GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh

[NGHIỆP VỤ NHTW]

LỜI MỞ ĐẦU ____________________________________________________________________________ 2 PHẦN 1: GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG VIỆT NAM. ________________________________ 3 I. 1. 2. II. 1. 2. 3. Tổng quan về ngân hàng trung ương _________________________________________________ 3 Sự ra đời Ngân hàng trung ƣơng _____________________________________________________ 3 Ngân hàng Trung ƣơng Việt Nam ___________________________________________________ 4 Chức năng của ngân hàng trung ương ________________________________________________ 5 Phát hành tiền tệ _________________________________________________________________ 5 Ngân hàng của các tổ chức tín dụng __________________________________________________ 6 Ngân hàng của Chính phủ __________________________________________________________ 6

PHẦN 2. CHỨC NĂNG NGƢỜI CHO VAY CUỐI CÙNG (LOLR)_________________________________ 7 I. Khi nào NHTW thực hiện chức năng LOLR? __________________________________________ 7

II. Cách thức thực hiện chức năng LOLR của NHTW ________________________________________ 8 1. Tái chiết khấu:___________________________________________________________________ 9

2. Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại_________________________ 10 III. Chức năng LOLR trong trường hợp phá sản ngân hàng:._________________________________ 10 1. Tại sao NHTW không để các ngân hàng phá sản nhƣ các loại hình doanh nghiệp khác? ___________ 11 2. Ví dụ điển hình: ___________________________________________________________________ 12 PHẦN 3: KINH NGHIỆM CỦA FED VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM. _____________________________ 14 I. II. Kinh nghiệm của FED ____________________________________________________________ 14 Bài học cho Việt Nam _____________________________________________________________ 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO _________________________________________________________________ 16

1

ngân hàng trung ƣơng nhƣ là vị cứu tinh cuối cùng và sức mạnh nhất trong hoàn cảnh khốn khó của hệ thống ngân hàng này.có nghĩa là khi một ngân hàng trong hệ thồng sụp đổ.tuy nhiên với ngân hàng lại là một điều hoàn toàn khác.nó sẽ kéo theo hệ lụy làm cho rất nhiều ngân hàng khác sụp đổ theo.vậy cho nên.khi một trong số ngân hàng này có nguy cơ phá sản. Hơn lúc nào hết vai trò của Ngân Hàng Nhà Nƣớc Việt Nam cần phải đƣợc thể hiện rõ rệt nhƣ ngƣời chèo lái hệ thống ngân hàng và tài chính quốc gia. mục đích chính của LOLR đối với tất cả các NHTW đã và vẫn là đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ thống NHTM. Và ở đây. 2 . Phần 2: Chức năng ngƣời cho vay cuối cùng Phần 3: Kinh nghiệm của FED và bài học cho Việt Nam. LOLR còn có vai trò rất quan trọng trong việc giúp NHTW điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc thay đổi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Tuy nhiên. Chức năng thứ hai đƣợc thực thi qua hệ thống giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision) của các NHTM song song với việc thực thi nghĩa vụ “ngƣời cho vay cuối cùng” (lender of last resort – LOLR) cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản. Bài tiểu luận bao gồm 3 phần: Phần 1: Giới thiệu Ngân hàng trung ƣơng Việt Nam.sự đoàn kết giúp đỡ luôn là ƣu tiên đƣợc đặt ra.cho nên Trong phạm vi bài tiểu luận nhóm sẽ đi sâu làm rõ chức năng ngƣời cho vay cuối cùng (LOLR) của ngân hàng trung ƣơng. Cạnh tranh và giẫm đạp lẫn nhau là một điều thƣờng thấy trong kinh doanh.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn hiện nay cùng hàng loạt vấn đề của hệ thống ngân hàng. Thấy đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ cần thiết của chức năng này. Đa số các ngân hàng trung ƣơng trên thế giới có hai chức năng chính: điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng thƣơng mại nói riêng và một phần nào đó là hệ thống tài chính quốc gia nói chung.liên quan mật thiết với nhau thành một mô hình domino. Nếu NHTW không cam kết thực hiện nghĩa vụ LOLR hoặc các NHTM không tin tƣởng vào lời cam kết này thì lãi suất trên thị trƣờng liên ngân hàng có khả năng trệch khỏi lãi suất mục tiêu mà chính sách tiền tệ muốn hƣớng tới.Hệ thống ngân hàng có một sợi dây kết nối với nhau.

Tới năm 2000. chi phối ngân hàng trung ƣơng của các quốc gia thành viên mà vẫn để quyền quản lý kinh tế quốc gia cho các ngân hàng đó. Cùng thời gian đó. Vai trò ngân hàng trung ƣơng của nó đƣợc đẩy mạnh năm 1989 khi đất nƣớc này chuyển đổi sâu sắc hơn sang nền kinh tế hƣớng xuất khẩu. các tờ cam kết thanh toán (promises to pay) đã đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ là những biểu hiện của giá trị ở cả Châu Âu và Châu Á. Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc đã là một ngân hàng trung ƣơng về mọi mặt. Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền (Knight Templar) thời Trung Cổ sử dụng một cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng trung ƣơng. và nhiều ngƣời cho rằng các hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống ngân hàng hiện đại. Khi ấy. Các giấy tờ cam kết thanh toán của họ đƣợc chấp nhận rộng rãi. và áp đặt sử dụng loại tiền này bằng bạo lực nhằm thu giữ vàng bạc. Tổng quan về ngân hàng trung ương Sự ra đời Ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ƣơng ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu. Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc (Tiếng Anh là People’s Bank of China – Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa) bắt đầu các chức năng ngân hàng trung ƣơng năm 1979 cùng với chính sách cải cách kinh tế. 1. Ngƣợc lại 500 năm trƣớc đấy. Thành Cát Tƣ Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa. Ngân hàng Anh (Bank of England) ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh nhân ngƣời Scotland là William Paterson tại London theo yêu cầu của chính phủ Anh với mục đích tài trợ cuộc nội chiến lúc đó. I. Ngân hàng trung ƣơng đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden) năm 1668 với sự giúp đỡ của các doanh nhân Hà Lan. Tổng thống Woodrow Wilson ký đạo luật ngày 23 tháng 12 năm 1913. tiền mặt lƣu hành vẫn chủ yếu dƣới dạng vàng và bạc.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] PHẦN 1: GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG VIỆT NAM. tuy rằng. với cơ cấu và hoạt động có tham khảo Ngân hàng Trƣơng ƣơng Châu Âu vốn là mô hình ngân hàng trung ƣơng mới nhất. Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ đƣợc thành lập theo yêu cầu của Quốc hội tại đạo luật mang tên hai nghị sĩ đệ trình là Glass và Owen (Glass-Owen Bill). 3 . vào thế kỷ 17.

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ( từ tháng 1/1960 đến nay là Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam) đã từng bƣớc lớn mạnh và phát triển.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] 2. tiết kiệm chi. Ngân hàng Trung ương Việt Nam Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bƣớc ngoặt lịch sử. thống nhất quản lý thu chi ngân sách. củng cố. Thời kỳ 1951-1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đƣợc thành lập và hoạt động độc lập tƣơng đối trong hệ thống tài chính. . Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất.Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lƣơng thực. Theo đó. Nhiệm vụ cụ thể của ngành Ngân hàng là tiến hành thiết lập hệ thống Ngân hàng thống nhất trong cả nƣớc và thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam. góp phần bình ổn vật giá. tín dụng độc lập. công. Thời kỳ 1955-1975: Đây là thời kỳ cả nƣớc kháng chiến chống Mỹ. tăng cƣờng lực lƣợng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch. đánh dấu bƣớc phát triển mới. góp phần quan trọng vào việc xây dựng. thƣơng nghiệp. tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế trong chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc. 2. là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ. tín dụng ở nƣớc ta. hoàn thiện thể chế tiền tệ. 3. Trong thời kỳ này. Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đƣợc quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng 4 . Thời kỳ 1975-1985: Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất nƣớc nhà. Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ khi Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời đến nay có thể chia thành 4 thời kỳ nhƣ sau: 1. gắn liền với sự phát triển của từng thời kỳ cách mạng. thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc Ngân hàng. lƣu thông hàng hóa. đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông. thu hồi giấy bạc Tài chính. tự chủ. miền Bắc vừa xây dựng. Từ đó đến nay. góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc: xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam.Củng cố thị trƣờng tiền tệ. tín dụng và hệ thống Ngân hàng Việt Nam. vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam. Ngân hàng Quốc gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau: . chiến đấu. phục vụ tích cực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. giữ cho tiền tệ ổn định. thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ. Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nƣớc góp phần tăng thu.

Trong giai đoạn này. quĩ tín dụng. công ty cho thuê tài chính. Ở một số nƣớc khác. mà là do Cục Dự Trữ Liên Bang phát hành.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] Nhà nƣớc Việt Nam. còn tiền kim loại với tƣ cách là tiền bổ trợ thì do chính phủ phát hành. và họ đã phát hiện ra thực chất Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ mới có quyền phát 5 . không phải ngân hàng trung ƣơng nào cũng mang đầy đủ ba chức năng này. góp phần củng cố nền độc lập. phát hành các loại tiền mới của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. ngân hàng của các tổ chức tín dụng.ngân hàng trung ƣơng của Mỹ.không có chức năng phát hành tiền. chƣa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trƣờng. Hệ thống ngân hàng đƣợc chia thành ngân hàng trung ƣơng và các tổ chức tín dụng. 4. thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam. II. tự chủ. ngân hàng trung ƣơng là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy. 1. đại diện ngân hàng nƣớc ngoài. phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. ngân hàng thƣơng mại cổ phần (nông thôn và đô thị). cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nƣớc. Phát hành tiền tệ Ở phần lớn các nƣớc. bao gồm: ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc. ngân hàng trung ƣơng là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền tệ. Theo lộ trình tự do hóa hệ thống tài chính-ngân hàng.Bắc vào năm 1978. Thời kỳ 1986 đến nay: Là quá trình đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống Ngân hàng Việt Nam Trải qua gần 60 năm xây dựng và trƣởng thành. hệ thống Ngân hàng Nhà nƣớc về cơ bản vẫn hoạt động nhƣ là một công cụ ngân sách. Cũng có thông tin cho rằng Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành đồng Đô-la. ngân hàng liên doanh. đó là phát hành tiền tệ. ngân hàng chính sách. thay vào đó là Bộ Tài chính đảm nhiệm chức năng này.quản lí nhà nƣớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài. ngân hàng của chính phủ. thống nhất đất nƣớc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.Nhƣng hiện nay đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu. Chức năng của ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ƣơng liên quan đến bốn chức năng cơ bản. Tuy nhiên. và bảo hiểm tiền gửi. năm 2011 chúng ta có thêm loại hình ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam. công ty tài chính. hệ thống Ngân hàng đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu của cách mạng Việt Nam. Cục Dự trữ Liên bang.

cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này (đồng thời qua đây kiểm soát lãi suất). ngân hàng trung ƣơng sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó để cứu nó. ngân hàng trung ƣơng đƣợc gọi là ngƣời cho vay cuối cùng (hay ngƣời cho vay cứu cánh). Tệ hại hơn đó lại là ngân hàng của tƣ nhân vì cổ phần của họ chiếm đại đa số. thành viên Hội Đồng Quản Trị đƣợc Quốc Hội và Chính phủ bổ nhiệm cũng dƣới quyền của Ban cố vấn ( do Hội đồng cổ đông bổ nhiệm). Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ƣơng. Tuy nhiên. ở một số nƣớc.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] hành tiền tệ. Điều đó đồng nghĩa với việc họ nắm toàn quyền trong việc xây dựng và thực hiện cách chính sách tiền tệ. từ đó thao túng nền tài chính toàn cầu. Ngân hàng của các tổ chức tín dụng Ngân hàng trung ƣơng thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các tổ chức tín dụng. Vì thế. qua đó điều tiết lƣợng vốn trên thị trƣờng. chức năng này do kho bạc đảm nhiệm. Ngân hàng trung ƣơng còn mua và bán các giấy tờ có giá. gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Thông thƣờng lƣợng tiền này đƣợc quy định tƣơng đƣơng với một tỷ lệ nào đó tiền gửi vào ngân hàng thƣơng mại. Trong trƣờng hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hƣởng đến cả hệ thống tài chính của quốc gia. ngân hàng trung ƣơng là ngƣời quản lý tiền nong cho chính phủ. Ngân hàng trung ƣơng có quyền yêu cầu các ngân hàng thƣơng mại mở tài khoản tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lƣợng tiền nhất định. 2. Chính phủ Mỹ không có quyền này. chẳng hạn nhƣ ở Việt Nam. Ngân hàng của Chính phủ Ở nhiều nƣớc. 3. Ngân hàng trung ƣơng còn làm đại diện cho chính phủ khi can thiệp vào thị trƣờng ngoại hối 6 .

vì có thể những loại đầu tƣ khác có lợi cao hơn hoặc vì không đủ tin tƣởng vào ngân hàng…) sẽ rất dễ làm cho ngân hàng trung gian vỡ nợ vì không đủ tiền mặt chi trả cho nhân dân. chỉ khi sự bất ổn tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD) làm ảnh hƣởng tới tài chính cũng nhƣ kinh tế quốc gia thì NHTW mới can thiệp. .GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] PHẦN 2. .Đôi khi sự mất khả năng thanh toán tạm thời (ảo) do điểm giao dịch chƣa thể huy động vốn từ các chi nhánh khác trong thời gian ngắn mà khách hàng lại đồng loạt đi rút tiền nên NHTW không thực sự sẵn lòng thực hiện vai trò ngƣời cho vay cuối cùng.Do NHTW không trực tiếp tham gia các hoạt động kinh doanh tài chính mà là thực hiện vai trò điều tiết KT vĩ mô của một quốc gia.. Đây là một phần trong chức năng của ngân hàng trung ƣơng ƣơng. vì lạm phát cao cho nên lãi suất trở thành âm. NHTW phải sử dụng 7 . Điều này giải thích: TCTD gặp vấn đề và sụp đổ tạo nên hiện tƣợng DOMINO giống nhƣ các NHTM Châu Âu sau thế chiến thứ nhất hoặc rủi ro thanh toán tạm thời của NHTMCP ACB gặp phải năm 2003..mất khả năng chi trả. CHỨC NĂNG NGƢỜI CHO VAY CUỐI CÙNG (LOLR) I. có thể gây ra các hiện tƣợng kinh tế tiêu cực nhƣ: lạm phát. . Tuy nhiên vai trò ngƣời cho vay cuối cùng không đƣợc thực hiện liên tục.khi các ngân hàng thƣơng mại lâm vào tình trạng khó khăn về thanh khoản. cho nên NHTW không thƣờng xuyên cho vay đối với các TCTD.. Khi nào NHTW thực hiện chức năng LOLR? Không có ngân hàng trung gian nào hoặc tổ chức tín dụng nào dám khẳng định rằng trong lịch sử hoạt động của mình chƣa hề có lúc kẹt tiền mặt. bất ổn lãi suất. Lý do? Một vài lý do: . NHTW không sẵn lòng và thƣờng xuyên thực hiện vai trò ngƣời cho vay cuối cùng. vì vậy. (Giả dụ trong thời điểm hiện tại nền kinh tế đang ở thời kỳ bất ổn lạm phát có chiều hƣớng tăng cao. Những đợt rút tiền ồ ạt của nhân dân ( vì lãi suất thấp. không thu hồi về kịp những khoản vay về kịp thì nó phải đến ngân hàng trung ƣơng vay tiền nhƣ cứu cánh cuối cùng. Trong trƣờng hợp nhƣ thế khi ngân hàng trung gian không còn chỗ vay mƣợn nào khác..Khi NHTW thực hiện vai trò cho vay đối với các TCTD sẽ làm tăng lƣợng tiền cung ứng vào nền kinh tế.NHTW thƣờng xuyên thực hiện vai trò ngƣời cho vay cuối cùng có thể làm rối các chính sách điều tiết vĩ mô của mình.

quan hệ này càng phát triển thì dòng vốn lƣu thông càng nhanh càng tạo hiệu quả sử dụng vốn cao làm cho hệ thống tài chính trở nên năng động.Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trƣờng. 8 .Các NHTM vay vốn lẫn nhau làm phát triển hệ thống công nghệ liên ngân hàng đặc biệt hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. . ngân hàng trung ƣơng không là ngƣời tác nghiệp.Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng thƣơng mại chính là góp phần đóng góp vào quá trình tạo tiền cho nền kinh tế. Cách thức thực hiện chức năng LOLR của NHTW Ngân hàng trung ƣơng tiếp vốn (cấp vốn) cho ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng: tín dụng mà ngân hàng trung ƣơng cung cấp cho ngân hàng thƣơng mại nhằm bảo đảm cung ứng cho nền kinh tế quốc dân có đủ phƣơng tiện thanh toán cần thiết.Việc NHTW dễ dãi cho vay sẽ gây nên sức ỳ cho các TCTD. và vì là ngƣời cho vay cuối cùng nên nghiệp vụ cấp tín dụng cho ngân hàng thƣơng mại của ngân hàng trung ƣơng có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng trung ƣơng cấp tín dụng cho các ngân hàng thƣơng mại bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau: +Tái chiết khấu: ngân hàng trung ƣơng mua lại những phiếu nợ chƣa đến hạn mà ngân hàng thƣơng mại đã chiết khấu cho khách hàng trƣớc đấy. II. . Nghĩa là. đồng thời ngân hàng trung ƣơng cũng thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. lãi suất tái chiết khấu cũng là công cụ quan trọng hàng đầu để có thể tác động đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lƣợng tín dụng cho nền kinh tế. và làm ảnh hƣởng tới quan hệ liên ngân hàng. và vững chắc. . NHTW can thiệp quá sâu làm ảnh hƣởng sự phát triển tự nhiên của nó. Vì vậy trong nghiệp vụ tái chiết khấu. . ngân hàng trung ƣơng luôn đứng ở cai trò là ngƣời chủ nợ và là ngƣời cho vay cuối cùng. NHTW tham gia sẽ làm giảm đi hiệu quả này. không phải là ngƣời rực tiếp cho vay đối với nền kinh tế nhƣng hoàn toàn có khả năng chi phối đến khối lƣợng tín dụng mà hệ thống ngân hàng trong nƣớc cung ứng cho nền kinh tế. từ đó các tổ chức này không cố gắng tự mình vƣợt qua khó khăn tài chính.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] các công cụ tài chính về lãi suất để kìm phát. +Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thƣơng mại. Trong trƣờng hợp này. tuy nhiên NHTW lại thƣờng xuyên thực hiện vai trò ngƣời cho vay cuối cùng và gián tiếp cung ứng tiền vào lƣu thông làm tăng phát và không những vô hiệu hóa các công cụ tài chính mà còn đẩy mức lạm phát lên cao). thông qua nghiệp vụ này ngân hàng trung ƣơng có thể giúp các ngân hàng thõa mãn đƣợc nhu cầu thanh toán.

tái chiết khấu còn là công cụ đăc lực trong ảnh hƣởng phát triển kinh tế xã hội. ngân hàng trung ƣơng có thể khuyến khích giảm hay tăng mức cung ứng tín dụng của ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế. khi chấp nhận tái chiết khấu là ngân hàng trung ƣơng đã tăng khối lƣợng tiền cung ứng. Tái chiết khấu: Tái chiết khấu: tái chiết khấu nói riêng và tái cấp vốn nói chung là việc ngân hàng trung ƣơng tiếp vốn cho các ngân hàng thƣơng mại nhằm khai thông năng lực thanh toán cho các ngân hàng thƣơng mại hoặc khuyến khích họ mở rộng tín dụng cho nền kinh tế trên cơ sở các hệ số tín dụng hoặc chứng từ đƣợc ngân hàng thƣơng mại chiết khấu trƣớc đây. nếu ngân hàng trung ƣơng hạ thấp lãi suất chiết khấu ngân hàng thƣơng mại trong trƣờng hợp này sẽ đi vay rẻ hơn nên có khuynh hƣớng giảm lãi suất cho vay dẫn đến nhu cầu vay tăng. Công cụ này có tính chất tích cực hơn các biện pháp hạn mức tín dụng do chịu sự tac động của quy luật cung cầu. 1. Nhƣợc điểm:Ngân hàng trung ƣơng bị thụ động do yếu tố chủ động vay hay không nằm ở ngân hàng thƣơng maị. tức là chi tiêu tín dụng cho nền kinh tế còn đƣợc phép cung ứng thêm. Đối với chính sách kích thích xuất khẩu ngân hàng tủng ƣơng sẽ ƣu tiên tái chiết khấu các thƣơng phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với các thƣơng phiếu đó. ngân hàng trung ƣơng trở thành trung tâm tín dụng của nền kinh tế.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] Với việc nhận tiền gửi vàn tín dụng cho ngân hàng thƣơng mại. • Khối lƣợng tiền cung ứng bằng con đƣờng tín dụng. Hạn mức tái chiết khấu: H=V×S×k Trong đó: H: hạn mức tái chiết khấu dành cho NHTM V: vốn tự có của NHTM 9 . tái chiết khấu có ƣu và nhƣợc điểm sau: Ƣu điểm: Các khoản cho vay của ngân hàng trung ƣơng đều đƣợc đảm bảo bằng các giáy tờ có giá do nó có khả năng tự thanh toán. Mỗi công cụ đều có ƣu nhƣợc điểm riêng. Ngƣợc lại. vì vậy phải đòi hỏi tiến hành một cách thận trọng dựa trên tiêu chuẩn định lƣợng và định tính. • Bản thân các ngân hàng thƣơng mại đem hối phiếu để tái chiết khấu phải là những hối phiếu tốt. ngân hàng trung ƣơng chỉ có thể chấp nhận tái chiết khấu theo ba điều kện: • Ngân hàng thƣơng mại đó phải còn hạn mức tín dụng chƣa sử dụng hết. Ngoài ra chính sách chiết khấu. Tái chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ƣơng tất yếu sẽ làm tăng lƣợng tiền cung ứng. ngân hàng trung ƣơng sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế cơ hội cho vay. Vì vậy. Thông qua lãi suất tái chiêt khấu. Tuy nhiên. đồng thời giảm hay tăng mức cung tiền. Khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ.

Nhƣng giả sử ngân hàng trung ƣơng quy định. thực hiện chính sách tài chính . III. các tác giả thƣờng né tránh vấn 10 . Việc lỗ trông thấy khi vay tiền của ngân hàng trung ƣơng sẽ buộc các ngân hàng trung gian giảm lƣợng cho vay xuống. tác động mạnh đến sự ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên. nếu nó cho vay dƣới tỉ lệ dự trữ bắt buộc với lãi suất chỉ 10% . Luật Phá sản vốn đã không đi vào cuộc sống nên áp dụng đối với các ngân hàng phá sản lại càng khó khăn. Lúc đó ngân hàng trung gian sẽ cân nhắc. Chức năng LOLR trong trường hợp phá sản ngân hàng:. Si lần lƣợt là vốn tự có và tín dụng dƣ nợ của NH thứ i 2. Ngân hàng đƣợc xem là lĩnh vực kinh doanh mang lại lợi nhuận cao. tuy lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian là 10%.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] S: tỷ trọng dƣ nợ bằng VND so với tổng tài sản CÓ của NHTM S= ∑ dƣ nợ tín dụng bằng VND Tổng Tài sản Có k: hệ số chiết khấu k= tổng hạn mức chiết khấu  i 1 n (Vi x Si) Trong đó Vi . thì cũng có những ngân hàng thực sự đã phá sản với khoản nợ khổng lồ. Sự sụp đổ của một ngân hàng thƣơng mại có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền. Trong các tài liệu nghiên cứu. đã là kinh doanh thì phải có rủi ro. nhƣng cũng hết sức nhạy cảm. thì khi kẹt thanh toán nó phải vay lại của ngân hàng trung ƣơng với lãi suất cao hơn. nhƣng nếu ngân hàng trung gian cho vay dƣới tỉ lệ dự trữ bắt buộc và phải vay đến ngân hàng trung ƣơng. thể hiện bằng lợi nhuận hàng năm và giá trị cổ phiếu trên thị trƣờng cao trên dƣới 10 lần mệnh giá. tiếp tục cứu vớt hay cho phá sản? Tuy nhiên. ngân hàng trung ƣơng sẽ cho vay với lãi suất 12%. Khi có bất kì một ngân hàng nào đó trong hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng gần nhƣ phá sản thì vai trò ngƣời cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ƣơng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Phá sản ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung là một trong những vấn đề phức tạp nhất hiện nay không chỉ dƣới phƣơng diện hoạch định. Vấn đề là ở chỗ cơ quan quản lý Nhà nƣớc sẽ giải quyết nhƣ thế nào đối với ngân hàng vỡ nợ.tiền tệ quốc gia mà còn dƣới phƣơng diện nghiên cứu và áp dụng pháp luật. hay nói cách khác là giảm lƣợng cung ứng tiền ngân hàng và tăng dự trữ để giải quyết vấn đề khi dân rút tiền. Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại Ngân hàng trung gian có thể cho vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có thể vay ngân hàng trung ƣơng với lãi suất cũng giống nhƣ vay của nhân dân để thanh toán cho nhân dân. Bên cạnh những ngân hàng đang làm ăn phát đạt. có thành công và cả thất bại.

ảnh hƣởng khủng hoảng tài chính. vì cho rằng đây là vấn đề thuộc “vùng cấm” trong chính sách điều tiết kinh tế của nhà nƣớc đối với hệ thống ngân hàng. Không loại trừ những ngân hàng lớn hoạt động có lãi liên tục qua các năm cũng có thể bị lâm vào tình trạng tạm thời mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản.. Đ3 NĐ 189/1994/NĐ-CP) “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. có thể mất khả năng thanh toán và dẫn đến phá sản. tuy nhiên Toà kinh tế chƣa tuyên bố phá sản một tổ chức tín dụng nào. Nghị định 189/CP của Chính phủ lại dẫn chiếu ngƣợc về “Luật Phá sản Doanh nghiệp”. các ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro từ nhiều yếu tố khác nhau. Theo chúng tôi mất khả năng thanh toán chỉ là tình trạng TCTD không chi trả đƣợc các khoản nợ khi đến hạn. Không phải là hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn toàn vững mạnh mà do pháp luật về phá sản TCTD chƣa có một văn bản pháp luật nào rõ ràng mà chỉ có sự dẫn chiếu rất mơ hồ: “Luật các TCTD” ngày 12/12/1997 dẫn chiếu sang “Luật Phá sản doanh nghiệp”. 1. “Luật phá sản doanh nghiệp” trao quyền cho Chính phủ qui định cụ thể. ví dụ: Thua lỗ.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] đề mang tính “nhạy cảm” này. Sự không đồng nhất thể hiện ở chỗ: Thứ nhất: Đối với các TCTD hiệu quả kinh doanh không hoàn toàn là yếu tố duy nhất quyết định tình trạng khả năng thanh toán của nó. Song nền kinh tế thị trƣờng vẫn vận hành theo những qui luật vốn có của nó. vốn tự có của TCTD rất nhỏ so với vốn huy động. Một thực tế dễ dàng nhận thấy là cho đến thời điểm hiện nay. tức là ở thời 11 . Không thanh toán những khoản nợ đến hạn có thể có nhiều lý do. tiền tệ quốc tế. TCTD có hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. ngân hàng không đáp ứng đƣợc hoặc tài sản hiện có của TCTD không có tính thanh khoản cao nhƣ các tài sản thế chấp là bất động sản hoặc ngân hàng dùng vốn ngắn hạn. măc dù đã thực hiện “Luật Phá sản doanh nghiệp”. không kỳ hạn đầu tƣ vào những khoản tín dụng dài hạn vƣợt quá tỷ lệ cho phép. khu vực hoặc đơn giản có khi chỉ là những tin đồn nhảm làm cho ngƣời gửi tiền nao núng bất an và họ đồng loạt đến rút tiền. ít nhất là đối với các TCTD. Tại sao NHTW không để các ngân hàng phá sản như các loại hình doanh nghiệp khác? Theo pháp luật Việt Nam hiện hành (LPSDN. Thứ hai: Hiểu khái niệm mất khả năng thanh toán là tình trạng khi tổng giá trị các khoản nợ lớn hơn tổng giá trị của các tài sản có là chƣa chính xác. Trong khi đó tự bản thân “Luật phá sản doanh nghiệp” không thể điều chỉnh quan hệ phát sinh trong lĩnh vực phá sản các TCTD.. Tuy nhiên không thể đồng nhất với khái niệm phá sản TCTD.

TCTD không thể gán nợ. tín phiếu. đối tƣợng của nghĩa vụ thanh toán của các TCTD là các khoản tiền mà không thể là các tài sản khác. Thứ ba: Thời hạn ngƣng thanh toán của con nợ là các TCTD cần thiết phải rút ngắn hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. và sau đó là “cho vay đặc biệt” đối với ngân hàng với con số lên đến hàng trăm tỷ đồng. Ví dụ điển hình: Bài học từ Ngân hàng Việt Hoa là một ví dụ điển hình. Việt Hoa đã trôi theo cơn lũ với những khoản nợ chất chồng hàng ngàn tỷ đồng” (Thời báo Kinh tế Sài Gòn 17/9/2006). Lợi dụng lãi suất trong nƣớc thời điểm đó rất cao. Khi lãi suất nhanh chóng tụt xuống và tỷ giá ngoại hối biến động. Trong thực tế hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay.nghiệp vụ đƣợc thực hiện bởi NHNNVN mà không là một khâu của tố tụng toà án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản và không công khai rộng rãi trong công luận. quay vòng hƣởng lãi suất. mang về bán với giá thấp hơn giá nhập. Thông thƣờng NHTW sẽ đƣa ngân hàng sắp phá sản đát trong tình trạng kiểm soát dặc biệt. các giấy tờ có giá nhƣ kỳ phiếu. 12 . đặc biệt là những ngƣời gửi tiền không kỳ hạn. Biện pháp phục hồi này mang tính hành chính . 2.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] điểm bất kỳ. khi khoản nợ đến hạn ngân hàng không có tiền để chi trả tức là mất khả năng thanh toán. các khoản vay. trừ nợ bằng các tài sản khác nếu không có sự đồng ý của chủ nợ. đồng thời ngăn chặn các ảnh hƣởng tiêu cực đến nèn tài chính quốc gia. séc. lấy vốn kinh doanh bất động sản. Hầu hết các khoản nợ mà TCTD phải thanh toán đều là các khoản tiền (tiền gửi. Đó cũng là lúc Ngân hàng Nhà nƣớc phải đƣa cánh tay “kiểm soát đặc biệt” vào ngân hàng này. hối phiếu đã chấp nhận . Kiểm soát đặc biệt là một qui trình phục hồi khả năng thanh toán của các TCTD tạm thời mất khả năng thanh toán. Tóm lại. nếu một ngân hàng nào đó trì hoãn hoặc ngƣng việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ chỉ hai hay ba ngày cho một vài chủ nợ nào đó ngay tức khắc sẽ xuất hiện những nghi ngờ. họ sẽ ồ ạt đến rút tiền.. “Ra đời vào năm 1993 trên cơ sở sáp nhập các hợp tác xã tín dụng của quận 5. Đây là các loại nghĩa vụ tiền tệ.). thành phố Hồ Chí Minh. khác với các doanh nghiệp khác. Vì vậy. Việt Hoa phát triển nhanh nghiệp vụ thanh toán quốc tế.. tâm lý bất an cho những ngƣời gửi tiền. ngân hàng nhập hàng trả chậm. tạo một cơn sốt gây nhiều hậu quả bất lợi cho hệ thống ngân hàng cũng nhƣ cho nền kinh tế nói chung. với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng. NHTW sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình nhằm cứu vớt các ngân hàng trong tình trạng phá sản. Chỉ trong một thời gian ngắn.

thƣờng xuyên báo cáo với Ngân hàng Nhà nƣớc Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh nơi Ngân hàng Việt Hoa đặt trụ sở chính về tình hình. Phá sản ngân hàng – lợi hay hại? Việt Hoa không phải là ngân hàng duy nhất có con đƣờng “tái sinh” nhƣ trên. VPBank Hàng Hải. không ít ngân hàng đã đƣợc vực dậy từ tình trạng kiểm soát đặc biệt và đang phát triển nhƣ: EximBank. Nếu để phá sản một ngân hàng. Trách nhiệm của Ban kiểm soát đặc biệt là phải chỉ đạo lãnh đạo Ngân hàng Việt Hoa xây dựng phƣơng án củng cố. mua lại rồi đổi tên. hoạt động. Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc đã quyết định thành lập Ban kiểm soát đặc biệt đối với Ngân hàng này. Ngân hàng Cổ phần Hải Phòng sáp nhập vào ngân hàng khác… Chƣa có ngân hàng thƣơng mại cổ phần nào từ trƣớc đến nay trong lịch sử ngân hàng Việt Nam bị tuyên bố phá sản. ngƣời dân gửi tiền vào ngân hàng đó sẽ phải gánh chịu hậu quả kèm theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp. hoặc giải thể nhƣ: Ngân hàng Châu á Thái Bình Dƣơng. định kỳ hàng tháng báo cáo đánh giá kết quả thực hiện phƣơng án củng cố ngân hàng lên Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc. giúp các TCTD khắc phục những khó khăn về tài chính. Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát của Ngân hàng Nhà nƣớc. Ngân hàng Vũng Tàu Gia Định (bị giải thể). chỉ đạo và giám sát Việt Hoa thực thi triển khai các bƣớc đi trong phƣơng án đó. Ngân hàng Nam Đô. nền kinh tế cũng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng với các hệ quả dây chuyền. Đặc điểm dễ nhận thấy nguồn vốn hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam là nặng về huy động vốn từ trong dân cƣ (chiếm tới 70% – 80% lợi nhuận thu đƣợc của mỗi ngân hàng). Sau khi tiến hành thanh tra và xác minh đƣợc thực trạng khó khăn trong thanh khoản của Ngân hàng Việt Hoa.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] Việc các TCTD cổ phần bị Ngân hàng Nhà nƣớc quyết định đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt là nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của ngƣời gửi tiền. giám sát trực tiếp tình hình tổ chức và hoạt động của các TCTD. Kiểm soát đặc biệt và cho vay đặc biệt đối với các TCTD cổ phần đang lâm vào tình trạng nhƣ đã liệt kê ở trên chính là việc Ngân hàng Nhà nƣớc thực hiện các biện pháp quản lý nghiệp vụ đặc biệt để kiểm soát. khả năng thanh toán. diễn biến của Ngân hàng. duy trì khả năng chi trả. thậm chí “sinh mệnh” các ngân hàng khác cũng có nguy cơ bị 13 . song cũng có một số ngân hàng sau đó hoặc là đƣợc sáp nhập. Ngoài ra.

ở trƣờng hợp Ngân hàng Việt Hoa. Mức lãi suất vay từ ngƣời cho vay cuối cùng này luôn cao hơn 14 . Hệ thống pháp luật xung quanh việc phá sản ngân hàng còn chƣa đồng bộ. nếu để phá sản. khiến việc phát mãi tài sản đảm bảo gặp rất nhiều khó khăn.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] đe dọa nếu dân chúng mất lòng tin. Do đó. không chỉ Nhà nƣớc mất tiền mà các khoản nợ khác cũng không thu hồi đƣợc. Các quy định về Luật Đất đai trong vấn đề phát mãi tài sản đảm bảo còn chƣa tạo ra đƣợc cơ chế thuận lợi. Tuy nhiên. khiến đến cán bộ quản lý cũng còn rất ngại khi phải động chạm. Một chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng cho biết. cho đến nay. Giải pháp kiểm soát đặc biệt chỉ hiệu quả đối với từng trƣờng hợp cụ thể. Chỉ có điều. duy trì sự bình ổn của hệ thống ngân hàng và sự bình ổn của cả nền kinh tế. PHẦN 3: KINH NGHIỆM CỦA FED VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM. các quy định của pháp luật có liên quan đến việc xử lý nợ khi tiến hành giải thể một ngân hàng cho đến nay vẫn là một mớ bùng nhùng. Phƣơng châm thực thi LOLR của FED từ đó đến nay vẫn thống nhất là nếu một NHTM gặp khó khăn về thanh khoản (liquidity) nhƣng vẫn còn khả năng thanh toán (solvent) thì FED sẽ cho ngân hàng đó vay (có thế chấp) với một mức lãi suất đã đƣợc công bố trƣớc để ngân hàng đó ổn định tình hình thanh khoản. Kinh nghiệm của FED Hệ thống Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ (Federal Reserve System – FED) đƣợc thành lập năm 1913 nhằm đối phó với các vụ sụp đổ dây chuyền trong hệ thống các NHTM Mỹ (bank runs) xảy ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Vào thời điểm đó FED đƣợc thành lập với nhiệm vụ chính là thực thi chức năng LOLR nhằm trợ giúp các NHTM có khó khăn về thanh khoản và phải đối đầu với nguy cơ đột biến rút tiền gửi (bank run). I. Ngân hàng Nhà nƣớc không thể lúc nào cũng phải đóng vai trò “bà đỡ” khi các ngân hàng hoạt động yếu kém. Ngân hàng Nhà nƣớc phải gánh trọng trách là “ngƣời cho vay cuối cùng” nhằm mục đích quản lý. các vấn đề pháp lý trong phá sản ngân hàng vẫn còn nhiều bất cập. đồng loạt đi rút tiền. Đã đến lúc phải để các ngân hàng vỡ nợ phá sản theo quy luật của kinh tế thị trƣờng.

Lòng tin vào FED là một trong những nền tảng của hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ . dù không chính thống hay đã bị quên lãng từ lâu. Số tiền này không đƣợc FED trả lãi và đƣợc coi nhƣ một khoản dự trữ thanh khoản bắt buộc. các NHTM Mỹ phải chấp nhận chịu sự giám sát chặt chẽ của FED và phải trích một phần số tiền huy động đƣợc của mình gửi trong một tài khoản đặc biệt tại FED gọi là Fed funds theo một tỷ lệ bắt buộc (required reserve ratio). II. FED luôn tìm mọi cách. Xuất phát từ chức năng “ngƣời cho vay cuối cùng” hay LOLR. Mặc dù sau này một số ngân hàng trung ƣơng đã sử dụng việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhƣ là một công cụ của chính sách tiền tệ. nhƣng có một điểm bất kỳ ai cũng đồng ý là FED đã hoàn thành tốt chức năng LOLR của mình và không ai nghi ngờ vào cam kết ngƣời cho vay cuối cùng của FED. 15 . chính trị gia.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] lãi suất các NHTM có thể vay lẫn nhau trên thị trƣờng liên ngân hàng nên các NHTM chỉ đến gõ cửa FED xin vay trong những tình huống hết sức khẩn cấp. khung khổ pháp lý và cơ chế vận hành của NHNN và hệ thống tiền tệ của Việt nam đã đƣợc học hỏi và kế thừa kinh nghiệm của nhiều NHTW tiên tiến trên thế giới. Nhìn chung. FED có thể đã có nhiều thành công cũng nhƣ thất bại. điều mà NHNN Việt nam còn thiếu là sự tin tƣởng của ngƣời dân và các NHTM vào khả năng cũng nhƣ sự nhất quán của mình. Việt Nam cũng đã thành lập cơ quan bảo hiểm tiền gửi độc lập. NHNN với vai trò là NHTW cũng đã thể hiện vai trò của mình thông qua những hình thức sau: . NHNN Việt nam đƣợc trang bị chức năng LOLR với lãi suất tái cấp vốn nhƣ một cứu cánh cho các NHTM khi gặp khó khăn thanh khoản. luôn phải đối mặt với nhiều lời phê phán và chỉ trích của giới học giả. Tuy nhiên. doanh nhân. Xuyên suốt lịch sử của FED từ năm 1913 cho đến cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dƣới chuẩn (subprime mortgage crisis) vừa qua. Trong giai đoạn từ 1914 đến 1928. mục tiêu ban đầu của nó chỉ đơn thuần là một cách trấn an dƣ luận khi một cuộc “bank run” có khả năng xảy ra. để giúp các NHTM nói riêng và hệ thống tài chính nói chung vƣợt qua các cơn khủng hoảng thanh khoản có thể dẫn tới đổ vỡ dây chuyền. Để đổi lại quyền lợi đƣợc vay tiền trực tiếp từ FED.Giải quyết dứt điểm nạn đua lãi suất này bằng phƣơng pháp đồng thuận (giao cho VNBA).một hệ thống phức tạp và phát triển nhất thế giới cho đến thời điểm này. NHNN cũng có chức năng giám sát cẩn trọng (prudential supervision) đối với các NHTM và cũng nắm quyền điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản. Bài học cho Việt Nam Cũng nhƣ FED. FED đã không ngừng cải tiến và mở rộng các công cụ chính sách của mình để có thể đối phó với những tình huống ngày càng phức tạp xảy ra hàng ngày trong hệ thống tài chính ngân hàng hiện đại. với công cụ LOLR FED đã đạt đƣợc mục đích ngăn chặn nhiều vụ “bank run” trong hệ thống các NHTM và mô hình ngân hàng trung ƣơng của FED trong giai đoạn này.

Thực hiện vai trò ngƣời cho vay cuối cùng . để ngăn chặn cuộc chạy đua lãi suất huy động của các NHTM.Thứ ba là rất quan trọng. một số NHTM sẽ huy động với lãi suất quá cao sẽ rút kinh nghiệm và lần sau sẽ không dám tăng mạnh lãi suất. Trong ba loại giải pháp trên.HCM 2. .Thứ nhất. PGS. NHNN nên thực hiện đúng chức năng LOLR của mình cho tất cả các NHTM có nhu cầu tăng thanh khoản.sbv.GVHD: Ths Nguyễn Quốc Anh [NGHIỆP VỤ NHTW] .gov.TS Nguyễn Đăng Dờn.Thứ tƣ. Bloger: Giangle 4. . Giáo Trình Nghiệp vụ Ngân hàng Trung Ƣơng (2011). Từ bài học kinh nghiệm của FED. gửi bên kia. loại thứ 3 thƣờng đƣợc sử dụng ở các nƣớc. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. tạo dựng lòng tin của dân chúng và doanh nghiệp vào NHNN. Nếu làm nhƣ vậy.Thứ hai. tính toán thiệt hơn chứ không phải thấy tăng lãi suất là rút bên này. loại thứ 1 và 2 thì đƣợc sử dụng phổ biến ở Việt Nam và cũng còn nhiều hạnh chế. thực hiện tốt chức năng này sẽ giúp tăng cƣờng vai trò của NHNN.vn 3. điều này làm các NHTM yên tâm làm ăn. Luật phá sản Doanh nghiệp 16 . ngƣời dân sẽ có cái nhìn tỉnh táo. Website NHTW Việt Nam: www. . NXB Đại học quốc gia TP.LOLR. sẽ có những điểm tích cực nhƣ sau: .Thanh tra toàn diện những NHTM nào có lãi suất cao .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful