1. Tính cấp thiết của đề tài: Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng Mở Đầu Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài: Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng Mở Đầu Mở Đầu
MỞ ĐẦU
của thuốc trừ sâu đối với thiên địch của sâu hại cũng như đối với môi trường và con người còn
hạn chế.
Từ những thực trạng trên và một yêu cầu đặt ra là làm thế nào giúp người nông dân nhận
thức đúng đắn việc sử dụng thuốc hoá học trong sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệp
nói chung, giảm được những tác động xấu tới môi trường, sức khoẻ con người bên cạnh đó còn
bảo vệ được các loài thiên địch tự nhiên có ích cho sinh quần nông nghiệp. Vì vậy chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến một số quần thể
thiên địch chính trên đồng ruộng vụ xuân 2011 tại Hải Lộc – Hải Hậu – Nam Định”.
Nhện lớn bắt mồi 80,6 15,5 39,4 44,4 59,1 71,6
Nhện non tuổi 3 (đực) (*) 5,0 ± 2,1 3,7 ± 1,6 3,2 ±2,3 3,8 ± 2,1
Nhện non tuổi 3 (cái) (*) 5,5 ± 2,2 5,2 ± 1,3 4,3 ± 2,2 5,1 ± 2,5
Nhện non tuổi 6 đực (*) 9,8 ± 14 5,5 ± 0,7 4,8 ± 2,5 5,8 ± 1,6
Nhện non tuổi 6 cái (*) 12,0 ± 4,1 7,6 ± 2,7 6,1 ± 3,9 10,4 ± 2,9
Nhện non tuổi 8 đực (*) 19,1 ± 6,5 11,3 ± 5,1 6,5 ± 1,0 7,9 ± 3,7
Nhện non tuổi 8 cái (*) 21,0 ± 5,6 14,1 ± 3,2 7,8 ± 3,0 14,3 ± 6,8
Trưởng thành đực (**) 13,8 ± 2,8 7,8 ± 1,9 6,9 ± 2,3 9,4 ± 2,4
Trưởng thành cái không trứng (**) 34,1 ± 3,1 25,3 ± 2,1 17,3 ± 2,7 25,5 ± 2,6
Trưởng thành có trứng 21,0 ± 2,3 9,2 ± 3,4 7,5 ± 3,6 12,5 ± 3,1
Ghi chú: (*) : Con mồi là rầy nâu non tuổi 4 của rầy nâu.
( **): Con mồi là rầy nâu non tuổi 5 của rầy nâu.
(Nguồn: P. V. Lầm và nnk., 1993, 1996)
Ngoài ra, một số loài BM như bọ rùa tám chấm cũng có vai trò nhất định trong hạn chế
số lượng rầy nâu.
* Vai trò của thiên địch đối với sâu đục thân hại lúa
Đến nay, đã phát hiện được 39 loài thiên địch của các loài sâu đục thân lúa ở nước ta,
gồm 32 loài ký sinh và 7 loài bắt mồi. Chúng tạo thành 4 tập hợp. Tập hợp thiên địch của sâu
đục thân lúa bướm hai chấm (S. incertulas) phong phú nhất, gồm 28 loài. Tập hợp thiên địch của
sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (C. suppressalis) có số loài thiên địch nhiều thứ hai (21 loài). Tập
hợp thiên địch của sâu đục thân bướm cú mèo (S. inferens) gồm 11 loài. Ít nhất là tập hợp thiên
địch của sâu đục thân 5 vạch đầu đen (C. aurcilicus) chỉ mới phát hiện được 6 loài. Trong số các
loài thiên địch đã phát hiện được của nhóm sâu đục thân lúa có khoảng 10 loài phổ biến
(bảng1.3).
Bảng 1.3. Những thiên địch phổ biến của nhóm sâu đục thân lúa
Tetrastichus
KS (***) Trứng S. incertulas
schoenobii
S. incertulas, C.
Telenomus dingus KS (**) Trứng
suppressaalis
S. incertulas, C.
Exoryza schoenobii KS (**) Sâu non
suppressaalis, C. Auricilius
S. incertulas, C.
Temelucha
KS (*) Sâu non suppessaalis, C. auricilius, S.
philipenensis
Inferens
S. incertulas, C.
Tropobracon
KS (*) Sâu non suppressaalis, S. incertulas,
schoenobii
C. Auricilius
Amauromorpha
KS (*) Sâu non S. incertulas, C. auricilius
accepta schoenobii
Metoposisyrops S. incertulas, C.
KS (*) Sâu non
pyralidis suppressaalis, C. Auricilius
Pardosa
KS (*) Trưởng thành S. incertulas
pseudoanuulata
Ghi chú: (*) – Loài phổ biến; (**) – Loài quan trọng; (***) – Loài rất quan trọng.
* Vai trò của thiên địch đối với nhóm sâu cuốn lá lúa
Đến nay có thể thống kê được hơn 100 loài thiên địch của nhóm sâu cuốn lá lúa. Trong
đó khoảng 70 loài là ký sinh, còn lại là các loài bắt mồi. Chúng tạo thành 4 tập hợp. Tập hợp
thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ có thành phần phong phú nhất với 75 loài (gồm 24 loài bắt mồi và
51 loài ký sinh). Tập hợp thiên địch của sâu cuốn lá lớn đầu vạch nâu (P. guttata) và sâu cuốn lá
lớn đầu vạch đỏ có 51 và 20 loài (tương ứng). Tập hợp thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ đầu đen
(Brachmia) phát hiện được 25 loài.
1.2.1.d Ảnh hưởng của thuốc hóa học BVTV đến thiên địch chính
Các thiên địch đều rất mẫn cảm với thuốc hóa học trừ sâu, đặc biệt pha trưởng thành của
các ký sinh và pha ấu trùng của các loài BM là mẫn cảm nhất đối với thuốc hóa học trừ sâu. Để
bảo vệ được thiên địch tự nhiên, phải có hiểu biết về mức độ độc hại của thuốc trừ sâu đối với
các thiên địch trên đồng lúa. Dựa trên những đánh giá về mức độ độc hại của thuốc trừ sâu để
chọn một bộ thuốc vừa có hiệu quả cao đối với sâu hại vừa ít độc đối với thiên địch của sâu hại,
cũng như đối với môi trường, con người. Nhiều thuốc hóa học BVTV đã được đánh giá mức độ
độc hại tới một số thiên địch phổ biến của sâu chính hại lúa.
Ngay từ giữa thập niên 1970 đã có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc 666 và wofatox
đối với ký sinh trứng sâu đục thân lúa bướm hai chấm. Các thuốc 666 (6% ở nồng độ 1/200
hoặc 25kg/ha) và wofatox (nồng độ 0,1%) đều gây ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh nở ong ký sinh
từ trứng đục thân lúa bướm hai chấm. Nơi xử lý thuốc, tỷ lệ ong nở là 0 - 14,2%, trong khi đó
đối chứng không xử lý thuốc tỷ lệ này là 91,4 – 95% (L. M. Khôi và nnk., 1975).
Trong điều kiện phòng thí nghiệm các thuốc mipcin (1/300), bassa (1/800), wofatox
(1/1000) rất độc hại với bọ rùa H. octomaculata (N. V. Huỳnh và nnk., 1980). Bọ cánh cứng
ngắn Paderus fuscipes bị chết 52 – 72% khi dùng thuốc azodrin, bassa (L. M. Châu và nnk.,
1987). Thuốc trebon 10EC dùng lượng 0,7 lít/ha trừ rầy nâu có mức độc cấp 2 đối với bọ P.
fuscipes, P. tamulus tức là gây giảm 26 – 50% quần thể của chúng. Nếu dùng lượng 1 lít/ha thì
sẽ có mức độc cấp 3, tức là gây giảm quần thể của nó từ 51 đến 75% (P. V. Lầm và nnk., 1996).
Thuốc wofatox, bassa, mipcin phun trực tiếp lên bọ ba khoang Ophionea indica, sau 18 giờ gây
chết tương ứng 100%, 93 và 73%. Nếu phun gián tiếp, các thuốc này gây chết từ 63 – 83% (T.
Đ. Chiến, 1993).
1.2.2. Nghiên cứu sử dụng thiên địch trong phòng chống sâu hại lúa
1.2.2.a. Nhân nuôi lượng lớn các thiên địch để thả ra đồng lúa
Có thể nhân nuôi lượng lớn ong mắt đỏ để trừ sâu cuốn lá loại nhỏ, sâu đục thân lúa hoặc
sản xuất nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Metarhizium flavoviride để trừ rầy
nâu, bọ xít hại lúa. Nói chung, hiệu quả của việc nhân thả thiên địch phụ thuộc nhiều vào chất
lượng loài thiên địch (ong ký sinh, vi sinh vật gây bệnh côn trùng,…) được nuôi trong phòng.
Chất lượng này lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nhân nuôi. Mặt khác, việc nhân nuôi lượng
lớn các thiên địch thường gắn liền với một quy trình công nghệ sinh học phức tạp, nên giá thành
của chế phẩm cao. Nếu nhân nuôi theo kiểu thủ công thì chỉ giải quyết được một lượng nhỏ,
không thể áp dụng rộng được. Với điều kiện nước ta thì hướng nhân thả thiên địch để trừ sâu hại
lúa chưa thể thực hiện được.
1.2.2.b. Bảo vệ, duy trì và phát triển quần thể các loài thiên địch có sẵn trong tự
nhiên
Đây là việc áp dụng các nguyên lý sinh thái trong phòng trừ sâu hại lúa. Mục đích chính
của hướng này là làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên của sâu hại lúa do thiên địch gây ra. Theo Pavlov
(1983), quần thể của các loài bắt mồi có sẵn trong tự nhiên lớn gấp hàng ngàn lần so với những
quần thể của chúng được nhân nuôi trong các xưởng sinh học để thả vào tự nhiên.
* Để cho các loài gây hại tồn tại ở mức độ thấp có thể chấp nhận được
Một cá thể của một loài sâu hại dù nguy hiểm đến đâu cũng không thể gây giảm năng
suất lúa được. Sự gây hại của chúng chỉ có ý nghĩa khi quần thể của loài có hại đạt tới ngưỡng
kinh tế. Khi loài có hại ở mật độ thấp không những không gây giảm năng suất mà còn là nguồn
thức ăn quan trọng để duy trì các loài thiên địch. Việc tiêu diệt hoàn toàn các loài sâu hại sẽ làm
cho các loài thiên địch bị chết không có thức ăn và vật chủ hoặc phải di cư đi nơi khác.
* Xác định ngưỡng hữu hiệu của các loài thiên địch
Một cá thể của loài thiên địch không thể có ý nghĩa gì trong hạn chế số lượng loài có hại.
Vai trò to lớn của loài thiên địch trong điều hòa số lượng loài sâu hại chỉ có được khi quần thể
của chúng đạt tới ngưỡng hữu hiệu. Quan sát trên đồng ruộng trong một số vụ lúa cho thấy: Nơi
không xảy ra cháy rầy nâu có tương quan số lượng giữa rầy nâu với nhện lớn bắt mồi chung
hoặc các loài bắt mồi chung tương ứng đạt 0,8 – 22,8 rầy nâu/1 nhện lớn bắt mồi hoặc 0,6 – 17,7
rầy nâu/1 cá thể bắt mồi chung. Những quan sát này cần phải được tiếp tục khẳng định thêm
trong các nghiên cứu tiếp theo. Việc xác định ngưỡng hữu hiệu của thiên địch phải được tiến
hành trong những sinh quần đồng lúa cụ thể và là công việc nghiên cứu cần thiết cấp bách trong
lĩnh vực lợi dụng thiên địch tự nhiên để phòng chống sâu hại lúa.
* Áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của các loài thiên địch
Có nhiều biện pháp canh tác vừa có ý nghĩa thâm canh cây lúa vừa có ý nghĩa khích lệ
hoạt động của các loài thiên địch. Ruộng lúa đủ nước thường xuyên có mật độ chung của nhện
lớn bắt mồi (20,1 – 90,8 con/m2) nhiều hơn hẳn so với mật độ chung của nhện lớn bắt mồi (14,2
– 67,3 con/m2) ở ruộng không đủ nước thường xuyên. Mực nước ruộng quá lớn thì cũng làm
giảm mật độ của các loài nhện lớn bắt mồi. Mật độ cấy, sạ quá cao làm giảm số lượng của nhiều
loài nhện lớn bắt mồi trên đồng lúa. Nếu sử dụng quá nhiều phân đạm sẽ làm cho cây lúa có tán
lá rậm rạp, không thích hợp cho việc cư trú của một số loài nhện lớn bắt mồi như Tetragnatha
spp., nhện sói Pardosa pseudoannulata,… Gieo trồng các giống lúa có tính kháng rầy nâu trung
bình là những biện pháp hữu hiệu để duy trì nhiều loài thiên địch trên đồng lúa (Phạm Văn Lầm,
1994).
* Bảo đảm tính đa dạng thực vật trong hệ sinh thái đồng lúa
Như đã nêu trên, phần lớn các loài thiên địch trên đồng lúa là loài đa thực, không chuyên
tính. Chúng có thể cư trú trên nhiều loại cây trồng. Nhiều loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúa
như bọ rùa đỏ, cánh cứng ngắn, bọ ba khoang,… thì cũng phổ biến trên đồng ngô, đậu tương…
Việc xen canh các cây trồng khác với cây lúa góp phần làm tăng tính đa dạng hệ thực vật trong
hệ sinh thái đồng lúa, tức là làm tăng tính đa dạng của khu hệ chân đốt và làm tăng thêm tính
“dẻo sinh thái” cũng như tính bền vững của hệ sinh thái đồng lúa. Trong điều kiện như vậy, các
loài thiên địch dễ dàng phát huy được vai trò của chúng trong hạn chế số lượng nhiều loài sâu
hại lúa (Phạm Văn Lầm, 1994).
* Sử dụng thuốc hóa học hợp lý
Để bảo vệ các loài thiên địch của sâu hại lúa cần phải sử dụng thuốc hóa học hợp lý. Đây
là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ thiên địch trong tự nhiên. Việc dùng thuốc hóa học hợp lý
chỉ đạt được khi áp dụng hệ thống PTTH. Không được coi biện pháp dùng thuốc hóa học là bắt
buộc. Thuốc hóa học chỉ dùng khi các biện pháp khác không thể kìm hãm được sâu hại ở mức
cho phép. Khi dùng thuốc hóa học thì cần tuân theo phương châm 4 đúng: Đúng lúc; đúng
thuốc; đúng liều lượng, nồng độ; và đúng chỗ, đúng phương pháp. Muốn vậy phải thường xuyên
thăm đồng theo dõi tình hình phát triển sâu hại cũng như các loài thiên địch trên đồng lúa.
1.3. Tài liệu nghiên cứu ngoài nước
1.3.1. Một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở nước ngoài
1.3.1.a. Nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại lúa
Những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu hại lúa đã được tiến hành ở nhiều
nước trồng lúa trên thế giới từ đầu thế kỉ XX. Nawa (1913), Shiraki (1917), Speare (1920), Maki
(1930), Uichanko (1930), Esaki và Hashimoto (1931), Esaki (1932),… đã có những công bố về
thiên địch của các loài sâu đục thân lúa và rầy hại lúa ở Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Thái
Lan, Philippine (dẫn theo Chiu, 1979; Rombach et al.,1994).
Số loài côn trùng BM đã phát hiện được ở Trung Quốc là 460 loài, ở Nhật Bản – 81 loài,
ở Malaysia – 54 loài… Nhện lớn (Araneida) là một trong các nhóm BM phổ biến trên lúa.
Thành phần loài nhện lớn BM cũng khá phong phú. Số loài nhện lớn BM đã ghi nhận được trên
đồng lúa ở Thái Lan, vùng lãnh thổ Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc là 62, 75,
90, 175 và 293 loài (tương ứng). Trên ruộng lúa ở vùng Đông Nam Á đã phát hiện được 342
loài nhện lớn BM.
Những dẫn liệu nêu trên cho thấy, lịch sử trồng lúa lâu dài đã tạo điều kiện cho sự hình
thành một khu hệ thiên địch phong phú và đặc trưng cho hệ sinh thái lúa nước.
1.3.1.b. Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu chính hại lúa
Thành phần sâu hại lúa và thiên địch rất phong phú và đa dạng. Mỗi loài thiên địch đều
đóng một vai trò nhất định trong hạn chế số lượng sâu hại lúa. Dưới đây xin giới thiệu một cách
tổng quát một vài kết quả ở nước ngoài nghiên cứu về vai trò của một số thiên địch phổ biến
trong hạn chế số lượng những nhóm sâu hại lúa quan trọng.
* Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng các loài rầy hại lúa
Thành phần thiên địch của các loài rầy hại lúa đã phát hiện được rất phong phú. Ở Thái
Lan có 10 – 17 loài, Ấn Độ có hơn 20 loài, Hàn Quốc có 14 loài BM, ở Malaysia có 16 loài.
Chung cho nhiều nước ở vùng lúa Đông Nam Á có 14 loài. Trong đó phổ biến có một số loài
như:
Ong ký sinh Anagrus spp. chiếm 93% ký sinh trứng rầy nâu ở Taipei (Đài Loan). Tỷ lệ
trứng rầy nâu bị các ong này kí sinh 11,3 – 29,6% ở vụ 1 và 3,3 – 38,1% ở vụ 2. Ong
Gonatocerus spp. chiếm ưu thế trong các ký sinh trứng rầy xanh đuôi đen Hàn Quốc. Chúng có
thể tiêu diệt được 29,7 – 49% trứng (Chandra, 1980; Chang,1982). Tuy nhiên, ký sinh không có
ảnh hưởng lớn tới quần thể rầy nâu (Chiu, 1979). Ấu trùng và trưởng thành các loài rầy hại lúa
thường bị ong ký sinh họ Dryinidae tấn công. Trong đó quan trọng là các loài Pseudogonatopus
spp. và Haplogonatopus spp. Ngoài ra, pha ấu trùng và pha trưởng thành các loài rầy hại lúa còn
bị ruồi đầu to (họ Pipunculidae) và bọ cánh cuốn (họ Elenchidae) ký sinh.
Bọ xít mù xanh Cytorhinus lividipennis là loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúa. Nó tiêu
diệt trứng và rầy non tuổi nhỏ. Đây là loài bắt mồi rất hiệu quả trong hạn chế số lượng rầy nâu,
rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen (Chiu, 1979; Ooi, 1982; Ooi et al., 1994). Ở trong phòng thí
nghiệm, sau 24 giờ, một trưởng thành cái và một trưởng thành đực loài bọ xít mù xanh có thể ăn
20 và 10 trứng rầy nâu (tương ứng) (Chua et al., 1986; IRRI, 1987; Reisig et al., 1986).
* Vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa
Ở Đông Nam Á có 16 loài thiên địch phổ biến và quan trọng của các sâu cuốn lá nhỏ
(Cnaphaocrois medinalis, Marasmia patnalis) (Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Reissig et
al., 1986; Shepard et al., 1991). Ở trang trại của IRRI, sâu cuốn lá nhỏ bị kí sinh với tỷ lệ khoảng
40% (Arida et al., 1990). Ong Triochogramma sp. Có thể tiêu diệt khoảng 20% trứng sâu cuốn
lá nhỏ. Ở Trung Quốc ong Trichogramma cofusum, T. japonicum, Telenomus sp. là những ký
sinh chủ yếu trên trứng sâu cuốn lá lớn. Vào tháng 8 – 9 hàng năm, tỷ lệ trứng sâu cuốn lá lớn bị
ký sinh trùng là 10,4% và tăng lên 26,6% vào tháng 10 – 12 (Xie Minh, 1993).
Các loài BM có vai trò lớn trong hạn chế số lượng sâu cuốn lá lúa. Theo Kamal (1981),
khoảng 70% sâu cuốn lá nhỏ bị tiêu diệt bởi các loài BM (dẫn theo Ooi et al., 1994).
* Vai trò của thiên địch đối với nhóm sâu đục thân lúa
Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá phong phú, nhưng có rất ít loài
quan trọng. Số loài thiên địch quan trọng đối với nhóm sâu đục thân lúa chung cho vùng lúa
Đông Nam Á là 15 loài (Kamran et al., 1969; Napompeth, 1990; Ooi et al., 1994; Ressig et al.,
1986; Shepard et al., 1991; Tirawat, 1982). Subba Rao et al., (1983) đã thông báo rằng tập hợp
ký sinh trứng (Tetrastichus, Telenomus và Trichogramma) có thể tiêu diệt được 77% trứng đục
thân lúa bướm hai chấm ở Ấn Độ.
Hoạt động của các ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vật gây bệnh có thể gây chết tới
58% sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của Ấn Độ. Các loài BM cũng đóng vai trò khá quan
trọng trong tiêu diệt sâu đục thân lúa ở các pha phát dục khác nhau. hai chấm. Một cá thể nhện
sói Pardosa pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng thời
nó tấn công cả pha trưởng thành của các loài sâu đục thân.
1.3.1.c. Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch
Ngay từ năm 1954, Bei – Bienko nhà côn trùng học của Liên Xô cũ đã nhận thấy: “Việc
sử dụng thuốc hóa học BVTV quá mức và máy móc, đặc biệt là dùng các loại thuốc có tốc độ
cao, có thể kéo theo những hậu quả nặng nề: Làm tăng số lượng và ý nghĩa kinh tế của nhiều
loài sâu hại do sự phá hủy hệ thiên địch của chúng trong tự nhiên”.
Theo Chiu và Cheng (1976), các thuốc trừ sâu như fenthion, parathion, monocrotophos,
bufencarb, mtalvariate, MTMC, BPMC, MIPC, sevin, propoxus và phosmet có độ độc cao đối
với bọ xít mù xanh. Các thuốc trừ sâu diazinon, cypermethrin, deltamethrin, carbofuran,
quinalphos, chlorpyriphos, phosalone, thuốc trừ cỏ pretilachlor, thuốc trừ nấm IBP có độ độc
cao đối với bọ xít mù xanh. Thuốc endosulfan ít độc với bọ xít này (dẫn theo Chiu, 1979).
Các thuốc cypermethrin, deltamethrin có độ độc cao đối với bọ xít nước Microvelia
atrolineata. Thuốc trừ cỏ butachlor và pretilacholor có độ độc khá cao với bọ xít nước
Microvelia horvathi. Thuốc trừ nấm IBP có thể tiêu diệt loài BM này với tỷ lệ khá cao (Chelliah
et al., 1994; Chen et al., 1999). Các thuốc methomyl, chlorpyrifor, methyl parathion,
monocrotophos, BPMC có độ độc rất cao với dế M. vittaticollis và A. longipennis (Bandong et
al., 1986).
Các thí nghiệm ở trong phòng của Chiu và Cheng (1976) cho thấy thuốc nhóm
carbamate có độ độc đối với nhện Lycosa pseudoannulata và nhện Oedothorax insecticeps cao
hơn so với thuốc nhóm lân hữu cơ. Thuốc bufencarb, carbofuran, cypermethrin, deltamethrin có
độ độc rất cao đối với nhện L. pseudoannulata. Các thuốc monocrotophos, methomy có độ độc
rất thấp đối với nhện sói này (Chiu, 1979). Thuốc carbofuran có độ độc cao đối với nhện L.
pseudoannulata, Oxyopes sp., Tetragnatha sp. (Chelliah et al., 1994). Các thuốc
shachchongshuang, methamidophos độc đối với nhện Pirata subpiraticus. Thuốc buprfezin
tương đối an toàn với thiên địch trên đồng lúa (Xu et al., 1999). Những nghiên cứu ở trong
phòng tại IRRI cho thấy các thuốc acephate, propaphos, carbophenothion, disyston,
fenitronthion, pyridafenthion có tính chọn lọc đối với nhện L. pseudoannulata và O. insecticeps.
Tính chọn lọc này có được là do sự thấm kém và sự hoạt động của một số men thủy phân các
chất hữu cơ trong cơ thể nhện lớn cao hơn so với trong cơ thể rầy nâu (H.M.Thang, 1990).
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy hầu hết các thuốc hóa học BVTV (đặc biệt là
thuốc trừ sâu hóa học) dùng trên lúa đều ảnh hưởng độc đối với thiên địch của sâu hại lúa, dẫn
tới sự phá hủy khu hệ thiên địch của sâu hại lúa. Do đó, gây tái phát quần thể của rầy nâu, rầy
xanh đuôi đen, rầy xám nhỏ, sâu đục thân 5 vạch đầu nâu ở nhiều nước trồng lúa (Kenmore et
al., 1984; Kiritani, 1979; Ooi et al., 1994).
1.4. Giới thiệu về địa điểm thực tập - Viện Bảo Vệ Thực Vật
* Tên Tiếng Việt : Viện Bảo vệ thực vật;
* Tên Tiếng Anh : Plant Protection Research Institute (PPRI)
1.4.1. Chức năng nhiệm vụ
* Chức năng:
1. Viện Bảo vệ thực vật được thành lập theo điểm"c" Khoản "1" Điều 2 của Quyết định
số: 220/QĐ-TTg ngày 09/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ Thành lập Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam.
2. Viện Bảo vệ thực vật là đơn vị sự nghiệp khoa học, trực thuộc Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về dịch hại và
sinh vật có ích trên cây trồng nông lâm nghiệp, các đối tượng kiểm dịch thực vật, thuốc bảo vệ
thực vật trên phạm vị cả nước.
Trụ sở của Viện đặt tại Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
* Nhiệm vụ:
1. Xây dựng chương trình, dự án, kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công
nghệ dài hạn, năm năm và hàng năm trong lĩnh vực Nông Lâm nghiệp để phục vụ phát triển
kinh tế xã hội của cả nước, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.
2. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực:
a) Điều tra cơ bản về sinh vật gây hại, sinh vật có ích, xây dựng quỹ gen về sinh vật trong
bảo vệ thực vật; bảo quản và xây dựng bộ mẫu chuẩn quốc gia về côn trùng, bệnh hại, cỏ dại, vi
sinh vật nông nghiệp, ký sinh thiên địch;
b) Nghiên cứu sâu bệnh, bệnh, cỏ dại và các dịch hại khác hại cây Nông Lâm nghiệp và
giải pháp phòng trừ;
c) Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật;
d) Nghiên cứu độc lý, dư lượng, phát triển thuốc bảo vệ thực vật và giải pháp sử dụng
theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường;
đ) Nghiên cứu và xác định các đối tượng kiểm dịch thực vật;
e) Nghiên cứu đánh giá nguy cơ và quản lý dịch hại phục vụ sản xuất nông sản an toàn;
f) Tham gia nghiên cứu chọn tạo giống chống chịu sâu bệnh có năng suất cao, phẩm chất
tốt phục vụ cho các vùng sinh thái của cả nước.
3. Thực hiện khảo, kiểm nghiệm thuốc bảo vệ thực vật.
4. Thực hiện chức năng khuyến nông, khuyến lâm về bảo vệ thực vật;
5. Hợp tác quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hợp tác chuyên gia và đào tạo
nguồn nhân lực trong lĩnh vực Bảo vệ thực vật với các tổ chức trong nước theo quy định của
Nhà nước.
6. Hợp đồng liên doanh, liên kết về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, thử
nghiệm kỹ thuật mới, đào tạo nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực Bảo vệ thực vật với các tổ chức
trong nước theo quy định của pháp luật.
7. Sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.
8. Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân thực, kinh phí, tài sản được giao đúng quy
định của pháp luật.
1.4.2. Tổ chức bộ máy
* Các phòng nghiệp vụ:
Phòng Tổ chức Hành chính.
Phòng Khoa học và HTQT
Phòng Tài chính kế toán.
* Các bộ môn nghiên cứu:
Bộ môn Bệnh cây.
Bộ môn Côn trùng.
Bộ môn Thuốc, Cỏ dại & Môi trường.
Bộ môn chẩn đoán & Giám định dịch hại và thiên địch.
Bộ môn Miễn dịch thực vật.
Bộ môn kinh tế BVTV.
Đơn vị sự nghiệp: Trung tâm đấu tranh sinh học.
Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ thực vật Nam Bộ.
Doanh nghiệp: Công ty Tư vấn và Đầu tư phát triển BVTV.
* Lực lượng cán bộ:
Viện có 145 cán bộ trong biên chế, trong đó có: 01 GS. Tiến sỹ; 01 PGS.TS; 14 Tiến sỹ;
32 Thạc sỹ; 84 kỹ sư và 13 KTV và nhân viên phục vụ.
Hình 2.1: Một số hình ảnh sử dụng bẫy dính vàng để điều tra thành phần và mật độ
thiên địch trên đồng ruộng trong vụ Đông xuân năm 2011 tại Hải Lộc, Hải Hậu, Nam
Định
2.3.2. Xử lý và bảo quản mẫu vật
- Mẫu loài thiên địch sẽ bảo quản trong cồn 95o và đem đi giám định tại Viện BVTV.
- Việc phân loại và giám định tên khoa học được các cán bộ trong bộ môn côn trùng
phân loại dựa trên các tài liệu chuẩn quốc tế.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.3. Phương pháp đánh giá sức tiêu diệt sâu hại của thiên địch
Phương pháp nghiên cứu: Bọ xít mù xanh và nhện sói vân hình đinh ba được thu bắt
bằng ống nghiệm ở đồng đem về phòng thí nghiệm. Mỗi cá thể được nuôi trong một ống thủy
tinh (kích thước 20 x 2cm cho bọ xít mù xanh, 25 x 4cm cho nhện sói vân hình đinh ba). Bọ xít
mù xanh bỏ đói 24 giờ còn nhện sói vân hình đinh ba bỏ đói 48 giờ. Sau thời gian bỏ đói thì bắt
đầu tiến hành thí nghiệm. Mỗi ngày thả 40 rầy non tuổi 4-5 của rầy nâu cho 1 nhện sói vân hình
đinh ba và 100 trứng rầy nâu cho bọ xít mù xanh. Sau 24 giờ kiểm tra số lượng con mồi bị tiêu
diệt và thay thức ăn mới.
- Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành liên tục trong 3 ngày.
2.3.4. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số
quần thể thiên địch trong phòng thí nghiệm
Nhện sói vân đinh ba được thu ngoài đồng ruộng với các kích thước tương đương nhau
(9±0,1mm chiều dài). Sau đó mang về phòng thí nghiệm giữ ổn định sau 12 tiếng sau đó thả vào
các đĩa Pepti (10cm đường kính), được lót một tấm giấy thấm có kích thước vừa với đĩa Pepti.
Giấy được phun thuốc ở các liều lượng khác nhau trước khi cho vào đĩa Pepti.
Sử dụng 2 loại thuốc có gốc là Diazinon và Imidacloprid để đánh giá ảnh hưởng của
thuốc với Nhện sói vân đinh ba. Thuốc được áp dụng ở các liểu lượng khác nhau 3ppm, 15ppm,
30ppm, 150ppm và 300ppm (ppm = pass per million; một phần một triệu).
Sau khi thả nhện vào các đĩa Pepti, tiến hành theo dõi khả năng sống sót của nhện ở 12,
24 và 48 giờ sau khi thả. Mỗi công thức tiến hành theo dõi 10 cá thể Nhện sói vân đinh ba.
2.3.5. Phương pháp điều tra đánh giá ảnh hưởng của thuốc hoá học đến một số
quần thể thiên địch ngoài đồng ruộng
Chúng tôi tiến hành theo dõi diễn biến quần thể của Nhện tổng số, Bọ xít mù xanh và Bọ
ba khoang trên đồng ruộng.
Ruộng thí nghiệm được bố trí diện rộng mỗi ruộng có diện tích từ 360-500m 2, không
nhắc lại. Tiến hành phun thuốc khi rầy nâu xuất hiện trên đồng ruộng bằng các loại thuốc như:
Chế phẩm sinh học nấm Metarhizium, thuốc hoá học Chess 50WG và Bassa 50EC.
Giống lúa trồng tại 3 ruộng thí nghiệm (3 công thức) là giống Bắc thơm số 7 (giống
trồng phổ biến tại điểm nghiên cứu). Các chế độ canh tác, chăm sóc và thời gian gieo cấy giống
nhau.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng bẫy dính vàng để điều tra diễn biến mật độ thiên địch ở các công thức một
tuân/lần. Mỗi công thức điều tra 5 điểm chéo góc mỗi điểm tiến hành đập 10khóm lúa. Số lượng
thiên địch thu được, được trực tiếp đếm bằng mắt thường hoặc mang về phòng thí nghiệm đếm
dưới kính núp điện tử.
2.3.6. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán
Mức độ phổ biến của các loài thiên địch bắt mồi ăn thịt được lượng hoá theo tần suất bắt
gặp như sau:
Số điểm có thiên địch
Tần suất bắt gặp (%)= ----------------------------- x 100
Tổng số m2 điều tra
- : Rất ít (< 10% số lần bắt gặp)
+ : Ít (11 – 20 % số lần bắt gặp
++ : Trung bình (21 – 50% số lần bắt gặp)
+++ : Nhiều (>50% số lần bắt gặp).
Tổng số thiên địch bắt gặp (con)
- Mật độ thiên địch (con/m2) = ----------------------------------------
Tổng số m2 điều tra
- Tỷ lệ số lượng từng loài (%):
Na
- Tỷ lệ loài (%) = ------------------ x 100
N
Trong đó:
Na: số lượng cá thể từng loài (theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa).
N: Tổng số cá thể thiên địch điều tra.
- Hiệu lực thuốc được tính theo công thức: Henderson – Tilton.
Ta x Cb
E (%) = (1- ----------------- x 100)
Ca x Tb
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đó: Ta: số cá thể thiên địch sống ở ô xử lý thuốc sau khi phun.
Tb: số cá thể thiên địch sống ở ô xử lý thuốc trước khi phun.
Ca : số cá thể thiên địch sống ở ô đối chứng sau khi phun.
Cb : số cá thể thiên địch sống ở ô đối chứng trước khi phun.
2.3.7. Xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê trong chương trình
Microsoft Excel.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần và mức độ phổ biến một số loài thiên địch chính trên
đồng ruông vụ Đông xuân 2011 tại Hải Lộc – Hải Hậu – Nam Định.
Thiên địch là một thành phần không thể thiếu trong hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt
trong hệ thống thâm canh lúa bền vững. Thiên địch có nhiều loài, bao gồm nhóm bắt mồi, nhóm
ký sinh giết chết vật chủ và nhóm sinh vật gây bệnh. Chúng có vai trò rất quan trọng trong việc
khống chế thành phần, số lượng sâu hại trên đồng ruộng, bảo vệ môi trường. Vì vậy thiên địch
được coi là “bạn của nhà nông”.
Để tìm hiểu thành phần thiên địch trên lúa, tôi đã tiến hành điều tra trên lúa vụ xuân 2009
tại Hải Lộc – Hải Hậu – Nam Định. Kết quả được thể hiện qua (bảng 3.1)
Bảng 3.1. Thành phần thiên địch phổ biến trên lúa vụ xuân năm 2009 tại Hải Lộc
– Hải Hậu – Nam Định.
Cyrtorhinus lividipennis
2 Bọ xít mù xanh Miridae + ++ +++
Reuter
Cavelerius sacchiricvorus
3 Bọ xít ăn thịt Lygaeidae - + +
Okajima
Nhện lùn .
Atypena sp.
Hình 3.1: Một số thiên địch phổ biến của sâu hại trên lúa vụ xuân 2011 tại Hải Lộc
- Hải Hậu – Nam Định
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
3.2. Vai trò của một số loài thiên địch đối với việc hạn chế sâu hại chính trên lúa.
Để hiểu rõ được vai trò của các loài thiên địch trong việc hạn chế các loài sâu chính hại
lúa, trong vụ xuân năm 2011 chúng tôi tiến hành theo dõi khả năng ăn rầy nâu của 2 loài thiên
địch bắt mồi phổ biến tại Hải Lộc - Hải Hậu – Nam Định là: Nhện sói vân đinh ba và bọ xít mù
xanh.
3.2.1. Khả năng ăn trứng rầy nâu của bọ xít mù xanh
Ở nước ta bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis Reuter) là loài côn trùng bắt mồi khá
phổ biến trên đồng lúa ở khắp các vùng trồng lúa. Cả ấu trùng và trưởng thành đều sống kiểu bắt
mồi. Chúng tiêu diệt trứng và rầy non tuổi nhỏ của rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen và
nhiều loài rầy hại lúa khác. Bọ xít mù xanh được coi là loài bắt mồi quan trọng trên đồng lúa ở
nhiều nước (Chiu, 1979). Thí nghiệm về khả năng ăn trứng rầy nâu được tiến hành với bọ xít
trưởng thành và bọ xít non tuổi cuối. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm khả năng ăn trứng rầy nâu
của bọ xít mù xanh, thả 100 trứng rầy nâu vào trong lọ thí nghiệm có cây lúa và bọ xít mù xanh,
theo dõi trong 3 ngày, 3 lần nhắc lại.
Kết quả cho thấy bọ xít trưởng thành có khả năng ăn trứng rầy nâu cao hơn bọ xít non
tuổi cuối. Trong ba lần thí nghiệm, ở ngày đầu tiên bọ xít trưởng thành đều ăn nhiều trứng rầy
nâu nhất. Khả năng ăn mồi của chúng giảm đi trong các ngày thí nghiệm sau. Số trứng rầy nâu
trung bình bị một bọ xít trưởng thành ăn trong ngày thí nghiệm thứ nhất, thứ 2 và thứ 3 tương
ứng là: 22,7 ± 2,3; 18,8 ± 4,6 và 12,9 ± 4,9 (bảng 3.4). Đối với bọ xít non tuổi cuối, số lượng
trứng rầy nâu bị tiêu diệt ngày thứ nhất là 9,3 ± 2,1; ngày thứ 2 là 14,4 ± 3,4 và ngày thứ 3 là
10,1 ± 2,6 (bảng 3.2).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
Bảng 3.2. Khả năng tiêu diệt trứng rầy nâu của bọ xít mù xanh trong phòng thí
nghiệm.
Ngày thí nghiệm thứ 1 20,4 ± 2,1 24,9 ± 2,5 22,7 ± 2,3
Bọ xít
Ngày thí nghiệm thứ 2 18,0 ± 4,2 19,6 ± 4,9 18,8 ± 4,6
trưởng
Ngày thí nghiệm thứ 3 8,9 ± 4,7 16,9 ± 5,1 12,9 ± 4,9
thành
Trung bình của một ngày 15,8 ± 3,7 20,5 ± 4,2 18,2 ± 3,9
Ngày thí nghiệm thứ 1 11,2 ± 1,7 7,3 ± 2,4 9,3 ± 2,1
Bọ xít non Ngày thí nghiệm thứ 2 15,7 ± 3,7 13,0 ± 3,1 14,4 ± 3,4
tuổi cuối Ngày thí nghiệm thứ 3 10,6 ± 2,9 2,7 ± 1,2 6,7 ± 2,2
Trung bình của 1 ngày 12,5 ± 2,8 7,7 ± 2,4 10,1 ± 2,6
Ghi chú: Bọ xít trưởng thành mỗi lần thí nghiệm 15 cá thể.
Bọ xít non tuổi cuối mỗi lần thí nghiệm 10 cá thể.
Như vậy khả năng tiêu diệt trứng rầy nâu của bọ xít mù xanh trong điều kiện phòng thí
nghiệm là khá cao. Trong thí nghiệm, thức ăn được cung cấp dư thừa, do đó đấy là khả năng ăn
tối đa của bọ xít mù xanh trong 1 ngày. Ở điều kiện đồng ruộng bọ xít mù xanh phải mất thời
gian tìm kiếm thức ăn, do đó số lượng trứng rầy nâu mà chúng có thể ăn trong một ngày tất
nhiên sẽ thấp hơn. Những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phù hợp với những kết quả nghiên
cứu của GS. TS Phạm Văn Lầm và cộng tác viên năm 1993. Những kết quả nghiên cứu trong
phòng này kết hợp với những kết quả điều tra về diễn biến mật độ bọ xít mù xanh ngoài đồng
ruộng cho thấy rằng bọ xít mù xanh là một loài bắt mồi rất quan trọng của rầy nâu, nó có thể tiêu
diệt một phần đáng kể trứng rầy nâu trên đồng ruộng và góp phần không nhỏ trong việc hạn chế
số lượng rầy nâu trên ruộng lúa.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
3.2.2. Khả năng tiêu diệt rầy nâu của nhện sói vân đinh ba
Nhện sói vân đinh ba (Pardosa pseudoannulata Boes. Et Str.) là loài bắt mồi có ưu thế
về số lượng trên đồng lúa. Nó được coi là một thiên địch có hiệu quả tiêu diệt các loài rầy hại lúa
ở nhiều nước (Chiu, 1979). Trên đồng lúa ở nước ta, nhện sói vân đinh ba là loài thường xuyên
gặp với số lượng nhiều và luôn luôn có mặt ở trong sinh quần đồng lúa (Phạm Văn Lầm, 1992a
1992b). Trong quần thể rầy nâu và rầy lưng trắng thường thấy tương đối nhiều loài này.
Chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm tìm hiểu khả năng ăn rầy nâu của nhện sói vân đinh ba
trong phòng thí nghiệm. Thí nghiệm tiến hành với nhện trưởng thành. Nhện thí nghiệm được
chia thành 3 nhóm: nhện đực, nhện cái có mang trứng và nhện cái không mang trứng.
Kết quả cho thấy tất cả các nhóm nhện trong thí nghiệm ở ngày đầu thí nghiệm đều ăn
nhiều rầy nâu hơn các ngày thí nghiệm sau. Nhện trưởng thành đực có sức ăn thấp nhất, trung
bình một ngày một nhện đực tiêu diệt được 9,4 rầy non của rầy nâu. Nhện cái không mang trứng
có khả năng tiêu diệt rầy nâu cao nhất (trung bình một ngày một nhện ăn được 25,5 rầy non của
rầy nâu). Nhện cái có mang trứng ăn ít hơn so với nhện cái không mang trứng, nhưng nhiều hơn
nhện đực, trung bình 1 ngày một nhện ăn 12,5 rầy non của rầy nâu (bảng 3.3).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
Bảng 3.3. Khả năng ăn rầy nâu của nhện sói vân đinh ba trong phòng thí nghiệm
Số lượng rầy non tuổi 4-5 của rầy nâu bị tiêu diệt
Đối tượng nhện thí nghiệm Trung bình
Ngày thứ 1 Ngày thứ 2 Ngày thứ 3
1 ngày
Nhện đực 13,8 ± 2,8 7,8 ± 1,9 6,9 ± 2,3 9,4 ± 2,4
Nhện cái không mang trứng 34,1 ± 3,1 25,3 ± 2,1 17,3 ± 2,7 25,5 ± 2,6
Nhện cái có mang trứng 21,0 ± 2,3 9,2 ± 3,4 7,5 ± 3,6 12,5 ± 3,1
Ghi chú: Cách tiến hành thí nghiệm tương tự như đối với bọ xít mù xanh.
Mỗi nhóm nhện thí nghiệm gồm 15 cá thể.
Kết quả thí nghiệm đã chỉ ra rằng trong điều kiện thức ăn dư thừa, nhện sói vân đinh ba
có khả năng ăn rầy nâu tương đối lớn. Cùng với những dẫn liệu về sự hiện diện và diễn biến số
lượng của nhện này trên đồng ruộng cho phép nói rằng nhện sói vân hình đinh ba là một loài bắt
mồi quan trọng và có ý nghĩa lớn trong hạn chế số lượng của rầy nâu cũng như các loài sâu hại
lúa khác.
Qua những kết quả nghiên cứu của chúng tôi về khả năng tiêu diệt trứng rầy của Bọ xít
mù xanh và tiêu diệt rầy nâu tuổi 4, 5 của Nhện sói vân đinh ba có thể thẩy rằng các nhóm thiên
địch có một vai trò hết sức quan trọng trên đồng ruộng. Chúng có khả năng điều hoà quần thể
sâu hại, góp phần kìm chế sự bùng phát của các loài sâu hại trên đồng ruộng. Nếu không có sự
xuất hiện của các loài thiên địch thì các loài sâu hại trên đồng ruộng sẽ phát triển một cách tự do
và nhanh chóng thành dịch tàn phá mùa màng. Nếu chúng ta biết duy trì và phát triển tốt các loài
thiên địch nó có thể góp phần đáng kể trong việc kìm chế các loài sâu hại trên lúa nói riêng cũng
như trên những cây trồng khác nói chung. Dịch hại sẽ khó có thể bùng phát một cách nhanh
chóng và mạnh mẽ từ đó giảm được việc sử dụng thuốc hoá học để khống chế dịch hại dẫn đến
giảm chi phí cho sản xuất nông nghiệp, giảm tác động xấu của việc sử dụng thuốc hoá học đối
với môi trường sống và sức khoẻ con người.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
3.3. Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hóa học đến một số quần thể thiên
địch phổ biến trên ruộng lúa vụ xuân 2011 tại Hải Lộc - Hải Hậu –
Nam Định.
Trong công tác bảo vệ thực vật, thiên địch là đối tượng được quan tâm và nghiên cứu
nhiều, chúng là kẻ thù tự nhiên của nhiều loài sâu hại lúa cần được bảo tồn và phát huy. Nhưng
thực tế sản xuất thì người nông dân vẫn sử dụng biện pháp phòng trừ thiếu an toàn đối với lực
lượng kẻ thù tự nhiên.
Quá trình điều tra chúng tôi thu thập được các loài thiên địch gồm hai nhóm: nhóm bắt
mồi và nhóm ký sinh trong đó chủ yếu là nhóm bắt mồi. Các loài nhện, bọ rùa đỏ, bọ ba khoang
xuất hiện khá phổ biến và tăng dần từ đầu vụ cho tới cuối vụ. Có thể bắt gặp chúng ở bất kỳ giai
đoạn sinh trưởng nào của cây lúa. Đây là những loài có ý nghĩa cao trong việc phòng trừ sâu hại
lúa. Chúng tôi đã tiến hành điều tra diễn biến mật độ Nhện lớn bắt mồi, Bọ rùa đỏ, Bọ ba khoang
trên ruộng lúa dưới ảnh hưởng của thuốc hóa học qua các công thức phun thuốc khác nhau.
3.3.1 Ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến Nhện sói vân đinh ba
Lycosa pseudoannulata Boes. et Str trong phòng thí nghiệm.
Để tìm hiểu ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học người nông dân đang sử dụng
phổ biến để phòng trừ sâu hại lúa chúng tôi tiến hành đánh giá ảnh hưởng của hai loại thuốc đó
là Diazinon và Imidacloprid với Nhện sói vân đinh ba. Kết quả cho thấy cả hai loại thuốc đều
gây chết cho Nhện sói vân đinh ba. Với liều lượng 300ppm, sau khi sử lý thuốc tổng số nhện
chết 100% chỉ sau 24 giờ và ở các liều lượng nhỏ hơn đều làm giảm đến 50% mật độ nhện ở 48
giờ sau xử lý thuốc khi sử dụng thuốc Diazinon. Tương tự như vậy đối với thuốc Imidacloprid
đã giảm số lượng Nhện xuống còn 50% ở các liều lượng xử lý sau 48 giờ áp dụng thuốc (Đồ thị
3.1 và Đồ thị 3.2).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
(con) .
12
sót survived
10
8
spiders
sống
6
Lycosid
4
Sốofnhện
2
No.
0
12 24 48
Hoursgian
Thời after diazinon
sau ápapplication
dụng thuốc (giờ)
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng của thuốc Diazinon tới Nhện sói vân đinh ba ở các liều
lượng áp xử lý khác nhau
12
sótsurvived
10
spiders
8
sống
6
Lycosid
ofnhện
2
No.Số
0
12 24 48
Hours after imidacloprid
Thời gian sau áp dụng thuốc application
(giờ)
Đồ thị 3. 2. Ảnh hưởng của thuốc Imidacloprid tới Nhện sói vân đinh ba ở các liều
lượng áp xử lý khác nhau
Qua đó có thể thấy việc áp dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu hại lúa cũng dẫn đến
giảm mật độ quần thể Nhện sói vân đinh ba nói riêng và các loài thiên địch nói chung trên đồng
ruộng. Đặc biệt khi chúng ta áp dụng bừa bãi và không có sự lựa chọn tốt các loại thuốc hoá học
là nguyên nhân chính giết chết những loài thiên địch có ích trên đồng ruộng. Bên cạnh đó, sau
khi áp dụng thuốc hoá học thì mật độ quần thể của sâu hại và thiên địch đều giảm, tuy nhiên sự
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
phục hồi quần thể thiên địch luôn chậm hơn so với dịch hại. Sau khi thuốc hết tác dụng đối với
sâu hại kết hợp với sự tồn tại của các loài thiên địch giảm một cách đáng kể đã giúp cho sâu hại
phát triển thuận lợi và nhanh chóng là nguyên nhân dẫn đến bùng phát dịch hại sau khi áp dụng
không đúng cách và không đúng loại thuốc hoá học.
3.3.2 Ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến một số loài thiên địch chính
ngoài đồng ruộng tại xã Hải Lộc huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định vụ Đông xuân
năm 2011.
Bên cạnh việc thử ảnh hưởng của một số loại thuốc hoá học đến thiên địch trong phòng
thí nghiệm, chúng tôi cũng tiến hành theo dõi ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc hoá học ngoài
đồng ruộng đến một số loài thiên địch chính của sâu hại lúa như các loài nhện hay gọi chung là
Nhện tổng số, Bọ xít mù xanh và Bọ ba khoang. Cùng với việc áp dụng thuốc hoá học chúng tôi
so sánh với việc áp dụng chế phẩm sinh học Metarhizium đến diễn biến mật độ quần thể một số
loài thiên địch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu hại lúa đều có
tác động đến quần thể các loài thiên địch trên đồng ruộng. Chúng ta có thể thấy ngay sau khi
phun thuốc (ngày 15/4) mật độ các loài nhện có mặt trên đồng ruộng đã giảm từ trung bình là 2,8
con/bẫy vàng xuống còn khoảng 0,5 con/bẫy vàng ở ngày 29 tháng 4 khoảng 2 tuần sau khi
phun thuốc. Trong khi đó mật độ Nhện tổng số tại ruộng sử dụng chế phẩm sinh học không bị
ảnh hưởng nhiều sau khi xử lý. Ở giai đoạn sau, cho đến giưa tháng 5 mật độ quần thể nhện ở
ruộng xử lý chế phẩm sinh học (nấm Metarhizium) trung bình khoảng 11con/bẫy vàng cao gấp
2 lần so với ruộng xử lý thuốc Chess 50WG và cao gấp khoảng 5 lần so với ruộng xử lý thuốc
Bassa 50EC (Đồ thị 3.3).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
0
11
11
11
11
11
11
11
3-
4-
4-
4-
4-
4-
5-
-0
-0
-0
-0
-0
-0
-0
25
01
08
15
22
29
06
Ngày điều tra
Đồ thị 3.3. Diễn biến mật độ Nhện tổng số trên giống Bắc thơm số 7 vụ Đông xuân
năm 2011 tại Hải Lộc, Hải Hậu, Nam Định. ( Thời gian phun thuốc xử lý rầy hại
lúa trên đồng ruộng)
Cũng giống như Nhện tổng số, quần thể Bọ xít mù xanh và Bọ ba khoang trên đồng
ruộng cũng bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng thuốc hoá học. Mật độ của chúng đã giảm ngay sau
khi áp dụng thuốc hoá học, ở giai đoạn sau tại những ruộng áp dụng thuốc hoá học thì mật độ Bọ
xít mù xanh và Bọ ba khoang đều thấp hơn so với ruộng xử lý bằng chế phẩm sinh học. Mật độ
của Bọ xít mù xanh tại ruộng xử lý chế phẩm sinh học trung bình khoảng 45con/bẫy vàng trong
khi đó tại ruộng xử lý Chess 50WG là 25con/bẫy vàng và ruộng xử lý Bassa 50EC là 6con/bẫy
vàng (Đồ thị 3.4 và Đồ thị 3.5).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
30
20
10
Đồ thị 3. 4. Diễn biến mật độ Bọ xít mù xanh (BXMX) trên giống Bắc thơm số 7 vụ
Đông xuân năm 2011 tại Hải Lộc, Hải Hậu, Nam Định. ( Thời gian phun thuốc
xử lý rầy hại lúa trên đồng ruộng)
Số lượng Bọ ba khoang (con/bẫy vàng)
Đ
ồ thị 3.5. Diễn biến mật độ Bọ ba khoang trên giống Bắc thơm số 7 vụ Đông xuân
năm 2011 tại Hải Lộc, Hải Hậu, Nam Định. ( Thời gian phun thuốc xử lý rầy hại
lúa trên đồng ruộng)
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ THẢO LUẬN
Qua những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trong sinh quần ruộng lúa sự có mặt và
phát triển của các loài thiên địch rất đa dạng và phong phú. Mỗi loài sâu hại đều có những loài
thiên địch đặc trưng để khống chế và hạn chế sự phát triển mạnh mẽ của chúng. Điều đó cho
thấy thiên địch có một vai trò rất quan trọng trong sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệp
nói chung.
Tuy nhiên, sự phát triển của các loài dịch hại luôn nhanh chóng so với các loài thiên địch.
Đặc biệt, khi gặp những điều kiện thuận lợi như: nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn… thì sâu hại thường
phát triển một cách mạnh mẽ vượt qua khỏi sự khống chế của các loài thiên địch và trở thành
dịch hại trên đồng ruộng. Ví dụ như các đợt dịch rầy nâu xảy ra phổ biến và thường xuyên sau
cuộc “Cách Mạng Xanh” khi mà các giống lúa năng suất cao được đưa vào sản xuất. Các đợt
dịch Sâu cuốn lá, Đục thân, Nhện gié… Việc áp dụng thuốc hoá học để khống chế các loài dịch
hại là hết sức quan trọng và cần thiết nhưng bên cạnh việc khống chế được dịch hại thì thuốc hoá
học lại có những tác động xấu đến các loài thiên địch trên đồng ruộng, đến môi trường và cả sức
khoẻ con người. Đặc biệt, nếu chúng ta áp dụng thuốc hoá học một cách bừa bãi không có chọn
lọc thì các hiểm hoạ sau này càng trở nên nghiêm trọng hơn. Vì vậy, khi dịch hại xuất hiện để
ngăn chặn và khống chế dịch hại chúng ta phải hết sức chú ý đến việc sử dụng chọn lọc các loại
thuốc hoá học để chúng có hiệu quả phòng trừ cao nhất với dịch hại và ít ảnh hưởng xấu tới thiên
địch có ích trên đồng ruộng. Trong giai đoạn hiện nay việc tìm ra các giải pháp quản lý các loài
dịch hại theo hướng hiệu quả bền vững an toàn con người với thân thiện với môi trường là hết
sức cần thiết và cấp bách.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
cần phải có sự chọn lọc, thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng để giảm thiểu ảnh hưởng xấu của
thuốc hoá học đến môi trường và sức khoẻ con người.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng TÀI LIỆU THAM KHẢO
24. Ooi P.A.C., B.M. Shepard, 1994. Predators and parasitoids of rice insect pest.
Biology and management of rice insect (Ed. by Heinrichs), IRRI, Wiley Estern Limited, 585-
612.
25. Ooi P.A.C., J.K. Waage, 1994. Biological control in rice: Applications and research
needs. Rice pest Science and Management (Ed. by Teng, Heong, Moody)IRRI, Los Banos,
Laguna, Philippines: 209-216.
26. Rombach M.C., DW. Roberts, 1994. Pathogens of rice insects, Biology and
management of rice insects (Ed. by Heinrichs), IRRI, Wiley Eastern Limited, 613-655.
27. Reissig W.H., E.A. Heinrichs, J.A. Litsinger, K. Moody, L. Fiedler, J.W. Mew,
A.T.Barrion, 1986. Illustrated guide to integrated pest management in rice in Tropical Asia,
IRRI, Los Banos, Laguna, Philippines.
28. Shepard B.M., P.A.C Ooi, 1991. Techniques for evaluating predators and parasitoids
in rice. Rice Insects: Management strategies (Ed. by Heinrichs, Miller) Springer Verlag, New
York, 197-214.
29. Subba Rao C., N. Venugobal, S.A. Razvi, 1983. Parasitism, a key factor in checking
rice pest population. Entomon. 8:97-100.
30. Thang H. M., 1990 Mochida, B. Morallo – Rejesus, 1990. Mass rearing of the wolf
spider, Lycosa pseudoannulata Boes. Et Str. (Araneae: Lycosidaed). Phillip Ent. 7(4): 443-452.
31. Tirawat C., 1982. Rice insect pest in Thailand. Paper presented at the workshop in
applied plant protection service, Bangkhen, Bangkok, August 2-28, 22pp.
32. Xia Ming, 1993. A field survey on the parasitoids of rice hesperiids in Shaxian
country, Fufian Province. Chinese J. of Biol. Control, Vol.9(1):19-22.
33. Xu J.X., Wu J.C., X.N. Cheng, 1999. Evaluating the effects of agrochemical on
natural enemies. Integrated pest management in rice-based ecosystem. (ed. by Zhang, Gu et al.)
Guang Zhou, 215-221
LỜI CẢM ƠN