Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không những phải quan tâm

đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng, bảo vệ, quảng bá để nâng cao uy tín thương hiệu của mình. Thương hiệu là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một doanh nghiệp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, nhưng có thể nói thương hiệu của một doanh nghiệp được hình thành bởi nhiều thành tố thuộc tài sản vô hình, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, uy tín của doanh nghiệp, hình ảnh của doanh nghiệp… Trong các thành tố vừa nêu thì nhãn hiệu là thành tố quan trọng nhất, nó là các dấu hiệu tác động trực tiếp đến giác quan của người tiêu dùng, như nhìn thấy (cấu trúc từ ngữ, màu sắc, hình khối… của nhãn hiệu), nghe thấy (cách phát âm nhãn hiệu), liên tưởng đến (ý nghĩa của nhãn hiệu, ví dụ: hoa hướng dương – sunflower, ánh dương – sunlight…). Nhãn hiệu đối với doanh nghiệp quan trọng như vậy, thế nhưng vẫn còn có rất nhiều trướng hợp các doanh nghiệp mắc phải sai sót trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu. Trong công trình ghiên cứu dưới đây, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích và giải quyết các vấn đề liên quan đến “ nhãn hiệu”,đặc biệt là việc chuyển giao và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

1

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1. Những vấn đề cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Như chúng ta đã biết, lao động sang tạo là một trong những đặc tính của loài người , con người muốn tồn tại vào phát triển thì phải gắn liền với lao động và trong quá trình lao động đó hoạt động sáng tạo là điều không thể thiếu. Bởi lẽ con người luôn muốn tìm mọi cách để tối thiểu hóa sức lao động và chi phí tạo ra thành phẩm đồng thời cũng muốn tạo ra những sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu như các nền kinh tế truyền thống chủ yếu dựa vào sức lao động và một nguồn sẵn có là tài nguyên thiên nhiên thì trong nền kinh tế tri thức hiện nay, khoa học công nghệ lại là yếu tố quyết định đối với đà tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong dài hạn , hay nói cách khác khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng tạo ra sự thịnh vượng và cung cấp nguồn năng lượng cho sự phát triển của một đất nước. Mặt khác, những sản phẩm khoa học công nghệ mà con người sáng tạo ra lại không giống với những vật phẩm khác. Đó là những vật phẩm vô hình mà bản thân người sang tạo ra nó không thế chiếm hữu riêng cho bản thân mình , chúng rất dễ bị chiếm đoạt sử dụng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân cho luật sở hữu trí tuệ ra đời nhằm bảo vệ thành quả của các hoạt động sang tạo con người. và quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận của luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền lợi của những người hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt có ý nghĩa xã hôi và kinh tế quan trọng này.

2

Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, kiểu dáng cộng nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh. Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí , nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý được pháp luật bảo hộ bằng văn bằng bảo hộ. Trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu là đối tượng được quan tâm nhiều nhất. Việc sản phẩm của một doanh nghiệp có bán chạy được không, có được sự ưa chuộng của người tiêu dùng hay không phụ thuộc rất nhiều vào độ tin cậy của nhãn hiệu đó. Khác với các tài sản hữu hình, khi chủ sở hữu khai thác và sử dụng chúng thì một hệ quả tất yếu kéo theo là sự tiêu hao và cạn kiệt thì tài sản sang tạo trí tuệ khi được khai thác và sử dụng thì không những không bị giảm sút về số lượng và chất lượng mà giá trị của tài sản đó còn được nâng cao. Đặc biệt, với nhãn hiệu thì một nhãn hiệu sẽ càng trở nên nổi tiếng và có giá trị khi phạm vi sử dụng của nó được mở rộng. Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về nhãn hiệu trong nội dung quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam. 1.1 Khái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường và thương mai quốc tế. Nhãn hiệu ngoài chức năng chính là phân biệt hàng hóa dịch vụ của các nhà sản xuất khác nhau trên thị trường, cung cấp những thông tin về sản phẩm cho người tiêu dung trong việc lựa chọn còn là biểu tượng cho hình ảnh và danh tiếng của doanh nghiệp, là yếu tố quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa , dịch vụ trên thị trường và là một tài sản kinh doanh có giá trị đặc biệt. Theo khoản 16 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ, “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để hân biệt hàng hóa dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một từ, ngữ (một cụm từ), hình ảnh, biểu tượng, lô gô, hoặc sự kết hợp các yếu tố này được sử dụng trên hàng hóa 3

hoặc dịch vụ để giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các sản phẩm, dịch vụ khác nhau trên thị trường. Nhãn hiệu thuộc các đối tượng sở hữu công nghiệp là các chỉ dẫn thương mại Nhãn hiệu cũng thuộc các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký. Đối với nhãn hiệu, chủ thể nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ lần đầu chỉ trong một thời hạn nhất định nhưng về bản chất pháp luật có thể bảo hộ vô thời hạn cho nhãn hiệu nếu chủ sở hữu có nộp đơn yêu cầu gia hạn và nhãn hiệu đó vẫn đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ. 1.2 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Theo Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ, “nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng được các điều kiện sau đây: 1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”. Theo quy định của pháp luật, đặc điểm thứ nhất của nhãn hiệu là các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, có nghĩa là con người chỉ có thể nhận thức được, nắm bắt được về chúng qua khả năng thị giác của con người. Người tiêu dung qua quan sát nhìn ngắm để phát hiện ra loại hàng hóa, dịch vụ có gắn với nhãn hiệu đó để lựa chọn. Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPs cũng quy định: “…Các thành viên có thể quy định như là điều kiện để được đăng kí rằng các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được”. Đối với một số nước trên thế giới, pháp luật của họ còn quy định việc bảo hộ đối với nhãn hiệu còn được áp dụng cả với các loại nhãn hiệu là những dấu hiệu âm thanh như âm nhạc, tiệt nhạc mà con người có thể nhận biết được qua thính giác hoặc nhãn hiệu là mùi hương mà con người có thể nhận biết thông qua khứu giác hay nhãn hiệu hàng hóa chỉ đơn thuần được thể hiện thông qua một màu sắc nhất định. Yếu tố màu sắc là không thể thiếu đối với nhãn hiệu hàng hóa bởi ưu điểm gây ấn tượng với thị giác con người, qua đó nó giúp cho nhãn hiệu thực hiện được chức năng phân biệt của mình. 4

Các dấu hiệu bị loại trừ khi xem xét để cấp văn bằng bảo hộ được quy định tại Điều 73, Luật sở hữu trí tuệ, các dấu hiệu sau không được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu:  Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kì, quốc huy của các nước, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hôi – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế nếu không được cơ quan tổ chức đó cho phép. Ví dụ như tên viết tắt của tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ không được dùng để làm nhãn hiệu , tên thật, biệt hiệu, biệt danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hung dân tộc, danh nhân của Việt Nam và của nước ngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng kí các dấu hiệu đó làm nhãn hiệu chứng nhận. Về tiêu chí bảo hộ thứ hai, nhãn hiệu có khả năng phân biệt là nhãn hiệu bao gồm các yếu tố đủ để tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả năng lưu giữ trong trí nhớ hay tiềm thức con người, bất kì ai khi tiếp xúc với chúng đều dễ dàng nhận thức và dễ ghi nhớ về chúng khi đặt bên cạnh các nhãn hiệu khác. Có thể có nhiều yếu tố độc đáo không giống những cái đã có nhưng lại quá nhiều chi tiết phức tạp hoặc quá nhiều hình vẽ rắc rối khiến cho người tiếp cận khó nắm bắt và không thể ghi nhớ được nội dung cấu trúc cuả nó.  Nhãn hiệu không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu là các hình học đơn giản không có khả năng phân biệt và gây ấn tượng cho thị giác hoặc quá phức tạp gồm nhiều đường nét rắc rối; hay là các chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ thông dụng được hiểu là bất kì ngôn ngữ không thông dụng. Hiện nay, một số dấu hiệu sẽ có khả năng được đăng kí tại Cục sở hữu trí tuê nếu dấu hiệu này thuộc ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp và tiếng Nga. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ đối với những trường hợp nêu trên, đó là trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu. 5

Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu của hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trong các trường hợp:  nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đước hưởng quyền ưu tiên.  nhãn hiệu mà giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu đó đã hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực bảo hộ nhưng thời gian tính từ khi hết hiệu lực hoặc bị đình chỉ hiệu lực chưa quá 5 năm, trừ trường hợp hiệu lực bị đình chỉ vì lí do nhãn hiệu không được sử dụng.  nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng, thậm chí trong cả trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng đó được đăng kí cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có khả năng làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng. Ví dụ, một người muốn nộp đơn xin đăng kí nhãn hiệu Coca Cola cho sản phẩm kem đánh răng không được chấp nhận mặc dù nó không trùng hay tương tụ với các sản phẩm đồ uống của nhãn hiệu Coca Cola. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu như nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp như: tên thương mại đang được sử dụng của người khác mà việc sử dụng có thể gây nhầm lẫn, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn. 1.3 Phân loại nhãn hiệu: có rất nhiều cách để phân loại nhãn hiệu , căn cứ vào những cơ sở khác nhau  Dựa vào dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu thì có 3 loại nhãn hiệu:  Nhãn hiệu chữ: bao gồm các chữ cái (có thể kèm theo cả chữ số), từ, (có nghĩa hoặc không có nghĩa, có thể là tên goi, từ tự đặt..), ngữ (một cụm từ có thể là một khẩu hiệu trong kinh doanh…)…

6

 Nhãn hiệu hình: bao gồm hình vẽ, ảnh chụp, biểu tượng, hình khối (hình không gian ba chiều)  Nhãn hiệu kết hợp: kết hợp cả từ ngữ và hình ảnh. Những nhãn hiệu này có thể được thể hiện đen trắng hoặc kết hợp cả màu sắc.  Căn cứ những quy định về nhãn hiệu thì nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các cá nhân và tổ chức kinh doanh khác nhau. Như vậy có thể nói nhãn hiệu gồm 2 loại cơ bản là nhãn hiệu dung cho hàng hóa và nhãn hiệu dung cho dịch vụ.  Nhãn hiệu dùng cho hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa của các chủ thể khác nhau, nó chủ yếu trả lời cho câu hỏi ai là người sản xuất ra những loại hàng hóa , chứ không phải trả lời hàng hóa đó là cái gì. Nhãn hiệu dung cho hàng hóa có thể được gắn ngay trên chính hàng hóa hay trên bao bì của hàng hóa đó. Hàng hóa được hiểu là những vật phẩm có nguồn gốc tự nhiên hay được sản xuất, chế tạo để bán.  Nhãn hiệu dung cho dịch vụ là những dấu hiệu để phân biệt dịch vụ của những chủ thể khác nhau. Dịch vụ được hiểu là các hoạt động thực tế, được thực hiện theo yêu cầu hay vì lợi ích của bên thuê dịch vụ. Khái niệm dịch vụ được hiểu là những dịch vụ độc lập, bao gồm một hành vi cụ thể để thực hiện một yêu cầu nhất định qua đó mang lại lợi ích cho chủ thể phía bên kia. Trong trường hợp công ty thực hiện hoạt động bảo hành sau khi hoàn thành khâu mua bán cho khách hàng thì đó không được gọi là hoạt động dịch vụ. Nhãn hiệu dịch vụ thường được gắn trên các bảng hiệu dịch vụ để người có nhu cầu hưởng thụ dịch vụ có thể dễ dàng nhận biết. Trên cơ sở của hai loại nhãn hiệu chính và cơ bản là nhãn hiệu dung cho hàng hóa và nhãn hiệu dùng cho dịch vụ thì có thể chia ra các loại nhãn hiệu cụ thể khác với các đặc điểm riêng biệt như: nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng. Các nhãn hiệu này đều thuộc về nhãn hiệu hàng hóa cũng như thuộc về nhãn hiệu dịch vụ.

7

 Nhãn hiệu tập thể (collective marks) là nhãn hiệu dùng để phận biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó vói hàng hóa dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác không phải là thành viên của tổ chức đó. Nhãn hiệu tập thể là nãh hiệu của tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty..) trong đó tổ chức tập thể xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể (như các chỉ tiêu chung về chất lượng, nguồn gốc, phương pháp sản xuất..) và các thành viên có quyền sử dụng nhãn hiệu nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp ứng được các tiêu chuẩn đó. Nhãn hiệu tập thể có thể xem là một hình thức liên kết hiệu quả trong việc tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của một nhóm doanh nghiệp. Đặc trưng của nhãn hiệu tập thể là nhiều chủ thể đều có quyền sử dụng nó nhưng cũng cần lưu ý là khi một tập thể sử dụng nhãn hiệu nhân danh tập thể thì nhãn hiệu này không được coi là nhãn hiệu tập thể mà sẽ chỉ là nhãn hiệu bình thường vì nhãn hiệu chỉ do một chủ thể sử dụng. Ví dụ cho nhãn hiệu tập thể là: Rượu Bàu Đá của Bình Định do chủ sở hữu là Hiệp hôi sản xuất và kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định; nhãn hiệu “nước mắm Phú Yên” hiện nay có 33 cơ sở sản xuất nước mắm ở tỉnh Phú Yên được sử dụng nhãn hiệu..  Nhãn hiệu chứng nhận (certification marks) là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Nhãn hiệu chứng nhận do các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính của hàng hóa, dịch vụ đăng ký sau đó tổ chức này có quyền cấp phép sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu hàng hóa dịch vụ của họ đáp ứng được các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đặt ra. Trong khi nhãn hiệu tập thể chỉ do các thành viên của tập thể sử dụng thì nhãn hiệu chứng nhận có thể được sử dụng bởi bất kỳ ai có sản phẩm dịch 8

vụ đáp ứng được yêu cầu định sẵn. Tiêu chuẩn ISO 9000 được công nhận trên toàn thế giới, nhãn hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dung bình chọn là ví dụ cho loại nhãn hiệu chứng nhận. Ví dụ một số nhãn hiệu được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ như: nhãn hiệu Bình Thuận Dragon Fruit của Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận, nhãn hiệu Catba Archipelago Biosphere Reserve Haiphong – Vietnam của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng…  Nhãn hiệu liên kết là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại hoăc tương tự nhau hoặc có lien quan đến nhau. Việc đăng ký nhãn hiệu lien kết mang lại nhiều lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Chủ sở hữu các nhãn hiệu lien kết được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ. Nhãn hiệu liên kết tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ mới bởi họ biết được về nguồn gốc, xuất xứ hay mỗi liên kết với các sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã dung trước đây  Nhãn hiệu nổi tiếng là loại nhãn hiệu luôn thu hút được sự quan tâm của hầu hết mọi người từ các chủ thể kinh doanh tới người tiêu dung. Thuật ngữ “nhãn hiệu nổi tiếng” đã từng được đề cập trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và tiếp tục được ghi nhận sửa đổi nhằm hoàn thiện hơn trong Hiệp định TRIPs. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”, ví dụ như nhãn hiệu Trung Nguyên cho sản phẩm và dịch vụ bán cà phê, Biti’s cho giầy dép, Vietnam Airline cho dịch vụ vận chuyển hàng không… Quy định nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập thông qua thủ tục công nhận của cơ quan nhà nước thẩm quyền chứ không phải thông qua việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu như các loại nhãn hiệu thông thường khác.  Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

9

 Theo Luật Sở hữu trí tuệ, các tiêu chí sau đước xem xét khi tiến hành thủ tục công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng  Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua các hoạt động chủ yếu như: mua bán, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ; việc tiếp cận với nhãn hiệu qua hoạt động quảng cáo của chủ nhãn hiệu.  Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa , dịch vụ mang nhãn hiệu lưu hành,.  Doanh số hoặc số lượng của việc bán hàng hóa,hay cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu  Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu  Uy tín rộng rãi của của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu  Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu  Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng  Giá trị của nhãn hiệu dưới hình thức dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng, góp vốn đầu tư. Nhãn hiệu nổi tiếng khác với các nhãn hiệu thông thường ở danh tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan, vì vậy nó cũng có cơ chế bảo hộ chống lại việc đăng ký và sử dụng bất hơp pháp bởi các chủ thể khác  Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực các giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc đăng ký quốc tế đối với các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình kể cả trong trường hợp nhãn hiệu đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không trùng hoặc không tương tự nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dung về nguồn gôc hàng hóa, dịch vụ, có khả năng ảnh hưởng đến sự phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc làm giảm danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng.  Chủ nhãn hiệu nổi tiếng có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống lại các hành vi như sau: sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, sử dụng dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu đó cho hàng hóa dịch vụ không cùng loại, không tương tự và không lien quan tới hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nếu việc sử 10

dụng đó có khả năng nhầm lẫn về nguôn gốc hàng hóa, dịch vụ, hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu với chủ thể có nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng.

11

2. Những vấn đề cơ bản về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Trong bối cảnh thương mại hiện đại, quyền sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là loại tài sản có giá trị kinh tế to lớn. Chủ sở hữu các đối tượng này có quyền tiến hành các hành vi để trực tiếp sử dụng, khai thác sang tạo trí tuệ của mình hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho chủ thể khác. Hiện nay, việc chuyển giao quyền sở hữu các đối tượng này là rất phổ biến và quan trọng, đặc biệt trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì chuyển giao nhãn hiệu là diễn ra nhiều nhất và cũng chính ở lĩnh vực này xảy ra nhiều tranh chấp nhất trong quá trình chuyển giao. Để hợp pháp hóa việc chuyển giao nhãn hiệu thì việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là điều tất yêú Theo Điều 753, Bộ luật Dân sự quy định: “ Quyền sở hữu công nghiệp đối với sang chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, quyền đối giống cây trồng có thể được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần theo hợp đồng hoặc để thừa kế, kế thừa” Những quy định về chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu cũng dựa trên những quy định về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trong pháp luật Việt Nam. Luật sở hữu trí tuệ quy định hai phương thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cở bản là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Tương tự như vậy đối với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng có hai phương thức là chuyển nhượng nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu(li-xăng nhãn hiệu). Việc chuyển nhượng nhãn hiệu hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản. Sự khác nhau cơ bản giữa chuyển nhượng và chuyển quyền sử dụng là đối với chuyển nhượng nghĩa là chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao vĩnh viễn quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của mình cho người khác, trong khi đó chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là việc cho phép chủ thể khác ( cá nhân hay tổi chức) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu trong phạm vi 12

quyền sử dụng của mình. Nếu chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển nhượng thì chủ sở hữu sẽ thu được một khoản vật chất nhất định nhưng đồng thời quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đó sẽ chấm dứt. Còn đối với hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thì chủ sở hữu cũng vẫn thu được một khoản lợi ích vật chất nhất định và đồng thời bảo lưu được quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Chuyển nhượng nhãn hiệu chỉ phù hợp khi chủ sở hữu không có nhu cầu sử dụng và khai thác, hoặc do thiếu vốn, hoặc không đủ điều kiện để tiếp tục kinh doanh sản xuất hàng hóa hay dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc các lý do khác. Thay vì chuyển giao hết quyền sở hữu công nghiệp chủ sở hữu có thể lựa chọn cách chuyển quyền , và trên thực tế, việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu diễn ra phổ biến hơn. 2.1 Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu 2.1.1 Khái niệm Chủ sở hữu các đối tượng công nghiệp trong đó có nhãn hiệu có quyền năng quan trọng nhất là độc quyền sử dụng đối tượng đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ. Chủ sở hữu có quyền khai thác lợi ích, sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau (đối với nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể tự gắn nhãn hiệu của mình đã đăng ký lên trên bề măt sản phẩm và lưu thông sản phẩm đó), hoặc có thể được thỏa mãn lợi ích vật chất của mình dưới hình thức thực hiện quyền định đoạt các đối tượng sở hưu công nghiệp như thông qua hợp đồng chuyển nhượng hay đơn giản là tuyên bố từ bỏ độc quyền cảu mình. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là sự thỏa thuận giữa hai bên, theo đó một bên (gọi là bên chuyển nhượng) chuyển quyền sở hữu độc quyền sở hữu công nghiệp sang cho bên kia (gọi lầ bên được chuyển giao), còn bên được chuyển giao phải thanh toán tiền cho bên chuyển giao theo thỏa thuận Tương tự như vậy, hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu của mình đối với nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác. Bên được chuyển 13

nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu kể từ thời điểm hợp đồng được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyển và có nghĩa vụ trả phí chuyển nhượng. Nhãn hiệu là tài sản phi vật chất mà ít ai nhận biết được giá trị của chúng nếu không có sự hiểu biết sâu rộng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp. Để định giá đúng và chính xác giá trị của nhãn hiệu không những phải xem xét hệ thống sổ sách rõ ràng mà còn phải thực hiện các nghiên cứu và đánh giá thị trường một cách nghiêm túc, bài bản. Vì vậy khi thự c hiện ký kết hợp đồng các bên chuyển nhượng cần phải nghiên cứu kĩ các điều khoản để việc chuyển nhượng nhãn hiệu diễn ra một cách công bằng, chính xác; đảm bảo việc chuyển nhượng diễn ra đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định qua đó thỏa mãn mục đích của các bên tham gia. 2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu  Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu nói riêng hay hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp nói chung là loại hợp đồng mua bán đặc thù (mua bán quyền tài sản), do vậy phải tuân thủ theo quy định của hợp đồng mua bán nói chung. Tuy nhiên do đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng là nhãn hiệu (độc quyền sở hữu công nghiệp) nên hợp đồng này cũng phải tuân thủ theo các quy định riêng của quyền sở hữu trí tuệ.  Hậu quả pháp lý của hợp đồng: chấm dứt hoàn toàn quyên của chủ văn bằng bảo hộ đối với bên chuyển giao, bên nhận chuyển nhượng sẽ trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ. Mọi quyền và nghĩa vụ đang tồn tại đối với người thứ ba cũng sẽ được chuyển cho bên được chuyển giao, sang cho bên nhận chuyển nhượng với điều kiện điều đó phải được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng.  Chỉ được chuyển nhượng trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ.

14

2.1.3 Chủ thể của hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu được giao kết giữa hai bên là bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng (hay bên nhận chuyển nhượng).  Bên chuyển nhượng là chủ sở hữu nhãn hiệu . Bên chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được pháp luật bảo hộ đang còn trong thời hạn bảo hộ và phải đảm bảo việc chuyển giao không gây tranh chấp với bên thứ ba. Nếu xảy ra tranh chấp do việc chuyển giao gây ra thì bên chuyển nhượng phải chịu trách nhiệm giải quyết. Đặc biệt trong trường hợp quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu của nhiều người thì việc chuyển nhượng phải được sự đồng ý của tất cả đồng sở hữu (sở hữu chung theo phần hay sở hữu chung hợp nhất).  Bên được chuyển nhượng là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng, khai thác nhãn hiệu. Thông qua hợp đồng chuyển nhượng thì bên được chuyển nhượng trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu, và có các quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Đối với việc chuyển nhượng nhãn hiệu, bên được chuyển nhượng phải đáp ứng các yêu cầu nộp đơn mà pháp luật quy định đối với từng loại nhãn hiệu tương ứng. 2.1.4 Đối tƣợng của hợp đồng Về đối tượng của hợp đồng là nhãn hiệu, việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu không được gây nên sự nhầm lẫn về nguồn gốc, đặc tính của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Đối với việc doanh nghiệp có nhãn hiệu trùng với tên thương mại của mình thì việc chuyển nhượng riêng nhãn hiệu có thể bi từ chối đăng ký bởi lẽ việc chuyển nhượng riêng đó có thể khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm mang nhãn hiệu. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu liên kết chỉ được thực hiên đồng thời với tất cả nhãn hiệu lien kết. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng phải đảm bảo duy trì uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang 15

nhãn hiệu nổi tiếng đó. Luật pháp một số quốc gia chỉ cho phép việc chuyển nhượng nhãn hiệu cùng với việc chuyển nhượng cả danh tiếng và cơ sở sản xuất, kinh doanh gắn với nhãn hiệu đó với lập luận rằng việc chỉ chuyển nhượng nhãn hiệu sẽ gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dung. Tuy nhiên xu hướng phổ biến là cho phép tự do chuyển nhượng nhãn hiệu miễn là bên được chuyển nhượng vẫn bảo đảm chất lượng ổn định của sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng nhãn hiệu. 2.1.5 Nội dung của hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải có các nội dung chủ yếu sau:  Tên (họ tên) và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng.  Căn cứ chuyển nhượng: văn bằng bảo hộ mà bên chuyển nhượng là chủ văn bằng, ở đây văn bằng bảo hộ là giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.  Đối tượng chuyển nhượng: nhãn hiệu. Các bên có thể thỏa thuận đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng là toàn bộ quyền sở hữu đối với toàn bộ khối lượng bảo hộ dối tượng sở hữu công nghiệp hoặc một phần khối lượng bảo hộ.. Các bên có thể thỏa thuận đồng thời nhiều đối tượng có lien quan đến nhau, ví dụ như chuyển đổi kiểu dáng công nghiệp cùng với nhãn hiệu hàng hóa gắn trên sản phẩm được sản xuất trên nhãn hiệu tương ứng.  Giá chuyển nhượng: giá cả chuyển nhượng được các bên thỏa thuận. Trong trường hợp bên chuyển nhượng là tổ chức nhà nước hoặc có vốn do nhà nước góp lien doanh thì giá chuyển nhượng không thấp hơn mức tối thiểu. Trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng là tổ chức nhà nước hoặc có vốn do nhà nước góp liên doanh thì giá cả chuyển nhượng không được cao hơn mức tối đa. Các mức tối đa và tổi thiểu này do Bộ Tài chính cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ ấn định. 16

 Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên:  Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng: Đăng ký hợp đồng, trừ trường hợp các bên thỏa thuận rằng việc đăng ký do bên nhận chuyển nhượng đảm nhiệm, nộp thuế chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật về thuế, giải quyết các tranh chấp với người thứ ba nếu việc chuyển nhượng gây nên tranh chấp đó.  Nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng: Đăng ký hợp đồng nếu có thỏa thuận, trả tiền chuyển nhượng của bên chuyển nhượng theo mức và theo cách thức do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp chuyển nhượng không đền bù (tặng cho quyển sở hữu công nghiệp). Với hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu: bên nhận chuyển nhượng phải chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa mang nhãn hiệu được chuyển nhượng nếu điều đó là cần thiết và phải đảm bảo chất lượng hàng hóa như hàng hóa do bên chuyển nhượng sản xuất. Hơn nữa, bên nhận chuyển nhượng phải cam kết bảo đảm hàng sản xuất ra có gắn nhãn hiệu sẽ có chất lượng không kém với chất lượng của hàng hóa gắn nhãn hiệu trước đó. Cam kết này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho những người tiêu dung đang đặt niềm tin vào nhãn hiệu đó.  Người thứ ba trong hợp đồng chuyển nhượng có thể là các chủ thể đã được cấp li-xăng đối với nhãn hiệu đó. Khi đó hai bên có thể thỏa thuận rằng các quyền và nghĩa vụ của hợp đồng li-xăng đang tồn tại sẽ được chuyển giao cho sang cho bên nhận chuyển nhượng. Khi đó hợp đồng li-xăng vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến hết hạn. Ngoài ra hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu còn bao gồm điều kiện sửa đổi, chấm dứt, vô hiệu hợp đồng; cách thức giải quyết khiếu nại tranh chấp; ngày và nơi ký kết hợp đồng; chữ ký của các bên hoặc đại diện có thẩm quyền của các bên kèm theo họ tên, chức vụ của người ký và xác nhận chữ ký. 2.1.6 Hình thức của hợp đồng

17

Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu phải được lập dưới hình thức bằng văn bản. Mọi thỏa thuận miệng, công văn, thư từ, điện báo đều không được coi là hợp đồng chuyển nhượng và không có giá trị pháp lý. 2.1.7 Đăng ký hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu Để hoàn tất việc chuyển nhượng nhãn hiệu các bên phải tiến hành thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu theo quy định của pháp luật tại Cục sở hữu trí tuệ mới có hiệu lực. Yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký, thủ thục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định, khi các bên muốn thay đổi hay bổ sung nội dung hợp đồng thì thỏa thuận thay đổi hay bổ sung đó cũng phải được đăng ký. Hồ sở đề nghị đăng ký bao gồm: tờ khai đề nghị đăng ký hợp đồng chuyển nhượng (làm 2 bản theo mẫu của Cục sở hữu trí tuệ); bản gốc hoặc bản sao hợp đồng ( nếu hợp đồng làm bằng ngôn ngữ khác tiếng việt phải kèm theo ban dịch hợp đồng); bản gốc văn bằng bảo hô nhãn hiệu; văn bản đồng ý chuyển nhượng nhãn hiệu( nếu quyền sở hữu nhãn hiệu là sở hữu chung); giấy phép kinh doanh của bên nhận chuyển nhượng; giấy ủy quyền(nếu nộp hồ sơ thông qua đại diện); quyết định phê duyệt hợp đồng của Bộ trưởng bộ khoa học công nghệ; chứng từ nộp lệ phí. Thời gian ghi nhận chuyển nhượng: 02 tháng 2.2 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu 2.2.1 Khái niệm Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu là thỏa thuận về việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải được xác lập thông qua hình thức hợp đồng văn bản, thường được gọi là hợp đồng li-xăng nhãn hiệu. Theo nghĩa tiếng Anh, li-xăng được dịch ra bởi từ “licence” có nghĩa là sự cho phép. Vì vậy tổ chức, cá nhân muốn sử dụng nhãn hiệu đang được bảo hộ phải được chủ sở hữu cho phép sử dụng dưới hình thức hợp đồng sử dụng nhãn hiệu. Thông qua hợp đồng này, 18

những chủ sở hữu khác không phải là chủ sở hữu của nhãn hiệu cũng có thể sử dụng, khai thác một cách hợp pháp nhãn hiệu đó trong phạm vi và thời hạn các bên thỏa thuận. Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu không những đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, mặt khác có thể giúp họ nhanh chóng thâm nhập thị trường trong nước hoặc nước ngoài thông qua bên sử dụng nhãn hiệu nếu doanh nghiệp đó không thể thâm nhập vào thị trường này do các điều kiện về thị trường, thuế, chi phí vận chuyển hoặc do quy định của pháp luât. Việc cho phép chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu giúp làm tăng sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường dồng thời làm tăng danh tiếng thông qua sự công nhận nhãn hiệu sản phẩm. Bên nhận quyền sử dụng có thể thu được những lợi ích vật chất lớn từ việc chuyển quyền sử dụng, không cần chi phí cho việc đầu tư, nghiên cứu và phát triển sang tạo trí tuệ đó, tránh được các rủi ro và dễ dàng có được một vị trí trên thương trường. Đây cũng là cách thức cơ bản để các doanh nghiệp nội địa được sử dụng nhãn hiệu của các công ty nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển được nhận li-xăng từ các nước phát triển. 2.2.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu  Là hợp đồng chuyển quyền sử dụng, nhưng có tính chất khác với hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản thông thường như hợp đồng thuê tài sản. Trong hợp đồng thuê tài sản, bên cho thuê được chuyển giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn và bên thuê được sử dụng một cách tuyệt đối, bên cho thuê không có khả năng sử dụng, khai thác tài sản này.Còn đối với hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp,bên chuyền quyền có thể vừa khai thác đối tượng này đồng thời cho người khác cùng sử dụng.  Quyền sử dụng được chuyển giao bị giới hạn về không gian và thời gian Thời hạn của hợp đồng có thể do các bên thỏa thuận nhưng luôn bị giới hạn bởi thời hạn bảo hộ nhãn hiệu. Trong hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung luôn có điều khoản về lãnh thổ, nhằm xác định giới hạn về 19

mặt không gian bảo hộ trong đó bên được chuyển quyền được phép tiến hành việc sử dụng nhãn hiệu. 2.2.3 Chủ thể của hợp đồng  Bên chuyển quyền: là chủ sở hữu nhãn hiệu – người được cơ quan nhà nước cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc được chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp nhãn hiệu đó. Bên chuyển quyền cũng có thể là người được chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng độc quyền nhãn hiệu và được phép chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba.  Bên được chuyển quyền là tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu. thông qua hợp đồng, bên được chuyển quyền được phép sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi, thời hạn mà các bên thỏa thuận, đồng thời có nghĩa vụ trả phí nếu thỏa thuận Các bên trong hợp đồng có thể ủy quyền cho cá tổ chức dịch vụ đại diện thay mặt mình tham gia giao kết và thực hiện các thủ tục liên quan đến việc đăng ký hợp đồng sử dụng nhãn hiệu. Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu. 2.2.4 Đối tƣợng của hợp đồng Đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng nhãn hiệu tuy nhiên ngoại trừ nhãn hiệu tập thể không thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức tập thể đó. 2.2.5 Nội dung của hợp đồng Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải có các nội dung chủ yếu sau: tên và địa chỉ đầy đủ của các bên, căn cứ chuyển giao quyền sử dụng, dạng hợp đồng, phạm vị chuyển giao (giớ hạn quyền sử dụng, 20

giới hạn lãnh thổ), thời hạn hợp đồng, giá chuyển giao, quyền và nghĩa vụ của các bên.  Đối tượng của hợp đồng: quyền sử dụng nhãn hiệu Các bên có thể thỏa thuận bên được chuyển quyền được sử dụng nhãn hiệu cho toàn bộ hoặc chỉ một số hàng hóa hoặc dịch vụ được đăng ký kèm theo…Các bên có thể thỏa thuận về giới hạn hành vi sử dụng mà bên được chuyển quyền được phép thực hiện: được thực thiên một số hành vi sử dụng thuộc độc quyền của bên giao hay được được thực hiện tất cả các hành vi sử dụng..  Căn cứ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Hợp đồng li-xăng chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý nếu bên chuyển quyền có tư cách chuyển quyền sử dụng. Nếu bên chuyển quyền là chủ sở hữu thi hợp đồng phải xác định rõ văn bằng bảo hộ thuộc sở hữu của bên chuyển quyền (tên văn bằng bảo hộ, số văn bằng, ngày cấp, thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ).  Phạm vi chuyển quyền sử dụng Điều khoản về phạm vi chuyển giao chỉ rõ: điều kiện giới hạn quyền sử dụng của bên được chuyển quyền (dạng sử dụng độc quyền hay không độc quyền); phạm vi đối tượng mà bên được chuyển quyền được sử dụng (toàn bộ hay một phần khối lượng bảo hộ được xác lập thep văn bằng bảo hộ); giới hạn hành vi sử dụng của bên được chuyển quyền (được thực hiện toàn bô hay một số hành vi sử dụng).  Giới hạn lãnh thổ: Điều khoản về giới hạn lãnh thổ xác định phạm vi về mặt không gian trong đó bên được chuyển quyền được phép tiến hành việc sử dụng nhãn hiệu. Các bên có thể thỏa thuận bên được chuyển quyền được phép sử dụng nhãn hiệu trong một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hoặc giới hạn trong một không gian nhất định. 21

 Thời hạn hợp đồng: Thời hạn hợp đồng phải thuốc thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hoặc nếu hợp đồng sử dụng nhãn hiệu thứ cấp thì thời hạn của nó phải trong thời hạn của hợp đồng cấp trên.  Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng  Nghĩa vụ của bên chuyển quyền: Chỉ được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc độc quyền trong phạm vi được pháp luật bảo hộ và trong thời hạn bảo hộ. Bảo đảm việc chuyển quyền sử dụng không gây tranh chấp với bên thứ ba, nếu tranh chấp xảy ra phải giải quyết vì lợi ích của bên được chuyển quyền. Bên chuyển quyền không được đưa ra những điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền. Ví dụ như hạn chế bên được chuyển quyền xuất khẩu sản phẩm mang nhãn hiệu sang các vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền sở hữu nhãn hiệu tương ứng, hoặc có độc quyền nhập khẩu hàng hóa đó; buộc bên được chuyển quyền phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các linh kiện, nguyên liệu hoặc thiết bị của bên chuyển quyền hoặc bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng sản phẩm do bên được chuyển quyền sản xuất hoặc cung cấp; cấm bên được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của vă bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc quyền chuyển giao của bên chuyển quyền. Các điều khoản như vậy nếu tồn tại thì hợp đồng mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Đăng ký hợp đồng nếu bên được chuyển quyền không có nghĩa vụ này. Nộp thuế chuyển quyền sử dụng thep pháp luật về thuế.  Quyền của bên chuyển quyền: Nhận phí chuyển giao theo mức và cách do các bên thỏa thuận.’ 22

Có quyền hạn chế bên được chuyển quyền không chuyển quyền sử dụng cho bên thứ ba, trừ hợp đồng sử dụng độc quyền. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thì bên chuyên giao có quyền kiểm tra chất lượng hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhận để đảm bảo hàng hóa sản xuất co chất lượng như hàng hóa do mình sản xuất. Bên giao thực hiện quyền này nhằm bảo vệ uy tín của nhãn hiệu ngăn chặn bên được chuyển giao lợi dụng uy tín của nhãn hiệu để bán hàng hóa kém chất lượng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cho chính chủ sở hữu nhãn hiệu  Nghĩa vụ của bên được chuyển quyền Đăng ký hợp đồng (nếu bên chuyển quyền không có nghĩa vụ này); trả phí lixăng theo mức và phương tiên thanh toán đã thỏa thuận; ghi chỉ dẫn trên bảo bì sản phẩm về việc được sản xuất theo li-xăng do bên chuyển quyền cấp.  Quyền của bên được chuyển quyền: Sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi, thời hạn và điều kiện ghi trong hợp đồng.  Giá chuyển giao quyền sử dụng và phương thức thanh toán  Sửa đổi, đình chỉ , vô hiệu hợp đồng Hợp đồng chuyển quyền mặc nhiên bị đình chỉ nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên chuyển quyền bị đình chỉ hoặc xảy ra sự kiện bất khả kháng làm cho hợp đồng không thể được thực hiện. Hợp đồng mặc nhiên bị vô hiệu nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên chuyển quyền bị huy bỏ. Giải quyết tranh chấp hợp đồng Các bên thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp hợp đồng theo phương thức tự thương lượng, thông qua trọng tài hoặc giải quyết ở tòa án hoặc kết hợp các phương thức trên.

23

Trong chiến lược giao kết sử dụng nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu của các đối tác nước ngoài thì các đối tác Việt Nam cần chú ý xem xét các yêu tố quan trọng như sau: nguy cơ phải chia sẻ thị trường với các đối thủ cạnh tranh khác trong trường hợp nhận li-xăng không độc quyền, tác động đến doanh thu và lợi nhuận kỳ vọng của dòng hàng hóa nhập khẩu song song, sự gia tăng giá trị nhãn hiệu cho đối tác nước ngoài từ các nỗ lực tiếp thị, quảng bá của đối tác Việt Nam. 2.2.6 Hình thức của hợp đồng Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu phải được lập bằng văn bản với thỏa thuận của các bên, mọi hình thức giao kết khác đều không có giá trị pháp lý. 2.2.7 Thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có hiệu lực theo thỏa thuận của các bên nhưng chỉ có giái trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ và sẽ mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao bị chấm dứt. Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu gồm các nội dung chính sau:  tên đây đủ và địa chỉ của bên giao li-xăng và bên nhận li-xăng  thông tin chi tiết về nhãn hiệu được chuyển giao  phạm vi li-xăng trong đó ghi rõ dạng hợp đồng là độc quyền hay không độc quyền  đối tượng của hợp đồng phạm vi lãnh thổ của hợp đồng 24

 thời hạn của hợp đồng Mọi thay đổi như sửa đổi, bổ sung , chấm dứt, gia hạn hiệu lực đối với hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đã được đăng ký phải được các bên ký kết bằng văn bản dưới hình thức hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp sửa đổi, bổ sung và phải đăng ký như đối với hợp đồng chính mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba; việc dịch chuyển của mỗi bên theo hợp đồng đã ký cho bên thứ ba cũng phải được đăng ký. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Giao kết hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam 1.1. Hợp đồng dân sự 1.1.1. Khái niệm  Khái niệm hợp đồng dân sự Theo Bộ luật Dân Sự 2005, Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dân sự chính là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Theo nghĩa khách quan (rộng): hợp đồng là 1 chế định pháp luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trên thỏa thuận, làm phát sinh một hậu quả pháp lý. Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những 25

quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ. Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể. C.Mác nói rằng: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó" Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành. Quan hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự. Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước. Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng nhưng sự "tự do" ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Nếu để các bên tự do vô hạn thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các "quan hệ pháp luật tư", các việc dân sự... không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào những quan hệ dân luật".

Khi ý chí của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước thì hợp đồng dân sự có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết. Nghĩa là, từ lúc đó, các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lí nhất định. Sự "can 26

thiệp" của nhà nước không những là việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thoả thuận. Theo nội dung đã cam kết, dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện đối với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự. Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau. Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là do các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Theo phương diện này, hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát. Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì "hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng" (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991). Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũng rơi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, BLDS đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ Luật Dân Sự 2005). Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội 27

được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để thoả mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự. Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó. Các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng. Nghĩa là, trong các thời kì đó, ở Việt Nam chưa có “luật riêng” về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau. Các quy định của hợp đồng không nhiều, chủ yếu quy định về mua bán cho vay, ngoài ra, các nguyên tắc chung về giao kết thực hiện hợp đồng được quy định xen kẽ trong các quy định hình sự. Hành vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm pháp luật, cho nên người vi phạm phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng xét về nội dung kinh tế sẽ khó phân biệt giữa một hợp đồng dân sự với một hợp đồng kinh tế nếu nội dung của chúng đều là sự mua bán và trao đổi các lợi ích vật chất.

Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, các thành phần kinh tế ngày một đa dạng và phong phú làm cho các quan hệ kinh tế cũng thay đổi theo. Hợp đồng thương mại trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyên tắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau càng làm mờ nhạt ranh giới giữa nó với hợp đồng dân sự. Có những quy định của pháp luật là cơ sở pháp lí để áp dụng chung cho cả hai loại hợp đồng này mặc, dù chúng thuộc đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật khác nhau.

Tuy nhiên, yêu cầu của quá trình tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các tranh chấp từ hợp đồng, đòi hỏi cần phải có sự phân biệt rạch ròi giữa một hợp đồng thương mại với một hợp đồng dân sự. Có thể nói rằng hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự như một cặp song sinh. Vì vậy, trong thực tế có rất nhiều hợp đồng không thể phân biệt được là hợp đồng thương mại hay hợp đồng dân sự. Để có thể phân biệt được hai loại hợp đồng này phải xác định 28

được cụ thể mục đích của từng loại hợp đồng. Nếu các bên chủ thể (hoặc ít nhất có một bên) tham gia hợp đồng với mục đích thoả mãn nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng thì hợp đồng đó được xác định là hợp đồng dân sự. Vì vậy, chỉ được coi là hợp đồng thương mại khi các bên chủ thể tham gia đều nhằm mục đích kinh doanh. Tuy nhiên, mục đích tham gia cũng chỉ là một cơ sở mang tính tương đối trong việc phân biệt giữa hai loại hợp đồng vì rằng có những hợp đồng cả hai bên đều mang mục đích kinh doanh nhưng không thể coi đó là hợp đồng thương mại được nếu có một bên chủ thể là cá nhân không có đăng kí kinh doanh.  Đặc điểm Theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005 định nghĩa về hợp đồng dân sự thì hợp đồng dân sự có hai nét cơ bản đó là : Sự thỏa thuận giữa các bên và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý. Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý đơn phương, song phương hay đa phương. Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…). Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

29

 Hình thức của hợp đồng dân sự Những điều khoản mà các bên đã cam kết thoả thuận phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định. Hay nói cách khác, hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định. Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Tại Điều 401, BLDS đã quy định: 1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. 2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó. Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 Nội dung hợp đồng dân sự o Đối tượng của hợp đồng o Số lượng, chất lượng o Giá, phương thức thanh toán o Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng o Quyền, nghĩa vụ các bên o Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng o Phạt vi phạm hợp đồng o Các nội dung khác

30

Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà ở hợp đồng này các bên không cần thoả thuận nhưng ở một hợp đồng khác, các bên lại buộc phải thoả thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết. Mặt khác, ngoài những nội dung cụ thể này, các bên còn có thể thoả thuận để xác định với nhau thêm một số nội dung khác. Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau: a. Điều khoản cơ bản Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng. Đó là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng. Nếu không thoả thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được. Điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định. Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm... Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không thoả thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng. Chẳng hạn, điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua bán tài sản. Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết. b. Điều khoản thông thường Là những điều khoản được pháp luật quy định trước. Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thoả thuận những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng. Để giảm bớt những công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng, các bên có thể không cần thoả thuận và không cần ghi 31

vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên vẫn phải thực hiện những điều khoản đó. Vì vậy, nếu có tranh chấp về những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Ví dụ: Địa điểm giao tài sản động sản (đối tượng của hợp đồng mua bán) là tại nơi cư trú của người mua nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thoả thuận về địa điểm giao tài sản. c. Điều khoản tùy nghi Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các điều khoản này được gọi là điều khoản tùy nghi. Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia. Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy nghi. Chẳng hạn, địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điều khoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thoả thuận cụ thể về nơi giao vật. Ngược lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thoả thuận mà mặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật. Mặt khác, địa điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thoả 32

thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao vật. 1.1.2. Giao kết Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ dân sự. a. Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự Theo quy định tại Điều 390 BLDS, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: - Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thoả mãn được các nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần, BLDS cho phép mọi chủ thể được quyền "tự do giao kết hợp đồng". Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì một hợp đồng dân sự nào, nếu họ muốn mà không ai có quyền ngăn cản. Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết những hợp đồng dân sự đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như những hợp đồng dân sự khác dù rằng pháp luật chưa quy định. Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằm trong một khuôn khổ nhất định. Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội. Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phải không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nằm trong mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi một chủ thể vừa có quyền "tự do giao kết hợp đồng" vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi một chủ thể trong việc giao kết hợp đồng 33

dân sự nói riêng, cũng như đối với mọi hành vi nói chung của họ. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không cho phép các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng dân sự thành phương tiện bóc lột. - Các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng. Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ dân sự. Quy luật giá trị đòi hỏi các bên khi thiết lập các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau. Không một ai được lấy lí do khác biệt về thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế v.v. để làm biến dạng các quan hệ dân sự. Mặt khác, chỉ khi nào các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết hợp đồng thì ý chí tự nguyện của các bên mới thật sự được bảo đảm. Vì vậy, theo nguyên tắc trên, những hợp đồng được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽ không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, đánh giá một hợp đồng có phải là ý chí tự nguyện của các bên hay không là một công việc tương đối phức tạp và khó khăn trong thực tế. Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia. Vì thế, muốn xem xét các chủ thể có tự nguyện trong giao kết hợp đồng hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: Ý chí và sự bảy tỏ ý chí. Như chúng ta đã biết, ý chí là mong muốn chủ quan bên trong của mỗi một chủ thể. Nó phải được bày tỏ ra bên ngoài thông qua một hình thức nhất định. Ý chí và sự bày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề, chúng luôn có quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít với nhau.

Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhất giữa ý muốn chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí đó ra bên ngoài. Vì vậy, để xác định một hợp đồng dân sự có tuân theo nguyên tắc tự nguyện hay không cần phải dựa vào sự thống nhất ý chí của 34

người giao kết hợp đồng và sự thể hiện (bày tỏ) ý chí đó trong nội dung của hợp đồng mà người đó đã giao kết. Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết thì việc giao kết đó mới được coi là tự nguyện. Như vậy, tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối hoặc đe dọa đều là những hợp đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết. Và vì thế, nó sẽ bị coi là vô hiệu (xem thêm Điều 131, Điều 132 BLDS). b. Trình tự giao kết hợp đồng Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận trong việc cùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Thực chất, đó là quá trình mà hai bên "mặc cả" về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng. Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn: * Đề nghị giao kết hợp đồng Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định. Chỉ có như vậy, phía đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một hợp đồng dân sự. Để người mà mình muốn giao kết hợp đồng với họ có thể hình dung được hợp đồng đó như thế nào, người đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng. Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực 35

hiện bằng nhiều cách khác nhau. Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi, thoả thuận hoặc có thể thông qua điện thoại v.v.. Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là một khoảng thời gian do hai bên thoả thuận ấn định. Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có thể được thực hiện bằng việc chuyển công văn, giấy tờ qua đường bưu điện. Trong những trường hợp này, thời hạn trả lời là khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định. Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, Điều 390 BLDS đã quy định: "Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu ró thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh". Như vậy, lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng ít nhiều đã có tính chất ràng buộc đối với người đề nghị. Tuy nhiên, bên đề nghị vẫn có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau: - Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị. - Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện đó đã đến. Ngoài ra, đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận. * Chấp nhận giao kết hợp đồng Là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đề nghị. Về nguyên tắc, bên được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không. Trong những trường 36

hợp, cần phải có thời gian để bên được đề nghị cân nhắc, suy nghĩ mà các bên đã ấn định thời hạn trả lời thì bên được đề nghị phải trả lời trong thời hạn đó. Nếu sau thời hạn nói trên, bên được đề nghị mới trả lời về việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì lời chấp nhận đó được coi như một lời đề nghị mới của bên chậm trả lời. Nếu việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì ngày gửi đi theo dấu của bưu điện được coi là thời điểm trả lời. Căn cứ vào thời điểm đó để bên đã đề nghị xác định việc trả lời có chậm hay không so với thời hạn đã ấn định. Người được đề nghị có thể chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị, cũng có thể chỉ chấp nhận một phần trong nội dung đó hoặc có thể chỉ chấp nhận việc giao kết hợp đồng nhưng không đồng ý với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra. Nghĩa là trong những trường hợp này, người được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà người đề nghị đã đưa ra. Vì vậy, họ sẽ trở thành người đề nghị mới và người đã đề nghị trước đó lại trở thành người được đề nghị. Người đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung đã đề nghị. Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống nhất thoả thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến chính thức giao kết hợp đồng. 1.1.3. Thực hiện Thực hiện hợp đồng dân sự là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền dân sự tương ứng của bên kia. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự, các bên phải tuân theo các nguyên tắc như thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác. Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau. Không được xâm phạm đến công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác. 37

o Nội dung thực hiện hợp đồng dân sự Khi thực hiện hợp đồng dân sự ngoài việc tuân thủ các quy tắc đã được quy định thì việc thực hiện hợp đồng còn phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định đối với từng loại hợp đồng cụ thể như sau: Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thoả thuận; chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý. Đối với hợp đồng song vụ: Trong hợp đồng song vụ, khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, Trong trường hợp các bên không thoả thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước. Trong hợp đồng song vụ, khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. o Sửa đổi hợp đồng Sửa đổi hợp đồng dân sự là việc các bên đã tham gia giao kết hợp đồng bằng ý chí tự nguyện của mình thỏa thuận với nhau để phủ nhận (làm thay đổi) một số điều khoản trong nội dung của hợp đồng đã giao kết. Sau khi hợp đồng đã được sửa đổi, các bên thực hiện hợp đồng theo những phần không bị sửa đổi trong nội dung của hợp đồng trước đó cùng với những nội dung mới được sửa đổi đồng thời cùng nhau giải quyết những hậu quả khác của việc sửa đổi hợp đồng. Điều 423 Bộ luật dân sự 2005 quy định về việc sửa đổi hợp đồng dân sự như sau: 38

1. Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó. o Chấm dứt hợp đồng Hợp đồng chấm dứt khi các bên đã hoàn thành hợp đồng. Khi các bên tham gia hợp đồng đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phần mình và do vậy mỗi bên đều đã đáp ứng được quyền dân sự của mình (mục đích khi giao kết hợp đồng dân sự đã đạt được) thì hợp đồng coi như đã hoàn thành Chấm dứt theo thoả thuận của các bên. Trong những trường hợp bên có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện hợp đồng hoặc nếu hợp đồng được thực hiện sẽ gây ra tổn thất lớn về vật chất của một hoặc hai bên thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng đã giao kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận nói trên. Và chủ thể giao kết hợp đồng không tồn tại tại thời điểm đó. Trường hợp này hợp đồng không có một bên hoặc nhiều bên để thực hiện. Ví dụ: Người giao kết hợp đồng chết, tổ chức giải tán, chấm dứt hoạt động…

1.2. Hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu 1.2.1. Hợp đồng chuyển nhƣợng nhãn hiệu Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng quyền này phải thực hiện bởi hình thức hợp đồng bằng văn bản gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp. 39

Có một số hạn chế trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp như: Chỉ được chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp trong phạm vi được bảo hộ. Quyền sử dụng chỉ dẫn điạ lý không được chuyển nhượng. Quyền sở hữu tên thương mại chỉ được chuyển nhượng kèm theo toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh với tên thương mại đó. Quyền sở hữu nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng nếu không gây sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó. Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển giao cho tổ chức cá nhân đáp ứng điều kiện đối vói người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó (Điều 138, Điều139 Luật SHTT). Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu hàng hóa là văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu của mình đối với nhãn hiệu hàng hóa đó cho tổ chức, cá nhân khác. Nhãn hiệu hàng hóa là tài sản phi vật chất mà ít ai nhận biết được giá trị của chúng nếu không có sự hiểu biết sâu rộng về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp. Để định giá đúng và chính xác giá trị nhãn hiệu, không những phải xem xét hệ thống sổ sách rõ ràng và minh bạch, mà còn phải thực hiện các nghiên cứu và đánh giá thị trường một cách nghiêm túc và bài bản. Chính vì vậy, khi thực hiện ký kết hợp đồng các bên chuyển nhượng cần nghiên cứu kĩ các điều khoản. Chuyển nhượng nhãn hiệu được diễn ra một cách công bằng, chính xác giá trị thực có của nhãn hiệu; đảm bảo việc chuyển nhượng diễn ra đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định qua đó thỏa mãn mục đích của các bên tham gia.

Để hoàn tất việc chuyển nhượng thương hiệu, nhãn hiệu, các bên phải tiến hành thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp.  Hình thức hợp đồng 40

Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải thực hiện dưới hình thức hợp đồng văn bản, gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp. Việc chuyển nhượng với những nội dung trong hợp đồng được chuyển nhượng như sau: Bao gồm tên và địa chỉ đầy đủ của các bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, căn cứ chuyển nhượng, giá chuyển nhượng, quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng theo quy định. Hợp đồng cho việc sử dụng đối tượng nhãn hiệu: Hợp đồng độc quyền là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển giao được độc quyền sử dụng đối tượng nhãn hiệu, bên chuyển giao quyền không đươc ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng nhãn hiệu với bất kỳ bên nào,và chỉ được sử dụng đối tượng nhãn hiệu đó nếu được sự cho phép của bên được chuyển nhượng.

Hợp đồng không độc quyền là hợp đồng mà theo đó phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển giao quyền vẫn có quyền sử dụng đối tượng nhãn hiệu, có quyền ký kết hợp đồng sử dụng đối tượng nhãn hiệu không độc quyền với người khác.  Nội dung Hợp đồng chuyển nhượng phải bao gồm các nội dung chính sau đây: 1. Tên đầy đủ và địa chỉ của Bên chuyển nhượng và Bên nhận chuyển nhượng 2. Thông tin chi tiết về đối tượng được chuyển nhượng 3. Giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán 4. Quyền và nghĩa vụ của các bên 5. Điều kiện sửa đổi, chấm dứt, vô hiệu hợp đồng 6. Cách thức giải quyết khiếu nại, tranh chấp 7. Ngày và nơi ký kết hợp đồng 8. Chữ ký của các bên hoặc của người đại diệncó thẩm quyền của các bên kèm theo họ tên, chức vụ của người ký và xác nhận chữ ký. 41

Lưu ý (i) Đối tượng SHCN được chuyển nhượng phải đang trong thời hạn bảo hộ; (ii) Hợp đồng chuyển nhượng phải được đăng ký tại Cục sở hữu công nghiệp để có hiệu lực pháp luật; (iii) Các bên tham gia Hợp đồng phải đóng dấu vào hợp đồng. Nếu không có con dấu thì phải được cơ quan Công chứng Nhà nước chứng thực. 1.2.2. Hợp đồng chuyển quyền nhãn hiệu 1.2.2.1. Khái niệm Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.  Hợp đồng li-xăng o Khái niệm Li-xăng - Chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN (Li-xăng) là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng sở hữu công nghiệp ( Bên chuyển quyền sử dụng – thường được gọi là bên giao) cho phép tổ chức cá nhân tổ chức khác ( Bên nhận quyền sử dụng - thường được gọi là Bên nhận) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó. “Đối tượng sở hữu công nghiệp” có thể là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn. Người có độc quyền sử dụng đối tượng SNCN là chủ sở hữu công nghiệp ( tức là chủ văn bằng bảo hộ đối với đối tượng sở hữu công nghiệp đó); hoặc là bên nhận li-xăng độc quyền ( tức là người được chủ SHCN chuyển giao độc quyền đối tượng sở hữu công nghiệp) “Văn bằng bảo hộ”có thể là Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải

42

pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. o Lí do li-xăng Chủ sở hữu công nghiệp có độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong thời hạn bảo hộ ( thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ) trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tổ chức, cá nhân khác muốn sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đang trong thời hạn bảo hộ nhằm mục đích thương mại phải được chủ sở hữu công nghiệp nghiệp cho phép( chuyển quyền sử dụng). Thông thường dưới hình thức ký kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng SHCN. Chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN là một hình thức khai thác quyền sở hữu công nghiệp, qua đó chủ sở hữu công nghiệp thu về một khoản tiền (phí chuyển quyền sử dụng) hoặc lợi ích vật chất khác mà không phải trực tiếp sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Hình thức này đặc biệt thích hợp đối với chủ sở hữu công nghiệp không hoạt động kinh doanh hoặc không có năng lực kinh doanh. Chuyển quyền sử dụng còn góp phần phổ biến công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu tư nghiên cứu – triển khai, hạn chế độc quyền và thúc đẩy việc tạo ra công nghệ mới. Vì vậy có thể nói rằng chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN đem lại lợi ích cho cả chủ sở hữu công nghiệp, người được chuyển quyền sử dụng và toàn xã hội nói chung. o Đăng ký hợp đồng Li-xăng Đăng ký hợp đồng không phải là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Tuy nhiên, đăng ký hợp đồng là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực đối với bên thứ ba. o Hình thức của hợp đồng Li-xăng - Hợp đồng chuyển quyền sử dụng phải được lập bằng văn bản, thể hiện đầy đủ thỏa thuận của hai bên. Mọi thỏa thuận bằng miệng, công văn, thư từ, điện báo ... đều không có giá trị pháp lý. - Hợp đồng chuyển quyền sử dụng có thể là một phần của hợp đồng khác (ví dụ: hợp đồng chuyển giao công nghệ, mua bán thiết bị…) 43

o Nội dung hợp đồng Li-xăng Hợp đồng chuyển quyền sử dụng phải có những nội dung chủ yếu sau đây: + Các bên ký kết hợp đồng + Căn cứ chuyển quyền sử dụng + Dạng hợp đồng (dạng chuyển quyền sử dụng) + Phạm vi chuyển quyền sử dụng + Thời hạn chuyển quyền sử dụng + Giá chuyển quyền sử dụng và phương thức thanh toán + Quyền và nghĩa vụ của mỗi Bên + Chữ ký của Người đại diện cho các Bên Điều khoản về các Bên ký kết hợp đồng phải nêu rõ tên và địa chỉ đầy đủ của Bên giao và Bên nhận, tên và chức vụ của người đại diện cho mỗi Bên (nếu có). Điều khoản về căn cứ chuyển quyền sử dụng phải khẳng định tư cách chuyển quyền sử dụng của Bên giao, bao gồm: + Tên, số, ngày cấp và thời hạn hiệu lực của Văn bằng bảo hộ thuộc quyền sở hữu của Bên giao; hoặc + Tên, ngày ký, số đăng ký (nếu có) và thời hạn hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng cấp trên- quyền sử dụng được cấp cho Bên giao và Bên giao được phép chuyển quyền sử dụng thứ cấp (đối với chuyển quyền sử dụng thứ cấp). Điều khoản về dạng hợp đồng phải chỉ rõ hợp đồng chuyển quyền sử dụng là hợp đồng độc quyền hay không độc quyền; có phải là hợp đồng thứ cấp hay không. Điều khoản về phạm vi chuyển quyền sử dụng phải chỉ ra các điều kiện giới hạn quyền sử dụng của Bên nhận, trong đó bao gồm: + Đối tượng được chuyển quyền sử dụng: Phạm vi đối tượng SHCN mà Bên nhận được sử dụng: một phần hay toàn bộ khối lượng bảo hộ được xác lập theo Văn bằng bảo hộ; Giới hạn hành vi sử dụng mà Bên nhận được phép thực hiện (tất cả hay một số hành vi sử dụng thuộc quyền của Bên giao); + Lãnh thổ chuyển quyền sử dụng: 44

Phạm vi lãnh thổ mà tại đó Bên nhận được phép sử dụng đối tượng SHCN (một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hoặc lãnh thổ chuyển quyền sử dụng cấp trên). Điều khoản về thời hạn chuyển quyền sử dụng phải xác định khoảng thời gian mà Bên nhận được phép sử dụng đối tượng SHCN (thuộc thời hạn hiệu lực của Văn bằng bảo hộ, hoặc thời hạn hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng cấp trên). Điều khoản về giá chuyển quyền sử dụng và phương thức thanh toán: + Điều khoản về giá chuyển quyền sử dụng phải quy định khoản tiền mà Bên nhận phải thanh toán cho Bên giao để được sử dụng đối tượng SHCN theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng. Giá do các Bên thỏa thuận dựa trên cơ sở ước tính hiệu quả kinh tế (mà Bên nhận có thể thu được từ việc sử dụng đối tượng SHCN) và phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan. + Đối với chuyển quyền sử dụng miễn phí, hợp đồng cũng phải ghi rõ điều đó. + Điều khoản về phương thức thanh toán phải quy định thời hạn, phương tiện, cách thức thanh toán. Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của mỗi Bên cần thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ của mỗi Bên đối với nhau với điều kiện không trái với các quy định của pháp luật. Điều khoản về quyền và nghĩ vụ của mỗi Bên có thể bao gồm các nội dung sau đây: + Nghĩa vụ của Bên giao: (i) Đăng ký hợp đồng (nếu có thỏa thuận); (ii) Nộp thuế chuyển quyền sử dụng theo pháp luật về thuế; (iii) Giải quyết các tranh chấp với Bên thứ ba nếu việc chuyển quyền sử dụng gây ra tranh chấp; (iv) Thực hiện các biện pháp cần thiết và phù hợp chống lại các hành vi xâm phạm quyền SHCN của Bên thứ ba gây thiệt hại cho Bên nhận. + Nghĩa vụ của Bên nhận: (i) Đăng ký hợp đồng (nếu có thỏa thuận); (ii) Trả phí chuyển quyền sử dụng cho Bên giao theo mức và phương thức thanh toán đã được thỏa thuận; (iii) Chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa, dịch vụ (nếu có thỏa thuận về điều này); (iv) Ghi chỉ dẫn trên sản phẩm, bao bì sản phẩm rằng sản phẩm được sản xuất theo sự chuyển quyền sử dụng (sự cho phép) của Bên giao và chỉ ra tên của Bên giao. Nội dung này là bắt buộc trong trường hợp chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. 45

Hợp đồng chuyển quyền sử dụng không được phép có những điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của Bên nhận, đặc biệt là những điều khoản không xuất phát từ quyền của Bên giao đối với đối tượng SHCN hoặc không nhằm để bảo vệ các quyền đó, ví dụ: + Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế việc xuất khẩu sản phẩm được sản xuất theo hợp đồng chuyển quyền sử dụng sang các vùng lãnh thổ mà Bên giao không nắm độc quyền nhập khẩu các sản phẩm đó; + Buộc Bên nhận phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện, thiết bị từ nguồn do Bên giao chỉ định, mà không nhằm bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ như đã thỏa thuận; + Cấm bên nhận cải tiến công nghệ được chuyển giao, buộc Bên nhận phải chuyển giao miễn phí cho Bên giao các cải tiến do Bên nhận tạo ra hoặc quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ SHCN, quyền SHCN đối với các cải tiến đó; + Cấm Bên nhận khiếu nại về hiệu lực của quyền SHCN, quyền chuyển quyền sử dụng của Bên giao. Hợp đồng có thể có thêm các điều khoản không trái với quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là các điều khỏan sau: + Điều khoản về điều kiện sửa đổi, đình chỉ, vô hiệu hợp đồng: Thỏa thuận các điều kiện theo đó có thể sửa đổi, đình chỉ, vô hiệu hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật. + Điều khoản về cách thức giải quyết tranh chấp: Lựa chọn trong số các cách sau để giải quyết tranh chấp giữa các Bên: (i) tự thương lượng; (ii) thông qua trọng tài; (iii) thông qua tòa án; hoặc (iv) kết hợp các phương thức trên. Các bước đăng ký hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu - Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu có thể nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện tới trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ tại Hà Nội hoặc 2 Văn phòng đại diện của Cục tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. - Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển 46

giao quyền sở hữu nhãn hiệu; - Ghi nhận việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp vào Sổ đăng ký quốc gia về chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu; - Công bố quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp trên Công báo sở hữu công nghiệp. - Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo dự định từ chối đăng ký hợp đồng, nêu rõ các thiếu sót của hồ sơ để người nộp hồ sơ sửa chữa các thiếu sót hoặc có ý kiến phản hồi về dự định từ chối đăng ký hợp đồng; - Ra thông báo từ chối đăng ký hợp đồng nếu người nộp hồ sơ không sửa chữa hoặc sửa chữa thiếu sót không đạt yêu cầu, không có ý kiến phản đối hoặc ý kiến phản đối không xác đáng về dự định từ chối đăng ký hợp đồng trong thời hạn đã được ấn định.

 Hợp đồng franchise o Các khái niệm Một số thuật ngữ về franchise (nhượng quyền thương mại) được định nghĩa bởi Luật Thương Mại năm 2005 và theo Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về họat động nhượng quyền thương mại. 1. "Nhƣợng quyền thƣơng mại": Là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

- Việc mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải được tiến hành theo cách thức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

47

- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành hoạt động kinh doanh. 2..“Bên nhƣợng quyền”:là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả Bên nhượng quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp.

3. “Bên nhận quyền”:là thương nhân được nhận quyền thương mại, bao gồm cả Bên nhận quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhượng quyền thứ cấp. 4. “Bên nhƣợng quyền thứ cấp”:là thương nhân có quyền cấp lại quyền thương mại mà mình đã nhận từ Bên nhượng quyền ban đầu cho Bên nhận quyền thứ cấp. 5.“Bên nhận quyền sơ cấp”:là thương nhân nhận quyền thương mại từ Bên nhượng quyền ban đầu. Bên nhận quyền sơ cấp là Bên nhượng quyền thứ cấp theo nghĩa của khoản 3 Điều này trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp. 6.“Bên nhận quyền thứ cấp”:là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ Bên nhượng quyền thứ cấp. 7. “Quyền thƣơng mại”:bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây: a) Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên nhượng quyền; b) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung; c) Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung; 48

d) Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng ph 8. “Kinh doanh theo phƣơng thức nhƣợng quyền thƣơng mại”:Là công việc kinh doanh do Bên nhận quyền tiến hành theo hợp đồng nhượng quyền thương mại. 9. "Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại":Là thỏa thuận giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền, quy định các vấn đề liên quan đến hoạt động nhượng quyền. Hợp đồng NQTM phải được lập bằng tiếng Việt, theo hình thức văn bản, hoặc bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp nhượng quyền từ Việt Nam ra nước ngoài, ngôn ngữ của hợp đồng sẽ do các bên thỏa thuận. Hợp đồng NQTM có thể có các nội dung chủ yếu sau đây: - Nội dung của quyền thương mại. - Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền. - Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền. - Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán. - Thời hạn hiệu lực của hợp đồng. - Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp. 10. “Hợp đồng phát triển quyền thƣơng mại”: Là hợp đồng nhượng quyền thương mại theo đó Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền được phép thành lập nhiều hơn một cơ sở của mình để kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại trong phạm vi một khu vực địa lý nhất định. 11. “Quyền thƣơng mại chung”:

49

Là quyền do Bên nhượng quyền trao cho Bên nhượng quyền thứ cấp được phép cấp lại quyền thương mại cho các Bên nhận quyền thứ cấp. Bên nhận quyền thứ cấp không được phép cấp lại quyền thương mại chung đó nữa. 12.“Hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại thứ cấp”: Là hợp đồng nhượng quyền thương mại ký giữa Bên nhượng quyền thứ cấp và Bên nhận quyền thứ cấp theo quyền thương mại chung. o Thủ tục đăng ký - Gửi hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại vào Sổ đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và thông báo bằng văn bản cho thương nhân về việc đăng ký đó. - Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ, trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có văn bản thông báo để Bên dự kiến nhượng quyền bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ. - Các thời hạn nêu tại khoản này không kể thời gian Bên dự kiến nhượng quyền sửa đổi, bổ sung hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. - Sau khi hết thời hạn quy định tại khoản này mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối việc đăng ký thì phải thông báo bằng văn bản cho Bên dự kiến nhượng quyền và nêu rõ lý do o Chủ thể thực hiện:  Đối với Bên nhượng quyền: thương nhân được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

50

- Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại. - Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền. - Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại không vi phạm quy định của pháp luật.  Đối với Bên nhận quyền: thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại. - Hình thức của hợp đồng: Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. - Nội dung hợp đồng: trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây: Nội dung của quyền thương mại.  Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền.  Quyền, nghĩa vụ của Bên nhận quyền.  Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán.  Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.  Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.

1.2.2.2. Giao kết và thực hiện

51

Khi đàm phán ký kết hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu hay hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, những yếu tố sau đây cần được xem xét kỹ: - mục đích và đối tượng của hợp đồng (nhãn hiệu được chuyển giao hay phạm vi sử dụng của hợp đồng li-xăng); - nghĩa vụ của bên giao nhãn hiệu hay bên giao li-xăng; - nghĩa vụ chung của cả hai bên trong hợp đồng. Về mục đích của hợp đồng, bên nhận chuyển giao nhãn hiệu hay bên nhận lixăng cần được đảm bảo rằng nhãn hiệu chuyển giao được phép sử dụng sẽ mang lại kết quả như họ mong muốn. Vì thế, kết quả chuyển giao nhãn hiệu, hay mục đích sử dụng đối tượng nhãn hiệu cần phải được ghi rõ trong hợp đồng. Ngoài ra, hợp đồng cần phải quy định trách nhiệm của bên giao nhãn hiệu hay bên giao li-xăng trong trường hợp kết quả hay mụcđích của hợp đồng không đạt được như các bên đã thoả thuận. Về phía bên giao nhãn hiệu hay giao li-xăng, cái mà họ quan tâm là phí li-xăng hay giá chuyển giao nhãn hiệu. Vì vậy, giá cả và phương thức thanh toán cũng cần phải được thảo luận kỹ. Về đối tượng của hợp đồng, các bên trong hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu cần phải xác định cụ thể nhãn hiệu sẽ chuyển giao, tiến độ, thời hạnchuyển giao. Nếu cần thiết, hợp đồng có thể được bổ sung thêm (dưới dạng phụ kiện hợp đồng) các sơ đồ bản vẽ, bảng kê chi tiết nội dung nhãn hiệu và các yêu cầu. Tương tự, các bên trong hợp đồng li-xăng cần xác định rõ quyền sử dụng nhãn hiệu của mình là những quyền gì (quyền áp dụng đối tượng sở hữu công nghiệp vào sản phẩm được bảo hộ, hay quyền lưu thông, nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ), phạm vi sử dụng (lãnh thổ li-xăng) là ở đâu, và thời hạn sử dụng là bao nhiêu lâu. Về nghĩa vụ của bên giao hay bên giao li-xăng, bên nhận cần lưu ý rằng bên giao có nghĩa vụ phải chuyển giao sao cho phù hợp với nhu 52

cầu sử dụng của bên nhận. Bên nhận phải được bảo đảm rằng hàng hoá sản xuất theo li-xăng sẽ đạt được những tiêu chuẩn chất lượng tương đương với hàng hoá do chính bên giao li-xăng sản xuất, và phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng trong nước (trừ trường hợp có thoả thuận khác). Như vậy, trong hợp đồng li-xăng cần phải có những điều khoản bảo hành chất lượng sản phẩm. Về nghĩa vụ chung của hai bên trong hợp đồng, các bên cần lưu ý đến nghĩa vụ bảo mật và nghĩa vụ trao đổi thông tin. 2. Thực trạng thực hiện hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam 2.1. Kết quả Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng Sở hữu công nghiệp

53

Khiếu nại về việc vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Tổng số nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký

54

Hợp đồng li-xăng

55

2.2. Bài học kinh nghiệm qua một số vụ chuyển giao điển hình

2.2.1. Bài học trong việc thực hiện hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu kem Wall’’s của tập đoàn UNILEVER và tập đoàn Kinh Đô Năm 2003, xưởng kem Wall’s thuộc tập đoàn UNILEVER đóng cửa ngưng sản xuất tại Việt Nam. Nhận biết thời cơ, một doanh nghiệp lớn trong ngành thực phẩm Việt Nam là Kinh Đô đã quyết định chộp lấy ngay cơ hội tiến vào một thị trường kem ăn đầy tiềm năng vừa hé mở.

Trên thực tế Kinh Đô đã không nhập khẩu công nghệ dây chuyển làm kem mới tiên tiến hiện đại từ nước ngoài về hay sử dụng lại dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng của các doanh nghiệp làm kem trong nuớc. Kinh Đô đã mua lại 56

thành công toàn bộ tài sản thanh lý xưởng kem Wall”s bao gồm : Xưởng kem , nhân lực có chuyên môn đang làm việc tại xưởng với suy nghĩ rất đơn giản : kem Wall”s ngon ,rẻ ,thị trường Việt Nam đã chấp nhận.

Kinh Đô đã đứng trước bài toán khó khi quyết định nắm bắt lấy cơ hội để tiến vào thị truờng kem ăn Việt Nam Phương án chuyển nhựơng nhãn hiệu do Kinh Đô nghĩ đến trước tiên là không khả thi (Các tập đoàn quốc tế không bao giờ chuyển nhượng nhãn hiệu quốc tế của họ cho một quốc gia trong phạm vi một lãnh thổ) Thế chỉ còn lại Phương án : Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Kinh Đô đã xin cấp Li-xăng nhãn hiệu kem Wall”S trong thời gian ngắn hạn từ tháng 5-2003 đến tháng 12-2004 đồng thời song song Kinh Đô phát triển một nhãn hiệu khác là KD’S Đây là một sách lược chuyển giao sử dụng nhãn hiệu trong ngắn hạn rất chiến lược của Kinh Đô Các ưu điểm của phương án này là · Thứ nhất : Hạn chế chia sẻ dòng lợi nhuận (bị mất phí bản quyền cho

Wall’S ) · Thứ hai : Hạn chế bồi tụ giá trị vô hình cho nhãn hiệu Wall’S (thuộc sở

hữu UNILEVER ) · Thứ ba :Nhãn hiệu mới lưu hành song song với nhãn hiệu cũ sẽ từng

bước kế thừa các thành tố giá trị của Wall’S cho đến khi chấm dứt hợp đồng

57

Li-xăng và Kinh Đô sẽ thay thế hoàn toàn hình ảnh nhãn hiệu Wall’S trong tâm trí người tiêu dùng. Tuy nhiên, qua phản ảnh báo chí, chúng ta biết rằng: sau khi kết thúc hợp đồng với UNILEVER Kinh Đô đã phải tiếp tục đàm phán xin được chuyển giao thêm các đối tượng sở hữu trí tuệ khác nếu không muốn vi phạm về kiểu dáng công nghiệp, Quyền tác giả ,chỉ dẫn thương mại của UNILEVER,đây chính là các thành tố tạo nên giá trị tổng thể cho nhãn hiệu kem Wall’S, các thuộc tính nhận diện sản phẩm, các ấn tượng liên kết mạnh mẽ với kem Wall’S như kiểu dáng que kem ,cách thức trình bày bao bì ,trình bày biển quảng cáo,điểm bán hàng ….đều được UNILEVER bảo hộ và đương nhiên chủ thể khác không được tự ý sử dụng khi không đựơc sự cho phép của chủ sở hữu.

Do vậy bài học đuợc rút ra là:

Khi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhận chuyển giao phải chú ý nhận diện đầy đủ các thành tố tạo nên giá trị nhãn hiệu để đàm phán và giao kết hợp đồng tránh những thiệt thòi quyền lợi xảy ra sau này .

2.2.2. Bài học từ hợp đồng chuyển giao nhãn hiệu kem đánh răng PS giữa công ty hóa mỹ phẩm Phong Lan và tập đoàn UNILEVER Bây giờ, mỗi khi nói đến nhãn hiệu kem đánh răng P/S hay bột giặt Viso, rất nhiều người tiêu dùng Việt Nam vẫn nhầm tưởng đó là các thương hiệu Việt. Trên thực tế, kem đánh răng P/S và bột giặt Viso hiện đều là các nhãn hiệu trực thuộc tập đoàn đa quốc gia kinh doanh hàng tiêu dùng nổi tiếng thế giới Unilever. Vậy tại sao lại có sự nhầm lẫn đó?

58

Ngược lại lịch sử, chúng ta có thể biết rằng, nhãn hiệu kem đánh răng P/S được phát triển từ năm 1975 bởi Công ty hóa phẩm P/S trực thuộc Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và một giai đoạn rất dài, không dưới 20 năm (1975 – 1995) P/S đã xác lập được vị thế dẫn đầu về sản phẩm chăm sóc răng miệng trên thị trường Việt Nam và chiếm được lòng tin yêu của đông đảo người tiêu dùng Việt. Bởi thế mà trong tâm trí các thế hệ người Việt Nam thời đó, P/S là một niềm tự hào của hàng tiêu dùng Việt, là một dấu ấn khó có thể phai mờ. Chính vì vậy, dù đã trải qua một thời gian dài hơn 30 năm kể từ khi kem đánh răng P/S được chuyển nhượng cho tập đoàn Unilever năm 1995, dấu ấn đó vẫn đọng lại trong lòng rất nhiều người tiêu dùng Việt Nam. Unilever thâm nhập thị trƣờng Việt Nam Unilever là một tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng đa nhãn hiệu của Anh và Hà Lan. Khi Unilever thâm nhập thị trường Việt Nam năm 1995, hãng đã xúc tiến đàm phán để được chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu kem đánh răng P/S của Công ty Hóa phẩm P/S trực thuộc Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. P/S nguyên là loại kem đánh răng ra đời từ năm 1975 và vào thời điểm đó kem đánh răng P/S cùng với kem đánh răng Dạ Lan là 2 nhãn hiệu thuần Việt đang chiếm lĩnh hơn 95% thị phần kem đánh răng cả nước, trong đó P/S là trên 65% và Dạ Lan là 30% thị phần, còn lại là một vài nhãn hiệu của Trung Quốc. Để thuyết phục Công ty Hóa phẩm P/S chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S, Unilever đưa ra phương án sẽ thành lập một liên doanh giữa hai bên để cùng tiếp tục khai thác nhãn hiệu P/S sau khi việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu đã được thực hiện. Tính toán một cách lý thuyết, nếu giao dịch thành công, Công ty Hóa phẩm P/S sẽ vừa có được nguồn thu từ việc bán nhãn hiệu để xúc tiến các mục tiêu đầu tư khác, vừa tiếp tục được chia lợi nhuận qua doanh nghiệp liên doanh trong điều kiện nhãn hiệu được quản lý chuyên nghiệp hơn dưới quyền sở hữu của Unilever. 59

Về mặt pháp lý, để có thể chuyển nhượng nhãn hiệu P/S, cần phải xử lý khả năng xung đột quyền giữa thương hiệu Hóa phẩm P/S của đối tác Việt Nam với nhãn hiệu P/S sẽ thuộc quyền sở hữu của Unilever. Do Công ty Hóa phẩm P/S không tiện đổi tên doanh nghiệp nên phương án cuối cùng được chọn lựa đã được tiến hành tuần tự qua các bước sau đây : Công ty Hóa phẩm P/S từ bỏ chức năng sản xuất kem đánh răng. Công ty Hóa phẩm P/S chuyển nhượng nhãn hiệu P/S cho tập đoàn

Unilever. Hai bên xúc tiến thành lập doanh nghiệp liên doanh P/S ELISA. Công ty Hóa phẩm P/S nhận gia công vỏ hộp kem đánh răng cho liên

doanh. Với thương vụ chuyển nhượng nhãn hiệu này, Công ty hóa phẩm P/S đã thu được 5 triệu USD – một con số không nhỏ đối với doanh nghiệp ViệtNamvào thời điểm đó. Tuy nhiên khi công nghệ phát triển, vỏ kem đánh răng được chuyển sang sản xuất bằng nguyên liệu nhựa thay vì nguyên liệu nhôm như trước đó, Công ty Hóa phẩm P/S đã không đủ sức đầu tư dây chuyền sản xuất mới để tiếp tục gia công cho liên doanh. Vì thế, đến nay, liên doanh P/S ELISA đã trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong khi Công ty Hóa phẩm P/S đã đánh mất hoàn toàn vị thế cạnh tranh ban đầu của mình về sản phẩm chăm sóc răng miệng. Từ cuối thập niên 1980s, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, tìm biện pháp khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài để tạo thêm động lực mới cho nền kinh tế. Trong điều kiện các chính sách quản lý kinh tế và pháp luật của Việt Nam còn đang liên tục thay đổi để hoàn thiện, các rủi ro pháp lý trong môi trường đầu tư được đánh giá là cao. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã xem việc thành lập các liên doanh với các đối tác sở tại là phương án ưu tiên. Các đối tác sở tại được nhắm đến thường là 60

các doanh nghiệp nhà nước cấp trung ương hoặc địa phương đang có thị phần đáng kể sau một thời gian dài được ưu tiên phát triển. Mặt khác, các cán bộ quản lý doanh nghiệp vào thời điểm đó cũng là các viên chức nhà nước, có mối quan hệ chặt chẽ và am hiểu rất rõ phương thức ứng xử của chính quyền các cấp. Công ty hóa phẩm P/S trực thuộc Sở công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là một đối tác hội đủ các điều kiện như thế. Xét bài toán chi phí, nếu Unilever thương lượng được với Công ty hóa phẩm P/S trong việc chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S thì hãng chỉ mất vài triệu đô la Mỹ nhưng đổi lại, hãng có cơ hội sở hữu trên 65% thị phần kem đánh răng mà nhãn hiệu P/S đã thiết lập được. Còn nếu mua một nhãn hiệu khác, Unilever sẽ phải đối đầu trực tiếp với P/S – đối thủ nặng ký nhất trên thị trường sản phẩm chăm sóc răng miệng của Việt Nam lúc bấy giờ. Trên thực tế, theo số liệu tính toán không chính thức của một số hãng kinh doanh hàng tiêu dùng lớn trên thế giới, vào thời điểm đó, trung bình để chiếm được 1% thị phần phải tốn trên dưới 2 triệu đô la Mỹ cho chi phí tiếp thị. Như vậy, với thương vụ này, Unilever nghiễm nhiên có được 65% thị phần kem đánh răng tại Việt Nam với một mức giá quá rẻ. Thêm nữa, thương vụ này còn giúp hãng sở hữu dây chuyền sản xuất, nhân lực và hệ thống phân phối sẵn có của P/S mà không phải tốn kém các chi phí điều tra, nghiên cứu thị trường, tìm hiểu văn hóa để tuyển dụng nhân sự v.v… trong giai đoạn đầu thâm nhập thị trường mới đầy khó khăn, ngoài ra còn nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ đối tác liên doanh là Công ty hóa phẩm P/S. Bản thân Unilever có lịch sử phát triển thông qua các cuộc thôn tính, mua bán diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Những tên tuổi lớn trên thế giới như Lipton’s (Mỹ và Canada), Brooke Bond (Anh), Pepsodent (Mỹ), Bachelors (Anh), Chesebrough-Pond’s (Mỹ)…đã lần lượt “rơi” vào tay Unilever. Điều đó đủ chứng tỏ Unilever đã vận dụng chiến lược M &A (mua bán – sáp nhập) điêu luyện đến mức nào. Trong thương vụ kem đánh răng P/S, nếu như hãng chỉ liên doanh đơn thuần với Công ty hóa phẩm P/S thì hãng sẽ mất chi phí li-xăng 61

hàng năm cho đối tác đồng thời tỉ lệ lợi nhuận liên doanh phải chia cho đối tác cũng cao hơn. Còn với việc mua lại nhãn hiệu P/S thì Unilever lại nắm được vị thế là người cấp li-xăng cho liên doanh đồng thời giảm được tỉ lệ lợi nhuận chia cho Công ty hóa phẩm P/S. Tuy nhiên, đó vẫn chưa phải là lợi ích lớn nhất. Với việc thuyết phục được Công ty hóa phẩmVP/S chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S cho mình và từ bỏ chức năng sản xuất kem đánh răng, Unilever đã hiển nhiên loại bỏ được đối thủ nặng ký nhất trên thị trường Việt Nam về sản phẩm chăm sóc răng miệng thời điểm đó và ung dung chiếm lĩnh thị trường bằng nội lực sẵn có của nhãn hiệu P/S cũng như uy tín và chiến lược kinh doanh tầm cỡ quốc tế của bản thân tập đoàn. Về phía Công ty Hóa phẩm P/S: Vào thời điểm những năm 90, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa ý thức được giá trị và tầm quan trọng của thương hiệu/nhãn hiệu, càng chưa có cách thức để định giá đầy đủ nhãn hiệu sản phẩm của mình. Vì thế, khi nhận được lời đề nghị của phía Unilever chuyển nhượng nhãn hiệu P/S với giá 5 triệu USD, hẳn là Công ty hóa phẩm P/S đã nhìn nhận đây là một nguồn thu lớn giúp doanh nghiệp có thêm vốn để xúc tiến các mục tiêu đầu tư khác, cùng với lời hứa của Unilever rằng Công ty hóa phẩm P/S sẽ tiếp tục được chia lợi nhuận qua việc thành lập liên doanh P/S ELISA và hưởng lợi từ việc gia công vỏ hộp kem đánh răng cho liên doanh này. Công ty hóa phẩm P/S hẳn cũng nhận thấy vị thế nhỏ bé của mình nếu đối đầu trực tiếp với một tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới. Chính vì vậy theo suy tính của Công ty, nếu chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S cho Unilever thì trước mắt Công ty sẽ được hưởng lợi ngay từ giá chuyển nhượng và sau đó nhãn hiệu P/S sẽ được quản lý chuyên nghiệp hơn bởi một tập đoàn đa quốc gia và vì thế P/S sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn, nâng cao giá trị tại thị trường Việt Nam và có cơ hội vươn ra thị trường thế giới. Nếu như liên doanh P/S ELISA tiếp tục được duy trì thì Công ty sẽ còn được hưởng lợi ích lâu dài từ việc chia lợi nhuận và gia công vỏ hộp kem đánh răng P/S cho liên doanh. 62

Với những tính toán về mặt lý thuyết như thế thì đối với Công ty hóa phẩm P/S, việc chuyển nhượng nhãn hiệu kem đánh răng P/S cho tập đoàn Unilever là hợp lý và có lợi, cả cho Công ty cũng như cho tương lai của nhãn hiệu P/S. Sau khi Unilever thành công trong việc thuyết phục Công ty hóa phẩm P/S nhượng lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S cho mình thì thương vụ đạt được kết quả theo đúng ý đồ của Unilever:

Công ty Hóa phẩm P/S từ bỏ chức năng sản xuất kem đánh răng và chuyển nhượng nhãn hiệu P/S cho Tập đoàn Unilever Đổi lại tập đoàn này thành lập doanh nghiệp liên doanh P/S ELISA để tiếp nhận nhãn hiệu P/S. Việc sản xuất, tiêu thụ kem đánh răng sẽ do liên doanh đảm nhiệm, Công ty Hóa phẩm P/S chỉ nhận gia công vỏ hộp kem đánh răng cho liên doanh. Sau này, khi công nghệ phát triển, việc sản xuất vỏ ống kem đánh răng bằng nguyên liệu nhôm bị khai tử, thay vào đó là nguyên liệu nhựa được sử dụng. Công ty Hóa phẩm P/S đã không đủ sức đầu tư dây chuyền sản xuất mới để tiếp tục gia công cho liên doanh, nên đành phải từ bỏ cuộc chơi và hiện nay Liên doanh P/S ELISA đã chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Có thể nói, với thương vụ này, Unilever đã thành công đúng như kế hoạch dự tính của hãng và với xuất phát điểm từ nhãn hiệu P/S, hiện nay Unilever đã trở thành một trong các tập đoàn hàng đầu tại Việt Nam về sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng với đa dạng các nhãn hàng từ thực phẩm đến hóa mỹ phẩm. Còn về phía doanh nghiệp Việt Nam, với việc liên doanh P/S ELISA chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Công ty hóa mỹ phẩm P/S đã đánh mất hoàn toàn vị thế cạnh tranh ban đầu của mình. Qua đây, chúng ta có thể rút ra một số bài học sâu sắc sau đây:

1. Trước hết, lợi thế thương mại (hình ảnh, mức độ nhận biết, uy tín của sản phẩm) của nhãn hiệu P/S thể hiện qua kênh phân phối mà Công ty Hóa phẩm P/S đã thiết lập trong một thời gian dài đã được chuyển nhượng hoàn toàn theo cùng nhãn hiệu P/S và đã không được xem xét định giá một cách đầy đủ. 63

2. Thứ hai, việc Công ty Hóa phẩm P/S rút khỏi thị trường kem đánh răng đồng nghĩa với việc Unilever đã gạt bớt được một đối thủ cạnh tranh sở tại khá mạnh. 3. Cuối cùng, Công ty đã không tính được tương lai doanh nghiệp liên doanh sẽ chuyển hẳn về tay Unilever và như thế hiển nhiên Công ty đã không lường đến việc đánh mất vị thế của mình sau thương vụ chuyển nhượng này. Công ty hóa phẩm P/S không ngờ rằng việc chuyển nhượng nói trên lại là nhịp cầu cho các sản phẩm hóa mỹ phẩm mà Unilever đang sở hữu xâm nhập thị trường Việt Nam, cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm hóa mỹ phẩm khác mà Công ty đang kinh doanh. Chuyển nhượng nhãn hiệu là chia sẻ thị phần, nhưng việc chuyển nhượng này rất có thể ảnh hưởng bất lợi đến những phân khúc thị truờng khác là việc mà một doanh nghiệp khi chuyển nhượng phải tính đến. Thương vụ Unilever mua lại nhãn hiệu kem đánh răng P/S của Việt Nam chỉ là một trong số những thương vụ M&A trên thị trường Việt Nam kể từ khi mở cửa đến nay. Sách lược mua bán – sáp nhập là một sách lược hiệu quả được rất nhiều tập đoàn nước ngoài sử dụng để phát triển nhãn hiệu và thôn tính đối tác khi tham gia kinh doanh quốc tế. Bài học từ nhãn hiệu P/S tuy đã xảy ra cách đây khá xa – trên 30 năm – nhưng đó là bài học chưa bao giờ cũ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã hiểu được phần nào tầm quan trọng của thương hiệu và bước đầu có ý thức xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu trong quá trình khẳng định vị thế của mình trên thương trường. Tuy nhiên ý thức và nhận thức đó vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Ngay cả nhiều doanh nghiệp nổi tiếng nước ngoài vẫn không thể tránh được nguy cơ bị thôn tính trước các đối thủ mạnh hơn thì hiển nhiên doanh nghiệp Việt Nam càng phải ý thức và lường trước nguy cơ đó. Bài học từ P/S phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức được giá trị thương hiệu mà mình đang sở hữu và cần phải có cách thức định giá đầy đủ giá trị đó nếu rơi vào tình huống bị mua lại này. Hơn thế nữa, đứng trước nguy 64

cơ không dễ tránh khỏi đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần phải tìm ra được hướng đi riêng để không đánh mất hẳn vị thế mà mình đã dày công xây dựng. Trên đây là một số nhận định mà bài phân tích muốn hướng tới. Cũng là hoài niệm của một người tiêu dùng yêu hàng Việt và mong muốn ngày càng có nhiều thương hiệu Việt xác lập và giữ vững được vị thế của mình không chỉ ở thị trường nội địa mà cả trên trường quốc tế.

CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP CHO CÁC LỖI THƢỜNG GẶP VỀ VẪN ĐỀ NHÃN HIỆU Bài viết này sử dụng các tài liệu do Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) quản lý về việc đăng ký nhãn hiệu, thẩm định hình thức, thẩm định nội dung, cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc ra thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu… đồng thời chúng tôi cũng sử dụng các tài liệu có liên quan đến các doanh nghiệp Nghệ An, với mục đích giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Nghệ An nói riêng nhận biết các lỗi đã gặp trong quá trình yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, qua đó tránh các lỗi này để nâng cao khả năng được sở hữu hợp pháp nhãn hiệu của riêng mình nhằm tạo những lợi thế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Để thống nhất cách hiểu thuật ngữ, chúng tôi dẫn định nghĩa của Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. 1. Các lỗi thƣờng mắc phải của các doanh nghiệp 1.1. Thực hiện “Quy trình ngƣợc” Đây là lỗi hay gặp nhất, các doanh nghiệp thường làm theo “quy trình ngược” với các bước: - Sản xuất, thực hiện dịch vụ; - Đưa sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu (do doanh nghiệp tự đặt) ra thị trường; được người tiêu dùng chấp nhận; - Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu; Sau đó là hy vọng được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Hy vọng là quyền của doanh nghiệp, còn việc có cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho doanh nghiệp hay không thì lại là việc khác. Trong đa số trường hợp, Cục SHTT đã từ chối bảo hộ, tình trạng này dẫn đến ngoài việc mất cơ hội kinh doanh (thời gian từ lúc nộp đơn yêu cầu bảo hộ đến lúc từ chối bảo hộ có thể đến 18 tháng), thì rất có thể doanh nghiệp còn bị doanh nghiệp khác khiếu nại, kiện tụng… làm mất uy tín trong kinh doanh, tốn kém kinh phí (do có thể bị xử phạt hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp khác). Lẽ ra, trước khi đưa sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường thì doanh nghiệp 65

nên khảo sát đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trước với điều kiện phải tránh các lỗi sẽ đề cập dưới đây. 1.2. Nhầm lẫn giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại Trong bài Mối quan hệ giữa nhãn hiệu và tên thương mại[2], Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Nghệ An đã nhấn mạnh việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và tên thương mại rất khác nhau: quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT cấp, còn quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. - Lưu ý 1: các doanh nghiệp tuyệt đối không bao giờ mặc nhiên coi tên thương mại của mình là nhãn hiệu, nhưng trong thực tế rất nhiều doanh nghiệp đã mắc phải lỗi này, trong đó có cả các doanh nghiệp lớn (ví dụ Vinakansai), các tổng công ty lớn (ví dụ Tổng Công ty Lương thực miền Bắc Vinafood I)… tất nhiên trong số này cũng có các doanh nghiệp Nghệ An. - Lưu ý 2: trên phạm vi cả nước có thể có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trên cùng một lĩnh vực mà lại mang tên thương mại tương tự nhau, nhưng chỉ duy nhất một doanh nghiệp có thể lấy tên thương mại của mình làm nhãn hiệu. Ví dụ Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood I) có tên tương tự với Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood II), nhưng chỉ có Tổng Công ty Lương thực miền Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu Vinafood II, còn Tổng Công ty Lương thực miền Bắc “đành phải” là chủ sở hữu nhãn hiệu VNF1. Ví dụ khác, chúng ta gặp khá nhiều bệnh viện mang tên Hữu Nghị, nhưng trong cuộc đua dành nhãn hiệu là chính tên bệnh viện của mình thì “phần thắng” thuộc về đơn vị nào nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu đầu tiên, rất tiếc trong cuộc đua này một số doanh nghiệp Nghệ An lại “chậm chân” hơn, mà trường hợp sau đây là ví dụ.

Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An có trụ sở tại 138, đường Nguyễn Phong Sắc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu sau: cho nhóm 44 Dịch vụ khám chữa bệnh đa khoa cho người (bệnh viện), chúng ta thấy nhãn hiệu đề nghị rất đẹp, đặc biệt là chữ thập đỏ cách điệu đã thay thế chữ H trong cụm từ Nghệ An. Mặc dù nhãn hiệu đề nghị đẹp như vậy, sau nữa nó rất phù hợp với ngành Y tế, nhưng Cục SHTT đã từ chối bảo hộ với lý do nhãn hiệu đề nghị đã tương tự với nhãn hiệu trong Đăng bạ quốc gia số 96564.

66

Tài liệu đối chứng cho thấy Cục SHTT đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 96564: cho Doanh nghiệp tư nhân Bệnh viện Đa khoa Hữu Nghị 103 có trụ sở tại Tổ 21, phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có lẽ sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau, thuộc các loại hình kinh tế khác nhau được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực bảo hộ quyền SHTT, chúng ta thấy một doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ đã thắng một bệnh viện lớn trong cuộc đua dành quyền sở hữu nhãn hiệu là chính tên của mình. 1.3. Không khảo sát trƣớc dẫn đến nhãn hiệu đề nghị trùng hoặc tƣơng tự với nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ Các doanh nghiệp chỉ căn cứ vào yêu cầu của mình rồi tự thiết kế hoặc thuê thiết kế nhãn hiệu, sau đó nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu, tình trạng này dẫn đến nhãn hiệu đề nghị trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ và tất nhiên bị từ chối bảo hộ. Cách đây một năm, Tạp chí Thông tin KH&CN Nghệ An đã đề cập giải pháp rất đơn giản để khắc phục tình trạng này[3], nhưng rất tiếc nó vẫn diễn ra mà trường hợp sau đây là ví dụ.

Công ty Cổ phần tư vấn thiết kế hạ tầng cơ sở có trụ sở tại nhà bà Ngô Thị Bích Trâm, đường Lý Thường Kiệt, phường Hưng Phúc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu: cho nhóm dịch vụ 35 Lập hồ sơ mời thầu xây lắp; tư vấn ban quản lý dự án; 36 Tư vấn đầu tư xây dựng; 37 Tư vấn giám sát công trình giao thông, thủy lợi; 42 Khảo sát, thiết kế công trình giao thông, thuỷ lợi, dân dụng; thẩm định hồ sơ thiết kế công trình giao thông, thủy lợi, dân dụng. Nhưng đã bị Cục SHTT từ chối bảo hộ với lý do đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 63307:

cho chủ sở hữu Công ty Cổ phần Tư vấn, Thiết kế công nghiệp có trụ sở tại 146 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. 67

1.4. Bị hấp dẫn bởi các dấu hiệu mang ấn tƣợng đặc trƣng, do đó tƣơng tự với nhãn hiệu chứng nhận Điều 4.18 Luật SHTT định nghĩa: “Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Điểm đáng chú ý là nhãn hiệu chứng nhận thường được cấu trúc bởi các dấu hiệu đặc trưng, đẹp, gây ấn tượng mạnh, dễ nhớ… nên các doanh nghiệp thường yêu cầu bảo hộ các dấu hiệu này làm nhãn hiệu hoặc một phần nhãn hiệu của mình, chúng tôi xin chứng minh.

Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Việt Mỹ, có trụ sở tại Khu công nghiệp nhỏ đóng trên địa bàn xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu sau đây: cho nhóm sản phẩm số 16 màng mỏng bằng chất dẻo để bao gói: túi nilon. Nhưng Cục SHTT đã từ chối bảo hộ vì cách trình bày chữ V và ngôi sao đã trùng với nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ tại Đăng bạ quốc gia số 33014, khi tra cứu tài liệu đối chứng chúng tôi nhận được thông tin Cục SHTT đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 33014 cho chủ sở hữu Báo Sài Gòn Tiếp thị, có trụ sở tại 25 Ngô Thời Nhiệm, phường 6, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh với nhãn hiệu:

Có lẽ ít người tiêu dùng tại Việt Nam mà không biết đến nhãn hiệu chứng nhận này, nhưng cũng chính chữ V và ngôi sao rất ấn tượng này đã hấp dẫn Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Việt Mỹ, dẫn đến đơn yêu cầu bị từ chối. 1.5. Dùng chính tên sản phẩm/dịch vụ làm nhãn hiệu Điều 74.2.c Luật SHTT quy định: “Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu”. Ví dụ không bảo hộ nhãn hiệu Thuốc đau mắt cho chính loại thuốc có 68

công dụng chữa đau mắt, không bảo hộ nhãn hiệu Rượu gạo cho chính sản phẩm rượu trưng cất từ gạo lên men… Rất thú vị khi chúng ta biết rằng không bảo hộ nhãn hiệu Cám con lợn/heo cho sản phẩm cám là thức ăn cho lợn/heo, nhưng trong thực tế chúng ta lại gặp nhãn hiệu Cám con cò cho sản phẩm cám là thức ăn cho lợn/heo, vì lẽ rất đơn giản cò khác biệt với lợn/heo.

Tưởng chừng rất đơn giản như vậy, nhưng ít nhất hai doanh nghiệp Nghệ An đã mắc lỗi này (còn một số doanh nghiệp nữa cũng mắc lỗi tương tự, nhưng do khuôn khổ có hạn chúng tôi không thể nêu hết), đó là Công ty Cổ phần đông nam dược HST có trụ sở trên đường Lê Viết Thuật, đối diện bệnh viện Quân Y 4 tại xóm 13, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu sau: cho nhóm sản phẩm số 5 Rượu ngâm thuốc thảo dược. Tất nhiên, Cục SHTT đã từ chối bảo hộ nhãn hiệu này.

Có thể lấy thêm ví dụ đối với trường hợp Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Lợi Phát có trụ sở tại 141 Nguyễn Trãi, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu: cho nhóm 32 Nước uống tinh lọc đóng chai. Cục SHTT đã từ chối bảo hộ nhãn hiệu này, ngoài lý do Trường Sơn đã trùng với nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ do người khác làm chủ sở hữu thì “Đỉnh cao Chất lượng” và “PURIFIED DRINKING WATER” mang tính mô tả và không có khả năng phân biệt như điều 74.2.c Luật SHTT đã quy định.

1.6. Không phân biệt đƣợc các đối tƣợng khác nhau của quyền SHTT Luật SHTT quy định rằng đối tượng của quyền SHTT bao gồm quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền đối với giống cây trồng. Trong thực tế, có doanh nghiệp nhận thức rằng quyền tác giả và nhãn hiệu cũng như nhau, vì chúng cùng là các đối tượng của quyền SHTT, bởi vậy khi bị Cục SHTT từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu thì 69

sang Cục Bản quyền tác giả để nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng (thực chất nó chỉ là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, nhưng doanh nghiệp lại lầm tưởng rằng đó là nhãn hiệu). Đáng tiếc là không chỉ các doanh nghiệp lầm tưởng, mà chính các phương tiện thông tin đại chúng cũng nhầm lẫn, điều nguy hiểm là với sức lan tỏa thông tin trong thời đại kỹ thuật số ngày nay, khi một tờ báo đăng tin thì gần như ngay lập tức các báo khác cũng sao chép theo. Trường hợp sau là một ví dụ điển hình: Tác giả Xuân Long đưa tin trên Báo Lao động số 3 ra ngày 04/01/2007 với đầu đề “Hoa đào Nhật Tân chính thức có bản quyền”, nội dung của bài báo được tóm tắt: Bắt đầu từ Tết Nguyên đán Đinh Hợi, hoa đào Nhật Tân sẽ chính thức có bản quyền tác giả. Thương hiệu “Hoa đào Nhật Tân” đã được pháp luật bảo hộ. … người dân trồng đào tại Nhật Tân sẽ yên tâm với thương hiệu riêng của mình “Hoa đào Nhật Tân”. (Độc giả có thể sử dụng công cụ google để tra cứu tin này, hiện nó còn được khá nhiều website lưu giữ)[4]. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi đọc tin này, khi lục tìm trong kho tư liệu của Cục Bản quyền tác giả thì thu được thông tin về tác phẩm mỹ thuật ứng dụng như sau:

Thực ra đây chỉ là một tác phẩm mỹ thuật ứng dụng mà Cục Bản quyền tác giả ghi nhận bảo hộ với các thông tin: Loại hình tác phẩm: - Mỹ thuật ứng dụng Tác giả: – Đỗ Thị Mai Lan Chủ sở hữu tác phẩm: – Hợp Tác xã nông nghiệp dịch vụ tổng hợp Nhật Tân Số chứng nhận: 710/2006/QTG Ngày cấp: 25/04/2006 Các thông tin này cho thấy đây tuyệt nhiên không phải nhãn hiệu hay thương hiệu như Báo Lao động đã đăng. Nếu doanh nghiệp không phân biệt nổi hai đối tượng rất khác nhau của quyền SHTT, mà cứ theo thông tin như báo đã đưa, rồi gắn hình vẽ kiểu như trên vào sản phẩm và mặc nhiên coi đó là nhãn hiệu rồi tung ra thị trường thì hậu quả sẽ khó lường.

70

1.7 Kết luận: Các doanh nghiệp nên tránh mắc phải những lỗi như trên , đó chính là giải pháp hữu hiệu nhất để tránh những nhầm lẫn không đáng có của các doanh nghiệp bởi đòi lại nhãn hiệu là một việc phức tạp, tốn kém và gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp, nhưng đó lại là thực trạng hay xảy ra với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta.

2. Tranh chấp nhãn hiệu giữa các trƣờng đại học Trong một phần của bài tham luận Quản lý tài sản trí tuệ trong các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản lý tại Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế – quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế – xã hội [2]do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25.01.2010, tác giả đã nêu sơ bộ về nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã cảnh báo về khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo ở Việt Nam. Ngày 07.08.2010 lời cảnh báo trên đã thành hiện thực, khi Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường Đại học Công nghệ Đông Á xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu. Nhận thấy rằng đây là một vấn đề cần nghiên cứu để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng tranh chấp về nhãn hiệu giữa các trường đại học và cũng góp phần để các trường đại học khẳng định tài sản trí tuệ của mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tác giả đã tiến hành khảo sát tổng thể các nhãn hiệu của các trường đại học tại Việt Nam. Để có tư liệu viết bài này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn thông tin: 1. Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục SHTT phát hành; 2. Một số văn bản hành 71

chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành; 3. Các tin tức thời sự đăng trên báo chí hoặc trên Internet. Cũng cần nhắc lại là các nguồn thông tin này thuộc đối tượng loại trừ không được bảo hộ quyền tác giả theo điều 15 Luật SHTT. 2.1 Khái quát về nhãn hiệu – đối tƣợng của quyền SHTT Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối tượng của quyền SHTT bao gồm: quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng. Điều 4.16 Luật SHTT định nghĩa Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Điều 72.1 cũng lưu ý nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc. Nếu nhãn hiệu tồn tại ở dạng các chữ cái thì tập hợp các chữ cái này phải phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa (trong trường hợp có nghĩa thì nghĩa của nó không đi ngược lại các quy phạm đạo đức). Bởi vậy, nhãn hiệu của một trường đại học có thể mang chính tên của trường đó và cũng có thể không cần phải mang tên trường đó. Tên trường đại học và nhãn hiệu của trường đại học là các đối tượng khác nhau. Quyền đối với tên trường đại học tự động phát sinh kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập trường đại học có hiệu lực pháp luật. Nhưng quyền đối với nhãn hiệu thì không tự động phát sinh, nó chỉ phát sinh với 2 điều kiện: - Trường đại học có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu; - Được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. 72

Mặt khác, theo nguyên tắc bảo hộ độc lập do Công ước Paris (Việt Nam là thành viên của Công ước này từ 08.3.1949) về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định, nếu quốc gia nào cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu thì chỉ có hiệu lực bảo hộ trên chính lãnh thổ quốc gia đó, có nghĩa là nhãn hiệu do Cục SHTT Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ thì nó chỉ có hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam. Hay nói cách khác, nếu trường đại học định mở cơ sở của mình ở nước ngoài thì họ bắt buộc phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại chính quốc gia đó. Điểm cần lưu ý nữa là việc đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài không phát sinh trên cơ sở tên trường đại học, mà theo quy định của Công ước Paris, Thỏa ước Madrid nó phải dựa trên cơ sở nhãn hiệu do quốc gia xuất xứ cấp hoặc theo quy định của Nghị định thư Madrid nó phải dựa trên cơ sở đơn yêu cầu quốc gia xuất xứ bảo hộ nhãn hiệu. Như vậy, các trường đại học chắc chắn sẽ gặp khó khăn khi không sở hữu hợp pháp nhãn hiệu (mặc dù được sở hữu hợp pháp tên gọi trường đại học), điều trớ trêu là có khi phải mua hoặc thuê lại chính tên gọi của trường mình (khi đó đã là nhãn hiệu của trường đại học khác). Chúng tôi sẽ chứng minh nhận định này bằng các trường hợp thực tiễn ngay trong các mục dưới đây của bài viết. 2.2 Kết quả khảo sát về nhãn hiệu giáo dục và đào tạo Theo khảo sát của tác giả qua dữ liệu tại Cục SHTT, cho đến ngày 31.12.2010 Cục SHTT đã cấp 1083 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho các cơ sở giáo dục và đào tạo trên phạm vi toàn quốc, bao gồm các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, cơ sở đào tạo nghề, cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học… (do số lượng khoảng vài ngàn đơn yêu cầu bảo hộ, nên chúng tôi chỉ thống kê số nhãn hiệu đã được bảo hộ). Trong số đơn yêu cầu bảo hộ cho nhãn hiệu của các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung, có 93 đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của các trường đại học, trong đó Cục SHTT chỉ cấp 34 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho các trường học, trong số này có 3 trường đại học hiện sở hữu 02 nhãn hiệu, như vậy chỉ có 31 trường đại học trên phạm vi toàn quốc đang sở hữu nhãn hiệu. 73

Các trường đại học sở hữu 2 nhãn hiệu là: Đại học Hà Nội (Đại học Ngoại ngữ cũ, có trụ sở tại quận Thanh Xuân, Hà Nội), Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Hồng Bàng (trong cơ sở dữ liệu tại Cục SHTT vẫn ghi Trường Đại học Hồng Bàng có trụ sở tại số 03 Hoàng Việt, phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, chứ không ghi Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, như vậy trường này đang sở hữu nhãn hiệu khác với tên gọi hiện hành của mình). 2.3 Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối bảo hộ Như trên đã nói, chỉ có 34/93 đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, như vậy số lượng đơn yêu cầu bảo hộ bị từ chối bảo hộ chiếm đến 63,4%, tỷ lệ từ chối bảo hộ là quá lớn. Một câu hỏi được đặt ra là tại sao lại có đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối bảo hộ? Để giải đáp cho câu hỏi này, chúng tôi xin phân tích 2 trường hợp trong số các đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu bị từ chối bảo hộ. *Trường hợp 1: Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu Trường Đại Học Văn Hiến 1997 VAN HIEN UNIVERSITY, hình do Trường đại học Văn Hiến thành phố Hồ Chí Minh có trụ sở tại AA2, đường D2, khu Văn Thánh Bắc, phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh nộp ngày 31/03/2008 cho nhóm 41: Dịch vụ giáo dục, đào tạo. (Xin xem mẫu kèm theo). Ngày 04.8.2009 Cục SHTT ra công văn số 44180/SHTTNH2 từ chối bảo hộ toàn bộ nhãn hiệu này với lý do: Phần chữ tương tự gây nhầm lẫn với Nhãn hiệu quốc gia số 78303, theo quy định tại điều 74.2.e. Luật SHTT: thì nhãn hiệu trên không có khả năng phân biệt vì “không phải là nhãn hiệu liên kết mà trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn 74

trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Tra cứu đăng bạ quốc gia số 78303, chúng tôi nhận thấy ngày 26.02.2005 Cục SHTT đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu VH VAN HIEN JSC, hình cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Dịch vụ tổng hợp Văn Hiến có trụ sở tại tầng 2 Khách sạn Tuổi trẻ số 2 Trần Thánh Tông, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, cho các nhóm dịch vụ số 35, 37, 41, 43 (lưu ý Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Dịch vụ tổng hợp Văn Hiến không phải là một trường nhưng cũng có chức năng đào tạo và được sở hữu nhãn hiệu nhóm 41, trùng với nhóm 41 mà Trường Đại học Văn Hiến thành phố Hồ Chí Minh đề nghị). Phần hình gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của dịch vụ, theo điều 73.5 Luật SHTT: nhãn hiệu chứa“dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ”. Xin độc giả hãy quan sát phần hình của nhãn hiệu kèm theo, chúng ta thấy nó tương tự với hình của Văn miếu Quốc Tử Giám. *Trường hợp 2: Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu SGU Đại Học Sài Gòn SAIGON UNIVERSITY, hình do Trường Đại học Sài Gòn có trụ sở tại 273 An Dương Vương, phường 3, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh nộp ngày 06/06/2008 (có mẫu kèm theo) cho nhóm 16: Tạp chí (định kỳ), nhóm 41: Dịch vụ giáo dục giảng dạy; dạy học; dạy nghề; dạy ngoại ngữ; tư vấn du học; tổ chức các cuộc thi giáo dục hoặc giải trí, nhóm 43: Nghiên cứu khoa học; chuyển giao công nghệ. Ngày 24.3.2010 Cục SHTT đã ra công văn số 12144/SHTT-NH1 từ chối bảo hộ nhãn hiệu theo yêu cầu của Trường Đại Học Sài Gòn với lý do theo 75

điều 74.2.e. Luật SHTT thì nhãn hiệu trên không có khả năng phân biệt vì “không phải là nhãn hiệu liên kết mà trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Tài liệu đối chứng là đăng bạ quốc gia số 78862, chúng tôi đã tra cứu đăng bạ này và tìm ra nguyên nhân, trước đó vào ngày 26.3.2007 Cục SHTT đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu SAI GON TECHNOLOGY UNIVERSITY STU DAI HOC SAI GON cũng cho nhóm dịch vụ số 41 và 42 do Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn là chủ sở hữu.[3] Đây là trường hợp khá hy hữu vì xảy ra giữa 2 trường đại học, tra cứu trong các tài liệu, chúng tôi nhận thấy: - Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn (tiền thân là Trường Đại học Dân lập Kỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 04.2004 theo Quyết định số 57/2004/QĐ-TTg), sau đó trường đổi tên thành Trường Đại học Dân lập Công nghệ Sài Gòn vào tháng 03.2005 theo Quyết định số 52/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; - Trường Đại học Sài Gòn được thành lập ngày 25.04.2007 theo Quyết định số 478/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu ĐẠI HỌC SÀI GÒN do Cục SHTT cấp có hiệu lực về thời gian trước Quyết định số 478/QĐ-TTg về việc thành lập Trường Đại học Sài Gòn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tạm thời không phân tích về xung đột pháp lý giữa văn bằng số 78863 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 25.01.2007 với Quyết định số 478/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 25.04.2007.

76

2.4 Tranh chấp nhãn hiệu giữa các trƣờng đại học Hiện tượng các trường đại học có tên tương tự nhau trên phạm vi toàn quốc là điều không thể tránh khỏi, chúng ta thử phân tích trường hợp: - Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh) - Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) Hai trường đại học này có tên gọi tương tự nhau, trong đó các cụm từ: Trường; – Đại học; – Công nghệ; – Đông Á; không có khả năng phân biệt, bởi vậy không được bảo hộ riêng rẽ với tư cách là nhãn hiệu, mà chỉ có thể được bảo hộ tổng thể (kèm hình). Như trên đã phân tích, quyền đối với tên 2 trường đại học này được tự động phát sinh tại thời điểm quyết định cho phép thành lập trường đại học có hiệu lực pháp luật. Nhưng chỉ có Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là đăng ký với Cục SHTT yêu cầu được bảo hộ nhãn hiệu và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Đại học Đông Á”. Ngày 07.08.2010 Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã có Đơn khiếu nại gửi Trường ĐH Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh), Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam và đồng gửi các cơ quan báo chí về việc Trường ĐH Công nghệ Đông Á vi phạm sở hữu nhãn hiệu “Đại học Đông Á”. Vậy bản chất của việc này là thế nào? Theo những thông tin mà chúng tôi tra cứu thì: - Trường Đại học Công Nghệ Đông Á (Bắc Ninh) được thành lập theo quyết định số 1777/QĐ-TTg ngày 09/12/2008 của Thủ tướng Chính Phủ. Trường Đại học Công nghệ Đông Á cơ sở chính đặt tại làng Đại học Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. - Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) khi còn là Trường Cao đẳng Đông Á đã nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu vào năm 2005, được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu ngày 8/12/2008.

77

Như vậy, có hay không xung đột pháp lý giữa Quyết định số 1777/QĐ-TTg ngày 09/12/2008 của Thủ tướng Chính Phủ với Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT cấp ngày 08/12/2008? Đây là vấn đề lớn, có lẽ không thể bàn trong bài viết này được. Chúng tôi xin đề cập một phần về việc này tại mục kết luận. 2.5 Dự báo tiếp xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các trƣờng đại học Khả năng xảy ra tranh chấp trong trường hợp nhãn hiệu Đại học Sài Gòn như đã phân tích trong mục 5 là hoàn toàn có thể, khi mà Trường Đại học Sài Gòn không được sở hữu nhãn hiệu Đại học Sài Gòn, mà quyền sở hữu nhãn hiệu này lại thuộc về một trường đại học khác. Chúng tôi đưa ra một dự báo nữa có thể xảy ra tại Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) khi xét trường hợp sau đây. Nhãn hiệu Đại học Ngoại ngữ, hình (xin tham khảo mẫu kèm theo) do Trường Đại học Hà Nội có trụ sở tại Km 9 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội nộp đơn yêu cầu bảo hộ ngày 10.01.2007 và được Cục SHTT công bố văn bằng bảo hộ ngày 25.07.2008. Trường Đại học Hà Nội (trước đây có tên gọi là Trường Đại học Ngoại ngữ) nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu Đại học Ngoại ngữ khi Trường này đã được mang tên mới. Nhãn hiệu nêu kèm theo đã trùng với tên gọi Đại học Ngoại ngữ thuộc ĐHQGHN. Chúng ta biết rằng Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ được đổi tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ khi trở thành đơn vị thành viên thuộc ĐHQGHN, thời điểm đổi tên chắc chắn là trước ngày 10.01.2007 (thời điểm Đại học Hà Nội nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu Đại học Ngoại ngữ). Hệ quả là để trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu Đại học Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ thuộc ĐHQGHN chỉ còn cách mua lại nhãn hiệu mang chính tên trường mình từ Trường Đại học Hà Nội. 78

2.6 Kết luận - Với số lượng chỉ có 31 so với tổng số trên 400 trường đại học đã đăng ký để được sở hữu hợp pháp 34 nhãn hiệu, có thể nói rằng việc quản lý nhãn hiệu của trường đại học chưa được coi trọng, nếu không muốn nói rằng đa số các trường đại học đã không thấy được tầm quan trọng của nhãn hiệu trong quá trình hội nhập quốc tế; - Việc tranh chấp và khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các trường đại học là có thật, nguyên nhân thuộc về các trường đại học có một phần, phần khác thuộc về quy định pháp luật cho hoạt động của hệ thống quản lý và thực thi quyền SHTT, khi mà quyền quản lý tên thương mại và nhãn hiệu lại thuộc về các cơ quan khác nhau, sự phối hợp giữa các cơ quan này không đồng bộ. Chúng tôi sẽ đề cập đến việc này tại một nghiên cứu khác.,.

[1] Bài đã đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học số 625 (6.2011) [2] Có thể tham khảo toàn văn bài tham luận này tại website http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/02/03/4410-2/ [3] Lưu ý rằng vào ngày 25.01.2010 chúng tôi đã dự báo trước về khả năng Trường Đại học Sài Gòn sẽ không trở thành chủ sở hữu nhãn hiệu Đại học Sài Gòn thì đến ngày 24.3.2010 dự báo này đã thành hiện thực. Xin tham khảo thêm: Trần Văn Hải, bài đã dẫn, website http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/02/03/4410-2/

79

80

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful