You are on page 1of 46

Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719

Nguyễn Kỳ Phong

CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.
Những Hoàn Cảnh Đưa Đến Lam Sơn 719
Như có một sự hiểu ngầm với nhau từ trước. Ngay sau ngày Hoa
Kỳ bầu cử tổng thống mới, chiến lược và chiến thuật của quân lực
Mỹ ở Việt Nam thay đổi ngay. Ngày 20 tháng 1-1969 Richard M.
Nixon lên thay Lyndon B. Johnson cho nhiệm kỳ tổng thống
1969-1972. Johnson đã làm tổng thống và quản trị cuộc chiến ở
Việt nam hơn năm năm; địa bàn họat động của Binh Đoàn Trường
Sơn ( BĐTS) cũng bị oanh tạc trong suốt thời gian đó. Sau năm
năm tổng thống Johnson từ chức; và sau năm năm dội bom, lưu
lượng trên đường xâm nhập của BĐTS qua Hạ Lào cũng không
thay đổi nhiều, nếu không nói là vẫn đủ sức để phục vụ cuộc
chiến. Cuộc chiến ở Việt Nam vào cuối năm 1968, theo một bình
luận gia, đang dậm chân tại chổ. Quân sử của Ban Tham Mưu
Liên Quân (BTMLQ/ Joint Chiefs of Staff) có nói đến sự bế tắc,
nếu không nói là không đạt được mục tiêu, của cuộc chiến vào đầu
năm 1969: “Đầu năm 1969 Hoa Kỳ đã tham gia cuộc chiến được
ba năm rưởi. Tổng cộng có 30.614 người Mỹ chết, tốn 52,2 tỉ mỹ
kim, nhưng Hoa Kỳ vẫn còn cách xa mục tiêu … như lúc mới tham
gia cuộc chiến.” Ban Tham Mưu Liên Quân kết luận như vậy. Sử
gia của BTMLQ không quên nói thêm, BTMLQ đã nhiều lần xin
Tống Thống Johnson cho họ “nới rộng” chiến lược của cuộc
chiến, nhưng đề nghị của BTMLQ không được chấp nhận.[1]
Chỉ hai ngày sau khi Richard M. Nixon nhiệm chức tổng thống,
một tiểu đoàn TQLC Mỹ được phép đánh qua biên giới Lào chừng
một cây số. Khoảng ba tuần sau, Hoa Thịnh Đốn cho phép BTLl
Không Quân Chiến Lược và BTL MACV soạn một kế hoạch để bí
mật oanh tạc các mật khu và căn cứ tiếp liệu của B-2 ở bên trong,

và dọc lãnh thổ Cam Bốt. Hành quân Dewey Canyon đánh qua
biên giới Lào ngày 22 tháng 2-1969, và chiến dịch dội bom Menu
vào Cam Bốt ngày 18 tháng 3-1969, cho thấy vị tổng thống mới
sẳn sàng chấp nhận mọi chỉ trích của công luận và quốc hội Mỹ,
khi dùng sức mạnh quân sự để đánh phủ đầu đối phương. Tân tổng
thống Nixon không quan tâm về công pháp hay hiệp ước quốc tế,
hay luật pháp Hoa Kỳ, khi cho lệnh dội bom và tác chiến bên
trong lãnh thổ hai quốc gia trung lập — trung lập cho đến khi
chánh phủ Nixon không muốn những quốc gia này còn trung lập.
[2]
Hành Quân Dewey Canyon đánh từ hướng bắc thung lũng Sông
Da Krong về huớng nam đến đầu thung lũng A Shau. Dọc theo
biên giới Lào-Việt, từ A Shau đi lên Đường 9 là căn cứ hậu cần
611 của BĐTS, do Binh Trạm 42 phụ trách. Khi tấn công qua biên
giới, TQLC Mỹ tìm được một kho tàng quân trang quân dụng
chứa ở những tổng kho của Binh Trạm 42. Trong khi sự thành
công của chiến dịch Menu dội bom ở Cam Bốt nhiều hay ít thì khó
thẩm định (Mục tiêu nơi B-52 oanh tạc, đôi khi cũng có những
toán LLDB nhảy xuống để thẩm định thiệt hại, nhưng nếu bom
đánh trúng ngay mục tiêu, thì cũng không còn gì để thẩm định.).
Kết quả của hành quân Dewey Canyon làm cho nhiều tư lệnh Hoa
Kỳ phấn khởi: Họ tịch thu 100 tấn gạo và phá hủy hơn 500 tấn vũ
khí, quân nhu và quân dụng. Các tư lệnh quân sự suy luận, nếu
được phép đánh qua biên giới, đánh vào những căn cứ của BĐTS,
thì chắc chắn họ sẽ phá hủy nhiều đồ hậu cần hơn. Với đường lối
ngoại giao và thái độ của tân tổng thống Richard Nixon, BTL
MACV bắt đầu “năn nỉ” Hoa Thịnh Đốn cho phép họ hành quân
qua biên giới Cam Bốt và Lào, hay ít ra cho đánh bom bằng B-52
sâu vào nội địa Lào, như những mục tiêu ở Tchepone, Saravane.
Nhiều tuần trước khi Richard Nixon lên nhiệm chức, tài liệu cho
thấy BTL MACV đã thảo luận nhiều về đề tài “đánh qua Lào và
Cam Bốt; xin thẩm quyền xử dụng B-52 sâu vào nội địa Lào.”
Trước đây (trước khi Nixon nhiệm chức), mọi đề nghị đánh qua

nước ngoài đều bị Tòa Bạch Ốc phủ quyết. Bộ trưởng ngoại giao
Dean Rusk và vị đại sứ ở Lào là William Sullivan lúc bấy giờ rất e
dè về mọi hành động có thể vi phạm quốc gia trung lập. Dưới
nhiệm kỳ của tổng thống Nixon, thái độ của bộ ngoại giao thay
đổi. Những buổi họp tình báo cuối tuần ở BTL MACV trước ngày
đăng quang của Tổng Thống Nixon, có mặt của đại Sứ Ellsworth
Bunker, qua những lần phát biểu ở MACV Đại Sứ Bunker nói từ
năm 1967 ông đã đồng ý với đề nghị của tướng William
Westmoreland là nên đánh qua biên giới … nhưng ông đã bị thẩm
quyền ở bộ ngoại giao “đá đít” ông về đề nghị như vậy. Nhưng từ
đầu năm 1969, Đại Sứ Bunker nghỉ thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn sẽ
nới lỏng về những vi phạm quân sự qua biên giới. [3] Cũng trong
những tháng đầu tiên của năm 1969, khi Đô Đốc John S. McCain
đến thăm BTL MACV, Đại Tướng Abrams thúc ông đô đốc xin
BTMLQ cho ông rộng tay với các cuộc hành quân vượt biên và
thêm phi vụ B-52 đánh vào những căn cứ hậu cần. Cũng trong
nhiều lần nói chuyện với Đô Đốc McCain; với tham mưu trưởng
BTMLQ Earl Wheeler; với bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair,
tướng Abrams nhắc tới lui nhiều lần tên của năm căn hậu cần 604,
611, 609, 352, và 701: MACV muốn được phép tấn công vào
những căn cứ đó. Căn cứ 604 là bản doanh của Binh Trạm 33 ở
Tchepone; 611 là Binh Trạm 42 ở A Shau như đã đề cặp; 609 là
Binh Trạm 35 và 37 ở Bản Bạc phụ trách tiếp liệu cho B-3; các
căn cứ 350-354 và 701 là những căn cứ hậu cần bên trong nội địa
Cam Bốt, phụ trách tiếp liệu cho bộ tư lệnh lớn nhất miền nam,
BTL B-2 (B-2 có quân ở 32 tỉnh trong 44 tỉnh của VNCH). Với sự
có mặt thường xuyên của Đại Sứ Bunker ở MACV, bộ ngoại giao
biết chuyện hành quân qua Lào và chiến dịch dội bom bí mật ở
Cam Bốt trước khi xảy ra, và đã đồng thuận với quyết định của
Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc.[4] Cuộc dội bom bí mật ở Cam
Bốt được chấp thuận vài tuần sau cuộc hành quân Dewey Canyon.
Ngày 19 tháng 2-1969, Cố Vấn Anh Ninh Quốc Gia Henry
Kissinger đề nghị Tổng Thống Nixon cho phép MACV và BTL
Không Quân Chiến Lược được phép (nhưng bí mật) dội bom
những hậu cần của B-2 bên trong nội địa Cam Bốt.[5] Sau khi

chiến dịch dội bom bí mật được thực hiện, BTL TBD và BTL
MACV tiếp tục “nới rộng chiến lược” bằng những cuộc hành quân
khiêu khích, táo bạo bên kia biên giới, hay dọc theo biên giới.
Những cuộc hành quân của Hoa Kỳ và VNCH đánh sâu vào địa
bàn và căn cứ hậu cần của CSVN trong hai năm 1969-1970, cho
thấy Hoa Kỳ muốn tận dụng khả năng đang có trong tay để đánh
gục, hay ít ra gây khó khăn cho CSVN. Phải đánh vài trận lớn
trước khi không còn quân — hay tiền — để đánh. Thẩm quyền Mỹ
đã thông báo giới chức ở Việt Nam là ngân sách chiến tranh ở
Đông Nam Á sẽ bị cắt giảm; quân tác chiến sẽ được rút ra khỏi
chiến trường theo thời khóa biểu, bất kể tình hình chiến sự đang
xảy ra.[6] Sau Hành Quân Dewey Canyon, trong sáu tháng còn lại
của năm 1969, Hoa Kỳ và VNCH trở lại lục soát những căn cứ
của BĐTS dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt. Tiếp sau đó là
những cuộc giao tranh đẩm máu ở Ben-Het; ở A Shau, tiêu biểu là
trận Động Ấp Bia — còn gọi là “Hamburger Hill/ Đồi Thịt Bầm/
Đồi 937” trong một ý nghĩa khác. Đây là một trận “nhỏ” trong ý
nghĩa thiệt hại. Hoa Kỳ bị chết khoảng 46 quân nhân trong trận
đánh chín ngày, nhưng đây là năm 1969, một năm đầy phản chiến
ở nội địa Mỹ, BTL MACV được lệnh phải giới hạn tối đa thiệt hại
về nhân mạng để bớt gây phẩn nộ trong quần chúng. Chỉ vài năm
trước đó, quân đội Mỹ có hơn 200 tử thương một tuần trong ba
năm liên tục.[7] Ở đây, trong tương quan giữa chương trình “Việt
Nam Hóa,” và hai cuộc hành quân qua Cam Bốt và Hạ Lào, số
thương vong của quân đội Mỹ hàng tuần được nhìn như một kết
quả trực tiếp của chương trình “Việt Nam Hóa.” Với tất cả sự phi
lý của một chiến lược, BTL MACV suy luận nếu lính Mỹ chết
càng ít, thì quân lực VNCH gánh vác cuộc chiến càng nhiều.
Trong chiều hướng suy luận đó, BTL MACV sẽ mở thêm nhiều
cuộc hành quân lớn trong những năm sau cùng của cuộc chiến.
Chỉ là, trong những cuộc hành quân lớn lần tới, đa số “màu da tử
sĩ” sẽ là lính VNCH.[8]
Cứớc Chú:
[1] The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1969-1970,

tr. 1. Đây là tài liệu giải mật đầu tiên của Ban Tham Mưu Liên
Quân Hoa Kỳ (US Joint Chiefs of Staff) về chiến tranh Việt Nam.
Tài liệu ghi lại hoạt động của BTMLQ trong tương quan với Việt
Nam từ năm 1945 đến 1975.
[2] Trước khi đánh qua Lào (trong cuộc hành quân Dewey
Canyon 1969) và sau đó dội bom bí mật ở Cam Bốt 1969, giới
chức Mỹ đã gặp và bàn luận với các yếu nhân của Lào và Cam
Bốt về kế hoạch của họ. Từ mùa Xuân năm 1969 quân đội
QĐND/QGP tấn công nhiều nơi ở Thượng Lào và những điểm
chiến lược như Bình Nguyên Bolovens và Attepeu, đã làm cho thủ
tướng Souvanna Phouma lo sợ và cho phép Hoa Kỳ “đánh qua đất
Lào được, nhưng đừng lâu quá …” (FRUS, Vietnam 1969-1976,
vol. VII, July 1970-January 1972, Document 93) Còn trường hợp
ở Cam Bốt thì như chúng ta đã biết: Vị sĩ quan thân Mỹ Lon Nol
đảo chánh quốc vương Sihanouk, và sau đó khóa cửa cảng
Sihanouk — một đường tiếp tế quan trọng cho B-2 và B-3. Kho
chứa hàng của Binh Trạm 42 nằm chừng 500 mét bên kia biên
giới, dọc theo tỉnh lộ 922, chạy song song với Sông Da Krong. Từ
tỉnh lộ 922 đoàn xe xâm nhập dùng đường 548 để vào tỉnh
Kontum và từ đó tiếp tế cho mặt trận Tri-Thiên-Huế. Kho hàng
của Binh Trạm 42 trong căn cứ hậu cần 611 lớn không tưởng
tượng: 12 cây đại bác 122 ly (lần đầu tiên thấy ở chiến trường) với
7.000 đạn; 88.000 đạn súng cối, 60, 82, và 120 ly. Trong những
cuộc hành quân tiếp theo sau đó vài tuần, số vũ khí tịch thu được
còn nhiều hơn gấp ba,bốn lần ở những kho chứa hàng khác trong
thung lũng A Shau. Về số vũ khí tịch thu được ở Căn Cứ Hậu Cần
611, đọc The Abrams Tapes, tr. 129, 123; Về tiểu đoàn TQLC
đánh qua sông Da Krong, The U.S. Marine in Vietnam: Hight
Mobility and Standdown, 1969. tr. 3-20.
[3] Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 163. Nguyên tác câu nói
“bị đá đít” của Đại Sứ Bunker, “I got my ass kicked for the
suggestion [to go into Laos] …”
[4] Đại Sứ Wiliam H. Sullivan bị thay thế ở Lào. Tân Đại Sứ G.
McMurtrie Godley thân thiện với kế hoạch quân sự của MACV
hơn Sullivan.

[5] Trong thông văn gởi cho Nixon và đề nghị tổng thống chấp
thuận, Kissinger cho biết BTL MACV và Đại Sứ Bunker đề nghị
dội bom Cam Bốt từ ngày 12 tháng 2-1969. Tổng Thống Nixon
chấp thuận đề nghị của Kissinger khi đang rời phi trường, trên
đường công du Âu Châu. Foreign Relations of the United States
(FRUS), 1969-1976, volume 1, Vietnam, January 1969-July 1970,
Document 22.
[6] Trong kế hoạch rút quân của Mỹ, những đơn vị nào đã có lịch
trình giải tán để rời chiến trường Việt Nam, thì đơn vị đó rút đi
đúng ngày, bất kể chuyện gì đang xảy ra. Trường hợp điển hình là
hai Toán Cố Vấn 158 và 162 (Team 158 là Toán MAC-SOG, cố
vấn cho Phòng 7, Nha Kỹ Thuật và Sở Liên Liên Lạc VNCH;
Team 162 cố vấn cho Sư Đoàn Nhảy Dù VNCH.). Toán 158 giải
nhiệm và rời chiến trường ngày 31 tháng 3-1972; Toán 158, ngày
15 tháng 7-1972. Tháng 3 và tháng 7 là bắt đầu, và là cao điểm
của trận “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972. Năm 1969-1970 ngân sách quốc
phòng nghiêm nhặt đến độ phi vụ B-52 phải được chấp thuận
trước hàng tháng; mỗi tháng phải xin thẩm quyền cho phi vụ mới.
Lewis Sorley, sđd, tr. 436.
[7] Năm 1967 Mỹ có 9.317 chết; năm 1968, 14.589; và năm
1969, 9.414. 33.320 tử thương trong ba năm. Mùa Xuân 1968, Mỹ
có 543 tử thương một tuần. Peter Braestrup, ed., Vietnam as
History, Eppendices. Số tử thương hàng tháng của Hoa Kỳ,
Herbert Y. Schandler, Lyndon Johnson and Vietnam: The
Unmaking of a President, tr. 354.
[8] Việt Nam Hóa cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một kế hoạch
“đổi màu da tử sĩ,” lời phát biểu của Thượng Nghị Sĩ Eugene
McCarthy, ứng cử viên tổng thống đối lập năm 1968. Trích theo
Seymour Hersh, The Price of Power: Kissinger in the Nixon
White House, tr. 310.
CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào - T.T.
Tình Hình Quân Sự 1969-1970

Nếu VNCH và Hoa Kỳ muốn thắng cuộc chiến ở Việt Nam, thì hai
năm 1969-1970 là cơ hội cuối cùng để thực hiện ý định. Hoa Kỳ
và VNCH thấy được cơ hội đó, nhưng không thực hiện được ý
định. Đến mùa thu năm 1969 tình hình quân sự ở miền nam
nghiêng lợi thế về cho VNCH và Hoa Kỳ.
Sau cuộc tổng tấn công-tổng khởi nghĩa năm Mậu Thân 1968,
QĐND/QGP bị thiệt hại nặng về nhân sự, và gặp khó khăn về mọi
mặt. QĐND/QGP phải chống đở nhiều chiến dịch đánh phá từ
VNCH và Hoa Kỳ. Chiến Dịch Phụng Hoàng; CORDS; Xây
Dựng Nông Thôn; Commando Hunt; và Market Time. Một mặt,
đường tiếp liệu từ Lào vào các mặt trận ở miền nam trở nên khó
khăn và tốn kém với chiến dịch dội bom Commando Hunt; những
cuộc càn quét của chiến dịch Market Time (Market Time là hành
quân đường biển/ sông, để ngăn chận QĐND/QGP xâm nhập,
chuyên chở qua đường thủy), làm cho vấn đề xâm nhập qua đường
biển vào cảng Sihanoukville (Kompong Som) gần như bế tắt. Lưu
lượng xâm nhập trong hai năm 1969-1970 chỉ còn đủ để dưỡng
quân; không còn tác chiến được. Năm 1969-1970 cũng là thời gian
Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội và Trung Ương Cục Miền Nam
(TƯCMN) chỉnh đốn và phối trí lại chiến lược và chiến thuật ở
miền nam để đối phó với tình hình mới. Chiến lược mới của Trung
Ương Cục Miền Nam bây giờ là kế nghi binh, tạo ra một ấn tượng
như mặt trận quân sự đang chờ sự hướng dẩn của mặt trận chính
trị QĐND/QGP đang hội họp Ba Lê. Về chiến thuật, TƯCMN chỉ
thị tách ra từng lực lượng nhỏ, dể di chuyển, dể lẩn tránh, nhưng
đồng thời cũng dể tấn công nếu cần. Trong thời gian nghi binh và
đánh nhỏ, quân đội QĐND/QGP dưỡng quân. Những đợt di
chuyển quân từ Hạ Lào ngược về hậu phương Thanh Hóa là một
thí dụ cho thấy quân đội QĐND/QGP đang thay đổi chiến thuật
trong một chiến lược mới.
Tháng 7-1969 Hoa Kỳ tịch thu được một tài liệu mật có tên là
Nghị Quyết 9, do Trung Ương Cục Miền Nam lưu hành. Căn cứ
vào nội dung, đây là một huấn nghị cho tất cả bộ chỉ huy/ bộ tư
lệnh dưới quyền của Trung Ương Cục Miền Nam. Tin tình báo từ

VNCH và Mỹ cho biết Quyết Nghị 9 là một trong những quyết
nghị quan trọng nhất của cuộc chiến cho đến thời điểm đó. Trong
Nghị Quyết 9 là những huấn thị về chiến thuật và chiến lược mới,
để đương đầu với VNCH và Hoa Kỳ. Theo Đại Tá Hoàng Ngọc
Lung, Nghị Quyết 9 của TƯCMN đưa ra từng chi tiết rất rõ ràng
để đối phó chiến thuật và chiến lược trong thời tới. [1] Huấn thị
khẳn định (a) quân đội QĐND/QGP khổng thể thắng ở chiến
trường Việt Nam nếu còn sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. (b)
lại càng không thể giả định có thể thắng VNCH và đồng minh
bằng một trận đánh lớn — Trận Mậu Thân 1968 là một thí dụ cho
sự sai lầm đó. (c) Giới hạn cấp số những trận đánh chỉ từ cấp tiểu
đoàn trở xuống; quân chia ra từng toán nhỏ, chủ yếu gây thương
tích cho quân nhân Mỹ bằng lối đánh đặc công; và đánh phá kế
hoạch Việt Nam Hóa đang khai triển và thực thi. (d) Trở lại chiến
thuật trường kỳ kháng chiến trong khi chờ quân đội Hoa Kỳ rút đi.
Nhìn trên quan điểm chiến lược, Nghị Quyết 9 là một thay đổi rất
hợp lý cho QĐND/QGP trong thời điểm khó khăn ở chiến trường
miền nam trong hai năm 1968-1969. Trung Ương Cục Miền Nam
chịu không nổi với những thiệt hại quá nặng: Chỉ trong 11 tháng
của năm 1969, QĐND/QGP đã có 153.800 tử thương; 42.000 ngàn
hồi chánh; và 30.000 quân cán quá yếu, phải đưa về hậu phương
miền bắc bồi dưỡng. [2]
Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào
Năm 1970 Mỹ — mà đại diện là Tổng Thống Nixon [3] — bạo
dạn hơn với những kế hoạch quân sự. Đầu năm 1970 kế hoạch tấn
công vào căn cứ tiếp liệu và bản doanh của TƯCMN bên trong đất
Cam Bốt được nói đến trong những dự thảo hành quân của MACV
và VNCH, cho chương trình năm 1970. Đầu tháng 3-1970, khi
thấy tình hình chính trị của Cam Bốt đã chín mùi cho một cuộc
đảo chánh (đảo chánh quốc vương Sihanouk), Đại Tướng Abrams
hỏi Đại Tướng Cao Văn Viên về những kế hoạch hành quân tương
lai, đánh vào mật khu hậu cần của TƯCMN ở đất chùa tháp.

Tướng Viên trả lời là một vài đơn vị VNCH đã đột kích nhiều mục
tiêu bên trong Cam Bốt. Mục tiêu gần nhất là vài cây số; xa nhất
là 10 cây số.
Kế hoạch đánh qua Cam Bốt trở thành chuyện đương nhiên khi
Đô Đốc John McCain của BTL TBD đề nghị với tham mưu
trưởng Ban Tham Mưu Liên Quân (BTMLQ) Earle Wheeler phải
đánh qua Cam Bốt. Nhận xét từ những thẩm quyền ngoại giao và
quân sự khác càng làm cho Đại Tướng Abrams háo hức hơn: Đại
Sứ Bunker tuyên bố, nếu mật khu và căn cứ hậu cần của
QĐND/QGP vẫn còn ở Cam Bốt, thì người Mỹ phải còn ở Việt
Nam vô hạn định. Đại Tướng Bruce Palmer, tư lệnh phó của
Abrams (và là bạn cùng khóa võ bị West Point với Abrams và
Westmoreland) nói, những căn cứ hậu cần nằm sát biên giới của
QĐND/QGP, tương tự như một nòng súng kề vào đầu nền an ninh
của VNCH. [4] Cuối tháng 3-1970, chuyện đánh qua Cam Bốt
được coi như chuyện đã rồi. Đầu Tháng 5-1970, Hành Quân
Rockcrusher (Mỹ) và Toàn Thắng 46 (VNCH) khai diễn. Hành
quân đánh qua Cam Bốt xảy ra đúng ý còn hơn là BTL MACV và
BTTM VNCH đã dự kiến. Cuộc tấn công dể dàng đến độ MACV
và BTTM VNCH tự hỏi, tại sao hành quân qua Cam Bốt không
xảy ra sớm hơn. Cuộc hành quân đến ngày thứ năm thì coi như bế
mạc: quân QĐND/QGP bỏ căn cứ, băng qua sông Cửu Long, rút
về hướng tây. Trong tháng đầu hành quân, số lượng quân trang
quân dụng tịch thu được nhiều đến độ những ước tính của CIA
trước đó trở thành vô dụng. Hàng tiếp liệu của Trung Cộng đến
cảng Sihanoukville đủ để nuôi cả B-2 và B-3. Chưa bao giờ quân
đội VNCH chiến thắng dể dàng như vậy. Ở ba mặt trận tại căn cứ
Ba Thu, Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu, với địa hình bằng phẳng, quan sát
được hết tầm mắt, quân VNCH và Hoa Kỳ dàn quân hàng ngang
và tấn công thẳng vào căn cứ. Với hỏa lực hùng hậu yểm trợ thẳng
vào mục tiêu, Quân VNCH và Mỹ không gặp kháng cự nào đáng
kể trong cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher. [5]
Truyền tin bắt được từ BTL TƯCMN ra lệnh cho các đơn vị ở
chiến trường B-2/ Cam Bốt “tránh kháng cự, rút quân khỏi mặt

trận để bảo toàn lực lượng.” [6] Một cuộc hành quân quá dể; một
chiến thắng không tốn kém nhiều so với kết quả. Tuy nhiên, chính
sự chiến thắng quá dể đó đã để lại một ấn tượng sai lầm trong đầu
những sĩ quan sọan thảo Hành Quân Lam Sơn 719 về sau.
Sau cuộc hành qua Cam Bốt, vào trung tuần tháng 9-1970,
MAC-SOG cho một đại đội xung kích đột nhập vào căn cứ tiếp
liệu 609 thuộc Binh Trạm 35 ở Bản Bạc, cách biên giới Việt Nam
90km. Đây là một loại binh trạm tổng kho, hàng tiếp liệu chứa ở
đây còn còn nhiều hơn ở Binh Trạm 42. Hạ tuần tháng 11 năm
1970, BTMLQ trực tiếp ra lệnh cho MAC-SOG đột nhập một trại
tù binh Mỹ ở Sơn Tây, cách Hà Nội không hơn 40 km.
Đến cuối năm 1970 Tổng Thống Richard Nixon đang say men
chiến thắng: Dội bom và tấn công Cam Bốt; đột kích vào đất Lào
và Sơn Tây … với tất cả những khiêu khích quân sự đó, Nixon chỉ
bị công luận ở trong và ngoài nước phản đối một cách lấy lệ — trừ
một số thượng nghị sĩ đối lập đang dự thảo một bộ luật giới hạn
lại quyền tuyên chiến của tổng thống. Một phiền toái chánh trị
chưa gây trở ngại cho Tổng Thống Nixon lúc đó. Được dịp làm
tới: Nixon giao cho hai người phụ tá thân cận điều động và liên lạc
với BTMLQ về một kế hoạch hành quân mới.
Hoa Kỳ và Kế Hoạch Hành Quân Lam Sơn 719
Giữa tháng 12-1970 Đô Đốc John McCain gởi Đại Tướng
Creighton Abrams một điện văn, đề nghị MACV soạn một số kế
hoạch hành quân cho năm tới. Điện văn ngày 15 tháng 12-1970 là
một trong bốn điện văn BTL TBD (McCain) gởi BTL MACV
(Abrams) từ ngày 6 tháng 12. Điện tín ngày 15 tháng 12 thông báo
MACV nên tiếp tục sọan thảo hành quân qua Cam Bốt, Lào, và
bắc Việt Nam như đã thảo luận từ trước. Bộ tư lệnh TBD sẽ gởi kế
họach của MACV thẳng về BTMLQ. Ở đọan văn sau cùng của
điện tín, McCain nói mùa khô của năm 1970-71 sẽ là thời gian
cuối cùng quân lực Hoa Kỳ còn đủ quân để yểm trợ cho VNCH
hành quân lớn ở nhiều mặt trận cùng lúc. Đô Đốc McCain nhấn
mạnh đây là cơ hội cuối cho VNCH hành quân qua Lào và Cam

Bốt một lần nữa. Điện văn đề nghị VNCH phải hành quân trở lại
chiến trường Cam Bốt. Về phương diện hành quân, điện văn ngày
15 tháng 12-1970 là một quân lệnh. Và nếu như vậy, kế hoạch
Hành Quân Lam Sơn 719 (LS719) được sọan thảo và thực hiện
quá vội — vì như đã xảy ra, ngày 8 tháng 2-1971 là ngày băng qua
biên giới Lào. Như vậy chỉ có 53 ngày từ thông báo sọan thảo đến
ngày hành quân. [7]
Ở trên cấp của Đô Đốc McCain, ngày 5 tháng 11 trước đó, Tham
Mưu Trưởng BTMLQ yêu cầu Đô Đốc McCain trình lên BTMLQ
kế hoạch hành quân trong sáu tháng tới. Ba ngày sau McCain trả
lời ông dự định hai kế hoạch hành quân cho năm 1971, (a) Mỹ sẽ
yểm trợ cho quân đội bốn quốc gia, Thai, VNCH, Cam Bốt và Lào
gia tăng hành quân lục soát, đánh phá căn cứ cộng sản trong biên
giới riêng biệt của họ; và nếu (b) Hoàng Gia Lào tuyên bố hủy bỏ
Hiệp Định Trung Lập 1962 của Lào, thì bốn quốc gia có tên trên
cùng đánh vào vùng Hạ Lào để cắt đHCM. [8] Theo quân sử
BTMLQ, đến đầu tháng 12-1970 Tòa Bạch Ốc chỉ chú tâm đến ba
kế hoạch đang được nghiên cứu: (a) Hành quân lớn, gồm hai hay
là ba sư đoàn VNCH đánh vào Hạ Lào; (b) Quân lực VNCH, với
yểm trợ không lực của Mỹ, đánh trở lại Cam Bốt; và (c) LLĐB
VNCH thực hiện những hành quân đột kích bí mật trên đất bắc.
[9] Điều đáng lưu ý ở đây là BTL TBD và BTMLQ chỉ cho phép
MACV bắt đầu sọan thảo LS719 từ đầu tháng 12-1970. Không
những như vậy, MACV cùng lúc phải soạn luôn một kế hoạch
hành quân trở lại Cam Bốt lần thứ nhì. Vì BTMLQ hoặc Tòa Bạch
Ốc muốn có chọn lựa một trong hai hành quân, hay là cả hai.
Nghĩa là quân lực VNCH sẽ đánh hai mặt trận một lúc nếu Tòa
Bạch Ốc quyết định như vậy. Kế hoạch đánh hai mặt trận ngoại
biên cùng một lúc phải là ý định của Tòa Bạch ốc, chứ không thể
đến từ McCain hay Abrams. Ở đây họ chỉ theo lệnh đến từ Đô
Đốc Thomas Moore, tham mưu trưởng BTMLQ; và Moore thì bị
áp lực từ Henry Kissinger và Chuẩn Tướng Alexander Haig từ Tòa
Bạch Ốc. Mặc dù hai vị tư lệnh McCain và Abrams rất phấn khởi
về khả năng của quân lực VNCH sau trận Cam Bốt 1970. Nhưng

phải đánh hai mặt trận ở cách xa biên giới cùng lúc thì đó là một
ước muốn quá lạc quan từ thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn. Chúng ta
có thể suy luận Đô Đốc McCain và Đại Tướng Abrams không
“xúi” VNCH đánh vào Tchepone một mình; còn kế hoạch đánh
hai mặt trận cùng lúc thì lại càng không thể đến từ McCain và
Abrams. Khi kế hoạch “Việt Nam Hóa” vừa mới khai diễn được
một năm, khi thấy quân lực VNCH được bàn giao quá nhiều
nhiệm vụ, Đốc Đốc MCCain khuyến cáo Abrams đừng nên cho
VNCH “ăn” nhiều quá có thể bị khó tiêu. Và Đại Tướng Abrams
thì biết rõ Tchepone là một tổ ông vò vẽ khi đụng vào. [10]
McCain và Abrams đều muốn đánh vào căn cứ hậu cần 604 ở
Tchepone. Nhưng họ muốn thấy quân tác chiến Hoa Kỳ đi cùng —
hay ít ra là có cố vấn Mỹ hỗ trợ như trong cuộc hành quân
Rockcrusher/ Toàn Thắng 46. Đến đầu tháng 12-1970 khi kế
hoạch hành quân trở ngược lại Cam Bốt và qua Hạ Lào được sọan
thảo, vai trò của quân tác chiến Hoa Kỳ không có trong kế hoạch.
Như vậy thẩm quyền nào đã đốc thúc kế hoạch hành quân Cam
Bốt lần thứ nhì và LS719? [11]
Henry A. Kissinger và Chuẩn Tướng Alexander M. Haig (Haig là
phụ tá chánh Kissinger) đều nói họ không phải là cha đẻ của kế
hoạch Hành Quân LS719. Henry A. Kissinger nói ông hoàn toàn
không có liên hệ gì đến kế hoạch LS719. Trong hồi ký White
House Years, Kissinger ví kế hoạch Hành Quân LS719 như một
đứa trẻ mồ côi không cha. “Thành công thì có nhiều người cha;
nhưng thất bại là một đứa con không người nhận,” Kissinger
giải thích. [12] Có thể Kissinger không phải là cha đẻ của LS719,
nhưng sử liệu cho thấy ông có tham dự và đốc thúc BTL MACV,
TBD và BTMLQ soạn thảo kế hoạch LS719.
Cước Chú
[ 1] Hoàng Ngọc Lung, The General Offensives of 1968-69
(Center of Military History, Indochina Monograph, 1981), tr. 154.
Đại Tá Lung là chỉ huy trưởng Phòng 2 BTTM, 1971-1975. Nghị
Quyết 9 dài 41 trang, và MACV nhờ Phòng 2 BTTM dịch ra tiếng

Anh tường tận cho họ. Trong hai tháng 9 và 10-1969, Đại Tướng
Cao Văn Viên và Đại Tá Phạm Ngọc Thiệp đích thân đến họp ở
BTL MACV, trao đổi về nội dung của Nghi Quyết 9. Đại Tá Thiệp
chỉ huy Phòng 2 BTTM năm 1968-1971. Đọc Lewis Sorley, The
Abrams Tapes, tr. 316-318.
[2 ] Tổn thất cho nguyên năm 1969 của quân đội QĐND/QGP ở
chiến trường miền nam là 172.000 chết, và 47.023 hồi chánh
(trong đó 28.054 là lính tại ngủ). Lewis Sorley, sđd, tr. 387. Về
thiệt hại ở một số mặt trận, đọc Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp, Ký
Ức Tây Nguyên, tr. 131-141, 367; Đại Tướng Mai Chí Thọ, Theo
Bước Chân Lịch Sử, tr. 168-174; Thượng Tướng Nguyễn Nam
Khánh, Miền Trung Những Tháng Ngày Không Quên, tr. 417-417;
Thượng Tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến 30 Năm, Tập
5, tr. 190.
[3 ] Từ tháng 3-1970, Phòng báo chí MACV cho biết quân lệnh
liên hệ đến chiến trường Lào và Cam Bốt sẽ do Tòa Bạch Ốc gởi
đến MACV và không qua Bộ Quốc Phòng hay Ngũ Giác Đài nữa
(Ngũ Giác Đài ở đây là Tham Mưu Trưởng Ban Tham Mưu Liên
Quân). Tòa Bạch Ốc cũng chịu trách nhiệm thông báo cho Bộ
Ngoại Giao về vấn đề quân sự ở Cam Bốt và Lào. Nói một cách
khác, Tòa Bạch Ốc sẽ ra lệnh trực tiếp cho MACV về quân sự và
chính trị. Lewis Sorley, sđd, trang 383.
[4] Lewis Sorley, A Better War, tr. 200.
[5] Trong một trận tống công, thiết kỵ dàn mặt trận ngang sáu cây
số; cách 25 mét là một thiết giáp/ xe tăng, và đánh trực diện. Đọc
Đại Tướng Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, tr. 172.
[6] Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion, tr.
95. Về số lượng vũ khí tịch thu, và thiệt hại đôi bên ở Cam Bốt,
đọc tr. 193-194. Đây là quyển quân sử chi tiết và rõ ràng nhất về
cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher 1970.
[7] Điện tín 150512Z Dec 70, McCain CINCPAC gởi Abrams
COMUSAMACV. Điện tín đầu tiên về đề tài này gởi ngày 6 tháng
11. Abrams Special Collection, Army War College, Carlisle,
Pennsylvania.

[8] The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1970-1971,
tr. 2. Điện tín 15006 của BTMLQ gởi CINCPAC 071926Z, Nov
1970; CINCPAC trả lời BTMLQ, 100556Z, Nov 1970.
[9] Từ tháng 3-1970 các toán LLĐB Mỹ-Việt đã đột kích vào
miền bắc (tối đa 30 cây số từ biên giới/ vĩ tuyến 17) 14 lần, trong
đó chỉ có chín lần thành công. Thông văn của Kissinger gởi
Nixon, FRUS 1969-1976, Vol VII, Vietnam July 1970 – January
1972, Document 80.
[10 ] Đụng vào “tổ ong vò vẽ,” đọc phụ chú số 25, Chương 2
trong sách; “ăn nhiều quá khó tiêu …” điện tín của Abrams gởi
Đại Tướng Earle Wheeler, MAC 15405, 291300Z Nov 1969, trích
theo Sorley, tr. 230.
[11] Có một bí mật nào đó trong giai đọan đầu sọan thảo LS719
mà chúng ta chưa biết rõ: Kế hoạch đánh qua Hạ Lào đã được
BTMLQ, MACV và BTL TBD nói đến nhiều lần từ tháng 111970. Nhưng đến ngày 22 tháng 12-1970 Bộ Trưởng Quốc Phòng
Melvin Laird mới được thông báo trong một buổi họp với Tổng
Thống Nixon. Bộ Trưởng Ngoại Giao William Rogers cũng không
được loan báo cho đến sau ngày 24. Như vậy Bộ Trưởng Quốc
Phòng Laird đã bị lọai ra khỏi hệ thống quân sự với BTL MACV,
BTL TBD và BTMLQ. Đọc The Joint Chiefs of Staff and the War
in Vietnam, tr. 447, chú thích 7.
[12 ] Henry A. Kissinger, White House Years, tr. 1004-1005.
[Tiếp theo #24]
Tài liệu đến từ BTMLQ; CIA; Tòa Bạch Ốc; và MACV cho thấy
ông Cố Vấn Anh Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon có “bàn
tay” trong kế hoạch LS719. Như là cố vấn an ninh quốc gia cho
tổng thống, Kissinger suy luận năm 1972 là năm bầu cử tổng
thống. Chiến trường ở Việt Nam phải yên tỉnh để được phiếu cử
tri. Đánh vào Tchepone đầu năm 1971 sẽ gây nhiều phiền toái và
làm QĐND/QGP “bận tâm” đến sau cuộc bầu cử tháng 11-1972.
Đó là một kế hoạch xa (lúc đó mới cuối năm 1970), nhưng trong

vai trò cố vấn, Kissinger có nhiệm vụ nghĩ xa. Những kế hoạch
Kissinger đề nghị với Tổng Thống Nixon từ đầu năm 1969 đến lúc
đó, đều thực hiện được như ý và thành công (bí mật dội bom Cam
Bốt; thương lượng bang giao với Trung Cộng; hội hợp bí mật với
Hà Nội …). Đề nghị của Kissinger rất được Nixon cân nhắc. Kế
hoạch LS719 cũng nằm trong quyền hạn của Kissinger, trong ý
nghĩa đó một chiến thuật quân sự để hỗ trợ chính trị.
Theo nhật ký của tham mưu trưởng Tòa Bạch Ốc H.R.
Haldeman, Kissinger là người đề nghị và điều khiển những buổi
họp liên quan đến kế hoạch LS719. Haldeman ghi trong nhật ký,
ngày 23 tháng 12 Kissinger muốn nói chuyện với tham mưu
trưởng BTMLQ Đô Đốc Thomas Moorer và Bộ Trưởng Quốc
Phòng Melvin Laird trước mặt Tổng Thống Nixon về Hành Quân
LS719. Lý do phải có mặt tổng thống, vì Kissinger muốn thấy
Nixon ra lệnh hành quân trực tiếp cho hai thẩm quyền Ngũ Giác
Đài và Bộ Quốc Phòng. “Kissinger nhờ tổng thống ra lệnh trước
mặt cho Bộ Trưởng Laird và giới quân sự [Đô Đốc Moorer] thi
hành kế hoạch. … Vì họ sẽ không thi hành nếu tổng thống không
ra lệnh thẳng,” Haldeman viết thêm. [1] Một chi tiết khác cho thấy
Kissinger trực tiếp tham dự tiến trình soạn thảo kế hoạch LS719.
Ngày 11 tháng 12 Kissinger sai phụ tá Haig qua Cam Bốt và Việt
Nam để bàn luận trực tiếp với BTL MACV và Đại Tuớng Abrams.
Từ Sài Gòn, tướng Haig gởi về Kissinger một điện tín, tóm tắt sơ
thảo những kế hoạch hành quân của MACV cho năm 1971. Trong
điện tín Haig cho biết MACV và BTTM VNCH đồng ý về ba kế
hoạch lớn cho năm 1971: (a) Tiến quân theo Đường 7, đánh vào
căn cứ hậu cần của hai Sư Đoàn 7 và 9 QĐND/QGP ở đồn điền
Chup, Kratie và Kampong Cham; (b) Dùng hai sư đoàn tiến theo
Đường 9 đánh vào Tchepone; và (c) đột kích vào đất bắc. Chuẩn
Tướng Haig còn nói rõ, Đại Tướng Cao Văn Viên và Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu đã thông qua kế hoạch (a) và (b) với MACV.
Hai ngày sau, Kissinger tóm lược lại điện tín của Haig và gởi
Tổng Thống Nixon với đề nghị đồng thuận. [2] Ngày 23 tháng 12,
trong buổi họp tại Tòa Bạch Ốc dưới sự có mặt của Bộ Trưởng

Laird và tham mưu trưởng BTMLQ Mooere, lần đầu tiên Nixon
nói chi tiết về báo cáo và đề nghị của Haig (mà thật sự là đến từ
Kissinger). Cũng trong buổi họp đó, Nixon ra lệnh tiếp tục hai kế
họach hành quân như đã đề nghị.
Trong vấn đề ai là “cha đẻ” của kế hoạch Hành Quân LS719,
vai trò của Chuẩn Tướng Alexander Haig không thể không nói
đến. Haig cũng có thể là người đề nghị đánh qua Tchepone với
một tiếng nói nhiệt tình. Tác giả quân sử Lewis Sorley trong một
tác phẩm về chiến tranh Việt nam, nghĩ tướng Haig và một số
cộng sự viên trẻ ở Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (HĐANQG) đẻ ra
kế hoạch hành quân qua Hạ Lào. [3] Sự sốt sắng đi qua lại Sài
Gòn trong thời gian hành quân LS719 có thể là một dấu hiệu về sự
liên hệ nguyên thủy của Chuẩn Tướng Haig trong kế họach
LS719. [4]
LS719 Nhìn Từ Tòa Bạch Ốc
Sau khi nhận được điện văn của Đô Đốc McCain cho phép tiến
hành sọan thảo kế họach LS719, ngày 18 tháng 12-1970 (một
ngày sau ngày Chuẩn Tướng Haig rời Sài Gòn) Đại Tướng
Abrams gởi về BTL TBD kế hoạch hành quân qua Lào và Cam
Bốt của MACV. BTL TBD chấp thuận kế hoạch và gởi về cho Đô
Đốc Thomas Moorer của BTMLQ. Ngày 23 cùng tháng, Tổng
Thống Nixon ra lệnh Moorer và Bộ Trưởng Laird thi hành kế
hoạch trên nguyên tắc. “Trên nguyên tắc” ở đây có nghĩa Tòa
Bạch Ốc có quyền hoản lại, hay không xử dụng kế hoạch, hay
thay đổi kế hoạch khác hơn. Vì một lý do nào đó Tòa Bạch Ốc vẫn
còn ấn tượng với sự thành công ở Cam Bốt năm ngoái; vẫn nghĩ
rằng hàng tiếp liệu ở những hậu cứ vẫn chưa được khai thác hết.
Đến ngày đó, 23 tháng 12, HĐANQG và Ủy Ban Hành Động Đặc
Biệt (WSAG/Washington Special Actions Group) vẫn chưa quyết
định được (a) Tchepone hay đồn điền Chup quan trọng; (b) sẽ yểm
trợ nỗ lực nào chánh? Và (c) VNCH đủ khả năng để đánh hai mặt
trận cùng lúc không? Buổi họp ở Tòa Bạch Ốc ngày 23 đề nghị

ngày hành quân qua đồn điền Chup là 15 tháng 1-1971, và hành
quân qua Tchepone sau Tết 1971, ngày 7 hay 8 tháng 2-1971. [5]
Vài giả thuyết giải thích tại sao Tòa Bạch Ốc vẫn muốn đánh qua
mục tiêu Cam Bốt lần thứ hai: Cuộc hành quân Toàn Thắng 4246/Rockcrusher năm 1970 tịch thu được tất cả giấy tờ nhập cảng
cũng như hóa đơn giao hàng giữa quân đội Hoàng Gia Lào và đại
diện CSVN ở các căn cứ tiếp liệu. Với con số rõ ràng trên tay,
Phòng 2 MACV báo về BTMLQ và Tòa Bạch Ốc. Khi đối chiếu
số hàng hóa thực sự xâm nhập và số ước tính xâm nhập do CIA dự
tính, số ước tính của CIA quá thấp. Nói một cách khác, tin tình
báo của CIA sai hoàn toàn. Sau khi hai con số khác biệt được
thông báo, Tổng Thống Nixon tỏ ý thất vọng về khả năng của CIA
trong những tiên liệu. … Vài tháng sau đó CIA ra nhiều thông văn
giải thích và lại thẩm định ước lượng của họ về đường xâm nhập
Sihanoukville (Đường C-4) cho B-2 và B-3 … nhưng thẩm quyền
ở các cơ quan liên hệ trực tiếp đến chiến tranh Việt Nam không
còn coi trọng ước lượng của CIA nữa. [6] Tòa Bạch Ốc suy luận
bây giờ (năm 1971) có dịp trở lại Cam Bốt, thì đây là cơ hội sau
cùng để dọn sạch những căn cứ hậu cần ở Cam Bốt.
Lý do thứ hai, Tòa Bạch Ốc đồng ý với HĐANQG và Ủy Ban
Hành Động Đặc Biệt về lý do phải đánh trở lại Cam Bốt: Hoa Kỳ
muốn quân lực VNCH hành quân qua Chup để giải tỏa áp lực của
hai Sư Đoàn 7 và 9 CSVN đang đè xuống thủ đô Nam Vang: Chỉ
vài tháng sau khi VNCH và Mỹ rút ra khỏi Cam Bốt sau Hành
Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher, các đơn vị chủ lực của
CSVN trở lại và tái chiếm những căn cứ đã mất. Hoa Kỳ, sau khi
đã thúc đẩy Lon Nol đảo chánh, bây giờ không thể bỏ rơi Cam
Bốt. Nhưng Hoa Kỳ cũng không thể làm gì được, vì cuối năm
1970, Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn một bộ luật không cho phép
bộ quốc phòng xài tiền cho chiến trường Cam Bốt và Lào; hay có
quân tác chiến ở đó. Hoa Kỳ muốn thấy VNCH hành quân qua
Cam Bốt để phụ giúp chánh phủ mới của Lon Nol giải tỏa áp lực
của CSVN đè vào Nam Vang.Từ tháng 10-1970, bộ ngoại giao và
bộ quốc phòng Mỹ đã bàn về chuyện mướn lính Thái Lan cho

chiến trường Cam Bốt. Nhưng chánh phủ Thái chưa quyết định, và
bây giờ lính VNCH phải điền vào chổ trống. [7] Quyết định hành
quân trở lại Cam Bốt với cấp số sư đoàn sẽ có những ảnh hưởng
rất bất lợi — nếu không nói là nguy hiểm — cho Hành Quân
LS719 ở Hạ Lào. Nhưng đến lúc đúc kết kế hoạch hành quân, ban
soạn thảo hành quân Việt-Mỹ chưa thấy được liên quan giữa hai
mặt trận.
Ngày 9 tháng 1 Đô Đốc Moore và Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird
đến Sài Gòn để nói chuyện với MACV, Tổng Thống Thiệu, và một
số tướng lãnh VNCH. Cũng trong chuyến đi đó, Đô Đốc Moore
bay ra Huế gặp Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và Trung Tướng
James Sutherland để thăm dò ý kiến và coi kế hoạch hành quân đã
được chuẩn bị tới đâu. Ngày 17, hai sĩ quan phụ trách hành quân
của MACV bay về Hoa Thịnh Đốn để trình bày trực tiếp và cụ thể
cho BTMLQ về kế hoạch của Abrams. Ngày hôm sau, 18 tháng 1,
kế hoạch đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào được thuyết trình ở Tòa
Bạch Ốc dưới sự tham dự của Tổng Thống Nixon, Bộ Trưởng
Quốc Phòng Laird, Ngoại Trưởng Rogers, Đô Đốc Moorer, Giám
Đốc CIA Helms, và Kissinger. Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird là
thuyết trình viên. Và những gì được đề cập là những gì đã được
MACV soạn thảo: Đánh qua đồn điền Chup; đánh qua Tchepone;
và một cuộc hành quân ở thung lũng A Shau như là một kế hoạch
nghi binh. Tổng Thống Nixon hỏi nhiều câu hỏi; bản chất của
những câu hỏi là MACV có đủ yểm trợ cho VNCH không, và sự
khó khăn của cuộc hành quân lần này qua Cam Bốt. Nixon nhấn
mạnh một điểm quan trọng, đến tháng 11 năm 1972, Mỹ sẽ chỉ
còn 100.00 ngàn quân … và đây là cơ hội cuối cùng cho VNCH
để phản công. [8] Giám Đốc CIA Richard Helms tiên đoán đối
phương sẽ “tử thủ” ở lãnh địa của họ ; Ngoại Trưởng William
Rogers thì lo sợ Thủ Tướng Souvanna Phouma của Lào sẽ “cự lực
phản đối,” và sẽ yêu cầu quân VNCH rút khỏi Lào càng sớm càng
tốt. Ngoại Trưởng Rogers nói thêm, Souvanna hỏi tại sao không
tấn công vào vùng Ba Biên Giới, hay Saravane, mà lại là
Tchepone? Sau một tiếng rưởi bàn thảo, tất cả đồng ý sẽ đi đến

quyết định trong buổi họp kế tiếp.
Ngày 19, Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt trở lại Tòa Bạch Ốc với đề
tài của ngày 18. [9] Lần này thì các ủy viên nói lên sự lo lắng của
họ về kế hoạch của MACV — đúng hơn là kế hoạch của BTMLQ.
Nhiều câu hỏi có tính cách do dự và hoài nghi được nêu lên. Phó
Ngoại Trưởng U. Alexis Johnson lên tiếng, theo như ông biết vài
năm trước đây ông có đề nghị hành quân qua Lào. Nhưng kế
hoạch đó đòi hỏi đến sáu sư đoàn tham dự … lần này tại sao chỉ
có hai sư đoàn? [10] Tiếp theo Johnson là phó bộ trưởng quốc
phòng David Packard, với tiên đoán QĐND sẽ tiếp viện quân từ vĩ
tuyến 17 xuống, và sẽ chống trả mãnh liệt; và đặt câu hỏi về tình
trạng của Đường 9, còn lưu thông được hay không (Đô Đốc
Moorer trả lời là được). Buổi họp đưa ra vài chi tiết được tất cả
đồng ý: Hành quân qua Chup và Tchepone sẽ khai diễn gần nhau
— Ngày 15 tháng 1 cho Cam Bốt; ngày 7, hay 8 tháng 2 cho Hạ
Lào. Tuy đồng ý nguyên tắc và lý do của kế hoạch hành quân,
nhưng nhiều bất đồng ngấm ngầm giữa các thẩm quyền vẫn chưa
được thống nhất, trong khi ngày khai diễn hành quân đã cận kề.
Từ ngày 19 đến đến ngày 28 tháng 1 có thêm năm lần họp ở Tòa
Bạch Ốc. Trong hai lần họp sau cùng ngày 26 và 28, các thẩm
quyền tranh luận thêm một “vấn nạn” mới: Theo tinh thần của bộ
luật Cooper-Church, Hoa Kỳ không thể cung cấp trực thăng
chuyên chở cho VNCH vào đất Lào hay Cam Bốt … như vậy
MACV phải thay đổi kế hoạch hành quân một cách nào đó mà
Hoa Kỳ không phải yểm trợ trực thăng. Một đôi khi những trao
đổi giữa Tổng Thống Nixon và tham mưu trưởng BTMLQ Moorer
nghe như giống như một hài kịch không hay. Nixon hỏi Moorer có
cách nào VNCH đánh vào Tchepone mà không cần trực thăng yểm
trợ từ Hoa Kỳ; trực thăng đổ quân ở Lào có nguy hiểm không (Đô
Đốc Moorer trả lời là không nguy hiểm lắm!). …Rồi ông tổng
thống yêu cầu Đô Đốc Moorer hỏi lại tướng Abrams lại cho chắc
chắn là yểm trợ không vận của Hoa Kỳ là thiết yếu cho LS719.
[11] Từ Sài Gòn Abrams trả lời một cách nóng nảy và bực tức:
Không có trực thăng thì không có LS719; và nếu không đánh vào

Tchepone thì không còn mục tiêu nào xứng đáng để hành quân.
Abrams nói thêm ông sẽ hủy bỏ cuộc hành quân vào ngày 28 nếu
Hoa Thịnh Đốn chưa có quyết định. [12]
Sau cùng, ngày 28 tháng 1 Tổng Thống Nixon quyết định cho
phép kế hoạch Cam Bốt được thực hiện đúng lịch trình; kế hoạch
LS719 được thực hiện Giai Đọan 1 và sau đó sẽ có quyết định mới
cho giai đọan kế tiếp. Nhưng hành quân qua Cam Bốt phải nằm
trong kế hoạch.
Cước Chú:
[1] H. R. Haldeman, The Haldeman Diaries, tr. 224.
[2] FRUS, Vietnam, January 1970 – July 1972, Document 89; 90.
Haig đến Nam Vang và Sài Gòn từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 121970. Chiều ngày 17 ở Sài Gòn, Haig và Đại Sứ Bunker nói
chuyện riêng với Tổng Thống Thiệu hơn một tiếng đồng hồ về hai
kế hoạch hành quân qua Lào và Cam Bốt.
[3] Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Vitories and
Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, tr. 230.
[4] Alexander M. Haig mang chức đại tá khi mới về làm phụ tá
quân sự cho Kissinger trong HĐANQG vào tháng 6-1969. Đến
đầu năm 1973 Haig đã được thăng chứ đại tướng. Chức vụ sau
cùng trong quân đội của Haig là đại tướng tổng tư lệnh tư lệnh
quân đội đồng minh NATO.
[5] FRUS, sđd, Document 96.
[6] Sự thất bại về ước lượng của CIA đối với hàng xâm nhập qua
đuờng Sihanoukville được giải thích trong một tài liệu của CIA,
Thomas Ahern, Jr., Good Question, Wrong Answer: CIA’s
Estimates Arms Traffic Throught Sihanoukville, Cambodia,
During the Vietnam War. Trong hai năm rưởi (12-1966 đến 61969) CIA ước tính Đường Sihanoukville vận chuyển tổng cộng
từ 6.500 tấn đến 11.500 tấn. Con số thật sự là 22.000 tấn. Theo tác
giả Trường Sơn trong Cuộc Hành Trình Năm Ngàn Ngày Đêm,
mỗi năm đường xâm nhập C-4 (Sihanoukville) cung cấp 10.000
tấn gạo và 5.000 tấn quân nhu quân dụng khác. Đọc Trường Sơn,

sđd, tr. 145. Trong thông văn gởi Nixon ngày 21 tháng 1-1971,
Kissinger đề nghị Giám Đốc CIA Helms nên “thay đổi” (giải
nhiệm) một số nhân sự liên quan đến sự thất bại tình báo ở
Sihanoukville. FRUS, sđd, Docemnet 107.
[7] FRUS, sđd, Document 103. Bộ luật Cooper-Church, phê
chuẩn tháng 6-1970, cấm quân đội xài tiền cho Cam Bốt; và cấm
quân tác chiến Mỹ có mặt ở Cam Bốt và Lào (Public Law 91-626.
Section 7).
[8] Trên thực tế, vào tháng 5-1972, Hoa Kỳ chỉ còn 69.00 ngàn
quân ở Việt Nam; và 24.000 vào cuối năm. Khi CSVN tấn công
vào tháng 4, MACV chỉ có hơn 400 trăm lính được liệt vào lọai
tác chiến, trong tổng số quân hơn 100.000. Nguyên năm 1972, Mỹ
chỉ có 300 tử thương. Đọc Peter Braestrup, chủ biên, Vietnam as
History, phần phụ lục.
[9] Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt (Washington Special Actions
Group) là một ủy ban gồm những thẩm quyền hàng thứ nhì của
các bộ và cơ quan, như là phó bộ trưởng, phó giám đốc CIA, hay
là người được ủy quyền để quyết định thay cho thẩm quyền của cơ
quan. Đây là một lối tổ chức để tránh đụng chạm giữa các bộ
trưởng: Trước mặt tổng thống họ không muốn đôi co hay có ý
kiến ngược lại nhau. … Nhưng sau đó họ ủy quyền cho phụ tá
quyết định thay họ. Buổi họp ngày 18 có bộ trưởng ngoại giao,
quốc phòng và giám đốc CIA; ngày 19 thì chỉ có những ông phó,
nhưng đó là những người quyết định. Buổi họp ngày 19-1-1971
nằm trong FRUS, sđd, Document 105.
[10] Phó Ngoại Trưởng U. Alexis Johnson nói chính ông đã đề
nghị đánh qua Lào từ năm 1965. Nhưng đề nghị bị phủ quyết vì
theo ước tính lúc đó, cuộc hành quân cần ít nhất là sáu sư đoàn.
Johnson đến Sài Gòn với Đại Sứ Henry Cabot Lodge vào năm
1963.
[11] FRUS, sđd, Document 109. Điện văn từ BTMLQ gởi
CINCPAC và MACV ngày 26 tháng 1, bắt đầu, “mặc dù chúng ta
đã “cày” tới lui vấn đề này nhiều lần, nhưng tôi bị hỏi lại là quân
đội VNCH có thể thực hiện cuộc hành quân mà không cần trực
thăng không vận của Hoa Kỳ.”

[12] The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 5, cước
chú 11.
LS719 Nhìn Từ MACV
Ở Sài Gòn, LS719 được chánh thức nhắc đến trong buổi họp cập
nhật tình báo hàng tuần ngày 28 tháng 11-1970. Đại Tướng
Frederick Weyand, thay tướng Abrams chủ toạ buổi họp, nói
tướng Abrams đang thảo luận chi tiết với Đại Tướng Cao Văn
Viên. Hai ngày sau, 1 tháng 12-1970, cũng trong buổi họp tương
tự dưới sự có mặt của Abrams, Thiếu Tướng William Potts, chỉ
huy trưởng Phòng 2 MACV mở đầu: “Đễ chuẩn bị cho buổi họp
của đại tướng và Đại Tướng Viên trưa nay, chúng ta sẽ bắt đầu về
lưu lượng xe vận tải xâm nhập …” [1] Như vậy, có thể nói BTTM
VNCH đã được MACV dọ hỏi ý kiến về kế hoạch LS719 sớm
nhất là từ ngày 28 tháng 11. Theo Thiếu Tướng Nguyễn Duy
Hinh, đầu tháng 1-1971 tướng Abrams gọi tướng Viên, đề nghị
cách chánh thức về kế hoạch LS719. Vài ngày sau tướng Abrams
gặp tướng Viên với bản đồ và trình bày kế họach của MACV. [2]
Kế hoạch của MACV cho mùa khô 1971. (1) hành quân qua Cam
Bốt: Một lực lượng từ 20.000 đến 22.000 quân sẽ tấn công Cam
Bốt bằng ba hướng. Một hướng đi theo Đường 7 đánh qua Chup
và về Kampong Cham; hướng thứ hai đánh về Snoul và Kratie; và
cánh quân thứ ba theo quốc lộ 1 đánh về hướng tây bắc. Sau khi
thanh toán được mục tiêu, hai cánh quân hướng Kampong Cham
và Kratie sẽ đi vòng lại để bắt tay với cánh quân trên quốc lộ 1.
Cùng lúc, dọc theo biên giới, quân cơ hữu của Quân Đoàn IV sẽ
đánh vào sào huyệt của B-2 ở Núi Thất Sơn, Núi Ba Thê. Hai lực
lượng tổng trừ bị TQLC và Nhảy Dù sẽ có mặt trong những cánh
quân đánh qua Cam Bốt. Nhưng đó chỉ là kế nghi binh, vì hai lực
lượng tổng trừ bị sẽ được di chuyển ra Quân Đoàn I, khi Giai
Đoạn II của hành quân LS719 bắt đầu. Cuộc Hành quân qua Cam
Bốt được đặt tên là Toàn Thắng 1/71. (2) Hành Quân qua Hạ Lào:

hành quân có bốn giai đọan. Giai Đoạn I: Một lực lượng cơ giới
của Hoa Kỳ sẽ dọn Đường 9 từ Đông Hà đến phi trường Khe
Sanh. Phi trường Khe Sanh sẽ được tái thiết và đây sẽ là địa điểm
tiếp liệu và bộ tư lệnh tiền phương của cuộc hành quân. Giai Đoạn
II: Trong khi quân bộ binh và thiết kỵ tấn công theo Đường 9 về
hướng Tchepone (căn cứ tiếp liệu 604), một lực lượng Nhảy Dù sẽ
đổ bộ chiếm Tchepone và giữ phi trường Tchepone. Giai Đọan III:
Một khi Tchepone và Đường 9 được bảo đảm an toàn, các toán
quân sẽ bung ra lục soát, phá hủy những kho hàng của Binh Trạm
33 trong vùng. Giai Đọan IV: Giai đoạn này tùy thuộc vào điều
kiện phát triển của Giai Đoạn III. Nếu điều kiện xảy ra như tiên
liệu, quân từ Tchepone sẽ đánh vòng lại hướng tây nam, nhắm vào
căn cứ tiếp liệu 611 (thung lũng A Shau) đề bắt tay với một lực
lượng từ biên giới đánh ra. [3] Hành quân Toàn Thắng 1/71
(TT1/71) sẽ bắt đầu 15 tháng 1; Giai Đoạn I của LS719 bắt đầu 30
tháng 1; Giai Đoạn II, ngày 7 hay 8 tháng 2. Hoa Kỳ sẽ yểm trợ
không vận, không quân chiến thuật, chiến lược, và pháo binh. Đó
là kế hoạch từ MACV đề nghị cho VNCH và BTMLQ Hoa Kỳ, và
Tòa Bạch Ốc — cho đến ngày 19 tháng 1-1971.
Ở đây chúng ta thấy sự vô lý và mâu thuẩn của một kế hoạch về
phương diện tâm lý và đột xuất (bất ngờ). Về tâm lý, một kế hoạch
hành quân cấp quân đoàn, khởi động ở hai mặt trận cùng lúc …
nhưng phải chần chờ, thay đổi, thêm vào, bớt ra chỉ vì khó khăn
về chính trị và tài chánh. Nhưng cũng vì lợi thế chính trị và tài
chánh nên mới có kế hoạch này. Như đề cập ở đọan trên, chánh
phủ Nixon thấy trong tài khóa sắp đến ngân sách không còn cho
phép đánh mạnh và giữ lại nhiều quân ở chiến trường Việt Nam.
Năm 1971 là năm cuối cùng MACV còn quân và còn tiền đủ để
hành quân lớn. Ngoài khó khăn tài chánh đó, quốc hội đã và sẽ
tiếp tục ra nhiều bộ luật để khóa tay phía hành pháp về những hoạt
động quân sự ở Đông Dương (bộ luật Church-Cooper là một thí
dụ). Nói một cách khác, phải hành quân lớn vì sẽ hết tiền và hết
phép để đánh. Về tính chất bất ngờ của cuộc hành quân: động binh
hai quân đoàn cho hai, ba mặt trận cùng lúc thì khó giữ kín bí mật;

ở đây bí mật còn khó giữ kín hơn khi cấp trên không cho câu trả
lời xác định để chuẩn bị động binh kịp thời. Từ ngày 13 tháng 1,
BTTM và MACV đã cho sọan thảo kế hoạch hành quân cho các
quân binh chủng, và báo động các đơn vị có trách nhiệm chuẩn bị.
Chỉ còn 11 ngày nữa là ngày hành quân (ngày 30 tháng 1, theo kế
họach), nhưng đến ngày 19 cấp trên vẩn chưa giải quyết được khó
khăn của họ. [4]
Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa nhận kế hoạch của Hoa
Kỳ không phải không có ý kiến trái lại. Tổng Thống Thiệu và Đại
Tướng Viên có nói cho Đại Tướng Abrams ý kiến của họ.
Ngày 17 tháng 12, khi được tướng Haig trình bày kế hoạch hành
quân Cam Bốt và Lào, Tổng Thống Thiệu nói lên ý kiến của ông.
Những gì ông Thiệu trình bày không sai sự thật về phương diện
quân sự và chính trị. Tổng Thống Thiệu nói ông hoàn toàn đồng ý
với kế hoạch đánh qua Lào, nhưng hành quân qua Cam Bốt thì
khó khăn. Ông Thiệu nói Cam Bốt chưa có một quân đội, chưa có
một kế hoạch, và chưa có dịp “đụng” mạnh với QĐND. Và
VNCH không thể giúp họ mỗi lần họ cần tiếp cứu. Trong những
cuộc hành quân ở Cam Bốt gần đây (hành quân sau tháng 5-1970
và trước TT1/71) VNCH không nhận được yểm trợ nào từ MACV.
Ông Thiệu nói năm nay là năm bầu cử tổng thống VNCH, và
QĐND/QGP sẽ dùng mọi nỗ lực đánh mạnh để gây tiếng xấu cho
chánh phủ sắp tới (mà ông Thiệu là một ứng cử viên). Làm sao
VNCH có thể đem một số quân lớn hành quân qua Cam Bốt trong
khi quân đội Mỹ rút đi một cách nhanh chóng. Hiện thời Mỹ chỉ
còn một lữ đoàn và một tiểu đoàn Không Kỵ cho nguyên Quân
Đoàn III, và chỉ với nhiệm vụ bảo vệ doanh trại. Ông Thiệu đề
nghị, nếu Hoa Kỳ muốn VNCH hành quân qua Hạ Lào và Cam
Bốt, một số điều kiện phải được thoả mãn: Giới hạn số quân rút đi
trong thời gian tháng 5 đến tháng 7-1971; sau đó ngừng rút quân
cho đến sau bầu cử (bầu cử tổng thống VNCH, 3-10-1971); Cùng
lúc với chương trình rút quân, hoa Kỳ phải đưa ra một kế hoạch
kinh tế dài hạn để người dân miền nam không có cảm tưởng Hoa
Kỳ đang bỏ rơi họ. [5]

Ý kiến của tướng Viên về LS719. Đánh qua Tchepone là kế hoạch
tướng Viên đề nghị từ lâu. Nhưng ông không muốn thấy đó như
một hành quân dài hạn. Tướng Viên đề nghị một cuộc đột kích
bằng Nhảy Dù thẳng vào Tchepone; rồi từ Tchepone đáng ngược
ra Đường 9 để bắt tay với quân bộ binh đánh từ biên giới qua.
Nhưng kế hoạch của tướng Viên không được chấp thuận vì không
có yểm trợ từ MACV. Tướng Abrams nghe và nể trọng ý kiến
tướng Viên. Nhưng với giới hạn thẩm quyền của ông, ông không
thể làm gì hơn. Rất nhiều lần tướng Abrams thổ lộ với các tướng
lãnh là ông có lỗi, và thấy ân hận vì đã thất hứa với tướng Viên.
[6]
Sau chuyến viếng thăm của tướng Haig, BTTM và MACV lập tức
phân công và giao trách nhiệm cho các sĩ quan Phòng 3. Chuẩn
Tướng Trần Đình Thọ và Thiếu Tướng Donald H. Cowles đại diện
liên lạc cho mỗi bên. Giữa tháng 1 tướng Thọ và tướng Cowles
bay ra Quân Đoàn I để thuyết trình cho tư lệnh Quân Đoàn XXIV
và Quân Đoàn I, Trung Tướng James Sutherland và Trung Tướng
Hoàng Xuân Lãm. Vài hôm sau, một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh
Việt-Mỹ được thông báo chuẩn bị kế hoạch LS719. Phải nhấn
mạnh một chi tiết quan trọng: vì tính cách tối mật của cuộc hành
quân, chỉ một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh thiết yếu mới nhận
được thông báo lệnh chuẩn bị hành quân. Các đơn vị còn lại thì
phải chờ đến ngày 30 tháng 1 mới được thông báo qua lệnh hành
quân của Quân Đoàn I.
LS719 Nhìn Từ Hà Nội
Hà Nội đã biết gì về kế hoạch LS719? Sau cuộc hành quân hơn 40
năm, chúng ta vẫn không có tài liệu nào chứng minh Hà Nội biết,
hay có tin tức trước về LS719. Vài quyển sách gần đây viết về các
điệp viên QĐND/QGP đã biết trước cuộc hành quân qua Hạ Lào.
Tuy nhiên với tất cả những gì đã được viết và nói, chúng ta có thể
khẳn định Hà Nội không biết chắc chắn về kế hoạch HQLS719căn cứ vào những tài liệu đến từ QĐND/QGP. [7]

Một điều chúng ta có thể xác định chắc chắn là QĐND/QGP đã
tiên đoán đúng kế hoạch quân sự của VNCH và Hoa Kỳ. Căn cứ
vào một chuỗi sự kiện về quân sự và chính trị xảy ra từ đầu năm
1970 cho đến cuối năm đó, QĐND/QGP tiên liệu được kế hoạch
lớn, nếu không nói là táo bạo của Mỹ và VNCH. Trong một lần
nói chuyện với ký giả tây phương ở Hà Nội cuối năm 1970, cựu
Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói Tổng Thống Nixon có
khuynh hướng làm những việc táo bạo … nên chánh phủ
QĐND/QGP phải dự liệu những viễn tượng bất ngờ và táo bạo
nhất của Mỹ. Khi nói “táo bạo,” Ngoại Trưởng Thạch muốn nói
đến chuyện LLĐB Mỹ đột kích vào Binh Trạm 37 ở Bản Bạc; và
vụ đột kích cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây. Hà Nội suy luận, nếu Mỹ
dám nhảy ra Sơn Tây, thì Mỹ có thể tấn công ở bất cứ chiến
trường nào. [8] Với suy luận như vậy, QĐND/QGP tiên đoán
Tchepone ở Hạ Lào; hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tỉnh; và Cam Bốt
có thể sẽ là mục tiêu mới của Hoa Kỳ và VNCH. Suy luận của các
chiến lược gia QĐND/QGP không sai. Theo Thượng Tướng
Nguyễn Hữu An, tư lệnh Sư Đoàn 308, từ tháng 7-1970 ông đã
được lệnh đi quan sát địa hình vùng Lao Bảo, Bản Đông và
Tchepone. Tướng An cho biết Quân Ủy Trung Ương tiên liệu Bản
Đông và Tchepone có thể là mục tiêu tấn công của VNCH trong
tương lai gần. [9] Cũng vào thời gian trên, một mặt trận được
thành lập, có tên là Mặt Trận 702, với binh đoàn B70 là bộ tư lệnh
điều khiển ba Sư Đoàn 304, 308, 320. Sau Mặt Trận 702,
BinhĐoànTrườngSơn ( BĐTS) thiếp lập thêm một binh trạm mới
có tên là Binh Trạm 27, đóng ở phía tây nam Quảng Bình, nằm
giữa các Binh Trạm quan trọng như 9 và 14. Binh Trạm 27 có vai
trò phối hợp các binh trạm của BĐTS và Tổng Cục Hậu Cần.
Các chiến lược gia Hà Nội không có được tin trước về LS719,
nhưng họ ước lượng suy tính của Hoa Kỳ đúng. Vì nếu Hà Nội đã
có tin về LS719 trước ngày 30 tháng 1, thì họ đã không động binh
quá chậm như đã xảy ra: Ngày 30 tháng 1-1971 các trung đoàn
tiếp viện của QĐND/QGP mới lần lược di chuyển vào chiến
trường. Sư Đoàn 324 đến ngày 15 tháng 2 mới có mặt ở tây nam

Lao Bảo để tác chiến. Theo tác giả Nguyễn Hữu An, trong cuộc
chuyện lần cuối với tướng Võ Nguyễn Giáp, ông Giáp chỉ suy
luận Mỹ có thể tấn công Hạ Lào hay Quảng Bình. Rồi sau đó, ông
và tướng Vương Thừa Vũ, cùng một số sĩ quan đi dọc bờ biển từ
Nghệ An xuống Quảng Bình quan sát địa hình. Vì từ những chưa
xác định rõ mục tiêu của Quân Ủy Trung Ương, Sư Đoàn 308 đến
ngày 2 tháng 2 mới lên đường hành quân. [10] Đến tuần lễ đầu
tháng 12 cơ cấu hậu cần phục vụ cho BTL B70 mới được hoàn
chỉnh và thông báo. Một chi tiết khác cho thấy Quân Ủy Trung
Ương không chắc chắn mục tiêu nào sẽ bị tấn công, khi đầu tháng
12 BTL B70 chỉ thị hậu cần của họ phải chuẩn bị ứng chiến cho
mặt trận phía nam Quân Khu 4 (Hà Tỉnh xuống Quảng Bình),
song song với chuẩn bị cho mặt trận Đường 9. [11]
Cước Chú:
[1] Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 507; A Better War, tr. .
Nội dung buổi họp ngày 28 tháng 11 chưa được giải mật, tác giả
trích theo Lewis Sorley. Nội dung buổi họp 1 tháng 12 nằm trong
The Abrams Tapes.
[2] Nguyễn Duy Hinh, Operation Lam Son 719, tr. 33.
[3] FRUS, sđd, Document 105; Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 33.
[4] Ngày 28 Bộ Ngọai Giao yêu cầu Đại Sứ Bunker nói với Tổng
Thống Thiệu là họ có thể hồi lại Giai Đoạn II của Kế Hoạch A
Shau (A Shau là ngụy danh của Tchepone trong thông văn và
truyền tin). Nhưng, họ yêu cầu VNCH sẳn sàng di chuyển quân
(Nhảy Dù và TQLC) bắt đấu từ đêm 30-31. FRUS, sđd, Document
113, chú thích 2.
[5] FRUS, sđd, Document 91.
[6] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 33. Thiếu Tướng Hinh viết, tướng
Viên chấp kế hoạch của MACV vì cần yểm trợ của Hoa Kỳ, và
không đề cập cho tướng Abrams nghe về ý kiến riêng của ông.
Trước đó tướng Viên đã ra lệnh cho Phòng 3 BTTM tìm những bãi
đổ bộ dù ở Tchepone. “Tôi vẫn thường nói, ngày vui nhất của tôi
là ngày Đại Tướng Cao Văn Viên gọi tôi và xài xể tôi. Ngày đó là
ngày tôi vui nhất. Nhưng tướng Viên sẽ không làm chuyện đó; ông

ta quá lịch sự. Nhưng tôi muốn ông ta làm như vậy.” Sorley, The
Abrams Tapes, tr. 302-316.
[7] Tác giả Larry Berman trong Perfect Spy: The Incredible
Double Life of Pham Xuan An, tr. 184-185, viết về chuyện ông
Ẩn biết được kế hoạch LS719 từ sĩ quan cao cấp Nhảy Dù và
LLĐB. Và đó là tất cả những gì ông Ẩn nói. Ông không nói đã
biết được gì một cách cụ thể và chi tiết hơn.
[8] “Đoán đúng tính cách liều lĩnh và hiếu chiến của Nixon,” đọc
trong Merle L. Pribbenow, Victory in Vietnam: The Official
History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975, tr. 272. Đây
là bản dịch Anh ngữ Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Tập
II: Thời Kỳ Trưởng Thành của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
trong cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975),
Seymour Hersch, The Price of Power, tr. 306.
[9] Thượng Tướng Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr. 104106.
[10] Nguyễn Hữu An, sđd, tr. 106-109.
[11] Tổng Cục Hậu Cần, Công Tác Hậu Cần Chiến Dịch Đường 9
Nam Lào, tr. 75, 79, 137, 138, 139, 216. Lý do phải chuẩn bị cho
Hà Tỉnh-Quảng Bình vì BTL MACV có dàn cảnh nghi binh như
sắp đổ bộ lên hướng đó. Báo cáo của Cục hậu Cần B70 viết: “B70
đang chuẩn bị kế hoạch tiến công vào một chiến trường khác (nếu
địch không ra) thì địch tập kết quân ở Đông Hà, chuẩn bị đánh ra
Đường 9.” Ở đoạn kế tiếp, báo cáo viết đến đêm 2 tháng 2, thì
Đảng Ủy của B70 mới xác định được kế hoạch tác chiến cụ thể.
Sđd, tr. 139.
CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.
[Tiếp theo #26]
Ngày 30 tháng 1, cơ quan tình báo điện tử của MACV và NSA
bắt được truyền tin từ các Binh Trạm 9, 27, 33, 34, cho biết họ
nhận được lệnh ứng chiến trong trường hợp bị tấn công từ Hướng
A Shau hay Đường 9. Truyền tin đồng thời cho biết vị trí của các
đơn vị chủ lực quân đội QĐND/QGP: Sư Đoàn 304, 308, 312 và

325 vẫn còn tại chổ; đã có mặt tại Lào là là bộ chỉ huy của hai
Trung Đoàn 165 và 209; Sư Đoàn 316; Sư Đoàn 320 vẫn còn ở
bắc Quảng Bình; bộ chỉ huy của Trung Đoàn 64 đang nam-đôngnam Bản Karai, trên đường vào nam. [1]
Hà Nội đã theo dõi những biến chuyển ngoại giao trong năm
1970, và không khó khăn khi tiên đoán kế hoạch đánh qua Cam
Bốt và Hạ Lào của VNCH và Hoa Kỳ. Tháng 10-1970 Thủ Tướng
Souvanna Phouma đến Tòa Bạch Ốc diện kiến Nixon; tháng 12,
tướng Haig đi Nam Vang, rồi Sài Gòn. Lần trước, tháng 3-1970,
Haig rời Nam Vang thì vài tháng sau quân lực Việt-Mỹ tấn công
qua Cam Bốt. Thủ Tướng Phouma qua thăm viếng Hoa Thịnh Đốn
vào tháng 10 là một dấu hiệu rõ ràng nhất. Chup, Kratie, Bản
Đông và Tchepone sẽ là những mục tiêu sắp tới. Ngày 2 tháng 2
MACV cho biết bắt được những điện tín khác nhau từ Quảng
Bình cho biết, “Quân đội đồng minh, gồm một sư đoàn Nhảy Dù;
lữ đoàn TQLC và đơn vị Thiết Kỵ.” Trong khi một điện tín khác
kêu gọi đơn vị chuẩn bị tác chiến chống quân đồng minh khi họ
“đổ bộ lên bờ biển.” MACV suy luận địch chưa xác định được
VNCH và Hoa Kỳ sẽ thật sự hành quân ở đâu. [2] Có thể
QĐND/QGP không chắc chắn mục tiêu nào sẽ bị tấn công, nhưng
họ đã chuẩn bị cho tất cả các điểm nghi ngờ. Cơ quan nghe lén
và truyền tin điện tử NSA cho biết QĐND/QGP đã chuẩn bị
cho vùng Tchepone, Bản Đông, A Shau từ đầu tháng 10. Tháng
11 và 12, tiếp liệu chuyên chở vào các binh trạm gia tăng nhiều
hơn. MACV đồng ý với NSA về sự gia tăng hậu cần của các binh
trạm: máy báo động lưu lượng xe trên đHCM chuyên chở tăng lên
2860 lần vào tháng 12, so với trung bình 865 lần trong những
trong tháng trước. [3]
Ngày 15 tháng 1-1971 Hành Quân Toàn Thắng 1/71 khai diễn, với
một lực lượng 12.000 quân đánh qua Cam Bốt theo hướng quốc lộ
1. Ngày 30, cánh quân thiết kỵ và bộ binh của Quân Đoàn III đánh
theo Đường 7 về hướng đồn điền Chup và Kompong Som. Một
vài đơn vị Nhảy Dù và TQLC có mặt ở vùng hành quân TT1/71,
nhưng đó chỉ là kế nghi binh. Ở Quân Đoàn IV, các đơn vị cơ hữu
của quân đoàn đánh vào Núi Thất Sơn, Núi Ba Thê, U Minh, và

dọc theo hành lang Tây Ninh-biên giới Cam Bốt. [4]
Ở Quân Đoàn I, Giai Đoạn I của LS719 có hiệu lực từ rạng sáng
30 tháng 1. Cùng ngày, Giám Đốc CIA Richard Helms gởi cho
Henry Kissinger một ước lượng trận liệt của QĐND/QGP trong
vùng hành quân. [5] Ngày hôm sau 31, BTL Quân Đoàn I và Quân
Đoàn XXIV ra quân lệnh cho LS719. [6] Hai ngày sau, 3 tháng 2,
Sư Đoàn Nhảy Dù ra quân lệnh hành quân. Ngày 4 tháng 2, Tổng
Thống Nixon cho phép tiếp tục Giai Đọan II LS719. Hành Quân
Lam Sơn 719 (HQ/LS719) đang thành hình.
Giai Đoạn I/ Dewey Canyon II
Giai đọan chuẩn bị cho LS719 được gọi Giai Đoạn I, và được đặt
tên Hành Quân Dewey Canyon II. Giai Đoạn I bắt đầu rạng sáng
ngày 30 tháng 1, khi Lữ Đoàn 5 Cơ Giới Hoa Kỳ dọn và sửa
Đường 9 từ Đông Hà về Lao Bảo. Lực lượng này có trách nhiệm
bảo đảm an ninh lưu thông trên Đường 9, và bảo đảm an ninh cho
phi trường Khe Sanh sau khi được trùng tu. Khe Sanh sẽ là bản
doanh của nhiều bộ chi huy tiền phương của nhiều đơn vị, và là
trung tâm nhận, giao đồ tiếp liệu cho mặt trận. Tên Dewey Canyon
II được Đô Đốc Moorer của BTMLQ chọn từ giữa tháng 1 trong
một buổi thuyết trình ở Tòa Bạch Ốc. Lý do chọn tên Dewey
Canyon là để đánh lừa đối phương! Ông giải thích, một năm
trước, cuộc hành quân đánh qua căn cứ hậu cần 911 ở A Shau có
tên là Dewey Canyon. Bây giờ lấy tên Dewey Canyon II, đối
phương có thể suy đoán đây là cuộc hành quân đánh trở lại vùng
thung lũng A Shau. [7] Tương tự, những mục tiêu chánh của cuộc
hành quân đều được ngụy danh để đánh lạc hướng địch: A Shau là
Tchepone; A Luoi là Bản Đông; Cửa Việt và Cửa Tùng là ngụy
danh cho hai căn cứ hậu cần 604 và 609, ở phía tây nam Co Roc,
một đỉnh núi đá vôi cao ở sát biên giới, nhìn xuống Đường 9.
Ngụy danh “Cửa Việt, Cửa Tùng” nằm trong kế nghi binh, như
muốn đổ bộ ra Quảng Bình, Vĩnh Linh.

Giai Đoạn I hoàn toàn do Quân Đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ
phụ trách. Quân Đoàn XXIV đến Việt Nam từ tháng 9, 1968, có
bản doanh ở Phú Bài. Sau khi BTL Quân Đoàn III TQLC rời Việt
Nam, Quân Đoàn XXIV thay TQLC trở thành BTL Cố Vấn cho
Quân Đoàn I, và phụ trách chiến trường ở năm tỉnh của Vùng I.
Quân đoàn có dưới tay Sư Đoàn 23 Bộ Binh; Sư Đoàn Nhảy Dù
101; Lữ Đoàn Khinh Binh 196; Lữ Đoàn 5 Cơ Giới; 10 tiểu đoàn
pháo binh; và khoảng 600 trực thăng (450 của Liên Đoàn Không
Vận 101/Sư Đoàn 101 Nhảy Dù; số còn lại là cơ hữu của quân
đoàn). Tư Lệnh Quân Đoàn Trung Tướng James W. Sutherland,
một sĩ quan binh chủng Thiếp Giáp, đã từng phục vụ dưới quyền
Đại Tướng Abrams vào cuối thập niên 50 ở Tây Đức.
Giai Đoạn I/ Dewey Canyon II kết thúc ngày 6 tháng 2. Quốc lộ
9 từ Đông Hà về Lao Bảo được an ninh tương đối. Phi trường Khe
Sanh đang được tái thiết (bỏ hoang từ năm 1968), nhưng chỉ nhận
được phi cơ có trọng tải nhẹ, chưa nhận được phi cơ vận tải nặng
như C-130 trở lên. (đến ngày 15 tháng 2 C-130 mới đáp phi vụ
đầu tiên). Từ ngày 4 đến ngày 6 các lực lượng cơ hữu hay thống
thuộc Quân Đoàn I trong HQ/LS719 lần lược đổ quân xuống Khe
Sanh.
Ở Tòa Nhà Trắng trong tuần lễ 30 tháng 1 đến 6 tháng 2, Đô Đốc
Moorer, Kissinger và các ủy viên của HĐANQG liên tục họp và
cập nhật tình trạng của Hành Quân Dewey Canyon II: Giai Đọan I
kết thúc với bốn quân nhân Mỹ tử thương, ba trực thăng bị bắn
rơi, với phi hành đoàn của một trong ba bị mất tích.
Ngày 6 tháng 2, MACV báo cáo nhiều tin tức không có lợi cho
tình hình tổng quát ở mặt trận LS719: Mưa lâm râm liên tục ở phía
đông Trường Sơn; vận tải của BĐTS gia tăng hoạt động tiếp liệu;
518 xe vận tải của BĐTS vượt khỏi những trọng điểm oanh tạc
của không lực Hoa Kỳ. Tám mươi ba, trong số 518 chuyến xe
hàng này xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Tin tức bi quan nhất, là
không lực Mỹ không chận được đường tiếp liệu của QĐND/QGP
qua Hạ Lào. “Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm. …

Chúng tôi gắn máy báo động; dội bom, gài bom CBUs … tất cả
những gì làm được ... Nhưng địch vẫn đi được qua lối đó,” một sĩ
quan đại diện Không Lực 7 nói với Đại Tướng Abrams. [8] BĐTS
đang có 9.000 xe đang hoạt động, người sĩ quan Không Quân cho
biết thêm.
Cước Chú:
[1] Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 527.
[2] Sorley, như trên, tr. 530.
[3] NSA nghe truyền tin của các binh trạm từ tháng 10-1970, cho
đến đầu tháng 2-1971. National Security Agency in Vietnam, tr.
576.
[4] Cuộc hành quân từ Quân Đoàn 4 của tướng Ngô Quang
Trưởng đánh theo quốc lộ 1 lên hướng bắc có tên là Cửu Long 4402, khai diễn ngày 16 tháng 1-1971. Toàn Thắng 1/71 và Cửu
Long 44-02 khai diễn gần như cùng lúc với Lam Sơn 719. Đọc,
Đại Tướng Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, tr. 197.
[5] Lý do nhiều nguồn tin nói Kissinger là người chủ trương
LS719, vì ông ta yêu cầu CIA cập nhật tin tức từ ngày 30 tháng 1
đến ngày 7 tháng 2.
[6] Lệnh hành quân của QĐ XXIV lưu hành ngày 23 tháng 1.
Điều này hợp lý với chi tiết của Đại Úy Trương Duy Hy viết trong
Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30: Ngày 25 tháng 1, ông được gọi về bộ
chỉ huy tiểu đoàn pháo binh để được thông báo về HQ/LS719.
Đọc Trương Duy Hy, sđd, tr. 5. Sách của tướng Nguyễn Duy Hinh
viết, ngày 21 tháng 1, tướng Lãm và tướng Sutherland bay về Sài
Gòn thuyết trình kế hoạch hành quân LS719 ở BTL MACV, rồi
sau đó thuyết trình riêng cho Tổng Thống Thiệu chiều đó. Đọc
Nguyễn Duy Hinh, Operation Lam Sơn 719, tr. 35.
[7] FRUS, sđd, Document 104, tr. 283. Trước Giai Đoạn I của
LS719, thông văn của các thẩm quyền Mỹ dùng “Operation A
Shau” để chỉ Tchepone/ LS719. Đến ngày 4 tháng 2, “Operation
Lam Son 719” mới chánh thức xuất hiện trên thông văn Mỹ.
[8] Lewis Sorly, The Abrams Tapes, tr. 531. Mỗi xe hàng có trọng

tải trung bình là bốn tấn

Thảo Luận trên VNM
@fanlong74: tôi cũng có đọc các tài liệu và sách báo mô tả:
... về ông Phạm Xuân Ẩn có nhắc tới việc điều quân chờ sẵn ở khu
vực Nam Lào trên cơ sở tinh tình báo về LS 719.... và
...Giữa tháng 1 tướng Thọ và tướng Cowles bay ra Quân Đoàn I
để thuyết trình cho tư lệnh Quân Đoàn XXIV và Quân Đoàn I,
Trung Tướng James Sutherland và Trung Tướng Hoàng Xuân
Lãm. Vài hôm sau, một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh Việt-Mỹ được
thông báo chuẩn bị kế hoạch LS719. Phải nhấn mạnh một chi tiết
quan trọng: vì tính cách tối mật của cuộc hành quân, chỉ một vài
bộ chỉ huy và bộ tư lệnh thiết yếu mới nhận được thông báo lệnh
chuẩn bị hành quân. Các đơn vị còn lại thì phải chờ đến ngày 30
tháng 1 mới được thông báo qua lệnh hành quân của Quân
Đoàn I....
Điều hết sức đáng quý là ông Phạm Xuân Ẩn đã nêu bật được ý đồ
của Mỹ + VNCH từ trong phôi thai khi muốn tiến hành Lam Sơn
719. Từ cơ sở thông tin tình báo chiến lược này, BTTM đã có
những hoạch định và các phương án khác nhau cho các thế trận
khác nhau. Tuy vậy, không thấy nói đến cụ thể của thời điểm/
khoảng thời gian báo tin - điều mà tôi rất ... rất muốn quan tâm và
tìm hiểu, .
Còn những kế hoạch tác chiến cụ thể và hoạch địch chiến thuật
của chiến dịch này thì lại đang được cho là công của Ông Tống
Văn Trinh - điệp viên tại Viêng Chăn tại thời điểm: "Trong dịp
chuẩn bị đón Tết Tân-Hợi (1971)" tức khoảng giữa tháng 01/1971
- nguồn: Báo QĐND

Muốn biết độ chính xác của thông tin này đến đâu, , xin mời tham
khảo thông tin dưới đây:
- khoảng giữa năm 1970, F304 đã điều E24 vào nằm vùng tại địa
bàn bắc đường 9, từ Lao Bảo - Khe Sanh sang đến điểm chốt cầu
Kaki theo lệnh của BTL B70. Đúng ngày 15/01/1971, vào buổi
sáng, trước 30 phút khi F304 khai mạc đại hội mừng công cấp sư
đoàn thì có lệnh của Quân ủy Trung ương: điều động E66 F304
ngay lập tức vào chiến trường. Đại hội cấp F đã diễn ra chỉ trong
15 phút và ngày 23/01/1971, E66 đã có mặt tại vị trí quy định.
Quangcan - Vậy, thông tin này của tiên sinh nkp đã làm tôi khá
ưu tư:
...Vắn tắt ở đây, nguồn từ MACV cho biết họ "đọc" đươc truyền
tin của các binh trạm, cho biết QĐND chưa biết chắc chắn họ sẽ bi
tấn công ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hay ở Hạ Lào cho đến ngày 2
tháng 2....
Đáng lẽ ra tôi phải tách ra làm 2 mảng song song, vừa tiếp tục
mạch bài viết vừa bàn luận những trao đổi của tiên sinh nkp,
nhưng quả thật sẽ rối/ lẫn vì nội dung khá bao hàm và hơi tham
lam khi cái gì cũng muốn viết, muốn trao đổi ở các góc độ khác
nhau dù ý nhỏ hay vấn đề không nặng trọng tâm. Mong tiên sinh
nkp thông cảm, .
NKP - Góp ý chung với t/s Quangcan và t/s Fanlong74: Hai
bác ghi chú sử liệu hoàn toàn hợp lý theo lý luận, QDND đã biết
được ý định của VNCH-HK trong năm 1971; và QĐND biết được
ý định đó một phần qua tin tình báo. Từ những yếu tố đó bộ TTM
QĐND ước lượng đúng về hành quân LS719 ở Nam Lào. Nhưng
theo tôi, bộ TTM QĐND ước lượng đúng không phải vì tin tình
báo, mà vì QĐND muốn chuẩn bị cho mọi tình huống cho ba
chiến trường ở ba xứ khác nhau. Và họ ước lượng đúng khi đối
chiếu những giới hạn của đôi bên.
Thay vì tin hoàn toan vào tình báo --- cho biết mặt trận sẽ là nam

Lào -- bộ TTM QĐND chọn chiến thuật bảo vệ/ trinh sát chung
trên toàn tuyến, trên mọi mặt trận. Sách từ các sĩ quan cấp tướng
của QĐND viết về những chuyến trinh sát ở nam Lào từ tháng 71971; hay đi trinh sát chung với hai tướng Giáp và Vương Thừa
Vũ, định vị các toạ độ pháo binh dọc miên duyên hải Hà Tỉnh,
Quảng Bình, Vĩnh Linh, để phòng hờ địch đổ bộ đường biển. Tuy
thay đổi quân (thay đổi vùng trách nhiệm cuả các đơn vị) nhưng
nếu cần, bộ tư lệnh có thể viện binh cấp tốc đến chiến trường
trong trường hợp cần thiết (điều này xảy ra ở chiến trường Nam
Lào, và cho thấy khả năng hành quân cấp tốc của sư đoàn 308 từ
Hà Tỉnh vào nam Lào). Với lối bối trận như vậy, bộ TMM QĐND
mới có thể bảo đảm được cho Binh Đoàn Trường Sơn tiếp tục chi
viện cho chiến trường B-2 (để bảo vệ chiến trường K); B-3 (cho
Tây Nguyên), và ba chiến trường còn lại ở B-1, B4, B-5, và TrịThiên-Huế.
Trong thời gian khó khăn 1969-1970, dù đã bới đi 50 ngàn cán bộ
và quân bộ binh ở B-3, và trên vùng hoạt động của Binh Đoàn
Trường Sơn (BĐTS), nhưng con đường vận tải chiến lược HCM
vẫn phải được họat động; chi viện phải tiếp tục. Giữ được khí thế
phản công trong chiến thuật "chia đều binh ra" nầy, gây một ảnh
hưởng mạnh đối vơi đối phương. [trong một bưổi thuyết trình ở bộ
lư lệnh MACV, ngưòi tướng chi huy trưởng phòng 2 lưu ý cử tọa
như sau về lực lượng của QĐND/QGP "Phải nhớ, chúng ta đang
đối diện với bảy chiến trường: Thượng Lào; Đường vận tải chiến
lược HCM; chiến trường Cam Bốt; B-2; Quân Khu 5 [B-1]; B-5;
và Trị-Thiên-Huế." [Nguồn: the Abrams Tapes; về thời gian và
quân số giảm đi ở B-3/ Trường Sơn, đến từ sách của các tướng
Đặng Vũ Hiệp/ Đồng Sĩ Nguyên/ Nguyễn Đức Huy].
Dự đoán và ước lượng của bộ TTM QĐND hoàn toàn đúng, dựa
theo khả năng hiện có và khả năng của VNCH-HK đang có: Nếu
QĐND đang gặp khó khăn về yểm trợ vật chất, thì phía VNCHHK đang gặp nhiều khó khăn về tâm lý chiến và chính trị đối nội.
Từ sau vụ vệ binh tiểu bang Ohio bắn chết bốn sinh viên biểu tình

chống chiến tranh VN ở đại học công lập Kent Sate, các đoàn biểu
tình càng ngày càng đông hơn; áp lực quốc hội đòi cắt giảm ngân
sách quốc phòng/ ngân sách cho chiến tranh VN gia tăng ở quốc
hội. Nhưng VNCH-HK không phải không có "vấn nạn." Sự thất
bại ở trong cuộc hành quân Ivory Coast giải cứu tù binh ở Sơn Tây
tháng 10-1970; vấn đề xử dụng vũ khí hóa học trong cuộc hành
quân Tail Wind, đánh vào bộ chi huy binh trạm 35 ở Bản Bạc. ...
tất cả đều bị chỉ trích, bị điều tra.
Nhưng cũng qua hai lần đột kích vào Sơn Tây và Bản Bạc trong
năm 1970, QĐND biết phòng thủ nhiều nơi là tốt nhất, vì HK có
thể đột kích bất cứ nơi nào với khả năng không vận của họ. Quyết
định của bộ TTM QĐND được cơ quan truyền tin điện tử NSA và
quân báo Lục Quân HK đọc được. Mỹ đọc được nhiều thông tin
giữa các binh trạm của BĐTS: các binh trạm lớn như 10, 12, 16,
18, và các trạm giao liên từ Vinh trở vào Quảng Bình. Họ đọc
được liên lạc giữa các binh trạm quan trọng như 30-33 (tổng kho
từ bắc xuống Đường 9); và 40-42 (tổng kho cho các binh trạm phụ
trách B-2 và B-3). [về khả năng của Mỹ đọc những truyền tin của
QĐND/QGP, đọc Spartan in Darkness: American SIGINL and the
Indochina War, 1945-1975 của Robert J. Hanyok, do Ban Mật Mã
của NSA ần hành 2002. Đọc phần “Cửa Sổ [thành phố] Vinh. Nội
dung liên lạc của một số binh trạm đưọc đăng trong the Abrams
Tapes.]
Sau cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42/ Rock Crusher của VNCHMỹ, từ tháng 7-1970 đến cuối tháng 12-1970, bộ TTM VNCH
đang còn cho quân dưỡng sức; trong khi Mỹ đang “thu dọn chiến
trường,” trong ý nghĩa họ chuẩn bị chấm dứt nhiệm vụ tác chiến
và chuẩn bị rút quân. Khi bộ TTM QĐND ước lượng VNCH-Mỹ
trong các cuộc hành quân cấp liên quân AB (AB là ký hiệu cho
các cuộc hành quân hàng năm, có tính cách chiến lược) có thể tấn
công từ Tây Ninh về Phum Rovieng; Lộc Ninh về Stung Treng;
hay Kontum về Attopeu, thì ước lượng đó hơi bị quan; hơi lo xa:
VNCH không có khả năng đánh xa như vậy vào Cam Bôt hay Lào

(bản đồ dự kiến hành quân của t/s Quangcan cho thấy phạm vi tấn
công quá xa và quá rộng). Bộ TTM ước lượng cuộc tấn công của
VNCH sẽ có bộ binh Mỹ yểm trợ. Nhưng vào tháng 10-1970,
quốc hội Mỹ đã có bộ luật cấm quân tác chiến Mỹ hiện diện ở Lào
và Cam Bốt. Kế hoạch chiến lược AB cho năm 1971 của VNCHMỹ là gia tăng “bình định hóa; bàn giao trách nhiệm tác chiến lại
cho VNCH.” Chúng ta nên chú ý về thời gian tính: Từ sau cuộc
hành quân Toàn Thắng 42 đánh qua Cam Bốt, cho đến LS719
đánh qua Lào, chỉ có hơn 6 tháng. Một thời gian ngắn để dự trù và
sọan thảo.
T/s Quangcan hỏi: “Rất mong tiên sinh nkp cho biết/ cho ý kiến
về việc tập hợp binh lực của QGP VN để đối phó với chiến dịch
Lam Sơn 719 của VNCH + Mỹ.”
Trả lời: Những chi tiết của t/s Fanlong74 và của t/s đã tóm tắt gọn
những thay đổi vùng trách nhiệm của các đơn vị. Sử liệu đến từ
Fanlong74 cho thấy Sư Đoàn 2BB ra đến vùng trách nhiệm mới là
vừa đúng sự ước lượng ở trên. Hoa Kỳ ước lượng QGP chuẩn bị
tác chiến ở chiền trường Đường 9-Nam Lào là bốn trung đoàn và
hai binh trạm; tương đương 14 ngàn quân cùng một số đơn vị
Pathet Lào. Nhưng một tài liệu khác làm cho ta chú ý: Trong Lịch
Sử Quân Đội Nhân Dân, Tập 2, khi nói về kế hoạch và trận liệt
của QĐND chuẩn bị cho LS719, sách viết lúc LS719 khai diễn (8
tháng 2-1971), QGP đang có 60 ngàn quân chuẩn bị “chào” lực
lượng VNCH. Tôi để những chi tiết này cho quý tiên sinh nhận
định.
Một số chi tiết và nguồn/ sử liệu ở bài viết này sẽ được cung cấp
trong những chương Đường về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn
719” mà tôi sẽ lần lược đăng tải trên diễn đàn.
Quancan - Tôi tán đồng việc cho rằng QĐVN đã đánh giá đúng
và tiên lượng được về cuộc hành quân Lam Sơn 719 và vì thế kế
hoạch A1 của chiến dịch đường 9 Nam Lào đã diễn ra theo lô gíc
có sẵn. Ở đây, chỉ chia sẻ thêm một điểm nhỏ:
- từ thời điểm tháng 7/1970 đến tháng 10/1970, QUTW đã điều F2

thiếu và E141 ra đường 9 bắc quảng trị (khu vực mường phìn) để
đứng chân và củng cố nhằm chuẩn bị cho chiến trường Tây
Nguyên. Tuy vậy, tháng 9/1970, khi E28 thuộc BTL B3 Tây
Nguyên sang Atopeu, Lào thì ngay lập tức E31 F2 được điều vào
thay thế nhằm kịp tham gia chiến dịch Đắc Siêng/ Dak Seang
1970.
Như vậy, trong khoảng thời gian này, phải chăng QUTW đã đủ
thông tin để nhận định với khoanh tròn giới hạn nhỏ dần mục tiêu
rằng: "Mỹ + VNCH sẽ chủ động đánh lớn trong mùa khô 1971
hoặc tại Tây Nguyên hoặc tại đường 9 - hay cả hai".
Có một sự so sánh không hề nhẹ tại 2 khu vực không gian:
- không gian 1: dọc theo đường 9 từ đông sang tây, từ Lao bảo,
Việt Nam sang Bản đông, Sê Pôn/ Tchepone, Mường Phìn/ Muang
Phine, Muang Phan Lane/ Mường Phan Lan, Seno/ Sê Nô với trục
dọc là đường 16 (đường 92 trên bản đồ) với 5-6 nhánh tỏa rộng
cắt ngang đường 9 thọc xuống Nam - Hạ Lào.
- không gian 2: địa bàn ngã ba biên giới, từ đất VN sang Atopeu;
trục xương sống yết hầu của B3 Tây Nguyên; từ đây hoàn toàn
kiểm soát được tuyến hậu cần từ B3 vào B2 hay từ B3 xuống B1.
Một khu vực Mỹ + VNCH rất quen thuộc và dày công nghiên cứu,
rõ ràng và cụ thể với từng mốc tọa độ khác nhau (link dẫn chứng:
đây.)
Chọn chiến trường
nào là tùy thuộc
quyền chủ động của
Mỹ + VNCH, đánh
lớn ở đâu trong mùa
khô 1971 là tùy thuộc
ở họ. Chỉ với những
mốc thời gian cụ thể
khác nhau, qua quá

trình phân tích và tổng hợp thông tin tình báo, chi ến l ược, chi ến
thuật thì phía QĐ VN mới có thể dần xác định, giới hạn và cụ th ể
hóa mục tiêu đối phương lựa chọn
Quancan - ..Cũng trong nhiều lần nói chuyện với Đô Đốc
McCain; với tham mưu trưởng BTMLQ Earl Wheeler; v ới b ộ
trưởng quốc phòng Melvin Lair, tướng Abrams nhắc tới lui
nhiều lần tên của năm căn cứ
hậu cần 604, 611, 609, 352,
và 701: MACV muốn được
phép tấn công vào những căn
cứ đó. Căn cứ 604 là bản
doanh của Binh Trạm 33 ở
Tchepone; 611 là Binh Trạm
42 ở A Shau như đã đề cặp;
609 là Binh Trạm 35 và 37 ở
Bản Bạc phụ trách tiếp liệu
cho B-3; các căn cứ 350-354
và 701 là những căn cứ hậu
cần bên trong nội địa Cam
Bốt, phụ trách tiếp liệu cho
bộ tư lệnh lớn nhất miền nam,
BTL B-2 (B-2 có quân ở 32 tỉnh trong 44 tỉnh của VNCH). …

Coi copy bức điện văn:

Trích dẫn : “ Kết thúc hội nghị, tôi cùng Cục trường xăng dầu
Tổng cục Hậu cần Phan Tử Quang và anh Mai Trọng Ph ước,
người được giao trực tiếp chỉ đạo thi công, xuống kiểm tra việc
lắp đặt tuyến đường ống xăng dầu. Lúc này, tuyến đường ống
K200 từ Ra Mai đã được kéo dài vào khu vực K5, điểm mút chót ở
giữa một cánh rừng già, khá bằng phẳng, phía nam Bản Cọ (b ắc
đường 9 - khu vực Sê Pôn)....Ngày 22 tháng 12 năm 1969, đúng
vào dịp kỷ niệm tròn một phần tư thế kỷ ngày thành lập Quân đội,
lễ khánh thành tuyến đường ống xăng dầu K200 - Bản Cọ được tổ
chức tại K5.
Trong thời khắc rất đỗi thiêng liêng này, tr ước đông đ ảo cán
bộ, chiến sĩ, tôi xúc động nói:
- Hôm nay chúng ta đang chứng kiến một sự kiện có ý nghĩa
vô cùng lớn lao. Đoàn 559 đưa vào vận hành đoạn đầu tuy ến
đường ống dẫn xăng dầu chiến lược nối hậu phương lớn miền Bắc
với tiền tuyến lớn miền Nam. Với sự kiện này, bộ đội Trường Sơn
có thêm một phương thức vận tải xăng dầu mới, hiện đ ại, m ột
binh chủng mới. Từ nay, chúng ta cơ bản khắc phục được t ổn th ất
lớn về xăng dầu do phải sử dụng ô tô chuyển bằng phuy, hoặc xitéc. Đây là một bước ngoặt quyết định, bảo đảm vận tải hàng hoá

và cơ động binh chủng kỹ thuật quy mô lớn.
Thay mặt Bộ Tư lệnh 559, tôi bày tỏ lòng c ảm ơn đ ồng chí
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - "Tổng công trình sư" tuyến đường
ống xăng dầu Trường Sơn; cảm ơn những người lính đường ống,
công binh, thanh niên xung phong, các binh trạm… đã đổi không
ít sức lực máu xương để có được tuyến đường ống mang theo
"dòng nước ấm thần kỳ" đáp ứng yêu cầu đánh to, thắng lợi c ủa
quân và dân ta trên chiến trường.
Sau buổi lễ trang nghiêm, xúc động, mọi người tận mắt chứng
kiến một công trình đặc biệt, bốn vòi cùng lúc ti ếp xăng cho m ột
tiểu đoàn xe chỉ mất một giờ rưỡi; nếu cấp phát qua phuy hoặc xitéc như trước đây phải mất hơn ba giờ.
Tôi như thấy qua dòng xăng tuôn chảy, bóng dáng hàng trăm
chiến sĩ đang vượt núi, băng sông gùỉ cõng những ba lô xăng, can
xăng năm nào!
Chỉ những người trong cuộc, hoặc chứng ki ến nh ững tháng
ngày đắng cay, cơ cực, khi mà một giọt xăng vào tới chiến tr ường
được đổi bằng cả bát mồ hôi, thậm chí bằng máu, mới ý thức
được tầm thế lớn lao của sự kiện đưa đường ống xăng dầu Trường
Sơn vào vận hành.
Dòng xăng dầu theo tuyến ống vào tới Sê Pôn cung c ấp tr ực
tiếp cho Binh trạm 32 và một số binh trạm khác là m ột s ự ki ện
lớn,...”
nguồn: Đường Xuyên Trường Sơn - Đồng Sỹ Nguyên.

Coi tiếp copy điện văn ...

Quangcan - Một điểm nhấn đáng chú ý là tại sao QUTW lại rút
F2 thiếu, E141 và sự xuất hiện của F324/ sư đoàn bộ binh 324/
đoàn Ngự Bình (tháng 10/1970) ra đường 9 nam/ bắc Quảng
Trị??? từ rất sớm, ngay từ khoảng giữa năm 1970??? tại sao lại là

họ mà không phải là các đơn vị khác? tại sao rút nhiều như vậy và
sẽ dẫn đến hậu quả/ nguy cơ mất địa bàn nghiêm trọng - thành quả
của cả quá trình 1965 - 1969??? Một hành động phiêu lưu mạo
hiểm hay nước cờ đã tính kỹ, chấp nhận được/ mất???...
Tiếp tục bài viết theo
mạch dẫn trên, với vài
đáp
án
nhỏ:
Các đơn vị trên đều có
kinh nghiệm đánh đồng
bằng, nhất là cách thức
và hoạt động tác chiến
khi đối mặt với chiến
thuật trực thăng vận và
các thủ đoạn tập kích
đường không của Mỹ và VNCH - con bài chiến lược tối ưu sẽ
triển khai trong chiến dịch Lam Sơn 719. Hơn th ế nữa, đó còn là
sự trưởng thành trong quá trình đối mặt để tiêu diệt các cụm c ứ
điểm, căn cứ lớn khi Mỹ và VNCH "nhảy cóc" thiết lập các FSB:
- có thể kể đến F2 với chiến dịch Khâm Đức 1969 khi đối mặt v ới
lữ đoàn 196 đã sử dụng chiến thuật bóc vỏ: dùng đặc công luồn
sâu đánh hiểm tạo thời cơ cho bộ binh vây - lấn - dũi đập nát các
cứ điểm ngoại vi bảo vệ bên ngoài. Từ đó, vừa dùng hỏa lực pháo
binh và cao xạ khóa chặt cửa ngõ ra vào thung lũng Khâm Đ ức
vừa dội thẳng xuống khu lòng chảo. Chiến thuật này được áp dụng
vào trận đánh cao điểm 550, 723/ Phu Rệp/ Ph. Rep trên đường 9.
Hoặc hình thức chiến thuật "cơ động tiến công kết hợp chốt" nhằm
xây dựng một dãy phòng tuyến tại khu vực giáp ranh Sơn Cẩm
Hà/ Phước Sơn - Phước Cẩm - Phước Hà với Núi Lớn - Dương
Vông - Núi Ngang - Dốc Xoài - Đèo Cây Trâm. Chiến thuật này
được áp dụng nhuần nhuyễn và nâng lên một điểm cao mới khi
vừa tiến hành vây ép điểm cao 660 đồng thời với ti ến công d ứt
điểm lực lượng còn lại tại cao điểm 723/ Phu Rệp . F2 thiếu và sư

đoàn trưởng Nguyễn Chơn đã quyết đoán chuyển một phần lực
lượng đang tham gia vây lấn 723 sang bôn tập đón lõng tại 660 và
tổ chức truy kích kịp thời trung đoàn 2 VNCH.
Quangcan - Có thể nói về F324/ đoàn
Ngự Bình khi đối mặt với
thủ đoạn chiến thuật "chốt
điểm cao", '"nhảy cóc",
"ngăn chặn từ xa" của sư
đoàn 101 dù Mỹ và sư
đoàn 1 bộ binh VNCH tại
khu tứ giác A Túc - Củng
Cáp - nam sông Tà Rụt tây sông A Sáp trên phòng
tuyến Sông Bồ phía tây
đường 12 Thừa Thiên Huế.
Đỉnh cao của đợt hoạt
động là công tác dự kiến trận địa, tổ chức hiệp đồng, xây dựng thế
trận đón lõng tiêu diệt sớm - kịp thời và hạn chế tối đa khả năng
tác chiến cơ động của trực thăng Mỹ + VNCH (tại E1 F324: 16/3,
đại đội 16 súng 12,7mm bắn rơi 5 trực thăng; 18/3, đại đội 2
dùng trung liên bắn rơi 4 chiếc; 25/3 toàn trung đoàn bắn rơi,
bắn cháy 14 trực thăng, nâng số máy bay bị bắn rơi trong nửa
tháng lên gần 40 chiếc) hay hình thành khu quyết chiến điểm tại
cao điểm 935 và kế hoạch đón lõng tại các cao điểm ngoại vi: 902,
805, Cốc Muôn/ Coc Muan, Kovaladut/ Cô va la dút, Cóc Pơ Lai/
Coc Per Lai, Cô Pung/ Ko Pung.

NKP - Tiên Sinh Quancan, Vài tuần nay không vào được VMH.
Nghe vài người bạn nói đường dây mạng bị đứt. … Hôm nay vào
được … và xin trả lời vài điểm mà hai tiên sinh Quangcan và
Fanlong74 đưa ra:
“Tôi hơi ưu tư về việc dẫn nguồn của tiên sinh nkp về sách/ hồi ký
của tướng Nguyễn Đức Huy.
Theo tôi được biết khoảng thời gian 1970, Ông Nguyễn Đức Huy
giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 9 sư đoàn 304.
Trong lúc hành quân vào chiến trường chuẩn bị cho chiến đường 9
Nam Lào thì ông bị lên cơn sốt rét ác tính, đi tiểu ra máu; ngay lập
tức ông phải vào Viện 41 Quảng Bình, rồi Viện quân y 108, Hà
Nội và nằm lại đó 3 tháng,”
Khi chú về thiếu tướng Nguyễn Đức Huy ở câu trả lời #34, tôi chỉ
muốn chú là một trong những đơn vị của tướng Huy đã đón đoàn
quân di chuyển về bắc trong những năm 69-70. Nhưng khi đọc
những gì tiên sinh viết, tìm lại sách của NĐ Huy, thì không thấy gì
hết. Đúng Trung Đoàn 9/F304 của tướng Huy không có dính dáng
gì đến chiến Dịch Đường 9-Nam Lào. Hôm trả lời cho tiên sinh,
tôi vừa đọc qua sách của Phan Hàm; Quý Hải và Nguyễn Đức
Huy. Coi lại cả ba cuốn, cũng không thấy chổ nào liên quan đến
phần mình trích dẫn. Bây giờ không biết tại sao mình ghi chú đến
sách của tướng Nguyễn Đức Huy. Hoàn toàn nhận lỗi sơ suất về
chú thích đó. Tôi cũng hiểu: không trích
dẫn thì thôi, nhưng khi trích thì sử liệu phải chính xác.
Tiên Sinh Fanlong74 nói về tình báo của QĐND đã có tin trước về
HQ LS719; tiên sinh Quangcan thì nói về lối đánh hiệu nghiệm
của QĐND đối đầu với chiến thuật “căn cứ hoả lực.” Cà hai tiên
sinh đều có lý với chứng minh và trích dẫn. Tôi không phủ nhận
được sự thất bại của chiến thuật căn cứ hoả lực khi áp dụng trong
địa hình của chiến trường Hạ Lào. Lại càng khó cãi với ý kiến là
QĐND đã ít nhiều đánh hơi được kế hoạch và chủ đích của VNCH
trong kế hoạch chiến lược thường niên 1971-NB. Tôi cảm ơn đóng
góp thảo luận của quý tiên sinh.

Nếu không có vấn đề gì, và để được thêm phần hào hứng cho diễn
đàn VMH, tôi xin được đăng lên Chương 6 trong vài ngày sắp
đến.