-1

-

MỤC LỤC

Trang Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ Phần mở đầu
CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC RỦI RO TTQT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Rủi ro trong hoạt động TTQT 1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro TTQT 1.1.2 Phân loại rủi ro trong TTQT 1.1.2.1 Rủi ro kỹ thuật ( rủi ro tác nghiệp) 1.1.2.2 Rủi ro tín dụng 1.1.2.3 Rủi ro ngoại hối 1.1.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý 1.1.2.5 Rủi ro pháp lý 1.1.2.6 Rủi ro chính trị 1.1.2.7 Rủi ro đạo đức 1.2 Một số biện pháp phòng ngừa rủi ro TTQT 1.2.1 Hậu quả khi phát sinh rủi ro TTQT 1.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro TTQT 1.2.2.1 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro kỹ thuật 1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng 1.2.2.3 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối 1.2.2.4 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro quan hệ đại lý 1.2.2.5 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý 1.2.2.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro chính trị 1 1 1 1 2 2 2 3 4 6 6 6 7 7 8 9 10 10 11

-2-

1.2.2.7 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức
CHƯƠNG 2:

12

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV 2.1 Tổng quan về BIDV 2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BIDV 2.1.2 Đặc điểm kinh doanh của BIDV 2.2 Tổ chức hoạt động TTQT tại BIDV 2.2.1 Mô hình tổ chức 2.2.2 Các hoạt động TTQT chủ yếu 2.2.2.1 Hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 2.2.2.2 Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu 2.2.2.3 Hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền 2.2.2.4 Hoạt động thanh toán séc du lịch, phát hành hối phiếu ngân hàng 2.3 Kết qủa hoạt động TTQT tại BIDV trong thời gian qua 2.3.1 Hoạt động TTQT tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng. 2.3.2 Các nghiệp vụ TTQT ngày càng được mở rộng. 2.3.3 Trình độ công nghệ ngân hàng và trình độ cán bộ được nâng cao. 2.3.4 Quy trình nghiệp vụ được cải tiến liên tục. 2.3.5 Quan hệ đại lý ngày càng được mở rộng. 2.3.6 Uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao.
CHƯƠNG 3:

13 13 13 14 14 17 17 19 21 23 23 24 24 25 26 26 27

SỬ DỤNG ĐIỆN SWIFT ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC TTQT TẠI BIDV 3.1 Phương thức chuyển tiền 3.1.1 Khái niệm. 3.1.2 Phương pháp trực tiếp. 3.1.3 Phương pháp gián tiếp. 3.1.4 Phương pháp chuỗi. 3.1.5 Các rủi ro trong thực hiện phương thức chuyển tiền tại BIDV. 28 28 29 31 35 38

-3-

3.2 Phương thức nhờ thu 3.2.1 Khái niệm. 3.2.2 Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu và các điện SWIFT được sử dụng. 3.2.3 Các vướng mắc thường gặp trong phương thức nhờ thu. 3.3 Phương thức tín dụng chứng từ 3.3.1 Khái niệm. 3.3.2 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến phát hành và thông báo L/C 3.3.2.1 Đối với ngân hàng phát hành L/C. 3.3.2.2 Đối với ngân hàng thông báo L/C. 3.3.3 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến chứng từ xuất trình có bất đồng. 3.3.4 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến hoàn trả giữa các ngân hàng 3.3.4.1 Thực hiện thanh toán thông thường đối với thư tín dụng không cho phép đòi tiền điện. 3.3.4.2 Thực hiện thanh toán trường hợp thư tín dụng cho phép đòi tiền điện và tự động ghi nợ tài khoản nostro. 3.4 Các điện SWIFT dùng trong tra soát 3.4.1 Phương thức chuyển tiền. 3.4.2 Phương thức nhờ thu. 3.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ.
CHƯƠNG 4:

38 38 39 41 43 43 43 43 48 49 52 52 55 59 59 59 60

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Định hướng phát triển hoạt động TTQT tại BIDV đến 2010 4.2 Nhận xét về hệ thống thanh toán SWIFT 4.2.1 Những điểm mạnh. 4.2.2 Những tồn tại. 4.3 Đề xuất và Kiến nghị 4.3.1 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 4.3.1.1 Nhóm đề xuất về mô hình tổ chức, xây dựng quy chế, quy 61 62 62 63 64 65 65

-4-

trình TTQT trong hệ thống. 4.3.1.2 Nhóm đề xuất về quản lý và đào tạo. 4.3.1.3 Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro cho các nghiệp vụ có liên quan đến nghiệp vụ TTQT như tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh tiền tệ. 4.3.1.4 Nhóm đề xuất về công nghệ. 4.3.1.5 Nhóm đề xuất về phát triển và phòng ngừa rủi ro từ ngân hàng đại lý. 4.3.1.6 Nhóm đề xuất về trích lập quỹ dự phòng và tăng cường giám sát hoạt động TTQT trong hệ thống. 4.3.2 Một số kiến nghị với Nhà nước, NHNN và các đơn vị liên quan. 4.3.2.1 Kiến nghị với Nhà nước. 4.3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước. 4.3.2.3 Các đơn vị liên quan. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1: Các yêu cầu đối với điện thanh toán được xử lý tự động 1.1 Các yêu cầu để điện MT103 được xử lý tự động. 1.2 Các yêu cầu để điện MT202 được xử lý tự động. Phụ lục 2: Danh sách các tài khoản nostro của BIDV Phụ lục 3: Giới thiệu SWIFT và các hệ thống thanh toán chính 3.1 Giới thiệu SWIFT, đặc điểm của điện SWIFT. 3.1.1 Giới thiệu SWIFT. 3.1.2 Đặc điểm của điện SWIFT. 3.2 Hệ thống thanh toán đồng USD. 3.2.1 Hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng - CHIPS (Clearing House Inter Bank Payments System). 3.2.2 FEDWIRE. 3.2.3 Chuyển khoản (Book Transfer). x xi ii ii iv vi vii vii vii vii ix ix 76 76 77 79 74 72 73 67 70

-5-

3.3 Hệ thống thanh toán đồng EUR. 3.3.1 Hệ thống thanh toán tức thời xuyên suốt Châu Âu theo thời gian thực- TARGET (Trans European Automated Real Time Gross Settlement Express Transfer). 3.3.2 Hệ thống thanh toán bù trừ EBA (The ECU Banker Association) 3.3.3 Giới thiệu về IBAN (International Bank Account Number) 3.4 Hệ thống thanh toán bù trừ của các quốc gia (National Clearing System). 3.5 Hệ thống mạng lưới ngân hàng đại lý. 3.6 Tài khoản Vostro và tài khoản Nostro. Phụ lục 4: Danh mục điện SWIFT sử dụng trong phương thức nhờ thu Phụ lục 5: Danh mục điện SWIFT sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ Phụ lục 6: Định dạng điện SWIFT MT103 và MT202

xi xi

xiii xiii xiii xiii xiv xv xvi xvii

-6-

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Kinh tế quốc tế mở rộng, dẫn đến sự phát triển của thanh toán quốc tế như một tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu thương mại quốc tế. Đứng trước yêu cầu đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tham gia hoạt động thanh toán quốc tế từ năm 1993. Trải qua hơn 10 năm hoạt động, tuy còn non trẻ, nhưng hoạt động TTQT tại BIDV đã đạt được rất nhiều thành quả, góp phần đa dạng hoá dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, mở rộng các sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng trong nước. Tuy nhiên, do còn mới mẻ, nên hoạt động TTQT tại BIDV vẫn còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề rủi ro trong TTQT, một vấn đề gây hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng không chỉ về tài sản vật chất mà cả uy tín trên trường quốc tế. Vì vậy, để đạt được mục tiêu của Ngân hàng là “phát triển bền vững”, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong hoạt động thanh toán quốc tế là phải ứng dụng các mẫu điện SWIFT một cách chính xác, linh hoạt và hiệu quả trong từng phương thức thanh toán quốc tế để hạn chế tối đa các rủi ro TTQT có thể phát sinh. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “Sử dụng điện SWIFT để hạn chế rủi ro trong các phương thức thanh toán quốc tế tại BIDV” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu và ứng dụng các điện SWIFT trong các phương thức thanh toán quốc tế: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ. Phối hợp các điện SWIFT trong từng phương thức thanh toán quốc tế phù hợp với thực tế phát sinh, bảo đảm các giao dịch được thực hiện an toàn, chính xác, nhanh chóng và hiệu quả. Đề xuất các nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị liên quan để hạn chế các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế. -

-7-

3.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng: các mẫu điện SWIFT được sử dụng và các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro TTQT thông qua việc sử dụng điện SWIFT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TTQT của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

4.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích, diễn giải,

quy nạp, so sánh trên cơ sở số liệu thống kê của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam để nghiên cứu. Luận văn sử dụng phương pháp sưu tầm tại bàn thông qua tài liệu tại BIDV, internet, thư viện. Luận văn sử dụng phương pháp lấy mẫu thanh toán điện SWIFT tại BIDV. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích SWOT. 5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài có 80 trang, 3 bảng, 15 sơ đồ, 6 phụ lục kết cấu trong 4 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về các rủi ro TTQT của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động TTQT tại BIDV Chương 3: Sử dụng điện SWIFT để hạn chế rủi ro trong các phương thức TTQT tại BIDV. Chuơng 4: Nhận xét và kiến nghị

-8-

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC RỦI RO TTQT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TTQT 1.1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro TTQT Có thể nói rủi ro là một vấn đề tồn tại ở khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống. Rủi ro hiện diện hầu hết trong mọi hoạt động của con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả, và sự hiện diện của mọi rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro sẽ phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hay mất không thể đoán trước . Một khái niệm về rủi ro khá phổ biến hiện nay là: rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả. TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng. Rủi ro TTQT là những rủi ro về kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động TTQT, nó do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT (nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian) hoặc những nguyên nhân khách quan khác gây nên. 1.1.2 Phân loại những rủi ro đặc thù trong TTQT Trong hoạt động kinh doanh, một NH hiện đại thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro. Trong đó có ít nhất là 7 loại rủi ro cơ bản trong hoạt động TTQT: rủi ro kỹ thuật, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng, ngân hàng đại lý, rủi ro pháp lý, rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức . 1.1.2.1 Rủi ro kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp)

-9-

Đây là những rủi ro xảy ra trong quá trình tác nghiệp, mang tính chủ quan, phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng xử lý nghiệp vụ của cán bộ TTQT và sự phối hợp giữa các phòng ban và bộ phận trong ngân hàng. Những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân hàng phần lớn là do trình độ của cán bộ tác nghiệp. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên các rủi ro này hoàn toàn có khả năng phòng tránh. 1.1.2.2 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả. Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên. Trong phạm vi của bản luận văn này chỉ xem xét đến các khoản tín dụng được cấp thông qua nghiệp vụ TTQT. Trong các phương thức TTQT thực hiện qua ngân hàng, có phương thức bảo lãnh và tín dụng chứng từ liên quan trực tiếp đến các rủi ro tín dụng nói trên. 1.1.2.3 Rủi ro ngoại hối Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro hối đoái: Thứ nhất, các NH giao dịch các dòng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính bản thân mình; thứ hai, các NH đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ. Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái hối đoái mở trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ. Rủi ro ngoại hối liên quan đến trạng thái hối đoái mở và tỷ giá hối đoái của một đồng tiền nhất định. Nếu như trạng thái hối đoái mở là dương (trường) đối với một loại ngoại tệ, mà loại ngoại tệ đó bị giảm giá thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược lại, nếu trạng thái hối đoái mở là âm (đoản) và loại ngoại tệ đó lên giá thì ngân hàng cũng gặp rủi ro về tỷ giá. Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động không ngừng của tỷ giá hối đoái. Cho dù chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng phá sản. Vì vậy các ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái hối đoái thực để hạn chế bớt những thiệt hại của rủi ro này. Chúng ta sẽ thấy rằng, nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn.

- 10 -

1.1.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý Khi triển khai hoạt động TTQT, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ trọng tâm, mang tính quyết định cho việc mở cửa hoạt động của ngân hàng. Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng đại lý tạo lòng tin lẫn nhau, giúp cho các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ TTQT được thuận tiện, nhanh chóng, giảm chi phí trung gian. Rủi ro ngân hàng đại lý xuất hiện khi: - Ngân hàng giữ tài khoản nostro của một ngân hàng bị phá sản, đóng cửa sẽ là một rủi ro vô cùng nghiêm trọng đối với hoạt động của ngân hàng, thậm chí có thể dẫn đến phá sản theo. Do vậy, để phân tán rủi ro, các ngân hàng không nên duy trì một tài khoản Nostro duy nhất đối với mỗi loại ngoại tệ giao dịch chính. - Một ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng thông lệ quốc tế, hoặc bị phá sản thì có thể làm ảnh hưởng đến các ngân hàng đại lý của mình. Ví dụ nếu ngân hàng phát hành L/C bị phá sản thì ngân hàng xác nhận gặp rủi ro phải thanh toán thay khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Để có thể hạn chế được các rủi ro trong quan hệ đại lý, các ngân hàng cần phải lựa chọn những ngân hàng có uy tín, có năng lực tài chính lành mạnh để thiết lập các quan hệ đại lý. 1.1.2.5 Rủi ro pháp lý Rủi ro pháp lý là những rủi ro liên quan đến luật điều chỉnh các hoạt động TTQT, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, luật giải quyết tranh chấp khi có vấn đề khiếu kiện phát sinh. Vấn đề pháp lý trong hoạt động TTQT cũng là một nội dung quan trọng và rất phức tạp, do các bên liên quan trong hoạt động TTQT ở các quốc gia khác nhau, trong điều kiện môi trường pháp lý và hệ thống luật pháp khác nhau. Trong hệ thống luật pháp điều chỉnh các hoạt động ngoại thương nói chung, hoạt động TTQT nói riêng gồm có luật quốc tế và luật quốc gia. Các tập quán quốc tế này mới chỉ điều chỉnh một số phương thức TTQT nhất định như phương thức nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo lãnh… còn một số phương thức TTQT khác hoàn toàn không có tập quán quốc tế điều chỉnh, ví dụ như chuyển tiền (Remittance), ghi sổ (Open Account), hay uỷ thác mua (Authorise to Purchase).

- 11 -

Đối với những phương thức thanh toán này, người ta phải áp dụng luật của nước phát hành. Luật pháp các nước khác nhau dễ gây tranh cãi trong giao dịch, dẫn đến rủi ro. Những tập quán quốc tế chỉ là những quy phạm pháp lý tuỳ ý, không bắt buộc. Do vậy mỗi nước vận dụng các tập quán quốc tế không giống nhau. Ví dụ, UCP 500 do phòng thương mại quốc tế phát hành điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, nếu một L/C muốn áp dụng UCP 500 thì phải dẫn chiếu đến UCP trong nội dung của L/C. Mặt khác, các ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một số điều của UCP cũng như từ chối áp dụng một số điều khác bằng việc miễn trừ trong nội dung của L/C phát hành. Như vậy, mức độ vận dụng UCP vào thực tiễn của từng nước, từng ngân hàng rất khác nhau, tuỳ thuộc vào hệ thống pháp luật nước đó. Luật quốc gia thông thường tôn trọng và ít khi có đối đấu với luật hoặc tập quán quốc tế, nhưng không phải là không có mâu thuẫn. Nếu có sự khác biệt giữa luật quốc gia và luật quốc tế thì luật quốc gia sẽ được ưu tiên áp dụng. Quan điểm của phòng thương mại quốc tế là các tập quán thương mại quốc tế không thể thay thế luật quốc gia, những tranh chấp nếu có tốt nhất là để cho tòa án xem xét giải quyết. Trên thực tế chưa có một tòa án quốc tế đủ mạnh để áp đặt các chế tài đối với các bên liên quan. Nếu có tranh chấp xảy ra, các bên có thể đưa ra Phòng thương mại quốc tế phân xử. Tuy nhiên kết luận của Phòng thương mại quốc tế chỉ có tính chất tương đối bởi vì cơ quan này thiếu sức mạnh trong việc yêu cầu các bên thi hành quyết định. Để giải quyết vấn đề đó, các bên có thể thoả thuận đưa ra xét xử tại một toà án quốc gia. Trong trường hợp đó, ít nhất có một bên không am hiểu về luật của nước ngoài nên rất dễ bị thua kiện và gánh chịu rủi ro. 1.1.2.6 Rủi ro chính trị Trong trường hợp ngân hàng đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài cũng có thể chịu rủi ro nước ngoài đó là rủi ro quốc gia. Rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải khi đầu tư cho các công ty nội địa. Ví dụ: khi một công ty nội địa không có khả năng hoặc không sẳn lòng hoàn trả vốn vay ngân hàng, ngân hàng là người chủ nợ có quyền tham gia vào qúa trình phân chia tài sản của công ty khi nó phá sản, như vậy chí ít ngân hàng cũng thu hồi lại một phần hay toàn bộ vốn cho vay. Trong trường hợp ngân hàng đầu tư cho các công ty nước ngoài thì ngay trong cả trường hợp các

- 12 -

công ty có khả năng và sẳn lòng hoàn trả vốn vay, nhưng cũng có thể không thực hiện được bởi vì chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước ngoài do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hay vì lý do chính trị… Ngân hàng lúc này là chủ nợ nhưng có rất ít hoặc không có cơ hội khiếu nại lên toà án địa phương hay toà án quốc tế. Tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề, có quan hệ với nhiều đối tượng kinh tế của nhiều quốc gia, TTQT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia. Một sự biến động về cơ chế quản lý kinh tế-chính trị sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết như đã thoả thuận của các bên. Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, và từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán. Rủi ro chính trị xảy ra khi môi trường pháp lý, môi trường kinh tế-chính trị của một nước chưa ổn định, thường xuyên thay đổi. Khi một quốc gia thay đổi các chính sách về dự trữ ngoại hối, thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãi suất… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động TTQT của các bên liên quan. Trong thực tế, những thay đổi này thường khiến các ngân hàng, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu không thể thực hiện cam kết của mình, làm cho quá trình thanh toán bị ngưng trệ, thậm chí huỷ bỏ gây thiệt hại cho các bên liên quan. Tỷ giá hoặc lãi suất của một loại tiền tệ thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các ngân hàng và khách hàng có phát sinh giao dịch bằng loại ngoại tệ đó, có thể làm suy giảm khả năng thanh toán của ngân hàng hoặc khách hàng. Chính sách quản lý hoạt động xuất nhập khẩu của một nước có thể làm cho nhiều lô hàng không được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu, gây thiệt hại cho các bên liên quan. Ví dụ: hai doanh nghiệp ký kết hợp đồng mua bán một loại hàng hoá, với hình thức thanh toán là tín dụng chứng từ. Hàng đã được giao và chứng từ đã được lập đầy đủ phù hợp với quy định của L/C và được gửi tới xuất trình tại ngân hàng phát hành. Tuy nhiên do chính sách điều hành xuất nhập khẩu của nước nhập khẩu thay đổi, mặt hàng đó không được phép nhập khẩu vào trong nước nếu không có giấy phép của một cơ quan có thẩm quyền. Lô hàng bị ách lại tại cửa khẩu để chờ giấy phép trong khi bộ chứng từ phù hợp phải được thanh toán theo đúng cam kết của L/C. Rủi ro trước tiên thuộc về nhà nhập khẩu, tuy nhiên ngân hàng phát hành cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng phát hành tài trợ cho nhà nhập khẩu dưới hình thức phát hành L/C ký quỹ dưới 100%.

- 13 -

Rủi ro chính trị còn liên quan đến những lệnh cấm vận của các nước đặc biệt là lệnh cấm vận của Mỹ đối với một số nước và tổ chức. Nếu thực hiện TTQT cho những nước nằm trong danh sách cấm vận của Mỹ bằng đồng USD qua các ngân hàng tại Mỹ, khoản tiền thanh toán đó lập tức bị phong toả. Ngân hàng thực hiện thanh toán bị mất tiền trong khi người thụ hưởng vẫn chưa nhận được khoản tiền mà họ được hưởng. Đã có rất nhiều khoản tiền của nhiều ngân hàng trên thế giới bị phong tỏa tại Mỹ do vi phạm các quy định cấm vận của nước này. 1.1.2.7 Rủi ro đạo đức Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan. Đây là vấn đề quan trọng trong thương mại quốc tế, bởi vì các bên đối tác thường ở cách xa nhau, thậm chí không hề gặp nhau trong quá trình mua bán, do vậy có thể không nắm rõ những thông tin về uy tín, đạo đức kinh doanh, năng lực tài chính của đối tác. Hơn nữa, do các bên đối tác ở cách xa nhau nên điều kiện tiếp cận thường xuyên để theo dõi, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ gặp nhiều khó khăn. Trong điều kiện như vậy, các rủi ro đạo đức rất dễ xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng đối với cả khách hàng lẫn các ngân hàng. Nhìn chung, nguyên nhân sâu xa của rủi ro đạo đức là thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác. Giữa các đối tác tham gia giao dịch thường cách nhau một khoảng cách địa lý rất xa nên không nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và đạo đức kinh doanh của đối tác. Vì vậy mà đã đưa ra những quyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán. . 1.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO TTQT 1.2.1 Hậu quả khi phát sinh rủi ro TTQT Rủi ro TTQT khi phát sinh sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và tài chính của các bên liên quan. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, uy tín của ngân hàng là vấn đề vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung, hoạt động TTQT nói riêng. Nếu uy tín của ngân hàng giảm sút, các khách hàng trong và ngoài nước sẽ không thực hiện các giao dịch tại ngân hàng; các ngân hàng nước ngoài không lựa chọn ngân hàng đó làm đối tác trong các giao dịch TTQT như thông báo, xác nhận, chiết khấu L/C, ngân hàng

- 14 -

nhờ thu hoặc ngân hàng chi trả trong hình thức chuyển tiền… Mặt khác, ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc đề nghị các ngân hàng nước ngoài cung cấp các dịch vụ TTQT cho mình, như xác nhận thư tín dụng, chiết khấu bộ chứng từ xuất trình theo L/C do mình phát hành… Rủi ro về uy tín là những rủi ro không phát sinh hậu quả ngay, không định lượng được và phải mất một thời gian dài người ta mới nhận ra hậu quả của nó. Tuy nhiên, những hậu quả đó khi đã xảy ra sẽ gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng và rất khó khắc phục. Uy tín là vấn đề nhạy cảm và phải được xây dựng trong một thời gian dài. Tạo được uy tín trên thị trường quốc tế đã là khó, nhưng đánh mất uy tín và xây dựng lại uy tín còn là một vấn đề khó khăn hơn rất nhiều. Bên cạnh những rủi ro về uy tín, các ngân hàng có thể gặp rủi ro về tài chính, là những rủi ro có thể nhìn thấy ngay, định lượng được ngay và gây hậu trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Những rủi ro về tài chính những thiệt hại do ngân hàng phải tự thanh toán bằng tiền của mình cho các khoản phí, tiền phạt hoặc trị giá của lô hàng khi: Thực hiện thanh toán sai chỉ dẫn của khách hàng dẫn đến mất tiền, hoặc bị phạt do chậm thanh toán (ngân hàng chuyển tiền, nhờ thu…); Phải thanh toán thay cho khách hàng nếu ngân hàng đã thay mặt khách hàng cam kết trả tiền cho ngưòi thụ hưởng trên cơ sở một số điều kiện nhất định nhưng không được khách hàng hoàn trả (ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận, ngân hàng bảo lãnh… ); Phải chịu phạt do vi phạm cam kết hoặc các nghĩa vụ (chậm thanh toán bộ chứng từ theo L/C, từ chối bộ chứng từ do những lỗi bất đồng không hợp lệ, không thực hiện hoàn trả đúng cam kết …) Những rủi ro dù là về uy tín hay tài chính đều gây thiệt hại trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đề xuất nhiều giải pháp để phòng ngừa tốt nhất các rủi ro có thể xảy ra. 1.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro TTQT. Để phòng ngừa các rủi ro TTQT có thể xảy ra, các ngân hàng trên thế giới đã áp dụng rất nhiều biện pháp. Sau đây là một số biện pháp cơ bản nhất. 1.2.2.1 Các biện pháp phòng ngừa kỹ thuật (rủi ro tác nghiệp): a) Bố trí nhân sự phù hợp:

- 15 -

Rủi ro tác nghiệp là những rủi ro gây ra bởi sự không cẩn trọng một cách hợp lý trong quá trình xử lý giao dịch của cán bộ nghiệp vụ dẫn đến vi phạm các quy tắc, quy ước, các cam kết của ngân hàng. Trong vấn đề rủi ro tác nghiệp, con người là yếu tố quan trọng nhất và có tính chất quyết định. Do vậy, để phòng tránh rủi ro tác nghiệp cần phải tác động vào yếu tố con người trước tiên. Các ngân hàng cần bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm thực hiện hoạt động TTQT. Sự cẩn thận, am hiểu sâu nghiệp vụ của cán bộ tác nghiệp trong quá trình xử lý giao dịch sẽ góp phần đáng kể trong việc hạn chế các rủi ro tác nghiệp có thể xảy ra. Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng đảm bảo xử lý các giao dịch một cách hoàn hảo, không sai sót. Do vậy, xây dựng cơ chế kiểm tra kiểm soát hợp lý để nhanh chóng phát hiện và ngăn chặn các sai sót trong quá trình xử lý nghiệp vụ là một nhiệm vụ cần thiết của mỗi ngân hàng. Bên cạnh việc bố trí cán bộ có năng lực phù hợp với công việc, các ngân hàng cần phải quan tâm thích đáng đến công tác đào tạo cán bộ, đặc biệt là trong hoạt động TTQT. Đây là một lĩnh vực hoạt động mang tính quốc tế, đa dạng, phức tạp và thường xuyên vận động. Nếu không chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ thì cho dù có bố trí cán bộ có năng lực tốt vẫn không thích ứng kịp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Một ví dụ rất đơn giản là sự vận dụng các quan điểm của ICC trong việc phân tích, đánh giá các lỗi bất đồng của chứng từ xuất trình theo L/C. Có những tình huống tại thời điểm này được ICC giải thích là bất đồng chứng từ nhưng sau một thời gian lại được phân tích là không bị bất đồng. Đó là kết quả tất yếu của sự vận động liên tục của hoạt động TTQT trên toàn thế giới, để tìm ra những cách giải thích hợp lý nhất với thực tiễn hoạt động. Nếu các cán bộ nghiệp vụ không ngừng học hỏi, cập nhật các kiến thức liên quan thì sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu của hoạt động TTQT. b) Xây dựng quy trình nghiệp vụ Quy trình nghiệp vụ là văn bản pháp lý do bản thân ngân hàng ban hành, quy định rõ các bước thực hiện của từng nghiệp vụ TTQT, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia trong nghiệp vụ đó. Quy trình nghiệp vụ rõ ràng sẽ là cẩm nang để các cán bộ tác nghiệp thực hiện đúng trách nhiệm của mình, nâng cao

- 16 -

năng lực kiểm soát hoạt động TTQT, phòng ngừa và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Việc ban hành quy trình nghiệp vụ phải dựa trên các tập quán và thông lệ quốc tế, phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia. 1.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng khi chưa điều tra kỹ về năng lực tài chính, khả năng hoàn trả, hiệu quả kinh doanh của đối tác. Rủi ro tín dụng thường dẫn đến hậu quả là người được cấp tín dụng không có khả năng hoàn trả khoản tín dụng đã được cấp Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, trước khi quyết định cấp tín dụng cho đối tác, ví dụ như mở L/C không yêu cầu ký quỹ 100%, xác nhận thư tín dụng, chiết khấu bộ chứng từ…, ngân hàng cần phải phân tích và đánh giá mức độ an toàn tín dụng của người được cấp tín dụng. Xây dựng hạn mức tín dụng cho từng đối tác cụ thể để kiểm soát được mức độ rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Áp dụng các biện pháp đảm bảo hợp lý (ví dụ như đảm bảo bằng tài sản thế chấp, đảm bảo bằng bảo lãnh của một ngân hàng có uy tín, đảm bảo bằng quyền ghi nợ tài khoản tự động, đảm bảo bằng lô hàng nhập khẩu…) để đảm bảo khả năng hoàn trả. 1.2.2.3 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối: Các bên tham gia hoạt động TTQT có thể thực hiện các biện pháp: - Nghiệp vụ hối đoái có kỳ hạn: Để tránh những rủi ro biến động tỷ giá gây nên, đảm bảo khả năng chủ động trong nguồn ngoại tệ thanh toán, các ngân hàng có thể ký các hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn theo tỷ giá ở một thời điểm cố định cho một số lượng ngoại tệ nhất định. - Giới hạn trạng thái ngoại hối: Giới hạn trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là mức chênh lệch cao nhất hoặc thấp nhất giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó. Việc quy định giới hạn trạng thái ngoại hối giúp ngân hàng có thể kiểm soát và hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra do tỷ giá hối đoái của loại ngoại tệ đó thay đổi. Nếu như đối với một loại ngoại tệ tại một thời điểm bị vượt giới hạn trạng thái ngoại hối thì ngân hàng cần phải cân bằng trạng thái ngoại hối dư thừa hay thiếu hụt này.

- 17 -

- Để phòng tránh rủi ro tỷ lệ lãi suất (tỷ lệ SWAP), xảy ra khi chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền tham gia vào giao dịch biến đổi bất lợi, ngân hàng có thể áp dụng một số công cụ hiệu quả như Hợp đồng lãi suất kỳ hạn. Khi ký một hợp đồng kỳ hạn cho một đồng tiền là chúng ta tạo khả năng ấn định trước lãi suất của đồng tiền đó cho một thời hạn trong tương lai. Đây là hình thức hợp đồng lãi suất được kinh doanh trên thông tin liên ngân hàng và được các ngân hàng sử dụng như một công cụ phòng tránh rủi ro lãi suất cho từng khối lượng tiền, đồng tiền hay thời gian nhất định nào đó. 1.2.2.4 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro quan hệ đại lý: Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro quan hệ đại lý, trước khi thiết lập quan hệ đại lý với một ngân hàng nào thì cần phải nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá tình hình tài chính, uy tín kinh doanh, các chỉ tiêu cơ bản của ngân hàng như Tổng tài sản, lợi nhuận, ROA, ROE… để xếp hạng ngân hàng. Những thông tin trên có thể được tìm hiểu từ nhiều kênh: tài liệu trao đổi giữa hai ngân hàng, tìm hiểu qua các tổ chức đánh giá và xếp loại ngân hàng quốc tế như Ficht Rating, … Thường xuyên theo dõi, đánh giá, cập nhật thông tin về tình hình hoạt động của mỗi ngân hàng, xếp loại ngân hàng để có đề xuất ký kết các thỏa thuận đại lý với những ngân hàng tốt, có uy tín. 1.2.2.5 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý: Rủi ro pháp lý là một trong những rủi ro khó phòng tránh bởi liên quan đến môi trưởng pháp lý của các bên liên quan. Tuy nhiên, các bên có thể hạn chế bằng cách quy định rõ các nguồn luật điều chỉnh, tòa án giải quyết tranh chấp có lợi nhất cho mình. Nếu có thể sử dụng luật quốc tế hoặc các tập quán quốc tế để điều chỉnh thì cần phải dẫn chiếu đến trong giao dịch. Như đã trình bày trong phần rủi ro pháp lý, các luật quốc tế và các tập quán quốc tế hiện nay tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã tạo nên một khuôn khổ chung cho các bên liên quan trong các giao dịch TTQT có dẫn chiếu áp dụng. Luật và tập quán quốc tế điều chỉnh quyền và nghĩa vụ cũng như mối quan hệ của các bên liên quan trong giao dịch TTQT. Nếu các bên liên quan trong giao dịch TTQT thống nhất áp dụng luật hoặc các tập quán quốc tế thông qua việc dẫn chiếu đến luật hoặc điều ước đó thì có thể tạo được tiếng nói chung trong việc thực hiện trách nhiệm và quyền lợi của mình, tránh được các rủi ro trong quá trình tác nghiệp. Mặt khác, khi đã dẫn chiếu đến nguồn luật điều chỉnh, các bên đều có điều kiện để nghiên cứu kỹ nguồn luật đó

- 18 -

nên nếu có tranh chấp phát sinh thì có thể bảo vệ được quyền lợi của mình một cách hợp lý. Các tập quán quốc tế không có tính bắt buộc như luật pháp trong nước. Nếu muốn áp dụng các tập quán đó thì phải dẫn chiếu đến trong các tài liệu liên quan. Chính vì vậy, để phòng tránh các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động TTQT, các bên tham gia cần hiểu rõ các tập quán quốc tế và lựa chọn những điều khoản, những quy ước phù hợp để điều chỉnh các giao dịch TTQT của mình. Trong trường hợp không có luật quốc tế và tập quán quốc tế điều chỉnh thì tốt nhất là nên chọn luật quốc gia và tòa án quốc gia hoặc một tòa án quốc tế trung lập, có uy tín để đảm bảo hiểu rõ các quy định cũng như trình tự tố tụng. Việc giành được quyền chọn luật hoàn toàn phụ thuộc vào tương quan lực lượng giữa hai bên. Trong trường hợp không thể chọn luật quốc gia và tòa án trong nước điều chỉnh quan hệ kinh tế của hai bên, cần nghiên cứu kỹ luật điều chỉnh cũng như trình tự tố tụng của tòa án được lựa chọn. Điều quan trọng hơn là phải xem xét quy định các điều khoản điều kiện trong hợp đồng chặt chẽ, đảm bảo an toàn, tránh xảy ra các tranh chấp hạn chế việc khiếu kiện ra toà án. Trong những trường hợp phức tạp, cần có các chuyên gia pháp lý tư vấn, tránh tình trạng có tranh chấp xảy ra mới tìm đến các luật sư, vừa tốn kém, lại không hiệu quả. 1.2.2.6 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro chính trị: Rủi ro chính trị là một trong những rủi ro khó phòng tránh nhất bởi liên quan đến nền kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia. Mỗi sự thay đổi trong kinh tế, chính trị của một nước ảnh hưởng đến tất cả các mặt hoạt động của nền kinh tế và tất cả các đối tác. Vấn đề phòng ngừa rủi ro chính trị liên quan đến việc tìm hiểu nắm bắt thông tin về tình hình kinh tế chính trị của nước đó, đánh giá mức độ rủi ro quốc gia của từng nước, từng khu vực để có chính sách riêng đối với từng thị trường cụ thể. Đối với những quốc gia có nền kinh tế chính trị ổn định, mức độ rủi ro quốc gia thấp thì các giao dịch TTQT có thể được thực hiện bình thường mà không cần bất kỳ biện pháp đảm bảo bổ sung nào. Tuy nhiên đối với những quốc gia có mức độ rủi ro quốc gia cao, cần giói hạn hạn mức thực hiện giao dịch cũng như quy định thêm các biện pháp đảm bảo bổ sung. Ví dụ: yêu cầu các L/C phát hành từ những nước này phải được xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín trên thế giới để đảm bảo khả năng

- 19 -

thanh toán, hoặc để xác nhận những L/C nói trên, ngân hàng phát hành cần phải ký quỹ 100% tại ngân hàng xác nhận… Ngoài ra, ở một số nước, để hạn chế bớt các thiệt hại do rủi ro quốc gia gây ra, người ta đã thành lập các hãng bảo hiểm. Ví dụ ở Đức có hãng bảo hiểm tín dụng của chính phủ đảm nhiệm bảo hiểm 85-90% các rủi ro. Như vậy các nhà xuất khẩu ở Cộng hòa Liên bang Đức chỉ phải chịu trách nhiệm 10% rủi ro thanh toán do các nguyên nhân về chính trị hoặc 15% rủi ro do nguyên nhân về kinh tế. 1.2.2.7 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức: Yếu tố tiên quyết để phòng ngừa rủi ro đạo đức là tìm hiểu kỹ đối tác giao dịch. Vấn đề rủi ro đạo đức liên quan chặt chẽ đến văn hóa doanh nghiệp. Khi tiến hành giao dịch với một đối tác, trước tiên cần tìm hiểu tư cách pháp nhân, năng lực tài chính và mức độ uy tín của doanh nghiệp đó. Đối với các đối tác chưa thực sự hiểu rõ cần phải áp dụng các biện pháp, các phương thức thanh toán đảm bảo an toàn. Đối với các ngân hàng, khi thực hiện các giao dịch TTQT cần phải lựa chọn các đối tác tin cậy, có uy tín cao trên trường quốc tế. Để phục vụ yêu cầu tất yếu đó của các ngân hàng, đã có rất nhiều tổ chức đánh giá ngân hàng quốc tế ra đời, thực hiện dịch vụ nghiên cứu và đánh giá các ngân hàng trên toàn thế giới về xếp loại tín dụng, xếp loại uy tín, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm… Ví dụ tổ chức Standard and Poor, Fitch Rating… Đối với các khách hàng thực hiện giao dịch TTQT, ngân hàng cần phải xây dựng chính sách khách hàng riêng cho từng đối tượng, áp dụng các chính sách ưu đãi đối với các khách hàng truyền thống, có quan hệ tốt, có uy tín. Ngược lại đối với các khách hàng mới, khách hàng nhiều rủi ro tiềm ẩn phải có các quy định chặt chẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình kinh doanh của khách hàng để phát hiện kịp thời những vấn đề phát sinh của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời. Tư vấn và hỗ trợ khách hàng trong việc tìm hiểu các thông tin về đối tác nước ngoài để có các quyết định kinh doanh đúng đắn. Việc tìm hiểu thông tin có thể được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, như thông qua các ngân hàng đại lý, các tổ chức xúc tiến thương mại, tham tán thương mại tại quốc gia đó, các tạp chí chuyên ngành, các mạng Internet của các tổ chức quốc tế có uy tín…

- 20 -

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV
2.1 TỔNG QUAN VỀ BIDV 2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp dịch vụ ngân hàng phục vụ lĩnh vực đầu tư và phát triển ở Việt Nam và là một trong năm ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất tại Việt Nam. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tùy theo yêu cầu chức năng nhiệm vụ của từng thời kỳ lịch sử, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã 3 lần thay đổi tên gọi (Bảng 2.1) Bảng 2.1:Tên gọi của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ Thời gian Từ 26/04/1957 đến 24/06/1981 Từ 24/06/1981 đến 14/10/1990 Từ 14/10/1990 đến nay Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng 259/CP ngày 24/06/1981 Việt Nam Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 401/CP ngày 14/10/1990 Việt Nam Tên gọi Theo Quyết định Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam 177/TTg ngày 26/04/1957

2.1.2 Đặc điểm kinh doanh của BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế tổng hợp, hoạt động theo luật ngân hàng, luật các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp nhà nước, luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật. Cơ cấu tổ chức của BIDV gồm Hội đồng quản trị (Văn phòng và Ban kiểm soát), Ban Tổng giám đốc (Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Văn phòng, các Ban, phòng chức năng và các đơn vị thành viên).

- 21 -

Hội đồng quản trị là cơ quan có thẩm quyền cao nhất được Nhà nước uỷ quyền thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước với toàn bộ hệ thống và chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Các thành viên của Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân trong các hoạt động của Ngân hàng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của Ngân hàng. Các đơn vị thành viên của BIDV gồm: - Các chi nhánh hạch toán phụ thuộc: được chủ động trong kinh doanh, hoạt động tài chính, tổ chức và nhân sự, được uỷ quyền một phần trong đầu tư phát triển và huy động vốn đầu tư, thành lập các đơn vị trực thuộc. Hiện nay, BIDV có 72 chi nhánh cấp 1 tại tất cả các tỉnh thành phố trên cả nước, 42 chi nhánh trực thuộc, 59 phòng giao dịch và 215 quỹ tiết kiệm. - Các thành viên hạch toán độc lập: là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ kinh doanh. Các doanh nghiệp này vừa có sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Tổng công ty, vừa có quyền tự chủ kinh doanh và hoạt động tài chính với tư cách pháp nhân kinh tế độc lập, gồm Công ty thuê mua tài chính, Công ty chứng khoán, Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản. - Các đơn vị liên doanh: được thành lập với tỷ lệ góp vốn giữa BIDV và các đối tác nước ngoài là 50/50, hoạt động trong các lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm, gồm có Ngân hàng Liên doanh VID-PUBLIC (liên doanh với Public Bank Berhad, Malaysia), Ngân hàng Liên doanh Lào-Việt (liên doanh với Ngân hàng ngoại thương Lào – Banque pour le Commerce Exterieure Lao) và Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt-Úc (liên doanh với Tập đoàn bảo hiểm QBE, Úc) - Các đơn vị sự nghiệp: gồm Trung tâm đào tạo, Trung tâm công nghệ thông tin, Trung tâm thanh toán điện tử hoạt động theo quy chế do Tổng giám đốc duyệt, thực hiện hạch toán nội bộ, lấy thu bù chi, được sự hỗ trợ tài chính của Ngân hàng và được tạo nguồn thu từ thực hiện dịch vụ, hợp đồng nghiên cứu. 2.2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV 2.2.1 Mô hình tổ chức: Từ năm 1990, nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường nên các giao dịch ngoại thương đã có điều kiện phát triển làm cho kim ngạch xuất nhập

- 22 -

khẩu tăng lên. Đặc biệt là từ sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu TTQT của các khách hàng có quan hệ tín dụng với BIDV, từ tháng 3 năm 1993, phòng Kinh tế đối ngoại tại Hội sở chính bắt đầu thực hiện nghiệp vụ TTQT. Ban đầu do lượng khách hàng chỉ bó hẹp ở những khách hàng có quan hệ tín dụng có nhu cầu TTQT, nên ngoài việc thực hiện hoạt động TTQT, phòng Kinh tế đối ngoại còn đảm nhiệm các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, quan hệ quốc tế… Sau này, để đáp ứng được nhu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng, các nghiệp vụ dần được tách riêng, và Phòng Kinh tế đối ngoại được đổi tên thành phòng TTQT, chỉ đảm nhiệm nghiệp vụ TTQT. Mô hình hoạt động TTQT của BIDV được tổ chức theo ngành dọc. Đầu mối thanh toán với nước ngoài của cả hệ thống là Hội sở chính. Chỉ có Hội sở chính mới được phép đặt quan hệ đại lý và mở tài khoản Nostro tại các ngân hàng nước ngoài. Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức hoạt động
Hệ thống SWIFT
Trong hạn mức

Trung tâm tài trợ thương mại (TFC)

Vượt hạn mức

Chi nhánh thực hiện TTQT trực tiếp

Chi nhánh thực hiện TTQT gián tiếp

Trong hoạt động TTQT, các chi nhánh trong hệ thống BIDV được chia thành 2 loại: + Loại 1: Các chi nhánh thực hiện TTQT trực tiếp: là các chi nhánh có đủ điều kiện cần thiết để trực tiếp xử lý các nghiệp vụ TTQT, cụ thể là: Cán bộ được đào tạo về nghiệp vụ TTQT, có trình độ ngoại ngữ và kiến thức ngoại thương đủ đáp ứng yêu cầu công việc. Có thị trường và khách hàng xuất nhập khẩu. Có đủ trang thiết bị và phương tiện cần thiết trong hoạt động TTQT.

- 23 -

-

Được Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cấp giấy phép hoạt động TTQT trực tiếp. Chi nhánh trực tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, xử lý và chịu trách nhiệm vê

các giao dịch phát sinh với các đối tác trong và ngoài nước. Các điện giao dịch của chi nhánh sẽ được chuyển tới Hội sở chính bằng hệ thống thanh toán điện tử T5 và SIBS (đối với các chi nhánh đã triển khai dự án Hiện đại hoá Ngân hàng) để chuyển tiếp ra nước ngoài thông qua hệ thống SWIFT. Tuỳ theo trình độ nghiệp vụ và chất lượng giao dịch TTQT của các chi nhánh, Hội sở chính xây dựng hạn mức điện tự động cho từng loại giao dịch của từng chi nhánh. Dưới hạn mức đã được xác định, các giao dịch của chi nhánh sẽ tự động chuyển tới các ngân hàng đại lý qua hệ thống SWIFT. Các giao dịch vượt hạn mức sẽ được kiểm soát và duyệt lại tại Hội sở chính. Định kỳ, các chi nhánh thực hiện TTQT trực tiếp phải báo cáo Hội sở chính về doanh số và tình hình hoạt động nghiệp vụ TTQT phát sinh tại chi nhánh. + Loại 2: Các chi nhánh thực hiện TTQT gián tiếp: là các chi nhánh có thị trường và khách hàng xuất nhập khẩu nhưng chưa đáp ứng đủ các điều kiện để thực hiện trực tiếp nghiệp vụ TTQT. Tại chi nhánh cũng tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ do khách hàng xuất trình. Những hồ sơ này sau đó sẽ được chuyển lên Hội sở chính để xử lý nghiệp vụ và chuyển tiếp ra nước ngoài. Chi nhánh là đầu mối trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tư vấn và hướng dẫn khách hàng thực hiện các thủ tục và các chứng từ cần thiết cho giao dịch TTQT, có trách nhiệm quản lý khách hàng, kiểm tra tính xác thực của các chứng từ do khách hàng xuất trình. Hội sở chính có trách nhiệm kiểm tra nội dung của các loại giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật, các thông lệ quốc tế, thực hiện giao dịch theo đúng quy trình đảm bảo an toàn về vốn và uy tín cho Ngân hàng và khách hàng. Chất lượng giao dịch của các chi nhánh được đánh giá định kỳ 1 lần/năm theo quy trình quản lý chất lượng ISO để có những điều chỉnh hạn mức cho phù hợp với hoạt động TTQT của từng chi nhánh, đảm bảo hoạt động TTQT an toàn trong toàn hệ thống.

- 24 -

2.2.2 Các hoạt động TTQT chủ yếu: 2.2.2.1 Hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Sơ đồ 2.2:Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ
(8) Thanh toán (bộ chứng từ phù hợp)

Ngân hàng mở L/C (Issuing Bank)
(8’) Trích tài khoản hoặc báo nợ, giao bộ chưng từ

(7) Gửi bộ chứng từ đòi tiền

Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
(4) Thông báo L/C

(3) Phát hành L/C (6) Xuất trình bộ chứng từ (2) Đơn đề nghị mở L/C (9) Báo có

Nhà nhập khẩu (Applicant)

(1) Ký hợp đồng

Nhà xuất khẩu (Beneficiary)

(5) Giao hàng

a. L/C nhập khẩu: Phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng nhiều nhất trong hoạt động TTQT của các khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT của BIDV. Do vậy, doanh số thanh toán nhập khẩu theo phương thức này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh số hoạt động TTQT của BIDV (chiếm gần 60%- Bảng 2.2) Về bản chất của việc mở thư tín dụng là ngân hàng đứng ra cam kết thanh toán cho người thụ hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều khoản, điều kiện của thư tín dụng. Để tránh rủi ro trong việc thực hiện cam kết thanh toán, Ngân hàng phải xem xét rất kỹ nguồn vốn thanh toán thư tín dụng. i) Nếu khách hàng mở thư tín dụng bằng vốn vay của BIDV, khách hàng không cần ký quỹ. Đây là các giao dịch an toàn về nguồn vốn thanh toán nhưng lại tiềm ẩn rủi ro về tín dụng. Hiệu quả phương án nhập khẩu của khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng và vốn của ngân hàng. Khối lượng những giao dịch này chiếm tỷ trọng khá lớn trong các giao dịch tín dụng chứng từ tại BIDV (chiếm khoảng 50% tổng khối lượng giao dịch bằng phương thức tín dụng chứng từ của BIDV) ii) Nếu khách hàng mở thư tín dụng bằng vốn tài trợ uỷ thác của các tổ chức quốc tế, khách hàng cũng không cần ký quỹ. Các giao dịch này không nhiều nhưng

- 25 -

thường có trị giá lớn, nằm trong các dự án ODA do các tổ chức nước ngoài hoặc các quốc gia cấp cho Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực y tế, giao thông công cộng, cấp thoát nước… Việc thanh toán được thực hiện theo phương thức tín dụng chứng từ bằng Thư cam kết của tổ chức cấp ODA hoặc rút tiền từ tài khoản đặc biệt của khách hàng mở tại BIDV. Đây là các giao dịch an toàn về vốn nhưng rất phức tạp về nghiệp vụ và khả năng thu phí dịch vụ còn hạn chế. iii) Nếu khách hàng mở thư tín dụng bằng nguồn vốn của bên thứ ba như vốn vay của ngân hàng khác, vốn đồng tài trợ, nguồn vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển, ngoài việc xem xét điều kiện tín dụng của bên thứ ba đó, BIDV còn yêu cầu khách hàng phải có biện pháp dự phòng nguồn vốn gối đầu và ký quỹ tối thiểu 5%. Mức độ rủi ro của các giao dịch này phụ thuộc vào uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba cấp tín dụng hoặc bảo lãnh và các điều kiện khoản vay. iv) Nếu khách hàng mở thư tín dụng bằng vốn tự có, BIDV yêu cầu khách hàng phải ký quỹ tối thiểu 5% và có các biện pháp đảm bảo cho nguồn vốn còn lại như ký Hợp đồng tín dụng dự phòng, Bảo lãnh của bên thứ ba, ví dụ như Tổng công ty… Việc phát hành thư tín dụng được thực hiện tại tất cả các chi nhánh đã thực hiện TTQT trực tiếp. Chi nhánh tự chịu trách nhiệm xem xét hồ sơ khách hàng, nguồn vốn thanh toán thư tín dụng trong mức phán quyết tín dụng của chi nhánh do Tổng giám đốc giao. Những thư tín dụng vượt hạn mức tự động của chi nhánh được kiểm soát lại tại Hội sở chính. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong doanh số và số lượng thư tín dụng phát hành, cơ cấu hàng hoá nhập khẩu thanh toán qua BIDV cũng thay đổi qua các năm theo xu hướng đa dạng hoá. Nếu trong những năm mới hoạt động, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị do các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nhập khẩu để phục vụ sản xuất kinh doanh thì nay đã mở rộng thêm các mặt hàng điện tử, nguyên vật liệu, phân bón, xăng dầu, bông sợi, hoá chất… b. L/C xuất khẩu: Hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động TTQT của BIDV. Sự tăng trưởng và phát triển trong hoạt động này là kết quả của sự nỗ lực vượt bậc của Ngân hàng trong hoạt động TTQT. Từ khi mới thực hiện hoạt động TTQT, các giao dịch thanh toán

- 26 -

hàng xuất bằng thư tín dụng hầu như không có. Bởi vì các khách hàng truyền thống của BIDV hầu như không hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Hoạt động nhập khẩu chủ yếu là để phục vụ chính nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ, không phải nhằm mục đích thương mại. Ý thức được khó khăn này, BIDV đã cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT để xây dựng được uy tín tốt, thu hút các khách hàng mới sử dụng dịch vụ TTQT tại Ngân hàng. Kết quả là doanh số hoạt động thanh toán xuất khẩu nói chung và thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng đã tăng mạnh qua các năm (Bảng 2.2) Trong phương thức thanh toán này, vấn đề quan trọng nhất là phải xem xét kỹ các điều khoản, điều kiện của thư tín dụng, về khả năng đòi tiền từ ngân hàng phát hành thư tín dụng và mức độ hoàn hảo của bộ chứng từ đòi tiền. Vì vậy ngay từ bước thông báo thư tín dụng, BIDV đã tư vấn cho khách hàng để chỉnh sửa những điều khoản bất lợi đảm bảo khả năng lập được bộ chứng từ đòi tiền hoàn hảo nhất. Nhằm đa dạng hoá dịch vụ cung cấp và hỗ trợ các khách hàng trong hoạt động xuất khẩu, BIDV đã xây dựng cơ chế chiết khấu chứng từ hàng xuất có truy đòi. Chiết khấu chứng từ hàng xuất là hình thức BIDV ứng trước trị giá bộ chứng từ cho hàng xuất khi ngân hàng phát hành thanh toán. Nghiệp vụ này giúp cho khách hàng rút ngắn thời gian vốn bị đọng, tăng nhanh vòng quay của vốn, đặc biệt đối với những khách hàng có trị giá bộ chứng từ lớn như xuất khẩu than, gạo. Hiện nay BIDV đã thực hiện chiết khấu tối đa 95% trị giá bộ chứng từ đối với thư tín dụng trả ngay, 85% trị giá bộ chứng từ đối với thư tín dụng trả chậm và được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ này. Cơ cấu hàng xuất thanh toán qua BIDV ngày một đa dạng. Trước đây, các mặt hàng xuất khẩu qua BIDV chủ yếu là hàng gia công giầy dép, sản phẩm may mặc, là kết quả của việc đầu tư nhập khẩu dây truyền thiết bị của Ngân hàng thì hiện nay mặt hàng đã thay đổi theo cơ cấu đầu tư của Ngân hàng như thuỷ sản, gạo, cao su, cà phê, than, lâm sản… 2.2.2.2 Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu a. Nhờ thu trơn: Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó khách hàng nhờ ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu đòi tiền do mình lập. Phương thức nhờ thu trơn không

- 27 -

đảm báo an toàn trong việc đòi tiền nên rất ít khách hàng sử dụng phương thức thanh toán này. Do vậy doanh số nhờ thu trơn thực hiện qua ngân hàng đầu tư hầu như không đáng kể, chủ yếu là các giao dịch với trị giá nhỏ, nhờ thu cho các khoản phí hoa hồng hoặc phí dịch vụ đại lý. b. Nhờ thu kèm chứng từ: Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán trong đó khách hàng nhờ ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở bộ chứng từ giao hàng. Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian thu hộ tiền và không có bất kỳ một cam kết thanh toán nào. Sơ đồ 2.3:Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
(8) Thanh toán

Ngân hàng nhờ thu (Collecting Bank)
(6) Ký chấp nhận hối phiếu hoặc từ chối (7) Giao bộ chứng từ, nếu ký chấp nhận (D/A), hoặc nộp tiền thanh toán (D/P) (5) Gửi hối phiếu

(4) Gửi hối phiếu + bộ chứng từ nhờ thu

Ngân hàng gửi nhờ thu (Remiting Bank)

(3) Hối phiếu + bộ chứng từ

(9) Báo có

Nhà nhập khẩu (Drawee)

(1) Ký hợp đồng

Nhà xuất khẩu (Drawer)

(2) Giao hàng

Hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ được triển khai tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đồng thời với hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên do đặc điểm của phương thức nhờ thu là tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn đối với cả nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu nên được các khách hàng sử dụng ít hơn so với phương thức tín dụng chứng từ. Trong hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ, uy tín của ngân hàng là một yếu tố rất quan trọng để các ngân hàng phục vụ người xuất khẩu lựa chọn làm ngân hàng nhờ thu bộ chứng từ. Từ khi thực hiện nghiệp vụ TTQT đến nay, uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao trong quan hệ thanh toán giữa

- 28 -

các ngân hàng trên thế giới nên số lượng các bộ chứng từ nhờ thu thực hiện của BIDV ngày càng tăng, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu (bảng 2.2) . Bảng 2.2: Doanh số thanh toán của các nghiệp vụ TTQT chủ yếu của BIDV Đơn vị tính: Triệu USD Chỉ tiêu L/C nhập khẩu L/C xuất khẩu Nhờ thu nhập Nhờ thu xuất Chuyển tiền đi Chuyển tiền đến Doanh số TTQT 1992-97 770 230 12.2 12.2 222 162.6 1409 1998 265.4 199.4 7.9 6.7 105 83 667 1999 356 217 14 11 142 135 1300 2000 1072 495 50.5 41.5 201 192 2052 2001 1615 555 26 13.4 296 295 2800 2002 2006 732.1 40 31.9 331 359 3500 2003 2186 753 71 33 340 417 3800 2004 2286 893 91 39 420 471 4200

Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT của BIDV qua các năm 2.2.2.3. Hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền. Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người thụ hưởng theo chỉ dẫn. Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện chuyển tiền và không chịu trách nhiệm về chỉ dẫn thanh toán. Sơ đồ 2.4:Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức chuyển tiền
Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu
(3) Lệnh chuyển tiền (4’) Báo nợ/ghi nợ (4) Thanh toán T/T

Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu

(5) Báo có

(1) Ký hợp đồng

Nhà nhập khẩu
(2) Giao hàng + bộ chứng từ

Nhà xuất khẩu

a. Chuyển tiền đi

- 29 -

Nghiệp vụ chuyển đi được sử dụng rộng rãi trong hoạt động TTQT để thanh toán hàng hoá nhập khẩu, chuyển tiền đặt cọc trong các hợp đồng mua bán thiết bị, thanh toán tiền dịch vụ và các khoản chuyển tiền phi mậu dịch khác. Nghiệp vụ chuyển tiền tại BIDV chiếm một tỷ trọng khá lớn về số món và tăng mạnh qua các năm (Biểu 2.1). Chất lượng của nghiệp vụ chuyển tiền thể hiện ở tốc độ thực hiện giao dịch, tính chính xác và hiểu biết về hệ thống thanh toán của các loại ngoại tệ để đảm bảo người thụ hưởng nhận được tiền nhanh nhất với chi phí thấp nhất. Mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài thực hiện tại BIDV đều tuân thủ chặt chẽ chế độ quản lý ngoại tệ ngoại hối do Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. b. Chuyển tiền đến: Tại BIDV, nghiệp vụ chuyển tiền được chia thành 3 loại chính, căn cứ vào mục tiêu chuyển tiền, gồm: Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu, chuyển tiền kiều hối, chuyển tiền phi mậu dịch khác và chuyển tiền uỷ thác đầu tư. + Chuyển tiền thanh toán hàng xuất khẩu: chiếm một tỷ trọng khá lớn trong doanh số chuyển tiền đến của BIDV, do một số khách hàng của BIDV có quan hệ tốt với người nhập khẩu nên thường xuyên sử dụng phương thức thanh toán này. + Chuyển tiền phi mậu dịch: Trong các loại chuyển tiền phi mậu dịch, chuyển tiền kiều hối là hình thức chính. Được sự khuyến khích của Chính phủ Việt nam trong việc thu hút kiều hối từ nước ngoài về thông qua Quyết định số 170/1999/QĐ-TTg ngày 19/08/1999 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 02/2000/TT-NH ngày 24/02/2000 của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động chuyển tiền kiều hối đã phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, đem lại một nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước. Xác định rõ việc mở rộng hoạt động chi trả kiều hối không chỉ tăng thu dịch vụ ngân hàng mà còn là lượng ngoại tệ tương đối lớn có thể thu hút với chi phí thấp nên hoạt động chi trả kiều hối ngày càng được BIDV quan tâm phát triển. BIDV đã có những chính sách khuyến khích khách hàng chuyển tiền kiều hối thông qua hệ thống BIDV. Bên cạnh việc hướng dẫn tận tình, cụ thể và rõ ràng khách hàng ở Việt Nam để cung cấp chỉ dẫn chuyển tiền chính xác cho người thân của họ ở nước ngoài, BIDV còn đẩy mạnh hoạt động khảo sát, tìm kiếm đối tác là các tổ chức kiều hối trong và ngoài nước, ký kết các hợp đồng dịch vụ chuyển tiền nhanh về Việt Nam như làm dịch vụ chi trả cho Western Union, ACB, VINA-US…, đồng thời đẩy mạnh

- 30 -

hoạt động quảng cáo và tiếp thị với các ngân hàng nước ngoài ở các nước có nhiều người Việt Nam sinh sống và làm việc như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Mỹ…, ví dụ như Ngân hàng Metropolitant Bank, Tachung Bank, Chinatrust của Đài Loan, Koookmin Bank của Hàn Quốc, Malaysia Bank Berrhad của Malaysia… + Chuyển tiền uỷ thác đầu tư: Chuyển tiền uỷ thác đầu tư từ các tổ chức quốc tế như WB, ADB… cho các Ban quản lý dự án tại Việt Nam là một nguồn ngoại tệ tương đối quan trọng đối với BIDV. Các khoản chuyển tiền này thường có giá trị rất lớn hàng triệu USD/món. Để phát triển được dịch vụ này, BIDV đã phải thiết lập quan hệ tốt với các đơn vị tiếp nhận vốn đầu tư như Bộ Tài chính, các Ban quản lý dự án để thu hút hoạt động của họ qua BIDV. Nhận thức được phương thức chuyển tiền đến là một hình thức quan trọng để thu hút ngoại tệ nhằm đảm bảo cân đối cơ cấu ngoại tệ trong thanh toán xuất nhập khẩu, BIDV đã rất quan tâm để phát triển dịch vụ này. Doanh số chuyển tiền đến của BIDV tăng mạnh qua các năm thể hiện trong (bảng 2.2) 2.2.2.4 Hoạt động thanh toán séc du lịch, phát hành hối phiếu ngân hàng: BIDV đã ký hợp đồng làm đại lý bán và thanh toán séc du lịch do American Express Company phát hành từ năm 1999, theo đó các chi nhánh của BIDV thực hiện nghiệp vụ chấp nhận thanh toán séc du lịch do American Express Company phát hành cũng như làm đại lý bán các séc du lịch Amex trắng. Nghiệp vụ này hiện đang được triển khai tại một số chi nhánh của BIDV như Huế, Sở Giao Dịch 1, chi nhánh Hà Thành, tuy nhiên chưa thực sự phát triển. 2.3 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV TRONG THỜI GIAN QUA. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong năm ngân hàng thương mại lớn nhất ở Việt Nam và là ngân hàng có truyền thống phục vụ đầu tư xây dựng. Không giống như Ngân hàng Ngoại thương có được bề dày kinh nghiệm TTQT hơn 40 năm và mạng lưới khách hàng xuất nhập khẩu truyền thống rộng lớn, hoạt động TTQT của BIDV vô cùng non trẻ. Tuy nhiên, được sự quan tâm của Ban lãnh đạo ngân hàng, với sự nỗ lực vươn lên của bản thân, hoạt động TTQT của BIDV đã từng bước trưởng thành và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường TTQT Việt Nam vô cùng sôi động và cạnh tranh quyết liệt.

- 31 -

Hoạt động TTQT ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mà đã đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh chung của toàn hệ thống. Một số kết quả hoạt động TTQT tại BIDV trong thời gian qua là: 2.3.1 Hoạt động TTQT tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng Trong điều kiện các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như huy động vốn, tín dụng chịu sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng, cùng với xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngân hàng, BIDV đã ngày càng chú trọng đến việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ TTQT, coi đây là một chiến lược quan trọng nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng, đồng thời thực hiện đa dạng hoá hoạt động ngân hàng theo mô hình ngân hàng hiện đại. Doanh số hoạt động và phí dịch vụ TTQT tăng mạnh qua các năm thể hiện sự trưởng thành cả về quy mô và chất lượng. Từ năm 1993 đến nay, mạng lưới TTQT không ngừng được mở rộng, từ chỗ chỉ có một vài chi nhánh có khả năng phục vụ nhu cầu TTQT của khách hàng, đến nay, toàn hệ thống BIDV đã có 52 chi nhánh thực hiện TTQT trực tiếp, trong đó có 50 chi nhánh tỉnh thành phố và 2 chi nhánh trực thuộc. Bảng 2.3: Kết quả hoạt động TTQT qua các năm
Năm Chi nhánh TTQT trực tiếp Doanh số TTQT (Triệu USD) Phí dịch vụ (Tỷ VNĐ) 5.5 6.5 8.2 10 14 18 27 38 47 54 61.6 170 250 391 506 667 1300 2200 2800 3500 3800 4200 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2 4 3 7 13 19 21 39 47 52 52

Nguồn: Báo cáo TTQT các năm của BIDV 2.3.2 Các nghiệp vụ TTQT ngày càng được mở rộng. Khi mới thành lập, BIDV mới chỉ có khả năng cung cấp các dịch vụ TTQT truyền thống như thanh toán bằng thư tín dụng, chuyển tiền. Cho đến nay, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do tham gia thị trường TTQT muộn hơn các ngân hàng khác, BIDV đã nghiên cứu để đưa thêm một số sản phẩm TTQT mới để phục vụ khách

- 32 -

hàng như chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất theo thư tín dụng và nhờ thu, tài trợ trọn gói (Packing Credit), Biên lai tín thác (Trust Receipt), xác nhận thư tín dụng… Việc phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ này đã góp phần thực hiện việc đa dạng hoá sản phẩm và tạo một chu trình phục vụ khách hàng khép kín, nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV trên thị trường. 2.3.3 Trình độ công nghệ ngân hàng và trình độ cán bộ được nâng cao. Hoạt động TTQT là một hoạt động đòi hỏi trình độ cán bộ tác nghiệp phải được đào tạo và cập nhật thường xuyên, bởi đây là một hoạt động có tính quốc tế, liên quan đến rất nhiều đối tác ở nước ngoài và vận động liên tục. Với kinh nghiệm hoạt động hơn 10 năm, trải qua quá trình vừa làm vừa đào tạo và đào tạo lại, đến nay BIDV đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ TTQT có trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ tốt, có kinh nghiệm và độ nhạy bén tốt trong việc tiếp cận cái mới. Do đó BIDV đã đảm nhiệm tốt vai trò tư vấn cho khách hàng trong việc lựa chọn và sử dụng các phương thức TTQT phù hợp, quy định các điều khoản thanh toán đảm bảo an toàn cho khách hàng và ngân hàng. Đây là một yếu tố quan trọng để tăng sức gắn bó của khách hàng với BIDV trong giai đoạn hiện nay. Trình độ công nghệ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ TTQT. Hoạt động dịch vụ của ngân hàng được đánh giá qua các tiêu chí: tốc độ xử lý giao dịch nhanh, độ chính xác lớn, tính tiện ích cao. Để đạt được các tiêu chí đó cần có sự hỗ trợ tích cực của công nghệ hiện đại. Chính vì vậy, công nghệ phục vụ hoạt động TTQT đã được BIDV đầu tư rất lớn, tiếp cận với công nghệ tiên tiến trên thế giới như tham gia hệ thống SWIFT với các phiên bản hiện đại nhất được cập nhật thường xuyên, xây dựng và triển khai chương trình tài trợ thương mại nằm trong dự án Hiện đại hoá ngân hàng theo tiêu chuẩn của ngân hàng thương mại hiện đại. BIDV cũng đồng thời xây dựng chương trình Home Banking để cung cấp các dịch vụ tiện ích cho khách hàng như tra cứu số dư tài khoản, gửi lệnh thanh toán, lệnh phát hành thư tín dụng bằng hệ thống điện tử. Tuy hệ thống công nghệ của BIDV còn nhiều tồn tại nhưng nghiệp vụ TTQT là một trong những nghiệp vụ được tiếp xúc và đầu tư công nghệ tiên tiến nhất.

- 33 -

2.3.4 Quy trình nghiệp vụ được cải tiến liên tục Quy trình TTQT là một trong sáu quy trình nghiệp vụ chính được xây dựng và cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng ISO 1990-2000 từ năm 2001. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, quy trình nghiệp vụ TTQT tiêu chuẩn hoá, không những hướng tới mục đích thoả mãn nhu cầu cao nhất của khách hàng mà luôn đảm bảo an toàn trong hoạt động cho ngân hàng và cả khách hàng. Tiêu chuẩn chất lượng cho từng sản phẩm TTQT được công khai đăng ký giúp cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng do BIDV cung cấp. 2.3.5 Quan hệ đại lý ngày càng được mở rộng Quán triệt tinh thần của Đảng và Chính phủ trong quan hệ đối ngoại là “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới” và “Mở cửa hoạt động kinh tế đối ngoại với các nước trong khu vực và trên thế giới”, BIDV cũng đang thực hiện một chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đại lý trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, nhiệm vụ phát triển quan hệ đại lý ra nước ngoài là một trong những nhiệm vụ trong tâm, mang tính quyết định cho việc mở cửa hoạt động của ngân hàng ra ngoài phạm vi quốc gia. Số lượng ngân hàng đại lý và số nước thiết lập quan hệ đại lý của BIDV ngày càng nhiều. Từ chỗ hoàn toàn không có quan hệ với nước ngoài trong những năm đầu thập kỷ 90, đến nay BIDV đã thiết lập quan hệ đại lý với gần 800 ngân hàng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới trong rất nhiều lĩnh vực, cụ thể là: - Mở tài khoản ngoại tệ tại 30 ngân hàng nước ngoài với các loại tiền USD, EUR, JPY, SGD, AUD, HKD, KRW. - Là ngân hàng giữ tài khoản nostro của rất nhiều ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như ngân hàng Laoviet, Lào; Ngân hàng Metropolitant tại Đài Loan; Citibank, Hà Nội… - Ký kết nhiều hiệp định khung với các ngân hàng nước ngoài phục vụ cho hoạt động tài trợ thương mại - Ký kết nhiều thỏa thuận đại lý thông báo, xác nhận, chiết khấu L/C với các ngân hàng Citibank, Bank of New York, Hypovereinsbank, Nova Scotia Bank… - Ký kết các hợp đồng dịch vụ chi trả kiều hối với Metropolitant bank, Tachung Bank, Malaysia Banking Berhard…

- 34 -

- Ký kết nhiều biên bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực trao đổi thông tin và đào tạo với các ngân hàng có uy tín trên thế giới. 2.3.6 Uy tín của BIDV ngày càng được nâng cao. Trong nước, với bề dày truyền thống 48 năm phục vụ đầu tư và phát triển, BIDV đã trở thành một địa chỉ tin cậy cho các khách hàng trong lĩnh vực đầu tư và phát triển trong nước. Chỉ đến khi hoạt động TTQT được triển khai từ năm 1993 và ngày càng lớn mạnh, thương hiệu BIDV mới thực sự được biết đến trên thị trường quốc tế. Trải qua quá trình phát triển, trình độ xử lý nghiệp vụ ngày càng cao của cán bộ TTQT cùng với sự tuân thủ chặt chẽ các thông lệ quốc tế đảm bảo an toàn trong giao dịch đã góp phần tạo niềm tin cho các ngân hàng đối tác nước ngoài cũng như các khách hàng trong và ngoài nước. BIDV đã được các khách hàng và ngân hàng tin tưởng chọn làm đối tác và đầu mối trong một số dự án đồng tài trợ trị giá lớn, được chỉ định làm ngân hàng phát hành thư tín dụng, thông báo thư tín dụng, thương lượng và chiết khấu chứng từ, chuyển tiền, nhờ thu… Hiện nay, BIDV đã thiết lập được quan hệ đại lý với gần 800 ngân hàng trên thế giới ở hầu khắp các quốc gia. Trải qua hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, hoạt động TTQT của BIDV đã tạo được một chỗ đứng cho mình trên thị trường TTQT Việt nam, tuy rằng còn rất khiêm tốn. Đây là kết quả của sự nỗ lực của toàn hệ thống bởi BIDV mới tham gia hoạt động TTQT trong khi các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn đã ổn định và phát triển hoạt động TTQT của mình. Do vậy BIDV thua kém cả về kinh nghiệm hoạt động, quan hệ với khách hàng và cơ hội phát triển. Với điều kiện như vậy, nguy cơ phải đối mặt với các rủi ro TTQT của BIDV là một vấn đề đáng quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Hiện nay, hầu hết tất cả các giao dịch TTQT tại BIDV đều được thực hiện thông qua hệ thống SWIFT (xem phụ lục 3) dựa vào mạng lưới đại lý rộng khắp trên toàn thế giới (gần 800 đại lý). Trước yêu cầu sử dụng điện SWIFT chính xác và hiệu quả trong từng phương thức TTQT đòi hỏi phải nghiên cơ chế hoạt động của từng nhóm điện và từng mẫu điện cụ thể phù hợp tình huống thực tế phát sinh, ở phần này sẽ trình bày chi tiết các loại điện được sử dụng trong từng phương thức TTQT.

- 35 -

CHƯƠNG 3:

SỬ DỤNG ĐIỆN SWIFT ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC TTQT TẠI BIDV
3.1 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN 3.1.1 Khái niệm Ngày nay với trình độ công nghệ phát triển cao đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đã xuất hiện các phương tiện thanh toán mới giúp thực hiện việc chuyển tiền thanh dựa vào công nghệ ngân hàng như Visa card, Master card, dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union… tuy nhiên các phương tiện này thường chỉ dùng trong các giao dịch nhỏ lẻ để thanh toán cho chi tiêu cá nhân như: mua sắm, chi trả dịch vụ… bên cạnh đó việc sử dụng các phương tiện này cũng tiềm ẩn rủi ro như: bị đánh cắp hay lộ số PIN, quên số PIN, mất thẻ…. Vì vậy, thực hiện thanh toán bằng phương thức chuyển tiền thông qua hệ thống SWIFT vẫn được nhiều người sử dụng đặc biệt trong thanh toán hàng mậu dịch. Trong phương thức chuyển tiền, khách hàng (là người trả tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho một người hưởng (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian phục vụ theo chỉ dẫn của khách hàng. Trách nhiệm của ngân hàng chuyển tiền là chuyển tiền theo đúng chỉ dẫn của khách hàng. Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền là chi trả tiền cho đúng người thụ hưởng theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền. Trong phương thức chuyển tiền, các điện chuyển tiền (T/T) thông qua hệ thống SWIFT, Telex hoặc thư chuyển tiền (M/T) được sử dụng như những phương tiện thanh toán, thông qua đó ngân hàng chuyển tiền yêu cầu ngân hàng nhận lệnh chi trả cho người thụ hưởng theo chỉ dẫn thanh toán. Nếu cán bộ của ngân hàng chuyển tiền do sơ suất cung cấp chỉ dẫn sai dẫn đến việc ngân hàng nhận lệnh không thực hiện chi trả cho đúng người thụ hưởng một cách kịp thời thì ngân hàng phải chịu rủi ro bồi thường những thiệt hại về kinh tế và uy tín do người chuyển tiền khiếu nại. Việc chi trả chỉ được thực hiện khi ngân hàng trả tiền nhận được điện chuyển tiền hoặc thư chuyển tiền đảm bảo tính xác thực, với

- 36 -

chỉ dẫn chi trả rõ ràng và được báo có cho khoản tiền cần chi trả trên tài khoản của mình. Nếu ngân hàng trả tiền không kiểm tra đầy đủ hai điều kiện trên mà đã tiến hành chi trả thì có thể gặp phải rủi ro mất tiền, do không được báo có nhưng đã tiến hành chi trả cho người thụ hưởng, hoặc chi trả sai người thụ hưởng và không đòi lại được từ người nhận tiền. Để tránh được rủi ro có thể xảy ra, các ngân hàng phải nghiên cứu và sử dụng các phương tiện thanh toán (T/T hoặc M/T) một cách chuẩn xác. Hiện nay, các ngân hàng thường sử dụng điện chuyển tiền để thanh toán vì nó đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Điện chuyển tiền có thể bằng SWIFT hoặc Telex, trong đó điện SWIFT được sử dụng phổ biến hơn, chiếm khoảng 90% giao dịch chuyển tiền quốc tế. Điện chuyển tiền bằng SWIFT là những mẫu điện (MT103, MT202…) đã được chuẩn hoá bởi tổ chức SWIFT (xem phụ lục 6) với các nội dung điện đã được quy định cụ thể, thống nhất giữa các ngân hàng tham gia hệ thống SWIFT. Do vậy, điện chuyển tiền bằng SWIFT có nội dung chi trả rõ ràng, chính xác hơn và bảo mật hơn các loại điện chuyển tiền hoặc thư chuyển tiền khác. Sau khi tiến hành kiểm tra hồ sơ yêu chuyển tiền kèm theo chỉ dẫn thanh toán (lệnh chuyển tiền) của khách hàng, Ngân hàng có trách nhiệm chuyển tải và lựa chọn hình thức thực hiện thanh toán, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả nhất. Việc sử dụng điện SWIFT là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, phương thức chuyển tiền có 3 sự lựa chọn cho ngân hàng: sử dụng phương pháp trực tiếp, phương pháp gián tiếp hoặc phương pháp chuỗi. Tùy theo sự lựa chọn phương pháp trực tiếp, gián tiếp hay chuỗi mà ngân hàng có thể phối hợp các mẫu điện SWIFT trong thực hiện giao dịch thanh toán. Tùy theo phương pháp sử dụng mà điện chuyển tiền SWIFT MT103 là điện thanh toán hoặc chỉ là điện thông báo việc thanh toán. Sự phân biệt điện thanh toán hoặc điện thông báo này tùy thuộc vào cách sử dụng các trường trong định dạng điện MT103. 3.1.2 Phương pháp trực tiếp Nếu ngân hàng gửi điện (Sender) và ngân hàng nhận điện (Receiver) - cũng là ngân hàng giữ tài khoản của người thụ hưởng, có quan hệ tài khoản nostro đối với loại tiền tệ được giao dịch thì điện SWIFT MT103 (Single Customer Credit Transfer) sẽ được ngân hàng gửi điện lập và gửi trực tiếp đến ngân hàng nhận điện (ngân hàng

- 37 -

giữ tài khoản nostro) để thực hiện lệnh thanh toán theo yêu cầu của người chuyển tiền. Trong trường hợp này điện MT103 là điện thanh toán. Phương pháp trực tiếp được các ngân hàng ưu tiên lựa chọn sử dụng vì: thực hiện thanh toán nhanh do không phải qua ngân hàng trung gian, chi phí chuyển tiền thấp, thuận lợi cho việc giao dịch và tra soát. Tình huống 1: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho BIDV (SWIFT: BIDVVNVX) trích tài khoản tiền USD tại BIDV thực hiện thanh toán cho công ty Germany General Electrics có tài khoản 123456789 tại BHF Bank, Frankfurt (SWIFT: BHFBDEFF) EUR50,000.00 thanh toán cho hợp đồng 01/TM-GGE (tỷ giá EUR/USD=2.00), hai khách hàng thỏa thuận chia sẽ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Khi thực hiện lệnh thanh toán trên, BIDV sẽ tra cứu tài khoản Nostro (xem phụ lục 2) của mình có mở tại ngân hàng BHF Bank, Frankfurt hay không?. Nếu có, thực hiện điện chuyển tiền MT103 thanh toán, gửi trực tiếp đến ngân hàng BHF Bank, Frankfurt - ngân hàng giữ tài khoản nostro đồng EUR của BIDV) với nội dung điện MT103 như sau: Nội dung điện MT103 Explanation Sender Message type Receiver Sender’s reference Bank operation code Value date/currency/interbank settled amount Currency/ Instructed amount Exchange rate Ordering customer Beneficiary customer Details of charge BIDVVNVX 103 BHFBDEFF :20:6700505050001 :23B:CRED :32A:050606EUR50,000.00 :33B:USD100,000.00 :36:0.5000 :50K:TIMEX :59:/123456789 Germany Genaral Electrics :71A:SHA Format

- 38 -

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp trực tiếp

Ordering Customer

50A

TIMEX

Sender MT103

BIDVVXVX

Receiver

BHF Bank, Frankfurt (BHFBDEFF)

Beneficiary Customer 3.1.3 Phương pháp gián tiếp

59A

Germany General Electrics

Nếu ngân hàng gửi điện điện và ngân hàng nhận điện SWIFT MT103 không có quan hệ tài khoản trực tiếp đối với loại tiền tệ được giao dịch, hoặc họ có quan hệ tài khoản nhưng không muốn sử dụng quan hệ tài khoản này thì một ngân hàng thứ ba sẽ xuất hiện trong giao dịch này. Trong trường hợp này, điện MT103 chỉ chứa đựng nội dung thanh toán – đóng vai trò là điện thông báo chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, đồng thời ngân hàng gửi điện phải thực hiện một lệnh thanh toán toán chuyển tiền thông qua việc lập một điện thanh toán SWIFT giữa các ngân hàng MT202 (General Financial Institution Transfer) đến một ngân hàng thứ 3 (ngân hàng giữ tài khoản nostro) yêu cầu trích tài khoản của mình thanh toán cho ngân hàng nhận điện MT103. Phương pháp này gọi là phương pháp gián tiếp. Phương pháp gián tiếp đặc biệt hữu dụng cho ngân hàng thực hiện thanh toán khi có một hoặc nhiều món tiền được chuyển từ một hoặc nhiều người khác nhau từ ngân hàng chuyển tiền đến một hoặc nhiều người thụ hưởng tại cùng một ngân hàng thụ hưởng. Phương pháp này giúp ngân hàng giảm chi phí trong giao dịch, vì có thể

- 39 -

thực hiện nhiều điện thông báo MT103 (không phải điện thanh toán) đến ngân hàng thụ hưởng với chi tiết từng món thanh toán cụ thể trong khi chỉ cần lập một lệnh chuyển tiền MT202 cho số tiền tổng (bằng tổng các món được chuyển theo điện thông báo MT103), ngân hàng chuyển tiền chỉ chịu phí thanh toán cho một món thanh toán tổng (10->15USD/món) khi thực hiện lệnh chuyển tiền MT202, trong khi nếu thực hiện theo phương pháp thông thường số tiền phí phải trả là bội số của 1015USD/món cho mỗi điện thanh toán MT103. Vì vậy, ngân hàng đã tiết kiệm được một khoản chi phí khá lớn. Phương pháp này được các công ty bản xứ sử dụng rộng rãi trong việc trả lương cho người hợp tác lao động nước ngoài ở cùng một quốc gia, một vùng lãnh thổ…. Công ty lập danh sách chi trả lương với đầy đủ chi tiết về số tiền, người thụ hưởng, tài khoản tại ngân hàng (hoặc CMND, passport…) và ngân hàng thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình tiến hành việc trả lương theo danh sách. Căn cứ vào danh sách, ngân hàng chuyển tiền sẽ tiến hành lập từng lệnh MT103 cho từng người thụ hưởng riêng biệt và gửi lệnh thông báo thanh toán MT103 trực tiếp đến ngân hàng thụ hưởng, trên các điện MT103 này đều chỉ ra số giao dịch liên quan đến một lệnh chuyển vốn ngân hàng MT202 được ngân hàng lập lệnh MT103 gửi cho ngân hàng giữ tài khoản nostro của mình trích tài khoản của ngân hàng mình trả cho ngân hàng người thụ hưởng bằng tổng số tiền trên các điện MT103. Với phương pháp này đã tiết giảm chi chí rất nhiều đặc biệt rất hiệu quả trong việc trả lương theo danh sách, hoặc có nhiều lệnh thanh toán cùng được gửi đến một ngân hàng. Tình huống 2: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho BIDV (SWIFT: BIDVVNVX) trích USD100,000.00 từ tài khoản thanh toán USD của công ty tại BIDV thực hiện thanh toán cho công ty China General Electrics có tài khoản 0246813579 tại Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Nội dung thanh toán cho hợp đồng 01/TM-CGE, hai khách hàng thỏa thuận chia sẽ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Bằng các chương trình hỗ trợ tìm kiếm, tra cứu như: Bank Global, Chase Payment Path,…hoặc thông qua điều khoản thanh toán trong hợp đồng ngoại thương của hai công ty, ta biết được Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) và BIDV

- 40 -

cùng mở tài khoản nostro tại Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33), tuy nhiên BIDV lại muốn sử dụng tài khoản thanh toán nostro của mình tại Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) để thực hiện việc thanh toán. Vì vậy, cơ chế thanh toán được thực hiện như sau: Bước 1: BIDV sẽ lập điện thông báo MT103 trực tiếp đến Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng China General Electrics là ngân hàng Bank of China, Bejing thông báo chi tiết nội dung và số tiền mà người chuyển tiền TIMEX đã thực chuyển. Bước 2: Đồng thời BIDV lập điện thanh toán MT202 (lệnh chuyển vốn thanh toán giữa các ngân hàng) ra lệnh cho ngân hàng Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) trích tài khoản nostro của BIDV chuyển vào tài khoản của Ngân hàng giữ tài khoản Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) của ngân hàng thụ hưởng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) thông qua các hệ thống thanh toán đồng USD (xem phụ lục 3). Bước 3: Khi nhận được lệnh thanh toán từ Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) ghi có vào tài khoản của mình theo lệnh của BIDV, ngân hàng Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) thực hiện báo có bằng điện SWIFT MT910/950 cho ngân hàng thụ hưởng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Bước 4: Ngân hàng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) thực hiện đối chiếu điện thông báo thanh toán MT103 nhận được từ BIDV và điện báo có từ Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) nếu đúng số tham chiếu thì thực hiện báo có cho khách hàng thụ hưởng China General Electrics theo số tiền thực tế trên điện báo có từ Citibank, NewYork. Lưu ý, ngân hàng nhận điện thông báo thanh toán MT103 chỉ thực hiện thanh toán báo có cho người thụ hưởng khi nhận được điện báo có MT910/950 hoặc điện thanh toán MT202.

- 41 -

Sơ đồ 3.2: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp gián tiếp Ordering Customer TIMEX

Sender MT202 Sender’s Correspondent MT103 Receiver’s Correspondent

BIDVVNVX

Bank of NewYork, NewYork (IRVTUS3N)

Citibank, NewYork (CITIUS33)

MT910/950 Receiver Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ)

Beneficiary Customer

China General Electrics

Mối liên hệ giữa các trường MT103 và MT202 MT103 S R 20 23B 32A 50A 53A 54A 59A 70A MT202 S R 20 21 32A 57A 58A

- 42 -

3.1.4 Phương pháp chuỗi Khi có nhiều hơn 2 ngân hàng liên quan đến dây chuyền thanh toán, nếu điện MT103 được gửi từ một ngân hàng đến một ngân hàng khác trong dây chuyền thanh toán. Phương pháp thanh toán này gọi phương pháp chuỗi. Thông thường sử dụng phương pháp này khi việc thanh toán được thực hiện qua các ngân hàng trung gian giữ tài khoản của của ngân hàng gửi điện và ngân hàng trung gian của ngân hàng giữ tài khoản của người thụ hưởng. Tình huống 3: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho BIDV (SWIFT: BIDVVNVX) trích USD100,000.00 từ tài khoản thanh toán USD tại BIDV thực hiện thanh toán cho công ty China General Electrics có tài khoản 0246813579 tại Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Nội dung thanh toán cho hợp đồng 01/TMCGE, hai khách hàng thoả thuận chia sẽ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Bằng các chương trình hỗ trợ tìm kiếm tra cứu như: Bank Global, Chase Payment Path,…hoặc thông qua điều khoản thanh toán trong hợp đồng ngoại thương của các công ty, ta biết được BIDV và Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) có cùng mở tài khoản nostro tại Citibank, NewYork. Vì vậy, cơ chế thanh toán được thực hiện như sau: Đầu tiên BIDV thực hiện lập điện thanh toán MT103 gửi đến ngân hàng giữ tài khoản nostro Citibank, NewYork với đầy đủ các nội dung: - Người gửi tiền: - Ngân hàng giữ tài khoản của người hưởng lợi. - Tên và tài khoản đơn vị hưởng. - Số tiền chuyển. - Nội dung thanh toán. - Chi tiết phí. Căn cứ trên nội dung điện thanh tóan MT103 do BIDV gửi đến, ngân hàng Citibank, Newyork thực hiện việc thanh toán cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng phục vụ của họ là Bank of China có tài khoản nostro tại Citibank, Newyork bằng một điện chuyển tiền MT103 thứ 2 với nội dung giống điện chuyển tiền MT103 thứ nhất nhận từ BIDV nhưng có số tiền thông thường là nhỏ hơn (thông thường các

- 43 -

ngân hàng đại lý giữ tài khoản nostro sẽ thu 10-15USD cho mỗi món thanh toán) và tùy thuộc vào nội dung chi tiết phí ở điện chuyển tiền MT103 thứ nhất. Nếu tất cả các điện thanh toán đều sử dụng đúng các định dạng và các code trong thanh toán thì quá trình chuyển điện và hạch toán có thể hoàn toàn thực hiện một cách tự động. Đối với các điện thanh toán không sử dụng đúng định dạng và dùng những code không mã hoá tự động thì điện thanh toán sẽ bị hệ thống chặn lại và công tác chuyển tiếp điện và hạch toán được thực hiện thủ công, vì vậy đối với các điện này thì các ngân hàng đại lý sẽ thu phí thanh toán cao hơn đối với các điện thực hiện thanh toán tự động ( xem phụ lục 1). Sơ đồ 3.3: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp chuỗi

Ordering Customer

TIMEX

Sender

BIDVVNVX First MT103

Receiver

Citibank, NewYork (CITIUS33) Second MT103

Acount with Institution

Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ)

Beneficiary Customer

China Genaral Electrics

- 44 -

Mối liên hệ giữa MT103 thứ nhất và MT103 thứ 2 MT103 (First) S R 20 23B 32A 50A 52A 57A 59A 70 71 MT103(Second) S R 20 23B 32A 50A 52A 59A 70 71A 71F 72/INS/ Ta cũng có thể sử dụng phương pháp chuỗi để thực hiện thanh toán cho tình huống 2 như sau: Sơ đồ 3.4: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp chuỗi Ordering Customer TIMEX

Sender

BIDVVNVX Firt MT103

Receiver

Bank of NewYork, NewYork Second MT103

Intermediary Institution

Citibank, NewYork Third MT103

Acount with Institution

Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ)

Beneficiary Customer

China Genaral Electric

- 45 -

3.1.5 Các rủi ro trong thực hiện phương thức chuyển tiền tại BIDV: - Rủi ro do thực hiện sai chỉ dẫn của ngưòi chuyển tiền: BIDV nhận được một chỉ dẫn thanh toán chuyển 500,000 EUR cho người thụ hưởng mở tài khoản tại ngân hàng BNP Parisbas ở Paris. Tuy nhiên, khi thực hiện lệnh chuyển tiền, do sơ suất trong việc kiểm tra ngân hàng giữ tài khoản, cán bộ thanh toán đã chuyển nhầm số tiền trên cho ngân hàng Banque de Paris tại Paris. 3 ngày sau, người chuyển tiền thông báo cho ngân hàng là người thụ hưởng vẫn chưa nhận được tiền thanh toán và đề nghị tra soát. Kiểm tra lại hồ sơ, phát hiện ra sự nhầm lẫn nói trên, BIDV ngay lập tức yêu cầu ngân hàng Banque de Paris trả lại khoản tiền chuyển nhầm, đồng thời tạm thời sử dụng tiền của ngân hàng để trả cho người thụ hưởng theo đúng chỉ dẫn. Phải mất một tuần, sau rất nhiều điện yêu cầu, Banque de Paris mới trả lại khoản tiền chuyển nhầm của BIDV sau khi đã trừ 100EUR phí dịch vụ. Chỉ do sơ suất trong khi thực hiện chỉ dẫn thanh toán, BIDV đã phải chịu rủi ro lớn khi phải trả những chi phí phát sinh do việc trả nhầm và gây mất uy tín đối với khách hàng. - Rủi ro do vi phạm các lệnh cấm vận của Mỹ: theo lệnh cấm vận của Mỹ, mọi khoản thanh toán bằng đồng USD qua hệ thống thanh toán bù trừ tại Mỹ cho những người hưởng có tên nằm trong danh sách cấm vận đều bị phong toả tại Mỹ. BIDV khi thực hiện lệnh thanh toán số tiền USD13,000 theo đề nghị của khách hàng trong nước cho 13 người du lịch thăm dò thị trường Cuba đã gặp sơ suất khi nêu tên Cuba trong lệnh thanh toán. Giao dịch trên khi được thực hiện bù trừ tại Mỹ thông qua ngân hàng đại lý American Express Bank, New York đã bị phong toả vì hệ thống điện tử phát hiện ra từ “Cuba”, là một nước bị Mỹ cấm vận. Mặc dù BIDV đã rất cố gắng liên hệ với các đối tác để tìm cách giải phóng số tiền bị phong toả, nhưng đều bị từ chối. Số tiền trên sẽ chỉ được trả lại cho BIDV khi Cuba không còn bị lệnh trừng phạt cấm vận của Mỹ. 3.2 PHƯƠNG THỨC NHỜ THU 3.2.1 Khái niệm: Người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng gửi hối phiếu và/hoặc chứng từ nhờ thu hộ tiền từ người nhập khẩu. Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ tiền, không có nghĩa vụ cam kết trả tiền. Việc nhờ thu có thể được thực

- 46 -

hiện trên cơ sở hối phiếu (nhờ thu trơn-Clean Collection) hoặc bộ chứng từ (nhờ thu kèm chứng từ-Documentary Collection). Giống như phương thức chuyển tiền, do chỉ đóng vai trò trung gian nên ngân hàng có thể gặp phải rủi ro khi không thực hiện đúng chỉ dẫn của các bên liên quan. Ngân hàng gửi nhờ thu (Remitting Bank) khi nhận chứng từ nhờ thu của nhà xuất khẩu có trách nhiệm kiểm tra kỹ chỉ dẫn nhờ thu: D/P – trả ngay hay D/A - trả chậm, người trả tiền, ngân hàng nhờ thu… Nếu thực hiện sai chỉ dẫn của khách hàng, gửi bộ chứng từ không đúng địa chỉ, không đòi được tiền, hoặc làm thất lạc chứng từ của khách hàng trong quá trình xử lý nghiệp vụ, ngân hàng nhờ thu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người xuất khẩu. Trong phương thức nhờ thu, khách hàng muốn thông qua ngân hàng để ràng buộc việc nhận hàng với nghĩa vụ thanh toán của người nhập khẩu. Ngân hàng nhờ thu được chỉ dẫn trả chứng từ nếu người nhập khẩu thanh toán bộ chứng từ D/P hoặc chấp nhận thanh toán bộ chứng từ D/A. Ngân hàng nhờ thu có thể gặp rủi ro nếu không đọc kỹ chỉ dẫn của bộ chứng từ nhờ thu, trả chứng từ khi chưa yêu cầu nhà nhập khẩu nộp tiền để thanh toán bộ chứng từ D/P, hoặc thực hiện thanh toán không đúng chỉ dẫn thanh toán (Payment Instruction) của ngân hàng nhờ thu, dẫn đến thất lạc hoặc chậm trễ trong việc chuyển trả tiền. 3.2.2 Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu và các điện SWIFT được sử dụng Đặc điểm của các điện trong giao dịch nhờ thu là tất cả các điện đều bắt đầu bằng số 4(MT 4XX) (xem phụ lục 4), tùy theo từng mục đích sử dụng khác nhau mà 2 ký tự theo sau là khác nhau. Ví dụ: điện thông báo thanh toán MT400, thông báo chấp nhận bộ chứng từ D/A và xác định ngày thanh toán MT412, thông báo nhận được bộ chứng từ nhờ thu MT410, tra soát hỏi tình trạng bộ chứng từ MT420….. Căn cứ bộ chứng từ và yêu cầu nhờ thu của nhà xuất khẩu ngân hàng gửi nhờ thu (Remitting Bank) tiến hành lập chỉ thị nhờ thu, chỉ dẫn thanh toán cùng bộ chứng từ gửi đến ngân hàng nhờ thu (Collecting Bank). Khi nhận được bộ chứng từ gửi nhờ thu: ngân hàng nhờ thu lập điện SWIFT MT410/499 hoặc MT999 có mã khoá testkey xác nhận đã nhận bộ chứng từ, đồng thời tiến hành liên hệ với nhà nhập khẩu: Trường hợp khách hàng không chấp nhận bộ chứng từ :

- 47 -

+ Ngân hàng nhờ thu lập điện MT499 hoặc MT999 với mã khoá testkey thông báo cho ngân hàng gửi nhờ thu về tình trạng bộ chứng từ và chờ chỉ dẫn tiếp theo của ngân hàng gửi nhờ thu. + Thực hiện xử lý bộ chứng từ theo chỉ dẫn mới từ ngân hàng gửi nhờ thu. Trường hợp khách hàng chấp nhận một phần giá trị bộ chứng từ: + Ngân hàng nhờ thu lập điện SWIFT MT499 hoặc MT999 có mã khoá testkey thông báo đến ngân hàng gửi nhờ thu. + Nếu ngân hàng gửi nhờ thu không chấp nhận, ngân hàng nhờ thu thực hiện theo chỉ dẫn từ ngân hàng gửi nhờ thu. + Nếu ngân hàng gửi nhờ thu chấp nhận, tiến hành thông báo cho nhà nhập khẩu và thực hiện nhờ thu như trường hợp khách hàng chấp nhận bộ chứng từ. Trường hợp khách hàng chấp nhận thanh toán bộ chứng từ: + D/P (Documentary Against Payment)-nhờ thu trả ngay: Khi có đủ tiền thanh toán (tiền gửi và/hoặc tiền vay), ngân hàng nhờ thu trả chứng từ cho khách hàng, ký hậu vận đơn (nếu có) và giao chứng từ cho khách hàng. Thực hiện thanh toán nhờ thu: ngân hàng nhờ thu tiến hành lập điện thanh toán MT202 đến ngân hàng giữ tài khoản nostro yêu cầu trích tài khoản của mình thực hiện thanh toán theo chỉ dẫn cho ngân hàng hàng gửi nhờ thu, đồng thời lập điện thông báo thanh toán nhờ thu MT400/499 hoặc 999 trực tiếp đến ngân hàng gửi nhờ thu. + D/A (Documentary Against Acceptance) - nhờ thu trả chậm: Yêu cầu nhà nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu và cam kết thanh toán bộ chứng từ nhờ thu khi đến hạn. Lập điện SWIFT MT412/499 hoặc MT999 với mã khoá testkey gửi đến ngân hàng gửi nhờ thu thông báo cho họ biết ngày thanh toán và số tiền chấp nhận thanh toán. Ngân hàng nhờ thu trả chứng từ cho khách hàng, ký hậu vận đơn (nếu có) và giao chứng từ cho khách hàng.

- 48 -

Khi đến hạn thanh toán ngân hàng nhờ thu tiến hành như trong trường hợp thanh toán nhờ thu trả ngay D/P Khi nhận được thông báo thanh toán nhờ thu thông qua điện SWIFT MT400/499 hoặc 999 từ ngân hàng nhờ thu, ngân hàng gửi nhờ thu theo dõi khoản báo có từ ngân hàng phục vụ nhờ thu MT202/MT910, khi nhận được báo có tiến hành ghi có tài khoản khách hàng. 3.2.3 Các vướng mắc thường gặp trong phương thức nhờ thu Tình huống thứ nhất: BIDV nhận được bộ chứng từ nhờ thu với chỉ dẫn là D/P 30 days after sight (giao chứng từ trên cơ sở thanh toán 30 ngày sau ngày nhận được chứng từ). Khi nhìn thấy cụm từ “30 days after sight”, cán bộ thực hiện đã không đọc kỹ “D/P”, cho rằng đây là bộ chứng từ trả chậm 30 ngày, nên đã xử lý như chứng từ D/A, nghĩa là chỉ yêu cầu khách hàng chấp nhận hối phiếu trả chậm và trả chứng từ. Đến thời hạn 30 ngày phải thanh toán, nhà nhập khẩu từ chối thanh toán vì hàng không đúng chất lượng quy định. Khi làm điện thông báo từ chối gửi tới ngân hàng gửi chứng từ nhờ thu, BIDV đã nhận được điện phản hồi yêu cầu thanh toán vì đó là chứng từ D/P. Do không thực hiện đúng chỉ dẫn nhờ thu, BIDV đã bị rủi ro khi phải trích tiền của ngân hàng để thanh toán thay cho nhà nhập khẩu. Việc đòi lại tiền từ nhà nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn, tốn thời gian và chi phí. Tình huống thứ hai: BIDV nhận được bộ chứng từ nhờ thu với chỉ dẫn là D/A against the collecting bank’s consent (giao chứng từ trên cơ sở chấp nhận hối phiếu trả chậm có ràng buộc cam kết của ngân hàng nhờ thu). Theo chỉ dẫn trên, BIDV không chỉ có nghĩa vụ yêu cầu nhà nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu trả chậm mà còn có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng gửi nhờ thu vào ngày đến hạn. Do không hiểu hết yêu cầu của chỉ dẫn trên, cán bộ nghiệp vụ đã không yêu cầu khách hàng cam kết nộp tiền vào tài khoản thanh toán khi đến hạn mà chỉ đề nghị họ chấp nhận hối phiếu trả chậm như những bộ chứng từ D/A thông thường. Vào ngày đến hạn, nhà nhập khẩu không chịu nộp tiền vào tài khoản để thanh toán còn ngân hàng nước ngoài liên tục đề nghị BIDV trả tiền bộ chứng từ nhờ thu. Để giữ uy tín, BIDV phải đứng ra thanh toán thay bằng tiền của mình.

- 49 -

Sơ đồ 3.5: SƠ ĐỒ THANH TOÁN NHỜ THU Nhà xuất khẩu (Drawer)
(10)Báo có khách hàng (2) Gửi hối phiếu và/hoặc bộ chứng từ (1) Giao hàng

Nhà nhập khẩu (Drawee)
(4) T/báo hối phiếu và/hoặc bộ chứng từ

(3) Gửi hối phiếu và/hoặc bộ chứng từ kèm chỉ dẫn thanh toán (4’) Xác nhận đã nhận được bộ chứng từ MT410/499/999 (7’) Điện thông báo thanh toán nhờ thu MT400/499/999 (hoặc MT412) (7) Chuyển tiền thanh toán- MT202

NH Gửi nhờ thu (Remiting Bank)
(9) Điện báo có - MT910/202

NH Nhờ thu (Collecting Bank)

(6) Giao chứng từ

(5) Chấp nhận và/hoặc nộp tiền

- 42 -

NH phục vụ NH gửi nhờ thu (Correspondent of Remiting bank)

(8) Chuyển tiền

NH phục vụ NH nhờ thu (Correspondent of Collecting Bank)

- 50 -

3.3 PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 3.3.1 Khái niệm Phương thức tín dụng chứng từ là sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người thụ hưởng thư tín dụng (nhà xuất khẩu) sẽ trả tiền (L/C trả ngay) hoặc trả vào một thời điểm xác định trong tương lai (L/C trả chậm) tối đa tới một số tiền nếu người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C. Đây là sự đảm bảo quan trọng để nhà xuất khẩu yên tâm giao hàng. Trong phương thức này, ngân hàng phát hành đóng vai trò là người cam kết trả tiền cho người hưởng lợi của L/C. Ngoài nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, trong phương thức tín dụng chứng từ còn có vai trò của các ngân hàng gồm: ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng chiết khấu và ngân hàng xác nhận... Mỗi ngân hàng liên quan có những trách nhiệm nhất định (được quy định trong Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của Phòng thương mại Quốc tế UCP 500). 3.3.2 Sử dụng các mẫu điện liên quan phát hành và thông báo L/C 3.3.2.1 Đối với ngân hàng phát hành L/C Ngân hàng phát hành căn cứ trên đơn đề nghị mở thư tín dụng của người nhập khẩu, nếu chấp nhận phát hành ngân hàng có thể lựa chọn phát hành tín dụng thư bằng thư, telex hoặc phát hành thông qua các mẫu điện chuẩn được gửi thông qua hệ thống SWIFT. Ngày nay, có rất ít ngân hàng sử dụng phương pháp phát hành bằng thư do nhiều nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân chính sau: Thời gian từ khi thư tín dụng được phát hành đến ngân hàng thông báo và sau cùng là người thụ huởng trên thư tín dụng là khá lâu và chậm trễ. Khó khăn cho ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật của thư tín dụng khi phải kiểm tra chữ ký. Các giao dịch phát sinh liên quan thư tín dụng được xử lý rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Chí phí cao. Tính chuẩn mực không cao.

- 51 -

Vì vậy, phương pháp phát hành tín dụng thư bằng telex và SWIFT thường được các ngân hàng áp dụng, trong đó phát hành thông qua hệ thống SWIFT chiếm đa số. Sự lựa chọn phát hành bằng phương pháp telex or SWIFT tùy thuộc vào mối quan hệ đại lý được thiết lập giữa ngân hàng phát hành với các ngân hàng khác tại các quốc gia khác nhau trên thế giới. Nếu ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo có quan hệ SWIFTCODE thì chắc chắn họ sẽ sử dụng phát hành bằng SWIFT. Một ngân hàng thiết lập được quan hệ với nhiều ngân hàng đại lý tại khắp các quốc gia trên thế giới có cơ hội sử dụng điện SWIFT trong phát hành tín dụng thư chiếm tỷ trọng xấp xỉ 100%. Khi ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo không có quan hệ đại lý (không thiết lập SWIFTCODE) thì thông thường họ sử dụng phương pháp phát hành bằng telex. Phương pháp này cũng rất phức tạp, trong mọi giao dịch đòi hỏi đều phải tính và kiểm ký hiệu mật “testkey” thông qua 2 ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo, việc tính và kiểm tra testkey thông thường do phòng quan hệ quốc tế hoặc phòng ngân hàng đại lý đảm nhận. Lợi ích của việc sử dụng điện SWIFT trong phát hành thư tín dụng khắc phục được các nhược điểm của 2 phương pháp phát hành bằng thư và telex, thêm vào đó việc phát hành tín dụng thư thông qua SWIFT thì các yếu tố các trường được chuẩn hoá dễ sử dụng và ít sai sót. Về nguyên tắc, một thư tín dụng được phát hành thông qua hệ thống SWIFT từ ngân hàng phát hành gửi (Sender) đến ngân hàng nhận điện (Receiver)-ngân hàng thông báo nào, thì mọi giao dịch sửa đổi liên quan đến thư tín dụng đã được phát hành phải được ngân hàng phát hành gửi điện đến ngân hàng nhận điện-ngân hàng thông báo đó Điện SWIFT được sử dụng để phát hành thư tín dụng gồm có: MT700/701. Thông thường đối với những thư tín dụng được phát hành có nội dung giới hạn dưới 100 dòng thì chỉ cần một điện MT700 là đủ, tuy nhiên đối với những thư tín dụng có nội dung lớn và dài trên 100 dòng thì ngoài điện MT700 thì hệ thống có thể phát sinh ra thêm tối đa 3 điện MT701 đi kèm là một bộ phận không thể tách rời của điện MT700.

- 52 -

Đặc điểm của điện MT700/701 - Trừ khi có những qui định khác, thư tín dụng được phát hành tuân thủ Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành và có hiệu lực khi tín dụng thư được phát hành. Ngân hàng thông báo (Advising Bank)- Ngân hàng nhận điện (Receiver) phải thông báo đến người thụ hưởng hay một ngân hàng thông báo khác khi tín dụng thư được phát hành dựa vào Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành. Tuy nhiên, điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là điện phát hành thư tín dụng MT700/701 không chỉ ra là nó áp dụng ấn phẩm sửa đổi nào của Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ - UCP, do cả 5 ấn phẩm sửa đổi này cùng tồn tại và không phủ định lẫn nhau, vì vậy để tránh tranh chấp phát sinh thì ngân hàng phát hành nên chỉ rõ ấn phẩm nào của Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ - UCP do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành được áp dụng, thông thường nội dung này được ghi ở trường 72 của điện MT700. - Trừ khi có những qui định khác, việc hoàn trả tín dụng thư nếu được áp dụng tuân thủ Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng (Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement Under Documentaty Credit – URR 525) do Phòng thương mại quốc tế ban hành năm 1995. Quy tắc này quy định về cách thức áp dụng hoàn trả theo tín dụng chứng từ, nghĩa vụ và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia, hình thức và ghi chú về uỷ quyền hoàn trả, sửa đổi uỷ quyền hoàn trả, yêu cầu hoàn trả và các cam kết hoàn trả…. - Trừ khi có những qui định khác, một tín dụng thư được thông báo đến người thụ hưởng hay qua một ngân hàng thông báo khác bằng điện SWIFT thì có giá trị hiệu lực và xác thực. Đối với các giao dịch liên quan đến thư tín dụng, khi sử dụng các mẫu điện chuẩn SWIFT đều có mã bắt đầu bằng số 7(7XX) (phụ lục 5), khi nhận được các điện này từ hệ thống SWIFT thì mặc nhiên là nó xác thực và có hiệu lực thi hành. Tuỳ theo nội dung giao dịch mà 2 ký tự theo sau sẽ được ngân hàng lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ: MT707 - là điện tu chỉnh thư tín dụng, MT756 - điện thông báo thanh toán…. Tình huống 4: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) đề nghị BIDV (SWIFT: BIDVVNVX) phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là Sahathai

- 53 -

Co.,Thailand có tài khoản tại Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand (SWIFT: KASITHBK) để nhập khẩu giấy Sackraft theo hợp đồng ngoại thương đã ký. Nếu chấp nhận phát hành, BIDV sẽ tiến hành chuyển tiếp những nội dung trong đơn đề nghị mở thư tín dụng vào trong nội dung điện SWIFT MT700/701 và lựa chọn ngân hàng hàng thực hiện thông báo. - Trường hợp nếu BIDV và Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand có thiết lập quan hệ SWIFTCODE thì điện phát hành thư tín dụng MT700/701 sẽ được BIDV gửi trực tiếp đến Kasikorn Public Bank, Thailand ngân hàng nhận điện (Receiver) - cũng chính là ngân hàng thông báo phục vụ người thụ hưởng Sahathai Co., Thailand. Sơ đồ 3.6:Sơ đồ phát hành thư tín dụng có quan hệ SWIFTCODE

Applicant

TIMEX

Sender (Issuing Bank)

BIDVVNVX MT700 (MT707)

Receiver (Advising bank)

Kasikorn Public Bank, Thailand (KASITHBK)

Beneficiary

59

Sahathai Co.,Thailand

Trường hợp nếu BIDV và Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand không có thiết lập quan hệ SWIFTCODE thì điện phát hành thư tín dụng MT700/701 sẽ được BIDV gửi trực tiếp đến một ngân hàng khác tại Thái lan có quan hệ SWIFTCODE với mình như Citibank, Bangkok, Thailand (cùng thành phố với Kasikorn Public Bank, Thailand - nếu có thể), và kèm theo trong nội dung điện

- 54 -

MT700/701 tại trường 57A(D): Advise through Bank (thông báo qua ngân hàng) Kasikorn Public Bank, Thailand. Khi nhận được điện MT700/701 này Ngân hàng Citibank, Bangkok, Thailand thực hiện thông báo L/C đến Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand hoặc có thể thông báo trực tiếp thư tín dụng này đến người thụ hưởng. Sơ đồ 3.7:Sơ đồ phát hành thư tín dụng không có quan hệ SWIFTCODE

Applicant

TIMEX

Sender (Issuing Bank)

BIDVVNVX MT700 (MT707)

Receiver (Advising bank)

Citibank, Bangkok, Thailand (CITITHBK)

Advise Through Bank

Kasikorn Public Bank, Thailand (KASITHBK)

Beneficiary

59

Sahathai Co., Thailand

Khi phát hành một sửa đổi thư tín dụng MT707 đòi hỏi ngân hàng phát hành phải tuân thủ nguyên tắc điện MT700/701 được gửi đến ngân hàng nhận (Receiver)ngân hàng thông báo (Advising Bank) nào, thì mọi sửa đổi phải được gửi đến ngân hàng ngân hàng nhận (Receiver)-ngân hàng thông báo (Advising Bank) đó. 3.3.2.2 Đối với ngân hàng thông báo L/C

- 55 -

Ngân hàng thông báo L/C có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng không chậm trễ theo chỉ dẫn của ngân hàng phát hành. Trong trường hợp quyết định không thông báo L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát hành không chậm trễ. Đây là một trách nhiệm rất quan trọng của ngân hàng thông báo. Thư tín dụng là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành. Dựa trên cam kết đó, nhà xuất khẩu tin tưởng giao hàng cho nhà nhập khẩu và lập bộ chứng từ đòi tiền ngân hàng phát hành. Nếu thư tín dụng là giả mạo, thì ngân hàng phát hành hoàn toàn không bị ràng buộc vào cam kết này và nhà xuất khẩu không thể đòi tiền từ ngân hàng phát hành. Có 3 hình thức giả mạo thư tín dụng: (i) ngân hàng phát hành không có thực, (ii) Ngân hàng phát hành có thực nhưng thư tín dụng giả mạo, (iii) Thư tín dụng là có thực nhưng sửa đổi giả mạo. Trong bất kỳ hình thức giả mạo nào, cam kết của ngân hàng phát hành đều không có hiệu lực, và rủi ro đối với nhà xuất khẩu chắc chắn xảy ra nếu không phát hiện kịp thời. Chính vì vậy, bằng các nghiệp vụ của mình, ngân hàng thông báo phải có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng để tránh sự giả mạo. Ngân hàng có thể kiểm tra tính chân thật thông qua chữ ký trên thư tín dụng (kiểm tra chữ ký uỷ quyền nếu phát hành bằng thư), bằng mã khoá (testkey nếu phát hành bằng telex…) hoặc bằng các mẫu điện đảm bảo tính xác thực (nếu phát hành bằng SWIFT với các mẫu điện MT700, MT710, MT720…). Nếu ngân hàng đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không thể xác định được tính chân thật bề ngoài của L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát hành và từ chối thông báo cho người thụ hưởng. Nếu ngân hàng không kiểm tra tính xác thực của L/C đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng không đòi được tiền do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu ngân hàng thông báo phải bồi thường. Rủi ro của ngân hàng thông báo lúc này không chỉ cho chính lô hàng bị mất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng trong hoạt động TTQT. Năm 1997, BIDV nhận được một thư tín dụng trị giá USD1,957,800 phát hành bằng telex từ một ngân hàng ở Mỹ cho người hưởng lợi là Công ty xuất nhập khẩu Kiên giang, nhập khẩu gạo. Bức điện có mã khóa (testkey) với ngân hàng Bank of New York, Hongkong. Tuy nhiên, ngân hàng này thông báo là không cung cấp số

- 56 -

testkey đó và đề nghị BIDV xác nhận lại với ngân hàng phát hành. Khách hàng trong nước đã chuẩn bị đủ hàng ở cảng, đang rất cần L/C để chờ xếp xuống tàu nên thúc giục BIDV thông báo L/C. Do không kiểm tra được tính chân thực bề ngoài của bức điện, BIDV đã kiên quyết từ chối thông báo L/C. Sau khi tìm hiểu, khách hàng phát hiện người nhập khẩu là kẻ lừa đảo và rất may là họ chưa giao hàng. Đây là một bài học kinh nghiệm trong việc kiểm tra tính chân thật bên ngoài của L/C và sửa đổi L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng, nó cũng cho thấy rủi ro khi phát hành thư tín dụng bằng telex. Khi nhận được một thư tín dụng được phát hành thông qua hệ thống SWIFT MT700/701 hoặc MT710/711 (Advise of Third’s Documentary Credit - thông báo đến ngân hàng thứ 3 của thư tín dụng hoặc MT720/721 (Transfer of Documentary Credit -chuyển nhượng tín dụng thư) thì mặc nhiên thư tín dụng này có tính xác thực. Ngoài việc thông báo đến người thụ hưởng hoặc ngân hàng thông báo được chỉ định Trong thư tín dụng, ngân hàng thông báo có trách nhiệm thông báo đến ngân hàng phát hành một xác nhận đã nhận được thư tín dụng, hoặc thông báo chấp nhận hay từ chối một sửa đổi tín dụng thư bằng điện MT730 (Acknowledgement) hoặc điện MT799. Sơ đồ 3.8: Sơ đồ xác nhận đã nhận thư tín dụng

Sender (Issuing Bank) (MT730/799)

BIDVVNVX MT700 (MT707)

Receiver (Advising bank)

Kasikorn Public Bank, Thailand (KASITHBK)

3.3.3 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến chứng từ xuất trình có bất đồng Ngân hàng chiết khấu/thương lượng là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình. Ngân hàng chiết khấu/thương lượng có thể được ngân hàng phát hành chỉ định trong

- 57 -

L/C hoặc do chính người thụ hưởng lựa chọn. Bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có thể rơi vào 1 trong 2 tình huống sau. - Thứ nhất: bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp. Trong trường hợp này Ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành đòi tiền ngân hàng phát hành/xác nhận bằng cách gửi bộ chứng từ đã được xuất trình phù hợp với điều khoản và điều kiện của thư tín dụng kèm theo chỉ dẫn thanh toán (Payment Instruction) đến ngân hàng phát hành/xác nhận. - Thứ hai: bộ chứng từ có bất đồng. Ngân hàng chiết khấu/thương lượng đề nghị nhà xuất khẩu tu chỉnh chứng từ (nếu có thể được) và còn trong thời hạn xuất trình và hiệu lực của thư tín dụng. Nếu bộ chứng từ được tu chỉnh phù hợp với điều khoản và điều kiện của thư tín dụng và còn trong thời hạn xuất trình thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ, tiến hành đòi hoàn trả bằng cách gửi bộ chứng từ hoàn hảo đến ngân hàng phát hành/xác nhận. Nếu bộ chứng từ xuất trình không thể sữa chữa những bất đồng thì nhà xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàng chiết khấu/thương lượng hỏi ý kiến ngân hàng phát hành có chấp nhận bất đồng hay không. Ngay khi nhận được yêu cầu của nhà xuất khẩu ngân hàng chiết khấu/thương lượng có trách nhiệm tiến hành liên hệ với ngân hàng phát hành. Trước tiên ngân hàng chiết khấu/thương lượng kiểm tra xem nếu không có quan hệ SWIFTCODE với ngân hàng phát hành thì tiến hành tính ký hiệu mật testkey thông qua ngân hàng đại lý sau đó tiến hành giao dịch bằng khoá testkey đã được thiết lập trong các điện tự do hoặc telex, phương pháp này mất khá nhiều thời gian và giao dịch rất phức tạp. Đối với các ngân hàng lớn có mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp thì mọi giao dịch đều được thực hiện nhanh chóng thông qua hệ thống SWIFT. Trong trường hợp này, ngân hàng chiết khấu/thương lượng có thể lựa chọn ngay mẫu điện SWIFT- thông báo bộ chứng từ xuất trình có bất đồng yêu cầu chấp nhận hay từ chối bất đồng bằng điện MT750 (Advice of Discrepancy) và gửi trực tiếp đến ngân hàng phát hành. Khi nhận được điện thông báo bộ chứng từ xuất trình xuất trình có bất đồng MT750 từ ngân hàng chiết khấu/thương lượng, ngân hàng phát hành có trách nhiệm liên hệ nhà nhập khẩu hỏi ý kiến của họ có chấp nhận bất đồng hay không?. Nếu nhà nhập khẩu từ chối bộ chứng từ có bất đồng, ngân hàng

- 58 -

phát hành tiến hành lập điện SWIFT từ chối bất đồng MT734 (Advice of Refusal) đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng, nếu nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ có bất đồng ngân hàng phát hành tiến hành lập điện SWIFT thông báo bất đồng đã được chấp nhận MT732(Advice of Discharge)/MT799 đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng. Trong trường hợp ngân hàng chiết khấu/thương lượng nhận được điện MT732 (Advice of Discharge - chấp nhận bất đồng từ ngân hàng phát hành) thì tiến hành gửi bộ chứng từ đòi hoàn trả. Ngược lại, nếu nhận được MT734 (từ chối bất đồng) thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng thông báo ngay cho người thụ hưởng biết để tiến hành đàm phán với nhà nhập khẩu, có thể chuyển sang hình thức nhờ thu để đòi tiền. Đối với những điện SWIFT trên, ta chỉ cần nhìn vào đầu điện (loại điện) là có thể biết ý nghĩa và nội dung bức điện. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn thể sử dụng mẫu điện MT799 trong các giao dịch liên quan đến thư tín dụng, đối với mẫu điện này ngân hàng nhận điện chỉ có thể biết được nội dung bức điện khi đọc nội dung của nó, nhưng các ngân hàng có thể sử dụng MT799 trong việc giải thích chi tiết lập trường quan điểm của mình đối với giao dịch liên quan. Ví dụ: nếu điện MT 799 có nội dung từ chối bất đồng nó cũng tương đương điện MT734… Ta nhận thấy các giao dịch liên quan đến việc xử lý các bất đồng được thực hiện qua hệ thống SWIFT giữa các ngân hàng có liên quan rất an toàn, nhanh chóng và tiện lợi, nếu không có hệ thống này thì việc trao đổi thông tin rất khó khăn và không có chứng cứ pháp lý hoặc chứng cứ không rõ ràng khi xảy ra tranh chấp. Việc xác lập các điện giao dịch được hệ thống ghi nhận và mã hoá và xác định trạng thái của từng bức điện được giao dịch. Các ngân hàng phải chịu trách nhiệm về nội dung bức điện mà mình lập ra và được hệ thống SWIFT xác nhận là đã được xác lập.

Sơ đồ 3.9: Sơ đồ giao dịch liên quan đến chứng từ có bất đồng

- 59 -

Applicant (3) (Issuing Bank) (5) MT732/734/799 (MT750/799) (2) (4) Reply

Advising bank/ Negotiating Bank (1) Docs. with disrepancies Beneficiary

3.3.4 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến hoàn trả giữa các ngân hàng. 3.3.4.1 Thực hiện thanh toán thông thường đối với thư tín dụng không cho phép đòi tiền điện. Ngân hàng phát hành sau khi tiến hành kiểm tra bộ chứng từ xuất trình sẽ thực hiện thanh toán trên nguyên tắc: thực hiện thanh toán ngay đối với thư tín dụng trả ngay, thực hiện chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm khi hội đủ các điều kiện sau: Chứng từ hoàn hảo hoặc khách hàng chấp nhận bằng văn bản đối với bộ chứng từ có bất đồng. Có đủ tiền trên tài khoản ký qũy của khách hàng cho khoản thanh toán ngay, hoặc khách hàng ký kỳ hạn nợ đối với các khoản thanh toán trả chậm.

- 60 -

-

Trong trường hợp khách hàng không có đủ tiền thanh toán, thông báo cho phòng quản lý khách hàng (tín dụng) thực hiện cho vay bắt buộc để thanh toán thư tín dụng.

Phòng TTQT tiến hành thanh toán cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng theo chỉ dẫn thanh toán (Cover Sheet, Payment Instruction). Nếu chỉ dẫn không rõ ràng, tiến hành lập điện SWIFT MT799 hoặc MT999 có mã khoá yêu cầu ngân hàng chiết khấu/thương lượng xác nhận lại chỉ dẫn thanh toán hoặc thay bằng chỉ dẫn thanh toán mới. Sau khi nhận được điện xác nhận hoặc thay thế chỉ dẫn thanh toán bằng điện SWIFT có xác thực, ngân hàng phát hành thư tín dụng tiến hành thực hiện lập điện thanh toán MT202 gửi đến ngân hàng giữ tài khoản nostro yêu cầu trích tài khoản của mình chi trả cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng theo chỉ dẫn và đồng thời lập điện thông báo thanh toán MT756/799/999 gửi trực tiếp đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng. Khi nhận được điện thông báo thanh toán từ ngân hàng phát hành (thông thường đến trước điện báo có hoặc điện thanh toán), ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành theo dõi điện SWIFT báo có MT910/950 hoặc điện thanh toán MT202 được gửi từ ngân hàng giữ tài khoản nostro của ngân hàng phát hành được thể hiện trong nội dung của điện thông báo. Sau khi nhận được điện báo có hoặc điện thanh toán, ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành ghi có tài khoản khách hàng. Trong trường hợp thanh toán đối với thư tín dụng trả chậm thực hiện theo nguyên tắc chung, khi bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp hoặc khách hàng đã chấp nhận bộ chứng từ có bất đồng để được nhận hàng và ký chấp nhận trên thông báo kỳ hạn nợ theo thư tín dụng trả chậm. Ngân hàng phát hành tiến hành lập điện SWIFT MT799, MT756 hoặc MT999/telex có mã khoá testkey, thông báo cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng về việc ngân hàng phát hành đã chấp nhận thanh toán và giải tỏa bộ chứng từ, nội dung bức điện ghi rõ số tiền và ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn thanh toán tiến hành thanh toán như đối với thư tín dụng trả ngay trả ngay.

- 61 Sơ đồ 3.10: SƠ ĐỒ THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG (Trường hợp không chỉ ra ngân hàng hoàn trả và/hoặc không cho phép đòi tiền điện)
Giao hàng (5) (5a)

Nhà nhập khẩu (Applicant)
Đề nghị tu chỉnh L/C Đơn xin mở L/C

Đề nghị tu chỉnh L/C

Ký Hợp đồng ngoại thương
Thông báo L/C

Nhà xuất khẩu (Beneficiary)
T/b tu chỉnh L/C

(1) (5b)

(4)

(5e)

Xuất trình bộ chứng từ

Báo có khách hàng

(3’) X/n đã nhận L/C-MT730 (2) Phát hành L/C MT700/701 (5c) Tu chỉnh L/C MT707

(4’) X/n đã nhận L/C-MT730

NH Phát hành (Issuing Bank)

NH Thông báo (Advising Bank)

(3) T/báo L/C 710/711 (5d) Tu chỉnh L/C MT707

NH Thông báo (Advising Bank)

(6)

(11)

- 54 -

(7a) Điện hỏi bất đồng có chấp nhận được không-MT750 (7b) Điện trả lời chấp nhận bất đồng-MT752 (7) Gửi chứng từ (8a) Thông báo bất đồng - MT734 (8’) Thông báo hoàn trả - MT756

NH Chiết khấu/thương lượng (Negotiating/Claiming Bank)
(10) Báo có -MT910

(8) Điện thanh toán- MT202

NH phục vụ NH phát hành (Correspondent of Issuing Bank)

(9) Chuyển tiền

NH phục vụ NH đòi tiền (Correspondent of Claiming Bank)

- 62 -

3.3.4.2 Thực hiện thanh toán trường hợp thư tín dụng cho phép đòi tiền điện và tự động ghi nợ tài khoản nostro. Các thư tín dụng có xác nhận nội dung trường 49 ghi: “Confirm”. Khi phát hành thư tín dụng có xác nhận thông thường ngân hàng phát hành lựa chọn một trong số các ngân hàng đại lý có quan hệ tốt để làm ngân hàng thông báo và xác nhận thư tín dụng, theo thông lệ thư tín dụng có xác nhận cho phép đòi tiền bằng điện, hoặc trong thư tín dụng có chỉ ra ngân hàng hoàn trả tại trường 53 (Reimbursing Bank) cũng chính là ngân hàng giữ tài khoản nostro của ngân hàng phát hành. Đối với các thư tín dụng loại này, ngân hàng phát hành yêu cầu ngân hàng đòi tiền phải xác nhận chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của thư tín dụng. Ngân hàng phát hành sau khi tiến hành gửi điện SWIFT MT700/701 phát hành thư tín dụng đến ngân hàng thông báo, đồng thời họ lập điện ủy quyền hoàn trả hoặc cho phép tự động ghi nợ tài khoản nostro bằng mẫu điện SWIFT MT740 (Authorisation to Reimburse)/MT799 hoặc điện tự do MT999/telex có mã khoá đến ngân hàng hoàn trả, yêu cầu nội dung điện ủy quyền phải dẫn chiếu “Subjected to Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement Under Documentaty Credit, ICC Publication No.525”. Sau khi đã ủy quyền hoàn trả, nếu thư tín dụng có sửa đổi giá trị và/hoặc gia hạn hiệu lực, ngân hàng phát hành lập điện sửa đổi ủy quyền hoản trả bằng điện SWIFT MT747 (Amendment to an Authorisation to Reimburse) tương úng cho phù hợp. Trong trường hợp thư tín dụng cho phép đòi tiền điện, ngân hàng chiết khấu/thương lượng sau khi kiểm tra bộ chứng từ xuất trình hoàn hảo, tiến hành lập điện SWIFT đòi hoàn trả MT742 (Reimbursement Claim) đến ngân hàng hoàn trả và điện đòi thanh toán MT754 (Advice of Payment/Acceptance/Negotiation) hoặc điện MT999/telex có mã khoá testkey đến ngân hàng phát hành nội dung của điện chỉ rõ bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của thư tín dụng và yêu cầu hoàn trả hiệu lực của thư tín dụng hoặc trong vòng 2-3 ngày làm việc kể từ ngày lập điện đòi tiền theo thông lệ quốc tế, đồng thời lập thư đòi tiền cùng bộ chứng từ gửi đến ngân hàng phát hành/xác nhận, trên thư đòi tiền có tham chiếu đến bức điện đòi tiền đã gửi để tránh thanh toán hoàn trả trùng lắp.

- 63 -

Ngân hàng phát hành/xác nhận tiến hành kiểm tra tính xác thực của điện đòi tiền và ghi nợ tài khoản nostro khi nhận được điện SWIFT báo nợ MT950 hoặc MT999 có mã khoá testkey từ ngân hàng ủy quyền hoàn trả. Thông thường trước khi chấp nhận phát hành thư tín dụng có điều khoản cho phép đòi tiền điện, ngân hàng phát hành đã phân loại đánh giá và phân loại doanh nghiệp chỉ phát hành đối với các doanh nghiệp ký qũy 100%, doanh nghiệp được xếp hạng tốt, doanh nghiệp đã ký hợp đồng tín dụng cho lô hàng nhập khẩu. Với thư tín dụng cho phép đòi tiền bằng điện, ngân hàng chiết khấu/thương lượng sẽ đối mặt với rủi ro nhiều nhất do nếu không phát hiện bộ chứng từ có bất đồng mà tiến hành đòi hoàn trả và ghi có tài khoản khách hàng, khi chứng từ được xuất trình tại ngân hàng phát hành nếu chứng từ có bất đồng thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng sẽ bị yêu cầu hoàn trả lại tiền cũng như phí phạt cho ngân hàng phát hành. Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu/thương lượng: BIDV Kiên Giang cũng đã gặp phải rủi ro khi kiểm tra không kỹ bộ chứng từ xuất khẩu gạo do Công ty Xuất nhập khẩu Kiên Giang xuất trình. Bộ chứng từ đó trị giá 2 triệu USD và được phép đòi tiền bằng điện. Do không phát hiện ra một lỗi bất đồng là Tờ khai hải quan (Customs Declaration) không được ghi chú bản chính (marked Original) như L/C quy định nên BIDV Kiên Giang đã đòi tiền từ ngân hàng hoàn trả và được thanh toán trong vòng 3 ngày làm việc. Tuy nhiên, sau khi được thanh toán 5 ngày, ngân hàng phát hành nhận được chứng từ đã phát hiện ra bất đồng nói trên và ngay lập tức yêu cầu BIDV hoàn trả lại tiền đợi chỉ dẫn từ nhà nhập khẩu, đồng thời yêu cầu BIDV trả 750USD tiền phạt. Ngay sau khi nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng hoàn trả, BIDV đã báo có cho khách hàng nên việc đòi lại tiền là vấn đề rất khó khăn và ảnh hưởng đến uy tín của BIDV. Sau khi làm việc với ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu, bộ chứng từ có bất đồng cuối cùng đã được chấp nhận và BIDV không phải trả lại khoản tiền đã được ghi có. Việc bị mất 750USD không chỉ là những thiệt hại về tài chính còn gây mất uy tín cho BIDV đối với khách hàng xuất khẩu trong nước. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành tín dụng thư: BIDV được yêu cầu mở thư tín dụng, xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín đối với nhà xuất khẩu. L/C cho phép ngân hàng xác nhận đồng thời là ngân hàng chiết khấu đòi tiền bằng điện từ một ngân hàng hoàn trả nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp tới ngân hàng xác

- 64 -

nhận. Việc thanh toán được thực hiện trước khi ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ đòi tiền. Khi nhận được chứng từ, BIDV kiểm tra và phát hiện có lỗi bất đồng là trên vận đơn đường biển không chỉ ra tên của người chuyên chở theo điều 23 UCP 500. Do hàng chưa về tới cảng nên khách hàng đã từ chối chấp nhận bất đồng. BIDV yêu cầu ngân hàng xác nhận trả lại tiền đã đòi từ ngân hàng hoàn trả nhưng sau hơn 1 tuần tài khoản của BIDV mới được ghi có lại. BIDV và nhà nhập khẩu đã bị thiệt hại do bị chiếm dụng vốn trong khoảng thời gian từ khi phải thanh toán cho đến khi đòi được tiền. Trong trường hợp tồi tệ hơn, ngân hàng xác nhận không chấp nhận những bất đồng do ngân hàng phát hành đưa ra và không chịu hoàn trả tiền. Khi đó, ngân hàng phát hành buộc phải kiện ra Phòng thương mại quốc tế (ICC) để giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp trong việc kiểm tra chứng từ thường là rất phức tạp, mất thời gian, và tốn kém. Nó phụ thuộc khá nhiều vào tương quan lực lượng giữa hai ngân hàng liên quan. Do vậy, cho dù có được phân xử là đúng thì ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu cũng phải mất rất nhiều thời gian, chi phí, mất cơ hội kinh doanh và đặc biệt là bị đọng vốn.

- 65 Sơ đồ 3.11: SƠ ĐỒ THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG (Trường hợp chỉ ra ngân hàng hoàn trả và/hoặc cho phép đòi tiền điện)
Giao hàng (5) (5a)

Nhà nhập khẩu (Applicant)
Đề nghị tu chỉnh L/C Đơn xin mở L/C

Đề nghị tu chỉnh L/C

Ký Hợp đồng ngoại thương
Thông báo L/C

Nhà xuất khẩu (Beneficiary)
T/b tu chỉnh L/C

(1) (5b)

(4)

(5e)

Xuất trình bộ chứng từ

Báo có khách hàng

(3’) X/n đã nhận L/C-MT730 (2) Phát hành L/C MT700/701 (5c) Tu chỉnh L/C MT707

(4’) X/n đã nhận L/C-MT730

NH Phát hành (Issuing Bank)

NH Thông báo (Advising Bank)

(3) T/báo L/C 710/711 (5d) Tu chỉnh L/C MT707

NH Thông báo (Advising Bank)

(6)

(10)

- 58 -

(7a) Điện hỏi bất đồng có chấp nhận được không-MT750 (7b) Điện trả lời chấp nhận bất đồng-MT752 (7’) Gửi chứng từ và điện thông báo đòi tiền- MT754 (7) Điện đòi hoàn trả –MT742

NH Chiết khấu/thương lượng (Negotiating/Claiming Bank)
(9) Báo có -MT910

(8’) Điện báo nợ –MT900 (5’) Sửa đổi ủy quyền hoàn trả- MT747 (2’) Điện ủy quyền hoàn trả- MT740

NH Hoàn trả (Reimbursing Bank)

(8) Chuyển tiền

NH phục vụ NH đòi tiền (Correspondent of Claiming Bank)

- 66 -

3.4 CÁC ĐIỆN SWIFT DÙNG TRONG TRA SOÁT Như chúng ta đã biết trong hoạt động thanh toán không thể tránh khỏi những sai sót, những vướng mắc. Nguyên nhân của những sai sót, vướng mắc này này có thể đến từ phía khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng do sai sót kỹ thuật, tác nghiệp… Vì vậy, việc thực hiện lập các điện tra soát là một bộ phận không thể tách rời trong hoạt động TTQT. Các mẫu điện tra soát thông qua hệ thống SWIFT được chuẩn hoá: 3.4.1 Phương thức chuyển tiền: Khi muốn tra soát hỏi về tình trạng một giao dịch mà mình đã thực hiện trước đó, hay các vướng mắc phát sinh, ngân hàng có thể lập các điện tra soát hỏi MT195/199, MT295/299 hoặc MT999/telex với mã khoá. Yêu cầu đối với điện tra soát hỏi này là phải tham chiếu đến số giao dịch trước đó và nội dung tra soát rõ ràng để ngân hàng nhận lệnh có thể tham chiếu đến giao dịch trước đó mà lập tra soát trả lời. Khi nhận được các điện tra soát hỏi thì ngân hàng nhận lệnh có trách nhiệm trả lời các yêu cầu thắc mắc với chỉ dẫn rõ ràng thông qua các điện SWIFT MT196/199, MT296/299 hoặc MT999/telex với mã khoá trong đó chỉ rõ số giao dịch tham chiếu của ngân hàng lập điện tra soát hỏi, đồng thời cũng tham chiếu đến số giao dịch mà của mình để thuận tiện trong tra soát. Tất cả các số tham chiếu của giao dịch trong các điện tra soát hỏi và tra soát trả lời đều thực hiện theo nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện. Theo quy định, đối với điện MT195/295 khi nhận được điện này thì ngân hàng nhận điện nhận biết ngay là điện tra soát hỏi và ngược lại đối với điện MT196/296 khi nhận được điện này thì ngân hàng nhận điện nhận biết ngay là điện tra soát trả lời. Riêng với điện MT199, MT999/telex thì phải đọc nội dung của bức điện thì ngân hàng nhận điện mới biết được nó là điện tra soát hỏi hay tra soát trả lời. 3.4.2 Phương thức nhờ thu: Trong phương thức nhờ thu: nếu muốn lập điện tra soát hỏi ta dùng điện MT420, khi thực hiện trả lời tra soát ta dùng điện MT422, tuy nhiên các giao dịch tra

- 67 -

soát hỏi và tra soát trả lời có thể được thực hiện thông qua điện MT499 hoặc MT999, tùy theo nội dung trong bức điện mà nó có nội dung tra soát hỏi, trả lời hay giải thích. Tương tự lập điện tra soát trong phương thức chuyển tiền, tất cả các số tham chiếu của giao dịch trong các điện tra soát hỏi và tra soát trả lời đều thực hiện theo nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện đển thuận tiện trong giao dịch. 3.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ: Ngoài các mẫu điện đã được trình bày ở 3.3 khi muốn tra soát hỏi, trả lời hay giải thích, các ngân hàng có thể lựa chọn bằng cách lập các điện SWIFT MT799 MT999/telex có mã khoá với nội dung mà mình muốn diễn đạt. Việc lập điện tuân thủ nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện đển thuận tiện trong giao dịch.

- 68 -

CHƯƠNG 4:

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TTQT TẠI BIDV ĐẾN 2010 Thực hiện định hướng phát triển chung các ngân hàng hiện đại, cũng như định hướng phát triển của toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh của BIDV đang chú trọng theo hướng mở rộng phát triển các hoạt động dich vụ. Thay đổi cơ cấu thu nhập mang lại từ hoạt động dịch vụ trong tổng lợi nhuận của ngành. TTQT là hoạt động giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động dịch vụ của BIDV. Do dó cũng cần đặt ra những định hướng và lộ trình phát triển nhất định. Đó là: Từ năm 2005 - 2006 - Cơ cấu lại tổ chức hoạt động TTQT theo mô hình tập trung hoá hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ, an toàn và tiết kiệm chi phí. - Mở rộng dịch vụ TTQT trong toàn hệ thống BIDV nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng trên mọi địa bàn. - Hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng nghiệp vụ TTQT trong toàn hệ thống, giữ gìn và củng cố uy tín của BIDV trên thị trường trong nước và quốc tế. - Đa dạng hoá các hoạt động TTQT, triển khai các sản phẩm thanh toán của ngân hàng hiện đại nhằm nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. - Củng cố và mở rộng quan hệ khách hàng, thu hút thêm khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế . - Phấn đấu năm 2005, doanh số TTQT của BIDV chiếm thị phần 10% trong doanh số TTQT của các ngân hàng thương mại. Từ năm 2006-2010: - Tiếp tục nâng cấp cải tiến công nghệ áp dụng phục vụ nghiệp vụ, nâng cao mức độ tự động hóa trong xử lý giao dịch. - Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT của BIDV, góp phần củng cố uy tín, năng lực cạnh tranh của BIDV với các ngân hàng trong và ngoài nước.

- 69 -

- Giữ vững và mở rộng thị phần TTQT, đẩy mạnh và nâng cao công tác quảng cáo, thông tin dịch vụ cung cấp tới các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp trong xã hội. - Nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc củng cố các sản phẩm truyền thống, phát triển các sản phẩm mới cung cấp cho khách hàng như Factoring, Forfaiting, Trust Reciept…mở rộng các hoạt động phát hành, thanh toán thẻ, séc quốc tế… 4.2 NHẬN XÉT VỀ HỆ THỐNG THANH TOÁN SWIFT 4.2.1 Những điểm mạnh - Tính chuẩn mực cao: các mẫu điện thực hiện các giao dịch trong hoạt động TTQT được chuẩn hoá bởi tổ chức SWIFT đã tạo tính thống nhất về định dạng của từng mẫu điện, giúp cho các ngân hàng dễ dàng ứng dụng và sử dụng. Định dạng của từng mẫu điện SWIFT thường xuyên được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của hoạt động ngân hàng hiện đại . - Tính xác thực cao: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin tạo điều kiện thúc đẩy công nghệ ngân hàng được ứng dụng phục vụ khách hàng tốt hơn, thể hiện thông qua các dịch vụ tiện ích ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng. Song bên cạnh đó, hoạt động tội phạm ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều với trình độ ngày càng tinh vi và mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Hệ thống SWIFT cho phép các ngân hàng và các tổ chức tài chính thiết lập và thực hiện các giao dịch bằng các điện SWIFT xác thực được mã hoá, hạn chế các giao dịch bằng thư vốn chứa đựng nhiều rỏi ro (giả mạo chữ ký). - Tính tự động cao: được chuẩn hoá về mặt định dạng của các điện SWIFT, nếu ngân hàng sử dụng điện đúng định dạng và tuân thủ các điều kiện của từng trường nội dung thì tất cả các điện được khởi tạo bằng tay hay tự động đều được hệ thống SWIFT xử lý tự động chuyển đến đúng ngân hàng nhận điện mà ngân hàng khởi tạo điện muốn gửi đến một cách tức thời. - Tính chính xác cao: do điện SWIFT được chuẩn hoá và tính tự động cao nên hạn chế sự can thiệp bằng tay vì vậy nội dung của điện SWIFT được chuyển tải qua hệ thống SWIFT từ ngân hàng khởi tạo đến ngân hàng nhận điện là chính xác và nguyên mẫu.

- 70 -

- Giảm thiểu rủi ro và khó hiểu: do tất cả các điện SWIFT đều được chuẩn hoá về định dạng, nội dung và cách sử dụng và điều kiện của từng trường trong điện cũng như ngôn ngữ được sử dụng trong giao dịch là tiếng Anh, tạo điều kiện cho các giao dịch được thực hiện dễ dàng, dễ hiểu tránh được các nhầm lẫn, mâu thuẫn từ đó giảm thiểu các tranh chấp phát sinh giữa các ngân hàng. - Tăng hiệu quả xử lý và thực hiện các giao dịch, cải thiện tính năng các dịch vụ, tốc độ nhanh hơn và giảm chi phí trung gian do việc thực hiện các giao dịch bằng các điện thông qua hệ thống SWIFT được thực hiện tự động và được chuẩn hoá giúp cho việc xử lý các giao dịch được nhanh chóng, tăng hiệu quả hoạt động TTQT, tiết kiệm thời gian và chi phí . - Tăng cường khả năng quản lý một cách toàn diện: quản lý dữ liệu, cập nhập “on line” các giao dịch trong toàn hệ thống BIDV thông qua các chương trình chuyển đổi như Trade Finance, SWIFT Editor. Cho phép hệ thống kiểm soát chặt chẽ mọi giao dịch, cũng như thông tin khách hàng và hạn mức tín dụng của khách hàng. 4.2.2 Những tồn tại - Để sử dụng hệ thống SWIFT đòi hỏi phải trang bị máy móc thiết bị và công nghệ đủ mạnh và đồng bộ, thường xuyên phải tốn chi phí cập nhật phần mềm mới. Đây là điểm yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam, song trong xu thế hội nhập BIDV phải chủ động nâng cấp, trang bị công nghệ ngân hàng tiên tiến có như thế mới có thể triển khai và ứng dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ. - Để có thể kết nối trực tiếp vào hệ thống SWIFT từ các chi nhánh của BIDV đòi hỏi phải xây dựng và cập nhật thường xuyên các chương trình phần mềm chuyển đổi và quản lý dữ liệu cho toàn hệ thống BIDV trên cơ sở dữ liệu tập trung và trực tuyến tạo điều kiện xử lý và khai thác hiệu quả thông tin. - Yêu cầu về mạng truyền thông đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, các giao dịch được khởi tạo không thể được thực hiện, truyền đi nếu đường truyền gặp sự cố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động dịch vụ ngân hàng, nghiêm trọng hơn có thể gây ra các rủi ro ảnh hưởng đến uy tín cho ngân hàng trong đó có hoạt động TTQT như thanh toán chậm trễ, gây lỗi cho các điện được chuyển đổi.

- 71 -

- Để sử dụng điện SWIFT được rộng rãi chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi BIDV phải thiết lập được cho mình một mạng lưới các ngân hàng đại lý rộng khắp trên toàn thế giới nhằm tạo lập các quan hệ SWIFTCODE và mở rộng vị thế và uy tín ngân hàng. Đây là yêu cầu ra trong xu thế hội nhập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. - Đối với các ngân hàng chưa có quan hệ SWIFTCODE, BIC Code đòi hỏi các giao dịch được thực hiện phải được tính “testkey” trước đây công đoạn tính mã khoá testkey rất thủ công, các chi nhánh thông tin về phòng quan hệ quốc tế BIDV bằng fax, scan, hay chuyển phát nhanh và ngược lại, do đó không đảm bảo tính an toàn, bảo mật và nhanh chóng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là xây dựng một chương trình Testkey on line trên toàn hệ thống BIDV đảm bảo tính an toàn, bảo mật, chính xác và nhanh chóng. - Xây dựng và trang bị các phần mềm hỗ trợ tìm kiếm thông tin các ngân hàng trên thế giới cũng như quan hệ tài khoản nostro hay vostro của họ thông qua chương trình phần mềm Chasepayment Path, Citipayment Path hay Bank Globe… giúp cho cán bộ thanh toán quốc thực hiện các điện giao dịch chính xác và nhanh chóng hơn. - Để sử dụng hiệu quả hệ thống SWIFT cũng như các phương thức TTQT tại BIDV thì yếu tố con người là quan trọng nhất. Xét cho cùng máy móc thiết bị, chương trình, đường truyền thông chỉ là các phương tiện phục vụ cho hoạt động TTQT, còn yếu tố quyết định là con người - một con người giỏi nghiệp vụ, thông thạo ngoại ngữ, tin học và có đạo đức nghề nghiệp để vận hành hệ thống an toàn và hiệu quả. 4.3 ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là điều không thể tránh khỏi, trong đó, nguy cơ rủi ro trong hoạt động TTQT càng cao do đặc thù của hoạt động TTQT là vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia xét trên cả khía cạnh địa lý, các pháp nhân liên quan và luật pháp điều chỉnh. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế thương mại quốc tế, tự do hoá thương mại, tự do hoá tài chính ngày càng được đẩy mạnh thì việc phát triển hoạt động TTQT là tất yếu khách quan và lẽ sống của BIDV. Nhằm thực hiện thắng lợi các định hướng phát triển trong hoạt động TTQT tại BIDV, bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động Marketing nhằm phát triển hoạt động

- 72 -

TTQT, một vấn đề rất quan trọng cần phải đặt ra trước tiên là phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra, tránh tổn thất cho khách hàng và ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc “phát triển an toàn, bền vững”. Do vậy, để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của ngân hàng, luận văn có một số đề xuất như sau: 4.3.1 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 4.3.1.1 Nhóm đề xuất về mô hình tổ chức, xây dựng quy chế, quy trình TTQT trong hệ thống a) Xây dựng mô hình hoạt động TTQT tập trung thống nhất và chuyên sâu trong toàn hệ thống. Hiện nay, hoạt động TTQT tại BIDV đang được thực hiện dàn trải tại hơn 50 chi nhánh trực tiếp và rất nhiều chi nhánh không trực tiếp. Để khắc phục tính dàn trải trong hoạt động TTQT, BIDV đã xây dựng và đưa vào vận hành mô hình TTQT tập trung thống nhất, chuyên sâu trong toàn hệ thống từ thàng 9/2004, trong đó đứng đầu là Trung tâm tài trợ thương mại (TFC – Trade Finance Center) có nhiệm vụ xử lý các giao dịch TTQT về mặt nghiệp vụ, các chi nhánh của BIDV đóng vai trò là vệ tinh, là đầu mối tiếp xúc, tư vấn, tiếp thị khách hàng để thu hút và mở rộng hoạt động TTQT. TFC được đặt tại hội sở chính tập trung một đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ TTQT, chuyên xử lý các giao dịch TTQT như phát hành L/C, kiểm tra chứng từ, thanh toán chứng từ, gửi chứng từ nhờ thu, chuyển tiền điện… Đây là những hoạt động mang tính nghiệp vụ, đòi hỏi cán bộ xử lý phải có nhiều kinh nghiệm thực tế, nắm chắc nghiệp vụ, am hiểu thông lệ và tập quán quốc tế, nhằm đảm bảo xử lý giao dịch thấu đáo, tránh các rủi ro tác nghiệp có thể phát sinh. Các hồ sơ, chứng từ liên quan đến các nghiệp vụ này đều phát sinh tại các chi nhánh đầu mối, được chuyển tới TFC bằng các phương tiện như fax, Scan, gửi chuyển phát nhanh. Các chi nhánh vệ tinh của BIDV là đầu mối giao dịch với khách hàng, tư vấn, quản lý khách hàng, tiếp nhận và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ do khách hàng xuất trình. Các chứng từ sau khi được chuyển về TFC bằng các phương tiện thích hợp sẽ được xử lý tại TFC.

- 73 -

Theo mô hình TFC, Một số chi nhánh có doanh số lớn, trình độ cán bộ đáp ứng yêu cầu của hoạt động TTQT sẽ được trực tiếp thực hiện các giao dịch TTQT trong hạn mức. Các giao dịch vượt hạn mức sẽ được thực hiện tại TFC. Các hạn mức được xây dựng trên cơ sở năng lực, trình độ trong hoạt động TTQT và mức phán quyết cho vay của từng chi nhánh. Việc quản lý và phê duyệt giao dịch theo hạn mức vừa nâng cao được trách nhiệm của cán bộ tác nghiệp, đẩy nhanh được tốc độ xử lý giao dịch tại chi nhánh, nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho các giao dịch có trị giá lớn, hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra. Các chi nhánh nguồn, không được phép thực hiện giao dịch TTQT trực tiếp mà chỉ có chức năng quản lý khách hàng và làm đầu mối giao dịch với khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT, bao gồm các nhiệm vụ: - Tiếp xúc, mở rộng khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT. - Xây dựng hạn mức cho các sản phẩm liên quan đến hoạt động TTQT của các khách hàng tại chi nhánh. - Trực tiếp nhận hồ sơ, chứng từ từ khách hàng. Đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, chứng từ theo quy định của từng nghiệp vụ cụ thể và tư vấn cho khách hàng trước khi nhận hồ sơ chứng từ. - Làm cầu nối trung gian giữa Trung tâm tài trợ thương mại và khách hàng. Việc thành lập và đưa vào vận hành mô hình TFC sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT của BIDV, tạo điều kiện phục vụ khách hàng tốt hơn. Bên cạnh đó việc chuyên môn hoá trong xử lý giao dịch sẽ góp phần hạn chế rủi ro, giảm được chi phí trong hoạt động TTQT. b) Xây dựng quy chế, quy trình hoạt động cho các nghiệp vụ TTQT theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế, bổ sung và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ TTQT. Hiện nay, khung pháp lý về TTQT của Việt Nam vẫn chưa được hình thành là một trở ngại lớn cho các ngân hàng trong hoạt động TTQT. Ta mới chỉ có luật về thương phiếu mà chưa có các luật điều chỉnh một cách toàn diện các phương thức thanh toán như Tín dụng chứng từ, nhờ thu…Các văn bản pháp luật điều chỉnh các phương thức thanh toán mới chỉ dừng lại ở mức các văn bản dưới luật hướng dẫn hoặc quy định một số nội dung cụ thể, ví dụ như Quyết định số 263 ngày 19/09/1995

- 74 -

về việc ban hành Qui chế trong nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại, Quyết định 207/QĐ-NH7 ngày 01/07/1997 về Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm, Công văn số 931/1997/CV-NHNN7 ngày 17/11/1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức ký quỹ tối thiểu cho L/C trả chậm… Việc áp dụng UCP 500, URC 522, URR 525 vào thực tiễn hoạt động tại Việt Nam mới chỉ là tự phát của các ngân hàng mà chưa có một sự hướng dẫn thống nhất từ Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước. Để khắc phục những bất cập này, BIDV Hội sở chính với vai trò chỉ đạo điều hành hoạt động TTQT của cả hệ thống, cần khẩn trương nghiên cứu, ban hành các văn bản hướng dẫn cũng như các văn bản liên quan đến hoạt động TTQT để các chi nhánh có cơ sở triển khai hoạt động như qui chế về hoạt động TTQT, Quy trình TTQT, cơ chế cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ như Hướng dẫn chuyển nhượng thư tín dụng, Hướng dẫn chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất theo L/C, nhờ thu… các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện các sản phẩm dịch vụ TTQT mới. Quy chế TTQT được ban hành quy định cụ thể về nghĩa vụ, trách nhiệm của các phòng ban, bộ phận liên quan đến giao dịch TTQT tại BIDV và các điều kiện cơ bản để thực hiện giao dịch đó. Quy trình TTQT được ban hành quy định cụ thể các bước giao dịch thực hiện nghiệp vụ TTQT, trách nhiệm của các cá nhân và bộ phận tham gia vào hoạt động TTQT, các chứng từ cần thiết trong từng loại nghiệp vụ. Quy trình TTQT như một văn bản hướng dẫn trình tự tiến hành các giao dịch TTQT một cách thống nhất trong toàn hệ thống, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế, nhằm hạn chế đến mức tối đa các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ giúp cho các chi nhánh khi có phát sinh giao dịch TTQT có cơ sở pháp lý để thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống, tuân thủ pháp luật và các thông lệ quốc tế. Tất cả các văn bản này bổ sung vào hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước tạo nên một hành lang pháp lý cho hoạt động TTQT tại BIDV. 4.3.1.2 Nhóm đề xuất về quản lý và đào tạo a) Tăng cường quản lý và sử dụng tốt các phương thức TTQT

- 75 -

Để hạn chế tối đa các rủi ro trong TTQT, BIDV cần phải có các biện pháp tăng cường quản lý và sử dụng tốt các phương thức TTQT xét trên 3 phương diện:vững về pháp lý, thông về nghiệp vụ, giỏi về quản lý vận hành các phương thức thanh toán. Cán bộ TTQT thường xuyên cập nhật bổ sung kiến thức về luật pháp quốc gia và quốc tế; nắm vững các quy định, chế độ có liên quan đến họat động TTQT của Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành; nắm chắc quy trình nghiệp vụ, các thao tác xử lý và vai trò của mình trong từng giao dịch, thực hiện tuân thủ chặt chẽ các bước thực hiện trong quy trình nghiệp vụ của các phương thức thanh toán…. Bên cạnh đó BIDV chủ động thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề; phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ có liên quan đến hoạt động TTQT như: vận tải, bảo hiểm, giao nhận…; gửi cán bộ đi đào tạo nghiệp vụ tại các ngân hàng lớn có uy tín trên thế giới. b) Nâng cao trình độ của cán bộ TTQT Con người luôn là yếu tố giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động. Quy trình nghiệp vụ do con người xây dựng và thực hiện. Các quy tắc, quy định, các thông lệ quốc tế cũng được hình thành từ thực tiễn họat động TTQT. Việc vận dụng các thành tựu của công nghệ thông tin trong hoạt động TTQT chỉ nhằm mục đích nâng cao tốc độ xử lý giao dịch và chất lượng dịch vụ TTQT, giảm bớt các thao tác xử lý của con người. Các quyết định trong hoạt động TTQT đều do con người thực hiện mà không thể thay thế được bởi bất kỳ một loại máy móc hay chương trình nào. Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động TTQT tại BIDV là do trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu của công việc. Nhiều cán bộ được chuyển từ nghiệp vụ khác sang làm nghiệp vụ TTQT nên không được trang bị kiến thức đầy đủ về ngoại thương, về TTQT. Nhiều cán bộ được tuyển mới chỉ có những kiến thức được học trong các trường đại học, mới chỉ là những kiến thức lý thuyết mà thiếu kinh nghiệm thực tế. Do những hạn chế như vậy nên trình độ nghiệp vụ của cán bộ chưa cao, chưa được cọ sát thực tế để đúc rút kinh nghiệm, trình độ ngoại ngữ yếu, không thường xuyên cập nhật các thông lệ quốc tế, ý thức chấp hành quy chế, quy trình TTQT chưa nghiêm túc, thậm chí còn sơ suất gây tổn thất cho ngân hàng. Vì vậy, công tác tổ

- 76 -

chức đào tạo và giáo dục cán bộ TTQT là một yếu tố quan trọng nhằm hạn chế các rủi ro trong TTQT. Các công việc cụ thể là: - Tiêu chuẩn hoá cán bộ làm công tác TTQT: bố trí cán bộ có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu của công việc. Kiên quyết không bố trí những cán bộ không đúng chuyên môn, tư cách đạo đức và ý thức chấp hành kỷ luật không tốt thực hiện nghiệp vụ TTQT. - Xây dựng quy chế tuyển chọn cán bộ mới công khai, dân chủ, đảm bảo tuyển chọn được những cán bộ thực sự có trình độ. Mạnh dạn đề bạt cán bộ trẻ có năng lực, sắp xếp đúng người đúng việc theo năng lực và tinh thần trách nhiệm. - Ban lãnh đạo BIDV xây dựng chiến lược quy hoạch cán bộ lãnh đạo nghiệp vụ TTQT ở Hội sở chính và chi nhánh dài hạn nhằm đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt, chủ động về nguồn nhân lực, tránh tình trạng vừa thừa cán bộ nhưng lại thiếu cán bộ có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức. - Thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các cán bộ thực hiện TTQT nhằm đáp nâng cao năng lực, trình độ cán bộ, thường xuyên cập nhật những thông tin quốc tế nhằm tạo cho cán bộ có điều kiện bắt kịp với tình hình biến động của thế giới. - Đa dạng hoá các chương trình tập huấn cho cán bộ trong toàn hệ thống như định kỳ tổ chức các lớp tập huấn trong nội bộ BIDV để cập nhật thông tin, kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, tổ chức các diễn đàn để các cán bộ thực hiện nghiệp vụ trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các tình huống, đưa ra các bài học kinh nghiệm để cùng học tập; phối hợp với các ngân hàng nước ngoài tổ chức các chương trình hội thảo trong và ngoài nước để nâng cao trình độ, tiếp cận với hệ thống ngân hàng trên thế giới; thành lập trang tin TTQT trên mạng nội bộ INTRANET, đưa các tin bài liên quan đến hoạt động TTQT để các cán bộ tham khảo, trao đổi, thảo luận. - Có cơ chế, chính sách khuyến khích bằng các hình thức vật chất hoặc khen thưởng cho cán bộ TTQT tự học để nâng cao trình độ phù hợp với cương vị được giao. Bên cạnh công tác đạo tạo cán bộ, BIDV còn phải chú ý tới nhiệm vụ bồi dưỡng cán bộ TTQT. Nhiệm vụ bồi dưỡng ở đây được hiểu một cách khá toàn diện gồm có bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, tư cách đạo đức và văn hóa doanh nghiệp. Hoạt động TTQT là hoạt động thường xuyên được tiếp cận với môi trường bên ngoài. Cán bộ TTQT đại diện cho BIDV để tiếp xúc, giao

- 77 -

dịch, làm việc với các đối tác quốc tế. Nếu các cán bộ TTQT không có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu thì sẽ không thể đàm phán với các đối tác quốc tế, vốn là những ngân hàng có rất nhiều kinh nghiệm. Hơn nữa vấn đề đạo đức nghề nghiệp và văn hoá doanh nghiệp đối với cán bộ TTQT đặc biệt được nhấn mạnh hơn so với các nghiệp vụ khác bởi đây là bộ mặt của BIDV với bạn bè quốc tế. Trong điều kiện dịch vụ TTQT nói riêng, dịch vụ ngân hàng nói chung bị cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vấn đề thương hiệu và văn hoá doanh nghiệp đang được đánh giá là một trong những yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp. Xây dựng văn hoá doanh nghiệp của BIDV, BIDV phải biết tận dụng mối quan hệ chặt chẽ, truyền thống với các khác hàng trong nước, đi sâu đi sát khách hàng để tìm hiểu nhu cầu thực tế của họ để đáp ứng tối đa những yêu cầu đó. Có như vậy, BIDV mới có thể cạnh tranh thắng lợi trong điều kiện hiện nay, khi chính sách mở cửa kinh tế và các cam kết quốc tế đang từng bước cho phép các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, là những đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với các ngân hàng trong nước. Như vậy, thực hiện tốt việc nâng cao trình độ cán bộ yêu cầu cấp thiết đối với BIDV nhằm phòng ngừa các rủi ro tác nghiệp, vốn là một trong những loại rủi ro thường gặp nhất trong hoạt động TTQT. Cán bộ có tinh thông nghiệp vụ, tư cách đạo đức tốt thì mới có thể xử lý các tình huống giao dịch một cách thỏa đáng, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ được quyền lợi của ngân hàng và khách hàng. 4.3.1.3 Thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro cho các nghiệp vụ có liên quan đến nghiệp vụ TTQT như tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh tiền tệ Trong hoạt động kinh doanh của BIDV, hoạt động TTQT không thể phát triển một cách độc lập với các nghiệp vụ khác của ngân hàng. Giữa ba mặt nghiệp vụ: tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, TTQT và kinh doanh ngoại tệ tồn tại một mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, trong đó tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là khâu cơ sở để phát triển nghiệp vụ TTQT và kinh doanh ngoại tệ. Ngược lại, sự phát triển của TTQT và kinh doanh ngoại tệ lại là một trong những yếu tố quyết định cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả và an toàn tín dụng.

- 78 -

Trên cơ sở mối quan hệ chặt chẽ giữa ba nghiệp vụ đó, để hạn chế các rủi ro trong hoạt động TTQT của BIDV cần phải có những biện pháp hỗ trợ, đảm bảo an toàn cho các nghiệp vụ liên quan. Cụ thể là: a) Đối với nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu Cán bộ tín dụng cần làm tốt công tác thẩm định dự án, quản lý tài sản đảm bảo, đánh giá chính xác năng lực tài chính, xếp loại chất lượng tín dụng (hay còn gọi là độ tin cậy tín dụng) cho từng khách hàng. Trên cơ sở đó xây dựng hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu bộ chứng từ… cho từng khách hàng. Đồng thời việc cán bộ tín dụng thường xuyên theo sát hoạt động dinh doanh của doanh nghiệp sẽ cho phép ngân hàng dự báo được những nguy cơ tiềm ẩn từ khách hàng để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra. b) Đối với nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ BIDV cần có các chính sách thích hợp để thu hút khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn, cân bằng trạng thái ngoại tệ của ngân hàng, để từ đó có thể chủ động về ngoại tệ để cung cấp cho khách hàng trong nước. Việc quy định trạng thái ngoại tệ của các chi nhánh BIDV là một biện pháp nhằm giúp các chi nhánh giảm thiểu rủi ro hối đoái, đồng thời nâng cao năng lực quản lý nguồn ngoại tệ của toàn hệ thống. Cần tạo điều kiện cho các chi nhánh có thể vừa chủ động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng hoặc mua bán trực tiếp giữa các chi nhánh trong toàn hệ thống để chủ động về nguồn ngoại tệ. Ngoài ra cần đa dạng hoá các loại hình kinh doanh ngoại tệ nhằm giảm thiểu rủi ro thanh toán: hợp đồng như mua bán kỳ hạn ngoại tệ, sử dụng công cụ phái sinh: như quyền chọn… Tăng cường quản lý sử dụng ngoại tệ, đảm bảo khả năng tái tạo ngoại tệ để phục vụ hoạt động TTQT. Trong từng giao dịch TTQT với khách hàng, BIDV cần phải xem xét, cân đối nguồn ngoại tệ của bản thân cũng như đánh giá được khả năng tái tạo nguồn ngoại tệ để trả nợ của khách hàng để xây dựng kế hoạch cân đối nguồn ngoại tệ để đảm bảo đủ ngoại tệ thanh toán khi đến hạn. Do đặc điểm kinh doanh của BIDV là hoạt động nhập khẩu đang chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động xuất khẩu nên gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối nguồn ngoại tệ. Rất nhiều khách hàng của BIDV chỉ có nhập khẩu mà không có xuất khẩu để tái tạo ngoại tệ.

- 79 -

Trong nhiều trường hợp, khách hàng đề nghị mở L/C ký quỹ trị giá 20% và vay vốn ngân hàng phần trị giá còn lại của L/C (bằng VNĐ). Đến thời điểm thanh toán, tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và VNĐ biến động tăng giá, số tiền ký quỹ của khách hàng không đủ 20% trị giá L/C như ban đầu. Hợp đồng tín dụng cũng cần phải được điều chỉnh để đảm bảo đủ trị giá của L/C bằng ngoại tệ. Điều này đặc biệt rủi ro đối với những L/C có trị giá lớn vì khi đó số tiền phải bù đắp thêm để đảm bảo mua đủ ngoại tệ thanh toán có thể vượt quá khả năng của khách hàng. Với những trường hợp như vậy, BIDV cần phải yêu cầu khách hàng mua ngay ngoại tệ để ký quỹ mở L/C và ký các hợp đồng mua kỳ hạn cho phần còn lại để thanh toán, tránh rủi ro về tỷ giá. Mặt khác, cần có những chính sách ưu đãi thích hợp đối với những khách hàng xuất khẩu để thu hút và mở rộng thêm hoạt động thanh toán xuất khẩu tại BIDV. 4.3.1.4 Nhóm đề xuất về công nghệ a) Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng theo trình độ của một ngân hàng thương mại hiện đại trong khu vực. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng theo trình độ của một ngân hàng hiện đại trong khu vực không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT của BIDV mà còn cung cấp cho ngân hàng một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động TTQT trong toàn hệ thống, phòng tránh được các rủi ro không đáng có trong quá trình hoạt động. Dự án Hiện đại hoá Ngân hàng theo chương trình tài trợ của Ngân hàng thế giới đang trong giai đoạn triển khai tại các chi nhánh của BIDV. Dự án đã cung cấp cho ngân hàng một cơ chế tổ chức và quản lý hoạt động ngân hàng hoàn toàn mới, trong đó các mảng nghiệp vụ chính được tổ chức thành các phân hệ riêng biệt như phân hệ chuyển tiền, phân hệ tiền gửi, phân hệ tiền vay, phân hệ tài trợ thương mại, phân hệ cơ sở dữ liệu… Các phân hệ được lắp đặt và vận hành độc lập nhưng cơ sở dữ liệu được quản lý tập trung thống nhất và “on line” trong toàn hệ thống. Hệ thống cho phép quản lý một khách hàng một cách tổng hợp trên tất cả các mặt gồm dư nợ tín dụng, dư nợ L/C, dư nợ tiền gửi…tại tất cả các chi nhánh của BIDV do đó ngân hàng có thể nắm chắc tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó có thể dự báo, dự đoán được những nguy cơ phát sinh có thể sảy ra. Điều này đã khắc phục được tình trạng quản lý rời rạc, đơn lẻ theo từng phòng ban, từng chi nhánh trước đây, dẫn đến tình

- 80 -

trạng một khách hàng đã bị vượt hạn mức mở L/C tại một chi nhánh này có thể vẫn được phép mở L/C tại một chi nhánh khác. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng còn góp phần nâng cao chế độ bảo mật trong các phân hệ, nâng cao mức độ chính xác, an toàn, bảo mật của các giao dịch, hạn chế được nguy cơ bị xâm nhập vào hệ thống thực hiện các giao dịch bất hợp pháp, gây tổn hại nghiêm trọng cho ngân hàng. Đây là một bước chuẩn bị quan trọng để tham gia vào hệ thống thương mại điện tử trong tương lai. Trước mắt nâng cấp hệ thống SWIFT, đảm bảo triển khai và duy trì chất lượng của hệ thống Trade Finance theo chương trình hiện đại hoá, các chương trình hỗ trợ Trade Finance Center. b) Thuê đường truyền thông riêng của BIDV Trên cơ sở vận hành và khai thác dữ liệu trực tuyến trong toàn hệ thống yêu cầu về tính an toàn được đặt ra đòi hỏi BIDV phải phối hợp với công ty truyền dẫn số liệu VDC xây dựng và thuê bao các kênh truyền dẫn số liệu riêng cũng như thiết lập các đường truyền dự phòng đảm bảo cho hoạt động ngân hàng thông suốt 24/24. c) Xây dựng và thiết lập chương trình “teskey on line” trong toàn hệ thống Nhằm hỗ trợ cho hoạt động TTQT chương trình “Teskey on line” đã được ban công nghệ BIDV đưa vào vận hành từ 09/2004 thông qua mạng nội bộ Intranet cho phép các chi nhánh thực hiện kết nối tính Testkey on line với phòng Quan hệ quốc tế tạo thuận lợi cho hoạt động TTQT tại các chi nhánh được thực hiện nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn xác thực và bảo mật thông tin. 4.3.1.5 Nhóm đề xuất về phát triển và phòng ngừa rủi ro từ ngân hàng đại lý a) Phòng ngừa rủi ro từ ngân hàng đại lý BIDV cần thành lập trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro có nhiệm vụ thường xuyên cập nhật thông tin từ các nguồn tin quốc tế đáng tin cậy như tổ chức Fitch Rating đánh giá và xếp hạng các ngân hàng trên thế giới, lưu trữ và cập nhật thông tin về các khách hàng trong và ngoài nước, hình thành cơ sở dữ liệu thông tin về khách hàng và các ngân hàng đại lý nhằm cung cấp cho các chi nhánh trong trường hợp cần thiết. Cập nhật thường xuyên các thông tin có tính chất cảnh báo của ngân hàng thế giới, tổ chức thương mại thế giới, của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài về các trường hợp lừa đảo, giả mạo trong thương mại quốc tế để các chi nhánh phòng tránh.

- 81 -

Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin về ngân hàng đại lý, khách hàng trong và ngoài nước theo đề nghị của các chi nhánh phục vụ hoạt động TTQT. b) Lựa chọn và phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý i) Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động TTQT. Cũng cố mối quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý nước ngoài. Mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng trên thế giới theo định hướng lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài có uy tín, phù hợp trong từng lĩnh vực để xây dựng các mối quan hệ ngân hàng đại lý chặt chẽ. Thuận lợi chính của việc sử dụng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý là chi phí thâm nhập thị trường nuớc ngoài thấp, không cần cung cấp nhân sự cũng như cung cấp các phương tiện mà có thể tận dụng ngay bộ máy quản lý của các ngân hàng đại lý để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình. Thông qua mối quan hệ với các ngân hàng đại lý chúng ta sẽ tận dụng được các hạn mức tín dụng, hạn mức xác nhận L/C, hạn mức thanh toán, hạn mức tái tài trợ L/C hạn mức kinh doanh ngoại tệ, ký kết các hiệp định khung vay vốn trung dài hạn để cho vay các dự án nhập thiết bị công nghệ. Tuy nhiên do yếu tố cạnh tranh nên việc phát triển hoạt động tài trợ thương mại quốc tế không chỉ dựa vào mối quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài mà còn phải nghĩ đến việc mở văn phòng đại diện, hay chi nhánh ở nước ngoài để mở rộng kinh doanh quốc tế và hỗ trợ kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài...của các doanh nghiệp Việt Nam. ii) Định kỳ đánh giá, cập nhật thông tin về ngân hàng đại lý để có sự điều chỉnh quan hệ đại lý phù hợp với tình tình vận động của thế giới. - Đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm lựa chọn được những ngân hàng đại lý có uy tín cao trên thị trường quốc tế. Việc đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài phải dựa vào các tài liệu của các tổ chức đánh giá ngân hàng quốc tế có uy tín, có độ tin cậy cao như Fitch Rating. - Đánh giá uy tín của ngân hàng đại lý trên các mặt sau: + Môi trường kinh tế toàn cầu. + Mức độ rủi ro quốc gia. + Rủi ro của ngân hàng đại lý hay khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ.

- 82 -

- Việc đánh giá uy tín của ngân hàng đại lý được thực hiện định kỳ hàng năm theo quy trình đánh giá ngân hàng đại lý. Trên cơ sở đó có những quyết định tiếp tục duy trì hay chấm dứt quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài. - Kết quả đánh giá các ngân hàng đại lý là cơ sở để BIDV ra các quyết định hợp tác với các ngân hàng đại lý. 4.3.1.6 Nhóm đề xuất về trích lập quỹ dự phòng và tăng cường giám sát hoạt động TTQT trong hệ thống. a) Thành lập quỹ phòng ngừa rủi ro TTQT: Như chúng ta đã biết, bất cứ hoạt động sinh lợi nào đều tiềm ẩn các rủi ro. Không thể nói rằng sẽ không phát sinh rủi ro trong quá trình hoạt động. Tuy việc nhận biết và phòng ngừa rủi ro là yếu tố quan tâm hàng đầu trong hoạt động TTQT nhưng đồng thời phải có các biện pháp khắc phục trong trường hợp rủi ro xảy ra. Thành lập quỹ dự phòng rủi ro TTQT là một trong những biện pháp khả thi để có thể giúp các chi nhánh khắc phục rủi ro trong hoạt động TTQT. Quỹ phòng ngừa rủi ro TTQT được trích lập tại Hội sở chính, do các chi nhánh đóng góp với một tỷ lệ nhất định trên cơ sở doanh số hoạt động TTQT của từng chi nhánh. Khi có những rủi ro phát sinh, chi nhánh có thể đề nghị Hội sở chính trích quỹ phòng ngừa rủi ro để bù đắp các thiệt hại phát sinh. Tuy nhiên, BIDV cần xây dựng quy chế hoạt động của quỹ phòng ngừa rủi ro TTQT để đảm bảo quỹ phòng ngừa rủi ro phát huy tác dụng, hỗ trợ chi nhánh một cách tốt nhất khi gặp phải các rủi ro TTQT. b) Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động TTQT. Đây là yêu cầu tất yếu đối với tất cả các hoạt động của Ngân hàng. Hoạt động TTQT lại càng phải kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo thực hiện đúng quy trình, đúng pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhanh chóng phát hiện ra sai sót để có biện pháp xử lý kịp thời. Công tác kiểm soát phải được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy định, đảm bảo nguyên tắc kiểm soát độc lập. Cán bộ kiểm soát không được phép thực hiện chức năng của thanh toán viên và ngược lại (cài đặt trong thẩm quyền của người sử dụng của các chương trình hỗ trợ).

- 83 -

Hoạt động kiểm soát được phân cấp tại chi nhánh và Hội sở chính. Tại chi nhánh, cán bộ kiểm soát chịu trách nhiệm về các giao dịch do mình kiểm soát. Phòng kiểm soát độc lập tiến hành kiểm soát hoạt động TTQT tại chi nhánh mình theo đúng quy trình nghiệp vụ. Tại Hội sở chính, phòng TTQT xây dựng chương trình kiểm soát đột xuất và định kỳ theo ngày dọc đối với tất cả các chi nhánh có hoạt động TTQT. Bên cạnh đó, hoạt động của phòng và của chi nhánh cũng được kiểm soát bởi Ban kiểm soát theo cơ chế hoạt động của Ban. Nhiệm vụ kiểm tra kiểm soát được phân chia cụ thể giữa các bộ phận liên quan đảm bảo kiểm soát chặt chẽ hoạt động TTQT nhưng không bị chồng chéo. Cụ thể là: Tại chi nhánh: Ban lãnh đạo chi nhánh có nhiệm vụ: - Bố trí đủ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đạo đức tốt để thực hiện và kiểm soát hoạt động TTQT. - Phê duyệt các giao dịch TTQT vượt hạn mức dành cho Trưởng phòng (Tổ trưởng) TTQT. - Định kỳ kiểm tra kiểm soát hoạt động TTQT tại chi nhánh, phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm quy trình TTQT và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ liên quan. Cán bộ kiểm soát TTQT của chi nhánh gồm Kiểm soát viên và Trưởng phòng (Tổ trưởng) TTQT: - Có trách nhiệm kiểm tra kiểm soát về mặt nghiệp vụ các giao dịch phát sinh, đảm bảo xử lý giao dịch theo đúng pháp luật của Nhà Nước, đúng quy trình TTQT và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của BIDV. - Phê duyệt các giao dịch TTQT nằm trong hạn mức được Giám đốc chi nhánh uỷ quyền. - Trưởng phòng (Tổ trưởng) TTQT chịu trách nhiệm trước Giám đốc chi nhánh về các giao dịch TTQT phát sinh tại chi nhánh. Tại Hội sở chính: Ban lãnh đạo có nhiệm vụ: - Ban hành quy chế kiểm tra kiểm soát hoạt động TTQT định kỳ và đột xuất tại các chi nhánh. - Ban hành cơ chế xử lý các rủi ro TTQT trong trường hợp phát sinh.

- 84 -

- Xây dựng hạn mức duyệt giao dịch hợp lý cho từng chi nhánh trên nguyên tắc đảm bảo an toàn và phát triển hoạt động TTQT. 4.3.2 Một số kiến nghị với Nhà nước, NHNN và các đơn vị liên quan. 4.3.2.1 Kiến nghị với Nhà nước: - Nhà nước cần xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT và kinh doanh tiền tệ đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các thông lệ quốc tế. - Ban hành hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các nội dung mà Việt Nam cam kết trong Hiệp định để tạo hành lang pháp lý, giúp các ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả, an toàn, coi trọng các quan hệ kinh tế, dân sự giữa ngân hàng và khách hàng. - Ban hành các chính sách và có cơ chế thích hợp thực hiện các cam kết về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, nhất là lộ trình thực hiện AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, đàm phán gia nhập WTO. - Ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các ngân hàng đầu tư nhằm hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. - Xây dựng các biện pháp xúc tiến xuất khẩu bằng cách khắc phục những khó khăn về thanh khoản của nhà xuất khẩu, giảm bớt thủ tục hành chính đối với nhà xuất khẩu, củng cố các thị trường truyền thống, tìm kiến thị trường mới tiềm năng. - Nhà nước cần có những chính sách hợp lý để vận hành tốt thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tiến tới thành lập thị trường hối đoái ở Việt Nam. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi, cung cấp ngoại tệ nhằm giải quyết các mối quan hệ về ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Việc hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là một trong những điều kiện quan trọng để các ngân hàng thương mại mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và tạo điều kiện phục vụ cho nghiệp vụ TTQT được thực hiện tốt. 4.3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Một là: Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành, Ngân hàng Nhà nước cần có các văn bản dưới luật hướng dẫn các hoạt động TTQT. Cần có văn bản quy định quan hệ pháp lý giữa giao dịch hợp đồng ngoại thương của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu với giao dịch tín dụng chứng từ giữa các ngân hàng. Mối quan

- 85 -

hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các ngân hàng khi tham gia sử dụng L/C cần phải được hợp lý hoá trên cơ sở luật quốc gia. - Ngoài ra, ngân hàng Nhà nước còn cần có những quy định về các phương thức TTQT hiện đại như Factoring, Forfeighting, Packing Credit, Bill Purchase… vốn đã rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là một dịch vụ mới ở Việt Nam. Hai là: Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá thích hợp để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh ngoại tệ có hiệu quả trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để làm cơ sở cho việc hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam sau này, cụ thể : - Đa dạng hoá các loại ngoại tệ, các phương tiện TTQT được mua bán trên thị trường. - Đa dạng hoa các hình thức giao dịch mua bán ngoại tệ như mua bán giao ngay (Spot), mua bán có kỳ hạn (Forward), mua bán quyền lựa chọn (Option) … - Mở rộng đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng như Ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại, những người môi giới… nhằm tạo cho thị trường hoạt động với tỷ giá chuẩn hơn, sát thực tế hơn. Chỉ khi thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường ngoại hối phát triển thì mới đảm bảo có được một tỷ giá linh hoạt, hợp lý, góp phần kích thích kinh tế thị trường phát triển, hạn chế rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp và các ngân hàng tham gia hoạt động TTQT. Ba là: Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thực tế. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết quản lý của nhà nước là hoàn toàn hợp lý, song cần đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng tự do hoá dần. Việc tự do hoá dần cơ chế điều hành tỷ giá cần có bước đi hợp lý. Trước mắt, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chưa ổn định, thị trường ngoại hối đang hoàn thiện, vẫn cần có sự điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước thông qua việc điều chỉnh các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá, cụ thể là: - Cần theo dõi, phân tích diễn biến thị trường tài chính quốc tế một cách liên tục, có hệ thống.

- 86 -

- Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao dự trữ ngoại tệ của nhà nước tương ứng với nhịp độ phát triển của kim ngạch xuất nhập khẩu. - Tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh hối đoái của các ngân hàng thương mại. Tiếp tục xây dựng phương pháp tỷ giá theo rổ đồng tiền. - Xác định cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý trên cơ sở đa dạng hoá rổ ngọại tệ mạnh, không nên neo giữ đồng VN vào USD. Khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đa dạng hoá cơ cấu tiền tệ trong giao dịch thương mại. Bốn là: Tăng cường chất lượng hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước. (CIC) Thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã góp phần tích cực vào công tác quản lý Nhà nước, đảm bảo an toàn về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và TTQT. Việc thu thập, phân tích, xử lý kịp thời, chính xác các thông tin về tình hình tài chính, quan hệ tín dụng, khả năng thanh toán, tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp trong và ngoài nước là vô cùng quan trọng trước khi ngân hàng quyết định mở L/C, xác nhận L/C, chiết khấu chứng từ… Tuy nhiên, thông tin do CIC cung cấp hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế vì lượng thông tin còn quá ít, và chưa kịp thời. Vì vậy để công tác thông tin phòng ngừa rủi ro đạt hiệu quả cao cần thực hiện một số vấn đề sau: - Tăng cường trang bị các phương tiện thông tin hiện đại cho trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước để có điều kiện thu thập, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Hiện đại hoá các quy trình nghiệp vụ ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và Internet. - Xây dựng cơ chế khuyến khích và bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng về việc cung cấp thường xuyên các thông tin về dư nợ của các doanh nghiệp tại tổ chức tín dụng. - Xây dựng cơ chế đề nghị và cung cấp thông tin cho các tổ chức tín dụng trong trường hợp cần thiết. Năm là: Xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật về mã hóa chữ ký điện tử làm căn cứ cho việc phát triển thương mại điện tử và dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo khung pháp lý để điều hành và quản lý, thúc đẩy các ngân hàng thương mại ứng dụng công nghệ thông tin hướng đến hoàn thiện dịch vụ ngân hàng điện tử.

- 87 -

4.3.2.3 Các đơn vị liên quan: Xây dựng chính sách thương mại phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển. Tình trạng nhập siêu kéo dài trong nhiều năm tại Việt Nam ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh qua các năm nhưng vẫn còn rất khiêm tốn. Chúng ta vẫn chưa thâm nhập được vào các thị trường nhập khẩu trực tiếp có quy mô lớn và ổn định. Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu nên chưa có khả năng tạo ra ưu thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Các sản phẩm xuất khẩu còn nghèo nàn, lạc hậu về chủng loại, hàng nguyên liệu, hàng chưa qua chế biến chiếm tỷ trọng lớn, chất lượng không ổn định do vậy năng lực xuất khẩu còn hạn chế. Vì vậy, để phục vụ cho chiến lược hướng về xuất khẩu, nhằm mục tiêu tăng trưởng ổn định và bền vững cho nền kinh tế, Nhà nước với sự phối hợp của các Bộ, Ban, Ngành liên quan cần có các giải pháp sau: - Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, đặc biệt là hoạt động thương mại đối với những thị trường lớn như Mỹ, Nhật bản, EU, ASEAN, Trung Quốc, Đông Âu… Xây dựng thị trường trọng điểm, mở rộng thị trường mới và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. - Có chính sách đầu tư hợp lý cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. - Có chính sách khuyến khích sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu thông qua vịêc sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như thuế, lãi suất cho vay… - Thành lập quỹ tín dụng xuất khẩu để tiến tới thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu với chức năng tài trợ xuất khẩu dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó có bão lãnh tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp. - Bên cạnh các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, cần có những biên pháp quản lý chặt chẽ nhập khẩu nhưng không đi ngược lại tiến trình hội nhập của Việt Nam khi gia nhập WTO và AFTA.

- 88 -

KẾT LUẬN
Xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã tạo ra rất nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp và Ngân hàng thương mại trong nước. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trước cơ hội mới đã có rất nhiều biện pháp để thúc đẩy hoạt động TTQT phát triển. Trong thời gian qua, với sự quan tâm sát sao của Ban lãnh đạo BIDV, cùng với sự nỗ lực của toàn hệ thống, họat động TTQT của BIDV đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Để đạt được mục tiêu của BIDV là “phát triển bền vững”, vấn đề đặt ra là phải tìm ra các giải pháp để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động TTQT, trong đó sử dụng điện SWIFT an toàn, chính xác, nhanh chóng và hiệu quả trong các giao dịch TTQT là một yêu cầu cấp thiết. Với mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài, những nội dung được đề cập giải quyết trong luận văn là: 1. Phân tích cơ sở lý luận chung về rủi ro TTQT. Tổng kết các nguyên nhân dẫn đến rủi ro TTQT của ngân hàng thương mại và lý thuyết về khả năng phòng ngừa rủi ro 2. Đánh giá thực trạng hoạt động TTQT của BIDV trong 10 năm qua. 3. Sử dụng điện SWIFT để hạn chế rủi ro trong các phương thức TTQT tại BIDV. 4. Một số nhóm đề xuất đối với BIDV và một số kiến nghị đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị liên quan để hạn chế rủi ro TTQT tại BIDV góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Ngân hàng là “phát triển bền vững”. Bản luận văn được trình bày ở trên là quá trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả, từ những tài liệu lý luận cơ sở, những thông lệ quốc tế đến thực tiễn xử lý công việc hàng ngày tại phòng TTQT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Bản luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhưng tác giả hy vọng rằng thông qua việc sử dụng điện SWIFT an toàn, chính xác, nhanh chóng và hiệu quả sẽ đóng góp một phần hạn chế rủi ro TTQT tại BIDV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

- 89 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt 1. PGS TS. Nguyễn Đăng Dờn (2004), Tiền tệ ngân hàng, Nxb Thống Kê 2. PGS TS. Trần Hoàng Ngân (2003), Thanh toán quốc tế, Nxb Thống Kê 3. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (01/09/2001), Quy trình Thanh toán quốc tế. 4. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (01/07/2005), Quy trình Giao dịch giữa Trung tâm tài trợ thương mại và chi nhánh nguồn. 5. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (01/07/2005), Quy định Thanh toán quốc tế. 6. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Báo cáo thường niên 2000, 2001, 2002, 2003, 2004. 7. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Tài liệu tập huấn thanh toán quốc tế 2002, 2003, 2004, 2005. Tiếng Anh 8. SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 1 Customer Payment & Cheques. 9. SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 4 Collecttion & Cash Letters. 10.SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 7 Documentary Credits & Guarantees. 11.SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 9 Cash Management & Customer Status. 12.SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category n Common Group Messages. Internet 13. http://www.swift.com

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful