0% found this document useful (0 votes)
96 views19 pages

Ôn tập TPQT

Uploaded by

lethihuyen020904
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd
0% found this document useful (0 votes)
96 views19 pages

Ôn tập TPQT

Uploaded by

lethihuyen020904
Copyright
© © All Rights Reserved
We take content rights seriously. If you suspect this is your content, claim it here.
Available Formats
Download as DOCX, PDF, TXT or read online on Scribd

ÔN TẬP TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Câu 1: Trình bày đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Cho ví dụ
minh hoạ.
Đối tượng điều chỉnh của TPQT là những quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình,
lao động, thương mại (những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng) có yếu tố nước
ngoài và các vấn đề tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.
(1) Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài:
BLDS của Việt Nam đưa ra ba căn cứ để xác định yếu tố nước ngoài trong các
quan hệ dân sự, bao gồm: Chủ thể; căn cứ xác lập, thay đổi và chấm dứt quan hệ
dân sự; đối tượng của quan hệ dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 663 BLDS năm
2015: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài
(chủ thể)
VD: Chị A (quốc tịch Việt Nam), Anh Lee Jong (quốc tịch Hàn Quốc) yêu cầu
TAND [Link] giải quyết tranh chấp tài sản chung => Quan hệ hôn nhân gia
đình có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT (Anh Lee Jong
là cá nhân nước ngoài).
Lưu ý: Pháp luật Việt Nam thừa nhận cho phép một công dân mang hai quốc
tịch. Vì vậy khi cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết một mối quan
hệ dân sự có sự tham gia của một bên là cá nhân mang hai quốc tịch là quốc tịch
Việt Nam và quốc tịch và quốc tịch của quốc gia nước ngoài với một bên là cá
nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, quan hệ dân sự này sẽ không được xem là
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài xét về mặt chủ thể. Nhưng nếu quan hệ
trên rơi vào trường hợp được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 663 BLDS
2015 thì quan hệ này là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước
ngoài (sự kiện pháp lý);
VD: A (công dân Việt Nam), công ty B (pháp nhân VN) đã ký kết với nhau một
hợp đồng tại Pháp với nội dung là A sẽ mua 1000 tấn hàng của công ty B =>
Quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của
TPQT (xác lập hợp đồng ở Pháp),
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối
tượng (tài sản hoặc công việc) của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài (khách thể)
VD: A (công dân VN) du học ở Nga để giảm bớt tiền thuê nhà nên A đã mua
một căn nhà ở Nga thuộc sở hữu của B (công dân Việt Nam) => Quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT (căn nhà ở Nga -
đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài).
*Lưu ý: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không còn là chủ thể trong
khoản 2 Điều 663, tuy nhiên vẫn còn là chủ thể trong luật hôn nhân và gia đình.
Do đó, đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: cơ sở pháp
lý là khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (không phải khoản
2 Điều 663 BLDS 2015).
- Quốc gia là chủ thể đặc biệt của TPQT (Điều 97 đến Điều 100 BLDS 2015)
nhưng không liệt kê trong khoản 2 Điều 663 BLDS: Như vậy BLDS đã có sự
ghi nhận của Nhà nước vào các quan hệ dân sự nhưng Điều 663 không ghi nhận
là một sự thiếu sót
(2) Quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài:
Các quan hệ tố tụng đặc thù bao gồm:
- Xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài.
- Thực hiện tương trợ tư pháp trong các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Xác định pháp luật áp dụng nhằm xác định năng lực pháp luật tố tụng và năng
lực hành vi TTDS của người nước ngoài, năng lực pháp luật TTDS của tổ chức
nước ngoài bao gồm tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại
Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài tại Việt Nam;
- Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;
phán quyết của trọng tài nước ngoài
VD: A (công dân VN) du học ở Nga để giảm bớt tiền thuê nhà nên A đã mua
một căn nhà ở Nga thuộc sở hữu của B (công dân Việt Nam). Khi phát sinh
tranh chấp, Tòa án của Nga hay Tòa án của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết
=> Thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT, TPQT sẽ trả lời cho câu hỏi này.
VD: Tòa án của Hoa Kỳ ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn của ông
A đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam và bà B (vợ ông A) đang ở Hoa kỳ.
Ông A có đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận quyết định trên của Tòa án
Hoa Kỳ.
*Ý nghĩa của việc xác định yếu tố nước ngoài:
- Phân biệt TPQT với các ngành luật khác;
- Xác định pháp luật áp dụng phù hợp;
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên;
- Là cơ sở để xác định thẩm quyền của TAQG đối với vụ việc dân sự có YTNN;
- Là cơ sở để giải quyết vấn đề công nhận và cho thi hành một bản án, quyết
định dân sự của TANN
Câu 2:Trình bày các loại nguồn của tư pháp quốc tế. Cho ví dụ với mỗi loại
nguồn. Nêu thứ tự ưu tiên áp dụng các loại nguồn theo quy định của pháp
luật Việt Nam?
Các loại nguồn của tư pháp quốc tế: Điều ước quốc tế, Pháp luật quốc gia,
Tập quán quốc tế.
*Điều ước quốc tế:
- Khái niệm: Là các thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các chủ
thể của Luật Quốc tế. Gồm hai loại: điều ước quốc tế song phương và điều ước
quốc tế đa phương.
- Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 664, khoản 1, 2 Điều 665 BLDS 2015.
-Trường hợp áp dụng:
+ Trường hợp 1: Đối với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo quy
định tại Điều 665 BLDS 2015, việc áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên được phân chia thành hai trường hợp, tùy thuộc vào tính chất của
điều ước quốc tế.
Thứ nhất, đối với các điều ước quốc tế trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo khoản 1 Điều 665
BLDS 2015 thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.
Thứ hai, đối với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác
với quy định của Phần thứ năm BLDS và luật khác về pháp luật áp dụng đối với
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì theo Khoản 2 Điều 665 BLDS, quy
định của điều ước quốc tế đó được áp dụng.
+ Trường hợp 2: Đối với điều ước quốc tế mà Việt Nam không là thành viên
(Khoản 2 Điều 664 BLDS 2015).
Điều ước quốc tế đó được áp dụng trong trường hợp các bên thỏa thuận lựa
chọn và đáp ứng các điều kiện chọn luật. Tuy nhiên hiệu lực của điều ước quốc
tế chỉ như hiệu lực của tập quán quốc tế, không thể được ưu tiên áp dụng so với
pháp luật Việt Nam.
Điều kiện chọn luật:
- Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc Luật Việt Nam ghi nhận về
quyền chọn luật của các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Khoản
2 Điều 664 BLDS 2015).
- Hậu quả của việc chọn luật không trái với các nguyên tắc cơ bản mà pháp luật
Việt Nam quy định (Điều 666, Điều 670 BLDS 2015, Điều 5 LTM 2005).
- Luật được chọn chỉ bao gồm những quy phạm thực chất, không bao gồm quy
phạm xung đột (Khoản 4 Điều 668 BLDS 2015).
- Luật được chọn không nhầm lẩn tránh pháp luật.
Nhận xét: So với pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế có nhiều ưu điểm hơn
trong việc điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế vì điều ước quốc tế được
hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia, do đó đã xây dựng được
những quy phạm thực chất thống nhất và những quy phạm xung đột thống nhất,
giúp cho việc giải quyết các vấn đề trong tư pháp quốc tế được tiến hành một
cách thuận lợi, nhanh chóng.
*Pháp luật quốc gia: nguồn cơ bản và chủ yếu trong tư pháp quốc tế.
- Khái niệm: Hệ thống pháp luật quốc gia được xây dựng dựa trên tổng thể các
quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau và được phân
định thành các chế định pháp luật, ngành luật.
Pháp luật của mỗi quốc gia là nguồn quan trọng của Tư pháp quốc tế vì:
+ Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ mang bản chất dân
sự phát sinh giữa các chủ thể chủ yếu là công dân và pháp nhân các nước chứ
không phải là giữa các quốc gia => vì thế pháp luật quốc gia là nguồn duy nhất
điều chỉnh các mối quan hệ này.
+ Pháp luật quốc gia chứa đựng hầu hết các quy phạm pháp luật điều chỉnh
những vấn đề thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT.
+ Số lượng các điều ước quốc tế và tập quốc tế điều chỉnh các quan hệ TPQT
không nhiều => không thể điều chỉnh được tất cả các vấn đề thuộc các lĩnh vực
điều chỉnh của TPQT.
- Cơ sở pháp lý: Điều 664 BLDS 2015.
- Trường hợp áp dụng:
+ Về nguyên tắc, các quy phạm của TPQT trong các văn bản quy phạm pháp
luật của quốc gia sẽ trực tiếp được áp dụng nhằm điều chỉnh các quan hệ TPQT
tương ứng. Ví dụ, nhằm xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài, các quy định của BLTTDS 2015 tại Điều 469
BLTTDS (thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài), Điều 470 BLTTDS (thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt
Nam).
+ Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành luật tư của mỗi
quốc gia cũng có thể được áp dụng nhằm điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài trong trường hợp:
Các bên tham gia quan hệ đó thỏa thuận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia và
đáp ứng các điều kiện chọn luật theo quy định tại khoản 2 Điều 664, khoản 1
Điều 670 BLDS 2015.
Khi quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia dẫn
chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài (ví dụ: Khoản 2 Điều 674 BLDS
2015, Khoản 1 Điều 39 Hiệp định TTTP Việt Nam – Nga).
Ngoại lệ:
1. Hợp đồng có đối tượng là bất động sản.
2. Hợp đồng lao động, Hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu
của người lao đồng, người tiêu dùng theo quy định của Pháp luật Việt Nam.
*Tập quán quốc tế:
- Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian
dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa
nhận của đông đảo các quốc gia.
- Tập quán chỉ được thừa nhận tập quán quốc tế khi phù hợp với các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế hiện đại và phải được chủ thể của luật quốc tế coi như
quy phạm pháp lý bắt buộc.
- Điều kiện áp dụng: Điều 666 BLDS 2015.
Tập quán quốc tế sẽ được áp dụng nếu thỏa mãn các điều kiện:
+ Được các bên lựa chọn.
+ Giới hạn trong các trường hợp được pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên quy định các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp
dụng.
+ Hậu quả của việc áp dụng TQQT đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam.
=> Thứ tự áp dụng các loại nguồn của TPQT: Điều ước quốc tế - Pháp luật quốc
gia – Tập quán quốc tế
Câu 3. Hiện tương xung đột pháp luật là gì ? Trình bày các phương pháp
giải quyết xung đột pháp luật ? Nêu dẫn chứng về việc áp dụng các phương
pháp đó thể hiện trong pháp luật Việt Nam?
*Khái niệm: Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp
luật khác nhau có thể được áp dụng để giải quyết đối với một quan hệ pháp luật
mang bản chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
˗ Có tồn tại quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Có sự khác
nhau về nội dung cụ thể giữa pháp luật của các nước về cùng một vấn đề.
Phương pháp giải quyết xung đột: có 2 phương pháp chính giải quyết xung đột
pháp luật:
+ Phương pháp thực chất
+ Phương pháp xung đột
* Phương pháp thực chất (phương pháp điều chỉnh trực tiếp)
Khái niệm: Phương pháp thực chất là phương pháp sử dụng các quy phạm pháp
luật thực chất nhằm giải quyết nội dung các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài.
Khác với phương pháp xung đột, phương pháp thực chất trực tiếp điều chỉnh
các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng chính hệ thống các quy phạm của
mình mà không dẫn chiếu đến việc áp dụng hệ thống pháp luật khác, do đó
phương pháp này được gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp.
Phương pháp thực chất thống nhất được thực hiện bằng cách các quốc gia ký
kết các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương.

Ưu điểm:
- Điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài vì các quy
phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh các quan hệ này mà không phải qua một
bước trung gian nào.
- Các chủ thể tham gia thường biết trước các điều kiện pháp lý đó để hợp tác với
nhau trong các quan hệ, tránh được các xung đột xảy ra.
- Điều chỉnh trực tiếp các quan hệ, tính khả thi cao, loại bỏ được sự khác biệt,
mâu thuẫn trong luật pháp giữa các nước với nhau.
Hạn chế:
- Quy phạm thực chất không đáp được yêu cầu thực tiễn do việc xây dựng khó
khăn.
- Không có khả năng thay đổi ứng biến linh hoạt.
- Khó khăn khi xây dựng một quy phạm thực chất thống nhất giữa các quốc˗
gia vì quan hệ dân sự bị ảnh hưởng bởi tập quán, văn hóa mỗi quốc gia…
- Do không dễ dàng xây dựng nên số lượng ít, áp dụng kém linh hoạt mềm˗
dẻo hơn so với phương pháp xung đột.
Cách thức xây dựng quy phạm thực chất:
- Các quốc gia cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên các quy phạm thực chất.
- Được xây dựng trong pháp luật quốc gia nhằm trực tiếp điều chỉnh các quan
hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Quốc gia thừa nhận các tập quán quốc tế (Incoterms, UCP 500)
*Phương pháp xung đột (phương pháp điều chỉnh gián tiếp):
Khái niệm: Phương pháp xung đột là là phương pháp sử dụng các quy phạm
xung đột nhằm lựa chọn hệ thống pháp luật thích hợp để điều chỉnh một quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể.
Phương pháp xung đột điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế với sự trợ
giúp của các quy phạm thực chất trong hệ thống pháp luật mà nó dẫn chiếu đến.
Do đó, phương pháp này còn được gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp.
Hạn chế:
- Thứ nhất, quy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết quyền và nghĩa vụ
của các bên trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà chỉ dẫn chiếu
đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật cụ thể.
- Thứ hai, quy tắc giải quyết xung đột pháp luật ở các nước là khác nhau, cùng
một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài những quy tắc chọn pháp luật áp dụng
ở các nước là khác nhau. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết
tranh chấp và các bên tham gia quan hệ dân sự này.
- Thứ ba, việc áp dụng quy phạm xung đột đòi hỏi người áp dụng pháp luật phả
có những kiến thức và kỹ năng cơ bản về Tư pháp quốc tế như kiến thức về
xung đột pháp luật, về áp dụng pháp luật nước ngoài, về dẫn chiếu về bảo lưu
trật tự công cộng…
- Thứ tư, không áp dụng trực tiếp mà trải qua nhiều giai đoạn gây mất thời gian.
Ví dụ: nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nước ngoài thì
cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định nội dung pháp luật nước nước ngoài,
giải thích pháp luật nước ngoài, các vấn đề phức tạp nảy sinh như bảo lưu trật tự
công, dẫn chiếu ngược trở lại, dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba…
Ưu điểm:
- Thứ nhất, Quy phạm xung đột không quy định quyền và nghĩa vụ của các bên
tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà chỉ quy định cách thức chọn
hệ thống pháp luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ đó → Dễ dàng điều chỉnh
các quan hệ này → Linh hoạt, mềm dẻo và mang tính khách quan cao hơn
phương pháp thực chất, có thể áp dụng trong mọi quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài kể cả những quan hệ dân sự chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập
quán.
- Thứ hai, điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bằng phương pháp
xung đột mang tính khách quan cao.
- Thứ ba, số lượng quy phạm xung đột (kể cả quy phạm xung đột thống nhất) rất
phong phú do việc xây dựng các quy phạm xung đột, kể cả quy phạm xung đột
trong các điều ước quốc tế dễ tiến hành hơn việc xây dựng các quy phạm thực
chất thống nhất.
Cách thức xây dựng quy phạm xung đột:
- Các quốc gia cùng thỏa thuận xây dựng nên các quy phạm xung đột thống
nhất trong các điều ước quốc tế (VD: HĐTTTP giữa Việt Nam và Nga…)
- Được chính quốc gia đơn phương ban hành (VD: Phần VII của BLDS 2015,
Phần thứ tám của BLTTDS 2015, Luật HN&GĐ 2014, Luật Hàng hải…)
*Kết luận:
- Hai phương pháp này được sử dụng bổ sung, hỗ trợ nhau mà không xung đột
lẫn nhau, ưu điểm của phương pháp này là nhược điểm của phương pháp kia và
ngược lại.
- Tùy từng mối quan hệ và khả năng thương lượng,…để các quốc gia lựa chọn
phương pháp thích hợp
- Nêu dẫn chứng về việc áp dụng các phương pháp đó thể hiện trong pháp luật
Việt Nam:
+ Phương pháp thực chất: khoản 1 Điều 121 Luật HNGD 2014 quy định về bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ HN&GD có yếu tố
nước ngoài...
+ Phương pháp xung đột: Điều 126 Luật HN&GD 2014 quy định trong việc kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo
pháp luật của nước mình về điều hiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn
phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn. Việc kết hôn
giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết
hôn.
+ Việc áp dụng tập quán được quy định tại khoản 2 Điều 5 BLDS 2015.
Câu 4. Trình bày khái niệm và các trường hợp áp dụng pháp luật nước
ngoài ? Có phải pháp luật nước ngoài luôn được áp dụng khi được quy
pham xung đột dẫn chiếu hay không ? Giải thích tại sao và dẫn chứng căn
cứ pháp lý theo pháp luật Việt Nam hoặc ĐUQT.
- Khái niệm: Áp dụng pháp luật nước ngoài là hoạt động thi hành pháp luật
quốc gia thông qua việc áp dụng quy định của pháp luật nước ngoài nhằm điều
chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật nước ngoài có thể được áp
dụng cho các giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài theo Điều 664 Bộ luật Dân
sự 2015, cụ thể:
+ Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định
theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
hoặc luật Việt Nam.
+ Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp
luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo
lựa chọn của các bên.
+ Pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài đó.
- Không phải mọi trường hợp pháp luật nước ngoài luôn được áp dụng khi được
quy pham xung đột dẫn chiếu ngoại trừ 2 trường hợp được quy định tại Điều
670 Bộ luật dân sự năm 2015.
Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường
hợp sau đây:
a) Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ
bản của pháp luật Việt Nam;
b) Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng
các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.
+ Trường hợp thứ nhất đó luật nước ngoài sẽ không được áp dụng nếu hậu quả
của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam
+ Trường hợp hai đó là pháp luật nước ngoài cũng không được áp dụng nếu nội
dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các
biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật nước ngoài có thể được áp
dụng cho các giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài theo Điều 664 Bộ luật Dân
sự 2015, cụ thể:
+ Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định
theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
hoặc luật Việt Nam.
+ Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp
luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo
lựa chọn của các bên.
+ Pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài đó.
Câu 5:Anh chị hiểu hiện tương lẩn tránh pháp luật trong tư pháp quốc tế
là gì và cho ví dụ? Các thủ đoạn lẩn tránh pháp luật? Theo anh chị thì
pháp luật Việt Nam hiện nay có quy định chế tài cho hiện tương này hay
không?
- Khái niệm: Lẩn tránh pháp luật là hiện tượng đương sự dụng những biện
pháp cũng như thủ đoạn để thoát khỏi hệ thống pháp luật đãng nhẽ phải được áp
dụng để điều chỉnh các quan hệ của họ và nhằm tới một hệ thống pháp luật khác
có lợi hơn cho mình.
VD: Một cặp vợ chồng xin li hôn ở nước A không được vì các điều kiện cấm li
hôn, họ chạy sang nước B, nơi mà ở đó điều kiện li hôn dễ dàng hơn để được
phép li hôn.
- Các biện pháp, thủ đoạn:
+ Di chuyển trụ sở, Ví dụ: Hàng loạt các doanh nghiệp thương mại buôn bán ở
New York lại đăng ký pháp nhân ở các bang khác vì điều kiện đăng ký ở đó rất
dễ dàng và thuận lợi, lệ phí lại không đáng kể. Để đỡ tốn kém và thoát khỏi nộp
lệ phí nặng nề ở Anh khi thành lập pháp nhân, các công ty đã đặt trụ sở điều
hành của công ty ở Thụy Sỹ, Lúcxămbua và các nước khác, nơi mức lệ phí
thành lập công ty ít hơn nhiều so với ở Anh; sau đó, các công ty này quay trở lại
Anh kinh doanh với danh nghĩa là công ty nước ngoài.
- Thay đổi nơi cư trú. Ví dụ: Một cặp vợ chồng xin ly hôn ở nước này không
được vì các điều kiện cấm ly hôn, họ sang một nước khác, nơi mà ở đó điều
kiện ly hôn dễ dàng hơn để được phép ly hôn.
+ Thay đổi quốc tịch,
+ Thay đổi nơi ký kết hợp đồng
+ Chuyển động sản thành bất động sản hoặc ngược lại từ nước này sang nước
khác...
- Ở Việt Nam, mọi hành vi lẩn tránh pháp luật là vi phạm và không được chấp
nhận. Quan điểm này của Việt Nam đã được thể hiện trong các văn bản pháp
luật.
Ví dụ: Trước đây tại khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 quy định: “Việc kết hôn
của công dân Việt Nam với người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và
tuân theo pháp luật nước đó về nghi thức kết hôn thì được công nhận tại Việt
Nam, trừ trường hợp việc kết hôn đó có ý định rõ ràng là để lẩn tránh các quy
định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn”.
K1 Điều 20 Nghị định 68 Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc
với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu
vào thời điểm kết hôn công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp
luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn.
Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn,
nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi phạm
đó đã được khắc phục hoặc công nhận việc kết hôn đó là có lợi cho việc bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì hôn nhân đó cũng được công nhận tại Việt
Nam.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có quy định nào rõ ràng về hậu quả
pháp lý của việc lẩn tránh pháp luật.
Câu 6. Phân tích các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tư pháp quốc tế.
Tại sao nói quốc gia là chủ thể đặc biệt của TPQT ? Giải thích ?
* Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tư pháp quốc tế:
- Khái niệm: Là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, do
vậy chủ thể cơ bản và phổ biến của Tư pháp quốc tế là cá nhân và pháp nhân,
trong đó người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được xem là chủ thể đặc
trưng của tư pháp quốc tế
- Do có sự phát triển giao lưu dân sự quốc gia, có thêm quốc gia, tổ chức quốc
tế liên chính phủ cũng là chủ thể của Tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, khác với cá
nhân và pháp nhân đây không phải là chủ thể phổ biến mà là chủ thể đặc biệc
của tư pháp quốc tế.
- Do có sự khác biệt về đặc điểm, chức năng nên địa vị pháp lý của các chủ thể
trên khi tham gia vào các quan hệ của Tư pháp quốc tế cũng có sự đặc biệt.
Chủ thể của Tư pháp quốc tế: bao gồm các loại chủ thể được quy định tại Điều
663 BLDS 2015, Điều 464 BLTTDS 2015, Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và
Gia đình 2014.
a. Người nước ngoài:
+ Khái niệm
- Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và
người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.
(Khoản 1 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cư trú của người nước
ngoài tại Việt Nam 2014).
- Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch
Việt Nam. (Khoản 1 Điều 3 Luật Quốc tịch)
- Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không
có quốc tịch nước ngoài. (Khoản 2 Điều 3 Luật Quốc tịch)
-Năng lực pháp luật dân sự (Điều 673 BLDS 2015)
- Nguyên tắc: Được xác định theo pháp luật mà người đó có quốc tịch.
-Trường hợp người nước ngoài tại Việt Nam
+ Pháp luật Việt Nam
+ Năng lực hành vi dân sự (Điều 674 BLDS 2015)
-Nguyên tắc: Được xác định theo pháp luật mà người đó có quốc tịch.
-Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt
Nam Pháp luật Việt Nam
- Đối với người nước ngoài là người không quốc tịch hoặc người có từ hai quốc
tịch nước ngoài trở lên, việc xác định năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự tuân theo nguyên tắc chung (Điều 672 BLDS 2015).
- Người có nhiều quốc tịch (trong đó không có quốc tịch Việt Nam)
+ Xác định theo pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời
điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
+ Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc
nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài -> Áp dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch
và có mối liên hệ gắn bó nhất.
- Người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam ->Áp dụng pháp
luật Việt Nam.
- Người không quốc tịch
+ Xác định theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
+ Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào
thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài -> Áp dụng pháp luật
của nước mà người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.
b. Pháp nhân nước ngoài:
- Mục đích của việc xác định quốc tịch của pháp nhân
+ Giúp xác định pháp nhân đó là pháp nhân trong nước hay pháp nhân nước
ngoài, từ đó áp dụng phù hợp chế độ pháp lý cho pháp nhân.
+ Khi tiến hành hoạt động ở nước ngoài, pháp nhân được nhà nước mà nó mang
quốc tịch bảo hộ về mặt ngoại giao.
+ Giải quyết các vấn đề pháp lý như xác định tư cách pháp nhân, điều kiện
thành lập, tổ chức lại hoạt động và chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân, việc giải
quyết tài sản của pháp nhân.
- Nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân:
+ Xác định quốc tịch pháp nhân dựa vào nơi có trung tâm quản lý của pháp
nhân.
+ Xác định quốc tịch pháp nhân theo nơi thành lập của pháp nhận hoặc nơi đăng
ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập.
+ Xác định quốc tịch pháp nhân dựa vào nơi pháp nhân tiến hành các hoạt động
chủ yếu.
- Nguyên tắc giải quyết xung đột về quốc tịch của pháp nhân theo háp luật Việt
Nam: Tại Việt Nam, nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân “theo pháp luật
của nước nơi pháp nhân thành lập” (Khoản 1 Điều 676 BLDS 2015).
*Quốc gia – chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế.
- Quốc gia là chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế vì: Chủ thể cơ bản của Tư
pháp quốc tế là các cá nhân và pháp nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
nhất định định vai trò của quốc gia không chỉ dừng lại ở các mối quan hệ mang
bản chất công mà còn tham gia vào các mối quan hệ mang bản chất tư (thương
mại, dân sự…). Nếu mà quốc gia tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, khi này, quốc gia có một địa vị pháp lý đặc biệt, đó là quốc gia được
hưởng các quyền miễn trừ.
- Quyền miễn trừ về tài phán:
+ Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không một Tòa án nước ngoài nào
có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn dân sự.
+ Ngoại lệ:
(1) Trường hợp quốc gia đã từ bỏ quyền này;
(2) Đối với các giao dịch thương mại như hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc
cung ứng dịch vụ, những hợp đồng cho vay hoặc giao dịch tài chính,…
 -Quyền miễn trừ đối với các biện pháp bảo đảm cho vụ kiện:
+ Nếu một quốc gia đồng để Tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ việc
tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì Tòa án nước ngoài đó được
quyền xét xử nhưng không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào
như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử.
+ Ngoại lệ:
(1)Khi quốc gia thể hiện sự tự nguyện từ bỏ quyền này một cách minh thị;
(2) Khi quốc gia đã có sự phân biệt, dành riêng một hay nhiều loại tài sản của
mình là đối tượng của vụ kiện để phục vụ cho vụ kiện.

-Quyền miễn trừ các biện pháp cưỡng chế thi hành án:
+ Nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của Tòa án nước ngoài đó cũng phải
được
quốc gia tự nguyện thi hành.
+ Ngoại lệ: (1) Quốc gia thể hiện sự đồng ý một cách minh thị trong việc áp
dụng biện pháp viện dẫn bằng một điều ước quốc tế hay bằng một thỏa thuận
trọng tài hay bằng một tuyên bố trước một Tòa án hoặc một thông báo viết sau
khi tranh chấp phát sinh;
(2) Quốc gia có tài sản được dành riêng làm đối tượng của vụ kiện để phục vụ
cho vụ kiện.....

Câu 7. Trình bày khái niệm xung đột thẩm quyền trong tư pháp quốc tế?
Phân tích thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam? Cho ví dụ minh
hoa.
* Khái niệm: Xung đột thẩm quyền trong TPQT là việc các cơ quan có thẩm
quyền xét xử của hai hay nhiều nước cùng có thẩm quyền xét xử đối với với các
vụ án, án kiện phát sinh từ các quan hệ dân sự ( theo nghĩa rộng) có yếu tố nước
ngoài.
Phân tích thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam? Cho ví dụ minh hoa
- Thẩm quyền riêng biệt: là loại thẩm quyền mà trong quy định của pháp
luậtquốc gia hoặc ĐUQT xác định chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
quốc gia mình. Thẩm quyền riêng biệt mang tính độc quyền nên đối với các vụ
việc dân sự có yếutố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt nam theo
quy định của pháp luật Việt Nam, nếu Toà án nước ngoài giải quyết, bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đó sẽ không được công nhận và cho
thi hành trên lãnh thổ Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê các vụ việc dân sự có yếu
tốnước ngoài được quy định tại Điều 470 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015. Cấu
trúc của Điều 470 BLDS 2015 được chia thành hai phần: vụ án dân sự có yếu tố
nước ngoài và việcdân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, các vụ việc thuộc
thẩm quyền riêng biệt của tòaán Việt nam được liệt kê theo từng trường hợp.
*Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt
củaTòa án Việt Nam được quy định tại Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015
+ Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên
lãnh thổ Việt Nam (Điểm a Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015).
- Quyền đối với tài sản được hiểu chủ yếu là quyền sở hữu đối với tài sản và
quyền khác đối với tài sản.
- Do tính chất đặc thù của bất động sản là vật luôn cố định tại một vị trí địa
lýnhất định cho nên để thuận tiện cho việc giải quyết tranh chấp về bất động
sản, pháp luật Việt Nam đã quy định tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm
quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.
- Theo quy định của BLDS 2015, quyền đối với tài sản là bất động sản bao
gồmquyền sử dụng đất, quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là bất động
sản. Căn cứ để Tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền riêng biệt để giải quyết vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo điểm a Khoản 1 Điều 470 BLDS là tranh
chấp dân sự có liên quan đến quyền sử dụng đất (nếu bất động sản là đất đai)
hoặc liên quan đến quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt đối với tài sản là nhà ở, xưởng sản xuất, …, hoặc liên quan đến
các quyền khác đối với bất động sản nói chung bao gồm quyền đối với bất động
sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt
+ Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người
không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt
Nam (Điểm b Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015).
Ở thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam được quy định tại Điểm d Khoản 1
Điều 469 BLTTDS 2015 quy định về đương sự của vụ án ly hôn là cả công dân
Việt Nam và người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Ở
quy định về thẩm quyền riêng, pháp luật Việt Nam đã quy định hẹp hơn về đối
tượng của vụ án ly hôn, là vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài và người không quốc tịch. Và yếu tố cư trú, làm ăn, sinh sống lâu
dài là yếu tố quyết định để vụ án ly hôn này thuộc thẩm quyền riêng việt của
Tòa án Việt Nam.
+ Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết
theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam (Điểm c
Khoản 1 Điều 470BLTTDS 2015)
Đây là quy định rất mới trong BLTTDS Việt Nam về thỏa thuận lựa chọn Tòa
án để giải quyết. Trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và
pháp luật Việt Nam chủ yếu ghi nhận quyền chọn Tòa án của các bên trong lĩnh
vực hợp đồng có yếutố nước ngoài (Xem thêm Điều 36 Hiệp định TTTP LBN –
VN: Trong trường hợp này các bên được quyền thỏa thuận thay đổi thẩm quyền
giải quyết), quyền chọn Tòa án ở Việt Nam cũng chỉ mới ghi nhận đối với hợp
đồng liên quan đến hàng hải ( Khoản 2 Điều 5 Bộ luật hàng hải 2015)
BLTTDS ghi nhận quyền lựa chọn Tòa án giữa các bên nhưng chưa quy
địnhcách thức để thực hiện quyền này, đây là hạn chế trong quy định của pháp
luật ViệtNam.
*Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt
củaTòa án Việt Nam được quy định tại Khoản 2 Điều 470 BLTTDS 2015.
+ Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy
định tại Khoản 1 Điều 470 BLTTDS (Điểm a Khoản 2 Điều 470
BLTTDS).Giống như những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa
án Việt Nam, những yêu cầu liên quan đến những vụ án dân sự đó cũng thuộc
thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.
+ Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm b
Khoản 2 Điều 470 BLTTDS).
Sự kiện pháp lý được hiểu là những sự kiện theo quy định của pháp luật, khi
xảy ra có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên.
Sự kiện pháp lý có thể là việc giải thể, phá sản của doanh nghiệp, hoặc sự chết
của 1 cá nhân,….. Nếu các sự kiện trên xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, muốn xác
định các sự kiện này chỉ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xác định
+ Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị
mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền,
nghĩa vụ củahọ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác (Điểm c
Khoản 2 Điều 470 BLTTDS).
Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất
tích, đã chết thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nếu việc tuyên
bố đó cóliên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của
họ trên lãnh thổ Việt Nam.
+ Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành
vidân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến
việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm d Khoản 2
Điều 470 BLTTDS).
Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự, mất năng lực hành vi dân sự thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt
Nam nếuviệc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ
trên lãnh thổ Việt Nam.
Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu
của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm đ
Khoản 2 Điều 470 BLTTDS). Tài sản ở đây là bao gồm bất động sản hoặc động
sản, nếu tài sản này được chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản thì tài
sản được xem là vô chủ. Tài sản vô chủ này ở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm
quyền công nhận tài sản vô chủ thuộc về ViệtNam. Bên cạnh đó, việc công nhận
quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sảnvô chủ trên lãnh thổ Việt
Nam là vấn đề không tách rời khỏi tài sản cũng thuộc thẩmquyền riêng biệt của
Tòa án Việt Nam.

You might also like