Bài 789
Bài 789
7.1. An toàn khi lắp đặt hệ thống ống môi chất lạnh
7.1.1. Quy định an toàn trong lắp đặt hệ thống ống môi chất lạnh
a) b) c)
d) e)
Hình 7.1. Các loại mối nối ống
a) Nối loe (nối rắcco) b) Nối hàn đồng c) Khớp nối ống không cần hàn
d) Khớp nối ren ngoài e) Hàn mặt bích (dùng chế tạo ống nước)
7.1.2. Tìm hiểu một số mối nối ống dùng trong kỹ thuật lạnh
Trước khi đưa vào sử dụng bất cứ hệ thống lạnh nào, tất cả các bộ phận hoặc toàn bộ hệ
thống lạnh phải trải qua các phép thử sau:
a) Thử độ bền chịu áp lực;
b) Thử độ kín;
c) Thử chức năng của các cơ cấu an toàn chuyển mạch để giới hạn áp suất;
d) Thử sự tuân theo lắp đặt hoàn chỉnh. Các mối nối phải tiếp cận được để kiểm tra
trong khi đang tiến hành phép thử độ bền chịu áp lực và phép thử độ kín. Sau thử
nghiệm độ bền chịu áp lực và thử nghiệm độ kín và trước khi hệ thống được khởi
động lần đầu tiên phải thực hiện thử chức năng của tất cả các mạch điện an toàn.
Kết quả thử của các phép thử này phải được ghi lại.
7.2.2. An toàn khi thử bền hệ thống ống môi chất lạnh
Nếu đường ống và các mối nối đường ống không được thử trước thì áp dụng các
yêu cầu sau cho đường ống và các mối nối đường ống còn lại không được thử trước.
Đối với đường ống và các mối nối đường ống còn lại thuộc loại II hoặc cao hơn,
phải áp dụng một trong các phép thử sau:
- Thử độ bền chịu áp lực riêng ở áp suất nhỏ nhất 1,43 x PS.
- Đường ống và các mối nối ống còn lại phải được thử độ bền chịu áp lực ở áp suất nhỏ
nhất 1,1 x PS.
- Ngoài ra 10% các mối nối cố định thuộc loại II hoặc cao hơn phải được thử không phá
hủy.
Chú thích: Áp suất lớn nhất cho phép (PS)
- Đối với phép thử độ bền chịu áp lực, các cơ cấu an toàn và các cơ cấu điều khiển có thể
được tháo ra nếu cần thiết.
- Đối với mối nối của các bộ phận này, phép thử độ kín là cần thiết nếu các bộ phận được
kết nối lại với thiết bị sau khi thử độ bền chịu áp lực.
- Áp suất lớn nhất cho phép có thể được quy định riêng cho mỗi phần của hệ thống.
Trong trường hợp này, áp suất thử có thể khác nhau cho mỗi phần của hệ thống.
- Trong quá trình của phép thử này, phía áp suất thấp của các máy nén không nên chịu
các áp suất thử vượt quá PS trên phía áp suất thấp do nhà sản xuất quy định.
- Phép thử trên hệ thống lắp đặt phải được thực hiện bằng khí không nguy hiểm. Không
được sử dụng oxy. Không được sử dụng không khí cho các hệ thống được lắp đặt tại hiện
trường.
- Phải thực hiện phép thử độ bền chịu áp lực trên ba mẫu thử của mỗi bộ phận và các mối
nối hoặc trên toàn bộ hệ thống lạnh.
- Phải áp dụng một trong các phương pháp thử sau:
a) Phương pháp 1: Phép thử phải được tiến hành tại ba lần P HIS trên phía áp suất cao và tại
ba lần PLIS trên phía áp suất thấp.
b) Phương pháp 2: Đối với phép thử tăng áp lực đột ngột và chu kỳ thử đầu tiên PS được
xem là PHIS khi phép thử được thực hiện ở phía áp suất cao và PLIS khi phép thử được thực
hiện ở phía áp suất thấp.
Đối với cả hai phương pháp, phép thử độ bền chịu áp lực phải được thực hiện như
một phép thử áp suất thủy tĩnh bằng nước hoặc một vài chất lỏng khác. Phải có sự đề
phòng đầy đủ để ngăn ngừa mối nguy hiểm cho người và giảm tới mức tối thiểu rủi ro
cho tài sản. Tiêu chí chấp nhận: chi tiết hoặc bộ phận được thử không bị phá hủy.
Thử bền:
Thời hạn thử bền không quá 6 năm một lần, và phải thử bền với các yêu cầu như sau (bao
gồm cả trường hợp kiểm định bất thường):
- Môi chất thử là lỏng (nước, chất lỏng không ăn mòn, không độc hại), chất khí (khí trơ,
không khí), nhiệt độ môi chất thử dưới 50 oC và không thấp hơn nhiệt độ môi trường
xung quanh quá 5 oC
- Máy và thiết bị sau khi chế tạo phải được thử bền tại cơ sở chế tạo. Áp suất thử máy nén
amoniac, freon R134a và R22 quy định:
Với thử bền, điều kiện tiến hành thử bền phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Bên cao áp 21
- Tổng số áp suất thử tại nơi lắp đặt. Thời gian duy trì là 5 phút, sau đó hạ dần đến áp suất
làm việc và bắt đầu kiểm tra.
7.3. Biện pháp an toàn khi thử kín hệ thống ống môi chất lạnh
- Phải thực hiện phép thử độ kín theo quy trình như đã quy định trong TCVN 11277
(ISO 14903).
- Trừ khi có sự thỏa thuận khác của nhà sản xuất hệ thống lạnh, các chi tiết hoặc bộ phận
không thuộc phạm vi của TCVN 11277 (ISO 14903) phải được thử với thiết bị phát hiện
có độ nhạy 3 g/yr của môi chất lạnh hoặc cao hơn, ở áp suất tối thiểu là 0,25 x PS. Tiêu
chí chấp nhận là không phát hiện ra rò rỉ
Phép thử độ kín chỉ được tiến hành sau khi bộ phận đã vượt qua phép thử độ bền chịu áp
suất hoặc đã được kiểm tra xác nhận
- Vì lý do an toàn và môi trường, các môi trường thử được ưu tiên là nitơ, heli và cacbon
dioxit. Có thể đưa thêm vào khí thử các chất đánh dấu phóng xạ. Nên tránh sử dụng các
hỗn hợp không khí và khí vì một số hỗn hợp này có thể gây nguy hiểm. Có thể sử dụng
không khí nếu mối nguy hiểm bốc cháy được loại trừ và an toàn của công nhân được bảo
đảm. Không được sử dụng oxy cho các phép thử độ kín.
- Sau khi thử, phải chú ý bảo đảm cho môi trường thử được tháo ra một cách an toàn.
Khi nhà sản xuất không đưa ra chuẩn độ kín, các bộ phận phải được thử với thiết bị có
khả năng phát hiện 3 g/yr (năm) môi chất lạnh rò rỉ hoặc cao hơn ở áp suất tối thiểu là
0,25 x PS.
Quy định chung
- Hệ thống phải được thử rò rỉ ở dạng toàn bộ hệ thống hoặc các phần phù hợp với điều
này trước khi rời khỏi nhà máy nếu được lắp ráp tại nhà máy hoặc được thử trên hiện
trường nếu được lắp ráp hoặc được nạp môi chất lạnh tại hiện trường, nếu cần thiết có thể
được thử ở các giai đoạn hoàn thành hệ thống.
- Một vài kỹ thuật được sử dụng cho thử nghiệm rò rỉ tùy thuộc vào các điều kiện sản
xuất, ví dụ, thử áp lực với khí trơ và tìm theo vết khí phóng xạ. Để tránh phát tán ra chất
nguy hiểm, nên thực hiện thử nghiệm bằng khí trơ như nitơ, heli hoặc cacbon đioxit.
- Vì lý do an toàn, không nên sử dụng không khí, oxy, axitylen hoặc hydrocacbon. Nên
tránh sử dụng hỗn hợp của không khí và khí vì một số hỗn hợp có thể gây nguy hiểm.
Chú thích: Có thể sử dụng quy trình hút chân không để chỉ báo sơ bộ ở mức thô về độ
kín
Đối với các hệ thống trọn bộ có lượng nạp môi chất nhỏ hơn 5 kg được thử với môi chất
lạnh trong hệ thống không được phép có rò rỉ phát hiện được thử hiện trong các trường
hợp sau:
a) Đối với các mối nối được thực hiện tại nhà máy:
- Các mối nối trong các hệ thống kín phải được thử với thiết bị phát hiện có dung lượng
3g môi chất lạnh trong một năm hoặc chính xác hơn ở áp suất tối thiểu là 0,25 x PS;
- Các mối nối trong các hệ thống khác phải được thử với thiết bị phát hiện có dung lượng
5 g môi chất lạnh trong một năm hoặc chính xác hơn ở áp suất tối thiểu là 0,25 x PS.
b) Đối với các mối nối được thực hiện tại hiện trường lắp đặt:
- Các mối nối phải được thử với thiết bị phát hiện có dung lượng 5 g môi chất lạnh trong
một năm hoặc chính xác hơn với thiết bị đứng yên và vận hành hoặc ở áp suất tối thiểu
cho
các điều kiện dừng máy hoặc vận hành này.
Quy trình phát hiện rò rỉ phải tính đến thời gian phản ứng của thiết bị và khoảng cách lớn
nhất giữa chỗ rò rỉ và thiết bị thử.
- Nhà sản xuất phải đưa ra hướng dẫn tương ứng của thiết bị thử rò rỉ. Khi hệ thống
không được thử ở các áp suất yêu cầu trên hoặc không được thử với môi chất lạnh
nguyên chất, người kỹ sư thiết kế phải chứng minh phương pháp thử được áp dụng tương
đương với các yêu cầu nêu trên. Thiết bị phát hiện phải được hiệu chuẩn thường xuyên
theo hướng dẫn của nhà sản xuất
- Mỗi rò rỉ được phát hiện phải được sửa chữa và thử lại về độ kín
a) Thử ở nhà máy:
- Tất cả các bộ phận chứa môi chất lạnh hoặc các hệ thống thiết bị phải được nhà sản xuất
thử nghiệm và chứng minh đạt độ kín ở áp suất không nhỏ hơn áp suất thiết kế được quy
định cho các bộ phận hoặc hệ thống này. Phải thực hiện các phép thử với nitơ khô hoặc
các khí không cháy được, không dễ phản ứng được sấy khô khác. Không được sử dụng
oxy, không khí, hoặc các hỗn hợp chứa các khí này.
- Phương tiện được sử dụng để tạo ra áp suất thử phải có một cơ cấu giới hạn áp suất
hoặc một cơ cấu giảm áp suất và một áp kế trên phía đầu ra. Cơ cấu giới hạn áp suất phải
được chỉnh đặt cao hơn áp suất thử nhưng đủ thấp để ngăn ngừa biến dạng dư của các bộ
phận cấu thành hệ thống.
Có hai ngoại lệ cho các lưu chất thử được nêu trong yêu cầu trên:
- Các hỗn hợp của nitơ khô và các khí trơ kết hợp với khí cháy được ở các nồng độ không
vượt quá giá trị nhỏ hơn của một phần nhỏ trọng lượng (nồng độ khối lượng) 5 % hoặc
25% LFL được phép được cho các phép thử ở các nhà máy.
- Không khí nén không có môi chất lạnh bổ sung được phép sử dụng cho các phép thử ở
nhà máy với điều kiện là hệ thống được hút chân không sau đó tới áp suất nhỏ hơn áp
suất tuyệt đối 132 Pa trước khi nạp môi chất lạnh.
b) Tiêu chí chấp nhận:
- Đối với các môi chất lạnh có tiềm năng làm nóng toàn cầu (GWP) > 150, tiêu chí chấp
nhận cho phép thử này là không phát hiện ra các rò rỉ khi sử dụng thiết bị phát hiện có
dung lượng 10-6 Pa.m3/s hoặc tốt hơn, ví dụ, lượng heli hít vào.
- Đối với các môi chất lạnh có GWP < 150, tiêu chí chấp nhận cho phép thử này là không
phát hiện ra các rò rỉ khi sử dụng thiết bị phát hiện có dung lượng 10 -3 Pa.m3/s hoặc tốt
hơn, ví dụ bôi một chất có hoạt tính bề mặt lên bề mặt ngoài. Bất cứ rò rỉ nào được phát
hiện ở mức độ nhạy nào phải được sửa chữa và thử lại.
c) Thử tại hiện trường
Bất cứ các phần nào của hệ thống được cấu tạo trên hiện trường lắp đặt phải được
thử kín trước khi thiết bị được nạp môi chất lạnh. Quy trình thử tại hiện trường và các
tiêu chí chấp nhận phải tuân theo các yêu cầu của mục a và mục b. Các thành phần đã
được thử kín rồi và có thể được cách ly một cách an toàn khỏi phép thử tại hiện trường
không cần phải được thử lại.
- Máy và thiết bị sau khi chế tạo phải được thử kín tại cơ sở chế tạo. Áp suất thử máy nén
amoniắc, freôn R134a và R22 quy định:
- Tổng số áp suất thử tại nơi lắp đặt. Thời gian duy trì là 5 phút, sau đó hạ dần đến áp suất
làm việc và bắt đầu kiểm tra.
- Những giải pháp kĩ thuật được lựa chọn khi thiết kế các hệ thống thông gió cũng như
những yêu cầu khi xây dựng và vận hành chúng phải phù hợp với các tiêu chuẩn và quy
phạm xây dựng hiện hành.
- Thí nghiệm các hệ thống thông gió phải được tiến hành phù hợp với những yêu cầu
được ghi trong các tài liệu kĩ thuật.
- Việc bố trí các hệ thống thông gió phải đảm bảo an toàn và thuận tiện cho việc lắp ráp,
vận hành và sửa chữa các thiết bị công nghệ và phải tuân theo tiêu chuẩn chiếu sáng hiện
hành đối với các phòng, chỗ làm việc và đường đi lại.
- Để lắp ráp, vận hành bảo dưỡng và sửa chữa các bộ phận của hệ thống thông gió như để
đi lại qua chúng cần phải làm sàn cố định, lối đi lại, thang và các cầu
- Các phòng đặt thiết bị thông gió phải thoáng mát và đảm bảo an toàn cho việc sửa chữa,
lắp ráp và theo dõi các thiết bị. Những phòng này cần có lỗ cửa để lắp ráp và có các thiết
bị nâng chuyển.
- Các chi tiết, kết cấu của hệ thống thông gió, kể cả cơ cấu điều khiển phải phù hợp
những yêu cầu của TCVN 2290:1978 cũng như các tiêu chuẩn và quy phạm hiện hành.
- Các hệ thống thông gió không được làm tăng nguy cơ cháy nổ, không có khả năng lan
truyền cháy nổ và các sản phẩm cháy sang khu vực khác.
Khi xảy ra cháy phải ngừng hoạt động nguy hiểm đến các hệ thống thông gió
trong những khu vực đó theo đúng kể hoạch loại trừ sự cố. Khi có sự cố mà yêu cầu phải
ngừng đồng thời tất cả các hệ thống thông gió trong các phòng sản xuất có nguy hiểm
cháy nổ loại A, B và P được quy định trong TCVN 2622:1978 phải được tiến hành bằng
một cơ cấu đặt ngoài nhà sản xuất.
- Việc bố trí và trang thiết bị các thiết bị điện của hệ thống thông gió, cũng như các dụng
cụ đo lường kiểm tra các bộ phận mang điện và nối đất phải theo đúng yêu cầu của “quy
phạm lắp đặt thiết bị điện” QPXD27:1966 của “quy phạm kỹ thuật an toàn khi vận hành
các thiết bị điện của hộ tiêu thụ” quy phạm tạm thời về nối đất các thiết bị điện
“QPVN13: 1978”.
- Mối nối có thể tháo lắp được ống gió và các bộ phận khác không được bố trí trong sàn
và tường.
- Lắp đặt ống gió của hệ thống hút khí thải, hút bị nên tiến hành sau khi đã lắp các thiết bị
mà chúng phải phục vụ.
- Các chi tiết chờ, chôn sẵn hoặc bu lông nở của giá treo, giá đỡ phải ở vị trí chính xác,
chắc chắn, các phần chôn chìm thì không được sơn và phải làm sạch hết dầu mỡ.
- Khoảng cách của giá treo, chống và đỡ đường ống thông gió không có bảo ôn nếu
không có yêu cầu riêng của thiết kế thì phải phù hợp với các quy định sau:
a) Lắp đường ống nằm ngang, đường kính hoặc độ dài cạnh lớn của ống gió < 400 mm
thì khoảng cách không quá 4 m; ≥ 400 mm thì cự li không quá 3 m.
b) Lắp đường ống đứng khoảng cách không được > 4 m nhưng mỗi ống đứng không
được ít hơn hai điểm cố định.
- Phải có điểm cố định thích hợp để chống rung, lắc cho đường ống gió treo
- Giá treo, chống đỡ, đường ống gió không được đặt ở vị trí cửa gió, cửa van và cửa kiểm
tra. Giá treo không được trực tiếp treo vào mặt bích ống.
- Độ dày của gioăng mặt bích lấy bằng 3 ÷ 5 mm. Gioăng không được nhô vào trong ống.
Êcu của bulong liên kết mặt bích phải nằm về một phía.
- Vật liệu làm gioăng mặt bích nếu không có yêu cầu khác của thiết kế thì phải phù hợp
các quy định sau:
a) Với ống gió vận chuyển không khí có nhiệt độ nhỏ hơn 70 oC thì dùng tấm cao su, tấm
cao su bọt không lỗ …
b)Với ống gió vận chuyển không khí có nhiệt độ lớn hơn 70 oC thì dùng tấm cao su chịu
nhiệt.
c) Với ống gió vận chuyển chất khí có tính ăn mòn thì dùng tấm cao su chịu axit hoặc
tấm nhựa polyvinyl chlorite mềm …
d) Với ống gió vận chuyển hơi nước ngưng tụ trong sản xuất hoặc không khí ẩm có hơi
nước thì dùng tấm cao su hoặc cao su bọt không lỗ.
e) Với ống gió của hệ thống hút bụi thì dùng tấm cao su.
- Lắp đặt đường ống gió nằm ngang, chênh lệch độ cao cho phép mỗi mét không quá 3
mm. Tổng chệnh lệch không quá 20 mm.
Lắp đặt ống gió đứng, chệnh lệch độ thẳng đứng mỗi mét không quá 3 mm. Tổng chênh
lệch không được quá 20 mm.
- Đường ống dẫn hơi nước ngưng tụ trong sản xuất hoặc dẫn không khí ẩm có hơi nước
phải lắp đặt có độ dốc theo đúng yêu cầu kỹ thuật, đáy của đường ống gió không nên đặt
các mối nối dọc, nếu có mối nối phải xử lý cho thật kín.
- Lắp đặt hệ thống vận chuyển chất khí dễ cháy, dễ nổ hoặc hệ thống thông gió trong môi
trường dễ cháy, dễ nổ bắt buộc phải có dây nối đất và nên giảm thiểu chỗ nối.
Đường ống gió vận chuyển chất khí dễ cháy, dễ nổ chạy qua các không gian sinh hoạt
hoặc các không gian phụ trợ khác bắt buộc phải thật kín khít, không được có mối hàn.
- Đường ống gió xuyên qua mái nhà phải có chụp che mưa. Ống gió nhô lên cao trên 1,5
mét so với mái nhà phải có dây chằng cố định. Dây chằng không được cố định vào mặt
bích, nghiêm cấm chằng buộc vào kim thu lôi hoặc lưới thu lôi.
- Chỗ tiếp xúc của ống gió bằng thép không gỉ với giá đỡ bằng thép thường phải đặt một
lớp lót vào chỗ có giá đỡ hoặc làm thêm tấm đệm không phải là kim loại.
- Liên kết mặt bích ống gió bằng nhôm phải dùng bulong mạ kẽm, ở hai bên mặt bích
phải đệm bằng rông – đen mạ kẽm.
- Giá đỡ ống nhôm phải mạ kẽm hoặc có quét lớp cách điện chống ăn mòn.
- Các loại đường ống gió bằng thép của hệ thống cấp, hút gió và hút bụi thông thường có
thể liên kết không có mặt bích, chỗ đầu nối phải chặt chẽ, chắc chắn.
- Lắp ống gió nhựa cần phải phù hợp với quy định sau:
a) Tấm đệm bích nên dùng loại cao su chịu axit hoặc tấm nhựa mềm dày 3 ÷ 5 mm.
Bulong để nối mặt bích phải có rông – đen bằng thép
b) Đường ống gió xuyên qua tường hoặc sàn phải có ống lồng ngoài để bảo vệ.
c) Các bộ phận và phụ kiện kim loại dùng cho ống gió phải có lớp chống ăn mòn.
- Khi lắp đặt ống gió bằng nhựa cốt vải thủy tinh cần lưu ý để ống gió không được va đập
và vặn xoáy đề phòng chất keo bị rạn nứt. Những chỗ bị long hoặc vỏ bị phân tầng, bị hư
hại thì phải sửa chữa hoặc thay thế
- Kích thước đường kính trong của ống lồng bằng thép xuyên qua tường hoặc sàn nhà
phải lấy chuẩn sap cho nó có thể lồng được mặt bích và lớ bảo ôn của ống gió, độ dày
thành ống không được nhỏ hơn 2 mm. Ống lồng phải được chôn chặt vào tường, sàn nhà.
+ Thử trục chính xuyên tầng (đường ống trong hộp kỹ thuật):
- Bịt kín đáy ống và các đầu ống vào ống nhánh trục chính. Dùng các van chặn đầu ống
trục chính và nút bịt cho các đầu ống nhánh
- Kiểm tra sự rò rỉ nước trên đường ống. Chỉ tiến hành bọc cách nhiệt kín các đầu nối sau
khi đường ống được thử và kín hoàn toàn.
+ Thử ống nhánh:
- Khi thử kín đường ống nhánh, khoá chặn van trên ống nhánh, đổ nước từ từ vào đầu của
một nhánh bất kỳ, theo dõi sự dò rỉ của nước.
Chỉ tiến hành bọc cách nhiệt kín các đầu nối sau khi đường ống được thử và kín hoàn
hoàn
• Lập các biên bản nghiệm thu công việc thử kín
• Lập biên bản nghiệm thu công việc xây lắp.
Các phương pháp thử kín hệ thống ống nước ngưng điều hòa:
Phương pháp trực quan
– Bằng mắt: khi lắp đặt xong hệ thống ống nước ngưng điều hòa, kiểm tra bằng mắt
thường toàn bộ hệ thống, phát hiện các điểm khả nghi như mối nối, mối ghép. Nếu thấy
có khả năng rò rỉ thì đánh dấu lại trên bản vẽ và trên thực địa để kịp thời khắc phục.
– Bằng tai: dùng quạt thổi vào đường ống, sau đó lắng nghe sự hoạt động của hệ thống.
Điều này cũng có thể phát hiện được các vị trí rò rỉ vì chúng thường gây ra tiếng động.
Phương pháp dùng máy kiểm tra
Ở phương pháp này ta có thể dùng các máy chuyên dụng để kiểm tra thống ống nước
ngưng điều hòa.