You are on page 1of 7
Đói Một minh chứng sống động của tính chi phối của nhu cầu sinh lý là những ký ức của việc bị bỏ đói trong các trại giam tù nhân trong thế chiến 2. David Mandel (1983), một người còn may mắn sống sót ở trại tập trung của phát xít kể lại kỉ niệm về việc bị bỏ đói khiến cha con đánh nhau vì một miếng bánh mỳ như súc vật. Một ông bố, người bị đứa con 20 tuổi ăn cắp miếng bánh mỳ dưới gối khi ông đang ngủ, đã rơi vào trạng thái trầm cảm, liên tục hỏi tại sao đứa con lại đối xử vậy với ông. Ngày hôm sau, người cha chết. “Cơn đói có thể khiến bạn làm những điều khó có thể tưởng tượng được”, Mandel giải thích. Ở chương này chúng ta sẽ nghiên cứu về cơ chế sinh lý và tâm lý của cơn đói. Cơ chế sinh lý Để hiểu hơn về quá trình bỏ đói không hoàn toàn, nhà khoa học Ancel Keys và các cộng sự (1950) đã cho 36 nam tình nguyện viên- những người từ chối nhập ngũ- một chế độ ăn vừa đủ để duy trì cân nặng ban đầu của họ. Sau 6 tháng, các nhà khoa học đã cắt giảm một nửa khẩu phần của họ. Những kết quả nhanh chóng thấy rõ. Những người này bắt đầu rơi vào trạng thái bơ phờ, lãnh đạm. Trọng lượng cơ thể sụt nhanh, cuối cùng ổn định ở mức 25% dưới trọng lượng khởi điểm. Nhưng những ảnh hưởng về tinh thần cực kì rõ nét. Tương đồng với ý tưởng của Maslow về cấp bậc nhu cầu, những người đàn ông bắt đầu ám ảnh với đồ ăn. Học nói về thức ăn, mơ về thức ăn. Họ sưu tầm công thức, đọc sách dạy nấu ăn, say mê ngắm nhìn các loại thức ăn ngon bị cấm. Cùng với đó, họ trở nên lãnh cảm với tình dục và các hoạt động xã hội khác. Họ chỉ quan tâm đến những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng. Một trong những người tham gia đã tường trình, “nếu chúng tôi xem một chương trình, phần hấp dẫn nhất là những cảnh mọi người đang ăn. Chúng tôi không cười được trước những bức tranh hài hước nhất, và những cảnh yêu đương cũng trở nên thật nhàm chán.” Những tình nguyện viên của Keys cảm thấy cơn đói như một phàn ứng tự nhiên trong cơ chế ổn định nhằm duy trì một trọng lượng cơ thể ổn định và cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng. Nhưng điều gì thật sự gây ra những cơn đói? Đó là sự co thắt của dạ dày rỗng? Có thể đó là cách chúng ta cảm nhận. Và điều đó đã được chứng minh sau thí nghiệm của A.L.Washburn và Walter Cannon cố tình nuốt một quả bóng. Khi được thổi căng lên trong dạ dày, quả bóng truyền về những tín hiệu co thắt của dạ dày đến một máy lưu trữ. Khi dạ dày đã được giám sát, Washburn nhấn một cái nút mỗi lần ông ấy cảm thấy đói. Điều được phát hiện là: Washburn thật sự có những cơn co thắt dạ dày khi ông ấy cảm thấy đói. Cơn đói có tiếp tục tồn tại khi không còn sự co thắt dạ dày? Những nhà nghiên cứu đã trả lời được câu hỏi này vào đầu thế kỉ 20, khi họ cắt bỏ dạ dày của một số con chuột, nối liền thực quản với ruột non (Tsang, 1938). Những con chuột có tiếp tục ăn không? Thực tế là có. Những cơn đói vẫn diễn ra tương tự ở những người có phần dạ dày bi loét hay ung thư đã bị cắt bỏ. Tôi và bạn có thẻ cảm thấy cơn đói kể cả khi dạ dày đầy. Vì vậy, điều này cũng tương tự đối với các loài động vật ăn thức ăn nghèo năng lượng. Chúng sẽ phải ăn nhiều hơn các loài tiêu thụ thức ăn giàu calo. (McHugh & Moran, 1978) Nếu như những cơn co thắt dạ dày không phải là nguyên nhân duy nhất của cơn đói, còn có nguyên nhân nào khác? Nội tiết tố và trạng thái não cho chúng ta một cái nhìn về bản chất của vấn đề. Con người và các loài động vật khác thường tự điều chỉnh lượng calo thu nạp để tránh hiện tượng thiếu năng lượng và suy trì một cân nặng ổn định. Điều này lí giải cơ thể chúng ta kiểm soát được những nguồn năng lượng sẵn có. Một trong số đó là đường huyết glucose. Sự gia tăng của lượng hormone Insulin (được tiết ra từ tuyến tụy) làm giảm lượng đường huyết, một phần sẽ được biến thành mỡ dự trữ. Cơ thể chúng ta thường sẽ rất linh hoạt trong việc duy trì lượng đường trong máu. Tuy nhiên, khi lượng đường này giảm đi, cơn đói sẽ xuất hiện. Bạn sẽ không nhận thức được những thay đổi trong lượng đường huyết. Thay vào đó, não bạn sẽ tự động điều chỉnh trạng thái bên trong cơ thể. Những tín hiệu của dạ dày, ruột non và gan (cho biết glucose được tích trữ hay giải phóng) đều được truyền đến não để kích thích nhu cầu ăn hay không. Nhưng phần nào của bộ não đóng vai trò thu thập các tín hiệu này? Trong những năm 1940 và 1950, những nhà nghiên cứu đã khoanh vùng khu vực não điều khiển cơn đói là ở vùng dưới đồi (hypothalamus), một khu vực nhỏ nhưng có hệ thống nơ ron phức tạp nằm sâu trong não. Thực tế là, hai phần trung tâm của vùng dưới đồi riêng biệt giúp kiểm soát việc ăn uống. Những thí nghiệm trong suốt những năm 1960 chỉ ra rằng hoạt động bên ngoài của vùng dưới đồi (vùng nhân ngoài của đồi- Lateral hypothalamus) đem đến cảm giác đói. Khi kích thích xung điện vào khu vực này, những động vật dù trước đã được ăn no vẫn bắt đầu ăn; khi khu này bị phá hủy, kể cả những con vật dù bị đói nhưng vẫn không có hứng thú với thức ăn. Những nghiên cứu khoa học cuối thế kỷ 20 đã giúp giải thích hành vi này. Nếu một con chuột bị bỏ đói và lượng đường huyết xuống thấp, vùng này sẽ tiết ra hormone kích thích cơn đói orexin. Khi được tiêm orexin, những con chuột sẽ đói cồn cào. (Sakurai & cộng sự, 1998) Những hoạt động ở vùng trung tâm thứ hai- vùng dưới đồi giữa (vùng nhân bụng của đồiVentromedial hypothalamus) làm giảm cơn đói. Kích thich vào khu vực này, một con vật sẽ ngừng ăn; phá hủy nó và dạ dày và ruột non của con vật đó sẽ tiêu hóa thức ăn nhanh hơn khiến chúng trở nên rất béo (Duggan& Booth, 1986; Hoebel & Teitelbaum, 1966). Khi vùng này bị thương tổn, những con chuột ăn thường xuyên hơn, sản xuất ra nhiều chất béo và sử dụng chất béo ít hơn cho năng lượng, giống như một người nghèo tích cóp từng đồng gửi ngân hàng và từ chối rút tiền ra (Pinel, 1993). Phát hiện này cũng giải thích vì sao một số bệnh nhân bị u gần vùng nền của não (vùng ngày nay chúng ta đã biết là vùng dưới đồi) ăn quá mức và nhanh chóng trở nên thừa cân. (Miller, 1995) Vùng dưới đồi điều chỉnh nồng độ các hormone giúp ngon miệng. Một trong những điểm đáng chú ý của nghiên cứu là tập trung vào ghrelin, một hormone gây đói tiết ra khi dạ dày rỗng. Khi những người bị béo phì trải qua cuộc phẫu thuật thu nhỏ dạ dày, phần dạ dày còn lại tiết ra ít ghrelin hơn, và cảm giác ngon miệng của họ giảm xuống. (Lemonick, 2002) Những ứng dụng từ thí nghiệm về hormone thèm ăn đã làm tăng hy vọng về liệu pháp giảm chứng thèm ăn. Một viên thuốc có thể làm giảm tác dụng của các chất gây cảm giác đói như ghrelin hay leptin- được tiết ra từ mô mỡ. Hoặc là có thể nó sẽ làm tăng nồng độ của hormone PYY, một hormone tiêu hóa làm giảm sự thèm ăn. Sự thay đổi của những kích thích thông qua PYY cho thấy những phát hiện chuyên sâu về một chất có thể một ngày nào đó sẽ trở thành liệu pháp chữa trị cho căn bệnh béo phì. Báo cáo đầu tiên chỉ ra rằng PYY làm giảm chứng thèm ăn ở chuột nhưng lại tiếp nối bời sự thất vọng lớn khi 12 phòng thí nghiệm lớn đưa ra một hoài nghi: Việc tìm thấy PYY không thể thực hiện lại. Nhưng một vài tháng sau đó, một nghiên cứu mới hơn sử dụng phương pháp khác cuối cùng đã tìm ra ít nhất một tác dụng giảm chứng thèm ăn tạm thời. (Gura, 2004) Một lý thuyết cũ về chứng đói ăn đề xuất rằng tác động vào … thay đổi cơ chế ổn định cân nặng khiến chúng ta duy trì cơ thể ở một trọng lượng nhất định, được gọi là điểm chuẩn (Keesey & Corbett, 1983). Khi cân nặng của những con chuột bị bỏ đói không hoàn toàn hạ xuống dưới mức trung bình, những phản ứng sinh học sẽ diễn ra chống lại sự sụt cân. Cợn đói tăng lên và sự tiêu hao năng lượng giảm xuống. Nếu cân nặng tăng lên- xảy ra khi những con chuột bị ép ăn cơn đói giảm xuống và sự tiêu hao năng lượng tăng lên. Sự ổn định cân nặng này đối với những con chuột bị bỏ đói không hoàn toàn và những con chuột bị ép ăn đều xoay quanh điểm chuẩn. Kể cả ở chuột và con người yếu tố di truyền quyết định tạng người và điểm chuẩn. Cơ thể người điều tiết cân nặng thông qua sự kiểm soát đối với lượng ăn vào, năng lượng giải phóng ra và chỉ số trao đối chất chuẩn.- Chỉ số của sự tiêu hao năng lượng cho hoạt động cơ bản của cơ thể khi cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi. Vào giai đoạn cuối của 24 tuần bỏ đói không hoàn toàn, những người đàn ông tham gia vào thí nghiệm của Key đã ổn định mức cân nặng ở ¾ so với mức cân nặng bình thường- trong khi họ ăn ít bằng một nửa so với trước đây. Sự ổn định này bắt nguồn từ sự giảm tiêu hao năng lượng do một phần bởi sự hạn chế hoạt động và một phần bởi chỉ số trao đổi chất chuẩn giảm 29% .Trong một thí nghiệm đối lập mà ở đó các tình nguyện viên đã được cho ăn quá mức 1.000 calo một ngày trong 8 tuần. Những người tăng cân ít nhất là những người đốt cháy năng lượng thừa nhiều nhất bằng cách hoạt động nhiều. Trong những điều kiện bình thường những người hoạt động nhiều nhất (đốt cháy nhiều calo nhất) nhẹ hơn những người béo phì thụ động, theo một báo cáo của James Levine và các cộng sự (2005). (Những nhà nghiên cứu cho những người tham gia mặc bộ quần áo trong cứ nửa giây lại đo hoạt động cơ thể của họ trong 10 ngày) Một số nhà nghiên cứu thay vào đó nghi ngờ rằng cơ thể có một điểm chuẩn xác định giúp điều khiển cơn đói. Họ tin rằng những thay đổi về cân nặng chậm và kéo dài có thể ví dụ như thay đổi điểm chuẩn của một người. Điều này khiến chúng ta nghi ngờ về ý tưởng rằng cơ thể chúng ta có một xu hướng định hình để duy trì trọng lượng hợp lý (Assanand & cộng sự, 1998). Những yếu tố tâm lý cũng thỉnh thoảng gây ra cảm giác đói. Nếu được ăn không giới hạn các thức ăn ngon, con người và các động vật khác thường có xu hướng ăn quá nhiều và tăng cân. Với những lý do trên, các nhà nghiên cứu đã bác bỏ ý tưởng về một điểm chuẩn sinh học. Họ thích thuật ngữ điểm…. để chỉ về mức mà ở đó cân nặng con người cố định tương thích với sự thu nạp và tiêu hao năng lượng (bị ảnh hưởng bởi môi trường cũng như sinh học). Cơ chế tâm lý Sự thèm ăn được thúc đẩy bới trạng thái sinh lý của chúng ta- các nội tiết tố và những hoạt động đồi dưới. Mặc dù vậy, cảm giác đói đến nhiều hơn là cơ thể thực sự cần. Điều này thật rõ ràng khi Paul Rozin và những cộng sự (1998) kiểm tra hai bệnh nhân mắc chứng quên không nhớ được bất cứ sự việc gì xảy ra hơn một phút trước. Nếu cứ sau 20 phút sau khi ăn bữa trưa bình thường những người này được phục vụ tiếp một bữa khác, họ sắn sàng tiếp tục ăn… tiếp tục lặp lại với bữa ăn thứ 3 cách đó 20 phút. Điều này cho thấy một phần của nhận thức về việc ăn đến từ trí nhớ của chúng ta về bữa ăn cuối cùng. Khi thời gian đủ dài từ bữa ăn cuối của chúng ta, chúng ta sẽ nhớ đến việc ăn bữa tiếp theo và bắt đầu cảm thấy đói. Vị giác: Sinh học hay văn hóa Nội tiết tố và các yếu tố môi trường cùng nhau tác động đến không chỉ cảm giác thèm ăn mà cả cái chúng ta muốn ăn- khẩu vị. Khi cảm xúc căng thẳng hoặc chán nản, bạn có cảm giác thèm thức ăn giàu tinh bột, giàu carbonhydate? Carbonhydrate giúp tăng nồng độ hormone an thần serotonin, có tác dụng trấn an. Sở thích đồ ngọt và mặn mang yếu tố di truyền và phổ biến. Những khẩu vị khác là có điều kiện, như khi một người được cho ăn thức ăn mặn sẽ hình thành sở thích ăn nhiều muối (Beauchamp, 1987), hay khi một người hình thành một mối ác cảm đối với một loại thức ăn từng ăn khiến họ bị ốm. (Tần số trẻ em bi ốm tạo điều kiện hình thành mối ác cảm với một số loại thức ăn nhất định). Văn hóa cũng ảnh hưởng đến khẩu vị. Người Ả Rập thích ăn mắt lạc đà, điều mà ở Bắc Mỹ người ta cảm thấy ghê tởm. Cũng như vậy, hầu hết người dân các nước Bắc Mỹ và Châu Âu không ăn thịt chó, thịt chuột và thịt ngựa, những loại thịt được yêu thích ở nhiều nơi khác. Sự thận trọng vói những thứ không quen thuộc cũng diễn ra tương tự với thức ăn lạ (đặc biệt là những thức ăn có nguồn gốc động vật hơn là thức ăn chay). Trong thực nghiệm, mọi người được thử một số loại nước quả lạ và thức ăn bản địa. Với việc lặp lại, sự thích thú đối với vị mới tăng lên, hơn thế, tiếp xúc nhiều với một nhóm thức ăn lạ tăng sự hào hứng để thử các món khác(Pliner, 1982; Pliner &Pelchat, 1993). Những con chuột cũng có xu hướng tránh các thức ăn không quen thuộc (Sclafani, 1995). Chứng sợ cái mới là để phù hợp với thưở sơ khai để bảo vệ tổ tiên chúng ta khỏi các chất có khả năng nhiễm độc. Những xu hướng khẩu vị khác cũng là để thích ứng. Ví dụ như, gia vị được sử dụng nhiều hơn ở các nước xứ nóng nơi các thức ăn, đặc biệt là thịt rất dễ bị hư thối, tạo điều kiện phát triển cho vi khuẩn. Cơn nghén là một ví dụ minh họa cho sự thích nghi khẩu vị. Mỗi ác cảm đối với một số loại thức ăn bắt nguồn từ những cơn nôn cao điểm vào tuần thứ 10 khi những phôi thai đang phát triển dễ bị tổn thương bởi độc tố nhất. Rối loạn ăn uống Những ảnh hưởng tâm lý lên thói quen ăn uống là rất rõ ràng khi động lực cho một thân hình gầy bất thường lấn át xu hướng giữ cân nặng ổn định. Hai hiện tượng ăn uống bất thường là chứng chán ăn và cuồng ăn vô độ. Chứng chán ăn thường bắt đầu với một thực đơn giảm cân. Những người bị mắc hội chứng này thường bị sụt cân xuống dưới mức bình thường (thông thường từ 15% trở lên) nhưng vẫn cảm thấy béo và ám ảnh với chuyện giảm cân. Kể cả khi trở nên hốc hác, những người này- vị thành niên và 9 trên 10 trường hợp là nữ giới- vẫn tiếp tục hạn chế lượng thức ăn nạp vào. Chứng cuồng ăn bắt đầu sau khi một người ăn kiêng phá bỏ những hạn chế trong thực đơn của mình và bắt đầu ngốn thức ăn. Những người mắc hội chứng này thường liên tục ăn quá nhiều rồi sau đó nôn ra để đền bù, sử dụng thuốc nhuận tràng hay tập thể dục quá sức. Hầu hết những người bị mắc bệnh này là nữ giới ở giai đoạn cuối tuổi vị thành niên. Họ ăn như những người mắc chứng nghiện rượu- ăn thật nhanh, một số khác bị ảnh hưởng từ bạn bè những người ăn nhiều (Crandall, 1988). Thèm đồ ăn (thèm đồ ngọt và thức ăn giàu chất béo), và sợ béo, những người mắc chứng cuồng ăn thường chịu nhiều lo lắng và căng thẳng, trong và sau khi ăn nhồi nhét (Hinz & Williamson, 1987; Johnson và các cộng sự, 2002). Khoảng một nửa trong số những người mắc chứng biếng ăn cũng thể hiện những triệu chứng lo lắng nốc-thốc (?) giống chứng cuồng ăn. Không giống chứng biếng ăn,những người mắc chứng cuồng ăn lại có cân nặng trong phạm vi bình thường, điều này làm cho họ dễ dàng giấu bệnh. Rối loạn ăn uống không phải dấu hiệu nhận biết (như ý kiến đề xuất) của việc bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ (Smolak & Murnen,2002; Stice, 2002). Tuy nhiên, gia đình có thể là yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của rối loạn ăn uống theo một cách khác. Mẹ của những cô gái bị rối loạn ăn uống thường quá chú ý về cân nặng của bản thân và ngoại hình của con gái họ (Pike & Rodin, 1991). Gia đình của những người mắc chứng cuồng ăn có tỉ lệ cao hơn bình thường bị bệnh béo phì lúc nhỏ và thường đánh giá thấp bản thân (Jacobi & cộng sự, 2004). Những người mắc chứng biếng ăn cũng thường có xu hướng đánh giá thấp bản thân và xuất thân từ nhừng gia đình có tính cạnh tranh, địa vị cao và có tính bao bọc (Pate & cộng sự, 1992; Yates, 1989, 1990). Những bệnh nhân này thường đắt ra những tiêu chuẩn hoàn hảo, buồn phiền khi không đạt được mục tiêu, và quan tâm quá mức người khác nghĩ về mình như thế nào (Polivy & Herman, 2002; Striegel-Moore & cộng sự, 1993). Một vài trong số những yếu tố này cũng giúp dự đoán hành vi của nam vị thành niên về vẻ nam tính không tưởng (Ricciardelli & McCabe, 2004). Gien cũng ảnh hưởng đến khả năng dễ bị mắc chứng rối loạn ăn uống. Với những cặp sinh đôi giống hệt nhau so với anh chị em thông thường thì khả năng cặp song sinh cùng bị rối loạn ăn uống lớn hơn (Fairburrn & cộng sự, 1999; Kaplan, 2004). Theo Shan Guisinger (2004), tiến hóa có thể làm ảnh hưởng đến những gien này. Đối mặt với nạn đói, tổ tiên thay vì ngồi không chờ chết đã trở nên tích cực hơn để tìm kiếm thức ăn. Mặc dù vậy có một giải thích theo khía cạnh văn hóa cho thực tế là chứng biếng ăn và cuồng ăn xuất hiện chủ yếu ở phụ nữ và hầu hết ở các nền văn hóa chú trọng đến cân nặng. Ở Ấn Độ, các nữ sinh chấm điểm hình mẫu lý tưởng của họ gần với hình dáng cơ thể họ. Ở phần lớn các nước châu Phi, nơi gầy báo hiệu đói kém và AIDS và những người giàu thì mập thi càng béo càng tốt (Knickmeyer, 2001). Ở những nền văn hóa phương Tây, sự gia tăng của chứng rối loạn ăn uống trong vòng 50 năm qua xảy ra cùng thời gian với sự tăng lên chóng mặt những phụ nữ có vẻ ngoài tiều tụy, theo một bản phân tích gần đây từ 222 nghiên cứu trên 141,000 người. (Feingold & Mazzella, 1998). Những nghiên cứu khác chỉ ra rằng những người dễ mắc chứng rối loạn ăn uống cũng là những người đề cao gầy gò nhất và có nỗi thất vọng lớn nhất với thân thể mình (Stice, 2002; Thompson & Stice, 2001; Vohs & các cộng sự, 2001). Không ngạc nhiên khi những người này hầu hết là phụ nữ. Trong một khảo sát quốc gia, gần một nửa phụ nữ Mỹ nói rằng họ có những cảm xúc tiêu cực đối với ngoại hình của mình và lo lắng về việc đang hoặc sẽ thừa cân (Cash & Henry, 1995). Và trong một báo cáo tổng kết của Anh trên 3500 nhân viên ngân hàng và trường học, dàn ông dễ bị thừa cân hơn và phụ nữ có xu hướng nghĩ họ thừa cân (Emslie & cộng sự, 2001). Những khác biệt về giới tính tương tự cũng xuất hiện một thí nghiệm được tiến hành bởi Barbara Fredrickson (1998), thí nghiệm yêu cầu các sinh viên của trường đại học Michigan mặc áo len hoặc đồ bơi và làm bài kiểm tra toán một mình trong phòng thay đồ. Đối với phụ nữ, mặc đồ bơi kích thích những nhận thức về bản thân và sự xấu hổ làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kiểm tra. Trong một báo cáo không chính thức về 60000 người tham gia, 9 trên 10 phụ nữ nói rằng họ mong muốn có một thân hình hoàn hảo hơn là một người bạn tình với thân hình hoàn hào; 6 trên 10 đàn ông mong muốn điều ngược lại (Lever, 2003). Một phần của sức ép văn hóa được truyền tải qua hình ảnh những cô người mẫu gầy gò trên các tạp chí thòi trang, quảng cáo, ngay cả ở các đồ chơi. Điều gì sẽ xảy ra khi những phụ nữ trẻ liên tục phải tiếp xúc những hình ảnh đã qua chỉnh sửa trên các tạp chí thời trang nơi mà các cô người mẫu gầy không tưởng (Tovee & cộng sự, 1997)? Eric Stice và Heather Shaw (1994), Heidi Posavac và các cộng sự (1998) báo cáo rằng phụ nữ thường cảm thấy xấu hổ và thất vọng với cơ thể họ- chính thái độ đó gây ra tình trạng rối loạn ăn uống. Khi Stice và các cộng sự (2001) cung cấp cho các cô gái tuổi vị thành niên tiền đặt một tờ tạp chí thời trang của teen trong vòng 15 tháng, những cô gái dễ bị ảnh hưởng (những người đã cảm thấy thất vọng, đề cao mốt gầy và thiếu các hỗ trợ xã hội) bộc lộ sự gia tăng sự không hài lòng về ngoại hình và su hưởng rối loạn ăn uống: Nhưng thậm chí những người mẫu siêu gầy cũng không đạt được đến tiêu chuẩn của một cô búp bê Barbie cổ điển. Tính theo tỉ lệ chiều cao 5 feet 7 inches, 3 vòng 32-16-29 (theo centimet: vòng ngực 82, eo 41 và hông 73) sẽ tìm được ít hơn 1 người trong 100000 phụ nữ (Norton & cộng sự, 1996). Rõ ràng là chứng bệnh rối loạn ăn uống ngày nay không chỉ là vấn đề ở những người mắc bệnh mà còn là của những nền văn hóa ám ảnh với cân nặng- một nền văn hóa đánh đồng béo là xấu thúc đẩy hàng triệu phụ nữ rơi vào trạng thái luôn luôn ăn kiêng, và khuyến khích ăn… bằng cách ép phụ nữ tuân theo chế độ bỏ đói không hoàn toàn. Cũng như các động lực sinh học khác, rối loạn ăn uống rõ ràng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các yếu tố văn hóa- xã hội. Kết quả đạt được Miêu tả những yếu tố sinh lý của cơn đói Washburn và Cannon đã chỉ ra rằng động lực bên trong của cơn đói có mối liên quan mật thiết với sự co thắt dạ dày, nhưng đói còn được tạo ra bới nhiều nguyên nhân khác. Sự thay đổi của các nội tiết tố cũng làm ảnh hưởng đến những cảm giác của chúng ta về cơn đói, trong đó có insulin (được tiết ra bởi tuyến tụy), leptin (tiết ra bởi các tế bào mở; tín hiệu cho não tăng quá trình trao đổi chất và giảm cơn đói), orexin (tiết ra bởi vùng dưới đồi, kích thích cơn đói), ghrelin (tiết ra bởi dạ dày rỗng, truyền tín hiệu đói tới não), và PYY (tiết ra bởi bộ máy tiêu hóa, gửi tín hiệu không-đói tới não). Tất cả thông tin này được tổng hợp tại hai khu của vùng đồi dưới giúp điều chỉnh trọng lượng cơ thể bằng cách ảnh hưởng đến cảm giác đói và no của chúng ta. Các nhà nghiên cứu có những quan điểm khác nhau liệu cơ thể chúng ta có một điểm đặt cố định (một xu hướng tư nhiên của cơ thể để duy trì cân nặng thích hợp) hay là một điểm đặt di động (một mức chịu tác động bởi môi trường và sinh học cân nặng được xác định phụ thuộc vào hàm lượng calo nạp vào và tiêu thụ) Các yếu tố tâm lý và văn hóa ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thế Cơn đói của chúng ta bị ảnh hưởng không những bởi trạng thái sinh lý của cơ thể mà còn bởi trí nhớ của chúng ta về bữa ăn cuối cùng và dự định cho bữa ăn tiếp theo. Con người thích một số vị nhất định (như ngọt và mặn) gia đình và xã hội sẽ định hình khẩu vị với một số loại thức ăn nhất định. Một số ác cảm với một số loại đồ ăn nhất định (thức ăn lạ hoặc thức ăn gây dị ứng) có ý nghĩa sinh tồn. Giải thích chứng rối loạn ăn uống (chán ăn, cuồng ăn) cho thấy ảnh hưởng của yếu tố tâm lý lên hành vi sinh lý Trong nửa thế kỷ gần đây, sự gia tăng đáng kể hình ảnh những thân thể gầy gò cũng trùng với sự gia tặng chứng rối loạn ăn uống ở những phụ nữ phương Tây. Những người mắc chứng chán ăn (thường là nữ giới vị thành niên) bỏ đói bản thân và duy trì ăn kiêng vì họ tự thấy bản thân béo; những người mắc chứng cuồng ăn (đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi teen đến khoảng hơn 20) ăn no nê rồi bí mật tống thức ăn ra. Những chứng rối loạn ăn uống này một phần liên quan đến yếu tố di truyền nhưng áp lực xã hội, sự tự đánh giá thấp bản thân và những cảm xúc tiêu cực cùng với cuộc sống áp lực đã gây ra hiện tượng này.