1. Tổng quan mạng toàn quang...................................................................4 1.1 Các kiểu mạng toàn quang ...............................................................4 1.

2 Kiến trúc mạng toàn quang...............................................................6 1.2.1 Kiến trúc chức năng (functional architecture) ...........................6 1.2.1.1 Lớp mạng kênh quang (Optical Channel Layer Network)......7 1.2.1.2 Lớp mạng ghép kênh quang....................................................7 1.2.1.3 Lớp mạng truyền dẫn quang....................................................8 1.2.2 Kiến trúc mạng (network architecture)......................................8 1.2.1.1 Kiến trúc AT&T/MIT-LL/DEC AON.....................................8 1.2.1.2 Kiến trúc Bellcore’s AON.....................................................13 2. Các linh kiện và thiết bị cơ bản trong mạng toàn quang.......................14 2.1 Sợi quang.........................................................................................14 2.2 Bộ phát/thu tín hiệu quang..............................................................16 2.3 Bộ lọc và bộ ghép kênh quang........................................................17 2.4 Bộ chuyển mạch quang...................................................................18 2.5 Bộ chuyển đổi bước sóng................................................................19 2.5.1 Chuyển đổi bước sóng O-E......................................................20 2.5.2 Chuyển đổi bước sóng toàn quang...........................................20 2.6 Bộ khuếch đại quang.......................................................................21 2.7 Cấu trúc mạng DWDM...................................................................24 2.7.1 Thiết bị đầu cuối OLT..................................................................26 2.7.2 Bộ ghép/xem OADM...................................................................27 2.7.3 Bộ kết nối chéo quang OXC........................................................30 3. Một số công nghệ quan trọng trong mạng AON...................................36 3.1 Công nghệ kênh quang...................................................................36 3.1.1 Kênh quang..............................................................................36 3.1.2 Đường dẫn bước sóng và đường dẫn bước sóng ảo.................43 3.2 Công nghệ chuyển mạch kênh quang.............................................44 3.2.1 Cấu trúc chuyển mạch WP.......................................................47 3.2.2 Cấu trúc hệ thống chuyển mạch WP/VWP..............................47 3.2.3 Cấu trúc chuyển mạch ma trận đầy đủ.....................................49 3.3 Công nghệ chuyển mạch gói quang. ..............................................50 4. Kết luận.................................................................................................54 4.1 Ứng dụng của mạng toàn quang......................................................54 4.2 Những hạn chế ................................................................................56 4.3 Kết luận và khuyến nghị..................................................................57

1

MỞ ĐẦU Sự bùng nổ của mạng Internet, sự phát triển số lượng người sử dùng, sự phát triển của các ứng dụng và dịch vụ mới trên nền IP, đó là những gì mà chúng ta đã chứng kiến trong vòng gần một thập kỉ qua. Xét về mặt kỹ thuật, để đáp ứng được sự phát triển đó, hạ tầng mạng truyền dẫn bao gồm mạng đường backbone và mạng truy nhập đã và đang phải nâng cao dung lượng bằng cách chuyển dần sang mạng truyền dẫn cáp sợi quang. Mạng truyền dẫn quang đã đáp ứng được rất nhiều yêu cầu về dung lượng (tối đa 50Tbps), chi phí xây dựng và tính bảo mật thông tin. Hai công nghệ quan trọng gần đây giúp tăng dung lượng hệ thống là WDM và khuêch đại sợi quang EDFA. Từ khoảng năm 1986 trở lại đây có rất nhiều các dựán xây dựng mạng đường trục cáp quang biển quốc tếđược triển khai, đã giúp tăng cường khả năng trao đổi thông tin giữa các quốc gia, lãnh thổ trên thế giới. Tiếp đến là các mạng đường trục trên đất liền ở các quốc gia được xây dựng trên nền tảng truyền dẫn sợi quang. Vào đầu năm 1988, các công nghệ SONET và SDH là những chủ đề nóng được đề cập đến như là những chuẩn ghép kênh cho các mạng đường trục trong tương lai. SONET và SDH là các chuẩn thiết kế từ đầu cho các hệ thống TDM (chiếm đa số vào những năm 1980). Sử dụng TDM, một luồng dữ liệu ở tốc độ cao hơn được tạo ra trực tiếp bằng cách ghép các kênh có tốc độ bit thấp hơn. Thực tế đã có rất nhiều các hệ thống SDH/SONET đã và vẫn đang được triển khai. Các hệ thống TDM dung lượng cao hoạt động ở tốc độ OC-192 hoặc 10Gbps. Tuy nhiên ta sẽ gặp khó khăn khi muốn chuyển lên tốc độ OC-768 hoặc lớn hơn do hạn chế tần số hoạt động của linh kiện điện tử. Đến năm 1997, công nghệ WDM được đánh giá là công nghệ ghép kênh số một giúp tăng dung lượng hệ thống lên hàng trăm lần, giảm chi phí đầu tư. Công nghệ WDM cho phép ghép nhiều kênh tốc độ bít khác nhau trên cùng một sợi quang bằng cách đặt các kênh trên các bước sóng khác nhau. Hiện nay đã có thiết bị ghép kênh WDM có khả năng ghép 80 kênh (bước sóng). Với việc chỉ xử lý tín hiệu quang tại các node mạng, đã loại bỏ sự hạn chế của thiết bị điện tử, và đưa ra một mạng mới tên là mạng toàn quang (AON). Mạng toàn quang định tuyến bước sóng được coi là ứng cử viên cho mạng backbone diện rộng thế hệ tiếp theo. Mạng AON được xây dựng từ các thiết bị ghép kênh WDM (kèm theo khả năng xen/tách) và các thiết bị đấu chéo OXC (cross-connect). Hệ thống DWDM có khả năng ghép 32 bước sóng hoặc nhiều hơn trong dải 1550nm, tăng dung lượng trên sợi quang đang có và trong suốt với tốc độ bít. Mạng AON làm việc với các bước sóng khác nhau ở lớp vật lý, ghép kênh WDM và định tuyến theo bước sóng. Nó gồm các node định tuyến bước sóng quang được nối với nhau bằng các kết nối sợi quang. Một lightpath phải được thiết lập giữa hai node định tuyến bất kì trước khi chúng trao đổi thông tin. Mạng sẽ phải xác định tuyến (route/path) nối node này và gán một bước sóng rỗi cho các kết nối dọc theo đường đi. Lightpath chính là một kết nối quang trực tiếp giữa hai node không qua bất kì một thiết bịđiện tử trung gian nào. Để thiết lập một

2

lightpath, thông thường yêu cầu mạng phải phân bổ một bước sóng chung trên tất cả các kết nối dọc theo đường đi của lightpath. Đó chính là yêu cầu về tính liên tục bước sóng, điều khiến cho mạng định tuyến bước sóng khác với các mạng điện thoại chuyển mạch truyền thống. Một yêu cầu sẽ bị từ chối nếu không có bước sóng chung còn rỗi trên toàn tuyến. Một trong những mục tiêu cơ bản của bài toán thiết kế mạng AON định tuyến bước sóng là phải giảm tối thiểu xác suất nghẽn toàn mạng. Bài tiểu luận này đã trình bày về Tổng quan Mạng toàn quang: Kiến trúc của mạng, chi tiết về các thiết bị và linh kiện trong mạng toàn quang, đồng thời cũng nêu lên những công nghệ quan trọng trong mạng toàn quang như chuyển mạch và ghép kênh quang. Nhóm sinh viên thực hiện:

- Hoàng Trung Hiếu (CB100629) - Phạm Văn Hồng (CB100637) - Phạm Huyên () - Nguyễn Mạnh Linh () - Nguyễn Sỹ Thanh Sơn () - Hoàng Văn Thắng()

3

1. Tổng quan mạng toàn quang
1.1 Các kiểu mạng toàn quang
Mạng toàn quang có thể phân chia thành: Passive Optical Networks (PONs), Transparent Optical Networks (TONs), và Ultra-high-speed Optical Networks (UONs). Các mạng này được thảo luận chi tiết ở mục sau. a. Passive Optical Networks (PONs) PON sử dụng cá thành phần quang thụ động như: cáp quang, directional coupler, star coupler, router thụ động, và bộ lọc. Nhìn chung, PÓN được thiết kể cho truyền thông ở khoảng cách ngắn, bé hơn 30 dặm. Với khoảng cách ngắn, tín hiệu quang không yêu cầu khuyêch đại. Nó loại trừ việc sử dụng tất cả các thành phần tíh cực yêu câu năng lượng điện để xử lý. PONs cũng đáp ứng các yêu cầu về giá thành rẻ, độ tin cậy cao và băng thông lớn. Do vậy, nó được xem như là một giải pháp hấp dẫn cho mạng cục bộ (Local Area Networks – LANs) và mạng Metropolitan Area Networks (MANs). Mạng LANs và MANs toàn quang thụ động có thể được cấu hình sử dụng topo hình sao, cây, bus và vòng. Chúng có thể được sử dụng trong các ứng dụng như: Fiber to The Curb (FTTC) Fiber to The Building (FTTB) Fiber to The Home (FTTF)

Thêm vào đó, PONs có thể được sử dụng cùng với các mạng khác để cung cấp tín hiệu quang trong truyền thông điểm – đa điểm. Những mạng này gồm Digital Loop Carrier (DLC) Integrated Access, Wireless Multi-channel Multi-point Distribution System (MMDS), High Dât-rate Digital Subscriber Line (HDSL) và Very High Dât-rate Digital Subscriber Line (VDSL) Sử dụng PON có thể giảm giá thành của DLC bởi việc cung cấp giải pháp feeder cáp quang đa điểm. Hệ thống PON có thể được dùng giữa Central Office và thiết bị đầu cuối ở xa DLC, do đó , nó cung cấp giải pháp vòng cục bộ băng rộng. Các mạng không dây băng rộng yêu cầu mạng feeder băng thông cao từ Central Office ddeens nhiều trạm. Các trạm gốc có thể được kết nối và lưu lượng ngược về Central Office có thể được tăng lên nhờ PON. Theo truyền thống, kiến trúc bus cáp đồng trục tín hiệu analog được sử dụng chính trong mạng CATV (cable television). Các mạng cáp đồng trục yêu cầu bộ khuếch đại giá thành cao và đắt đỏ khi bảo tri, hiện tại được thiết kế choc ho các dịch vụ đơn công. Kiến trúc Hybrid Fiber Coax (HFC) cho phép mạng CATV cung cấp dịch vụ song công. Một cách điển hình, mạng HFC có thể dung cấp dung lượng kênh từ 30 đến 40Mb/s cho downstream, sử dụng kênh analog 6MHz chia sẻ bởi khoảng 100 – 250 hộ. Tuy nhien, HFC có vấn đề với dung lượng upstream, nhưng có thể khắc phục bằng cách triển khai PON giữa trạm head-end và các node quang.

4

Công nghệ PON over HFC cung cấp dịch vụ song công, ít lỗi, cân băng, những yêu cầu cần thiết cho các ứng dụng tương tác băng rộng. PON có thể dùng WDM, Sub-Carrier Multiplexing (SCM), OTDM hoặc sự kết hợp các công nghệ này để truyền dẫn phức hợp các tín hiệu video, voice, dât, bao gồm Plain Old Telephone Service), Integrated Services Digital Network (ISDN), T1/E1, T3/E3, OC-3, OC-12, OC-48 và Truyền hình kỹ thuật số, tương tự. b. Transparent Optical Networks (TONs) TONs cho phép tín hiệu truyền qua các node trong mạng không phụ thuộc vào điều chế tín hiệu, tốc độ dât, và các đặc điểm cụ thể. PONs có thể được xây dựn theo nhiều đường. Tuy nhiên, tính linh động, hiệu năng cao, khả năng từ local đến global là những mục tiêu chính cho việc sử dụng PONs. Trong khi hầu hết các thành phần quang có thể được thiết kế để độc lập với kiểu tín hiệu, những tồn tại về giới hạn truyền dẫn do những yêu cầu về hiệu năng end-to-end cho các dạng tín hiệu và các tốc độ truyền dữ liệu. Các kiểu tín hiệu khác nhau có độ nhạy khác nhau tới suy hao tích lũy như: tán sắc đơn sắc, tán sắc phân cự, nhiễu khuếch đại, nhiễu xuyên kênh, và các tính chất phi tuyến quang học. Xa hơn, nó rất khó hỗ trợ truyền dẫn tín hiệu analog bời vì tính nhạy cảm với phản xạ quang học và những yêu cầu tuyến tính stringent cho laser sử dụng trong bộ chuyển đổi bước song. Do đó, mạng toàn quang trong suốt có thể không hoàn toàn là trong suốt. Để giảm bớt vấn đề này, có một số đề xuất định nghĩa các mức trong suốt trong mạng toàn quang trong suốt. Những mức này là: +) 4T-transparent-trong suốt về dạng điều chế, mã đường dây, tần số đồng hồ, định dạng truyền dẫn +) 3T-transparent- Trong suốt về mã đường dây, hồi phục clock, và định dạng truyền dẫn +) 2T-transparent-Trong suốt về tần số đồng hồ và định dạng truyền dẫn +) 1T- Trong suốt về định dạng truyền dẫn c. Ultra-high speed optical network AONs tốc độ siêu cao sử dụng các đặc điểm về tốc độ rất cao của các hiện tượng quang học để truyền tải các xung quang siêu ngắn (hoặc solitons), ở 100 Gb/s hoặc lớn hơn trên khoảng cách rất dài. Một số các công nghệ chủ chốt cần thiết cho việc xây dựng các mạng toàn quang AONs tốc độ siêu cao bao gồm các xung quang siêu ngắn, ghép kênh, truyền dẫn siêu nhanh của solitons, phục hồi đồng hồ, và các bộ đệm quang. Các xung quang siêu ngắn có thể được tạo ra bằng cách sử dụng các bộ laser bán dẫn tăng ích-chuyển mạch và Mode-Locked Laser (MLLs). Thông thường, AONs tốc độ siêu cao sử dụng OTDM Có hai đặc tính vật lý của sợi quang điều khiển việc thiết kế mạng quang. Thứ

5

nhất là tán sắc đơn sắc. Đây là tính chất tuyến tính của tất cả các sợi quang gây ra khiến cho ánh sáng với tần số khác nhau có vận tốc khác nhau. Xung ánh sáng có xu hướng trải rộng ra và khiến cho khó có thể khôi phục dòng bit. Tính chất thứ hai đó là khi ánh sáng truyền trong sợi quang, nó gây ra những thay đổi cực nhỏ được định nghĩa bởi năng lường và hình dạng của xung, gọi là hiệu ứng Kerr. Giải pháp là format các xung này một cách đặc biệt để tận dụng hai đặc điểm nay. Điều này dẫn đến tán sắc được cân bằng và hiệu quả nén triệt tiêu nhau. Các xung mất năng lượng dẫn đến mất độ sáng trong sợi quang. Khi năng lượng tiêu hao, nén phi tuyến dừng lại và xung bắt đầu trải rộng. Điều nay yêu cầu các sợi quang bù tán sắc để nén lại xung ánh sáng. Trong OTDM, phục hồi clock là rất cần thiết để ước lượng chính xác thông tin định thời trong tín hiệu đến ở đầu cuối nhận tín hiêu. Nó cho phép receiver đồng bộ với luồng thông tin đến. Hai kỹ thuật phục hồi clock được đề xuất cho mạng toàn quang tốc độ siêu cao sử dụng OTDM. Trong kỹ thuật thứ nhất, một đồng hồ quang cục bộ có tốc độ điều khiển bời nguồn RF được khóa tới dòng xung OTDM dến. Trong kỹ thuật thứ hai, Nonlinear Optial Loop Mirror (NOLM) được sử dụng như cảm biến phase bit quang. NOLM bao gồm một coupler fiber 3-db với hai cộng tham gia xuyên suốt chiều dài sợi quang. Sau khi đồng hồ quan đươc khôi phục, bộ tách kênh cần đệm các slot mong muốn hoặc header của tín hiệu quang đến sử dụng thiết bị lưu trữ quang. Xa hơn, nó cần giảm tốc độ dât nhawmcf giao tiếp tin hiệu mong muốn với receiver cho việc xử lý dât kế tiếp. Tuy nhiên, bộ nhớ quang random access không tồn tại, thay vào đó, ta sử dụng các line hoặc loop quang delay như là bộ đêm quang. Mạng toàn quang tốc đọ siêu cao có nhiều bước tiến về hiệu năng, tuy nhiên nhiều công nghệ cần thiết để hỗ trợ các chức năng trong mạng toàn quang tốc độ siêu cao mới chỉ có trong phòng thí nghiệm. Do vậy mạng toàn quang tốc độ siêu cao được xem như là một giải pháp với mục tiêu về lâu dài.

1.2 Kiến trúc mạng toàn quang
1.2.1 Kiến trúc chức năng (functional architecture) ITU-T đã phát triển kiến trúc truyền tải chức năng cho các mạng truyền tải quang. Kiến trúc chức năng truyền tải được quy định trong khuyến nghị G.872. Kiến trúc truyền tải mô tả những chức năng AON từ 1 quan điểm cấp độ mạng. Nó dựa vào tài khoản cấu trúc phân lớp của 1 mạng quang, thong tin đặc tính client, sự kết hợp phân lớp client/server, cấu trúc lien kết mạng, và chức năng lớp mạng. Chức năng lớp mạng bao trùm truyền dẫn tín hiệu quang, đa phép kênh, giám sát, định tuyến, đánh giá hoạt động và khả năng sống sót của mạng. Phạm vi hiện tại của kiến trúc chỉ giới hạn cho tín hiệu số. Hơn nữa, kiến trúc chỉ dành cho WDM. Các kỹ thuật đa ghép kênh quang khác như OTDM, OCDM cần được nghiên cứu thêm.

6

Các kiến trúc vận chuyển chức năng sử dụng các phương pháp mô hình hóa mô tả trong ITU-T Khuyến nghị G.805, - Kiến trúc chức năng chung của mạng chuyển vận. Theo phương pháp này, các mạng truyền tải quang học bị chia thành những lớp mạng chuyển vận độc lập. Mỗi tầng mạng có thể được phân chia một cách riêng biệt trong một cách phản ánh cấu trúc nội bộ của lớp mạng. Hình 1 mô tả lớp cấu trúc của mạng truyền tải quang. Chúng bao gồm một lớp kênh mạng quang, một phần ghép kênh quang học lớp mạng, và truyền một phần quang học tầng mạng.

Hình 1. Layered Structure of Optical Transport Network 1.2.1.1 Lớp mạng kênh quang (Optical Channel Layer Network) Lớp mạng kênh quang cung cấp kết cuối mạng end –to –end của các kênh quang cho sự truyền đạt minh bạch thông tin client của những định dạng khác nhau, chẳng hạn như truyền dẫn số đồng bộ SDH, cận đồng bộ PDH và chế độ truyền bất đối xứng ATM. Để cung cấp mạng ent –to –end, những khả năng sau đây được bao gồm trong lớp mạng kênh quang: Kết nối kênh quang sắp xếp lại cho định tuyến mạng linh động Xử lý mào đầu kênh quang để đảm bảo tính toàn vẹn của kênh quang đáp ứng thông tin Kênh quang giám sát các chức năng để kích hoạt những hoạt động cấp độ mạng và các chức năng quản lý như là cung cấp kết nối, trao đổi thông số QoS, và tính sống sót của mạng. 1.2.1.2 Lớp mạng ghép kênh quang Nó cũng cấp chức năng cho mạng của 1 tín hiệu quang đa bước song. Khả năng sau đây của mạng được bao hàm trong mục này: Phần ghép kênh quang kết nối sắp xếp lại cho linh hoạt mạng định tuyến đa bước sóng ; · Xử lý mào đầu phần ghép kênh quang để đảm bảo tính toàn vẹn của phần ghép kênh quang đa bước sóng tương thích thong tin.

7

Ghép kênh quang giám sát các chức năng để đảm bảo cấp độ phiên các hoạt động và các chức năng quản lý như là cung cấp kết nối phiên đa ghép kênh và tính sống sót cảu mạng 1.2.1.3 Lớp mạng truyền dẫn quang Phần này cung cấp chức năng cho truyền dẫn tín hiệu quang trên phương tiện quang của những kiểu khác nhau như là sợi quang đơn mode và đa mode. Chức năng này cũng bao gồm khả năng cho giám sát khuếch đại quang hoặc các trạm lặp. 1.2.2 Kiến trúc mạng (network architecture) Kiến trúc mạng quang đang trong giai đoạn phát triển. Tất cả phải được xem xét bởi NS/EP để đảm bảo tính tương thích của nó. Một trong số đó được trình bày dưới đây. 1.2.1.1 Kiến trúc AT&T/MIT-LL/DEC AON Tổ hợp được sản xuất bởi công ty American Telephone and Telegraph (AT&T), Digital Equiment Corporation (DEC), và Massachusetts Instude of Technology Lincoln Laborary (MIT-LL) đã phát triển hai mạng trên cơ sở WDM và OTDM. Những kiến trúc được kiểm tra theo ứng dụng NS/EP. a. Kiến trúc cơ sở WDM Kiến trúc cung cấp mở rộng qua bước sóng sử dụng lại và Time Division Multiplexing (TDM). Như đã thể hiện trong hình, kiến trúc sơ đồ ba mức (Ví dụ, Level-0 (L-0), Level-1 (L-1), và Level-2 (L-2) của mạng con. Mỗi mạng con là một mạng toàn quang hoạt động độc lập.

8

Ở mức thấp nhất của sơ đồ là các mạng con L-0, mỗi mạng là một mạng LAN hiệu năng cao. Người dùng truy nhập mạng L-0 qua đầu cuối quang (Optical Terminal – OT). Mỗi OT được kết nối tới mạng con L-0 sử dụng cặp cáp quang. Mỗi mạng con L-0 chia sẻ nội bộ bước sóng với sự mở rộng sử dụng lại bước sóng của các mạng L-0 khác nhau. Ở mức giữa của sơ đồ là mạng con L-1 hoặc các mạng metro (Metropolitan Area Network - MAN). Mỗi MAN liên kết với nhiều mạng con L-0 và cung cấp bước sóng sử dụng lại theo các mạng con L-0 khác nhau qua định tuyến bước sóng thụ động. Ở mức cao nhất của sơ đồ là mạng con L-2. Mạng này là một mạng diện rộng (Wide Area Network - WAN), bao gồm nhiều node kết nối theo mô hình mesh. Nó liên kết với các mạng con L-1 bằng các bộ định truyến và bộ chuyển đổi bước sóng. Mỗi mạng con cung cấp ba dạng dịch vụ tới mạng con hoặc các OT ở lớp dưới nó. Những dịch vụ này được phân loại thành dịch vụ Type-A, Type-B, Type-C và thực hiện các chức năng: • Dịch vụ Type-A: Mỗi dịch vụ cung cấp đường quang riêng cho kết nối pointto-point, point-to-multipoint và multipoint-to-multipoint. Với mỗi dạng, qua dịch vụ Type-A, đầu cuối quang có thể cung cấp point-to-point OC-192 và point-to-multipoint video đa điểm. Một “virtual” được chia sẻ phương tiện LAN, V-LAN, có thể được cấu hình qua multipoint-to-multipoint kênh A. Đầu cuối quang trên kết nối V-LAN qua giao thức đa truy nhập như slotted ALOHA. ALOHA là một phương thức truy nhập đa kênh, được phát triển bởi trường đại học HAWAII. • Dịch vụ Type-B: Nó là dịch vụ TDM đặt lịch, trong suốt với khe thời gian của nó và hữu dụng cho các ứng dụng băng thông thấp. Một người sử dụng có thể truyền dữ liệu trong nhiều tốc độ và định dạng khác nhau trong một khe hay một nhóm khe, tuy nhiên, chúng nên được cài đặt một kết nối cụ thể để đảm bảo khản năng hồi phụ của tín hiệu ở đầu nhận. Dịch vụ Type-B, hỗ trợ kết nối point-to-point, point-to-multipoint, multipoint-to-multipoint, song công, và đơn công. Những dịch vụ mà đầu cuối quang cung cấp qua kênh B bao gồm kết nối OC-3, mạng Ethernet hoặc Fiber Distributed Data Interface (FDDI). • Dịch vụ C: là một dịch vụ gói dữ liệu không đặt lịch. Trong dịch vụ này, một gói thông tin có thể được truyền trong một gói dữ liệu cụ thể và nhiều định dạng khác nhau trên một bước sóng. Dịch vụ này không trong suốt nếu nó phải phục vụ kết nối chung giữa tất cả các người dùng trong mạng toàn quang. Nó có thể được sử dụng cho sự tự cấu hình của mạng, quản lý và điều khiển mạng, mạng báo hiệu. Nó được sử dụng chính cho việc phân chia tài nguyên, hoạt động mạng, quản trị, và duy trì. Mỗi mạng con có một “người đặt lịch/chia vệc” để điều khiển các chức năng bao gồm cả cấp phát bước sóng và khe thời gian cho các điểm truy nhập (Access Point – AP). Những AP có giao tiếp quang giữa các OT và mạng toàn quang. “Người đặt

9

lịch” có thể được thực thi trong một hay nhiều OT hoặc trong node riêng, được kết nối tới mỗi mức của mạng con. Một thuật toán phân tán được sử dụng để chọn một OT là “Người chia việc” giữa các OT. Nếu một “người đặt lịch” bị hỏng, thuật toán phân tán sẽ thực hiện lại. Trên cơ sở các mức của mạng con, việc đặt lịch (schedule) được chia làm ba mức: level-0 (L-0), level-1 (L-1), level-2 (L-2) theo chức năng được thực hiện ở các mức tương ứng: • Scheduling mức 0: “Người phân lịch” L-0 đảm nhiệm chức năng sau:  Xác thực, ủy quyền, và các dịch vụ yêu cầu cho kết nối Type-A, Type-B, Type-C từ AP trong mạng toàn quang L-0 của nó;  Phân phối và lựa chọn thông tin thời gian cần thiết cho việc thiết lập kết nối Type-B;  Duy trì một schedule chính xác cho tất cả các bước sóng và cập nhật schedule khi kết nối được cài đặt hoặc bị ngắt;  Lựa chọn thông tin tài khoản; và  Kết nối với “người phân lịch” L-1 của nó, đảm bảo các chính sách điều khiển và quản lý, và thực hiện một vài chức năng phụ trợ như ánh xạ tên tới địa chỉ (name-to-address mapping). • Scheduling mức 1: Hỗ trợ thêm cho các chức năng của “người phân lịch” L0, một “người phân lịch” L-1 phải thực hiện chức năng sau:  Xác thực, ủy quyền và đáp ứng các yêu cầu cho kết nối L-0 và L-1;  Cung cấp chức năng matchmaker để thiết lập một đường bước sóng từ một thành phần L-0 AON của nó tới cái khác;  Thiết lập kết nối Multicast sử dụng tần số cặp, hình sao chọn lọc;  Kết nối giữa “người chia việc” L-2 của nó để cấp phát đường ánh sáng khi cần thiết;  Cung cấp thông tin thời gian để các L-0 AON của nó để thiết lập kết nối Type-B. • Level-2 Scheduling: Bổ sung cho các trọng trách của “người chia việc” L-0 và L-1, “người chia việc” L-2 phải xác thực, ủy quyền và giải quyết các yêu cầu từ kết nối liên tuyến với L-1. Trong kiến trúc sơ đồ này, khi một OT cần thiết lập một kết nối, nó gửi một kết nối đến “người phân lịch” L-0. Yêu cầu kết nối bao gồm nhiều tiêu chuẩn như dạng của yêu cầu dịch vụ, địa chỉ của OT yêu cầu, độ lưu thông mong muốn và độ ưu tiên. Khi nhận được một yêu cầu kết nối, “người phân lịch” xác định đích ở trong mạng L-0 AON của nó hay không. Nếu đích ở trong mạng L-0 AON của nó, thì nó sẽ xác

10

định sự sẵn sàng của tài nguyên cần thiết. Nếu tài nguyên sẵn sàng thì kết nối được thiết lập. Nếu đích ở khác mạng L-0 AON, nhưng cùng mang L-1 AON, thì “người phân lịch” L-0 yêu cầu “người phân lịch” L-1 lựa chọn bước sóng để cung cấp đường truyền giữa L-0 nguồn và đích. Nếu đích không ở trong cùng L-1 AON, thì “người phân lịch” L-0 yêu cầu “người phân lịch” L-1 của nó tìm đường truyền sử dụng một bước sóng rỗi trong mạng. Một đường sáng được thiết lập, quá trình thiết lập kết nối hoàn tất như mô tả trên. Chúng ta đã kiểm nghiệm việc sử dụng chức năng ưu tiên ở mức OT. Trong khi ưu tiên đơn giản là phân bổ tài nguyên logic và vật lý. Nó được hình dung là phương pháp liên kết có giá trị với NS/EP và với NCS. b. Kiến trúc cơ sở OTDM Kiến trúc cơ sở OTDM được phát triển để điều khiển kết nối siêu tốc độ. Tuy nhiên, có các trọng điểm sau:

1) Sự cần thiết cho một kiến trúc, đảm bảo cả dịch vụ băng thông đảm bảo và
dịch vụ băng thông truy nhập ngẫu nhiên theo yêu cầu (BOD) ở cùng một thời gian;

2) Sự cần thiết cho một chính sách mà sẽ điều chỉnh chia sẻ băng thông hiệu
quả và công bằng với các người dung BOD dưới mọi điều kiện lưu lượng mạng khác nhau.

3) Sự cần thiết cho một thuật toán đơn giản đủ để thực thi ở một tốc độ yêu cầu
bới các mạng quang. Trên cơ sở những trọng điểm trên, Helical LAN (HLAN) được đề xuất. HLAN là một kiến trúc rãnh khung cơ sở và xuất hiện để đáp ứng đồng thời tất các tiêu chuẩn trên. Nó sử dụng bus đơn hướng xoắn và cũng được thực thi trong cấu trúc tuyến tính, cái mà có thể thích hợp hơn cho mạng MAN. Kiến trúc HLAN được thiết kế để hoạt động tại 100Gb/s, và nó có thể thích nghi với tốc độ lớn hơn.Kiến trúc này được mô tả như hình 3, một sợi quang được chia thành ba phân đoạn không chồng chéo là Transmitter (GBW and BOD), and Receiver (RCV). Đoạn GBW được sử dụng để truyền tải lưu lượng cần đảm bảo băng thông. Đoạn BOD được sử dụng để truyền tải lưu lưọng cái mà yêu cầu bởi BOD, cuối cùng đoạn RCV được sử dụng để nhận lưu lưọng truyền trên bus.

11

Hình 3. Kiến trúc HLAN

Hình 4. Cấu trúc Frame HLAN Mỗi nút trên bus được trang bị một bộ xử lý headend /slot, đơn vị giao thức logic, cơ chế phục hồi clock, và các bộ đệm. Mỗi Headend tạo ra khe (slots) rỗng và đặt chúng trên xe bus. Kiến trúc HLAN có thể hỗ trợ tốc khe là 107 đến 108 slots/s. Các cấu trúc khung được minh họa trong hình 4. Mỗi nút dịch vụ có được bằng cách chúng yêu cầu từ headend thông qua dịch vụ BOD hoặc bất kỳ các cơ sở khác. Đối với yêu cầu dịch vụ GBW, nếu có thể các headend phân bổ dành khe, tới các nút yêu cầu trên phân khúc GBW. Bất kỳ khe GBW không sử dụng được sử dụng cho dịch vụ BOD. Đối với yêu cầu dịch vụ BOD, headend tạo ra thẻ phân bổ bằng cách sử dụng khe cắm mốc. Phân bổ một số lượng nhất định các thẻ cho mỗi điểm đánh dấu trên khe cắm nhận. Ngoài ra, các thẻ được giảm mỗi khe thời gian được sử dụng. Khi không có dữ liệu để gửi, số thẻ của node được thiết lập lại trở lại các thẻ gốc. Để ngăn chặn các tắc nghẽn ở nút có lưu lượng cao, headend giám sát các khe free ở cuối bus. Nếu không có khe free được quan sát trong một khoảng thời gian nhất định, độ dài của khoảng phân bổ thẻ tăng lên. Kết quả là giảm băng thông sẵn có cho các nút riêng lẻ. Nếu headend các quan sát nhiều rãnh ở

12

cuối bus, nó làm giảm độ dài của khoảng phân bổ thẻ. Điều này cung cấp băng thông rộng hơn cho người dùng cá nhân. 1.2.1.2 Kiến trúc Bellcore’s AON Bellcore, đại học Columbia và một số phòng lab nghiên cứu khác đã cùng tham gia nghiên cứu, phát triển một kiến trúc khác. Kiến trúc WAN có dung lượng cao dựa trên nền tảng DWDM và đinh tuyến bước sóng, và có khả năng mở rộng và mô-đun về số lượng các mạng người sử dụng, số lượng các nút, phạm vi địa lý cũng như năng lực mạng tổng hợp.

Hình 5: Kiến trúc mạng toàn quang đa bước sóng Bellcore Như được thể hiện trong hình vẽ 5, các kiến trúc mạng bao gồm các thiết bị toàn quang có chứa các thiết bị chuyển mạch định tuyến bước sóng. Theo tính liên tục bước sóng hạn chế cho các mạng định tuyến bước sóng, hai lightpaths (còn gọi là kênh thông tin liên lạc quang ) có chung một liên kết sợi thông thường không nên được phân công cùng mộtbước sóng. Trong các hình, λ1, λ2, λ3 là bước sóng và có sẵn của mạng. Bước sóng λ1 là được sử dụng trong hai lightpaths cho A-B và CD kết nối kể từ khi hai đường dẫn sử dụng bước sóng khác nhau, định tuyến chuyển mạch. λ2, và λ3 có thể chiếm các con đường giữa các bước sóng, định tuyến chuyển mạch, vì chúng là tần số khác nhau. Tuy nhiên, nếu một chuyển đổi hoặc định tuyến nút cũng được trang bị với một bộ chuyển đổi bước sóng,thì bước sóng liên tục chế biến mất, và lightpath có thể được chuyển giữa bước sóng khác nhau trên tuyến đường từ nguồn đến đích. Vì lý do này, định tuyến và chuyển dịch bước sóng là một thách thức chính trong mạng định tuyến bước sóng mà không cần chuyển đổi bước sóng. Hơn nữa, việc thiếu các chuyển đổi bước sóng tăng xác suất của kết nối chặn bởi vì cùng một bước sóng có thể không có ở tại

13

tất cả các nút cho một lightpath đặc biệt trên tuyến đường từ nguồn đến đích. Bước sóng chuyển đổi là rất tốn kém và không được sử dụng tại tất cả các nút trong mạng. Kiến trúc Bellcore sử dụng bộ chuyển đổi bước sóng chỉ ở tại các nút chọn trong mạng lưới của mình. 3.3.2.3 Kiến trúc OCDM-cơ bản Một kiến trúc điển hình OCDM-cơ bản thể hiện trong hình 6. Trong kiến trúc này, các nút được kết nối với một bộ ghép sao thụ động NxN. Các bộ mã hóa OCDM của mỗinút phát hiện một "1" chút bởi một loạt các xung quang học siêu nhanh gọi là mã địa chỉ hoặc dãy tín hiệu. Các bit "0" không mã hóa và được đại diện bởi một dãy số toàn không. Mỗi nút tín hiệu của riêng mã hoá được gửi đến các bộ ghép saoỗnNvà phát sóng tới tất cả các nút.

Hình vẽ 6. Kiến trúc OCDM-cơ bản Mục tiêu đích của một hệ thống OCDM là dành cho mỗi nút để trích xuất dữ liệu với mã địa chỉ của nó trong sự hiện diện của tất cả các chuỗi xung quang của người người dùng khác. Do đó, một hệ thống OCDM được thiết kế với ba điều kiện ban đầu sau đây: • Mối tương quan tự động cho một mã OCDM nên càng lớn càng tốt để đảm bảo rằng tín hiệu nhận được là lớn hơn nhiều so với nhiễu nền trong hệ thống.

• Mối tương quan chéo giữa hai mã khác nhau cần càng nhỏ càng tốt để đảm
bảo mỗi mã có thể dễ dàng phân biệt với tất cả các mã OCDM khác.

• Các chuyển dịch mối tương quan tự động cung cấp một mã OCDM do đó
cho phép OCDM được giảm thiểu để hoạt động mà không cần đồng bộ hóa.

2. Các linh kiện và thiết bị cơ bản trong mạng toàn quang
2.1 Sợi quang
Sợi quang (Optical fiber) được chọn làm môi trường truyền dẫn tín hiệu trong các mạng tốc độ cao do nó sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội so với các môi trường truyền dẫn truyền thống. Có thể liệt kê ra như : Phổ tần sử dụng rộng, suy hao thấp, tiêu thụ công suất ít, không bị gây nhiễu bởi điện từ trường bên ngoài, sử dụng vật liệu chế tạo ít, nhỏ gọn và giá thành rẻ hơn. Cũng nhờ đó mà các hệ thống thông tin quang thường có tỉ lệ BER rất thấp, nhỏ hơn 10-11

14

Tuy nhiên sợi quang vẫn tồn tại các hiện tượng vật lý như: suy hao, tán sắc, và các hiệu ứng phi tuyến đã làm ảnh hưởng đến việc tận dụng tối đa tài nguyên của nó, đặc biệt trong các mạng đường trục tốc độ cao. Có hai vùng suy hao thấp quan trọng hay được sử dụng:1300nm, bề rộng 200nm, suy hao nhỏ hơn 0.5dB/Km; và 1550nm, bề rộng 200nm, suy hao thấp khoảng 0.2dB/Km. Băng thông được tính xấp xỉ 50THz theo công thức: ∆f ≈
c ∆λ λ2

Hình 7. Phổ suy hao của sợi quang Có hai loại sợi quang là sợi quang đơn mode(SMF) và sợi quang đa mode (MMF). Nhược điểm chính của sợi quang đa mode là do hiện tượng tán sắc giữa các mode (Iinter-mode Dispersion), làm giảm giá trị tích BR*D ( BR- Bit Rate; D – Distance) xuống chỉ còn vài chục Mb/s/Km. Sử dụng sợi quang có chiết suất bậc (Step- Index), và sợi quang chiết suất giảm dần (Graded- Index) có thể nâng lên hàng (Gb/s )-Km, tuy nhiên vẫn không đảm bảo khi khoảng cách truyền dẫn lớn. Trong khi đó, sợi quang đơn mode loại bỏ tán sắc giữa các mode bằng cách giảm đường kính của lõi sợi quang. Tuy nhiên, hiện tượng tán sắc (Chromatic Dispersion)-do sự tồn tại nhiều thành phần hài trong phổ tín hiệu quang truyền trong sợi quang gây nên- lại là yếu tốảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng truyền quang. Một số loại sợi quang đơn mode chuẩn, do ITU-T khuyến nghị hay được dùng trong các mạng truyền dẫn quang gồm có : Non- Dispersion Shifted Fiber (G.652), Dispersion-Shifted (C.653), 1550-nm Loss minimized Fiber (G.654) và Nonzero-Dispersion Fiber (G.655)  NDSF (ITU-T G.652 ) Là loại sợi quang được sử dụng nhiều nhất. Nóđược chế tạo tối ưu cho vùng 1310nm, có tán sắc bằng 0 tại chính bước sóng 1310nm, và gần 20ps/nm-Km ở bước sóng 1550nm.

 DSF (ITU-T G.653)

15

Là loại sợi quang được thiết kế tối ưu cho vùng 1500-1600nm, có hệ số tán sắc xấp xỉ 3.3ps/nm-Km tài cửa sổ 1550nm và gần bằng 0 tại bước sóng 1550nm. Loại sợi quang này không phù hợp cho mạng WDM do ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến.

 1550nm Loss Minimized Fiber (ITU-T G.654)
Đây là loại sợi quang đơn mode chuẩn đặc biệt, có tổn hao rất thấp tại vùng cửa sổ 1550nm. ITU G.654 được thiết kế tối ưu cho vùng 1500-1600nm. Bước sóng cutoff hiệu dụng là một thông số quan trọng trong thiết kế loại sợi này. Tổn hao thấp là nhờ sử dụng lõi thuỷ tinh tinh khiết. Sản xuât ITU G.654 tốt kém, giá thành cao, nên nóít được sử dụng. Loại sợi quang này phù hợp nhất là cho hệ thống cáp quang biển hoặc mạng cáp quang đường trục  NZ-DSF (ITU-T G.655) Là loại sợi quang SMF có hệ số tán sắc lớn hơn một giá trị khác không ở cả vùng 1500nm. Hiện tượng tán sắc này làm giảm ảnh hưởng của các hiệu ứng phi tuyến như: FXM, SPM,XPM xuất hiện trong các hệ thống DWDM. Loại sợi quang này phù hợp nhất, hoạt động tối ưu nhất là tại vùng 1500-1600nm.

2.2 Bộ phát/thu tín hiệu quang
Bộ phát tín hiệu quang Bộ phát tín hiệu quang (Optical transmitter) có chức năng chuyển tín hiệu điện thành tín hiệu quang. ánh sáng phát ra từ các nguồn này được bơm vào sợi quang để truyền đi. Có hai loại linh kiện dùng làm nguồn phát quang hiện nay là LED (Light Emitting Diode) và LASER ( Light Amplification by Stimulated Emission Radiation). Các nguồn phát sáng quang cần có các tính chất vật lý sau : Phù hợp với kích thước sợi quang

 Bơm đủ công suất vào sợi quang đểđảm bảo tín hiệu có thể được phát
hiện ở đầu thu với suy hao biết trước.  Phát ra ánh sáng ở bước sóng có suy hao và tán xạ thấp. Độ rộng phổ hẹp để giảm thiểu tán xạ.  Duy trìđặc tính ổn định trong điều kiện môi trường thay đổi  Cho phép điều chế trực tiếp công suát quang phát ra  Giá thành thấp vàđộ tin cậy cao LEDs là nguồn phát lý tưởng cho các hệ thống quang đa mode sử dụng trong mạng LAN hoặc các mạng truy cập. Tuy nhiên LEDs không thể cung cấp đủánh sáng vào sợi quang đơn mode trên một khoảng cách truyền dẫn lớn.

16

LASER là nguồn phát ánh sáng được sử dụng phổ biến nhất trong các hệ thống truyền dẫn quang. Hầu hết các hệ thống phát Laser được thiết kếđể làm việc với nhưng bước sóng được quy định bởi ITU-T. Đối với các hệ thống WDM, người ta thường dùng loại nguồn Laser có thểđiểu chỉnh được đến các bước sóng khác nhau (Tunable Laser) nhằm tiết kiệm chi phí. Cách khác là dùng các Laser cố định bước sóng (Fixed Tune Laser) DFB làm việc rất tốt với các ứng dụng hiện nay. Với các hệ thống WDM có số bước sóng lớn gồm hàng chục đến hàng trăm bước sóng, cách này trở thành rất tốn kém, gây khó khăn cho nhà sản xuất và công tác vận hành Một lựa chọn khác là dùng mảng Laser (Laser Array), bao gồm một tập các Laser, với mỗi Laser đã hoạt động ở một bước sóng cố định khác nhau. Nhưng mặt hạn chế là số bước sóng có sẵn trong một mảng Laser là cố định và hiện tại giới hạn khoảng 20 bước sóng. Thiết bị thu tín hiệu quang Thiết bị thu tín hiệu quang (Optical Receiver) thực hiện chuyển đổi tín hiệu quang thành tín hiệu điện bằng cách sử dụng linh kiện Photodetector tạo ra dòng điện có cường độ tỷ lệ với công suất quang thu được. Dòng điện sau đóđược khuếch đại và cho đi qua một thiết bị ngưỡng. Một bít phát đi được xác định làở mức 0 hay 1 phụ thuộc dòng điện này ở trên hay dưới một ngưỡng nào đó trong suốt thời gian bit. Nói cách khác sự quyết định được thực hiện dựa vào cường độánh sáng trong suốt khoảng thời gian bit đó.

2.3 Bộ lọc và bộ ghép kênh quang
Các bộ lọc quang (Optical Filter) là những thành phần chủ yếu trong hệ thống truyền dẫn WDM đối với ít nhất hai ứng dụng là ghép và tách các bước sóng, các thiết bị này được gọi là các bộ ghép kênh (MUX) và các bộ phân kênh (DEMUX). Ngoài ra bộ lọc còn làm phẳng độ lợi và lọc nhiễu trong các bộ khuếch đại quang.

Hình 8. Bộ lọc và bộ ghép kênh Một bộ lọc đơn giản là một thiết bị hai cổng chọn một bước sóng và loại bỏ các bước sóng khác. Nó có thể có một cổng thứ ba thêm vào mà trên đó thu được các bước sóng bị loại bỏ. Một bộ ghép kênh (MUX) kết hợp các tín hiệu ở các bước sóng khác nhau trên các đầu vào đưa tín hiệu kết hợp ở một đầu ra chung. Bộ DEMUX thực hiện chức năng ngược lại. MUX và DEMUX được dùng trong các

17

thiết bị đầu cuối mạng WDM, các bộ kết nối chéo bước sóng (WXC) và các bộ ghép kênh xen/tách bước sóng (ADM). MUX và DEMUX có thể được nối liên tầng để tạo ra các WXC. Hình 9 là một ví dụ về WXC cố định. Thiết bị gửi các tín hiệu từ một đầu vào đến một ngõ ra dựa trên bước sóng. WXC động có thể được xây dựng bằng cách kết hợp sử dụng các bộ chuyển mạch quang với các bộ ghép kênh và phân kênh.

Hình 9. Bộ kết nối chéo cố định .

2.4 Bộ chuyển mạch quang
Các mạng thông tin quang trước đây sử dụng chuyển mạch điện tử tại các node mạng. Tuy nhiên ngày nay tốc độ của chuyển mạch điện tử không thể đáp ứng với yêu cầu về tốc độ bit, và hiệu suất sử dụng băng thông của sợi quang. Chuyển mạch điện tửở các node trung gian trong mạng cũng làm gia tăng trễ. Những yếu tố này đã thúc đẩy sự phát triển của mạng toàn quang trong đó các thành phần chuyển mạch điện tử được thay thế bằng chuyển mạch quang với khả năng chuyển mạch các luồng dữ liệu quang băng thông cao. Các bộ chuyển mạch quang được sử dụng trong các mạng quang cho nhiều ứng dụng khác nhau. Mỗi ứng dụng yêu cầu thời gian chuyển mạch và số cổng chuyển mạch khác nhau. Một ứng dụng của các bộ chuyển mạch quang là cung cấp các lightpaths. Trong ứng dụng này, các chuyển mạch được sử dụng bên trong các bộ WXC nhằm cấu hình lại chúng để cung cấp các lightpaths mới. Sẽ phải có một phần mềm dùng để quản lý mạng từđầu cuối đến đầu cuối. Một ưng dụng quan trọng khác là chuyển mạch bảo vệ. ởđây các chuyển mạch được sử dụng để chuyển các luồng lưu lượng từ một sợi chính sang một sợi khác trong trường hợp sợi chính bị hỏng. Toàn bộ quá trình chuyển luồng phải được hoàn thành trong hàng chục ms, bao gồm thời gian tìm ra lỗi, thông tin lỗi đến các phần tử mạng đểđiều khiển việc chuyển mạch, và thời gian chuyển mạch thật sự. Vì vậy thời

18

gian chuyển mạch yêu cầu khoảng một vài ms. Có thể có các dạng chuyển mạch bảo vệ khác nhau, phụ thuộc vào phương pháp sửđược sử dụng, số lượng cổng chuyển mạch cần thiết có thể thay đổi từ hàng trăm đến hàng ngàn cổng khi sử dụng trong các bộ kết nối chéo bước sóng. Các bộ chuyển mạch quang cũng là phần tử quan trọng trong mạng chuyển mạch gói quang tốc độ cao. Trong các mạng này, các chuyển mạch được sử dụng để chuyển các tín hiệu trên cơ sở các gói. Với ứng dụng này, thời gian chuyển mạch phải nhở hơn nhiều thời gian của một gói nên cần có các bộ chuyển mạch tốc độ cực cao. Ví dụ kích thước của một cell trong mạng ATM là 53bytes ở tốc độ 10Gbps dài 42ns, vì vậy thời gian chuyển mạch yêu cầu khoảng một vài ns. Các bộ chuyển mạch quang còn được sử dụng như là cá bộđiều chế bên ngoài để mở vàđóng dữ liệu trước một nguồn Laser. Trong trường hợp này, thời gian chuyển mạch phải là một phần nhỏ của độ rộng bit. Do đó một bộđiều chế bên ngoài cho một tín hiệu 10Gbps (với một khoảng thời gian bit 100ps) phải có thời gian chuyển mạch khoảng 10ps.

2.5 Bộ chuyển đổi bước sóng
Bộ chuyển đổi bước sóng (Wavelength Converter) là thiết bị có khả năng chuyển đổi tín hiệu quang từ bước sóng này ở đâu vào sang một bước sóng khác ở ngõ ra. Bộ WC rất hữu ích trong việc làm giảm xác suất nghẽn mạng. Nếu các bộ WC được tích hợp vào các bộ OXC trong mạng toàn quang, thì các kết nối có thể được thiết lập giữa nguồn và đích ngay cả khi bước sóng đó không có trên tất cả các tuyến của đường đi. Chúng sẽ giúp loại bỏ sự bắt buộc về tính liên tục bước sóng. Dưới đây là một sốđặc điểm mà một bộ WC lý tưởng nên có:  Trong suốt đối với tốc độ bit và các định dạng tín hiệu. Thời gian tạo bước sóng ở đầu ra nhanh Chuyển đổi được cả những bước sóng ngắn và dài Dải bước sóng rộng đối vớicác tín hiệu vào/a Có tỷ số SNR cao đểđảm bảo khả năng ghép tầng Cóđộ nhậy thấp với phân cực của tín hiệu vào Chi phí thấp và lắp đặt đơn giản


    

Các bộ chuyển đổi bước sóng có thể được chia thành hai dạng dựa vào lượng chuyển đổi có thể. Một số bộ chuyển đổi bước sóng đầy đủ có thểchuyển một bước sóng ngõ vào thành bất kỳ bước sóng nào ở ngõ ra. Một bộ chuyển đổi bước sóng giới hạn chỉ có thể chuyển một bước sóng ngõ vào thành một số các bước sóng nào đó ở ngõ ra. Một mạng mà có các bộ chuyển đổi bước sóng đầu đủở tất cả các node sẽ có chất lượng tốt hơn xét về khía cạnh tối thiểu hóa xác suất nghẽn. Tuy nhiên, điều này khó thực hiện trong thực tế do yếu tố chi phí và phụ

19

thuộc các giới hạn kỹ thuật. Vì vậy thường một mạng chỉ có một số node được trang bị các bộ WC đầy đủ hoặc giới hạn. Vì vậy vấn đề lựa chọn các node thích hợp đểđặc các bộ WC trở nên hết sức quan trọng. Các kỹ thuật thiết kế bộ chuyển đổi bước sóng có thể được chia ra hai dạng chuyển đổi bước sóng quang-điện và chuyển đổi bước sóng toàn quang. Dưới đây sẽ trình bày hai kỹ thuật này. 2.5.1 Chuyển đổi bước sóng O-E Trong phương pháp này, tín hiệu quang trước tiên được chuyển thành tín hiệu điện sử dụng một bộ tách sóng. Luồng bit được lưu trữ trong bộ đệm . Sau đó tín hiệu điện được dùng dể lái ngõ vào của một Tuable Laser để tạo thành một bước sóng mong muốn ở ngõ ra. Phương pháp này không thích hợp cho các tốc độ bít cao hơn 10Gb/s. Sự tiêu hao nhiều công suất hơn và các thủ túc phức tạp là một số trở ngại củ phương pháp này khi so với các phương pháp khác. Tuy nhiên quá trình chuyển đổi O-E ảnh hưởng một cách bất lợi đến tính trong suốt. 2.5.2 Chuyển đổi bước sóng toàn quang Trong phương pháp này tín hiệu quang ở trong miền quang trong suốt quá trình chuyển đổi. Ta có thể chia phương pháp này thành các loại sau: a) Chuyển đổi bước sóng sử dụng hiệu ứng kết hợp Các phương pháp này dựa vào hiệu ứng trộn 4 bước sóng. Trộn bước sóng phát sinh từ hiệu ứng phi tuyến trong sợi quang khi có nhiều hơn 2 bước sóng cùng truyền trên một sợi quang. Kết quả là sinh ra một bước sóng khác mà cường độ tỉ lệ với cường dộ các sóng tương tác. Trộn bước sóng duy trì thông tin về pha và biên độ, cung cấp một sự trong suốt nghiêm ngặt. Nó cũng là phương pháp duy nhất cho phép đồng thời chuyển một tập nhiều bước sóng ở ngõ vào thành một tập các bước sống ở ngõ ra và có thể cung cấp các tín hiệu với tốc độ bit vượt qua 100Gb/s. Trong hình 10, giá trị n=3 tương ứng với FWM và n=2 tương ứng với DFG. Các kỹ thuật này được mô tả dưới đây:

 Trộn bốn bước sóng (FWM) : FWM được sử dụng trong các sợi thủy
tinh, nó làm cho ba sóng quang với các tần số f a , f b , và f c với a#b,c tương tác với nhau trong hệ thống ghép kênh đa bước sóng tạo ra bước sóng thứ tư có tần số f abc = fa + fb − fc . FWM có thể thực hiện được trong các ống dẫn sóng bán dẫn hoặc trong môi trường tích cực như bộ SOA. Kỹ thuật này cho phép tạo ra sựđộc lập dạng điều chế và tốc độ bit. Tuy nhiên hiệu suất chuyển đổi từ năng lượng bơm vào thành năng lượng tín hiệu không cao lắm.

 Phát sinh tần số sai phân (DFG) : DFG là kết quả của sự tương tác
phi tuyến của một môi trường với hai sóng quang : một sóng bơm và một sóng tín hiệu. Kỹ thuật này cung cấp một phạm vi trong suốt hoàn toàn mà không thêm vào

20

nhiễu, nhưng hiệu suất thấp và nhạy với sự phân cực. Khó khăn chính trong việc thực hiện kỹ thuật này nằm ở chỗ làm khớp pha của các sóng tương tác và chế tạo một ống dẫn sóng suy hao thấp để đạt được năng suất chuyển đổi cao.

Hình 10. Chuyển đổi bước sóng b) Chuyển đổi bước sóng dùng điều biên chéo (XPM) Kỹ thuật này sử dụng các thiết bị bán dẫn tích cực như các bộ khuêchs đại quang học và laser bán dẫn.

 Bộ khuêch đại quang bán dẫn (SOA) ở chế độ XGM và XPM :
Nguyên tắc sử dụng một bộ khuêch dại ở chế độ điều chế chéo độ lợi hay hệ số khuêch đại (XGM) như sau : tín hiệu ngõ vào điều chế độ lợi trong SOA. Một tín hiệu sóng liên tục (CW) ở bước sóng ngõ ra mong muốn ( λc ) được điều chế bằng sự thay đổi độ lợi để cho nó mang cùng thông tin với tín hiệu ngõ vào ban đầu. Tín hiệu CW có thể được phóng vào SOA cùng hướng hoặc ngược hướng với tín hiệu vào. XGM cho ra một tín hiệu được chuyển đổi bước sóng đảo ngược lại so với tín hiệu ngõ vào. Phương pháp XGM dễ dàng thực hiện, tuy nhiên nó gặp trở ngại là sựđảo lại của luồng bít được chuyển đổi. Hoạt động của bộ chuyển đổi bước sóng sử dụng SOA trong mode điều chế xuyên pha XPM dựa vào sự phụ thuộc của chỉ số khúc xạ của SOA vào mật đọ sóng mang trong vùng tích cực. Một tín hiệu đi vào sẽđiều chế chỉ số khúc xạ và kết quả làđiều chế pha của tín hiệu CW được phép chuyển đổi. Với XPM, tín hiệu ngõ ra được chuyển đổi có thể bịđảo cũng có thể không. XPM mang lại hiệu quả cao hơn so với XGM.

 Laser bán dẫn: Sử dụng laser bán dẫn đơn mode, cường độ laser được
điều chế bởi ánh sáng tín hiệu ngõ vào thông qua sự bão hòa. Tín hiệu ngõ ra thu được bịđảo so với tín hiệu ngõ vào.

2.6 Bộ khuếch đại quang
Trong quá trình truyền cường độ tín hiệu quang bị suy hao do các hiện tượng vật lý trong sợi quang gây nên. Ngoài ra các thành phần quang khác, như các bộ ghép nối, mối hàn cũng gây ra suy hao. Sau một khoảng cách nhất, suy hao tích lũy làm cho tín hiệu bị yếu dần đến mức dưới độ nhạy của bộ thu quang. Do đóđể có thể truyền được tín hiệu quang đi xa, ngoài việc tăng công suất phát ban

21

đầu, ta phải dùng các bộ lặp tái sinh hoặc bộ khuếch đại quang sau một khoảng cách truyền nhất định. Một bộ lặp tái sinh sẽ phải thực hiện biến đổi O/E/O, nên nó sẽ làm hạn chế tính trong suốt đối với đặc tính tín hiệu truyền, đồng thời tăng chi phí bảo trì. Kỹ thuật khuếch đại quang mang lại nhiều thuận lợi hơn các bộ lặp. Bộ khuếch đại quang không phụ thuộc vào tốc bit và các định dạng tín hiệu. Một hệ thống sử dụng khuếch đại quang có thể dễ dàng nâng cấp hơn, ví dụ như đến một tốc độ bit cao hơn mà không cần phải thay thế các bộ khuếch đại. Hơn nữa, các bộ khuếch đại quang có một băng thông khá rộng nên có thể được dùng khuếch đại đồng thời nhiều tín hiệu WDM. Nếu không với mỗi bước sóng ta phải có một bộ lặp. Điều này cho thấy các bộ khuếch đại quang thật sự cần thiết cho các hệ thống ghép kênh theo bước sóng. Ở đây ta sẽ xem xét hang loại khuếch đại quang cơ bản: EDFA ( EribiumDoped Fiber Amplifiers) và SOA (Sermiconductor Optical Amplifiers) • Bộ khuếch đại EDFA Bộ khuếch đại quang EDFA hoạt động trong dải từ 1530nm đến 1560nm. Cấu tạo EDFA gồm một đoạn silica ma phần lõi được cấy vào các ion E3+ của nguyên tố Eribi. ở đầu cuối sợi quang, một laser phát đi một tín hiệu (pumped signal) vào sợi quang. Để kết hợp tín hiệu gốc đặt ở đầu vào với tín hiệu laser, người ta dùng một bộ ghép ph ụđược đặt trước đoạn cáp. Thông thường sẽ có một bộ cách ly được dùng trước ngõ vào hoặc ngõ ra của bộ khuyếch đại để ngăn cản sự phản xạ ngược trở lại vào trong bộ khuếch đại.

Hình 11. Cấu tạo bộ khuếch đại EDFA Tín hiệu bơm kích thích các nguyên tử Er3+đến một mức năng lượng cao hơn. Sự chuyển dịch mức năng lượng của điện tử từ cao xuống thấp sẽ phát ra một photon, được goi là bức xạ tự phát nếu như không có bất cử một tác động nào khác chen vào, hoặc bức xạ kích thích do sự có mặt của các photon chứa năng lượng bằng năng lượng dịch chuyển. Thời gian sống của các điện tử ở mức năng lượng cao vào khoảng 10-9s đảm bảo cho các ion E3+ đợi để được khuếch đại tín hiệu bằng bức xạ kích thích. Khi tín hiệu đầu vào được bơm vào EDFA, nó kích thích

22

sự phát xạ của ánh sáng từ các ion ở trạng tháI kích thích, do vậy khuếch đại công suất tín hiệu. Hầu hết các EDFA được bơm bằng laser với bước sóng 980nm hoặc 1480nm. Bước sóng 980nm cho hiệu suất độ lợi khoảng10dB/mW, trong khi bước sóng 1480nm cho hiệu suất khoảng 5dB/mW. Một hạn chế của khuếch đại quang làđộ lợi phổ không đồng đều. Độ lợi phổ EDFA được vẽ trong hình 12 dưới đây. Ngoài ra, các bộ khuếch đại cũng khuếch đại nhiễu như tín hiệu, và vùng tích cực của bộ khuếch đại cũng tự động phát ra các photon và vùng tích cực của bộ khuếch đại cũng tự động phát ra các photon, làm hạn chế hiệu suất của bộ khuếch đại.

Hình 12. Đường cong độ lợi khuếch đại theo bước sóng Một số phương pháp làm phẳng độ lợi của EDFA đã được nghiện cứu như sử dụng bộ lọc quanh tần số 1530nm để nén đỉnh trong vùng này. Tuy nhiên khi có nhiều bộ khuếch đại EDFA được ghép liên tầng, một đỉnh khác xuất hiện quanh bước sóng 1560nm, lúc đó một bộ lọc ở tần số 1560nm được sử dụng. Một phương pháp khác là hiệu chỉnh công suất phát đầu vào để cho công suất trên mọi bước sóng nhận được ở bên thu như nhau. Cách này được áp dụng trong mạng vòng Ring WDM.

• Bộ khuếch đại quang bán dẫn SOA
Về cơ bản bộ khuếch đại SOA (Semiconductor Optical Amplifier) có cấu tạo là một ghép nối P-N (xem hình 13). Lớp giữa được hình thành ở mối nối hoạt động như là một vùng tích cực. Ánh sáng được khuếch đại do sự phát xạ kích thích khi nó lan truyền qua vùng tích cực này. Đối với một bộ khuếch đại, hai đầu

23

cuối của vùng tích cực được phủ một lớp không phản xạ để loại bỏ gợn sóng trong độ lợi của bộ khuếch đại.

Hình 13 Sơ đồ khối của một bộ khuếch đại bán dẫn Hai dạng Laser bán dẫn cơ bản là Fabry-Perot Amplifier và TravellingWave Amplifier (TWA). Sự khác nhau cơ bản giữa hai loại này là tính phản xạ của hai gương đầu cuối. Tính phản xạ của Fabry-Perot khoảng 30%, của TWA khoảng 0.01%. Tính phản xạ cao hơn trong Fabry-Perot gây ra cộng hưởng trong bộ khuếch đại làm cho dải thông hẹp khoảng 5GHz. Vì vậy TWA thích hợp hơn Fabry –Perot dùng cho các mạng WDM. Ngày nay các bộ khuếch đại bán dẫn có thểđạt được độ lợi 25dB với một độ bão hoà là 10dBm, độ nhạy phân cực là 1dB và phạm vi băng thông 40nm. Một thuận lợi của các bộ khuếch đại bán dẫn là khả năng tích hợp chúng vào các thành phần khác.

2.7 Cấu trúc mạng DWDM
Trong phần này ta sẽ đi tìm hiểu cấu trúc tổng quát của một mạng WDM. Cấu trúc của mạng được mô tả trong hình 14 gồm các thiết bị đầu cuối (OLT), các bộ ghép kênh xen/tách quang (OADM) và các bộ kết nối chéo quang OXC liên kết với nhau qua các kết nối sợi quang. Hình vẽ không chỉ ra các bộ khuếch đại quang, được triển khai dọc theo tuyến truyền dẫn nhằm đảm bảo công suất quang tại đầu thu. Ngoài ra, trong các OLT, OADM, OXC cũng có thể tích hợp các bộ khuếch đại quang bên trong để bù suy hao. ở đây, OLT được triển khai rộng rãi, OADM được triển khai ở phạm vi nhỏ hơn và OXC chỉ mới bắt đầu được triển khai. Cấu trúc mạng này liên kết các mạng thuộc các loại khác nhau như mạng vòng (Ring), mạng mắt lưới (mesh). Một sốđặc điểm đáng chúý của kiến trúc này:

24

 Sử dụng lại bước sóng: Nhiều lightpath trong mạng có thể sử dụng
cùng bước sóng khi chúng không trùng nhau trên bất cứ tuyến nào. Khả năng sử dụng lại này cho phép mạng hỗ trợ một số lớn các lightpath sử dụng một số giới hạn các bước sóng.

 Chuyển đổi bước sóng: Lightpath có thể trải qua nhiều chuyển đổi
bước sóng dọc theo lộ trình (route) của nó. Chuyển đổi bước sóng có thể cải thiện hiệu quả sử dụng các bước sóng trong mạng. Chuyển đổi bước sóng cũng cũng cần thiết ở những phần giáp danh mạng ngoài nhằm đưa các tín hiệu từ các nguồn bên ngoài vào bước sóng phù hợp để sử dụng bên trong mạng.

 Tính trong suốt: Nghĩa là các lightpath có thể mang dữ liệu với các
tốc độ bit, định dạng khác nhau.

 Mang tính chuyển mạch kênh: Các lightpath được cung cấp ở lớp
quang có thể được thiết lập và kết thúc theo yêu cầu. Điều này giống như việc thiết lập và giải phóng các kênh trong mạng chuyển mạch kênh.

 Khả năng dự phòng: Mạng có thể được cấu hình sao cho trong trường hợp bịđứt một lightpath nào đó, các ligthpath có thể được định tuyến lại bằng các đường thay thế một cách tự động .

Hình 14. Cấu trúc mạng định tuyến bước sóng DWDM

25

2.7.1 Thiết bị đầu cuối OLT
Thiết bị đầu cuối là phần tử mạng tương đối đơn giản xét về mặt cấu trúc. Chúng được dùng ở đầu cuối của một liên kết điểm-điểm để ghép và phân kênh các bước sóng. Hình 15 mô tả ba phần tử chức năng bên trong một OLT gồm: bộ tiếp sóng (transponder), bộ ghép kênh bước sóng (Wavelength Multiplexer) và một bộ khuếch đại quang không được vẽ ra trên hình. Bộ tiếp sóng có chức năng biến đổi tín hiệu đi vào từ người sử dụng sang một tín hiệu phù hợp sử dụng trong mạng và tương tự theo chiều ngược lại. Giao diện giữa người sử dụng và bộ tiếp sóng có thể thay đổi phụ thuộc vào người sử dụng, tôc độ bit và khoảng cách hoặc suy hao giữa người dùng và bộ chuyển tiếp. Giao diện phổ biến nhất là SONET/SDH.

Hình 15. Cấu trúc một thiết bị đầu cuối OLT Tín hiệu có thể cần được chuyển sang một bước sóng thích hợp trong mạng quang. Các bước sóng tạo ra bởi bộ tiếp sóng tuân theo các tiêu chuẩn của ITU trong cửa sổ 1.55micromet, trong khi tín hiệu đến có thể là tín hiệu 1,3micromet. Bộ tiếp sóng có thể thêm vào phần vào đầu (overhead) nhằm mục đích quản lý mạng. Nó cũng có thể thêm thông tin sửa lỗi FEC, đặc biệt cho các tín hiệu 10Gbps và các tốc độ cao hơn. Trong một số trường hợp, việc làm thích nghi chỉ cho hướng đi vào và bước sóng ITU ở hướng ngược lại được gửi trực tiếp đến thiết bị người sử dụng. Trong một số trường hợp khác, ta có thể tránh sử dụng bộ tiếp sóng bằng cách thực hiện chức năng thích nghi bên trong thiết bị người sử dụng như phân tử mạng SONET có chỉ ra trong hình 15. Tín hiệu ra khỏi bộ tiếp sóng được ghép kênh với các tín hiệu khác ở các bước sóng khác nhau sử dụng bộ ghép kênh theo bước sóng phát ra trên một sợi quang. Thêm vào đó, có thể phải sử dụng bộ khuếch đại quang để đẩy công suất tín hiệu lên trước khi chúng được gửi đến bộ phân kênh, rồi truyền tới bộ tiếp sóng hoặc trực tiếp đến thiết bị người sử dụng.

26

OLT cũng là đầu cuối của một kênh giám sát quang OSC. OSC được mang trên một bước sóng riêng, tách biệt với các bước sóng mang lưu lượng. Nó dùng để giám sát việc thực hiện của các bộ khuếch đại dọc theo tuyến, và một số chức năng quản lý khác.

2.7.2 Bộ ghép/xem OADM
OADM (Optical Add-Drop Multiplexer) là thiết bịđược sử dụng trong các hệ thống WDM để ghép v àđịnh tuyến các kênh quang vào đi vào/ra một sợi quang đơn mode (SMF). Đây là loại node quang thường hay được dùng để xây dựng mạng quang cấu trúc mạch vòng. Ơ đây “Add” và “Drop” chỉ ra khả năng đưa thêm một hay nhiều kênh bước sóng mới vào tín hiệu WDM đa bước sóng đang có và /hoặc tách (rớt) một hay nhiều kênh bước sóng, rồi định tuyến sang một tuyến khác của mạng (xem hình 16). Một thiết bị OADM có thể coi như làm một loại chuyển mạch quang (Optical Cross-connect) đặc biệt.

Hình 16. Cấu tạo của một bộ OADM sử dụng FBG và hai bộ Circulator Cấu trúc điển hình của một OADM gồm 3 khối: Khối tách kênh quang (Optical Demux), khối ghép kênh quang (Optical Mux), ở giữa là khối chuyển mạch quang (optical switch). Tất cả các lightpath đi trực tiếp qua OADM gọi là cut-through ligthpath., trong khi nhũng lightpath được xen/rớt tại node OADM gọi là added/dropped lightpath. Một OADM có các chuyển mạch quang có thể cấu hình lại từ xa được gọi là ROADM (Reconfigurabel OADM). Về mặt vật lý, có một số cách để thực hiện OADM. Có rất nhiều công nghệ tách/ghép kênh như: dùng bộ lọc, FBG (Fiber Bragg Gratings) với các bộ Circulator quang, … Cũng có rất nhiều các công nghệ chuyển mạch hay cấu hình lại: Fiber Patch Panel, công nghệ MEMS, các chuyển mạch quang nhiệt và tinh thể lỏng trong các mạch dẫn sóng phẳng. Mặc dùđều có chức năng xen/rớt, nhưng OADM lại khác với các bộ ADM (Add-Drop Multiplexer) về dạng tín hiệu làm việc. OADM xen/rớt các kênh

27

quang trong mạng WDM, trong khi ADM xen/rớt các luồng TDM tín hiệu điện trong mạng SONET/SDH. Bộ xen/tách quang cung cấp một phương tiện điều khiển lưu lượng hiệu quả trong mạng. OADM có thể dùng tại những vị trí khuếch đại trong các mạng đường trục, nhưng cũng có thể sử dụng như những phần tử mạng độc lập. Để hiểu được các lợi ích của bộ xen/tách quang, ta xét một mạng giữa ba node A,B, và C với các bộđịnh tuyến IP đặt ở mỗi node như trong hình 17. Dựa vào cấu trúc mạng, lưu lượng giữa A và C đi xuyên qua node B. Để đơn giản ta giả thuyết các tuyến kết nối hoàn toán song công giống như hầu hết các mạng quang hiện nay.

Hình 17. Vai trò của OADM trong mạng 3 node Giả sử yêu cần lưu lượng như sau: một bước sóng giữa A và B, một bước sóng giữa B và C, và ba bước sóng giữa A và C. Bây giờ ta xây dựng hệ thống WDM điểm nối điểm đểđáp ứng nhu cầu lưu lượng này. Trong giải pháp đưa ra trong hình 17.a, mỗi liên kết điểm điểm sử dụng một OLT ở cuối tuyến. OLT gồm các bộ Mux/demux, các bộ tiếp sóng. Chí phí bộ tiếp sóng là một phần quan trọng trong chi phí chung của mạng. Node B có hai OLT, mỗi OLT kết thúc bốn bước sóng và vì vậy yêu cầu bốn bộ tiếp sóng. Tuy nhiên, chỉ có một trong bốn bước sóng này là dành cho node B, các bước sóng còn lại được sử dụng để cung cấp lưu lượng giữa A và C. Vì thế sau trong tám bộ tiếp sóng ở node B dùng đểđiều khiển lưu lượng. Đây là việc làm tốn kém. Xét giải pháp dùng OADM trong hình 17.b. Thay vì thực hiện các hệ thống WDM điểm nối điểm, ta triển khai một mạng định tuyến bước sóng. Mạng sử dụng một OLT ở node A và C và một OADM ở node B. OADM tách một trong bốn bước sóng, sau đó kết thúc trong các transponder. Ba bước sóng còn lại đi xuyên qua trong miền quang sử dụng các kỹ thuật lọc tương đối đơn giản, mà khôngphảI kết thúc trong các transponder. Kết quả là chỉ cóhai transponder cần

28

thiết ở node B thay vì tám transponder như ở giải pháp 17.a. Điều này cho thấy OADM sẽ giảm bớt chi phí đáng kể.

Hình 18. Các loại ROADM trong mạng toàn quang có thể cấu hình lại Tuy nhiên các OADM hiện tại khá cứng nhắc do nó không có khả năng thay đổi lựa chọn các kênh được tách vàđi xuyên qua băng phần mềm điều khiển khi đang hoạt động. Với ROADM (Reconfigurable OADM) sử dụng các bộ lọc và laser hiệu chỉnh đáp ứng được yêu cầu về tính mềm dẻo của cấu hình hệ thống. Các mạng toàn quang cấu hình lại được có bộ khung chính là các node ROADM (xem hình 18 ở trên). Hiện nay có 4 loại ROADM chính gồm ROADM loại I/II, WSS (Wavelength Selective Switches), và OXC (Optical Cross-Connects). Bảng 1tổng hợp các đặc điểm quan trọng của các loại ROADM này

Loại ROADM

Số lượng kênh Add/Drop

Nhiều bước sóng trên một cổng Không

Các công nghệ thành phần

ROADM loại I

N

•Wavelength Blocker (LCD

29

(Fixed Ports)

or MEMS) +Fixed Filters (TFF) •Demux + Small Switch Array + Mux (PLC)

ROADM loại II (Any λ to any port)

M

Không

•Wavelength Blocker( LCD or MEMS)+Tunalbe Filters/Lasers •Demux+Small Switch Array+Mux+MxN Switches (PLC)

WSS (Any multiple λ ’s to any port OXC (Any multiple λ ’s from any port to any port)

M-1 (1xM WSS) N/A (Mesh connectivity only)

•1xN Wavelength Selective Switch (LCD or LCoS or MEMS) •NxN Matrix Switch (PLC) •NxN Wavelength Selective Switch (LCD or LCoS or MEMS)

Bảng 1. So sánh các loại ROADM

2.7.3 Bộ kết nối chéo quang OXC
OADM là phân tử mạng hữu ích để điều khiển các cấu trúc mạng đơn giản như cấu trúc tuyến tính hoặc cấu trúc vòng Ring với số bước sóng ít. Với mạng có cấu trúc mắt lưới phức tạp hơn và số bước sóng sử dụng nhiều hơn, người ta phải sử dụng một phần tử khác là bộ kết nối chéo OXC. OXC là thiết bị dùng để chuyển mạch các tín hiệu quang tốc độ cao trong mạng sợi quang. Có thể coi OADM là một trường hợp đặc biệt của OXC. OXC được đặt ở vị trí trung tâm, điều khiển lưu lượng lớn. Một OXC cũng là phần tử mạng chính cho phép cấu hình lại các mạng quang, ởđó các lightpath được thiết lập và giải phóng theo yêu cầu, chứ không được cung cấp một cách cố định. Có một số cách thực hiện một OXC. Loại thứ nhất thực hiện OXC trên miền điện tử. Sau khi được tách kênh qua bộ Demux, tất cả các tín hiệu quang đầu

30

vào được chuyển đổi sang tín hiệu điện. Các tín hiệu điện này sau đóđược chuyển mạch bởi một module chuyển mạch điện tử. Cuối cùng các tín hiệu điện chuyển mạch được chuyển đổi trở lại tín hiệu quang bằng cách sử dụng chúng đểđiều chế các bộ laser và sau đó các tín hiệu quang thu được sẽđược ghép kênh với nhau trước khi đưa vào sợi quang để truyền đi. Loại cấu trúc này gọi là OXC cấu trúc OEO. Các cross-connects dựa trên một quá trình chuyển mạch OEO có hạn chếđó là chuyển mạch điện tử sẽ hạn chế băng thông cực đại của tín hiệu. Tuy nhiên, ta lại dễ giám sát chất lượng tín hiệu trong thiết bị OEO, vì tất cả các tín hiệu được chuyển đổi sang tín hiệu điện tại nodechuyển mạch. Một ưu điểm nữa là các tín hiệu quang được tái tạo lại, nên không gây ra tán sắc hay suy hao khi tín hiệu quang đi qua node chuyển mạch. Một OXC điện tửđược gọi làopaque OXC. Cách thứ hai để thực hiện OXC là chuyển mạch các tín hiệu quang trong thiết bị toàn quang. Loại OXC này được gọi là Transparent OXC hay Photonic Cross-Connect (PXC). Cụ thể là, qua khối tách kênh quang (Optical Demux)tín hiệu quang được tách thành các kênh bước sóng, rồi được đưa đến khối chuyển mạch quang(Optical Switch). Sau chuyển mạch, các kênh quang này được ghép kênh, rồi phát vào sợi quang bằng các bộ ghép kênh quang (Optical Mux). Loại cấu trúc OXC này sẽ giữ nguyên được các đặc điểm về tốc độ bit và trong suốt với giao thức lớp trên. Tuy nhiên do các tín hiệu này được duy trìở dạng quang, nên khó giám sát chất lượng tín hiệu quang. Một loại OXC thứ ba kết hợp cả hai loại trên, gọi là translucent OXC. Trong cấu trúc này, có một tầng chuyển mạch bao gồm một khối chuyển mạch quang và một khối chuyển mạch điện. Các tín hiệu quang đi qua tầng chuyển mạch có thể được chuyển mạch bằng khối chuyển mạch quang hoặc khối chuyển mạch điện. Trong hầu hết các trường hợp, khối chuyển mạch quang hay được sử dụng hơn do tính trong suốt của nó. Khi tất cả các giao diện của khối chuyển mạch quang đều bận, hoặc do tín hiệu quang cân được tái tạo thông qua quá trình chuyển đổi O/E/O thì khối chuyển mạch điện được sử dụng. Như vậy node Translucent OXC có khả năng kết hợp cả hai ưu điểm đó là trong suốt với tín hiệu quang và khả năng tái tạo, giám sát chất lượng tín hiệu quang OXC làm việc trực tiếp với các phần tử mạng SONET/SDH cũng như các bộ IP Router và các chuyển mạch ATM, các thiết bị đầu cuối WDM và các bộ OADM như chỉ ra trong hình 19. Một số người coi OXC như là một bộ chuyển mạch kết nối chéo với các thiết bị đầu cuối OLT xung quanh. Ta có thể xây dung mạng sử dụng các thiết bị OXC và OLT từ các nhà sản xuất khác nhau. OXC cung cấp nhiều chức năng như sau:

• Cung cấp dịch vụ: Một OXC sẽ cung cấp các lightpath còn gọi là dịch vụ, trong một mạng lớn một cách tự động mà không phải bằng tay. Khả năng này trở nên quan trọng khi giải quyết số bước sóng lớn hơn trong một node hoặc với số node trong mạng lớn. Nó cũng khá quan trọng khi các lightpath trong mạng

31

cần được cấu hình lại đểđáp ứng với sự thay đổi lưu lượng. Các OXC có thể cấu hình từ xa đảm nhận chức năng này.

Hình 19. Kết nối OXC với các phần tử khác

• Bảo vệ lightpath: Bảo vệ lightpath khi sợi bịđứt và khi thiết bị gặp sự có trong mạng là những chức năng quan trọng nhất được mong đợi từ bộ kết nối chéo. Bộ kết nối chéo là một phần tử mạng thông minh. Nó có thể phát hiện ra sự cố trong mạng và nhanh chóng định tuyến lại các lightpath. Các bộ kết nối chéo cho phép nâng cao hiệu quả sử dụng băng thôngcho các mạng mesh.
tốc độ bit và các định dạng khung tùy ý là một thuộc tính mong muốn của các OXC.

• Trong suốt đối với tốc độ bit: Khả năng chuyển mạch các tín hiệu với

• Thực hiện chuyển đổi bước sóng: Ngoài việc chuyển mạch một tín hiệu từ cổng này sang cổng khác, OXC cũng có thể kết hợp thêm khả năng chuyển đổi bước sóng bên trong.
• Thực hiện ghép kênh WDM

32

Hình 20. Một số cấu trúc OXC được triển khai Hình 20 là một số cấu trúc của OXC được triển khai trong thực tế. Hình 20.a mô tả một OXC gồm một lõi chuyển mạch điện bao quanh bởi các bộ chuyển đổi quang-điện (O/E). OXC hoạt động với các OLT thông qua các giao diện quang phi WDM, tiêu biểu ở 1310nm. OLT có các bộ tiếp sóng để chuyển tín hiệu này bước sóng WDM thích hợp, hoặc tự OXC có thể có các laser bước sóng riêng biệt hoạt động với các OLT mà không cần những bộ tiếp sóng giữa chúng. Hình 20b,d mô tả các OXC với một lõi chuyển mạch quang. Sự khác nhau chính nằm ở chỗ các OXC làm việc với những thiết bị WDM. Lưu ý rằng các cấu hình 20a,b và c đều có chuyển đổi bước sóng và tái sinh tín hiệu trong bản thân OXC hoặc sử dụng các bộ tiếp sóng gắn vào các OLT. Để khả năng phục hồi tín hiệu, và chuyển đổi bước sóng, cầu hình ở hình 20.d được bổ sung để thêm vào bộ kết nối chéo lõi điện tử như trong hình 21. Cấu hình này cho phép hầu hết các tín hiệu được chuyển mạch trong miền quang, tối thiểu chi phí và tối đa dung lượng mạng, trong khi cho phép ta định tuyến các tín hiệu xuống lớp điện khi cần thiết.

33

Hình 21. Node mạng kết nối chuyển mạch quang và chuyển mạch điện Trong hình 22, tín hiệu vào trong các đôi sợi quang khác nhau trước tiên được phân kênh bởi các OLT. Tất cả các tín hiệu ở cùng một bước sóng cho trước được gửi đến một bộ chuyển mạch dành cho bước sóng đó, và các tín hiệu từ các ngõ ra của các chuyển mạch được ghép lại với nhau bằng các OLT. Trong một node với F đôi sợi WDM và W bước sóng trên mỗi cặp sợi, sự xếp đặt này sử dụng F bộ OLT và W bộ chuyển mạch 2Fx2F. Điều này cho phép bất kì tín hiệu trên bất kì bước sóng nào được rớt cục bộ. Ngược lại cấu hình hình 16 sử dụng F bộ OLT và một bộ chuyển mạch 2WFx2WF để cung cấp cùng dung lượng. Ví dụ xét F=4 và W=32 là những giá trị thực tế hiện đang dùng. Trong trường hợp này cấu hình hình 22 sử dụng 4 bộ OLT và 32 bộ chuyển mạch 8x8. Ngược lại cấu hình 20.b cần 4 bộ OLT và một chuyển mạch 256x256. Như đã biết, các bộ chuyển mạch quang càng lớn thì càng khó chế tạo hơn so với những chuyển mạch nhỏ.

34

Hình 22. Cấu trúc OXC cải tiến Do vậy sử dụng cấu hình 22 mạng lại sự lựa chọn với chi phí thấp hơn cho các bộ chuyển mạch quang không nghẽn kích thước lớn hơn. Tuy nhiên, ta không xem xét làm thế nào để tối ưu số bộ kết cuối xen/rớt (là các transponder hoặc các giao diện O/E). Cả hai hình 21 và 22 đều giả thiết có đủ các cổng để kết thúc tất cả WF tín hiệu. Hầu nhưđây là trường hợp hiếm khi nào xảy ra, vì chỉ một phần lưu lượng sẽ cần được lấy xuống và các thiết bị kết cuối thìđắt tiền. Nếu thực sự cần WF kết thúc trên một chuyển mạch điện, thì giải pháp tốt nhất là sử dụng cấu hình lõi điện trong hình 20.a. Nếu ta có tổng cộng T thiết bị đầu cuối, tất cảđều có các laser chỉnh được bước sóng và ta muốn rớt bất cứ tín hiệu nào trong số WF tín hiệu, điều này yêu cầu một chuyển mạch quang TxWF thêm vào giữa những bộ chuyển mạch và các thiết bị kết cuối như trong hình 23. Ngược lại, với một bộ chuyển mạch không nghẽn kích thước lớn, ta chỉđơn giản kết nối T thiết bị kết cuối đến T cổng của bộ chuyển mạch này, tạo ra một chuyển mạch (WF+T)x(WF+T).

35

Hình 23. Cấu trúc OXC mới nhất Tóm lại sử dụng mô hình 22 ta cần phải tính luôn số sợi, phần lưu lượng được xen/rớt, số bộ kết cuối và các khả năng điều chỉnh cũng như các thông số riêng biệt trong thiết kế. Hiện nay các OXC có lõi chuyển mạch điện với toàn bộ dung lượng lên đến một vài Tb.s, có khả năng phân luồng xuống tới luồng STS-1 (51Mbps) đã có mặt trên thị trường. Các OXC với trung tâm chuyển mạch quang với hơn 1000 cổng cũng đang nổi lên như các sản phẩm thương mại.

3. Một số công nghệ quan trọng trong mạng AON
3.1 Công nghệ kênh quang
3.1.1 Kênh quang Dung lượng truyền dẫn điểm-điểm đã tăng lên hơn hai lần trong vòng một thập kỷ qua nhờ việc sử dụng truyền dẫn sợi quang, với hệ thống có tốc độ 10Gb/s đang được xây dựng. Tuy nhiên, các hệ thông SDH, ATM, và hệ thống IP gặp phải một cản trở khi muốn tăng tốc độ truyền dẫn lên 10Gbps, đó chính là sự hạn chế tốc độ của thiết bị chuyển mạch điện tử tại các node. Công nghệđường dẫn quang (Optical path) là bước ngoặt phá bỏ sự hạn chế này. Các đường dẫn quang được tách biệt bằng các bước sóng khác nhau. Sự ra đời của nó tạo ra bước nhảy vọt về cả dung lượng truyền dẫn và tốc độ chuyển mạch (Cross-connect

36

throughput) bằng việc khai thác các công nghệ WDM vàđịnh tuyến bước sóng (Wavelength routing).

Bảng 2. Các công nghệ kênh ghép kênh Ở bảng 2 một số công nghệ ghép kênh và tạo đường dẫn khác nhau được so sánh về cách nhận biết path và cơ chế định tuyến. Các path lớp 2 được nhận ra nhờ nhãn/mào đầu (Label/header)gắn vào gói/tế bào(packet/cell). Các đường dẫn số của SDH và PDH ở lớp 1 được xác định bằng vị trí khe thời gian trong khung TDM. Trong WDM, các bước sóng được sử dụng để phân biệt các path với nhau. Định tuyến bước sóng có các đặc điểm quan trọng sau:  Định tuyến bằng phần cứng cho phép thông lượng của node định tuyến rất lớn.  Định tuyến dựa trên cơ chế Store and Forward rất khó, do thiếu bộ nhớ. Định tuyến bước sóng cho phép tại một thời điểm định tuyến được nhiều tín hiệu cóđịnh dạng khác nhau trên cùng một sợi quang. Mặt mạnh của công nghệ WDM và định tuyến theo bước sóng là cho phép xây dựng được các hệ thống truyền dẫn quang có kích thước nhỏ, tiêu thụ công suất thấp, và có thông lượng cực lớn. Tuy nhiên số lượng path trên một sợi quang bị hạn chế khoảng nhỏ hơn 1000, dung lượng của một path khoảng hơn vài trăm Mb/s. Vì vậy đường dẫn quang được ứng dụng nhiều nhất là để tăng dung lượng đường trans access giữa các node như mô tả ở hình 19. Các đường dẫn điện (Electric Path), như các đường dẫn số, VP, LSP, sẽđược sử dụng làm đường dẫn

37

truy nhập dịch vụ để cung cấp các dịch vụ cụ thể và để thực hiện kỹ thuật lưu lượng cần thiết. Hiện tại các đường dẫn quang không những sẽ thay thế tất cả các đường dẫn điện, mà còn bổ sung cho chúng ví dụ dưới dạng các đường dẫn transacces. Theo đó, các mạng đường dẫn quang sẽ dần dần thay thế các mạng dựa trên đường dẫn điện. Tóm lại, công nghệđường dẫn quang đã mạng lại lợi ích vô cùng to lớn cho mạng truyền dẫn nói chung, cụ thể là:  Ứng dụng công nghệ WDM nâng cao dung lượng truyền dẫn  Định tuyến bước sóng nâng cao thông lượng của node chuyển mạch  Khả năng truyền dẫn linh hoạt  Khả năng bảo vệ/phục hồi mạng hiệu quả  Dung lượng đường dẫn >1Gb/s, và số lượng đường dẫn trên một sợi quang <1000

Hình 24. Ứng dụng của đường dẫn quang  Nâng cao thông lượng chuyển mạch Trong khi công nghệ WDM làm tăng dung lượng truyền dẫn, nâng cao hiệu quả sử dụng băng thông sợi quang, thìđịnh tuyến bước sóng (Wavelength routing) lại mở rộng thông lượng của node chuyển mạch. Thông lượng của một hệ thống chuyển mạch đường dẫn quang lớn hơn hệ thống chuyển mạch TDM rất nhiều, đồng thời phần cứng thực hiện cũng đơn giản mặc dù lưu lượng cần chuyển qua rất lớn. Đó là bởi vìđịnh tuyến bước sóng không nhạy với dung lượng đường dẫn chỉ cần các thiết bị quang thụđộng (Passive Optical Devices), không cần đồng bộ giữa các đường dẫn quang (các kênh WDM không cần được đồng bộ

38

 Tăng thông lượng mạng với cơ chế Cut-through quang Hình 25 so sánh công nghệ IPoWDM (IP over WDM) với các công nghệđường dẫn quang (ví dụ photonic MPLS ). Trong mạng IPoWDM, để truy nhập tuyến truyền dẫn sợi quang, tất cả các tín hiệu WDM trong sợi quang đó phải được biến đổi thành tín hiệu điện và kết thúc ở mỗi node. Toàn bộ băng thông tín hiệu trên mỗi tuyến phải được định tuyến (từng gói một) dựa trên phần mào đầu của gói tại mỗi node gói đi qua. Trong mạng IP, hầu hết các gói đơn giản chỉđi qua node, và chỉ một phần của toàn bộ dung lượng sợi quang được kết cuối tại mỗi node. Nếu lưu lượng được định tuyến không sử dụng chuyển đổi O/E và không thực hiện xử lý từng gói một tại node, thì việc xử lý IP tại node này được giảm thiểu và thông lượng tổng cộng của node tăng lên rất lớn. Điều này có thể thực hiện bằng việc sử dụng các đường dẫn quang vàđịnh tuyến bước sóng.

Hình 25. IP over WDM Định tuyến đường dẫn quang có thể được thực hiện từ các linh kiện thụ động. Kỹ thuật này sẽ loại bỏ tình trạng nghẽn lưu lượng hay thấy ở các node định tuyến hiện nay. Đây làưu điểm đáng chúý khi dung lượng tuyến tổng cộng rất lớn do nó giảm thiểu việc chuyển đổi luồng bit tôc độ cao từ dạng nối tiếp sang song song và xử lý tín hiệu điện. Nghẽn thắt cổ chai do xử lý điện được tháo gỡ nhờ việc đưa ra sử dụng các đường dẫn quang.  Giảm chi phí xây dựng mạng Chi phí mạng có thể giảm nhờ việc sử dụng các đường dẫn quang (IP over Photonic) trong các mạng có thông lượng lớn. Hình 26 là một ví dụtính toán chi phí mạng. Giả thiết các giao diện IP router có tốc dộ 2.5Gb/s, và tốc độ truyền dẫn của một sợi quang 20Gb/s (ghép WDM 8 bước sóng). Chỉ có chi phí node làđược

39

tính do chi phí truyền dẫn không quan trọng trong tổng chi phí mạng nhờưu điểm của truyền dẫn WDM. Rõ ràng là sử dụng chuyển mạch PTS sẽ giảm chi phí node tổng cộng so với phương pháp định tuyến IP xử lý tín hiệu điện (All-Electronic IP router) còn gọi là IPoWDM. Khi số node trung gian tăng lên, những lợi ích chi phí này càng trở lên quan trọng hơn. Lý do là bởi vìđịnh tuyến các đường dẫn quang dung lượng lớn sẽ giảm chi phí các node trung gian.

Hình 26. Giảm chi phí với hệ thống XC đường dẫn quang  Dễ dàng mở rộng thông lượng hệ thống chuyển mạch quang Các đường dẫn quang dị bộ với nhau, nên rất dễđể thực hiện ghép/tách các đường dẫn quang tốc độ cao do không cần phải thực hiện đồng bộ bit. Đặc tính dị bộ này cho phép chúng ta thiết kế hệ thống chuyển mạch với khả năng tăng thông lượng (số bước sóng trên một sợi quang, số sợi quang, và tốc độ của kênh) bằng cách lắp thêm các module vào hệ thống (xem hình 27). Khi đó ta có thể thay đổi hệ thống dễ dàng nhằm đáp ứng mọi yêu cầu vềthông lượng đặt ra. Điều này đặc biệt cóý nghĩa kinh tế khi đầu tư xây dựng một hệ thống mới.

40

Hình 27. Mở rộng dung lượng hệ thống chuyển mạch quang  Là nền tảng hệ thống truyền dẫn Đối với các dịch vụ IP, các công nghệ khác nhau như: IP overATM/ [SDH/SONET]/WDM hay IPover[SDH/SONET]/WDM đang được phát triển. Hình 28 là ví dụ một mô hình phân lớp, trong đó có một số chức năng của mỗi lớp bị lặp lại ở các lớp khác. Như các chức năng ghép kênh, định tuyến, và chức năng bảo vệ/phục hồi đều có mặt ở tất cả các lớp. Không chỉ tồn tại lặp lại chức năng, mà còn xảy ra xung đột về chức năng bảo vệ/phục hồi khi mạng xảy ra lỗi giữa các lớp.

Hình 28. Mô hình phân lớp với sự lặp lại chức năng

41

Đối với mạng quang WDM, đường dẫn quang được thiết kế có thể hỗ trợ các định dạng tín hiệu điện khác nhau. Như đã nói ở trên, các dạng tín hiệu điện khác nhau được mang trên các bước sóng khác nhau trong một sợi quang sử dụng gán bước sóng. Rõ ràng, đường dẫn quang sẽ cung cấp một hạ tầng truyền dẫn truyền được nhiều dạng tín hiệu khác nhau, nhanh chóng và dễ dàng nâng cấp đểđưa ra các dịch vụ mới.

Hình 29. So sánh mạng định tuyến tín hiệu điện với mạng truyền dẫn quang Hình 29 so sánh các mạng định tuyến công nghệđiện tử với mạng truyền dẫn quang dựa trên công nghệđường dẫn quang. Có hai đặc điểm quan trọng đối với mạng truyền dẫn quang. Thứ nhất là sựđơn giản hoá mạng truyền dẫn lõi ( ởđó chỉ cần định tuyến bước sóng và do vậy chỉ cần dùng một loại thiết bịđịnh tuyến OXC (Optical cross-connect)/OADM (Optical Add/Drop Multiplexer)), định tuyến cho các dạng tín hiệu điện khác nhau trong lớp quang. Thứ hai là việc tách các chức năng lớp lõi và lớp biên. Lớp lõi (core network) có nhiều node thông lượng cao được kết nối bằng các tuyến có dung lượng lớn và tất cảđều có dự phòng, có khả năng bảo vệ/phục hồi. Các node xử lý tín hiệu điện nằm ở mạng biên (edge network) kết nối trực tiếp với nhau bằng các đường dẫn quang.

42

3.1.2 Đường dẫn bước sóng và đường dẫn bước sóng ảo Các đường dẫn quang được tách biệt với nhau bằng bước sóng của chúng. Có hai loại đường dẫn quang: WP (Wavelength Path) và VWP (Virtual Wavelength Path). Đối với WP, một đường dẫn quang được thiết lập giữa hai node băng cách phân bổ một bước sóng cho đường dẫn đó. Các node trung gian dọc theo WP thực hiện định tuyến WP theo bước sóng này. Còn đối với VWP, bước sóng của nó được phân bổ trên từng tuyến (link). Vì vậy bước sóng của mỗi VWP trên tuyến chỉ cóý nghĩa nội bộ thay vì toàn mạng như của WP. Điều này giống như nguyên tắc gán VPI (Virtual Path Identifier) trong mạng ATM. Vì lí do này, loại này được gọi là Virtual WP. Trong mô hình VWP sẽ cần bộ chuyển đổi bước sóng tại các node chuyển mạch.

Hình 30. So sánh WP và VWP Hình 30 so sánh hai loại đường dẫn quang này. Yêu cầu là phải thiết lập 4 WP, và 4 VWP trên các tuyến giống nhau. Kết quả là mô hình WP cần sử dụng 3 bước sóng, VWP sử dụng chỉ 2 bước sóng. Tức là mô hình VWP đã tối đa mức độ tái sử dụng lại bước sóng trong mạng cho phép sử dụng ít bước sóng hơn. Trong quá trình sắp xếp tạo WP, bài toán gán bước sóng và bài toán định tuyến phải được giải quyết đồng thời, để mỗi WP được gán một bước sóng khác

43

nhau trên một sợi quang. Với tài nguyên biết trước (số sợi quang và số bước sóng trên một sợi), node phải định tuyến quang (Optical Path route) và gán bước sóng, theo một thuật toán tối ưu (RWA).

3.2 Công nghệ chuyển mạch kênh quang
Công nghệ chuyển mạch kênh được sử dụng từ lâu trong các hệ thống viễn thông. Nhược điểm của công nghệ này là thời gian chuyển mạch lớn và hiệu suất sử dụng tài nguyên thấp. Với sự phát triển bùng nổ lưu lượng IP, công nghệ chuyển mạch kênh dần bị thay thế bởi các cng nghệ chuyển mạch mới có tốc độ chuyển mạch cao: chuyển mạch gói (ATM), chuyển mạch nhãn (MPLS). Trong khi đó truyền dẫn cáp sợi quang dần khẳng định được những ưu điểm vượt trội của nó so với các loại truyền dẫn truyền thống. Trên môi trường truyền dẫn quang, ta có các loại chuyển mạch quang: Chuyển mạch kênh quang, Chuyển mạch quang gói (Optical Packet Switching), Chuyển mạch quang nhãn (Optical Label Switching), và chuyển mạch nhóm quang ( Optical Burst Switching). Mạng đường dẫn quang WDM cung cấp các chức năng: truyền dẫn, ghép kênh, định tuyến, giám sát...vv, và xử lý trên nền quang. Hệ thống chuyển mạch đường dẫn quang (OPXC) tại mỗi node là thành phần quan trọng tạo nên backbone cho mạng đường dẫn quang WDM. Một hệ thống OPXC điển hình (xem hình 26) gồm bộ chuyển mạch quang (OXC), bộ chuyển đổi bước sóng (W/C), truyền dẫn WDM (WDM-T), và các chức năng ghép/tách tải (PAD- Payload Assembler/Disassembler). Chức năng W/C cần có trong mạng VWP nhưng lại không cần trong mạng WP. Giao diện Node –Mạng (ONNI- Optical Network-Node Interface) được cung cấp bởi WDMT, và giao diện User-Mạng (OUNI- Optical User Network Interface) được thực hiện bởi PAD.

44

Hình 31. Cấu hình chức năng của một node OXPC Hệ thống OPXC được thiết kế gồm N cổng sợi quang vào/ra, và có khả năng ghép WDM tối đa M bước sóng trên một sợi quang. Trong N cổng vào ra này, u cổng dùng cho các giao diện nội đài thông qua PAD với các thiết bịđiện tử khác (chuyển mạch điện tử). Khối OXC chuyển mạch bất kỳđầu vào quang đến đầu bất kỳ cổng sợi quang nào. Chức năng OXC cũng bao gồm cả chức năng xen/tách quang OADM (Optical Adds/Drops Multiplexing), dùng để xen/tách các đường dẫn quang từ/đến PAD . Hầu hết các hệ thống mạng Ring WDM chỉ thực hiện các chức năng OADM. Khối chức năng WDM-T đảm bảo chất lượng truyền dẫn WDM chất lượng cao với các node OPXC lân cận. Các chức năng 3R (Reshaping, Retiming, Regeneration) và giám sát chất lượng cũng có thể được tích hợp trọng khối WDM-T. Để toàn bộ mạng WDM được vận hành, quản lý, vàđiều khiển, thì mỗi khối chức năng phải có chức năng giám sát. Mạng WDM được thiết kế để có thể khôi phục khi nhận được các thông tin lỗi báo lỗi từ lớp truyền dẫn.

45

Hình 32. Sơ đồ phát triển công nghệ điều khiển đường dẫn quang Các công nghệ điều khiển (thiết lập/khôi phục/ngắt) đường dẫn phát triển từ điều khiển tĩnh sang điều khiển động (xem hình 32). Hệ thống truyền dẫn quang điểm-điểm được xây dựng vào khoảng năm 1990 là bước phát triển đầu tiên của mạng quang WDM. Tiếp đến là phát triển mạng WDM vòng, có chức năng OADM bước sóng cố định sử dụng các bộ lọc quang. Việc phát triển các bộ chuyển mạch quang kích cỡ nhỏ mở đầu cho khả năng điều khiển linh hoạt bước sóng gán trong OADM. Các thế hệ tiếp theo của hệ thống WDM gắn liền với sự ra đời lần lượt của các hệ thống tại node mạng: OXPC, Photonic MPLS Router, Next-generation Photonic MPLS Router. Photonic MPLS Router gồm hai phần OPXC và IP Router , điều khiển mỗi đường dẫn quang theo lưu lượng IP. OPXC nhận các lệnh điều khiển thiết lập/giải phóng/ khôi phục đường dẫn quang từ IP router. Phần sau đây giới thiệu các cấu trúc khác nhau của OPXC có khả năng hỗ trợ các hệ thống mạng WDM vòng và mạng mesh-like mà việc vận hành chúng dựa trên mô hình client/server hoặc peer -to-peer.

46

3.2.1 Cấu trúc chuyển mạch WP

Hình 33. Cấu trúc hệ thống chuyển mạch WP Cấu trúc hệ thống node OPXC loại WP được cho là đơn giản và chi phí hiệu quả so với loại VWP, mặc dù bài toán gán bước sóng phải được giải quyết xong trước khi cấu hình mạng. Loại hệ thống này phù hợp cho các mạng WDM với yêu cầu lưu lượng gần như cố định (tĩnh). Hai dạng cấu trúc chính của hệ thống thuộc loại này được cho trên hình 33. Trong cả hai cấu trúc đều yêu cầu cần có M bộ chuyển mạch ma trận NxN. Mỗi module chuyển mạch tương ứng với một bước sóng và thực hiện chuyển mạch WP của một trong N sợi quang đầu vào tới WP của một trong N sợi quang đầu ra. Sự khác nhau giữa hình 33.a và 33.b là việc sử bộ lọc điều chỉnh được (tunable filter) và bộ ghép nối quang (optical coupler) thay vì sử dụng các bộ Mux và Demux như trên hình 33.b. Khi tunalbe filter được sử dụng thay cho fixed-wavelength filer ở trước phần chuyển mạch ma trận NxN. Như ở hình 33.b, cùng một bước sóng trên các sợi quang đầu vào khác nhau, có thể kết thúc ở node. Không có bộ phát được vẽ trong hình 33 nghĩa là hệ thống chuyển mạch WP này là một hệ thống trong suốt (transparent system). 3.2.2 Cấu trúc hệ thống chuyển mạch WP/VWP Một số cấu trúc có thể áp dụng cho cả hai loại hệ thống chuyển mạch WP và VWP. Hình 34.a mô tả cấu trúc có sử dụng các bộ chuyển mạch ghép nối và phân phối (DC-SWs). Hình 34.b là cấu trúc MxN DC-SW (chú ý rằng khối chức năng PAD không được vẽ). Cấu trúc này cho phép kết nối bất kỳ một trong M sợi quang ở đầu vào với một trong N sợi quang ở đầu ra. Nếu N=1 ta có bộ ghép quang Mx1. Với cấu hình như vậy, các đường dẫn quang đầu vào vàđầu ra được nối với nhau theo cách không bị nghẽn. O đây hệ thống vận hành phần tử mạng

47

(NE-Network Element) phải đảm bảo WP của bất kỳ sợi quang đầu vào nào không xảy ra tranh chấp với WP ở đầu ra . Nếu có chức năng chuyển đổi bước sóng W/C thì hệ thống dễ dàng tránh được tranh chấp về bước sóng ở đầu ra như trên. W/C sẽ chuyển sang bất kỳ bước sóng nào còn rỗi trên sợi quang đầu ra. Với W/C không phụ thuộc vào tốc độ bit, thì ta có hệ thống OPXC trong suốt.

Hình 34. Cấu trúc hệ thống chuyển mạch WP/VWP Ta có thể thực hiện được hệ thống này bằng cách thay thế mạch chức năng W/C bằng một bộ phát WDM bước sóng cố định. Hệ thống này có khả năng module hoá cao, do vậy việc triển khai hệ thống sẽđạt chi phí hiệu quả phù hợp cho từng giai đoạn phát triển. Cấu trúc hệ thống dựa trên chuyển mạch song song được mô tả trên hình 35. Các tín hiệu WDM trên mỗi sợi quang đầu vào được phân phối cho MxN cổng với hai tầng ghép nối quang, và sau đó mỗi tín hiệu được chọn ra bởi khối chuyển mạch Nx1. Tiếp đến, bộ tunable filter lọc ra bước sóng yêu cầu (một đường dẫn quang) vàđược khối phát WDM chuyển đổi sang một bước sóng cố định nào đó trước khi phát đi. Kết hợp chức năng của tunalbe filter (hoặc fixed filter) và optoelectronic 3R có thể tạo thành một bộ chuyển đổi bước sóng dựa trên mô hình lựa chọn bước sóng tại đầu vào. Cấu trúc này hỗ trợ chuyển mạch VWP sử dụng mạch chuyển đổi bước sóng W/C, cho phép không xảy ra nghẽn .

48

Hình 35. Cấu trúc chuyển mạch song song 3.2.3 Cấu trúc chuyển mạch ma trận đầy đủ Cấu trúc của loại chuyển mạch ma trận đầy đủ(Full Matrix Cross-Connect Switch )gồm một khối chuyển mạch quang (NxM) x (NxM) cổng đặt ở giữa các bộ phát (transmitter). Nếu không có các bộ phát, thì hệ thống sẽ trở thành chuyển mạch transparent WP. Hai cách có thể dùng để thực hiện khối chuyển mạch quang (NxM) x (NxM) cổng đó là: chuyển mạch không gian một tầng (A single-stage switch), và chuyển mạch Clos ba tầng do C.Clos đưa ra đầu tiên (xem hình 31). Khối chuyển mạch Clos ba tầng gồm N chuyển mạch MxL tầng đầu vào, L chuyển mạch NxN tầng giữa và N chuyển mạch LxN tầng đầu ra. Nếu L>=2M-1 thì sẽ không xảy ra nghẽn. Ví dụ khi thiết kế một hệ thống OPXC 16 cổng sợi quang (N=16), với số bước sóng ghép kênh trên một sợi quang là M=32, thì thường lấy L=64 (>=63), và số lượng cổng trên ma trận chuyển mạch là NxM=512. Khói chuyển mạch quang (NxM)x(NxM) cho phép chuyển mạch chéo (crossconnection) với (NxM) bộ phát WDM, mỗi bộ phát có một nguồn sang bước sóng cố định.

49

Hình 36. Cấu trúc chuyển mạch ma trận đầy đủ

3.3 Công nghệ chuyển mạch gói quang.
a) Giới thiệu công nghệ chuyển mạch gói Công nghệ chuyển mạch gói quang thuộc công nghệ chuyển mạch gói. Hình 37 là Sơ đồ khối chức năng của một nút chuyển mạch gói tổng quát. Cấu trúc gồm 2 phần: khối chuyển mạch (Switching Fabric) và khối xử lýmào đầu (Header Processor). Gói sẽđược chuyển từ một đầu vào sang một hay nhiều đâu ra. Cấu tạo gói đầu vào gồm hai phần mào đầo (header) và tải (payload). Khi Nút nhận được gói, nó sẽ tách lấy phần mào đầu và chuyển thông tin mào đầu này xuống khối xử lý mào đầu để xác định đầu ra cho gói. Bộ xử lý mào đầu sẽ thiết lập khối chuyển mạch không gian để chuyển phần payload đến đúng đầu ra mong muốn. Khi hai hay nhiều payload cùng được hướng tới một đầu ra tại một thời điểm, chúng sẽ được tạm thời đưa vào bộ đệm . Khối xử lý mào đầu sẽ tái tạo lại một mào đầu mới và gán nó vào payload trước khi gói được đưa ra một ngõ ra.

50

Hình 37. Sơ đồ khối chức năng của một nút chuyển mạch gói

Nếu chỉ xét về vị trí đặt các bộ đệm trong khối chuyển mạch, ta có 3 loại cấu trúc chuyển mạch như ở hình 33. Mô hình thứ nhất (xem hình 33a), tranh chấp được giải quyết ngay tại đầu vào. Mỗi cổng đầu vào được trang bị một bộ đệm lưu các gói đến theo cơ chế FIFO. Dưới cơ chế tùy ý sẽ điều khiển bộ đệm phát gói vào phần chuyển mạch (Switching media). Nhược điểm của mô hình này là có trễ lớn. Giả sử ở cổng đầu vào A và B đều có gói muốn được chuyển đến cùng một cổng ra X. Theo một cơ chế phát gói nào đó, chỉ cho phép cổng A được phát gói đến cổng X, trong khi cổng B sẽ bị chặn. Như vậy cổng B không thể gửi gói tiếp theo mặc dù cổng đầu ra của gói này đang rỗi. Loại nghẽn này gọi là nghẽn đầu dòng (Head of Line Blocking). Loại nghẽn HOL này ảnh hưởng đến thông lượng của phần chuyển mạch. Rất nhiều các thuật đệm và phát gói đã được nghiên cứu để hạn chế ảnh hưởng của loại nghẽn này.

51

Hình 38. Các loại chuyển mạch không gian Mô hình chuyển mạch thứ hai cho ở hình 38b có bộ đệm được thiết kế đặt ở đầu ra. Trong mô hình này phần chuyển mạch có thể truyền đồng thời nhiều gói đến từ các ngõ vào khác nhau tới cùng một ngõ ra. Mỗi ngõ ra được đặt một bộ đệm để tránh tranh chấp ở đầu ra. Bộ đệm có thể nhận và lưu trữ tạm thời nhiều gói tại cùng một thời điểm, sau đó phát gói tới ngõ ra của nó từng gói một theo kiểu FIFO. Mô hình này thì đơn giản nhưng cần bộ đệm và phần chuyển mạch có tốc độ cao hơn nhiều. Cụ thể là nó không cần bộ đệm phức tạp và một thuật phát để tránh nghẽn HOL. Nhưng nó lại yêu cầu bộ đệm phải có khả năng chứa gói nhanh gấp N lần sơ với tốc độ phát ở ngõ vào khi phần chuyển mạch có N cổng vào. Mô hình chuyển mạch thứ 3 (hình 38c) có bộ đệm được dùng chung cho tất cả các ngõ vào và ngõ ra. Mỗi ngõ vào lưu tất cả các gói ở bộ đệm trung tâm, và mỗi ngõ ra truy cập bộ đệm này theo kiểu FIFO. Mô hình này có hiệu suất sử dụng bộ nhớ tốt hơn hai mô hình trên, tuy nhiên việc quản lý bộ nhớ của bộ đệm trung tâm phức tạp hơn rất nhiều. b) Công nghệ chuyển mạch gói quang (Optical Packet-Switching) Như đã giới thiệu ở trên, xét về vị trí bộ đệm ta có 3 loại mô hình chuyển mạch gói. Trong nút chuyển mạch gói quang, các bộ đệm thường được thực hiện bằng các dây trễ sợi quang do bộ nhớ truy nhập ngẫu nhiên vẫn chưa có trong thực tế. Do đó cấu trúc chuyển mạch cần quản lý bộ nhớ phức tạp như là loại chuyển mạch thứ 3, không phù hợp cho chuyển mạch gói quang. Trong phần này chỉđề cập đến hai mô hình chuyển mạch thứ nhất và thứ hai được thực hiện cho chuyển mạch gói quang. Với giả thiết tất cả các gói có chiều dài cốđinh, việc sử dụng dây trễ sợi quang là hết sức thuận lợi. Hình 39 là một ví dụ về cấu trúc chuyển mạch gói quang ma trận 3x3 và 5 khe thời gian, có bộ đệm ở đầu vào. Nó gồm 2 phần bộ đệm gói quang và chuyển

52

mạch không gian quang. Để tránh tranh chấp tại đầu ra của bộ chuyển mạch, các bộ đệm bằng dây trễ sợi quang. Trong ví dụ này, ngõ vào 1 và 2 đồng thời đều có các gói vào ở khe thời gian 0 với cùng đích đến là ngõ ra C. Bộ đệm gói làm trễ gói đầu tiên của ngõ vào 2 tới khe thời gian thứ 2. Gói hiện đang sở hữu khe thời gian thứ 2 phải được trễ xuống khe thời gian thứ 2 hoặc trễ hơn. Các khe thời gian thứ 3 và thứ 4 cũng xung đột với gói ở ngõ vào 1. Vì vậy, gói vốn nằm ở khe thời gian khe thời gian thứ 2 được trễ xuống khe thời gian thứ 5 và các khe thời gian thứ nhất, thứ ba và thứ tưở ngõ vào 2 đều để trống. Những khe trống này chính là nhân tố làm giảm thông lượng của chuyển mạch gói quang. Cuối cùng khối chuyển mạch không gian chuyển tất các các gói này tới các ngõ ra mà không xảy ra tranh chấp.

Hình 39. Một ví dụ về cấu trúc chuyển mạch gói quang 3x3 Hình 40 là ví dụ về một chuyển mạch gói quang đệm đầu ra, gồm một bus quảng bá (broadcast bus), các bộ đệm gói, và bộ lựa chọn kênh bước sóng (Wavelength Channel Selector). Kiến trúc này sử dụng mô hình ghép kênh WDM sử dụng bộ đệm ở đầu ra. Một kênh bước sóng cố định được gán cho mỗi ngõ vào, các gói quang vào được ghép với nhau theo cách ghép WDM vàđược phân phối tó mỗi ngõ ra qua broadcast bus (bộ ghép quang- optical coupler ). Các bộ đệm gói WDM được đặt ở mỗi ngõ ra. Nếu một gói WDM ghép hai hay nhiều gói có cùng đích ngõ ra, bộ đệm gói lưu và gửi tới bộ chọn kênh WDM. Bộ chọn kênh WDM lọc ra gói mong muốn trong các gói của gói WDM. Cấu trúc đầy đủ của một nút chuyển mạch gói quang gồm 4 khối con được mô tả trên hình 41. Giao diện đầu vào gồm một khối lọc header, lọc ra thông tin mào đầu trên gói; khối đồng bộ (synchronizer) thực hiện định thời lại các gói. Khối lõi chuyển mạch truyền các gói tới đầu ra phù hợp. Giao diện đầu ra thực hiện gán header mới vào gói, và có thể phải tái tạo lại dữ liệu vàchuyển nó sang

53

một bước sóng khác. Khối điều khiển thực hiện quản lý bộ đệm và thuật toán tránh xung đột.

Hình 40. Một ví dụ về chuyển mạch gói đệm đầu ra

Hình 41. Cấu trúc chuyển mạch gói quang đầy đủ

4. Kết luận
4.1 Ứng dụng của mạng toàn quang
Ở đây có một tiềm năng ứng dụng rộng lớn của AONs trong thương mại, chính phủ, khoa học…Trong ngắn hạn, phần lớn những ứng dụng có thể được hỗ trợ bởi các mạng điện tử hoặc điện – quang. Tuy nhiên, tập hợp nhiều những dịch vụ và giá cả, tính linh động, và hỗ trợ minh bạch bởi AONs có thể chứng minh sự vượt trội với các mạng điện hoặc điện – quang.

54

Hình 42. AON applications Phạm vi ứng dụng có thể chia làm 3 loại. Loại thứ nhất bao gồm ứng dụng sử dụng những dịch vụ số truyền thống. Tốc độ dữ liệu của ứng dụng này trong phạm vi từ Kb/s tới Gb/s. Họ có thể phân loại sâu hơn nữa bằng 4 loại nhỏ bao gồm những ứng dụng yêu cầu Gb/s, chuyển mạch gói nhanh nhữ là ATM, sự trực quan, mô phỏng và những kết nối siêu máy tính. Ứng dụng thứ hai vượt quá yêu cầu 100Mb/s dữ liệu như kết nối mạng LAN, truyền hình với độ nét cao DHTV, số hóa video thông thường, và những trạm lien kết nối. Dạng thứ 3 bao gồm các ứng dụng 10 Mb/s như là các mạng âm thanh số đa kênh và mạng máy tính Ethernet, và 4 loại con có ứng dụng hơn 1 Mb/s hoặc nhỏ hơn như là dịch vụ thoại và RS – 232. Loại thứ 2 bao gồm những dịch vụ analog. Thí dụ như, trong sự phân tán những kênh truyền hình quảng bá đa kênh, nhiều kênh được xử lý như một đơn vị. Kể từ khi tốc độ được số hóa tăng lên, giá cả rẻ hơn và đơn giản hơn để giữ 1 định dạng analog. Dạng thứ 3 bao gồm những ứng dụng mà cần thiết 1 giao diện quang. Những ứng dụng đó có thể cần thiết cho 1 tốc độ truyền tải rất cao, một định dạng tín hiệu không biết trước, hoặc mong muốn dử dụng những đặc tính độc đáo của mạng toàn quang. Tiền năng ứng dụng trong loại này bao gồm các trạm làm việc video trong tương lai, các máy chủ cơ sở dữ liệu, và HDTV… Một số thử nghiệm ban đầu khác nhau đã chứng minh 1 số kết quả ứng dụng từ các loại trên. Thí dụ như ARPAtafi trợ cho tập đoàn AON, tạo nên AT&T, DEC và MIT – LL, thử nghiệm hội nghị truyền hình, y học từ xa, kết nối siêu máy tính, lớp học từ xa và những ứng dụng khác.

55

4.2 Những hạn chế
AONs hướng đến sự tiên tiến hơn ở tính khả dụng hệ thống, kết nối và giá thành bằng cách cho phép truyền thông tin mà không cần đi qua bộ chuyển đổi quang – điện . Tuy nhiên, nguyên lý của mạng toàn quang tương đối mới và hiện nay, một số lượng không nhỏ các vấn đề và thách thức mới đang gặp phải. Một vài vấn đề và giới hạn của mạng AONs sẽ được bàn thảo dưới đây Các kỹ thuật ghép kênh khác nhau như là WDM và OTDM đã được đề xuất để chia sẻ băng thông lớn của sợi quang. Kỹ thuật OTDM có thể sử dụng để để xây dựng mạng AON có khả dụng rất cao. Khi so sánh với mạng AON dựa trên WDM, thì mạng AON dựa trên OTDM vẫn còn ở giai đoạn non trẻ, mới bắt đầu bởi vì hầu hết các thiết bị còn rất đắt đỏ và chúng thậm chí vẫn bị giới hạn trong phòng nghiên cứu thực nghiệm. Bởi vậy, Tính khả thi trong tương lai gần dường như sẽ vẫn là mạng dựa trên WDM hơn là mạng dựa trên OTDM . Kỹ thuật Transparency sẽ trở thành một trong các thuộc tính chính trong mạng AONs. Tuy nhiên, Có rất nhiều dạng transparency khác nhau, không phải tất các các nhóm tín nhiều quang đều có thể được truyền qua bất chấp các yêu cầu về tuyến tính và định dạng điều chế. Đó là các nguyên do chính dẫn tới các hiệu ứng về sự lan truyền nhiễu siêu âm, bộ điều chế, các thành phần chọn lựa bước sóng và các giới hạn SNR. Nguyên lý của việc phân tầng kiến trúc, chứng năng lớp transport là để mang đến nhiều tiện tích, bao gồm khả năng của mỗi lớp có thể triển, phát triển độc lớp với các lớp khác. Bởi vậy, cần phải đảm bảo khả năng hoạt động xuyên tầng giữa các lớp khác nhau, đặc biệt là với chức năng điều khiển và quản lý của chúng. Thách thức ở đây gồm 2 phần: thứ nhất là các đặc tính liên vận hành cho cả phần cứng và phần mềm phải được xác định. Thứ hai là 1 NMS cần được thiết kế và phát triển để tích hợp các hệ thống quản lý thành phần đặc trưng của lớp và đặc tính vendor Việc điều khiển và quản lý mạng trong AONs cũng mang đến nhiều thách thức mới. Nó bao gồm như là chức năng quản lý mạng khi lỗi, quản lý hiệu suất và quản lý cấu hình. Tiêu chuẩn của các chức năng quản lý mạng bản chất là để đạt được khả năng hoạt động qua nhiều hệ thống cung cấp và nhiều miền quản trị. Hiện nay, cả ITU-T và ANS T1X1.5 đều đang làm việc về các tiêu chuẩn của các chức năng này. Bảo mật cũng là 1 khía cạnh quan trọng của AONs và yêu cầu đặc biệt liên quan đến 1 lượng lớn dữ liệu có thể bị lỗi hoặc bị hư hại trong trường hợp bị tấn công bất ngờ . Khía cạnh này chưa được đánh giá một cách đầy đủ. Nhiều tiện ích cũng có nghĩa là phát hiện ra nhiều khả năng có thể tấn công bao gồm tấn công phá hoại rời rạc, tấn công đa điểm, và tấn công hệ thống điều khiển, các tấn công giao thức… là điều cần thiết.

56

4.3 Kết luận và khuyến nghị
Các mạng truyền thống hiện nay bao gồm, hầu hết các phần là tập hợp của các bộ chuyển mạch điện để liên kết các kết nối sợi quang điểm-điểm cho khoảng ngắn, vùng đô thị cũng như khoảng cách xa. Qua vài năm gần đây, dẫn đến yêu cầu về việc cần được thay thế, thay đổi mạng để có thể cung cấp băng thông cao hơn, tốc độ cao hơn và khả năng mềm dẻo cao hơn. Để đạt được những yêu cầu trên, thì các mạng hiện tại cần được nâng cao bằng cách thêm nhiều sợi quang và nhiều chuyển mạch hoặc năng cấp chuyển mạch. 1 giới hạn chính của các mạng đó là hiện tượng nghẽn cổ chai miền điện ( “electronic bottleneck” ) bao gồm 2 yếu tố. Thứ nhất là tất cả các thông tin được vận chuyển trên sợi quang phải được xử lý tại phần tạo tốc độ dữ liệu điện mà tương thích với thiết bị chuyển mạch điện theo trình tự vài Gbps, và thứ 2 là các thông tin truyền qua bộ chuyển đổi quang điện gây ra hao phí , trễ thời gian. Sử lý tín hiệu điện, và các bộ chuyển đổi quang điện dữ liệu tại tất cả các node mạng trung gian. AONs có thể truyền thông tin với tốc độ rất cao mà không cần qua bộ chuyển đổi quang điện. Trong tương lai, Aons sẽ mang đến khả dụng băng thông rất lớn của sợi quang và nâng cao hiệu quả sử dụng nó để đạt được yêu cầu tăng cao băng thông. WDM, OTDM hoặc OCDM sẽ được sử dụng phổ biến để nâng cao hiệu quả sử dụng băng thông sợi quang. OTDM và OCDM chưa thực sự hoàn hảo khi so sánh với WDM và các ứng dụng của chúng hiện nay vẫn chỉ giới hạn ở một vài thực nghiệm. Phụ thuộc vào các đặc tính chức năng của chúng, có 3 loại AONs là passive, transparent và ultra-fast. Passive và transparent AONs có thể dùng WDM hoặc OTDM, nhưng ultra-fast AONs chỉ có thể sử dụng OTDM. Những mạng AONs có thể được sử dụng trong kinh doanh, thương mại, y học, và giáo dục để hỗ trợ 1 dải rộng các ứng dụng. Các khả năng ứng dụng bao gồm kết nối máy tính với tốc độ siêu cao, truy nhập thư viện điện tử, telemedicine, Video conferencing, VoD, học trực truyến và nhiều ứng dụng đa phương tiện khác. Rất nhiều các ứng dụng có thể được sử dụng để nâng cao thông tin NS/EP trong các tình huống khẩn cấp. Vì vậy, mạng AONs có thể được xem như là khả năng thay thế các mạng điện tử.. trong các tình huống khẩn cấp. Khi mà các mạng toàn quang có 1 nguyên lý rõ nét, thì công việc tiếp theo cần thiết đó là về bảo mật, vận hành liên mạng, và điều khiển và quản lý trong AONs. Các tổ chức tiêu chuẩn như là ITU-T và ANSI và nhiều tổ chức nghiên cứu khác hiện đang nghiên cứu các vấn đề này. Khi mà công nghệ và tiêu chuẩn được chuẩn hóa , AONs có thể chứng tỏ ý nghĩa có thể làm được để hỗ trợ các thông tin NS/EP trong suốt các tình huống khẩn cấp .

57

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful