Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ đo độ trôi điểm làm việc của bộ điều chế điện quang

Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ đo độ trôi điểm làm việc của bộ điều chế
điện quang
Realizing the instrumentation system for measuring the tranfer function
drift of electro-optic modulator
1
Bùi Đăng Thảnh,
1
Đào Đức Thịnh,
2
Bernard Journet
1
Trường ĐHBK Hà Nội
2
SATIE, ENS Cachan, France
e-Mail: buidangthanh-3i@mail.hut.edu.vn


Tóm tắt
Bộ điều chế điện quang là thiết bị quan trọng trong rất
nhiều các hệ thống như hệ thống thông tin quang, hệ
thống cảm biến. Đặc tính của bộ điều chế này được
xác định theo mối quan hệ của điện áp đặt vào điện
cực làm việc (một chiều) và công suất quang đầu ra.
Việc đảm bảo hoạt động tại vùng tuyến tính nhất trên
hàm truyền là một vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên
hàm truyền lại bị trôi nên việc đặt một giá trị phân cực
tối ưu (định điểm làm việc) trước đó có thể trở nên
không có nhiều ý nghĩa. Việc trôi của hàm truyền sẽ
dẫn đến việc giảm hiệu suất làm việc các các hệ thống
ứng dụng có dùng bộ điều chế này. Để xác định mức
độ trôi, một tín hiệu dò tìm tần số thấp (500 Hz) được
đưa vào trong điện cực phân cực và sự phân tích
thành phần sóng hài bậc hai sau bộ điều chế được
thực hiện. Với việc đo thành phần sóng hài bậc hai
này, ứng xử không tuyến tính của bộ điều chế có thể
được xác định.
Bài báo đã chứng minh mối quan hệ giữa thành phần
sóng hài bậc hai với mức độ trôi của hàm truyền và
điện áp phân cực của bộ điều chế, bên cạnh đó các kết
quả mô phỏng trên Malab/Simulink cũng chứng minh
sự phù hợp với các tính toán trước đó.
Một hệ đo được xây dựng trên cơ sở các vi điều khiển
PSoC có kết nối máy tính được thực hiện đã cho kết
quả ban đầu rất tích cực, độ chính xác của hệ đo độ
trôi đạt được là 0,107%. Đây là cơ sở để phát triển các
hệ thống bù độ trôi sau này.

Từ khóa : bộ điều chế điện quang, sóng hài bậc hai,
bộ so pha, ứng xử phi tuyến, điểm làm việc.

Abstract:
Electro-optic modulator (EOM) is a key component in
many systems like optic communication systems,
sensor systems. The EOM are characterized by its
voltage to optical output transfer function.
Unfortunately, during their operating time, the EOM
are subject to a drift of the optical transfer function,
therefore the initial tuning of bias point is no longer
corresponding to the best characteristics of the device.
Consequently, there is degradation during time of the
performances of the system in which the EOM is
included. One of the main effects of this drift is that
the EOM does not work anymore in linear behaviour.
For determining the drift, a low frequency modulation
signal (at 500 Hz) is applied to the EOM and a
harmonic analysis is performed. By the measurement
of the second harmonic component, the non-linear
behaviour can be quantified.
This paper has been demontrated the relation between
the second harmonic component, the DC current and
the bias voltage. Otherwise, the calculating results are
verified by Madlab/simulink simulation.
An instrumentation system is carried out with two
microcontroller PSoC and it communicates with the
computer by a user interface. The accurate
measurement has been obtained until 0.107%. This is
a base to developpe the system of drift compensation.

Keywords: electro-optic modulator, second
harmonic, phase comparator, non-linearity behaviour,
bias point.

1. Phần mở đầu
Bộ điều chế điện quang là phần tử quan trọng dùng
trong các hệ thống thông tin quang, trong các ứng
dụng về đo chiết suất và khoảng cách với độ chính
xác cao. Chúng dùng để chuyển đổi thông tin ở tín
hiệu điện thành thông tin dưới dạng tín hiệu quang.
Hoạt động lý tưởng của bộ điều chế này đạt được khi
khi điện áp định điểm làm việc nm càng sát với giá
trị tối ưu trên hàm truyền đạt (vị trí tuyến tính nhất)
càng tốt. Tuy nhiên điều này đạt được không d dàng,
bởi ngay cả việc tìm được điểm làm việc tối ưu thì sau
khoảng thi gian làm việc nào đó, chúng cũng bị trôi.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự trôi trong đó phải
kể đến sự thay đổi của nhiệt độ môi trưng, hiện
tượng phân cực, do sự thay đổi của công suất quang
[1,2,3].
Bài báo tổ chức thành 6 phần chính, sau phần giới
thiệu, bộ điều chế điện quang được trình bày trong
phần 2, phần 3 sẽ trình bày về phương pháp xác định
độ trôi của hàm truyền, các tính toán và mô phỏng
trên Matlab/Simulink để kiểm định các tính toán trước
đó, tiếp theo là phần xây dựng hệ đo và phần thứ 5 là
trình bày các kết quả thực nghiệm, cuối cùng là kết
luận.

571
Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011
2. Bộ điều chế điện quang
Bộ điều chế dùng trong nghiên cứu này là loại bộ điều
chế theo cưng độ kiểu Mach-Zehnder. Đó là loại
thiết bị đã có trên thị trưng, làm từ vật liệu LiNbO
3

(chuẩn MX-LN-10 của công ty Photline) với dải tần
điều chế lên đến 12 GHz. Theo đó chúng có hai điện
cực, một để định điểm làm việc và một để điều chế tín
hiệu cao tần. Hàm truyền đạt của chúng có thể được
trình bày theo phương trình sau 4].

(
(
¸
(

¸

|
|
.
|

\
|
+ + = |
t
q o
t
) ( cos 1
2
1
) ( t V
V
P t P
b in out
(1)
đó, P
out
(t), P
in
là công suất quang ra và vào của bộ
điều chế, V
a
là điện áp đặt vào bộ điều chế, V
π
là điện
áp nửa sóng, | là dịch pha của hàm truyền, o là hệ
số suy giảm quang và q là hệ số thẩm thấu quang.
Mô tả một bộ điều chế điện quang kiểu Mach-
Zenhder có thể được trình bày trên hình 1.
Điều chế HF
Tải 50 Ω
Công suất
quang đầu vào
V
in
(t)
Công suất
quang đầu ra
in
P
out
P

H. 1 Bộ điều chế điện quang kiểu Mach-Zehnder
Rõ ràng hàm truyền của bộ điều chế (1) có dạng hàm
sin. Như các phân tích ở trên, việc dịch chuyển vị trí
của hàm truyền sẽ gây ra sự thay đổi tín hiệu đầu ra
điều chế và gây ra các tác hại không mong muốn
trong các hệ thống ứng dụng dùng bộ điều chế này.
Hình 2 mô tả hàm truyền ở hai vị trí tương ứng với
hai thi điểm khác nhau. Với cùng một tín hiệu đầu
vào của bộ điều chế, ta sẽ nhận được hai tín hiệu khác
nhau ở đầu ra và đây là một minh họa rõ ràng cho vấn
đề trôi hàm truyền của bộ điều chế.
V
t
Φ
TF
2
TF
1
Modulating signal
MS
1
MS
2
V
bp
P
out
A
B
C
B
1

H. 2 Hàm truyền của bộ điều chế tại 2 thời điểm khác
nhau

3. Xác định độ trôi của hàm truyền
3.1 Phương pháp
Có nhiều phương pháp trên thế giới đưa ra nhm xác
định độ trôi. Có thể chia chúng thành hai nhóm:
- Nhóm các phương pháp sử dụng sự đo trực tiếp tín
hiệu quang mà chúng được truyền trực tiếp qua bộ
điều chế 3,5]. Nguyên tắc của phương pháp là dựa
trên sự xác định mối liên hệ giữa ứng xử tần số cao
(RF), dòng một chiều và hàm truyền.
- Nhóm các phương pháp sử dụng tín hiệu dò tìm mà
chúng được đưa vào điện cực một chiều của bộ điều
chế 1,6]. Nguyên lý của phương pháp này là xác định
mối tương quan giữa tín hiệu điều chế, mức độ trôi
của hàm truyền và điện áp phân cực.
Thực tế thì cả hai nhóm các phương pháp trên đều có
những ưu nhược điểm nhất định. Trong nghiên cứu
này, nhóm thứ hai được lựa chọn bởi chúng có khả
năng ứng dụng cho mọi hệ thống sử dụng bộ điều chế,
ngay cả với các hệ thống thông tin quang mà các đối
tác truyền thông nm cách xa nhau.
Tín hiệu dò tìm ở đây được chọn sao cho tần số đủ
thấp để không ảnh hưởng đến quá trình điều chế tần
số cao, nhưng lại không quá nhỏ để các bộ lọc có thể
hoạt động tốt, bởi các lý do này mà tín hiệu điều chế ở
tần số 500 Hz được đưa vào thử nghiệm, phương trình
của tín hiệu dò tìm được trình bày ở phương trình sau:
) 2 sin( ) (
0
t f V t v
bM bm
t = (2)
Tín hiệu này sẽ được đưa vào điện cực một chiều
nhm điều chế tín hiệu quang. Như vậy bên cạnh tín
hiệu dò tìm này, thành phần V
a
trong (1) sẽ có thêm
thành phần điện áp phân cực DC. Phương trình (1)
bây gi có thể viết dưới dạng:

| |
(
(
¸
(

¸

|
|
.
|

\
|
+ + + = = |
t
q
o
t
) ( cos 1
2 ) (
) (
) (
0
t v V
V t P
t P
t H
bm b
in
out
op
(3)
Từ phương trình (2) và (3) chúng ta có thể viết lại

(
(
¸
(

¸

|
|
.
|

\
|
+ + + = |
t
t
t
q
o
t t
0 0
) 2 sin( cos 1
2
) (
b bM op
V
V
t f V
V
t H
(4)
Dựa và các phân tích chuỗi Fourier, sử dụng các hàm
Bessel chúng ta có được phương trình mới:

(
(
(
(
(
(
¸
(

¸

÷ ÷
|
|
.
|

\
|
+ +
=
¿
¿
·
=
÷
·
=
1
0 1 2
1
0 2 0
) 1 2 cos( ) ( sin 2
) 2 cos( ) ( 2 ) ( cos 1
2
) (
n
n
n
n
op
t n J
t n J J
t H
e o ¢ q
e o o ¢ q
o
(5)
đó thì , /
t
t o V V
bM
=
t
t | ¢ V V
b
/
0
+ = . Rõ ràng α
là hệ số và phụ thuộc vào điện áp nửa sóng V
π
, và biên
độ của tín hiệu dò tìm.
Tín hiệu sau điều chế có thể nhận được nh một bộ dò
tìm quang, và được biểu din như sau:

) ( ) ( ) ( ) ( t P t H G R G R t .P t v
in op a L a L out out d p p
R R = =
÷
(6)
đây
p
R
là độ nhạy, R
L
là trở kháng vào của bộ dò
tìm quang, G
a
là hệ số khuếch đại.
Từ (5) và (6) ta có thể đạt được:

¦
¦
¦
)
¦
¦
¦
`
¹
¦
¦
¦
¹
¦
¦
¦
´
¦
÷ ÷
(
(
¸
(

¸

+ +
=
¿
¿
·
=
÷
·
=
÷
1
1 2
1
2 0
) 1 2 sin( ) ( ) sin( 2
) 2 cos( ) ( 2 ) ( ) cos( 1
) (
n
n
n
n
out d
t n J
t n J J
A t v
e o ¢ q
e o o ¢ q
(7)
đó,
0
2
P G R A
a L p
R
o
= , ) (o
k
J là hàm Bessel.
Từ phương trình này, chúng ta nhận thấy thành phần
tín hiệu sau bộ điều chế sẽ là tập hợp của rất nhiều các
572
Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011
sóng hài bậc chẵn và lẻ của tần số tín hiệu dò tìm.
Thành phần sóng hài bậc hai là quan trọng cho hệ
thống dò tìm độ trôi hàm truyền, chúng có thể nhận
được nh sử dụng bộ lọc dải thông để lựa chọn tần số
2f, hàm truyền của bộ lọc dải thông bậc hai có thể
trình bày như sau :

2
2
0
1
1
) (
c c
c
BPF
j
Q
j
Q
H
j H
e
e
e
e
e
e
e
÷ +
= (8)
phương trình này thì Q là hệ số phẩm chất của bộ
lọc tại tần số lọc
c c
f t e 2 = và H
0
chính là hệ số
khuyếch đại. Bộ lọc này yêu cầu phải có phẩm chất
đủ tốt để loại bỏ các thành phần sóng hài khác. Đầu ra
lý tưởng của bộ lọc này sau khi cho các thành phần
sóng hài trên đi qua có thể được mô tả bởi phương
trình:

) cos( ) 2 cos( ) ( . 2 ) ( ) (
0 2 0 2
¢ e q o t J H A t V t V
H out BPF
= =
÷
(9)
Từ phương trình này chúng ta có thể nhận thấy giá trị
V
BPF-out
phụ thuộc vào góc pha | và điện áp phân cực
V
b0
. Rõ ràng mối quan hệ biện chứng giữa thành phần
sóng hài bậc hai và mức độ trôi của hàm truyền đã
được chỉ ra. Tuy nhiên việc xác định được mức độ
của độ trôi là chưa đủ vì độ trôi này có thể din ra
theo các chiều khác nhau. Việc yêu cầu xác định
hướng của độ trôi cũng là một yêu cầu cấp thiết.
Để xác định chiều của độ trôi, một tín hiệu chuẩn
dạng xung vuông với tần số e 2 được đưa vào,
phương trình mô tả như sau:

| |
¿
·
=
+
+
+ =
0
0
1 2
2 ) 1 2 ( cos 2
2
) (
k
sq
k
t k C C
t V
e
t
(10)
C là biên độ của tín hiệu chuẩn, k là số nguyên.
Khi đó chúng ta nhân thành phần này với tín hiệu sau
bộ lọc đạt được ở (9), ta sẽ có phương trình (11):
| |
) 2 cos( cos
1 2
2 ) 1 2 ( cos 2
2
1
) ( ) ( ) (
0
0
0
2
t B
k
t k
C t V t V t N
k
sq H
e ¢
e
t
×
|
|
.
|

\
|
+
+
+ = × =
¿
·
=

đó ) ( . . 2
2 0
o J H A B = , từ đây chúng ta thấy rng
việc thay đổi các giá trị của ¢ sẽ dẫn đến sự thay đổi
giá trị của N(t), giá trị này sẽ đạt cực đại khi 0 = ¢ , là
0 khi 2 / t ¢ = và cực tiểu khi t ¢ = . Những nhận
xét của phần chứng minh này sẽ được kiểm định qua
phần mô phỏng tiếp theo. Giá trị trung bình sau phép
nhân này (giá trị N(t)) có thể được lấy ra thông qua bộ
lọc tần số thấp.
Sơ đồ khối của bộ đo lưng có thể được trình bày trên
hình sau:
2 f
0
2f
0
V2F
Optical
modulated
signal
2f
0
2f
0
NLI
Tín hiệu sau điều chế

H. 3 Sơ đồ khối của bộ đo độ trôi
Đầu ra của bộ đo lưng này là tín hiệu dạng điện áp
NLI (một ảnh của N(t)), nó đánh giá mức độ phi tuyến
của hàm truyền của bộ điều chế và nó chính là đại
lượng cho phép ta xác định mức độ trôi của hàm
truyền.
3.2 Mô phỏng với Matlab/Simulink
Việc mô phỏng sử dụng phương trình mô hình (1) với
các thông số sau V 7 =
t
V , mV 300
ˆ
0
= V , 0 = | ,
1 = o và 1 = q . Một chương trình được viết trong
Matlab để phân tích phổ và hiển thị kết quả trong đó
các dữ liệu mang phân tích nhận được từ việc thực
hiện kết hợp với một chương trình trong Simulink,
các mô phỏng ban đầu là thay đổi điện áp phân cực và
quan sát din biến của thành phần sóng hài bậc hai.
Chúng ta cùng quan sát kết quả trong trưng hợp thứ
nhất khi mà góc pha và điện áp phân cực là không.
Dạng của tín hiệu và phổ của nó được trình bày trên
hình 4.

400 500 1000 1500
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
4500
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)
400 500 1000 1500
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
4500
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)

H. 4 Dạng của tín hiệu và phổ của nó tại V
b0
=0V
Như vậy vị trí này chỉ tồn tại thành phần sóng hài bậc
hai, tức điểm làm việc đang nm tại vị trí phi tuyến
nhất.

400 500 1000 1500
0
0.5
1
1.5
2
2.5
x 10
4
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)
400 500 1000 1500
0
0.5
1
1.5
2
2.5
x 10
4
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)

H. 5 Dạng của tín hiệu và phổ của nó tại V
b0
=1V
Tại giá trị V
b0
=1V, điểm làm việc nm tại vị trí nào đó
trên hàm truyền (trong khoảng giá trị tuyến tính nhất
và phi tuyết nhất), và chúng ta quan sát thấy có các
thành phần sóng hài khác nhau ở đó.

400 500 1000 1500
0
1
2
3
4
5
6
x 10
4
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)
400 500 1000 1500
0
1
2
3
4
5
6
x 10
4
Magnitude
frequency(Hz)
M
a
g
n
i t u
d
e
(b)
(a)

H. 6 Dạng của tín hiệu và phổ của nó tại V
b0
=3,5V
Tại giá trị V
b0
=3,5V, điểm làm việc nm chính giữa
của hàm truyền trên vị trí tuyến tính nhất, do đó
chúng ta quan sát thấy thành phần sóng hài bậc hai là
không tồn tại.
Từ các mô phỏng đầu tiên này, chúng tôi tiếp tục tiến
hành các mô phỏng sâu hơn về hệ đo, một sơ đồ đo
dựa trên các khối mô phỏng của Simulink được trình
bày trên hình 7.
573
Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011


H. 7 Sơ đồ hệ đo trong Simulink
Với giả thiết là góc pha ban đầu là 0, chúng tôi thay
đổi các giá trị điện áp phân cực và quan sát dạng của
tín hiệu trong một số các trưng hợp đặc biệt sau.

(a)


(b)


(c)

H. 8 Kết quả mô phỏng trong trường hợp Vb0=1V; đầu
ra của a) bộ điều chế, b) bộ lọc, c) bộ so pha
Như vậy kết quả sau bộ so pha cho kết quả trên hình
8 (c), tất nhiên là giá trị trung bình của kết quả này sẽ
là một giá trị âm.
Tiếp tục mô phỏng với các giá trị khác của điện áp
phân cực chúng ta quan sát trên hình 9.

(a)


(b)


(c)

H. 9 Kết quả mô phỏng trong trường hợp Vb0=3,5V;
đầu ra của a) bộ điều chế, b) bộ lọc, c) bộ so pha
Khi góc pha là không và điện áp phân cực là một nửa
của giá trị điện áp nửa sóng, thì điểm làm việc nm ở
vị trí tuyến tính nhất trên hàm truyền, giá trị trung
bình nhận được của kết quả này đương nhiên là không
do tính đối xứng của đồ thị. Chúng tôi cũng tiến hành
mô phỏng với các giá trị khác của điện áp phân cực
xung quanh điểm làm việc tối ưu và kết quả nhận
được là phù hợp với các nhận định về mức độ trôi của
hàm truyền.

4. Xây dựng hệ đo
Từ các phân tích lý thuyết và kết quả mô phỏng,
chúng tôi tiến hành thiết kế hệ đo độ trôi của hàm
truyền. Một mạch đo lưng được thiết kế dựa trên 2 vi
điều khiển PSoC, hai vi điều khiển này làm việc cùng
nhau theo cấu hình chủ tớ và trao đổi thông tin với
máy tính qua chuẩn USB/RS232. Sơ đồ khối của hệ
đo lưng được mô tả trên hình sau:
Máy tính
Bộ điều chế
RF DC
USB/RS232
Khối đo lường
Laser
PSOC-1
PSOC-2
Bộ chia
Detector
Vb(t)
I2C f
0
Điều khiển
phân cực

H. 10 Sơ đồ khối của hệ đo lường
Giao diện của phần mềm thu thập và quản lý thông tin
trên máy tính được phát triển trên ngôn ngữ Visual
Studio và được trình bày trên hình 11. Giao diện này
cho phép xác định mức độ trôi tự động, đặt các giá trị
điện áp phân cực và sau đó là quan sát sự trả li từ bộ
điều chế, ghi lại các kết quả theo thi gian...
574
Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011


H. 11 Giao diện của phần mềm trên máy tính

5. Kết quả thực nghiệm
5.1 Phản ứng của bộ điều chế
Bộ điều chế được đặc tính hóa thông qua hàm truyền
tĩnh, tương ứng với công suất đầu ra và điện áp phân
cực. Một tín hiệu xung răng cưa 7 Hz được đưa vào
điện cực phân cực này để khảo sát đặc tính tĩnh của
bộ điều chế. Tần số này đủ thấp để đảm bảo trả li
của bộ điều chế sẽ được coi là một hàm truyền tĩnh.
Đầu ra của công suất quang theo thi gian khi đặt tín
hiệu răng cưa này vào được mô tả trên hình 12.

H. 12 Công suất đầu ra quang thay đổi khi cho một tính
hiệu xung răng cưa 7 Hz vào.
Ngoài ra đặc tính hàm truyền của bộ điều chế theo
quan hệ giữa đầu ra theo điện áp phân cực được mô tả
trên hình 13.

H. 13 Hàm truyền của bộ điều chế
Tiếp tục tiến hành các thực nghiệm, chúng tôi sử dụng
một máy phân tích phổ chuyên dụng để kiểm tra
thành phần sóng hài bậc hai nhm xác định điểm tối
ưu trên hàm truyền. Các giá trị điện áp định điểm làm
việc được đua vào và ghi lại các đáp ứng của bộ điều
chế, các đáp ứng này được nhận biết thông qua dạng
của tín hiệu sau bộ so sánh pha DG201 trên mạch đo,
và được trình bày trên hình 14, các kết quả này nhận
được nh việc chụp ảnh màn hình trên máy hiện sóng.

(a) V
b0
= 5.54V


(b) V
b0
= 5.11V


(c) V
b0
= 6.16V

H. 14 Dạng điện áp đầu ra của bộ so pha DG201
D dành nhận thấy trưng hợp đầu hình 14 (a), khi
V
b0
=5,54 V thì điểm làm việc nm chính giữa của
hàm truyền trên vùng tuyến tính nhất, hình 14 (b) và
14 (c) mô tả được hai vị trí xung quanh điểm làm việc
tối ưu. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các tính
toán lý thuyết cũng như kết quả mô phỏng đã trình
bày trên hình 8 (c) và hình 9 (c).
Để nghiên cứu ứng xử của bộ điều chế, một điện áp
một chiều thay đổi theo bước 74 mV được đưa vào
điện cực phân cực, tất nhiên là có kèm theo tín hiệu
dò tìm. Din biến của mức độ phi tuyến NLI theo sự
thay đổi của điện áp phân cực được chỉ ra trên
hình 15. Có bốn điểm làm việc tối ưu được chỉ ra trên
hình này là A, B, C và D, nhưng chỉ các điểm A và B
được chọn với lý do tránh điện áp quá cao đặt vào các
điện cực phân cực này.
Độ phân giải của phép đo độ trôi có thể được xác định
(V) 0049 , 0 5 * % 049 , 0 * 2 2
max_ min
= = =
input
V V o
ở đó thì % 049 , 0 % 100
1024
1
2
1
% 100
2
1
2
1
~ = =
n
o
do đó ta có thể xác định độ chính xác của hệ đo
% 107 , 0 % 100
6 , 4
0049 , 0
% 100
1 max
min
~ = =
V
V
M
o
575
Hội nghị toàn quốc về Điều khiển và Tự động hoá - VCCA-2011

VCCA-2011
Trong đó V
max1
là giá trị đỉnh đỉnh của đưng NLI
theo điện áp phân cực.

-2.5
-2.0
-1.5
-1.0
-0.5
0.0
0.5
1.0
1.5
2.0
2.5
N
L
I

(
V
)
10 5 0 -5 -10
Tension de polarisation (V)
A
B C D

H. 15 Diễn biến của độ phi tuyến NLI của bộ điều chế khi
điện áp phân cực thay đổi (bước là 74mV)

6. Kết luận
Bộ điều chế điện quang có vai trò quan trọng trong
các hệ thống thông tin quang cũng như trong các hệ
cảm biến đo với độ chính xác cao hiện nay. Việc xác
định được mức độ trôi cũng như chiều trôi của hàm
truyền có vai trò quan trọng trong các nghiên cứu tiếp
theo để phát triển các hệ thống bù, từ đó cải thiện chất
lượng làm việc cho bộ điều chế này, cũng như chất
lượng của các hệ thống sử dụng chúng. Kết quả đạt
được trong nghiên cứu này đã được chứng minh trên
lý thuyết, được kiểm định bng các kết quả mô phỏng
và từ đó xây dựng nên hệ đo cho phép đo mức độ trôi.
Với độ chính xác của hệ đo là 0,107% đã đạt được, đó
là kết quả tích cực và là công cụ hữu hiệu để khảo sát
mức độ trôi cũng như phát triển các hệ thống bù mức
độ trôi sau này.

Tài liệu tham khảo
[1] Snoddy J., Li Y., Ravet F., Bao X.,
“Stabilization of electro-optic modulator bias
voltage drift using a lock-in amplifier and a
proportional-intergral-derivative controller in a
distributed Brillouin sensor system,” Applied
Optics, vol. 46, no. 9, pp. 1842-1845, Mar. 2007
[2] Mo W., Chen N., “Source stabilization for high
quality time-domain diffuse optical
Tomography,” Proceeding of SPIE on Design
and Quality for Biomedical Technologies II, vol.
7170, San Jose CA, USA, Jan. 2009
[3] Li G. L., Welstand R. B., Chen, Zhu J. T.,
Pappert S. A., Sun C. K., Liu Y. Z., and Yu.
Wang P. K. L., “Novel Bias Control of
Electroabsorption Waveguide Modulator,” IEEE
Photonics Technology Letters, vol. 10, no. 5,
May 1998
[4] Ya X. S. and Maleki L., “A Light-Induced
Microwave Oscillator,” The
Telecommunications and Data Acquisition
Progress Report, TDA PR 42-123, pp. 47-68,
Nov. 1995
[5] Muhammad T. A., “Large Signal Analysis of the
Mach-Zender Modulator with Variable BIAS,”
Proceeding of Natl. Sci. Counc. ROC(A), vol.25,
no. 4, pp. 254-258, 2001.
[6] Gee C. M., Thurmond G. D., Blauvelt H., Yen
H. W., “Minimizing dc drift in LiNbO
3

waveguide devices,” Applied physics
letters, vol. 47, no. 3, pp. 211-213, 1985



Bùi Đăng Thảnh sinh năm 1976.
Anh nhận bng thạc sỹ về Đo
lường và các hệ thống điều khiển
của trưng Đại học Bách Khoa Hà
Nội (HUST) năm 2002. Từ năm
2001 đến 2007 anh là giảng viên
của Bộ môn Kỹ thuật Đo và Tin
học Công nghiệp (3I), HUST.
Anh nhận bng Tiến sỹ về Điện
tử- Tự động hóa của trưng Ecole Normale Supérieure
de Cachan, cộng hòa Pháp năm 2011. Hiện anh là
giảng viên, nghiên cứu viên của 3I, HUST. Hướng
nghiên cứu chính là thiết kế và thực hiện các hệ thống
đo lưng, điều khiển, các hệ thống nhúng và hệ thống
mạng công nghiệp.

Đào Đức Thịnh sinh năm 1973.
Anh nhận bng thạc sỹ về Đo
lường điều khiển của trưng Đại
học Bách Khoa Hà Nội năm
1997, Từ năm 1995 đến nay anh
là giảng viên, nghiên cứu viên
của Bộ môn Kỹ thuật Đo và Tin
học Công nghiệp (3I), HUST.
Hướng nghiên cứu chính là thiết
kế và thực hiện các hệ thống đo
lưng, điều khiển, các hệ thống
nhúng và hệ thống mạng công nghiệp.

Bernard Journet sinh năm 1956.
Ông nhận bng Tiến sỹ năm 1983
của trưng Paris VI Pierre et
Marie Curie về nghiên cứu sóng
địa chấn dài, thu thập và xử lý dữ
liệu. Năm 1989, ông bắt đầu làm
việc tại trưng ENS Cachan năm
1989 với vai trò là phó giáo sư, và
tham gia giảng dạy vật lý, điện tử
và quang điện tử. Ông đã nghiên cứu các bộ dò tìm dải
laser, phân tích khí và truyền thông tin quang bảo mật.
Hiện ông là trưởng nhóm nghiên cứu về siêu cao tần
của phòng thí nghiệm SATIE (Viện Alembert, ENS
Cachan) với sứ mệnh phát triển các ứng dụng của bộ
dao động quang điện tử.



576

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful