HỆ SINH THÁI RỪNG
1) Khái niệm
Có lẽ chúng ta đã thật quen thuộc với khái niệm “rừng”, nhưng có khi nào ta
thực sự tìm hiểu về khá niệm đã quá đỗi quen thuôc ấy ? Đã có rất nhiều nhân
vật có tiếng đưa ra các định nghĩa khác nhau. Năm 1930, Morozov đưa ra khái
niệm: Rừng là huy tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một
phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và khí quyển. Rừng chiếm phần lớn
bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lí. Năm 1974, I.S.
Mêlêkhôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành
phần cơ bản của sinh quyển địa cầu. Nói một cách bao quát và đầy đủ hơn.
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi
sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là
một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác
định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực
vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở
lên.
2) Quần thể trong hệ sinh thái và vai trò
- Để tìm hiểu sâu hơn về quần thể trong hệ sinh thái rừng, trước tiên ta nên nắm
bắt được định nghĩa sơ lược về quẩn thể. Quần thể sinh vật là tập hợp các cá thể
trong cùng một loài, cùng sinh sống trong một khoảng không gian xác định, vào
một thời gian nhất định, có khả năng sinh sản và tạo thành những thế hệ mới.
Rừng là một quần xã lớn mà bao gồm trong đó các quần thể thực vật , động vật
như thỏ, chó sói,….Những quần thể khác nhau tạo thành một chuỗi thức ăn
phong phú. Chuỗi thức ăn (hay quan hệ thức ăn hoặc xích thức ăn) là một dãy
gồm nhiều loài sinh vật có quan hệ dinh dưỡng với nhau, loài đứng trước là thức
ăn của loài đứng sau. Mỗi loài được coi là một mắt xích trong chuỗi thức ăn,
vừa là sinh vật tiêu thụ mắt xích phía trước nhưng cũng bị sinh vật mắt xích
phía sau tiêu thụ.
- Các chuỗi thức ăn dày đặc tạo nên các mạng lưới thức ăn. Đầu tiên là những
sinh vật sản xuất ( cây ) hay còn goi là sinh vật tự dưỡng , là một tổ chức sản
xuất ra các hợp chất hữu cơ phức tạp (ví dụ như cacbohydrat, chất
béo và protein) từ những hợp chất đơn giản tồn tại xung quanh nó, thường sử
dụng năng lượng từ ánh sáng (quang hợp) hoặc các phản ứng hóa học vô cơ trái
ngược với những sinh vật tự dưỡng là sinh vật dị dưỡng hay còn gọi là sinh vật
tiêu thụ trong chuỗi thức ăn . Chúng là nhóm sinh vật tiêu thụ hay hấp thụ các
chất hữu cơ như các bon từ các nguồn vô cơ như cacbon dioxide) để có thể sản
xuất năng lượng và tổng hợp các hợp chất để duy trì sự sống. Cuối cùng , những
sinh vật tiêu thụ chết đi , để lại xác chết . đó là lúc những vi khuẩn , nấm phân
giải các chất hữu cơ thành chất vô cơ. Một ví dụ minh họa đó là: cỏ → thỏ →
sói → xác chết → vi khuẩn → cỏ.
3) Các mối quan hệ dinh dưỡng
Trong quần thể rừng, tất yếu có mối quan hệ dinh dưỡng
a. Quan hệ hỗ trợ
- Là mối quan hệ giữa các cá thể cùng loài hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động
sống, trong đó có:
+> Cộng sinh: Là sự hợp tác lợi giữa các loài sinh vật, ví dụ như các sợi nấm
hút nước và muối khoáng từ môi trường cung cấp cho tảo
+> Hội sinh: Sự hợp tác giữa 2 loài sinh vật, trong đó một bên có lợi còn bên
kia không có lợi cũng k có hại. Một ví dụ cho hội sinh có thể là địa y sống bám
trên cành cây không gây hại cho cây, giữa địa y và cây có mối quan hệ hội sinh
+> Hợp tác: hai hay nhiều loài cùng sống với nhau không bắt buộc, cùng mang
lại lợi ích cho nhau. VD: Chim nhỏ kiếm mồi trên thân các loài thú móng guốc
sống ở đồng cỏ.
- Ý nghĩa: Quan hệ hỗ trợ giữa các cá thể trong quần thể đảm bảo cho quần thể
tồn tại ổn định, khai thác tối ưu nguồn sống của môi trường rừng, làm tăng khả
năng sống sót và sinh sản của các cá thể sinh sống
b, Quan hệ đối kháng
- Là mqh giữa các loài khác nhau, tronng đó một bên có lợi, 1 bên bị hại
hoặc cả 2 đều bị hại
+> Cạnh tranh : Thường xyar ra giữa các loài có nhu cầu sống giống nhau, ví dụ
như hổ và báo cùng cạnh tranh cùng 1 nguồn thức ăn
+> Kí sinh : là kiểu sống nhờ cua sinh vật, lấy đi nguồn dinh dưỡng và chất
sống, ví dụ là dây tơ hồng trên tán cây trong rừng.
+> Sinh vật này ăn sv khác, hiểu đơn giản là loai sinh vật này sử dụng loài khác
làm thức ăn, ví dụ như hươu nai và hổ cùng sống trong một cánh rừng ,. Hổ ăn
thịt nai , hươu để sinh sống
4) Biện pháo bảo vệ sự ổn định của hệ sinh thái
- Không thể phủ nhận rằng, rừng đóng vai trò rất lớn vào đời sống con người.
Mỗi quần thể đều là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển của môi
trường và đời sống. Chúng cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều
hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo
vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức
khỏe của con người…
- Con người tác động vào các điều kiện môi trường của hệ sinh thái tự nhiên
bằng cách thay đổi hoặc cải tạo chúng. Cụ thể, chuyển đất rừng thành đất nông
nghiệp làm mất đi nhiều loại động, thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay
đổi khả năng điều hoà nước và biến đổi khí hậu…; Chuyển đất rừng, đất nông
nghiệp thành các khu công nghiệp, khu đô thị, tạo nên sự mất cân bằng sinh thái
khu vực và ô nhiễm cục bộ. Một minh chứng có thật và rất tiêu biểu, đó chính là
hệ sinh thái rừng Amazon. Công trình nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa
học châu Âu đã mô phỏng sự biến đổi của rừng rậm Amazon đối với sự thay đổi
lượng mưa do tác động của việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ sử dụng
năng lượng hóa thạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng mưa tại rừng
Amazon đang ở mức thấp và điều này có thể khiến 40% khu vực rừng Amazon
đứng trước nguy cơ bị biến đổi thành thành hệ sinh thái trảng cỏ, với số lượng
cây và sự đa dạng sinh học bị giảm thiểu đáng kể.
- Các biện pháp bảo vệ rừng