TCVN13469-2 2022 919752
TCVN13469-2 2022 919752
TCVN 13469-2:2022
ISO/TR 52000-2:2017
HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG CỦA TÒA NHÀ - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG TỔNG THỂ CỦA
TÒA NHÀ - PHẦN 2: GIẢI THÍCH VÀ MINH CHỨNG CHO TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)
Energy performance of buildings - Overarching EPB assessment - Part 2: Explanation and justification
of TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
3.1 Tòa nhà (building)
3.2 Điều kiện trong nhà và ngoài nhà (indoor and outdoor condition)
3.3 Hệ thống kỹ thuật tòa nhà (technical building systems)
3.4 Năng lượng (energy)
3.5 Hiệu quả năng lượng (energy performance-EP)
3.6 Tính toán năng lượng (energy calculation)
3.7 Thông tin chung về thuật ngữ và định nghĩa
3.7.1 Tổng quát
3.7.2 Thuật ngữ và định nghĩa chung
3.7.3 Sự khác biệt giữa định nghĩa và quy định kỹ thuật
3.7.4 Thuật ngữ liên quan đến chính sách chưa được định nghĩa hoặc không được quy định
4 Ký hiệu, đơn vị, các chỉ số dưới và thuật ngữ viết tắt
4.1 Ký hiệu
4.2 Chỉ số dưới
4.3 Thuật ngữ viết tắt
5 Mô tả khung tổng thể và các quy trình
5.1 Đầu ra của phương pháp
5.2 Mô tả tổng quát các quy trình và định tuyến
5.3 Tiêu chí lựa chọn giữa các phương pháp
5.4 Cấu trúc của mô-đun tham chiếu tổng thể
5.4.1 Mục đích
5.4.2 Cấu trúc mô-đun có hệ thống của các tiêu chuẩn
5.4.3 Kết nối giữa các mô-đun - Thực hiện theo từng bước
5.4.4 Việc đánh số liên tiếp theo hệ thống của tiêu chuẩn
6 Các bước chuẩn bị tổng thể
6.1 Tổng quát
6.2 Danh sách các loại và phân loại
6.2.1 Loại đối tượng
6.2.2 Phân loại tòa nhà và không gian
6.2.3 Loại hình ứng dụng
6.2.4 Loại hình đánh giá
6.2.5 Dịch vụ tòa nhà
6.3 Xác định loại và phân loại cho một trường hợp cụ thể
6.4 Các trường hợp ví dụ
6.4.1 Tổng quát
6.4.2 Trường hợp ví dụ 1
6.4.3 Trường hợp ví dụ 2
6.4.4 Trường hợp ví dụ 3
6.4.5 Trường hợp ví dụ 4
6.4.6 Trường hợp ví dụ 5
6.4.7 Trường hợp ví dụ 6
7 Hiệu quả năng lượng tính toán của tòa nhà
7.1 Dữ liệu đầu ra
7.2 Khoảng thời gian tính toán và kỳ tính toán
7.2.1 Khoảng thời gian tính toán
7.2.2 Kỳ tính toán
7.3 Dữ liệu đầu vào
7.3.1 Dữ liệu sản phẩm
7.3.2 Dữ liệu thiết kế hệ thống
7.3.3 Điều kiện vận hành
7.3.4 Hằng số và dữ liệu vật lý
7.3.5 Dữ liệu khác
7.4 Mô tả quy trình tính toán
8 Hiệu quả năng lượng tổng thể đo lường và so sánh với tính toán
8.1 Tổng quát
8.2 Đầu ra của phương pháp
8.3 Khoảng thời gian đo lường và kỳ đo lường
8.4 Dữ liệu đầu vào
8.4.1 Dữ liệu sản phẩm
8.4.2 Dữ liệu thiết kế hệ thống
8.4.3 Dữ liệu điều kiện vận hành
8.4.4 Dữ liệu vật lý và hằng số
8.4.5 Dữ liệu khác
8.5 Quy trình đo lường
8.6 Tính toán hiệu quả năng lượng dựa trên năng lượng đo lường
8.7 So sánh giữa hiệu quả năng lượng tính toán và hiệu quả năng lượng đo lường
8.8 Báo cáo hiệu quả năng lượng đo lường
9 Đánh giá tổng thể hiệu quả năng lượng của tòa nhà
9.1 Phân loại tòa nhà và/hoặc không gian
9.2 Tổ hợp các dịch vụ tòa nhà bao gồm hiệu quả năng lượng của tòa nhà trong từng không gian.
9.3 Diện tích sàn hữu ích và thể tích không khí
9.4 Chuẩn hóa kích thước tòa nhà
9.4.1 Kích thước tham chiếu
9.4.2 Chuẩn hóa
9.4.3 Diện tích sàn tham chiếu
9.5 Ranh giới và đường bao ranh giới đánh giá
9.5.1 Nguyên tắc chung
9.5.2 Ranh giới đánh giá cho nhiều tòa nhà
9.6 Hiệu quả năng lượng tổng thể
9.6.1 Cân bằng năng lượng tổng thể theo trọng số
9.6.2 Chỉ số năng lượng sơ cấp
9.6.3 Chỉ số phát thải khí nhà kính
9.6.4 Chỉ số trọng số bổ sung
9.6.5 Chỉ số chi phí
9.6.6 Chỉ số trọng số cho năng lượng xuất đi
9.6.7 Dòng năng lượng
9.7 Phần đóng góp của năng lượng tái tạo
9.7.1 Tổng quát
9.7.2 Lượng năng lượng sơ cấp từ nguồn tái tạo EP;ren
9.7.3 Tổng năng lượng sơ cấp EPtot
9.7.4 Ví dụ về tính toán RER
9.8 Chỉ số hiệu quả năng lượng cho hệ thống kỹ thuật tòa nhà
9.9 Phương pháp tính toán chỉ số hiệu quả năng lượng trên mỗi phần của một tòa nhà và/hoặc dịch
vụ
10 Phân vùng tòa nhà
10.1 Tổng quát
10.2 Vùng nhiệt và khu vực phục vụ
10.3 Không gian
10.4 Quy tắc phân vùng
10.4.1 Nguyên tắc
10.4.2 Tiêu chí phân vùng cụ thể
10.5 Quy tắc gán dữ liệu
10.5.1 Phân chia
10.5.2 Tái tổ hợp
10.6 Quy trình phân vùng
11 Tính toán hiệu quả năng lượng, định tuyến và cân bằng nhiệt
11.1 Tổng quát
11.2 Quy trình tính toán tổng thể (các bước)
11.3 Nguyên tắc tính toán thu hồi và tổn thất
11.4 Ảnh hưởng của tự động hóa và kiểm soát tòa nhà (BAC) và quản lý kỹ thuật tòa nhà (TBM)
11.5 Dữ liệu khí hậu và môi trường bên ngoài
11.6 Hiệu quả năng lượng tổng thể
11.6.1 Tổng quát
11.6.2 Điện năng và các chất mang năng lượng khác được xuất đi
11.6.3 Chất mang năng lượng mà không có xuất năng lượng đi
11.6.4 Nhiệt xuất đi được sản xuất tại chỗ và không bao gồm trong việc sử dụng nhiệt của tòa nhà
12 Đầu ra tổng thể chung - Tổng quát
12.1 Tổng quát
12.2 Tổng quan dạng bảng năng lượng trên mỗi chất mang năng lượng và dịch vụ năng lượng
12.2.1 Giá trị tuyệt đối
13 Thông tin bổ sung về tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể
13.1 Ví dụ thực hiện
13.2 Dải áp dụng
13.3 Quy định sử dụng
13.4 Kiểm tra xác nhận
13.5 Những vấn đề về chất lượng
Phụ lục A (Tham khảo) Bảng dữ liệu đầu vào và lựa chọn phương pháp - Bản mẫu
Phụ lục B (Tham khảo) Bảng dữ liệu đầu vào và lựa chọn phương pháp - Lựa chọn mặc định
Phụ lục C (Tham khảo) Chỉ số dưới chung
Phụ lục D (Tham khảo) Tính toán hiệu quả năng lượng đo lường
Phụ lục E (Tham khảo) Phương pháp tính toán các chỉ số hiệu quả năng lượng cho mỗi phần của một
tòa nhà và/hoặc dịch vụ
Phụ lục F (Tham khảo) Thuật ngữ theo thứ tự ABC
Phụ lục G (Tham khảo) Chỉ số liên quan đến lưới điện
Phụ lục H (Tham khảo) Đề xuất các chỉ số để đánh giá tòa nhà năng lượng gần bằng không (NZEB)
Phụ lục I (Tham khảo) Hệ thống chiếu sáng
Phụ lục J (Tham khảo) Ví dụ tính toán
Phụ lục K (Tham khảo) Lưu đồ
Phụ lục L (Tham khảo) Danh mục công nghệ
Thư mục tài liệu tham khảo
1)
Các tài liệu tham khảo từ [26] đến [43] (xem Thư mục tài liệu tham khảo) bao gồm các thông tin cơ
bản bao quát hơn về bộ tiêu chuẩn EPB
• Thông gió • Thiết kế tòa nhà
• Chiếu sáng • Tòa nhà mới và hiện hữu
• (Khử) Gia ẩm • Chứng nhận/ dán nhãn
• Tự động hóa và kiểm soát tòa nhà (BAC/BMS)
• Nguồn năng lượng tái tạo
Tại sao cách tiếp cận toàn diện lại quan trọng đối với hiệu quả năng lượng của tòa nhà (EPB)?
Trước đây, các yêu cầu về hiệu quả năng lượng được đặt ra ở cấp độ thành phần - mức cách nhiệt
tối thiểu và hiệu suất tối thiểu của sản phẩm. Tuy nhiên, điều này dẫn đến các giải pháp không tối ưu
và tạo ra rào cản đối với việc chuyển đổi công nghệ cần thiết.
Cách tiếp cận toàn diện để đánh giá hiệu quả năng lượng tổng thể của các tòa nhà và môi trường xây
dựng được cung cấp bởi bộ tiêu chuẩn EPB, là một công cụ chủ chốt để vượt qua những rào cản
này.
Bộ tiêu chuẩn EPB cho phép đánh giá hiệu quả năng lượng tổng thể của một tòa nhà. Điều này có
nghĩa là có thể sử dụng bất kỳ tổ hợp công nghệ nào để đạt được mức hiệu quả năng lượng dự kiến,
với chi phí thấp nhất.
Do sự ‘cạnh tranh’ này giữa các công nghệ khác nhau, cách tiếp cận toàn diện là động lực chính cho
sự đổi mới và thay đổi công nghệ. Các quốc gia sử dụng phương pháp này trong vài năm - chẳng hạn
như Hà Lan - đã có kinh nghiệm triển khai trên quy mô lớn và tiết kiệm chi phí đối với nhiều loại công
nghệ mới.
Và có lợi ích kinh tế: Chi tiêu năng lượng chiếm một phần đáng kể tổng chi phí vận hành của tòa nhà.
Những người sử dụng tiềm năng của bộ tiêu chuẩn EPB là ai và họ cần biết những gì?
Việc đánh giá năng lượng của các tòa nhà được thực hiện vì nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn
như:
- Đánh giá sự phù hợp các quy định của tòa nhà được thể hiện trong điều kiện sử dụng năng lượng
giới hạn hoặc một đại lượng liên quan,
- Tăng tính minh bạch trong các giao dịch bất động sản thông qua việc chứng nhận hiệu quả năng
lượng và/hoặc hiển thị mức năng lượng,
- Giám sát hiệu quả năng lượng của tòa nhà và các hệ thống kỹ thuật của tòa nhà,
- Giúp lập kế hoạch các biện pháp cải tạo thông qua dự báo kết quả tiết kiệm năng lượng sẽ đạt được
từ các hành động.
Nói chung, cách tiếp cận toàn diện có nghĩa là hiệu quả năng lượng được đánh giá bằng tổng năng
lượng được sử dụng cho sưởi ấm, làm mát, chiếu sáng, thông gió, nước nóng sinh hoạt và trong một
số trường hợp là các thiết bị. Nó đảm bảo rằng tất cả các còng nghệ được xử lý đánh giá một cách
bình đẳng và cân bằng.
Với bộ tiêu chuẩn EPB:
- Các nhà hoạch định chính sách có được một công cụ đo lường cho phép thực hiện các biện pháp
trong môi trường xây dựng và định lượng các biện pháp này sẽ làm giảm bao nhiêu năng lượng tiêu
thụ trong các tòa nhà.
- Ngành xây dựng, các kỹ sư và nhà thiết kế có thể cải thiện hiệu suất năng lượng của các thiết kế,
sản phẩm xây dựng và các hệ thống của tòa nhà. Bộ tiêu chuẩn có tính đến các sản phẩm, hệ thống
và thiết kế hiện tại và tương lai. Do cách tiếp cận toàn diện, rủi ro của các giải pháp dưới mức tối ưu
ở cấp độ thành phần được giảm thiểu. Bằng cách này, ngành công nghiệp biết được hướng đổi mới.
- Chủ sở hữu và người ở trong tòa nhà có thể so sánh với các tòa nhà khác và dự báo được tiềm
năng tiết kiệm năng lượng của các cải tiến.
HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG CỦA TÒA NHÀ - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG TỔNG THỂ
CỦA TÒA NHÀ - PHẦN 2: GIẢI THÍCH VÀ MINH CHỨNG CHO TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)
Energy performance of buildings - Overarching EPB assessment - Part 2: Explanation and
justification of TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này bao gồm các thông tin nhằm hỗ trợ việc hiểu đúng, sử dụng và thực hiện chuẩn xác
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1). Thông tin này bao gồm:
- Giải thích về quy trình và thông tin cơ bản và minh chứng về các lựa chọn;
- Lập báo cáo xác nhận các quy trình tính toán được đưa ra trong tiêu chuẩn;
- Giải thích cho người sử dụng và người xây dựng tiêu chuẩn quốc gia trong việc áp dụng bộ tiêu
chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà, bao gồm cả các ví dụ cụ thể.
2 Tài liệu viện dẫn
Không có tài liệu viện dẫn trong tiêu chuẩn này.
Một số giải thích liên quan đến Điều 2 của tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể của tòa nhà:
Nếu trong tiêu chuẩn này có viện dẫn đến một phần văn bản cụ thể của tiêu chuẩn khác thì chỉ phần
cụ thể này được tham chiếu, không phải toàn bộ tiêu chuẩn khác.
Nội dung sau trong Điều 2 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), “Các tiêu chuẩn sau đây
được đề cập đến trong văn bản theo cách mà một số hoặc tất cả nội dung cấu thành yêu cầu của tiêu
chuẩn này” là cách diễn đạt chuẩn đối với tiêu chuẩn TCVN (ISO) bất kỳ. Như đã nêu trong Chỉ thị
ISO/IEC, Phần 2:2016, Điều 15, điều khoản viện dẫn quy định là phần cung cấp thông tin liệt kê các
tiêu chuẩn trích dẫn theo quy định trong tiêu chuẩn. Thông tin về cách áp dụng các tham chiếu này
được đưa ra tại chỗ trích dẫn trong tiêu chuẩn chứ không phải trong điều khoản tham chiếu quy định.
Do đó, danh mục các tài liệu tham chiếu được đưa ra để thuận tiện cho người sử dụng có thể tham
khảo tài liệu được trích dẫn để hiểu và đánh giá sử dụng chúng như thế nào.
CHÚ THÍCH 1: Hiệu quả năng lượng của tòa nhà được quy định ở một số quốc gia hoặc khu vực:
Các quy trình không nhất thiết phải xác nhận bộ tiêu chuẩn hoàn chỉnh các tiêu chuẩn hiệu quả năng
lượng của tòa nhà và có thể sửa đổi nội dung của các tiêu chuẩn.
Để đảm bảo tính linh hoạt trong việc viện dẫn các tiêu chuẩn, các tham chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu
quả năng lượng của tòa nhà được đặt trong các lựa chọn quốc gia và bảng dữ liệu đầu vào, xem Phụ
lục A và Phụ lục B.
Các tham chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà được đưa ra dưới dạng mã số
mô-đun thay cho một danh mục đơn giản ([1], [2], [3]), bởi vì với mã số mô-đun hiệu quả năng lượng
của tòa nhà, có thể sử dụng cùng một mã số mô-đun cho tất cả các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng
của tòa nhà.
CHÚ THÍCH 2: Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một bộ phụ lục quốc gia nhất
quán cho từng tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà và góp phần vào sự thống nhất và minh
bạch tổng thể.
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa quy định trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
Các số hiệu trong ngoặc là số hiệu của thuật ngữ quy định trong Điều 3 của TCVN 13469-1:2022 (ISO
52000-1:2017).
3.1
Tòa nhà (building)
Tòa nhà (building) (thuật ngữ 3.1.2)
“Tòa nhà” có nghĩa là một công trình xây dựng bao gồm các hệ thống kỹ thuật của tòa nhà.
“Đơn nguyên tòa nhà” đã được định nghĩa riêng (Thuật ngữ 3.1.8)
Định nghĩa trong chỉ thị về hiệu quả năng lượng của tòa nhà: “Tòa nhà có nghĩa là một công trình xây
dựng gồm có mái và tường bao quanh trong đó năng lượng được sử dụng để điều hòa vi khí hậu”
không thể sử dụng trong bối cảnh này, ví dụ: bởi vì có những tòa nhà không có tường bao mà chỉ có
mái, hoặc không có mái (ví dụ: Kim tự tháp, chỉ gồm có tường nghiêng).
Loại tòa nhà (building category) (Thuật ngữ 3.1.3)
Thuật ngữ “loại” không chỉ liên quan đến loại hình sử dụng mà còn liên quan đến quy mô, thời gian sử
dụng (ví dụ: Sử dụng tạm thời) và các phân loại khác (ví dụ: Tòa nhà có giá trị lịch sử).
Xem thêm các chú thích và ví dụ trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) tại mục này và định
nghĩa của loại không gian (thuật ngữ 3.1.14).
Diện tích sàn tham chiếu (reference floor area) (Thuật ngữ 3.1.12)
Diện tích sàn tham chiếu không được nhầm lẫn với diện tích sàn hữu ích để đánh giá hiệu quả năng
lượng của tòa nhà (3.1.18, xem thêm). Có thể tìm thấy sự khác biệt giữa diện tích sàn hữu ích và diện
tích sàn tham chiếu trong 9.3 và 9.4).
Diện tích sàn tham chiếu là một trong các lựa chọn của kích thước tham chiếu.
Kích thước tham chiếu (reference size) (Thuật ngữ 3.1.13)
Kích thước tham chiếu được sử dụng để chuẩn hóa hiệu quả năng lượng.
Giải thích rõ hơn về kích thước tham chiếu được nêu trong 9.4.
Phân loại không gian (space category) (Thuật ngữ 3.1.14)
Một tòa nhà thuộc một loại (công năng sử dụng) nhất định có thể có các không gian thuộc các loại
(công năng sử dụng) khác nhau. Do đó, một định nghĩa riêng biệt liên quan đến cấp độ không gian
được đưa vào sử dụng, đó là “phân loại không gian”.
Mục đích của việc phân loại tòa nhà và không gian có thể khác nhau được thể hiện trong các định
nghĩa. Hơn nữa, sự lựa chọn được đưa ra (xem Điều 6) trong đánh giá hiệu quả năng lượng của tòa
nhà, có thấy trước sự khác biệt về các loại không gian bên trong một tòa nhà của một loại tòa nhà cụ
thể hay không.
VÍ DỤ: Tòa nhà văn phòng chỉ có các không gian văn phòng hoặc có sự khác biệt hay không (về điểm
nhiệt độ cài đặt, nhu cầu thông gió, nhu cầu nước nóng sinh hoạt, v.v...) giữa, ví dụ: các không gian
văn phòng, hành lang, sảnh vào, không gian phòng họp, nhà vệ sinh, nhà bếp, nhà hàng.
Xem thêm các chú thích và ví dụ trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017)[1] tại mục này và định
nghĩa về loại tòa nhà.
Diện tích vỏ bao che nhiệt (thermal envelope area) (Thuật ngữ 3.1.15)
Thuật ngữ này chỉ cần thiết cho việc đánh giá về phần nhiệt, nhưng vẫn là một thuật ngữ mang tính
tổng thể bởi vì nó xác định xem các không gian được cho là có điều hòa nhiệt hay không (ví dụ: Cầu
thang hoặc gác mái) mà sau đó có thể gây ảnh hưởng đến, ví dụ: Diện tích tham chiếu và sự phân
vùng.
Diện tích sàn hữu ích (useful floor area) (Thuật ngữ 3.1.18)
Thuật ngữ (diện tích sàn được điều hòa” và “không gian không được điều hòa” đã lỗi thời. Điều này là
do trong bối cảnh đánh giá hiệu quả năng lượng tổng thể đây là những thuật ngữ không rõ ràng, dẫn
đến nhiều hiểu lầm, bởi vì:
- Mỗi không gian thuộc một loại không gian với những điều kiện sử dụng cụ thể. Một số không gian có
điều hòa nhiệt, một số có nhu cầu nước nóng sinh hoạt, một số chỉ có nhu cầu chiếu sáng và thông
gió.
- Các không gian khác không được điều hòa nhiệt, nhưng chỉ có ảnh hưởng cụ thể (ví dụ: Tòa nhà
liền kề với ranh giới đoạn nhiệt, không gian không được sưởi ấm liền kề với ảnh hưởng nhiệt,...) hoặc
không được điều hòa nhiệt nhưng vẫn có các dịch vụ cụ thể được tính đến (ví dụ: Ở một số quốc gia:
Chiếu sáng và/hoặc thông gió của gara ô tô trong nhà hoặc cầu thang chung)
Thay vào đó, các thuật ngữ “diện tích sàn tham chiếu” và “diện tích sàn hữu ích” được sử dụng.
Sự khác biệt giữa diện tích sàn hữu ích và diện tích sàn tham chiếu:
- Diện tích sàn tham chiếu được sử dụng để chuẩn hóa hiệu quả năng lượng.
- Diện tích sàn hữu ích được sử dụng cho các mục đích khác nhau, như:
- Đối với điều kiện sử dụng, nếu điều kiện sử dụng được đưa ra trên m2 diện tích sàn (ví dụ: Sử dụng
nước nóng, nhu cầu thông gió);
- Để tính trọng số theo diện tích sàn, ví dụ: Để phân bổ lại trong trường hợp phân vùng (xem Điều 10).
Để đánh giá vỏ bao che nhiệt của tòa nhà hoặc phần tòa nhà và để phân vùng, thuật ngữ “không gian
có điều hòa nhiệt” được sử dụng.
Giải thích rõ hơn về diện tích sàn hữu ích được nêu trong 9.3.
3.2
Điều kiện trong nhà và ngoài nhà (indoor and outdoor condition)
Điều kiện sử dụng (condition of use) (Thuật ngữ 3.2.1)
Thuật ngữ này cần thiết cho việc phân vùng và tính toán. Có nghĩa là tập hợp các điều kiện cần thiết
cho mục đích sử dụng dự định của không gian, chẳng hạn như mức nhiệt độ, nhu cầu chiếu sáng,
nhu cầu nước nóng sinh hoạt, nhu cầu thông gió (chất lượng không khí trong nhà), ...
Mối quan hệ giữa giữa các điều kiện vận hành là: Để đạt được các điều kiện sử dụng này, và tùy
thuộc vào loại điều khoản quy định (tòa nhà, các hệ thống, kiểm soát), các điều kiện vận hành cụ thể
là cần thiết.
3.3
Hệ thống kỹ thuật tòa nhà (technical building systems)
Đồng phát (cogeneration) (Thuật ngữ 3.2.5)
“Năng lượng được tạo ra” không thực sự khả thi xét về mặt triết lý. “Được chuyển đổi’ hoặc “được
sản xuất” có thể là những thuật ngữ tốt hơn. Nhưng định nghĩa đã được sử dụng trong các tiêu chuẩn
khác [2] là đầy đủ rõ ràng.
3.4
Năng lượng (energy)
3.4.27
Tại chỗ (on-site) (Thuật ngữ 3.4.27)
Định nghĩa này được liên kết với những định nghĩa “ở gần” hoặc “từ xa”. Tại chỗ là một chu vi lớn hơn
với chỉ một tòa nhà. Tại chỗ thường liên quan đến việc sản xuất năng lượng hoặc chuyển đổi năng
lượng có thể xuất đi.
3.4.24
Ở gần (nearby) (Thuật ngữ 3.4.24)
Định nghĩa hiện tại đối với “ở gần khu vực tòa nhà” không được áp dụng cho việc phát điện ở gần. Nó
cũng được dự định để giới thiệu về điện năng ở gần. Một đề xuất có thể là: Được hòa vào cùng một
nhánh của lưới điện phân phối (lưới điện phân phối có nghĩa là cấp điện áp thấp hơn 150 kV)”.
3.4.7
Từ xa (distant) (Thuật ngữ 3.4.7)
“tại chỗ” và “ở gần” được định nghĩa trong chỉ thị về hiệu quả năng lượng của tòa nhà liên quan đến
tòa nhà năng lượng gần bằng không. “Từ xa” được định nghĩa trong tiêu chuẩn này bao quát tất cả
các chu vi nơi năng lượng có thể được sản xuất hoặc được chuyển đổi.
3.5
Hiệu quả năng lượng (energy performance-EP)
Xếp hạng năng lượng (energy rating) (Thuật ngữ 3.5.12)
Các thuật ngữ đánh giá hiệu quả năng lượng của tòa nhà và đánh giá năng lượng đã được phân biệt
rõ ràng. Thông tin thêm có thể được cung cấp trong TCVN 13470-1:2022 (ISO 52003-1) [8] và tiêu
chuẩn đi kèm TCVN 13470-2 (ISO/TR 52003-2) [9].
Tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà (EPB standard) (Thuật ngữ 3.5.14)
Đặc biệt chú ý đến thuật ngữ tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Thuật ngữ được định
nghĩa này là cần thiết để làm rõ tiêu chuẩn nào thuộc bộ tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà
và tiêu chuẩn nào không. Một tiêu chuẩn không đáp ứng các điều kiện không được gọi là tiêu chuẩn
hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Tất nhiên đó vẫn có thể có vai trò (thậm chí có thể là thiết yếu).
Trong trường hợp đó, tiêu chuẩn sẽ được tham chiếu trong một tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của
tòa nhà, thường là để cung cấp dữ liệu đầu vào thích hợp (ví dụ: Về sản phẩm hoặc điều kiện biên).
Hiệu quả năng lượng tiêu chuẩn hoặc hiệu quả năng lượng (standard energy performance hoặc
energy performance) (Thuật ngữ 3.5.23 và 3.5.7).
Thuật ngữ “hiệu quả năng lượng” được sử dụng trong chỉ thị hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Tuy
nhiên phụ tố “tiêu chuẩn” nhấn mạnh rằng nó liên quan đến hiệu quả năng lượng trong điều kiện sử
dụng và khí hậu tiêu chuẩn, trái ngược với “hiệu quả năng lượng điều chỉnh phù hợp”.
3.6
Tính toán năng lượng (energy calculation)
Không cần thông tin bổ sung.
3.7
Thông tin chung về thuật ngữ và định nghĩa
3.7.1 Tổng quát
Các định nghĩa, thuật ngữ, chu vi, v.v... là quan trọng làm cơ sở chung và hiểu biết về đánh giá hiệu
quả năng lượng. Các định nghĩa đã được soạn thảo với sự cẩn trọng phù hợp với các tiêu chuẩn liên
quan khác và giữ chúng ở mức tổng quát nhất có thể để phù hợp với các định nghĩa đã có. Nếu ở
một quốc gia đã có một định nghĩa chính xác hơn thì khuyến nghị đưa thông tin này vào phụ lục quốc
gia.
3.7.2
Thuật ngữ và định nghĩa chung
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) đưa ra các thuật ngữ và định nghĩa cần thiết ở cấp độ tổng thể. Các
thuật ngữ của các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng ở cấp độ thấp hơn được định nghĩa tại đó. Nếu
không thì tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể của tòa nhà sẽ quá lớn. Giới hạn của các định
nghĩa được xem xét sẽ khó được xác định và việc thực hiện tổng quan sẽ khó quản lý và cập nhật
theo thời gian. Tuy nhiên TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) bao gồm cả các thuật ngữ không được sử
dụng trong nội dung tiêu chuẩn, nhưng cần thiết cho sự nhất quán tổng thể trong toàn bộ tiêu chuẩn
hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
Các thuật ngữ khác được coi là tổng thể nhưng chỉ được sử dụng trong phần nhất định của các tiêu
chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Ví dụ: “Hệ số chi phí” [tỷ lệ năng lượng đầu vào (năng lượng
được yêu cầu) trên năng lượng đầu ra hữu ích].
3.7.3
Sự khác biệt giữa định nghĩa và quy định kỹ thuật
Nên có sự khác biệt rõ ràng giữa định nghĩa của một thuật ngữ và quy trình xác định thuật ngữ (ví dụ:
Định lượng). Định nghĩa chỉ xác định một thuật ngữ. Chỉ trong các trường hợp đặc biệt, điều này mới
đủ để quy định rõ ràng thuật ngữ. Trong các trường hợp khác, các quy trình đánh giá thực tế trong
tiêu chuẩn bao gồm các quy trình phù hợp để đánh giá một cách rõ ràng giá trị hoặc quy định thuật
ngữ khác. Ví dụ, giá trị đối với nhu cầu năng lượng cho sưởi ấm hoặc các quy định kỹ thuật về ranh
giới đánh giá hiệu quả năng lượng.
3.7.4
Thuật ngữ liên quan đến chính sách chưa được định nghĩa hoặc không được quy định
Có một số đại lượng nhất định có liên quan chặt chẽ đến chính sách quốc gia hoặc khu vực, do sự
khác biệt về văn hóa và truyền thống xây dựng tòa nhà, tòa nhà điển hình (công năng sử dụng tòa
nhà), chính sách và khung pháp lý và thủ tục hành chính (bao gồm loại hình và mức độ kiểm soát chất
lượng và thực thi và kỳ vọng chi phí đánh giá). Không thể hài hòa hoàn toàn các thuật ngữ này tại
cùng một thời điểm. Do đó các thuật ngữ này không hoặc không hoàn toàn được định nghĩa trong các
tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà hoặc thuật ngữ được định nghĩa theo cách chung để lại
chỗ cho các quy định kỹ thuật quốc gia hoặc khu vực. Phụ lục A của các tiêu chuẩn hiệu quả năng
lượng này của tòa nhà cung cấp một bản mẫu với các bảng để xác định một cách có hệ thống các
quy định kỹ thuật này. Phụ lục B đưa ra các lựa chọn mặc định tham khảo đóng vai trò là các ví dụ
cho các thuật ngữ, đại lượng liên quan đến chính sách.
Ví dụ:
- Diện tích sàn hữu ích;
- Ranh giới giữa “tại chỗ”, “ở gần” và “từ xa”;
- Phân định các hạng loại tòa nhà và không gian (ví dụ: không gian văn phòng, cửa hàng, phòng họp
hoặc hội trường, phòng ngủ, phòng ăn sáng, nhà trẻ, viện dưỡng lão...);
- Phân chia nhỏ loại tòa nhà và không gian (ví dụ: tòa nhà chung cư: nhà ở gia đình, căn hộ sinh viên,
ngôi nhà cao cấp, nhà di động (dạng lắp ghép), nhà thuyền, nhà nghỉ,...):
- Phân định hạng loại: Tòa nhà được thiết kế, tòa nhà mới; tòa nhà hiện hữu trong giai đoạn sử dụng;
tòa nhà được cải tạo lớn.
Bất kỳ định nghĩa hoặc quy định kỹ thuật nào của các thuật ngữ này sẽ là sự ràng buộc mạnh mẽ đối
với quy định kỹ thuật chi tiết được yêu cầu đối với quốc gia hoặc khu vực.
Điều này không dẫn đến một vấn đề ở dạng kết thúc mở trong việc đánh giá hiệu quả năng lượng, bởi
vì quy định kỹ thuật chi tiết của quốc gia hoặc khu vực được thực hiện trong “giai đoạn tiền xử lý” của
việc đánh giá hiệu quả năng lượng, do đó có thể giả định rằng những điều này đã được đánh giá khi
bắt đầu định tuyến thông qua tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể. Vì lý do này, các quy định kỹ
thuật được đề cập trong tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể” (xem Điều 6 của TCVN 13469-
1:2022 (ISO 52000-1:2017).
4 Ký hiệu, đơn vị, các chỉ số dưới và thuật ngữ viết tắt
4.1 Ký hiệu
Danh mục các ký hiệu và đơn vị trong 4.1 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) bao gồm các
ký hiệu chung đối với các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng. Danh mục này được tham chiếu theo quy
định trong mỗi tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tiếp theo, nhưng một số trong số này cũng có thể
được lặp lại trong tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng riêng lẻ nếu thuận tiện cho việc hiểu biết tiêu
chuẩn. Đặc biệt nếu cần phải cung cấp một cái nhìn tổng thể có hệ thống về các tập hợp con cụ thể
của các ký hiệu.
Các đơn vị năng lượng, thời gian và công suất được liên kết với nhau. Có hai bộ đại lượng được sử
dụng:
- J, s và W;
- kW.h, h, và kW.
Cả hai đều có thể được sử dụng nhưng phải chú ý đến tính nhất quán với một số đơn vị khác liên
quan đến năng lượng như:
- Nhiệt lượng riêng (J/kg hoặc kW.h/kg);
- Trị số tỏa nhiệt (nhiệt trị) (MJ/kg hoặc kW.h/kg).
Ký hiệu đối với nhiệt độ celsius là “ϑ”.
CHÚ THÍCH: Trước đây “ϑ” cũng được sử dụng và vẫn có thể xuất hiện trong một số tiêu chuẩn cho
đến khi chúng được xác định nhất quán.
Đối với năng lượng, các quy tắc sau đây được áp dụng cho việc sử dụng các ký hiệu Q, E và W:
- Q là ký hiệu cho nhiệt lượng bên trong tòa nhà;
- W được sử dụng cho năng lượng phụ trợ bên trong tòa nhà;
- E được sử dụng cho dạng năng lượng khác bất kỳ và năng lượng bên ngoài tòa nhà
E được sử dụng phần lớn cho các đại lượng năng lượng liên quan để trao đổi qua ranh giới đánh giá.
E cũng được sử dụng như một lượng của chất mang năng lượng bất kỳ được biểu thị dưới dạng
lượng năng lượng.
4.2 Chỉ số dưới
Danh mục của các chỉ số dưới được nêu trong 4.2 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) chỉ
bao gồm các chỉ số dưới sử dụng trong bản thân tiêu chuẩn đó.
Các chỉ số dưới chung cho tất cả các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng được đưa ra trong Phụ lục C.
Danh mục này được tham chiếu theo quy định trong mỗi tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tiếp theo,
nhưng một số trong số này cũng có thể được lặp lại trong tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng riêng lẻ
nếu thuận tiện cho việc hiểu biết tiêu chuẩn. Đặc biệt nếu cần phải cung cấp một cái nhìn tổng thể có
hệ thống về các tập hợp con cụ thể của các chỉ số dưới.
Xem Phụ lục C của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) và Phụ lục C của tiêu chuẩn này để có
thêm thông tin về các chỉ số dưới.
4.3 Thuật ngữ viết tắt
Đối với mục đích của tiêu chuẩn này, các thuật ngữ viết tắt được đề cập và nêu trong TCVN 13469-
1:2022 (ISO 52000-1:2017) được áp dụng.
Danh mục các chỉ số dưới trong 4.3 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) bao gồm các thuật
ngữ viết tắt không được sử dụng trong bản thân tiêu chuẩn đó. Các thuật ngữ viết tắt được đưa ra để
đảm bảo tính nhất quán tổng thể giữa bộ tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng.
Nếu có thể, các chỉ số dưới được sử dụng cho một thuật ngữ nhất định giống với thuật ngữ viết tắt.
Nếu có thể, các chữ viết tắt được sử dụng liên quan đến phần mềm cũng giống nhau.
5 Mô tả khung tổng thể và các quy trình
5.1 Đầu ra của phương pháp
Kết quả đầu ra chính của tiêu chuẩn này là:
- Giá trị tuyệt đối của hiệu quả năng lượng tổng thể theo trọng số;
- RER (tỷ lệ năng lượng tái tạo).
Dữ liệu đầu ra bổ sung, cụ thể là các chỉ số hiệu quả năng lượng trên mỗi dịch vụ và/hoặc trên mỗi
phần của tòa nhà hoặc năng lượng được phân phối trên mỗi dịch vụ và/hoặc trên mỗi phần của tòa
nhà cũng có thể được tính toán bằng cách áp dụng các quy trình bổ sung nêu trong Phụ lục E của
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) [1].
Cách thể hiện và cách tính chỉ số hiệu quả năng lượng được quy định trong TCVN 13470-1:2022 (ISO
52003-1) [8].
5.2 Mô tả tổng quát các quy trình và định tuyến
Phụ lục K bao gồm một lưu đồ tính toán.
5.3 Tiêu chí lựa chọn giữa các phương pháp
Việc lựa chọn phương pháp hoặc các phương pháp có thể phụ thuộc vào đối tượng được đánh giá:
Loại đối tượng, loại tòa nhà, loại hình ứng dụng và loại hình đánh giá.
Nếu loại đối tượng là toàn bộ tòa nhà, thì phương pháp đầy đủ sẽ thường được chọn, nếu loại đối
tượng là hệ thống tòa nhà, thì có nhiều khả năng là phương pháp tính toán / đo lường chỉ số thành
phần, xem 9.8.
Nếu tòa nhà là tòa nhà ở thì có các phương pháp hoặc yêu cầu cụ thể. Đối với tòa nhà văn phòng,
điều này cũng có thể thực hiện được, nhưng đối với các khu công nghiệp hoặc nhà xưởng, một
phương pháp ít chi tiết hơn cũng có thể cho phép sử dụng.
Nếu loại ứng dụng là 'giấy chứng nhận hiệu quả năng lượng', thì điều này có thể được thực hiện bằng
cách tính toán từ thiết kế, nhưng không bao gồm các thay đổi đã được thực hiện trong quá trình thi
công xây dựng, do đó, việc tính toán từ hiện trạng thực tế được xây dựng sẽ tốt hơn. Đối với loại ứng
dụng của 'kiểm toán năng lượng', xem thêm EN 16247-2, Kiểm toán năng lượng - Phần 2: Tòa nhà.
Nếu loại đánh giá là “theo hoàn công” thì có thể áp dụng cả phương pháp tính toán và phương pháp
đo lường. Đo lường thường nhanh hơn, nhưng do sự không chắc chắn trong hành vi của người sử
dụng tòa nhà, nên kém chính xác hơn.
5.4 Cấu trúc của mô-đun tham chiếu tổng thể
5.4.1 Mục đích
Cấu trúc mô-đun tham chiếu tổng thể được sử dụng để xác định:
- Tất cả các phần cần thiết của quy trình đánh giá và cung cấp một cách tổng quan;
- Các mô-đun được bao quát bởi các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng và để hỗ trợ các quy định kỹ
thuật được cung cấp cho người xây dựng tiêu chuẩn
- Sự kết nối giữa các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng (ví dụ: Tính toán, biểu thị hiệu quả năng lượng).
Cấu trúc này cũng cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện từng bước trong bối cảnh
của quốc gia hoặc khu vực bất kỳ.
5.4.2 Cấu trúc mô-đun có hệ thống của các tiêu chuẩn
Cấu trúc mô-đun tổng thể có bốn lĩnh vực chính như được thể hiện trong Bảng 1:
Bảng 1- Lĩnh vực mô-đun chính
Mô-đun Lĩnh vực
M1 Các tiêu chuẩn tổng thể
M2 Tòa nhà (tương tự như tòa nhà)
M3-M11 Các hệ thống kỹ thuật thuộc đối tượng hiệu quả năng lượng của tòa nhà
M12-M13 Các hệ thống và thiết bị khác (không thuộc đối tượng hiệu quả năng lượng của
tòa nhà
Mỗi mô-đun chính được chia thành các mô-đun phụ, theo cách mà nếu có thể và khả thi thì một vài
sự đối xứng được giữ lại.
Việc đánh số của cấu trúc mô-đun hệ thống được thể hiện trong Bảng 1 trong TCVN 13469-1:2022
(ISO 52000-1:2017).
VÍ DỤ 1: M3-5 là mô-đun về sưởi ấm và làm mát - các khía cạnh phát xạ nhiệt và kiểm soát.
VÍ DỤ 2: M10-11 là mô-đun về tự động hóa và kiểm soát tòa nhà - các khía cạnh kiểm tra.
Trong phần Giới thiệu của mỗi tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng có đưa ra một bảng có cấu trúc mô-
đun. Số của tiêu chuẩn được đặt trong mô-đun mà tiêu chuẩn đó đề cập đến.
VÍ DỤ 3: Xem phần Giới thiệu của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017): Tiêu chuẩn đề cập đến
các mô-đun M1-1, M1-2, M1-3, M1-5, M1-7, M1-8, M1-9 và M1-10.
5.4.3 Kết nối giữa các mô-đun - Thực hiện theo từng bước
Sự kết nối giữa các mô-đun khác nhau được minh họa bằng một ví dụ về đánh giá hiệu quả năng
lượng của tòa nhà có các dịch vụ sưởi ấm và cung cấp nước nóng sinh hoạt.
Hình 1 đưa ra ví dụ về các mô-đun tính toán cần thiết từ cấu trúc mô-đun chính.
Hình 1 - Ví dụ về các mô-đun để đánh giá hiệu quả năng lượng
Các mô-đun khác nhau này được kết nối để tính toán hiệu quả năng lượng. Việc tính toán đi từ nhu
cầu đến năng lượng sơ cấp. Hình 2 cho thấy sơ đồ được đơn giản hóa của các kết nối.
M2-2 Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Nhu cầu năng lượng cho sưởi
ấm và làm mát, nhiệt độ bên trong và tải nhiệt hiện và nhiệt ẩn -
Phần 2: Giải thích và minh chứng cho ISO 52016-1 và ISO
ISO/TR 52016-2 52017-1 (Energy performance of buildings - Energy needs for
heating and cool- ing, internal temperatures and sensible and
latent heat loads - Part 2: Explaination and justification of ISO
52016-1 and ISO 52017-1)
Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Tòa nhà và cấu kiện tòa nhà-
Đặc trưng nhiệt ẩm của bộ phận và cấu kiện tòa nhà - Phần 2:
Giải thích và minh chứng) (Energy performance of buildings
M2-5 ISO/TR 52019-2
(EPB) - Building and building elements - Hygrothermal
performance of building components and building elements - Part
2: Explanation and justification)
Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Tòa nhà và cấu kiện tòa nhà -
Đặc tính nhiệt, bức xạ mặt trời và ánh sáng ngày của tòa nhà và
cấu kiện tòa nhà - Phần 2: Giải thích và minh chứng)
ISO/TR 52022-2
(Energy performance of buildings - Building and building elements
- thermal, solar and daylight properties of building components
and elements - Part 2: Explanation and justification)
Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Tòa nhà và cấu kiện tòa nhà -
Đặc điểm bức xạ mặt trời và trực quan - Phương pháp tính toán
M2-8 đơn giản hóa
ISO 52022-1
(Energy performance of buildings - Building and building elements
- solar and visual characteristics - Simplified calculation method)
Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Tòa nhà và cấu kiện tòa nhà -
Đặc điểm bức xạ mặt trời và trực quan - Phương pháp tính toán
ISO 52022-3 chi tiết
(Energy performance of buildings - Building and building elements
- solar and visual characteristics - Detailed calculation method)
6 Các bước chuẩn bị tổng thể
6.1 Tổng quát
Xem điều khoản tương ứng trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) [1].
Xem thêm thảo luận về các định nghĩa và quy định kỹ thuật liên quan đến chính sách trong 3.7.3 của
tiêu chuẩn này.
Người sử dụng tiêu chuẩn cần biết là có hai cách sử dụng khác nhau của tiêu chuẩn EPB tổng thể (và
các tiêu chuẩn EPB khác) như được minh họa trong Hình 5:
Bước 1: Các tổ chức tư nhân hoặc cơ quan quản lý sử dụng các dữ liệu đầu vào, lựa chọn giữa các
quyền được chọn và lựa chọn trong các tham chiếu các tiêu chuẩn EPB khác theo mẫu của Phụ lục
A: một hoặc nhiều hơn (đối với các ứng dụng khác nhau) Bảng dữ liệu lựa chọn phương pháp và đầu
vào quốc gia hoặc tư nhân để thực hiện cho các ứng dụng cụ thể.
Bước 2: Việc sử dụng bởi người dùng cá nhân để đánh giá hiệu quả năng lượng của một đối tượng
cụ thể, sử dụng các bảng dữ liệu lựa chọn phương pháp của quốc gia hoặc chủ thể tư nhân phù hợp
từ bước 1.
Hình 5 - Minh họa về hai cách sử dụng khác nhau các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng
Hai cách sử dụng khác nhau của tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng tổng thể (hoặc tiêu chuẩn hiệu quả
năng lượng bất kỳ khác) được hiển thị rõ ràng trong Điều 6 bao gồm các bước chuẩn bị:
Điều 6.2 bao gồm “Bước 1” được đề cập ở trên: Đối với các tổ chức tư nhân hoặc cơ quan quản lý
(như một phần của quy định kỹ thuật của Bảng dữ liệu lựa chọn phương pháp và đầu vào quốc gia
hoặc chủ thể tư nhân): Để quy định danh sách các loại đối tượng, tòa nhà và không gian, loại ứng
dụng, loại đánh giá và danh sách các dịch vụ hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
Điều 6.3 bao gồm “Bước 2” được đề cập ở trên: Đối với chủ thể tư nhân (sau khi đã lựa chọn phù hợp
Bảng dữ liệu lựa chọn phương pháp và đầu vào quốc gia hoặc chủ thể tư nhân) để chọn loại hoặc
các loại đối tượng, loại tòa nhà và không gian, loại ứng dụng, loại đánh giá và danh sách các dịch vụ
các dịch vụ hiệu quả năng lượng của tòa nhà được áp dụng cho trường hợp cụ thể.
Lưu ý rằng các lựa chọn trong cả 6.2 và 6.3 có thể ảnh hưởng đến các lựa chọn trong các tiêu chuẩn
khác về hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Do đó, các đặc tính này được kế thừa bởi các tiêu chuẩn
khác về hiệu quả năng lượng của tòa nhà, nếu có liên quan.
VÍ DỤ:
- Nếu, ở một quốc gia nhất định, chiếu sáng không được bao gồm trong danh sách các dịch vụ hiệu
quả năng lượng cho các tòa nhà ở, thì:
- Vấn đề chiếu sáng không có trong danh sách các dịch vụ hiệu quả năng lượng cho các tòa nhà ở
được tính đến trong Bảng dữ liệu lựa chọn phương pháp và đầu vào của Quốc gia hoặc chủ thể tư
nhân của các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác (Ví dụ: Tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng về chiếu
sáng, về điều kiện môi trường trong nhà,...).
- Đối tượng cụ thể là một tòa nhà ở hay không được kế thừa bởi các tiêu chuẩn EPB khác (ví dụ: Tiêu
chuẩn hiệu quả năng lượng về chiếu sáng, về điều kiện môi trường trong nhà,...).
- Nếu giấy chứng nhận năng lượng cho các tòa nhà chung cư dựa trên hiệu quả năng lượng đo lường
được, thì thông tin này rõ ràng có thể rất thích hợp với một số tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác.
- Nếu giấy chứng nhận năng lượng cho các tòa nhà công cộng dựa trên việc sử dụng năng lượng
thực tế của tòa nhà và nếu giấy chứng nhận đó cần được hiển thị, thì thông tin này rõ ràng có thể rất
thích hợp với một số tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác.
- Nếu hiệu quả năng lượng của một tòa nhà được cải tạo một phần cần đáp ứng các yêu cầu cụ thể
về hiệu quả năng lượng thành phần, thì thông tin này rõ ràng có thể rất thích hợp với một số tiêu
chuẩn hiệu quả năng lượng khác.
- Quy định kỹ thuật của các hạng loại tòa nhà và/hoặc loại không gian khác nhau và việc xác định
hạng loại tòa nhà và/hoặc loại không gian nào có thể áp dụng trong một trường hợp nhất định, liên
quan trực tiếp đến (có thể) các điều kiện sử dụng khác nhau (Cài đặt nhiệt độ, nhu cầu nước nóng
sinh hoạt, nhu cầu chiếu sáng, v.v...), đến (có thể) các yêu cầu hiệu quả năng lượng khác nhau, v.v...
Do đó, thông tin này rất thích hợp với một số tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác.
6.2 Danh sách các loại và phân loại
6.2.1 Loại đối tượng
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) [1] yêu cầu xác định loại đối tượng.
Ví dụ về các loại đối tượng là: Toàn bộ tòa nhà hoặc một phần của tòa nhà hoặc đơn nguyên tòa nhà,
tòa nhà mới hoặc hiện hữu, tòa nhà công cộng quy mô lớn.
Các tòa nhà ở hoặc không để ở có thể yêu cầu lựa chọn phương pháp đánh giá khác nhau (ví dụ: Đo
lường so với tính toán).
Một quốc gia hoặc khu vực cụ thể có thể có các hạng loại tòa nhà đặc biệt yêu cầu quy trình đặc biệt.
Ví dụ ở Châu Âu: Tòa nhà công cộng quy mô lớn theo chỉ thị về hiệu quả năng lượng của tòa nhà
(Chỉ thị EPBD)[2] Điều 13 (cộng với Điều 12.1b). Một phân biệt khác về các loại là theo phân loại vòng
đời công trình, ví dụ:
- Tòa nhà được thiết kế,
- Tòa nhà mới,
- Tòa nhà hiện hữu đang trong giai đoạn sử dụng,
- Tòa nhà đã được cải tạo sửa chữa lớn.
Các quy trình và yêu cầu về hiệu quả năng lượng có thể phải phân biệt giữa tòa nhà mới và hiện hữu
hoặc đơn nguyên tòa nhà.
Đối với các tòa nhà mới, chưa biết hoặc không thể đo lường được dữ liệu thực tế dài hạn (cần thiết
để đánh giá việc sử dụng năng lượng), thì các quy trình và yêu cầu về hiệu quả năng lượng chỉ bao
gồm hiệu quả năng lượng được tính toán. So sánh định nghĩa của tòa nhà hiện hữu (đơn nguyên tòa
nhà). Đối với các tòa nhà hiện hữu, dữ liệu thực tế dài hạn đã biết hoặc có thể đo lường được (cần
thiết để đánh giá việc sử dụng năng lượng), các quy trình và yêu cầu về hiệu quả năng lượng có thể
bao gồm cả hiệu quả năng lượng đã đo lường được.
Ví dụ, ‘Cải tạo sửa chữa lớn’ có nghĩa là, ví dụ theo EPBD, việc cải tạo một tòa nhà trong đó:
a) Tổng chi phí cải tạo liên quan đến vỏ tòa nhà hoặc các hệ thống kỹ thuật của tòa nhà cao hơn 25 %
giá trị của tòa nhà, không bao gồm giá trị đất mà tòa nhà tọa lạc; hoặc là
b) Hơn 25 % bề mặt của vỏ tòa nhà được cải tạo.
Nếu áp dụng điều được gọi là “Phương pháp tiếp cận tòa nhà đại diện”, thì hiệu quả năng lượng
được lấy từ tòa nhà đại diện khác.
Một vấn đề khác là định nghĩa của một tòa nhà: Nếu một loại tòa nhà mở rộng bao gồm hai hoặc
nhiều tòa nhà trên cùng một địa điểm, chúng có thể được coi là một tòa nhà khi tính toán. Nhưng
cũng có thể đánh giá hiệu quả năng lượng của từng tòa nhà độc lập với nhau, trừ khi điều này mâu
thuẫn với các phần khác của các quy trình. Ví dụ: Nếu một hoặc nhiều bộ phận công năng nhà ở nằm
trong một tòa nhà khác (ví dụ phòng ngủ hoặc phòng vệ sinh trong một tòa nhà riêng biệt), đánh giá
hiệu quả năng lượng của tòa nhà cần được thực hiện cùng với các tòa nhà.
6.2.2 Phân loại tòa nhà và không gian
[Link] Phân loại tòa nhà
Loại tòa nhà có thể có ảnh hưởng đến hiệu quả năng lượng, do có thể có các tập hợp điều kiện sử
dụng khác nhau, có thể là các yêu cầu hiệu quả năng lượng khác nhau, v.v...
VÍ DỤ: Các di tích lịch sử và/hoặc các tòa nhà tôn giáo đôi khi bị loại ra khỏi trong các quy định về
hiệu quả năng lượng.
Đối với các tòa nhà ở, việc phân loại có thể là: (a) nhà ở gia đình riêng lẻ khác nhau và (b) khối căn
hộ chung cư.
Đối với các tòa nhà ở, có thể cần thêm các phân loại phụ tiếp theo, vì có thể có sự khác biệt về yêu
cầu hiệu quả năng lượng hoặc trong loại đánh giá (hiệu quả năng lượng được đo lường hoặc tính
toán). Ví dụ:
- Nhà ở riêng lẻ:
- Tòa nhà chung cư;
- Đơn nguyên tòa nhà trong một tòa nhà chung cư có hệ thống kỹ thuật riêng;
- Đơn nguyên tòa nhà trong một tòa nhà chung cư có hệ thống kỹ thuật chung.
Quay trở lại các tòa nhà ở, có thể cần có thêm các phần loại phụ đặc biệt, vì có thể có sự khác biệt về
yêu cầu hiệu quả năng lượng và/hoặc về loại đánh giá hoặc điều kiện sử dụng. Ví dụ:
- Nhà ở tập thể;
- Nhà ở di động (dạng lắp ghép);
- Nhà nghỉ.
'Nhà ở tập thể' là tòa nhà ở trong đó một hoặc nhiều không gian cho việc ở được sử dụng chung, với
kết quả là các căn hộ riêng lẻ không phải là các đơn nguyên độc lập, ví dụ nhà ở sinh viên có bếp
và/hoặc phòng tắm hoặc sinh hoạt để sử dụng chung (xem các trường hợp ví dụ trong 6.4). Trong
những trường hợp như vậy, việc đánh giá hiệu quả năng lượng của tòa nhà thường sẽ được thực
hiện cho toàn bộ khu nhà. Nhưng đây là một sự lựa chọn được liên kết với sự lựa chọn của các loại
không gian và tương tự như vậy.
Nhưng thậm chí nhiều phân loại phụ tiếp theo có thể khả thi. Ví dụ: Căn hộ sinh viên, nhà ở cao cấp,
nhà thuyền, phòng ngủ và phòng ăn trong nhà ở.
Một vấn đề khác: Cần có những quy định cụ thể nào đối với tòa nhà hỗn hợp? Một tòa nhà hỗn hợp
để ở/ không để ở, ví dụ như một tòa nhà chung cư bao gồm các cửa hàng, phòng văn phòng, phòng
khách sạn và/hoặc ví dụ như phòng điều dưỡng hoặc phòng hội họp. Có bất kỳ hạn chế cụ thể nào
khi đề cập đến các tòa nhà hỗn hợp để ở/không để ở không?
[Link] Phân loại không gian
Có thể cho phép hoặc không cho phép có sự khác biệt về các loại không gian trong một tòa nhà nhất
định (xem Bảng A.6/B.6 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) [1]). Nếu vậy, lý do rất có thể là
các loại không gian khác nhau với các điều kiện sử dụng khác nhau (được quy định trong tiêu chuẩn
EPB bao gồm mô-đun M1-6).
Các điều kiện sử dụng sẽ cho biết những dịch vụ nào được giả định là sẽ có.
Các loại không gian bao gồm không gian không được điều hòa hoặc được điều hòa một phần có ảnh
hưởng đến các không gian khác (ví dụ: Nhiệt, ánh sáng ban ngày, sử dụng năng lượng bổ sung, ..).
Ví dụ về các loại không gian có thể có: Không gian chung, nhà bếp (nhà ở), sảnh vào, cầu thang
(trong nhà), gác xép (trong nhà) có thể ở được, phòng ngủ, phòng điều dưỡng, phòng học, hành lang,
nhà vệ sinh, phòng máy chủ, phòng chứa đồ, nhà bếp dạng “công nghiệp” (ví dụ như trong nhà hàng),
không gian không xác định, v.v...
Đối với các tòa nhà hiện hữu: Một không gian được phân hạng chính thức làm không gian có thể ở
được, với mục đích đánh giá hiệu quả năng lượng, phải được coi là khu vực có thể ở và được chỉ
định loại không gian tương ứng, nếu không gian này được sử dụng thường xuyên trong thực tế. Ví
dụ: Một gác mái có người ở (ngay cả khi hợp pháp không thể ở được, ví dụ như do không đủ ánh
sáng tự nhiên).
Cần xem xét các tòa nhà không được trang bị tất cả các dịch vụ để đánh giá hiệu quả năng lượng (ví
dụ: Tòa nhà không có hệ thống làm mát khi việc làm mát là một phần của tính toán hiệu quả năng
lượng). Xem thảo luận trong 9.2 của tiêu chuẩn này.
6.2.3 Loại hình ứng dụng
Có thể có nhiều loại ứng dụng khác nhau. Ví dụ:
- Để kiểm tra sự phù hợp các yêu cầu về hiệu quả năng lượng.
- Chứng nhận hiệu quả năng lượng.
- Xin giấy phép xây dựng.
- Xin giấy phép sử dụng.
- Kiểm toán năng lượng (điều chỉnh phù hợp theo thực tế).
- Kiểm tra hiệu quả năng lượng.
Rõ ràng là loại ứng dụng có thể có ảnh hưởng đến việc đánh giá và định tuyến thông qua các tiêu
chuẩn EPB. Do đó, loại ứng dụng cũng được kế thừa bởi các tiêu chuẩn EPB tiếp theo.
6.2.4 Loại hình đánh giá
Các đánh giá được đưa ra trong Bảng 3 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) bắt nguồn từ
các yêu cầu của chỉ thị hiệu quả năng lượng của các tòa nhà. Có thể có các đánh giá khác không liên
quan đến chỉ thị hiệu quả năng lượng của các tòa nhà, nhưng hướng đến “giá trị gia tăng cho thị
trường”. Xem thêm CEN/TS 16628:2014,[13] 7.8. Loại hoặc các loại đánh giá EPB phải được chỉ định
và, nếu phụ thuộc vào ứng dụng và/hoặc loại tòa nhà, cho loại ứng dụng và loại tòa nhà nào.
Cơ sở để đưa ra lựa chọn:
Việc lựa chọn loại đánh giá hiệu quả năng lượng liên quan cần tính đến các điểm sau. Quy trình
chứng nhận năng lượng tòa nhà phải mô tả cách thức các điểm này đã được tính đến như một phần
của các quy trình trong TCVN 13470-1:2022 (ISO 52003-1)[8].
- Đối với các tòa nhà mới, chỉ số năng lượng đo lường được không có sẵn.
- Năng lượng đo lường cung cấp một giải pháp điều chỉnh các khuyến nghị để phù hợp với việc sử
dụng thực tế của tòa nhà hơn là so với các giả định được tiêu chuẩn hóa.
- Để theo dõi các cải tiến hàng năm (hoặc theo cách khác) về hiệu quả vận hành, cần phải thực hiện
các phép đo. (Các tòa nhà công cộng đôi khi được yêu cầu phải trình bày các xếp hạng được đo
lường hàng năm trong nhiều năm liên tiếp).
- Các tiện ích mà việc thu thập dữ liệu về mức tiêu thụ năng lượng không được phép tiết lộ vì lý do
riêng tư.
- Chỉ số năng lượng đo lường được sẽ không còn hiệu lực sau khi thay đổi người cư ngụ trong tòa
nhà hoặc mô hình sử dụng của tòa nhà. Đối với các tòa nhà hiện hữu được cho thuê hoặc bán, cách
quản lý tòa nhà có thể thay đổi và kết quả là chỉ số năng lượng đo lường được có thể thay đổi.
- Xác định chỉ số năng lượng được tính toán tiêu chuẩn bao gồm việc thu thập dữ liệu về tòa nhà (độ
cách nhiệt, hệ thống sưởi, v.v...) sẽ hữu ích trong việc đưa ra lời khuyên về việc cải tiến hiệu quả
năng lượng của tòa nhà.
- Trong các tòa nhà công cộng hiện hữu nơi không có sự thay đổi về quyền sở hữu, chỉ số năng
lượng đo được có thể là thước đo chất lượng của công tác quản lý và có thể được sử dụng để thúc
đẩy người vận hành và sử dụng tòa nhà.
- Khi giấy chứng nhận năng lượng được trưng bày trong một tòa nhà công cộng hiện hữu, chỉ số vận
hành có thể là thước đo chất lượng của việc quản lý và có thể được sử dụng để thúc đẩy người vận
hành và sử dụng tòa nhà.
- Đối với người quản lý tòa nhà, có thể dễ dàng thu được chỉ số năng lượng đo lường được từ dữ liệu
thường được lưu trữ trong hệ thống thông tin của họ (hóa đơn năng lượng, diện tích, v.v.).
- Chỉ số năng lượng đo lường được và chỉ số năng lượng tính toán tiêu chuẩn không nhất thiết phải
bao gồm việc sử dụng năng lượng giống nhau.
- Đối với các tòa nhà mới, một chỉ số thiết kế có thể là phương tiện thực tế duy nhất để chỉ định một
chỉ số.
VÍ DỤ: Có thể sử dụng kết hợp việc đánh giá thiết kế và điều chỉnh phù hợp theo thực tế để tối ưu
hóa tòa nhà và hệ thống kỹ thuật trong giai đoạn thiết kế, nếu việc sử dụng được biết đến nhiều hơn
và khác với cách sử dụng tiêu chuẩn. Sau đó, một biến thể của việc đánh giá này sử dụng dữ liệu tiêu
chuẩn có thể được dùng để đánh giá thiết kế như một sản phẩm phụ.
6.2.5 Dịch vụ tòa nhà
Phân loại tòa nhà được liên kết với các mục đích sử dụng điển hình mà các dịch vụ tòa nhà sẽ phải
đáp ứng. Định nghĩa của 'hiệu quả năng lượng của một tòa nhà’ 2) có tính đến các dịch vụ tòa nhà
sau:
- Sưởi ấm;
- Làm mát;
- Thông gió;
- Nước nóng sinh hoạt;
- Chiếu sáng;
- Gia ẩm;
- Khử ẩm.
Các dịch vụ năng lượng khác, ví dụ như “thiết bị”, “vận chuyển” (ví dụ: Thang máy, thang cuốn) có thể
được xem xét. Nếu xem xét các thiết bị khác thì phải được chỉ ra trong bảng liên quan của bảng dữ
liệu lựa chọn đầu vào và phương pháp, theo Phụ lục A của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Các dịch vụ năng lượng cho các thiết bị sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong các tòa nhà hiệu
quả cao. Các lý do không chọn “thiết bị” trong tùy chọn mặc định là:
- Chỉ tính đến các dịch vụ năng lượng sưởi ấm, làm mát, thông gió, nước nóng và chiếu sáng;
- Chỉ các dịch vụ năng lượng đặc trưng cho hoạt động của tòa nhà, được liên kết với vỏ công trình và
2)
với các hệ thống kỹ thuật “tòa nhà tích hợp” mới được xem xét;
Chỉ xem xét (khía cạnh pháp lý) đối với các dịch vụ năng lượng khi có thể và có trong thực tế để xác
minh sự phù hợp của tòa nhà với các quy định về tòa nhà.
CHÚ THÍCH 1: Đánh giá dựa trên mức tiêu thụ đo lường được (thường được sử dụng cho các giấy
chứng nhận năng lượng) có thể bao gồm các cách sử dụng năng lượng khác này.
Việc sử dụng năng lượng cho các dịch vụ tòa nhà được xem xét có liên quan đến các mô hình sử
dụng (ví dụ: Mô hình khai thác nước nóng sinh hoạt (DHW), nhiệt độ không khí bên trong nhà, công
suất sử dụng và các kịch bản).
CHÚ THÍCH 2: Nếu các quy định kỹ thuật công trình có thể xác minh được ảnh hưởng đến “các dịch
vụ năng lượng khác”, thì khả năng có thể là tính đến các dịch vụ năng lượng khác bằng cách liên kết
quy định kỹ thuật công trình với các giá trị mặc định khác nhau.
Một phần quan trọng khác liên quan đến các dịch vụ của tòa nhà là thu hồi các tổn thất và phần thu
nhận lại bên trong của một dịch vụ năng lượng, ví dụ thu nhận nhiệt liên quan đến các thiết bị. Sự cân
bằng năng lượng có thể bị lệch nếu năng lượng đã sử dụng không được xem xét trong cân bằng
năng lượng và nếu chỉ tính đến phần thu nhận nhiệt bên trong. Trong trường hợp này, chỉ lợi ích liên
quan đến thu nhận nhiệt bên trong sẽ được tính đến mà không tính đến việc sử dụng năng lượng cần
thiết.
Để gần với đánh giá thực tế, đặc biệt là nhiệt độ trong nhà và tính toán tải, thì quyết định tính đến thu
nhận nhiệt bên trong ngay cả khi không có dịch vụ năng lượng liên quan.
Giá trị của thu nhận nhiệt bên trong này phải được báo cáo trong cách thức mức độ sử dụng tòa nhà
và điều kiện sử dụng. Cần xem xét các tòa nhà không được trang bị tất cả các dịch vụ mà hiệu quả
năng lượng phải được đánh giá (ví dụ: Tòa nhà không có hệ thống làm mát khi làm mát là một phần
của tính toán hiệu quả năng lượng). Các tùy chọn có thể là:
- Cung cấp quy định kỹ thuật của hệ thống kỹ thuật mặc định cho mỗi dịch vụ còn thiếu;
- Chấp nhận đánh giá tốt hơn đối với các tòa nhà thiếu một số dịch vụ và có thể làm nổi bật sự mất
tiện nghi bằng một chỉ số bổ sung (ví dụ: Số giờ mất tiện nghi vào mùa hè).
Xem thảo luận về vấn đề này trong 6.2.2 (loại không gian) và 9.2 của tiêu chuẩn này.
6.3 Xác định loại và phân loại cho một trường hợp cụ thể
Xem giải thích trong 6.1.
6.4 Các trường hợp ví dụ
6.4.1 Tổng quát
Các dịch vụ điển hình của tòa nhà, ví dụ: Hệ thống sưởi, làm mát, thông gió, nước nóng sinh hoạt và
chiếu sáng dường như liên quan đến loại tòa nhà. Tuy nhiên, việc phân loại về cơ bản là thuộc tính
của không gian riêng lẻ, vì một tòa nhà hiếm khi chỉ bao gồm một loại không gian.
VÍ DỤ: Một tòa nhà văn phòng điển hình cũng có hội trường, nhà vệ sinh, hành lang: Các không gian
phục vụ được sử dụng làm văn phòng; một tòa nhà trường học thường có một số không gian văn
phòng: Không gian với mục đích sử dụng khác ngoài việc dạy học.
Do đó: Sơ đồ hóa tính toán của một tòa nhà sẽ bắt đầu bằng việc phân loại các không gian.
Mỗi không gian có thể có loại không gian riêng cần được chỉ định vì điều này xác định các điều kiện
sử dụng (tiêu chuẩn giả định): Nhiệt độ, chiếu sáng, thông gió và chất lượng không khí, nhu cầu nước
nóng sinh hoạt, sử dụng các thiết bị (khác), v.v... Vì vậy, phân loại không gian xác định các điều kiện
bên trong ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng.
Các yêu cầu về hiệu quả năng lượng tối thiểu (“ngân sách năng lượng”) và việc xác định định mức là
hình ảnh phản chiếu của các quy trình đánh giá hiệu quả năng lượng: Chúng phải dựa trên các giả
định giống nhau để tránh “việc này được so sánh với việc khác”.
Do đó, cần lưu ý rằng các lựa chọn ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng (ví dụ: Loại không gian
nào và dịch vụ năng lượng nào được bao gồm), cũng có tác động đến các yêu cầu hiệu quả năng
lượng tối thiểu và định mức. Việc đặt ra các yêu cầu pháp lý về hiệu quả năng lượng cần tính đến
trường hợp của các tòa nhà bao gồm một số loại không gian.
Đối với mục đích quản lý hành chính, loại không gian phổ biến có thể được gắn cho tòa nhà.
Trái ngược với việc phân loại không gian, việc phân định loại tòa nhà dường như không có tác động
nào khác đến việc đánh giá hiệu quả năng lượng ngoài các tác động pháp lý nhất định (ví dụ: Đặt ra
các yêu cầu về hiệu quả năng lượng tối thiểu, giấy chứng nhận năng lượng, an toàn và sức khỏe).
Các loại tòa nhà áp dụng cho toàn bộ tòa nhà hoặc cho một đơn nguyên tòa nhà.
Tất nhiên, người sử dụng tiêu chuẩn phải đơn giản hóa việc phân biệt và phân định các loại không
gian, trong bối cảnh pháp lý thích hợp. Bằng cách này, thậm chí có thể phân định loại không gian phổ
biến cho tất cả các không gian của tòa nhà hoặc đơn nguyên tòa nhà.
Các trường hợp ví dụ sau (xem Hình 6a đến Hình 6f) đóng vai trò là chất xúc tác cho việc thảo luận
và hiểu rõ hơn về các quy định kỹ thuật của (phần) tòa nhà được đánh giá và việc phân định các loại
không gian và điều kiện sử dụng. Các bài tập khác có thể được bổ sung một cách dễ dàng.
6.4.2 Trường hợp ví dụ 1
Hình 6a - Ví dụ 1
Mô tả: Nhiều tòa nhà trên cùng một địa điểm xây dựng
Bài tập:
- Có thể đưa ra định nghĩa EPB chung cho một tòa nhà (riêng biệt) không? Không, ví dụ: Nếu (d) là
gara ô tô trong nhà và (e) là cầu trên cao (như hành lang): Định nghĩa bất kỳ được tùy ý quyết định
cho dù (b) và (c) là các tòa nhà riêng biệt (kết nối qua cầu trên cao và gara ô tô trong nhà (d)) hoặc (b)
và (c) là một tòa nhà riêng rẽ.
Đối với việc đánh giá hiệu quả năng lượng (EP), lựa chọn này (hai hoặc một tòa nhà) sẽ không tạo ra
sự khác biệt (nhưng tuy nhiên có lẽ sẽ...).
- Xem 6.2: Tình huống có thể là ví dụ:
- Tòa nhà (a) là một tòa nhà mới mà EP sẽ được đánh giá.
- Đơn nguyên tòa nhà trong tòa nhà (a) cần được đánh giá.
6.4.3 Trường hợp ví dụ 2
Mô tả: Một căn hộ sinh viên.
Sơ đồ mặt bằng sàn của mỗi sàn:
Hình 6b - Ví dụ 2
CHÚ THÍCH: Các căn hộ không phải là các đơn nguyên tòa nhà độc lập: Mỗi tầng có một số căn hộ
với một nhà bếp và phòng khách chung (ví dụ: Phòng tắm chung cho mỗi tầng hoặc một phòng tắm
riêng cho mỗi căn hộ). Loại tòa nhà này còn được gọi là “Nhà ở tập thể”.
Bài tập:
- Xem 6.2: EP trên mỗi căn hộ có thể được đánh giá như một đơn nguyên tòa nhà không? Không: Mỗi
căn hộ không phải là một phần độc lập của tòa nhà. Một phần độc lập của tòa nhà ở cần có ít nhất
phòng khách, phòng ngủ, khu vực bếp, nhà vệ sinh và phòng tắm, hoặc nhà vệ sinh và phòng tắm kết
hợp. Do đó, đơn nguyên tòa nhà nhỏ nhất là một tầng.
- Xem 6.2.2: Điều gì xảy ra nếu cùng một tòa nhà, ngoài bếp và sinh hoạt chung trên mỗi tầng, còn có
không gian trong nhà chung lớn cho cả tòa nhà, ví dụ: Ở tầng mặt đất? Sau đó, nó có thể phụ thuộc
vào các quy định quốc gia xem không gian này được coi là không gian sinh hoạt chung cần thiết hay
là không gian phụ.
6.4.4 Trường hợp ví dụ 3
Mô tả: Tòa nhà hỗn hợp có các loại không gian khác nhau, không gian chung (Hội trường, nhà vệ
sinh, lối thoát hiểm), không gian không dành cho người ở và không gian bên ngoài tòa nhà hoặc bộ
phận tòa nhà được xem xét.
Hình 6c - Ví dụ 3
Bài tập:
- Loại không gian của sảnh, lối thoát hiểm và các khu vệ sinh chung là gì? Xem ba tùy chọn được mô
tả ở trên.
- Giả sử sảnh, lối thoát hiểm và nhà vệ sinh chung có điều kiện sử dụng riêng mà chúng ta không
muốn tính toán từng không gian riêng biệt. Các quy tắc cho phép kết hợp các không gian thành các
phần của tòa nhà là gì?
- Nhà để xe nằm bên trong hay bên ngoài “vỏ công trình”? Điều này phụ thuộc vào các quy tắc, được
đưa ra trong tiêu chuẩn theo mô-đun EPB M2-2 (ISO 52016-1 [10]). Nếu bên trong: Loại không gian
(được điều hòa nhiệt) nào sẽ được phân định cho không gian này? Nhưng nếu có các không gian liền
kề với các loại khác? Lớn nhất. Nhưng nếu chúng có kích thước bằng nhau? Có được tự do lựa
chọn?
- Liên kết với nhà ở liền kề là gì? Rõ ràng là: Nếu ở một địa điểm khác, hoặc nếu không nằm trong đối
tượng được đánh giá, thì ngôi nhà liền kề chỉ là điều kiện ranh giới. Để làm gì? Điều kiện biên để tính
toán nhu cầu sưởi ấm và làm mát. Do đó, các giả định là cần thiết cho ranh giới này. Nhưng những
điều này có thể được quy định trong tiêu chuẩn cụ thể về nhu cầu năng lượng để sưởi ấm và làm mát
(ISO 52016-1 [10]).
6.4.5 Trường hợp ví dụ 4
Mô tả: Nhà ở riêng lẻ có gác mái (có thể ở được), không gian giếng trời lấy ánh sáng, kho chứa
Hình 6d - Ví dụ 4
Bài tập:
- Làm gì với gác mái nếu về mặt pháp lý không thể ở được, nhưng trong thực tế có thể ở/ở được?
- Có bao gồm kho chứa hay không bao gồm?
- Xem Điều 10: Khu vực phục vụ nhu cầu nước nóng? Đối với EP được tính toán, lượng nhu cầu
nước nóng (vòi hoa sen, nhà bếp) được xác định (trên toàn quốc) cho mỗi người, với một công suất
tiêu chuẩn cho mỗi m2 sàn. Trong một tòa nhà ở, việc đếm số người tất nhiên là cho cả ngôi nhà riêng
lẻ (hiển nhiên, vì tất cả những người trong ngôi nhà riêng lẻ cùng xác định nhu cầu nước nóng cho
nhà bếp và phòng tắm). Do đó: Đối với nhu cầu nước nóng của một ngôi nhà, toàn bộ ngôi nhà là một
“khu vực” duy nhất (khu vực phục vụ).
6.4.6 Trường hợp ví dụ 5
Mô tả: Một tòa nhà hỗn hợp khác có các loại không gian khác nhau, không gian chung (sảnh vào lớn),
không gian không dành cho người ở và (có thể) không gian bên ngoài tòa nhà hoặc bộ phận tòa nhà
được xem xét.
Hình 6e- Ví dụ 5
Bài tập:
- EP toàn bộ tòa nhà: Điều kiện nào được giả định cho sảnh vào chung lớn?
- EP của căn hộ penthouse: Làm gì với việc phân bổ (một phần) hội trường?
- EP của nhà hàng (ví dụ: Nếu cải tạo hoặc thay đổi quyền sở hữu): Làm gì với việc phân bổ (một
phần) hội trường? Làm thế nào để xử lý với kết nối mở đến hội trường? Làm gì với nhà bếp (dạng:
“công nghiệp”)? Làm gì với hệ thống kỹ thuật tòa nhà trong trường hợp hệ thống kỹ thuật tòa nhà
chung cho cả tòa nhà?
6.4.7 Trường hợp ví dụ 6
Mô tả: Tòa nhà có gara ô tô bên trong
Hình 6f - Ví dụ 6
Bài tập:
EP của cả tòa nhà: Một số quốc gia gộp cả năng lượng để chiếu sáng và thông gió của gara ô tô vào
EP, nhưng không tính đến kích thước của gara ô tô vào kích thước tham chiếu (xem thảo luận trong
9.4).
7 Hiệu quả năng lượng tính toán của tòa nhà
7.1 Dữ liệu đầu ra
Việc thu thập dữ liệu trên mỗi dịch vụ và mỗi khu vực tòa nhà chỉ có thể được thực hiện ở mức tổng
thể vì có thể có nhiều hệ thống phát năng lượng đóng góp vào cùng một dịch vụ và cũng có những
đóng góp chung của phần năng lượng tái tạo được sản xuất tại chỗ được phân bổ cho tất cả các dịch
vụ EPB được xem xét.
7.2 Khoảng thời gian tính toán và kỳ tính toán
7.2.1 Khoảng thời gian tính toán
Khi xác định các biến đầu vào và đầu ra giữa các mô-đun riêng lẻ một cách rõ ràng, điều cần thiết là
phải rõ khoảng thời gian nào được sử dụng để biến được chuyển từ mô-đun này sang mô-đun khác.
Ví dụ, điều này có thể là:
- Theo giờ;
- Theo tháng;
- Theo mùa;
- Theo năm;
- Theo “Bin”.
“Bin” đề cập đến một phương pháp thống kê, trong đó tần suất xuất hiện của các giá trị khoảng thời
gian ngắn cho một hoặc nhiều biến điều kiện biên (ví dụ: Giá trị nhiệt độ không khí ngoài trời theo giờ)
được phân bổ cho các khoảng xác định (“Bin”). Sau đó, phép tính được thực hiện theo từng “Bin”,
bằng cách sử dụng giá trị của biến ở giữa “Bin” làm điều kiện biên và nhân với tần suất của từng “Bin”
tương ứng.
Phương pháp này đặc biệt có giá trị khi các phép tính với khoảng thời gian dài hơn cho một số bộ
phận (ví dụ như theo tháng hoặc theo mùa cho tòa nhà) cần được kết hợp với tính toán của các công
nghệ mà ảnh hưởng của sự thay đổi của động lực là cần thiết và không thể chấp nhận tính trung bình
ví dụ nhiệt độ ngoài trời đối với máy bơm nhiệt không khí - nước).
Hạn chế của phương pháp “Bin” là không có ‘bộ nhớ’ giữa các “Bin”. Trong trường hợp hệ thống lưu
trữ năng lượng hoặc trong trường hợp tích tụ nhiệt trong các phần tử của tòa nhà, bin không biết
lượng nhiệt đã được tích lũy hoặc giải phóng trong khoảng thời gian trước đó, vì các “Bin” không tuần
tự trong thời gian như ví dụ: Một khoảng thời gian theo giờ.
Khoảng thời gian tính toán là một trong những vấn đề chủ chốt. Để có được một cấu trúc tổng thể
minh bạch và chặt chẽ, với tất cả các tương tác ở các cấp độ khác nhau và với một tập hợp dữ liệu
đầu vào nhất quán.
Để sử dụng trong bối cảnh các quy định xây dựng, điều cần thiết là các quy trình để tính toán hiệu
quả năng lượng của một tòa nhà không chỉ chính xác mà còn là công cụ mạnh (áp dụng cho nhiều
trường hợp). Điều cần thiết là chúng có thể tái lập (rõ ràng) cũng như minh bạch và có thể kiểm
chứng (ví dụ: Đối với các thành phố, để kiểm tra sự phù hợp các yêu cầu về hiệu quả năng lượng tối
thiểu của quốc gia hoặc khu vực) và có thể áp dụng/có thể chấp nhận được (ví dụ đối với việc thanh
tra viên đánh giá đánh giá hiệu thông qua năng lượng của một tòa nhà hiện hữu).
Nói cách khác, điều quan trọng là phải tìm được sự cân bằng giữa tính minh bạch, tính mạnh mẽ và
độ tái lập của phương pháp tính toán, một tập hợp dữ liệu đầu vào có thể chấp nhận được và đáng tin
cậy, cũng như đánh giá cao sự đa dạng của các công nghệ tiết kiệm năng lượng hiện có.
Do đó, độ chính xác của mô hình phải luôn tương ứng với các giới hạn và độ không đảm bảo trong
dữ liệu đầu vào và với sự vững chắc và độ tái lập cần thiết của phương pháp: Độ chính xác cân bằng.
Do đó, phương pháp chính xác nhất, đầy đủ và hiện đại nhất không nhất thiết phải là phương pháp
thích hợp nhất cho một phép tính cụ thể.
Phụ lục L bao gồm danh mục các công nghệ.
Nhiều công nghệ trong số này, đặc biệt cho các tòa nhà tiêu thụ năng lượng thấp, tương tác mạnh mẽ
và linh động với các biến đổi theo giờ và hàng ngày của thời tiết và hoạt động (tấm che nắng, bộ điều
chỉnh ổn định nhiệt, nhu cầu, mức độ sử dụng, sự tích tụ, thông gió cơ khí, làm mát ban đêm - thông
gió miễn phí, vận hành vào ngày nghỉ cuối tuần, v.v.). Điều này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tính
toán sưởi ấm và làm mát.
Trong phương pháp tính toán theo tháng về nhu cầu năng lượng để sưởi ấm và làm mát, cần có các
hệ số hiệu chỉnh hoặc điều chỉnh để tính đến những ảnh hưởng này theo dạng thống kê. Việc tính
toán theo giờ trực tiếp có thể không cần các hệ số hiệu chỉnh như vậy và theo quan điểm đó thì đây là
một phương pháp thuận lợi. Nhưng thách thức đối với phương pháp theo giờ là tránh nhu cầu sử
dụng quá nhiều dữ liệu đầu vào từ người dùng, điều này sẽ tạo ra sự không chắc chắn có thể dễ dẫn
đến mất độ chính xác tổng thể.
Hơn nữa, một tính toán chính xác theo giờ chỉ bao gồm một tình huống cụ thể, với một nhóm điều
kiện sử dụng cụ thể: Một quy cách cài đặt nhiệt độ hàng ngày, mô hình hiện diện mức độ sử dụng,
nhu cầu thông gió, thời tiết, v.v. Tác động của các biến không được tính đến (trừ khi nó được quy
định để lặp lại tính toán cho một tòa nhà nhất định với một mô hình thay đổi đã được quy định).
Các yếu tố tương quan trong phương pháp theo tháng có thể đã được phát triển trên cơ sở một loạt
các mô phỏng tòa nhà với ví dụ: sự thay đổi của thời tiết hàng ngày và điều kiện sử dụng, dẫn đến
các yếu tố tương quan trung bình về mặt thống kê có thể - đối với một số tác động nhất định - cho kết
quả chắc chắn hơn so với tính toán theo giờ chỉ dựa trên quy cách cụ thể.
VÍ DỤ: Việc so sánh các tấm che nắng vận hành thủ công với tấm che nắng điều khiển tự động sẽ
yêu cầu phải tính đến sự thay đổi trong hành vi của người dùng trong trường hợp tấm che nắng điều
khiển thủ công. Trong tính toán theo tháng, một chỉ số tương quan có thể ngầm tính đến các biến đổi
này. Trong tính toán theo giờ thì chỉ có một loại hành vi của người dùng.
Đối với phương pháp theo giờ, điều quan trọng là phải tránh được trường hợp kết quả chỉ là một hộp
đen. Do đó, nếu có thể, kết quả theo tháng được đưa ra có thể được sử dụng để kiểm tra tính hợp lệ
hoặc tính khả thi của kết quả. Trong ISO 52016-1[10], phương pháp tính toán theo tháng và theo giờ
thậm chí còn được liên kết trực tiếp: Cả hai phương pháp sử dụng gần như cùng một đầu vào và
phương pháp theo giờ cũng cho kết quả theo tháng có thể được so sánh với phương pháp theo tháng
hoặc là cơ sở để tính các yếu tố tương quan đối với phương pháp theo tháng. Một phương pháp tính
toán theo giờ không yêu cầu tất cả đầu ra từ mỗi tiêu chuẩn EPB phải thay đổi theo giờ. Điều này phụ
thuộc vào một số yếu tố, chẳng hạn như:
- Tầm quan trọng của đại lượng (các đại lượng có ảnh hưởng nhỏ có thể được coi là dễ dàng hơn
như đại lượng “tĩnh”
- Số lượng biến thiên của đầu ra theo hàm của một số điều kiện nhất định (ví dụ: Giá trị U của tường
thường có thể được coi là không đổi trong năm, mặc dù có sự phụ thuộc (nhỏ) vào nhiệt độ; nhưng
hiệu suất của máy bơm nhiệt thường phụ thuộc lớn vào nhiệt độ của nguồn và công suất yêu cầu và
nhiệt độ đầu ra).
- Sự đảm bảo trong quá trình hoặc trong dữ liệu đầu vào: Nếu thiếu thông tin đáng tin cậy, thì việc
đơn giản hóa có thể phù hợp hơn so với tính toán chi tiết với nhiều điểm không đảm bảo (ví dụ: Sự
tích tụ độ ẩm trong kết cấu xây dựng; xem ISO 52016-1 [10]).
Sự lựa chọn cân bằng phải được thực hiện trong mỗi tiêu chuẩn EPB tương ứng (mở rộng cho các
lựa chọn trong Phụ lục A/Phụ lục B phù hợp, nếu cần thiết).
Việc sử dụng các công cụ mô phỏng tòa nhà chi tiết không được bao gồm trong bộ tiêu chuẩn EPB vì
điều đó sẽ là một kết thúc mà còn nhiều điều bỏ ngỏ. Một phương pháp mô phỏng tòa nhà chi tiết với
danh sách dữ liệu đầu vào tiêu chuẩn (các biến đầu vào) sẽ giải quyết vấn đề mở rộng đối với dữ liệu
đầu vào, nhưng vẫn không đáp ứng các tiêu chí mà một phương pháp sẽ được chuẩn hóa cần phải
minh bạch đối với người biên soạn tiêu chuẩn, ổn định đủ và sự sẵn có của các trường hợp kiểm tra
xác nhận, bao quát tất cả các yếu tố trong tính toán và tiêu chí với độ rộng dải đủ hẹp để đảm bảo độ
tái lập và độ tin cậy.
Một phương pháp chi tiết hơn chỉ dẫn đến độ chính xác cao hơn rõ ràng chứ không dẫn đến độ chính
xác thực sự cao hơn, bởi vì nhiều chi tiết sẽ quan trọng như nhau để có độ chính xác cao hơn không
thể (hoặc không) được tính đến; ít nhất là không có quá nhiều dữ liệu đầu vào bổ sung.
Ví dụ về sự khác biệt điển hình giữa mô hình và thực tế nói chung là ít nhiều “Không thể tránh khỏi”:
- Điều kiện: Thông thường, việc tính toán sẽ được thực hiện cho một tập hợp các điều kiện tiêu chuẩn
về khí hậu, người cư ngụ, sự sử dụng,...). Ngay cả khi tập hợp này đại diện cho tình huống trung bình
ở một quốc gia hoặc khu vực, kết quả sẽ không phải là trung bình do các hiệu ứng không tuyến tính.
- Đầu vào: Có những hạn chế thực tế đối với việc xác minh dữ liệu đầu vào. Có sản phẩm/thành phần
giả định được sử dụng không? Các sản phẩm này có được lắp đặt như giả định không?
- Mô hình hóa: Đặc biệt, sự phân bố lại nhiệt bên trong và giữa các không gian trong một tòa nhà bị
bỏ qua ở một mức độ nào đó. Ví dụ tương tác nhiệt do truyền nhiệt và lưu chuyển không khí giữa các
vùng nhiệt trong tòa nhà, sự phân tầng nhiệt trong phòng, nhu cầu sưởi ấm hoặc làm mát khác nhau
ở các phần khác nhau của phòng hoặc vùng nhiệt. Về lý thuyết, một mô hình chi tiết có thể được sử
dụng, nhưng điều này đòi hỏi nhiều giả định về việc sử dụng các không gian, trong khi thực tế sử
dụng các không gian trong thực tế sẽ thay đổi một cách đáng kể.
- Yếu tố con người: sự không chắc chắn liệu (tính theo trung bình) tòa nhà có được sử dụng như giả
định hay không; liệu các quy định của tòa nhà được sử dụng và duy trì như giả định.
- Các giá trị cực đại: Ngay cả với “giá trị cực đại” mô phỏng chi tiết theo giờ, nếu ít hơn một giờ, vẫn
không được chọn. Ví dụ: đạt cực đại trong tải sưởi ấm hoặc làm mát, giá trị cực đại về độ chói sáng.
Những khác biệt này sẽ dẫn đến kết quả tính toán không chính xác. Độ chính xác trong các đặc điểm
khác của mô hình cần phải tương xứng với độ không chính xác “không thể tránh khỏi”, để tránh “độ
chính xác giả”. Đây là trường hợp cụ thể nếu điều này dẫn đến giảm các khía cạnh chất lượng quan
trọng khác như tính minh bạch, độ mạnh mẽ, độ tái lập, v.v... như đã đề cập ở trên.
7.2.2 Kỳ tính toán
Theo quy định, khoảng thời gian tính toán là một năm.
Thời gian thực tế của chu kỳ sưởi ấm và làm mát phụ thuộc vào khí hậu và điều kiện sử dụng (chẳng
hạn như cài đặt nhiệt độ, nhu cầu thông gió, điều kiện trong nhà giả định; thu nhận nhiệt, v.v...),
nhưng có lẽ cũng phụ thuộc vào trường hợp thiết kế cụ thể. Độ dài thực tế này có thể được tính toán.
Ví dụ, đầu ra của ISO 52016-1[10] bao gồm thông tin về thời gian sưởi và làm lạnh thực tế. Điều này có
thể được sử dụng làm đầu vào cho các tiêu chuẩn EPB khác (ví dụ: Để tính toán thời gian vận hành
của máy bơm, quạt, v.v...).
Tuy nhiên, cũng có thể cần chỉ định độ dài ‘tổng thể’ hoặc ‘tối đa’ của các chu kỳ sưởi ấm và làm mát.
Ví dụ, để phòng tránh việc thời gian sưởi ấm/làm mát ngắn nằm ngoài thời gian sưởi ấm/làm mát
thực tế được tính đến; hoặc để tính đến giải thích các quy định xây dựng nhất định. Hoặc, ví dụ, để
tránh việc sưởi ấm và làm mát đồng thời bị bỏ qua do sự đơn giản hóa trong việc phân vùng của tòa
nhà.
7.3 Dữ liệu đầu vào
7.3.1 Dữ liệu sản phẩm
Không cần thông tin bổ sung.
7.3.2 Dữ liệu thiết kế hệ thống
Không cần thông tin bổ sung.
7.3.3 Điều kiện vận hành
[Link] Tổng quát
Tiêu chuẩn này giả định rằng năng lượng phụ trợ là năng lượng điện. Điện cũng có thể là chất mang
năng lượng chính cung cấp đầu vào cho thiết bị phát, chẳng hạn như bơm nhiệt hoặc quạt gió. Sự
phân biệt giữa “năng lượng phụ trợ” và “đầu vào điện chính” không có tác dụng thực tế nào đối với sự
cân bằng năng lượng (ví dụ: Thực tế là điện được sử dụng cho các mục đích EPB). Về nguyên tắc
năng lượng phụ trợ có thể thuộc loại khác (có thể là khí nén). Trong trường hợp đó:
- Hoặc năng lượng phụ trợ được tạo ra bởi một thiết bị phát (nó thường thường là trường hợp đối với
khí nén) mà việc sử dụng điện của thiết bị đó sẽ là năng lượng phụ trợ thực sự;
- Hoặc nó được xử lý giống như một chất mang năng lượng được cấp đến khác, sử dụng các hệ số
trọng số dựa trên loại thiết bị phát cung cấp năng lượng phụ trợ.
Mỗi lượng năng lượng điện được sản xuất hoặc sử dụng được gắn với một mã định danh của loại
hình sử dụng hoặc sản xuất. Đặc tính này đã được đưa vào để cho phép các tính năng như:
- Ưu tiên trong việc sử dụng hoặc xuất đi lượng điện được sản xuất tại chỗ khi có sẵn nhiều máy phát
điện tại chỗ;
- Sàng lọc loại hình sử dụng có thể được bù đắp bằng điện được sản xuất ở trên.
[Link] Điện năng đầu vào cho máy phát nhiệt
Thông thường, đây là đầu vào cho máy bơm nhiệt dùng điện, máy làm lạnh và quạt gió của hệ thống
thông gió.
Nếu không có thiết bị này thì giá trị đầu vào bằng không.
[Link] Năng lượng phụ trợ đầu vào
Có thể một hệ thống không có năng lượng phụ trợ nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra.
[Link] Loại hình sử dụng điện
Loại hình sử dụng điện được ghi bởi một mã định danh để quản lý bất kỳ điều kiện nào về loại nguồn
có thể được sử dụng để đáp ứng việc sử dụng điện.
VÍ DỤ: Ở một số quốc gia, không cho phép bù trừ việc sử dụng điện để sưởi ấm trực tiếp bằng điện
được sản xuất bởi các tấm pin mặt trời. Điều này chỉ có thể được thực hiện trong một phần mềm nếu
quy định kỹ thuật của loại sử dụng được gắn với lượng năng lượng bất kỳ đã sử dụng.
Ký hiệu định danh EL_USE_DEFAULT có thể được giả định nếu không có quy định kỹ thuật nào
được đưa ra.
Giá trị của Bảng B.11 trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) chỉ có thể là
EL_USE_DEFAULT nếu không có điều kiện đặc biệt trong giá trị mặc định được sử dụng.
Hệ quả của cách tiếp cận này là việc sử dụng năng lượng điện không được tổng hợp trong các tiêu
chuẩn cấp thấp trừ khi chúng có cùng loại hình sử dụng.
[Link] Điện năng sản xuất tại chỗ
Không cần thông tin bổ sung.
[Link] Loại hình sản xuất điện
Loại hình sản xuất điện là một ký hiệu định danh được sử dụng để theo dõi nguồn gốc của điện được
sản xuất tại chỗ. Điều này liên quan đến các bước sau:
- Tính toán các chỉ số trọng số bước A;
- Xác định cụ thể và tính đến bất kỳ ưu tiên nào trong việc sử dụng điện sản xuất tại chỗ.
Các phần đóng góp từ một vài thiết bị phát năng lượng tại chỗ nên được tách riêng biệt nếu xem xét
đến tiêu chí ưu tiên liên quan đến việc xuất đi hoặc sử dụng tại chỗ. Nếu chúng không được tách
riêng biệt, thì không có ưu tiên được áp dụng và việc sử dụng tại chỗ được coi là tỷ lệ thuận với điện
năng được tạo ra bởi mỗi thiết bị phát điện.
[Link] Sử dụng điện cho các mục đích không hiệu quả năng lượng của tòa nhà
Có thể tính đến lượng điện sử dụng tại chỗ cho các mục đích sử dụng không EPB. Tùy chọn này
không được xử lý bởi “loại hình sử dụng năng lượng” vì một chỉ số trọng số độc lập có thể được chỉ
định cho loại năng lượng được xuất đi này.
[Link] Năng lượng cấp đến khác ngoài điện năng
Đây là số lượng của chất mang năng lượng không được xuất đi. Thông thường đây là tất cả các chất
mang năng lượng khác so với điện.
[Link] Quy định kỹ thuật chất mang năng lượng
Việc mã hóa các ký hiệu định danh này càng phải đồng nhất càng tốt trong việc áp dụng các tiêu
chuẩn EPB khác nhau trong khuôn khổ quốc gia khác nhau.
VÍ DỤ: GEN_CR_EL cho điện, GEN_CR_GAS cho khi tự nhiên hoặc GEN_CR_LPG cho LPG.
Ở cấp độ rộng hơn, có thể có các chất mang năng lượng bổ sung như nhiên liệu đặc biệt, năng lượng
hạt nhân, rác thải đô thị, v.v...
Danh sách các chất mang năng lượng này cho phép quy định kỹ thuật rõ ràng và duy nhất về các chỉ
số trọng số và tính chất vật lý (ví dụ: Khối lượng riêng, trị số tỏa nhiệt) của các chất mang năng lượng
trong tất cả các tiêu chuẩn EPB.
7.3.4 Hằng số và dữ liệu vật lý
Không cần thông tin bổ sung.
7.3.5 Dữ liệu khác
[Link] Chỉ số trọng số năng lượng sơ cấp
Năng lượng không tái tạo, tái tạo và tổng năng lượng sơ cấp và các chỉ số trọng số tương ứng là đại
lượng không độc lập. Đối với chất mang năng lượng bất kỳ cr, các mối quan hệ sau đây
được giữ nguyên:
(29)
(30)
3)
Xem định nghĩa 2 bản sửa đổi của Chỉ thị EPBD
được kết nối với cùng một hệ thống;
- Thứ hai, hiệu quả năng lượng cho các tòa nhà riêng lẻ thu được theo quy trình tính toán hiệu quả
năng lượng trên mỗi phần của tòa nhà (xem TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục E.
9.6 Hiệu quả năng lượng tổng thể
9.6.1 Cân bằng năng lượng tổng thể theo trọng số
Các loại chất mang năng lượng khác nhau được cung cấp cho tòa nhà không bao giờ được tổng hợp
trực tiếp với nhau. Chúng có thể được tính tổng chỉ khi tính đến các chỉ số quy đổi thành một đại
lượng đồng nhất (theo trọng số).
Các tiêu chí trọng số được xem xét trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) như sau:
- Năng lượng sơ cấp không tái tạo;
- Năng lượng sơ cấp tái tạo;
- Tổng năng lượng sơ cấp;
- Chi phí, là một tiêu chí trọng số thiết yếu để đánh giá chi phí - lợi ích;
- Phát thải CO2 hoặc khí nhà kính.
Đối với mỗi chất mang năng lượng và đặc tính trọng số, có thể phân biệt thêm theo “Chu vi” (ví dụ:
Nguồn gốc của chất mang năng lượng) có thể ở tại chỗ, ở gần và từ xa.
Chỉ số trọng số là tỷ lệ giữa số lượng theo trọng số (năng lượng, chi phí) so với năng lượng thực tế
được cấp đến hoặc xuất đi. Do đó, đơn vị của các chỉ số trọng số là kW·h/kW·h hoặc MCO2/kW·h
hoặc đơn vị tiền tệ/kW·h, v.v...
Các chỉ số trọng số cho:
- Chất mang năng lượng được cấp đến cr: ƒwe;del;cr;t
- Lưới điện xuất đi ƒwe;exp;el;grid;t
- Và điện xuất đi cho các mục đích sử dụng không phải EPB trong tòa nhà ƒwe;exp;el;used;nEPus,t được đưa
ra theo định dạng quy định trong Bảng A.16 TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), trong trường
hợp phổ biến là hằng số (ví dụ: không phụ thuộc thời gian). Các giá trị tham khảo mặc định được đưa
ra trong Bảng A.16 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Tất cả các dòng năng lượng được tính tại cùng một ranh giới đánh giá (ranh giới đánh giá sử dụng
năng lượng). Tiêu chuẩn EPB tổng thể cho phép quy định dòng năng lượng nào (ví dụ: chu vi nào)
được tính đến tùy thuộc vào mục đích tính toán (năng lượng sơ cấp tái tạo cho RER, tổng năng lượng
sơ cấp cho RER, tổng năng lượng sơ cấp cho hiệu quả năng lượng của tòa nhà). Ví dụ, để tính toán
tổng năng lượng sơ cấp cho chỉ số hiệu quả năng lượng, chỉ các năng lượng được cấp đến từ, ví dụ:
Ở gần và từ xa có thể được tính đến. Điều này giúp cho tổng các chỉ số năng lượng sơ cấp có thể sử
dụng quy trình tính toán của tiêu chuẩn EPB tổng thể (một ranh giới đánh giá) và cũng để biểu thị hiệu
quả của hệ thống bằng cách sử dụng tổng chỉ số năng lượng sơ cấp như được chỉ ra trong Phụ lục H.
Cần lưu ý rằng năng lượng sơ cấp tái tạo và không tái tạo theo trọng số là độc lập. Tổng năng lượng
sơ cấp là tổng năng lượng sơ cấp có thể tái tạo và không tái tạo.
Các công thức cân bằng năng lượng (chẳng hạn như TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công
thức (2)) đảm bảo sự độc lập cho năng lượng sơ cấp tái tạo và không tái tạo cũng như cho bất kỳ tiêu
chí trọng số nào khác. Cân bằng năng lượng sơ cấp không tái tạo và năng lượng tái tạo được thực
hiện độc lập để lấy dữ liệu cần thiết tính toán RER.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công thức (2) là sự khác biệt cuối cùng giữa năng lượng
cấp đến hàng năm theo trọng số và năng lượng xuất đi hàng năm theo trọng số.
Tổng năng lượng được cấp đến và xuất đi cho mỗi khoảng thời gian tính toán được thực hiện độc lập
với hỗ trợ chỉ số trọng số phụ thuộc thời gian.
CHÚ THÍCH: Ewe;del;el;an và Ewe;exp;el;an được tính theo TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công
thức ((19) và (20), không phải TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công thức (11) và (12).
9.6.2 Chỉ số năng lượng sơ cấp
Ý tưởng cơ bản về cân bằng năng lượng sơ cấp được thực hiện trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)
là mỗi dòng năng lượng đi qua ranh giới đánh giá được đặc trưng bởi tập hợp các đặc tính sau:
- Edel/exp là lượng năng lượng thực tế đi qua ranh giới đánh giá;
- EPnren là năng lượng sơ cấp không tái tạo có liên quan;
- EPren là năng lượng sơ cấp có thể tái tạo có liên quan;
- EPtot là tổng năng lượng sơ cấp liên quan và được tính bởi EPnren + EPren.
Năng lượng sơ cấp liên quan là năng lượng đã được tách ra từ các nguồn (trước bất kỳ sự chuyển
đổi nào) để cung cấp lượng năng lượng thực tế khi được đánh giá. Điều này bao gồm:
- Như mức tối thiểu, năng lượng thực tế;
- Như một lựa chọn phổ biến, chi phí vận tải (ví dụ điển hình là 1,1 đối với nhiên liệu hóa thạch);
- Như một lựa chọn có thể khác, chi phí năng lượng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng (giá trị mặc định
là 1,35 đối với nhiên liệu hóa thạch trong EN 15603:2008).
Các chỉ số năng lượng sơ cấp là tỷ lệ của một loại năng lượng sơ cấp nhất định (tái tạo, không tái tạo,
tổng số) với lượng năng lượng thực tế.
CHÚ DẪN:
AB ranh giới đánh giá
EL điện
FPD vận chuyển và cung cấp nhiên liệu
GAS khí tự nhiên
Hình 7 - Minh họa về ý nghĩa của các chỉ số quy đổi năng lượng sơ cấp
Nhận xét Hình 7:
- Năng lượng sơ cấp, theo định nghĩa của Chỉ thị 2010/31/EU, là “năng lượng từ các nguồn tái tạo và
không tái tạo chưa trải qua bất kỳ quá trình chuyển đổi hoặc biến đổi nào”. Căn cứ vào nguồn gốc thì
có thể là tái tạo (năng lượng tiềm năng của nước) hoặc là không thể tái tạo (nhiên liệu hóa thạch
trong giếng khoan);
- 0,25 kW·h là năng lượng khai thác từ nguồn tái tạo (vùng lưu vực nước);
- (2,5 + 1,1) kW·h là năng lượng khai thác từ nguồn không tái tạo (mỏ dầu hoặc khí đốt).
- Chi phí là bất kỳ tổn thất năng lượng nào do vận chuyển và cung cấp từ nguồn đến ranh giới đánh
giá:
- Năng lượng tái tạo bị mất trong nhà máy thủy điện (0,25 kW·h → 0,21 kW·h);
- Cả năng lượng tái tạo và không tái tạo bị mất trên lưới điện: (0,21 + 0,84) kW·h = 1,05 kW·h đầu vào
lưới nhưng chỉ 1,00 kW·h cho người sử dụng, điều này có nghĩa là tổn thất lưới 5 % trong ví dụ này;
- Năng lượng không tái tạo bị mất trong mạng phân phối nhiên liệu (1,1 kW·h → 1,0 kW·h). Năng
lượng được cung cấp là năng lượng đạt đến và đi qua “ranh giới đánh giá” AB:
- 1 kW·h điện, liên quan đến 2,5 kW·h năng lượng sơ cấp không tái tạo + 0,20 kW·h năng lượng sơ
cấp tái tạo (không bao gồm chi phí cho năng lượng sơ cấp tái tạo);
- 1 kW·h nhiên liệu hóa thạch, liên kết với 1,1 kW·h năng lượng sơ cấp không tái tạo + 0,0 kW·h năng
lượng sơ cấp tái tạo.
- Chỉ số năng lượng sơ cấp cho biết năng lượng sơ cấp liên quan đến mỗi kW·h được cấp đến:
- Điện: ƒPnren;el = 2,5 ƒPren;el = 0,20 ƒPtot;el = 2,5 + 0,20 = 2,70
- Nhiên liệu hóa thạch: ƒPnren;gas = 1,1 ƒPren; khí = 0 ƒPtot;gas = 1,1 + 0 = 1,1
- Các chi phí cho năng lượng sơ cấp không tái tạo thường được tính đến vì chúng góp phần làm cạn
kiệt các nguồn tài nguyên không tái tạo.
- Tất cả các số liệu trong Hình 7 chỉ là ví dụ với mục đích minh họa.
9.6.3 Chỉ số phát thải khí nhà kính
Không cần bổ sung thông tin.
9.6.4 Chỉ số trọng số bổ sung
Một ví dụ về các chỉ số trọng số bổ sung là các chỉ số phát thải gây ô nhiễm:
- Chỉ số phát thải oxit nitric cụ thể gNOx/kW·h;
- Chỉ số phát thải carbon monoxide cụ thể gCO/kW·h.
9.6.5 Chỉ số chi phí
Các chỉ số chi phí theo trọng số có thể phụ thuộc nhiều vào thời gian. Một ví dụ là chi phí năng lượng
điện.
Ngoài ra, các chỉ số chi phí theo trọng số có thể khác nhau nhiều đối với năng lượng cấp đến (mua)
và năng lượng xuất đi (bán).
9.6.6 Chỉ số trọng số cho năng lượng xuất đi
[Link] Tổng quát
Ý tưởng về năng lượng theo trọng số liên quan đến năng lượng được cấp đến là thông dụng cho đến
khi có năng lượng xuất đi liên quan. Các tòa nhà được đưa vào sử dụng gần đây và mới thường xuất
năng lượng đi và cần có một phân tích bổ sung kỹ lưỡng.
Năng lượng theo trọng số liên quan đến năng lượng xuất đi thực tế trên ranh giới đánh giá có thể
được đánh giá theo hai cách:
- Bằng cách tính đến năng lượng theo trọng số được sử dụng để sản xuất năng lượng xuất đi (chỉ ở
bước A):
- Đối với điện mặt trời (PV), đó là đầu ra của tấm pin sản xuất ra lượng điện đó (bức xạ mặt trời đến
theo quy tắc được tính tại đầu ra của tấm pin). Do đó, chỉ số năng lượng theo trọng số cho điện mặt
trời (PV) xuất đi sẽ giống với chỉ số chuyển đổi điện mặt trời (PV) được cấp đến;
- Đối với điện do đồng phát (CHP), chỉ số năng lượng theo trọng số sẽ là hạn ngạch của năng lượng
đầu vào theo trọng số của nhiên liệu, tùy thuộc về phương pháp phân bổ đã chọn;
- Bằng cách tính đến việc giảm năng lượng theo trọng số được sử dụng bởi máy phát điện lưới nhờ
năng lượng xuất đi (bước A và B):
- Đối với điện mặt trời (PV) và điện do đồng phát (CHP), điều này bao gồm việc giảm tiêu thụ năng
lượng sơ cấp của các máy phát điện lưới nhờ sản xuất điện lưới tránh được phát điện lưới. Các chỉ
số năng lượng sơ cấp cho điện mặt trời (PV) xuất đi và điện đồng phát sẽ giống như giá trị điện lưới;
- Đối với khí sinh học, điều này bao gồm việc giảm khai thác khí đốt và các sản phẩm khác nhờ vào
việc đưa khí sinh học vào phát điện để hòa vào lưới điện.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
PV Pin mặt trời
Hình 8 - Minh họa phương án thay thế trong đánh giá hiệu quả năng lượng
Nhận xét Hình 8:
- Dữ liệu vật lý cho thấy là pin mặt trời (PV) trong ví dụ này đang sản xuất điện 1 kW·h (vượt quá EPB
sử dụng) được xuất đi qua ranh giới đánh giá AB;
Năng lượng theo trọng số của năng lượng xuất đi được đánh giá theo Công thức (2) trong TCVN
13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) như Eexp;el x ƒwe;el
- Rõ ràng rằng Eexp;el là 1 kW·h
Khi xử lý năng lượng sơ cấp, có một lựa chọn rằng ƒwe;el phải là:
- Hoặc ƒPnren;el = 0,0 và ƒPren;el = 1,0 (PV điện xuất đi);
- Hoặc ƒPnren;el = 2,5 và ƒPren; el = 0,0 (nhiên liệu hóa thạch tránh được sử dụng bởi máy phát điện lưới).
Sự thay thế rõ ràng này được trình bày trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) dưới dạng đánh giá hai
bước với thông số kexp kiểm soát phương án thay thế và cho biết ý nghĩa vật lý. Xem 11.6.2 để biết
thêm chi tiết.
Phương án thay thế này rõ ràng hơn nếu chọn trọng số về kinh tế: Khi bán hàng hóa (ví dụ: xuất đi)
người ta có thể xem xét chi phí hoặc doanh thu trong sơ đồ kế toán. Sự lựa chọn tùy thuộc vào các
mục đích.
[Link] Bước A: Chỉ số trọng số dựa trên tài nguyên được sử dụng để sản xuất năng lượng
xuất đi
[Link].1 Tổng quát
Các chỉ số trọng số của Bước A không được đưa ra bởi các bảng như B.25 của TCVN 13469-1:2022
(ISO 52000-1:2017). Các chỉ số trọng số được tính toán dựa trên:
- Đặc tính của hệ thống kỹ thuật con để sản xuất điện;
- Các chỉ số trọng số của chất mang năng lượng được cấp đến và sử dụng bởi hệ thống kỹ thuật con
để sản xuất điện.
Cần có quy trình tinh toán chuyên dụng cho từng loại thiết bị phát điện.
Một ví dụ về chỉ số trọng số phụ thuộc thời gian là đối với điện đồng phát. Có thể thay đổi nếu hiệu
suất của máy đồng phát phụ thuộc vào tải và tải thay đổi theo khoảng thời gian tính toán.
[Link].2 Điện gió/điện mặt trời
Không có thông tin bổ sung trong Điều này.
[Link].3 Điện đồng phát
Đồng phát là một ví dụ phổ biến về hệ thống kỹ thuật có một hoặc nhiều đầu vào năng lượng và ít
nhất hai loại đầu ra: nhiệt Q và điện W.
Lượng nhiên liệu đầu vào theo trọng số được cấp đến Ewe;in phải được phân bổ cho điện đồng phát
WX;gen;out và nhiệt QX;gen;out như thể hiện trong Hình 9. Sau đó, tỷ lệ giữa năng lượng được phân
bổ theo trọng số Ewe; W cho điện đồng phát WX;gen;out là chỉ số chuyển đổi bước A của điện đồng phát
ƒwe;el;cgn.
trong đó:
- aW và aQ là hệ số phân bổ điện và nhiệt đồng phát; chúng phụ thuộc vào tiêu chí phân bổ và vào
hiệu suất điện và nhiệt ηW và ηQ
- Ewe;in là tổng trọng số của năng lượng có trọng số của tất cả các đầu vào chất mang năng lượng
đến máy đồng phát bao gồm cả năng lượng phụ trợ, được tính theo
EX;gen;in;cr,i
công thức:
(3)
Có một số phương pháp phân bổ năng lượng đầu vào theo trọng số cho đồng phát nhiệt và điện. Tài
liệu tham khảo đầy đủ có trong EN 15316-4-5: 2017 ‘Energy performance of buildings - Method for
calculation of system energy requirements and system efficiencies - Part 4-5: District heating and
cooling, Module M3-8-5, M4-8-5, M8-8-5, M11-8-5’. ‘Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Phương pháp
tính toán yêu cầu năng lượng và hiệu suất của hệ thống - Phần 4-5: Hệ thống sưởi và làm mát khu
vực, Mô-đun M3-8-5, M4-8-5, M8-8-5, M11-8-5’. Định nghĩa của một số chỉ số phân bổ phổ biến được
đưa ra trong Bảng 5 sau đây:
Bảng 5 - Ví dụ về chỉ số phân bổ
Phương pháp phân bổ Chỉ số phân bổ điện Chỉ số phân bổ nhiệt Dữ liệu tham chiếu yêu
cầu
aw aQ
Nhiệt dư ηel
Carnot To
Khi đó, chỉ số năng lượng sơ cấp cho điện đồng phát ƒwe;el;cgn được tính bằng công thức:
(4)
Các chỉ số phân bổ giống nhau được áp dụng cho tất cả các tiêu chí trọng số (ví dụ: Đối với năng
lượng sơ cấp tái tạo và không tái tạo).
[Link].4 Nhiều hệ thống phát tại chỗ cung cấp năng lượng xuất đi
Trong trường hợp có nhiều thiết bị phát sản xuất năng lượng để xuất đi, cần có sự lựa chọn về tổ hợp
được xuất đi (và do đó tổ hợp nào được sử dụng) để tính hệ số trọng số của điện xuất đi.
Nếu giá trị của kexp được lấy bằng 1,0 thì lựa chọn này là không phù hợp.
[Link] Bước B: Chỉ số trọng số dựa trên các tài nguyên mà mạng lưới bên ngoài tránh được
do năng lượng xuất đi
Không cần bổ sung thông tin.
9.6.7 Dòng năng lượng
Theo cân bằng năng lượng, các dòng năng lượng tại ranh giới đánh giá có liên quan đến:
- Năng lượng cấp đến;
- Năng lượng xuất đi.
Các dòng năng lượng được xác định bằng tính toán hoặc bằng đo lường.
Tổn thất có thể thu hồi được liên quan đến dịch vụ tòa nhà được tính đến khi tính toán các nhu cầu và
Điều này làm giảm lượng năng lượng được cấp đến.
Năng lượng mặt trời và thu nhận nhiệt bên trong tòa nhà được tính đến khi tính toán nhu cầu năng
lượng. Loại năng lượng này không được tính là năng lượng được cấp đến.
9.7 Phần đóng góp của năng lượng tái tạo
9.7.1 Tổng quát
Giấy chứng nhận hiệu quả năng lượng có thể bao gồm thông tin bổ sung như tỷ lệ phần trăm năng
lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng mức tiêu thụ năng lượng.
Cần lưu ý rằng mục tiêu của tòa nhà hiệu quả không phải là sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo
càng nhiều càng tốt, mà là sử dụng càng ít năng lượng càng tốt từ các nguồn không tái tạo. Tỷ lệ
năng lượng tái tạo tốt hơn sẽ không dẫn đến hiệu quả năng lượng kém hơn.
Năng lượng từ các nguồn tái tạo có thể là:
- Thu nhận nhiệt mặt trời góp phần trực tiếp làm giảm nhu cầu năng lượng bằng các giải pháp thụ
động;
- Năng lượng đầu vào cho các hệ thống kỹ thuật tòa nhà, chẳng hạn như hệ thống năng lượng mặt
trời chủ động hoặc năng lượng thu được bằng máy bơm nhiệt từ môi trường;
- Năng lượng bao gồm, toàn bộ hoặc một phần, trong các chất mang năng lượng, như điện, hệ thống
sưởi hoặc làm mát bằng cách thu nhiệt từ nền đất với môi chất lạnh là nước.
Có một số khả năng tính toán phần tái tạo, chẳng hạn như:
- Tập trung vào thiết bị. Tòa nhà được tính toán hai lần, một lần có và một lần không có năng lượng từ
các nguồn tái tạo;
- Tập trung vào chất mang năng lượng (xem phần sau đây).
Trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1), [1] đã lựa chọn tập trung vào chất mang năng lượng. Cách tiếp
cận này tránh được việc tính toán hai lần và xác định một hệ thống tài liệu tham chiếu. Việc tính toán
phần đóng góp của năng lượng tái tạo sẽ minh bạch hơn vì các chỉ số năng lượng sơ cấp đã được
xác định.
Tỷ lệ năng lượng tái tạo RER được tính theo Công thức (17) của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-
1:2017) cho biết bao nhiêu trong tổng số năng lượng sơ cấp được đánh dấu là năng lượng sơ cấp tái
tạo.
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) cung cấp tùy chọn để chọn dòng năng lượng nào được tính khi xác
định EPren;RER và EPtot cho việc tính toán RER
9.7.2 Lượng năng lượng sơ cấp từ nguồn tái tạo EP;ren
Lượng năng lượng sơ cấp từ nguồn tái tạo để tính RER, EP;ren;RER, tính bằng (kW·h), chỉ tính đến năng
lượng được cấp đến ranh giới đánh giá vi tỷ lệ năng lượng tái tạo (RER), phù hợp với Điều 2 EPBD
(2) “Lượng năng lượng yêu cầu gần như bằng 0 hoặc rất thấp cần phải được cung cấp đến một mức
độ rất đáng kể bằng năng lượng từ các nguồn tái tạo, bao gồm năng lượng từ các nguồn tái tạo được
sản xuất tại chỗ hoặc ở gần đó. Do đó, RER biểu thị bao nhiêu lượng năng lượng tái tạo đã được
cung cấp cho tòa nhà. Năng lượng tái tạo xuất đi đã được tính tại cổng vào và do đó RER có thể cao
hơn 100 %.
9.7.3 Tổng năng lượng sơ cấp EPtot
Ngoài ra, tỷ lệ năng lượng tái tạo RER phải được tính trên tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp (chứ
không phải trên cân bằng năng lượng).
Tổng lượng năng lượng sơ cấp, EPtot được liên kết với các dịch vụ năng lượng cần thiết của tòa nhà
được đánh giá tính theo trọng số bởi tổng chỉ số năng lượng sơ cấp của chúng.
9.7.4 Ví dụ về tính toán RER
Trong tính toán sau, giả thiết:
Khí đốt (từ xa): ƒPnren = 1,1 ƒPren = 0, ƒPtot = 1,1
Điện (từ xa): ƒPnren = 2,3, ƒPren = 0,2, ƒPtot = 2,5
Nhiệt mặt trời (tại chỗ): ƒPnren = 0,0, ƒPren = 1,0, ƒPtot = 1,0
Điện mặt trời PV cấp đến (tại chỗ): ƒPnren = 0,0, ƒPren = 1,0, ƒPtot = 1,0
Điện mặt trời PV xuất đi (tại chỗ): ƒPnren = 2,3, ƒPren = 0,2, ƒPtot = 2,5
- Nhà ở gia đình riêng lẻ - Kịch bản cơ sở
- Hạng mục năng lượng (cuối cùng):
- Hệ thống sưởi và nước nóng sinh hoạt: khí đốt 190 kW·h cuối cùng
- Các sử dụng EPB khác: điện 20 kW·h cuối cùng
- Các chỉ số:
- Tiêu thụ năng lượng sơ cấp (tính theo ƒPnren): 255 kW·h Pnren (190 x 1,1 + 20 x 2,3)
- Cân bằng năng lượng sơ cấp (đánh giá): 255 kW·h Pnren (190 x 1,1 + 20 x 2,3)
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần và từ xa): 1,5 % (20 x 0,2 /(190 x 1,1 + 20 x 2,5)
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần): 0% (0/259)
- Nhà ở gia đình riêng lẻ - nhiệt mặt trời phục vụ cấp nước nóng sinh hoạt
- Hạng mục năng lượng (cuối cùng):
- Hệ thống sưởi (+ một phần cho nước nóng sinh hoạt); khí đốt 170 kW·h cuối cùng
- Đun nước nóng sinh hoạt bằng năng lượng mặt trời: 20 kW·h cuối cùng
- Sử dụng EPB khác: Điện 20 kW·h cuối cùng
- Các chỉ số:
- Tiêu thụ năng lượng sơ cấp (dựa trên ƒPnren): 233 kW·h Pnren (170 x 1,1 + 20 x 0,0 + 20 x 2,3)
- Cân bằng năng lượng sơ cấp (đánh giá): 233 kW·h Pnren (170 x 1,1 + 20 x 0,0 + 20 x 2,3)
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần và từ xa): 9,3% ((20 x 0,2 + 20 x 1,0) /(170 x 1,1 + 20 x 1 + 20 x 2,5))
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần): 7,7% ((20 x 1,0)/257)
Nhà ở gia đình riêng lẻ - điện mặt trời 40 kW.h
- Hạng mục năng lượng (cuối cùng):
- Hệ thống sưởi + nước nóng sinh hoạt: Khí đốt 190 kW·h cuối cùng
- Sử dụng EPB khác: điện 20 kW·h cuối cùng
- Phát điện: 40 kW·h (cấp đến và xuất đi)
- Các chỉ số:
- Tiêu thụ năng lượng sơ cấp (dựa trên ƒPnren): 209 kW·h Pnren (190 x 1,1 + 20 x 0,0)
- Cân bằng năng lượng sơ cấp (đánh giá): 163 kW·h Pnren (190 x 1,1 + 40 x 0,0 - 20 x 2,3)
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần và từ xa): 18,1% ((40 x 0,2 - 20 x 0,2)/(190 x 1,1 + 40 x 1 - 20 x 2,5) )
- Tỷ lệ RER (tại chỗ, ở gần): 20,1% ((40 x 1,0)/199)
9.8 Chỉ số hiệu quả năng lượng cho hệ thống kỹ thuật tòa nhà
Với mục đích tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng của các hệ thống kỹ thuật tòa nhà, điều quan trọng
là phải đặt ra các yêu cầu hệ thống đối với hệ thống kỹ thuật tòa nhà trong các tòa nhà hiện hữu về:
- Hiệu quả năng lượng tổng thể;
- Việc lắp đặt đúng chính xác;
- Việc xác định, điều chỉnh và kiểm soát công suất thích hợp.
Các yêu cầu hệ thống này cũng có thể được áp dụng trong các tòa nhà mới.
Lý do để điều này trở thành một phần của tiêu chuẩn EPB tổng thể hơn là trong các tiêu chuẩn tiếp
theo liên quan đến các hệ thống kỹ thuật tòa nhà là đề cập đến không chỉ một hệ thống mà là một tổ
hợp các hệ thống.
CHÚ THÍCH 1: TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) chỉ xác định hiệu quả năng lượng của các dịch vụ tòa
nhà. Để có được cách tiếp cận nhất quán giữa các dịch vụ tòa nhà khác nhau, xác định chỉ số hiệu
quả của hệ thống kỹ thuật. Các dịch vụ tòa nhà khác nhau có thể được cung cấp bởi cùng một thiết bị
(ví dụ: Nồi hơi cung cấp nhiệt để sưởi ấm không gian và đun nước nóng sinh hoạt). Do đó, tổn thất
của thiết bị được điều phối giữa các dịch vụ tòa nhà khác nhau. Phương pháp điều phối cũng được
xác định trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
CHÚ THÍCH 2: Các yêu cầu khác về hệ thống (ví dụ: Chất lượng không khí trong nhà) cụ thể cho các
dịch vụ tòa nhà khác nhau và được xử lý trong các tiêu chuẩn liên quan. Hiệu quả của các hệ thống
kỹ thuật con của tòa nhà, như một phần của quá trình cung cấp dịch vụ, cũng được xác định trong các
tiêu chuẩn hệ thống liên quan.
Yêu cầu hệ thống của hệ thống kỹ thuật tòa nhà cũng có thể được sử dụng cho việc:
- Kiểm tra chất lượng tính toán;
- Tạo dữ liệu cho cách tiếp cận được đơn giản hóa dựa trên việc tính toán trước các chỉ số (ví dụ:
Phương pháp dạng bảng);
- Đánh giá chất lượng của các hệ thống kỹ thuật riêng lẻ hoặc thậm chí các bộ phận hoặc chức năng
cụ thể của hệ thống kỹ thuật;
- So sánh các hệ thống kỹ thuật khác nhau;
- Ước tính và xác định tiềm năng cải tiến khi nghiên cứu tìm kiếm các khuyến nghị cải tiến.
Trong TCVN 13469-1(ISO 52000-1), các chỉ số hiệu quả của hệ thống kỹ thuật là chỉ số hiệu quả và
chỉ số chi tiêu. Hiệu quả là thuật ngữ không có thứ nguyên được sử dụng để chỉ hiệu quả của một hệ
thống kỹ thuật tòa nhà cho việc so sánh thực tế và đơn giản.
Mục tiêu của chỉ số hiệu quả của hệ thống xây dựng kỹ thuật là tự đánh giá hệ thống kỹ thuật (ví dụ:
Không tính đến đóng góp của năng lượng tái tạo). Hiệu quả năng lượng của chất mang năng lượng
đã được tính đến trong chỉ số hiệu quả năng lượng (năng lượng sơ cấp) của tòa nhà hoặc đơn
nguyên tòa nhà được đánh giá.
9.9 Phương pháp tính toán chỉ số hiệu quả năng lượng trên mỗi phần của một tòa nhà và/hoặc
dịch vụ
Xem Phụ lục E.
10 Phân vùng tòa nhà
10.1 Tổng quát
Tính toán hiệu quả năng lượng thường yêu cầu tòa nhà được chia thành các phần theo mục đích tính
toán. Việc tính toán được thực hiện độc lập cho từng phần và sau đó kết quả được thu thập và ghép
nối lại. Việc phân chia tòa nhà thành các phần theo mục đích tính toán được gọi là phân vùng.
Các tòa nhà hỗn hợp không thể tính toán được một cách trực tiếp cho tổng thể tòa nhà và cần được
chia thành nhiều phần. Đôi khi, ngay cả những tòa nhà đơn giản cũng có thể cần một số phân vùng:
“Ngôi nhà thụ động” thường hay được thiết kế với mức thu nhận năng lượng mặt trời cao trong những
không gian tiếp xúc nhiều ánh sáng mặt trời. Không phải tất cả các không gian đều có thể có mức thu
nhận năng lượng mặt trời cao và có thể không thực tế khi cho rằng tất cả mức thu nhận được trong
các không gian tiếp xúc nhiều ánh sáng mặt trời sẽ góp phần cân bằng năng lượng cho các không
gian khác (ví dụ: Cửa sổ lớn hướng Nam trong phòng khách và phòng hướng Bắc ở tầng trên).
Một vấn đề khác là việc trao đổi dữ liệu giữa tính toán tòa nhà và hệ thống kỹ thuật với việc phân
vùng khác nhau. Nếu việc tính toán rõ ràng vệ thu nhận nhiệt (phương pháp tiếp cận tổng thể) được
chọn, cần lưu ý rằng phân vùng cho hệ thống kỹ thuật (các khu vực phục vụ) có thể khác với các vùng
nhiệt (cần sự cân bằng). Để làm cho mọi thứ vận hành, mỗi phần tổn thất phải được đặc trưng bởi
một thông số “định vị”, liên kết nó với vùng nhiệt (tòa nhà cần vùng cân bằng) nơi phần tổn thất có thể
thu hồi được sẽ được tính đến. Nếu không thể khoanh vùng được hạng mục tổn thất, cần thiết lập các
quy tắc chung để “phân phối” tổng giá trị một cách hợp lý (tức là phân phối tổng tổn thất có thể thu hồi
được của hệ thống kỹ thuật cho các vùng nhiệt liên quan theo diện tích sàn, thể tích, v.v.). Một ví dụ
được đưa ra cho mạng lưới cấp phân phối nước nóng sinh hoạt. Tổn thất nhiệt của việc cấp nước
nóng sinh hoạt không chỉ đáng kể đối với bản thân hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt mà còn đối với
sự cân bằng nhu cầu sưởi (nơi có thể thu hồi tổn thất nhiệt) và nhu cầu làm mát (nơi tổn thất nhiệt là
một phụ tải bổ sung) cân bằng của tòa nhà. Tầm quan trọng của những tương tác này sẽ tăng lên khi
xử lý đối với các tòa nhà có hiệu quả cao.
Mặt khác, nếu có nhu cầu chia nhỏ tòa nhà thành nhiều vùng nhiệt để tính toán cân bằng nhiệt (nhu
cầu sưởi ấm và làm mát, các hoạt tải và nhiệt độ bên trong), điều này sẽ không tự động dẫn đến việc
chia nhỏ giống nhau của việc phân vùng đối với nhu cầu nước nóng sinh hoạt hoặc hệ thống cấp
nước nóng sinh hoạt.
Để xử lý sự tổn thất nhiệt của việc cấp nước nóng sinh hoạt, một quy tắc để phân bổ chúng cho đúng
vùng nhiệt là cần thiết. Điều này được hỗ trợ bằng cách xác định rõ ràng phân vùng nhiệt và:
- Hoặc khoanh vùng tất cả các bộ phận của hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt (và do đó là tổn thất
của chúng) đối với các vùng nhiệt;
- Hoặc xác định một quy tắc để quy tổn thất cho các vùng nhiệt tiềm ẩn liên quan, nếu không biết chi
tiết việc khoanh vùng.
Hình 10 cho thấy việc phân bổ tổn thất nhiệt cho vùng nhiệt.
CHÚ DẪN:
S1, S2,...Không gian thành phần
Z1, Z2,... vùng nhiệt
a tổn thất của hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt
b đường ống cấp nước nóng
Hình 10 - Tổn thất nhiệt từ các đường ống cần được quy về đúng vùng nhiệt
Các tiêu chí phân vùng về bản chất là khác nhau tùy thuộc vào mục đích tính toán. Các vùng nhiệt
cần bao gồm các phần của tòa nhà có tương tác nhiệt trong khi các khu dịch vụ của hệ thống kỹ thuật
cần phải phản ánh cấu trúc thực tế của hệ thống kỹ thuật.
Nếu chỉ sử dụng một tiêu chí phân vùng chính (ví dụ liên quan đến các vùng nhiệt) cho tất cả các khía
cạnh, điều này sẽ đưa ra các giả định, hạn chế và khó khăn tiềm ẩn trong việc xử lý các tòa nhà hỗn
hợp. Tiêu chuẩn EPB tổng thể cung cấp khả năng xử lý phân vùng độc lập theo từng tiêu chí.
Nói chung, cần có một tiêu chí phân vùng độc lập theo từng khía cạnh được tính toán cụ thể. Đôi khi
các khu vực có thể giống nhau nhưng điều này xảy ra trong những trường hợp đơn giản hoặc may
mắn.
Điều 10.4 cung cấp việc phân tích cho tất cả các lý do có thể yêu cầu việc tính toán hiệu quả năng
lượng được thực hiện riêng rẽ trên các bộ phận của tòa nhà thay vì xem xét toàn bộ tòa nhà.
Điều này không có nghĩa là sẽ luôn có nhiều vùng nhiệt hoặc vùng dịch vụ. Các tòa nhà đơn giản
thường sẽ không yêu cầu phân vùng (ví dụ: Chỉ một vùng) và các quy tắc phân vùng có thể được
quyết định để giảm tối thiểu nỗ lực phân vùng.
Cần lưu ý rằng điểm bắt đầu của quy trình phân vùng trong 10.7 là một không gian duy nhất cho toàn
bộ tòa nhà. Sau đó, tòa nhà được chia thành một vài không gian, vùng nhiệt và khu dịch vụ chỉ khi
cần thiết.
Ngay cả khi việc phân vùng hiếm khi dẫn đến các quy tắc phân phối hoặc chia nhỏ phức tạp, việc thiết
kế phần mềm và giao diện người dùng ngay từ đầu cần có kiến thức tốt về tất cả các phân vùng cần
thiết có thể xảy ra và hệ quả trong trường hợp phân vùng độc lập. Sẽ dễ dàng hơn để xử lý việc đơn
giản hóa trong một sơ đồ và cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh thay vì phải đưa ra các phân chia nhỏ khác sau
này.
Quyết định không có phân vùng hoặc sắp xếp một phân vùng này với các phân vùng khác để tránh
các tính toán và/hoặc đầu vào dữ liệu phức tạp cũng là một lựa chọn cần được thực hiện một cách rõ
ràng và sau khi đánh giá mọi ràng buộc ẩn. Điều này cung cấp cơ sở cho việc đó.
Quy tắc nào sẽ cần thiết và cách kết hợp các vùng chỉ có thể được quyết định sau khi tất cả các nhu
cầu tính toán được xác định.
10.2 Vùng nhiệt và khu vực phục vụ
“Vùng nhiệt” của tòa nhà là thuật ngữ chung để chỉ một phần của tòa nhà thực hiện tính toán cho nhu
cầu nhiệt hoặc cân bằng năng lượng. Mỗi vùng nhiệt được định nghĩa là một tập hợp của “các không
gian”.
“Khu vực phục vụ” của hệ thống kỹ thuật là thuật ngữ chung để chỉ một phần của tòa nhà được phục
vụ bởi một bộ phận giống nhau của hệ thống kỹ thuật.
Về nguyên tắc, không có sự khác biệt giữa việc phân chia tòa nhà thành các phần cho mục đích tính
toán cân bằng nhiệt hoặc tính toán hệ thống kỹ thuật. Do đó, dự thảo đầu tiên của tiêu chuẩn EPB
tổng thể đã sử dụng từ “vùng” cho cả vùng của tòa nhà và vùng của hệ thống kỹ thuật. “Vùng hệ
thống” đã được đổi tên thành “khu vực phục vụ” để giúp tránh việc hiểu nhầm vì điều này đã là thông
lệ ở một số quốc gia.
Một sự khác biệt thực tế lá có nhiều tương tác trực tiếp giữa bất kỳ hệ thống kỹ thuật nào và tòa nhà
(ví dụ: Giữa một vùng nhiệt và một khu vực phục vụ) trong khi hiếm khi có các tương tác trực tiếp (và
trao đổi dữ liệu trong quá trình tính toán) giữa các khu vực phục vụ.
VÍ DỤ: Tổn thất từ hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt sẽ ảnh hưởng đến cân bằng vùng nhiệt và do
đó nhu cầu sưởi ấm bị giảm. Trong trường hợp này, không có sự tương tác trực tiếp giữa hệ thống
cấp nước nóng sinh hoạt và hệ thống sưởi ấm.
10.3 Không gian
Tất cả các vùng nhiệt và khu vực phục vụ phải dựa trên một tập hợp các không gian cơ sở chung của
tòa nhà để đảm bảo khả năng liên kết các tính toán dựa trên các tiêu chí phân vùng khác nhau (điều
này sẽ rõ ràng hơn ở phần cuối của tiêu chuẩn). Những không gian này cần được xác định ở cấp
EPB tổng thể.
Do đó, tòa nhà cần được mô tả như một tập hợp các phần cơ bản (đủ nhỏ) có thể được tập hợp
(nhóm lại) theo các khuôn mẫu khác nhau để tạo ra tất cả các vùng nhiệt và khu vực phục vụ mong
muốn (phân vùng còn có thể được gọi là “nhóm” các không gian cơ sở thành các vùng nhiệt và các
khu vực phục vụ).
“Phần tòa nhà cơ bản nhỏ nhất” này được sử dụng cho tất cả các phân vùng cần thiết trong việc tính
toán tòa nhà được gọi là “không gian cơ sở”
Từ “không gian” được chọn để tránh nhầm lẫn khái niệm logic của không gian với khái niệm vật lý của
“phòng”.
Khả năng phân vùng dành riêng cho từng phạm vi tính toán đảm bảo được tính linh hoạt.
CHÚ THÍCH: Thông thường các không gian riêng rẽ nhỏ nhất có thể nhận biết được trong các tòa nhà
là các phòng. Tuy nhiên, một từ khác được sử dụng ở đây để tránh nhầm lẫn và vì không có mối
tương quan 1-1 giữa phòng và không gian, phụ thuộc vào các ứng dụng cụ thể. Thông thường, một
không gian là một tập hợp các phòng hoặc thậm chí toàn bộ đơn nguyên tòa nhà hoặc toàn bộ tòa
nhà.
Điều này không có nghĩa là:
- Luôn luôn yêu cầu tính toán “theo từng phòng” ngay cả khi các phòng được sử dụng làm không gian
(mỗi vùng nhiệt hoặc khu vực phục vụ có thể bao gồm nhiều không gian);
- Cũng không phải các tiêu chí phân vùng khác nhau luôn dẫn đến các phần khác nhau của tòa nhà;
- Và tiêu chí phân vùng cũng không được điều chỉnh để trùng với các tiêu chí khác (các vùng nhiệt có
thể được coi là giống với các đơn nguyên tòa nhà để lấy dữ liệu chứng nhận hiệu quả năng lượng
riêng lẻ cho từng đơn nguyên tòa nhà).
Các vùng nhiệt (của toàn bộ tòa nhà) được định nghĩa là các nhóm không gian cơ sở.
Ví dụ, ISO 52016-1 [10] yêu cầu, như một ví dụ rằng trong các điều kiện nhất định, nhu cầu sưởi và làm
mát cần có sự cân bằng được thực hiện bởi “các vùng nhiệt”. Mỗi vùng nhiệt là một nhóm không gian
cơ sở như đã giải thích ở trên.
CHÚ DẪN
S1...S5 Không gian cơ sở
Z1...Z2 Vùng nhiệt
Hình 11 - Ví dụ về một tòa nhà gồm có 5 không gian cơ sở được nhóm thành 02 vùng nhiệt
Sự phân chia hợp lý thành các không gian cơ sở có thể không phù hợp với sự phân chia vật lý thành
các phòng: Phụ thuộc vào mục đích tính toán mà một “không gian cơ sở” trong một tính toán cụ thể
có thể là toàn bộ ngôi nhà (thậm chí toàn bộ tòa nhà) cũng như một phòng có thể được chia thành
một số không gian cơ sở nếu muốn có chi tiết hơn. Xem Hình 12 về việc so sánh đơn giản giữa
phòng vật lý và không gian cơ sở.
CHÚ DẪN:
a Tòa nhà; phân vùng vật lý thành các phòng
b Phân chia phòng vật lý 4 (S4) thành 2 không gian cơ sở (S4a và S4b) có xem xét các điều kiện
khác nhau
c Kết hợp các phòng 1, 2 và 3 và coi đó là một không gian cơ sở duy nhất (S123) cho tất cả các tính
toán
Hình 12 - Phòng vật lý so với không gian cơ sở
VÍ DỤ: Nếu một tính toán được thực hiện để chuẩn bị các giấy chứng nhận năng lượng cho một khối
căn hộ hiện hữu, thì toàn bộ căn hộ (đơn nguyên tòa nhà) có thể được coi là một không gian cơ sở,
vùng nhiệt và khu vực phục vụ.
Các tính toán không được thực hiện ở cấp độ không gian cơ sở. Theo định nghĩa, các tính toán được
thực hiện cho “mỗi vùng nhiệt” và (ngoài ra, cho các bộ phận của hệ thống) trên mỗi “khu vực phục
vụ”.
Các không gian cơ sở chỉ được sử dụng cho việc quản lý các vùng nhiệt và khu vực phục vụ và để
chuyển dữ liệu tính toán từ vùng nhiệt sang khu vực phục vụ và ngược lại. Khái niệm về không gian
cơ sở là minh chứng về sự linh hoạt, đơn giản, minh bạch và bằng chứng phần mềm.
10.4 Quy tắc phân vùng
10.4.1 Nguyên tắc
Điều này xác định các nguyên tắc tạo cơ sở cho các tiêu chí phân vùng.
Các quy tắc này được đánh giá một cách rõ ràng hoặc ngầm định khi thực hiện một tính toán. Bỏ qua
một số tiêu chí cũng giống như việc quyết định rằng không cần phân vùng cho tính toán cụ thể đó.
Điều này thường đúng (không cần phân vùng) đối với các tòa nhà và hệ thống kỹ thuật đơn giản. Việc
bỏ qua điều này ở các tòa nhà và hệ thống kỹ thuật phức tạp có thể dẫn đến kết quả không chính xác.
Để minh bạch hóa các tiêu chí phân vùng cần luôn luôn xem xét ngay cả khi quyết định thường xuyên
nhất có thể là không cần phân vùng theo nhiều tiêu chí.
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) cung cấp một khung chung và các cách kết nối các tiêu chí phân vùng.
Các quy tắc để quyết định xem có cần phải phân vùng theo bất kỳ tiêu chí cụ thể nào hay không được
đưa ra trong tiêu chuẩn EPB cụ thể. Điều này có nghĩa rằng:
- Các quy tắc để quyết định xem và khi các vùng nhiệt có cần thiết hay không (ví dụ: Một vùng nhiệt
cho toàn bộ tòa nhà) được đưa ra trong mô-đun M2-2 về nhu cầu và tải sưởi ấm và làm mát và tính
toán nhiệt độ bên trong;
- Các quy tắc để quyết định xem các khu vực phục vụ của hệ thống sưởi có cần thiết hay không (ví
dụ: Một mạng lưới sưởi cho toàn bộ tòa nhà) được đưa ra trong mô-đun M3-1, phần chung của hệ
thống sưởi;
- Khi xác định các quy tắc trao đổi dữ liệu giữa cân bằng nhiệt của tòa nhà và tính toán hệ thống kỹ
thuật, cần tuân theo các quy tắc được thiết lập trong khung chung để phân vùng (quy tắc phân bố,
quy tắc chia nhỏ).
Để rõ ràng, một tên riêng đã được xác định cho từng loại phân vùng (ví dụ: Vùng nhiệt, khu vực phục
vụ của hệ thống sưởi, v.v...).
10.4.2 Tiêu chí phân vùng cụ thể
Các tiêu chí phân vùng cụ thể hoặc các liên kết đến các tiêu chí phân vùng cụ thể cho các khu vực
phục vụ được cung cấp trong các tiêu chuẩn hệ thống liên quan theo mô-đun EPB M3 - M5 và M8 -
M9, bởi vì quy định kỹ thuật của tiêu chí cần được thực hiện trong bối cảnh của lĩnh vực chuyên môn
cụ thể, bao gồm các thuật ngữ, định nghĩa, công nghệ cụ thể có liên quan:
Tiêu chí phân vùng nhiệt trong tiêu chuẩn đề cập đến cân bằng nhiệt, tiêu chí cho khu vực phục vụ
của hệ thống trong các tiêu chuẩn hệ thống liên quan.
Một yếu tố quan trọng trong các quy tắc phân vùng là việc đơn giản hóa: Nếu các tiêu chí phân vùng
dẫn đến các vùng nhỏ so với các vùng lân cận, các quy tắc đơn giản hóa có thể được áp dụng. Ví dụ,
công bố rằng một khu vực nhỏ hoặc khu vực phục vụ có thể được hợp nhất với khu vực liền kề.
Lấy ví dụ các quy trình trong ISO 52016-1[10] cho vùng nhiệt:
Các bước sau được phân biệt rõ:
1. Đối với mỗi không gian, loại không gian được chỉ định, có tính đến các quy trình quy định trong
Điều 9 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
2. Tất cả các không gian liền kề thuộc cùng một loại không gian được nhóm vào một vùng nhiệt.
3. Trong trường hợp có khoảng mở lớn giữa các không gian, các không gian được kết hợp thành một
vùng nhiệt.
4. Vùng nhiệt được phân chia theo cách mà vùng nhiệt chỉ chứa các không gian có chung kết hợp các
dịch vụ có liên quan.
5. Các khu vực điều hòa nhiệt liền kề có thể được kết hợp nếu các điều kiện sử dụng về nhiệt giống
nhau hoặc tương tự.
6. Trong trường hợp tính toán cụ thể của hệ thống (xem [Link] và [Link]), vùng nhiệt có thể cần
được phân chia ra, do các quy tắc (nếu có) trong tiêu chuẩn hệ thống liên quan, nhằm mục đích đồng
nhất nhất định trong hệ thống hoặc hệ thống con trong vùng nhiệt.
7. Vùng nhiệt phải được phân chia theo cách sao cho vùng nhiệt đồng nhất ở một mức độ nào đó về
sự cân bằng nhiệt. Các tiêu chí nghiêm ngặt hơn nếu có liên quan đến việc làm mát.
8. Các khu vực không điều hòa nhiệt liền kề có thể được kết hợp.
9. Một vùng nhiệt nhỏ có thể được (tái) kết hợp với một vùng nhiệt lân cận nếu có cùng một tập hợp
dịch vụ, nhưng điều kiện sử dụng khác nhau.
10. Một vùng nhiệt rất nhỏ có thể được (tái) kết hợp với một vùng nhiệt lân cận ngay cả khi có tập hợp
các dịch vụ khác nhau.
Đối với mỗi bước có một sự lựa chọn để chấp nhận phương pháp đã cho hoặc thay thế bằng một sự
lựa chọn (ví dụ: mang tính quốc gia); và nếu phương pháp được chấp nhận thì sẽ có lựa chọn chấp
nhận các giá trị thông số đã cho hoặc thay thế. Các lựa chọn này được cung cấp trong Phụ lục A (Bản
mẫu quy định) và Phụ lục B (các lựa chọn và giá trị mặc định tham khảo).
10.5 Quy tắc gán dữ liệu
10.5.1 Phân chia
Nếu hai phần của việc tính toán hiệu quả năng lượng dựa trên phân vùng khác nhau mà có dữ liệu
cần được trao đổi, các quy tắc cần được xác định để cung cấp các giá trị chính xác từ phần tính toán
này sang phần tính toán khác có tính đến phân vùng khác nhau.
Hai trường hợp cơ bản có thể xảy ra:
- Kết quả tính toán từ một vùng nhiệt hoặc khu vực phục vụ (đầu ra) cần được chuyển đến nhiều vùng
nhiệt hoặc vùng dịch vụ khác (đầu vào);
- Kết quả tính toán (đầu ra) từ nhiều vùng nhiệt hoặc khu vực phục vụ (đầu ra) cần được chuyển sang
vùng nhiệt hoặc khu vực phục vụ khác (đầu vào).
Đối với mục đích này thì cần đến các quy tắc chia nhỏ và tái tổ hợp. Các quy tắc chia nhỏ được nêu
trong 10.5.1 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017); các quy tắc tái tổ hợp được đưa ra trong
phần tiếp theo. Trong tiêu chuẩn này, phần giải thích về chia nhỏ và tái tổ hợp được nêu chung trong
Điều 10.5.1 này.
Một vùng của việc tính toán đầu tiên (ví dụ: Vùng nhiệt) kết nối với một số vùng của tính toán tiếp theo
(ví dụ: một hệ thống cụ thể). Cần có “quy tắc chia nhỏ” để “chia” kết quả/sự cân bằng riêng lẻ cho
toàn bộ vùng của tính toán đầu tiên (ví dụ: Vùng nhiệt) vào phần đóng góp cho mỗi không gian cơ sở.
Sau đó kết quả được chia nhỏ cho mỗi không gian cơ sở có thể được nhóm lại theo phân vùng của
tính toán tiếp theo (ví dụ: Khu vực phục vụ của hệ thống).
Ví dụ được trình bày trong Hình 13. Có năm không gian. Nếu tính toán nhu cầu sưởi ấm đã được
thực hiện cho toàn bộ tòa nhà (chỉ có một khu vực nhiệt) và có hai khu vực hệ thống sưởi ấm (hai khu
vực phục vụ, cho mỗi loại trong số hai loại hệ thống sưởi ấm) hoặc hai đơn nguyên tòa nhà, thì nhu
cầu sưởi ấm cho tổng tòa nhà nên được chia nhỏ thành hai phần để tiếp tục tính toán riêng lẻ cho hai
phần của hệ thống sưởi hoặc để có thể phân bổ kết quả cuối cùng cho các đơn nguyên tòa nhà.
Trong ví dụ đơn giản này, giải pháp có thể là điều chỉnh thích ứng với phân vùng nhiệt cho các vùng
của hệ thống sưởi hoặc các đơn nguyên tòa nhà. Như một khung chung, TCVN 13469-1 (ISO 52000-
1) đem đến cơ hội (không phải bắt buộc) để tách riêng các tiêu chí phân vùng khác nhau. Việc tách
rời có thể dẫn đến sự đơn giản hóa đáng kể trong dữ liệu đầu vào. Trong ví dụ được sử dụng ở trên:
Tránh được việc dữ liệu đầu vào cho các tính toán nhiệt được tập hợp riêng cho từng vùng hệ thống
(khu vực phục vụ).
CHÚ DẪN:
S1, S2,... Không gian cơ sở
SAH1 Khu vực phục vụ của hệ thống sưởi (ví dụ: Máy sưởi) hoặc đơn nguyên tòa nhà 1
SAH2 Khu vực phục vụ của hệ thống sưởi (ví dụ: Sưởi sàn) hoặc đơn nguyên tòa nhà 2
Z1 Vùng nhiệt duy nhất 1
Hình 13 - Một vùng nhiệt với hai khu vực phục vụ sưởi
CHÚ THÍCH 1: Cần có quy tắc “Chia nhỏ” để đáp ứng nhu cầu sưởi ấm cho không gian S1-2-3 và S4-
5-6.
“Quy tắc phân phối” có thể là cần thiết để quy cho mỗi vùng nhiệt hoặc không gian cơ sở phần đóng
góp của nó trong kết quả/sự cân bằng đến từ một phân vùng khác.
Lấy ví dụ, nếu tổn thất nhiệt có thể thu hồi được từ hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt được tính là
một giá trị riêng lẻ (chỉ một khu vực phục vụ của hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt hoặc các bộ phận
chung của hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt) và có hai vùng nhiệt, tổn thất có thể thu hồi được phải
được phân phối đến các không gian riêng lẻ hoặc đến các vùng nhiệt. Xem Hình 14.
CHÚ DẪN:
S1, S2,... Không gian cơ sở
Z1, Z2 Vùng nhiệt
A Tổn thất có thể thu hồi được
B Đường ống hệ thống cấp nước nóng sinh hoạt
Hình 14 - Hai vùng nhiệt với một hệ thống đường ống phân phối
CHÚ THÍCH 2: Cần có quy tắc “phân phối” nếu chưa biết vị trí của các đoạn ống có liên quan tương
đối với từng vùng nhiệt. Việc chia nhỏ và phân phối phải được thực hiện theo một chỉ số trọng số đã
lựa chọn. Việc lựa chọn chỉ số trọng số phù hợp cần phải rõ ràng và được chỉ ra khi sự trao đổi dữ
liệu giữa các mô-đun tính toán được xác định.
Việc chia nhỏ và/hoặc phân phối tuyến tính thường được thực hiện trừ khi có những lý do cụ thể để
tiến hành theo cách khác. Như trong Hình 14, nếu biết vị trí của các đường ống, tổn thất sẽ được tính
riêng cho các đường ống trong từng vùng nhiệt. Điều này ngụ ý rằng cơ sở dữ liệu được sử dụng để
mô tả hệ thống phân phối phải bao gồm trường “vị trí” (vị trí liên quan đến các vùng nhiệt trong trường
hợp này; thông qua các không gian cơ sở) cho mỗi đường ống.
Trong trường hợp đơn giản, nhiều (thậm chí tất cả) các phân vùng có thể giống hệt nhau. Điều này
hiếm khi xảy ra đối với các tòa nhà hỗn hợp vì vậy các loại phân vùng khác nhau nên độc lập về mặt
khái niệm như một khung tính toán chung. Nếu các quy tắc phân vùng và mức độ ưu tiên không được
quy định, thì việc phân vùng chủ đạo sẽ được ngầm áp đặt (thường là các vùng nhiệt). Nhưng như đã
đề cập ở trên: Sự khác biệt giữa các loại vùng khác nhau có thể dẫn đến sự đơn giản hóa đáng kể
trong việc thu thập dữ liệu đầu vào.
10.5.2 Tái tổ hợp
Trong tiêu chuẩn này, phần giải thích về việc chia nhỏ và tái tổ hợp được nêu chung trong 10.5.1.
Mỗi tiêu chí phân vùng tạo ra một cấu trúc phân cấp theo nghĩa là theo một tiêu chí phân vùng mỗi
thuộc tính có thể là:
- Thuộc tính của một không gian riêng lẻ (thuộc tính cấp độ không gian);
- Một thuộc tính chung cho tất cả các không gian được bao gồm trong một vùng (thuộc tính cấp độ
vùng);
Một thuộc tính chung cho tất cả các khu vực, ví dụ: Cho toàn bộ tòa nhà (thuộc tính cấp độ tòa nhà).
Đối với mục đích phát triển phần mềm, điều quan trọng là phải nhận ra đâu là mức phù hợp cho từng
thuộc tính.
VÍ DỤ 1: Diện tích và thể tích là các thuộc tính thưởng được liên kết với các không gian riêng lẻ.
VÍ DỤ 2: Nhiệt độ bên trong là đặc tính chung của tất cả các không gian thuộc cùng một vùng nhiệt.
10.6 Quy trình phân vùng
Quy trình này nêu một cách đơn giản nói rằng để xác định số lượng không gian cơ sở tối thiểu cần
thiết, các tiêu chí phân vùng được áp dụng lần lượt. Điểm bắt đầu của quy trình phân vùng trong 10.6
là một không gian riêng rẽ (ví dụ: Một vùng duy nhất) cho toàn bộ tòa nhà. Sau đó, được chia thành
nhiều không gian và khu vực chỉ khi cần thiết. Mỗi khi một tiêu chí khác được áp dụng, có thể có
(hoặc có thể không cần) tăng số lượng không gian. Nếu số lượng không gian tối thiểu được yêu cầu
tại mỗi bước, thì số lượng không gian tối thiểu sẽ được xác định khi kết thúc quá trình.
Quy trình này tương tự như được chỉ ra trong DIN V 18599: 2011 [15] nhưng:
- Có nhiều tiêu chí phân vùng khả thi hơn (các loại khu vực phục vụ);
- Các yêu cầu phân vùng thực tế (ví dụ: Các điều kiện chi tiết yêu cầu phân vùng) được đưa ra trong
các mô-đun liên quan, chúng không được dự đoán trong phần chung như DIN V 18599: 2011 [15]. Tuy
nhiên, các tiêu chí phân vùng chính là dựa vào các vùng nhiệt được đề cập trong một tiêu chuẩn EPB
riêng rẽ: ISO 52016-1 [10] (xem 10.4.2).
Việc lựa chọn để lại các chi tiết tiêu chí phân vùng cho các phần cụ thể cho phép cải thiện việc tính
toán các khía cạnh khác nhau một cách độc lập, tạo sự linh hoạt hơn và cho phép các tiêu chí được
xác định cụ thể trong bối cảnh của lĩnh vực chuyên môn cụ thể, bao gồm các thuật ngữ, định nghĩa và
công nghệ cụ thể có liên quan.
Các quy trình tương tự được đưa vào một số tiêu chuẩn quốc gia được ẩn ý với những từ ngữ như
“vùng nhiệt có cùng điểm cài đặt, cùng loại thiết bị sưởi”. Các thể hiện như vậy dấu đi việc sử dụng
đồng thời hai loại vùng (nhiệt và hệ thống) và làm cho các vùng nhiệt phụ thuộc vào loại hệ thống
sưởi.
11 Tính toán hiệu quả năng lượng, định tuyến và cân bằng nhiệt
11.1 Tổng quát
Không cần bổ sung thêm thông tin.
11.2 Quy trình tính toán tổng thể (các bước)
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), 11.2 [1] cung cấp tổng quan về toàn bộ quy trình đánh giá
hiệu quả năng lượng tính toán cho các tòa nhà.
Các bước từ a) đến c) là các bước chuẩn bị được thực hiện một lần khi bắt đầu quá trình. Trong thực
tế, bước này bao gồm định nghĩa đầy đủ về tòa nhà (hình học, vật liệu, cấu hình lắp đặt, v.v...)
Các bước từ d) đến f) được lặp lại cho mỗi khoảng thời gian tính toán trong kỳ tính toán. Các quy
trình tính toán này không được mô tả trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) mà trong các mô-đun tham
chiếu. Kết quả của các tính toán này được sử dụng trong các bước sau.
Các bước từ g) đến j) được thực hiện sau khi hoàn tất từ d) đến f). Các bước từ g) đến j) là các tính
toán được mô tả trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
Bước k) tính toán được thực hiện theo mô-đun cho tòa nhà và hệ thống kỹ thuật. Có thể cần một số
kết quả tính toán (chẳng hạn như năng lượng sơ cấp) từ TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
Bước I) có thể được tích hợp bởi các báo cáo cụ thể được xác định trong mô-đun hệ thống kỹ thuật
và tòa nhà.
11.3 Nguyên tắc tính toán thu hồi và tổn thất
Điều con này trong tiêu chuẩn EPB tổng thể bao gồm quy trình từng bước để tính đến việc thu nhận
và tổn thất có thể thu hồi, một cách chi tiết hoặc đơn giản hóa.
11.4 Ảnh hưởng của tự động hóa và kiểm soát tòa nhà (BAC) và quản lý kỹ thuật tòa nhà
(TBM)
Điều con này trong tiêu chuẩn EPB tổng thể cung cấp mô tả từng bước về vai trò, phạm vi và cách
thức mà BAC ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống kỹ thuật của tòa nhà và sự đóng góp của việc quản
lý kỹ thuật tòa nhà vào hiệu quả năng lượng tổng thể của tòa nhà.
Vai trò quan trọng của BAC và TBM là đảm bảo sự cân hằng giữa sự tiện nghi mong muốn của con
người phải ở mức tối đa và năng lượng được sử dụng để đạt được mục tiêu này phải ở mức tối thiểu!
Phạm vi của BAC và TBM bao gồm vai trò của chúng từ một phía là tất cả các hệ thống kỹ thuật của
tòa nhà (trong đó tác dụng của BAC được sử dụng trong các quy trình tính toán) và từ phía khác là
hiệu quả năng lượng tối ưu hóa mang tính toàn cầu của một tòa nhà.
Có một số loại kiểm soát:
- Kiểm soát hệ thống kỹ thuật tòa nhà cụ thể; những bộ kiểm soát này được dành riêng cho chuỗi
chuyển đổi vật lý của năng lượng, từ việc tạo ra, lưu trữ, phân phối và phát xạ nhiệt thuộc ma trận bắt
đầu với Mô-đun M3-5 đến M9-5 và kết thúc với M3-8 cho đến M9-8. Đôi khi có một bộ kiểm soát cho
mỗi mô-đun và đôi khi một bộ kiểm soát thực hiện kiểm soát cho một số mô-đun. Thông thường, các
bộ kiểm soát này giao tiếp giữa chúng thông qua một đường truyền dữ liệu mở được tiêu chuẩn hóa,
chẳng hạn như BACnet, KNX hoặc LON;
- BAC được sử dụng cho tất cả hoặc một số hệ thống kỹ thuật tòa nhà có chức năng tối ưu hóa đa
lĩnh vực (sưởi, làm mát, thông gió, cấp nước nóng sinh hoạt, chiếu sáng...) và các chức năng kiểm
soát phức tạp. Ví dụ, INTERLOCK là một chức năng kiểm soát tránh làm nóng và làm mát cùng một
lúc;
- Nếu tất cả các hệ thống kỹ thuật tòa nhà được sử dụng trong tòa nhà, thì kết quả này (tùy thuộc vào
quy mô của tòa nhà) trong một hệ thống quản lý kỹ thuật tòa nhà. Các chức năng toàn cầu cụ thể
được thực hiện ở đây, cần thiết để đạt được vai trò chủ chốt nêu trên. Thông thường, trong trường
hợp này, sự tương quan với tòa nhà như vậy (Mô-đun M2) sẽ xảy ra, chủ yếu là để xem xét các nhu
cầu của tòa nhà; ví dụ do nhiệt độ bên ngoài, có tính đến quán tính của tòa nhà khi kiểm soát đạt đến
điểm cài đặt trong phòng.
Ba đặc điểm chính có thể được phân biệt trong BAC và TBM:
1. KIỂM SOÁT CHÍNH XÁC (CA) là mức độ tương ứng giữa biến được kiểm soát cuối cùng và giá trị
lý tưởng trong hệ thống kiểm soát phản hồi. Biến được kiểm soát có thể là biến vật lý bất kỳ như nhiệt
độ, độ ẩm, áp suất, v.v. Giá trị lý tưởng trên thực tế là điểm cài đặt được thiết lập bởi người sử dụng
khi xác định mức độ tiện nghi. Rõ ràng là toàn bộ vòng chu trình kiểm soát liên quan đến tất cả các
yếu tố cấu thành, chẳng hạn như cảm biến, van và cơ cấu chấp hành. Bản thân thiết bị là một yếu tố
quan trọng khác và thường thiết bị cụ thể yêu cầu một bộ kiểm soát cụ thể. Đối với chất mang năng
lượng nước nóng, một vấn đề quan trọng là sự cân bằng của các chu trình thủy lực. Với mục đích đó,
cần đến van cân bằng thủy lực.
Kiểm soát chính xác đối với nhiệt độ được xác định bởi hai thành phần: Biến số kiểm soát (CV) và
kiểm soát về độ lệch điểm đặt (CSD). Điều này được mô tả trong văn bản chính của EN 15500-1. Việc
tuân thủ kiểm soát chính xác cũng được xác định trong tiêu chuẩn. Đây là đầu vào quan trọng cho EN
15316-2 “Hiệu quả năng lượng của tòa nhà - Phương pháp tính toán yêu cầu năng lượng của hệ
thống và hiệu quả của hệ thống - Phần 2: Hệ thống sưởi không gian (sưởi ấm và làm mát), Mô-đun
M3-5, M4-5' (Energy performance of buildings - Method for calculation of system energy requirements
and system efficiencies - Part 2: Space emission systems (heating and cooling), Module M3-5, M4-5”),
trong đó tác động của việc kiểm soát sưởi ấm, làm mát và thông gió được tính đến. Tiêu chuẩn tương
tự (EN 15500-1) cũng mô tả 4 chế độ hoạt động với các mức nhiệt độ: Tiện nghi, tiền tiện nghi, tiết
kiệm và bảo vệ chống đóng băng. 4 chế độ hoạt động được xác định trước nay là các thông số có thể
được thiết lập bởi người dùng - nhiệt độ được phân bổ cho từng chế độ hoạt động. Các chế độ hoạt
động này rất quan trọng đối với chiến lược kiểm soát được sử dụng đối với sự gián đoạn, được mô tả
dưới đây.
2. CHỨC NĂNG KIỂM SOÁT là khả năng của bộ kiểm soát (hoặc tập hợp các bộ kiểm soát giao tiếp)
để thực hiện (các) nhiệm vụ xác định. Thông thường, các chức năng được thực hiện trong bộ kiểm
soát là theo các thông có thể lập trình. Các chức năng có thể được thực hiện bởi một bộ kiểm soát
riêng rẽ hoặc bởi một bộ kiểm soát giao tiếp. Một bộ kiểm soát có thể thực hiện một số chức năng.
CÁC CHỨC NĂNG KIỂM SOÁT có trong BAC hoặc TBM, được trình bày trong EN 15232-1: 2017,
Bảng 4 [21].
CÁC CHỨC NĂNG KIỂM SOÁT trong EN 15232-1: 2017, Bảng 4 được tổ chức dưới dạng Mô-đun
Cấu trúc của tiêu chuẩn EPB. Bảng 4 này bắt đầu với phát xạ nhiệt, phân phối nhiệt, lưu trữ nhiệt và
phát nhiệt. Thế hệ (M3-5, M3-6, M3-7, M3-8) tiếp theo là nước nóng sinh hoạt, làm mát, thông gió và
chiếu sáng (M9-5, M9-6, M9-7, M9-8). Mỗi chức năng được mô tả chi tiết, phù hợp với loại (cấp độ)
của chức năng: từ loại thấp hơn (Loại KHÔNG KIỂM SOÁT TỰ ĐỘNG = 0) cho đến các loại tiên tiến
nhất. Đối với mỗi chức năng, một ký hiệu định danh trong ngôn ngữ phần mềm cho BAC và TBM
cũng được xác định, là đích đến của mô-đun nơi chức năng kiểm soát có tác dụng. Một ví dụ về điều
này được đưa ra trong Bảng 6, tóm tắt theo EN 15232-1.
Bảng 6 - Tóm tắt Bảng 4 trong EN 15232-1: 2017
[21]
Kiểm soát tự động
1. Kiểm soát sưởi ấm
Kiểm soát sưởi bằng phát xạ nhiệt HEAT EMIS CTRL DEF M3-5
1.1 Chức năng kiểm soát được áp dụng cho máy sưởi (máy sưởi bức xạ nhiệt, sưởi dưới
sàn, dàn quạt trao đổi nhiệt, dàn quạt trao đổi nhiệt trong nhà) ở cấp độ phòng; đối với
loại 1 một chức năng có thể kiểm soát một số phòng
0 Không có kiểm soát tự động nhiệt độ phòng
1 Kiểm soát tự động trung tâm: Chỉ có kiểm soát tự động trung tâm hoạt động trên mạng
phân phối hoặc mạng phát. Điều này có thể đạt được, chẳng hạn bằng bộ kiểm soát
nhiệt độ bên ngoài phù hợp với EN 12098-1 [16] hoặc EN 12098-3 [17]; một hệ thống có
thể kiểm soát một số phòng
2 Kiểm soát từng phòng riêng lẻ bằng van hằng nhiệt hoặc bộ kiểm soát điện tử
3 Kiểm soát phòng riêng lẻ với hệ thống giao tiếp: Giữa bộ kiểm soát và BACS (ví dụ: bộ
thiết lập lịch trình, điểm cài đặt nhiệt độ phòng)
4 Kiểm soát từng phòng riêng lẻ bằng kiểm soát giao tiếp và sự hiện diện: Giữa bộ kiểm
soát và BACS; Kiểm soát về nhu cầu/phát hiện người (Chức năng này thường không
được áp dụng đối với hệ thống sưởi bất kỳ có độ phản ứng chậm với nhiệt khối tương
ứng, ví dụ: sưởi sàn, sưởi tường)
Vì lý do thực tế, bốn loại hiệu quả BAC khác nhau (A, B, C, D) của các chức năng được xác định cho
cả các tòa nhà không để ở và tòa nhà ở. Đây là cách nhanh nhất để quy định BAC hoặc TBM.
- Loại D tương ứng với BAC không hiệu suất năng lượng. Tòa nhà với các hệ thống như vậy cần
được cải tạo. Các tòa nhà mới không cần có các hệ thống như vậy.
- Loại C tương ứng với tiêu chuẩn BAC.
- Loại B tương ứng với BAC hiện đại và một số chức năng TBM cụ thể.
- Loại A tương ứng với BAC và TBM hiệu quả năng lượng cao.
Một là trong loại D: Nếu các chức năng tối thiểu trong loại C không được thực hiện.
Được xếp vào loại C: Các chức năng tối thiểu được xác định trong EN 15232-1: 2017, Bảng 4 được
thực hiện.
Được xếp vào loại B: Chức năng tự động hóa tòa nhà cộng với một số chức năng cụ thể được định
nghĩa trong EN 15232-1:2017, Bảng 4 được thực hiện ngoài loại C. Người kiểm soát phòng có thể
tương tác giao tiếp với một hệ thống tự động hóa tòa nhà.
Được xếp vào hạng A: Chức năng quản lý tòa nhà kỹ thuật cộng với một số chức năng cụ thể được
xác định trong EN 15232-1: 2017, Bảng 4 được thực hiện ngoài hạng B. Bộ kiểm soát phòng có thể
sử dụng HVAC được kiểm soát theo nhu cầu (ví dụ: Điểm cài đặt thích ứng dựa trên cảm biến mức
độ sử dụng tòa nhà, chất lượng không khí, v.v...) bao gồm các chức năng tích hợp bổ sung cho mối
quan hệ qua lại đa năng giữa HVAC và các dịch vụ tòa nhà khác nhau (ví dụ: điện, chiếu sáng, che
nắng, v.v...).
CHÚ THÍCH: Ngoài ra, hệ thống thủy lực phải được cân bằng đúng cách.
Việc gắn chức năng cho các loại hiệu quả BACS được liệt kê trong EN 15232-1: 2017, Bảng 5.
Các chức năng BAC với mục đích để kiểm soát hoặc giám sát một nhà máy hoặc một phần của nhà
máy không được lắp đặt trong tòa nhà sẽ không được xem xét khi xác định loại ngay cả khi chúng
được tô bóng cho loại đó. Ví dụ, để được xếp vào loại B đối với một tòa nhà không có hệ thống làm
mát, không cần đến kiểm soát từng phòng riêng lẻ có thể tương tác giao tiếp để kiểm soát phát xạ
nhiệt của hệ thống làm mát.
Nếu một chức năng cụ thể được yêu cầu trong một loại hiệu quả BAC cụ thể, thì không bắt buộc chức
năng đó phải được yêu cầu nghiêm ngặt ở mọi nơi trong tòa nhà: Nếu nhà thiết kế có thể đưa ra lý do
chính đáng rằng việc áp dụng một chức năng không mang lại lợi ích trong một trường hợp cụ thể thì
có thể được bỏ qua. Ví dụ: Nếu nhà thiết kế có thể chỉ ra rằng tải nhiệt của một nhóm phòng chỉ phụ
thuộc vào nhiệt độ ngoài trời và có thể được kiểm soát bởi bộ kiểm soát trung tâm, thì không cần kiểm
soát phòng riêng lẻ bằng van hằng nhiệt hoặc bộ kiểm soát điện tử thuộc loại C.
Danh sách tham chiếu các chức năng của BACS cần đạt được xác định trong EN 15232-1: 2017,
Bảng 5. Bảng đó xác định các yêu cầu tối thiểu của các chức năng BACS theo các lớp hiệu quả
BACS D, C (tham chiếu), B và A.
Trừ khi có chỉ định khác, danh sách này có thể được sử dụng cho những việc sau:
- Để xác định các chức năng tối thiểu được thực hiện cho một dự án;
- Xác định chức năng BACS được tính đến cho việc tính toán mức tiêu thụ năng lượng của một tòa
nhà khi các chức năng BACS không được xác định chi tiết;
- Để tính toán việc sử dụng năng lượng cho trường hợp tham chiếu trong bước 1 của phương pháp
chỉ số hiệu quả BACS.
3) CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT là các phương pháp được sử dụng để đạt được mức kiểm soát nhất
định nhằm đạt được mục tiêu. Các chiến lược kiểm soát tối ưu mang lại mức độ kiểm soát mong
muốn với chi phí tối thiểu. Chiến lược kiểm soát có thể bao gồm chức năng kiểm soát hoặc một nhóm
chức năng kiểm soát.
Ví dụ về CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT bao gồm chức năng kiểm soát là khởi động tối ưu, dừng tối ưu
và trở lại thiết lập ban đêm, như được mô tả trong các tiêu chuẩn EN 12098-1 [16] và EN 12098-3.
[17] Chức năng hẹn giờ được mô tả trong EN 12098-5 [18].
Ví dụ về CHIẾN LƯỢC KIỂM SOÁT được thực hiện bởi một nhóm chức năng kiểm soát là chiến lược
kiểm soát được sử dụng bởi chức năng ngắt quãng. Chức năng này sử dụng một số chức năng kiểm
soát, chế độ vận hành, bắt đầu-kết thúc tối ưu và hẹn giờ ở cùng một thời gian. Tất cả các phần tử
cùng nhau được gọi là hồ sơ tòa nhà hoặc mô hình người dùng. Thông thường, để thực hiện hồ sơ
tòa nhà như vậy, cần có một TBM là điều kiện tiên quyết.
Chiến lược kiểm soát quan trọng nhất được mô tả và thực hiện trong EN 15232-1 là kiểm soát theo
định hướng nhu cầu. Thông thường, các chiến lược này thực hiện theo hướng của dòng năng lượng
(từ sản xuất cho đến phát xạ nhiệt) với dòng tính toán (từ nhu cầu của tòa nhà đến năng lượng được
cấp đến). Thông thường đối với chiến lược kiểm soát phức tạp này, một TBM là cần thiết với một
kiểm soát cụ thể phân tán cho từng hệ thống kỹ thuật tòa nhà, những người tương tác giao tiếp trong
kiến trúc hệ thống thông qua một buýt tiêu chuẩn hóa giao tiếp như BACnet, KNX hoặc LON.
Rõ ràng hơn, việc kiểm soát theo định hướng nhu cầu này hoạt động như sau:
- Khi đạt đến sự tiện nghi thoải mái trong khu vực phát xạ nhiệt, bộ kiểm soát phát xạ nhiệt sẽ gửi
thông báo đến bộ kiểm soát phân phối để dừng việc phân phối năng lượng, thông báo đó sẽ gửi
thông báo đến bộ kiểm soát lưu trữ để lưu trữ năng lượng và nếu bộ lưu trữ không thể tích trữ thêm
năng lượng sẽ gửi thông báo đến bộ kiểm soát sản xuất để dừng lại việc sản xuất thêm năng lượng.
Một chiến lược kiểm soát quan trọng khác là chiến lược kiểm soát nhiều máy phát điện từ cùng một
loại (ví dụ: Một số nồi hơi) hoặc các loại khác nhau (ví dụ: Một nồi hơi và lò sưởi) bao gồm cả nguồn
năng lượng tái tạo. Chiến lược có thể dựa trên tiêu chí như sau:
- Chỉ ưu tiên dựa trên thời gian vận hành;
- Trình tự cố định chỉ dựa trên phụ tải: ví dụ: Tùy thuộc vào các đặc tính của máy phát, ví dụ: Nồi hơi
nước nóng so với bơm nhiệt;
- Ưu tiên dựa trên hiệu suất và đặc tính của máy phát: Việc kiểm soát vận hành máy phát được đặt
riêng cho các máy phát có sẵn để hoạt động với mức hiệu suất tổng thể cao (ví dụ: Năng lượng mặt
trời, nhiệt từ nguồn địa nhiệt, nhà máy đồng phát, nhiên liệu hóa thạch);
- Trình tự dựa trên dự đoán phụ tải: Trình tự dựa trên ví dụ: Hiệu suất và công suất sẵn có của một
thiết bị và công suất yêu cầu dự đoán.
Các tiêu chuẩn cho phép tính toán ảnh hưởng của các chức năng BACS và TBM đến tiêu thụ năng
lượng bằng cách sử dụng các cách tiếp cận khác nhau để tính toán tác động này.
Năm cách tiếp cận phổ biến đối với các tiêu chuẩn khác nhau:
- Tiếp cận trực tiếp;
- Khi tính toán hiệu quả năng lượng được thực hiện bằng phương pháp mô phỏng chi tiết hoặc
phương pháp tính toán theo giờ như được quy định trong ISO 52016-1, [10] có thể tính toán trực tiếp
tác động của một số chức năng, ví dụ: Tác động của hệ thống sưởi không liên tục, nhiệt độ thay đổi
giữa các điểm cài đặt sưởi và làm mát, các tấm che nắng mặt trời di động, v.v..., bởi dữ liệu đầu vào
thay đổi theo giờ.
- Cách tiếp cận trạng thái vận hành;
- Kiểm soát tự động cho phép vận hành các hệ thống khí hậu ở các chế độ vận hành khác nhau, ví
dụ: Đối với hệ thống thông gió: Chế độ có người/chế độ không có người, đối với chế độ sưởi ấm ngắt
quãng, chế độ không sưởi, chế độ cài đặt lại, chế độ công suất đỉnh.
- Cách tiếp cận để tính toán ảnh hưởng của kiểm soát tự động đến mức tiêu thụ năng lượng là tính
toán mức tiêu thụ năng lượng tuần tự cho từng chế độ vận hành. Tổng mức tiêu thụ năng lượng thu
được bằng cách tính tổng mức tiêu thụ năng lượng trong mỗi chế độ hoạt động.
- Mỗi chế độ hoạt động tương ứng với một trạng thái nhất định của hệ thống kiểm soát. Các tính toán
được thực hiện cho từng chế độ vận hành bằng cách xem xét trạng thái liên quan của hệ thống kiểm
soát: ví dụ: Bật quạt/tắt quạt.
- Cách tiếp cận theo thời gian;
- Cách tiếp cận này có thể được sử dụng khi hệ thống kiểm soát có tác động trực tiếp đến thời gian
hoạt động của thiết bị (ví dụ: Kiểm soát quạt gió, chiếu sáng).
- Cách tiếp cận theo nhiệt độ (độ chính xác của kiểm soát);
- Cách tiếp cận này giải thích cho sự chênh lệch và sai lệch của giá trị thực tế so với điểm cài đặt do
việc điều khiển. Điểm cài đặt được sử dụng để ước tính nhu cầu năng lượng với giả định là việc kiểm
soát hoàn hảo/lý tưởng trong khi giá trị thực (được gọi là điểm cài đặt ảo) giải thích cho việc kiểm soát
thực tế. Việc kiểm soát được coi là hiệu quả năng lượng hơn khi điểm đặt ảo càng gần điểm đặt gốc,
Do đó thì độ lệch kiểm soát cũng nhỏ hơn.
- Nguyên tắc của phương pháp này được giải thích dựa trên kiểm soát nhiệt độ phòng, có thể được
sử dụng khi hệ thống kiểm soát có tác động trực tiếp đến nhiệt độ phòng. Cách tiếp cận giải thích tác
động của hệ thống kiểm soát bằng cách hiệu chỉnh nhiệt độ điểm cài đặt khi tính toán nhu cầu năng
lượng theo ISO 52016-1, [10] trong trường hợp tính toán nhu cầu năng lượng cụ thể của hệ thống. Bên
cạnh việc kiểm soát, các hiệu ứng khác có thể ảnh hưởng đến điểm cài đặt ảo, ví dụ: Loại lò sưởi
nhiệt, nhiệt độ, đặc tính vật lý của tòa nhà, v.v...cần được mô tả kỹ.
- Cách tiếp cận theo hệ số hiệu chỉnh.
- Cách tiếp cận này được sử dụng khi hệ thống kiểm soát có tác động phức tạp hơn, chẳng hạn như
một hiệu ứng tổng hợp về thời gian, nhiệt độ, v.v...
Đối với hiệu ứng TBM, một số chú ý khác:
Quản lý kỹ thuật nhà và tòa nhà cho phép dễ dàng điều chỉnh hoạt động thích ứng theo nhu cầu của
người dùng.
Nên thường xuyên kiểm tra xem lịch trình hoạt động của hệ thống sưởi, làm mát, thông gió và chiếu
sáng có thích ứng tốt với lịch trình sử dụng thực tế và các điểm cài đặt cũng được điều chỉnh cho phù
hợp với nhu cầu.
- Cần chú ý đến việc điều chỉnh tất cả các bộ kiểm soát, điều này bao gồm các điểm cài đặt cũng như
kiểm soát các thông số như hệ số bộ kiểm soát tích phân tỷ lệ.
- Các điểm cài đặt cho hệ thống sưởi và làm mát của bộ kiểm soát phòng phải được kiểm tra định kỳ.
Vì người dùng thường thay đổi các điểm cài đặt này. Hệ thống kiểm soát tập trung cho phép phát hiện
và sửa các giá trị cực trị của các điểm cài đặt do sự hiểu lầm của người dùng.
- Nếu khóa liên động giữa kiểm soát sưởi và làm mát của bộ phát xạ nhiệt và/hoặc bộ phân phối chỉ là
khóa liên động một phần, điểm cài đặt nên được thay đổi thường xuyên để giảm thiểu việc sử dụng
đồng thời sưởi và làm mát.
- Chức năng cảnh báo và giám sát sẽ hỗ trợ việc điều chỉnh hoạt động theo nhu cầu của người dùng
và tối ưu hóa khả năng điều chỉnh của các bộ kiểm soát khác nhau. Điều này có thể đạt được bằng
cách cung cấp các công cụ dễ dàng để phát hiện hoạt động bất thường (chức năng báo động) và
bằng cách cung cấp cách dễ dàng để ghi nhật ký và lập biểu đồ thông tin (chức năng giám sát). Mục
tiêu là sự phù hợp hiệu quả năng lượng của tòa nhà và thay đổi tối thiểu theo thời gian.
TBM cũng bao gồm việc tính toán dữ liệu vận hành tòa nhà có thể bị ảnh hưởng và được tối ưu hóa
bởi hệ thống kỹ thuật tòa nhà. Những dữ liệu đó chủ yếu liên quan đến:
- Thiết lập điểm cài đặt bao gồm thiết lập lại,
- Thời gian vận hành của hệ thống sưởi, thông gió, làm mát và chiếu sáng bao gồm việc tối ưu hóa
khi bắt đầu - kết thúc.
- Trình tự làm việc của nhiều máy phát,
- Quản lý năng lượng liên quan đến việc sử dụng năng lượng tái tạo tại chỗ và sản xuất năng lượng
tại chỗ
- Thu hồi nhiệt và trao đổi nhiệt,
- Các tương tác lưới điện thông minh và tiết giảm phụ tải đỉnh.
Việc tính toán nói chung không phụ thuộc vào khoảng thời gian tính toán đã chọn nhưng tuân theo
bước thời gian của đầu vào.
11.5 Dữ liệu khí hậu và môi trường bên ngoài
Một tiêu chuẩn cụ thể nhằm mục đích phục vụ làm đầu vào nhất quán, chung đối với dữ liệu khí hậu
cho tất cả tiêu chuẩn của EPB là ISO 52010-1 [23].
11.6 Hiệu quả năng lượng tổng thể
11.6.1 Tổng quát
Phần giới thiệu trong 11.6.1 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017)[1] nhấn mạnh rằng có hai
quy trình trọng số riêng biệt:
- Một cho các chất mang năng lượng không được xuất đi;
- Loại còn lại dùng cho điện và các chất mang năng lượng khác cũng được xuất đi.
Việc tính trọng số là đơn giản đối với các chất mang năng lượng không được xuất đi (xem 11.6.3).
Đối với điện và các chất mang năng lượng khác cũng được xuất đi, việc phân tích chi tiết về các
thành phần của năng lượng được sản xuất, sử dụng, cấp đến và xuất đi được đưa ra trong 11.6.2 của
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Ví dụ về các chất mang năng lượng không phải là điện có thể xuất đi là khí sinh học và nhiệt. Trong
TCVN 13469-1 (ISO 52000-1), chỉ năng lượng điện được giả định là được xuất đi, vì đây là trường
hợp phổ biến nhất cho đến nay.
11.6.2 Điện năng và các chất mang năng lượng khác được xuất đi
[Link] Tính toán cân bằng năng lượng tổng quát
Việc tính trọng số của điện năng cấp đến và xuất đi được thực hiện độc lập cho mỗi khoảng thời gian
tính toán và sau đó các lượng điện theo trọng số cho các chu kỳ tính toán được thu thập theo công
thức (19) cho năng lượng cấp đến và công thức (20) cho năng lượng xuất đi. Điều này được yêu cầu
để hỗ trợ các chỉ số trọng số phụ thuộc vào thời gian.
Công thức (20) cho phép bao gồm (hoặc không bao gồm) ảnh hưởng của năng lượng xuất đi vào
hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Tùy chọn này được điều chỉnh bởi thông số kexp., như được giải
thích trong [Link].
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Hình 7 cho thấy các thành phần của năng lượng được cấp
đến và xuất đi được liệt kê sau hình. Một cách ngắn gọn: tại mỗi khoảng thời gian tính toán:
- Điện năng được sản xuất và sử dụng được so sánh để xác định xem:
- Điện được cấp đến theo yêu cầu;
- Hoặc lượng điện dư thừa có sẵn để xuất đi;
- Điện năng xuất đi có thể bao gồm:
- Xuất đi cho các mục đích không thuộc hiệu quả năng lượng của tòa nhà sử dụng tại chỗ;
- Xuất đi hòa vào lưới.
Nếu điện năng xuất đi không được tính đến một cách tổng thể vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà
(lấy kexp < 0), sau đó năng lượng điện xuất đi chưa được tính vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà
được báo cáo là năng lượng xuất đi sẵn có Eexp;el;avl;an ; được tính theo công thức (21). Công thức (22)
cho biết năng lượng có trọng số liên quan Ewe;exp;el;avl;an; Thông tin này cần thiết để đảm bảo tính mô-
đun của quy trình. Nếu tòa nhà được xem xét trong bối cảnh của một mạng lưới ở gần thì thông tin
này (năng lượng sẵn có, giá trị thực tế và theo trọng số) là sự đóng góp về năng lượng của tòa nhà
được đánh giá vào mạng lưới.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (19) cung cấp năng lượng cấp đến theo trọng số
cho điện từ lưới điện.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (20) bao gồm hiệu quả năng lượng của tòa nhà
ảnh hưởng của năng lượng xuất đi, được biểu thị bằng ký hiệu Thông số kexp cho
phép kiểm soát sự bao gồm này.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (21) và (22) đánh giá năng lượng, được tạo ra
bởi hệ thống kỹ thuật của tòa nhà và chưa được tính đến trong hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Nó
được đánh giá vừa là chất mang năng lượng (21) vừa là số lượng theo trọng số (22).
Hình 15 cho thấy cách sử dụng Bước A và Bước B đối với năng lượng xuất đi.
Dữ liệu cho ví dụ này:
Đồng phát tại chỗ, sử dụng khí sinh học 5000 kW-h, sản xuất:
1500 kW·h nhiệt
3000 kW·h điện
Nhiên liệu khác: Khí tự nhiên: 2222 kW h
Hình 15 a-
Phương trình của bước A (Step A): Epren;stepa = 1884 kW·h Epnren;stepa = 2428 kW·h
CHÚ DẪN BƯỚC A:
Năng lượng sơ cấp quy đổi -> chất mang năng lượng
Ass_B: Ranh giới đánh giá
us Năng lượng sử dụng riêng a)
el Điện năng
th Năng lượng nhiệt
el;exp Điện năng sản xuất tại chỗ và được xuất đi b)
(1) Năng lượng sơ cấp tái tạo được cấp đến cho tòa nhà, liên quan đến năng lượng đã sử dụng riêng
(2) Năng lượng sơ cấp không tái tạo được cấp đến cho tòa nhà, liên quan đến năng lượng đã sử
dụng riêng
(3) Năng lượng sơ cấp tái tạo được cấp đến cho tòa nhà, liên quan đến điện xuất đi
(4) Năng lượng sơ cấp không tái tạo được cung cấp cho tòa nhà, liên quan đến điện xuất đi
EP_A: Chỉ số hiệu quả năng lượng (EP) của tòa nhà theo bước A (step A):
(1) = (1)&(3) - (3). Năng lượng sơ cấp tái tạo được cấp đến, liên quan đến năng lượng đã sử dụng
riêng
(2) = (2)&(4) - (4). Năng lượng sơ cấp không tái tạo được cấp đến, liên quan đến năng lượng đã sử
dụng riêng
A_EXP: Theo bước A: Được để ngoài hiệu quả năng lượng (EP) của tòa nhà:
Điện năng xuất đi (el;exp)
tài nguyên được sử dụng cho điện xuất đi ((3) và (4))
a)
Có nghĩa là: Năng lượng được sử dụng tại chỗ cho các dịch vụ hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
b)
Có nghĩa là: Bao gồm "xuất đi" cho các mục đích sử dụng tại chỗ không hiệu quả năng lượng của
tòa nhà.
Hình 15 b)
Phương trình bước B (Step B):
Khi k = 1,0: Epren = 1884 + 1,0 x (3116 - 287) = 4713 kW·h
Epnren = 2428 + 1,0 x (156 - 3 297) = - 713 kw·h
Khi k = 0,3: Epren = 1884 + 0,3 x (3116 - 287) = 2733 kW·h
Epnren = 2428 + 0,3 x (156 - 3297) = 1486 kW·h
CHÚ DẪN BƯỚC B:
Xem Bước A, cộng với các ký hiệu sau:
Grid: Điện lưới không phải sản xuất ở nơi khác do lượng điện được xuất đi
(5) Tài nguyên năng lượng sơ cấp tái tạo ở những nơi khác không dùng đến do điện xuất đi được sản
xuất tại chỗ
(6) Tài nguyên năng lượng sơ cấp không tái tạo ở những nơi khác không dùng đến do điện xuất đi
được sản xuất tại chỗ
EP_AB: Từ bước A đến bước B: Cũng như EP_A,
Năng lượng xuất đi được tính đến trong hiệu quả năng lượng của tòa nhà c):
+(3) - (5) Cũng như (1): Các nguồn năng lượng sơ cấp tái tạo được sử dụng cho điện xuất đi
trừ đi năng lượng sơ cấp tái tạo không dùng đến ở nơi khác c)
+(4) - (6) Cũng như (2): Các nguồn năng lượng sơ cấp không tái tạo được sử dụng cho điện xuất đi
trừ đi năng lượng sơ cấp không tái tạo không dùng đến ở nơi khác c)
c)
Hoặc phần từ k có giá trị từ 0 đến 1 (tùy chọn quốc gia).
Hình 15 - Minh họa bước A và bước B cho năng lượng xuất đi
[Link] Năng lượng xuất đi theo trọng số sử dụng chỉ số phản ánh quá trình sản xuất năng
lượng xuất đi (Bước “A”)
Bước A đánh giá năng lượng xuất đi bằng cách sử dụng các chỉ số trọng số được xác định theo năng
lượng được sử dụng theo trọng số để sản xuất ra nó Ewe;del;el;an;A.
Trong bước này, năng lượng theo trọng số được sử dụng để sản xuất năng lượng xuất đi bất kỳ sẽ
được tự động loại trừ khỏi hiệu quả năng lượng của tòa nhà, như được thể hiện trong Hình 16.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
Hình 16 - Ví dụ dòng năng lượng theo trọng số đối với Bước A
Trong ví dụ này:
- Lượng điện EA + EB thực tế được sản xuất tại chỗ và cấp đến tòa nhà (250 kW·h)
- Lượng điện EA thực tế được sử dụng trong tòa nhà (100 kW·h)
- Lượng điện EB thực tế được xuất đi qua ranh giới đánh giá (150 kW·h)
Vì chỉ số trọng số là giống nhau đối với điện cấp đến và xuất đi . Việc áp dụng TCVN
13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (2) có thể được viết:
Nhìn vào số hạng đầu tiên của công thức (31) và số hạng cuối của công thức (33) thấy rằng:
- Năng lượng xuất đi EB (150 kw-h) tự động được loại trừ khỏi hiệu quả năng lượng;
- Chỉ EA, phần năng lượng sản xuất được sử dụng tại chỗ, mới được tính vào hiệu quả năng lượng
của tòa nhà.
Công thức này giữ tính độc lập cho tất cả các tiêu chí trọng số (ví dụ tách riêng cho năng lượng sơ
cấp tái tạo và không tái tạo).
Nếu năng lượng xuất đi được sản xuất bởi một số máy phát, thì cần quyết định lượng năng lượng do
mỗi máy phát sản xuất ra được sử dụng tại chỗ hoặc xuất đi. Điều này được thực hiện theo quy trình
được xác định trong [Link].4 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (24) đến (26) sử dụng cùng một chỉ số trọng số
cho điện.
[Link] Ảnh hưởng của năng lượng xuất đi đến hiệu quả năng lượng theo trọng số (Bước B)
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), [Link] tính toán ảnh hưởng của năng lượng xuất đi. Năng
lượng xuất đi có:
- "chi phí", là năng lượng cần thiết theo trọng số để tạo ra năng lượng xuất đi
- “lợi ích”, là năng lượng theo trọng số sẽ được tiết kiệm bởi các máy phát của lưới điện nhờ năng
lượng xuất đi (bởi vi năng lượng xuất đi làm giảm năng lượng cần thiết cho các máy phát của lưới).
Điều này được tính trong công thức (28) đến (30) cho ba thành phần của năng lượng xuất đi và sau
đó tổng hợp trong công thức (27).
Ví dụ: Sử dụng tổng trọng số năng lượng sơ cấp và giả định rằng chỉ số chuyển đổi là:
- đối với điện được sản xuất tại chỗ, được sử dụng ở bước đánh giá A;
CHÚ DẪN
AB Ranh giới đánh giá
Hình 17 - Sơ đồ năng lượng sơ cấp đối với Bước B
Bắt đầu từ kết quả của bước A (100 kW-h chỉ tính cho dòng năng lượng EA (năng lượng sử dụng bên
trong tòa nhà) có thể thêm hai thành phần:
- “chi phí” của tổng năng lượng sơ cấp được sử dụng để sản xuất năng lượng xuất đi, là 150 kW·h
nhân với chỉ số năng lượng sơ cấp bước A là 1,0 được tổng năng lượng sơ cấp bổ sung là 150 kW·h;
- “lợi ích” của việc giảm tổng năng lượng sơ cấp yêu cầu của các máy phát của lưới là 150 kW-h nhân
với tổng các chỉ số năng lượng sơ cấp của lưới điện là 2,5 được 375 kW·h.
Tổng hiệu quả năng lượng, là tổng năng lượng sơ cấp, là sự tổng hợp của:
- + 100 kW·h tổng năng lượng sơ cấp được sử dụng để tạo ra EA
- + 150 kW·h tổng năng lượng sơ cấp được sử dụng để tạo EB
- + 375 kW·h tổng năng lượng sơ cấp do máy phát của lưới tiết kiệm được vì năng lượng chúng tạo
ra được giảm đi bởi EB.
và tổng hiệu quả năng lượng sơ cấp của tòa nhà có tính đến ảnh hưởng của năng lượng xuất đi là -
125 kW·h.
Điều [Link] tính hai số hạng cuối cùng (+150 và - 375).
Chi tiết việc áp dụng TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công thức (2), cần lưu ý rằng:
Nhìn vào số hạng đầu tiên của công thức (34) và ở số hạng cuối của công thức (35) thấy rằng:
- Bắt đầu từ đánh giá bước A (sử dụng TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (2) với
các chỉ số trọng số tùy thuộc vào nguồn tài nguyên được sử dụng để sản xuất điện xuất đi;
- Và cộng thêm ảnh hưởng của năng lượng xuất đi;
cho kết quả tương tự như sử dụng trực tiếp TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (2)
với các chỉ số trọng số phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên không cần dùng đến bởi máy phát của
lưới. Điều này cho thấy mối liên hệ giữa hai lựa chọn được nêu trong Hình 8 của [Link]: Việc chọn
một loại hoặc loại khác của các chỉ số trọng số là tương đương với việc bao gồm/loại trừ ảnh hưởng
của năng lượng xuất đi vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Điều [Link] tính toán sự khác biệt
giữa hai đánh giá và bằng cách áp dụng hệ số kexp vào TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017),
công thức (20), (21) và (22) có thể bao gồm hoặc không bao gồm đóng góp của năng lượng xuất đi
vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
Năng lượng xuất đi không được tính đến vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà Eexp;el;avl;an được tính
theo TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (21) để có thể lập báo cáo riêng rẽ như
năng lượng sẵn có để sử dụng bên ngoài ranh giới đánh giá. Năng lượng sẵn có này cũng có thể
được ghi đầy đủ chi tiết dưới dạng năng lượng thực tế, năng lượng theo trọng số, năng lượng sơ cấp
liên quan và RER. Điều này là cần thiết đối với khả năng mở rộng quy mô của mô hình tính toán hiệu
quả năng lượng và có khả năng bao gồm cả sự đóng góp của tòa nhà đang được đánh giá vào việc
đánh giá của một nhóm tòa nhà lân cận.
CHÚ DẪN
AB Ranh giới đánh giá
EPB Dịch vụ hiệu quả năng lượng của tòa nhà
Hình 18 - Tóm lược cách tiếp cận của bước A và B
Hình 18 mô tả tóm lược cách tiếp cận này.
Năng lượng EA và EB được cấp đến cho các dịch vụ kỹ thuật của tòa nhà.
- EA được sử dụng để cung cấp các dịch vụ hiệu quả năng lượng của tòa nhà tính toán (sưởi ấm, làm
mát, nước nóng sinh hoạt, v.v...);
- EB được sử dụng để tạo ra chất mang năng lượng xuất đi.
Lấy kexp =1 bao gồm ảnh hưởng của EB trong hiệu quả năng lượng của tòa nhà. Cùng với các tập hợp
các chỉ số trọng số cụ thể, điều này có thể tạo ra các chỉ số có giá trị đặc biệt như:
- Giá trị âm của hiệu quả năng lượng (và hiệu suất âm) nếu có lượng năng lượng xuất đi cao và chỉ
số trọng số đối với năng lượng được cấp đến thấp hơn chỉ số trọng số của năng lượng xuất đi tương
ứng:
VÍ DỤ: Điều này có thể xảy ra nếu chỉ số năng lượng sơ cấp cho điện mặt trời (PV) được lấy là 1,0 và
chỉ số điện lưới là 2,5.
- RER có giá trị cao hơn 1 hoặc giá trị âm bởi vì sự cân bằng năng lượng đối với năng lượng tái tạo
và không tái tạo là độc lập:
VÍ DỤ: Điều này có thể xảy ra đặc biệt với sự đồng phát được cung cấp bởi nhiên liệu tái tạo.
Ngoài ra, việc sử dụng một chất mang năng lượng (sẽ dẫn đến hiệu quả năng lượng kém) có thể
được bù đắp bằng việc xuất đi một chất mang năng lượng khác.
Đây không phải là các giá trị hoặc tính năng sai: Đây là những ảnh hưởng và kết quả nhất quán khi
ảnh hưởng của năng lượng xuất đi đã được bao gồm trong hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
Lấy kexp=0, tương tự như việc bỏ qua EB. trong hiệu quả năng lượng của tòa nhà (đánh giá bước A).
Điều này tạo ra các ảnh hưởng sau:
- Hiệu quả năng lượng thường là một số dương (có thể xảy ra ngoại lệ với sự đồng phát phụ thuộc
vào phương pháp phân bổ;
- RER thường có giá trị lấy từ 0 đến 1 (xem ngoại lệ trước đó);
- Không có sự bù chéo giữa các chất mang năng lượng khác nhau.
Giá trị bất kỳ của kexp trong khoảng từ 0 đến 1 bao gồm một phần ảnh hưởng của EB trong hiệu quả
năng lượng của tòa nhà.
Các ảnh hưởng của thông số kiểm soát kexp được thể hiện chi tiết trong các ví dụ của K.2.
[Link] Quy trình tính toán thành phần năng lượng điện cấp đến và xuất đi
Điều này đề cập đến việc nhận diện các thành phần của năng lượng được cấp đến và xuất đi phụ
thuộc vào thời điểm xuất và nhập. Tất cả các thành phần được xem xét của năng lượng được cấp
đến và xuất đi được xác định trong [Link] và được thể hiện trong Hình 7 của TCVN 13469-1:2022
(ISO 52000- 1:2017).
Các cách sử dụng điện năng sản xuất Epr;el,t sau đây được phân biệt (tùy thuộc vào quan hệ thời gian
giữa việc sản xuất và sử dụng năng lượng) và được xem xét từ mức độ ưu tiên cao nhất đến ưu tiên
thấp nhất:
- Sử dụng ngay cho các mục đích sử dụng hiệu quả năng lượng (EPB) trong cùng khoảng thời gian
tính toán;
- Được xuất đi cho các mục đích sử dụng không EPB ngay lập tức trong cùng một khoảng thời gian
tính toán;
- Xuất đi hòa vào lưới điện.
Các bước tính toán được mô tả lần lượt theo thứ tự thực hiện.
a) Thu thập dữ liệu về sử dụng điện
Tất cả dữ liệu về sử dụng điện tại chỗ đều được thu thập.
Tùy chọn được đưa ra để quy định các mục đích sử dụng điện không được đáp ứng đủ bởi lượng
điện sản xuất tại chỗ. Việc sử dụng điện không thuộc phạm vi sản xuất tại chỗ cần được loại trừ khỏi
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), công thức (29) và được định nghĩa trong TCVN 13469-
1:2022 (ISO 52000-1:2017), Bảng A.31 và B.3.
Tùy chọn này đã được đưa vào vì một số lý do:
- Việc tính toán kinh tế có thể đòi hỏi rằng tất cả lượng điện sản xuất ra được bán và sau đó lượng
điện cần thiết được mua lại;
- Không đem lợi thế cho việc tự tiêu thụ năng lượng;
- Để hạn chế các mục đích sử dụng có thể có (ví dụ: Không sử dụng điện mặt trời (PV) để sưởi ấm
trực tiếp)
b) Thu thập dữ liệu về sử dụng điện cho các mục đích không hiệu quả năng lượng
Đây là một mục tùy chọn. Nếu việc sử dụng này không được xác định thì:
d) Tính toán việc sử dụng ngay lập tức cho các dịch vụ EPB trong cùng một khoảng thời
gian tính toán,
Việc sử dụng ngay lập tức này dẫn đến lượng điện ít hơn sẽ được cấp đến từ lưới điện.
Đường dẫn này được đánh dấu trong Hình 19.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá
AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá GRID Lưới điện
Hình 19 - Sử dụng ngay năng lượng sản xuất tại chỗ cho các mục đích sử dụng hiệu quả năng
lượng của tòa nhà (EPB)
Tiêu chuẩn này giả định rằng điện được sản xuất tại chỗ sẽ được ưu tiên sử dụng so với điện được
cấp đến từ lưới điện.
Như đã nêu trong bước a) của quy trình này, một số mục đích sử dụng có thể bị loại trừ khỏi phạm vi
bao phủ bởi điện sản xuất tại chỗ.
Hàm chỉ số phù hợp cho phép tính nhất quán giữa các phép tính theo tháng và theo giờ. Tính toán
theo giờ nắm bắt tốt hơn nhiều về tính đồng bộ giữa sản xuất và sử dụng năng, lượng điện. Tính toán
theo tháng ẩn phần bù giữa đêm và ngày (Ví dụ: Sử dụng điện mặt trời (PV) cho chiếu sáng) và trong
tháng. Chức năng tương quan đã được để hoàn toàn tự do. Ví dụ về một hàm như vậy được đưa ra
trong bảng tính kèm theo.
e) Tính năng lượng xuất đi
Không cần thông tin bổ sung.
f) Tính toán năng lượng điện xuất đi được sử dụng cho các mục đích sử dụng không hiệu quả năng
lượng trong tòa nhà
Nếu có thặng dư hãy xuất sang các dịch vụ không hiệu quả năng lượng EPB tại địa điểm
tòa nhà (ví dụ: Thiết bị sử dụng năng lượng), được tính toán.
Đường dẫn này được nêu rõ trong Hình 20.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá
AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá GRID Lưới điện
Hình 20 - Sử dụng ngay năng lượng sản xuất tại chỗ cho các mục đích sử dụng không hiệu
quả năng lượng tại chỗ
Lý do cho bước này trong tính toán là việc sử dụng điện tại chính địa điểm tòa nhà có thể được ưu
tiên hơn là xuất đi hòa vào lưới điện. Điều này cũng gần với thực tế hơn là bỏ qua kiểu sử dụng này.
Lưu ý rằng đối với việc sử dụng này thì vẫn không gây can nhiều cho lưới điện.
Đây là kiểu sử dụng không thuộc phần đánh giá năng lượng EPB. Vì thế:
- Lượng điện sử dụng cho các dịch vụ không EPB không phải là một phần của tính toán
EPB mà là một giá trị cho mỗi khoảng thời gian tính toán theo tài liệu áp dụng quốc gia.
- Nếu loại sử dụng này không được tính đến, giá trị cho không được cung cấp và được lấy
bằng 0.
- Nếu không được cung cấp hoặc được lấy bằng 0 theo mục trước thì chỉ số trọng số cho
điện xuất đi cho mục đích sử dụng không EPB trong tòa nhà cũng không cần
thiết.
- Thông thường, đối với các tính toán theo giờ, các giá trị sử dụng năng lượng điện không EPB trong
các quy định có thể được cung cấp dưới dạng mô hình khuôn mẫu theo giờ, đồng bộ với mức độ sử
dụng của tòa nhà. Hơn nữa, các giá trị thường phụ thuộc vào loại tòa nhà hoặc không gian và kích
thước tòa nhà.
Loại hình sử dụng này được coi là xuất đi ra ngoài ranh giới đánh giá EPB.
g) Nếu sau bước f) vẫn còn điện dư thừa (nghĩa là )): Điện
không sử dụng ngay được xuất đi hòa vào lưới điện dưới dạng như trong Hình 21.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá
AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá
GRID Lưới
Hình 21 - Điện dư thừa (không sử dụng tại chỗ) trong bước tính toán t
h) Ở bước e), nếu có sự thiếu điện, thì sẽ được cấp đến cho tòa nhà.
11.6.3 Chất mang năng lượng mà không có xuất năng lượng đi
Công thức (40) của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), chỉ đơn giản cho thấy rằng tổng năng
lượng được cấp đến hàng năm cho một chất mang thu được bằng cách tính tổng tất cả các đầu vào
của hệ thống con phát năng lượng (gen,i) cho tất cả các dịch vụ (X) và cho tất cả các khoảng tính
toán.
Cách tiếp cận này đúng đối với tất cả các chất mang năng lượng chỉ được cấp đến và không được
xuất đi qua ranh giới đánh giá.
11.6.4 Nhiệt xuất đi được sản xuất tại chỗ và không bao gồm trong việc sử dụng nhiệt của tòa
nhà
Nếu máy phát được sử dụng cho các dịch vụ EPB mà còn cho các dịch vụ không EPB, thì được tính
toán với toàn bộ phụ tải để tính đến các điều kiện vận hành chuẩn.
Tuy nhiên, toàn bộ năng lượng được cấp đến không thể được tính vào hiệu quả năng lượng. Điều
này phân bổ hạn ngạch năng lượng được cấp đến và năng lượng phụ trợ của máy phát cho mỗi việc
sử dụng nhiệt được sản xuất (EPB và không EPB)
Quy trình này có tác dụng tương tự như sử dụng đánh giá bước A và kexp = 0 đối với nhiệt xuất đi
12 Đầu ra tổng thể chung - Tổng quát
12.1 Tổng quát
Điều quan trọng đối với sự minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc của việc đánh giá hiệu suất
năng lượng là phải có các quy trình trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) đối với một báo cáo “tổng
thể” chung:
- Nói chung: Ví dụ trên ứng dụng (xem ví dụ: Định tuyến trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-
1:2017), 5.1), mô tả tòa nhà và ranh giới đánh giá của dự án.
- Cụ thể đối với hiệu quả năng lượng được tính toán: việc phân tích rõ ràng (và có thể so sánh được)
về các yếu tố khác nhau của việc sử dụng năng lượng. Điều này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc ngay
lập tức về việc sử dụng chính năng lượng. Nó cũng có thể đánh dấu các điểm cần chú ý cụ thể,
chẳng hạn như dữ liệu đầu vào hoặc thông số đáng ngờ. Cuối cùng, một vài đầu ra (ví dụ: Được tính
gộp) cũng sẽ đóng vai trò như là định mức (ví dụ: “ký số năng lượng”) cho (ví dụ: về sau này) sử dụng
năng lượng được đo trên cùng một tòa nhà. Điều này sẽ giúp xác định các nguyên nhân có thể xảy ra
trong trường hợp có chênh lệch giữa việc sử dụng năng lượng dự đoán và theo thực tế.
VÍ DỤ 1: Giá trị theo tháng và tổng năng lượng hàng năm trên m2 diện tích sàn điều hòa
Mô tả ngắn gọn
Một bảng và đồ thị về nhu cầu năng lượng theo tháng cho sưởi ấm và làm mát và nhiệt độ trung bình
theo tháng trong nhà và ngoài nhà.
Cơ sở lý luận
Bảng và đồ thị đưa ra các kết quả tính toán chính.
Quy trình
Kết quả tính toán theo giờ hoặc theo tháng.
Bảng số
Giá trị theo tháng và tổng cộng theo năm cho:
Dòng năng lượng trên m2 diện tích sàn điều hòa
Bảng 7 - Giá trị theo tháng và tổng năng lượng theo năm trên m2 diện tích sàn điều hòa
Thông số Đơn vị
Nhiệt độ không khí ngoài nhà °C
Nhiệt độ không khí trung bình trong nhà °C
Nhiệt độ vận hành trung bình trong nhà °C
Tổn thất nhiệt do truyền dẫn nhiệt và thông gió (kWh)/m2
Thu nhận nhiệt mặt trời và thu nhận nhiệt bên trong nhà (kWh)/m2
Nhu cầu sưởi (kWh)/m2
Nhu cầu sưởi/ Năng lượng sử dụng cho sưởi -
Nhu cầu làm mát (kWh)/m2
Nhu cầu làm mát/ Năng lượng sử dụng cho làm mát -
VÍ DỤ 2: Cân bằng nhiệt theo tháng
Mô tả ngắn gọn
Một biểu đồ về nhu cầu năng lượng theo tháng để sưởi ấm (H), với sự phân tích tổn thất nhiệt do
truyền nhiệt cộng với thông gió so với thu nhận nhiệt mặt trời và thu nhận nhiệt bên trong nhà.
Một biểu đồ dạng thanh về nhu cầu năng lượng theo tháng để làm mát (C), với sự phân tích tổn thất
nhiệt do truyền nhiệt cộng với thông gió so với thu nhận nhiệt mặt trời và thu nhận nhiệt bên trong
nhà.
Cơ sở lý luận
Biểu đồ thể hiện ý nghĩa (sự nhạy cảm) của nhu cầu về sưởi ấm hoặc làm mát: ví dụ: Cho dù đó chỉ là
một chênh lệch nhỏ giữa hai con số lớn.
Quy trình
Kết quả tính toán theo giờ.
Ví dụ
Xem ISO 52016-1 [10] và báo cáo kỹ thuật kèm theo (ISO/TR 52016-2 [11])).
VÍ DỤ 3: Năng lượng sử dụng để sưởi ấm và làm mát so với nhiệt độ không khí ngoài trời
Mô tả ngắn gọn
Biểu đồ sử dụng năng lượng để sưởi ấm (H) và sử dụng năng lượng để làm mát (C), trên mỗi chất
mang năng lượng (khí đốt, dầu, hệ thống sưởi trung tâm, năng lượng điện, v.v...), là hàm số của nhiệt
độ ngoài trời.
Cơ sở lý luận
Đây là dấu hiệu đầu tiên đơn giản về việc sử dụng năng lượng:
Độ dốc cho biết tổn thất năng lượng trên mỗi độ chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài nhà. Dải cố
định cho thấy một mặt ảnh hưởng của thu nhận nhiệt bên trong và mặt khác là việc kiểm soát thích
hợp.
Nó cũng đóng vai trò như định mức (ví dụ: "ký số năng lượng") cho (ví dụ: về sau này) sử dụng năng
lượng được đo trên cùng một tòa nhà. Điều này sẽ giúp xác định các nguyên nhân có thể xảy ra trong
trường hợp có chênh lệch giữa việc sử dụng năng lượng được dự đoán và theo thực tế.
Quy trình
Ví dụ: tổng giá trị hàng ngày.
Ví dụ
Xem ISO 52016-1 [10] và báo cáo kỹ thuật kèm theo (ISO/TR 52016-2 [11]).
VÍ DỤ 4: Đồ thị giá trị theo giờ cho các tuần điển hình
Mô tả ngắn gọn
Một biểu đồ với các giá trị theo giờ cho các biến chủ yếu trong bốn tuần đại diện:
Giữa Đông, mùa Xuân, Giữa Hè, Mùa Thu
Cơ sở lý luận
Đây là mô thức theo giờ, tạo nên cảm giác về các hiệu ứng tuy nhiên cũng có thể xuất hiện các giá trị
không mong đợi.
Quy trình
Đồ thị
Bảng 8 - Thông số chính thể hiện giá trị theo giờ cho bốn tuần đại diện
Thông số Đơn vị
Nhiệt độ không khí ngoài nhà °C
Nhiệt độ không khí trung bình trong nhà °C
Nhiệt độ vận hành trung bình trong nhà °C
Tổn thất nhiệt do truyền nhiệt và thông gió (kWh)/m2
Thu nhận nhiệt mặt trời và thu nhận nhiệt bên
(kWh)/m2
trong nhà
Nhu cầu sưởi ấm (kWh)/m2
Nhu cầu sưởi ấm/Năng lượng sử dụng cho sưởi -
Nhu cầu làm mát (kWh)/m2
Nhu cầu làm mát/Năng lượng sử dụng cho làm
-
mát
Ví dụ:
Xem ISO 52016-1 [10] và báo cáo kỹ thuật kèm theo (ISO/TR 52016-2 [11]).
12.2 Tổng quan dạng bảng năng lượng trên mỗi chất mang năng lượng và dịch vụ năng lượng
12.2.1 Giá trị tuyệt đối
Các bảng của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), 12.2 là rất cần thiết vì cung cấp một bản mẫu
chung cho việc báo cáo dữ liệu chủ chốt; nếu không có các bảng này sẽ không thể so sánh các
trường hợp khác nhau.
Các bảng tiếp theo đưa ra hai ví dụ của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Bảng 11 đến Bảng
13, trình bày hiệu quả năng lượng tổng thể và thành phần trên mỗi chất mang năng lượng và dịch vụ
năng lượng. Trong bảng cũng bao gồm nhu cầu năng lượng về sưởi ấm và làm mát, cộng với năng
lượng tái tạo được sản xuất tại chỗ và tỷ lệ năng lượng tái tạo:
- Ví dụ thứ nhất được lập cho một tòa nhà văn phòng có diện tích tham chiếu thực là 2000 m2;
- Ví dụ thứ hai được lập cho một ngôi nhà ở riêng lẻ mới, có diện tích tham chiếu thực là120 m2.
[Link] Ví dụ 1: Tòa nhà văn phòng
Bảng 9 - Tổng quan về hiệu quả năng lượng tổng thể và thành phần trên mỗi chất mang năng
lượng và dịch vụ tòa nhà; giá trị tuyệt đối
Dịch vụ Nhu cầu Sản lượng Năng lượng sử Hiệu quả năng lượng theo trọng số
năng lượng đ ra dụng trên chất (kW·h/năm)
mang năng
(Cấp độ tòa (Cấp độ
lượng
nhà) tòa nhà)
(kW·h/năm)
(kW-h/năm) (kW·h/năm)
Chất mang Bước A Kết quả cuối cùng
Tên Số Epren Epnren Eptot EPren EPnren Eptot
lượng
Sưởi ấm 90000 97830 El grid 4087 2044 8174 10218 1904 7616 9520
El PV 2009 2009 0 2009 2288 0 2288
Gas 1016030 111763 111763 0 111763 111763
Env_heat0 0 0 0 0 0 0
Tổng 4053 119938 123990 4192 119380 123572
Làm mát 70000 77800 El grid 19309 9654 38617 48272 8995 35981 44976
El PV 9491 9491 0 9491 10810 0 10810
0 0 0 0 0 0 0
Tổng 19146 38 617 57 763 19805 35 981 55785
Thông gió El grid 5471 2735 10942 13677 2549 10195 12743
EI PV 2689 2689 0 2689 3063 0 3063
Tổng 5 425 10942 16366 5611 10195 15806
El 119 119 60 238 298 56 222
grid
Gia ẩm 4000 4350 El PV 59 59 59 0 59 67 0
Gas 4 444 4 444 0 4889 4889 0 4889
Env_heat0 0 0 0 0 0 0
Tổng 118 5127 5 245 122 5111 5233
Khử ẩm 14000 15500 f) f) f) f)
Nước 10000 12500 El grid 466 233 931 1164 217 868 1084
nóng sinh
El PV 229 229 0 229 261 0 261
hoạt
Gas 13 839 0 15278 15278 0 15278 15278
Solar 0 0 0 0 0 0 0
Env_heat0 0 0 0 0 0 0
Tổng 462 16209 16671 478 16145 16 623
Chiếu El grid 24136 12068 48272 60340 11244 44976 56220
sáng
El PV 11864 11864 0 11864 13512 0 13512
Tổng 23932 48272 72204 24756 44976 69732
Tổng 53135 239104 292239
Phụ lục A
(Tham khảo)
Bảng dữ liệu đầu vào và lựa chọn phương pháp - Bản mẫu
A.1 Tổng quát
Trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1), Phụ lục này là quy định.
Điều con này là điều con chung cho tất cả các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà.
Tiêu chuẩn này cung cấp thêm thông tin và giải thích thêm về khái niệm Phụ lục A và Phụ lục B. Phụ
lục A và Phụ lục B đưa ra một cấu trúc để phân tách các quy trình đã được hài hòa từ các tùy chọn
quốc gia hoặc khu vực, điều kiện biên, dữ liệu đầu vào và các tham chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu quả
năng lượng khác. Trong bộ tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng, việc này đạt được bằng cách sau:
Mỗi tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng có hai Phụ lục:
- Phụ lục A (quy định): Bản mẫu khung quy định (trống) cho các lựa chọn và dữ liệu đầu vào và tham
chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác
- Phụ lục B (tham khảo): Bản mẫu khung của Phụ lục A được hoàn thiện với một tập hợp các lựa
chọn mặc định tự nguyện và dữ liệu đầu vào và các tham chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu quả năng
lượng khác.
Nói chung, mỗi cá nhân sử dụng tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng được tự do thiết lập bảng dữ liệu
của riêng mình theo bản mẫu của Phụ lục A (tức là: để thay thế các lựa chọn và giá trị mặc định của
Phụ lục B). Nhưng:
- Ví dụ, các bên tư nhân có thể đồng ý với nhau (hợp đồng tư nhân) để sử dụng bất kỳ lựa chọn và
giá trị cụ thể nào (bảng dữ liệu đã hoàn chỉnh theo mẫu của Phụ lục A) để đánh giá hiệu quả năng
lượng cho mục đích sử dụng riêng của mình;
- Ngoài ra, ví dụ: Các cơ quan quản lý nhà nước (quốc gia hoặc khu vực) có thể quy định một tập hợp
các lựa chọn và giá trị cụ thể (một bảng dữ liệu cụ thể theo mẫu của Phụ lục A, thay thế các lựa chọn
mặc định và giá trị đầu vào của Phụ lục B) để đánh giá hiệu quả năng lượng trong bối cảnh quy định
xây dựng của mình (hoặc các bộ dữ liệu khác nhau, tùy thuộc vào ứng dụng).
- Được công bố thông qua Cơ quan Tiêu chuẩn hóa Quốc gia;
- Đưa vào dưới dạng bảng dữ liệu đã hoàn thành theo mẫu của Phụ lục A trong quy định xây dựng.
Xem thêm phần giới thiệu về các tùy chọn mặc định trong B.1.
Nội dung của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục A bao gồm bản mẫu cho các lựa
chọn liên quan đến các quy trình được cung cấp trong tiêu chuẩn đó.
Một tài liệu ứng dụng cấp quốc gia/khu vực/lĩnh vực dựa trên phụ lục này có thể bao gồm tham chiếu
đến quy trình đánh giá quốc gia/khu vực/lĩnh vực. Một bản đánh giá (thường là bắt buộc) như vậy đặc
biệt thích hợp trong trường hợp cho các tòa nhà hiện hữu cung cấp hướng dẫn (cho mỗi thành phần
và mỗi loại và tuổi thọ của công trình xây dựng) về:
- Những loại bằng chứng nào được chấp nhận (kiểm tra trực quan ?, bản vẽ thiết kế ?, quy định kỹ
thuật chi tiết ?, hóa đơn quy định ?, công bố chất lượng được chứng nhận?).
- Nếu không có bằng chứng sẵn có (có thể chấp nhận): Các giá trị đầu vào mặc định, thường được
phân biệt, ví dụ như theo công năng của loại tòa nhà hoặc hệ thống và năm xây dựng hoặc lắp đặt,
bao gồm đôi khi cây ra quyết định phức hợp (lựa chọn câu lệnh điều kiện: Nếu-thì-khác) và có thể bao
gồm các tính toán trước liên quan đến dữ liệu hỗ trợ (dữ liệu hình học, các điều kiện,...).
- Cây ra quyết định và các giá trị cho các loại kế tiếp của năm thường tính đến truyền thống xây dựng,
lịch sử của các quy định xây dựng và tình trạng triển khai công nghệ mới.
Bản đánh giá này thường liên quan đến bối cảnh quốc gia (đôi khi là khu vực, có thể cụ thể đối với
một số lĩnh vực nhất định); Đến thời gian đánh giá có thể chấp nhận được, tác động đến hiệu quả
năng lượng tổng thể (khí hậu, chất lượng năng lượng) và cơ sở hạ tầng chứng nhận hiệu quả năng
lượng, bao gồm trình độ chuyên môn của người đánh giá và kiểm soát chất lượng.
CHÚ THÍCH: Nếu tài liệu tham chiếu không đề ngày tháng, thì bảng dữ liệu quốc gia theo mẫu của
Phụ lục A không phải điều chỉnh mỗi khi nội dung của các quy trình quốc gia (bản đánh giá) đánh giá
dữ liệu đầu vào được sửa đổi.
A.2 Bản tham chiếu
Điều con này trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) là điều con cho tất cả các tiêu chuẩn chuẩn hiệu
quả năng lượng của tòa nhà.
Nếu TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) được thông qua (ví dụ: Trong các quy định quốc gia), thì tất cả các
tài liệu viện dẫn quy định (trong Điều 2) cho các tiêu chuẩn khác được thông qua, bao gồm cả (các
phần được tham chiếu của) các tiêu chuẩn không hoặc vẫn chưa được công bố hoặc chưa có bảng
số liệu quốc gia. Đôi khi điều này gây ra một chút khó khăn.
Để giải quyết khó khăn này, các tham chiếu đến tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà được
đặt trong bảng dữ liệu đầu vào và lựa chọn phương pháp. Trong Phụ lục A quy định, bản mẫu cho
các tham chiếu quy định đối với các tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác được đưa ra (Bảng A.1), và
các tham chiếu mặc định (trong trường hợp: Tiêu chuẩn chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà)
được cung cấp trong Phụ lục B tham khảo (Bảng B.1) theo bản mẫu trong Phụ lục A.
Các lựa chọn mặc định tham khảo này có thể được thay thế bằng bảng dữ liệu quốc gia theo bản
mẫu trong Phụ lục A, thay thế các tham chiếu trong Phụ lục B. Bảng dữ liệu quốc gia này có thể thay
thế các lựa chọn mặc định bằng các tham chiếu đến các tiêu chuẩn quốc gia, phù hợp với bộ tiêu
chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà, hoặc bảng hoặc với các lựa chọn thay thế khác. Tuy nhiên:
Điều này chỉ có thể được thực hiện nếu đầu vào - đầu ra phù hợp.
A.3 Bước chuẩn bị tổng thể
Các ký hiệu định danh rất quan trọng: Xác định đối tượng, ứng dụng, loại tòa nhà (và/hoặc không
gian), v.v... được chuyển tải đến một số tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng khác.
Xem thảo luận trong Điều 3 về chủ đề các hạng loại tòa nhà và không gian.
Xem ví dụ trong 6.2.2.
A.4 Phương pháp
Trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục A, các số của điều phía sau tiêu đề bảng đề
cập đến (các) điều trong đó có nêu các bảng. Trong các điều tương ứng của tiêu chuẩn này có thể tìm
được thông tin bổ sung. Thông tin bổ sung về số liệu cho kích thước tòa nhà có thể tìm trong TCVN
13470-1:2022 (ISO 52003-1)[8].
Phụ lục B
(Tham khảo)
Bảng dữ liệu đầu vào và lựa chọn phương pháp - Lựa chọn mặc định
B.1 Tổng quát
Trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1), điều con này là điều con chung cho tất cả các tiêu chuẩn hiệu
quả năng lượng của tòa nhà.
Tiêu chuẩn này này cung cấp thêm thông tin và giải thích về khái niệm của Phụ lục A và Phụ lục B.
Xem thêm phần giới thiệu về khái niệm của Phụ lục A và Phụ lục B được nêu trong A.1.
Phụ lục B cung cấp một tập hợp đầy đủ các lựa chọn tự nguyện (“tham khảo”) cho tất cả các lựa
chọn, điều kiện biên và dữ liệu đầu vào. Đây được gọi là tập hợp các lựa chọn mặc định.
Các lựa chọn và giá trị này có trạng thái “các chuyên gia phỏng đoán tốt nhất" và không dựa trên các
nghiên cứu sâu rộng liên quan đến các ưu tiên và hạn chế của quốc gia 5).
Bằng cách sử dụng Phụ lục B, quy trình tính toán hiệu quả năng lượng tổng thể có thể thực hiện
được một cách đầy đủ. Tập hợp này có thể được bất kỳ quốc gia hoặc khu vực riêng lẻ nào áp dụng
làm tập hợp lựa chọn quốc gia hoặc khu vực của mình.
Tập hợp này cũng nhằm mục đích thúc đẩy sự hài hòa hơn nữa. Việc sử dụng các tiêu chuẩn với một
tập hợp các lựa chọn chung, dữ liệu đầu vào và các tham chiếu đến các tiêu chuẩn hiệu quả năng
lượng khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh các phương pháp hay nhất bằng cách thiết lập
một số liệu chung.
Để cung cấp tính linh hoạt trong việc áp dụng bộ tiêu chuẩn EPB, các lựa chọn được xác định rõ ràng
và cần có dữ liệu quốc gia do sự khác biệt về khí hậu, văn hóa và cách thức xây dựng, kiểu mẫu tòa
nhà, khuôn khổ chính sách và pháp luật (bao gồm loại hình và mức độ kiểm soát chất lượng và thực
thi). Ví dụ, dữ liệu khí hậu dự kiến sẽ được xác định ở cấp quốc gia và/hoặc khu vực trong bảng dữ
liệu đầu vào quốc gia.
Bổ sung cho các quy trình đánh giá trong bộ tiêu chuẩn EPB, cần có các quy trình đánh giá (quốc gia)
đưa ra hướng dẫn thực tế cho người đánh giá trong trường hợp thu thập dữ liệu đầu vào từ tòa nhà
khi đang xây dựng: hoặc đang trong giai đoạn sử dụng. Quy trình đánh giá (thường là bắt buộc) như
vậy đưa ra hướng dẫn (cho mỗi thành phần và mỗi loại và tuổi thọ của công trình xây dựng) về:
- Những loại bằng chứng nào được chấp nhận (kiểm tra trực quan ?, bản vẽ thiết kế ?, quy định kỹ
thuật chi tiết ?, hóa đơn quy định ?, công bố chất lượng được chứng nhận ?).
- Nếu không có bằng chứng (có thể chấp nhận): Các giá trị đầu vào mặc định, thường được phân
biệt, ví dụ như một công năng của loại tòa nhà hoặc hệ thống và năm xây dựng hoặc lắp đặt, bao
gồm đôi khi cây ra quyết định phức hợp (lựa chọn có điều kiện: Nếu-thì-khác).
- Cây ra quyết định và các giá trị cho các loại kế tiếp của năm thường tính đến truyền thống xây dựng,
lịch sử của các quy định xây dựng và tình trạng triển khai công nghệ mới.
Điều này lại liên quan trực tiếp đến bối cảnh quy định: Thời gian đánh giá có thể chấp nhận được, tác
động đến hiệu quả năng lượng tổng thể (khí hậu, chất lượng năng lượng) và đến cơ sở hạ tầng
chứng nhận hiệu quả năng lượng, bao gồm trình độ chuyên môn của người đánh giá và kiểm soát
chất lượng.
CHÚ THÍCH 1: Xem thêm giải thích trong 3.7, về quy định kỹ thuật quốc gia của một số thuật ngữ
được định nghĩa hoặc chưa được định nghĩa.
Điều này được minh họa trong Hình B.1.
Hình B1 - Minh họa mối liên kết giữa bộ tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà và bối
cảnh quốc gia
Nội dung của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục B bao quát hết các tùy chọn mặc định
cho các quy trình được cung cấp trong tiêu chuẩn đó.
B.2 Bản tham chiếu
Các tham chiếu, được xác định bằng mã số mô-đun, được nêu trong Bảng B.1 của TCVN 13469-
1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Các tham chiếu trong Bảng B.1 đại diện cho bộ tiêu chuẩn EPB hoàn chỉnh. Không phải tất cả chúng
đều được tham chiếu trong tiêu chuẩn EPB tổng thể, nhưng đây là một cách nhìn tổng quan hữu ích
và đại diện cho bộ tiêu chuẩn EPB đầy đủ tại thời điểm xuất bản. Theo thời gian, các tiêu chuẩn EPB
bổ sung có thể được công bố hoặc các tiêu chuẩn hiện tại bị hủy bỏ.
Mỗi mô-đun có thể thay thế tiêu chuẩn EPB bằng tiêu chuẩn quốc gia hoặc thậm chí là một bảng với
các giá trị đầu vào và đầu ra cố định, miễn là tất cả dữ liệu đầu vào và đầu ra từ tiêu chuẩn được thay
thế đều có sẵn. Dữ liệu đầu vào và đầu ra có thể được tìm thấy trong Điều 6 của mỗi tiêu chuẩn EPB.
Để biết thêm thông tin, xem A.2.
Bảng B.1 cho thấy cấu trúc mô-đun chi tiết với các số của tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của ISO và
Châu Âu.
Bảng B.1 -Vị trí của các tiêu chuẩn hiệu quả năng
lượng của tòa nhà (EPB) trong cấu
trúc mô-đun tiêu chuẩn hiệu quả năng lượng của tòa nhà
Tổng thể Tòa nhà Các hệ thống kỹ thuật của tòa nhà
Mô tả Tiêu Mô tả Tiêu Mô tả Sưởi ấm Làm Thông Gia ẩm Khử Cấp Chiếu Kiểm Điện
chuẩn chuẩn mát gió ẩm nước sáng soát và
tham tham tự động
chiếu chiếu hóa tòa
nhà
Mô- M1 Mô- M2 Mô- M3 M4 M5 M6 M7 M8 M9 M10 M11
đun đun đun
phụ phụ phụ
1 1 1
1 Tổng TCVN Tổng 1 Tổng EN EN EN
quát 13469-1 quát quát 16798-9 EN 16798-3 16798-3
(ISO
52000- CEN/TR 16798-3 (EN (EN EN
1) 16798- (EN 13779 13779 EN 15232-1
EN 10 EN
15316- 1 13779 rev.) rev.) 15316-
15193-1
TCVN rev.) 1 CEN/TR
13469-2 CEN/ CEN/ 15232-2
(ISO/TR CEN/ TR TR
52000- TR 16798-4 16798-4
2) 16798-4
2 Thuật TCVN Nhu ISO 2 Nhu EN EN15193
ngữ 13469-1 cầu 52016- cầu 12831--1
và (ISO năng 1, ISO 3
định 52000- lượng 52017-
nghĩa 1) tòa nhà 1
chung; ISO/T
ký TCVN R
hiệu, 13469-2 52016-
đơn vị (ISO/TR 2
và chỉ 52000-
số 2)
Phụ lục C
(Tham khảo)
Chỉ số dưới chung
C.1 Tổng quát
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục C chủ yếu nhắm đến người biên soạn tiêu chuẩn
EPB nêu rõ các quy tắc cần được tuân theo khi đặt tên cho các đại lượng.
Các tiêu chuẩn EPB liên quan đến một số lượng rất lớn các đại lượng và các ký hiệu liên quan. TCVN
13469-1 (ISO 52000-1) kết hợp một tập hợp các ký hiệu và chỉ số dưới chung.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Phụ lục C bao gồm các quy tắc để tạo lập tất cả các chỉ số
dưới cần thiết để xác định các hạng mục năng lượng trong một tòa nhà và các hệ thống kỹ thuật của
tòa nhà. Điều này bao gồm:
- Định nghĩa về các cấp độ của chỉ số dưới và các quy tắc để kết hợp;
- Một bảng các chỉ số cơ bản;
- Các cấp độ khác của chỉ số dưới; và
- Các chỉ số dưới thông thường khác.
Điều quan trọng là phải xem xét năng lượng sơ cấp tái tạo/không tái tạo và năng lượng được cấp đến
/ xuất đi một cách có hệ thống khi tính toán hiệu quả năng lượng và các chỉ số bổ sung khác của các
tòa nhà. Sự phân biệt được thực hiện giữa các đại lượng năng lượng bên trong và bên ngoài ranh
giới đánh giá.
Các quy tắc soạn thảo chung các tiêu chuẩn nêu rõ rằng cần phải tránh các ký hiệu có nhiều hơn một
cấp độ của chỉ số dưới hoặc chỉ số trên “càng nhiều càng tốt, (xem Ví dụ 1)”. Tình huống này cũng
khó tránh được trong bộ tiêu chuẩn EPB. Có hàng trăm đại lượng năng lượng và đại lượng nhiệt độ
cần được đặt tên bằng một ký hiệu duy nhất. Do đó, một cấu trúc hợp lý và nhất quán cho các chỉ số
dưới được xác định như sau.
Các ký tự sau được sử dụng trong các tiêu chuẩn EPB để phân tách các chỉ số dưới và xác định các
chỉ số đang chạy, ví dụ: Các chỉ số dưới đang xác định một phần tử trong dãy các ký hiệu:
- Dấu phân tách thông thường giữa các cấp độ của chỉ số phụ là dấu chấm phẩy “;”
- Dấu phân tách trước chỉ số cho một dãy các ký hiệu là dấu phẩy “,”
VÍ DỤ để chỉ đầu vào cho bộ sản xuất nhiệt: QH;gen;in;
VÍ DỤ để chỉ đầu vào cho bộ sản xuất nhiệt thứ i: QH;gen,i;in
Các chữ cái "i ", “j “ and "k" được sử dụng để mô tả các chỉ số trong dãy ký hiệu.
C.2 Chỉ số dưới chung
C.2.1 Thứ tự của các chỉ số
Yêu cầu chung là phải có các chỉ số dưới theo thứ tự (cấp độ) từ tổng quát nhất đến chi tiết nhất.
Thứ tự của các chỉ số dưới được chỉ ra trong các tiêu đề cột của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-
1:2017), từ Bảng C.1 đến C.5.
C.2.2 Quy tắc bỏ qua một cấp độ nếu không áp dụng
Các chỉ số dưới cấp cao hơn có thể bị bỏ qua trong các ký hiệu chỉ được sử dụng trong tiêu chuẩn
đó, ví dụ: Không được sử dụng hoặc được tham chiếu trong các tiêu chuẩn khác của bộ tiêu chuẩn
EPB.
VÍ DỤ: Hệ số tổn thất nhiệt tuyến tính của đường ống thuộc hệ thống phân phối nhiệt có thể có ký
hiệu (bỏ qua tất cả các cấp độ) thay vì .
Tham chiếu điển hình đối với mục đích tính toán. Các đại lượng cũng có thể được tham chiếu cho
mục đích báo cáo. Do đó không nên bỏ qua các cấp độ chỉ số dưới đối với các đại lượng có khả năng
được hiển thị trong báo cáo để tránh các ký hiệu trùng lặp.
VÍ DỤ: Hệ số phụ tải có thể được tham chiếu cho mục đích báo cáo hoặc để lấy giá trị gần đúng trong
một hệ thống con khác.
Xem thêm C.2.4.
C.2.3 Quy tắc bỏ qua một cấp độ nếu có ý nghĩa rõ ràng trong bối cảnh
Các cấp độ chỉ có thể được bỏ qua nếu đại lượng đó không được sử dụng hoặc được tham chiếu
trong các tiêu chuẩn khác của bộ tiêu chuẩn EPB.
Xem thêm C.2.4.
C.2.4 Đại lượng nội tại
Quy tắc này yêu cầu một tiền tố chung cho tất cả các đại lượng nội tại. Quy tắc này không phải lúc
nào cũng được tuân thủ. Ưu điểm của việc tuân thủ quy tắc này là tránh sự trùng lặp bất kỳ có thể xảy
ra đối với các ký hiệu.
Bất lợi của việc tuân thủ quy tắc này là các ký hiệu sẽ dài hơn.
Rủi ro khi bỏ qua quy tắc này là các ký hiệu sẽ trùng lặp nếu đại lượng nội tại bất kỳ được tham chiếu
trong một tiêu chuẩn khác của bộ tiêu chuẩn EPB.
C.2.5 Đại lượng chung
Các đại lượng chung tuân theo quy tắc chung để tạo lập chỉ số dưới, không có ngoại lệ.
C.2.6 Thuật ngữ cho các chỉ số dưới
C.2.6.1 Tổng quát
Tiêu chuẩn EPB tổng thể xác định các chỉ số dưới chung cho bốn phép tính chủ yếu và miền ký hiệu:
- Tòa nhà cần có sự cân bằng, trong đó chỉ số phụ đầu tiên là dịch vụ (H, C, W, ...) và sau đó chỉ định
mục cân bằng. Xem Bảng C.1 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1: 2017);
- Hệ thống kỹ thuật, trong đó chỉ số dưới đầu tiên là dịch vụ (H, C, W,...) và các cấp độ tiếp theo là hệ
thống con, hạng mục cân bằng trong hệ thống con và các thông số kỹ thuật khác. Xem Bảng C.2 của
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1: 2017);
- Tương tác qua ranh giới đánh giá, năng lượng không theo trọng số. Xem Bảng C.3 của TCVN
13469-1:2022 (ISO 52000-1: 2017);
- Tương tác qua ranh giới đánh giá, năng lượng theo trọng số. Xem Bảng C.4 của TCVN 13469-
1:2022 (ISO 52000-1:2017).
C.2.6.2 Chỉ số dưới cho phạm vi tòa nhà
Chỉ số dưới đầu tiên (H, C hoặc W) thường chỉ phù hợp nếu chỉ số dưới thứ hai là "cần thiết". Tuy
nhiên, có thể phù hợp để phân biệt rõ ràng giữa ví dụ: Truyền nhiệt do thông gió ở chế độ sưởi ấm và
ở chế độ làm mát.
VÍ DỤ: Thông thường là Qve nhưng ngoại lệ là QC;ve.
Chỉ số B (đối với tòa nhà) có thể được sử dụng để phân biệt giữa các đại lượng cho toàn bộ tòa nhà
và đại lượng cho một vùng điều hòa. Trong trường hợp tổng quát, chỉ số dưới B là không cần thiết.
Nhu cầu chỉ được xác định cho năng lượng nhiệt (sưởi ấm, làm mát, cấp nước nóng sinh hoạt),
nhưng không xác định cho thông gió và chiếu sáng.
VÍ DỤ:
Nhu cầu năng lượng cho sưởi ấm: QH;nd
Truyền nhiệt do dẫn nhiệt và thông gió: Qht
Truyền nhiệt do dẫn nhiệt: Qtr
Truyền nhiệt thông gió: Qve
Tổng năng lượng nhiệt thu nhận được có thể được sử dụng hoặc không sử dụng. Điều này có thể
được chỉ định ở cấp độ thứ ba.
VÍ DỤ:
Năng lượng nhiệt thu nhận được sử dụng: Qgn;ut
Năng lượng nhiệt thu nhận không được sử dụng trong vùng 1: Qgn;nut;z1
C.2.6.3 Chỉ số dưới dùng cho phạm vi hệ thống kỹ thuật tòa nhà
Đối với mỗi hệ thống con, chỉ số dưới là cần thiết cho đầu vào, đầu ra, tổn thất và năng lượng phụ trợ.
Các ký hiệu phụ "hum” và “dhum” ở cấp độ 2 (chữ thường) đại diện cho hệ thống con gia ẩm và hút
ẩm, không phải cho dịch vụ gia ẩm và hút ẩm (viết hoa HU và DHU ở cấp độ 1).
Khi có một số hệ thống con cùng loại, điều này được biểu thị bằng một chỉ số bổ sung vào chỉ số
dưới. Các chỉ số dưới ở cấp độ đầu tiên được kết hợp khi có hệ thống sản xuất hoặc hệ thống phân
phối hoặc hệ thống phát xạ nhiệt, phổ biến cho các mục đích sử dụng khác nhau.
VÍ DỤ:
Kết quả đầu ra của máy phát nhiệt cho sưởi ấm (H) và nước nóng sinh hoạt (W) QHW;hen;out
Đầu vào chính của máy phát không phải là nhiệt (Q) mà là chất mang năng lượng như:
- Dầu, khí đốt, v.v. cho nồi hơi;
- Điện cho bơm nhiệt.
Do đó, ký hiệu cho đầu vào của máy phát là E chứ không phải Q. Xem thêm 4.1.
Đối với tổn thất hệ thống nhiệt, chỉ số dưới "sys" đề cập đến toàn bộ hệ thống cho mục đích sử dụng
được chỉ định, "gen", "dis", v.v... đề cập đến hệ thống sản xuất, hệ thống phân phối, v.v., cho các mục
đích sử dụng được chỉ định.
VÍ DỤ:
Năng lượng đầu vào cho máy phát nhiệt: EH;gen;in
Năng lượng đầu vào cho máy phát nhiệt gen1 (một phần của năng lượng sử dụng để sưởi ấm):
EH;gen,1;in
Sử dụng năng lượng phụ trợ cho toàn bộ hệ thống sưởi: WH;sys;aux
Nhiệt đầu ra để sưởi ấm của máy phát nhiệt: QH;hen;out
Năng lượng đầu vào cho một máy phát điện chung để cấp nhiệt và nước nóng sinh hoạt: EHW;gen;in
Nhiệt đầu vào cho hệ thống con phân phối chung 1 để sưởi ấm và nước nóng sinh hoạt: QHW;dis,1;in
Một phần tổn thất nhiệt có thể thu hồi của toàn bộ hệ thống sưởi: QH;sys,ls,rbl
Nhiệt đầu ra của hệ thống con phân phối 1 cho sưởi ấm: QH;dis,1;out
Nhiệt đầu ra của máy nước nóng năng lượng mặt trời nếu có năng lượng tái tạo: QW;sol;out
Nhiệt đầu vào cho hệ thống con phân phối nước nóng sinh hoạt: QW;dis;in
Năng lượng (điện) đầu vào cho toàn bộ hệ thống chiếu sáng: EL;sys
Năng lượng (điện) đầu vào cho hệ thống thông gió: EV
C.2.6.4 Tương tác qua ranh giới đánh giá
C.[Link] Năng lượng không theo trọng số
Các chỉ số này được nêu trong Bảng C.3 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Cấp độ đầu tiên cho biết nếu năng lượng được phân phối, xuất đi, sản xuất và/hoặc sử dụng, cấp độ
thứ hai cho biết loại chất mang năng lượng.
Cấp độ 3 được sử dụng cho các cấp độ cao hơn của dòng năng lượng tùy theo hoàn cảnh như:
- Dịch vụ liên quan,
- Nguồn gốc của chất mang năng lượng,
- Hạng mục cân bằng.
Chỉ số dưới "cr" được sử dụng trong phép lấy tổng số để chỉ chất mang năng lượng tổng quát.
VÍ DỤ:
Khí đốt cấp đến cho sưởi ấm và nước nóng sinh hoạt Edel;gas;HW
Điện sản xuất tại chỗ Epr;el;onst
C.[Link] Năng lượng theo trọng số
Các chỉ số này được nêu trong Bảng C.4 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Chỉ số dưới cấp độ đầu tiên cho biết loại trọng số.
Chỉ số dưới phụ " we " được sử dụng để chỉ ra tiêu chí trọng số tổng quát. Bất kỳ công thức nào trong
đó có “we” đều có thể được hiểu là công thức giữ nguyên khi “we” được thay thế bằng bất kỳ chỉ số
dưới nào khác cho một tiêu chí trọng số xác định, trừ khi có quy định khác.
Năng lượng tái tạo, không tái tạo và tổng năng lượng sơ cấp là ba tiêu chí trọng số độc lập.
Cấp độ thứ hai có thể là một trong những cấp độ sau:
- Quy định kỹ thuật của dòng năng lượng liên quan không theo trọng số, được thực hiện theo các quy
tắc nêu trong Bảng C.3 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) bao gồm các cấp độ phụ khác;
- Quy định kỹ thuật của điểm xuất phát hoặc điểm đến của dòng năng lượng theo trọng số;
- Quy định kỹ thuật của dịch vụ liên quan.
Cấp độ thứ hai được bỏ qua khi kết quả của sự cân bằng được báo cáo.
CHÚ THÍCH: EP là năng lượng sơ cấp, được biểu thị bằng (kW·h) (đặc tính mở rộng) trong khi EP là
chỉ số hiệu quả năng lượng được biểu thị bằng (kw·h)/m2 hoặc tương tự (đặc tính chuyên sâu).
VÍ DỤ:
Tổng năng lượng sơ cấp của khí đốt được cấp đến cho sưởi ấm và nước nóng sinh hoạt EPtot;del;gas;HW
Phát thải CO2 đối với sưởi ấm ECO2;H
Nguồn điện sơ cấp tái tạo được cấp đến từ khu vực gần đó Epren;del;el;nrby
Năng lượng không tái tạo từ gỗ EPnren;del;wd
C.2.6.5 Các cấp độ chỉ số dưới tiếp theo
Đây là các chỉ số dưới bổ sung có thể được ghép vào một chỉ số dưới ở bất kỳ cấp độ nào, tùy thuộc
vào nhu cầu xác định các giá trị cho một hoàn cảnh cụ thể.
Có thể có các chỉ số đề cập đến phân vùng cụ thể, chẳng hạn như “hz” cho vùng sưởi hoặc “vz” cho
vùng thông gió. Riêng chữ “z” chỉ nên được sử dụng cho các vùng nhiệt.
C.2.6.6 Chỉ số dưới chung khác
Đây là các chỉ số dưới khác nhau thường được sử dụng và do đó đồng nhất trong toàn bộ tiêu chuẩn
EPB được chỉ ra trong điều này. Bởi vì các chỉ số này không được liên kết với một số cấu trúc chỉ số
dưới đã xác định trước đó.
C.2.6.7 Ví dụ sử dụng các chỉ số dưới
Hình C.1 là một ví dụ về việc sử dụng các chỉ số dưới để đặt tên cho các đại lượng trong một hệ
thống kỹ thuật phức tạp.
CHÚ DẪN:
CHP Đồng phát nhiệt và điện AB Ranh giới đánh giá
TS Nhiệt mặt trời ND Nhu cầu
PV Điện mặt trời U-DEL Năng lượng cấp đến không theo trọng
số
BLR-G Nồi hơi chạy bằng khí tự nhiên W-DEL Năng lượng cấp đến theo trọng số
BLR_O Nồi hơi chạy bằng dầu EP Chỉ số hiệu quả năng lượng
Hình C.1 - Ví dụ về sử dụng ký hiệu và chỉ số dưới
C.3 Ký hiệu định danh trường hợp
Ký hiệu định danh trường hợp (và đặc tính) là một loại ký hiệu xử lý các tùy chọn ở dạng phù hợp
dùng cho phần mềm.
Các quy tắc chi tiết được nêu trong CEN/TS 16629 [14].
"Ký hiệu định danh trường hợp" đưa ra một giá trị có thể có của một đặc tính định tính được chỉ ra bởi
"ký hiệu định danh đặc tính".
Có hai cách sử dụng chính của ký hiệu định danh trường hợp và đặc tính:
- Chỉ định một giá trị trong một tập hợp xác định, tùy thuộc vào đặc tính định tính;
- Xác định một tùy chọn ảnh hưởng đến quy trình tính toán.
Trong phần mềm triển khai quy trình sẽ tương ứng với:
- Chọn một giá trị từ danh mục;
- Điều kiện cho cấu trúc lập trình, như điều kiện và vòng lặp (IF... THEN... ELSE, LOOP...UNTIL,
v.v...).
Mã ghi nhớ cần phải là "tự giao tiếp bằng tiếng Anh".
Một ví dụ về việc sử dụng các ký hiệu định danh, một mô-đun tính toán có thể đòi hỏi mức nội địa hóa
của một hạng mục thiết bị để quyết định nhiệt độ môi trường xung quanh sẽ sử dụng để tính toán tổn
thất nhiệt và quyết định xem chúng có được thu hồi hay không.
Nếu hạng mục thiết bị là nồi hơi, mã phù hợp có thể là BLR. Mã bổ sung cho việc nội địa hóa có thể là
LOC, vì vậy mã định danh đặc tính cho việc nội địa hóa nồi hơi là: BLR_LOC.
Sau đó, nồi hơi có thể được lắp đặt bên ngoài, trong không gian được sưởi ấm, trong không gian
không được sưởi ấm, v.v... Cần phải thiết lập một mã cho từng trường hợp của đặc tính. Vì “int" và
“ext” đã được định nghĩa là chỉ số dưới, nên các chữ cái giống nhau sẽ được sử dụng cho mã ghi nhớ
của hai trường hợp này. Ví dụ về các ký hiệu định danh trường hợp có thể có được đưa ra trong
Bảng C.1:
Bảng C.1 - Ví dụ ký hiệu định danh cho việc nội địa hóa nồi hơi
Mã Ý nghĩa
BLR_LOC_INT Không gian sưởi ấm
BLR_LOC_EXT Bên ngoài (ngoài nhà)
BLR_LOC_UNH Không gian không sưởi ấm
BLR_LOC_BLR Phòng nồi hơi
Sử dụng loại nhận dạng này bất cứ khi nào có các lựa chọn hoặc các giải pháp thay thế tính toán giúp
minh bạch và cho phép tránh được sự lỏng lẻo trong quy trình.
C.4 Thuật ngữ viết tắt và mã được sử dụng với phần mềm
Các chữ viết tắt và mã này được xác định để tạo cơ sở đầu tiên cho việc tiêu chuẩn hóa việc đặt tên
các đại lượng trong phần mềm ứng dụng.
VÍ DỤ: Đặt tên các đại lượng trong tệp XML.
Phụ lục D
(Tham khảo)
Tính toán hiệu quả năng lượng đo lường
D.1 Tổng quát
Không cần thông tin bổ sung.
D.2 Tòa nhà chỉ có năng lượng được cấp đến
Đây sẽ là ứng dụng phổ biến nhất.
D.3 Tòa nhà có năng lượng xuất đi
Không cần thông tin bổ sung.
Phụ lục E
(Tham khảo)
Phương pháp tính toán các chỉ số hiệu quả năng lượng cho mỗi phần của một tòa nhà và/hoặc
dịch vụ
E.1 Tổng quát
Phụ lục E được tham chiếu trong 7.1, 7.4, 9.5.1, 9.9 và 11.2 của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-
1:2017).
Có thể yêu cầu một chỉ số riêng biệt cho mỗi phần của tòa nhà hoặc mỗi dịch vụ vì những lý do sau:
- Bố cục của giấy chứng nhận năng lượng thường bao gồm nhu cầu năng lượng, năng lượng sơ cấp
và lượng khí thải CO2 cho mỗi dịch vụ;
- Bố cục của giấy chứng nhận đôi khi bao gồm các chất mang năng lượng cho mỗi dịch vụ;
- Khi thực hiện phân bổ chi phí nhiệt hoặc đo đếm riêng lẻ, thông tin liên quan cho người sử dụng là
hiệu quả năng lượng của đơn nguyên tòa nhà, có thể khác biệt nhiều so với thông tin của toàn bộ tòa
nhà.
Các yêu cầu về hiệu quả năng lượng thường chỉ được quy định cho một dịch vụ (thường là sưởi ấm,
làm mát). Việc phân bổ hiệu quả năng lượng tổng thể cho các dịch vụ riêng lẻ và/hoặc cho các bộ
phận của tòa nhà có thể được thực hiện bằng toán học theo hai cách khác nhau để cung cấp cùng
một kết quả:
- Chỉ thực hiện một phép tính nhưng giữ một bản tính toán riêng về năng lượng liên quan đến từng
dịch vụ của tòa nhà hoặc vùng tòa nhà hoặc “hạng mục sử dụng” bắt nguồn từ việc tính toán; phương
pháp này được gọi là “tính đếm thông thường”.
- Thực hiện phép tính theo hai bước, phương pháp này được gọi là “phép tính ngược”:
Bước thứ nhất bắt đầu từ nhu cầu cho đến sử dụng để có được hiệu quả tổng thể (đây là quy trình
tính toán EP thông thường);
Bước thứ hai bắt đầu từ việc sử dụng tính ngược đến nhu cầu, ví dụ: Phân bổ hiệu quả tổng thể cho
các nhánh của hệ thống kỹ thuật cho đến khi đạt được các mục đích sử dụng.
Hai phương pháp cho kết quả giống nhau, miễn là áp dụng đúng các nguyên tắc chung.
- Việc tính toán thông thường đòi hỏi nhiều biến số hơn vì phải tính toán riêng cho từng hạng mục sử
dụng riêng lẻ.
- Việc tính toán ngược lại đòi hỏi nhiều tính toán hơn nhưng sử dụng ít biến hơn vì năng lượng yêu
cầu của các dịch vụ từng phần được tổng hợp lại và sau đó được phân tách.
Việc lựa chọn một trong hai phương pháp chỉ là câu trả lời về một câu hỏi liên quan đến nguồn lực
tính toán sẵn có.
E.2 Phương pháp tính thông thường
E.2.1 Nguyên tắc
Nguyên tắc của phương pháp tính thông thường được minh họa trong Hình E.1. Các mũi tên chỉ ra
hướng của quá trình tính toán chứ không phải là hướng dòng năng lượng.
CHÚ DẪN:
SP X Không gian X
CR X Chu trình X
DIS X Bộ thu phân phối (Điểm nút) X
GEN X Máy phát X
Hình E.1 - Nguyên tắc của phương pháp tính thông thường
Tại bước tính toán bất kỳ, dòng năng lượng được chia thành các thành phần liên quan đến các bộ
phận được kết nối: Đầu ra của máy phát A1 đi đến bộ thu phân phối được chia thành các thành phần
liên quan đến các không gian được kết nối, trong trường hợp này là không gian từ 1 đến 3 (không
gian 4 không kết nối với máy phát A1 và A2).
E.2.2 Chú giải
Việc lập chỉ số cho các hạng mục sử dụng này phải là duy nhất nếu không sẽ không dễ dàng để xử lý
một số dịch vụ. Về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa các hạng mục sử dụng liên quan đến các
dịch vụ khác nhau. Một hạng mục sử dụng cũng có thể là toàn bộ dịch vụ.
Các hạng mục sử dụng được kết nối với nhau, theo nhóm thuộc hệ thống con phát xạ nhiệt (sưởi
ấm/làm mát), Khi đó, nhiều hệ thống con phát xạ nhiệt (sưởi ấm/làm mát) có thể được kết nối với một
mạng phân phối. Sau đó, một số mạng phân phối có thể được kết nối với nhau và với một số máy sản
xuất nhiệt tạo thành một sơ đồ hình cây phân phối trong đó:
- Lá của sơ đồ hình cây biểu thị các hạng mục sử dụng;
- Các nhánh cây là các hệ thống con;
- Các điểm nút là sự kết nối giữa các hệ thống con.
Cấu trúc hình cây sử dụng trong ví dụ được trình bày trong Hình E.2.
CHÚ DẪN:
IX Hạng mục sử dụng X GEN X Máy phát X
EM Hệ thống kiểm soát và phát xạ nhiệt GAS Chất mang năng lượng ở dạng khí đốt
AS Chất mang năng lượng: Khí đốt
NOD Điểm nút kết nối PV Chất mang năng lượng: Điện mặt trời
DIS X Mạng phân phối X GRID Chất mang năng lượng: Điện lưới
Hình E.2 - Mẫu hệ thống kỹ thuật hỗn hợp
Cần lưu ý:
- Ghi chỉ số của các hạng mục sử dụng là 1... 8;
- Có ba hệ thống phát xạ nhiệt và hệ thống kiểm soát, mỗi hệ thống được kết nối với 2... 3 hạng mục
sử dụng:
- Có hai hệ thống con phân phối, một hệ thống con dành riêng cho một hệ thống con phát xạ nhiệt; Cả
hai hệ thống phân phối được kết nối với hai máy phát điện.
Ví dụ được trình bày trong K.4 có cấu trúc tương tự như trong Hình E.2.
E.2.3 Bắt đầu tính toán
E.2.3.1 Tổng quát
Cách tiếp cận tổng quát bắt đầu từ nhu cầu năng lượng sử dụng cho các dịch vụ như sưởi ấm, làm
mát và nước nóng sinh hoạt, trong đó nhu cầu là năng lượng.
Nhu cầu năng lượng riêng lẻ chỉ được sử dụng để phân bổ năng lượng. Đối với các dịch vụ khác,
năng lượng đầu vào cho các hệ thống con được phân bổ theo các đặc tính khác cho biết tỉ trọng của
các dịch vụ bằng cách coi tất cả như một hệ thống con duy nhất.
VÍ DỤ: Đối với thông gió, đặc tính xác định tỷ trọng của phần dịch vụ là lưu lượng không khí được cấp
cho mỗi thể tích được coi là một hạng mục sử dụng riêng biệt. Do đó, điện cấp cho quạt gió, năng
lượng phụ trợ và năng lượng cần thiết cho dàn ống xoắn trao đổi nhiệt hoặc hệ thống điều hòa bất kỳ
của hệ thống thông gió có thể được phân bổ tỷ lệ với lưu lượng không khí cấp cho các hạng mục liên
quan đến thông gió.
E.2.3.2 Trọng số phân bổ mặc định
Các giá trị về nhu cầu của các hạng mục sử dụng riêng được dùng để phân bổ tổng năng lượng nhiệt
và năng lượng phụ trợ của hệ thống con. Tổng các hạng mục sử dụng có thể bằng 0 trong một số
khoảng tính toán nhưng vẫn có thể có năng lượng phụ trợ cần được phân bổ. Điều này có thể xảy ra
trong trường hợp hoạt động dự phòng nếu các hệ thống phụ trợ vẫn hoạt động hoặc chu trình tuần
hoán vẫn vận hành trong mạng lưới phân phối ngay cả khi đóng ngắt các thiết bị bức xạ nhiệt.
Để tránh việc chia cho 0, trọng số mặc định Xdef;i phải được xác định cho từng hạng mục sử dụng
được dùng để thay thế QX;nd;i khi tổng của một nhóm các hạng mục sử dụng bằng 0.
Một giải pháp điển hình là có thể tham chiếu diện tích, thể tích hoặc lưu lượng không khí của các
hạng mục sử dụng, tùy thuộc vào loại dịch vụ.
Trọng số phân bổ mặc định không cần thiết phải nhất quán với nhu cầu thường xuyên. Chúng chỉ
được sử dụng để phân chia một khoản đóng góp chỉ khi tất cả các nhu cầu thường xuyên bằng 0 và
chỉ tỷ lệ giữa trọng số riêng lẻ với tổng trọng số (ví dụ: Một con số thuần túy) được sử dụng trong tính
toán.
E.2.4 Quy tắc hệ thống con
Đối với mỗi hệ thống con Y, hạn ngạch năng lượng nhiệt đầu ra cho mỗi hạng mục sử dụng
QX;Y;out,i là dữ liệu đã biết:
- Bởi vì là tổng của các hạng mục sử dụng được kết nối với nhau, cho một hệ thống con cấp nhiệt
(nóng /lạnh);
- Vì được tính toán bằng cách sử dụng quy tắc điểm nút cho các hệ thống con khác.
Đối với mỗi hệ thống con Y, tổng đầu vào QX;Y;in và tổng năng lượng phụ trợ WX;Y;aux cũng là dữ liệu đã
biết bởi việc tính toán thông thường cho hệ thống con Y.
Việc phân bổ năng lượng nhiệt đầu vào và năng lượng phụ trợ dựa trên đầu ra hoặc dựa trên các
thông số theo trọng số mặc định nếu tổng đầu ra bằng không. Công thức (E.6) và (E.7) là cần thiết để
tránh việc phải chia hết cho 0.
Phép chia cho 0 sẽ xảy ra nếu dịch vụ không được yêu cầu trong khoảng thời gian tính toán hiện tại.
Đây sẽ là trường hợp sưởi ấm vào mùa hè nhưng cũng xảy ra vào cuối tuần đối với văn phòng nếu
có tính đến lịch trình thời gian (ví dụ: Thời gian gián đoạn). Ngay cả khi không có yêu cầu vận hành
dịch vụ thì vẫn có thể có một số tổn thất dự phòng hoặc năng lượng phụ trợ được phân bổ cho các
hạng mục sử dụng chạy không tải. Do đó, một trọng số mặc định đã được đưa vào trong tính toán.
E.2.5 Quy tắc điểm nút
Công thức (E.8) thường đơn giản hóa khi:
- Chỉ có một hệ thống phụ cung cấp năng lượng (n = 1), đây là trường hợp phổ biến;
- Cả n và m đều bằng 1, đây là trường hợp của hệ thống không phân nhánh.
E.2.6 Hiệu quả năng lượng theo trọng số Bước A cho mỗi hạng mục sử dụng
Công thức (E.9) và (E.11) nêu một cách đơn giản là mỗi đầu vào máy phát cho mỗi hạng mục sử
dụng là một phần đóng góp vào năng lượng được cấp đến cho mỗi hạng mục sử dụng và tất cả các
khoản đóng góp năng lượng phụ trợ cho cùng một hạng mục sử dụng phải được cộng lại với nhau.
Đối với các chất mang năng lượng chỉ được dùng vào việc cung cấp đến, chỉ số trọng số fwe;cr,j là duy
nhất và là dữ liệu tính toán.
Lưu ý rằng giá trị của hiệu quả năng lượng đã được biết trước và Ewe;A cũng có thể được tính bằng
tổng của Ewe;A,i cho tất cả các hạng mục sử dụng.
E.2.7 Phân bổ chất mang năng lượng
Không cần thông tin bổ sung.
E.2.8 Dịch vụ khác
Không cần thông tin bổ sung.
E.3 Phương pháp tính toán ngược
E.3.1 Nguyên tắc
Phương pháp tính toán ngược cung cấp một cách khác để phân bổ hiệu quả năng lượng theo trọng
số cho phép phân bổ hiệu quả năng lượng theo trọng số bước A, sau đó hiệu quả năng lượng theo
trọng số cuối cùng thu được bằng cách sử dụng cùng một phương pháp như quy định trong E.2.7.
Nguyên tắc tính toán ngược được minh họa trong Hình E.3 và E.4. Các mũi tên chỉ ra hướng tính
toán không phải hướng dòng năng lượng.
CHÚ DẪN:
SPX Không gian X
Cr X Chu trình vòng X
DIS X Bộ thu thập phân bổ (Điểm nút) X
GEN X Máy phát X
Hình E.3 - Bước thứ nhất của phương pháp tính toán ngược
Bước thứ nhất của phương pháp tính toán ngược là tính toán thông thường từ nhu cầu đến hiệu quả
năng lượng. Không cần thiết phải truy vết phần nào của mỗi dòng năng lượng liên quan đến mỗi
không gian được kết nối.
CHÚ DẪN:
SP X Không gian X
Cr X Chu trình vòng X
DIS X Bộ thu phân bổ (Điểm nút) X
GEN X Máy phát X
Ewe-X Năng lượng theo trọng số của máy phát X
Hình E.4 - Bước thứ hai của phương pháp tính toán ngược
Bước thứ hai của phương pháp tính toán ngược là phân bổ năng lượng theo trọng số (hoặc số lượng
chất mang năng lượng hoặc của năng lượng phụ trợ hoặc các đại lượng khác) trở lại tới các không
gian được kết nối.
E.3.2 Chú giải
Không cần thông tin bổ sung.
E.3.3 Bắt đầu tính toán
Không cần thông tin bổ sung.
E.3.4 Quy tắc hệ thống con
Năng lượng theo trọng số đi từ đầu vào của hệ thống con được tăng lên bởi năng lượng phụ trợ theo
trọng số được sử dụng cho hệ thống con thứ i để cung cấp năng lượng theo trọng số tại đầu ra của
hệ thống con.
E.3.5 Quy tắc điểm nút
Năng lượng theo trọng số từ (các) hệ thống phụ cung cấp năng lượng được phân phối cho các hệ
thống con được kết nối theo tỷ lệ nhiệt đầu vào thực tế cho mỗi hệ thống đó.
Không có sự thay đổi của tổng năng lượng theo trọng số tại điểm nút và chỉ được tái phân phối và liên
kết với các đầu vào của các hệ thống phụ tải con.
E.3.6 Chỉ định năng lượng theo trọng số cho các hạng mục sử dụng
Không cần thông tin bổ sung.
E.3.7 Hiệu quả năng lượng theo trọng số cho mỗi hạng mục sử dụng
Không cần thông tin bổ sung.
E.3.8 Phân bổ chất mang năng lượng và các đại lượng khác
Không cần thông tin bổ sung.
Phụ lục F
(Tham khảo)
Thuật ngữ theo thứ tự ABC
Không cần đưa ra giải thích, minh chứng hoặc ví dụ.
Phụ lục G
(Tham khảo)
Chỉ số liên quan đến lưới diện
G.1 Chỉ số phù hợp phụ tải
G.1.1 Chỉ số phù hợp sử dụng
Chỉ số phù hợp sử dụng là quan hệ giữa điện được sản xuất tại chỗ và được sử dụng trực tiếp, và
tổng lượng điện sử dụng. Còn được xem là “mức độ tự cung cấp”.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công thức (G.1) bao gồm việc sử dụng điện cho các mục
đích không EPB trong lượng điện sử dụng trực tiếp.
Với giá trị điện năng sản xuất tại chỗ hàng năm bằng tổng điện năng sử dụng hàng năm, hệ số phù
hợp sử dụng không bằng 1, vì một phần năng lượng sản xuất không được sử dụng trực tiếp mà đi
đường vòng qua lưới điện.
TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Công thức (G.1) chỉ cung cấp giá trị thích hợp cho chỉ số
phù hợp sử dụng cho khoảng thời gian tính toán theo giờ. Trong trường hợp tính toán theo tháng, giá
trị sẽ khác nhau bởi việc sử dụng trực tiếp công thức, bởi vì sự không trùng hợp giữa sản xuất và sử
dụng được cân bằng một phần. Trong trường hợp này, chỉ số có thể được xác định là chỉ tố thống kê
để khắc phục vấn đề này.
G.1.2 Chỉ số phù hợp sản xuất
Chỉ số phù hợp sản xuất là quan hệ giữa điện năng được sản xuất tại chỗ và được sử dụng trực tiếp,
và tổng điện năng được sản xuất tại chỗ. Nó còn được gọi là “mức độ tự sử dụng”.
Các hạn chế tương tự như đối với hệ số sử dụng cũng được áp dụng cho chỉ số này.
G.1.3 Chỉ số tương tác lưới
G.1.4 Chỉ số phù hợp giữa sản xuất và tái sử dụng
Các hạn chế tương tự như đối với chỉ số sử dụng cũng phù hợp áp dụng cho chỉ số này.
Phụ lục H
(Tham khảo)
Đề xuất các chỉ số để đánh giá tòa nhà năng lượng gần bằng không (NZEB)
H.1 Nguyên tắc chung
Tại thời điểm xây dựng tiêu chuẩn này, các định nghĩa về NZEB đang thay đổi rất nhiều. Do đó, cần
có một định nghĩa thống nhất và chung về NZEB:
- Có thể hiểu nội dung của chỉ số và các yêu cầu liên quan trong các quy chuẩn xây dựng khác nhau;
- Hướng dẫn các ngành công nghiệp trong việc phát triển các giải pháp và cung cấp khả năng thể
hiện tác động của giải pháp theo một cách minh bạch.
Tuy nhiên, đề xuất trong Phụ lục H của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017) không có nghĩa là
một quy tắc hoặc yêu cầu mới mà chỉ là một ví dụ để cho thấy một định nghĩa chung có thể là như thế
nào.
Việc chỉ sử dụng một yêu cầu, ví dụ: Chỉ số bằng số về việc sử dụng năng lượng sơ cấp, sẽ dẫn đến
sự sai lệch về NZEB. Trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), các yêu cầu khác nhau được
kết hợp để đánh giá thống nhất về tòa nhà năng lượng gần bằng không (NZEB).
NZEB phải là một tòa nhà có lượng năng lượng cần thiết rất thấp liên quan đến việc sử dụng điển
hình của tòa nhà bao gồm năng lượng được sử dụng để sưởi ấm, làm mát, thông gió, nước nóng và
chiếu sáng, có tính đến:
- Điều kiện khí hậu trong nhà;
- Đặc tính nhiệt của tòa nhà, các bộ phận tòa nhà có tác động đáng kể đến hiệu quả năng lượng của
vỏ công trình;
- Lắp đặt HVAC, cấp nước nóng, lắp đặt hệ thống chiếu sáng tích hợp, tối ưu hóa việc sử dụng năng
lượng của các hệ thống kỹ thuật tòa nhà;
- Hệ thống năng lượng mặt trời chủ động và các hệ thống khác dựa trên năng lượng từ các nguồn tái
tạo; Hệ thống sưởi và làm mát khu vực hoặc theo khối.
Lượng năng lượng rất thấp cần thiết cho một tòa nhà gần bằng không sử dụng năng lượng cần phải
được cung cấp đến một mức độ rất đáng kể bằng năng lượng từ các nguồn tái tạo, bao gồm năng
lượng từ các nguồn tái tạo được sản xuất tại chỗ hoặc gần đó.
Một tòa nhà gần như không sử dụng năng lượng được đặc trưng bởi một chỉ số về mức sử dụng
năng lượng sơ cấp được biểu thị bằng kW-h/m2 năm.
Tổ chức CEN đề xuất kết hợp các yêu cầu khác nhau trong một đánh giá nhất quán về NZEB.
Phương pháp đánh giá được đề xuất đi từng bước “từ nhu cầu đến hiệu quả năng lượng tổng thể
được thể hiện trong việc sử dụng năng lượng sơ cấp”. Chỉ khi đạt được yêu cầu của từng bước, thì
cuối cùng tòa nhà mới có thể đủ điều kiện là ‘NZEB’. Cách tiếp cận này có thể so sánh với một cuộc
đua vượt rào.
Phụ lục trong tiêu chuẩn EPB tổng thể chỉ là một đề xuất phương pháp luận mang tính tham khảo. Do
đó ở đây không cung cấp chương trình báo cáo đầy đủ đã được thực hiện.
H.2 Yêu cầu thứ nhất: Kết cấu xây dựng tòa nhà (Nhu cầu năng lượng)
Yêu cầu thứ nhất phản ánh hiệu quả của kết cấu xây dựng tòa nhà được đặc trưng bởi các nhu cầu
năng lượng. Nhu cầu năng lượng dựa trên điều kiện địa phương và công năng được chỉ định của tòa
nhà.
Có tính đến:
- Chất lượng của vỏ công trình (ví dụ như cách nhiệt, cửa sổ);
- Thiết kế sinh khí hậu (ví dụ: Thu nhận nhiệt mặt trời, chiếu sáng tự nhiên),
- Quán tính nhiệt, sự phân chia bằng vách ngăn;
- Nhu cầu đảm bảo các điều kiện khí hậu trong nhà thích hợp để tránh các tác động tiêu cực có thể
xảy ra chẳng hạn như chất lượng không khí trong nhà kém (do thiếu thông gió).
Nhu cầu năng lượng được tính theo ISO 52016-1[10].
H.3 Yêu cầu thứ hai: Tổng mức sử dụng năng lượng sơ cấp
Yêu cầu thứ hai phản ánh hiệu quả của các hệ thống kỹ thuật tòa nhà (việc lắp đặt hệ thống HVAC,
cung cấp nước nóng, lắp đặt hệ thống chiếu sáng tích hợp) được đặc trưng bởi mức năng lượng sử
dụng.
Hệ thống kỹ thuật tòa nhà được liên kết với một hoặc nhiều chất mang năng lượng (ví dụ: Nồi hơi sử
dụng khí đốt; tiêu thụ phụ trợ). Để tổng hợp các chất mang năng lượng khác nhau một cách thống
nhất, yêu cầu thứ hai được biểu thị bằng tổng năng lượng sơ cấp.
Nếu ngôi nhà cách nhiệt kém thì có thể tránh được bằng cách đưa ra yêu cầu về vỏ công trình (Yêu
cầu thứ nhất: Nhu cầu năng lượng) thì hiệu suất năng lượng kém của hệ thống kỹ thuật tòa nhà có
thể được giải quyết bởi tổng chỉ số năng lượng sơ cấp. Nếu hiệu suất của hệ thống kỹ thuật tòa nhà
được liên kết với các chỉ số năng lượng sơ cấp không tái tạo, thì hiệu suất của nồi hơi sinh khối sẽ
không ảnh hưởng đến hiệu quả năng lượng. Nhưng năng lượng (thậm chí có thể tái tạo) không nên bị
lãng phí trong các hệ thống kém hiệu suất.
Tổng mức sử dụng năng lượng sơ cấp cũng là một cách thức nhất quán để thiết lập các yêu cầu kỹ
thuật cho hệ thống kỹ thuật tòa nhà bởi vì một số hệ thống (ví dụ: Thiết bị sưởi bức xạ nhiệt trực tiếp
chạy bằng điện) có các bộ phận của hệ thống bị tổn thất bên ngoài ranh giới đánh giá tòa nhà (ví dụ:
Việc phát điện). Tổng chỉ số năng lượng sơ cấp có tính đến các tổn thất ngoài ranh giới đánh giá.
Chỉ những năng lượng được phân phối qua ranh giới đánh giá ở gần và/hoặc từ xa mới được tính
đến để liên kết tổng mức sử dụng năng lượng sơ cấp với các bộ đếm năng lượng và cũng để tránh
việc năng lượng được tính đếm hai lần (ví dụ: Bơm nhiệt).
Tổng mức sử dụng năng lượng sơ cấp được tính theo TCVN 13469-1 (ISO 52000-1)[1].
H.4 Yêu cầu thứ ba: Sử dụng năng lượng sơ cấp không tái tạo mà không có bù trừ giữa các
chất mang năng lượng
Yêu cầu thứ ba là phản ánh phần đóng góp năng lượng từ các nguồn tái tạo (ví dụ: Hệ thống năng
lượng mặt trời chủ động), được đặc trưng bởi mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp không tái tạo.
Yêu cầu này chỉ tính đến năng lượng cần thiết để cung cấp các dịch vụ tại chỗ (sưởi ấm, thông gió,
v.v...)
Việc sử dụng năng lượng sơ cấp không tái tạo được tính theo TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
H.5 Đánh giá xếp hạng NZEB cuối cùng: Chỉ số bằng số của việc sử dụng năng lượng sơ cấp
không tái tạo có bù trừ
Chỉ ở giai đoạn này mới tính đến:
Sự bù trù giũa các chất mang năng lượng khác nhau, ví dụ giữa khí đốt và năng lượng mặt trời sản
xuất tại chỗ;
- Ảnh hưởng của năng lượng xuất đi.
Chỉ số về năng lượng sơ cấp không tái tạo được tính theo TCVN 13469-1 (ISO 52000-1).
VÍ DỤ Bảng H1 minh họa cách tiếp cận bằng một ví dụ. Trong ví dụ này sẽ không có xếp hạng NZEB
(ngay cả khi kết quả xếp hạng NZEB cũng thấp hơn yêu cầu) vì không đạt được yêu cầu thứ ba.
Bảng H.1 - Ví dụ minh họa đề xuất trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-
1:2017) đối với xếp hạng NZEB
Phụ lục I
(Tham khảo)
Hệ thống chiếu sáng
[24]
EN 15193-1 bao quát toàn bộ mô-đun 9 quy định phương pháp tính toán mức sử dụng năng lượng
theo tháng và theo năm cho chiếu sáng trong các tòa nhà không phải nhà ở có tính đến các công
nghệ chiếu sáng liên quan khác nhau. Phương pháp này bao gồm việc phân chia tòa nhà thành các
khu vực theo yêu cầu cho mục đích công nghệ chiếu sáng, xác định công suất lắp đặt điện cụ thể của
hệ thống chiếu sáng điện, xem xét cách thức sử dụng ánh sáng ban ngày cũng như các hiệu ứng của
hệ thống kiểm soát ánh sáng.
Để đạt được hiệu suất sử dụng năng lượng chiếu sáng, cần sử dụng hệ thống chiếu sáng và kiểm
soát ánh sáng phù hợp và sử dụng ánh sáng ban ngày sẵn có ở mức tốt nhất có thể. Phương pháp
được mô tả trong mô-đun 9 chỉ đề cập đến hệ thống chiếu sáng cần thiết để đạt được các yêu cầu
chiếu sáng tối thiểu theo EN 12464-1 “Ánh sáng và chiếu sáng. Chiếu sáng nơi làm việc. Nơi làm việc
trong nhà” và EN 12193 “Ánh sáng và chiếu sáng. Chiếu sáng thể thao”. Theo các quy định của EN
12464-1 và EN 12193, hệ thống chiếu sáng phải được thiết kế đáp ứng được các yêu cầu chiếu sáng
của một hoạt động hoặc nhiệm vụ cụ thể mà không cần tăng mức sử dụng năng lượng. Đồng thời,
việc sử dụng năng lượng không được làm giảm chất lượng của các điều kiện chiếu sáng.
Các công nghệ có liên quan được đề cập bao gồm:
- Chiếu sáng điện: Có thể sử dụng các giải pháp chiếu sáng dựa trên công nghệ đèn tiêu chuẩn (đèn
sợi đốt, đèn huỳnh quang, đèn cao áp và chấn lưu cụ thể) cũng như các công nghệ chiếu sáng rắn
mới được đưa vào ứng dụng (nguồn sáng LED). Các phương pháp sẽ tuân thủ EN 12464-1 và EN
12193 về các điều kiện ánh sáng yêu cầu, ví dụ: Liên quan đến các khái niệm về khu vực nhiệm vụ,
hệ số duy trì và xếp hạng độ chói đồng nhất (UGR).
- Ánh sáng ban ngày: Hệ thống mặt tiền cơ động, nghĩa là mặt tiền bao gồm các lớp kính kết hợp với
hệ thống che nắng chủ động, được vận hành có chức năng chắn nắng, có thể được đánh giá về tác
động của chúng về thời gian vận hành hiệu quả. Đánh giá này sẽ được thực hiện theo công năng vị trí
các tòa nhà và điều kiện ranh giới khí hậu. Các mặt đứng cũng như hệ thống lấy sáng trên mái đều
được bao hàm.
- Kiểm soát chiếu sáng: Các phương pháp kiểm soát độ rọi không đổi, hệ thống phát hiện sự hiện
diện và kiểm soát phụ thuộc ánh sáng ban ngày được cung cấp.
Chiếu sáng trong Mô-đun 9 về mặt khái niệm có thể được chia nhỏ thành các mô-đun con theo Bảng
1 trong tiêu chuẩn EPB tổng thể:
- 9.2: “Nhu cầu”: Phương pháp xác định nhu cầu năng lượng thực cho chiếu sáng, biểu thị năng
lượng tương đương để cung cấp thông lượng ánh sáng cần thiết phù hợp với các yêu cầu đã được
định nghĩa trong EN 12464 và EN 12193.
9.3: “Tải và Công suất cực đại”: Mô-đun con cho phép xác định (tính toán và đo lường) công suất điện
lắp đặt cần thiết của hệ thống điện chiếu sáng bao gồm cả công suất nhiễu.
- 9.4: “Cách thể hiện hiệu quả năng lượng”: Hiệu quả năng lượng chiếu sáng theo nghĩa tuyệt đối có
thể được biểu thị trong phần của EN 15193-1[24] tương ứng với mô-đun con 9.4 là nhu cầu năng lượng
cuối cùng Ql,f, dưới dạng chỉ số năng lượng chiếu sáng (LENI), và cũng là các giá trị định mức. Về
mặt tương đối, bản thân hiệu quả tổng thể của hệ thống chiếu sáng (hệ thống chiếu sáng và kiểm
soát chiếu sáng) có thể được mô tả làm hàm số của chỉ số chi tiêu.
CHÚ THÍCH: Công suất lắp đặt không phải là chỉ số về hiệu quả năng lượng mà chỉ có mục đích xác
định công suất đối với dây cáp điện và xác định quy mô nguồn cung cấp.
- 9.5: “Chiếu sáng và kiểm soát”: Mô-đun con này cung cấp các phương pháp đánh giá để kiểm soát
hệ thống chiếu sáng điện. Các phương pháp để mô tả và đánh giá kiểm soát độ rọi không đổi, hệ
thống phát hiện sự hiện diện và kiểm soát phụ thuộc vào ánh sáng ban ngày được cung cấp.
- 9.6: “Phân phối và kiểm soát”.
- 9.7: “Lưu trữ và kiểm soát”: Đây là ô “còn để trống”, mô-đun được bôi đậm trong Bảng 1 của TCVN
13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
- 9.8: “Chiếu sáng và kiểm soát”: Ngoài việc chiếu sáng sử dụng điện, mô-đun này mô tả về sử dụng
ánh sáng ban ngày làm “nguồn chiếu sáng tự nhiên”.
- 9.9 “Điều kiện vận hành và điều độ tải”. Đây là ô “còn để trống”, mô-đun được bôi đậm trong Bảng 1
của TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
- 9.10: “Hiệu quả năng lượng đo lường”: Phương pháp đo công suất điện lắp đặt và tiêu thụ năng
lượng cho chiếu sáng trong các tòa nhà hiện hữu được cung cấp trong mô-đun con này.
- 9.11: “Kiểm tra”: Mô-đun con này bao gồm các cách tiếp cận và phương tiện để thực hiện kiểm tra
các hệ thống chiếu sáng hiện có. Điều này phục vụ cho việc xác định các rủi ro tiềm năng, chẳng hạn
như do bảo trì lắp đặt không tốt (tức là bỏ qua việc vệ sinh đèn và bộ đèn) hoặc sơ đồ chiếu sáng vận
hành và thiết kế kém.
Phụ lục J
(Tham khảo)
Ví dụ tính toán
J.1 Tổng quát
Phụ lục này cung cấp các ví dụ tính toán để làm rõ khi sử dụng TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) và các
lựa chọn của tiêu chuẩn. Các ví dụ tính toán sau được trình bày trong phụ lục này:
- Ví dụ về cân bằng năng lượng đơn giản, để nêu bật việc sử dụng các chỉ số trọng số năng lượng sơ
cấp và của thông số kiểm soát kexp.
- Một ví dụ tính toán cho 12 khoảng thời gian, để nêu bật việc xác định các thành phần năng lượng
được cấp đến và xuất đi và quy trình trọng số hai bước;
- Ví dụ về việc áp dụng Phụ lục E, cung cấp hiệu quả năng lượng cho mỗi phần của tòa nhà.
J.2 Diễn giải việc tính trọng số năng lượng được đơn giản hóa
J.2.1 Giới thiệu
Trong Điều này, một số ví dụ đơn giản được phát triển để diễn giải rõ:
- Việc sử dụng các yếu tố năng lượng sơ cấp tái tạo và không thể tái tạo;
- Việc sử dụng thông số kexp;
- Ý nghĩa của cách tiếp cận bước A - bước B.
Tất cả các ví dụ được minh họa bằng hình ảnh trong đó:
- Một hình vẽ đơn giản cho thấy dòng năng lượng thực tế;
- Bảng bên dưới đưa ra ví dụ chi tiết về cân bằng năng lượng;
- Mỗi hàng tương ứng với một dòng năng lượng được cấp đến hoặc xuất đi;
- Đối với mỗi hàng, giá trị thực tế của dòng năng lượng, các chỉ số trọng số, năng lượng theo trọng số
và RER (nếu có liên quan) được hiển thị. Trong một số ví dụ, năng lượng tái tạo và RER được phân
biệt theo tổng và theo địa điểm: tại chỗ cộng với ở gần đó,
- Cân bằng năng lượng bước A được thực hiện trước rồi đến cân bằng năng lượng bước B;
- Hiệu quả năng lượng cuối cùng được ra ở dưới cùng;
- Chỉ có một kết quả tính toán (ví dụ: Hiệu quả năng lượng) tùy thuộc vào sự lựa chọn của thông số
kexp. Kết quả ở bước A giống như kết quả thu được khi đặt kexp = 0. Trong các ví dụ, kexp luôn được lấy
bằng 1 nhưng kết quả ở bước A được hiển thị trên hàng “TỔNG BƯỚC A” cho phép so sánh nhanh
giữa các lựa chọn thay thế kexp = 1 (kết quả cuối cùng) và kexp = 0 (trung gian “Tổng bước A”).
Để hiểu rõ ràng, mỗi ví dụ chỉ bao hàm một khoảng tính toán. Việc tính toán với nhiều khoảng thời
gian tính toán bao hàm trong ví dụ của Điều J.3
Trừ khi có quy định khác, các chỉ số chuyển đổi năng lượng sơ cấp sau đây được sử dụng:
- Điện lưới: fPren;el = 0,5 và fPnren;el = 2,0;
- Điện mặt trời (PV): :fPren;PV và fPnren;PV = 0,0;
- Khí đốt: fPren;gas= 0,0 và fPnren;gas = 1,1.
CHÚ THÍCH: Các ví dụ tương tự và một số ví dụ bổ sung có thể tìm trong bảng tính kèm theo.
J.2.2 Ví dụ 1: Hệ thống điện thuần túy
J.2.2.1 Giới thiệu
Ví dụ này chỉ liên quan đến một chất mang năng lượng: Điện.
Tất cả các hệ thống EPB trong ví dụ này được giả định là chỉ có sử dụng mỗi điện (ví dụ: Bơm nhiệt +
máy sản xuất nước lạnh). Cách để gộp cả nhiệt thu được bởi bơm nhiệt được bao hàm trong ví dụ về
bơm nhiệt cụ thể, xem Điều K.2.4.
J.2.2.2 Trường hợp cơ bản
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
Hình J.1 - Tất cả hệ thống điện đều dùng điện lưới
Bảng J.1 - Tất cả các hệ thống điện, tất cả sử dụng điện lưới: Chi tiết năng lượng
theo trọng số
EPren
EPren
E fPnren fPren EPnren Tại Ptot RER RER
Từ xa
chỗ
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 0 0,0 1,0 0 0 0
- Năng lượng xuất đi PV 0 0,0 1,0 0 0 0
+ Năng lượng cấp đến GRID 100 2,0 0,5 200 50 250
TỔNG BƯỚC A 200 50 0 250 0,20 0,00
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 200 50 0 250
+ Năng lượng cấp đến PV 0 0,0 1,0 0 0 0
- Tránh được phát điện
GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
lưới
Hiệu quả năng lượng 200 50 0 250 0,20 0,00
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0 0,0 1,0 0 0 0
sẵn có sẵn có
Trường hợp cơ bản được minh họa trong Hình J.1 và Bảng J.1: Không có việc sản xuất điện mặt trời
(PV).
Nhận xét:
- Chỉ có điện lưới được cấp đến;
- Phần đóng góp vào RER chỉ đến từ lưới điện (năng lượng tái tạo từ xa);
- Giá trị của RER phụ thuộc vào quy ước về chu vi cần xem xét cho năng lượng tái tạo. Nếu năng
lượng tái tạo từ xa không được tính, thì RER là bằng 0.
J.2.2.3 Một phần điện được sử dụng được cung cấp từ điện mặt trời
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
Hình J.2 - Tất cả hệ thống điện, sử dụng 50 % điện mặt trời
EPren
EPren
E fPnren fPren EPnren Tại Ptot RER RER
Từ xa
chỗ
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 50 0,0 1,0 0 50 50
- Năng lượng xuất đi PV 0 0,0 1,0 0 0 0
+ Năng lượng cấp đến GRID 50 2,0 0,5 100 25 125
TỔNG BƯỚC A 100 25 50 175 0,43 0,29
Bảng J.2 - Tất cả các hệ thống điện, sử dụng 50 % điện mặt trời: Chi tiết
năng lượng theo trọng số
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 100 25 50 175
+ Năng lượng cấp đến PV 0 0,0 1,0 0 0 0
- Tránh được phát điện
GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
lưới
Hiệu quả năng lượng 100 25 50 175 0,43 0,29
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0,0 1,0 0 0 0
sẵn có sẵn có
Ví dụ được thể hiện trong Hình J.2 và chi tiết tính toán được thể hiện trong Bảng J.2. Sản xuất điện
mặt trời (PV) là 50 kW∙h và cung cấp 50% lượng điện sử dụng thực tế trong tòa nhà.
Nhận xét:
- Mặc dù một nửa sản lượng điện cấp đến từ điện mặt trời (PV), RER nhỏ hơn 50% vì tổng chỉ số
năng lượng sơ cấp của điện mặt trời nhỏ hơn chỉ số năng lượng của lưới điện;
- Phần đóng góp vào RER đến từ cả điện lưới (năng lượng tái tạo từ xa) và từ điện mặt trời (PV)
(năng lượng tái tạo tại chỗ); Việc tính toán riêng cho năng lượng tái tạo tại chỗ, ở gần và từ xa cung
cấp giá trị của RER tùy thuộc vào chu vi đã chọn;
- Ngay cả khi kexp được lấy bằng 1, cũng không có sự khác biệt giữa kết quả bước A và bước B vì
không có năng lượng xuất đi được bao gồm (hoặc không bao gồm) trong hiệu quả năng lượng. Tất cả
điện sản xuất ra được sử dụng cho các dịch vụ EPB
J.2.2.4 Sản xuất điện mặt trời vượt quá mức sử dụng của tòa nhà
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
Hình J.3 - Tất cả hệ thống điện, sản xuất điện mặt trời vượt mức sử dụng
Bảng J.3 - Tất cả hệ thống điện, sản xuất điện mặt trời vượt mức sử dụng:
Chi tiết năng lượng theo trọng số
EPren
EPren
E fPnren fPren EPnren Tại Ptot RER RER
Từ xa
chỗ
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 140 0,0 1,0 0 140 140
- Năng lượng xuất đi PV 40 0,0 1,0 0 -40 -40
+ Năng lượng cấp đến GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
TỔNG BƯỚC A 0 0 100 100 1,00 1,00
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 0 0 100 100
+ Năng lượng xuất đi PV 40 0,0 1,0 0 40 40
- Tránh được phát điện
GRID 40 2,0 0,5 -80 -20 -100
lưới
Hiệu quả năng lượng -80 -20 140 40 3,00 3,50
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0 0,0 1,0 0 0 0
sẵn có sẵn có
Ví dụ này được thể hiện trong Hình J.3 và chi tiết tính toán được thể hiện trong Bảng J.3. Sản lượng
điện mặt trời (PV) được tăng thêm đến 140 kW∙h và vượt quá mức sử dụng năng lượng điện trong
tòa nhà. 40 kW∙h điện sản xuất được xuất đi.
Nhận xét:
- Khi sản lượng điện mặt trời (PV) bằng và sau đó vượt quá mức sử dụng EPB, hiệu quả năng lượng
bước A (ví dụ: Hiệu quả năng lượng được tính toán với thông số kexp = 0) không đổi (100 kW∙h hoàn
toàn là năng lượng tái tạo) và RER là bằng 1,0 vì tất cả việc sử dụng EPB được bao quát bởi điện
mặt trời (PV) và điện mặt trời (PV) xuất đi không phải là một phần của hiệu quả năng lượng của tòa
nhà;
- Đánh giá bước B cung cấp hiệu quả năng lượng không tái tạo âm và RER cao hơn 1,0. Đây là tác
động của việc kết hợp vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà để giảm năng lượng sơ cấp mà máy
phát điện lưới yêu cầu vì năng lượng xuất đi (40 kW∙h):
- Nếu điện mặt trời (PV) được tăng thêm nữa, tổng năng lượng sơ cấp ở bước B sẽ có giá trị âm và
RER cũng tương tự thế.
Kết quả đầy đủ về hiệu quả năng lượng khi lấy kexp = 0 được thể hiện trong Hình J.4
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá
Hình J.4 - Tất cả hệ thống điện, sản xuất điện mặt trời vượt mức sử dụng, kết quả chi tiết với
kexp =0
Bảng J.4 - Tất cả hệ thống điện, sản xuất điện mặt trời vượt mức sử dụng:
Chi tiết năng lượng theo trọng số với kexp =0
EPren
EPren
E fPnren fPren EPnren Tại Ptot RER RER
Từ xa
chỗ
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 140 0,0 1,0 0 140 140
- Năng lượng xuất đi PV 40 0,0 1,0 0 -40 -40
+ Năng lượng cấp đến GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
TỔNG BƯỚC A 0 0 100 100 1,00 1,00
kexp 0,0
TỔNG BƯỚC A 0 0 100 100
+ Năng lượng xuất đi PV 0 0,0 1,0 0 0 0
- Tránh được phát điện
GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
lưới
Hiệu quả năng lượng 0 0 100 100 1,00 1,00
Mức năng lượng sẵn có 40 0,0 1,0 0 40 40 1,00 1,00
Kết quả về hiệu quả năng lượng trong Bảng J.4 (EPtot = 100 kW∙h, EPren= 100 kW∙h) giống như bước A
trong cả hai Bảng J.3 và J.4 nhưng hiện tại thông tin bổ sung về năng lượng sẵn có bên ngoài tòa nhà
được hiển thị trên hàng cuối cùng của Bảng J.4 Thông tin này không có sẵn khi đặt kexp=1 vì năng
lượng xuất đi đã được tính vào hiệu quả năng lượng của tòa nhà và không được báo cáo riêng khi
sẵn có bên ngoài toà nhà.
40 kW∙h được xuất đi không phải là một phần của hiệu quả năng lượng, vì vậy được báo cáo riêng rẽ
cùng với lượng năng lượng theo trọng số. Thông tin này có thể được sử dụng để xác định phần đóng
góp của tòa nhà được đánh giá trong bối cảnh lưới điện địa phương kết nối các tòa nhà lân cận.
J.2.3 Ví dụ 2: Nồi hơi sử dụng khí đốt dùng cho sưởi ấm và nước nóng sinh hoạt và điện mặt
trời cho các bộ phận phụ trợ
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá GAS Khí tự nhiên từ mạng cung cấp
PV Điện mặt trời sản xuất tại chỗ EL-USE Điện được sử dụng
GRID Điện cấp đến và đi từ lưới điện GAS-USE Khí tự nhiên được sử dụng
Hình J.5 - Nồi hơi sử dụng khí đốt và điện mặt trời cho các bộ phận phụ trợ
Bảng J.5 - Nồi hơi sử dụng khí đốt và điện mặt trời cho các bộ phận phụ trợ
E fPnren fPren EPnren EPren EPtot RER RER
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 40 0,0 1,0 0 40 40
- Năng lượng xuất đi PV 20 0,0 1,0 0 -20 -20
+ Năng lượng cấp đến GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
+ Năng lượng cấp đến GAS 190 1,1 0,0 209 0 209
TỔNG BƯỚC A 209 20 229 0,09 0,09
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 209 20 229
+ Năng lượng xuất đi PV 20 0,0 1,0 0 20 20
- Tránh được phát điện lưới GRID 20 2,0 0,5 -40 -10 -50
Hiệu quả năng lượng 169 30 199 0,15 0,20
Không
Mức năng lượng sẵn có 0,0 1,0 0 0 0
sẵn có
Ví dụ trong Hình J.5 và Bảng J.5 minh họa sự cân bằng năng lượng đối với hệ thống sưởi ấm và
nước nóng sinh hoạt khi nồi hơi sử dụng 190 kW∙h khí đốt và hệ thống kỹ thuật sử dụng 20 kW∙h
năng lượng phụ trợ.
Các tấm pin mặt trời (PV) sản xuất 40 kW∙h điện: 20 kW∙h điện được xuất đi hòa vào lưới điện.
Nhận xét:
- Lấy kexp=1 cho phép tính đầy đủ đến sự đóng góp của điện xuất đi vào hiệu quả năng lượng của tòa
nhà. Việc sử dụng năng lượng sơ cấp không tái tạo với khí đốt được bù đắp bằng năng lượng sơ cấp
không tái tạo được mà không cần đến các máy phát điện lưới. Có sự bù đắp giữa các chất mang
năng lượng (khí đốt cấp đến và điện xuất đi).
- Lấy kexp=0 (Tổng bước A), tối đa 20 kW∙h của điện mặt trời được tính vào hiệu quả năng lượng của
tòa nhà. Khi sản xuất điện mặt trời tăng lên sẽ không có tác động gì thêm đến hiệu quả năng lượng
khi nó vượt quá lượng năng lượng phụ trợ được sử dụng trong tòa nhà. Sản xuất điện mặt trời không
thể làm giảm (ví dụ: Cải thiện) sự đóng góp vào hiệu quả năng lượng của nồi hơi sử dụng khí đốt.
Không có sự bù trừ giữa các chất mang năng lượng.
J.2.4 Ví dụ 3: Bơm nhiệt và điện mặt trời (PV)
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá ENV Nhiệt lấy từ môi trường
PV Điện mặt trời sản xuất tại chỗ EL-USE Điện được sử dụng
GRID Điện cấp đến và đi từ lưới điện COP Chỉ số hiệu quả của bơm nhiệt
Hình J.6 - Bơm nhiệt và điện mặt trời (PV)
Bảng J.6 - Bơm nhiệt và điện mặt trời (PV): Chi tiết năng lượng theo trọng
số
E fPnren fPren EPnren EPren1 EPren2 EPtot RER RER
kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h kW∙h tot nrb-os
+ Năng lượng cấp đến PV 40 0,0 1,0 0 40 40
- Năng lượng xuất đi PV 0 0,0 1,0 0 0 0
+ Nhiệt môi trường ENV 131 0,0 1,0 0 131 131
+ Năng lượng cấp đến GRID 19 2,0 0,5 38 10 48
TỔNG BƯỚC A 38 10 171 219 0,38 0,78
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 38 10 171 219
+ Năng lượng xuất đi PV 0 0,0 1,0 0 0 0
- Tránh được phát điện
GRID 0 2,0 0,5 0 0 0
lưới
Hiệu quả năng lượng 38 10 171 219 0,38 0,78
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0 0,0 1,0 0 0 0
sẵn có sẵn có
Ví dụ trong Hình J.6 và Bảng J.6 minh họa sự cân bằng năng lượng khi có một bơm nhiệt sử dụng
điện và một tấm pin mặt trời (PV) đóng góp vào việc sử dụng điện.
Nhận xét:
- Nhiệt do bơm nhiệt thu từ môi trường được coi là dòng năng lượng được cấp đến. Nó được thể hiện
trong chỉ số RER tại chỗ;
- Ngay cả khi không có điện mặt trời và điện lưới hoàn toàn không phải từ nguồn tái tạo thì vẫn có sự
đóng góp của phần năng lượng tái tạo bởi nhiệt thu được từ môi trường;
- Không có sự khác biệt giữa “Tổng bước A” và kết quả cuối cùng vì không có năng lượng xuất đi;
- Nếu sử dụng cùng một sơ đồ cho máy sản xuất nước lạnh, hướng của các mũi tên cho nhiệt sẽ bị
đảo ngược và sẽ không có năng lượng tái tạo tại chỗ vì nhiệt bị loại bỏ không được coi là dòng năng
lượng được cấp đến.
J.2.5 Ví dụ 4: Thiết bị đồng phát với nhiên liệu hóa thạch và nồi hơi
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá ηcgn;tot Tổng hiệu suất điện của thiết bị đồng
phát (điện + nhiệt)
GRID Điện cấp đến và đi từ lưới điện fcgn Phần nhiệt cần thiết được cấp bởi thiết
bị đồng phát
CGN Năng lượng cấp đến ở dạng nhiên liệu ηboil Hiệu suất của nồi hơi
cho thiết bị đồng phát
GAS Khí tự nhiên cấp cho nồi hơi EL-USE Điện sử dụng
ηcgn;el Hiệu suất điện của thiết bị đồng phát QX;dis;in Nhiệt yêu cầu bởi tòa nhà (phân phối
đầu vào)
Hình J.7 - Nồi hơi sử dụng khí tự nhiên và thiết bị đồng phát
Bảng J.7 - Nồi hơi sử dụng khí đốt và thiết bị đồng phát: Chi tiết năng lượng
theo trọng số
Chỉ số phân bổ theo phương pháp
nhiệt dư
Hiệu suất lưới % 44 aw aq
Hiệu suất điện đồng phát % 30 0,68 0,32
Hiệu suất nhiệt đồng phát % 60
Chỉ số chuyển đổi đồng phát fPnren fPren fPtot
Chỉ số chuyển đổi nhiên liệu 1,10 0,00 1,10
Trọng số nhiệt đồng phát 0,58 0,00 0,58
Trọng số điện đồng phát 2,50 0,00 2,50
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 215 0 0 215
+ Năng lượng xuất đi CGN 28 2,5 0,0 69 0 69
- Tránh được phát điện
GRID 28 2,0 0,5 -55 -14 -69
lưới
Hiệu quả năng lượng 229 -14 0 215 -0,06 0,00
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0 2,5 0,0 0 0 0
sẵn có sẵn có
Ví dụ trong Hình J.7 và Bảng J.7 minh họa sự cân bằng năng lượng với thiết bị đồng phát làm việc
song song với nồi hơi sử dụng khí tự nhiên.
Thiết bị đồng phát đóng góp 50 % của lượng nhiệt sử dụng cho tòa nhà và có hiệu suất điện là 30 %
và tổng hiệu suất là 90 %.
Một phần điện đồng phát (28 kW∙h trong số 48 kW∙h được sản xuất) được xuất đi hòa vào lưới điện.
Nhận xét:
- Cần tính toán các chỉ số trọng số của điện và nhiệt do đồng phát sinh ra dựa theo:
- Các chỉ số trọng số của đầu vào đồng phát (khí đốt trong ví dụ này);
- Phương pháp phân bổ, phương pháp nhiệt dư trong ví dụ này;
- Hiệu suất nhiệt và hiệu suất điện của thiết bị đồng phát;
- RER có thể có giá trị âm nếu tính đến lượng năng lượng tái tạo có thể bù trừ cho lượng điện cần
sản xuất từ lưới.
J.2.6 Ví dụ 5: Thiết bị đồng phát với nhiên liệu tái tạo và nồi hơi
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá ηcgn;tot Tổng hiệu suất điện của thiết bị đồng
phát (điện + nhiệt)
GRID Điện cấp đến và đi từ lưới điện fcgn Phần nhiệt cần thiết được cấp bởi thiết
bị đồng phát
CGN Năng lượng cấp đến ở dạng nhiên liệu ηboil Hiệu suất của nồi hơi
cho thiết bị đồng phát
GAS Khí tự nhiên cấp cho nồi hơi EL-USE Điện sử dụng
ηcgn;el Hiệu suất điện của thiết bị đồng phát QX;dis;in Nhiệt yêu cầu bởi tòa nhà (đầu vào
phân phối)
Hình J.8 - Nồi hơi sử dụng khí tự nhiên và thiết bị đồng phát với năng lượng tái tạo
Bảng J.8 - Nồi hơi sử dụng khí tự nhiên và thiết bị đồng phát với năng lượng
tái tạo: Chi tiết năng lượng theo trọng số
Chỉ số phân bổ theo phương pháp
nhiệt dư
Hiệu suất lưới % 44 aw aq
Hiệu suất điện đồng phát % 30 0,68 0,32
Hiệu suất nhiệt đồng phát % 60
Chỉ số chuyển đổi đồng phát fPnren fPren fPtot
Chỉ số chuyển đổi nhiên liệu 0,10 1,00 1,10
Trọng số nhiệt đồng phát 0,05 0,53 0,58
Trọng số điện đồng phát 0,23 2,27 2,50
kexp 1,0
TỔNG BƯỚC A 120 0 96 215
+ Năng lượng xuất đi CGN 28 0,2 2,3 6 63 69
- Tránh được phát điện
GRID 28 2,0 0,5 -55 -14 -69
lưới
Hiệu quả năng lượng 71 -14 158 215 0,67 0,74
Không Không
Mức năng lượng sẵn có 0 0,2 2,3 0 0 0
sẵn có sẵn có
Ví dụ trong Hình J.8 và Bảng J.8 minh họa sự cân bằng năng lượng của cùng một hệ thống được
trình bày trong Hình J.7 nhưng với thiết bị đồng phát được cấp nhiên liệu tái tạo: Khí sinh học có fPren
= 1,0 và fPnren = 0,1.
Tất cả các dòng năng lượng thực tế là như nhau, chỉ có chỉ số chuyển đổi là thay đổi.
J.3 Ví dụ tính toán năng lượng xuất đi và cấp đến
J.3.1 Giới thiệu
Trong điều này, hai ví dụ được đưa ra để diễn giải rõ việc tính toán các thành phần năng lượng cấp
đến và xuất đi cùng với trọng số.
Một ví dụ bao gồm ảnh hưởng của việc tính đến chỉ số phù hợp thời gian giữa lượng điện sản xuất và
sử dụng.
Mỗi tính toán được minh họa trong một bảng, trong đó:
- Mỗi hàng là một bước tính. Tham chiếu đến công thức tương ứng trong TCVN 13469-1:2022 (ISO
52000-1:2017) được nêu ở cột ngoài cùng bên trái;
- Tính toán được lặp lại trong 12 khoảng thời gian tính toán, được ghi theo tháng, cho biết cân bằng
năng lượng có thể có;
- Có một cột cho mỗi bước thời gian và một cột cho kết quả khoảng thời gian tính toán được ký hiệu
là “Năm”;
- Bảng mô phỏng tính toán theo tháng trong một năm nhưng nguyên tắc này có giá trị đối với số
lượng khoảng tính toán bất kỳ.
Trừ khi có quy định khác, các chỉ số chuyển đổi năng lượng sơ cấp sau đây được sử dụng (được thể
hiện trong các bảng có liên quan):
- Điện lưới: fPren;el = 0,5 và fPnren;el = 2,0;
- Điện sản xuất tại chỗ: fPren;PV = 1,0 và fPnren;PV = 0,0.
Ví dụ này được đưa ra chỉ áp dụng đối với điện. Để có được các kết quả có ý nghĩa và hoàn thành ví
dụ tính toán, năng lượng cấp đến cho máy phát điện tại chỗ cũng được tính đến cũng như (điện mặt
trời cấp đến). Việc xem xét các chất mang năng lượng bổ sung được xuất đi sẽ dễ dàng, lượng năng
lượng được cấp đến theo trọng số được tính tổng và không có tương tác nào khác ngoài việc tổng
hợp thêm một lượng năng lượng được cấp đến theo trọng số.
Việc trình bày ví dụ tuân theo trình tự tính toán thực tế:
- Xác định các thành phần năng lượng được cấp đến và xuất đi;
- Tính trọng số;
- Tính toán tùy chọn các chỉ số hiệu quả thành phần.
Ví dụ được trình bày với các chỉ số trọng số không đổi.
J.3.2 Xác định thành phần năng lượng cấp đến và xuất đi
Bảng J.9 - Tính toán chi tiết thành phần năng lượng cấp đến và xuất đi
Công
Đơn
thức Mô tả Ký hiệu Năm T 1 T 2 T 3 T 4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
vị
số
Các sử dụng
hiệu quả năng EEPus;el,t kW∙h1220 200 160 100 90 50 60 80 70 50 80 120 160
lượng
Sử dụng không
EnEPus;el,t 360 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30
hiệu quả năng
(30) Điện sản xuất Epr;el,t kW∙h1551 44 55 77 110 187 209 220 198 176 132 88 55
Tỷ lệ điện sản
(-) xuất/ điện sử 0,220,340,771,223,743,482,752,833,521,650,730,34
dụng
Sử dụng hệ số
NO
phù hợp ?
(32) Hệ số phù hợp, t fmatch 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0 1,0
Điện sử dụng
hiệu quả năng
(31) Epr;el;used;EPus,t kW∙h 799 44 55 77 90 50 60 80 70 50 80 88 55
lượng của tòa
nhà
(33) Điện xuất đi Eexp;el,t kW∙h 752 0 0 0 20 137 149 140 128 126 52 0 0
Xuất đi cho sử
(34) dụng không hiệu Epr;el;used;nEPus,t kW∙h 200 0 0 0 20 30 30 30 30 30 30 0 0
quả năng lượng
Điện lưới xuất
(35) Eexp;el;grid,t kW∙h 0 0 0 0 107 119 110 98 96 22 0 0
đi, t
Điện lưới xuất
(36) Eexp;el;grid;an kW∙h 552
đi, năm
Điện lưới cấp
(37) Edel;el,t kW∙h 156 105 23 0 0 0 0 0 0 0 32 105
đến, t
Điện lưới cấp
(38) Edel;el;an kW∙h 421
đến, năm
Bảng J.9 trình bày quy trình tính toán để xác định giá trị của các thành phần năng lượng được cấp
đến và xuất đi. Các hàng trong bảng theo thứ tự tính toán thực tế và tham khảo các công thức được
đánh số trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017).
Dữ liệu đầu vào thuộc ba hàng đầu tiên: Sử dụng EPB, sử dụng không EPB và sản xuất điện. Đây là
một ví dụ với năng lượng tái tạo được sản xuất tại chỗ hàng năm cao (551 kW∙h) vượt quá mức sử
dụng EPB (1220 kW∙h).
Sử dụng không EPB cũng được bao gồm trong ví dụ này (30 kW∙h cho mỗi khoảng thời gian tính
toán).
Chỉ số phù hợp không được xem xét trong tính toán này, do đó fmatch = 1,0
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá
AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá ONST Tại chỗ
Hình J.9 - Cân bằng năng lượng tại khoảng thời gian với lượng điện sản xuất ra hấp so với sử
dụng
Hình J.9 cho thấy sự cân bằng trong một tháng có điện sản xuất ra tại chỗ thấp (tháng 1).
Nhận xét:
- Sử dụng EPB tại chỗ (200 (kW∙h)) được cung cấp một phần từ sản xuất đồng bộ (44 (kW∙h)) và một
phần từ lưới điện (156 (kW∙h)).
- Không có điện được sản xuất ra sẵn có cho các mục đích sử dụng không EPB.
- Lưới điện cung cấp lượng điện còn thiếu là bằng 156 (kW∙h);
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá
AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá ONST Tại chỗ
Hình J.10 - Cân bằng năng lượng tại khoảng thời gian với điện sản xuất ra phù hợp với sử
dụng
Hình J.10 cho thấy sự cân bằng trong một tháng (tháng 4) với điện sản xuất ra ở mức trung bình.
Nhận xét:
- Sử dụng EPB tại chỗ (90 (kW∙h)) được cung cấp hoàn toàn bằng việc sử dụng ngay một phần điện
được sản xuất (110 (kW∙h)).
- Sản lượng điện vượt quá 20 (kW∙h) được ưu tiên dùng tại chỗ cho mục đích sử dụng ngay không
EPB.
- Không có điện xuất lên lưới điện vì tổng lượng điện sử dụng EPB tại chỗ (90 (kW∙h)) và sử dụng
không EPB (30 (kW∙h)) cao hơn lượng điện được sản xuất.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá
AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá ONST Tại chỗ
Hình J.11 - Cân bằng năng lượng tại khoảng thời gian với điện sản xuất ra cao so với sử dụng
Hình J.11 cho thấy sự cân bằng trong một tháng (tháng 7) với sản lượng tại chỗ rất cao.
Nhận xét:
- Sử dụng EPB tại chỗ (80 (kW∙h)) và không sử dụng EPB (30 (kW∙h)). Hoàn toàn được bao hàm bởi
việc sử dụng ngay điện sản xuất tại chỗ (220 (kW∙h)).
- Năng lượng xuất đi (140 (kW∙h)) được sử dụng cho các mục đích sử dụng không EPB tại chỗ trước
tiên. Mức dư thừa (110 (kW∙h)) được xuất đi hòa vào lưới điện.
- Không có năng lượng được cấp đến vì tất cả việc sử dụng EPB tại chỗ đều được đáp ứng bằng
cách sử dụng ngay lượng điện được sản xuất.
CHÚ DẪN:
AB Ranh giới đánh giá AB-OUT Bên ngoài ranh giới đánh giá
AB-IN Bên trong ranh giới đánh giá ONST Tại chỗ
Hình J.12 - Cân bằng hàng năm không áp dụng chỉ số phù hợp
Hình J.12 cho thấy sự cân bằng theo năm mà không tính đến chỉ số phù hợp giữa điện được sản xuất
và được sử dụng.
Nhận xét:
- Sản xuất tại chỗ (1 551 (kW∙h)) vượt quá tổng lượng điện sử dụng tại chỗ cho hiệu quả năng lượng
của tòa nhà (1 220 (kW∙h)) và đóng góp cho việc sử dụng tại chỗ không EPB (200 (kW∙h))). Do đó có
một phần xuất hòa vào lưới (552 (kW∙h)).
- Phần đóng góp của điện được sản xuất (200 (kW∙h)) cho các mục đích sử dụng tại chỗ không EPB
(120 (kW∙h)) là không đầy đủ, ngay cả khi lượng điện xuất đi hàng năm hào vào lưới (552 (kW∙h))),
Bởi vì điện được sản xuất không phải lúc nào cũng sẵn có trong khoảng thời gian tính toán chuẩn.
- Vì lý do tương tự (khoảng thời gian tính toán không phù hợp giữa sản xuất điện và sử dụng tại chỗ)
lưới điện cung cấp điện trong tháng nào đó và có lượng điện được cấp hàng năm (421 kW∙h)
J.3.3 Xác định trọng số
Bảng J.2 trình bày các chi tiết của quy trình tính trọng số được áp dụng sau khi xác định các thành
phần năng lượng được cấp đến và xuất đi.
Bảng J.2 là phần tiếp theo của Bảng J.1.
Xác định trọng số được thực hiện độc lập cho
- Năng lượng sơ cấp tái tạo;
- Năng lượng sơ cấp không tái tạo (các ô màu bôi đậm);
Vì vậy có thể tính được tổng RER.
Bảng J.10 - Tính toán chi tiết năng lượng theo trọng số
Công Mô tả Ký hiệu Đơn Nă T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11
thức vị m
số
Chỉ số trọng số cho năng lượng cấp đến
Điện sản
fPren;pr;el,t 1,00 1,001,001,001,001,001,001,001,001,001,001,00
xuất
fPnren;pr;el,t 0,00 0,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,00
Năng
lượng fPren;del;el,t 0,50 0,500,500,500,500,500,500,500,500,500,500,50
cấp đến
fPnren;del;el,t 2,00 2,002,002,002,002,002,002,002,002,002,002,00
Epr;el,t kW∙h1551 44 55 77 110 187 209 220 198 176 132 88 55
Điện sản
(30) EPren;del;cr,t kW∙h1551 44 55 77 110 187 209 220 198 176 132 88 55
xuất
(30) EPnren;del;cr,t kW∙h 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Điện
lưới cấp Edel;el,t kW∙h 421 156 105 23 0 0 0 0 0 0 0 32 105
(19) đến
(19) EPren;del;el,t kW∙h 211 78 53 12 0 0 0 0 0 0 0 16 53
EPnren;del;el,t kW∙h 842 312 210 46 0 0 0 0 0 0 0 64 210
Chỉ số trọng số cho năng lượng xuất đi ở bước A
Tính toán
Epr;el;used;nEPus,t kW∙h 200 0 0 0 20 30 30 30 30 30 30 0 0
Xuất đi
cho sử fPren;exp;el;stepA,t 1,00 1,001,001,001,001,001,001,001,001,001,001,00
dụng
fPnren;exp;el;stepA,t 0,00 0,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,00
không
(24) hiệu quả EPren;exp;el;used;nePus,t;A kW∙h 200 0 0 0 20 30 30 30 30 30 30 0 0
NL
(24) EPnren;exp;el;used;nePus,t;A kW∙h 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Điện
lưới xuất Eexp;el;grid,t kW∙h 552 0 0 0 0 107 119 110 98 96 22 0 0
di
fPren;exp;el;stepA,t 1,00 1,001,001,001,001,001,001,001,001,001,001,00
fPnren;exp;el;stepA,t 0,00 0,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,00
(25) EPren;exp;el;grid,t;A kW∙h 552 0 0 0 0 107 119 110 98 96 22 0 0
(25) EPnren;exp;el;grid,t;A kW∙h 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Trọng số
(23) theo EPren;exp;el,t;A kW∙h 752 0 0 0 20 137 149 140 128 126 52 0 0
bước A
(23) Xuất đi EPnren;exp;el,t;A kW∙h 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Bước A EPren 1 010 122 108 89 90 50 60 80 70 50 80 104 108
Bước A EPnren 842 312 210 46 0 0 0 0 0 0 0 64 210
Bước A EPtot 1 852
RER Bước A 0,55
Chỉ số trọng số cho năng lượng xuất đi ở bước B
Xuất đi fPren;exp;el,t 0,50 0,500,500,500,500,500,500,500,500,500,500,50
không
hiệu quả fPnren;exp;el,t 2,00 2,002,002,002,002,002,002,002,002,002,002,00
NL
Điện fPren;exp;el,t 0,50 0,500,500,500,500,500,500,500,500,500,500,50
lưới xuất
đi fPnren;exp;el,t 2,00 2,002,002,002,002,002,002,002.002,002,002,00
Tính toán
(27) Xuất đi EPren;exp;el;used;nePus,t;AB kW∙h -100 0 0 0 -10 -15 -15 -15 -15 -15 -15 0 0
cho sử
dụng
(27) không EPnren;exp;el;used;nePus,t;AB kW∙h 400 0 0 0 40 60 60 60 60 60 60 0 0
hiệu quả
NL
(28) Điện EPren;exp;el;grid,t;AB kW∙h -276 0 0 0 0 -54 -60 -55 -49 -48 -11 0 0
lưới xuất
(28) đi EPnren;exp;el;grid,t;AB kW∙h1104 0 0 0 0 214 238 220 196 192 44 0 0
(26) Xuất đi EPren;exp;el,t;AB kW∙h -376 0 0 0 -10 -69 -75 -70 -64 -63 -26 0 0
theo
trọng số
(26) EPnren;exp;el,t;AB kW∙h1504 0 0 0 40 274 298 280 256 252 104 0 0
Bao gồm
Chỉ số
năng
kexp - 1,0
lượng
xuất đi
(20) Xuất đi EPren;exp;el,t kW∙h 376 0 0 0 10 69 75 70 64 63 26 0 0
theo
(20) trọng số EPnren;exp;el,t kW∙h1504 0 0 0 40 274 298 280 256 252 104 0 0
(2) EPren kW∙h1386 122 108 89 100 119 135 150 134 113 106 104 108
Hiệu
- - - - - -
(2) quả NL EPnren kW∙h -662 312 210 46 -40 64 210
274 298 280 256 252 104
trọng số
EPtot kW∙h 724
Tỷ lệ
năng
RER 1,91
lượng
tái tạo
Năng lượng được cấp đến trước hết cần được tính toán theo trọng số:
- Chỉ số trọng số điện sản xuất phụ thuộc vào loại thiết bị phát điện. Giả định rằng điện được phát bởi
các tấm pin mặt trời;
- Lượng điện sản xuất là kết quả tính toán đến từ các mô-đun khác;
- Các chỉ số trọng số của điện cấp từ lưới điện là một thông số đầu vào;
- Điện lưới cấp đến là giá trị chuẩn.
Sau đó, năng lượng xuất đi được tính theo trọng số với các chỉ số trọng số tương tự như điện được
sản xuất. Các chỉ số trọng số của điện sản xuất là hằng số. Chúng thay đổi (ví dụ: Phụ thuộc vào
bước thời gian) nếu:
- Hiệu suất của máy phát thay đổi;
- Tổ hợp phát năng lượng thay đổi (điện mặt trời và đồng phát song song).
- Kết quả cho bước A giống như kết quả cuối cùng nếu thông số kexp được lấy bằng 0.
Các chỉ số trọng số cho năng lượng xuất đi ở bước B là một thông số đầu vào. Quy trình cho thấy khả
năng có các chỉ số trọng số độc lập cho từng thành phần của năng lượng xuất đi:
- Được xuất cho mục đích sử dụng không EPB. Chỉ số trọng số này có thể khác so với chỉ số trọng số
của lưới được xuất đi, ví dụ: Nếu việc sử dụng không EPB không được cung cấp hoàn toàn từ lưới
điện;
- Điện lưới xuất đi, áp dụng cho điện xuất hòa vào lưới điện.
J.3.4 Ví dụ đầy đủ có tính đến hệ số phù hợp
Ví dụ trước cho thấy rằng nếu có sự không phù hợp về thời gian giữa sản xuất và sử dụng điện, thì
có cả điện được cấp đến và xuất đi vào lưới trong kỳ tính toán. Điện mặt trời sản xuất trong mùa hè
không thể tính vào sử dụng để chạy bơm nhiệt vào mùa đông. Điều này đúng với cả phương pháp
tính theo tháng và phương pháp tính theo giờ nhưng không đúng với phương pháp tính theo năm.
Khoảng thời gian tính toán xác định khoảng thời gian không khớp cho phép về mặt thời gian (ví dụ
khoảng thời gian bù) giữa sản xuất và sử dụng. Phương pháp tính theo tháng ngầm định cho phép bù
trừ giữa điện được sản xuất vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày và điện được sử dụng vào bất kỳ
thời điểm nào khác trong ngày. Đối với phương pháp tính theo tháng, các tấm pin mặt trời có thể tạo
ra điện được sử dụng vào ban đêm để chiếu sáng hoặc vào buổi tối cấp cho máy điều hòa không khí.
Dạng không phù hợp này sẽ được xác định bằng cách tính toán theo giờ.
Nếu kết quả tương tự được mong muốn cho khoảng thời gian tính toán bất kỳ, thì:
- Khoảng thời gian bù tối đa cần phải được quyết định hoặc khoảng thời gian tối đa mà trong đó tất cả
các điều kiện vận hành có thể được giả định là thực sự không đổi (ví dụ mức độ sản xuất và sử dụng
năng lượng điện là không đổi);
- Cần có chỉ số phù hợp thống kê khi sử dụng khoảng thời gian tính toán dài hơn. Đó là vai trò của
hàm chỉ số phù hợp đã được giới thiệu trong Công thức (31) và (32) của TCVN 13469-1:2022 (ISO
52000-1:2017);
- Yêu cầu một bộ đệm giả tưởng (như năng lượng tạm thời được xuất đi và tái cấp đến) nếu sử dụng
khoảng thời gian tính toán ngắn hơn (trường hợp này được đề cập đối với một tính toán đầy đủ, hiện
tại thì không phải trường hợp như vậy vì khoảng theo giờ là khoảng thời gian tính toán ngắn nhất
được sử dụng cho đến nay).
Các giả định cơ bản là:
- Khoảng thời gian theo giờ không cần điều chỉnh, vì vậy chỉ số phù hợp được lấy bằng 1,00 cho
bước thời gian theo giờ; mức độ sản xuất và sử dụng được giả định là ở mức độ không đổi (công
suất) trong mỗi giờ;
- Chỉ số phù hợp sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ giữa lượng điện sản xuất và điện sử dụng trong một khoảng
thời gian tính toán:
- Nếu tỷ lệ lớn hơn 1, một lượng điện có thể được sản xuất tại thời điểm bất kỳ khi sử dụng một lượng
điện nhỏ. Vì vậy, nếu tỷ lệ → ∞ thì chỉ số phù hợp → 1,0,
- Nếu tỷ lệ tiến gần đến không, một số trường hợp sử dụng điện có thể xảy ra tại thời điểm bất kỳ khi
một lượng điện nhỏ được sản xuất. Vì vậy, nếu tỷ lệ → 0 thì chỉ số phù hợp → 1,0 một lần nữa,
- Khả năng xảy ra sự không phù hợp cao nhất khi lượng điện sản xuất ra tương ứng với lượng điện
sử dụng. Vì vậy, nếu tỷ lệ tiến gần đến 1,0 thì chỉ số phù hợp là tối thiểu.
Đây là lý do để công thức mặc định đưa ra “chỉ số phù hợp” được đề xuất
trong TCVN 13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Bảng B.32:
1
xn + -k
xn
fmatch =
1 (J.1)
xn +
xn
Hàm số đơn giản này có các tính chất sau:
- Có xu hướng tiến đến 1 khi cả x → ∞ và x → 1,
- Có giá trị nhỏ nhất khi x = 1,
- Thông số n kiểm soát độ sắc nét của đỉnh nhỏ nhất,
- Thông số k kiểm soát giá trị nhỏ nhất của chỉ số phù hợp xuất hiện tại x
= 1 và được tính bởi
2-k k
fmatch (1) = =1- (J.2)
2 2
Hình J.13 cho thấy hàm này khi k = 1 và n = 1 là các lựa chọn mặc định được đề xuất trong TCVN
13469-1:2022 (ISO 52000-1:2017), Bảng B.32.
Hình J.13 - Đồ thị của chỉ số phù hợp với giả định là n=1 và k=1
Đây là một đề xuất rất cơ bản. Hàm chỉ số phù hợp thực sự phụ thuộc vào:
- Độ dài của khoảng tính toán;
- Mô hình sử dụng điện, ví dụ: Hạng mục không gian và các dịch vụ sẵn có;
- Mô hình sản xuất điện, ví dụ: Loại thiết bị phát điện (Pin mặt thời, đồng phát, v.v.) và lịch trình vận
hành.
Bảng J.11 - Tính toán chi tiết của các thành phần năng lượng được cấp đến và xuất đi có tính
đến hệ số phù hợp mặc định
Công
Đơn
thức Mô tả Ký hiệu Năm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
vị
số
(29) Sử dụng EEPus;el,t kW∙h 1220 200 160 100 90 50 60 80 70 50 80 120 160
Sử dụng
EnEPus;el,t 360 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30 30
không EPB
Điện được
(30) Epr;el,t kW∙h 1551 44 55 77 110 187 209 220 198 176 132 88 55
sản xuất
(-) Tỷ lệ sản xuất/ sử dụng 0,220,340,771,223,743,482,752,833,521,650,73 0,34
Sử dụng hệ số phù hợp? YES
Chỉ số phù
(32) fmatch 0,8 0,7 0,5 0,5 0,8 0,7 0,7 0,7 0,7 0,6 0,5 0,7
hợp, t
Điện sử
(31) Epr;el;used;EPus,t kW∙h 508 35 38 40 46 38 44 54 48 37 45 46 38
dụng EPB
(33) Điện xuất đi Eexp;el,t kW∙h 1043 9 17 37 64 140 165 166 150 139 07 42 17
Xuất đi cho
(34) Epr;el;used;nEPus,t kW∙h 313 9 17 30 30 30 30 30 30 30 30 30 17
sử dụng
Điện lưới
(35) Eexp;el;grid,t kW∙h 0 0 7 34 119 135 136 120 109 57 12 0
xuất đi, t
Điện lưới
(36) Eexp;el;grid;an kW∙h 730
xuất đi, năm
Điện lưới
(37) Edel;el,t kW∙h 165 122 60 44 12 16 26 22 13 35 74 122
cấp đến, t
Điện lưới
(38) cấp đến, Edel;el;an kW∙h 712
năm
Bảng J.11 và J.12 đưa ra ví dụ tương tự của Bảng J.1 và J.2 có tính đến chỉ số phù hợp giữa sản
xuất và sử dụng điện.
Ảnh hưởng đến phần tính toán này là luôn có một lượng điện được cấp đến từ lưới điện trong khoảng
thời gian tính toán bất kỳ vì sản lượng điện sản xuất không bao giờ được coi là hoàn toàn phù hợp
với nhu cầu sử dụng. Trong tháng Bảy, ngay cả khi sản lượng điện là 220 kW∙h, hệ số phù hợp 0,68
xác định rằng 26 trong số 80 kW∙h được sử dụng trong tháng Bảy không được cấp từ lượng điện sản
xuất và do đó, một lượng điện tương đương được cấp đến từ lưới điện.
Bảng J.12 - Tính toán chi tiết trọng số năng lượng có tính đến hệ số phù hợp mặc định
CôngMô tả Ký hiệu Đơn NămThángT2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
thức vị 1
số
Chỉ số trọng số cho năng lượng cấp đến
Điện fPren;pr;el,t 1,00 1,001,001,001,001,001,001,001,001,001,001,00
sản
xuất fPnren;pr;el,t 0,00 0,000,000,000,000,000,000,000,000,000,000,00
CHÚ DẪN:
IX Hạng mục sử dụng X GEN X Máy phát X
EM Hệ thống con phát xạ nhiệt và kiểm soát GAS Chất mang năng lượng dạng khí đốt
PV Chất mang năng lượng dạng điện mặt
NOD Điểm nút trời
DIX X Phân phối X GRID Chất mang năng lượng dạng điện lưới
Hình J.14 - Ví dụ nhiều hệ thống kỹ thuật cung cấp cho các hạng mục sử dụng năng lượng
Việc sưởi ấm được cung cấp cho tám “hạng mục sử dụng” được kết nối với một số hệ thống kỹ thuật
như trong Hình J.14:
- Ba hệ thống con phát xạ nhiệt và kiểm soát,
- Một cặp mạng lưới phân phối,
- Một điểm nút chính,
- Một nồi hơi và một bơm nhiệt.
Nồi hơi sử dụng khí đốt và năng lượng phụ trợ.
Bơm nhiệt sử dụng điện được coi là chất mang năng lượng chính.
Việc sử dụng năng lượng phụ trợ của các hệ thống con cũng được tính đến.
Điện được cung cấp từ lưới điện nhưng cũng được sản xuất bằng phát điện tại chỗ. Màu nền được
sử dụng để nhận diện sự phát xạ nhiệt, phân phối và các máy phát. Việc tính toán được thể hiện
trong một loạt các bảng:
- Mỗi hàng là một bước tính toán,
- Số thứ tự của công thức trong TCVN 13469-1 (ISO 52000-1) được hiển thị trong cột “tham khảo”,
- Các hệ thống con được mô phỏng với các công thức đơn giản giả định rằng đã biết tổn thất, hiệu
suất, sử dụng năng lượng phụ trợ hoặc phần trăm năng lượng phụ trợ,
- Mỗi bước tính được dẫn giải ở cột ngoài cùng bên phải.
Việc tính toán được thực hiện với phương pháp tính toán thông thường trước, sau đó được lặp lại với
phương pháp tính toán ngược để thấy kết quả là hoàn toàn giống nhau.
CHÚ THÍCH: Ví dụ tương tự có sẵn trong bảng tính kèm theo.
Bảng J.13 - Ví dụ các hạng mục sử dụng
Mô tảKý hiệu Tổn Đơn Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công Dẫn
g vị g m thức giải
hạng chiếu trong
mục TCVN
13469-
1 (ISO
52000-
1)
Số 1 2 3 4 5 6 7 8 Sử
hạng dụng
mục số
hạng
mục
(chỉ số
“i” trong
các ví
dụ sau)
Việc
lập chỉ
số này
phải
được
thống
nhất
nếu
không
sẽ
không
dễ
dàng
xử lý
cho
một số
dịch vụ.
Về
nguyên
tắc
không
có sự
khác
biệt
giữa
các
hạng
mục sử
dụng
liên
quan
đến các
dịch vụ
khác
nhau.
QH;nd,1 QH;nd,2 QH;nd,3 QH;nd,4 QH;nd,5 QW;nd,1 QW;nd,2 QW;nd,3 Ký hiệu
rõ ràng
cho mỗi
hạng
mục sử
dụng
Nhu QX;nd;i Cho kW. 50 80 50 70 90 100 120 150 710 Nhu
cầu hạng h cầu có
năng mục sẵn cho
lượn mỗi
g mục sử
dụng
Trọng Xdef;i Khá 40 40 20 50 50 100 200 100 Các giá
số c trị trọng
mặc nhau số mặc
định định sẽ
được
sử
dụng
trong
trường
hợp
tổng
nhu
cầu cho
một
vùng
bằng 0
(nếu
không
có thể
xảy ra
chia
cho 0)
Đơn vị
(m2, m3,
...) phụ
thuộc
vào tiêu
chí
trọng
số mặc
định.
Chỉ sử
dụng
về mặt
định
lượng
nên
không
liên
quan
đến
đơn vị
vì vậy
chúng
được
được
giữ
nguyên
.
Điều
này sẽ
chỉ
được
sử
dụng
nếu
tổng tất
cả các
hạng
mục sử
dụng
bằng 0.
Phát nhiệt 1 Phát nhiệt Phát nhiệt 3 Trong
2 ví dụ
này có
2 hệ
thống
con
sưởi
bằng
phát xạ
nhiệt và
1 hệ
thống
con cấp
cho
nước
nóng
sinh
hoạt
Phát QX;em;out,i Cho kW. 50 80 50 70 90 100 120 150 (E1) QX;em;out,i Bước
xạ hạng h = QX;nd;i thứ
nhiệt mục nhất
ra thường
được
thực
hiện:
Một
hạng
mục,
một
đóng
góp
vào
đầu ra
phát xạ
nhiệt
yêu
cầu.
Đây là
một
phần
của quy
trình
bình
thường
.
Để
hoàn
chỉnh
việc
tính
toán,
hàng
này
nên
được
chia
thành
ba
hàng
cho 3
hệ
thống
con
phát xạ
nhiệt,
về
nguyên
tắc, có
thể có
một
đóng
góp
cho mỗi
hạng
mục sử
dụng
cho mỗi
bước
tính
toán.
Cách
tiếp cận
hoàn
chỉnh
này
được
hiển thị
trong
ba
hàng
tiếp
theo.
Đầu QX;em,1;out,i Cho kW. 50 80 50 0 0 0 0 0
ra hạng h
của mục
bộ
phát
nhiệt
1
Đầu QX;em,2;out,i Cho kW. 0 0 0 70 90 0 0 0 Ví dụ
ra hạng h về cách
của mục tiếp cận
bộ hoàn
phát chỉnh.
nhiệt Các số
2 0 được
bỏ qua
trong
phần
sau
Đầu QX;em,3;out,i Cho kW. 0 0 0 0 0 100 120 150 Cách
ra hạng h tiếp cận
của mục này là
bộ cần
phát thiết đối
nhiệt với các
3 máy
phát
Bảng J.14 - Tính toán kiểm soát và cấp nhiệt nóng/ lạnh với phương pháp
tính thông thường
Mô Ký Tổn Đơn Hạng mục sử dụng Tổng Tha Côn Dẫn giải
tả hiệu g vị m g
hạn chi thức
g ếu tron
mục g
TCV
N
1346
9-
1:20
22
(ISO
5200
0-
1:20
17)
Tính toán hệ thống con
phát nhiệt
Ph QX;em;out TổngkW.h 180 160 370 Tổng các kết quả đầu ra
át yêu cầu liên quan đến
nhi các hạng mục kết nối vời
ệt mỗi hệ thống con phát xạ
ra nhiệt.
Đây là một phần của các
quy trình thông thường.
QH;em,1;out = ∑QH;em;out,i i=1…3 (E2) QX;em;out = ∑QX;em;out,i
Tổ QX;em;ls Tổng kW.h 20 20 40 Các tổn thất được cho là
n cộng giá trị tuyệt đối. Đây là
thất kết quả tính toán của quy
phá trình tính toán thông
t thường. Đây là những
nhi tổn thất tổng cộng.
ệt
pháWX;em;aux Tổng kW.h 10 5 5
t cộng
nhi
ệt
phụ
trợ
Th fX;em;aux;rh Tổng % 0 100 100 Năng lượng phụ trợ
u cộng được thu hồi. Điều này
hồi được bao gồm trong quy
phá trình tính toán thông
t xạ thường. Nó được biểu thị
nhi dưới dạng tỷ lệ phần
ệt trăm để đơn giản hóa
phụ việc nhập dữ liệu
trợ
Ph QX;em;in Tổng kW.h 200 175 405 Cân bằng hệ thống con
át cộng phát xạ nhiệt. Đây là một
xạ kết quả tính toán của quy
nhi trình tính toán thông
ệt thường.
vào
Công thức được hiển thị
cho thấy cân bằng mặc
định của hệ thống con
Qx;em;in = Qx;em;out + Qx;em;ls - QX;em;aux ∙ fX;em;aux;rh
Ph QX;em;in,i Cho kW.h 56 89 56 77 98 109 131 164 Phân bổ tổng đầu vào
át hạng phát nhiệt của mỗi hệ
xạ mục thống con phát nhiệt 1…
nhi 3 đến các hạng mục
ệt được kết nối. Việc phân
vào bổ dựa trên kết quả đầu
ra hoặc dựa trên
các thông số trọng số
mặc định nếu tổng đầu ra
bằng không.
(E.3
)
Hai hệ thống con kiểm soát và phát xạ nhiệt được liên kết với một mạng phân phối duy nhất.
Bảng J.15 - Tính phân phối bằng phương pháp tính thông thường
Mô Ký Tổng Đơ Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công Dẫn giải
tả hiệu hạng n vị g m thức
mục chiế trong
u TCVN
13469-
1:2022(I
SO
52000-
1:2017)
Tính toán phân phối
hệ thống con
Phâ QX;dis;ou Tổng kW. 375 405 Tổng các kết quả đầu ra
n cộng h yêu cầu có liên quan
phối đến các hạng mục
ra được kết nối với từng
hệ thống con phân bổ.
Tổn QX;dis;ls Tổng kW. 20 30 Các tổn thất được cho
thất cộng h là giá trị tuyệt đối. Đây
phâ là kết quả tính toán của
n quy trình tính toán
phối thông thường. Đây là
những tổn thất tổng
cộng.
Phâ WX;dis;a Tổng kW. 6 10 Năng lượng phụ trợ
n ux cộng h được cho là giá trị tuyệt
phối đối. Đây là kết quả tính
phụ toán của quy trình tính
trợ toán thông thường.
Thu fX;dis;aux;r Tổng % 85 85 Năng lượng phụ trợ
hồi h cộng được thu hồi. Điều này
phâ được bao gồm trong
n quy trình tính toán
phối thông thường. Nó được
phụ biểu thị dưới dạng tỷ lệ
trợ phần trăm để đơn giản
hóa việc nhập dữ liệu.
Phâ QX;dis;in Tổng kW. 390 427 Cân bằng hệ thống con
n cộng h phân bổ. Đây là một kết
phối quả tính toán của quy
vào trình tính toán thông
thường.
Công thức được hiển
thị cho thấy cân bằng
mặc định của hệ thống
con mặc định.
Qx;dis;in = Qx;dis;out + Qx;dis;ls - Qx;dis;aux ∙ fx;dis;aux;rh
Phâ QX;dis;in,i Cho kW. 58 92 58 80 102 115 138 17 Phân bổ tổng đầu vào
n hạng h 3 phân phối của mỗi hệ
phối mục thống phân phối con 1...
vào 2 đến các hạng mục
được kết nối.
(E.3)
Bảng J.16 - Tính điểm nút bằng phương pháp tính thông thường
Mô Ký hiệu Tổ Đơ Hạng mục sử dụng Tổ Tha Công thức Dẫn giải
tả ng n vị ng m trong
hạn chiếTCVN
g u 13469-
mụ 1:2022(ISO
c 52000-
1:2017)
Tính toán cho điểm nút
QX;dis,1;in,i Ch 58 9 58 80 102 0 0 0 Nêu rõ những đóng góp của
Ph
o 2 việc phân phối 1 cho tất cả
ân
hạn các hạng mục. Đối với các
phố
g mục 6... 8 không có đóng góp
i
mụ nào thông qua phân phối vào
vào
c 1 vì cấu trúc lá cấu trúc hình
1
cây
Ph QX;dis,2;in,i Ch 0 0 0 0 0 115 13 17 Nêu rõ những đóng góp của
ân o 8 3 việc phân phối 1 cho tất cả
phố hạn các hạng mục.
i g
vào mụ
2 c
Q Tổn kW. 816 Tổng năng lượng đi qua điểm
điể g h nút
m cộn
nút g
Chi Tổn % 55 45 Phần trăm phân chia giữa các
a g máy phát
tác cộn
h g
má
y
phá
t
Má QX;gen;out Tổn kW. 44 36 Kết quả đầu ra từ mỗi máy
y g h 9 7 phát
phá cộn
t ra g
Má QX;gen,1;ou Ch kW. 32 5 32 44 56 63 76 95 449 Tính toán đầu ra của máy phát
y t,i o h 1 1 liên quan đến từng hạng
phá hạn mục sử dụng
t ra g
1 mụ
c
(E.8
)
Hai mạng phân phối được kết nối với hai máy phát có sẵn, nồi hơi và máy bơm nhiệt.
Sự phân bố tải giữa các máy phát đã biết khi áp dụng quy trình này.
Bảng J.17 - Tính toán năng lượng phát bằng phương pháp tính thông thường
Mỏ Ký hiệu Tổng Đơn Hạng mục sử dụng TổngThamCông thức Dẫn giải
tả hạng vị chiếu trong
mục TCVN
13469-
1:2022(ISO
52000-
1:2017)
Máy phát 1 Máy phát Tính toán máy
2 phát
Máy QX;gen;out Tổng kW.h 449 367 Chỉ là một lời nhắc
phát cộng
ra
Hiệ % 92 COP 3,0 Việc tính toán các
u máy phát không
suất giống như các hệ
thống con khác.
Đôi khi tổn thất
được sử dụng
nhưng nhiều loại
máy phát không
tuân theo cách tính
này. Tính toán máy
bơm nhiệt không
phải là tính toán tổn
thất
Phụ % 3 Phụ % 3 Đặc điểm kỹ thuật
trợ trợ của năng lượng
phụ trợ được đưa
ra dưới dạng phần
trăm của đầu ra
cho mục đích trình
diễn
Máy QX;gen;in Tổng [Link]í 488 Điện 122 Đây là chất mang
phát cộng đốt năng lượng chính
vào được cấp đến
Máy WX;gen;aux Tổng kW.h 13 11 Năng lượng phụ
phát cộng trợ như giá trị tuyệt
phụ đối. Đây là kết quả
trợ thông thường của
việc tính toán máy
phát
Phân bố máy phát
đầu vào
Máy QX;gen,1;in,i Cho kW.h35 5535 4861 6 83 103488 Phân bổ tổng đầu
phát hạng 9 vào phát điện của
vào mục máy phát 1 cho các
1 hạng mục được kết
nối.
(E.3)
Máy QX;gen,2;in,i Cho kW.h9 149 1215 1 21 26 122 Phân bổ tổng đầu
phát hạng 7 vào phát điện của
vào mục máy phát 2 cho các
2 hạng mục được kết
nối.
(E.3)
Bảng J.18 - Xác định tổng hiệu quả năng lượng theo trọng số
Mô Ký hiệu Tổn Đơ Hạng mục sử Tổn Tha Công thức trong Dẫn giải
tả g n vị dụng g m TCVN 13469-
hạn chiế 1:2022(ISO
g u 52000-1:2017)
mục
Cân bằng điện (đơn giản
hóa)
Tổng Wtot;sys;aux Tổn kW. 60 (29) Thu thập tất cả năng lượng
phụ g h phụ trợ được sử dụng cho
trợ cộn mục đích EPB, Số hạng thứ 2
g của (29)
Tổng EX;gen,2;in Tổn kW. 122 (29) Trong trường hợp này, chỉ có
máy g h một máy phát sử dụng điện
phát cộn như điện đầu vào chính, số
vào g hạng thứ 1 của (29)
2
Tổng EEPus;el Tổn kW. 183 (29) Công thức (29) trong TCVN
sử g h 13469-1:2022 (ISO 52000-
dụng cộn 1:2017))
EPB g
Sản Epr;el Tổn kW. 250 0 25025 Sản xuất điện mặt trời
xuất g h 0
Để hiểu ảnh hưởng của năng
điện cộn
lượng xuất đi, hãy kiểm tra sự
mặt g
khác biệt giữa phát điện mặt
trời
trời hiệu suất thấp và phát
điện mặt trời hiệu suất cao.
Đây là giá trị đầu vào cho ví
dụ này.
(30)
Hiệu Ewe;A Tổn kW. 53 18372 0,2 Công thức (2) với đánh giá
quả g h 7 0 5 bước A. Đây là đánh kết quả
năng cộn từng phần. Nó sẽ là kết quả
lượn g cuối cùng nếu chọn kexp=0
g
EP)
bướ
cA
. (2)
Bảng J.19 - Xác định hiệu quả năng lượngtheo trọng số bước A trên hạng mục sử
dụng với phương pháp tính thông thường
Mô Ký Tổn Đơ Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công Dẫn giải
tả hiệu g n vị g m thức
hạn chiế trong
g u TCVN
mụ 13469-
c 1:2022(IS
O 52000-
1:2017)
Tính hiệu quả theo
trọng số cho mỗi hạng
mục sử dụng
Chỉ fwe;aux Tổn Công thức mới để tính
số g chỉ số trọng số trung
trọn cộn bình cho điện được sử
g số g dụng trong tòa nhà. Nó
điện được tính toán cho từng
sử loại trọng số (ví dụ: đối
dụn với Pren, Pnren, v.v.) tại
g mỗi bước thời gian.
(E.1
2)
Tổn Waux,i Cho kW. 5 9 5 6 7 8 9 11 (E.1 Thu thập phần đóng
g hạn h 1) góp của năng lượng
phụ g phụ trợ cho mỗi hạng
trợ mục mục sử dụng
Tổn Edel,i;fuel1 Cho kW. 35 55 35 48 61 69 83 103 (E.1 Lời nhắc: Đầu vào
g hạn h 0) nhiên liệu của máy phát
nhiê g số 1
n mục
liệu
số 1
Tổn Edel,i;fuel2 Cho kW. 9 14 9 12 15 17 21 26 (E.1 Lời nhắc: Đầu vào
g hạn h 0) nhiên liệu (điện) của
phát g máy phát số 2
vào mục
số 2
Xác định trọng số
năng lượng không tái
tạo
EP Epnren;aux, Cho kW. 0 0 0 0 0 0 0 0 (E.9) Đóng góp của năng
phụ i hạn h lượng phụ trợ vào hiệu
trợ g quả năng lượng theo
mục trọng số
Hệ số chuyển đổi điện
năng trung bình được
sử dụng ở đây. (số
hạng đầu tiên của công
thức bên dưới)
EP EPnren;fuel Cho kw. 38 61 38 52 67 76 91 114 (E.9) Đóng góp của đầu vào
của 1,i hạn h phát điện số 1 vào hiệu
nhiê g quả năng lượng theo
n mục trọng số (đóng góp
liệu không phải là dạng
số 1 năng lượng điện vào số
hạng thứ 2 của công
thức dưới đây)
Tổn EPnren,i;A Cho kW. 38 61 38 52 67 76 91 114 537 Hiệu quả năng lượng
g hạn h theo trọng số cho mỗi
EP g hạng mục sử dụng ở
bướ mục bước A
cA
(E.9)
Ví dụ về một chỉ số bổ
sung cho mỗi hạng mục
sử dụng: hiệu suất năng
lượng sơ cấp không tái
tạo
Hiệ ηi; A Cho 130 130 130 130 130 130 130 130 132 Hiệu suất của hệ thống
u hạn % % % % % % % % % trên mỗi hạng mục sử
suất g dụng, được đánh giá về
bướ mục năng lượng sơ cấp
cA không tái tạo cho hiệu
quả bước A
Xác định trọng số
năng lượng tái tạo
EP EPren;aux,i Cho kW. 5 9 5 6 7 8 9 11 (E.9) Như trên
phụ hạn h
trợ g
mục
EP EPren;fuel1 Cho kW. 0 0 0 0 0 0 0 0 (E.9) Như trên
nhiê ,i hạn h
n g
liệu mục
số 1
EP EPren;fuel2 9 14 9 12 15 17 21 26 (E.9) Như trên
nhiê ,i
n
liệu
số 2
Tổn EPren,i;A Cho kW. 14 23 14 18 23 25 30 37 183 (E.9) Hiệu quả năng lượng
g hạn h theo trọng số trên mỗi
EP g hạng mục
bướ mục
Tổng các hiệu quả
cA
thành phần như tổng
hiệu quả
Bảng J.20 - Xác định hiệu quả năng lượng cuối cùng theo trọng số bước A cho hạng mục sử
dụng bằng phương pháp tính thông thường
Mô tả Ký Tổn Đơn Hạng mục sử dụng TổngTham Công thức Dẫn giải
hiệu g vị chiếu trong TCVN
hạng 13469-1 (ISO
mục 52000-
1:2017)
Chuyển từ
bước A sang
bước B cho
hạng mục sử
dụng
Đánh giá theo
bước A không
phụ thuộc vào
năng lượng
xuất đi
Không cần có
quy tắc về
cách phân phối
năng lượng
xuất đi cho
hạng mục sử
dụng.
Bước EPnren,I;A Cho 38 61 38 52 67 76 91 114 537 Lời nhắc: Kết
A, hạng quả bước A
không mục cho năng
tái tạo lượng sơ cấp
không tái tạo
Bước EPren,i;A Cho 14 23 14 18 23 25 30 37 183 Lời nhắc: Kết
A, Tái hạng quả bước A
tạo mục cho năng
lượng sơ cấp
tái tạo
Bước EPtot,i;A Cho 52 83 52 70 90 101 121 151 720 Lời nhắc: Kết
A, tổng hạng quả bước A
mục cho tổng năng
lượng sơ cấp
Bước RERA Cho 0,270,2 0,270,250,250,250,250,250,25 Lời nhắc: Kết
A, RER hạng 7 quả bước A
mục cho chỉ số RER
Tỷ số fwe;AB Tổng 0,691,29 Tỷ lệ năng
của cộng lượng theo
năng trọng số sau /
lượng trước bước B.
theo Cần thiết để áp
trọng dụng tác động
số A/B của bước B
cho từng hạng
mục sử dụng.
Tỷ lệ này có
giá trị khác
nhau đối với
từng tiêu chí
trọng số (ví dụ:
đối với Pren,
Pnren). EPtot
có thể được
tính theo một
trong hai cách:
với tổng các
chỉ số chuyển
đổi sơ cấp
hoặc với tổng
năng lượng
(năng lượng
không tái tạo +
năng lượng tái
tạo)
(E.14)
ĐÁNH GIÁ
BƯỚC B
ĐƯỢC THỰC
HIỆN BẮT
ĐẦU TỪ
BƯỚC A VÀ
ÁP DỤNG
CÙNG
PHƯƠNG
PHÁP TỶ LỆ
TĂNG / GIẢM
NĂNG LƯỢNG
THEO TRỌNG
SỐ NHƯ ĐỐI
VỚI VIỆC
TÍNH TOÁN
TỔNG.
VÍ DỤ. NẾU ĐI
TỪ BƯỚC A
ĐẾN B CẮT
GIẢM MỘT
NỬA NĂNG
LƯỢNG SƠ
CẤP KHÔNG
TÁI TẠO, THÌ
NĂNG LƯỢNG
SƠ CẤP
KHÔNG TÁI
TẠO ĐƯỢC
CẮT GIẢM ĐI
MỘT NỬA
CHO TẤT CẢ
CÁC HẠNG
MỤC SỬ
DỤNG.
Đi từ bước A
đến bước B có
nghĩa là kết
hợp tác động
của năng
lượng xuất đi.
Không có lý do
chính đáng nào
để nói rằng
năng lượng
xuất đi “thuộc
về" bất kỳ hạng
mục sử dụng
nào.
Kết quả cuối cùng
EP Epnren,i Cho 26 42 36 36 46 52 63 78 369 (E.13) Ewe;i;t = Ewe;A;i;t x fwe;AB;t
cuối hạng
cùng mục
(Bước
B)
Năng
lượng
không
tái tạo
EP EPren,i Cho 18 29 18 23 29 32 38 48 238 (E.13) Công thức này
cuối hạng được áp dụng
cùng mục độc lập cho
(Bước từng loại trọng
B) số và cho từng
Năng hạng mục sử
lượng dụng
tái tạo
EP EPtot,i Cho 44 71 44 59 76 84 101 126 606 (E.13)
cuối hạng
cùng mục
(Bước
B)
Tổng
cộng
RER RERtot,i Cho 0,410,4 0,410,390,390,380,380,380,39 (E.13) Có sự khác
tổng hạng 1 biệt nhỏ giữa
cộng mục các hạng mục
cuối sử dụng do
cùng năng lượng
điện được sử
dụng với lượng
khác nhau theo
các nhánh của
hệ thống phân
phối và phát
nhiệt
Hiệu ηi Cho 1,911,9 1,911,941,941,9 1,921,921,92 Hiệu suất hệ
quả về hạng 1 2 thống trên mỗi
năng mục hạng mục sử
lượng dụng, được
không đánh giá dựa
tái tạo trên năng
lượng sơ cấp
không tái tạo
Bảng J.21 - Phương pháp tính ngược: Bắt đầu từ phát năng lượng và tính điểm nút
Mô Ký Tổ Đơn Hạng mục sử dụng Tổ Tha Công thức Dẫn giải
tả hiệu ng vị ng m trong
hạn chiếTCVN
g u 13469-
mụ 1:2022(ISO
c 52000-
1:2017)
Phương pháp tính
ngược
Má Ex;gen;in Ch kw.h488 122 Lời nhắc: Năng
y o lượng cấp đến cho
phá hạn mỗi máy phát
t g
vào mụ
c
Chỉ fwe;gen,i Ch 1,100.00 0,00 1,00 Lời nhắc: Chỉ số
số o trọng số của nhiên
trọn hạn liệu chính. Máy
g g bơm nhiệt sử dụng
số mụ điện, vì vậy hệ số
của c chuyển đổi của nó
nhi là hệ số dùng cho
ên điện cho các mục
liệu đích sử dụng EPB
Má WX;gen; Ch kW. 13 11 Lời nhắc: Năng
y aux o h lượng phụ trợ cho
phá hạn mỗi máy phát
t g
phụ mụ
trợ c
Chỉ fwe;aux;usTổn 0,00 1,00 Lời nhắc: Các chỉ
số ed g số trọng số của
trọn cộn năng lượng phụ trợ
g g
số
của
má
y
phá
t
phụ
trợ
EP Ewe;gen; Ch kW. 537 13 0 133 Năng lượng theo
của out o hp trọng số tại các đầu
má hạn ra của máy phát
y g
phá mụ
t c
Năn Năng Năng Năng (E.1 Ewe;X;gen;out = Ex;gen;in;cr,j x fwe;cr,j +
g lượng lượn lượn 5) Wx;gen;aux x fwe;aux
lượ tái tạo g g tái
ng khôn tạo
khô g tái
ng tạo
tái
tạo
Tính điểm nút
Má QX;gen;o kW. 449 367 Lời nhắc: Đầu ra
y ut h của máy phát
phá
t ra
Phâ QX;dis;in kW. 390 427 Lời nhắc: Đầu vào
n h phân phối
phố
i
vào
256 70 280 77 Năng lượng theo
trọng số tại các đầu
Năn Năng Năng Năng
vào phân phối.
g lượng lượn lượn
lượ tái tạo g g tái Năng lượng theo
ng khôn tạo trọng số tại các hệ
khô g tái thống con ban đầu
ng tạo được phân phối cho
tái các hệ thống con
tạo được kết nối theo tỷ
lệ đến dòng năng
lượng thực tế.
Không có sự thay
đổi về số lượng
tổng thể của năng
lượng theo trọng số
trong điểm nút, nó
chỉ được phân phối
lại.
EP Ewe;dis;i kW. Nếu một điểm nút
của n h bao gồm một bộ
phâ lưu trữ, thì bộ lưu
n trữ theo trọng số
phố đóng góp (nó sẽ là
i phần phụ trợ) được
vào thêm vào phần
năng lượng của
máy phát theo trọng
số. năng lượng có
trọng số xoắn.
Bộ lưu trữ cũng có
thể được coi là một
trong những hệ
thống con thông
thường, do đó
không có sự ngoại
lệ.
(E.1
8)
Bảng J.22 - Phương pháp tính ngược: Tính phân phối và phát xạ nhiệt
Mô Ký Tổn Đơ Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công thức Dẫn giải
tả hiệu g n vị g m trong TCVN
hạn chiế 13469-
g u 1:2022(ISO
mụ 52000-
c 1:2017)
Tính phân phối
Ewe Ewe;dis;in kW. 256 70 280 77 Lời nhắc: Năng lượng
tại h theo trọng số tại phân
Năng Năn Năng Năn
phâ phối đầu vào
lượn g lượn g
n
g lượn g lượn
phối
khôn g tái khôn g tái
đầu
g tái tạo g tái tạo
vào
tạo tạo
Phâ WX;dis;au kW. 6 10 Lời nhắc: Năng lượng phụ
n x h trợ sử dụng bởi mạng
phối phân phối
phụ
trợ
thự
c tế
0 6 0 10 Năng lượng theo trọng số
của mạng phân phối phụ
Năng Năn
trợ
lượn g
g lượn
khôn g tái
g tái tạo
tạo
(E.1 Ewe;X;Y;aux = WX;dis;aux x fwe;aux
7)
EP Ewe;dis;ou kW. 256 76 280 87 Năng lượng theo trọng số
phâ t h tại phân phối đầu ra
NLKT NNT NLK NNT
n
T T TT T
phối
đầu
ra
(E.1 Ewe;X;Y;out = Ewe;X;Y;in + Ewe;X;Y;aux
5)
Tính điểm nút
Phâ QX;dis;out kW. 375 405 Lời nhắc: Phân phối đầu
n h ra
phối
ra
Phá QX;em;in kW. 200 175 405 Lời nhắc: Phát nhiệt vào
t xạ h
nhiệ
t
vào
EP Ewe;em;in kW. 137 41 120 36 280 87 Năng lượng theo trọng số
phát h tại phát nhiệt đầu vào
Năng Năn Năn Năn
xạ
lượn g g g Công thức này đơn giản
nhiệ
g lượn lượn lượn hóa khi chỉ có một hệ
t
khôn g tái g g tái thống con ban đầu cho
vào
g tái tạo khô tạo năng lượng (mỗi hệ thống
tạo ng con phát xạ nhiệt chỉ
tái được kết nối với một hệ
tạo thống con phân phối).
Nó phân phối năng lượng
sơ cấp đến các đầu vào
và đầu ra.
(E.1
8)
Bảng J.23 - Phương pháp tính ngược: Xác định hiệu quả năng lượng cho hạng mục sử dụng
Mô tả Ký Tổn Đơn Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công thức Dẫn giải
hiệu g vị g m trong
hạn chiế TCVN
g u 13469-
mục 1:2022(ISO
52000-
1:2017)
Phân bố năng
lượng theo trọng
số cho các hạng
mục sử dụng
Tổng Epnren,i;A Cho kW. 38 61 38 52 67 76 91 114 537 Ở đây cũng vậy, việc
EP hạng h kiểm tra được thực
Bước mục hiện nếu toàn bộ
A khối có tổng bằng
không
(E.19
)
Khác 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 Kiểm tra: Các giá trị
biệt 0 0 0 0 0 0 0 0 trong hàng này phải
giữa bằng không
các
phươn
g pháp
Tổng EPren,i;A Cho kw.h 14 23 14 18 23 25 30 37 183 (E.19
EP hạng )
Bước mục
A
Khác 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 Kiểm tra: Các giá trị
biệt 0 0 0 0 0 0 0 0 trong hàng này phải
giữa bằng không
các
Nếu năng lượng sơ
phươn
cấp tái tạo và không
g pháp
tái tạo là giống nhau
cho tất cả các hạng
mục sử dụng, thì tất
cả các kết quả khác
(tổng sơ cấp + RER)
cũng giống nhau.
Kết quả cuối cùng
Đi từ bước A đến
bước B giống nhau
cho cả hai phương
pháp
Tỷ lệ fwe;AB Tổng (E.19 Lời nhắc: Tỷ số
năng cộng ) bước A, bước B.
lượng Xem chú giải trong
theo phương pháp khác/\.
trọng
số A/B
EP EPnren,i Cho 26 42 26 36 46 52 63 78 369 (E.13 Ewe;i = Ewe;A x fwe;AB
cuối hạng )
cùng mục
(Bước
B)
năng
lượng
không
tái tạo
EP EPren,i Cho 18 29 18 23 29 32 38 48 237 (E.13 Ewe;i = Ewe;A Công thức này được
cuối hạng ) x fwe;AB áp dụng độc lập cho
cùng mục từng loại trọng số và
(Bước cho từng hạng mục
B) sử dụng
năng
lượng
tái tạo
Bảng J.24 - Xác định sử dụng chất mang năng lượng cho hạng mục sử dụng: Tính toán thông
thường và khởi đầu của phương pháp tính ngược
Mô tảKý hiệu Tổn Đơn Hạng mục sử dụng Tổn Tha Công Dẫn giải
g vị g m thức
hạn chiế trong
g u TCVN
mục 13469-
1:2022(IS
O 52000-
1:2017)
Phương pháp tính thông
thường
Kết quả đã có sẵn: Mỗi chất
mang năng lượng đầu vào cho
máy phát và tất cả việc sử dụng
năng lượng phụ trợ đã được
chia tách cho mỗi mục sử dụng.
Điện năng được chia tách
nhưng đây là đặc điểm chung
Tổng Waux,i Cho kW. 5 9 5 6 7 8 9 11 Lời nhắc từ tính toán trước đó
phụ hạng h
trợ mục
Tổng Efuel1,i Cho 35 5 3 4 6 6 83 10 Lời nhắc từ tính toán trước đó
nhiên hạng 5 5 8 1 9 3
liệu mục
số 1
Tổng Efuel2,i Cho kW. 9 1 9 1 1 1 21 26 Lời nhắc từ tính toán trước đó
lượng hạng h 4 2 5 7
phát mục
vào 2
Phương pháp phân bổ cho đại
lượng khác (X) bằng phương
pháp tính ngược
Phương pháp này bắt đầu từ
kết quả và phân bổ chất mang
hoặc năng lượng phụ trợ bất kỳ
2 (ký hiệu X) đến hạng mục sử
dụng. ĐỀ NGHỊ LỰA CHỌN
MỘT HẠNG MỤC ĐỂ PHÂN
PHỐI TRONG TỔ HỢP
Bảng J.25 - Xác định sử dụng chất mang năng lượng cho hạng mục sử dụng: Phương pháp
tính ngược
Mô tả Ký hiệu Tổn Đơn Hạng mục sử dụng Tổn ThamCông thức Dẫn giải
g vị g chiếu trong
hạng TCVN
mục 13469-
1:2022(IS
O 52000-
1:2017)
Tính toán phân phối
Lươn XX;dis,i;add Tổng kW. 0 0 Lượng bổ sung này sẽ khác
g cộng h 0 chỉ khi nó là năng lượng
phân phụ trợ
phối
bổ
sung
Lượn XX;dis,i;out;t Tổng kW. 233 25 (E.20 XX;Y,i;out;t = XX;Y,i;in;t + XX;Y,i;add;t
gở cộng h 5 )
đầu
phân
phối
ra
Điểm nút phát xạ năng
lượng
Phát kW. 200 17 40 Lời nhắc: Phát xạ đầu vào
xạ vào h 5 5
Lượn XX;em,j;in Tổng kW. 124 10 25 Số lượng liên quan đến sản
gở cộng h 9 5 lượng đầu ra được phân bổ
đầu cho mạng phân phối
phát
xạ vào
(E.21
)
Hình - K.1
Khối thứ hai và thứ ba được trình bày chi tiết hơn trong Điều K.2 và K.3.
Biểu đồ dòng cho năng lượng đo lường được nêu trong Điều K.4.
K.2 Xác định thành phần năng lượng cấp đến và xuất đi
Quy trình tính toán xác định các thành phần năng lượng điện cấp đến và xuất đi được thể hiện trong
Hình K.2.
Hình - K.2
K.3 Năng lượng cấp đến và xuất đi theo trọng số
Quy trình tính toán năng lượng xuất đi và cấp đến theo trọng số được trình bày trong Hình K.3
Hình-K.3
Theo TCVN 13469-1 (ISO 52000-1), quy trình xác định trọng số được lặp lại một cách độc lập cho mỗi
tiêu chí trọng số.
Trong ví dụ ở Phụ lục J, việc xác định trọng số luôn được thực hiện song song cho năng lượng sơ
cấp tái tạo và không tái tạo.
K.4 Sơ đồ dòng đánh giá hiệu quả năng lượng đo lường
Quy trình chung cho hiệu quả năng lượng đo lường được trình bày trong Hình K.4.
Hình - K.4
Phụ lục L
(Tham khảo)
Danh mục công nghệ
Phụ lục này được tham chiếu trong 7.2.1.
Phụ lục này giới thiệu danh mục chưa đầy đủ hết các công nghệ liên quan cho biết sự phù hợp đối
với các mô-đun cụ thể và sự tương tác giữa các mô-đun.
Bảng dưới đây được chia thành: Kết cấu tòa nhà và hệ thống kỹ thuật tòa nhà và bao gồm công nghệ
hiện tại cũng như công nghệ trước đó vì mục đích tính toán hiệu quả năng lượng của tòa nhà hiện
hữu.
Bảng L.1 -
Công nghệ Mô-đun liên quan
CHÚ THÍCH: Các tương tác nhỏ rõ ràng do tổn
thất có thể thu hồi và do điều kiện vận hành và các
vấn đề kiểm soát được bỏ qua
Kết cấu tòa nhà
1. Cách nhiệt với nền đất/ móng Tòa nhà M2-5
2. Cách nhiệt cho sàn Tòa nhà M2-5
3. Cách nhiệt cho tường bên ngoài Tòa nhà M2-5
4. Cách nhiệt cho mái Tòa nhà M2-5
5 Cách nhiệt cho tầng áp mái Tòa nhà M2-5
6. Kết cấu kép với các đặc tính tiết kiệm năng Tòa nhà M2-2, M2-5, M2-8; đôi lúc liên kết với
lượng thông gió cơ khí M2-6
7. Kết cấu mái tích hợp thu năng lượng mặt trời Tòa nhà M2-2, M2-8 cộng với hệ thống sưởi M3-
10
8. Cách nhiệt đối với cầu nhiệt Tòa nhà M2-5
9. Thang máy và thang cuốn hoặc thang bộ di M12
động đặc biệt trong các tòa nhà không để ở