You are on page 1of 5

LEGAL FORMS OF ORGANIZATIONS

1. Legal form of organization : loại hình doanh nghiệp 2. Joint-stock company : công ty cổ phần 3. Partnership : công ty hợp danh 4. Private enterprise : doanh nghiệp tư nhân 5. Business registration certificate : giấy phép đăng ký kinh doanh 6. Limited liability company with more than one member: công ty TNHH 2 TV trở lên 7. Sola member limited liability company: công ty TNHH MTV 8. Charter capital : vốn điều lệ 9. Shareholder : cổ đông 10. Capital mobilization : sự huy động vốn 11. Ordinary share : cổ phiếu thường 12. Preference share : cổ phiếu ưu đãi 13. Preference shareholder : cổ đông ưu đãi 14. Voting preference share : cổ phiếu ưu đãi có quyền biểu quyết/bầu phiếu 15. Dividend preference share : cổ phiếu ưu đãi cổ tức 16. Redeemable preference share : cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại 17. Founding shareholder : cổ đông sáng lập 18. Shareholders’s Genreral Meeting : đại hội cổ đông 19. Dispute : tranh chấp 20. Articles of co-partnership : điều lệ hợp danh 21. Securities : chứng khoán, trái phiếu 22. General partner : thành viên hợp danh 23. Limited partner : thành viên góp vốn 24. Legal status : tư cách pháp nhân 25. Appropriate authority : nhà chức trách thích hợp 26. Responsible : chịu trách nhiệm 27. Committee : cam kết 28. Contribute : đóng góp 29. issue (issuing) : phát hành 30. Contract : trái ngược 31. Owner (n)-owned(adj) : chủ sở hữu 32. Liable (adj) – liability (n) : trách nhiệm pháp lý 33. prohibite (v) : ngăn cấm 34. offer (v) : bán 35. Divide : chia cắt 36. Transfer : chuyển nhượng 37. Stipulate : quy định 38. asset : tài sản 39. terminate : hoàn thành

In order to do business, you should register your business with the appropriate authorities (Để kinh doanh, bạn cần phải đăng ký doanh nghiệp của các bạn với các nhà chức trách thích hợp). To do this, you first need to decide which legal form of organization is suitable for your business ( Làm điều này, điều đầu tiên bạn cần là quyết định loại hình doanh nghiệp nào là thích hợp với doanh nghiệp của bạn ). In business, there are many legal forms of organizations. Each form has certain advantages and disadvantages (Mỗi loại hình có những lợi thế và những bất lợi nhất định ). The four forms discussed in this lesson are limited liability company, joint-stock company, partnership and private enterprise (Bốn loại hình được đề cập trong bài này là Cty TNHH, Cty CP, Cty hợp danh, và DNTN). A limited liability company (LLC) with more than one member is an enterprise in which members can be organization(s) and/or individual(s) (Một Cty TNHH với nhiều hơn 1 thành viên là DN với thành viên có thể là tổ chức hay cá nhân ), and the total number of member is no more than fifty ( và tổng số thành viên là ko quá 50 ). Members, are responsible for debts and other liabilities of the enterprise within the amount of capital that they committed to contributing to the enterprise ( Thành viên, chịu trách nhiệm về số nợ và những nghĩa vụ của DN nằm trong số cổ phần mà họ cam kết đóng góp cho DN). It is given a legal status from the issung date of the business registration certificate and is not entitled to issue share (Nó đưa ra tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày đăng ký giấy chứng nhận kinh doanh và ko có quyền phát hành cổ phiếu ). The limited liability company with more than one member is in contrast to a sole member limited liability company which is an enterprise owned by one organization or individual (Cty TNHH nhiều thành viên trái ngược với Cty TNHH MTV-được sở hữu bởi 1 tổ chức hay riêng lẻ). The company owner is liable for debts and other obligations of the company within the charter capital ( Chủ nhân Cty thì có trách nhiệm với số nợ và những trách nhiệm khác của công ty trong vốn điều lệ ). Like the limited liability company with more than one member, this types of company is prohibited from offering shares ( Như Cty TNHH nhiều thành viên, những loại hình Cty này bị ngăn cấm bán cổ phiếu ). Both of the two types of limited liability companies are given legal status from the issuing date of the business registration certificate (Cả 2 loại hình Cty TNHH này đều được tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày đăng ký chứng nhận kinh doanh). A joint-stock company is an enterprise in which charter capital is divided into equal portions known as shares (Cty CP là DN trong đó vốn điều lệ được chia thành những phần bằng nhau được biết đến như cổ phiếu ). Shareholders can be organization or individuals (Cổ đông có thể là những tổ chức hay những cá nhân ). The minimum member of shareholders is three and there is no restriction on the maximum number of shareholders (Số thành viên cổ đông nhỏ nhất là 3 và tối đa là ko hạn chế ). Shareholders are liable for debts and other liabilities of the company within the amount of the capital that they contributed (Những cổ đông có trách nhiệm những món nợ và những nghĩa vụ khác của Cty nằm trong số cổ phần mà họ đóng góp). They are free to transfer their shares (Họ được tự do chuyển giao quyền sở hữu những cổ phiếu của họ). The joint-stock company is given a legal status from the issuing date of the business registrazation certificate (Cty CP được có tư cách pháp nhân từ ngày đăng ký chứng nhận kinh doanh ).

It is entitled to issue securities for the purpose of capital mobilization ( Đó là quyền cho sự an toàn được đặt ra cho việc huy động vốn ). The joint-stock company must issue ordinary shares (Cty CP phải phát hành cổ phiếu thường ). Owners of such shares are referred to as ordinary shareholders ( Những chủ nhân của những cổ phiếu được quy vào những cổ đông thường). It can also issue, preference shares ( Nó cũng có thể lưu hành cổ phiếu ưu đãi). Owners of preference shares are referred to as preference shareholders. Preference shares include: voting preference share, dividend preference share, redeemable preference share and other types of preference share as stipulated in the company charter (Cổ phần ưu đãi bao gồm: những cổ phần ưu đãi có quyền biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại và những kiểu cổ phần ưu đãi khác như được quy định trong công ty cổ phiếu ). Voting preference shares can be owned only by government-authorized organizations and founding shareholders ( Cổ phần ưu đãi có quyền biểu quyết chỉ được sở hữu bởi những tổ chức được ủy quyền cầm quyền và cổ đông sáng lập). Preference of voting will be effective for three years from the issuing date of the business registration certificate ( Sự ưu tiên của bỏ phiếu sẽ có hiệu lực trong 3 năm kể từ ngày chứng nhận đăng ký kinh doanh ). After that, voting preference shares of founding shareholders will be converted into ordinary shares ( Sau điều đó, những cổ phiếu ưu đãi có quyền biểu quyết của những cổ đông sáng lập sẽ được chuyển đổi vào những cổ phiếu thường). However (tuy nhiên), ordinary shares are not entitled (được phép) to convert into preference shares. Persons who are entitled to buy dividend preference shares, redeemable preference shares or other types of preference shares will be stipulated in the company charter or decided by the Shareholders’ General Meeting (Những người được phép mua cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại hoặc những loại khác của cổ phần ưu đãi sẽ được qui định trong Cty ban đặc quyền hay được quyết định bởi đại hội cổ đông ). Shareholders of the same type will be given the same rights, interests and obligations (Những cổ đông như zậy sẽ được đưa cho những quyền lợi, những sự quan tâm, và những trách nhiệm như zậy). A partnership is a business in which two or more people own a company, work together and share the profits or losers on an agreed basis ( Cty hợp danh là DN trong 1 hay nhiều hơn 1 người sở hữu cty, làm việc cùng nhau và chia sẻ những lợi nhuận hay mất trên cùng 1 cơ sở đồng ý thống nhất ). The partnership should begin with a legal agreement covering the various aspects of the business: how decisions will be made, profits will be shared, disputes will be resolved and how future partners will be admitted to the partnership (Cty hợp danh cần phải bắt đầu với hợp đồng hợp pháp bao gồm nhiều khía cạnh của Cty: những quyết định sẽ được làm ra sao, những lợi nhuận sẽ được chia ntn, những tranh chấp sẽ được giải quyết ntn, và làm thế nào để đối tác tương lai chấp nhận vào cty hợp danh). Two important items that need to be covered are exactly which assets each partner has to contribute as well as how the partnership can be changed or terminated (2 điều quan trọng là cần bao trùm chính xác với tài sản mà thành viên đóng góp tốt như việc làm thế nào cty hợp danh có thế thay đổi hay hoàn thành ). This agreement is called the articles of co-partnership ( thỏa thuận này gọi là điều lệ hợp danh). The partnership is not permitted to issue any type of securities and is given legal status from the issuing date of the business registration certificate ( Cty hợp danh không

được phép phát hành bất kỳ loại nào của chứng khoán, trái phiếu và nhận được tư cách pháp nhân nào từ ngày phát hành giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). There are some types of partnerships. A general partnership ( thành viên hợp danh) is the partnership formed (hình thành) with only general partners. That is, each partner is involved in the day-to-day operations of the business and he bears personal responsibility for the liabilities of the partnership (Nghĩa là, mỗi thành viên được bao gồm trong hoạt động hằng ngày của cty và ông ta mang những trách nhiệm cá nhân cho những món nợ của cty hợp danh). The general partnership is in contrast to a limited partnership which has at least one general partner with unlimited liability and one limited partner with limited liability (Cty hợp danh nói chung trái với những hội buôn hùn vốn hữu hạn mà có ít nhất 1 thành viên hợp danh với trách nhiệm vô hạn và 1 thành viên góp vốn với trách nhiệm hữu hạn). The limited partnership is not often used for operating retail or service businesses (Hội buôn hùn vốn thường ko được sử dụng cho sự vận hành bán lẻ hay kinh doanh dịch vụ). Forming the limited partnership is more complex and formal than that of a general partnership (Việc hình thành hội buôn hùn vốn thì phức tạp và hình thức hơn cty hợp danh). A private enterprise is a business owned and operated by a single person ( DNTN là một DN được sở hữu và vận hành bởi 1 người ). This single person can start a business by simply purchasing the necessary goods and equipment and opening up a shop ( Người này có thể khởi nghiệp DN bằng cách đơn giản là mua hàng hóa cần thiết và mở 1 cửa hàng). There are very few government and legal regulations to comply with ( Có chính phủ và những sự điều chỉnh hợp pháp rất ít ). The private enterprise owner owns all the assets of the business, but he also has to supply all the capital, and his ability to borrow is limited to his personal amount of money and wealth ( Chủ nhân của DNTN sở hữu tất cả tài sản của DN, nhưng ông ta cũng phải cung cấp tất cả cổ phần, và khả năng của ông ta cho sự vay mượn giới hạn đối với tiền và sức khỏe cá nhân ông ta). The owner enjoys his freedom to make decisions about his business, but he alone takes the responsibility for incorrect choises (Chủ nhân thích sự tự do để làm những quyết định về DN ông ta, nhưng ông ta một mình chịu lấy trách nhiệm cho những sự lựa chọn sai lầm ). He has the right to keep all the profit of the business (Ông ta có quyền giữ lại tất cả lợi nhuận của DN ). However, if he suffers a loss, he still owns all the debts, and his legal liability to pay them may be more than his investment in the business ( Tuy nhiên, nếu ông ta bị thua lỗ, ông ta phải sở hữu toàn bộ số nợ và những trách nhiệm pháp lý để trả chúng nhiều hơn số đầu tư của ông ta trong DN). He must use his personal property to settle the debts of the business if he goes bankrupt (Ông ta phải sử dụng tài sản cá nhân để giải quyết những món nợ của DN nếu ông ta phá sản ). The private enterprise is not permitted to issue securities (DNTN ko được phép phát hành những chứng khoán trái phiếu ). One individual is only permitted to establish one private enterprise ( 1 cá nhân chỉ được phép thiết lập 1 DNTN). The four types of legal organizations discussed in this lesson show different strengths and weaknesses (điểm mạnh và điểm yếu). The best form for a particular enterprise mainly depends (phụ thuộc) on its capital requirements and the number of owners.