộng các tiêu chí về học tập và tri thức để định hướng sinh viên và cộng đồng từng xây dựng và hoàn thiện xã hội học tập ở nước ta, đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. [1] bài viết được đăng tải trờn tạp chớ lý luận chớnh trị và truyền thụng, 2008

Cuộc điều tra về giáo dục học tại TP.HCM mới đây đã cho thấy thực trạng: 60% sinh viên sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội; 10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ và chỉ có 30% sinh viên say mê học tập... Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay.

Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học tự nhiên, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay. 60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội! Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy… Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ! Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này. 10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ! Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới...”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập...”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ...”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này.

Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của TS, thể hiện một lối sống tiêu dùng "sành điệu". Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến… quên cả lối về! 30% sinh viên say mê học tập? Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết…Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập. Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống… Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn GDTC của SV trường ĐHQN Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn GDTC của SV: bản thân môn học, bản thân người SV và của người giáo viên. Đa số SV hài lòng với việc đánh giá kết quả của các giáo viên, những hỗ trợ đối với sinh viên có sức khỏe yếu, các hoạt động ngoại khóa…nhưng về trang thiết bị, cơ sở vật chất của môn học đa số SV không hài lòng 2.4. Đề xuất một số biện pháp hình thành và nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho SV trường ĐHQN Cần phải tác động vào cả nhận thức, hình thành xúc cảm cũng như hành động của SV: Về nhận thức: giáo viên (GV) cần giúp SV nhận thức đúng, đầy đủ về môn học, có giáo trình chính thức cho môn học GDTC. Về xúc cảm: tạo không khí thoải

mái, vui vẻ trong giờ học, đánh giá công bằng, cải tiến nội dung, phương pháp dạy…Về hành động: tạo điều kiện học tập tốt, đưa vào dạy những môn học phù hợp đa số SV, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, khuyến khích SV tập TD buổi sáng… 3. Kết luận và khuyến nghị 3.1. Kết luận Đa số SV trường ĐHQN chưa có hứng thú hoặc có hứng thấp đối với việc học tập môn học GDTC. Mặc dù các em đã có nhận thức tốt về môn học này nhưng xúc cảm và hành động biểu hiện của các em còn ở MĐ thấp. SV năm 1 hứng thú với môn học hơn SV năm 2. SV nam hứng thú hơn SV nữ. 3.2. Khuyến nghị 3.2.1. Đối với GV GV cần áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong quá trình dạy học môn GDTC, cần thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp. GV cần xây dựng tốt mối quan hệ: thầy – trò, thường xuyên quan tâm, khuyến khích, kiểm tra, đánh giá đúng, công bằng… 3.2.2. Đối với bản thân SV SV cần tự giác, nghiêm túc, tích cực trong học tập nói chung và đối với môn học GDTC nói riêng, rèn luyện cho mình thói quen tập luyện thể dục thể thao để rèn luyện sức khỏe. 3.2.3. Với các cấp quản lý Cần thay đổi nội dung chương trình phù hợp hơn với sở thích và nguyện vọng của SV. Cập nhật đưa những nội dung, môn thể thao mới vào nội dung chương trình, cần xây dựng giáo trình chính thức cho môn học GDTC cho SV. THỰC TRẠNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Thực trạng nhức nhối của nền giáo dục hiện nay là nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của Việt Nam.

Bàn về tính không hiệu quả của giáo dục ngày nay đặc biệt là giáo dục Đại học, người ta thường đổ lỗi do thiếu trang thiết bị học tập, thương mại hóa giáo dục, phong cách giảng dạy của giảng viên, việc học thiên về lý thuyết nhiều hơn thực tiễn ... mà quên đi thái độ của SV trong việc học của mình. Theo số liệu khảo sát của báo Tuổi trẻ thì chỉ 30% trong số những sinh viên được hỏi có thái độ tích cực trong học tập, trong khi có đến 60% chọn giải pháp học đối phó. Có một thực tế đáng buồn là sau bao năm học phổ thông vất vả, nặng nhọc để giành được một chiếc ghế lên giảng đường Đại học thì không ít Sinh viên đã vội vàng tự mãn, xem Đại học chỉ là nơi xả hơi để tụ tập gặp gỡ, ăn chơi đua đòi cùng chúng bạn thay vì biết trân trọng thành quả của mình họ sẽ không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân. Tại sao lại như vậy? Một trong những lý do là khả năng tiếp cận thông tin của SV ta còn kém. Khi còn học phổ thông, đặc biệt là cấp III, các bạn học sinh đã phải mang trên vai gánh nặng tâm lý từ gia đình, người thân là phải vào Đại học. Nhưng bản thân những cô, cậu ấy chưa hoặc không nhận thức được vào Đại học để làm gì? Và chuyên ngành mình chọn có phù hợp với mục tiêu, sở thích, tính cách năng lực của bản thân hay không? Chính vì thế mà khi đã đậu vào Đại học rồi thì cũng đồng nghĩa với việc đã làm xong nghĩa vụ với bố mẹ và người thân chứ không phải đạt được ước mơ của chính bản thân thì làm gì có được sự trân trọng thành quả cố gắng học tập. Một lý do khác nữa là Sinh viên năm thứ nhất thường chịu ảnh hưởng nhiều từ “sự hướng dẫn” của các anh chị đi trước. Các bạn đang cực kỳ thỏa mãn với chính mình, 12 năm đèn sách rồi, chọi bao nhiêu đối thủ mới nghiễm nhiên trở thành sinh viên Đại học, thỏa mãn mong ước của bố mẹ, thầy cô, bè bạn. Càng nghĩ các bạn càng tự hào và hài lòng về bản thân mình lắm. Rồi các bạn dần cảm thấy cái lý lẽ “nghỉ xả hơi” rất có tình, có lý. Đúng quá! Theo quan điểm năm nhất ăn chơi, năm hai thong thả, năm ba cố gắng, năm tư chuẩn bị ra trường thì các bạn chỉ mới ở giai đoạn I mà thôi vội gì. “Thả phanh” ung dung suốt học kỳ để rồi đến kỳ thi lại lao đầu vào học, thức khuya dậy sớm chạy mãi mà vẫn không đuổi kịp khối kiến thức mà cả học kỳ không thèm để mắt tới. Cứ chọn đại một “tủ” may mắn thì trúng, còn không thì... thi lại. Thi lại mà rớt thì ... học lại.... Những bạn này thường đến lớp thi bằng khuôn mặt mệt mỏi và đương nhiên kết quả đạt được chỉ có... trời mới biết. May mắn thì qua, coi như thoát hiểm, còn không lại lục đục mượn vở bạn bè ôn luyện, lại thi, qua được lần hai có thể thở phào, hú vía, còn nếu không, chuyện nhỏ, học lại với các em cũng vui. Kết quả là các cô cậu sinh viên được “tốt nghiệp sớm” hoặc “tốt nghiệp trễ” hay tốt nghiệp đúng lúc nhưng không biết gì? " Đây cũng là hiện trạng “học để lấy bằng cấp chứ không phải để lấy kiến thức” - tấm bằng cử

nhân của chúng ta lúc này có giá trị bằng một tờ giấy chứng nhận “năng lực ảo" là công lao của những đêm thức trắng ôm tập “tụng” một cách vội vã gấp gáp để rồi quên ngay sau khi kỳ thi vừa kết thúc. Làm thêm, dạy kèm, bán hàng , tiếp thị dẫn đến lơ là học tập, hoặc không theo nổi chương trình học ĐH là những lý do sinh viên bị buộc thôi học. Tuy nhiên đó không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa làm thêm nhưng kết quả học tập vẫn đạt điểm cao. sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình, mặc dù trong phương pháp giảng dạy ĐH nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những tư liệu, liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo. Trong khi đó, ở Việt Nam, thầy giáo phải nhắc đi nhắc lại cho sinh viên từng ý bài học cho sinh viên vì sợ họ quên. Có những sinh viên không chịu đọc giáo trình trước khi đến lớp khiến thầy phải ghi chú gạch từng ý trong trang giáo trình cho sinh viên. Thầy phải “cầm tay chỉ việc” cho từng sinh viên... Từ thực tế trên cho thấy bên cạnh chương trình học tập ĐH hiện nay đã nặng nề, thì công cụ để truyền tải kiến thức hiện nay cũng chưa lấy gì làm hài lòng. Nhân viên quản lý thư viện cho biết, một ngày bình quân chỉ có khoảng chục em đến đây ngồi học, tìm tòi tư liệu. Có điều một số sinh viên đến mượn hai ba cuốn sách rồi đánh bài “chuồn” luôn, hết học kỳ mà vẫn không thấy bóng dáng các bạn đến thư viện để trả sách lại! Trong trường hợp như vậy, buộc thư viện phải dùng biện pháp mạnh: báo cáo lên trường ra quyết định không cho các bạn sinh viên này thi hết học phần! Thế nhưng, với những hiện trạng nêu trên vô tình chỉ ra việc giáo dục Đại học mà tiêu biểu là sinh viên với việc học hiện nay chỉ mang tính hình thức.