Đồng NDT và chính sách tỷ giá của Trung Quốc

NHÓM THUYẾT TRÌNH- NHÓM 5

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7.

Trần Thị Mai Hương Lê Thị Lý Bùi Tùng Lâm Trần Minh Ngọc Trần Đăng Việt Doãn Tiến Sang Nông Ngọc Huấn

8.Tào Văn Trình 9.Nguyễn Thị Mai Phương 10.Hoàng Thái Hà 11.Nguyễn Thị Nhung 12.Trần Thị Lam 13.Nguyễn Đỗ Quỳnh Trang

Contents

Tổng quan về đồng nhân dân tệ Chính sách tỷ giá của Trung Quốc Tác động của chính sách tỷ giá tới quan hệ thương mại với các nước trên thế giới Có hay không sẽ xảy ra một cuộc chiến tranh tiền tệ
Company Logo

I.Tổng quan về đồng nhân dân tệ Khái quát chung
 Nhân dân tệ là tên gọi chính thức của đơn vị tiền tệ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.  Đơn vị tiền tệ: nguyên, viên ( tiền giấy, tiền kim loại) Một nguyên bằng mười giác Một giác bằng mười phân  Trên mặt tờ tiền là hình ảnh Chủ tich Mao Trạch Đông

Đồng nhân dân tệ do ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành Năm 1948: nhân dân tệ được phát hành lần đầu tiên Năm 1955: phát hành loạt tiền nhân dân tệ mới thay cho loạt thứ nhất Năm 1962: phát hành loạt tiền nhân dân tệ thứ 3 thay cho loạt thứ 2 Từ 19871997: loạt tiền thứ 4 được phát hành Năm 1999: phát hành loạt tiền thứ 5 và cũng là loạt đang dùng hiện nay

Hiện nay đồng nhân dân tệ bao gồm các loại: -1 phân - 5 nguyên -2 phân -10 nguyên -5 phân -20 nguyên -1 giác -50 nguyên -5 giác -100 nguyên -1 nguyên Theo tiêu chuẩn ISO- 4217, viết tắt chính thức của đồng nhân dân tệ là CNY  Tuy nhiên nhân dân tệ thường được kí hiệu là RMB  Biểu tượng ¥.

Trước ngày khai mạc olympic Bắc Kinh 1 tháng Trung Quốc đã phát hành tờ 10 nhân dân tệ mới - loại tiền giấy đầu tiên không in hình lãnh tụ Mao Trạch Đông

I.Tổng quan về đồng nhân dân tệ
Quốc tế hoá đồng Nhân dân tệ
Những năm gần đây Trung Quốc ngày càng có tiếng nói trong IMF. Gần đây TQ luôn đàm thoại lâu với lãnh đạo IMF và doạ sẽ dùng quyền rút vốn SDR để tạo sức mạnh. Tại Hội nghị G-20, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Zhou Xiaochuan cũng nhấn mạnh vấn đề SDR trước nhiều lãnh đạo thế giới và đặt vấn đề dần thay thế đồng tiền khác bằng NDT.

Những động thái của Trung Quốc:
 Chính phủ Trung Quốc đang cố gắng khuyến khích sử dụng NDT trong các hoạt động thương mại . Đây là lần đầu tiên những tổ chức không có trụ sở tại Trung Quốc được phép đầu tư vào thị trường trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp của Trung Quốc. Chương trình thử nghiệm sẽ được áp dụng với hạn ngạch nhất định dành cho các ngân hàng và Ngân hàng Trung ương nước ngoài  Tháng 6/2010, Trung Quốc mở rộng chương trình thương mại sử dụng NDT liên biên giới đối với tất cả các nước trên thế giới và với 20 tỉnh, địa phương trực thuộc  Chính phủ Trung Quốc ngoài ra cũng ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với Ngân hàng Trung ương và cơ quan quản lý tiền tệ của 7 nước  Từ hai năm qua Trung Quốc đã triển khai một chính sách ngoại giao tiếp thị cho NDT

Quá trình quốc tế hoá đồng nhân dân tệ còn rất dài
 Yves Zlotowski- Kinh tế gia trưởng của Coface khẳng định: “ Trung Quốc không thể làm khác” vì đã có một khoảng cách quá lớn giữa sức mạnh nền kinh tế thứ hai thế giới và vai trò của đồng tiền quốc tế.  Tuy nhiên, với "điểm xuất phát thấp" khi giao dịch NDT xuyên quốc gia mới chỉ chiếm một tỷ trọng quá nhỏ bé, chưa tới 1% tổng kim ngạch thương mại quốc tế của Trung Quốc, là một khó khăn lớn  Giai đoạn hai là tiến trình mở tài khoản vốn, bị cho là còn lạc hậu hơn  giai đoạn 3 là đưa nhân dân tệ là tiền dự trữ quốc tế còn khá xa vời

II.Tổng quan về chính sách tỷ giá
Những khái niệm chung nhất về chính sách tỷ giá  Tỷ giá hối đoái: giá cả của 1 đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của 1 quốc gia khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau.  Chính sách tỷ giá hối đoái: là một hệ thống các công cụ được dùng để tác động tới quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết.

Mục đích

Tránh tình trạng mất ổn định của giá cả, ngăn chặn sự giao động lớn trong tổng sản phẩm, tránh cho nền kinh tế rơi vào lạm phát hoặc giảm phát kéo dài, đảm bảo cung ứng tiền tệ

Chính sách tỷ giá phải duy trì tài khoản vãng . lai không thâm hụt hoặc dư thừa quá mức để tránh những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế quốc gia

II.Tổng quan về chính sách tỷ giá
Tác động của chính sách tỷ giá tới thương mại  Tỷ giá và biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá hàng hoá dịch vụ xuât nhập khẩu. khi tỷ giá thay đổi làm giảm sức mua của đồng nội tệ thì giá cả của hàng hoá dịch vụ nước đó sẽ rẻ hơn so với các nước khác=> cầu về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ nước đó tăng và ngược lại, khi tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng giá nội tệ thì hạn chế xuất khẩu nhưng lại trở thành cơ hội để nhập khẩu.  Tỷ giá thay đổi tác động đến luồng di chuyển tư bản ra vào quốc gia: tỷ giá thay đổi giảm đồng nội tệ thì gia tăng thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng sản xuất trong nước.. Và ngược lại.

III.CS tỷ giá của TQ và quan hệ thương mại với các nước

A.Vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế
1. Đối với thế giới  Trong những năm gần đây, Trung Quốc đóng góp từ 20 đến 30% vào sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới  Thực tế cho thấy, từ 1978-2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là 9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thế giới trong cùng thời kỳ.  Đầu năm 2009 Trung Quốc công bố thực ra mình đã vượt Đức trở thành nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới vào năm 2007 sau khi sửa số liệu của năm này  Trong năm 2009, Trung Quốc đã đồng ý mua 50 tỷ USD trái phiếu của IMF nhằm giúp tăng cường nguồn lực của tổ chức này trong hoạt động ổn định nền kinh tế toàn cầu.

 Ngày 30/7/2010, Yi Gang, người đứng đầu cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của Trung Quốc, tuyên bố nước này đã vượt mặt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.  Vào ngày 1/11/2010 IMF đã thông qua mức 3,65% quyền biểu quyết của Trung Quốc tại Quỹ Tiền tệ quốc tế.  Các chuyên gia kinh tế cho rằng nhờ vào lực lương dân số hùng mạnh và quyết định thả nổi đồng nhân dân tệ so với đôla Mỹ, không sớm thì muộn Trung Quốc cũng sẽ vượt mặt cả Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất toàn cầu

2.Đối với Châu Á
- Tạo dựng các cơ chế hợp tác toàn diện thông qua các hiệp định tự do thương mại, đàm phán kinh tế hợp tác đầu tư song phương, đa phương - Hợp tác mậu dịch và đầu tư phát triển với tốc độ nhanh, nhiều quốc gia coi TQ là đối tác quan trọng cần khai thác, bởi vậy đã rất chú trọng thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư với TQ. - TQ trở thành thị trường đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Châu Á, đặc biệt là Hàn Quốc, Nhật Bản, Xingapo. -TQ tuy khởi đầu muộn nhưng đã có xu hướng tăng nhanh và mạnh mẽ trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài: năm 2002, đầu tư của TQ đến các nước Châu Á đạt 1,16 tỷ USD năm 2007 đạt 8,65 tỷ USD, Pakistan, Hàn Quốc, Việt Nam, Xigapo đều là đối tác đầu tư trọng điểm của TQ.

CS tỷ giá của TQ và quan hệ thương mại với các nước

Company Logo

www.themegallery.com

III.CS tỷ giá của TQ và quan hệ thương mại với các nước

B. Ảnh hưởng chính sách tỷ giá tới quan hệ thương mại với các nước 1. Giai đoạn từ 19942005: * Từ năm 1994 cho đến tháng 7 năm 2005, các chính sách về tiền tệ đã được giữ tỉ giá cố định giá trị của đồng nhân dân tệ so với giá trị của đồng đô la Mỹ * Trung Quốc ấn định tỷ giá ngoại tệ ở mức 8,2-8,3 NDT ăn 1 USD và coi đây là cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát. Tuy nhiên, dưới con mắt của các chuyên gia tài chính quốc tế, thực chất đây là một tỷ giá cố định  nhận phải sự phản đối của Mỹ

* Từ năm 1997 đến ngày 21/7/2005, đồng RMB được neo cố định với USD tại mức tỷ giá 8,28 RMB/USD  theo Mỹ thì đây đã tạo ra một môi trường cạnh tranh không công bằng, hàng nhập khẩu của Mỹ trở nên quá đắt và mất tính cạnh tranh trên thị trường * Trước tình hình này, Mỹ và các đối tác thương mại lớn khác của Trung Quốc đã gây sức ép để đồng nhân dân tệ tăng giá. Cuối cùng Trung Quốc đã phải điều chỉnh tỷ giá vào năm 2005. TQ áp dụng chế độ thả nổi tỉ giá có kiểm soát, đồng thời giá trị của đồng nhân dân tệ (NDT) không chỉ gắn với riêng USD như từ năm 1994 trở lại đây mà được tham chiếu với một “giỏ ngoại tệ” bao gồm cả một số đồng tiền mạnh khác.

2. Giai đoạn từ 20052008:
 Trong giai đoạn này Mỹ và EU liên tục gia tăng sức ép buộc TQ phải nâng giá đồng NDT.  21/07/2005, Trung Quốc chính thức thay đổi chính sách tỷ giá, kết thúc một thập kỷ ghìm giá đồng nhân dân tệ và xoá bỏ quy định "neo chặt" giá trị đồng nhân dân tệ với đồng USD..  10/08/2005, Trung Quốc công bố nội dung “rổ tiền tệ”: Đồng USD, euro, yen và won (Hàn Quốc) chiếm tỷ trọng lớn trong "rổ tiền tệ"  Kể từ thời điểm đó, đồng nhân dân tệ đã tăng nhẹ trên thị trường ngoại hối Trung Quốc, đạt mức 8,1062 nhân dân tệ ăn 1 USD vào thời điểm đóng cửa chiều ngày 10/08/2005.  Đồng NDT liên tục tăng giá trong giai đoạn này và cuối cùng cho tới năm 2008 là mức 6,83.

Khi Trung Quốc nới lỏng biên độ gắn kết NDT với USD trong khoảng 2005- 2008, NDT đã lên giá , song hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ vẫn tăng 38.7 % Mặc dù tỷ giá song phương RMB/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa của RMB lại có xu hướng tăng dần. Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế so với các quốc gia bạn hàng. Do đó, đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thặng dư của cán cân thương mại của Trung Quốc

3. Giai đoạn từ 20082010 a. Ảnh hưởng tới Mỹ  Mỹ cho rằng việc TQ kìm giữ tỷ giá đồng NDT làm tăng khả năng cạnh tranh về xuất khẩu trên thị trường thế giới và cả trên đất Mỹgia tăng sức ép đối với TQ trong việc điều chỉnh tỷ giá  Tuy nhiên, trước khuynh hướng bất ổn ngày càng mạnh của kinh tế thế giới, Trung Quốc quyết định không cho tỷ giá biến động,giữ cố định ở mức 6,83 RMB/USDchính sách này bị Mỹ lên án mạnh mẽ.

 Năm 2009- đầu năm 2010: tranh chấp thương mại giữa Mĩ và Trung Quốc trở nên căng thẳng ,2 nước đứng trên bờ vực “chiến tranh lạnh”  Trong tháng Chín 2009:Mỹ nhập siêu 36,5 tỷ đôla, nhiều hơn so với dự đoán và là cao nhất kể từ tháng Một. Tuy nhiên con số thực sự ảm đạm là 60,55%của mức thâm hụt này, tương đương với 22,1 tỷ đôla, là chỉ với một nước duy nhất: Trung Quốc. Tại Mỹ, sự chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước được nhìn nhận là bắt nguồn từ các chính sách bảo hộ từ phía Trung Quốc, đặc biệt là việc nước này không để cho đồng tiền nội địa là đồng nhân dân tệ tăng giá so với đồng đôla.  Tháng 11/2009 trong cuộc hội đàm cấp cao Mỹ-Trung, Mỹ đã nhắc tới vấn đề tỷ giá USD/RMB nhưng không được hồi âm

 Tranh chấp thương mại giữa Washington và Bắc Kinh tiếp tục kéo dài sang năm 2010 sau khi Mỹ áp thuế chống phá giá đối với ống thép Trung Quốc  Tháng 5-2010:Trong một động thái gây tổn hại tới quan hệ thương mại song phương, Bộ Thương mại Mỹ vừa công bố kết quả điều tra tình trạng trợ cấp và bán phá giá mặt hàng muối kali nhập khẩu từ Trung Quốc trên thị trường Mỹ  Hôm 19/6/2010, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc tuyên bố sẽ cho phép tỷ giá ngoại tệ biến động linh hoạt hơn, bằng cách thúc đẩy hơn nữa cải cách cơ chế tỷ giá hối đoái của đồng Nhân dân tệ.  Sau khi Mỹ quyết định in thêm tiền để kích thích nền kinh tế ngày 20-10 ngân hàng Trung ương Trung Quốc lại quyết định giảm mức lưu hoạt bằng cách nâng lãi suất huy động và cho vay thêm 25 điểm, tức là 0,25  Kích thích đồng đôla lên giá

Cán cân thương mại Mỹ- Trung Quốc 9 tháng đầu năm 2010
40000 30000 20000 10000 0 -10000 -20000 -30000 T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 Xuất khẩu Nhập khẩu Cân bằng

nguồn: Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ, Phòng Thương mại nước ngoài, phổ biến dữ liệu chi nhánh, Washington, DC 20233 )

Cán cân thương mại Mỹ- Trung Quốc những năm gần đây
400000 300000 200000 100000 0 -100000 -200000 -300000 2000 2002 2004 2006 2008 9 tháng 2010 xuất khẩu nhập khẩu cân bằng

b.Ảnh hưởng tới EU * Năm nay là kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Trung Quốc-Liên minh châu Âu. Theo thống kê, 35 năm qua kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và Liên minh châu Âu tăng gấp hơn 150 lần, Liên minh châu Âu đã liên tục 6 năm là bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc, ngược lại Trung Quốc cũng vươn lên trở thành bạn hàng lớn thứ hai của Liên minh châu Âu. * Việc định giá thấp đồng nhân dân tệ làm cho hàng hóa xuất khẩu của trung quốc rẻ hơn tương đối so với hàng hóa các nước EU

* Thâm hụt thương mại giữa Châu Âu và trung quốc ngày càng lớn. Thâm hụt thương mại của 27 quốc gia EU trước Trung Quốc tăng từ 49 tỉ euro năm 2000 lên 133 tỉ euro năm 2009. Trong nửa đầu năm nay, mặc dù xuất khẩu của EU sang Trung Quốc tăng tới 43%, nhưng thâm hụt thương mại vẫn tăng từ 65 tỉ euro lên 71 tỉ euro so với cùng kỳ năm ngoái * Tại hội nghị thượng đỉnh Âu-Á trong hai ngày 4 và 5-10-2010 cũng như tại hội nghị thượng đỉnh Liên minh châu Âu (EU)-Trung Quốc hôm sau đó ở Brussels (Bỉ), bất đồng về tỉ giá nhân dân tệ đã gây không khí căng thẳng giữa Trung Quốc và châu Âu. * Châu Âu mong muốn phải ấn định một tỉ giá chuyển đổi nhân dân tệ tương xứng với đồng euro để tránh hạn chế xuất khẩu của châu Âu và từ đó tăng trưởng của châu Âu không bị ảnh hưởng

* TQ yêu cầu Ủy ban châu Âu (EC) không gây sức ép Bắc Kinh về việc mở rộng biên độ tỷ giá đồng nhân dân tệ. * Ông Ôn Gia Bảo cảnh báo.:“Nếu nền kinh tế Trung Quốc suy yếu, thì điều đó không tốt cho nền kinh tế toàn cầu. Nếu đồng nhân dân tệ không ổn định thì nó sẽ mang lại thảm họa cho cả Trung Quốc và thế giới”

c. Ảnh hưởng tới khu vực ASEAN+3
 Bộ trưởng tài chính Nhật Bản kêu gọi “ đồng yên yếu” . Thủ tướng Nhật Bản đã khẳng định sẵn sàng áp dụng những biện pháp cứng rắn để chống lại việc đồng Yên tăng giá, gây tai hại cho xuất khẩu.Đồng yên hiện ở mức cao nhất từ 14 năm qua với tỷ lệ 86.28 yên đổi được 1 USD.  Đồng NDT giảm giá , nền kinh tế các nước lập tức gặp khó khăn do đồng tiền cao gây ra khó khăn cho xuất khẩu. Điều này có nghĩa là hàng hóa của các nước ASEAN sẽ đắt hơn hàng hóa sản xuất ở Trung Quốc, khiến nhập khẩu hàng hóa Trung quốc vào ASEAN tăng.  Ngân hàng trung ương các nước ASEAN đã tung tiền ra mua lượng dự trữ lớn USD nhưng tình thế hầu như ko thay đổi

 Tình thế càng trở nên khó khăn cho các nước ASEAN khi NDT giảm giá càng lớn khi bắt đầu năm 2010, Hiệp định tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc có hiệu lực .Đây có thể coi là một bất lợi rất lớn cho các nước ASEAN khi đây chính là thời điểm mà Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu toàn cầu sau thời kỳ kinh tế khó khăn do khủng hoảng toàn cầu  Chủ trương của Trung Quốc đối với ASEAN “mua nguyên liệu, bán sản phẩm” trong nhiều năm qua đã gây căng thẳng do cán cân thương mại luôn nghiêng về Trung Quốc, nhiều nước ASEAN bị thâm hụt nặng nề  Để giảm bớt tác động của tỷ giá NDT lên xuất khẩu, các nước ASEAN không còn cách nào khác ngoài việc tăng năng lực cạnh tranh nền kinh tế của các nước thành viên thong qua việc đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật , tăng năng lực sản xuất , hạ giá thành sản phẩm …

Ảnh hưởng tới VN
Trung quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng cao trong nhiều năm qua. Tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều tăng nhanh, bình quân khoảng 40%/năm. Tuy nhiên VN đang phải chịu những tác động không tốt từ chính sách tỷ giá của TQ

VÍ DỤ
Chúng ta có thể làm 1 vài phép tính

Hai kịch bản tỷ giá Tỷ giá Hiện Đúng tại giá
USD/VND USD/RMB RMB/VND 19.500 22.425 6,93 4,85 2.815 4.625

Đúng giá/ hiện tại 15% -30% 64%

Cơ hội đối với Việt Nam

1
Các hàng hóa cùng loại không phải cạnh tranh quá gay gắt với hàng hóa TQ. Nhiều mặt hàng TQ giảm khả năng cạnh tranh

2
Sức mua tại thị trường nội địa TQ tăng => tăng khả năng xuất khẩu cho VN

3
Sức mua của RMB tăng, đầu tư nước ngoài của TQ sẽ tăng. TQ sẽ đầu tư nhiều hơn sangVN

www.themegallery.com

Những thách thức:
 Khả năng TQ chuyển dịch nhà máy thiết bị của những ngành công nghiệp dùng nhiều lao động giản đơn như may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, hoặc những công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang Việt Nam và các nước lân cận phía nam Trung Quốc. Đây cũng không phải là khuynh hướng tốt đối với Việt Nam.  Đồng RMB không thực sự tăng mạnh nên hàng hoá TQ vẫn quá rẻ so với VN. Mặt khác, VN nhập khẩu từ TQ những hàng tiêu dùng thiết yếu, nguyên phụ liệu và một số máy móc, trong khi xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô và nông sản thực phẩm tiểu ngạch giá trị rất thấp và không ổn định

IV.Có hay không sẽ xảy ra một cuộc CTTT?

Hiện nay có 2 quan điểm chủ yếu:
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế thì chiến tranh tiền tệ xem ra khó có khả năng tránh khỏi nếu vấn đề này không được giải quyết cơ bản ở Hội nghị cấp cao Nhóm G20 tới. Còn theo quan điểm của không ít học giả trong giới nghiên cứu kinh tế thì cuộc chiến ấy đã diễn ra trên thực tế từ lâu rồi.

Chúng ta có thể hiểu CTTT theo 2 cách:
Nếu như hiểu chiến tranh tiền tệ là một dạng đặc biệt của chiến tranh kinh tế và luôn có yếu tố chủ định lũng đoạn tiền tệ thì thực tế các mối quan hệ hiện nay về tỷ giá hối đoái của các đồng tiền trên thế giới chưa phải đến mức như vậy. Nhưng nếu hiểu chiến tranh tiền tệ là thực thi chính sách tỷ giá hối đoái riêng bất chấp tác động của nó tới các đối tác bên ngoài thì quan điểm cho rằng đã có chiến tranh tiền tệ không hẳn không có lý.

 Khủng hoảng kinh tế năm 2008 dẫn đến những mâu thuẫn tiền tệ hiện nay tuy nhiên cuộc chiến tiền tệ đã thực sự diễn ra từ cuối thế kỉ 20 đến đầu thế kỉ 21 do 2 thực thể kinh tế lớn là Trung Quốc và Mỹ  Mỹ ra sức đấu tranh đòi Trung Quốc tăng tỉ giá đồng Nhân dân tệ (NDT) từ 25%-30% so với đồng USD để giảm nhập siêu cho Mỹ. Yêu cầu này đã được EU và các nước khác đồng tình ủng hộ, bởi vì EU cũng chung cảnh ngộ như Mỹ.  Trung Quốc kiên quyết phản đối nên cuộc chiến tiền tệ luôn căng thẳng gay gắt từ năm 2003 cho tới nay

Một số nước đã bày tỏ thái độ của mình trước những gì đang diễn ra của đồng nhân dân tệ. Thủ tướng Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đã ngồi lại với nhau để khẳng định rằng cần phải tuân theo “ những hành động có trách nhiệm” đối với chính sách tiền tệ Trái ngược với lời nói của mình Nhật Bản đã tiến hành những động thái ngăn chặn sự tăng giá của đồng yên. Trong khi đó Nhật Bản tố cáo Hàn Quốc dìm giá đồng won.Châu Âu cũng lên tiếng chỉ trích Trung Quốc nhưng lại bực tức khi nhìn tỷ giá đồng EURO quá cao so với USD 11/10 Andrew Robb, bộ trưởng Tài chính đối lập của Úc đã lên tiếng yêu cầu chính phủ nước này phải có biện pháp ngăn chặn xu hướng tăng giá của đồng nội tệ. Trước đó hai tuần, Guido Mantega, bộ trưởng Tài chính Brazil thừa nhận một cuộc chiến tranh tiền tệ quốc tế đã xảy ra

Tuy nhiên biểu hiện rõ nhất của cuộc chiến tiền tệ là những động thái cứng rắn của Mỹ và Trung Quốc:  Ngày 3/2/2010, tổng thông Barack Obama nói sẽ áp dụng biện pháp cứng rắn đối với Trung Quốc về vấn đề tỷ giá  Ngày 15/3, 130 nghị sĩ quốc hội Mỹ đồng thanh lên tiếng yêu cầu bộ trưởng bộ tài chính Mỹ Timothy F. Geithner và Bộ trưởng thuơng mại Gary Locke phải coi Trung Quốc là nước “thao túng tỷ giá”để xử lý  Ngày 17/3/2010, quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã lên tiếng ủng hộ Mỹ trong việc kêu gọi trung Quốc xem xét nâng giá đồng NDT.  Ngày 15-16/9, Quốc hội Mỹ mở phiên điều trần về tỷ giá đồng NDT  Ngày 24/9 đã thông qua “ sắc lệnh áp dụng biểu thuế quan đặc biệt” đối với những nước tấn định tỷ giá thấp

 Bộ Ngoại thương Trung Quốc 30/9/2010 lên tiếng, nói giao thương hai nước sẽ bị tổn hại vì Hạ viện Hoa Kỳ, như Trung Quốc nói, “đã leo thang trong xung đột với Trung Quốc” về vấn đề ngoại hối.  Trung Quốc là người cột đồng NDT với đồng USD với tỉ giá thấp. Nhưng tới nay, Trung Quốc chỉ mới nới lỏng đôi chút chứ chưa tháo ra.

Có 3 điểm chú ý đối với sự xung đột tiền tệ hiện nay
 Thứ nhất, do hậu quả của khủng hoảng, các nước phát triển phải chịu thiếu hụt sức cầu trong thời gian dài  Thứ hai, khu vực tư nhân đang tự động điều chỉnh để hướng tới sự tăng trưởng nhờ xuất khẩu. Theo dự báo từ tháng 4 của Viện Tài chính quốc tế tại Washingto cho thấy dòng vốn ròng chảy vào các nước mới nổi của khu vực tư nhân năm nay sẽ là 746 tỷ USD (xem đồ thị)

 Thứ ba, sự điều chỉnh tự nhiên này tiếp tục bị cản trở bởi các kho dự trữ ngoại hối. Các kho dự trữ này thể hiện dòng vốn chảy ra của khu vực nhà nước (xem đồ thị).

Câu hỏi đặt ra:’’Liệu chúng ta có đang chứng kiến những bước khởi đầu cho một cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo tại các nước mới nổi?  Nếu dòng vốn ngoại đổ vào gia tăng, các nước đang phát triển có thể buộc phải lựa chọn giữa: để đồng nội tệ tăng giá, bào mòn sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu; áp dụng những biện pháp kiểm soát dòng tiền ngặt nghèo; hoặc để mặc cho nền kinh tế của nước mình đương đầu nguy cơ tăng trưởng quá nóng  Một số quốc gia còn thấy vấn đề này tồi tệ hơn khi đánh mất thị phần vào tay Trung Quốc tại các thị truờng tại nước thứ 3.  Trước tình huống không lấy gì làm tốt đẹp này, cũng dễ hiểu các thị truờng mới nổi đã bắt đầu hành động trong đó có nước kết hợp cả tăng giá đồng tiền, dự trữ và kiểm soát vốn.

Ai là người mong có cuộc chiến tiền tệ này?  Thế giới luôn biến động, giới đầu cơ và một số cường quốc, thậm chí một số định chế tài chính được xem là các thiết chế xương sống qui định các "luật chơi" trên thế giới có thể có một số động cơ nào đó muốn "phá vỡ" trật tự kinh tế tiền tệ hiện hữu?  Họ mong muốn một trật tự mới có lợi hơn cho mình, giành lại thị phần, phân công lại "vai trò" của "mỗi tay chơi" trong cuộc đua toàn cầu! Chiến tranh tiền tệ liệu có dẫn đến khủng hoảng kinh tế kép hay xung đột chính trị, quân sự leo thang phạm vi khu vực hay toàn cầu?  Ai không mong muốn "chiến tranh tiền tệ"? Những người còn lại!

 Sức mạnh của đồng VND ở đâu? Hầm trú ẩn của chúng ta ở đâu? Có nên thành lập hay giao nhiệm vụ theo dõi diễn biến vụ việc này cho cơ quan chuyên trách nào ở Việt Nam? Hầm trú ẩn thực sự nằm ở sức mạnh nội tại của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi người dân. Tâm hồn và lương tri của dân tộc. Năng suất lao động là quyết định. Lao động siêng năng, cần cù, cải cách liên tục, nâng cao năng suất chất lượng có thể là chìa khóa

Directed by: NHÓM 5 – ngân hàng 50D ^-^